Đoạn Trường Tân Thanh – Sự sáng tạo về mặt thể loại Doan Truong Tan Thanh - Creativity in Genre

pdf 8 trang ngocly 30 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đoạn Trường Tân Thanh – Sự sáng tạo về mặt thể loại Doan Truong Tan Thanh - Creativity in Genre", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfdoan_truong_tan_thanh_su_sang_tao_ve_mat_the_loai_doan_truon.pdf

Nội dung text: Đoạn Trường Tân Thanh – Sự sáng tạo về mặt thể loại Doan Truong Tan Thanh - Creativity in Genre

  1. 62 Diễn đàn trao đổi ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH – SỰ SÁNG TẠO VỀ MẶT THỂ LOẠI DOAN TRUONG TAN THANH - CREATIVITY IN GENRE Lê Sỹ Đồng1 Tóm tắt Abstract Trong báo cáo này, chúng tôi tìm hiểu sự sáng This paper is to study the creativity of Nguyen tạo về mặt thể loại của Nguyễn Du thông qua tác Du in genre through Doan Truong Tan Thanh Masterpiece. We base on the theory of genre phẩm Đoạn trường tân thanh. Chúng tôi dựa vào and the history of text in order to highlight lí thuyết thể loại và lịch sử văn bản để làm rõ ba three issues: the first is to retell the initial name vấn đề: thứ nhất là nêu lại tên đầu tiên của Truyện of Truyen Kieu; the second is to consider ‘Tan Kiều; thứ hai là đặt vấn đề xem “tân thanh” như Thanh’ as a new genre; the third is to identify một thể loại; thứ ba là xác định dấu ấn thể loại the sign of genre in Doan Truong Tan Thanh. trong Đoạn trường tân thanh. Từ đó, chúng tôi Based on those, this paper proposes whether đưa ra đề xuất về việc nên xem xét lại tên gọi cho to reconsider the name of story-poem of Nom. các truyện thơ Nôm. Keywords: Truyen Kieu, Đoan Truong Tan Thanh, genre, Nguyen Du, story – poem of Nom. Từ khóa: Truyện Kiều, Đoạn trường tân thanh, thể loại, Nguyễn Du, Truyện Nôm. 1. Đặt vấn đề1 2. Nội dung Trong một lần tham gia bồi dưỡng chuyên môn 2.1. Về tên gọi Truyện Kiều cho giáo viên phổ thông với nội dung: “Dạy học Câu hỏi trước tiên chúng tôi quan tâm là văn từ đặc trưng thể loại”, có giáo viên hỏi: các Nguyễn Du có đặt tên sáng tác của mình là Truyện đoạn trích Trao duyên, Kiều ở Lâu Ngưng Bích, Kiều không? Chúng tôi trả lời ngay được câu hỏi Nỗi thương mình, Chí khí anh hùng thì nên dạy này bằng hàng loạt những bài viết, công trình liên theo đặc trưng phương thức tự sự hay trữ tình. Từ quan, điển hình như: câu hỏi này, chúng tôi nhận thấy cần thiết phải xác định lại thể loại của “Đoạn trường tân thanh” và Phần về Văn nghiệp cụ Nguyễn Du trong Việt 2 cách tiếp cận tác phẩm này. Nam thi văn giảng luận nhận định: “Nhân đọc một cuốn truyện Tàu nhan đề là “Kim Vân Kiều Sau quá trình khảo sát, chúng tôi đã tiếp cận truyện” và vì cảm thân thế nàng Kiều có nhiều được hai bài viết: Một là “Đoạn trường tân thanh điểm giống mình nên cụ viết ra một áng văn tuyệt – một mã khóa vào thế giới nghệ thuật Nguyễn tác, tức là quyển “Đoạn trường tân thanh” thường Du” của nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na in trên gọi là Truyện Kiều”. Tạp chí Giáo viên và nhà trường, năm 2000; Hai là 3 “Về hai chữ Tân thanh trong nhan đề truyện Đoạn Trong Truyện Kiều tập chú in lại nguyên văn trường tân thanh của Nguyễn Du” của nhà nghiên bản dịch “Bài tựa Truyện Kiều của Tiên phong cứu Phạm Luận in trong ­Văn Bản Truyện Kiều – Mộng Liên Đường chủ nhân (1820)” của Bùi Kỉ nghiên cứu và thảo luận, Nxb Hội Nhà văn, năm và Trần Trọng Kim, có đoạn: “Truyện Thúy Kiều 2001. Cả hai bài viết đều bàn về chữ“tân thanh”, chép ở trong lục Phong tình, ta không cần bàn làm nhưng không có sự thống nhất. Như vậy, việc hiểu gì. Lục phong tình cũng đã cũ rồi, Tố Như tử xem sao cho đúng chữ “tân thanh” còn phụ thuộc rất truyện, thấy việc lạ, lại thương tiếc những nỗi trắc nhiều vào hướng tiếp cận của nhà nghiên cứu. trở của kẻ có tài, bèn đem dịch ra quốc âm, đề là Đoạn trường tân thanh, thành ra cái lục Phong tình Trong bài luận này, chúng tôi không có ý chú thì vẫn cũ, mà cái tiếng đoạn trường thì lại là cái giải nghĩa của chữ “Tân Thanh”, cũng như không tiếng mới vậy”. tranh luận việc nên hiểu hai chữ “Tân thanh” như thế nào cho đúng mà chỉ thử đưa ra ý kiến riêng và Trong công trình Văn học Việt Nam (nửa cuối bàn thêm về vấn đề thể loại Truyện Kiềuvới mục 2 Hà, Như Chi. 1994. Việt Nam Thi văn giảng luận. NXB Tổng hợp đích xác định lại thể loại của nó. Đồng Tháp, tr. 336 3 Trần, Văn Chánh, Trần, Phước Thuận và Phạm. Văn Hòa. 1999. 1 Thạc sĩ, Trường Đại học Thủ Dầu Một Truyện Kiều tập chú. NXB Đà Nẵng, tr.15(XV). Số 21, tháng 3/2016 62
  2. Diễn đàn trao đổi 63 thế kỉ XVIII - hết thế kỉ XIX)4 viết: “Kiệt tác chúng tôi vẫn bắt gặp những bản in giữ nguyên tên Truyện Kiều của Nguyễn Du nguyên có tên là của “Truyện Kiều” như: Đoạn trường tân thanh Đoạn trường tân thanh nghĩa là “Tiếng nói mới của Kiều Oánh Mậu khắc in 1902, rồi đến năm đứt ruột”, là một tác phẩm được viết dựa theo một 1958, Bộ Quốc gia giáo dục cho xuất bản Truyện tác phẩm cổ của Trung Quốc tên là Kim Vân Kiều Kiềulấy lại nguyên tên Đoạn trường tân thanh. truyện của Thanh Tâm Tài Nhân”. Như vậy, ngay khi Đoạn trường tân thanh còn Trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10, tập 25 có trên bản thảo đã bị đổi tên thành “Truyện Kiều”. đoạn: “Nguyễn Du có Đoạn trường tân thanh (còn Để rồi sau đó, người đời quen thuộc với tên Truyện gọi là Truyện Kiều)”. Kiều mà lãng tên Đoạn trường tân thanh. Hiện chúng tôi vẫn chưa tìm được những tài liệu hoặc Trong Từ điển Văn học bộ mới6 cũng khằng các bài viết nào về thái độ của Nguyễn Du với việc định Truyện Kiều nguyên tên: “Đoạn trường tân Đoạn trường tân thanh bị đổi tên. Vì như trình bày thanh – tiếng kêu mới về nỗi đau đứt ruột”. trên, việc đổi tên Đoạn trường tân thanh xẩy ra Dựa vào những khảo sát trên và hàng loạt ngay khi Nguyễn Du vẫn còn sống. Do đó, ta khó các công trình khác, có thể khẳng định Nguyễn có thể biết Nguyễn Du có xem Đoạn trường tân Du khi chuyển thể từ Kim Vân Kiều truyện của thanh là truyện hay không. Theo chúng tôi (vẫn Thanh Tâm Tài Nhân sang thơ lục bát không gọi là còn chút nghi hoặc) thì Nguyễn Du không xem Truyện Kiều mà đặt tên cho tác phẩm của mình là Đoạn trường tân thanh là truyện, mà ông muốn Đoạn trường tân thanh. đặt một tên mới cho một phương thức nghệ thuật Một câu hỏi khác được đặt ra là Đoạn trường phổ biến thời bấy giờ mà ta quen gọi là truyện Nôm tân thanh của Nguyễn Du đổi ra tên Truyện Kiều (truyện thơ Nôm) với danh xưng là “Tân thanh” từ khi nào? nhằm mục đích sáng tạo ra một tên mới cho một phương thức sáng tác trong văn học dân tộc. Chúng tôi khi đọc công trình Nguyễn Du, tác phẩm và lịch sử văn bản7 thì thấy có đoạn: “Tương 2.2. Thể loại “Truyện Kiều” truyền, khi soạn xong truyện Kiều, Nguyễn Du 2.2.1. Tân thanh phải chăng là một thể loại mới ? đã đưa bản thảo cho Phạm Quý Thích xem. Phạm Với hơn 200 năm nghiên cứu Truyện Kiều, các Quý Thích rất tán thưởng, nhuận sắc lại một đôi nhà nghiên cứu hầu như đã đánh giá Truyện Kiều ở chỗ, đổi tên sách thành Kim Vân Kiều tân truyện, mọi góc độ, với việc vận dụng nhiều phương pháp làm thơ đề8 từ rồi cho khắc ván in ở phố Hàng Gai, nghiên cứu và dựa trên nhiều cơ sở lí luận khác Hà Nội. Đó là bản Kiều Nôm in đầu tiên”. Có lẽ nhau. Thế nhưng, có rất ít những công trình hay từ đây, Đoạn trường tân thanh lưu truyền với tên bài báo nghiên cứu lật lại vấn đề thể loại Truyện nôm na là Truyện Kiều. Ta có thể thấy rõ điều này Kiều, và tìm hiểu xem phương thức sáng tác qua tên các tàng bản cuối thế kỉ XIX như: Kim Vân Truyện Kiều của Nguyễn Du là phương thức nào. Kiều tân truyện - Kim Ngọc lâu tàng bản khắc in Điều này cũng dễ hiểu, vì cứ nhìn vào các bản khắc 1872, Kim Vân Kiều tân truyện -Thịnh Mĩ đường in Truyện Kiều với những tên như: Kim Vân Kiều tàng bản khắc in 1879, Kim Vân Kiều tân truyện - tân truyện, Thúy Kiều truyện tường chú, Kim Vân Bảo Hoa các tàng bảnkhắc in 1879; hoặc các bản Kiều quảng tập truyện thì rõ ràng đây là tác phẩm in đầu thế kỉ XX như: Thúy Kiều truyện tường chú tự sự. Do đó, cách đặt tiêu đề tác phẩm như thế của Chiêm Vân Thị khắc in khoảng 1905, Kim Vân đã làm cho các nhà nghiên cứu, độc giảnhận định Kiều quảng tập truyện của Liễu Văn Đường tàng ngay đây là truyện (thể loại truyện) – tạo mặc định bản khắc in 1914, Kim Vân Kiều tân truyện của về một phương thức sáng tác cũng với những đặc Phúc Văn đường tàng bản khắc in 1918. Tuy nhiên, trưng thể loại của nó. Sự nhầm lẫn này gắn liền với 4 Nguyễn, Lộc. 2001. Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỉ XVIII - hết lịch sử tiếp nhận văn bản và cách đặt tên tác phẩm thế kỉ XIX). NXB Giáo dục, tr. 334. trong văn học trung đại. 5 Nhiều tác giả. 2008. Ngữ văn 10, tập 2. NXB Giáo dục, tr.94. 6 Nhiều tác giả. 2004. Từ điển Văn học bộ mới. NXB Thế giới, tr. Khảo lược tiến trình văn học trung đại Việt 1844. Nam, ta dễ dàng nhận thấy thể loại tác phẩm luôn 7 Nguyễn, Thạch Giang và Trương, Chính 2000. Nguyễn Du, tác đứng ngay sau nội dung tiêu đề tác phẩm. Ví như, phẩm và lịch sử văn bản. NXB TP. Hồ Chí Minh, tr.44. 8 thế kỉ XI có Thiên đô chiếu của Lí Công Uẩn (thể Có thể đọc bài thơ này trong cuốn Từ trong di sản, Tác Phẩm mới, 1981, tr.117. chiếu), thế kỉ XIII có Dụ chư tì tướng hịch văn của Số 21, tháng 3/2016 63
  3. 64 Diễn đàn trao đổi Trần Quốc Tuấn (thể hịch), thế kỉ XV có Bình Ngô hoàn thiện cả mặt nội dung và thể loại tác phẩm. đại cáo của Nguyễn Trãi (thể cáo), thế kỉ XVIII có Khi tóm tắt Truyện Kiều, người đọc dễ dàng Vũ trung túy bút của Phạm Đình Hổ (thể tùy bút); nhận ra Nguyễn Du dựa trên phương thức tự sự để Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác (thể kí). Ngay sáng tác. Nội dung truyện có lớp lang, hồi đoạn; cả như Nguyễn Du khi đặt tên cho các sáng tác của có mở đầu, có phát triển có kết thúc. Các nhân vật mình cũng có ý phân định rạch ròi. Dương như trong truyện được miêu tả rất kĩ lưỡng từ ngoại trong ba tập thơ chữ Hán của mình, ông chỉ xem hình cho đến tính cách Khi đọc Truyện Kiều Thanh Hiên thi tập mới là thơ, còn Nam trung tạp người đọc lại có cảm nhận dường như Nguyễn Du ngâm và Bắc hành tạp lục chỉ là những ghi chép dựa vào phương thức trữ tình để viết những câu “lung tung” mà thôi. thơ giản dị mà uyển chuyển với câu từ sáng rõ mà Như vậy, nếu các bản khắc in sử dụng lại đa tầng ý nghĩa Còn khi đọc các phân đoạn về nguyên tên của“Truyện Kiều” là Đoạn trường tân những đoạn đời của nàng Kiều, người đọc lại cảm thanh thì có lẽ các nhà nghiên cứu đã chú ý nhiều được tính kịch của tác phẩm. Ở đó, có những đoạn hơn vào việc phân giải thể loại Truyện Kiều, và kịch tính dâng trào làm cho người đọc hồi hộp, có thể đã đặt vấn đề về sự ra đời của một thể loại run rẩy cùng lớp kịch. Tất cả những điều này đã mới trong văn học Việt Nam với tác phẩm tiêu biểu làm cho ranh giới giữa các phương thức sáng tác là“Truyện Kiều”. vốn đã mong manh nay như sợi tơ mành không thể phân định được chính xác “Truyện Kiều” của Mặt khác, do “Truyện Kiều” dựa vào nội dung Nguyễn Du sáng tác dựa trên phương thức nào. Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân Phải chăng đây là điểm mấu chốt để nhân diện thể nên trước khi đọc – tiếp nhận “Truyện Kiều”, tâm loại“tân thanh”. thức người đọc đã xem đây chính là tác phẩm tự sự. Cùng với motip của truyện trung đại, bố cục 2.2.2. Tân thanh mang yếu tố tự sự “Truyện Kiều” không hề mới, vẫn chỉ là: gặp gỡ Trước hết, yếu tố tự sự trong Truyện Kiều được - li tán – hội ngộ. Điều này dễ gây nhàm chán cho thể hiện ở phương diện phản ánh cuộc sống bằng độc giả. Thế nhưng, có thể thấy rằng, ngay khi mở cách xây dựng nhân vật gắn liền với số phận và “Truyện Kiều”, người đọc bị lôi cuốn không phải hoàn cảnh của nhân vật. Trong Truyện Kiều, nhân ở bởi cốt truyện mà chính là ở từng từ, từng câu thơ vật Từ Hải phảng phất hình ảnh những kẻ bị gọi lục bát; cũng chính những câu thơ lục bát này là cái là “nghịch thần tặc tử” đứng lên chống lại triều còn đọng lại trong lòng người đọc và kích thích đình nhưng đều bị tiêu diệt. Từ Hải, kẻ đại diện hứng thú tiếp tục đọc sau khi gấp lại “Truyện Kiều”. cho khát khao công lí, sống với chữ tình, chữ tín Điều đó chứng tỏ cái cốt truyện Kim Vân Kiều đã không thể bảo vệ cho lí tưởng xã hội của mình. truyện của Thanh Tâm Tài Nhân tuy vẫn còn “hình Đây là hiện tượng dễ thấy trong xã hội Việt Nam dạng” trong “Truyện Kiều” nhưng nó chỉ là ảo giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ ảnh, bị cái màu sắc“tân thanh” làm cho mờ nhạt. XIX. Trong khoảng trăm năm ấy, xã hội đầy biến Do đó, nếu người đọc xóa đi “định kiến” về nguồn động với sự hưng phế, thịnh suy của các tập đoàn gốc “Truyện Kiều” thì có lẽ sẽ thấy được những phong kiến đã gây ra những sự xáo trộn về trật nét mới của Nguyễn Du từ việc làm mới tác phẩm tự xã hội cũng như ý thức hệ Nho giáo và những về mặt thể loại. chuẩn mực về đạo đức. Trong Truyện Kiều, nhân vật Thúy Kiều là hình ảnh đại diện cho kiếp “hồng Một cơ sở khác để chúng tôi mạnh dạn nhận định nhan bạc mệnh” giữa lúc “thuở trời đất nổi cơn gió “Truyện Kiều” là sự phát triển, sáng tạo thể loại bụi” – Đặng Trần Côn. Không chỉ thế, nàng còn là mới của Nguyễn Du đó là lí thuyết thể loại và hiện hình ảnh của những khách phong lưu “có tài mà thực sáng tác truyện Nôm ở thế kỉ XVIII - XIX. cậy chi tài”, “chữ tài đi với chữ tai một vần”. Thúy Truyện Kiều là sự hòa trộn của nhiều thể loại Kiều xuất thân trong gia đình “nghĩ cũng thường với các phương thức sáng tác khác nhau. So với thường bậc trung”, được gia giáo đến nơi đến chốn các truyện thơ Nôm cùng thời như: Nhị Độ mai, Lí lại sống cảnh “êm đềm trướng rủ màn che”. Nên Công, Pham Tải Ngọc Hoa, Phan Trần, Phạm Công với nàng, chữ hiếu, chữ tình, chữ trinh tiết gắn liền Cúc Hoa, Sơ Kính tân trang, Trê Có, Trinh Thử, với đạo đức Nho giáo. Thế nhưng, hoàn cảnh của Tống Trân Cúc Hoa, Truyện Kiều có những vượt nàng, cũng là hoàn cảnh của bao cô gái thời bấy trội về việc vận dụng thể thơ lục bát vào quá trình giờ trong xã hội loạn lạc, chiến tranh liên miên đã Số 21, tháng 3/2016 64
  4. Diễn đàn trao đổi 65 không thể cho họ cái quyền được sống trọn vẹn tới gần 300 câu thơ (từ câu 2165– 2454). Sự khác với đạo đức thánh hiền. Kiều dù phải lưu lạc với biệt này có lẽ vì Từ Hải gắn liền với một chặng đời bao nỗi “gió dập sóng dồi” tủi hổ thì nàng vẫn phải chìm nổi của Kiều, còn Đạm Tiên chỉ xuất hiện sống để đấu tranh cho quyền sống. Ngoài ra, còn như một điềm báo về sự trắc trở nhân duyên. Song, biết bao nhân vật là đại diện cho những hạng, kiểu dù cuộc đời các nhân vật này được miêu tả với số người trong xã hội thời bấy giờ được Nguyễn Du câu thơ nhiều hay ít thì nóđều có bắt đầu, có kết phản ánh trong tác phẩm này. thúc. Như vậy, dựa vào sự đan lồng giữa các số phận, sự đan kết chặt chẽ giữa các mối quan hệ, Yếu tố tự sự thứ hai trong Truyện Kiều là vai đồng thời phân tích đa tầng tâm lí của nhân vật trò tổ chức của trần thuật. Việc trần thuật lại sự Kiều, ta có thể khẳng định Truyện Kiều mang hơi việc trong tác phẩm tự sự thường gắn liền với một hướng của thể loại tiểu thuyết. trong ba phương thức: nghe chuyện người khác kể mà thuật lại, chứng kiến mà thuật lại, và thuật Yếu tố thứ ba chứng minh Truyện Kiều mang lại chuyện của chính mình. Nhưng trong Truyện yếu tố tự sự là các nhân vật trong tác phẩm là hiện Kiều của Nguyễn Du được thuật lại với hai phương thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã thức: nghe chuyện người khác mà kể lại và chứng hội hoặc trạng thái tồn tại của một con người. Họ kiến chuyện người khác mà thuật lại. Mở đầu và tồn tại với tư cách là một kiểu người trong xã hội kết thúc Truyện Kiều, Nguyễn Du viết: và số phận của họ là điển hình cho một lớp người dưới gầm trời phong kiến.Ví như Tú Bà, Mã Giám Trải qua một cuộc bể dâu, Sinh, Bạc Bà, Bạc Hạnh là đại diện cho bọn “ưng Những điều trông thấy mà đau đớn lòng. khuyển” xem phận người như bèo, xem thân người Và như bọt. Trong quan hệ xã hội của loại người này, tiền quyền luôn được đặt lên trên, lợi ích là tất cả. Lời quê chắp nhặt dông dài, Hay như Hồ Tôn Hiến với cái hình dong “mặt sắt”, Mua vui cũng được một vài trống canh. nhân vật này chỉ xuất hiện vỏn vẹn ở chưa đầy 150 câu thơ (từ câu 2455 – 2596) nhưng đã thể hiện Thế thì, đâu là “những điều trông thấy” – chứng được ý thức của tác giả về bản chất lạnh lùng,gian kiến, đâu là “lời quê chắp nhặt” – nghe thấy? hiểm của giai cấp thống trị. Chuyện nghe là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Chuyện thấy là hiện thực xã hội Yếu tố thứ tư minh chứng cho tính tự sự của hồi cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Với những Truyện Kiều là lời trần thuật. Nếu đọc kĩ Truyện điều nghe, thấy ấy đã tạo nên đặc điểm cốt truyện Kiều, ta sẽ thấy lời trần thuật luôn gắn với hình của Truyện Kiều. Cốt truyện ấy không hoàn toàn tượng trần thuật bằng nhiều ngôi khác nhau. Xuyên hư cấu, cũng không hoàn toàn được sao chép lại suốt tác phẩm là lời trần thuật của Nguyễn Du, tuy một cách cứng nhắc theo điển xưa, tích cũ mà nó nhiên ta vẫn bắt gặp không ít những đoạn thơ là lời dựa trên hiện thực cuộc đời, hiện thực về số phận trần thuật của Kiều. Ví như Kiều kể lại đoạn đời con người. của mình cho Hồ Tôn Hiến: Truyện Kiều kể lại cuộc đời lưu lạc của nàng Thưa rằng: Bạc mệnh khúc này, Kiều – nhân vật trung tâm của tác phẩm. Kiều có Phổ vào đàn ấy những ngày còn thơ. hoàn cảnh, có tính cách, có số phận và có cuộc đời. Việc tồ chức trần thuật trong trong Truyện Không chỉ có vậy, lời trần thuật trong Truyện Kiều gắn liền với những bước thăng trầm của nàng Kiều còn gắn liền với những câu thơ miêu tả thiên Kiều, gắn liền với cái “án phong lưu” trong cõi nhiên, ngoại hình nhân vật, thậm chí là phân tích trăm năm. Không chỉ dừng lại ở đó, Nguyễn Du đã tâm lí nhân vật. Ví như câu thơ miêu tả thiên nhiên đan lồng nhiều cuộc đời của nhiều con ngườigắn trong tiết thanh minh: liền với cuộc đời của Kiều. Điển hình như cuộc đời Cỏ non xanh tận chân trời của Đạm Tiên, của Từ Hải. Câu chuyện về cuộc Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. đời của những con người này được Nguyễn Du trần thuật lại với dụng ý nghệ thuật cao nhất. Với Hay như câu thơ miêu tả ngoại hình Tú Bà: Đạm Tiên, Nguyễn Du kể lại thân phận và cuộc Thoắt trông nhờn nhợt màu da, đời của nàng chỉ bằng 8 câu thơ (từ câu 62 đến câu 70). Với Từ Hải, Nguyễn Du miêu tả nhiều hơn Ăn gì to lớn đẩy đà làm sao. Số 21, tháng 3/2016 65
  5. 66 Diễn đàn trao đổi Hoặc câu thơ miêu tả tâm lí Kiều ở lầu tiểu thuyết với bút pháp tiểu thuyết”. Điều này có Ngưng Bích: nghĩa trước hết, Truyện Kiều được xếp vào loại tự sự. Nhưng tác phẩm này thuộc thể loại nào của Buồn trông nội cỏ dàu dàu, phương thức tự sự thì không dễ phận định. Chân mây mặt đất một màu xanh xanh. 2.2.3. Tân thanh mang yếu tố trữ tình Buồn trông gió cuốn mặt duềnh, Trước hết, Truyện Kiều phản ánh cuộc sống Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi. trực tiếp bằng lời thơ trữ tình. Đây là sự khác biệt Một điểm khác của lời văn trần thuật cũng rất của Truyện Kiều với các truyện Nôm khác – phản đặc biệt trong Truyện Kiều là tính đa giọng điệu. ánh cuộc sống bằng lời thơ tự sự. Những câu thơ Trong Truyện Kiều, ta thấy sự đan xen kết hợp trong Truyện Kiều ngoài chức năng trần thuật lại nhiều giọng điệu như: giọng khoan hòa, giọng gấp các chuyện trong một chuỗi truyện gọi là “đoạn gáp, giọng tâm tình, giọng chua cay, giọng đay trường”, chúng còn có chức năng biểu đạt cảm nghiến. Sở dĩ có sự đa dạng ấy là bởi lời trần thuật xúc. Ta có thể dẫn ra một loạt các câu thơ trữ tình gắn liền với các cung bậc trạng thái, những hành vi với mỗi lớp truyện như:Trong đoạn chị em Kiều du cử chỉ và vị thế của nhân vật. Ví như sắc thái giọng xuân, gặp Kim Trọng, có câu: điệu các đoạn thơ miêu tả tiếng đàn của Kiều đánh Bóng hồng nhác thấy nẻo xa, cho Kim Trọng nghe, rồi hầu Hoạn Thư, hay hầu Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai. Hồ Tôn Hiến luôn đa điệu, gắn liền với tâm trạng, tình cảnh của Kiều. Hay như đoạn kể việc Kim Trọng trở lại vườn thúy, có câu: Cuối cùng, sự trưởng thành về nhận thức cuộc sống và sự thay đổi tâm lí của nhân vật là điểm Đầy vườn cỏ mọc lau thưa, nhấn về tính tự sự trong Truyện Kiều. Trong mối Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rời. tình với Kim Trọng, lúc chia tay, Kiều chỉ biết nói: Trước sau nào thấy bóng người, Còn non còn nước còn dài, Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông. Còn về còn nhớ đến người hôm nay. Hoặc như đoạn Kiều đoàn tụ với gia đình: Song hình như rút được kinh nghiệm từ mối tình đầu tiên, người đi kẻ ở không hẹn chính xác Hoa tàn mà lại thêm tươi, ngày tái ngộ nên “hoa trôi man mác, liễu xơ xác Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa. vàng”, trong cuộc chia tay với Thúc Sinh, nàng liền ấn định ngày tái ngộ: Thứ hai, chất trữ tình thể hiện trong Truyện Kiều là ở chỗ nhân vật trữ tình biểu hiện trực tiếp Chén đưa nhớ bữa hôm nay, thế giới chủ quan với đầy đủ những cảm xúc, tâm Chén mừng xin đợi ngày này năm sau. trạng, suy nghĩ. Mở đầu Truyện Kiều, Nguyễn Du đã viết: “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Thế rồi, hẹn ước là thế nhưng cơ trời, vận Nỗi đau lòng ấy hoàn toàn là cảm xúc chủ quan người nào ai tính được như ý, nàng và Thúc Sinh của nhà thơ – một người đa sầu, đa cảm, đa tình, đã phải tái ngộ trong cảnh “người ngoài cười nụ đa mang. Trước câu chuyện về gia đình họ Vương người trong khóc thầm”. Cho nên đến cuộc chia trong sử xanh, Nguyễn Du đã cảm được nỗi khổ tay với Từ Hải, Kiều đã rất tinh tế trước chí khí “đau đớn thay phận đàn bà” bởi cái kiếp “hồng bốn phương của đấng trượng phu: nhan quá mỏng manh”. Từ đó, nhà thơ thương Nàng rằng: phận gái chữ tòng, cho kiếp người, phận người rồi thương cho chính mình. Qua Truyện Kiều, nhà thơ cũng bày tỏ nhận Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi. thức, suy nghĩ của mình trước sự đổi thay của thế Vậy, lẽ chăng vì những yếu tố mang đậm tính sự, trước sự phủ phàng của tạo hóa. Nguyễn Du tự sự của Truyện Kiều mà GS.TS Trần Đình Sử9 nhận ra rằng: “Trời xanh quen thói má hồng đánh khẳng định: “Có loại truyện thơ thực ra là tiểu ghen”nên “đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi!” để rồi thuyết bằng thơ như Truyện Kiều, nghiêng về loại phải thốt lên: Thân ta ta phải lo âu, 9 Nhiều tác giả. 2004. Lí luận văn học. NXB Giáo dục, tr.384. Miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn này. Số 21, tháng 3/2016 66
  6. Diễn đàn trao đổi 67 Không chỉ có vậy, hình tượng nhận vật trữ tình đã xem nhân vật trữ tình là đối tượng để nhà thơ đôi khi là sự hóa thân của chính tác giả vào chính gửi gắm tình cảm, tâm tư, cùng những nỗi niềm những nhân vật để trình bày nhân sinh quan. Ví sâu kín không biết tỏ cùng ai.Do đó, các nhân vật như trong đoạn Kiều báo ân báo oán, Nguyễn Du trong Truyện Kiều dù rất chân thực, rõ nét thì vẫn đã chuyển vai liên tục từ bị can cho đến bị cáo. Khi mang tính ước lệ. là bị can thì: 2.2.4. Tân thanh mang yếu tố kịch Dễ dàng là thói hòng nhan, Khi nhắc đến thể loại kịch là ta nghĩ ngay đến Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều. việc phản ánh hiện thực thông qua lời đối thoại, độc thoại, hành động của của nhân vật kịch. Trong Còn khi là bị cáo thì: Truyện Kiều không thiếu những lời đối thoại, độc Rằng: Tôi chút phận đàn bà, thoại, cũng không thiếu những hành động của nhân Ghen tuông thì cũng người ta thường tình. vật. Những lời đối thoại, độc thoại, hành động của nhân vật ấy không phải tất cả đều mang tính kịch Yếu tố thứ ba thể hiện chất trữ tình trong nhưng ta vẫn thấy rất nhiều đoạn trong Truyện Truyện Kiềulà nội dungcảm xúc và tâm trạng trước Kiều thể hiện tính kịch. tự nhiên, cuộc đời, hay các sự kiện. Cảm xúc trước việc Thúy Kiều chia tay Thúc Sinh, Nguyễn Du đã Trong đoạn Thúy Kiều trao duyên cho Thúy thổ lộ những dòng tâm trạng: Vân, ta thấy tính kịch rất rõ trong lời thoại của Kiều. Từ chỗ đối thoại với Thúy Vân bằng lời lẽ Người lên ngựa, kẻ chia bào, hết sức sắc sảo, cho đến lúc tuyệt vọng độc thoại Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san. với bản thân: Dặm hồng bụi cuốn chinh an, Lạy em, em có chịu lời, Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh. Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa. Người về chiếc bóng năm canh, Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi. Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang, Vầng trăng ai xẻ làm đôi, Thôi, thôi thiếp đã phụ chàng từ đây. Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường. Nguyễn Du đã dựng lên một đoạn hội thoại kịch với tính kịch được tạo ra giữa chữ “tình”, chữ Hay như trước sự kiện Thúy Kiều bị Sở Khanh “hiếu”;giữa cái dằn vặt của người nói với cái tâm lừa, Nguyễn Du cũng đã tỏ đôi lời thương cảm: thế điềm nhiên của người nghe; giữa cái mất với Tiếc thay trong giá trắng ngần, cái còn, giữa cái ấm êm trong quá khứ với cái rầu rĩ ở hiện tại, cái mịt mờ của tương lai. Đến phong trần cũng phong trần như ai. Hay như đoạn đối đáp giữa Kiều với những Cuối cùng, nhân vật trữ tình trong Truyện Kiều nhân vật có ân oán với mình. Trong đó, những lời là đối tượng trực tiếp thổ lộ suy nghĩ, cảm xúc, thoại của Kiều và Hoạn Thư đối nhau chan chát. tâm trạng trong tác phẩm. Ở trong Truyện Kiều, Qua những lời hội thoại ấy, người đọc thấy được đôi khi nhân vật trữ tình không tương đồng với hiện thực về thói đời và tình người; thấy được ranh hình tượng nhân vật. Tuy nhiên, ở các công trình, giới mong manh của cái đúng cái sai khi con người bài báo như: Thử tìm hiểu tâm sự Nguyễn Du đứng trên lập trường hoàn cảnh để lí giải cho hiện qua Truyện Kiềucủa Ngô Quốc Quýnh, Nxb Giáo tượng liên quan đến bản thân mình. dục Việt Nam, năm 2000; Tấc lòng cố quốc tha hương của Nguyễn Xuân Chữ, Đặc san Văn, năm Không chỉ ở khía cạnh lời thoại mang tính kịch, 1967; Tâm sự hoài Lê của Phạm Thế Ngũ, Việt trong Truyện Kiều, hành động của nhân vật cũng Nam văn học sử giản ước tân biên, năm 1963; phản ánh tính kịch rõ nét. Hành động của Tú bà Tâm sự Nguyễn Du của Trần Trọng Kim in trong trong cái cách “bắt nạt ma mới” cho đến cái kiểu Truyện Thúy Kiều, Nxb Tân Việt, năm 1968 đã dỗ dành, nhún nhịn của con buôn trước món lợi chứng minh được nhân vật trữ tình – Nguyễn Du, của một thương vụ. Ví như khi biết Kiều bị cướp đã nhập thân vào những nhân vật trong truyện để đi “màu hồ” thì: giải bày uẩn ức tâm lí của mình – tức Nguyễn Du Số 21, tháng 3/2016 67
  7. 68 Diễn đàn trao đổi Mụ nghe nàng nói hay tình, Ngoài ra, tính kịch trong Truyện Kiều còn ở khía cạnh ngôn ngữ. Thứ nhất, ngôn ngữ nhân vật Bây giờ mới nổi tam bành mụ lên. trong Truyện Kiều luôn thể hiện rất rõ tính cách Rồi thì đay nghiến Kiều: nhân vật. Kiều là người đa tình nên lời nói của Phải làm cho biết phép tao, Kiều lúc nào cũng chất chứa cái tình, cái tâm tư. Tú bà là hạng tham tiền thì lời nói luôn đượm hơi Giật bì tiên rắp sấn vào ra tay. đồng. Còn Sở Khanh là loại bạc tình thì lời nói Nhưng khi Kiều toan tự sát, mụ liền: quen thói bốc trời. Thứ hai, ngôn ngữ trong Truyện Kiều thường gắn liền với hành động của nhân vật. Vực nàng vào chốn hiên tây, Ví như lần đầu Kim Trọng yêu cầu Thúy Kiếu Cắt người coi sóc, rước thầy thuốc men. đánh đàn, sau khi được kiều đồng ý thì chàng Kim liền lấy đàn sau hiên rồi vội vàng sinh đã tay nâng Sau đó, tiếp tục ân cần: ngang mày. Hay như khi Kiều chứng kiến cảnh Từ Tú bà chực sẵn bên màn, Hải chết đứng, sau khi nhận trách nhiệm về mình Lựa lời khuyên giải mơn man gỡ dần. thì dứt lời nàng đã gieo mình một bên. Thứ ba, ngôn ngữ trong Truyện Kiều rất cô đọng. Nó không Thế đấy, các lớp kịch lần lượt diễn ra, các màn chỉ truyền đạt được hiện thực khách quan mà còn kịch cứ thế kéo ra khép vào theo lớp lang của tình phản ánh được những xung đột, dằn vặt trong nội huống kịch.Các tình huống kịch lại được gắn kết tâm của nhân vật. Ví dụ như đoạn thơ viết về cảnh với nhau bằng hành động xuyên và hành động quán Kiều ở lầu Ngưng Bích: xuyến. Nó thống nhất với nhau diễn ra nhằm biểu hiện cốt truyện kịch. Trong Truyện Kiều, các cảnh, Bốn bề bát ngát xa trông, lớp, hồi cũng được Nguyễn Du đặc biệt chú ý. Nếu Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia. xem đoạn thơ về “cảnh gia biến” là một hồi kịch Bẽ bàng mây sớm đèn khuya, thì ta có hai cảnh: một là cảnh ở cửa sai nha; hai là cảnh tại nhà Vương viên ngoại. Trong cảnh tại nhà Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng. Vương viên ngoại lại có nhiều lớp kịch như: Kiều Tới đây có thể nhận đình rằng, Truyện Kiều bán mình, Kiều trao duyên cũng thể hiện rất rõ nét đặc trưng của thề loại kịch. Tuy nhiên, trong Truyện Kiều ta còn thấy có sự 3. Kết luận lồng ghép kịch trong kịch. Nghĩa là những mẩu kịch nhỏ trong một vở kịch lớn. Ở những mẩu kịch Từ những phân tích trên, chúng tôi bước đầu nhỏ số lượng nhân vật tham gia vào rất hạn chế, nhận định Nguyễn Du khi đặt tên cho tác phẩm của có khi chỉ có hai hoặc ba nhân vật. Ví dụ như mẩu mình là Đoạn trường tân thanh nhằm hai dụng ý: kịch về việc Hoạn Thư đánh ghen. Nhân vật chỉ có Thứ nhất là đặt tên mới cho một phương thức sáng Thúy Kiều, Thúc Sinh và Hoạn Thư. tác quen thuộc trong văn học dân tộc giai đoạn thế kỉ XVIII – XIX là “Tân thanh”; thứ hai là muốn Một khía cạnh khác trong Truyện Kiều để chúng phát triển thể loại này thành một phương thức sáng tôi tin rằng trong tác phẩm này mang tính kịch là tác mới - Tân thanh – điểm giao giữa ba phương ở việc xây dựng nhân vật kịch. Trước hết là ở hình thức sáng tác tự sự, trữ tình và kịch. dáng nhân vật. Nguyễn Du luôn gắn liền việc miêu tả hình dáng nhân vật với tính cách nhân vật. Ví Mặt khác, chúng tôi mạn phép đề xuất về việc như Từ Hải – râu hùm hàm én, tất nhiên là có tính giảng dạy các trích đoạn của Truyện Kiều trong cách của kẻ trượng phu. Kim Trọng – tài mạo tót sách giáo khoa phổ thông, nên chăng kết hợp vận vời, tất nhiên là có tính cách của người tài hoa. Sở dụng các đặc trưng của các thể loại văn học để làm Khanh – chải chuốt áo khăn dịu dàng, tất nhiên là rõ cái hay mà đoạn trích chứa đựng. có tính cách của kẻ bạc tình nổi tiếng lâu xanh. Số 21, tháng 3/2016 68
  8. Diễn đàn trao đổi 69 Tài liệu tham khảo Nguyễn, Tường Tam. 1924. “Mấy lời bình luận về văn chương Truyện Kiều”. Tạp chí Nam Phong, số 79. Đào, Duy Anh. 1942. “Văn tả người và tả cảnh trong Đoạn trường tân thanh”. Tập chí Tri tân, số 74. Lê, Xuân Lít. 2005. 200 năm nghiên cứu bàn luậnTruyện Kiều. NXB Giáo dục. Ngô, Quốc Quýnh. 2010. Thử tìm hiểu tâm sự Nguyễn Du qua Truyện Kiều. NXB Giáo dục Việt Nam. Nguyễn, Du. 1991. Truyện Kiều. NXB Đại học và Giáo dục Chuyện nghiệp. Nguyễn, Đăng Na. 2000. “Đoạn trường tân thanh – một mã khóa vào thế giới nghệ thuật Nguyễn Du”. Giáo viên và nhà trường, số 33 – 34 – 35 Nguyễn, Tiến Chung. 1965. “Tính chất tạo hình của thơ Nguyễn Du trong Truyện Kiều”. Báo Văn nghệ, số 135. Nhiều tác giả. 2003. Nguyễn Du về tác giả và tác phẩm. NXB Giáo dục. Phạm, Luận. 2001. “Về hai chữ Tân thanh trong nhan truyện Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du”. Văn Bản Truyện Kiều – nghiên cứu và thảo luận. Hội nhà văn. Phan, Ngọc. 1985. Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều. NXB Khoa học Xã hội. Trần, Đình Sử. 2002. Thi pháp Truyện Kiều. NXB Giáo dục. Trần, Nho Thìn. 2008. Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa. NXB Giáo dục Số 21, tháng 3/2016 69