Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - Tập 2 (Phần 2)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - Tập 2 (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
lich_su_nam_bo_khang_chien_tap_2_phan_2.pdf
Nội dung text: Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - Tập 2 (Phần 2)
- Giai đoạn thứ năm GIẢI PHÓNG MIỀN NAM 798 CHƯƠNG MƯỜI CHỦ ĐỘNG TRƯỚC MỌI TÌNH HUỐNG - TẠO THẾ VÀ LỰC CHUẨN BỊ THỜI CƠ GIẢI PHÓNG MIỀN NAM (1973-1974) I. TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ MIỀN NAM SAU HIỆP ĐỊNH PARIS VỀ VIỆT NAM 1973 1. Tình hình thế giới Nixon tiếp tục nhiệm kỳ Tổng thống thứ hai (1973-1976), trong thế sa lầy trên chiến trường Việt Nam, uy thế siêu cường giảm sút, chiến lược toàn cầu của Mỹ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Buộc phải ký Hiệp định Paris (27-1-1973), Mỹ vẫn theo đuổi học thuyết Nixon, thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, duy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam. Tình hình thế giới và nội bộ nước Mỹ phát triển theo hướng bất lợi cho chính quyền Nixon, xu thế đòi chấm dứt chiến tranh ở miền Nam Việt Nam phát triển thuận lợi cho phong trào giải phóng dân tộc, đấu tranh giành dân chủ, tiến bộ xã hội. * Ở châu Phi, châu Á, phong trào giải phóng dân tộc, xóa bỏ chủ nghĩa thực dân lên cao: Hội nghị cấp cao Tổ chức thống nhất châu Phi (OAU) họp tại Ethiopie (27-5-1973) ra tuyên bố xóa mọi hình thức bóc lột, lên án Israel, đòi Israel rút quân khỏi châu Phi và các nước Ả Rập.
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống Hội nghị cấp cao lần thứ IV Phong trào các nước không liên kết họp ở Alger (Thủ đô Algérie) tháng 9-1973 nhiệt liệt hoan nghênh chiến thắng của Việt Nam và Hiệp định Paris về Việt Nam. Hội nghị nồng nhiệt chào mừng luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt 799 Nam và bài phát biểu chính thức của Chủ tịch. Hội nghị nhất trí ra Tuyên bố tăng cường, đoàn kết với Mặt trận dân tộc giải phóng - Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam - Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 14-12-1973, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết về việc trao trả độc lập cho những vùng đang bị thực dân đô hộ dưới mọi hình thức khai thác như Puerto Rico, Samoa, Gilbert, Ellis, Guam, New Hebrides, Saint Hélène, Seychelles, Bermuda, Virgin, Cayman, Montserrat, Caicos, Comoros1. Cuộc cách mạng Ethiopie lật đổ vua Sélassié (26-2-1974), thiết lập chế độ dân chủ, theo hướng xã hội chủ nghĩa. Ở Mỹ Latinh: Peru quốc hữu hóa ngành đánh cá của Mỹ (7-5- 1973), sau đó quốc hữu hóa Công ty đồng của Mỹ (1-1-1974). Nhân dân Chile bầu Salvador Allende lên làm Tổng thống, theo đường lối khuynh tả. Chile quốc hữu hóa ngành công nghiệp đồng – cơ sở kinh tế quốc dân của Chile, và toàn bộ ngành vô tuyến điện viễn thông của Anh và Mỹ (19-5-1973). Nhưng đến tháng 9-1973, tướng Pinochet được CIA giúp đỡ đã tổ chức lật đổ Allende, áp đặt chế độ độc tài phát xít thân Mỹ. Ở Trung Đông, Ai Cập và Syrie tấn công Israel, định giành lại bán đảo Sinai và Cao nguyên Golan, nhưng bị Israel (được Mỹ ủng hộ) phản kích chiếm lại (6-10-1973). Ở châu Âu, cuộc đảo chính ở Hy Lạp lật đổ chế độ độc tài của Đại tá Paradopoulos (25-11-1973), sau đó chính phủ dân sự do ___ 1. Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia - Viện Sử học: Thế giới, những sự kiện lịch sử thế kỷ XX (1946-2000), Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2001, tr. 179.
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) cựu Thủ tướng Karamanlis lên nắm quyền, thực hiện những chính sách tiến bộ (23-7-1974). Cách mạng Bồ Đào Nha (25-4-1974) lật đổ chế độ phát xít, thành lập Chính phủ liên hiệp do tướng Spinola Antonio đứng đầu, khôi phục quyền tự do dân chủ Đặc biệt có hai sự kiện lớn diễn ra cuối năm 1973 và năm 1974: 800 1. Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) quyết định tăng gấp đôi giá dầu thô (22-12-1973) gây nên cuộc khủng hoảng nghiêm trọng ở hầu hết các nước châu Âu, Mỹ, Nhật (trả đũa việc Mỹ ủng hộ Israel tấn công Ai Cập và Syrie). 2. Vụ bê bối Watergate (Nixon đặt máy nghe trộm ở cao ốc Watergate, trụ sở Đảng Dân chủ) khiến Nixon mất uy tín, cuối cùng phải từ chức (9-8-1974), trao quyền cho Phó Tổng thống Gerald Ford. Sự kiện Nixon từ chức Tổng thống Mỹ có nguyên nhân sâu xa là từ thất bại trong chiến tranh Việt Nam; chiến tranh Việt Nam đã khiến nội bộ nước Mỹ phân hóa, chia rẽ; tất cả dẫn đến việc tập đoàn tư bản lũng đoạn Mỹ hạ bệ Nixon để hòng cứu vãn chiến lược toàn cầu, cứu vãn uy thế của nước Mỹ. Nhìn chung xu thế thế giới đi vào phi thực dân hóa, dân chủ hóa ngày càng mạnh, một xu thế không thể đảo ngược, tuy rằng cuộc đấu tranh chống độc tài quân phiệt, phátxít còn phải giằng co và diễn ra rất gay go quyết liệt. Những sự kiện trên thế giới, đặc biệt ở Mỹ (khủng hoảng kinh tế, chính trị sa lầy trong chiến tranh Việt Nam) thời gian này đã ảnh hưởng đến việc thực thi “học thuyết Nixon”, chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh sau Hiệp định Paris về Việt Nam. Các nước xã hội chủ nghĩa nhiệt liệt hoan nghênh chiến thắng của Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận dân tộc giải phóng - Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) qua việc Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết và tự hào về phần đóng góp của mỗi nước, trước hết là Liên Xô, Trung Quốc cho rằng “chiến tranh đã chấm dứt”, “Việt Nam đã có hòa bình”, mỗi nước có sự điều chỉnh chính sách viện trợ cho
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống Việt Nam. Có những nước cho rằng “sẵn sàng đổ máu vì Việt Nam” (Cộng hòa Cuba), “đoàn kết với Việt Nam càng cần hơn lúc nào hết” (Cộng hòa Dân chủ Đức) 2. Tình hình kinh tế - xã hội miền Nam 801 Cho đến 1973, kinh tế Nam Việt Nam tồn tại được là nhờ viện trợ Mỹ và chi tiêu của quân đội Mỹ và quân “đồng minh” Mỹ tham chiến ở miền Nam. Đến năm 1973, thực trạng kinh tế - xã hội Nam Việt Nam bộc lộ mấy nét chính như sau: Về công nghiệp, Nam Việt Nam đã phát triển được các ngành dệt, hóa chất, cơ khí, giấy, nhất là ngành chế biến thực phẩm, nói chung là công nghiệp nhẹ (phục vụ tiêu dùng). Sản lượng điện năm 1973 đạt 1,62 tỷ kWh (gấp 4 lần năm 1963). Mô hình về khu chế xuất lần đầu tiên đưa ra thực hiện (dùng nguyên liệu nhập khẩu, gia công trong nước rồi tái xuất, thu ngoại tệ), được coi là sự đột phá về kinh tế. Tuy nhiên, trừ một số ngành chế biến nông sản có nguyên liệu trong nước, còn phần lớn ngành công nghiệp Nam Việt Nam đều phải lệ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu; như ngành đường phải dùng 97% đường thô nhập khẩu để tinh chế thành đường kính, thuốc lá 89%, sữa 62,8%, kim khí 65%, xi măng 42,2%, thủy tinh 41% Riêng ngành dệt hầu như 100% dùng bông và sợi nhập khẩu; xăng dầu hoàn toàn lệ thuộc ngoại viện. Điều đó cho thấy, sau gần 20 năm Mỹ nhảy vào Nam Việt Nam, nền kinh tế của chế độ Sài Gòn vẫn không tự lập được, nên khi viện trợ giảm, nguồn ngoại tệ không còn thì nền kinh tế Nam Việt Nam sụp đổ. Theo thống kê của chính quyền Sài Gòn, sản lượng lúa năm 1 1973 là 7.025.000 tấn (tăng so với năm 1963: 5.327.000 tấn), nhưng vẫn phải nhập 297.000 tấn lương thực (gạo) vì không đủ lương ___ 1. Không rõ thống kê dựa trên cơ sở nào, vì chính quyền Sài Gòn không kiểm soát được đại bộ phận nông thôn.
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) thực cho tiêu dùng, chủ yếu do chính sách bắt lính ồ ạt, đưa hầu hết thanh niên vào lực lượng vũ trang và bán vũ trang. Các sản phẩm nông nghiệp khác sản lượng tăng, giảm không đều: cao su 19.000 tấn (giảm nhiều so với năm 1963: 76.000 tấn), cà phê 5.100 tấn (tăng so với năm 1963: 3.600 tấn), hạt tiêu 529.000 tấn (giảm so 802 với năm 1963: 964.000 tấn), trà 6.300 tấn (tăng so với năm 1963: 4.700 tấn) Hải sản 713.000 tấn (tăng khá so với năm 1963: 349.000 tấn), có thể một phần do tình hình chiến sự ở từng vùng chuyên canh có khác nhau. Dân số miền Nam năm 1973 là 20 triệu người (so với năm 1954: 12 triệu người), đáng chú ý trong cơ cấu dân cư: lao động trong ngành công nghiệp: 439.000 người. Số người làm trong các ngành dịch vụ các loại, từ sở Mỹ đến các ngành ăn uống khách sạn, kể cả công nhân xây dựng (lao động giản đơn) là 2.116.000 người. Riêng lực lượng vũ trang (cả chính quy và bán vũ trang quân Sài Gòn) lên đến 1.218.000 người. Tính ra, cứ 8 người lao động (cả nam và nữ) thì có 1 người đi lính; nếu xét riêng về lao động nam giới thì tỷ lệ sẽ là 4 - 5 lao động/1 lính. Cuộc khủng hoảng kinh tế do cấm vận dầu lửa Trung Đông (22-12-1973) làm nền kinh tế Mỹ chịu ảnh hưởng, giá cả leo thang, thất nghiệp ở Mỹ tăng, và tất yếu kéo theo sự khủng hoảng kinh tế ở Nam Việt Nam. Tỷ lệ đồng Việt Nam so đôla Mỹ thay đổi nhanh chóng: 1955: 1 đôla = 35 đồng Việt Nam; 1961: 1 đôla = 60 đồng; 1966: 1 đôla = 80 đồng (thị trường chợ đen 180 đồng); 1968: 118 đ; 1970: 275 đ (thị trường chợ đen: 393 đ); 1971: 400 đ; 1973: 420đ (thị trường chợ đen 500 đ), kể từ đây, tỷ giá bắt đầu được thả nổi theo 1 cơ chế thị trường Cuộc khủng hoảng kinh tế làm nạn thất nghiệp ở các đô thị tăng rất cao, làm gay gắt thêm mâu thuẫn giữa chế độ Sài Gòn và nhân dân miền Nam. ___ 1. Đặng Phong: Kinh tế miền Nam Việt Nam thời kỳ 1955-1975, Sđd, tr. 227-299.
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống Mười năm sau cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm, khi Mỹ đổ quân viễn chinh vào Nam Việt Nam, nền kinh tế miền Nam đã qua nhiều đảo lộn lớn. Nhờ viện trợ Mỹ và chi tiêu của quân Mỹ ở miền Nam (tổng chi phí trực tiếp trên đất Việt Nam là 140 tỷ đôla) suốt 18 năm chiến tranh tính đến năm 1973, thu nhập và mức 803 hưởng thụ vật chất nói chung của một bộ phận dân cư có được nâng lên (so với năm 1963). Vì nguồn hàng tiêu dùng từ ngoại nhập là chủ yếu, nên có người nước ngoài đặt cho nền kinh tế Nam Việt Nam thời đó là “nền kinh tế Honda” (do số lượng xe gắn máy Honda nhập vào hàng triệu chiếc). Khi Mỹ giảm viện trợ, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đẩy kinh tế - xã hội miền Nam Việt Nam bước vào một thời kỳ khủng hoảng không có lối thoát. Xã hội Nam Việt Nam mang đậm nét tính chất của một xã hội tiêu dùng, thu nhập của mỗi người phụ thuộc vào nguồn ngoại viện phục vụ chiến tranh trồi sụt bất thường; cuộc sống của người dân vùng bị chiếm, nhất là lứa thanh niên luôn luôn bị đe dọa bởi chính sách bắt lính, đôn quân “phục vụ quân sự”; số phận của từng gia đình, từng con người chứa đầy mâu thuẫn, tủi nhục do sống giữa môi trường xã hội mà giá trị đạo đức, nhân phẩm và danh dự bị chà đạp; đau khổ nhất là số người thất nghiệp, thương phế binh, ngày càng gia tăng. Từ một nền kinh tế hoàn toàn lệ thuộc viện trợ Mỹ như vậy mà chính quyền Sài Gòn vẫn có ảo tưởng xây dựng một “nền kinh tế độc lập tự chủ”. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, họ tin rằng, với chủ trương “bình định” lấn đất giành dân, nông nghiệp sẽ được phục hồi và phát triển tốt hơn (lúa, cây công nghiệp, thủy hải sản ); lực lượng lao động được đào tạo tốt hơn (giáo dục trung học, cao đẳng và đại học phát triển); hạ tầng cơ sở thừa hưởng từ kết cấu hạ tầng được xây dựng trong chiến tranh: hơn 172 sân bay lớn nhỏ, trong đó có 10 sân bay hiện đại; hải cảng, bến bãi, cầu cống, đường sá, đặc biệt là tiềm năng dầu khí
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) vừa phát hiện trên thềm lục địa Nam Việt Nam (đấu thầu khai thác dầu khí năm 1974 Chính quyền Sài Gòn đã thu được 30 triệu đôla), dự kiến năm 1975 sẽ có 20 dàn khoan hoạt động. Từ những yếu tố trên, chính quyền Sài Gòn xây dựng một “kế hoạch 5 năm” (1975-1980), Nam Việt Nam tiến tới “độc lập về kinh tế”; 804 chỉ cần một nguồn tài chính khoảng 700 triệu đôla/năm (tức 700 triệu x 5 = 3,5 tỷ đôla) tài trợ cho kế hoạch này thì sau năm 1980, sẽ không còn phải dựa vào viện trợ Mỹ nữa1. Dự án kinh tế là một trong những yếu tố then chốt cấu thành của kế hoạch thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Nixon sau Hiệp định Paris. II. HÌNH THÁI MỚI CỦA CHIẾN TRƯỜNG ĐẦU NĂM 1973 Hiệp định Paris công nhận ở miền Nam Việt Nam có 2 chính quyền, 2 quân đội, 3 lực lượng chính trị, có đề cập tình hình “2 vùng”, nhưng trên thực tế là thế “da beo” có sự phân biệt giữa vùng giải phóng và tạm bị chiếm, có vùng tranh chấp. Các lực lượng chính trị, vũ trang phía Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tồn tại xen kẽ hoặc tiếp giáp vùng chính quyền Sài Gòn kiểm soát tạo thế mạnh của chiến tranh nhân dân, ưu thế của lực lượng cách mạng. Một Ban liên hiệp quân sự 4 bên và các Tổ kiểm soát quốc tế (gồm đại diện 4 nước: Ba Lan, Hungari, Indonesia, Canada) được thành lập để bảo đảm việc thi hành Hiệp định. Trung tướng Trần Văn Trà, Phó Tư lệnh quân Giải phóng miền Nam Việt Nam làm Trưởng đoàn quân sự của Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Ngày 1-2-1973, Đoàn rời Lộc Ninh về Sài Gòn, đóng cơ quan tại trụ sở Trung tâm của Ủy ban liên hiệp quân sự 4 bên đặt tại sân bay Tân Sơn Nhất (trại Davis). ___ 1. Nguyễn Tiến Hưng: Khi đồng minh tháo chạy, Nxb. Hứa Chấn Hưng, San Jose. CA, 2005, tr. 149-156.
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống Ngày 29-3-1973, Tổng Tư lệnh quân đội Mỹ ở Việt Nam, tướng Weyand chủ trì lễ cuốn cờ, nhập vào đoàn 2.501 lính Mỹ cuối cùng rời khỏi sân bay Tân Sơn Nhất, có sự giám sát của bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và bên Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Cùng ngày, những quân nhân 805 cuối cùng của Hàn Quốc và Philippines cũng rời Nam Việt Nam. Từ đó Ban liên hiệp chỉ còn hai bên: Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam và chính quyền Sài Gòn. 1. Âm mưu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn Tổng thống Nixon, trước và sau khi ký Hiệp định Paris, vẫn cam kết ủng hộ chính quyền Sài Gòn: “ Tôi xin bảo đảm với ngài (Nguyễn Văn Thiệu) rằng tôi sẽ tiếp tục yểm trợ ngài trong giai đoạn hậu chiến và chúng tôi sẽ trả đũa bằng toàn thể sức mạnh của Hoa Kỳ nếu như Bắc Việt vi phạm Hiệp định”1 , “Tôi quyết định sẽ tiếp tục viện trợ đầu tư kinh tế và quân sự cho Việt Nam Cộng hòa”2. Như vậy, quân Mỹ rút khỏi Nam Việt Nam, nhưng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” vẫn được tiếp tục với mục tiêu ban đầu (thực hiện chủ nghĩa thực dân mới) và với công thức cũ “chính quyền Sài Gòn, quân đội Sài Gòn + vũ khí Mỹ + chỉ đạo của cố vấn Mỹ”. Walter Lipman, nhà bình luận người Mỹ đã nhận xét về tính phi “lôgích” của Học thuyết Nixon: “Đây có lẽ là lần đầu tiên trong lịch sử các cuộc chiến tranh, một nước nghĩ rằng mình có thể thắng trận bằng cách rút quân chiến đấu khỏi chiến trường”. ___ 1. Thư của R.Nixon gửi Nguyễn Văn Thiệu ngày 5-1-1973, theo Nguyễn Tiến Hưng: Khi đồng minh tháo chạy, Sđd, tr. 97-100. 2. Thư của R.Nixon gửi Nguyễn Văn Thiệu ngày 14-1-1973, Nguyễn Tiến Hưng, Sđd, tr. 101.
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) Thực tế khi Mỹ rút quân, Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ (MACV) đổi tên 1 thành Cơ quan tùy viên Quốc phòng Mỹ (DAO) do tướng John Murray cầm đầu; DAO có ở Nam Việt Nam hơn 20.000 cố vấn đội lốt “dân sự”. Quân Mỹ và “đồng minh” đã giao lại cho chính quyền Sài Gòn tất cả cơ sở vật chất, vũ khí, phương tiện chiến tranh đã phục 806 vụ hơn 600.000 quân Mỹ và “đồng minh” ở chiến trường Việt Nam. Đồng thời ngay trước và sau khi ký Hiệp định Paris, Mỹ đã thực hiện chiến dịch Enhance, Enhance Plus (“Tăng cường”) và kế hoạch bổ sung năm 1973, tăng mạnh khối lượng dự trữ quân sự cho chính quyền Sài Gòn2. Sức mạnh của Mỹ trên các căn cứ quân sự Thái Bình Dương vẫn nguyên vẹn. Bao quanh Việt Nam là một lực lượng rất lớn: 125.000 quân, 1.020 máy bay, 56 tàu chiến3 Quân đội Sài Gòn vẫn duy trì được hơn 1 triệu quân, được trang bị mạnh; hệ thống cơ sở của chính quyền Sài Gòn còn có hiệu lực; chính quyền Sài Gòn công bố giữ được 70% dân trong ấp tân sinh loại A và B, cộng với 7.000 trung đội nghĩa quân, 2.177 cảnh sát cuộc xã, 799.000 phòng vệ dân 4 sự với 5.542 ấp ___ 1. DAO: Defense Attache Office. Số cố vấn Mỹ ở lại Nam Việt Nam sau Hiệp định Paris nhiều gấp 57 lần số cố vấn Mỹ năm 1954. (Năm 1954, Mỹ có ở Nam Việt Nam 342 cố vấn quân sự). 2. Đến cuối năm 1973 đạt 2 triệu tấn, trong đó số đưa vào chiến dịch Enhance Plus là 625 máy bay các loại, 500 khẩu pháo, 400 tăng, thiết giáp, bổ sung năm 1973 đại pháo mặt đất và cao xạ là 124 khẩu, 98 máy bay và nhiều phương tiện khác. (Xem thêm Chương chín tập sách này). 3. Sau khi rút quân ở Việt Nam, Mỹ để lại ở Biển Đông và Thái Lan một lực lượng lớn không quân và hải quân làm “đội quân răn đe” lấy tên là “Cụm hoạt động yểm trợ Mỹ và tập đoàn không quân số 7” (United States Support Activity Group and Seventh Airforce) đặt trụ sở ở Nakhom Phanom - đông bắc Thái Lan. 4. Ban Tổng kết chiến tranh B2: “Kế hoạch Lý Thường Kiệt” của chính quyền Sài Gòn, Sđd, tr. 231. Theo số liệu của Bộ Quốc phòng Quân đội nhân dân Việt Nam trong Lịch sử quân sự, quân chủ lực Sài Gòn có 720.000 tên, phòng vệ dân sự: 1.150.000 tên, trong đó 400.000 tên có vũ trang (cộng: 1.125.000 quân có vũ trang, không kể cảnh sát có 115.000 tên).
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống Chính quyền Sài Gòn đề ra chương trình toàn diện thực thi chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Nixon bằng một loạt kế hoạch quân sự, chính trị, kinh tế phối hợp sau: - Kế hoạch “cộng đồng tự vệ và phát triển địa phương 1973- 1975” nhằm bình định lấn chiếm toàn bộ vùng giải phóng, đẩy lùi lực lượng 807 cách mạng ra khỏi biên giới. - Kế hoạch xây dựng quân đội 1974-1975 nhằm hiện đại hóa, tinh nhuệ hóa quân đội. - Kế hoạch 5 năm “kinh tế hậu chiến” 1975-1980 để dần dần “tự lực tự cường”, không lệ thuộc vào viện trợ Mỹ (như trên đã đề cập). Kế hoạch trước mắt của chính quyền Sài Gòn là xóa thế “da beo”, mở rộng vùng kiểm soát, trọng điểm nhằm vào đồng bằng sông Cửu Long và chung quanh Sài Gòn. “Kế hoạch Lý Thường Kiệt 1973-1975” với 5 biện pháp chiến lược lớn mà “lấn chiếm bình định” là biện pháp trọng tâm1, nhằm mục tiêu cuối cùng là “chiến tranh tàn lụi”, “Việt Cộng chỉ còn là một đảng đối lập vào năm 1974 hoặc 1975”. Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: “Ngưng chiến không ngưng bắn, không thi hành Hiệp định, trên hòa bình dưới chiến tranh, ngoài hòa hợp trong bình định”2. ___ 1. Kế hoạch Lý Thường Kiệt 1973-1975, còn gọi là “Kế hoạch cộngđồng tự vệ và phát triển địa phương 1973-1975” nhằm bình định, lấn chiếm toàn bộ vùng giải phóng, đẩy đối phương ra khỏi biên giới (cụ thể: cuối năm 1975 đạt 100% ấp loại A - loại ấp chính quyền Sài Gòn kiểm soát hoàn toàn, quân cách mạng lùi về 15 căn cứ ở vùng rừng núi biên giới phía tây, chỉ hoạt động ở quy mô trung đội, tiểu đội, lúc đó chỉ cần 15 trung đoàn quân Sài Gòn cũng đủ quét sạch, đạt mục tiêu: từng bước làm cho đối phương suy yếu, khả năng đánh lớn của đối phương bị hạn chế, chiến tranh dần dần tàn lụi; cuối cùng xóa bỏ được thực tế hai chính quyền, hai quân đội - hai vùng kiểm soát và ba lực lượng chính trị - miền Nam Việt Nam sẽ là một quốc gia riêng biệt đặt dưới quyền của chính phủ Việt Nam Cộng hòa). 2. Thường gọi là “4 không” của Nguyễn Văn Thiệu: không nhường đất, không trung lập, không liên hiệp, không nói chuyện với phía bên kia.
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) 2. Chủ trương của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Mặt trận dân tộc giải phóng và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam * Giai đoạn thứ nhất 808 Trước khi Hiệp định Paris được ký kết, ngày 24-1-1973 Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 200-CT/TW, đánh giá thắng lợi và chỉ rõ: “Nhân dân ta đã giành được thắng lợi to lớn kết thúc cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc lớn nhất, quyết liệt nhất trong thời đại chúng ta Cuộc cách mạng ở miền Nam có nhiều thuận lợi mới, nhưng còn gay go, phức tạp, có khả năng tiến triển trong điều kiện hòa bình được giữ vững, nhưng phải sẵn sàng đối phó với khả năng địch ngoan cố phá hoại hòa bình Không được buông lỏng lãnh đạo để xảy ra hiện tượng xả hơi, lơ là công việc chung, phô trương hình thức ”1. Trong những việc cần làm ngay, Chỉ thị nhấn mạnh: Trên mặt trận dư luận và tư tưởng, tuyên truyền công khai: “phải rất nhạy bén đối với các vấn đề về thi hành Hiệp định, về tự do dân chủ, hòa hợp dân tộc ở miền Nam; chú trọng thể hiện sắc sảo sách lược trong tình hình mới”. Công tác tư tưởng nội bộ: “phải nhấn mạnh thắng lợi tiếp tục giáo dục tinh thần kiên trì cách mạng, nâng cao cảnh giác đối với đế quốc Mỹ và tay sai, chúng vẫn có mưu đồ phá hoại cách mạng, thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta”2. Tiếp theo Chỉ thị ngày 24-1-1973 của Ban Bí thư, Bộ Chính trị có một dự thảo Nghị quyết gửi các cấp ủy, các quân khu: “ Kiên quyết giữ vững hòa bình, không chủ động gây xung đột quân sự, gây nội chiến, ra sức phát huy thắng lợi đã giành được, củng cố và tăng cường thực lực mọi mặt, tranh thủ thuận lợi mới, khả năng mới ___ 1. Văn kiện Đảng Toàn tập, t.34, tr. 4-6. 2. Sđd, tr. 9.
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống để đưa cách mạng tiến lên bằng cao trào chính trị, có lực lượng vũ trang hậu thuẫn ”1. Tiếp theo đó, ngày 9-2-1973, Bộ Chính trị có điện số 50 g ửi Trung ương Cục miền Nam, các Khu ủy, Tỉnh ủy truyền đạt “Một số ý kiến và nhận định của Bộ Chính trị về tình hình địch, ta trên chiến 809 trường miền Nam”, trong đó có nội dung như sau: “1. Trong quân ngụy, trừ bọn quan liêu quân phiệt có nhiều quyền lợi còn ngoan cố, hiếu chiến, đa số binh sĩ và sĩ quan cấp dưới của ngụy không muốn đánh nữa, có nguyện vọng hòa bình và hòa hợp dân tộc Đây là thời cơ tốt. Nếu ta biết làm đúng, kịp thời tăng cường thực lực vũ trang và tổ chức lực lượng quần chúng địa phương tiến công chính trị, binh vận thì có thể có cao trào cách mạng thực sự và có thể làm tê liệt và làm tan rã từng bộ phận ngụy quân. 2. Đối với bọn sĩ quan ngụy bên trên, bọn ác ôn ngoan cố, tâm lý chiến ta phải luôn cảnh giác, ta phải tăng cường và bảo vệ lực lượng vũ trang và chính trị cho chắc. Nhưng phải thấy chiều hướng hòa bình và hòa hợp dân tộc là rất phổ biến trong quân ngụy”2. Từ nhận định trên, Điện của Bộ Chính trị chỉ đạo: “Vũ khí đấu tranh hợp pháp là Hiệp định Phương châm là tranh thủ thời cơ làm nhanh, tấn công chính trị, binh vận kiên quyết, liên tục, nhưng cố gắng làm rất êm, không nên rầm rộ, bộc lộ phô trương ”3. Nội dung quan trọng nhất của các văn bản chỉ đạo của Trung ương là nhận định có “hai khả năng” phát triển của tình hình: khả năng đấu tranh trong hòa bình và khả năng tiếp tục chiến tranh trở lại, trong đó nhấn mạnh khả năng buộc đối phương thi hành Hiệp định Paris, khả năng này đang tăng lên trên cơ sở cho rằng ___ 1. Dự thảo Nghị quyết Bộ Chính trị. Lưu tại Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Quân ủy Trung ương cũng có chỉ thị nội dung tương tự như dự thảo Nghị quyết của Bộ Chính trị. 2, 3. Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 34, tr. 20, 22.
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) sức mạnh của xu thế hòa bình, hòa hợp dân tộc có thể dẫn đến “cao trào cách mạng thực sự và có thể làm tê liệt, tan rã từng bộ phận ngụy quân”. Tiếp theo điện văn của Bộ Chính trị ngày 9-2-1973, một phái đoàn cấp cao của Trung ương Đảng do Tố Hữu, Bí thư Trung ương 810 Đảng, dẫn đầu (phía quân sự có Đinh Đức Thiện, phía Chính phủ có Nguyễn Thọ Chân) vào miền Nam, lần lượt ghé qua nghiên cứu tình hình thực tế ở Trị - Thiên, Khu 5. Vào tới Trung ương Cục, đoàn phổ biến tinh thần điện văn Bộ Chính trị có kết hợp giới thiệu kinh nghiệm thực tế “phân tuyến và ổn định như Khu 5”. Để đảm bảo an toàn Trung ương Cục đề nghị đoàn không xuống đồng bằng sông Cửu Long1. Tiếp thu tinh thần của điện văn Bộ Chính trị có kết hợp “kinh nghiệm Khu 5”. Ban Binh vận Trung ương Cục tổ chức Hội nghị binh vận Miền ở Quân khu Trung Nam Bộ do Phó Bí thư thường trực Trung ương Cục Phan Văn Đáng và Phó Bí thư Quân ủy Miền Trần Độ chủ trì, có mặt cán bộ binh vận toàn Miền từ cấp huyện trở lên. Hội nghị nhận định quân Sài Gòn (ở cấp cơ sở) “xanh vỏ đỏ lòng”, có “xu thế hòa bình, hòa hợp”. Hội nghị đề ra chủ trương “phân tuyến”, “ổn định vùng” và “năm cấm chỉ” với ___ 1. Theo một số đồng chí có mặt tại Trung ương Cục, lúc bấy giờ, Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục, tiếp thu những ý kiến phổ biến của Tố Hữu với tinh thần “để nghiên cứu”. Trong phần “Sau Hiệp định Paris” trong loạt bài của Lê Đức Thọ (Ủy viên Bộ Chính trị) nói về tổng kết chiến tranh và biên soạn lịch sử quân sự có đoạn “ ngày ấy có một số đồng chí cán bộ cao cấp vào miền Nam đã giải thích tình hình, và nhấn quá nhiều vào “khả năng hòa hoãn” để xây dựng Cũng cần phải nói rõ Bộ Chính trị chưa có một nghị quyết nào nói là “ta phải hòa hoãn với địch”. Việc giải thích của một số đồng chí cán bộ nói trên bị anh em miền Nam phản ứng ”. (Đăng trên tạp chí Lịch sử quân sự số tháng 3-1988). Lê Đức Thọ cũng có cho biết “những đồng chí trên không phải là phái viên của Bộ Chính trị”.
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống những nội dung cụ thể: “Gấp rút ổn định tình hình bằng cách bỏ vùng tranh chấp, chủ động chuyển thành hai vùng, vùng ta và vùng địch để có phương châm đấu tranh phù hợp”. Nội dung “năm cấm chỉ” là: cấm tiến công vũ trang, cấm bao vây đồn bót, cấm đánh địch bung ra, cấm pháo kích, cấm làm xã ấp chiến đấu. 811 Tháng 3-1973 tại Bù Đốp, Quân ủy Miền tổ chức Hội nghị quân sự. Từ thực tế diễn biến của chiến trường sau Hiệp định Paris, đặc biệt trong tháng gần nhất, Hội nghị nhận định: “Nơi nào cấp ủy hữu khuynh, lực lượng vũ trang yếu, không kiên quyết đánh địch lấn chiếm thì nơi đó mất đất, mất dân ”. Cũng trên tinh thần đó Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục, ra Chỉ thị 2/CT73 chống hữu khuynh để mất đất, mất dân, chỉ đạo “tiến công, phản công bằng 1 kết hợp quân sự, chính trị, pháp lý”; và ra Chỉ thị 03 (27-3-1973) chỉ rõ: “Tuyệt đối ta không đơn giản cho rằng địch muốn làm gì thì làm. Mặt quan trọng có tính quyết định là nỗ lực và tác động chủ quan của phía cách mạng”, phải kiên trì và hết sức khẩn trương đẩy mạnh đấu tranh và xây dựng thực lực cách mạng. “Nếu địch hành động bằng quân sự thì phía cách mạng phải kiên quyết tiêu diệt chúng. Mặt khác cần phải dùng pháp lý Hiệp định để đấu tranh chính trị và binh vận”. Cán bộ địa phương dự Hội nghị binh vận (tháng 2-1973) đã trở về báo cáo lại nội dung hội nghị biểu hiện nhiều lệch lạc hữu khuynh. Do Trung ương Cục và Quân ủy Miền không dứt khoát kịp thời bác bỏ những ý kiến chỉ đạo hữu khuynh đó, nên nhiều địa phương, đơn vị đã lúng túng trong chỉ đạo, có bị ảnh hưởng tiêu cực với những mức độ khác nhau trên chiến trường. Ở Quân khu 1 (Đông Nam Bộ), nơi tình hình diễn biến không đều, lúc đầu Khu ủy cũng làm theo nhưng nhờ tác động trực tiếp ___ 1. Lưu trữ ở Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh.
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) của Hội nghị quân sự Quân ủy Miền và Chỉ thị 03 của Trung ương Cục nên Khu ủy đã triển khai chỉ đạo uốn nắn tương đối kịp thời. Ở Quân khu 4 Sài Gòn - Gia Định, Thành ủy ban đầu cũng chủ trương gỡ mìn, nhưng đến khi quân Sài Gòn càn mạnh vào Hố Bò 812 (huyện Củ Chi), mới cho gài mìn lại, đồng thời cũng kiên quyết bác bỏ “năm cấm chỉ”, Nguyễn Văn Linh, Phó Bí thư Trung ương Cục (đang trực tiếp phụ trách khu Sài Gòn - Gia Định), nghiêm khắc phê phán các quan điểm hữu khuynh, chỉ đạo các lực lượng kiên quyết đánh trả các hành động địch lấn chiếm. Ở Quân khu 2 (Trung Nam Bộ), nơi trước đây đã có phương án tích cực đánh trả địch lấn chiếm, nhiều thành viên của Khu ủy, Bộ Tư lệnh (trong đó có Huỳnh Châu Sổ, Bí thư Khu ủy) dù không nhất trí, nhưng do có “cán bộ cấp trên” xuống trực tiếp “quán triệt nội dung chỉ đạo của Hội nghị binh vận tháng 2- 1973”, Quân khu 2 (Trung Nam Bộ) cho rút chủ lực về Kiến Tường, sau đó điều lên vùng biên giới để xây dựng, củng cố. Khoảng gần hai tháng sau, lần lượt từ cấp khu đến cấp tỉnh ở Khu Trung Nam Bộ đều nhận ra tình hình “không ổn”, mất đất, mất dân nên phải “tự uốn nắn” và từ đó mới khôi phục lại dần tình thế như trước tháng 1-1973; trong đó nổi bật là trận kiên cường bám trụ giữ đất giành dân của quân dân Kiến Phong ở Kinh 3 - Mỹ Điền (xã Thanh Mỹ) kéo dài suốt 75 ngày đêm chống cuộc càn quy mô lớn của địch (từ 28-6 đến 31-8-1973). Chiến trường Tây Nam Bộ đang đối đầu với lực lượng quân Sài Gòn đông gấp năm, sáu lần, quân chủ lực có đến 75 tiểu đoàn đang có kế hoạch “làm cỏ U Minh”, quyết chiếm toàn bộ vùng giải phóng Chương Thiện. Khu ủy - Bộ Tư lệnh Khu 3 Tây Nam Bộ (Võ Văn Kiệt, Bí thư kiêm Chính ủy, Lê Đức Anh, Tư lệnh) chủ trương dứt khoát không đưa bộ đội chủ lực về phía sau để củng cố, huấn luyện (như chỉ thị Quân ủy Miền), vẫn bố trí các đơn vị chủ lực khu ở các địa bàn hiểm yếu, hợp đồng với các lực
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống lượng tại chỗ sẵn sàng phản công, tiến công, đánh trả không cho quân Sài Gòn bình định lấn chiếm, phá hoại Hiệp định. Chủ trương của Quân khu 3 (Tây Nam Bộ) - không đưa bộ đội chủ lực về phía sau để củng cố - không được Quân ủy Miền chấp thuận, đồng thời 813 Quân ủy Miền phê bình gay gắt “Quân khu làm trái chủ trương của Trung ương”. Vấn đề đặt ra cho Khu ủy là chấp hành chủ trương của Trung ương như thế nào?. Võ Văn Kiệt khẳng định: chấp hành Nghị quyết Trung ương một cách có trách nhiệm với “nguyên tắc cao nhất của Đảng là không được để thua”. Trên tinh thần đó Khu ủy khẩn trương triển khai cùng lúc ba việc: một là, đề nghị các cán bộ cấp trên gặp Khu ủy trước khi xuống các địa phương; hai là, nghiên cứu kỹ ý kiến chỉ đạo của trên để nếu triển khai thực hiện sẽ không gây ảnh hưởng tiêu cực; ba là, vừa điện khẩn cấp lên Trung ương Cục, vừa cử người trực tiếp lên Trung ương Cục, đề đạt ý kiến: “Nếu không chống địch lấn chiếm thì không còn đất để ở, mất dân, mất đất ”, xin cho miền Tây tiếp tục thực hiện chủ trương Khu đề ra. Phan Ngọc Sến (Mười Kỷ), Ủy viên Thường vụ, thay mặt Thường vụ Khu ủy miền Tây lên gặp Trung ương Cục, gặp Phạm Hùng đang trên đường công tác. Sau khi nghe tình hình và chủ trương của Khu ủy, Phạm Hùng cho ý kiến: Nếu nhất trí như tinh thần chỉ đạo của Thường trực Trung ương Cục thì thi hành, nếu không thì đợi Phạm Hùng về. Tại Trung ương Cục, ý kiến của Phó Bí thư thường trực lại rất dứt khoát, chẳng những không chấp nhận ý kiến đề đạt của miền Tây mà còn nhấn mạnh phải nghiêm chỉnh chấp hành chỉ đạo của trên, lấy đấu tranh chính trị làm chính. Đại diện Khu ủy miền Tây kiên trì ở lại chờ. Cho đến khi Bí thư Phạm Hùng về họp các Ủy viên Trung ương Cục trao đổi ý kiến thì cả Bí thư và Thường vụ Trung ương Cục chấp nhận ý kiến đề đạt của Khu
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) ủy miền Tây. Ngày 10-4-1973, Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục, điện báo cáo với Bộ Chính trị tình hình trên chiến trường Nam Bộ và trình bày mấy khả năng có thể xảy ra: 814 - Quân Sài Gòn vi phạm Hiệp định, lấn chiếm mạnh; do phạm hữu khuynh nên để mất đất, đã có nghiêm khắc kiểm điểm. - Trung ương Cục chủ trương kiên quyết chống hoạt động lấn chiếm của địch, củng cố vùng giải phóng, đẩy mạnh đấu tranh trong đô thị và vùng còn bị địch kiểm soát, khẩn trương xây dựng lực lượng, nhất là lực lượng vũ trang. Dự kiến tình hình có thể diễn biến theo ba khả năng: + Chặn đứng quân Sài Gòn lấn chiếm, lực lượng cách mạng phát triển mạnh về mọi mặt tiến lên hoàn toàn đánh bại quân Sài Gòn. + Do lực lượng cách mạng lúng túng đối phó, quân Sài Gòn tiếp tục lấn chiếm, tình hình giằng co. + Chiến tranh trở lại. * Giai đoạn thứ hai Để chuẩn bị cho cuộc họp vào tháng 5-1973, Bộ Chính trị triệu tập đại diện các chiến trường toàn miền Nam về báo cáo trước tình hình cụ thể của từng chiến trường. Đoàn đại biểu Nam Bộ và Nam Trung Bộ (B2) có Nguyễn Văn Linh (Phó Bí thư Trung ương Cục), Hoàng Văn Thái (Quân ủy Miền), Võ Văn Kiệt (Quân khu miền Tây Nam Bộ), Nguyễn Minh Đường (Quân khu miền Trung Nam Bộ), Trần Nam Trung (miền Đông Nam Bộ); Tướng Trần Văn Trà (đang là Trưởng đoàn của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị quân sự hai bên miền Nam Việt Nam ở Sài Gòn). Bộ Chính trị phân công từng ủy viên trực tiếp nghe báo cáo chi tiết của từng Quân khu. Hội nghị chính thức nghe hai báo cáo: - Khu 5 báo cáo tình hình bớt căng thẳng, dân trở về, hình
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống thành hai vùng “ta - địch” ổn định, diễn biến mới về tâm lý của 815
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) quân đội Sài Gòn tạo thuận lợi cho công tác binh vận. Tố Hữu, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng, báo cáo tình hình như đã truyền đạt ở Khu 5 và Nam Bộ1. - Quân khu Tây Nam Bộ báo cáo rõ việc trụ lại, phản công, tiến 816 công đánh quân Sài Gòn lấn chiếm, phá hoại Hiệp định, cơ bản giữ được thế trận như năm 1972, đang triển khai kế hoạch phá âm mưu của địch huy động 75 tiểu đoàn lấn chiếm toàn bộ vùng giải phóng Chương Thiện, “làm cỏ U Minh” Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đánh giá cao chủ trương và quyết tâm của Quân khu Tây Nam Bộ có ý nghĩa rất lớn, không để mất đất, mất dân, không rút lui Báo cáo từ thực tế của chiến trường Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ (B2), đặc biệt là tình hình Tây Nam Bộ đã cung cấp cơ sở để khẳng định: dù tình hình diễn biến theo khả năng nào, “con đường cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng”2. Hội nghị nhấn mạnh yêu cầu phối hợp giữa các chiến trường để giữ và phát triển thế và lực, nắm vững thời cơ và chiến lược cách mạng tiến công để đưa cách mạng miền Nam tiến lên. Kết luận của Hội nghị Bộ Chính trị tháng 5-1973 làm cơ sở để Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 21 ra Nghị quyết về “Nhiệm vụ của cách mạng miền Nam Việt Nam trong giai đoạn mới”. Căn cứ kết luận của Hội nghị Bộ Chính trị tháng 5-1973, từ giữa năm 1973 Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền chủ trương dứt khoát không phân tuyến chia vùng, giữ vững thế trận chiến tranh nhân dân truyền thống của Nam Bộ với thế ba vùng (vùng giải phóng, vùng tranh chấp và vùng tạm bị chiếm) đan cài xen kẽ lực lượng hai phía, chấm dứt chủ trương sai trái “cần xốc ___ 1. Theo nội dung Điện số 50 ngày 9-2-1973 ký tên Lành (Xem: Văn kiện Đảng toàn tập, t.34, tr. 17-23). 2. Văn kiện Đảng Toàn tập, t.34, tr. 232.
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống lại lực lượng”, rút các đơn vị chủ lực về phía sau để “gò cương vỗ béo”. Từ giữa năm 1973, lãnh đạo chỉ huy các cấp qua “thời kỳ thăm dò” không còn mơ hồ về “sức mạnh của xu thế” buộc đối phương thi hành Hiệp định, chủ động phản công và tiến công trừng trị 817 quân đội Sài Gòn hoạt động lấn chiếm, bình định, phá hoại Hiệp định Paris. Khu ủy miền Đông Nam Bộ ra Nghị quyết (tháng 5-1973) khắc phục hữu khuynh, đề ra nhiệm vụ: “Trên cơ sở tiếp tục bám, tấn, lấn và xây, chuyển mạnh phương thức hoạt động, ra sức giữ vững và mở rộng vùng tranh chấp; xóa đại bộ phận vùng trắng, tích cực mở rộng hoạt động vùng sâu, vùng yếu, kết chặt với phá kềm, giành dân, giành quyền làm chủ, xây dựng cả lực lượng bên ngoài và bên trong vững mạnh”. Khu ủy chú trọng mở hướng tiến vào đô thị, chọn thành phố Biên Hòa làm điểm chỉ đạo, cử 40 cán bộ làm công tác đô thị, do Nguyễn Văn Linh, Phó Bí thư Trung ương Cục, trực tiếp tập huấn. Bộ Chỉ huy Miền điều một số trung đoàn độc lập và các đơn vị vũ trang địa phương chặn đánh quân đội Sài Gòn ở các tuyến tiếp giáp và bao vây những vị trí địch đóng sâu trong vùng giải phóng như Chơn Thành, An Lộc Đồng thời một bộ phận Sư đoàn 7 và 9 tiến xuống củng cố thế trận đông tây quốc lộ 13 cùng lực lượng vũ trang địa phương đánh lui liên tiếp hai cuộc hành quân lớn của Chiến đoàn 7, Chiến đoàn 9 của địch ở Bàu Bàng, Đồng Rùm. Trên chiến trường Sài Gòn - Gia Định, chấp hành Chỉ thị 03/CT-73 của Thường vụ Thành ủy, ngày 15-4-1973, các lực lượng vũ trang đánh trả các cuộc càn quét của địch, khôi phục các khu vực bị lấn chiếm sau Hiệp định, giành dân, giữ đất, bảo vệ hậu cứ, tạo bàn đạp giành và phát huy quyền chủ động tạo thế tiến công địch. Địch mở nhiều đợt phản kích, bình định, tiến sâu ra các vùng Lái Thiêu, Thủ Đức, Dĩ An, Tân Uyên, Long Thành, Nhơn Trạch
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) nhưng đến tháng 6-1973 bị quân dân vùng ven và nông thôn ngoại thành Sài Gòn đánh trả, chống lấn chiếm, giành lại quyền chủ động, thế trận chiến trường xung quanh Sài Gòn được khôi phục như trước Hiệp định Paris. 818 Tại chiến trường miền Trung Nam Bộ là nơi quân đội Sài Gòn lấn chiếm nhiều nhất, Quân ủy - Bộ Tư lệnh Miền chỉ đạo ba thứ quân lực lượng vũ trang liên tiếp tổ chức phản công, tiến công giành lại các vị trí đã mất, từng bước khôi phục thế trận chiến trường như cuối năm 1972. Ở miền Tây Nam Bộ, sau khi phương án tác chiến nhận được sự chấp thuận và ủng hộ của Trung ương Cục, các trung đoàn của Quân khu và lực lượng vũ trang địa phương ngay từ đầu chẳng những đã giáng trả quyết liệt không cho quân đội Sài Gòn lấn chiếm đất đai mà còn phát huy thế chủ động tiến công, mở thêm nhiều vùng giải phóng ở Long Mỹ, Gò Quao, Vĩnh Thuận Tháng 5-1973 trở thành tháng cao điểm của quân dân miền Tây phản công chống lấn chiếm1. Chính quyền Sài Gòn tập trung lực lượng tối đa gồm 31 tiểu đoàn chủ lực quân Sài Gòn, 59 tiểu đoàn bảo an của 16 tiểu khu, mở cuộc “bình định Chương Thiện bước hai” từ 28-5-1973 để chiếm lại và đẩy các lực lượng vũ trang kháng chiến ra khỏi vùng giải phóng Chương Thiện. Nắm được âm mưu và quy luật hoạt động của địch, Quân khu Tây Nam Bộ chủ trương một mặt tập trung lực lượng đánh bại cuộc bình định Chương Thiện, buộc phần lớn quân chủ lực Sài Gòn bị sa lầy, cầm chân ở đây, một mặt chỉ đạo các tỉnh mở các đợt tiến công trên diện rộng phối hợp với trọng điểm căng kéo chúng, hợp đồng chặt chẽ ba mũi tiến công. Quân đội Sài Gòn đã thất bại, không đạt được mục tiêu bình định Chương Thiện. ___ 1. Tính đến đầu tháng 6-1973: Quân Sài Gòn chỉ đóng lại được 16 đồn, lực lượng cách mạng diệt nhiều trung đội, đại đội quân Sài Gòn, 1 tiểu đoàn bảo an, 1 tiểu đoàn biệt động quân, đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn bảo an khác, pháo kích diệt 8 máy bay trong sân bay Trà Nóc,
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống Kết hợp hoạt động trên chiến trường với hoạt động ngoại giao: tại Hội nghị hai bên ở La Celle Saint Cloud (bên Pháp) và tại Hội nghị quân sự hai bên ở Tân Sơn Nhất, đoàn đại biểu Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trên bàn hội nghị và trong các phiên họp báo liên tiếp tố cáo chính quyền Sài Gòn phá 819 hoại Hiệp định Paris và ra tuyên bố: Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Paris, nhưng giành cho mình quyền trừng trị các cuộc hành quân của quân đội Sài Gòn lấn chiếm vùng giải phóng và cũng giành quyền chủ động tiến công những nơi quân đội Sài Gòn xuất phát đánh phá lấn chiếm vùng giải phóng. 3. Phong trào đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Paris về Việt Nam Thắng lợi của Hiệp định Paris tạo một không khí phấn khởi rộng khắp Nam Bộ, trong vùng tự do và vùng do chính quyền Sài Gòn kiểm soát. Nhân dân các tầng lớp, các giới liên tiếp tổ chức cuộc mít tinh, biểu tình hoan nghênh Hiệp định Paris lập lại hòa bình. Ở Sài Gòn, bất chấp các biện pháp đề phòng ngăn chặn của chính quyền Sài Gòn, tại nhiều nơi nhân dân đổ ra đường hoan hô hòa bình được lập lại. Cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam xuất hiện trong các cuộc biểu tình ở các quận vùng ven Sài Gòn, và huyện nông thôn tỉnh Gia Định. Ở Cần Thơ, ngày 28-1-1973, 36.000 quần chúng xuống đường với khẩu hiệu chào mừng Hiệp định, chào mừng hòa bình. Đại hội liên hoan các chi phái Cao Đài bảo vệ hòa bình do phái Minh Chơn Đạo làm nòng cốt được tổ chức ở Tòa thánh Ngọc Sắc, xã Tân Lộc, huyện Thới Bình (Cà Mau) diễn ra từ ngày 20 đến 23-3-1973, có trên 10.000 chức sắc, tín đồ đồng bằng sông Cửu Long, có cả tín đồ ở Sài Gòn xuống dự Đại hội. Mười tám đoàn đại biểu giáo phái
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) Cao Đài và tôn giáo bạn cùng ký bản Tuyên ngôn gửi Chính phủ Sài Gòn và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, đòi phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Paris. Được Hiệp định Paris công nhận là một trong ba lực lượng 820 chính trị ở miền Nam, lực lượng thứ ba nổi lên với nhiều phe nhóm, mang nhiều xu hướng chính trị khác nhau. Số đông tán thành hòa bình, hòa hợp dân tộc, độc lập, dân chủ, trước thất bại của đế quốc Mỹ và tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu, muốn và có thể đi chung với Mặt trận dân tộc giải phóng - Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trên cơ sở một chương trình hành động nhất định. Nhân vật tiêu biểu có luật sư Trần Ngọc Liễng, luật sư Ngô Bá Thành (Phạm Thị Thanh Vân), ni sư Huỳnh Liên, dân biểu đối lập Hồ Ngọc Nhuận, Ngô Công Đức, Dương Văn Ba, nhiều trí thức như giáo sư Lý Chánh Trung, giáo sư Châu Tâm Luân, linh mục Nguyễn Ngọc Lan. Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu bị suy yếu còn do mâu thuẫn nội bộ. Một số tổ chức vốn chống cách mạng lần lượt ra mắt, khôi phục hoạt động cũng chĩa mũi nhọn chống Thiệu để lừa bịp quần chúng và mong được chủ Mỹ sử dụng1. Công tác binh vận được đẩy mạnh, kết hợp với mũi tiến công chính trị, vừa vận động hòa hợp, hòa giải dân tộc, vừa đề ra phong trào “Xóa gia đình đau khổ” từ mỗi xã, ấp, gọi con em đang đi lính trở về gia đình. Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu thẳng tay đàn áp các hoạt động đòi thi hành Hiệp định Paris, chống lại “4 không” của ___ 1. Liên minh dân chủ gồm các đảng phái chống cộng như Đại Việt, Công Nông, Dân Xã (nhóm Trình Quốc Khánh), Hòa Hảo của Lâm Thành Nguyên, Cao Đài của Trương Vĩnh Thiện (Bến Tre), của Hồ Đắc Trung (Tây Ninh), Phật giáo nhánh Việt Nam Quốc Tự (Thích Tâm Châu), Vĩnh Nghiêm đa số thân Mỹ trông ngóng được Mỹ dùng làm “con bài” thay thế Nguyễn Văn Thiệu.
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống Nguyễn Văn Thiệu, đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức; thậm chí chúng cho bắn pháo vào những cuộc mít tinh quần chúng hoan hô hòa bình, như đã bắn 38.000 quả pháo vào ấp Cái Nai, xã Long Trị, huyện Long Mỹ (Cần Thơ) càn quét lấn chiếm, đốt cháy hàng chục ngàn giạ lúa của nhân dân xã Lương Phi (huyện Tri Tôn, tỉnh Long - Châu - 821 Hà) Những cuộc biểu tình hoan hô hòa bình liền chuyển thành những cuộc đấu tranh trực diện chống đàn áp, chống bắn pháo, chống ném bom, càn quét, đòi bung về làng cũ làm ăn Trong vùng do chính quyền Sài Gòn kiểm soát, ngân sách chính quyền bị cắt giảm, tình hình khủng hoảng kinh tế ngày thêm trầm trọng đã thúc đẩy các phong trào quần chúng đấu tranh vì dân sinh, dân chủ, đặc biệt là các phong trào của công nhân lao động1. Cuộc đấu tranh chống thuế trị giá gia tăng (VAT) mà nòng cốt là công nhân lao động Sài Gòn liên kết hầu hết các giới, từ tiểu thương, tiểu chủ, các nghiệp đoàn, giới chủ xe, tổ chức Tổng đoàn công kỹ nghệ của các nhà doanh nghiệp. Có những cuộc đấu tranh tiêu biểu như của công nhân các hãng xăng dầu Caltex, Esso, Shell Cuộc đấu tranh của 4.000 công nhân ngành hỏa xa từ Dĩ An ra Huế làm tê liệt các cuộc hành quân lấy danh nghĩa phục hồi đường sắt để lấn chiếm vùng giải phóng. Tháng 10-1973 nổ ra nhiều cuộc đấu tranh đòi tăng lương của công nhân các hãng Vidopin, Caric, hãng thầu Pacific, dầu xăng Shell, công nhân sở Mỹ DAO. Nổi bật là cuộc đấu tranh tuyệt thực của 200 công nhân hãng dệt Sicovina, ủng hộ yêu sách của Liên đoàn Công nhân kỹ nghệ bông vải đòi tăng phụ cấp đắt đỏ và trợ cấp xã hội. ___ 1. Ngân sách chính quyền Sài Gòn năm 1973 là 463 tỷ đồng, thâm hụt 186 tỷ đồng, năm 1974 phải tăng lên 560 tỷ đồng và thâm hụt khoảng 200 tỷ đồng. Thu thuế năm 1972 là 42 tỷ đồng, đến năm 1973 tăng lên 126 tỷ đồng, dự tính năm 1974 phải thu 179 tỷ đồng. Đồng bạc mất giá, vật giá leo thang từ 30% đến 50%, công nhân bị sa thải, thất nghiệp hàng loạt.
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) Tình trạng sa sút tinh thần trong quân đội Sài Gòn, nhất là ở đơn vị cơ sở trong những vùng có chiến sự ngày càng lan rộng với phong trào trốn lính, lính trốn, chống bắt lính. Ngay trong đô thị cũng hình thành những “lõm” tự quản của quần chúng và thanh niên trốn lính, lính trốn, một số “lõm” có vũ trang đánh trả lại bọn 822 cảnh sát, quân cảnh đi lùng sục bắt lính trốn, bắt thanh niên ở quận 7, 8 Sài Gòn có khá nhiều “lõm” (vùng Hố Bần), chứa chấp hàng ngàn lính bỏ ngũ * Đấu tranh thi hành điều khoản trao trả tù binh, tù chính trị theo Hiệp định Paris1. Cuộc trao trả tù binh đầu tiên ở miền Nam diễn ra vào ngày 12-2-1973 tại sân bay Lộc Ninh (Bình Long), có mặt đại diện của Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, dưới sự giám sát, kiểm soát của sĩ quan trong Tổ chức quốc tế giám sát và kiểm soát đình chiến và sĩ quan trong Ban Liên hợp quân sự hai bên. Phía Chính phủ cách mạng lâm thời trao trả đợt đầu cho Hoa Kỳ 27 nhân viên quân sự và dân sự. Chính quyền Sài Gòn tìm mọi cách gian lận, tráo trở trong việc trao trả tù binh, tù chính trị. Theo số liệu nắm được, chính quyền Sài Gòn còn giam giữ hơn 200.000 tù chính trị, tập trung đông nhất ở nhà tù Côn Đảo, Phú Quốc, Tân Hiệp, Chí Hòa, Thủ Đức. Nguyễn Văn Thiệu chống chế, ở miền Nam Việt Nam không có ___ 1. Nghị định thư của Hiệp định Paris về việc trao trả nhân viên quân sự và nhân viên dân sự bị bắt và giam giữ có nêu rõ ở Điều 1: “ Tất cả nhân viên quân sự Việt Nam bị bắt thuộc các lực lượng vũ trang chính quy và không chính quy sẽ được trao trả cho hai bên miền Nam Việt Nam ”. Điều 7: “ Danh từ “thường dân bị giam giữ” có nghĩa là tất cả những người đã tham gia bất cứ dưới hình thức nào vào cuộc đấu tranh vũ trang và chính trị giữa đôi bên, và vì thế mà đã bị bên này hay bên kia bắt và giam giữ trong khi chiến tranh”.
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống vấn đề tù chính trị, chỉ có tù binh và tù thường phạm, vì chúng cho rằng: trao trả 200.000 tù chính trị chẳng khác nào “trao vào tay Việt cộng 200 trung đoàn quân tinh nhuệ”. Từ tháng 10-1972, chính quyền Sài Gòn ra lệnh các Trung tâm cải huấn lập “danh sách tù chính trị”, trong hồ sơ thông thường ghi 823 thêm hai mục “sức khỏe” và “hạnh kiểm”. Xem xét lập hồ sơ, qua sàng lọc trong số hơn 200.000 “tù chính trị”, chúng chốt lại danh sách 5.081 “nhân viên dân sự” trao trả cho phía Chính phủ cách mạng lâm thời. Đối với tù nhân ngoài danh sách này, chúng rêu rao mở cái gọi là “Tòa án mặt trận lưu động”, đưa ra Côn Đảo để xét xử, chuyển án chính trị thành án “thường phạm” dưới các tội danh: “phá rối trị an”, “gian nhân hiệp đảng”. Trên thực tế, chúng không hề mở ra phiên tòa nào mà chỉ có bản án lập sẵn để bắt tù nhân ký vào bằng cách tra trấn tù nhân cho đến ngất xỉu, rồi dựng dậy bôi mực, bắt tù nhân lăn tay, điểm chỉ vào các “bản án” đã soạn sẵn. Rồi “xé phòng”, dồn trại, ém những người tù chính trị bị gạt ra khỏi danh sách trao trả cho bên Chính phủ cách mạng lâm thời. Hàng trăm người bị thương, nhiều người chết đã bị chôn xác phi tang cũng bị chúng moi xác lên, lăn tay, chụp hình, hoàn tất hồ sơ giả mạo Chính sách đày đọa dã man ở nhà tù Côn Đảo đã làm hàng trăm người tù mắc chứng nan y, bại xụi. Để bưng bít dư luận, chính quyền Sài Gòn cho đưa số này về Biên Hòa rồi phân tán về các địa phương để lén lút phóng thích. Theo yêu cầu đấu tranh, “đường dây Côn Đảo” khẩn trương tổ chức lập danh sách 8.000 tù chính trị ở Côn Đảo và bí mật chuyển về đất liền vào cuối năm 1972. Bản danh sách này cùng với danh sách tù nhân chính trị trong các nhà tù khác lần lượt được tổng hợp để cung cấp cho hai đoàn đại biểu Chính phủ cách mạng lâm thời tại Hội nghị hai bên ở La Celle Saint Cloud và tại Hội nghị quân sự hai bên ở Tân Sơn Nhất để công bố công khai
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) và đấu tranh đòi bên chính quyền Sài Gòn phải nghiêm chỉnh thực hiện1. Sau nhiều lần trì hoãn, tráo trở, trao trả nhỏ giọt, đến ngày 7-3- 1974, chính quyền Sài Gòn mới trao trả được 5.081 nhân viên dân 824 sự tại sân bay Lộc Ninh, trong đó có 4.075 tù chính trị Côn Đảo. Bằng các thủ đoạn cài số thường phạm, quân phạm, tù chính trị cầu an đầu hàng phản bội vào số nhân viên dân sự trao trả, chúng đưa ra 211 tên “cò mồi”, xin tìm “tự do” “về với chế độ Việt Nam Cộng hòa” trong 3 đợt trao trả. Ở các nhà tù khác toàn miền Nam, phía chính quyền Sài Gòn đã buộc phải trao trả 26.492 cán bộ, chiến sĩ. Con số này chưa tới 13% số người trong diện chúng phải trao trả. Những người được thả khi xuống sân bay đã lột bỏ quần áo chính quyền Sài Gòn mới phát (để lừa bịp dư luận về chính sách đối với tù binh của chúng) ném xuống đường băng và giương cao các cờ Mặt trận đã giấu kỹ trong người (có lá cờ chỉ cỡ bằng bàn tay) để tỏ rõ khí thế người TRẦN VĂN TRÀ Thượng tướng (1974) cách mạng. Tư lệnh quân Giải phóng miền Nam Việt Nam Là “những người chiến (1963-1967 và 1973-1975) thắng trở về”, lực lượng tù binh và tù chính trị được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ân cần đón tiếp, chăm sóc; anh chị em còn sức khỏe đều được trở lại đội ngũ chiến đấu và công tác. Nhiều đảng bộ địa phương có thêm nhiều cán bộ, đảng viên ưu tú. ___ 1. Theo quy định của Điều 8 Hiệp định Paris.
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống Tại trại Davis, phái đoàn quân sự của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam phối hợp với phái đoàn quân sự của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong Hội nghị quân sự bốn bên và tiếp theo trong Hội nghị quân sự hai bên không chỉ đấu tranh với phái đoàn quân sự chính quyền Sài Gòn về việc thi 825 hành Hiệp định trên bàn hội nghị mà còn tranh thủ qua các cuộc họp báo hàng tuần với lợi thế giữa Sài Gòn1, góp phần tranh thủ dư luận, bằng chính sách hòa bình, hòa hợp dân tộc, tinh thần nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Paris của cách mạng và tố cáo chính quyền Sài Gòn vi phạm Hiệp định. Ngày 13-6-1973, qua quá trình đấu tranh của nhân dân và dư luận trong, ngoài nước lên án việc chính quyền Sài Gòn vi phạm Hiệp định, đặc biệt là dư luận Mỹ, chính quyền Mỹ, chính quyền Sài Gòn buộc phải ký thông báo chung với Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cam kết thi hành Hiệp định Paris. III. BƯỚC CHUYỂN QUYẾT ĐỊNH 1. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Nghị quyết 12 của Trung ương Cục Tháng 7-1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 21 về tình hình nhiệm vụ cách mạng miền Nam. Hội nghị nhìn lại, đánh giá phong trào cách mạng ở miền Nam từ sau khi ký Hiệp định Paris. Hội nghị cho rằng cách mạng miền Nam còn chỗ yếu như phong trào đấu tranh chính trị phát triển chưa mạnh, vùng giải phóng chưa được củng cố vững vàng, tỷ lệ giữa ba thứ quân chưa cân đối, cơ sở cách mạng ở vùng thành thị và vùng ___ 1. Qua các họp báo hằng tuần, phái đoàn đã quan hệ, tiếp xúc với đại diện của hơn 80 báo, hãng thông tấn, đài phát thanh, truyền hình của 21 nước, tổ chức cho một số nhà báo đi thăm vùng giải phóng theo yêu cầu.
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) nông thôn do địch kiểm soát còn yếu. Tuy nhiên, nhìn toàn cục, hội nghị khẳng định thế và lực cách mạng của miền Nam vào năm 1973 vững chắc hơn bất kỳ thời kỳ nào trước đây trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thời cơ chiến lược xuất hiện từ sau 826 Hiệp định Paris ngày càng chín muồi. Từ đó, hội nghị chủ trương: “Con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên Vấn đề giành dân, giành quyền làm chủ, phát triển thực lực của cách mạng là yêu cầu vừa bức thiết vừa cơ bản trong giai đoạn mới”1. Nghị quyết xác định những vấn đề cơ bản sau đây: - Phải kiên quyết tiến công, đồng thời phải biết giành thắng lợi từng bước. - Bạo lực cách mạng ở miền Nam dựa trên lực lượng chính trị và quân sự. - Kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị; kết hợp khởi nghĩa quần chúng với chiến tranh cách mạng; đánh địch bằng ba mũi giáp công: quân sự, chính trị và binh vận; đánh địch trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị. Như vậy, Nghị quyết 21 không chỉ đề ra những vấn đề cơ bản cho giai đoạn sau Hiệp định Paris mà cho toàn bộ cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng miền Nam. Sau khi phân tích chính sách cơ bản của Mỹ ở Việt Nam vẫn là thực hiện “học thuyết Nixon” với mục tiêu không thay đổi, bản chất cực kỳ phản động, ngoan cố của tập đoàn tư sản mại bản quan liêu, quân phiệt tay sai của Mỹ ở miền Nam; Nghị quyết chỉ ra chỗ yếu cơ bản về chính trị, chỗ mạnh tạm thời về quân sự của chúng, khả năng của lực lượng cách mạng phát huy thế mạnh, sức ___ 1. Văn kiện Đảng Toàn tập, t.34, tr. 232-233.
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống mạnh tổng hợp trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao, trong khi dự kiến tình hình có thể phát triển theo hai khả năng: 1. “Ta có thể từng bước buộc địch phải thi hành Hiệp định Paris về Việt Nam, hòa bình được lập lại thật sự”1. 2. “Hiệp định Paris về Việt Nam tiếp tục bị địch vi phạm và phá 827 hoại, xung đột quân sự có thể ngày càng tăng, cường độ và quy mô chiến tranh ngày càng lớn, ta lại phải tiến hành chiến tranh cách mạng gay go, quyết liệt để đánh bại địch, giành thắng lợi hoàn toàn”2. Sau khi phân tích chỗ mạnh chỗ yếu của cách mạng và đối phương, xác định nhiệm vụ cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới, Nghị quyết nhấn mạnh: “Chú trọng củng cố liên minh công nông, mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất, đồng thời tích cực tranh thủ lực lượng thứ ba”3, “Khẩu hiệu trung tâm của giai đoạn mới là hòa bình, độc lập, dân chủ, cải thiện dân sinh, hòa hợp dân tộc, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc”4 Về đấu tranh quân sự: “phải kiên quyết phản công và tiến công địch, giữ vững và phát huy thế chủ động về mọi mặt của ta, đánh bại các cuộc hành quân của địch lấn chiếm vùng giải phóng hoặc bình định các vùng đồng bằng, vùng giáp ranh”5. Nghị quyết nhấn mạnh công tác chính về quân sự là: “Trong bất cứ tình hình nào, phải nắm vững lực lượng vũ trang Nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang là giữ vững vùng rừng núi từ vĩ tuyến 17 đến miền Đông Nam Bộ, xây dựng thành một hệ thống căn cứ , vùng giải phóng ở đồng bằng, để tạo thế uy hiếp các thành thị, giúp cho phong trào đấu tranh chính trị phát triển sẵn sàng trong tư thế đánh địch, chủ động đập tan các cuộc hành quân lấn chiếm của chúng, kiên quyết thực hành phản công và tiến công, đánh những trận tiêu diệt thật đau, thật mạnh”6. ___ 1, 2. Văn kiện Đảng Toàn tập, t.34, tr. 231. 3, 5. Sđd, tr. 237. 4, 6. Sđd, tr. 235, 243-244.
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) Nghị quyết chỉ rõ, cuộc đấu tranh với chính quyền Sài Gòn trên mặt trận chính trị và mặt trận quân sự phải kết hợp chặt chẽ với cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao, đấu tranh một cách sắc bén, phối hợp với đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự ở chiến trường, từng bước buộc đối phương phải thi hành các điều khoản của Hiệp 828 định và tranh thủ dư luận trong nước cũng như ngoài nước ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Nghị quyết còn xác định nhiệm vụ miền Bắc đối với cách mạng miền Nam: “Phải tăng cường chi viện cách mạng miền Nam trên các mặt đấu tranh chính trị, kinh tế, quân sự và ngoại giao Phải có kế hoạch toàn diện của miền Bắc để chi viện cách mạng miền Nam trong mọi tình huống”1. Nghị quyết đặc biệt khẳng định: “Đoàn kết ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia là vấn đề hết sức quan trọng có ý nghĩa sống còn đối với ba dân tộc ở Đông Dương”2. Cụ thể hóa chủ trương của Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng giữa năm 1973 và Hội nghị Trung ương lần thứ 21, Trung ương Cục mở Hội nghị lần thứ 12 (từ ngày 6 đến ngày 18-9-1973)3, nghiên cứu quán triệt chủ trương, tinh thần chỉ đạo của trên, kiểm điểm sự lãnh đạo của Trung ương Cục từ Hội nghị lần thứ 11, nhất là sau khi có Hiệp định Paris, đề ra phương hướng, nhiệm vụ của chiến trường Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ trong giai đoạn mới, thông qua các đề án công tác các mặt: xây dựng lực lượng toàn diện, có kế hoạch tác chiến phù hợp cho lực lượng vũ trang và sẵn sàng cho tình huống có biến động lớn về chính trị, hoạt động tiến công phía trước (vùng xôi đậu và vùng tạm chiếm), xây dựng căn cứ địa cách mạng và vùng giải phóng toàn diện các mặt quân sự, chính trị, tư tưởng và tổ chức. ___ 1, 2. Văn kiện Đảng Toàn tập, t.34, tr. 242. 3. Nghị quyết của Hội nghị được thông qua vào tháng 12-1973. (Xem: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.34, tr. 485-487).
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống Trong phần kiểm điểm, Trung ương Cục đánh giá: “Ưu điểm: có chuẩn bị toàn diện về tinh thần, kế hoạch và tổ chức triển khai với yêu cầu thấy rõ thắng lợi đồng thời nhận thức bản chất ngoan cố của địch; nắm vững tư tưởng tiến công và bạo lực cách mạng, thể hiện trong bố trí chiến lược mới, trong xây dựng lực lượng 829 chính trị, vũ trang nhằm làm thay đổi có lợi về so sánh lực lượng Đã dự kiến chính quyền Sài Gòn sẽ lật lọng, phá hoại Hiệp định, từ đó “bước đầu có sự nhất trí về nhận định tình hình và chủ trương, vững vàng ứng phó với mọi âm mưu và thủ đoạn của chúng””. “Khuyết điểm: Tuy có dự kiến chính quyền Sài Gòn sẽ lật lọng, phá hoại, nhưng chưa đúng mức. Khi chúng lấn chiếm nhiều nơi, “Trung ương Cục thiếu hướng dẫn kịp thời cho các địa phương chủ động, kiên quyết và linh hoạt ứng phó với tình huống này”. “Trung ương Cục có đề ra phương châm đấu tranh mới một cách toàn diện, kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị, quân sự và pháp lý, trong đó đặt vai trò lực lượng vũ trang làm hậu thuẫn đắc lực là với tinh thần nắm vững lực lượng tích cực đấu tranh vi phạm Hiệp định và bình định lấn chiếm, trong khi ra sức phát huy vai trò của đấu tranh chính trị, chứ không đặt đấu tranh chính trị là chủ yếu rồi xem nhẹ vai trò của lực lượng vũ trang, nhưng đặt như vậy vẫn chưa thật phù hợp và nhất là có thiếu sót lúc đầu ở chỗ chưa hướng dẫn cụ thể tinh thần nói trên và cách vận dụng chủ động, linh hoạt phương châm đấu tranh sát hợp với điều kiện thực tế từng vùng, từng nơi, từng lúc cả bằng chính trị, quân sự, binh vận kết hợp với pháp lý”. “Mặt khác, tình hình diễn biến rất nhanh, địch ngoan cố phá hoại Hiệp định cao hơn mức độ đã dự kiến, trong lúc đó có nhiều địa phương lúng túng trong việc vận dụng phương châm phương thức mới, đã phát sinh tư tưởng hữu khuynh, không nắm vững tư tưởng tấn công và bạo lực cách mạng. Trung ương Cục lại không kịp thời nắm và chỉ đạo nên đã xảy ra tình hình chỉ đạo tự do, lượng sượng ở bên dưới”.
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) “Trừ miền Tây Nam Bộ, tình hình này ở hầu hết các khu và tỉnh đều có, nhưng với hình thức và mức độ khác nhau và nói chung cũng chỉ trong một thời gian ngắn”. “Khi có Điện số 775/TW (của Trung ương) và sau đó Chỉ thị số 03 (của Trung ương Cục), xác định rõ tính chất tình hình và đề ra chủ 830 trương thích hợp hơn, trong đó nhấn mạnh yêu cầu sử dụng lực lượng vũ trang một cách sắc bén hơn, và theo sau đó, Trung ương Cục đã có nhiều cuộc họp với một số khu ủy để uốn nắn thêm, tình hình đã bắt đầu chuyển biến đúng hướng”. * Phân tích tính chất của xã hội miền Nam, ngoài những vấn đề cơ bản, Trung ương Cục đánh giá sâu tình hình trong giới trí thức, nhân sĩ như sau: “Trí thức ở miền Nam có ba bộ phận: bộ phận thứ nhất chủ yếu là sinh viên, trí thức trẻ, gần với cách mạng, đứng về phía nhân dân lao động là lực lượng ngòi pháo trong đấu tranh của nhân dân thành thị; bộ phận thứ hai ít hơn là con em giai cấp tư sản mại bản, quan liêu, quân phiệt và địa chủ phong kiến, được Mỹ và tay sai sử dụng và ưu đãi, quyền lợi gắn liền với chúng, chống lại cách mạng quyết liệt; bộ phận thứ ba: “phần lớn xuất thân từ gia đình tiểu tư sản, tư sản và địa chủ, chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa và tư tưởng tư sản phương Tây nhất là Pháp, tuy có đầu óc dân tộc và dân chủ, nhưng tinh thần dân tộc không triệt để và có xu hướng dân chủ tư sản rõ rệt, thái độ chính trị mang tính chất cải lương và thỏa hiệp, và biến động tùy theo tình hình chuyển biến của cuộc đấu tranh giữa ta và địch, tùy theo sự tác động trực tiếp của cách mạng đối với họ nhiều hay ít, liên tục hay không. Do bản chất giai cấp của họ, mặt khác do địch tuyên truyền xuyên tạc, họ còn hiểu sai về chủ nghĩa cộng sản, về miền Bắc xã hội chủ nghĩa, sợ cộng sản và ít nhiều lo ngại trước sự lớn mạnh của các phong trào công nông. Thắng lợi vĩ đại của dân tộc đánh bại chiến tranh xâm lược của tên đế quốc đầu sỏ đã đem lại cho trí thức một sự chuyển biến mới về tư tưởng, nâng cao lòng tự hào dân tộc, giảm tâm lý tự ti, sợ Mỹ, phục Mỹ, tin Mỹ của
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống họ. Một số trong họ muốn miền Nam được độc lập về chính trị và tiến lên theo con đường dân chủ tư sản. Họ đang cố tập hợp lực lượng, lôi kéo các tầng lớp trung gian khác, các phe nhóm đối lập với bọn Nguyễn Văn Thiệu, các lực lượng hòa bình, dân tộc, dân chủ với nhiều màu sắc chính trị khác nhau để hình thành lực lượng thứ 831 ba, đồng thời gây ảnh hưởng trong các tầng lớp tiểu tư sản nhất là trong học sinh và sinh viên, với tham vọng chia quyền lãnh đạo với ta trong chính phủ liên hiệp sau này”. Về những công tác lớn, Trung ương Cục xác định một số nội dung quan trọng: - Về công tác quân sự: Nghị quyết khẳng định “Kiên quyết và chủ động đánh bại kế hoạch bình định lấn chiếm của địch, tiêu diệt và làm tan rã nhiều địch kết hợp với đấu tranh chính trị và đấu tranh pháp lý của quần chúng, giữ vững, hoàn chỉnh vùng giải phóng và căn cứ địa cách mạng, mở rộng diện tranh chấp, từng bước chuyển vùng tranh chấp thành giải phóng, chuyển vùng địch kiểm soát thành vùng tranh chấp để thu hẹp vùng địch, giành dân và giành quyền làm chủ của dân, tạo thế và điều kiện thuận lợi phát triển phong trào đấu tranh trong đô thị và vùng địch kiểm soát ở nông thôn”. “Đi đôi với việc chủ động và linh hoạt tiến công địch, ra sức xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân cân đối và vững mạnh cả ba vùng, hết sức chú trọng phát triển nhanh chóng lực lượng dân quân du kích, củng cố và từng bước phát triển lực lượng bộ đội địa phương, xây dựng chủ lực thành lực lượng tinh nhuệ chất lượng chiến đấu cao, sẵn sàng đánh bại địch trong mọi tình huống, trước mắt cũng như trong trường hợp xảy ra chiến tranh lớn, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn”. Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh: “ cán bộ và chiến sĩ phải nắm vững hơn nữa phương châm kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận và pháp lý”1. ___ 1. Văn kiện Đảng Toàn tập, t.34, tr. 485-489.
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) - Về công tác ở vùng tranh chấp và vùng địch tạm kiểm soát: Nhiệm vụ chính trị hàng đầu hiện nay là giành dân và giành quyền làm chủ của nhân dân ở khắp nông thôn và đô thị. “Vùng nông thôn phía trước gồm có vùng tranh chấp, vùng địch tạm kiểm 832 soát và một số thị trấn, thị tứ. Giành được vùng này là làm chủ kho nhân lực, vật lực, tài lực lớn Phải nhận rõ vị trí, tính chất và nội dung của công tác giành dân, giành quyền làm chủ của nhân dân ở nông thôn phía trước, đề ra yêu cầu cụ thể cho từng vùng để có phương châm, phương thức hoạt động thích hợp. Đặc biệt chú ý công tác binh vận là một mũi tiến công rất quan trọng làm tê liệt và làm tan rã hàng ngũ địch, thực hiện công nông binh liên hiệp và tạo điều kiện cho cao trào cách mạng của quần chúng”. - Về công tác đô thị: “Khi có thời cơ mở ra cao trào đấu tranh của quần chúng thì đòn tiến công chính trị ở thành thị là một trong những đòn có tính chất quyết định”1 “Phong trào thành thị cần phải trải qua nhiều bước quá độ để đẩy mạnh đấu tranh và xây dựng lực lượng để từng bước đẩy lùi địch và làm thay đổi lực lượng so sánh có lợi cho ta, phải từng bước đưa lên bạo lực chính trị và bạo lực vũ trang, nhất thiết phải tiến tới cao trào bạo lực chính trị và vũ trang ở thành thị phối hợp với bạo lực quân sự, chính rị ở nông thôn mới có thể tạo ra những điều kiện tiến lên đánh đổ chế độ quân phiệt, phát xít ở ngay trung tâm đầu não và sào huyệt cuối cùng của chúng”2. Cùng với Nghị quyết 21 Trung ương Đảng, Nghị quyết 12 Trung ương Cục đã củng cố thêm cho cán bộ, chiến sĩ, đồng bào Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ tư tưởng tiến công và con đường bạo lực để giải phóng miền Nam, nhận thức cụ thể, sâu sắc thêm tình hình nhiệm vụ, khắc phục tình trạng lúng túng không đều, tạo ___ 1, 2. Văn kiện Đảng Toàn tập, t.34, tr. 512-513.
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống bước chuyển mới tích cực trên chiến trường. Trong Nghị quyết 12, việc đưa vào các khái niệm “vùng tranh chấp”, “vùng giáp ranh” (kèm theo việc xác định rõ nhiệm vụ trên các vùng này) xen kẽ giữa “hai vùng” (theo pháp lý trong các văn bản) là phù hợp, vừa tránh được việc “phân tuyến”, “chia vùng”, vừa phát huy được ưu thế 833 chiến tranh nhân dân. Qua thực tế diễn biến trên chiến trường trong 6 tháng sau Hiệp định Paris, nhiều cán bộ trong lực lượng vũ trang cho rằng Nghị quyết 21 nêu ra việc tranh thủ thực hiện khả năng 1 (tức khả năng có thể thực hiện Hiệp định bằng con đường hòa bình) là không phù hợp, trước kẻ thù ngoan cố như hiện nay, khả năng 2 mới là hiện thực (tức phải tiến hành chiến tranh trở lại để giải quyết vấn đề miền Nam), cần tập trung chuẩn bị cho khả năng 2 là thiết thực hơn1. Do xác định rõ chính quyền Sài Gòn không thi hành Hiệp định, đã có sự nhất quán trong chỉ đạo theo hướng kiên quyết phản công, tiến công, đánh trả quân Sài Gòn lấn chiếm bình định; diễn biến trên các chiến trường Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ đã đều hơn. Ở miền Đông Nam Bộ, trước tháng 10-1973 không có trận đánh lớn nhưng thế phản công, tiến công phát triển tương đối đều trên vòng cung bắc Sài Gòn sát biên giới, giải phóng Khiêm Hanh (29-9-1973), phá bình định ở Quéo Ba - Trà Cao (Tây Ninh). Trên vùng ven, nông thôn ngoại thành bắc, tây bắc Sài Gòn (Củ Chi, Gò Vấp, Hóc Môn, Bình Chánh), phong trào du kích đang từng bước phục hồi, Tiểu đoàn Quyết thắng cùng các lực lượng tại chỗ thực hiện nhiều trận đánh tốt, giữ được nhiều mảng địa bàn quan trọng. Tuy nhiên nhìn chung ở đây lực lượng quân Sài Gòn tập trung đông, chúng còn tiếp tục lấn chiếm được. Ở miền Đông, ___ 1. Hội nghị quân chính toàn B2 cuối tháng 9-1973, do Bộ Tư lệnh Miền tổ chức nhằm quán triệt Nghị quyết 21 và Nghị quyết 12.
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) trên cơ sở các căn cứ lớn đang phát triển, Khu ủy thực hiện chỉ thị của Trung ương Cục về việc thành lập căn cứ Tân Phú (gồm các huyện Tân Uyên, Phú Giáo, Độc Lập), xây dựng thế căn cứ, hành lang từ Dương Minh Châu thông đến các tỉnh Đông Nam 834 Bộ, xây dựng toàn diện vùng giải phóng, tạo địa bàn cho các cơ quan cấp trên và lực lượng chủ lực tiến công quân Sài Gòn trong mọi tình huống. Ở miền Trung Nam Bộ, trong các tháng 9, 10, quân dân trong khu đã diệt, bức hàng, bức rút 79 đồn bót (quân Sài Gòn chỉ tái chiếm được 21 đồn), thực hiện nhiều trận đánh càn tốt, khôi phục các vùng giải phóng Kiến Văn (Kiến Phong), giải phóng xã Tân Phú và phần lớn các xã vùng 20 tháng 7, khôi phục hình thái bắc nam lộ 4 Mỹ Tho cơ bản như trước ngày 28-1-1973. Miền Tây Nam Bộ cho đến trước cuối năm 1973 đã thực hiện được chủ trương của Khu ủy là kềm chân, đánh thắng 75 tiểu đoàn quân Sài Gòn ở vùng trọng điểm Chương Thiện, đồng thời kết hợp chặt chẽ ba mũi tiến công trên diện rộng, căng kéo chúng, giữ vững và phát triển vùng giải phóng, giữ thế xen kẽ vùng tranh chấp. Kế hoạch quân Sài Gòn tập trung lực lượng tối đa để bình định miền Tây bị phá sản. Chúng buộc phải bỏ hẳn ý định “lấn chiếm Chương Thiện” và “làm cỏ U Minh”. Nhân dân trở về làng cũ được bộ đội giúp đỡ, vừa xây dựng xã ấp chiến đấu vừa ổn định cuộc sống. Vùng giải phóng miền Tây phát triển toàn diện: vụ mùa năm 1973 tăng 10.181 ha so với năm 1972, khôi phục 15.000 ha rẫy, 29.000 ha vườn; 40 huyện có trạm dân y, 229 xã, 601 ấp có trạm y tế, nhà bảo sanh; năm học 1973-1974, vùng giải phóng khai giảng 942 trường phổ thông với 58.261 học sinh, 4.608 học viên bình dân Thanh niên tòng quân 4.737 người, du kích xã, ấp tăng 4.572 đội viên. Đây là thời kỳ Miền chấp hành sự chỉ đạo từ Trung ương ráo riết chuẩn bị lực lượng các mặt với nhịp độ, khối lượng tăng hơn
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống hẳn so với thời kỳ trước Hiệp định, củng cố, bổ sung người, trang bị, huấn luyện nâng cao trình độ chiến đấu. Trung ương Đảng, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quân ủy Trung ương chỉ đạo các ngành, các địa phương ở miền Bắc huy động sức người, sức của thực hiện kế hoạch vận tải đột xuất 835 nhằm tăng cường lực lượng cho chiến trường. Để tiếp nhận sự chi viện từ miền Bắc qua đường Trường Sơn, từ sau chiến dịch Nguyễn Huệ (xuân hè 1972), công tác hậu cần Miền (B2) phát triển lên một bước mới đáp ứng yêu cầu của một cuộc chiến tranh quy mô của giai đoạn kết thúc chiến tranh trên chiến trường chính. Địa bàn rừng núi Sông Bé - Phước Long đã được xây dựng thành khu vực dự trữ chiến lược lớn của Nam Bộ và Nam Trung Bộ trong đó có đoạn cuối đường ống xăng dầu Bắc Nam đã kéo dài đến địa bàn huyện Lộc Ninh dài 1.400 km, mạng đường sá cho các loại xe cơ giới đã được hình thành. Tính từ sau Hiệp định cho đến tháng 9-1973, khối lượng vận tải từ miền Bắc vào miền Nam đạt 140.000 tấn1, tăng gấp 4 lần so với năm 1972, riêng xăng dầu đạt 6.000 tấn. Bên cạnh đó, có 10.000 tấn vũ khí dự trữ ở các kho dọc đường Trường Sơn. Trên 10 vạn cán bộ, chiến sĩ, gồm 2 sư đoàn bộ binh, 2 trung đoàn bộ binh, 1 sư đoàn pháo cao xạ, 2 1 trung đoàn thiết giáp, 1 trung đoàn công binh và nhiều đơn vị khác lần lượt vào tới chiến trường trong năm 1973. Trên toàn miền Nam lúc này, bộ đội chủ lực có 310.000 người, bộ đội địa phương 70.000, dân quân du kích 120.000 (như vậy tổng quân số ba thứ quân là 500.000, so với quân Sài Gòn là 710.000). ___ 1. Gồm 80.000 tấn hàng quân sự (27.000 tấn vũ khí, 6.000 tấn xăng dầu, 40.000 tấn gạo), 45.000 tấn hàng dành cho nhân dân các vùng giải phóng. 2. Đến lúc này các đơn vị chủ lực từ sư đoàn trở xuống đều được biên chế đủ chủng loại, quân số như: sư đoàn có 3 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn pháo binh, các tiểu đoàn, đại đội binh chủng, phục vụ khác; trung đoàn có 1.800 đến 2.000 quân; tiểu đoàn có 400 quân.
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) 2. Chế độ Sài Gòn trước tình hình đế quốc Mỹ đã rút quân và giảm viện trợ Thực tế từ nửa cuối năm 1973, dù đã bị buộc phải ký “thông cáo chung” cam kết nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định, âm mưu 836 và hành động của chính quyền Sài Gòn chưa có gì thay đổi, đó là phải thắng trong “giai đoạn cuối cùng của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh” đã được hoạch định từ việc ký Hiệp định Paris, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố chuẩn bị thực hiện “bình định đặc biệt” (từ 3-8-1973) nhằm nhanh chóng chiếm lại các lõm đã mất, lấn chiếm, đẩy chủ lực quân giải phóng ra xa, củng cố thế phòng ngự hỗ trợ cho kế hoạch bình định vòng trong, “tái thiết phát triển 1973”. Trong lúc đó, ở Mỹ khoảng từ tháng 5-1973, Quốc hội Mỹ có xu hướng gây sức ép ngày càng mạnh, cắt bớt những chi phí “bất hợp lý”, “vô vọng”, “vô nghĩa” vì những cam kết của Nixon viện trợ cho chế độ Sài Gòn. Sức ép đó đè nặng mọi kế hoạch của tập đoàn quan liêu, quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu. Ngày 10-5-1973, Hạ nghị viện Mỹ bỏ phiếu thông qua dự luật chấm dứt ném bom Campuchia. Nixon phủ quyết dự luật này, nhưng sau đó, ngày 29-6 Hạ nghị viện lại thông qua một sửa đổi đối với dự luật bổ sung, cấm các hoạt động chiến sự của quân đội Hoa Kỳ không chỉ ở Campuchia và Lào mà cả ở Bắc và Nam Việt Nam. Cuối cùng ngày 15-8-1973, Nixon buộc phải chấp nhận điều mà những người thân cận của tổng thống cho rằng sẽ dẫn đến “mất cả Đông Nam Á”: dự luật của Hạ nghị viện cấm các hoạt động quân sự của Mỹ phải được áp dụng với tất cả các nước Đông Nam Á. Đây là một trong những nghị quyết gây choáng váng cho tập đoàn quan liêu, quân phiệt Sài Gòn. Nhận thức rõ “sự cưu mang” của Mỹ có tầm quyết định sự sống còn đối với chế độ Sài Gòn, Kissinger, cố vấn ngoại giao của Tổng thống Nixon cho rằng: khi Mỹ ra đi “nếu may mắn, họ (tức chính quyền Sài Gòn) có thể trì
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống hoãn sự sụp đổ khoảng một năm rưỡi”1. Nhưng Kissinger vẫn cố trấn an Nguyễn Văn Thiệu bằng một bản báo cáo (được Nixon ký) trong đó lưu ý miền Nam có mọi cơ hội để “chứng tỏ sức mạnh vốn có của mình”, hứa rằng “Mỹ vẫn là người bạn trung thành” và sẽ viện trợ kinh tế cho miền Nam để khôi phục lại từ những mất 837 mát trong chiến tranh. Trung tướng Charles J. Timmes, nguyên là một cố vấn của quân đội Sài Gòn từ đầu thập niên 1960, thì động viên: “Quân đội Nam Việt Nam vẫn có khả năng ngăn chặn, đẩy lùi mọi cuộc tiến công cỡ sư đoàn của Bắc Việt năm 1973, và những cuộc tiến công cỡ sư đoàn và quân đoàn vào năm 1974”2. Kissinger cho rằng miền Nam cần được duy trì “khoảng thời gian hai năm sau Hiệp định Paris để Mỹ không bị trách cứ nếu Sài Gòn rơi vào tay cộng sản”3. Thấy rõ chiều hướng viện trợ Mỹ ngày càng bị cắt giảm, trước hết là về mặt quân sự, Nguyễn Văn Thiệu chủ trương tập trung vào ba vấn đề lớn4: “cuộc cách mạng hành chánh”, kinh tế, quân sự. “Cuộc cách mạng hành chánh”: mục tiêu là làm cho mọi công chức chính quyền nhận thức được cuộc chiến tranh chống cộng, đưa chính phủ thoát ra trạng thái bị động, biến các viên chức hành chánh thành những “nhà cách mạng”, “chính quyền phải gắn liền với dân”, những bộ trưởng phải sát địa phương, gần dân, hạn chế mọi xa xỉ, Biện pháp cụ thể: xây dựng “lực lượng nòng cốt” qua chương trình huấn luyện ở Vũng Tàu. Mỗi quan chức cao cấp của chính phủ phải dự trại huấn luyện ba tháng, “học Việt cộng”: mặc áo đen, đi chân không, uống nước lã bằng cốc thiếc, hội họp trên cỏ, ngủ giường không có nệm Nguyễn Văn Thiệu sa thải các thành phần không ăn cánh, bằng bầu cử gian lận đưa tay chân vào cơ quan lập pháp, bằng xây dựng đảng Dân chủ chiếm độc quyền đè bẹp và khống chế các đảng phái khác Những chủ trương đó ___ 1, 2, 3, 4. Theo Jerrold L.Schecter - Nguyễn Tiến Hưng: Từ tòa Bạch ốc đến Dinh Độc Lập, Sđd, tr. 289-294.
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) vừa mâu thuẫn với cung cách tham nhũng, xa xỉ của số chỉ huy, vừa đụng chạm quyền lợi của nhiều phe cánh, đã làm cho nội bộ chính quyền, quân đội Sài Gòn thêm căng thẳng, lục đục. Mùa thu năm 1973 trong bối cảnh “nước đã vỡ bờ, tình thế quân sự đã thối nát”1, Nguyễn Văn Thiệu cách chức đến 3 trong 4 chỉ huy 838 quân đoàn. Các đảng phái tôn giáo tránh né quan hệ thân với Nguyễn Văn Thiệu. Giới chức Hòa Hảo ở miền Tây có biểu hiện chống lại (lập lực lượng bán vũ trang riêng do Hòa Hảo chỉ đạo), phong trào “chống tham nhũng” của linh mục Trần Hữu Thanh (công giáo phái cực hữu) chĩa mũi nhọn vào Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm Việc quân sự hóa bộ máy hành chính được tiến hành từ cấp cao nhưng đặc biệt tập trung ở cấp cơ sở dưới danh nghĩa xây dựng “hạt nhân của chiến tranh diện địa”2. Tính đến năm 1974, Nguyễn Văn Thiệu đã đưa 24.000 sĩ quan, hạ sĩ quan tín cẩn xuống xã, ấp; 40% công chức ở trung ương xuống tỉnh, quận, kết hợp các tổ chức “Phượng hoàng” (núp dưới hình thức “Trung tâm điều hợp”), “phân chi khu”, “cuộc - cảnh - sát - xã”, “khối hành chánh”, nối tiếp chính sách đoàn ngũ hóa, tình báo hóa dân chúng trước đây, Nguyễn Văn Thiệu hy vọng “hoàn chỉnh” được bộ máy kềm kẹp ở cơ sở để bình định xã ấp như đã làm những năm 1969-1970. Tuy nhiên vào thời điểm này thủ đoạn, chính sách đó chỉ càng khoét sâu mâu thuẫn gay gắt vốn có giữa chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và quần chúng, giữa bọn chúng với nhau kể từ sau Hiệp định Paris. Về kinh tế: Nguyễn Văn Thiệu đòi hỏi các cấp chính quyền phải giải thích cho dân chúng biết việc quân Mỹ rút và giảm viện trợ để mong dân thông cảm với tình hình thiếu hụt nguyên liệu, ___ 1. Theo Jerrold L.Schecter - Nguyễn Tiến Hưng: Từ tòa Bạch ốc đến Dinh Độc Lập, Sđd, tr. 289-294. 2. Chiến tranh diện địa: cuộc chiến giành đất, giành dân ở khu vực được quy định (vùng chiến thuật).
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống do đó chính quyền phải tăng các sắc thuế “chủ yếu nhắm vào dân” và kêu gọi người dân ủng hộ những “đồ án kiến thiết” của Nguyễn Văn Thiệu nhằm vào nông nghiệp (tập trung vào lúa gạo, mía đường, trái cây, trà, cà phê, ). Ngày 20-11-1973, theo lệnh của Nguyễn Văn Thiệu, thủ tướng Trần Thiện Khiêm xuống Cần Thơ 839 giao nhiệm vụ cho vùng 4 “năm 1974 là năm chiến tranh lúa gạo” với kế hoạch mang tên “Trần Khánh Dư” kết hợp lấn chiếm Chương Thiện, phong tỏa U Minh. Điều này có nghĩa là việc lấn chiếm, bình định mạnh đồng bằng sông Cửu Long sau Hiệp định Paris không chỉ là vấn đề chính trị, quân sự mà trước hết là vấn đề lúa gạo - khâu quan trọng hàng đầu có quan hệ đến sự tồn vong của chế độ Sài Gòn. Thành công hay thất bại của kế hoạch này là điều có ý nghĩa rất hệ trọng đối với chế độ Sài Gòn. Tiếp theo chương trình “Cải cách điền địa” của những năm trước (1970-1971), chính quyền Sài Gòn đề ra chương trình cho nông dân được vay vốn, được cấp giống, máy cày về nông thôn tạo vẻ ổn định và phồn vinh “hậu phương” khi Mỹ đã cắt giảm viện trợ. Nhưng điều trở ngại nhất cho các chuyên gia kinh tế của Nguyễn Văn Thiệu là “thế da beo” xen kẽ ở miền Nam: chính quyền Sài Gòn không có vùng rộng lớn để phát triển kinh tế, sản phẩm làm ra cũng không lưu thông được. Nguyễn Tiến Hưng, cố vấn kinh tế của Thiệu, cho rằng thế mạnh của miền Nam là đất nông nghiệp với nhiều tài nguyên phong phú, nhân lực dồi dào nhưng cuộc rút quân của Mỹ đã làm tan rã nông thôn; cuộc ngừng bắn quá mỏng manh không cho phép phát triển kinh tế một cách bình thường, ở đô thị tỷ lệ thất nghiệp tăng rất cao mở đầu một thời kỳ khủng hoảng kinh tế - xã hội sâu sắc của chế độ Sài Gòn. Để khai thác ngoại viện, Mỹ và Thiệu cho nối lại quan hệ với Pháp sau 7 năm cắt đứt, đề nghị Pháp cho vay với lãi suất thấp, đào tạo kỹ thuật viên để “củng cố nền công nghiệp” (lúc bấy giờ chủ yếu là đường, xi măng, giấy, thủy tinh ); tăng cường quan hệ với Nhật để được Nhật viện trợ (nhưng Nhật nài ép chính quyền Sài Gòn mua những nhà máy thủy điện, tiền viện trợ gắn
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) với việc mua hàng hóa Nhật). Cho nên cuối cùng mối hy vọng lớn nhất của chính quyền Sài Gòn vẫn là Mỹ1. Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng dầu lửa năm 1973 diễn ra trên quy mô toàn cầu, một “lý thuyết đầu tư” mới được chính quyền Sài Gòn đề ra: “người Mỹ phải quay trở lại Việt Nam vì vấn đề dầu lửa”. 840 Thiệu nói: “Hãy để cho người Mỹ vào, cứ tạo thuận lợi cho họ, miễn thuế, sang nhượng đất cho họ, cứ để họ vào thử xem”2. * Một khó khăn nghiêm trọng của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu lúc bấy giờ là giải quyết mối quan hệ giữa quân sự và kinh tế (trong điều kiện Mỹ cắt giảm viện trợ quân sự), giữa việc cần duy trì 1,1 triệu quân với điều kiện kinh tế không cho phép. Theo ý kiến của các cố vấn kinh tế, Nguyễn Văn Thiệu buộc phải “lặng lẽ”, “từ từ” rút một bộ phận không quan trọng trong lực lượng địa phương và dân vệ để thành lập những đội sản xuất (từ tháng 10-1973)3. Nhưng điều khó khăn nhất của quân Sài Gòn lúc này không chỉ là số lượng mà là chất lượng: đội quân đã quen với “vai trò giữ nhà, quét giữ phía sau” và được chi viện tối đa về kỹ thuật ___ 1, 2, 3. Trước kia, hàng nhập khẩu (chủ yếu do viện trợ Mỹ) hơn 800 triệu đôla hằng năm đã cứu nguy nền kinh tế Sài Gòn, thêm vào đó hàng loạt hàng tiêu dùng từ các trạm bán hàng cho quân đội (PX) khắp các tỉnh biến những căn cứ Mỹ, căn cứ quân sự Sài Gòn thành thị trường chợ đen hưng thịnh. Năm 1973 viện trợ Mỹ bị cắt giảm còn một nửa, ngân khố chính quyền suy sụp trầm trọng, thuế nhập khẩu là nguồn thu nhập chủ yếu không còn cách nào để khôi phục lại những thiếu hụt công quỹ (Jerrold L.Schecter - Nguyễn Tiến Hưng: Từ tòa Bạch ốc đến Dinh Độc Lập, Sđd, tr.65- 98). Cuối năm 1973, những công ty Mỹ và nước ngoài đặt giá nhượng khu vực ngoài khơi, cho đến tháng 10-1974 Việt Nam - Pecten, một chi nhánh thuộc công ty dầu khí tuyên bố rằng, một giếng dầu sau khi được thăm dò đã cung cấp một lượng dầu là 1.514 thùng mỗi ngày. Nguyễn Văn Thiệu cho biết, 6 tháng sau, đã có 100.000 quân địa phương về nhà “tay cày tay súng”. Nguyễn Văn Thiệu còn ra chỉ tiêu phấn đấu năm 1974: 900 xã tự túc 100%; xây dựng 250 trại dinh điền, hồi cư 600.000 dân; phá hủy 30 - 40% cơ sở hậu cần, tiếp tế của đối phương.
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống trong thời kỳ quân Mỹ làm nhiệm vụ “tìm diệt” ở phía trước: một lính tác chiến phải có 5 lính phục vụ. Bộ Tổng Tham mưu Sài Gòn về chức năng và khả năng đều không thể so với Bộ Tư lệnh MACV với 6.681 sĩ quan binh sĩ Mỹ (thời điểm 1972) vừa là trung tâm kế hoạch hậu cần, hoạt động tình báo, vừa là đầu não chỉ huy và liên kết các hoạt 841 động quân sự, được điện toán hóa Tuy nhiên, trước những khó khăn như vậy, Nguyễn Văn Thiệu vẫn cho là tình thế chưa đến nỗi bức bách. Ngày 30-8-1973, tại cuộc họp “Hội đồng chỉ đạo tối cao” tại Dinh Độc Lập, Nguyễn Văn Thiệu dự đoán về phía đối phương như sau: đối phương sẽ mở một “cuộc tấn công toàn diện” chứ không phải “cuộc tấn công bình thường” đánh phá khắp nơi trên một quy mô nhỏ, không đủ lớn để lôi kéo sự trả đũa của Mỹ Nhưng “họ chờ đợi cho đến khi có cuộc bầu cử ở Mỹ, năm 1976 mới bắt đầu mở cuộc tấn công quy mô. Một cuộc tấn công lớn trong năm bầu cử ở Mỹ là điều chắc chắn”. Dù đang rất khó khăn về nhiều mặt, nhất là về ngân sách do viện trợ quân sự từ Mỹ bị cắt giảm (từ 1,614 tỷ đôla tài khóa năm 1973 xuống 1,185 tỷ đôla tài khóa năm 1974), ngân sách 1973-1974 hao hụt 266 tỷ (tiền Sài Gòn), lạm phát 200 tỷ, kinh tế đình đốn, thất nghiệp tăng (1.320.000 người) , năm 1973 chế độ Sài Gòn vẫn còn đứng được, vẫn còn lấn lướt ở nhiều nơi, còn bắt được lính, tăng được quân1. ___ 1. Nay có nhiều tài liệu không thống nhất về số quân Sài Gòn cuối năm 1973: - Theo sách: Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới Sđd, tr.259: Cuối năm 1973, chính quyền Sài Gòn bắt được 220.000 lính, thu lại 120.000 lính trốn, đưa tổng số quân Sài Gòn lên 710.000, xấp xỉ cuối năm 1972 (717.000), gồm 340.000 quân chủ lực, 370.000 quân địa phương (154.000 bảo an, 101.000 dân vệ, 115.000 cảnh sát). - Theo tài liệu Ban Tổng kết chiến tranh B2 (Bộ Quốc phòng): số quân Sài Gòn giảm dần trong 3 năm, trong đó quân số ở B2 so với năm 1972: 603.000/1.086.860; năm 1973: 583.000/1.042.745; năm 1974: 562.000/976.211.
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) Nhìn toàn cục đến tháng 10-1973, bề ngoài, vị thế quân sự của chính quyền Sài Gòn có tạm thời được cải thiện hơn so với cuối năm 1972, trước khi ký Hiệp định Paris. Theo số liệu tổng kết của chính quyền Sài Gòn (số VV1714) đến tháng 10-1973, trên toàn miền 842 Nam: quân Sài Gòn lấn chiếm thêm 900 ấp, đóng thêm 525 đồn, riêng ấp A quân sự tăng nhiều: từ 4.271 ấp/1972 lên 5.508 ấp/cuối 1973, riêng Nam Bộ 2.923 ấp lên 3.470 ấp. Đánh giá kết quả hoạt động trên từng chiến trường sau hơn 9 tháng thi hành Hiệp định Paris trong thư gửi Bí thư Trung ương Cục Phạm Hùng tháng 10-1973, Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng Lê Duẩn đã vạch rõ: “Thành bại của một cuộc cách mạng nói cho cùng là do lực lượng so sánh quyết định. Trong chiến tranh kẻ nào mạnh thì thắng, kẻ nào yếu thì thua. Song nói mạnh, yếu là nói theo quan điểm cách mạng, quan điểm phát triển, là căn cứ vào sự đánh giá tổng hợp cả quân sự và chính trị, cả thế, lực và thời cơ, cả điều kiện khách quan và nghệ thuật lãnh đạo; là xem xét các yếu tố ấy trong quá trình vận động trong không gian và thời gian nhất định ”. Để chứng minh điều này, sau khi phân tích về kết quả hoạt động trên từng chiến trường cụ thể (tình hình đầu năm 1973), Lê Duẩn chỉ rõ: Theo báo cáo của anh Sáu Dân (Võ Văn Kiệt - BT), ở Khu 9, tỷ lệ ta địch là 1/8; nhưng do nắm chắc chỗ mạnh của ta, chỗ yếu của địch, ta biết chủ động tiến công thì vẫn giành được thắng lợi. Ngược lại, ở Trị - Thiên, tỷ lệ ta địch là 1/2, nhưng do đánh giá quá cao chỗ mạnh của địch, không thấy chỗ mạnh của ta nên các đồng chí địa phương thiên về phòng ngự, co thủ, làm ta bị động thất thế, để địch lấn tới, thực hiện “bình định”, phân tuyến, phân vùng1. ___ 1. Xem: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.35, tr. 180-181.
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống IV. TIẾN TỚI GIẢI PHÓNG MIỀN NAM 1. Mở thế, tạo lực mới. Chuẩn bị thời cơ giải phóng miền Nam Trước cuối năm 1973, cả hai bên đều triển khai kế hoạch mùa khô 1973-1974, đồng thời chuẩn bị phương hướng cho cả năm 1974. Tình 843 hình nổi lên mấy đặc điểm lớn: * Phía chính quyền Sài Gòn, tuy chịu sức ép nặng nề ngày càng tăng do Mỹ cắt giảm viện trợ nhưng vẫn tự đánh giá còn nhiều điểm mạnh trên chiến trường, đồng thời còn hy vọng vào phe phái Nixon trong cuộc chống đỡ, mặc cả đòi Quốc hội Mỹ phải tiếp tục viện trợ cho Nam Việt Nam1; do đó, vẫn giữ nguyên các 2 mục tiêu quân sự, chính trị đã đề ra từ trước, có điều chỉnh một mức nội dung kế hoạch năm 1974. Cụ thể, chính quyền Sài Gòn điều chỉnh từ “cộng đồng phát triển 1973” sang “an ninh phát triển 1974” với xu hướng đặt mạnh hơn việc đối phó với cuộc tiến công có hạn chế của đối phương. Nhất quán chính sách “không có hòa bình, không có tổng tuyển cử”, Thiệu ra lệnh: “phải tấn công ngay tại vùng cộng sản kiểm soát”, “phải đánh trước” ; tiếp tục xây dựng xã, ấp thành “hạt ___ 1. Vào lúc này, chủ yếu do cuộc chiến tranh Việt Nam, nước Mỹ đang lâm vào một thời kỳ kinh tế tài chính suy thoái nặng nề, chính trị không ổn định, uy tín trên thế giới đang xuống thấp. Chính quyền Nixon khó có khả năng thuyết phục được Quốc hội Mỹ thay đổi chiều hướng giảm dính líu vào chiến tranh Việt Nam. 2. Ba mục tiêu cụ thể: 1/ Chiếm toàn bộ vùng giải phóng, xóa 60 lõm căn cứ, tiêu diệt, khu trục chủ lực quân Giải phóng ra khỏi miền Đông Nam Bộ, triệt hạ 13 mật khu và xóa 103 xã giải phóng ở miền Tây Nam Bộ. 2/ Hiện đại hóa quân đội Sài Gòn theo kế hoạch dài hạn 1973-1979 trên cơ sở hoàn chỉnh 2 lực lượng chiến lược: “lực lượng dã chiến” và “lực lượng lãnh thổ”. 3/ Kế hoạch hậu chiến 8 năm (1973-1980) (Nguyễn Tiến Hưng gọi là kế hoạch 5 năm 1975-1980) nhằm làm cho Việt Nam Cộng hòa có “một nền kinh tế tự lực tự cường”, một chế độ chính trị dứt khoát đứng về phía “thế giới tự do”.
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) nhân của chiến tranh diện địa”, tiếp tục đẩy mạnh quân sự hóa chính quyền cấp cơ sở: thiết lập tổ chức quân sự mới là phân chi khu ở xã nhằm thống nhất chỉ huy quân sự đến cấp xã ấp1. Để thống nhất nội bộ, Nguyễn Văn Thiệu tiếp tục cuộc thanh lọc, sa thải công 844 nhân viên trong chính quyền, sĩ quan trong quân đội. Về biện pháp bình định lấn chiếm, chính quyền Sài Gòn tập trung lực lượng lớn hơn, nhằm vào những nơi lực lượng giải phóng sơ hở, lấn chiếm ào ạt, chiếm đến đâu củng cố toàn diện đến đó, kể cả quân sự, chính trị, kinh tế. * Về phía lực lượng giải phóng, căn cứ tình hình thực tế chiến trường, Bộ Tư lệnh Miền ra lệnh cho các lực lượng vũ trang trừng trị quân Sài Gòn vi phạm Hiệp định “bất kỳ ở đâu, bằng các hình thức và lực lượng thích đáng“. Kế hoạch quân sự mùa khô 1973-1974 và phương hướng tổng thể năm 1974 không chỉ xác định quyền đánh trả quân Sài Gòn vi phạm Hiệp định mà còn thể hiện tư tưởng kiên quyết phản công, tiến công, tập trung nỗ lực thắng đối phương theo tình huống “khả năng 2”. Phương hướng chỉ đạo chung là: đẩy mạnh đánh quân Sài Gòn bình định lấn chiếm, đặc biệt tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, phá hậu phương trực tiếp của đối phương, tiêu diệt quân Sài Gòn ở vùng rừng núi, mở rộng hành lang tiếp nhận chi viện từ miền Bắc vào và hành lang xuống các chiến trường, tạo bàn đạp từng bước tiến công và mở rộng hoàn chỉnh vùng giải phóng Đông Nam Bộ, phá lỏng kềm, đưa lực lượng về vùng quanh đô thị, nhất là vùng quanh Sài Gòn, đánh phá cơ sở vật chất, hậu cần, giao thông, hỗ trợ cho khu Trung và Tây Nam Bộ chống phá bình định. Để thực hiện phương hướng trên, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang là phải phát triển tiến công ra phía trước (chủ yếu là vùng tranh chấp), kết hợp chặt ___ 1. Năm 1974, chính quyền Sài Gòn tiếp tục đưa thêm 17.200 công chức, sĩ quan tăng cường cho bộ máy chính quyền xã ấp.
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống chẽ phản công và tiến công; ra sức xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân; tích cực chuẩn bị mọi mặt để thắng đối phương theo khả năng 2. Đặt mạnh yêu cầu khẩn trương mở rộng, thông hành lang bắc - nam, ngay trong tháng 11-1973, Bộ Tư lệnh Miền chỉ đạo mở chiến 845 dịch Bù Bông - Kiến Đức (5 – 15-11-1973). Yếu khu Bù Bông là một căn cứ quân Sài Gòn án ngữ hành lang chiến lược 559 đông Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh. Theo mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Miền, hai Trung đoàn 429 (đặc công) và 421 phối hợp một bộ phận bộ binh, pháo binh, xe tăng của chủ lực Miền, dưới sự chỉ huy của 1 Bộ Chỉ huy chiến dịch tiêu diệt yếu khu Bù Bông, đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 22 đến ứng cứu; sau đó, phát triển thế tiến công tiêu diệt tiếp yếu khu Kiến Đức, giải phóng một vùng rộng lớn từ ngã ba Đắc Soong (Quảng Đức) nối đến Bù Gia Mập, Bù Đốp, Lộc Ninh, nối tuyến chiến lược 559 với tuyến chiến dịch của các đoàn hậu cần Miền, góp phần tạo thế, tạo lực chiến trường Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ. Tiếp sau chiến dịch Bù Bông - Kiến Đức, Trung đoàn 10 đặc công Rừng Sác giáng một đòn nặng vào dự trữ chiến tranh của chính quyền Sài Gòn: tiến công kho Shell Nhà Bè (3-12-1973), thiêu hủy hơn 2.500.000 lít xăng. Nguyễn Văn Thiệu buộc phải ban bố lệnh tiết giảm nhiên liệu. Quân khu Tây Nam Bộ triển khai nhiệm vụ mùa khô 1973- 1974 tuy có khó khăn do lực lượng vũ trang phải tác chiến liên tục trong hai năm 1972, 1973, các trung đoàn chủ lực (1, 20) Khu vẫn nỗ lực cùng các lực lượng tại chỗ đánh trả mọi cố gắng phản ___ 1. Do Hoàng Cầm làm Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy. Đảng ủy chiến dịch: Bí thư Hoàng Cầm; Phó Bí thư Nguyễn Văn Tòng. Xem thêm chi tiết chiến dịch Bù Bông - Kiến Đức trong: Chặng đường mười nghìn ngày, hồi ký của Thượng tướng Hoàng Cầm, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 352-367.
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) kích của quân Sài Gòn, mở rộng vùng giải phóng 4 tỉnh phía tây sông Hậu, đạt hiệu suất cao hơn bất kỳ quý nào của năm 1973: gỡ 324 căn cứ, đồn bót, giải phóng 156 ấp. Có những mảng giải phóng liên hoàn 5 đến 10 ấp, rộng trên 1.000 km2, 110.000 dân, thông hành lang căn cứ U Minh Thượng - U Minh Hạ và từ U Minh đi các 846 vùng trọng điểm. Quân Sài Gòn ở khu Tây Nam Bộ bị căng kéo, không thực hiện được kế hoạch vơ vét lúa gạo, lùi về thế giằng co trên chiến trường này. Quân khu Trung Nam Bộ cũng gặp khó khăn về quân số, trang bị như Quân khu Tây Nam Bộ, nhưng lực lượng vũ trang với nòng cốt là 2 trung đoàn chủ lực (1 và 320) vẫn duy trì thế tiến công, giữ được thành quả cuối năm 1973, tiêu diệt bức rút 16 đồn bót, giải phóng thêm 16 ấp với 8.000 dân. Tuy nhiên do không đánh giá đúng đối phương nên sau đó (từ 12-2-1974) Quân khu để mất vùng 4 Kiến Tường, cầu nối giữa vùng biên giới và vùng 1 Khu Trung Nam Bộ, tình thế trở nên khó khăn. * Hoạt động đợt 2 mùa khô 1973-1974 diễn ra từ tháng 3 đến tháng 6-1974. Cuối tháng 3-1974, Quân khu miền Đông và tỉnh Bà Rịa - Long Khánh phối hợp thực hiện chiến dịch tổng hợp đường 2 (Bà Rịa - Long Khánh) nhằm mở rộng vùng giải phóng, khôi phục trạng thái làm chủ như trước ngày có Hiệp định Paris ở vùng trọng điểm Bà Rịa, trong 5 ngày (từ ngày 26-3 đến ngày 1-4-1974) đã thu hồi vùng giải phóng từ Kim Long đến sở Bà Cùi. Tháng 5-1974, Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền chỉ đạo mở chiến dịch đường 7 (Bến Cát) và hoạt động phối hợp trên trục lộ 14. Trong hai tháng (5, 6-1974), các Sư đoàn 7, 9 cùng các lực lượng vũ trang địa phương loại khỏi vòng chiến một bộ phận quan 1 trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của quân Sài Gòn giải ___ 1. Loại 15/40 tiểu đoàn chủ lực cơ động và biệt động quân Sài Gòn, 4/18 chi đoàn thiết giáp, 84/325 tăng, thiết giáp.
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống phóng Kiến Điền, Rạch Bắp nối liền với vùng giải phóng Long Nguyên, Thanh An, Thanh Tuyền, giải phóng đường 14 từ Chơn Thành đến Đồng Xoài (không kể 2 căn cứ chi khu này), kềm chân phần lớn lực lượng Quân đoàn 3 Sài Gòn vào việc phòng thủ tuyến Tây Ninh - Lai Khê, Bến Cát, lộ 16 Tân Uyên, tạo điều kiện 847 thuận lợi cho chiến dịch mùa khô 1974-1975 và phong trào chiến tranh nhân dân vùng ven bắc Sài Gòn. Tại đây, Trung đoàn 16 phối hợp Tiểu đoàn Quyết thắng và du kích Củ Chi đánh lui các cuộc hành quân lấn chiếm của Sư đoàn 25 quân Sài Gòn giữ vững vùng giải phóng An Nhơn Tây, góp phần từng bước khôi phục thế vùng “Tam giác sắt”. Trong khi chiến dịch đường 2 Bà Rịa triển khai, Bộ Tư lệnh Miền điều Sư đoàn 5 xuống đồng bằng hỗ trợ Quân khu 8. Sư đoàn xuống vùng biên giới Kiến Tường góp phần căng kéo quân Sài Gòn ở Đông, và Tây Nam Bộ, giải phóng một khu vực rộng ở Mộc Hóa, thu hút quân Sài Gòn lên biên giới, tạo điều kiện cho Quân khu 8 giữ vững vùng giải phóng trong đó có các ngã tư quan trọng “vùng ruột” (các kinh: Năm Ngàn, Phụng Thớt, Hai Hạt, Trại Lòn, Bằng Lăng). Trong lúc đó Quân khu Tây Nam Bộ cũng tranh thủ thời cơ mở chiến dịch tổng hợp trong tháng 4- 1974 gỡ thêm 150 đồn bót; tỷ lệ gỡ đồn bót của du kích Quân khu Tây Nam Bộ bằng 3 mũi giáp công chiếm trên 70% số đồn bót gỡ được của toàn Miền (B2). Đến cuối mùa khô 1973-1974 ở đồng bằng sông Cửu Long, quân Sài Gòn không còn khả năng lấn chiếm mà phải thu hẹp phạm vi kiểm soát ở các tỉnh Chương Thiện, Cần Thơ, Cà Mau, Rạch Giá. Như vậy, hoạt động quân sự mùa khô 1973-1974 đã thể hiện sự phối hợp tương đối nhịp nhàng của các quân khu trên toàn chiến trường và của lực lượng ba thứ quân, phối hợp lực lượng chính trị, binh vận, tạo sự chuyển biến theo hướng phát huy quyền chủ động. Trong 6 tháng đầu năm 1974 số quân Sài Gòn bị loại ra
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) khỏi vòng chiến và số đồn bót bị gỡ nhiều hơn cả năm 19731. Quân dân Nam Bộ - Cực Nam Trung Bộ đã giải phóng 360.000 dân, 16 xã, 582 ấp, chuyển thế làm chủ 668 ấp (tính riêng ở B2). Hội nghị quân ủy Miền cuối tháng 5-1974 đánh giá: “lực lượng cách mạng đã tạo ra nhiều điều kiện và “khả năng mới”, thế của lực 848 lượng cách mạng hiện nay là đang giữ quyền chủ động. Địch đang ở vào thế suy yếu và bị động”. Từ đầu năm 1974 Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho quân Sài Gòn “phải hành động trước”; nhưng trên thực tế đến giữa năm 1974, quân Sài Gòn đã phải lấy hoạt động ngăn chặn là chính, giải tỏa có trọng điểm2, co dần từng bước về giữ thành phố, thị xã, thị trấn, dọc các trục giao thông thủy bộ và địa bàn chiến lược quan trọng. Tuy nhiên, lãnh đạo phía cách mạng cũng cho rằng việc khắc phục những khuyết nhược điểm của quân dân cách mạng chưa đúng mức, thắng lợi của cách mạng còn hạn chế trong khi chính quyền Sài Gòn đạt được một số thành công về củng cố hạ tầng cơ sở vùng chúng kiểm soát, tăng được hiệu lực quân địa phương như đưa được gần nửa lực lượng bảo an lên cơ động, đảm nhiệm việc giữ gìn một phần lãnh thổ và trong tương lai quân Sài Gòn còn khả năng phản kích quyết liệt. 2. Cao trào đấu tranh mới của đô thị và vùng tranh chấp Hơn một năm sau Hiệp định Paris, trong khi chiến trường đang diễn biến tích cực nghiêng về phía cách mạng, thì tình trạng khủng hoảng kinh tế Sài Gòn gia tăng, thái độ hiếu chiến chống phá Hiệp định của chính quyền Sài Gòn ngày càng quyết liệt. ___ 1. Loại gần 10.000 tên, gỡ 1.410 đồn bót. 2 Các cuộc hành quân ngăn chặn, giải tỏa trọng điểm chủ yếu trên chiến trường B2 của quân Sài Gòn vào thời gian này: Rạch Bắp - An Điền (Bình Dương); Tánh Linh, Hoài Đức (Bình Tuy); Tây Ninh - Long Khốt (Kiến Tường); U Minh (Chương Thiện),
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống Trong bối cảnh đó, Thành ủy Sài Gòn - Gia Định đã lãnh đạo, chỉ đạo, tập hợp và tổ chức lực lượng tạo một khí thế mới trong phong trào đấu tranh ở đô thị. Phong trào không chỉ sôi nổi ở Sài Gòn mà còn tác động mạnh mẽ đến phong trào các đô thị trên toàn miền Nam. Nhiều tổ chức chính trị, xã hội chống chính quyền Sài Gòn xuất hiện 849 trong thời gian này. Ngày 14-2-1974, Tổ chức nhân dân đòi thi hành Hiệp định Paris mà tiền thân của nó là Lực lượng quốc gia tiến bộ, do luật sư Trần Ngọc Liễng làm Chủ tịch ra mắt. Hàng loạt tổ chức khác của các giới cũng được thành lập: Ủy ban chống sa thải; Ủy ban chống đàn áp, bất công; Mặt trận nhân dân cứu đói; Ủy ban bảo vệ các bạn hàng chợ; Ủy ban bảo vệ quyền lợi sinh viên; Ủy ban bảo vệ tự do báo chí,. Lực lượng thứ ba, hình thành sau Hiệp định Paris đã có những chuyển biến mới thu hút thêm nhiều nhân sĩ trí thức, binh sĩ, dân biểu, nhà báo, tu sĩ, công thương gia, cựu tướng tá Sài Gòn có khuynh hướng chống Nguyễn Văn Thiệu, đòi hòa bình, độc lập, dân chủ theo xu hướng hòa hợp dân tộc, mà nòng cốt là các trí thức nhân sĩ yêu nước như: bà luật sư Ngô Bá Thành, luật sư Trần Ngọc Liễng, kỹ sư Dương Văn Đại, dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, giáo sư Châu Tâm Luân, giáo sư Lý Chánh Trung, thượng tọa Thích Pháp Lan, ni sư Huỳnh Liên, nhà báo Nam Đình, linh mục Phan Khắc Từ, linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, và những lực lượng chống chiến tranh, trong đó có những cá nhân, nhóm lưu vong Lực lượng thứ ba tiêu biểu cho xu hướng chính trị hoà hợp hòa giải dân tộc phát triển mạnh, đế quốc Mỹ và tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu càng thêm bị cô lập. Tháng 4-1974, các nghiệp đoàn ở thành phố Sài Gòn phát động một chiến dịch đấu tranh chống sa thải, nổi bật là những cuộc đấu tranh của 1.000 công nhân hãng MIC, của 1.500 công nhân các hãng bột mì Sakibomi, Viphumico, của 1.000 công nhân bốc vác Khánh Hội, cuộc đấu tranh của 3.000 công nhân Hàng không Việt Nam Ngày 30-4-1974, đại diện 200 nghiệp đoàn họp
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) Hội nghị chống sa thải, kêu gọi công nhân đấu tranh đòi chính quyền Sài Gòn phải ban hành quy định về lương tối thiểu cho công nhân lao động. Cùng với phong trào đấu tranh đòi dân sinh dân chủ của công nhân và lao động, phong trào đấu tranh của quần chúng các giới đô 850 thị đòi trao trả tù chính trị phối hợp với cuộc đấu tranh trong Ban quân sự hai bên của phái đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng diễn ra liên tục vào cuối năm 1974. Tháng 10, tháng 11 có hai cuộc biểu tình quy tụ hàng ngàn người mỗi cuộc, có đông đảo tăng ni, phật tử Gia Định Sài Gòn, đấu tranh đòi chính quyền Sài Gòn phải thả tù chính trị. Giới báo chí trở thành một mũi xung kích công khai chống chế độ độc tài Nguyễn Văn Thiệu. Ngày 20-9-1974 các chủ báo và ký giả họp mít tinh, và tuần hành trước tòa soạn báo Điện tín, một trong những tờ báo đối lập chế độ Sài Gòn, mở đầu cuộc đấu tranh chống sắc luật 007, sắc luật kềm kẹp báo chí của Nguyễn Văn Thiệu. Ở Huế, cũng đã diễn ra 2 cuộc biểu tình (ngày 8 và 15-9) của hàng chục vạn đồng bào chống Nguyễn Văn Thiệu khủng bố báo chí, đòi quyền tự do, dân chủ. Cũng trong thời gian này, Ủy ban Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Khu Sài Gòn - Gia Định gồm nhiều nhân sĩ, trí thức đã ra vùng giải phóng1, do giáo sư Nguyễn Văn Chì làm Chủ tịch, ra lời kêu gọi (25-9-1974) chống Nguyễn Văn Thiệu, đòi hòa bình, tự do, dân chủ. Đối phó với phong trào đấu tranh của nhân dân đô thị, ngày 22- 9-1974, chính quyền Sài Gòn vạch ra “Kế hoạch Sao chổi” nhằm quyết liệt thanh toán toàn bộ các lực lượng đối lập chống Nguyễn Văn Thiệu mà chúng gọi chung là “phản động cộng sản, thân cộng ”. ___ 1. Ủy ban Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam do luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch thành lập ngày 21-4-1968.
- Chương mười: Chủ động trước mọi tình huống Ngày 1-10-1974, báo chí lột trần “Kế hoạch Sao chổi” trước dư luận, dấy lên một làn sóng căm phẫn trong các giới đồng bào tại thành phố Sài Gòn và các đô thị miền Nam. Ngày 10-10-19741, được sự hỗ trợ của các lực lượng sinh viên, Ủy ban bảo vệ quyền lợi lao động và Mặt trận nhân dân cứu đói , 851 lực lượng báo chí tổ chức một cuộc xuống đường lấy tên là “Ngày ký giả đi ăn mày” để phản đối luật báo chí của Nguyễn Văn Thiệu, do các nhà báo Tô Nguyệt Đình, Nguyễn Văn Mại, Quốc Phượng dẫn đầu. Hàng trăm ký giả mang bị, gậy xuống đường, thu hút nhiều dân biểu đối lập và một “biển đồng bào” trên đoạn đường từ công trường Lam Sơn đến chợ Bến Thành với khẩu hiệu “Còn Thiệu, còn chiến tranh”. Đi đầu cuộc biểu tình là 400 nhà báo mang bị gậy, đội nón rách, tiếp theo là đoàn ni cô, đại biểu các tổ chức Mặt trận nhân dân cứu đói, Tổ chức nhân dân đòi thi hành Hiệp định Paris, Mặt trận nhân dân tranh thủ hòa bình, Phong trào Phụ nữ đòi quyền sống, Phong trào nhân dân chống tham nhũng, Trung tâm Văn Bút, các dân biểu đối lập Một “rừng cảnh sát” Sài Gòn dựng lên ở khu trung tâm thành phố nhưng cũng không làm gì được. Các hãng thông tin UPI (Mỹ), AFP (Pháp), Reuters (Anh) đều cho đây là cuộc biểu tình lớn nhất trong 9 năm cầm quyền của Nguyễn Văn Thiệu. Ngày 13-10, có 29 tờ báo đình bản. Tiếp sau đó là ba cuộc biểu tình lớn nữa vào các ngày 31- 10, 28-11 và ngày 22-12-1974, gọi là những “Ngày báo chí và công lý thọ nạn”. Riêng đêm 31-10, hơn 5.000 đồng bào Sài Gòn đốt đuốc biểu tình, giương ảnh Nguyễn Văn Thiệu bị gạch chéo, đòi “Thiệu từ chức ngay”, cuộc biểu tình nổ ra mãnh liệt đã làm tê liệt thành phố; trong cuộc đấu tranh quyết liệt này có hơn ___ 1. Ban tổ chức chọn ngày 10-10 là ngày song thập, Cách mạng Tân Hợi năm 1911 của Trung Hoa Quốc dân Đảng nhưng ngầm ý ghi nhớ ngày lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra mắt đồng bào Thủ đô Hà Nội (10-10-1954).



