Bảo tồn và phát huy các giá trị của tri thức địa phương ở các tộc người thiểu số trong bối cảnh hiện nay

pdf 11 trang ngocly 80 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bảo tồn và phát huy các giá trị của tri thức địa phương ở các tộc người thiểu số trong bối cảnh hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfbao_ton_va_phat_huy_cac_gia_tri_cua_tri_thuc_dia_phuong_o_ca.pdf

Nội dung text: Bảo tồn và phát huy các giá trị của tri thức địa phương ở các tộc người thiểu số trong bối cảnh hiện nay

  1. Journal of Thu Dau Mot University, No 4 (23) – 2015 BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ CỦA TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG Ở CÁC TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY Ngô Văn Lệ(1) – Võ Tấn Tú(2) (1) Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM, (2)Trường Đại học Đà Lạt TÓM TẮT Các tộc người trong quá trình hình thành và phát triển đã sáng tạo một phức hợp văn hóa phù hợp với trình độ phát triển kinh tế xã hội. Phức hợp văn hóa đó góp phần làm nên bản sắc văn hóa của một tộc người, mặt khác, là sức mạnh để tộc người đó vượt qua những khó khăn thử thách. Văn hóa của một tộc người bị chi phối bởi điều kiện tự nhiên và môi trường xã hội. Tính đa dạng văn hóa Việt Nam, ngoài sự khác biệt về nguồn gốc của các tộc người, còn là sự khác biệt của hệ sinh thái nhân văn. Bài viết của chúng tôi trình bày về việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của các tộc người tại chỗ (văn hóa địa phương, văn hóa dân gian) trong bối cảnh hiện nay. Từ khóa: tri thức địa phương, tộc người, thiểu số, giá trị 1. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 Các tộc người thiểu số ở Việt Nam có sự khóa VIII nhấn mạnh: “Di sản văn hoá là phát triển không đồng đều, nên có những tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc khác biệt trong đời sống kinh tế, xã hội. cốt lõi của bản sắc văn hoá dân tộc, cơ sở Nhưng trong phát triển văn hóa, thì mỗi tộc để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu người, trong suốt chiều dài lịch sử của văn hoá. Cần phải hết sức coi trọng bảo mình đã sáng tạo một phức hợp văn hóa, tồn, phát huy những giá trị văn hoá truyền góp phần làm phong phú văn hóa Việt Nam thống”. Các tộc người trong tiến trình lịch đa tộc người. Trong kho tàng văn hóa của sử của mình đều sáng tạo một phức hợp mỗi tộc người, tri thức địa phương, một văn hoá tạo nên nét riêng của mình (bản mặt, góp phần làm nên tính đa dạng, phong sắc). Trong bối cảnh hiện nay toàn cầu hoá phú văn hóa của các tộc người, mặt khác, như là một xu thế tất yếu thì việc bảo tồn chính tri thức địa phương làm nên sự khác và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống biệt văn hóa giữa các tộc người. đòi hỏi mỗi tộc người thấy được sức mạnh 2. Trong những năm gần đây khi và giá trị của văn hoá truyền thống. Trên nghiên cứu về các tộc người thiểu số ở từng tinh thần một nhận thức như vậy về vai trò, quốc gia nói riêng và các nước đang phát vị trí của văn hoá truyền thống trong bối triển nói chung thì những vấn đề có liên cảnh toàn cầu hoá, hội nhập và phát triển, quan đến tri thức địa phương cũng như vai chúng tôi trình bày một số suy nghĩ trong trò của tri thức địa phương trong phát triển việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa và phát triển bền vững được chú ý. Tại sao truyền thống, mà ở đây là tri thức địa lại như vậy? Kinh nghiệm phát triển của phương (tri thức dân gian, tri thức bản địa). nhiều quốc gia châu Á và châu Phi (các 42
  2. Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một, số 4 (23) – 2015 nước đang phát triển) trong những thập kỷ một nghiên cứu. Để có thể góp một tiếng qua cho thấy cách tiếp cận khoa học và nói giúp làm rõ vai trò của tri thức địa công nghệ phương Tây không đủ đáp ứng phương trong đời sống của các tộc người những thách thức về kinh tế, xã hội, môi thiểu số, cần thiết nêu một số đặc điểm trường mà ngày nay chúng ta đang phải chung nhất về tri thức bản địa. Cho đến đương đầu như tài nguyên thiên nhiên bị nay, dù đã có nhiều bài viết, các công trình khai thác cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm nghiên cứu liên quan trực tiếp đến tri thức nghiêm trọng, biến đổi khí hậu tác động địa phương được xuất bản, nhưng vẫn chưa mạnh mẽ tới tất cả các vùng miền, đói có một tiêu chí xác định. Sự không nhất trí nghèo, bệnh tật và sự phân hóa giàu nghèo cao của các nhà khoa học trong lĩnh vực tiếp tục diễn ra mạnh mẽ không chỉ diễn ra khoa học xã hội nhân văn trong nhiều vấn trên bình diện toàn thế giới, mà ở từng quốc đề (như tiêu chí xác định thành phần tộc gia, từng dân tộc, từng tộc người, vấn đề an người, thế nào là văn hóa ) không phải là ninh lương thực, vấn đề xung đột tộc vấn đề mới. Bởi do tính đặc thù của mình người, tôn giáo (do những khó khăn về các ngành khoa học xã hội và nhân văn trình độ phát triển kinh tế, xã hội các tộc luôn gắn với lợi ích quốc gia dân tộc nên người thiểu số dễ bị tổn thương bởi các dự việc nhìn nhận một vấn đề nào đó liên quan án phát triển). Ngược lại, rất nhiều kỹ thuật, đến các ngành khoa học xã hội và nhân văn những kinh nghiệm truyền thống (những tri cũng được nhìn nhận từ các góc độ khác thức bản địa) đã đưa lại hiệu quả cao, được nhau. Chính vì vậy một vấn đề liên quan tới thử thách và chọn lọc trong một thời gian các ngành khoa học xã hội và nhân văn sẽ dài, có sẵn tại địa phương phù hợp với được nhìn nhận từ các góc độ khác nhau và phong tục tập quán của các tộc người đã đưa đến những cách gọi khác nhau. Khi nói từng có vai trò rất quan trọng trong đời đến hệ thống các tri thức đặc trưng của các sống của họ, lại không được vận dụng. cộng đồng người địa phương liên quan đến Ngày nay, trong bối cảnh công nghiệp hóa, cách ứng xử của cộng đông cư dân này với hiện đại hóa, đô thị hóa và toàn cầu hóa môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh, (như là những mục tiêu cần hướng tới và có các cách gọi như: tri thức bản địa, tri đạt tới, là chuẩn mực của một xã hội phát thức kỹ thuật truyền thống, sinh thái dân triển của hầu hết các quốc gia-dân tộc, nhất tộc học, tri thức địa phương, tri thức dân là ở những quốc gia đang phát triển), thì gian, tri thức truyền thống về môi trường. những tri thức của các tộc người thiểu số 3. Văn hóa của một tộc người bao gồm được tích lũy trong quá trình hình thành những thành tố (component) khác nhau. Có phát triển của họ liệu có ý nghĩa và vai trò những thành tố được hình thành trong quá như thế nào trong quá trình công nghiệp trình đấu tranh sinh tồn chống thiên nhiên hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa, cũng cần khắc nghiệt và chống sự xâm lăng từ bên tìm lời giải. Tuy nhiên, để trả lời thỏa đáng ngoài để bảo vệ sự sống còn của chính tộc một câu hỏi mà thiếu những nhận thức người đó, của chính nền văn hóa đó. Cũng cũng như kết quả nghiên cứu về tri thức có những thành tố văn hóa được tiếp nhận bản địa tại các địa phương khác nhau và ở từ bên ngoài do quá trình giáo lưu văn hóa. các tộc người khác nhau sinh sống tại địa Trong tiến trình phát triển của mình, như là phương là điều không thể thực hiện trong một quy luật, sự sáng tạo văn hóa của một 43
  3. Journal of Thu Dau Mot University, No 4 (23) – 2015 tộc người thường ít hơn rất nhiều những gì bình. Các nhà truyền giáo đi đến các địa mà chính tộc người đó sáng tạo. Thí dụ có phương khác nhau. Bằng đức tin của mình, nhiều tộc người hoặc nhóm tộc người tiếp các nhà truyền giáo đã cảm hóa những cư nhận một tôn giáo nào đó. Nhưng tất cả các dân địa phương. Cũng có những trường tôn giáo, dù là tôn giáo thế giới hay khu hợp, như trường hợp Islam trong quá trình vực, đều ra đời ở một địa điểm cụ thể, sau mở rộng tầm ảnh hưởng của mình, đã dùng đó nhờ hoạt động của các nhà truyền giáo, bạo lực để áp đặt đức tin đối với các tộc tôn giáo đó đến với các cộng đồng dân cư người bị xâm lược. Cũng không ít những khác nhau. Thí dụ như Phật giáo ra đời ở trường hợp sự giao lưu tiếp nhận văn hóa Ấn Độ, sau đó mới truyền sang các vùng giữa các tộc người lại diễn ra thông qua lãnh thổ khác. Ngày nay, tín đồ Phật giáo trao đổi hàng hóa. Tiếp nhận văn hóa giữa có mặt ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ. các tộc người diễn ra trong suốt chiều dài Trong trường hợp tiếp nhận Phật giáo của lịch sử. Tuy nhiên, như là một quy luật các các tộc người, như chúng ta thấy, thực chất tộc người chỉ tiếp nhận những gì mà họ là tiếp nhận những giá trị văn hóa mới, làm không có (có chọn lọc) và những thành tố thay đổi đời sống mọi mặt của các cộng văn hóa đó phải được bản địa hóa (dân tộc đồng dân cư. Bởi vì, các tôn giáo đều có hóa). Vì vậy, ngay cả trong trường hợp bị giáo luật, giáo lý quy định hành vi ứng xử đồng hóa cưỡng bức văn hóa, thì các tộc của các tín đồ, chức sắc đối với con người người bị cưỡng bức vẫn giữ được một số và đối với tự nhiên. Những hành vi ứng xử yếu tố riêng, để trong trường hợp có điều đó được các tín đồ, chức sắc thực hiện mỗi kiện họ có thể khôi phục được những yếu ngày trở thành thói quen, tạo nên nét văn tố văn hóa truyền thống. Nhưng muốn cho hóa riêng. Những nét văn hóa (những thói một thành tố văn hóa ngoại nhập, thì các quen) đó được truyền dẫn từ thế hệ này đến thành tố văn hóa đó phải được bản địa hóa thế hệ khác góp phần làm nên những nét (dân tộc hóa), không bao giờ xảy ra sự tiếp văn hóa riêng của chính cộng đồng đó nhận mà không có chọn lựa. Văn hóa của trong so sánh với các cộng đồng dân cư một tộc người luôn có những thay đổi. Sự khác không theo đức tin đó. Những nét văn thay đổi này xảy ra trong suốt chiều dài lịch hóa của cộng đồng theo một tôn giáo sẽ có sử, do tác động của các nguyên nhân khách sự khác biệt so với các cộng đồng không quan và chủ quan khác nhau. Văn hóa của theo tôn giáo đó được thể hiện cả trong văn bất kỳ một tộc người nào, như là một vấn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Một cộng đề có tính quy luật. Đó là, vào thời điểm đồng dân cư tiếp nhận các thành tố văn hóa nghiên cứu, thì trong một nền văn hóa bao từ ngoài du nhập vào có nhiều cách khác giờ cũng những thành tố văn hóa của ngày nhau. Sự tiếp nhận các thành tố văn hóa hôm qua (quá khứ) tồn tại ở dạng tàn dư, ngoại nhập, dù biểu hiện dưới hình thức văn hóa của thời hiện tại. Và trong lòng của như thế nào, cũng đều được thể hiện ở các nền văn hóa hiện tại cũng xuất hiện những cách thức khác nhau, có thể là bằng con nhân tố (mầm mống) để hình thành những đường trực tiếp cũng có thể bằng con thành tố văn hóa mới. Những thay đổi đó đường gián tiếp. Trong nhiều trường hợp, tùy thuộc rất nhiều vào các nhân tố (nguyên sự du nhập của các tôn giáo vào các cộng nhân) nội sinh (chủ quan) và ngoại sinh đồng dân cư thường bằng con đường hòa (khách quan). Biến đổi văn hóa xảy ra ở 44
  4. Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một, số 4 (23) – 2015 hầu hết các tộc người, nhưng sẽ không có cùng cũng chỉ là một thành tố văn hóa của một mô hình nhất định. Sự biến đổi đó một tộc người. Do tri thức địa phương luôn nhanh hay chậm, theo chiều hướng tích cực gắn liền với một cộng đồng cư dân và một hay không tích cực phụ thuộc vào những địa bàn cụ thể, nên dẫn đến tính đa dạng nhân tố khách quan và chủ quan khác nhau. văn hóa của một tộc người. Tri thức địa Trong những quốc gia đa tộc người biến phương có vai trò nhất định trong đời sống đổi văn hóa của các tộc người thường do văn hóa của một tộc người. Bởi tri thức địa những chính sách phát triển kinh tế, xã hội phương là những kiến thức, kinh nghiệm dẫn đến những biến đổi sâu sắc văn hóa của được tích lũy và truyền dẫn qua nhiều thế các tộc người sinh sống trong những quốc hệ góp phần làm phong phú văn hóa của gia đó. Khi dân cư trên một địa bàn tăng một tộc người. Vậy phải làm gì để bảo tồn nhanh, mà thành phần dân cư thuộc các tộc và phát huy giá trị của tri thức địa phương người khác nhau cũng là nguyên nhân dẫn trong bối cảnh hiện nay? Đây là một vấn đề đến những biến đổi văn hóa của các tộc có tính nguyên tắc ở tất cả các nước trên người. Ở Tây Nguyên vào năm 1976 có thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển, 1200.000 người sinh sống trên địa bàn 5 nơi có xuất phát điểm thấp so với các nước tỉnh. Vào thời điểm đó, ngoài 12 tộc người khác và với những truyền thống văn hóa tại chỗ còn có người Việt. Quá trình giao của mình. Muốn phát triển kinh tế, xã hội lưu văn hóa giữa các tộc người trên địa bàn để hội nhập vào dòng chảy chung của nhân diễn ra, do việc cùng tham gia vào hai cuộc loại thì không thể giữ nguyên mô hình tổ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đặc chức xã hội truyền thống (văn hóa truyền biệt sau năm 1975, do thực hiện chính sách thống), nhưng phát triển mà không giữ phát triển kinh tế, xã hội, phân bố lại lao được chính mình, thì không một tộc người động (dân cư) trên phạm vi cả nước, dẫn nào, một quốc gia nào lại mong muốn có đến di dân có tổ chức và di dân tự do đến một kết cục như vậy. Phát triển và phát Tây Nguyên, làm cho bức tranh tộc người triển bền vững kinh tế, xã hội, đảm bảo thay đổi một cách căn bản. Hiện nay, ở Tây công bằng xã hội, an ninh con người đã và Nguyên người Việt chiếm đến 70% dân số, đang là xu hướng chủ đạo của các quốc gia cư dân tại chỗ chiếm 23%, còn các tộc trên thế giới. Việc thực hiện những chính người thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc sách trong phát triển kinh tế, xã hội hiện chiếm 7% (Nguyễn Tuấn Triết). Sự gia nay ở các nước là nguyên nhân chủ yếu dẫn tăng thành phần tộc người trên một địa bàn đến những thay đổi của đời sống kinh tế xã dân cư dẫn đến hình thức sống xen kẽ cũng hội của cả nước, của từng vùng, của một gia tăng. Quá trình giao lưu văn hóa gia tộc người, đặc biệt những thay đổi diễn ra tăng mạnh mẽ giữa các tộc người có sự mạnh mẽ ở các tộc người thiểu số. khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ , làm thay Quá trình hình thành cộng đồng quốc đổi văn hóa của cư dân tại chỗ, trong đó có gia dân tộc Việt Nam gắn liền với quá trình tri thức bản địa. mở rộng lãnh thổ, xác lập chủ quyền, thực 4. Trong tổng thể văn hóa của một tộc thi chủ quyền, bảo vệ chủ quyền cùng với người, dù tri thức địa phương có đa dạng quá trình di dân từ Trung Quốc sang, làm phong phú như thế nào, có vị thế như thế cho thành phần tộc người ở nước ta khá đa nào đối với văn hóa tộc người, thì xét cho dạng. Một quốc gia đa tộc người thường là 45
  5. Journal of Thu Dau Mot University, No 4 (23) – 2015 quốc gia đa văn hóa. Những cuộc di dân trì mãi cuộc sống du canh, du cư, mà phải lớn nhỏ diễn ra trong thời gian dài, cùng ổn định cuộc sống, phải tổ chức lại đời với công cuộc dựng nước và giữ nước dẫn sống của cộng đồng, của từng gia đình, đến sự cộng cư của các thành phần tộc phải định canh, định cư. Khi thực hiện chủ người trên một địa phương. Cũng do sinh trương định canh, định cư đã dẫn đến sống trên các địa bàn khác nhau, nên các những thay đổi căn bản trong đời sống kinh tộc người tích lũy những tri thức địa tế, văn hóa của các tộc người thiểu số. phương khác nhau, góp phần làm phong Những thay đổi đó được thể hiện ở các khía phú văn hóa của từng tộc người, của văn cạnh khác nhau của đời sống kinh tế, xã hội hóa Việt Nam. Các tộc người thiểu số ở và văn hóa của đồng bào. Trước hết, do nước ta chủ yếu cư trú ở miền núi. Đây là định canh, định cư, nên đồng bào phải ở cố địa bàn chiến lược có vai trò quan trọng định, không thể di chuyển như trước. Nếu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ như trước đây, vì lý do nào đó phải di quốc, là nơi có tiềm năng mọi mặt để góp chuyển làng, thì già làng sẽ là người có phần xây dựng đất nước. Tuy nhiên, đây trách nhiệm xem xét đi tìm một địa bàn lập cũng là vùng có nhiều khó khăn trong đầu làng theo truyền thống văn hóa của cộng tư phát triển kinh tế, xã hội, nơi còn bảo đồng. Địa điểm lập làng phải đáp ứng các lưu nhiều nét của đời sống văn hóa, rất bất yêu cầu tâm linh, như là một yêu cầu số cập trong xây dựng hiện nay. Vì vậy, ở Việt một của quy trình lập làng. Còn bây giờ, Nam, do đặc điểm lịch sử, kinh tế, xã hội, khi thực hiện chủ trương định canh, định cư mà trong chính sách phát triển kinh tế, xã các già làng không thể tự mình đi tìm đất hội luôn giành những ưu tiên có thể có để lập làng như trước, công việc này đã có được cho phát triển kinh tế các tỉnh miền nhà nước lo. Nhà nước, trên cơ sở xây dựng núi, nơi các tộc người thiểu số sinh sống. chiến lược phát triển chung cho một vùng, Những chính sách phát triển kinh tế, xã hội đã quy hoạch đất ở, đất canh tác, đất cho và văn hóa được triển khai khá đồng bộ ở xây dựng các công trình phúc lợi một cách các tỉnh miền núi. Việc người dân ở các rõ ràng. Những kinh nghiệm (những tri tỉnh miền núi trực tiếp tham gia vào quá thức bản địa) được tích lũy trong cộng trình thực hiện các chính sách phát triển đồng trong việc tìm đất lập làng sẽ không kinh tế, xã hội đã dẫn đến những thay đổi có điều kiện được thể hiện, khi mà những trong đời sống của đồng bào. Như chúng ta điều kiện để thể nghiệm các kinh nghiệm đều biết, phần lớn các tộc người thiểu số ở truyền thống (những tri thức bản địa) nước ta cư trú chủ yếu ở miền núi. Hoạt không còn nữa. Trong hoạt động sản xuất động kinh tế chính của đồng bào là săn bắn cũng có nhiều thay đổi. trồng trọt nương hái lượm (hoạt động kinh tế tước đoạt) phụ rẫy sẽ rất khác với hoạt động kinh tế mới thuộc vào những điều kiện tự nhiên (phụ như kỹ thuật làm đất, các loại giống cây thuộc vào đất rừng) nơi đồng bào cư trú. trồng, vật nuôi, việc áp dụng các tiến bộ kỹ Trong quá trình khai thác đất rừng để phát thuật trong chăm sóc các loại cây trồng, vật triển đồng bào đã tích lũy được những kinh nuôi cũng như trong thu hoạch, bảo quản. nghiệm (những tri thức) để khai thác đất Như vậy có thể thấy, tri thức bản địa được rừng một cách hiệu quả hơn. Nhưng muốn tích lũy trong đời sống cộng đồng vẫn còn phát triển kinh tế, xã hội, thì không thể duy đó, nhưng do chuyển từ du canh, du cư 46
  6. Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một, số 4 (23) – 2015 sang định canh, định cư đã làm thay đổi nghĩa). Nhờ chính sách đúng đắn đó, mà phương thức sống của cả một cộng đồng. sau khi hòa bình lập lại đã có một đội ngũ Cùng với việc chuyển đổi phương thức sống trí thức nắm vững khoa học kỹ thuật phục (từ du canh, du cư sang định canh định cư) vụ xây dựng đất nước, phát triển kinh tế và mới cũng làm thay đổi không gian văn hóa chuẩn bị cho công cuộc chống Mỹ. thực truyền thống (không còn gắn bó với đất rừng hiện chính sách giáo dục đã góp phần nâng như xưa). Trong cùng một không gian sinh cao dân trí cho toàn xã hội, trong đó có tồn, giờ đây không còn tính thuần nhất về đồng bào thiểu số. Thực hiện xóa nạn mù thành phần tộc người, mà đã xuất hiện chữ, ưu tiên cho con em đồng bào các tộc những nhóm dân cư thuộc các tộc người người thiểu số đến trường, đã đem lại khác, dẫn đến giao lưu văn hóa. những thay đổi trong đời sống cộng đồng. Ngoài các chính sách phát triển kinh Cùng với giáo dục, việc mở rộng mạng lưới tế, xã hội đã làm thay đổi đời sống của các y tế phục vụ cộng đồng cũng làm thay đổi cộng đồng dân cư, mà ở đây là các tộc nếp sống của đồng bào. Những phong tục người thiểu số, một nguyên nhân khác cũng tập quán gắn liền với mê tín dị đoan ngày góp phần làm thay đổi văn hóa tộc người một hạn chế. Chăm sóc sức khỏe, nhất là (tri thức bản địa). Đó là việc thực hiện các chăm sóc sức khỏe trẻ sơ sinh và sản phụ, chủ trương chính sách có liên quan đến lĩnh làm cho tỷ lệ tử vong giảm, đã góp phần vực giáo dục, chăm sóc y tế. Chủ tịch Hồ thay đổi căn bản nhiều phong tục tập quán Chí Minh đã từng nói, giặc dốt cũng như của đồng bào, những tri thức địa phương giặc ngoại xâm. Vì vậy, một dân tộc dốt được tích lũy qua thời gian không còn phát không thể là một dân tộc mạnh. Muốn phát huy được trong bối cảnh hiện đại. Như vậy triển kinh tế xã hội, muốn thoát khỏi nghèo có thể thấy, việc nâng cao dân trí và mở nàn lạc hậu phải nâng cao dân trí. Do tầm rộng mạng lưới y tế đã góp phần làm thay quan trọng của giáo dục đối với sự phát đổi nhiều khía cạnh của đời sống cộng triển của đất nước, nên Nhà nước ta luôn đồng, trong đó có tri thức địa phương về nhất quán trong việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe. này. Trong những năm kháng chiến chống Việc tiếp nhận tôn giáo mới (chủ yếu là Pháp cũng như trong kháng chiến chống Tin Lành) cũng dẫn đến những thay đổi đời Mỹ, mặc dù nhiệm vụ hàng đầu là đánh sống văn hóa của cộng đồng. Trong xã hội thực dân đế quốc, nên nguồn lực cho nhiệm truyền thống việc theo và thực hành các vụ này được ưu tiên tối đa. “Tất cả cho tiền nghi lễ tín ngưỡng (tôn giáo) là nhu cầu tuyến”, “Tất cả cho chiến thắng” hay “Thóc tâm linh của các tộc người thiểu số. Tín không thiếu một cân, quân không thiếu một ngưỡng tôn giáo ra đời chính là chỗ dựa người” không chỉ là khẩu hiệu hiệu triệu, tinh thần, khi con người gặp những khủng mà là hành động của mỗi địa phương, mỗi hoảng không thể giải quyết được trong tổ chức chính trị xã hội. Tuy tập trung tối cuộc sống, nên phải dựa vào các thế lực đa sức người và sức của cho công cuộc siêu nhiên. Nhu cầu này phần lớn do điều kháng chiến, nhưng nhà nước ta vẫn quan kiện tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế, xã hội tạo tâm một cách đúng mức đến sự nghiệp giáo nên. Ở Việt Nam, các tộc người thiểu số dục (những năm 50 của thế kỷ XX cử nhiều sinh sống chủ yếu ở miền núi, nơi có điều học sinh sang học ở các nước xã hội chủ kiện tự nhiên khắc nghiệt, cuộc sống phụ 47
  7. Journal of Thu Dau Mot University, No 4 (23) – 2015 thuộc vào tự nhiên. Bất lực trước các hiện Không còn không gian văn hóa truyền tượng tự nhiên con người cần đến sự phủ thống, không còn đất rừng như xưa, nên trợ của hệ thống thần linh đông đảo (đa cũng không có săn bắn hái lượm, để bảo thần). Do vậy, trong một khoảng thời gian đảm đời sống họ phải trồng các loại cây, dài, đời sống xã hội của các tộc người thiểu con mới, cách thức chăm sóc, thu hoạch, số luôn tồn tại một hệ thống các thần linh. bảo quản, chế biến cũng khác. Những thay Tuy nhiên, những biến động trong đời sống đổi đó làm cho người dân khủng hoảng, hụt kinh tế, xã hội, của các tộc người thiểu số hẫng trong tinh thần. Họ bỡ ngỡ, bất an (như sự xuất hiện của người Việt, người trước tình hình mới. Những nghi lễ truyền Pháp, những yếu tố văn hóa mới ) đã làm thống vừa nhiều, lại rườm rà tốn kém, mất dần vai trò của hệ thống tín ngưỡng không còn phù hợp trong bối cảnh mới. truyền thống. Trong hoàn cảnh đó, họ phải Trong bối cảnh đó, những tín ngưỡng tìm đến một đức tin mới, nhằm bù đắp lại truyền thống không còn đáp ứng được nhu sự thiếu hụt trong đời sống tâm linh. Đạo cầu giảm đi những lo toan hàng ngày. Và Tin Lành là một tôn giáo gắn với sự phát Tin lành với những nghi thức đơn giản, ít triển của chủ nghĩa tư bản, gắn liền với xã tốn kém, lại đề cao vai trò cá nhân, tôn hội hiện đại, nhưng có nghi lễ đơn giản, trọng dân chủ đã du nhập vào đời sống của không cầu kỳ, không rườm rà như những đồng bào các tộc người thiểu số như là một nghi lễ truyền thống. Nội dung giáo lý, thực thành tố văn hóa mới với những khác biệt hành nghi lễ có nhiều yếu tố phù hợp với trong niềm tin, trong tổ chức đời sống đã tác khả năng tiếp nhận và đáp ứng nhu cầu tôn động mạnh mẽ đến đời sống mọi mặt của giáo của các tộc người thiểu số trong hoàn các tộc người. Bởi vì, tôn giáo mới có giáo cảnh mới với sự biến đổi nhanh của tình luật, giáo lý quy định các hành vi ứng xử hình kinh tế, xã hội, văn hóa, nên dễ dàng của chức sắc tín đồ trong mối quan hệ với tự được người dân tiếp nhận. Một nguyên nhiên, xã hội với những cộng đồng cư dân. nhân khác cũng góp phần dẫn đến sự tiếp Như vậy có thể thấy, bằng việc thực nhận đức tin mới là trong những năm hiện các chính sách phát triển kinh tế, xã kháng chiến chống Mỹ, việc cả hai phía hội, văn hóa cùng với việc nâng cao dân trí, thực thi các chính sách của mình đã tác mở rộng mạng lưới y tế, sự du nhập tôn động đến đời sống của các tộc người thiểu giáo mới đã làm thay đổi đời sống mọi mặt số. Những nhóm dân cư hoặc tham gia của các tộc người thiểu số. Là một thành tố kháng chiến, hoặc vào các khu dồn dân, ấp văn hóa tộc người, tri thức bản địa đã góp chiến lược. Điều này dẫn đến khu vực cư phần làm phong phú văn hóa tộc người. trú truyền thống không được duy trì, cấu Nhưng tri thức địa phương lại gắn liền với trúc xã hội truyền thống bị thay đổi, không một địa bàn cụ thể, nên khi văn hóa của gian và môi trường sống hoàn toàn bị phá một tộc người thay đổi, thì tri thức địa vỡ. Mặt khác, trong bối cảnh mới bộ máy phương cũng thay đổi. Là một thành tố văn tự quản không còn vận hành trên cơ sở luật hóa tộc người, tri thức địa phương không tục như trước đây, mà thay vào đó là sự chỉ góp phần làm phong phú văn hóa của quản lý của bộ máy chính quyền. Cùng với một tộc người, mà còn góp phần ổn định xã những thay đổi của đời sống xã hội, hoạt hội, thúc đẩy phát triển xã hội. Nhưng động kinh tế cũng có những thay đổi theo. chúng ta cũng lại thấy tri thức địa phương 48
  8. Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một, số 4 (23) – 2015 ngày một mất dần vị trí của mình trong đời đồng, mà tri thức là một trong nhiều thành sống của đồng bào. Vậy phải làm gì để có tố góp phần làm phong phú văn hóa của thể bảo tồn và phát huy những giá trị truyền một tộc người. Tuy nhiên, về cơ bản là các thống của tri thức địa phương trong bối tộc người sống xen kẽ. Địa bàn phân tán, cảnh hiện nay? Để có thể bảo tồn và phát dẫn đến tích lũy kinh nghiệm khác nhau, huy những giá trị của tri thức địa phương hình thành tri thức tại các địa phương cũng trong bối cảnh hiện nay, chúng tôi đề nghị. khác nhau. Vì tri thức địa phương được 1. Phải nghiên cứu toàn diện tri thức hình thành trong những điều kiện tự nhiên địa phương của các tộc người sinh sống và môi trường cụ thể. Nghiên cứu tri thức trên lãnh thổ Việt Nam địa phương của một tộc người cụ thể đã là Muốn bảo tồn và phát huy các giá trị một vấn đề không đơn giản, còn trong của tri thức địa phương trong bối cảnh hiện những điều kiện cư dân sống phân tán, thì nay trước hết phải có những đánh giá khách khó khăn lại bội phần. Mặt khác, tri thức quan và khoa học giá trị của tri thức nói địa phương của một tộc người lại luôn thay chung, tri thức địa phương nói riêng, trong đổi, nên việc nghiên cứu một cách hệ đời sống của từng tộc người. Vì “tri thức thống, toàn diện về tri thức địa phương bản địa mang tính địa phương, bắt nguồn từ cũng rất khó khăn. Nhưng không nghiên một địa điểm cụ thể, là những kinh nghiệm cứu thì không thể hiểu và biết về tính đa được những cư dân sống tại các địa điểm dạng và phong phú của tri thức địa phương. đó đúc kết được ”, như vậy không có tri Mà một khi không có hiểu biết về tri thức thức địa phương chung chung. Do vậy, phải địa phương, sẽ không thấy được giá trị của tổ chức nghiên cứu một cách toàn diện tri thức trong đời sống văn hóa, trong việc những giá trị của tri thức địa phương trong ổn định phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội việc góp phần làm phong phú văn hóa của của tộc người. Một sự hiểu biết không đến một tộc người. Hiện nay, ở Việt Nam có 54 nơi, đến chốn về một lĩnh vực văn hóa, thì thành phần tộc người. Các tộc người đều có cũng khó có cách ứng xử đúng và đương lãnh thổ, nơi tập trung tương đối đông đảo, nhiên cũng thiếu những cơ sở khoa học để thí dụ người Thái chủ yếu ở các tỉnh Tây đề xuất và bảo tồn những giá trị truyền Bắc, người Tày, Nùng ở Đông Bắc, còn thống trong bối cảnh hiện nay. Trong thực người Mường ở Hòa Bình, Phú Thọ, Thanh tế khi nghiên cứu văn hóa của bất kỳ một Hóa, người Chăm ở Ninh Thuận, Bình tộc người nào, dù muốn hay không muốn, Thuận, người Êđê ở Đắc Lắk, người Khmer thì cũng đã có nói đến tri thức địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long, nhưng tập của các tộc người (Viện Dân tộc học, 1978, trung nhiều ở Sóc Trăng, Trà Vinh 1984). Tuy nhiên, khuôn khổ của một đề tài Nghiên cứu tri thức địa phương của các tộc nghiên cứu hoặc dừng lại ở mức độ minh người thiểu số còn góp phần nghiên cứu họa, nên những gì liên quan đến tri thức địa văn hóa của các tộc người sinh sống trên phương của một tộc người chỉ chiếm một vị lãnh thổ Việt Nam. Bởi tri thức địa phương trí khiêm tốn, như nghiên cứu luật tục (Ngô là sản phẩm của một cộng đồng cư dân Đức Thịnh 2003). Nghiên cứu để hiểu biết cùng sinh sống trên một địa bàn, chính toàn diện tri thức địa phương của các tộc trong bối cảnh cụ thể đó họ đã sáng tạo một người ở Việt Nam cần thiết phải xây dựng phức hợp văn hóa nhằm phát triển cộng một dự án, với sự tham gia của các nhà 49
  9. Journal of Thu Dau Mot University, No 4 (23) – 2015 khoa học thuộc các ngành khoa học xã hội, cũng không cần quan tâm nghiên cứu. Một mới có thể thực hiện được thái độ đúng mức là trân trọng những giá trị 2. Đánh giá khách quan và toàn diện mà tri thức địa phương của các tộc người những giá trị của tri thức địa phương của thiểu số đã góp phần ổn định phát triển các tộc người thiểu số. kinh tế, xã hội và văn hóa của một tộc Do rất nhiều nguyên nhân khác nhau, người. Phải nghiêm túc xem xét những giá nên cho đến nay việc nghiên cứu về tri thức trị của tri thức địa phương đối với sự phát của các tộc người thiểu số chưa có những triển của một cộng đồng, để có thể vận công trình tương xứng với những giá trị mà dụng trong bối cảnh hiện nay. Hiện nay, tri thức địa phương mang lại cho đời sống mạng lưới y tế đã phát triển, đã làm thay đổi nhiều đến chăm sóc sức khỏe trẻ sơ của các tộc người. Tri thức địa phương của mỗi tộc người đề cập đến các khía cạnh sinh, thai sản, các loại bệnh. Nhưng trong khác nhau của đời sống cộng đồng, từ sản nhiều trường hợp những bài thuốc chữa rắn xuất (bao gồm trồng trọt, chăn nuôi) đến cắn, các bệnh cảm cúm khác, vẫn được quản lý cộng đồng xã hội, chăm sóc sức đồng bào chữa trị có hiệu quả. Khi triển khỏe , nhưng lại không giống nhau giữa khai thực hiện các chính sách phát triển các tộc người cũng như giữa các nhóm địa kinh tế xã hội ở các tỉnh miền núi đã dẫn phương của một tộc người. Do vậy, để có đến những thay đổi sâu sắc đời sống của một bức tranh toàn cảnh về tri thức địa các tộc người thiểu số, trong đó có tri thức phương của một tộc người là một vấn đề bản địa. Mặt khác, việc quy hoạch đất rừng, không đơn giản. Sau khi đã có một bức việc di dân từ các địa phương khác đến, tranh toàn cảnh về tri thức bản địa sinh việc mở rộng mạng lưới y tế, việc nâng cao sống trên lãnh thổ Việt Nam, thì việc đánh dân trí, việc áp dụng các tiến bộ khoa học giá những giá trị của tri thức địa phương kỹ thuật trong sản xuất đã làm cho không trong quá khứ và những gì có thể gìn giữ gian văn hóa truyền thống không còn, làm trong bối cảnh hiện nay là rất cần thiết. Tuy cho tri thức địa phương không còn điều nhiên, do tri thức bản địa gắn liền với một kiện để tồn tại. cộng đồng, một địa phương, nên sẽ không 3. Đề xuất các giải pháp bảo tồn và có sự đồng đều trong một nhận định chung phát huy các giá trị tri thức địa phương. về giá trị của tri thức địa phương. Mặt Muốn bảo tồn và phát huy các giá trị khác, tri thức địa phương là những tri thức của tri thức địa phương cần phải làm gì? được tích lũy trong quá trình lao động sản Điều ai cũng dễ nhận thấy là muốn có tri xuất, nên mang tính chủ quan, thiếu những thức địa phương và phát huy được những cơ sở khoa học. Vì vậy, cần phân tích một giá trị của chúng, trước hết, phải có không cách nghiêm túc tính hợp lý của việc vận gian văn hóa truyền thống. Nhưng điều này dụng các tri thức địa phương trong bối cảnh không thể có trong bối cảnh hiện nay, khi cụ thể. Chúng ta không tán thành quan mà địa bàn cư trú của các tộc người đã có điểm cho rằng tri thức địa phương là những những thay đổi. Qua kết quả nghiên cứu về gì làm nên truyền thống văn hóa của một tri thức địa phương của các tộc người thiểu tộc người. Và ngược lại, chúng ta cũng số ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, chúng không đồng tình với quan điểm cho rằng tri tôi mạnh dạn nêu một số giả pháp nhằm thức địa phương không có giá trị gì, nên bảo tồn và phát huy các giá trị của tri thức 50
  10. Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một, số 4 (23) – 2015 địa phương trong bối cảnh hiện nay. Những phương trong đời sống xã hội truyền thống đề xuất và giải pháp đó bao gồm: và những giá trị có thể kế thừa trong bối Thứ nhất, xây dựng chính sách ở tầm cảnh hiện nay (những kinh nghiệm trong quốc gia, hướng tới việc nghiên cứu, đánh bảo vệ rừng, chăm sóc sức khỏe ). giá vai trò của tri thức địa phương trong Thứ ba, phải biết khai thác những giá phát triển những giá trị chung của tri thức trị của tri thức địa phương của các tộc địa phương đối với văn hóa của một tộc người thiểu số. Muốn vậy, phải làm cho người. Trên cơ sở đó có kế hoạch kết hợp người dân, nhất là đồng bào, hiểu biết sâu với khoa học hiện đại khai thác những khía sắc hơn về những giá trị văn hóa truyền cạnh tích cực của tri thức địa phương trong thống của mình. Kết hợp hài hòa những việc bảo vệ môi trường, phòng chống cháy kiến thức của khoa học và tri thức địa rừng, bảo vệ rừng đầu nguồn hay chăm sóc phương trong hoạt động sản xuất cũng như sức khỏe cộng đồng. trong đời sống xã hội (kết hợp giữa luật Thứ hai, nghiên cứu một cách toàn diện pháp và luật tục trong quản lý xã hội ). và hệ thống tri thức địa phương (như Như vậy, muốn bảo tồn và phát huy nghiên cứu luật tục) của các tộc người sinh các giá trị của tri thức địa phương của các sống trên lãnh thổ Việt Nam. Việc nghiên tộc người thiểu số trong bối cảnh hiện nay cứu tri thức địa phương của các tộc người cần thiết phải nghiên cứu để hiểu biết thấu thiểu số còn góp phần nghiên cứu kho tàng đáo về tri thức địa phương. Từ kết quả và những giá trị văn hóa của các tộc người nghiên cứu có những đánh giá đúng các giá cũng là góp phần hiểu biết văn hóa Việt trị, để trên cơ sở đó xây dựng một chính Nam. Đánh giá một cách khách quan và sách phù hợp, nhằm khai thác có hiệu quả khoa học những giá trị của tri thức địa những tri thức đó để phát triển. PRESERVATION AND PROMOTION OF LOCAL KNOWLEDGE VALUES OF MINORITIES IN THE CURRENT CONTEXT Ngo Van Le University of Social Sciences and Humanities (VNU-HCM) ASBTRACT In the process of formation and development, the ethnic groups have created a cultural complex consistent with the social - economic development. Such cultural complex has contributed to creating the cultural identity of an ethnic group. On the other hand, it is the power for such ethnic group to overcome challenges. The culture of an ethnic group is dominated by natural conditions and social environment. The cultural diversity of Vietnam, in addition to differences in the origin of ethnic groups, there is a difference of the humanities ecosystem. Our article presents the preservation and promotion of cultural values of the ethnic groups (local culture, folk culture) in the current context. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Phan An, 2007, Hệ thống xã hội của người Stiêng ở Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM. 51
  11. Journal of Thu Dau Mot University, No 4 (23) – 2015 [2] Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước, 2011, Báo cáo tổng kết kết quả thực hiện công tác dân tộc năm 2011, phương hướng nhiệm vụ công tác dân tộc năm 2012. [3] Nguyễn Duy Bính, 2005, Hôn nhân và gia đình người Hoa ở Nam Bộ, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM. [4] Nguyễn Khắc Cảnh, 1998, Phum, sóc Khmer ở đồng bằng song Cửu Long, NXB Giáo dục. [5] Bùi Minh Đạo, 2003, Một số vấn đề giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội. [6] Cục Thống kê tỉnh Bình Phước, 2011, Kết quả điều tra tình hình cơ bản hộ gia đình dân tộc thiểu số và thực trạng cơ sở hạ tầng các xã có đồng bào dân tọc thiểu số có đến 01/01/2011 (bản đánh máy). [7] Mạc Đường (chủ biên), 1983, Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng, Sở Văn hóa tỉnh Lâm Đồng. [8] Mạc Đường (chủ biên), 1985, Vấn đề dân tộc ở Sông Bé, Sở Văn hóa tỉnh Sông Bé. [9] Mạc Đường (chủ biên), 1991, Vấn đề dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long, NXB Khoa học xã hội. [10] Hà Quế Lâm, 2002, Xóa đói giảm nghèo ở vùng các dân tộc thiểu số nước ta hiện nay – Thựctrạng và giải pháp, NXB Chính trị Quốc gia. [11] Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, Nguyễn Văn Diệu, 1997, Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, NXB Giáo dục. [12] Ngô Văn Lệ, 2004, Tộc người và văn hóa tộc người, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM. [13] Ngô Văn Lệ, 2013, Văn hóa các tộc người ở Tây Nguyên – nhìn từ khía cạnh tri thức bản địa, Hội thảo Văn hóa Tây Nguyên, Ban Tuyên giáo Trung ương. [14] Ngô Văn Lệ, 2013, Research about indigenuos kknowledge of ethnic minority peoples in the Central Higland and suothern Vietnam – some theorical issues, Juornal pf international Culture, The International Cultural Institute Chosun University, Gwanggju, Korea, Vol. 6-1, June, 2013 [15] Nhiều tác giả, 2003, Phát triển giáo dục vùng dân tộc Khmer Nam Bộ, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM. [16] Nguyễn Tuấn Triết, 2007, Tây Nguyên những chặng đường lịch sử – văn hóa, NXB Khoa học Xã hội. [17] Võ Tấn Tú, 2010, Hôn nhân và gia đình của người Churu ở Lâm Đồng, Luận án tiến sĩ sử học – chuyên ngành Dân tộc học. [18] Võ Tấn Tú, 2009, Tài liệu điền dã dân tộc học ở người Churu tỉnh Lâm Đồng. 52