Giáo trình Tiếng Việt thực hành (Bậc Cao đẳng) - Phần 1
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Tiếng Việt thực hành (Bậc Cao đẳng) - Phần 1", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
giao_trinh_tieng_viet_thuc_hanh_phan_1.pdf
Nội dung text: Giáo trình Tiếng Việt thực hành (Bậc Cao đẳng) - Phần 1
- Lời nói đầu Trong những năm gần đây, Tiếng Việt thực hành được đưa vào giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng và một số trường trung học chuyên nghiệp. Tuỳ thuộc vào chức n ăng đào tạo của mỗi trường mà đặt ra yêu cầu cụ thể đối với học phần này. Trường Cao đẳng Nội vụ Hà Nội đào tạo các ngành học V ăn thư Lưu trữ, Quản trị văn phòng, Quản trị Nhân lực, Quản lí Văn hóa, Thư ký văn phòng, Thông tin thư viện bậc cao đẳng. Tiếng Việt thực hành là học phần thuộc khối kiến thức giáo dục đại cương và được giảng dạy với thời lượng 03 đơn vị học trình. Để trợ giúp cho sinh viên trong việc chiếm lĩnh các tri thức chuyên môn trong nhà trường, việc phải biên soạn một tập bài giảng về tiếng Việt thực hành là rất cần thiết. Trên cơ sở chương trình môn Tiếng Việt th ực hành do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành kèm theo Quyết định số 3244/GD -ĐT ngày 12/9/1995; chương trình môn Tiếng Việt thực hành được ban hành kèm theo Quyết định số 593/QĐ - CĐVTLT ngày 29/9/2006 của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Văn thư Lưu trữ TW1 (nay là Trường Cao đẳng Nội vụ Hà Nội) đồng thời có kế thừa có chọn lọc các thành quả của những người đi trước, nhóm biên soạn đã cố gắng bám sát định hướng nghề nghiệp của sinh viên trường Cao đẳng Nội vụ Hà Nội Mục tiêu của tập bài giảng là giúp sinh viên ph át triển các kĩ năng sử dụng tiếng Việt như tạo lập, tiếp nhận văn bản, đặc biệt là văn bản khoa học và văn bản hành chính. Đồng thời, giáo trình cũng cung cấp một số kĩ năng cho sinh viên trong việc dùng từ, đặt câu và chính tả. Cuối cùng là góp phần cùng các môn học khác phát triển ở người học một tư duy khoa học vững vàng. Do lĩnh vực nghiên cứu rộng và khó nên việc biên soạn chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót. Tập thể tác giả mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để chúng tôi sửa chữa cho lần xuất bản sau. Nhóm tác giả
- Mục lục Lời nói đầu 1 Mục lục 2 Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN 3 A. VĂN BẢN VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN BẢN 3 I. Một số nét chung về văn bản 3 II. Các đặc trưng cơ bản của văn bản 3 B. SƠ LƯỢC VỀ MỘT SỐ LOẠI VĂN BẢN 5 I. Văn bản khoa học 6 II. Văn bản chính luận 11 III. Văn bản hành chính - công vụ 16 Chương 2. TẠO LẬP VĂN BẢN 24 A. QUY TRÌNH XÂY DỰNG VĂN BẢN 24 I. Định hướng - xác định các nhân tố giao tiếp của văn bản 24 II. Lập đề cương cho văn bản 26 III. Viết đoạn văn và liên kết các đoạn văn 32 IV. Sửa chữa và hoàn thiện văn bản 43 B. VIẾT LUẬN VĂN KHOA HỌC 48 I. Định nghĩa luận văn khoa học 48 II. Phân loại luận văn khoa học 48 III. Các bước viết luận văn khoa học 48 Chương 3. TIẾP NHẬN VĂN BẢN 72 A. TÓM TẮT MỘT VĂN BẢN 72 I. Khái niệm 72 II. Yêu cầu của việc tóm tắt một văn bản 73 III. Các bước tóm tắt một văn bản 73 IV. Tự động tóm tắt một văn bản điện tử 79 B. TỔNG THUẬT VĂN BẢN 80 I. Khái niệm 80 II. Yêu cầu của việc tổng thuật các văn bản 82 III. Các bước tổng thuật các văn bản 82 Chương 4. NHỮNG YÊU CẦU CHUNG VỀ CHÍNH TẢ, 93 DÙNG TỪ VÀ ĐẶT CÂU 93 A. CHÍNH TẢ. 93 B. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG DÙNG TỪ 103 C. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG ĐẶT CÂU 121 PHỤ LỤC VỀ VIỆC VIẾT HOA 136 MỤC LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 163 2
- Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN A. VĂN BẢN VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN BẢN I. Một số nét chung về văn bản Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Nó có thể tồn tại ở hai dạng: nói và viết. Ở dạng nói, thường gọi là ngôn bản. Ở dạng viết, thường gọi là văn bản. Một sản phẩm được gọi là văn bản không phụ thuộc vào dung lượng câu chữ của nó. Nó thường bao gồm tập hợp nhiều câu, nhưng trường hợp tối thiểu chỉ có một câu (Thí dụ: một câu ca dao, một câu tục ngữ, một câu châm ngôn, một câu khẩu hiệu được ghi lại). Còn tối đa, văn bản có thể là một tập sách, hoặc một bộ sách nhiều tập. Khi giao tiếp, người ta sản sinh ra văn bản. Và chính các văn bản ấy lại trở thành công cụ chuyển tải các ý tưởng cũng như các cảm xúc của họ, làm cho hoạt động giao tiếp được thực hiện. Do đó, có thể nói, văn bản vừa là sản phẩm, vừa là phương tiện của hoạt động giao tiếp. II. Các đặc trưng cơ bản của văn bản 1. Tính chỉnh thể. Dù dung lượng của văn bản thế nào thì nó cũng cần phải là một sản phẩm ngôn ngữ mang tính chỉnh thể. Văn bản là sự tập hợp của nhiều câu, nhiều đoạn, nhiều chương, nhiều phần nhưng các bộ phận này phải được tạo thành một thể thống nhất hoàn chỉnh. Tính chỉnh thể của văn bản được bộc lộ ở cả hình thức lẫn nội dung. 1.1 Về nội dung: Văn bản phải đáp ứng được hai yêu cầu : Thứ nhất, có tính trọn vẹn: Nghĩa là, văn bản dù ngắn hay dài cũng trình bày được một nội dung trọn vẹn, khiến cho người khác hiểu được một sự việc, một tư tưởng hay cảm xúc nào đó. Tính trọn vẹn này có tính chất tương 3
- đối và ở nhiều mức độ khác nhau, phụ thuộc vào các nhân tố của hoạt động giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp. Thứ hai, có tính nhất quán về chủ đề: Mỗi văn bản tập trung vào việc thể hiện một chủ đề nhất định. Chủ đề này có thể được phát triển qua các chủ đề bộ phận, nhưng toàn văn bản vẫn đảm bảo tính nhất quán về chủ đề chung. Tính trọn vẹn về nội dung và tính chất nhất quán về chủ đề khiến cho văn bản dù lớn đến đâu vẫn mang một tiêu đề (tên gọi) chung. 1.2 Về mặt hình thức; Tính chỉnh thể của văn bản bộc lộ ở kết cấu: tiêu đề, phần mở, phần thân, phần kết (ở các văn bản đủ lớn); ở các thể thức (như trong văn bản hành chính), ở dấu hiệu chữ viết. Nó còn thể hiện ở chỗ: không cần thêm vào trước hoặc sau văn bản một câu hay một bộ phận nào khác để cho văn bản “hoàn chỉnh” hơn. 2. Tính liên kết. Đó là những mối quan hệ qua lại chặt chẽ giữa các câu, giữa các đoạn, giữa các phần, các bộ phận của văn bản. Chính tính liên kết này cũng là cơ sở để tạo nên tính chỉnh thể của văn bản. Tính liên kết thể hiện ở cả hai phương diện của văn bản: liên kết nội dung và các phương tiện hình thức của sự liên kết Nếu văn bản thiếu sự liên kết về nội dung thì nó sẽ mắc lỗi hoặc lạc (tức là các câu, các đoạn không hướng về cùng một chủ đề). 3. Tính mục đích Mỗi văn bản hướng tới một mục tiêu nhất định. Đó chính là mục tiêu giao tiếp của văn bản và trả lời cho câu hỏi: Văn bản viết ra nhằm mục đích gì? Viết để làm gì? Mục tiêu của văn bản quy định việc lựa chọn chất liệu nội dung, việc tổ chức chất liệu nội dung, việc lựa chọn phương tiện ngôn ngữ và tổ chức văn bản theo một cách thức nhất định (phong cách chức năng). Thí dụ: Hịch 4
- tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn được viết ra nhằm kích thích lòng tự hào dân tộc, đánh thức tinh thần trách nhiệm của tướng sĩ đối với Tổ quốc, với nhân dân. Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chủ tịch nhằm tố cáo tội ác của Thực dân Pháp và phát xít Nhật; vạch mặt những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù trong giặc ngoài đang nhăm nhe muốn bóp nghẹt nền dân chủ vừa mới ra đời; đồng thời khẳng định ý chí quyết tâm của nhân dân ta sẵn sàng chiến đấu đến cùng để bảo vệ đất nước và thành quả cách mạng. Mục đích của văn bản có thể được bộc lộ trực tiếp (theo cơ chế hiển ngôn) hoặc gián tiếp (theo cơ chế hàm ngôn). Nó quy định việc lựa chọn chất liệu nội dung, cách thức tổ chức các chất liệu nội dung cũng như việc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ. Như vậy: Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ thường là tập hợp của các câu, có tính trọn vẹn về nội dung, tính hoàn chỉnh về hình thức, có tính liên kết chặt chẽ và hướng tới một mục đích giao tiếp nhất định. B. SƠ LƯỢC VỀ MỘT SỐ LOẠI VĂN BẢN Mỗi văn bản được dùng trong một phạm vi giao tiếp nhất định, giữa các nhân vật giao tiếp nhất định và hướng vào một mục tiêu giao tiếp nhất định. Vì vậy, mỗi văn bản cũng có sự lựa chọn và tổ chức các phương tiện ngôn ngữ nhất định (các phương tiện từ ngữ, câu, bố cục, chữ viết ) Tất cả các văn bản có những đặc điểm giống nhau về các phương tiện trên đây họp thành một loại, một kiểu hay một phong cách văn bản. Phong cách học tiếng Việt phân loại các phong cách ngôn ngữ như sau: - Phong cách ngôn ngữ khoa học - Phong cách ngôn ngữ hành chính công vụ - Phong cách ngôn ngữ chính luận - Phong cách ngôn ngữ báo chí - Phong cách ngôn ngữ cổ động 5
- - Phong cách ngôn ngữ văn chương nghệ thuật - Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt Tương ứng với các phong cách ngôn ngữ trên là các loại văn bản: - Văn bản khoa học - Văn bản hành chính - Văn bản nghị luận - Văn bản báo chí - Văn bản cổ động - tuyên truyền - Văn bản nghệ thuật - Văn bản sinh hoạt. Mỗi văn bản đều có những đặc điểm riêng. Cần nắm được những đặc điểm cơ bản đó để tạo lập và lĩnh hội tốt các văn bản phù hợp với với các hoàn cảnh và mục đích giao tiếp. Dưới đây, sẽ trình bày một số điểm khái quát về ba loại văn bản thường được dùng. I. Văn bản khoa học 1. Khái niệm về văn bản khoa học: Văn bản khoa học là văn bản được dùng trong lĩnh vực hoạt động khoa học, với chức năng chủ yếu là thông tin - nhận thức. Nó bao gồm: - Các văn bản khoa học chuyên sâu: chuyên luận, luận án, luận văn, các chuyên đề, các đề tài khoa học - Các văn bản khoa học giáo khoa: sách giáo khoa, giáo trình, tập bài giảng tài liệu dạy học - Các văn bản phổ cập khoa học: các bài báo, các tài liệu phổ biến, truyền thụ một cách sơ giản, dễ hiểu về các kiến thức khoa học Hoặc cũng có thể phân chia văn bản khoa học theo các loại sau: * Ở dạng viết: - Các công trình nghiên cứu khoa học. - Các tạp chí, tập san, thông báo, báo cáo khoa học. - Các hình thức tóm tắt, giới thiệu, lược thuật và tổng thuật khoa học. 6
- - Các sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu tham khảo. - Các bài thi, luận văn, đồ án tốt nghiệp * Ở dạng nói: - Lời bài giảng, lời thuyết trình, lời phát biểu, trong các buổi thảo luận khoa học, hội nghị khoa học. - Lời trình bày, thuyết minh các công trình khoa học và báo cáo khoa học. - Lời hỏi đáp về các vấn đề khoa học. Tuy nhiên, tất cả các văn bản khoa học đều có thể được đọc lên hoặc in ra. Mọi thông báo khoa học có thể được chuẩn bị trước ra giấy rồi sau đó thông thường là đọc lên theo văn bản viết. Do đó có lối nói: đọc báo cáo, đ ọc bài giảng 2. Đặc trưng của văn bản khoa học Văn bản khoa học phản ánh hoạt động và thành quả của tư duy trừu tượng của con người. Nó thuyết phục người đọc bằng những lập luận, những luận điểm, luận cứ chính xác, mạch lạc với những khái niệm xác định. Do đó, văn bản khoa học có những đặc trưng sau: - Tính trừu tượng - khái quát cao - Tính lôgic nghiêm ngặt - Tính chính xác khách quan. 2.1 Tính chính xác, khách quan Văn bản khoa học phải đạt tính chính xác, khách quan, bởi vì khoa học yêu cầu phản ánh chính xác, chân thực, khách quan các quy luật của tự nhiên và xã hội. Tính chính xác của văn bản khoa học phải được hiểu là tính đơn nghĩa trong cách hiểu và diễn đạt đúng với bản chất của sự vật, hiện tượng. Nghĩa là ngôn ngữ diễn đạt các luận điểm khoa học phải đồng nhất với tư duy khoa học. 7
- 2.2 Tính logíc nghiêm ngặt Văn bản khoa học phải đảm bảo tính logíc nghiêm ngặt, bởi vì để gợi mở trí tuệ và thuyết phục bằng lí tính, lời trình bày, cách suy luận phải biểu hiện năng lực tổng hợp của trí tuệ, phải tuân theo quy luật chặt chẽ từ tư duy logic hình thức đến tư duy logic biện chứng. Tính logic, đó là tính chất nhất quán trong sự phân bố tất cả các đơn vị của văn bản và là sự có mặt của những mối liên hệ về nghĩa giữa những đơn vị này. Tính nhất quán này chỉ có thể có ở những văn bản trong đó các kết luận được rút ra một cách hợp lí từ nội dung, nghĩa là các kết luận không gây ra mâu thuẫn và những đoạn văn riêng lẻ tạo nên văn bản thì phản ánh đúng sự vận động của tư duy từ cái riêng đến cái chung hoặc t ừ cái chung đến cái riêng. Tư duy khoa học yêu cầu tính chứng minh và tính có lí do đầy đủ , nên logic trong khoa học là logic được chứng minh. Tư duy khoa học không chấp nhận một sự mâu thuẫn hay phi logic nào. 2.3 Tính trừu tượng, khái quát cao Văn bản khoa học có tính trừu tượng, khái quát cao, bởi vì khoa học phải thông qua khái quát hóa, trừu tượng hóa để nhận thức và phản ánh hiện thực khách quan. Mục đích của khoa học là phát hiện ra các quy luật tồn tại trong các sự vật, hiện tượng nên càng không thể dừng lại ở những ở những cái gì riêng lẻ, bộ phận, cá biệt. Thí dụ: Từ “sâu” được dùng trong văn bản khoa học và văn bản nghệ thuật - Ở ao chuôm, nước sâu khoảng 1m nên thả 300 con cá (văn bản khoa học): “Sâu” có nghĩa là “có độ sâu”, “có khoảng cách từ mặt nước đến đáy nước”. Từ này được dùng với nghĩa đen, nghĩa sự vật. - Gì sâu bằng những trưa thương nhớ Hiu quạnh bên trong một tiếng hò (văn bản nghệ thuật) 8
- Sâu” ở đây được hiểu là “diễn ra trong tâm hồn, trong những rung động nội tâm kín đáo của con người”. Từ này được dùng theo nghĩa bóng, nghĩa phái sinh. 3. Đặc điểm ngôn ngữ của văn bản khoa học Nhìn chung, ngôn ngữ của văn bản khoa học là ngôn ngữ của tư duy trừu tượng, có tính khái quát cao, có tính khách quan và trung hoà về sắc thái cảm xúc. 3.1 Về từ vựng: - Văn bản khoa học sử dụng nhiều và chính xác thuật ngữ chuyên ngành. Thí dụ: Từ của Tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến; mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định; nằm trong kiểu cấu tạo nhất định; tất cả ứng với một kiểu nghĩa nhất định. - Có khuynh hướng sử dụng các từ ngữ trừu tượng (nhất là trong các văn bản khoa học thuộc hai lĩnh vực triết học và toán học). Ở đây, từ ngữ phải đơn nghĩa, trung tính về sắc thái biểu cảm. Những từ này dùng để biểu đạt những khái niệm chung, tách khỏi mọi cái cá biệt, cái ngẫu nhiên, mà chỉ chú ý đến thuộc tính chung của sự vật. Từ loại được dùng nhiều hơn cả là danh từ (theo thống kê, số lượng danh từ trong văn bản khoa học thường nhiều gấp 4 lần so với động từ); các đại từ thường mang ý nghĩa khái quát (ngôi thứ 3 và ngôi thứ nhất số nhiều). Thí dụ: Tri thức là kết quả quá trình nhận thức của con người về thế giới hiện thực, làm tái hiện trong tư tưởng những thuộc tính, những quy luật của thế giới ấy và diễn đạt chúng dưới hình thức ngôn ngữ hoặc các hệ thống kí hiệu khác. (Giáo trình Triết học Mác-Lênin) - Sử dụng lớp từ đa phong cách với nghĩa đen, nghĩa định danh để đảm bảo tính chính xác, khách quan của sự vật được nói đến. Thí dụ: ánh sáng, 9
- màu sắc, so sánh, đo, cân Rất ít sử dụng những từ ngữ có sắc thái biểu cảm, những từ thể hiện sự bình giá cá nhân. Không sử dụng từ địa phương, tiếng lóng, từ tục tĩu 3.2 Về cú pháp: - Văn bản khoa học sử dụng các hình thức câu hoàn chỉnh với kết cấu chặt chẽ, rõ ràng. Loại câu phổ biến nhất là câu ghép chính phụ với các cặp từ quan hệ chỉ nguyên nhân (vì nên ), mục đích (để nên ), nhượng bộ (tuy nhưng ), tăng tiến (không những mà còn ). Những trường hợp tách các vế của câu ghép có độ dài quá lớn thành các câu độc lập cũng gặp khá nhiều. Thí dụ: Nếu một đường thẳng mà song song với một đường thẳng nào đó của một mặt phẳng chứa nó, thì nó song song với mặt phẳng ấy. - Ngoài ra, trong văn bản khoa học còn có mặt cả những câu khuyết chủ ngữ hoặc có chủ ngữ không xác định Thí dụ: Khi nhân cả tử số và mẫu số của một phân số với một số tự nhiên khác không sẽ được một phân số mới bằng giá trị phân số đã cho . hoặc: Muốn cho cloruahiđrô chóng tan trong nước, người ta phải tăng bề mặt tiếp xúc giữa hai chất đó. - Sử dụng nhiều kiểu câu đẳng thức có "là" chỉ bản chất của sự vật, rất thích hợp cho việc nhận xét, đánh giá, lí giải các hiện tượng, những vấn đề, những quy luật của tự nhiên và xã hội. Thí dụ: Siêu âm là những âm có tần số lớn hơn 20.000Hz 3.3 Về kết cấu: Văn bản khoa học thường được xây dựng theo một khuôn mẫu quy định nghiêm ngặt đòi hỏi người viết phải tuân theo. Đặc biệt, trong những công trình khoa học hoàn chỉnh như một luận văn, một cuốn sách chuyên khảo, từng phần nói trên lại phải nói đáp ứng một loạt các yêu cầ u có tính bắt buộc khác. 10
- Thí dụ: Phần mở đầu của một luận văn khoa học thường bao gồm những nội dung sau: 1, Lí do chọn đề tài; 2, Lịch sử vấn đề; 3, Đối tượng và mục đích nghiên cứu; 4, Các luận điểm cơ bản và những đóng góp mới của luận văn; 5, Phương pháp nghiên cứu 6, Bố cục. 3.4 Về phương pháp diễn đạt: - Cách diễn đạt ngắn gọn, súc tích; tránh những yếu tố dư thừa, những trợ từ, quán ngữ đưa đẩy, đặc biệt là đối với những văn bản khoa học tự nhiên. - Luôn vươn tới sự khúc chiết trong việc trình bày bằng cách sử dụng các từ, các cụm từ chỉ ra mối quan hệ logic trong kết cấu của toàn văn bản. Đó là những từ ngữ được coi như là công cụ của các hình thức phán đoán, suy lí khoa học: như vậy, trước hết, sau đó, tuy nhiên, bởi vậy. một mặt, mặt khác, nói chung, nhìn chung, tóm lại, thứ nhất, thứ hai, từ, cho đến, bước sang, trong một số trường hợp khác, thoạt nhìn, tưởng như, song thực ra, trở lên, bây giờ - Luôn tìm cách làm nổi bật thông báo bằng cách dùng những biện pháp tu từ, như: phép tách biệt (vế câu), phép đối chiếu nếu thì chỉ quan hệ đối chiếu để nhấn mạnh, phép dùng phụ ngữ: chỉ sự khẳng định, sự phủ định, độ tin cậy như rõ ràng là, chắc chắn là, đúng là, không phải là Thí dụ: Nếu như liên kết chủ đề chủ yếu là sự tổ chức những phần nê u của các phát ngôn thì liên kết logic chủ yếu là sự tổ chức của các phần đó II. Văn bản chính luận 1. Khái niệm về văn bản chính luận 11
- Chính luận là loại văn bản trình bày những ý kiến có tính chất bình luận, đánh giá về các vấn đề, sự kiện thời sự nóng hổi trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Chức năng cơ bản của nó là tuyên truyền, thuyết phục, lôi cuốn, động viên. Ở dạng viết có: các văn bản hiệu triệu, kêu gọi, cương lĩnh, tuyên ngôn; các bài bình luận, xã luận trên mọi phương tiện t hông tin đại chúng. Ở dạng nói có: diễn thuyết, phát biểu trong mít tinh, phát biểu trong đón tiếp ngoại giao, phát biểu trong các hội nghị (sinh hoạt chính trị), nói chuyện thời sự, chính sách. Thí dụ: Tuyên ngôn độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được coi là những văn bản chính luận mẫu mực cả về nội dung cũng như hình thức thể hiện. 2. Đặc trưng cơ bản của văn bản chính luận 2.1 Tính lập luận chặt chẽ Phải đạt được tính lập luận chặt chẽ là vì phong cách chính luận muốn thuyết phục người đọc thì cần phải giải thích, thuyết minh một cách có lí lẽ, có căn cứ vững chắc, nghĩa là phải dựa trên cơ sở những luận cứ, luận điểm khoa học. Về điểm này, phong cách chính luận gần gũi với phong cách khoa học. 2.2 Tính bình giá công khai Phong cách chính luận phải đạt tính bình giá công khai của tác giả, tức là biểu thị một cách rõ ràng, trực tiếp thái độ của tác giả đối với sự kiện. Văn bản nghệ thuật cũng bao hàm thái độ bình giá, nhưng là bình giá ngầm, gián tiếp thông qua hệ thống hình tượng. 2.3 Tính truyền cảm Phong cách chính luận phải đạt tính truyền cảm mạnh mẽ, tức là sự diễn đạt hùng hồn, sinh động, có sức hấp dẫn và đạt hiệu quả cao, thuyết phục bằng cả lí trí, bằng cả tình cảm, đạo đức. 12
- Các đặc trưng chung của văn bản chính luận là tính bình giá công khai, tính lập luận chặt chẽ. Văn bản chính luận luôn thể hiện một cách rõ ràng và trực tiếp thái độ của tác giả đối với vấn đề hay sự kiện. Chúng thuyết phục người đọc (người nghe) vừa bằng các lí lẽ sắc bén, dẫn chứng xác thực được sắp xếp trong một trình tự có tính lôgic cao, vừa bằng cảm xúc chân thành của người viết thông qua các cách diễn đạt sinh động, giàu hình ảnh. 3. Đặc điểm ngôn ngữ văn bản chính luận 3.1 Về từ vựng - Để thể hiện sự bình giá, sự bộc lộ thái độ trong phong cách chính luận, người nói, khi dùng từ chính trị - là lớp từ cơ bản của phong cách này- cần luôn luôn tỏ rõ lập trường, quan điểm và tình cảm cách mạng của mình về từng vấn đề của đời sống xã hội. Thí dụ: Vì vậy, đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải quyết tâm đấu tranh chống mọi kẻ địch Đạo đức cách mạng là hoà mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến quần chúng. (Hồ Chí Minh) - Để bày tỏ thái độ, tình cảm của mình một cách m ạnh mẽ, người nói thường chọn lọc và sử dụng những đơn vị từ vựng hội thoại giàu sắc thái tu từ. Thí dụ: Từ câu chuyện này mở rộng phạm vi ra, tâm và tài không chỉ là sự đòi hỏi với doanh nhân, doanh nghiệp mà còn đòi hỏi ở bất kì công việc nào của mỗi chúng ta. Làm một con đường, xây một ngôi nhà nếu không có tâm sẽ làm rối, bớt xén vật liệu " rút ruột công trình" khiến cho những ngôi nhà vừa xây xong đã sập, có những con đường mới đưa vào sử dụng được một thời gian ngắn đã lún, nứt. Người thầy thuốc giỏi đ ến mấy mà không có tâm không những không cứu chữa được người bệnh có khi còn làm cho họ chết oan vì sự cẩu thả vô trách nhiệm. Người lái xe khách không có tâm, coi 13
- thường tính mạng của hành khách, "bắt khách" quá tải, chạy ẩu, gây ra tai hoạ thảm khốc. (Báo Nhân dân, ngày 26/8/2007) - Đối tượng tiếp nhận chính luận đông đảo về số lượng và đa dạng về trình độ. Vì vậy, ngôn ngữ trong phong cách chính luận phải giản dị, rõ ràng, chính xác, có khả năng diễn đạt dễ hiểu những khái niệm phức tạp. Để mọi người hiểu được cần tránh dùng những từ ngữ địa phương, tiếng lóg, biệt ngữ, những từ ngữ chưa thông dụng. Văn bản chính luận, ngoài lớp từ toàn dân, còn dùng cả lớp từ có tính chất thuật ngữ của các ngành khoa học, tuỳ thuộc kiểu văn bản: nghị luận chính trị hay kinh tế, văn hoá Bên cạnh đó, trong văn bản chính luận cũng có thể sử dụng các đơn vị từ vựng giàu màu sắc tu từ thuộc phong cách khẩu ngữ, song cần lưu ý là chúng phải có tính phổ cập rộng rãi. 3.2 Về cú pháp - Văn bản chính luận sử dụng nhiều kiểu câu, nhưng phổ biến hơn cả là kiểu câu dài, có nhiều vế, gắn bó với nhau bằng các quan hệ từ. Bên cạnh các câu trần thuật chiếm đa số, các câu nghi vấn và cảm thán cũng có thể có mặt với tần số khá cao. Thí dụ: Tại sao giặc Pháp lại dự định như trên? Chúng nhìn nhận quyền lợi của nhân dân ta? Chúng trả lại chế độ dân chủ? Không. Chúng chỉ muốn thi hành một chính sách lừa phỉnh, xỏ lá, để chia rẽ mặt trận thống nhất chống Pháp, Nhật. (Trường Chinh) Hoặc: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thậ t đã trở thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy. (Hồ Chí Minh) 14
- - Ngôn ngữ trong phong cách chính luận có xu hướng sử dụng những kiểu câu mới mẻ: Dùng bộ phận giải ngữ cho từ: Chúng tôi - Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà - trịnh trọng tuyên bố (Hồ Chí Minh) Dùng kết cấu nhân- quả có bởi: Không, nước Pháp không trở nên giàu có hơn bởi sự bóc lột thuộc địa. (Hồ Chí Minh) Dùng kết cấu danh hoá: Nó sẽ được sự kính trọng của tất cả các dân tộc thuộc địa. (Hồ Chí Minh) Dùng kết cấu làm nổi bật ý phương tiện: Với sự đồng tình ủng hộ của anh em, cuộc chiến cứu quốc của Việt Nam nhất định thắng lợi. (Hồ Chí Minh) Dùng kết cấu làm nổi bật ý nghĩa tình huống - sự vật: Trong điều kiện nông nghiệp hiện nay, muốn tăng năng suất cây trồng nhất thiết phải đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học về di truyền nông nghiệp. (Báo Nông nghiệp) Sử dụng một số kiểu câu thuộc phong cách khẩu ngữ: Sau cuộc biến động ngày 9-3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thuỳ, lại cứu cho người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ. (Hồ Chí Minh) 3.3 Về phương pháp diễn đạt Văn bản chính luận đứng hàng thứ hai sau văn bả n nghệ thuật trong việc sử dụng các phương tiện diễn cảm, các biện pháp tu từ. Các phương tiện này không phải với mục đích làm cho văn bản có tính hình tượng như trong ngôn ngữ văn chương, mà chỉ nhằm tăng thêm sức mạnh bình giá, phục vụ 15
- cho việc bình giá. Khác với văn bản khoa học và văn bản hành chính, văn bản chính luận có dấu ấn cá nhân rõ nét. Thí dụ: Ở nông thôn, nước ví như sông, mà chủ nghĩa xã hội - như thuyền, nước sông lên nhiều thì thuyền đi lại dễ dàng . (Hồ Chí Minh) III. Văn bản hành chính - công vụ 1. Khái niệm. Văn bản hành chính công vụ là văn bản dùng trong lĩnh vực pháp luật và hoạt động quản lí nhà nước; nhằm ghi nhận và truyền đạt các thông tin pháp lí, thông tin quản lí từ Nhà nước đến nhân dân, từ nhân dân đến Nhà nước; từ cơ quan này đến cơ quan khác; từ nước này đến nước khác. Văn bản quản lí nhà nước là một loại hình cụ thể của văn bản hành chính - công vụ 2. Đặc trưng của văn bản hành chính - công vụ. 2.1. Tính chính xác, mạch lạc Văn bản hành chính là văn bản chứa đựng những thông tin hết sức quan trọng, liên quan tới sự tồn, vong, thành, bại của Nhà nước, của một cơ quan, tổ chức Do đó, việc diễn đạt thông tin phải chuẩn xác, mạch lạc là yêu cầu số một. Ngôn ngữ trong văn bản hành chính phải phản ánh đúng nội dung cần truyền đạt, phản ánh tường tận, sáng tỏ các vấn đề, không để người đọc, người nghe không hiểu hoặc hiểu nhầm, hiểu sai ý. Giữa các ý, các phần trong văn bản phải có sự gắn kết, tiếp nối theo một trật tự hợp lí, lôgic. Cụ thể là: - Dùng từ, ngữ chính xác, nhất quán, đơn nghĩa. Cần phân biệt các từ gần âm, các gần nghĩa, các từ ghép Hán Việt có yếu tố đồng nhất vì rất dễ bị nhầm lẫn trong khi sử dụng. 16
- - Diễn đạt ý chính xác, rõ ràng, mạch lạc. Không dung nạp cách diễn đạt ý đại khái, chung chung hay mập mờ. - Viết câu chặt chẽ về ngữ pháp; chính xác, ngắn gọn, chặt chẽ, lôgíc về nghĩa. Do đó phải sắp xếp từ đúng trật tự cần thiết, dùng quan hệ từ chính xác, dấu câu phù hợp, - Chính xác về chính tả. 2.2. Tính khuôn mẫu Tính khuôn mẫu cũng là một đặc trưng nổi bật c ủa văn bản hành chính - công vụ. Đặc trưng này được biểu hiện ở cả thể thức và ngôn ngữ của văn bản. - Về mặt thể thức: Văn bản được soạn thảo theo thể thức quy định của Nhà nước. So với các phong cách ngôn ngữ khác, văn bản hành chính - công vụ có tính quy ước rất cao. Thời kỳ Nhà nước phong kiến độc lập (938 - 1858) văn bản hành chính Việt Nam được xây dựng theo khuôn mẫu văn bản hành chính của người Hán. Tiêu biểu nhất là bộ Luật Hồng Đức (Lê Triều hình luật) với 721 điều, chia thành 6 quyển 16 chương. Thời kỳ thuộc Pháp văn bản hành chính kiểu Hán tự dần được thay thế theo lối Pháp kể cả chữ viết và cách hành văn. Hiện nay, mỗi văn bản hành chính phải có 9 hoặc 10 thành phần được đặt ở những vị trí quy định. Từng thể loại văn bản có mẫu trình bày riêng, đánh dấu từ thời kỳ từ Cách mạng Tháng Tám đến nay. Khuôn mẫu của văn bản có tính khả biến theo thời gian, thể hiện rõ sự can thiệp của Nhà nước đối với các quy chuẩn của từng thể loại văn bản. Ngay cả trong chế độ mới, thể thức và ngôn ngữ văn bản hành chính vẫn thay đổi thường xuyên do sự điều chỉnh các chính sách quản lí kinh tế, quản lí xã hội. Thí dụ: Thành phần Quốc hiệu của văn bản cũng có sự thay đổi theo từng thời gian: 17
- + Từ 1945 - 1975: Việt Nam Dân chủ cộng hòa. + Từ 1976 - nay: Cộng hòa xã hộ i chủ nghĩa Việt Nam. - Về ngôn ngữ: Tính khuôn mẫu của văn bản hành chính thể hiện ở việc thường dùng lặp đi lặp lại những câu, những từ, những cấu trúc có sẵn mà không bị coi là lỗi lặp từ, lặp câu. Thí dụ: - Căn cứ Quyết định số /QĐ-XYZ ngày / / của về việc ; - Theo đề nghị của , - Các có tên trên căn cứ Quyết định thi hành. Tính khuôn mẫu đảm bảo cho sự thống nhất, kỉ cương, chuẩn mực của văn bản; giúp cho việc tăng năng suất và chất lượng soạn thảo văn bản, tránh được những sai sót trong quá trình soạn thảo văn bản; giúp thuận lợi cho việc lập hồ sơ, sắp xếp tài liệu trong công tác văn thư, lưu trữ. Tính khuôn mẫu cũng giúp cho người thực hiện văn bản dễ tiếp nhận nội dung thông tin, biết chỗ nào là quan trọng cần chú ý, chỗ nào có thể lướt qua. Và ở một mức độ, tính khuôn mẫu cũng đem lại sự cân đối, thẩm mĩ cho văn bản. Một văn bản hành chính công vụ được soạn thảo đúng thể thức là một trong những yếu tố quyết định hiệu lực pháp lí của văn bản. 2.3 Tính nghiêm túc, trang trọng, lịch sự Văn bản là phương tiện giao tiếp, là phát ngôn chính thức của các cơ quan nhằm ban hành mệnh lệnh hoặc giải quyết công việc. Ngôn ngữ trong văn bản hành chính phải hết sức nghiêm túc, đó là ngôn ngữ của lí trí. Và tính nghiêm túc được coi như một dấu hiệu đặc biệt của văn bản hành chính. Đối với văn bản thuộc các phong cách khác như văn bản nghệ thuật, văn bản chính luận, văn bản báo chí thì hình thức, kết cấu của văn bản hoàn toàn phụ thuộc vào ý tưởng riêng của tác giả. Với văn bản hành chính, điều này không được phép. Văn bản phải được soạn thảo theo một khuôn mẫu nhất định do Nhà nước quy định. Mỗi văn bản phải có đầy đủ 9 hoặc 10 thành 18
- phần (tiêu ngữ, tác giả, số kí hiệu, địa danh, tên loại, ) được đặt ở những vị trí nhất định. Mỗi thể loại văn bản cụ thể lại có mẫu riêng cho việc soạn thảo. Thể thức của một văn bản khẳng định tính nghiêm túc của văn bản. Sự tùy tiện thay đổi hình thức của văn bản là điều không thể cho phép, nó làm mất đi tính nghiêm túc, và mất tính hiệu lực của văn bản (nói cách khác, một văn bản không được soạn thảo đúng thể thức sẽ không có giá trị về mặt pháp lí). Về phương diện sử dụng ngôn ngữ, tính nghiêm túc vốn là thuộc tính của ngôn ngữ sách vở, đi ngược lại với tính cảm xúc, tính bình giá chủ quan vốn là những thuộc tính của ngôn ngữ hàng ngày. Lời nói trong văn bản hành chính - công vụ là lời nói được coi là nghiêm túc bậc nhất và cũng do đó mang tính chất đơn điệu, lạnh lùng. Ngôn ngữ hành chính - công vụ dùng truyền đạt các tư tưởng mang tính hành chính và mang tính luật pháp. Nó không phải là sự trao đổi cá nhân. Để đảm bảo tính nghiêm túc, cần lưu ý: - Tuyệt đối không dùng tiếng lóng, từ tục tĩu - Tránh lối diễn đạt dông dài, bỡn cợt hoặc đưa những ý kiến bình giá dễ dãi, chủ quan đối với nội d ung thông tin của văn bản. - Xưng hô đúng tôn ti, trật tự hành chính. - Thông tin trong văn bản phải được phản ánh đúng hiện thực khách quan, không hư cấu. - Tất cả các bên tham gia giao tiếp đều phải tôn trọng văn bản như là với tư cách, một công cụ của luật pháp. Tính nghiêm túc của văn bản gắn liền với chuẩn mực, vị thế, tôn ti mang tính hệ thống của các cơ quan Nhà nước. Là phương tiện giao tiếp chính giữa các cơ quan, tổ chức nên trang trọng, lịch sự lễ độ cũng là yêu cầu cần thiết đối với văn bản hành chính - công vụ. Tính lịch sự trong văn bản phản ánh trình độ văn hóa trong giao tiếp của các Nhà nước và của các cơ quan, tổ chức. 19
- - Trước hết, hình thức văn bản phải đảm bảo tính thẩm mĩ. Nghĩa là được trình bày đúng thể thức; cân đối, sáng sủa. - Cách xưng hô phải đúng thứ bậc hành chính. Việc đưa ra các yêu cầu, đề nghị, mệnh lệnh phải phân định rõ dạng cầu hoặc dạng khiến. Việc đề đạt các yêu cầu hay nguyện vọng cần phải được diễn đạt theo lối cầu thị, cầu tiến - Trình bày thông tin phải rõ ràng, dễ hiểu, không đánh đố người đọc. Và đặc biệt là diễn đạt phải trong sáng để không bị suy diễn theo những nghĩa thô tục. - Dùng ngôn ngữ gọt rũa, văn hoá. Ưu tiên sử dụng từ Hán Việt vì lớp từ này mang sắc thái biểu cảm trang trọng, nghiêm túc, lịch sự. Không dùng từ thô tục, khiếm nhã vì chúng dễ gây nên phản ứng xấu ở người đọc. - Thường sử dụng cách diễn đạt có tính chất nghi thức, thể hiện phép lịch sự xã giao. Thí dụ: + Trân trọng kính mời + Kính đề nghị + Xin trân trọng thông báo + Rất mong được xem xét và giải quyết . - Khi ban hành mệnh lệnh cho cấp dưới thi hành hoặc trong các quyết định khiển trách đối với người phạm lỗi, cần thể hiện thái độ đúng mực với đối tượng, không tỏ thái độ hách dịch, trịch thượng hoặc dọa nạt, khinh bỉ Đối với văn bản của cấp dưới gửi cấp trên, tránh lối diễn đạt thể hiện sự khúm núm, sợ hãi hay nịnh bợ; song cũng không xưng hô, trình bày một cách xách mé, hạ thấp cấp trên. Đặc biệt với các văn bản phải đưa ra lời từ chối nên lưu ý cách diễn đạt để tránh có tác động xấu đến tâm lí người đọc. Thí dụ: 20
- Nên viết: Tổng Công ty rất tiếc phải từ chối lời đề nghị của Xí nghiệp v/v xin thay đổi phương hướng kinh doanh vì điều kiện hiện nay chưa cho phép. Không nên viết: Tổng Công ty không thể chấp nhận lời đề nghị của Xí nghiệp v/v xin thay đổi phương hướng kinh doanh vì điều kiện hiện nay chưa cho phép. - Lời văn trang trọng sẽ thể hiện sự tôn trọng đối với các chủ thể thi hành, làm tăng uy tín của cá nhân, tập thể ban hành văn bản. 2.4. Tính khách quan Văn bản hành chính phải trình bày thông tin một cách khách quan, không thiên vị vì nó là tiếng nói quyền lực của Nhà nước chứ không phải là tiếng nói của cá nhân, dù rằng văn bản có thể được giao cho một cá nhân hay một nhóm cá nhân soạn thảo. Là người phát ngôn thay cho công quyền, người soạn thảo văn bản không được tự ý đưa những quan điểm riêng của mình vào văn bản, mà phải nhân danh cơ quan trình bày đúng ý chí của Nhà nước, ý tưởng của tập thể hay của của lãnh đạo. Do đó, ngôn ngữ phải khách quan. Tính khách quan của văn bản hành chính gắn liền với tính chính xác của văn bản. Tính khách quan được biểu hiện cụ thể như sau: - Thông tin trình bày trong văn bản phải đúng với hiện thực khách quan, không bị hư cấu. Nghĩa là việc tô hồng hay bôi đen, bóp méo thông tin đều đi ngược với yêu cầu khách quan của văn bản. - Ngôn ngữ phải khách quan, không dùng từ biểu cảm, ít dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít, không dùng các danh từ chỉ mối quan hệ thân thuộc để xưng hô giữa các cơ quan hay các cá nhân trong quá trình giải quyết việc công. Dùng từ chỉ chức vụ, chức danh hoặc dùng tên cơ quan để xưng hô trong văn bản. 21
- Thí dụ: Hay dùng các cụm từ chỉ các đối tượng chung như: “ Sở Kế hoạch và Đầu tư đề nghị ”, “Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu ”. Nếu văn bản có ghi: “Thủ tướng Chính phủ yêu cầu ”, “Giám đốc Sở Nội vụ đề nghị ”, “Trưởng phòng Đào tạo thông báo ” thì đó cũng là ý chí Nhà nước. Họ chỉ với tư cách Nhà nước, đại diện cho tập thể, thay mặt tập thể ra văn bản mà thôi. - Thể hiện ý chí Nhà nước ở mức tối đa, giảm yếu tố cá nhân ở mức tối thiểu. - Không dùng từ địa phương hay các từ mang phong cách cá nhân. - Không dùng các câu, từ mang sắc thái biểu cảm; tuyệt đối không sử dụng các biện pháp tu từ, những hình ảnh bóng bẩy, cầu kì Ngôn ngữ hành chính là ngôn ngữ của lí trí, và nói chung đơn điệu, lạnh lùng. Tính đơn điệu lạnh lùng này làm cho tính khách quan càng được biểu hiện rõ nét. 2.5. Tính phổ thông, đại chúng Đối tượng tiếp nhận của văn bản quản lí nhà nước, đặc biệt của nhóm văn bản quy phạm pháp luật, là nhiều tầng lớp nhân dân trong cả nước. Vì vậy, ngôn ngữ biểu đạt phải mang tính phổ thông, đại chúng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ tiếp thu đối với quần chúng nhân dân. Tất nhiên, tính phổ thông, đại chúng không hề mâu thuẫn với tính khuôn mẫu, chuẩn mực. Cần lưu ý tránh hiện tượng sử dụng ngôn ngữ suồng sã, thông tục với quan điểm cho rằng như thế mới đạt yêu cầu đại chúng. Không dùng khẩu ngữ, tiếng lóng, tiếng địa phương, các từ nước ngoài chưa được Việt hoá ở phạm vi toàn quốc. Cần viết cho phù hợp với trình độ người tiếp nhận. Không nên viết ở tầm quá thấp cho người có trình độ cao sẽ làm giảm giá trị văn bản, làm mất thiện cảm của người tiếp nhận. Cũng không nên viết ở tầm quá cao cho người có trình độ thấp bởi người đọc sẽ khó tiếp nhận văn bản một cách thấu đáo, chính xác. 22
- Trên đây là một số đặc điểm cơ bản, đồng thời cũng là những tiêu chí của việc lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ của phong cách ngôn ngữ hành chính, ngoài ra còn một số đặc điểm khác nữa như tích ngắn gọn, súc tích, tính có hiệu lực cao Nhưng nói chung, thực hiện tốt những đặc điểm trên đây là đạt được yêu cầu cần thiết của ngôn ngữ văn bản quản lí nhà nước. 23
- Chương 2. TẠO LẬP VĂN BẢN A. QUY TRÌNH XÂY DỰNG VĂN BẢN Tạo lập văn bản là một quy trình, bao gồm những b ước sau: I. Định hướng - xác định các nhân tố giao tiếp của văn bản Trước khi viết một văn bản cần có sự định hướng về văn bản. Việc định hướng này chính là việc xác định những nhân tố giao tiếp của văn bản. Các nhân tố giao tiếp của văn bản bao gồm: Nhân vật giao tiếp, nội dung giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp, cách thức giao tiếp. 1. Nhân vật giao tiếp: là những người tham gia vào hoạt động giao tiếp. Đó là người nói và người nghe, người viết và người đọc, người tạo lập và người tiếp nhận văn bản. Giữa các nhân vật giao tiếp có quan hệ vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân. Quan hệ vai giao tiếp là quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp đối với chính sự phát - nhận trong giao tiếp. Quan hệ liên cá nhân là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa những nhân vật giao tiếp với nhau. 2. Nội dung giao tiếp: Là vấn đề được đề cập đến trong văn bản. 3. Hoàn cảnh giao tiếp: Ở cách hiểu hẹp: Hoàn cảnh giao tiếp là hoàn cảnh thời gian, không gian diễn ra hoạt động giao tiếp. Ở cách hiểu rộng: Hoàn cảnh giao tiếp là môi trường văn hoá, xã hội chi phối hoạt động giao tiếp. 4. Mục đích giao tiếp: Là cái đích mà các nhân vật giao tiếp đặt ra trong cuộc giao tiếp. Mục đích giao tiếp bao gồm: Đích thuyết phục (giao tiếp làm thay đổi trạng thái nhận thức của các nhân vật giao tiếp), đích truyền cảm (giao tiếp làm thay đổi trạng thái tình cảm của các nhân vật giao tiếp), đích hành động (thông qua giao tiếp, các nhân vật giao tiếp thúc đẩy nhau hành động). 24
- 5. Cách thức giao tiếp: Hoạt động giao tiếp được thực hiện bằng những phương tiện giao tiếp nào (phương tiện ngôn ngữ; phương tiện kí hiệu, tín hiệu; phương tiện vật chất cụ thể), trực tiếp hay gián tiếp, giao tiếp chính thức hay giao tiếp không chính thức? Việc xác định các nhân tố giao tiếp có thể có hai trường hợp sau: Trường hợp 1: Một số các nhân tố đã được xác định sẵn Đây là trường hợp văn bản được tạo lập theo một đề cho trước hoặc theo một đề tài nhất định. Thí dụ: Hãy soạn thảo một công văn hành chính của UBND xã gửi UBND huyện về vấn đề trợ cấp sau cơn bão. Trong quá trình soạn thảo công văn, sinh vên đã xác định được: - Nhân vật giao tiếp: Cơ quan nhận: UBND huyện; cơ quan gửi: UBND xã. - Nội dung giao tiếp: Vấn đề trợ cấp sau cơn bão. - Mục đích giao tiếp: Mong muốn nhận được sự ủng hộ của cấp trên. - Cách thức giao tiếp: Hoạt động giao tiếp được thực hiện bằng văn bản tức bằng phương tiện giao tiếp gián tiếp. - Hoàn cảnh giao tiếp: có tính nghi thức, thuộc phong cách hành chính - công vụ Trường hợp 2: Người tạo lập văn bản phải tự xác định các nhân tố giao tiếp của văn bản Người viết cần xác định rõ: - Nhân vật giao tiếp: Văn bản hướng tới nhân vật giao tiếp nào và người viết có vai trò và tư cách nào khi viết văn bản. Văn bản hành chính là phương tiện giao tiếp có tính nghi thức giữa Nhà nước với nhân dân, nhân dân với Nhà nước; tổ chức, cơ quan này với tổ chức cơ quan khác; nước này với nước khác. Do đó trong giao tiếp hành chính điều quan trọng là phải xác định được vị thế giao tiếp: cơ quan cấp trên gửi c ơ quan cấp dưới hay ngược lại hay ngang cấp. Trong giao tiếp hành chính, 25
- người viết không được thể hiện tính cá nhân của mình mà phải là tiếng nói của tổ chức cơ quan mà người đó đại diện. - Văn bản trình bày nội dung gì, viết về vấn đề gì và đạt đến mục đích gì trong giao tiếp: Ở giao tiếp hành chính, nội dung giao tiếp có tính công vụ (bí mật hay không bí mật), mục đích giao tiếp là lợi ích c ơ quan, đoàn thể hay quốc gia. - Văn bản được viết trong hoàn cảnh nào (không gian, thời gian), thí dụ có khẩn hay không - Cách thức giao tiếp như thế nào, lựa chọn và sử dụng những ph ương tiện giao tiếp như thế nào, kiểu loại văn bản như thế nào. Khi soạn thảo v ăn bản hành chính, phải xác định loại văn bản để xây dựng đúng khuôn mẫu gồm những thành phần thể thức quy định. Việc xác định đúng những nhân tố giao tiếp nêu trên rất quan trọng. Xác định càng chính xác văn bản càng đạt hiệu quả giao tiếp. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuốn “Cách viết” đã từng chỉ rõ: Khi viết cần xác định các vấn đề: Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết cái gì? Viết như thế nào? Viết rồi phải thế nào? II. Lập đề cương cho văn bản 1. Định nghĩa: Lập đề cương tức là xác lập ý và sắp xếp ý. Xác lập ý (tìm ý): Xác lập các ý lớn và ý nhỏ để triển khai các ý lớn. Sắp xếp ý: Ý nào trình bày trước, ý nào trình bày sau, ý nào bao gồm ý nào. 2. Mục đích của việc lập đề cương - Người viết có cái nhìn khái quát, tổng thể về văn bản trước khi viết văn bản. Điều này tránh cho văn bản bị lạc đề, xa rời đích giao tiếp; người viết chủ động trong việc triển khai các phần của văn bản, tránh tình trạng viết một cách ngẫu hứng. 26
- - Người viết có điều kiện bổ sung, sửa đổi, sắp xếp lại các ý. 3. Nguyên tắc khi lập đề cương Khi lập đề cương, cần phải tuân thủ một số nguyên tắc sau đây: 3.1. Nguyên tắc thiết thực - Biểu hiện: Các thành tố nội dung đưa ra phải hướng vào chủ đề chung của văn bản, phù hợp với nội dung vấn đề, mục đích giao tiếp và cách thức giao tiếp đã được xác định trong phần định hướng; không được xa rời trọng tâm hoặc đưa ra những ý quá vụn vặt. Thí dụ: Khi lập đề cương để viết bản thông báo về việc tham gia giải chạy báo Hà Nội mới, ng ười viết chỉ cần xác lập những thành tố nội dung: Căn cứ ra thông báo, thành phần tham gia, thời gian và địa điểm, trang phục. Nếu xác lập thành tố nội dung lợi ích của việc tham gia giải chạy báo Hà Nội mới là không cần thiết. Đối với văn bản hành chính, nguyên tắc này còn thể hiện việc tuân thủ những thành phần thể thức quy định. - Nếu không tuân thủ nguyên tắc này, người viết sẽ mắc lỗi xa đề hoặc lạc đề hoặc nội dung phát triển không đầy đủ. 3.2. Nguyên tắc giá trị tương đương - Biểu hiện: Các ý cùng giá trị phải có mối quan hệ t ương đương, phải được trình bày với cùng một loại kí hiệu. Ng ược lại, những ý không cùng giá trị, không được thiết lập quan hệ tương đương. Thí dụ: Nếu viết về vai trò của thể thao đối với cuộc sống con người, nếu thiết lập những thành tố nội dung: + Thể thao tăng cường sức khoẻ cho con người + Thể thao tạo ra những giá trị tinh thần to lớn + Thể thao giúp con người sống vui Thì thành tố nội dung thứ ba đã được bao gồm trong thành tố nội dung thứ hai. 27
- - Nếu không tuân thủ nguyên tắc này, các thành tố nội dung sẽ trùng lặp, mâu thuẫn, lộn xộn. 4. Các loại đề cương Có 2 loại đề cương: Đề cương sơ giản và đề cương chi tiết. 4.1. Đề cương sơ giản Đối với văn bản lớn: Chỉ nêu tên gọi của các mục, các phần, các chương. Đối với văn bản nhỏ: Chỉ nêu các ý lớn mà chưa cụ thể hoá nhỏ cùng các lí lẽ và dẫn chứng. Thí dụ1: Với đề tài: “Câu cầu khiến trong văn bản hành chính”, có thể lập đề cương sơ giản như sau: Chương 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÍ THUYẾT CĂN BẢN 1. Đặc điểm hành chức của ngôn ngữ trong văn bản hành chính 2. Câu cầu khiến và vai trò của câu cầu khiến trong văn bản hành chính Chương 2: PHƯƠNG PHÁP VIẾT CÂU CẦU KHIẾN TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH 1. Xác định chính xác hành động cầu khiến 2. Xác định mục đích ban hành và đối tượng tiếp nhận văn bản 3. Phương pháp viết câu cầu khiến theo thể cầu 4. Phương pháp viết câu cầu khiến theo thể khiến 5. Chuyển đổi kiểu câu Chương 3: MỘT SỐ KIỂU LỖI VỀ CÂU CẦU KHIẾN TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH 1. Lỗi về cấu tạo 2. Lỗi về ý nghĩa 3. Lỗi về phong cách Thí dụ 2: Khi xây dựng bản Kế hoạch tổ chức phong trào thi đua trong cán bộ công nhân viên chức - lao động quận Tây Hồ năm 2007, người soạn thảo xây dựng đề cương sơ giản như sau: 28
- 1. Mục đích, yêu cầu của việc tổ chức phong trào thi đua 2. Nội dung thi đua 3. Biện pháp tổ chức thi đua 4. Tổ chức thực hiện 4.2. Đề cương chi tiết: Không chỉ bao gồm những ý lớn mà còn bao gồm những ý nhỏ triển khai các ý lớn tức bao gồm những lí lẽ và dẫn chứng. Với đề tài “Câu cầu khiến trong văn bản hành chính”, có thể xây dựng đề cương chi tiết như sau: Chương 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÍ THUYẾT CĂN BẢN 1. Đặc điểm hành chức của ngôn ngữ trong văn bản hành chính 1.1 Phong cách ngôn ngữ hành chính và đặc điểm của phong cách ngôn ngữ hành chính. 1.2 Đặc trưng của phong cách hành chính công vụ 1.3 Chức năng và vai trò của ngôn ngữ trong văn bản hành chính 2. Câu cầu khiến và vai trò của câu cầu khiến trong văn bản hành chính 2.1 Khái niệm câu tiếng Việt: Theo quan niệm truyền thống Câu là một đơn vị của ngôn ngữ dùng để thông báo, có tính giao tiếp, tính tình thái và tính vị ngữ. 2.2 Mục đích nói và sự phân loại câu theo mục đích nói 2.3 Hành động cầu khiến và câu cầu khiến trong tiếng Việt 2.4 Vai trò của câu cầu khiến trong văn bản hành chính Chương 2: PHƯƠNG PHÁP VIẾT CÂU CẦU KHIẾN TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH 1. Xác định chính xác hành động cầu khiến 2. Xác định mục đích ban hành và đối tượng tiếp nhận văn bản 2.1 Xác định mục đích ban hành văn bản 2.2 Xác định đối tượng tiếp nhận văn bản 3. Phương pháp viết câu cầu khiến theo thể cầu 29
- 3.1 Hành động cầu và câu cầu khiến viết theo thể cầu 3.2 Tác dụng của lối diễn đạt cầu khiến theo thể cầu, các trường hợp dùng thể cầu trong giao tiếp hành chính 3.3 Cách tổ chức câu cầu khiến theo thể cầu 4. Phương pháp viết câu cầu khiến theo thể khiến 4.1 Hành động khiến và câu cầu khiến viết theo thể khiến 4.2 Tác dụng của lối diễn đạt cầu khiến theo thể khiến, các trường hợp dùng câu cầu khiến theo thể khiến 4.3 Cách tổ chức câu cầu khiến theo thể khiến 5. Chuyển đổi kiểu câu 5.1 Chuyển câu tường thuật sang câu cầu khiến 5.2 Chuyển câu cầu khiến thể cầu thành câu cầu khiến theo thể khiến 5.3 Chuyển câu cầu khiến thể khiến thành câu cầu khiến thể cầu Chương 3: MỘT SỐ KIỂU LỖI VỀ CÂU CẦU KHIẾN TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH 1. Lỗi về cấu tạo 1.1 Các biểu hiện lỗi về cấu tạo 1.2. Cách sửa 2. Lỗi về ý nghĩa 2.1 Các biểu hiện lỗi 2.2 Cách sửa 3. Lỗi về phong cách 3.1 Các biểu hiện lỗi 3.2 Cách sửa 5. Các thao tác lập đề cương Khi lập đề cương, cần xác lập các thành tố nội dung và sắp xếp chúng theo một trình tự hợp lí. 5.1. Xác lập các thành tố nội dung 30
- Các thành tố nội dung là các ý lớn, ý nhỏ hay nói cách khác là luận điểm, luận cứ; chủ đề chung và chủ đề bộ phận. Việc xác lập này dựa vào những quan hệ lôgích sau: - Quan hệ hướng nội hay nội tại: Phân xuất vấn đề thành những phương diện khác nhau tức quan hệ giữa đối tượng với các thành tố cấu thành đối tượng. Thí dụ: Báo cáo tổng kết năm học của lớp có những thành tố nội dung: Những kết quả đã đạt được và những hạn chế. Trong thành tố nội dung những kết quả đã đạt được có thể phân xuất tiếp thành những thành tố sau: Về học tập, về đạo đức, về hoạt động đoàn thể. Như vậy việc phân xuất thành những thành tố nội dung có thể thực hiện ở những cấp độ khác nhau. Những thành tố nội dung có thể có quan hệ đối lập hoặc bổ sung. - Quan hệ hướng ngoại: Quan hệ của vấn đề với những vấn đề khác để từ đó xác lập những thành tố nội dung của văn bản. Những quan hệ này có thể là quan hệ nguyên nhân - kết quả, điều kiện - hệ quả Thí dụ: Với vấn đề là những kết quả đã đạt được trong năm qua của lớp HCVP K42 đặt trong mối quan hệ hướng ngoại nguyên nhân - hệ quả để đưa ra thành tố nội dung: Nguyên nhân của những kết quả đó. 5.2. Sắp xếp các thành tố nộ i dung Sắp xếp theo lôgíc có tính khách quan hay chủ quan của người viết. Theo lôgíc khách quan: Theo trình tự thời gian, vị trí không gian, quan hệ toàn thể bộ phận hay điều kiện - hệ quả Thí dụ: Với vấn đề là : Dân ca Việt Nam, 3 thành tố nội dung đượ c sắp xếp theo logic khách quan như sau: - Dân ca Bắc Bộ - Dân ca Trung Bộ - Dân ca Nam Bộ 31
- Theo lôgíc chủ quan: Theo tâm lí cảm xúc, theo sự đánh giá chủ quan của người viết. Với vấn đề những kết quả đã đạt được trong năm học 2006-2007 của lớp HCVP K42, các thành tố nội dung được sắp xếp theo logic chủ quan (theo sự đánh giá về mức độ quan trọng) như sau: - Kết quả về học tập - Kết quả rèn luyện đạo đức - Thành tích về các hoạt động đoàn thể. III. Viết đoạn văn và liên kết các đoạn văn Đề cương là bộ khung, là bản thiết kế để xây dựng văn bản. Viết văn bản chính là sự hiện thực hoá đề cương. Khi viết một văn bản phải tiến hành các hoạt động viết từ, câu, đoạn văn và liên kết các đoạn văn. Nhưng trong phần nầy chỉ đề cập đến việc viết đoạn văn, văn bản mà không nói đến viết từ, câu bởi sẽ được đề cập đến ở chương sau. 1. Viết đoạn văn 1.1. Định nghĩa: Đoạn văn là đơn vị để tổ chức văn bản, thường gồm một số câu gắn bó với nhau trên cơ sở một chủ đề bộ phận, cùng nhau phát triển chủ đề đó theo định hướng giao tiếp chung của văn bản. 1.2. Yêu cầu về đoạn văn trong văn bản 1.2.1. Về hình thức: Đoạn văn phải được tách ra một cách rõ ràng về hình thức với dấu hiệu mở đầu là lùi đầu dòng và viết hoa; dấu hiệu kết thúc là dấu chấm và xuống dòng. 1.2.2. Về nội dung: Đoạn văn phải có tính nhất thể và có tính mạch lạc. Tính nhất thể của đoạn thể hiện ở việc các câu phải tập trung thể hiện ý chủ đề. Tránh viết những câu xa đề, lạc ý. 32
- Thí dụ: Trong đoạn văn bàn về chi phí đại học quá cao mà người viết dành nhiều câu nói về tình trạng lạm phát là bị xa đề. Đoạn văn mạch lạc là đoạn văn mà các câu cần phải gắn bó chặt chẽ , được trình bày theo một trình tự hợp lôgích. Thí dụ theo trình tự thời gian, theo mức độ quan trọng, theo quan hệ toàn thể - bộ phận, nguyên nhân - kết quả, cái chung - cái riêng Nhờ đó đoạn văn có một kết cấu nhất định: diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích, song hành. Sự gắn bó chặt chẽ giữa các câu trong đoạn văn thể hiện bằng hình thức là những phương thức liên kết: Thế, nối, lặp, li ên tưởng. Thí dụ về đoạn văn đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu trên: Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho người học tích luỹ trong quá trình học tập. Phần lớn học phần có khối lượng từ hai đến năm đơn vị học trình, được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kì. Kiến thức trong mỗi học phần phải gắn với một mức trình độ theo năm học được thiết kế và được kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều môn học. Từng học phần phải được kí hiệu bằng một mã riêng do trường quy định . (Quy chế đào tạo đại học, cao đẳng ban hành kèm theo Quyết định số 25/2006/QĐ- BGD&ĐT ngày 26/6/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) Trên đây là đoạn văn có kết cấu song hành. Các câu được liên kết với nhau bằng phương thức liên kết lặp từ vựng. Thí dụ về đoạn văn không đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu trên: Về chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước chưa có chính sách đầu tư hợp lí và tạo nguồn ngân sách để duy trì hoạt động và phát triển tổ chức y tế cơ sở, nhất là chính sách về tiền lương. Nghị định 123 HĐBT quy định lương cán bộ y tế cơ sở: 50% kinh phí huyện trả, 50% kinh phí xã trả toàn tỉnh chỉ có khoảng 30% số xã thực hiện được, còn nói chung các xã không thực hiện được, lí do đơn giản là xã nghèo, không có nguồn thu cho nên cán 33
- bộ y tế chỉ được trả 50% do kinh phí huyện cấp. Cho nên cán bộ y tế phải tự thân vận động, từ đó dẫn đến việc quản lí họ lỏng lẻo. 1.3. Các thao tác viết đoạn văn 1.3.1. Căn cứ vào đề cương đã lập, mỗi thành tố nội dun g trong đề cương nên viết thành một đoạn văn. Các thành tố nội dung có tính cấp độ, ý lớn bao gồm ý nhỏ. Chính vì vậy đoạn văn cũng có tính cấp độ, một đoạn lớn bao gồm nhiều đoạn nhỏ. Thí dụ: Với đề cương của Bản kế hoạch tổ chức phong trào thi đua trong công nhân viên chức, lao động quận Tây Hồ: - Mục đích, yêu cầu của việc tổ chức phong trào thi đua - Nội dung thi đua - Biện pháp tổ chức thi đua - Tổ chức thực hiện Người viết nên triển khai thành bốn đoạn lớn tương ứng với bốn nội dung nêu trên. Trong các đoạn lớn đó có các đoạn nhỏ. Thí dụ trong đoạn viết về việc tổ chức thực hiện có hai đoạn văn nhỏ: Đối với Liên đoàn Lao động quận Đối với công đoàn cơ sở 1.3.2. Lựa chọn hướng triển khai nội dung trong đoạn văn Lựa chọn hướng triển khai nội dung trong đoạn văn tức là chọn mô hình kết cấu của đoạn văn. Mô hình kết cấu của đoạn văn được phân chia thành hai nhóm: Đoạn văn có câu chủ đề (diễn dịch, quy nạp, móc xích, tổng phân hợp); đoạn văn không có câu chủ đề (song hành). Việc lựa chọn mô hình kết cấu của đoạn văn phụ thuộc vào: - Vị trí và quan hệ của đoạn văn đó với đoạn văn trước. Thí dụ đoạn văn mở đầu một chương hay phần nào đó trong văn bản thường có câu chủ đề ở đầu đoạn tức người viết lựa chọn kết cấu diễn dịch 34
- hay tổng phân hợp. Ngược lại đoạn văn kết thúc chương hay phần nào đó trong văn bản thường có câu chủ đề ở cuối đoạn tức người viết lựa chọn kết cấu quy nạp, móc xích hay tổng phân hợp. - Nội dung vấn đề trình bày trong đoạn. - Phong cách ngôn ngữ của người viết và phong cách chức năng của văn bản. Phong cách ngôn ngữ của người viết ở đây được hiểu là thói quen, sở trường và cả khả năng ngôn ngữ của người viết. Phong cách chức năng của văn bản tức văn bản thuộc loại nào: văn bản hành chính, văn bản báo chí, văn bản nghệ thuật, văn bản nghị luận, văn bản khoa học. 1.3.3. Viết đoạn văn có câu chủ đề Câu chủ đề là câu quan trọng nhất trong đoạn văn. Về nội dung: Nó diễn đạt một cách ngắn gọn, khái quát nội dung của cả đoạn văn còn các câu khác chỉ làm nhiệm vụ khai triển hoặc nêu luận cứ để đi đến kết luận được trình bày ở câu chủ đề. Do vậy khi viết câu chủ đề không được đưa quá nhiều chi tiết, quá nhiều nội dung cụ thể vào trong câu bởi nó gây khó khăn trong việc phát triển của đoạn văn. Tuy nhiên câu chủ đề cũng không được quá khái quát bởi nó không định hướng cho người đọc về nội dung lập luận trong đoạn văn. Vị trí: Câu chủ đề có thể ở đầu đoạn văn hay cuối đoạn văn hay ở cả đầu và cuối đoạn văn. Về cấu tạo: Câu chủ đề thường đầy đủ thành phần chính, có thể được mở rộng thêm thành phần phụ nhưng không được quá dài. - Đoạn văn có câu chủ đề ở đầu đoạn văn: Trường hợp này thường thấy trong văn bản hành chính, nghị luận, khoa học. Câu chủ đề có nhiệm vụ nêu nội dung chính của cả đoạn văn, thông báo trước nội dung của cả đoạn văn, liên kết với đoạn văn đứng trước nó 35
- Đoạn văn có câu chủ đề ở đầu đoạn là đoạn văn có kết cấu diễn dịch, người viết lựa chọn hướng triển khai từ khái quát đến cụ thể. Sau khi viết câu chủ đề với những yêu cầu về nội dung, cấu tạo nêu trên, người viết viết những câu khai triển. Về nội dung: Câu khai triển giải thích, chứng minh nội dung câu chủ đề bằng lí lẽ, dẫn chứng. Câu triển khai với câu chủ đề có thể có 2 kiểu quan hệ: quan hệ trực tiếp và quan hệ gián tiếp. Quan hệ trực tiếp tức là câu triển khai phục vụ trực tiếp cho ý chủ đề. Quan hệ gián tiếp tức là câu triển khai nhằm mở rộng, giải thích cho một câu khai triển khác. Chính việc đan xen nhiều kiểu quan hệ này tạo nên cấu trúc nhiều tầng bậc. Ta có thể mô hình hoá như sau: A (Nội dung câu chủ đề) Nội dung câu 1 Nội dung câu 2 Nội dung câu 3 Các câu khai triển có mối quan hệ song hành (mỗi câu biểu đạt một khía cạnh, một phương diện của nội dung câu chủ đề), liên kết chiều ngược (tức trong câu sau có chứa yếu tố ngôn ngữ liên kết với câu trước nó. Thí dụ: như ở trên, như đã nêu, nêu trên, ) hoặc liên kết chiều xuôi (tức ở câu trước xuất hiện những yếu tố ngôn ngữ liên kết với những câu sau nó. Thí dụ: như sau đây, dưới đây ). Nói cách khác là quan hệ tương đối độc lập hoặc quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Về cấu tạo: Câu triển khai thường dài, có nhiều thành phần phụ, có thể là câu không đầy đủ thành phần. Thí dụ: Vai trò quan trọng khác của các phương tiện thông tin đại chúng trong việc phát triển ngôn ngữ là chuẩn hóa ngôn ngữ . Nói như vậy có nghĩa là, một từ mới hay một thuật ngữ mới, khi được dùng trên báo chí hay các chương trình phát thanh và truyền hình thì bình thường đã được chuẩn hóa về mặt ngữ âm, cách viết, về mặt ngữ nghĩa, cảnh huống sử dụng Người nghe hay độc giả khi tiếp thu các từ mới nà y đã tiếp thu ngay 36
- dạng chuẩn của nó và cách sử dụng. Hoặc có những từ trước đó họ dùng chưa đúng, phát âm hay viết chưa đúng, nhưng nay qua các phương tiện thông tin đại chúng, họ đã tự sửa được những sai sót đó. - Đoạn văn có câu chủ đề ở cuối đoạn Người viết lựa chọn hướng triển khai nội dung của đoạn từ cụ thể đến khái quát, từ luận cứ đến kết luận. Câu cuối cùng là câu chủ đề của đoạn. Như vậy đoạn văn có kết cấu quy nạp hoặc móc xích. Đoạn văn có kết cấu móc xích: Các câu lồng móc vào nhau, một bộ phận nội dung cua câu trước được nhắc lại trong câu sau. Thông thường viết những câu có kết cấu móc xích người ta đi tìm quan hệ nhân quả, tìm nguồn gốc của sự kiện đưa ra, tìm nguyên nhân hay những điều kiện của sự việc. Viết đoạn văn kiểu này, người viết phải có kĩ năng viết câu kết. Câu kết đồng thời phải thực hiện một số nhiệm vụ: + Báo hiệu sự kết thúc của đoạn văn; + Tóm lược những luận điểm quan trọng nhất vừa được trình bày trong đoạn văn; + Gợi lên cho người đọc những suy nghĩ tiếp theo về nội dung chính được nêu trong đoạn văn. Câu kết có thể theo hai hướng: kết đóng hoặc kết mở. Kết đóng tức người viết tóm lược nội dung chính được trình bày trong đoạn văn bằng các từ như: Nói tóm lại, nhìn chung, nói cho cùng, xét cho cùng, như vậy Kết mở tức người viết dành một bộ phận nội dung tóm lược nội dung chính trong đoạn văn và một bộ phận nội dung để gợi mở cho người đọc có thể bằng hình thức hỏi. Thí dụ: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải t ăng gia sản xuất. Muốn tăng gia sản xuất thì phải có kĩ thuật cải tiến. Muốn sử dụng tốt kĩ thuật thì phải có văn hoá. Vậy việc bổ túc văn hoá là cực kì cần thiết. (Hồ Chí Minh) Đoạn văn trên có câu chủ đề ở cuối đoạn và viết theo kết cấu móc xích. 37
- Thí dụ: Chính quyền nhân dân ta vững chắc. Quân đội nhân dân ta hùng mạnh.Mặt trận nhân dân rộng rãi. Công nhân, nông dân và trí thức được rèn luyện và thử thách và tiến bộ không ngừng. Nói tóm lại, lực lượng của chúng ta to lớn và ngày càng to lớn. (Hồ Chí Minh) Đoạn văn trên có câu chủ đề ở cuối đoạn và viết theo kết cấu quy nạp. - Đoạn văn có câu chủ đề kép: Người viết triển khai một quy trình ba bước: Viết câu mở đầu để nêu một nhận định khái quát. Những câu tiếp theo triển khai nội dung này (chứng minh, giải thích) và dùng câu cuối đoạn để nâng thành kết luận. Tức người viết phối hợp hai cấu trúc diễn dịch và quy nạp để tạo nên cấu trúc tổng phân hợp. Trong xã hội truyện Kiều, đồng tiền đã thành một sức mạnh tác quái rất ghê. .Nguyễn Du không phải không nhắc đến tác dụng tốt của đồng tiền. Có tiền, Thúc Sinh, Từ Hải mới chuộc được Kiều; Kiều mới cứu được cha và sau này mới báo được ơn cho người này, người nọ. Đó là những khi đồng tiền nằm trong tay người tốt. Nhưng chủ yếu, Nguyễn Du nhìn về mặt tác hại, vì ông thấy rõ cả một loạt hành động gian ác, bất chính đều do đồng tiền chi phối. Quan lại vì tiền mà bất chấp công lí; sai nha vì tiền mà làm nghề buôn thịt bán người; Sở Khanh vì tiền mà táng tận lương tâm; Khuyển Ưng vì tiền mà làm những điều ác độc. Cả một xã hội chạy theo tiền. (Hoài Thanh) 1.3.4. Viết đoạn văn không có câu chủ đề Đoạn văn không có câu chủ đề có cấu trúc song hành, các câu tương đối độc lập với nhau, mỗi câu triển khai một phương diện của chủ đề đoạn văn. Viết đoạn văn không có câu chủ đề, người viết cần phân tách chủ đề của đoạn văn (đã được hình thành từ khi lập đề cương) thành những phương diện khác nhau, những khía cạnh khác nhau, mỗi câu thể hiện một khía cạnh 38
- ấy. Thường trong đoạn văn có cấu trúc song hành, các câu có cấu trúc giống nhau. Nhưng viết đoạn theo hướng này, đòi hỏi lựa chọn thứ tự sắp xếp các câu theo một trật tự nhất định. Thí dụ: Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. (Hồ Chí Minh) Đoạn văn trên có kết cấu song hành mà các câu được sắp xếp theo mức độ tội ác tăng dần. Nhìn chung, khi viết đoạn văn song hành, cần: - Liệt kê các sự kiện (của cùng một chủ thể hoặc các chủ thể khác nhau) có liên quan với nhau về một mặt nào đó. - Liệt kê các sự kiện đối lập, tương phản với nhau. - Liệt kê các sự vật theo hướng tăng cấp. 2. Liên kết các đoạn văn Văn bản là một chỉnh thể bao gồm nhiều đoạn văn. Nếu chỉ biết viết những đoạn văn thì chưa thể xây dựng một văn bản hoàn chỉnh. Ta cần phải biết liên kết các đoạn văn. Thông thường có hai cách liên kết các đoạn văn: 2.1. Dùng những phương tiện liên kết câu - Dùng những phương tiện liên kết câu ở các câu giáp giới giữa hai đoạn. Ta có thể sơ đồ hoá như sau: ĐV1 có C1 C2 C3 ĐV2 có C1 C2 C3 C4 39
- Dùng phương tiện liên kết câu để liên kết câu thứ ba của đoạn thứ nhất và câu thứ nhất của đoạn thứ hai để liên kết hai đoạn văn. Những phương tiện liên kết thuộc những phương thức liên kết câu như: Phương thức nối, lặp, thế, liên tưởng. + Phương thức nối: Dùng quan hệ từ hoặc những từ ngữ có tác dụng chuyển tiếp như: Trước hết, sau cùng, nói tóm lại, bên cạnh đó để nối các câu. Thí dụ: Theo nghĩa hẹp: “Cải cách hành chính” là một quá trình thay đổi nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả hành chính, cải tiến tổ chức, chế độ và phương pháp hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương pháp hành chính mới trong lĩnh vực quản lí của bộ máy hành chính nhà nước. Như vậy, cải cách hành chính ở nước ta là trọng tâm của công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm những thay đổi có chủ định nhằm hoàn thiện: thể chế hành chính, c ơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành của bộ máy hành chính các cấp và đội ngũ công chức hành chính để nâng cao hiệu lực, năng lực và hiệu quả hoạt động của nền hành chính công phục vụ nhân dân. (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2000), Tập bài giảng một số vấn đề cơ bản về hành chính học, Nxb Chính trị Quốc gia, tr. 31) + Phương thức lặp: Một số từ ngữ hoặc cấu trúc được lặp lại trong các câu kế tiếp nhau. Thí dụ:: Văn minh, trên một ý nghĩa nào đó là biểu hiện của văn hoá. Một con người, một xã hội có văn hoá thường gắn với các nền văn minh. Nền văn minh lúa nước, văn minh sông Hồng gắn rất chặt chẽ với bản sắc dân tộc Việt Nam. Song, như Hồ Chí Minh đã phân tích, văn minh không trùng khít với văn hoá. Văn minh thực tế là cơ cấu xã hội, là trình độ kĩ thuật của một giai đoạn phát triển của một dân tộc, của khu vực, của loài người[ ] 40
- (GS.TS Đỗ Huy, 1997, Tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 342) + Phương thức thế: Dùng đại từ hay những từ ngữ đồng nghĩa trong câu sau để thay thế cho những từ ngữ hoặc nội dung của cả câu trước. Thí dụ: Nền hành chính nhà nước thể hiện được tính dân chủ và hoạt động có hiệu lực và hiệu quả phải là nền hành chính quán triệt đầy đủ nguyên tắc hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa – đó là sự tuân thủ pháp luật, trong đó không có chủ thể nào là ngoại lệ của sự tuân thủ đó. Một nền hành chính như vậy phải thực thi có hiệu lực quyền hành pháp trong khuôn khổ quyền lực nhà nước thống nhất, không phân chia mà chỉ có sự phân công rành mạch giữa các tổ chức thực hiện quyền lực đó[ ] (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2000), Tập bài giảng một số vấn đề cơ bản về hành chính học, Nxb Chính trị Quốc gia, tr. 24) + Phương thức liên tưởng: Dùng những từ ngữ có mối quan hệ liên tưởng (chỉnh thể - bộ phận, nhân - quả, đồng nhất, đối lập ) trong các câu kế tiếp nhau để nối kết. Thí dụ: Văn bản quy phạm pháp luật được thể hiện bằng tiếng Việt. Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải đơn giản, dễ hiểu. Đối với thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung, thì cần phải được định nghĩa trong văn bản. (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2000), Tập bài giảng một số vấn đề cơ bản về hành chính học, Nxb Chính trị Quốc gia, tr. 139) - Dùng những phương tiện liên kết câu ở đầu các đoạn văn. Có thể sơ đồ hoá như sau: ĐV1 có C1 C2 C3 ĐV2 có C1 C2 41
- Thí dụ: Và đây là một thí dụ khác trong lĩnh vực y tế: giá của 10 chiếc tàu sân bay mang vũ khí hạt nhân kiểu tàu Minít trong số 15 chiếc mà Hoa Kì dự định đóng từ nay đến năm 2000 cũng đủ để thực hiện một chương trình phòng bệnh trong cùng 14 năm đó và sẽ bảo vệ cho hơn 1 tỉ người khỏi bệnh sốt rét và cứu hơn 14 triệu trẻ em riệng cho châu Phi mà thôi. Và đây là một thí dụ khác trong lĩnh vực giáo dục: chỉ 2 chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân là đủ tiền xoá nạn mù chữ cho toàn thế giới 2.2. Dùng câu chuyển tiếp và đoạn chuyển tiếp để liên kết các đoạn 2.2.1. Dùng câu chuyển tiếp Về vị trí: Câu chuyển tiếp có thể đứng đầu đoạn văn sau hoặc đứng cuối đoạn văn trước. Về nội dung: Thường có hai phần: Phần đầu tóm lược nội dung chính của đoạn đi trước và phần sau mở ra nội dung của đoạn đi sau. Như vậy, câu chuyển tiếp không có tác dụng về mặt ngữ nghĩa trong đoạn văn mà có tác dụng liên kết. Về hình thức: Đoạn văn chuyển tiếp thường có chứa các từ chuyên dụng để chuyển tiếp như: Sau đây, trước hết, trở lên Thí dụ: Bên cạnh những thuận lợi nêu ở trên, Nhà tr ường cũng đứng trước những khó khăn, thách thức. 2.2.2. Dùng đoạn văn chuyển tiếp Bên cạnh loại đoạn văn chỉnh thể (loại đoạn văn có tính độc lập tương đối cao về ngữ nghĩa, không cần dựa vào những đoạn văn khác vẫn có thể hiểu được nội dung của chúng một cách tương đối đầy đủ trọn vẹn; là một tiểu văn bản, chứa đựng một tiểu chủ đề và thường có cấu trúc diễn dịch, quy nạp hoặc tổng phân hợp) còn có loại đoạn văn chuyển tiếp. Về nội dung: Đoạn văn này có hai phần nội dung giống như câu chuyển tiếp. Nó không có tiểu chủ đề. 42
- Về dung lượng: Đoạn văn chuyển tiếp thường chỉ gồm một vài câu. Để viết đoạn văn chuyển tiếp, trước hết cần xác định vị trí của nó tức là dùng để nối đoạn văn nào với đoạn văn nào trong văn bản. Sau đó xác định nội dung chuyển tiếp tức là thâu tóm nội dung của đoạn văn trước và xác định nội dung đoạn văn đi sau. Sau khi xác định được nội dung của nó, người viết có thể ghép hai nội dung đó vào trong một câu hoặc tách thành hai câu nhưng trong đoạn văn chuyển tiếp thường có chứa các yếu tố liên kết chiều ngược hoặc chiều xuôi. Thí dụ: Trở lên là mấy điều về bảo tồn các di sản văn hoá phi vật thể và truyền miệng của nhân loại nói chung. Sau đây là mấy việc làm cụ thể để bảo tồn di sản văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên. IV. Sửa chữa và hoàn thiện văn bản Lỗi khi viết văn bản thuộc nhiều loại khác nhau: Lỗi chính tả, về dùng từ, về đặt câu, về cấu tạo đoạn văn và văn bản. Ở đây chỉ bàn đến lỗi về đoạn văn và văn bản. 1. Lỗi ở cấp độ đoạn văn Các lỗi trong đoạn văn thuộc ba loại sau đây: 1.1. Lỗi về liên kết chủ đề 1.1.1. Lạc chủ đề: Các câu trong đoạn văn không tập trung về một chủ đề mà phân tán, nói về những vấn đề khác. Thông thường là câu mở đoạn nêu chủ đề, các câu sau chuyển sang nói về vấn đề khác. Chữa lỗi: Cần triển khai những phương diện của chủ đề đoạn văn bằng cách viết những câu có nội dung chứng minh hoặc giải thích, nêu nguyên nhân Thí dụ: Về chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước chưa có chính sách đầu tư hợp lí và tạo nguồn ngân sách để duy trì hoạt động và phát triển tổ chức y tế cơ sở, nhất là chính sách về tiền l ương. Nghị định 123/ HĐBT quy định lương cán bộ y tế cơ sở: 50% kinh phí huyện trả, 50% kinh phí xã 43
- trả, toàn tỉnh chỉ có khoảng 30% số xã thực hiện được, còn nói chung các xã không thực hiện được, lí do đơn giản là xã nghèo, không có nguồn thu cho nên cán bộ y tế chỉ được trả 50% do kinh phí huyện cấp. Cho nên cán bộ y tế phải tự thân vận động, từ đó dẫn đến việc quản lí họ lỏng lẻo. Hai câu sau không phát triển ý chủ đề đã được nêu trong câu đầu đoạn văn là Đảng và Nhà nước chưa có chính sách hợp lí để phát triển tổ chức y tế cơ sở mà lại nói về sự khó kh ăn của cấp xã và việ c quản lí cán bộ y tế. 1.1.2. Thiếu hụt chủ đề: Các câu trong đoạn văn không triển khai đầy đủ các nội dung chủ đề được nêu trong câu chủ đề. Thí dụ: Ở nước ta hiện nay áp dụng cả hai hệ thống công chức: hệ thống công chức theo chức nghiệp và hệ thống công chức theo việc làm. Đối với công chức điều khiển, chỉ huy hoặc cán bộ bầu cử của khối cơ quan tổ chức chính trị, đoàn thể xã hội thì áp dụng chế độ theo việc làm. Chữa lỗi: Cần xác định phương diện của chủ đề chưa được đề cập đến và viết thêm những câu t riển khai nội dung đó. Trong đoạn văn trên chưa triển khai ý chủ đề hệ thống công chức theo chức nghiệp. Cần viết thêm câu triển khai ý chủ đề này. Thí dụ: Đối với các công chức chuyên môn nghiệp vụ thì theo hệ thống chức nghiệp. 1.2. Lỗi về liên kết lôgí c 1.2.1. Lỗi đứt mạch: Ý của các câu trong đoạn văn bị đứt quãng, từ câu nọ chuyển sang câu kia không có sự chuyển tiếp. Chữa lỗi: Cần viết thêm câu chuyển tiếp ý hoặc viết thêm ý hạn định nội dung. Thí dụ: Mỗi năm trên thế giới có khoảng 6 triệu người bị mắc các chứng bệnh do sử dụng nguồn nước không sạch. Chỉ tính riêng tỉnh Bạc Liêu năm 2002 đã có tới hơn 5000 trường hợp phải tới điều trị tại các cơ sở y tế do dùng nước bị ô nhiễm. (Dẫn theo Hoàng Anh - Phạm Văn Thấu). 44
- Trong đoạn văn trên từ phạm vi thế giới, người viết chuyển ngay sang phạm vi một tỉnh trong một quốc gia mà không có sự chuyển tiếp. Chữa lỗi: Thêm câu chuyển tiếp, Thí dụ: Ở Việt Nam có rất nhiều người mắc các bệnh trên. 1.2.2. Lỗi mâu thuẫn về ý: Nội dung của các câu trong đoạn văn không phù hợp với nhau. Thí dụ: Các nhân viên hành chính là những người thừa hành nhiệm vụ do các công chức lãnh đạo giao. Họ là những người làm công tác phục vụ trong bộ máy nhà nước. Họ có trình độ chuyên môn ở mức độ thấp, nhiệm vụ chính của họ là tư vấn cho lãnh đạo. Đoạn văn trên mâu thuẫn giữa ý người thừa hành nhiệm vụ và làm công tác phục vụ với ý tư vấn cho lãnh đạo. Chữa lỗi: Cần loại bỏ ý mâu thuẫn với chủ đề đoạn văn. Đoạn văn trên cần chữa lại câu 3: Họ có trình độ chuyên môn ở mức độ thấp, nhiệm vụ chính của họ là tuân thủ theo sự h ướng dẫn của cấp trên. 1.3. Lỗi về liên kết hình thức: 1.3.1. Không dùng những phương tiện liên kết để liên kết các câu Chữa lỗi: Cần sử dụng những phương tiện liên kết câu thuộc những phương thức liên kết lặp, thế, nối, liên tưởng để nối các câu. Thí dụ: Các công văn, tài liệu dùng trong nội bộ cơ quan gọi là văn bản nội bộ. Bao gồm: Quyết định nhân sự, chỉ thị, thông báo, giấy công tác, giấy giới thiệu. Cần sử dụng phương thức lặp từ vựng để nối hai câu trên: Văn bản nội bộ bao gồm: Quyết định nhân sự, chỉ thị, thông báo, giấy công tác, giấy giới thiệu. 1.3.2. Sử dụng phương tiện liên kết không phù hợp Chữa lỗi: Cần xác định chính xác mối quan hệ ý nghĩa giữa các câu trong đoạn văn để sử dụng phương tiện liên kết cho phù hợp. 45
- Thí dụ: Tổ chức sử dụng có hiệu quả tài liệu l ưu trữ có tác dụng thiết thực trong việc tiết kiệm thời gian, công sức và tiền của cho Nhà n ước và nhân dân. Vì vậy, tổ chức sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ sẽ biến giá trị tiềm năng của tài liệu l ưu trữ thành của cải vật chất cho xã hội, nâng cao mức sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Hai câu trên không có quan hệ nhân quả nên người viết sử dụng từ ngữ chuyển tiếp vì vậy là không phù hợp. Cần thay bằng ngữ nói cách khác. 2. Lỗi ở cấp độ văn bản 2.1. Lỗi không tách đoạn Người viết viết đoạn văn quá lớn, gồm nhiều thành tố nội dung khác nhau. Chữa lỗi: Cần tách thành những đoạn văn nhỏ hơn để người đọc dễ tiếp thu. Mỗi đoạn văn trình bày một ý. Thí dụ: Công văn là hình thức văn bản được sử dụng rộng rãi nhất vào việc giao dịch chính thức giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội với nhau và với công dân để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức mình. Có nhiều loại công văn: thường để trình với cấp trên một dự thảo văn bản, đề án; đề nghị một vấn đề cụ thể để cấp trên giải quyết; giải quyết, trả lời đề nghị của cấp dưới; đôn đốc, nhắc nhở, hướng dẫn, kiểm tra cấp dưới thực hiện một quy định của cấp trên hoặc giữa các cơ quan trao đổi ý kiến, phối hợp giải quyết công việc. Đoạn văn trên trình bày 2 ý: Định nghĩa về công văn và việc phân loại công văn. Cần tách đoạn văn trên thành hai đoạn văn. 2.2 Lỗi tách đoạn tuỳ tiện Người viết tuỳ tiện tách đoạn khi đang trình bày dở dang một ý. Chữa lỗi: Ghép những đoạn cùng trình bày một ý thành một đoạn văn. Thí dụ: Việc dẫn, trích dẫn văn bản để làm căn cứ pháp lí trong các văn bản quy phạm pháp luật; các quyết định cá biệt hoặc trong các văn bản 46
- hành chính thông thường khi viện dẫn , trích dẫn văn bản khác vào nội dung để làm căn cứ pháp lí, làm minh chứng phải ghi thật chính xác, đầy đủ tên văn bản, số, kí hiệu, ngày, tháng, năm ban hành, văn bản của cơ quan, tổ chức nào, về việc gì để tiện cho việc tra cứu khi cần đến. Khi trích dẫn đoạn văn, câu, cụm từ trong văn bản để làm minh chứng phải viết đúng nguyên văn của đoạn văn, cụm từ trích dẫn và đặt trong dấu ngoặc kép. Hai đoạn văn trên cùng trình bày một ý (việc trích dẫn trong văn bản hành chính) nên không tách thành hai đoạn mà sáp nhập vào thành một đoạn văn. 2.3 Lỗi không liên kết đoạn Mỗi đoạn văn trình bày một ý nhưng các đoạn luôn có sự liên kết về nội dung về hình thức thể hiện tính liên kết và tính chỉnh thể của v ăn bản. Thiếu sự liên kết, các đoạn văn trong văn bản sẽ rời rạc, sự lập luận thiếu lôgíc. Thí dụ: Đặc điểm của hoạt động công vụ là hàng ngày, thường xuyên cho nên nền hành chính nhà nước phải đảm bảo thường xuyên, liên tục để ổn định xã hội và không bị gián đoạn trong bất kì tình huống chính trị, xã hội như thế nào. Hành chính nhà nước phải thích ứng, phải luôn có những thay đổi để không bị lạc hậu do đời sống kinh tế, chính trị luôn biến động. Hai đoạn văn trên nói về hai vấn đề: đoạn văn đầu nói về tính liên tục, tính ổn định của hành chính nhà nước, đoạn văn sau nói về tính thích ứng của hành chính nhà nước. Giữa hai đoạn văn cần có sự chuyển tiếp. Thí dụ: Tính liên tục và ổn định không loại trừ tính thích ứng. 47
- B. VIẾT LUẬN VĂN KHOA HỌC I. Định nghĩa luận văn khoa học Luận văn khoa học là chuyên khảo về một vấn đề khoa học hoặc công nghệ do một một người hay một nhóm người viết, nhằm: - Rèn luyện về phương pháp và kĩ năng nghiên cứu khoa học; - Thể nghiệm kết quả của một giai đoạn học tập; - Bảo vệ công khai trước Hội đồng để lấy bằng tốt nghiệp đại học hoặc học vị thạc sĩ, tiễn sĩ. II. Phân loại luận văn khoa học Luận văn khoa học bao gồm: 1. Tiểu luận môn học, thu hoạch (báo cáo) thực tập: Là chuyên khảo về một vấn đề thuộc một môn học hay một vấn đề thực tiễn tại một đơn vị nào đó nhằm rút ra những kết luận hay đóng góp ý kiến, đ ề xuất giải pháp để thực hiện hay cải tiến vấn đề nêu ra; 2. Khoá luận và Đồ án tốt nghiệp: Là chuyên khảo mang tính chất tổng hợp, thể nghiệm kết quả sau một khoá đào tạo đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn hay khoa học kỹ thuật, được chấm hay bảo vệ để lấy bằng cử nhân hay kỹ sư; 3. Luận văn thạc sĩ: Là chuyên khảo sâu về một vấn đề khoa học, công nghệ hoặc quản lí của học viên cao học để bảo vệ trước hội đồng khoa học giành học vị thạc sĩ; 4. Luận án tiến sĩ: Là chuyên khảo sâu về một vấn đề khoa học, công nghệ hoặc quản lí của nghiên cứu sinh để bảo vệ trước hội đồng khoa học giành học vị tiến sĩ. III. Các bước viết luận văn khoa học 1. Chọn đề tài 48
- Đề tài luận văn có thể do khoa, bộ môn; các giảng viên, giáo viên gợi ý hay do bản thân sinh viên, học viên đề xuất nhưng không được trùng lặp với các đề tài đã được nghiên cứu trước đó. Tốt hơn cả là sinh viên, học viên tự tìm hiểu, suy nghĩ và đề xuất vấn đề nghiên cứu trên cơ sở ý thích, năng lực, sở trường, mối quan hệ hay những ý tưởng đã hình thành trước đó của mình. Những ý tưởng nghiên cứu thường được hình thành khi: nghe giảng trên lớp; đọc sách báo; trao đổi, tranh luận với các nhà khoa học, đồng nghiệp; thực tập, thực tế tại các cơ quan, công ty; suy nghĩ ngược lại những quan điểm thông thường; nhận dạng những vướng mắc trong hoạt động thực tế Đề tài được chọn phải: - Có ý nghĩa khoa học: bổ sung cho lí thuyết của bộ môn khoa học; xây dựng cơ sở lí thuyết mới hoặc làm rõ một số vấn đề lí thuyết đang tồn tại ; những phát triển mới nhất về vấn đề nghiên cứu - Có ý nghĩa thực tiễn: giải quyết các vấn đề, khó khăn, vướng mắc trong sản xuất, kinh doanh, quản lí ; xây dựng luận cứ cho các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của ngành, của địa phương ; - Có tính khả thi: có đủ điều kiện cho việc hoàn thành đề tài, như: cơ sở thông tin, tư liệu; phương tiện thiết bị thí nghiệm, nếu cần; có người hướng dẫn khoa học và các cộng tác viên khác; có đủ thời gian ; - Phù hợp với sở thích, sở trường của người nghiên cứu . Trên cơ sở những ý tưởng nghiên cứu, sinh viên sẽ tiến hành lựa chọn và đặt tên cho đề tài. Tên đề tài chỉ được phép hiểu một nghĩa. Khi đặt tên đề tài, người nghiên cứu cần hạn chế sử dụng những cụm từ chỉ mục đích như: Góp phần vào , nhằm nâng cao , để phát huy tính độc lập của học sinh .Việc sử dụng những cụm từ này một cách tuỳ tiện sẽ che lấp những nội dung mà bản thân ng ười nghiên cứu chưa có một sự hình dung rõ rệt. Ngoài ra, tên đề tài cũng không nên đặt bằng những cụm từ “rỗng” về thông 49
- tin như: Bước đầu tìm hiểu về , thử tìm hiểu về , một số vấn đề về , một vài suy nghĩ về Tên đề tài có thể phản ánh đối tượng nghiên cứu (Thí dụ: Câu cầu khiến trong văn bản hành chính), nhiệm vụ nghiên cứu (Thí dụ: Nghiên cứu và biên soạn hệ thống thuật ngữ du lịch) mục tiêu nghiên cứu (Thí dụ: Đặc điểm khu hệ thú Ba Vì). 2. Lập đề cương nghiên cứu Đề cương cần được xây dựng để trình giáo viên hướng dẫn hay cơ quan và tổ chức tài trợ phê duyệt. Trong đề cương, cần thuyết minh những điểm sau: - Lí do chọn đề tài: Trình bày ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. - Đối tượng nghiên cứu, mục đích nghiên cứu: + Đối tượng nghiên cứu là bản chất sự vật hoặc hiện tượng cần được xem xét và làm rõ trong nhiệm vụ nghiên cứu. ( Vũ Cao Đàm (1999) Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và Kĩ thuật, Hà Nội, tr 26.) Thí dụ: Đối tượng nghiên cứu của đề tài “Câu cầu khiến trong văn bản hành chính” là câu cầu khiến. + Mục đích nghiên cứu là ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu, là đối tượng phục vụ của sản phẩm nghiên cứu. Thí dụ: Mục đích nghiên cứu của đề tài “Câu cầu khiến trong văn bản hành chính” là giúp cho người soạn thảo văn bản hành chính có phương pháp viết đúng câu cầu khiến ở cả hai dạng: cầu và khiến. - Nhiệm vụ nghiên cứu: Nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài. (Vũ Cao Đàm (1999) Phương pháp luận nghiên cứu khoa học , NXB Khoa học và Kĩ thuật, Hà Nội, tr 29.) 50
- Thí dụ: Đề tài “Câu cầu khiến trong văn bản hành chính” có những nhiệm vụ nghiên cứu: 1) Nghiên cứu đưa ra phương pháp viết câu cầu khiến trong văn bản hành chính ở hai dạng: cầu và khiến; 2) Thống kê các kiểu lỗi trong văn bản hành chính và đề nghị cách chữa lỗi. - Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu + Phương pháp nghiên cứu: Bao gồm phương pháp thu thập thông tin và phương pháp xử lí thông tin. Phương pháp thu thập thông tin gồm: Phương pháp nghiên cứu tài liệu và phương pháp nghiên cứu thực tiễn. Phương pháp nghiên cứu tài liệu bao gồm: Phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp tổng hợp tài liệu, phương pháp tóm tắt tài liệu. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm: Phương pháp quan sát khách quan, phương pháp phỏng vấn, phương pháp điều tra, phương pháp trắc nghiệm, phương pháp thực nghiệm (thực nghiệm thăm dò, thực nghiệm kiểm tra, thực nghiệm đối nghịch, thực nghiệm so sánh, thực nghiệm song hành) Phương pháp xử lí thông tin: Phương pháp thống kê, diễn dịch, quy nạp, loại suy, phân tích, tổng hợp + Nguồn tài liệu: Tài liệu có thể thu thập được từ rất nhiều nguồn: Tài liệu công bố, tài liệu không côn g bố rộng rãi và tài liệu không xuất bản. Thí dụ: Với đề tài “Ngôn ngữ luật pháp trong tiếng Việt (có so sánh đối chiếu với tiếng Anh)”, tác giả Lê Hùng Tiến xác định: Tài liệu nghiên cứu chủ yếu lấy từ bộ Luật Dân sự, các Luật Kinh tế, Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Lao động do nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành. Các bản dịch các bộ luật trên sang tiếng Anh đều do các phiên dịch viên chuyên nghiệp dịch thuật và đã được xuất bản chính thức. - Dự kiến các nội dung nghiên cứu: 51
- Phần này gồm có các chương, mục được dự tính. Nguyên tắc khi xây dựng các chương mục là tên các chương phải phù hợp với tên đề tài và tên các mục phải phù hợp với tên ch ương. Phần nội dung chi tiết thường bao gồm tên một số chương và tên một vài mục trong chương để: + Trình bày cơ sở lí luận của đề tài: Cơ sở lí luận của đề tài gồm những khái niệm công cụ, những phạm trù chứa đựng những khái niệm đã xây dựng, những quy luật về bản chất đối tượng nghiên cứu. Để xác lập được cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu, cần phải phát hiện được những từ khoá trong tên đề tài; từ đây nhận dạng các khái niệm, từ khái niệm nhận dạng các phạm trù và quy luật về bản chất đối tượng nghiên cứu. Thí dụ: Trong tên đề tài “Câu cầu khiến trong văn bản hành chính” có những từ khoá: Câu cầu khiến, văn bản hành chính. Từ đó xác định những khái niệm công cụ: Phong cách ngôn ngữ hành chính, hành động cầu khiến và câu cầu khiến trong tiếng Việt. + Cụ thể hoá những nhiệm vụ nghiên cứu. Các nhiệm vụ nghiên cứu được trình bày theo lôgic khách quan (thứ tự thời gian hoặc không gian) hay theo lôgic chủ quan (theo mức độ quan trọng ). Thí dụ: Trong đề cương đề tài nghiên cứu “Câu cầu khiến trong văn bản hành chính”, ngoài chương 1 trình bày Cơ sở lí luận của đề tài, các tác giả dự kiến 2 chương: Chương 2: PHƯƠNG PHÁP VIẾT CÂU CẦU KHIẾN TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH 2.1.Xác định chính xác hành động cầu khiến trong giao tiếp hành chính 2.2.Xác định mục đích ban hành và đối tượng tiếp nhận văn bản 2.3. Phương pháp viết câu cầu khiến ở dạng cầu 2.3.1.Hành động cầu và câu cầu khiến viết theo dạng cầu 52
- 2.3.2. Tác dụng của lối diến đạt theo dạng cầu, các truờng hợp dùng dạng cầu trong giao tiếp hành chính 2.3.3. Cách tổ chức câu theo dạng cầu 2.4. Phương pháp viết câu cầu khiến ở dạng khiến 2.4.1.Hành động khiến và câu cầu khiến viết theo dạng khiến 2.4.2. Tác dụng của lối diến đạt theo dạng khiến, các truờng hợp dùng dạng khiến trong giao tiếp hành chính 2.4.3. Cách tổ chức câu theo dạng khiến 2.5. Chuyển đổi kiểu câu 2.5.1.Chuyển đổi câu tường thuật sang câu cầu khiến 2.5.2.Chuyển câu dạng khiến thành câu dạn cầu Chương 3: Các kiểu lỗi về câu trong văn bản hành chính 3.1. Lỗi về cấu tạo 3.1.1 Các biểu hiện lỗi về cấu tạo 3.1.2. Cách chữa 3.2. Lỗi về ý nghĩa 3.2.1 Các biểu hiện lỗi về ý nghĩa 3.2.2. Cách chữa 3.3. Lỗi về phong cách 3.3.1 Các biểu hiện lỗi về phong cách 3.3.2. Cách chữa 3. Thu thập và xử lí thông tin Sau khi đề cương đã được duyệt, người nghiên cứu cần thu thập và xử lí thông tin. 3.1. Thu thập thông tin Người nghiên cứu cần thu thập thông tin (lời nói, chữ viết, hình ảnh) từ các kho lưu trữ, thư viện, trung tâm thông tin, internet hay tiếp xúc cá nhân. 53
- Đỗi với tài liệu, người nghiên cứu phải lập bản thư mục hoặc lập các phiếu thư mục theo mẫu của thư viện để tiện tra cứu. Người nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu tài liệu (tổng hợp, phân tích, tóm tắt ) để thu thập những thông tin về cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu, kết quả nghiên cứu của đồng nghiệp, số liệu thống kê, chủ trương chính sách liên quan đến đề tài nghiên cứu, đối tượng khảo sát từ nguồn ngữ liệu. Người nghiên cứu sử dụng những phương pháp nghiên cứu thực tiễn (quan sát, điều tra, phỏng vấn, thực nghiệm ) để thu thập thông tin về thực trạng của đối tượng khảo sát. 3.2. Xử lí thông tin Sau khi thu thập được các thông tin định tính (xác định về mặt tính chất hoặc biến đổi tính chất) và định lượng (xác định số lượng hoặc biến đổi số lượng), người nghiên cứu cần xử lí thông tin để đưa ra được quy luật của sự vật. Đối với các thông tin định lượng, người nghiên cứu sử dụng bảng thống kê, biểu đồ, đồ thị để đưa ra quy luật của sự vật. Đối với thông tin định tính, người nghiên cứu sử dụng các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp để rút ra kết luận. 4. Viết luận văn 4.1. Cấu trúc thường gặp của một luận văn khoa học Một luận văn khoa học thường có các phần theo thứ tự sau: Trang bìa chính và phụ, mục lục, phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục. 4.1.1. Trang bìa chính và phụ Có nội dung gần giống nhau và được viết theo thứ tự (từ trên xuống): Tên trường; tên khoa, bộ môn; tên tác giả luận văn khoa học; tên đề tài; tên luận văn khoa học (tiểu luận môn học, khoá luận tốt nghiệp ); nơi thực hiện, 54
- năm thực hiện. Bìa chính là tờ bìa cứng ngoài cùng có màu khác nhau theo quy định. Bìa phụ là trang đầu tiên của luận văn. Ở bìa phụ có thêm phần chuyên ngành, mã số chuyên ngành; tên người hướng dẫn khoa học (ở góc phải) ở dưới tên luận văn khoa học. 4.1.2. Mục lục Gồm khoảng 02 trang tiếp ngay sau bìa phụ, ghi rõ tên các chương, mục với vị trí trang tương ứng, giúp người đọc có thể xem nhanh những nội dung chính của luận văn và mở đọc những mục cần thiết. Không nên ghi mục lục quá chi tiết để khỏi chiếm nhiều trang. 4.1.3. Phần mở đầu - Lí do chọn đề tài - Đối tượng nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu - Lịch sử vấn đề - Nhiệm vụ nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu - Bố cục của luận văn khoa học 4.1.4. Phần nội dung Phần nội dung chiếm vị trí trung tâm trong luận văn khoa học; bao gồm các chương cụ thể, mỗi chương giải quyết một nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể, các chương được đánh thứ tự theo số Ả rập. Số chương trong phần nội dung có thể dao động từ 2 đến 5 chương. Tuy nhiên, không nên có quá nhiều chương bởi số chương lớn tạo cảm giác phạm vi nghiên cứu quá rộng. Thông thường, chương 1 trình bày cơ sở lí luận của đề tài và các chương tiếp theo trình bày những kết quả đạt được về mặt lí thuyết và kết quả áp dụng sau khi thu thập và xử lí thông tin. Những kết quả này phải t ương ứng với những nhiệm vụ nghiên cứu mà người nghiên cứu đã đặt ra trong phần mở đầu. 55
- Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cuối mỗi chương phải có tiểu kết. 4.1.5. Phần kết luận Phần kết luận tổng hợp tất cả các kết luận được rút ra từ việc nghiên cứu đề tài cùng với một vài kiến nghị, dự báo xu h ướng phát triển với độ dài từ một đến hai trang. Những kết luận này là phần rất quan trọng của luận văn, cùng với các giải pháp, kiến nghị, đề xuất, đây chính là kết quả nghiên cứu đề tài của tác giả. Do vậy, tác giả phải dành nhiều thì giờ, suy nghĩ nghiêm túc để viết chính xác và cụ thể phần kết luận này. 4.1.6. Tài liệu tham khảo Tài liệu tham khảo bao gồm những sách, ấn phẩm, tạp chí đã được đọc và được sử dụng về ý tưởng vào luận văn khoa học và phải được chỉ rõ việc sử dụng đó trong luận văn khoa học. Trong luận văn khoa học, người ta thường kết hợp trình bày các chú thích với cách sắp xếp tài liệu tham khảo. Tài liệu tham khảo trích dẫn trong luận văn cần được trích dẫn theo số thứ tự của tài liệu tham khảo ở danh mục tài liệu tham khảo của luận văn và số thứ tự đó được đặt trong ngoặc vuông. 4.1.7. Phụ lục Là sơ đồ, bảng biểu, hình vẽ, kết quả điều tra, khảo sát, ngữ liệu có tác dụng minh hoạ cho các nội dung của luận văn nhưng nếu đưa vào trong phần nội dung luận văn thì không đẹp, chiếm nhiều trang nên được đưa vào phần cuối cùng của luận văn và không tính số trang. Phụ lục phải được đánh số trang riêng. 4.2. Hình thức luận văn khoa học Luận văn khoa học từ bìa cho đến trang nội dung phải được đánh máy một mặt và trình bày một cách chân phương, nghiêm túc trên giấy trắng khổ A4. Tuyệt đối không được thêm các hình vẽ ở các trang bìa, cũng như không được kẻ thêm vạch hay viết thêm tên người hướng dẫn, tên tác giả ở phía trên và phía dưới ở các trang bên trong. 56
- Dùng kiểu chữ VnTime (TCVN3) hoặc Times New Roman (Unicode), cỡ chữ 13 - 14, dãn dòng 1,5 line, lề trên 3 cm, lề dưới 3,5 cm (nếu đánh số trang ở dưới), lề trái 3,5 cm, lề phải 2 cm. Một trang như vậy chỉ khoảng 26 dòng. 4.3. Trình bày lịch sử vấn đề 4.3.1 Định nghĩa Trình bày lịch sử vấn đề là việc đánh giá một cách tổng quát về những công trình của các tác giả đi trước có liên quan đến đề tài, nói một cách cụ thể là nhìn lại những đóng góp cũng như những hạn chế của các tác giả đi trước về phương pháp nghiên cứu cũng như giải pháp cho vấn đề cụ thể. 4.3.2 Yêu cầu của trình bày lịch sử vấn đề + Người viết cần có sự đánh giá về những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài chứ không phải là sự liệt kê những công trình nghiên cứu; + Người viết cần có sự đánh giá về những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài từ trước đến nay (cái nhìn lịch đại) chứ không phải chỉ những công trình nghiên cứu hiện nay (cái nhìn đồng đại). 4.3.3 Mục đích của việc trình bày lịch sử vấn đề Người viết tiếp thu những thành tựu nghiên cứu tr ước đó và xác định những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể để giải quyết những hạn chế của những công trình đó. Như vậy, việc trình bày lịch sử vấn đề làm nổi rõ ý nghĩa của đề tài về mặt lí luận và thực tiễn. 4.3.4 Cách trình bày lịch sử vấn đề Khi viết phần trình bày lịch sử vấn đề, người viết nên phân loại các công trình nghiên cứu theo nội dung của chúng rồi lần lượt trình bày theo các nội dung ấy. Khi trình bày các nội dung, nên lần l ượt điểm theo trình tự thời gian từ những bài viết sớm nhất cho đến những bài viết gần đây nhất. Với những công trình quan trọng cần có sự trình bày kĩ lưỡng, với những công trình ít quan trọng thì chỉ cần trình bày l ướt qua, có thể gộp một số công trình có cùng quan điểm vào dể trình bày chung. 57
- Sau khi điểm qua toàn bộ các nội dung có liên quan đến đề tài, người viết cần có sự đánh giá khái quát về những thành tựu đã đạt được đồng thời chỉ rõ những vấn đề cần được nghiên cứu thêm hoặc những vấn đề mới cần được nghiên cứu. Thí dụ: Phần trình bày lịch sử vấn đề của luận văn thạc sĩ với đề tài: "Câu trong văn bản hành chính": Văn bản hành chính là loại văn bản thuộc phong cách hành chính - công vụ, một phong cách chức năng của hoạt động lời nói. Phong cách hành chính - công vụ trong đó có đơn vị câu đã được nhiêù nhà phong cách học đề cập đến. Các nhà phong cách học nước ngoài như R.Jakopson, N.M.Kogina, V.M. Bugoxolapxki, L.G.Báclát khi bàn về phong cách học nói chung, phong cách hành chính- công vụ nói riêng đều ít nhiều nêu ra những đặc điểm về ngôn ngữ trong văn bản hành chính công vụ trong đó có những đặc điểm về câu. Năm 1969, trong “Góp vào vấn đề phân loại các khuôn sáo ngôn ngữ tiếng Nga trong nhà trường”, V.M. Bugoxolapxki cho rằng trong phong cách hành chính - công vụ luôn có hiện tượng dùng lặp đi lặp lại những câu, những từ những cấu trúc có sẵn và đó là các khuôn sáo hành chính. Khuôn sáo hành chính là đơn vị từ vựng hay đơn vị cú pháp luôn luôn được tái hiện, có tương quan với những hoàn cảnh th ường được lặp đi lặp lại với những khái niện phổ biến và làm cho chúng được biểu đạt dễ dàng. Năm 1972, trong “Về tính hệ thống lời nói của phong cách khoa học với một số phong cách khác”, N.M. Kogina tìm ra màu sắc phong cách đặc biệt của văn bản hành chính - công vụ, đó là yêu cầu phải thực hiện. Từ đó câu dùng trong văn bản hành chính cũng phải thể hiện được đặc điểm này. Năm 1978, L.G. Báclát trong “Tiếng Nga, phong cách học” cũng nói sự bất biến về hình thức của văn bản hành chính công vụ trong đó có đơn vị câu không tránh khỏi yêu cầu này. Báclát cho rằng: Cú pháp của phong cách 58
- hành chính - công vụ phản ánh xu hướng phân loại, trình bày chi tiết, xu hướng xem xét các quan hệ nhân - quả, điều kiện - kết quả trong sự thống nhát cảu các mặt xác nhận và quy định. Ở Việt Nam, các nhà phong cách học khi nghiên cứu đã thật sự quan tâm đến phong cách hành chính - công vụ và những năm gần đây, một số kiến thức về phong cách hành chính công vụ trở thành một nội dung được giảng dạy trong nhà trường phổ thông từ bậc tiểu học. Tiêu biểu cho các nhà phong cách học ở Việt Nam là Võ Bình, Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hoà, Cù Đình Tú, Đinh Trọng Lạc, Hữu Đạt. Trong các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã đưa ra những đặc điểm về câu trong văn bản hành chính. Tác giả Cù Đình Tú trong cuốn “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt” xuất bản năm 1983 đã khẳng định phong cách hành chính chỉ dùng câu tường thuật, không dùng câu nghi vấn, câu biểu cảm và ưa lối viết câu phức hợp. Tác giả Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà trong “Phong cách học tiếng Việt” đã chỉ ra 9 nét đặc trưng của câu trong văn bản hành chính - công vụ. Tác giả Hữu Đạt với cuốn “Phong cách học tiếng Việt hiện đại” cho rằng kết cấu của câu trong văn bản hành chính thiên về kết cấu diễn dịch. Bên cạnh những công trình nghiên cứu về phong cách hành chính công vụ vừa kể trên, những năm gần đây xuất hiện nhiều tài liệu h ướng dẫn soạn thảo văn bản hành chính , trong đó có dành một mục bàn về cách hành v ăn của văn bản hành chính. Tiêu biểu là: “Soạn thảo và sử lí v ăn bản trong công tác của người lãnh đạo và quản lí” của Nguyễn Văn Thâm, “Hướng dẫn kĩ thuật nghiệp vụ hành chính” của Nguyễn Văn Thâm, Lưu Kiếm Thanh, Lê Xuân Lam, Bùi Xuân Lự, “Hướng dẫn soạn thảo văn bản quản lí nhà nước” của Lưu Kiếm Thanh 59
- Qua việc điểm lại các công trình nghiên cứu về văn bản hành chính, có thể đánh giá một cách khách quan rằng đơn vị câu trong văn bản hành chính đã được dành cho một sự quan tâm đáng kể. Tuy nhiên, những kết luận trong các công trình ấy còn mang tính khái quát, sơ lược. Vì thế, trong luận văn này, chúng tôi sẽ cố gắng chi tiết hoá những đặc điểm về câu trong văn bản hành chính trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của những tác giả trên. ( Đỗ Thị Thanh Nga (2003), Câu trong văn bản hành chính, Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, Tr 6 – 8) 4.4. Ngôn ngữ trong luận văn khoa học Ngôn ngữ trong luận văn khoa học thể hiện những đặc trưng của phong cách khoa học: Tính trừu tượng, khái quát cao; tính chính xác, khách quan; tính lôgic nghiêm ngặt. Tuy nhiên, sự biểu hiện này có những mức độ khác nhau trong những kiểu và thể loại văn bản khác nhau của phong cách khoa học. Ngôn ngữ trong luận văn khoa học có những đặc điểm sau đây: 4.4.1. Về mặt từ ngữ a) Sử dụng các loại từ trong luận văn khoa học - Sử dụng các từ loại trong luận văn khoa học + Danh từ: Theo Đinh Trọng Lạc, trong phong cách khoa học, trung bình danh từ được dùng nhiều gấp bốn lần động từ. Điều này có thể giải thích là do khuynh hướng định danh của phong cách này. (Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà (1998), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr. 86.) Do phong cách khoa học mang đặc trưng tính trừu tượng, khái quát cao nên phần lớn danh từ được dùng là danh từ trừu tượng. Thí dụ: Trong lưu trữ học: phông lưu trữ, đơn vị bảo quản ; trong hành chính học: nền hành chính, thể chế hành chính, thủ tục hành chính 60
- Ngoài việc sử dụng các danh từ, tiểu luận và luận v ăn khoa học còn sử dụng lối định danh hoá bằng việc kết hợp các danh từ như sự, cuộc, tính với các động từ hoặc tính từ. Thí dụ: sự sáng tạo, sự phát triển, tính khái quát + Đại từ: Đại từ ngôi ba có tính chất phiếm chỉ (người ta) và đại từ ngôi một (chúng ta, chúng tôi, ta) được sử dụng nhiều thể hiện tính khách quan của phong cách khoa học. Thí dụ: “Theo tiêu chuẩn thời gian, chúng ta cần chú ý các nội dung như sau: Khi xác định giá trị tài liệu cần chú ý đến những thời kì đặc biệt, những giai đoạn lịch sử của Đảng và của dân tộc, của cơ quan, địa phương ” (Trường Trung học Lưu trữ và Nghiệp vụ văn phòng (2001), Giáo trình lưu trữ, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, tr. 67. - Sử dụng các lớp từ về mặt phạm vi sử dụng trong luận văn khoa học + Thuật ngữ: Các luận văn khoa học dùng nhiều thuật ngữ. “Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ. Nó gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con ng ười”. (Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học Tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr. 270. Thí dụ: Thuật ngữ trong triết học: duy tâm, duy vật, vật chất, ý thức Thuật ngữ trong hành chính học: Quyết định hành chính, thể chế hành chính, ngạch công chức, công sở + Từ ngữ khoa học chung: Là thành tố quan trọng của từ ngữ trong luận văn khoa học bên cạnh thuật ngữ. Từ ngữ khoa học chung là những từ ngữ được dùng nhiều trong một số ngành khoa học. Thí dụ: số lượng, yếu tố, hệ thống, chức năng, quá trình - Sử dụng các lớp từ về mặt nguồn gốc trong luận văn khoa học 61
- + Từ Hán Việt được sử dụng nhiều trong luận văn khoa học do tính chất trừu tượng, khái quát cao của phong cách khoa học. Thí dụ:“Hành chính và kinh tế là hai lĩnh vực hoạt động có mối quan hệ khăng khít và phục vụ lẫn nhau. Trong lĩnh vực kinh tế, nền hành chính quốc gia giữ chức năng quản lí nhà nước về kinh tế và là yếu tố quyết định sự ổn định cũng như nhịp điệu sự phát triển kinh tế”. (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Tập bài giảng Một số vấn đề cơ bản về hành chính học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 32) + Từ gốc Ấn - Âu: xuất hiện rất nhiều trong luận văn khoa học và thường là những thuật ngữ quốc tế. Thí dụ: vectơ, gien, axit - Sử dụng các lớp từ về mặt phong cách học trong luận văn khoa học + Lớp từ khoa học (thuật ngữ, từ ngữ khoa học chung) là thành tố quan trọng nhất của ngôn ngữ trong luận văn khoa học như chúng tôi đã trình bày ở trên. + Phần lớn những từ ngữ còn lại là những từ ngữ thuộc lớp từ ngữ đa phong cách, trung hoà về màu sắc biểu cảm. b) Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ trong luận văn khoa học - Để đảm bảo yêu cầu tính chính xác, khách quan, từ ngữ trong luận văn khoa học chỉ cho phép hiểu một nghĩa (nghĩa đen hay nghĩa sự vật – lôgic). Tuy nhiên, trong các khoa học xã hội việc sử dụng nghĩa hình t ượng đúng chỗ có thể giúp ích cho việc diễn đạt tư duy khái niệm. Thí dụ: “Cách nhận diện từ như trên cũng phù hợp với quy luật hoạt động của tiếngViệt. Như ta đã biết, khi dùng vào trong các câu nói, các cụm từ cố định tiếng Việt dễ dàng được chẻ đôi bằng cách chèn thên một từ khác vào giữa”. (Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học Tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr. 116) 62
- - Từ ngữ trong luận văn khoa học chủ yếu được dùng với ý nghĩa khái quát do mục đích của khoa học là phát hiện ra những quy luật tồn tại trong những sự vật, hiện tượng. Thí dụ: Thiếp thường là để chúc mừng (chúc mừng năm mới, ngày lễ, ngày sinh ) nên được in sẵn, trình bày trang nhã, không loè loẹt, văn viết gọn nhưng chứa đựng tình cảm chân thành . (Tạ Hữu Ánh (2002),Công tác hành chính – văn phòng trong cơ quan nhà nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 215.) Thiếp ở đây được dùng với ý nghĩa khái quát. 4.4.2. Về mặt ngữ pháp a) Sử dụng các loại câu trong luận văn khoa học - Câu ghép: Rất thích hợp cho việc diễn đạt sự vận động của tư tưởng, mối quan hệ của những sự vật, hiện tượng. Câu ghép chính phụ được sử dụng nhiều để diễn đạt một cách chính xác các mối quan hệ lôgic: nguyên nhân - kết quả, điều kiện - hệ quả, tăng tiến, bổ sung, đối lập Thí dụ: Nếu những văn bản, phương án được cơ quan, bộ phận tham mưu, giúp việc đưa ra thì nó thực hiện dưới hình thức là những đề nghị, kiến nghị. Nếu do cán bộ lãnh đạo đưa ra thì được thực hiện dưới hình thức quyết định, chỉ thị ) (Tạ Hữu Ánh (2002), Công tác hành chính – văn phòng trong cơ quan nhà nước, Sđd, tr. 27) - Câu tường thuật được sử dụng phổ biến trong luận văn khoa học ở cả hai dạng: khẳng định và phủ định. Câu khẳng định được sử dụng để trình bày nhận định của người nghiên cứu về sự tồn tại của đặc trưng nào đó (hoạt động, trạng thái, tính chất, quan hệ) của sự vật. Thí dụ: Vị thế lãnh đạo là một khái niệm được nghiên cứu rộng rãi trong các lĩnh vực khoa học như: xã hội học, chính trị học và tâm lí học. 63
- (Nguyễn Bá Dương (2003), Tâm lí học quản lí dành cho người lãnh đạo, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 118 .) Câu khẳng định trên diễn đạt quan hệ đồng nhất. Câu phủ định được sử dụng để trình bày nhận định của người nghiên cứu về sự không tồn tại của đặc trưng nào đó của sự vật (câu phủ định miêu tả) hoặc sự bác bỏ, cải chính một quan niệm nào đó (câu phủ định bác bỏ). Thí dụ: Phong cách lãnh đạo dân chủ không bao giờ phủ định quyền hạn của người lãnh đạo.) (Nguyễn Bá Dương (2003),Tâm lí học quản lí dành cho người lãnh đạo, Sđd, tr. 196.) - Câu hỏi được sử dụng nhưng chủ yếu là câu hỏi chính danh, câu hỏi tu từ rất hạn chế xuất hiện. Thí dụ: Cho đến nay, vấn đề tâm lí dân tộc vẫn là mảnh đất ít được khai phá. Con người Việt Nam truyền thống và đương đại là ai? Câu hỏi này trước đây ít người dám trả lời.) Nguyễn Bá Dương (2003),Tâm lí học quản lí dành cho người lãnh đạo, Sđd, tr. 244 - Câu cầu khiến rất hãn hữu xuất hiện trong luận văn khoa học. - Câu cảm thán do đặc trưng ngữ nghĩa (tính biểu cảm) không phù hợp với đặc trưng của phong cách khoa học nên rất hãn hữu xuất hiện trong luận văn khoa học. b) Sử dụng các phương tiện liên kết câu trong luận văn khoa học Luận văn khoa học sử dụng rất nhiều phương tiện liên kết giữa các câu và các đoạn, các phần của văn bản nhằm tạo ra tính mạch lạc, tính lôgic trong cách trình bày. Những phương tiện liên kết có tác dụng: - Chỉ ra sự phát triển của lập luận: trước hết sau đó , cuối cùng ; - Chỉ ra mối quan hệ giữa các thông tin trước và thông tin sau: Như trên đã nói , Trên đã trình bày ; - Chỉ ra kết luận: Nhìn chung , Nói tóm lại , Cuối cùng ; - Chỉ ra sự thay đổi chủ đề: Chuyển sang vấn đề , Vấn đề tiếp theo là 64



