Giáo trình Tiến trình lịch sử Việt Nam (Phần 2)

pdf 54 trang ngocly 50 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Tiến trình lịch sử Việt Nam (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_tien_trinh_lich_su_viet_nam_phan_2.pdf

Nội dung text: Giáo trình Tiến trình lịch sử Việt Nam (Phần 2)

  1. TÍN CHỈ 1: LỊCH SỬ VIỆT NAM CẬN – HIỆN ĐẠI Chương 3: VIỆT NAM TỪ 1858 ĐẾN 1945 3.1. Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX. Trước khi thực dân Pháp xâm lược, nước ta tuy đạt được một số thành tựu, nhưng nhìn chung đất nước vẫn ở trong tình trạng lạc hậu, kiệt quệ và mất ổn định. Đó là một bất lợi lớn cho vị thế của Việt Nam, tạo cơ hội để các nước tư bản phương Tây, trong đó có tư bản Pháp - vốn là kẻ đang lăm le và nuôi ý định bành trướng từ lâu khẩn trương hơn, quyết tâm hơn trong vấn đề xúc tiến xâm lược nước ta ở nửa sau thế kỷ XIX. Rạng sáng ngày 1.9.1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng và chỉ sau 2 ngày, Pháp chiếm được 2 đồn Điện Hải và An Hải cùng với bán đảo Sơn Trà, làm chủ cửa biển Đà Nẵng, chuẩn bị tiến sâu vào nội địa nhằm thực hiện kế hoạch chiến tranh chớp nhoáng, thôn tính hoàn toàn Việt Nam. Triều đình điều Nguyễn Tri Phương dẫn quân vào tiếp viện cho Đà Nẵng, lập phòng tuyến cùng nhân dân ngăn cản con đường tiến quân của giặc. Sau 5 tháng bị cầm chân tại Đà Nẵng, thực dân Pháp phải tính tới phương án rút lui, đánh dấu sự phá sản của âm mưu đánh nhanh thắng nhanh. Đầu tháng 2. 1859, thực dân Pháp rút đại bộ phận quân từ Đà Nẵng vào Nam Kỳ, chỉ để lại một lực lượng nhỏ cầm chân quân triều đình. Tháng 2.1859, Thành Gia Định rơi vào tay thực dân Pháp. Ngày 24. 2. 1861, Pháp tấn công Đại đồn Kỳ Hòa, sau đó mở rộng chiến sự ra toàn Gia Định, chiếm Định Tường (4. 1861), Biên Hòa (12. 1861), Vĩnh Long (3. 1862). Ngày 5. 6. 1862, Điều ước Nhâm Tuất được kí kết, gồm có 12 điều khoản với nội dung cơ bản là triều đình Huế đồng ý cho Pháp tự do truyền đạo trên toàn lãnh thổ Việt Nam, nhường 3 tỉnh miền Đông và mở 3 cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên cho người Pháp thông thương. Ngoài ra, triều đình còn phải đền bù chiến phí 288 vạn lạng bạc cho Pháp, giải tán các phong trào chống Pháp ở Nam Kỳ và bị thực dân Pháp khống chế về đối ngoại. Đây là một điều ước cướp nước trắng trợn của thực dân Pháp, về phía triều đình là văn bản chính thức ghi nhận sự thỏa hiệp đối với kẻ thù. Mặc cho triều đình chủ trương thỏa hiệp, ngay từ khi thực dân Pháp đặt chân vào cửa biển Đà Nẵng, nhân dân khắp nơi đã nhất tề nổi dậy, sát cánh cùng những vị quan có tinh thần chủ chiến, tự vũ trang chống lại kẻ xâm lược vốn có ưu thế hơn hẳn về vũ khí và phương tiện chiến tranh. Đó là những cuộc khởi nghĩa của Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Phan Tam, Phan Ngũ hoặc một số cuộc chiến đấu của quan quân triều đình phối hợp với dân binh như Nguyễn Tri Phương, Lê Đình Lý, Phạm Văn Nghị Nhìn
  2. chung, phong trào đấu tranh diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi, trong một số cuộc khởi nghĩa, nhân dân chẳng những chống Pháp mà còn chống lại cả những quyết định sai lầm của triều đình. Lực lượng lãnh đạo của các cuộc khởi nghĩa chính là những quan lại không chấp hành mệnh lệnh của triều đình, trí thức địa phương, văn thân sĩ phu phong kiến yêu nước. Từ những cuộc đấu tranh phân tán, lẻ tẻ trong thời gian đầu, phong trào càng về sau càng có sự tập trung, quy tụ thành các trung tâm khởi nghĩa độc lập dưới sự lãnh đạo của một số thủ lĩnh xuất sắc. Mặc dù diễn ra khá sôi nổi nhưng trước kẻ thù quá mạnh, các cuộc khởi nghĩa cuối cùng đều thất bại. Sau khi ổn định tình hình ở chính quốc và bước đầu thiết lập bộ máy cai trị ở Nam Kỳ, thực dân Pháp quyết tâm mở rộng chiến tranh xâm lược. Đầu tháng 11. 1873, thực dân Pháp cử Gacniê ra Bắc Kỳ. Ngày 20.11.1873, thực dân Pháp đánh chiếm thành Hà Nội lần thứ nhất. Quan quân triều đình chống cự yếu ớt và để mất thành vào tay Pháp. Nhân dân Hà Nội chiến đấu anh dũng, giành được thắng lợi ở Cầu Giấy (21.12.1873). Phong trào chống Pháp lan rộng ra toàn Bắc Kỳ, gây cho chúng không ít tổn thất. Giữa lúc đó, triều đình và quân Pháp muốn dùng thương lượng để giải quyết tình hình. Ngày 15.3.1874, điều ước Giáp Tuất được ký kết với 22 điều khoản, trong đó, triều đình thừa nhận chủ quyền của Pháp ở Nam Kỳ lục tỉnh, mở các cảng Quy Nhơn, Hải Phòng, mở cửa sông Nhị hà để Pháp được quyền tự do thương mại, kỹ nghệ; thực dân Pháp được đặt lãnh sự ở Hà Nội, Hải Phòng và Huế, mỗi nơi có 40 đến 100 quân. Đây là một thắng lợi lớn của Pháp, chẳng những chúng hoá giải được những khó khăn và thất bại trước mắt mà còn đạt được những cơ sở kinh tế, chính trị, quân sự quan trọng, các quyền lợi kinh tế chính trị được thừa nhận và nới rộng. Với điều ước này, Việt Nam trên thực tế đã trở thành đất Bảo hộ của Pháp. Điều ước 1874 đặt triều đình Huế lệ thuộc hoàn toàn vào thực dân Pháp về đối nội, đối ngoại. Vào những năm 70 của thế kỷ XIX, nước Pháp bước vào giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Nền kinh tế Pháp đứng trước những đòi hỏi gay gắt về thị trường, nguyên liệu và nhân công, chúng bắt đầu bước vào cuộc chạy đua giành giật thuộc địa với các nước tư bản Âu Mỹ. Từ năm 1880, các tập đoàn tư bản tài chính ráo riết chuẩn bị để hoàn thành xâm lược Việt Nam. Năm 1881, Chính phủ Pháp tăng viện binh cho Bắc Kỳ. Tháng 1.1882, Henri Riviere cùng 228 quân có mặt tại Hà Nội, chúng ngang nhiên đóng quân tại Đồn Thuỷ, buộc Hoàng Diệu phải giải tán quân lính và phá huỷ các đồn luỹ. Cuối tháng 3 đầu tháng 4. 1882, Riviere tập trung quân và vũ khí về Hà Nội, huy động thêm lực lượng từ Hải Phòng và Ninh Bình hỗ trợ. Quân số của Riviere lên tới 600 tên và 3 chiến hạm. Ngày 15.4.1882 thực dân Pháp đánh và chiếm được thành Hà Nội lần thứ hai. Tháng 3.1883, Pháp đánh Hòn Gai, khống chế mặt biển Bắc Kỳ, chiếm Quảng Yên và tấn công xuống Nam Định. Cuối tháng 3, Nam Định thất thủ. Đầu tháng 7.1883, thực dân Pháp tổ chức hội nghị quân sự, xác định 2 mục tiêu còn lại ở Việt Nam lúc này là Huế và Sơn Tây. Chúng quyết định đánh vào trung tâm kháng chiến của nhân dân ta ở phía Bắc và dụ hàng Lưu Vĩnh Phúc nhưng bị cự tuyệt.
  3. Quân ta chiến thắng trận Vọng (15.8.1883) khiến cho kế hoạch đánh Sơn Tây bị trì hoãn và phải bỏ chạy về Hà Nội. Ngày 17.7.1883 Tự Đức qua đời, triều đình Huế hỗn loạn trong tang lễ và tôn vương, các cuộc tranh giành kế vị diễn ra dẫn tới những mâu thuẫn nội bộ hết sức sâu sắc. Thực dân Pháp lợi dụng cơ hội này để tấn công. Ngày 16.8.1883 các hạm đội Bắc Kỳ và tàu chiến từ Sài Gòn tập trung ở Đà Nẵng. Sáng 18.8.1883, địch kéo từ Đà Nẵng ra tấn công Thuận An, nhiều quan trấn thủ tử nạn. Ngày 25.8.1883 vua Hiệp Hoà chấp nhận ký hoà ước Hac măng. Theo đó, thực dân Pháp đã: - Chia Việt Nam làm 3 kỳ: Bắc Kỳ là xứ Bảo hộ; Trung Kỳ là xứ tự trị thuộc triều đình; Nam Kỳ là xứ thuộc địa. - Cắt Bình Thuận nhập vào Nam Kỳ thuộc địa, Thanh - Nghệ Tĩnh thuộc Bắc Kỳ, từ Khánh Hoà đến Đèo Ngang thuộc Trung Kỳ - Xoá nợ của triều đình chưa trả hết. - Đặt Tòa Khâm sứ tại Huế bên cạnh triều đình - Có quyền đóng quân bất kỳ ở đâu, hưởng mọi quyền lợi Với điều ước này, Việt Nam chính thức trở thành thuộc địa của Pháp. Quyền lực của triều đình Huế về thực chất chỉ còn là danh nghĩa, chỉ hạn chế trong các tỉnh Trung Kỳ. Tất cả mọi quyền hành kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao đều phụ thuộc hoàn toàn vào thực dân Pháp. Sau điều ước Hác măng, thực dân Pháp tiếp tục đưa quân ra tấn công Bắc Kỳ. Nhân dân Bắc Kỳ tiếp tục chống Pháp, xiết chặt vòng vây Hà Nội. Phong trào phản đối Điều ước 1883 ngày một dâng cao. Mặc dù rất anh dũng và kiên quyết chống cự nhưng trước sức mạnh quá lớn của thực dân Pháp, các cuộc đấu tranh của quân ta bị bẻ gãy và tan rã dần. Ngày 6.6.1884, Điều ước Patơnôt kí kết dựa trên nội dung cơ bản của Điều ước Hac măng, có phần nới lỏng quyền lợi cho triều đình khi thực dân Pháp nhập Bình Thuận và vùng Thanh - Nghệ Tĩnh vào Trung Kỳ. Điều ước Patơnôt là bản khai tử tất cả mọi quyền hành của triều đình Huế trên vương quốc Việt Nam. Từ đây, triều đình Huế kết thúc vai trò là một vương triều độc lập, ngôi vua chỉ còn là hư vị và danh nghĩa. Trên thực tế triều đình bị biến thành bù nhìn và Việt Nam chính thức trở thành thuộc địa của thực dân Pháp. Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, triều đình Huế không đưa ra được một đường lối kháng chiến đúng đắn, nhất quán, không có quyết tâm đánh thắng. Vì vậy đã không phát động được một cuộc chiến tranh toàn dân đánh giặc. Triều đình Huế từ những quyết sách sai lầm đã đi đến thoả hiệp từng bước và cuối cùng là đầu hàng thực dân Pháp, quay lưng với cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhân dân, khước từ mọi đề nghị canh tân đất nước để kẻ thù lấn dần và biến Việt Nam thành thuộc địa của chúng. Triều đình Huế phải chịu trách nhiệm chính với tư cách là một nhà nước trong việc để mất nước ta vào tay thực dân Pháp nửa sau thế kỷ XIX.
  4. Sau khi Điều ước Patơnôt được kí kết, trong nội bộ triều đình Huế diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa phái chủ chiến và chủ hòa. Phái chủ chiến lập kế hoạch xây dựng các căn cứ kháng chiến, đề phòng trường hợp cần thiết phải rút khỏi kinh thành như Tân Sở, Dương Yên và bằng mọi cách đưa Hàm Nghi lên làm vua ở Huế. Cuối tháng 6. 1885, lực lượng quân Pháp được huy động về Huế, âm mưu loại bỏ phe chủ chiến ra khỏi triều đình. Nhận thấy tình hình ngày càng căng thẳng, Tôn Thất Thuyết gấp rút chuẩn bị khởi sự. Đêm 4.7.1885, Tôn Thất Thuyết hạ lệnh tấn công vào Tòa Khâm sứ và đồn Mang Cá. Cuộc giao chiến diễn ra rất ác liệt, đến rạng sáng 5. 7 quân Pháp tổ chức phản công kinh thành. Trước tình hình đó, Tôn Thất Thuyết quyết định rút lui và đưa vua Hàm Nghi ra khỏi kinh thành. Tôn Thất Thuyết phò tá Hàm Nghi đến Tân Sở – Quảng Trị với ý định lập thành căn cứ kháng chiến lâu dài nhưng do Tân Sở quá hẻo lánh và đơn độc nên Tôn Thất Thuyết phải chuyển xa giá quay ra hướng Nghệ Tĩnh. Tại Tân Sở, Tôn Thất Thuyết đã thay mặt Hàm Nghi hạ Chiếu Cần Vương lần thứ nhất (13.7.1885): lên án tội ác của thực dân Pháp đối với đất nước và nhân dân; nêu những lý do chính đáng khiến vua phải xuất bôn ra khỏi kinh thành; kêu gọi văn thân sĩ phu khắp nơi tổ chức kháng chiến cùng với nhân dân để giúp vua khôi phục lại chủ quyền. Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi đến căn cứ giáp ranh giữa 2 tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình. Ngày 10. 9. 1885, thay mặt Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết hạ Chiếu Cần Vương lần thứ hai: tiếp tục lên án thực dân Pháp; phản đối Bà Từ Dũ đã theo yêu cầu của Pháp nhân danh Tự Đức đưa Ưng Kỳ lên ngôi, lấy hiệu là Đồng Khánh; tiếp tục kêu gọi văn thân sĩ phu hưởng ứng giúp vua cứu nước. Phong trào Cần Vương diễn ra sôi nổi và ngày càng mở rộng quy mô, phạm vi ảnh hưởng trên toàn quốc. Tiêu biểu như khởi nghĩa Ba Đình (1886 - 1887), khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1886 - 1892), khởi nghĩa Hương Khê (1885 - 1896) đã thu hút đông đảo nhân dân tham gia, hưởng ứng. Trong những năm đầu, tính chất Cần Vương, giúp vua cứu nước thể hiện đậm nét, vua Hàm Nghi trực tiếp chỉ huy nhân dân kháng chiến ở Quảng Bình, Hà Tĩnh, ở những địa phương khác đều có đại diện của vua tổ chức và lãnh đạo kháng chiến. Các cuộc khởi nghĩa diễn ra trên một địa bàn rộng lớn và toàn diện: từ trung du, miền núi xuống đồng bằng ven biển, từ cực Bắc đến tận miền Nam Trung Kỳ. Đây cũng là giai đoạn diễn ra quá trình vận động ngoại viện do Tôn Thất Thuyết tiến hành nhằm kêu gọi sự ủng hộ của nhân dân, sĩ phu và quan lại nhà Thanh. Đêm 1.11.1888, Hàm Nghi bị bắt, phong trào Cần Vương chuyển sang giai đoạn mới. Do Hàm Nghi bị bắt nên tính chất Cần Vương từ sau 1888 rất mờ nhạt, phạm vi hoạt động của phong trào thu hẹp và chuyển các trung tâm kháng chiến lên vùng trung du miền núi, đặc biệt không còn các cuộc khởi nghĩa của nhân dân các tỉnh từ Nam Trung Kỳ trở vào do đã bị thực dân Pháp đàn áp dữ dội. Sự phối hợp chiến đấu giữa các địa phương trở nên rời rạc, chỉ tập trung về Thanh - Nghệ. Trên thực tế, Cần Vương chỉ là
  5. danh nghĩa, còn thực chất đây là sự tiếp tục của phong trào vũ trang chống Pháp của nhân dân ta đã bùng nổ từ giữa thế kỷ XIX. Phong trào Cần Vương chính là phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX. Diễn ra song song, đồng thời với phong trào Cần Vương nhưng nằm ngoài hệ thống của phong trào Cần Vương là các phong trào đấu tranh tự vệ chống Pháp của nhân dân ta từ đồng bằng lan dần lên trung du, miền núi. Tiêu biểu là khởi nghĩa Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước; khởi nghĩa Đốc Ngữ, sông Đà; khởi nghĩa Vương Quốc Chính; khởi nghĩa Kỳ Đồng, Mạc Đĩnh Phúc; khởi nghĩa Võ Trứ, Trần Cao Vân; và nhất là khởi nghĩa nông dân Yên Thế Đây là phong trào đấu tranh lớn nhất, bền bỉ nhất và tiêu biểu nhất cho sức chiến đấu dẻo dai và tinh thần bất khuất của người nông dân Việt Nam cuối thế kỷ XIX. Sự thất bại của phong trào Cần Vương và phong trào nông dân Yên Thế là sự thất bại của phong trào giải phóng dân tộc dưới ngọn cờ phong kiến ở Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. 3.2. Việt Nam đầu thế kỉ XX. Theo sắc lệnh ngày 17.10.1887, thực dân Pháp thành lập Liên bang Đông Dương gồm có Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và Campuchia, về sau sáp nhập thêm Lào. Sau khi đã hoàn thành công cuộc bình định và thiết lập căn bản bộ máy cai trị, thực dân Pháp bắt đầu thực hiện chương trình khai thác thuộc địa với quy mô lớn trên toàn bộ Đông Dương. Chương trình khai thác thuộc địa đã từng bước làm biến đổi thành phần và cơ cấu của nền kinh tế Việt Nam, một số ngành kinh tế mới đã ra đời như ngành tài chính ngân hàng, ngoại thương, ngành giao thông vận tải, ngành công nghiệp; các ngành kinh tế cổ truyền như nông nghiệp và thủ công nghiệp cũng chịu tác động và biến đổi. Trên cơ sở đó, các giai tầng xã hội mới và những quan hệ xã hội mới cũng xuất hiện và ngày càng mở rộng. Đó là sự ra đời của giai cấp công nhân, tầng lớp tư sản, tiểu tư sản. Đầu thế kỷ XX, qua Tân Thư, Tân Văn, những ảnh hưởng tiến bộ từ công cuộc Duy tân của Trung Quốc, Nhật Bản, những thành tựu của văn minh phương Tây dội vào Việt Nam ngày một mạnh mẽ. Thông qua đó, tư tưởng dân chủ tư sản được truyền bá vào nước ta. Trong điều kiện các lực lượng xã hội mới ở Việt Nam còn non yếu về mọi mặt, tầng lớp sĩ phu yêu nước tiến bộ đã vươn lên tiếp nhận tư tưởng dân chủ tư sản và lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX đi theo khuynh hướng này. Phan Bội Châu (1867 - 1940) sinh trưởng ở Nghệ An – nơi có phong trào Cần Vương phát triển mạnh nên ông sớm có lòng yêu nước nhiệt thành và căm thù giặc sâu sắc. Năm 1900, ông đỗ đầu khoa thi hương xứ Nghệ nhưng không tiếp tục con đường học vấn để ra làm quan mà tìm gặp các bạn cùng chí hướng vạch ra kế hoạch để mong khôi phục độc lập cho nước nhà theo chủ trương bạo động. Trong quá trình hoạt động, tư tưởng bạo động của Phan Bội Châu dần dần được bổ sung và phát triển. Năm 1904, Phan Bội Châu, Nguyễn Hàm và một số người khác đã thành lập ra Duy Tân hội do Cường Để làm hội chủ với 3 mục tiêu thu phục nhân tâm, góp nhiều tiền
  6. của, mua sắm vũ khí cho nhiều để chuẩn bị cho cuộc nổi dậy toàn dân. Tổ chức Duy tân hội lấy việc đánh Pháp giành lại độc lập làm mục tiêu chính, còn về chính kiến tổ chức này chưa xác định rõ ràng. Về đường lối hoạt động, Duy tân hội trước sau chủ trương giành độc lập bằng bạo động vũ trang trong toàn quốc. Mặt khác Hội cũng chủ trương phải tiến hành các biện pháp cải cách về kinh tế, văn hoá và tư tưởng song song với biện pháp bạo động. Hội đặc biệt nhấn mạnh đến chủ trương xuất dương cầu ngoại viện. Năm 1905, Phan Bội Châu sang cầu viện Nhật Bản. Việc cầu viện Nhật Bản tuy không thành, nhưng qua việc tiếp xúc với chính khách Nhật, tận mắt thấy sự phát triển của nước Nhật và tiếp xúc với Lương Khải Siêu, Phan Bội Châu quyết định đặt cuộc khởi nghĩa vũ trang của cả nước vào một tương lai xa hơn. Ông chuẩn bị cho Cường Để và một nhóm thanh niên sang Nhật, bàn bạc với Đặng Nguyên Cẩn và các đồng chí khẩn trương lập các tổ chức để vừa phát triển kinh tế, vừa tạo ra tiền bạc cho phong trào Đông Du. Từ 1905 đến 1908, phong trào Đông Du diễn ra sôi nổi và thu được nhiều kết quả khả quan, có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng của nhân dân ta. Cuối 1908, thực dân Pháp cấu kết với nhà cầm quyền Nhật Bản phá hoại và làm thất bại căn bản phong trào Đông Du, Phan Bội Châu bị trục xuất khỏi Nhật Bản. Ông tìm cách chuyển về hoạt động ở Trung Quốc. Sau cách mạng Tân Hợi, Phan Bội Châu cùng với các đồng chí của mình tuyên bố giải tán Duy Tân hội, thành lập Việt Nam Quang phục hội vào năm 1912. Mục đích của tổ chức cách mạng mới này là đánh đuổi thực dân Pháp, khôi phục lại Việt Nam, thành lập một chính thể mới - chính thể dân chủ cộng hoà. Chính vì thế, hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu gắn liền với vấn đề thay đổi thể chế chính trị. Tình hình cách mạng Trung Quốc nói chung và những tư tưởng mới của Tôn Trung Sơn nói riêng đã tác động đến tư tưởng cứu nước của nhiều người Việt Nam yêu nước trong đó có Phan Bội Châu. Chính trong tình hình đó, Phan Bội Châu bắt đầu tìm hiểu Cách mạng tháng Mười Nga và đã có những thay đổi quan trọng trong nhận thức chính trị. Phan Bội Châu đã vạch ra kế hoạch để cải tổ lại tổ chức cách mạng của mình. Nhưng ngay sau đó, Phan Bội Châu bị bắt, bị đưa về nước, kết thúc một phần tư thế kỷ hoạt động cứu nước của ông. Trong quá trình hoạt động cứu nước, Phan Bội Châu luôn luôn cố gắng vươn lên cho phù hợp với tình hình. Trong tư tưởng cứu nước của ông có sự kết hợp giữa bạo động và cải cách; không đối lập dân chủ và quân chủ; từ trong phong kiến, ông vươn lên tiếp thu tư tưởng tư sản rồi tìm hiểu chủ nghĩa cộng sản. Sự vươn lên liên tục ấy của Phan Bội Châu là nhằm đạt được mục đích cứu dân cứu nước của mình. Phan Châu Trinh (1872 - 1926) là đại diện tiêu biểu cho nhóm sĩ phu chủ trương cứu nước bằng biện pháp dựa vào chính quyền thực dân Pháp để tiến hành duy tân. Phan Châu Trinh cho rằng "bất bạo động, bạo động tắc tử, bất vọng ngoại, vọng ngoại giả ngu" và đề cao khẩu hiệu "ỷ Pháp cầu tiến bộ", kịch liệt lên án bạo động, cầu ngoại viện. Phan Châu Trinh đã kế thừa xuất sắc tư tưởng canh tân của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch ở nửa sau thế kỷ XIX. So với những người đi trước, và cả đương
  7. thời, Phan Châu Trinh có đóng góp nổi trội là: công khai truyền bá tư tưởng dân chủ mà trong đó cốt lõi là vấn đề dân quyền. Phan Châu Trinh cho rằng, phong kiến là sâu mọt của dân, đục khoét của nước, là thủ phạm làm cho nước Nam lụn bại và mất độc lập. Do vậy, ông chủ trương trước hết phải tiêu diệt nọc độc phong kiến. Theo ông "nếu không đập tan được nền quân chủ thì dầu có khôi phục lại được nước cũng không phải là hạnh phúc cho dân". Phan Châu Trinh cũng đã vạch trần thái độ của chính phủ bảo hộ dung túng cho quan lại, coi rẻ sĩ dân, thả mặc cho quan lại hà hiếp dân, không lo dạy bảo, mở mang cho dân cách làm ăn, chỉ lo thu thuế, tăng sưu dịch. Chính sách cai trị của chính phủ đã làm cho dân đang đến đường cùng. Điều đó sẽ làm cho dân sẽ vùng lên. Theo ông, việc cứu nước tuỳ thuộc vào người dân, tuỳ thuộc vào sự giác ngộ của dân. Nhưng muốn có được điều đó thì phải "khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh". Phan Châu Trinh tích cực đóng góp sức mình vào phong trào duy tân đất nước. Ông ủng hộ Đông Kinh Nghĩa thục và nhiều lần đến đây diễn thuyết. Ông hoạt động sôi nổi ở Quảng Nam và các tỉnh Nam Trung Kỳ. Phan Châu Trinh và các đồng chí của ông đã triển khai truyền bá tư tưởng dân chủ trong cuộc vận động duy tân Trung Kỳ ở những năm 1905 - 1908. Phong trào duy tân của Phan Châu Trinh và các đồng chí phát động đã có tác dụng nâng cao tình cảm dân tộc và chí tiến thủ của nhân dân Trung Kỳ. Tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh tiếp tục phát triển và hoàn chỉnh trong thời kỳ ở Pháp. Mặc dù tư tưởng cách mạng của Phan Châu Trinh có những hạn chế lớn nhưng những hoạt động cứu nước của ông từ 1905 đến khi ông sang Pháp chứng tỏ ông là một nhà nho yêu nước chân chính, có những đóng góp lớn vào cuộc vận động cứu nước và phong trào duy tân ở nước ta hồi đầu thế kỷ XX. Để góp phần mở mang dân trí và chấn hưng kinh tế, tháng 3 năm 1907, Lương Văn Can và một số nhà nho yêu nước tiến bộ đã thành lập trường Đông Kinh Nghĩa thục với ước mong Việt Nam thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, thoát khỏi ách thống trị của ngoại bang để trở thành một quốc gia độc lập, đặt ngang hàng với các quốc gia trên thế giới. Chương trình học của Đông Kinh Nghĩa thục dựa theo lối tân học Trung Hoa, Nhật Bản, dạy thể thao, toán pháp, địa dư, lịch sử, văn chương, giáo dục công dân Những hoạt động của Đông Kinh Nghĩa thục nhằm chống cựu học, chống bọn hủ nho, chống chữ Hán, chống khoa cử; học chữ quốc ngữ, học tập theo phương pháp mới; đề cao nhân bản, phát huy óc sáng tạo; đề cao tinh thần dân tộc và lòng yêu nước, lên án những phong tục tập quán hủ lậu; tuyên truyền chấn hưng công nghệ, khuyếch trương nông nghiệp. Tóm lại, trong hoàn cảnh mới, phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX đã chuyển sang phạm trù cách mạng dân chủ tư sản với mục tiêu giành lại độc lập và tự do. Phong trào gắn liền với vai trò lãnh đạo của tầng lớp trí thức phong kiến yêu nước tiến bộ, đại diện xuất sắc là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Các Ông đã gắn vấn đề khôi phục độc lập với việc thay đổi thể chế xã hội, phải xây dựng một xã hội mà quyền lực thuộc về người dân. Phong trào cách mạng được phát động, nổ ra trong phạm vi toàn quốc với nhiều hình
  8. thức phong phú như bạo động kết hợp với cải cách, bí mật kết hợp công khai, binh biến, biểu tình, mở hội buôn, lập trường học nên đã lôi cuốn được đông đảo nhân dân tham gia. Tuy nhiên, phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX cuối cùng đã thất bại. Do hạn chế của thời đại cũng như của những người lãnh đạo đã chưa nhận thức đúng đắn và toàn diện về kẻ thù nên không xác định được đầy đủ và sâu sắc về nhiệm vụ của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, chưa định ra được đường lối và phương pháp cách mạng phù hợp, chưa lôi kéo được quần chúng vào cuộc đấu tranh dưới một cương lĩnh, một chương trình hành động chung và chặt chẽ. Mặt khác, lực lượng cơ bản của cách mạng là nông dân vẫn chưa được huy động triệt để và có tổ chức. Những hạn chế này là nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của phong trào. Tuy nhiên, sự thất bại đó để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá cho những thế hệ kế tục sự nghiệp giải phóng dân tộc và là cách để dân tộc ta tiến gần đến với thắng lợi cuối cùng. 3.3. Việt Nam từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. 3.3.1. Hoạt động yêu nước và cách mạng của Nguyễn Ái Quốc Sinh ra trong một gia đình trí thức yêu nước, lớn lên giữa lúc nước mất nhà tan, chứng kiến những nỗi thống khổ của nhân dân dưới ách thực dân, phong kiến, Nguyễn Tất Thành đã sớm có ý chí đánh đuổi thực dân Pháp để giải phóng đất nước, giải phóng đồng bào. Chứng kiến sự thất bại của phong trào vũ trang chống Pháp cuối thế kỷ XIX, Người khâm phục các sĩ phu yêu nước nhưng cũng không tán thành vì sớm nhìn thấy sự bế tắc của những con đường này. Nguyễn Tất Thành tìm con đường cứu nước riêng, khác với Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh, Người đi sâu vào lòng kẻ thù, tìm hiểu rõ bản chất của kẻ thù và từ đó tìm đường đấu tranh để quật ngã chúng . Năm 1911, rời Sài Gòn với cái tên là Văn Ba, Người xin làm phụ bếp trên chiếc tàu thuỷ thuộc hãng vận tải hợp nhất của Pháp để đi ra nước ngoài “xem xem nước Pháp và các nước khác làm như thế nào rồi sẽ về giúp đồng bào tôi”. Nguyễn Tất Thành đã đi đến Pháp và nhiều nước khác ở châu Âu, châu Mỹ và châu Phi. Trong quá trình đó Người đã tự rút ra cho mình những nhận thức quan trọng về bạn và thù của nhân dân Việt Nam. Tháng 12. 1917, Người từ Anh trở về Pháp, tham gia hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp. Chính tại Pari thời gian này, Người đã gặp Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, tham gia tổ chức “Hội những người yêu nước Việt Nam ở Pháp”. Năm 1919, Người chính thức gia nhập vào Đảng Xã hội Pháp. Tháng 6.1919, Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Vecxai bản yêu sách 8 điểm của nhân dân Việt Nam đòi chính phủ Pháp và các nước đồng minh phải thừa nhận các quyền tự do dân chủ và quyền bình đẳng của nhân dân Việt Nam. Bản yêu sách không được chấp nhận nhưng đã gây được tiếng vang lớn trong dư luận tiến bộ Pháp và dội mạnh về Việt Nam. Ngày 16 và 17.7.1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất "Đề cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa" của Lênin đăng trên báo Nhân đạo. Bản Sơ thảo đề cập
  9. đến những vấn đề cơ bản của cách mạng giải phóng dân tộc – những vấn đề mà Nguyễn Ái Quốc cũng như cả dân tộc Việt Nam đang cần. Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: "chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ." Đây là mốc đánh dấu bước nhảy vọt về chất trong tư tưởng chính trị của Người: từ chủ nghĩa yêu nước đến với Chủ nghĩa Mác – Lênin. Tháng 12.1920, tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Tháng 6.1923, Nguyễn Ái Quốc sang Liên Xô, quê hương của Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, tiếp tục chẩn bị những điều kiện cần thiết để trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Ngày 11.11.1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu. Người đã tìm bắt liên lạc với những người yêu nước Việt Nam trong tổ chức Tâm tâm xã và lập ra một nhóm bí mật gồm 9 hội viên, tuyên truyền cho họ về Chủ nghĩa Mác, về Cách mạng tháng Mười Nga, Quốc tế Cộng sản. Một số hội viên đã được cử về nước để bắt liên lạc với các tổ chức cách mạng, tuyển mộ thanh niên ra dự các lớp huấn luyện ở Quảng Châu hoặc gửi đi học ở các trường đại học Phương Đông ở Matxcơva. Bằng những hoạt động lý luận và thực tiễn sôi nổi ở Pháp, ở Liên Xô, Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã xuất hiện trên vũ đài chính trị như một nhân vật lịch sử đáp ứng yêu cầu cấp thiết của cách mạng Việt Nam lúc đó, mở đường cho cách mạng Việt Nam ra khỏi cuộc khủng hoảng về đường lối, hướng sự nghiệp giải phóng dân tộc đi theo con đường cách mạng vô sản. 3.3.2. Phong trào công nhân (1919-1929) Hình thành từ trước chiến tranh, phong trào công nhân từ năm 1919 ngày càng phát triển. Năm 1925, hơn 1000 công nhân Nhà máy đóng tàu Bason bãi công. Cuộc bãi công này không chỉ đơn thuần là vấn đề kinh tế mà nó thể hiện tính chính trị, tỏ rõ thái độ phản đối chiến tranh, thể hiện tinh thần đoàn kết quốc tế. Cuộc bãi công của công nhân Bason đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng của giai cấp công nhân Việt Nam. Từ chổ lẻ tẻ, tự phát, đến chỗ tiếp cận tự giác có tổ chức, biết kết hợp đấu tranh kinh tế và đấu tranh chính trị và thể hiện tinh thần đoàn kết với công nhân quốc tế. Phong trào công nhân từ sau 1925 trở đi đã phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Đặc điểm nổi bật của phong trào công nhân trong giai đoạn này là: nổ ra liên tiếp, nổ ra ngay trên các trung tâm kinh tế, chính trị của thực dân Pháp, các cuộc bãi công không chỉ giới hạn trong phạm vi một xí nghiệp, một địa phương, một ngành mà đã liên kết thành phong trào chung của giai cấp công nhân trong nhiều xí nghiệp, nhiều địa phương, nhiều ngành trong cả nước. Bên cạnh phong trào công nhân, từ năm 1925 đến 1928 là giai đoạn phong trào yêu nước và dân chủ phát triển rất mạnh mẽ ở Việt Nam. Từ trong phong trào đã xuất hiện nhiều xu hướng chính trị và kết tinh thành nhiều tổ chức chính trị, trong đó đáng chú ý là Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Tân Việt cách mạng Đảng và Việt Nam Quốc
  10. dân Đảng. Các tổ chức cách mạng này đóng vai trò quan trọng trong phong trào yêu nước, phong trào cách mạng Việt nam nửa sau những năm 20. 3.3.3. Sự xuất hiện các tổ chức cộng sản và sự thành lập ĐCS Việt Nam Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân, phong trào yêu nước, ở Việt Nam đã lần lượt xuất hiện 3 tổ chức cộng sản trong năm 1929: Đông Dương cộng sản Đảng, An nam cộng sản Đảng, Đông Dương cộng sản liên đoàn. Sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản, hoạt động riêng lẻ, độc lập với nhau đã có những đóng góp tích cực cho phong trào cách mạng nhưng lại bộc lộ những hạn chế nguy hiểm gây chia rẽ lực lượng cách mạng và về khách quan là có lợi cho kẻ thù. Ngày 27.10.1929, Quốc tế Cộng sản gửi thư cho các tổ chức cộng sản ở Việt Nam yêu cầu phải thống nhất các tổ chức lại thành một Đảng Cộng sản duy nhất. Ngày 6.1.1930, hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng duy nhất, do Nguyễn Ái Quốc triệu tập, chuẩn bị và chủ trì được tiến hành. Sau một thời gian bàn bạc và thảo luận, hội nghị đã đi tới nhất trí hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt và Điều lệ vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Các văn kiện này đã nêu những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử Việt Nam, nó chứng tỏ giai cấp công nhân đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của cách mạng nước ta. 3.4. Phong trào cách mạng Việt Nam thời kỳ 1930 – 1945. 3.4.1. Phong trào cách mạng từ 1930 đến 1935. Cuộc bạo động Yên Bái của Việt Nam Quốc dân Đảng (9.2.1930) nổ ra và bị dập tắt, chấm dứt hẳn sự chi phối của hệ tư tưởng tư sản đối với cuộc vận động cách mạng Việt Nam. Ngày 6.1.1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu bước ngoặt vĩ đại, mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam. Sự bóc lột kinh tế, chế độ chính trị nghẹt thở và sự đàn áp dã man của thực dân Pháp càng làm tăng thêm lòng căm phẫn của nhân dân ta. Trong khi đó tiếng vang của cách mạng ở Trung Quốc, Ấn §é, của chế độ CNXH ở Liên Xô đã cổ vũ thêm tinh thần đấu tranh của nhân dân ta. Đó chính là những nguyên nhân làm bùng nổ phong trào công nông ở Việt Nam những năm 1930 – 1931, trong đó, yếu tố quyết định nhất làm nảy sinh phong trào cách mạng là sự ra đời và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Phong trào cách mạng 1930 – 1931 bùng nổ mạnh mẽ trên phạm vi cả nước với đỉnh cao Xô viết Nghệ Tĩnh. Phong trào đấu tranh ở Nghệ Tĩnh lên cao, làm tê liệt chính quyền phong kiến ở nhiều địa phương dẫn tới sự ra đời các Xô viết. Chính quyền Xô viết ban bố và thực hiện các quyền tự do dân chủ cho nhân dân, tịch thu ruộng đất, tiền thóc công chia cho dân nghèo; bãi bỏ các thứ thuế vô lý, tổ chức học chữ Quốc ngữ cho nhân dân, xóa bỏ những phong tục tập quán lạc hậu, giữ vững trật tự an ninh thôn xóm. Hoạt
  11. động của Xô viết Nghệ Tĩnh nói lên sức sáng tạo của một chế độ xã hội mới. Mặc dù còn thô sơ nhưng Xô viết thực sự là chính quyền của dân, do dân, vì dân, làm chức năng của một chính quyền cách mạng thực thụ. Trước sự lớn mạnh của phong trào cách mạng ở Nghệ Tĩnh, bọn thực dân phong kiến dùng khủng bố trắng để dìm chính quyền Xô viết trong biển máu. Phong trào cách mạng 1930 – 1931 với đỉnh cao Xô viết Nghệ Tĩnh có một vị trí lịch sử vô cùng quan trọng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp ở nước ta. Trong phong trào này, lần đầu tiên dưới sự lãnh đạo của Đảng đã xây dựng được khối liên minh công nông chặt chẽ do giai cấp công nhân lãnh đạo. Phong trào cách mạng 1930 – 1931 là cuộc diễn tập đầu tiên của Đảng và quần chúng cách mạng chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945. Từ 1932, cách mạng Việt Nam tiến hành đấu tranh phục hồi lực lượng cách mạng. Tháng 3.1935, Đại hội lần thứ nhất của Đảng được tiến hành tại Ma Cao, Trung Quốc đánh dấu sự khôi phục của hệ thống tổ chức Đảng. 3.4.2. Phong trào dân chủ 1936 – 1939. Những thay đổi của tình hình thế giới và trong nước đã tác động đến phong trào đấu tranh cách mạng ở Việt Nam nửa sau thập kỷ 30. Tháng 7 – 1936, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Thượng Hải (Trung Quốc). Hội nghị dựa trên những luận điểm cơ bản của Nghị quyết Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, căn cứ vào tình hình cụ thể của Việt Nam để định ra đường lối và phương pháp đấu tranh thích hợp. Nghị quyết hội nghị đã đề cập tới một số vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam như xác định mục tiêu trực tiếp, trước mắt là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh, đòi tự do dân chủ, cơm áo hoà bình; tạm thời chưa nêu “đánh đổ đế quốc Pháp và tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày” mà nêu “tự do dân chủ, cơm áo hoà bình”; chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương; kết hợp các hình thức công khai và bí mật, hợp pháp và bất hợp pháp. Những nội dung cơ bản của Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 7.1936 được bổ sung, phát triển thêm trong các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng năm 1937 và 1938. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 3.1938, Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương đổi thành Mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dương, gọi tắt là Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Từ chủ trương này, Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành phong trào đấu tranh công khai, dân chủ, phong trào Đông Dương đại hội, phong trào đấu tranh ở nghị trường, đấu tranh trên lĩnh vực báo chí, đấu tranh chống Tơrôtkit. Đây là hình thức đấu tranh cách mạng trong một giai đoạn cụ thể để thực hiện nhiệm vụ chiến lược của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở nước ta. Phong trào đấu tranh dân chủ 1936 – 1939 thể hiện vai trò tiên phong của giai cấp công công nhân, trên cơ sở liên minh công nông, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Phong trào Dân chủ 1936 – 1939 là một bộ phận của phong trào vô sản thế giới đấu tranh chống chủ
  12. nghĩa phát xít, chống chiến tranh, vì hoà bình. Phong trào dân chủ 1936 – 1939 được Đảng ta đánh giá là cuộc diễn tập lần thứ hai chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám 1945. 3.4.3. Phong trào giải phóng dân tộc 1939 – 1945. Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ (1.9.1939), Pháp tham chiến (3.9.1939) và nhanh chóng đầu hàng Đức (22.6.1940). Ngày 22.9.1940, Nhật nhảy vào Đông Dương, thực dân Pháp đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó, dân ta chịu 2 tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Chính sách vơ vét, bóc lột của Nhật – Pháp, sự cấu kết giữa chúng trong mưu đồ thống trị đã đẩy nhân dân ta đến chỗ cùng cực. Nhân dân Việt Nam không có con đường nào khác ngoài việc phải vùng lên đấu tranh. Trong bối cảnh đó, Đảng ta đã nhanh chóng chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cho cách mạng Việt Nam. Hội nghị lần thứ 6 của Trung ương Đảng họp vào tháng 11.1939 tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định) do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì. Hội nghị đã tiến hành phân tích sâu sắc tính chất, hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ 2, vai trò, vị trí của Đông Dưong trong cuộc chiến tranh đó, thực chất các chính sách của bọn phản động Pháp và thái độ chính trị của các giai cấp xã hội Việt Nam. Trên cơ sở đó, Hội nghị vạch ra đường lối chính trị, phương hướng, nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong tình hình mới. Hội nghị xác định nhiệm vụ trung tâm trước mắt của cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Đây là sự chuyển hướng quan trọng nhất về chỉ đạo chiến lược. Để phù hợp với sự chuyển hướng đó, khẩu hiệu cách mạng cũng thay đổi. Hội nghị chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất và đề ra khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc, chống tô cao, lãi nặng. Khẩu hiệu lập chính quyền Xô viết công nông binh được thay thế bằng khẩu hiệu lập chính quyền dân chủ cộng hoà. Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Chủ trương Hội nghị Trung ương lần thứ 6 là chủ trương chỉ đạo chiến lược và sách lược cách mạng Việt Nam thời kỳ 1939 – 1945, thời kỳ đấu tranh và giải phóng dân tộc. Nghị quyết Hội nghị đánh dấu bước chuyển hướng quan trọng về đường lối và phương pháp cách mạng của Đảng, phản ánh sự nhạy bén về chính trị và năng lực sáng tạo của Đảng trong điều kiện mới. Trong hơn 3 tháng, các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương đã liên tiếp nổ ra và đều bị thất bại. Nguyên nhân chính là thời cơ khởi nghĩa chưa chín muồi, kẻ thù còn mạnh, lực lượng khởi nghĩa chưa được tổ chức và chuẩn bị đầy đủ. Trước tình hình Chiến tranh thế giới 2 có những diễn biến phức tạp, Nguyễn Ái Quốc quyết định về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Sau một thời gian chuẩn bị, Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 tại Pắc Pó, vào tháng 5.1941. Sau khi phân tích tình hình thế giới và Đông dương, Hội nghị khẳng định tiếp tục chủ trương đề ra từ Hội nghị Trung ương lần thứ 6 nhưng đề cao hơn nữa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Ở Việt Nam, hình thức mặt trận phù hợp nhất là Việt Nam
  13. độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Hội nghị chủ trương xúc tiến công tác chuẩn bị những điều kiện cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành thắng lợi, coi đây là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân trong giai đoạn hiện nay, dự kiến hình thái khởi nghĩa là từ khởi nghĩa từng phần lên tổng khởi nghĩa. Như vậy, chủ trương của Hội nghị Trung ương lần thứ 8 đã phát triển và hoàn chỉnh chủ trương chỉ đạo chiến lược và sách lược cách mạng đề ra từ Hội nghị Trung ương lần thứ 6. Chủ trương này có tác dụng quyết định trong việc vận động toàn Đảng, toàn dân ta tích cực chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, có ý nghĩa quyết định đến sự thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945; đồng thời nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 đã phát triển sáng tạo lý luận về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở nước ta. Một trong những nhiệm vụ cấp bách của cách mạng sau Hội nghị Trung ương 8 là vận động quần chúng vào các Hội cứu quốc của Mặt trận Việt Minh. Mặt trận Việt Minh đã ra Tuyên ngôn, chương trình, điều lệ, trong đó nêu rõ “quyền lợi của dân tộc cao hơn hết thảy. Đảng và Nguyễn Ái Quốc cũng rất quan tâm đến việc xây dựng căn cứ địa cách mạng. Sau khi về nước, Nguyễn Ái Quốc chọn Cao Bằng làm thí điểm chính sách mặt trận, chính sách đoàn kết dân tộc, xây dựng thành căn cứ địa cách mạng. Đó là 2 trung tâm căn cứ địa đầu tiên của cách mạng nước ta. Cuối năm 1940, sau khi cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn thất bại, theo chủ trương của Đảng, một bộ phận lực lượng vũ trang ra đời trong khởi nghĩa chuyển sang xây dựng thành những đội du kích làm vốn vũ trang đầu tiên của cách mạng, hoạt động ở căn cứ địa Bắc Sơn – Võ Nhai. Đến năm 1941, những đội du kích Bắc Sơn lớn mạnh thêm và thống nhất thành đội Cứu quốc quân. Đứng trước những yêu cầu mới của cách mạng, nhất là trong tình hình cuộc chiến tranh thế giới phát triển mau lẹ khi Hồng quân Liên Xô chuyển sang phản công từ đầu 1943 càng đòi hỏi Đảng phải có chủ trương đẩy mạnh hơn nữa công tác chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Ngày 22.12.1944, Võ Nguyên Giáp thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân gồm 34 chiến sĩ. Sau ngày thành lập, đội xuất quân và giành được chiến thắng liền trong 2 trận, tiêu diệt gọn 2 đồn Phay Khắt và Nà Ngần (Cao Bằng). Vào 20 giờ ngày 9.3.1945, quân đội Nhật nổ súng trên toàn cõi Đông Dương, quân Pháp chống cự yếu ớt ở một vài nơi rồi nhanh chóng đầu hàng. Chính sách phản động cùng với vô số những hoạt động thù địch của Nhật và bọn tay sai càng làm tăng thêm mối căm thù của nhân dân ta đối với chúng. Ngay trong đêm 9.3.1945, khi tiếng súng đảo chính vừa nổ ra, Hội nghị mở rộng của Ban Thường vụ Trung ương Đảng được triệu tập. Ngày 12.3.1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” thể hiện thể hiện sự lãnh đạo sáng suốt, kịp thời của Đảng trong Cao trào kháng Nhật cứu nước, trực tiếp dẫn đến thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945.
  14. Ngày 16.4.1945, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị về việc tổ chức uỷ ban dân tộc giải phóng các cấp và trong phạm vi cả nước lập uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam. Ngày 15.5.1945, Việt Nam giải phóng quân được thành lập, 7 chiến khu mới được xây dựng. Ngày 4.6.1945, khu giải phóng ra đời bao gồm Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên. Tân Trào được chọn làm thủ đô của khu giải phóng. - Tổng khởi nghĩa tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời Chiến tranh thế giới 2 bước vào giai đoạn cuối cùng khi Hồng quân Liên xô bắt đầu tấn công quân Nhật (8.8.1945). Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim cùng bè lũ tay sai như rắn mất đầu. Điều kiện khách quan cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền đã chín muồi, “thời cơ ngàn năm có một” đã đến. Tuy nhiên các thế lực đế quốc Mỹ, Tưởng, Anh, Pháp đều có những mưu đồ riêng đối với Đông Dương. Trong lúc điều kiện chủ quan của ta hết sức thuận lợi, khí thế cách mạng của quần chúng lên cao chưa từng thấy. Ngày 12.8.1945, Uỷ ban lâm thời khu giải phóng hạ lệnh khởi nghĩa trong toàn khu. Ngày 13.8.1945 Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc được thành lập, ra “Quân lệnh số 1” hạ lệnh tổng khởi nghĩa. Từ 13 đến 15.8.1945, tại Tân Trào diễn ra Hội nghị Toàn quốc của Đảng. Trên cơ sở phân tích tình hình, Hội nghị quyết định phát động và lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền, đề ra những nhiệm vụ cần thiết, cấp bách trong công tác đối nội, đối ngoại sẽ thi hành trong thời kỳ đầu sau khi giành được chính quyền. Ngày 16, 17.8.1945, Đại hội Quốc dân do Tổng bộ Việt Minh triệu tập khai mạc tại Tân Trào tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng, nhất trí thông qua 10 chính sách của Việt Minh, cử ra Uỷ ban dân tộc giải phóng do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, quyết định lấy lá cờ đỏ sao vàng làm quốc kỳ, lấy bài Tiến quân ca làm quốc ca. Đại hội bế mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền. Hưởng ứng lệnh Tổng khởi nghĩa của Đảng, lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào cả nước nhất tề đứng lên với tinh thần “dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độ lập, tự do”. Cuộc tổng khởi nghĩa đã giành được thắng lợi trên phạm vi cả nước trong vòng 2 tuần lễ từ 14 đến 28.8.1945. Ngày 25.8.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Uỷ ban dân tộc giải phóng từ Tân Trào về đến Hà Nội. Theo đề nghị của Người, Uỷ ban dân tộc giải phóng do Đại hội quốc dân cử ra tại Tân Trào được cải tổ thành Chính phủ lâm thời cách mạng. Ngày 28.8, một phái đoàn của chính phủ lâm thời từ Hà Nội vào Huế dự lễ thoái vị của Bảo Đại. Chiều 30.8, trước cuộc mít tinh của hàng vạn nhân dân cố đô Huế, Vua Bảo Đại đọc lời thoái vị và nộp ấn kiếm cho cách mạng. Đại diện chính phủ lâm thời tuyên bố xoá bỏ chế độ quân chủ ở Việt Nam. Ngày 2.9.1945, tại Quảng trường Ba Đình, trước cuộc mít tinh lớn của hàng chục vạn nhân dân chào mừng nước nhà độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ
  15. lâm thời trịnh trọng đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với toàn thể quốc dân và thế giới: nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời. Tuyên ngôn độc lập tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân phong kiến ở nước ta và mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do của dân tộc. Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn và ngày 2.9.1945 mãi mãi ghi vào lịch sử Việt Nam là ngày hội lớn vẻ vang của dân tộc – ngày Quốc khánh, ngày tuyên bố thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Cách mạng tháng Tám 1945 là một sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Nó đã phá tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp kéo dài hơn 80 năm và của phát xít Nhạt trong gần 5 năm, đồng thời lật nhào chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại ngót ngàn năm. Với thắng lợi của cách mạng tháng Tám, nước ta từ một nước thuộc địa đã trở thành một nước độc lập dưới chế độ dân chủ cộng hoà, nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người dân độc lập, tự do, làm chủ nước nhà. Cách mạng tháng Tám đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới trong sự phát triển lịch sử dân tộc – kỷ nguyên giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. 3.5. Một số nhận xét về lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1945 Bằng quá trình xâm lược và bình định, đến cuối thế kỷ XIX thực dân Pháp đã đạt được mục tiêu độc chiếm hoàn toàn Việt Nam, thực hiện chính sách cai trị và bóc lột tàn bạo thông qua chương trình khai thác thuộc địa để làm giàu cho chính quốc. Thực dân Pháp đã làm biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam theo hướng tư bản chủ nghĩa trên cơ sở duy trì phương thức bóc lột phong kiến. Điều đó một nặt làm cho Việt Nam ngày càng bị cột chặt và lệ thuộc vào chính quốc, mặt khác cũng làm xuất hiện những nhân tố mới về kinh tế và xã hội, tạo điều kiện cho quá trình tiếp thu những trào lưu tư tưởng mới sau này. Trong quá trình thực dân Pháp xâm lược, triều đình Huế đã không đưa ra được đối sách kịp thời và đúng đắn nên dần dần đánh mất vai trò là một vương triều độc lập, từng bước thỏa hiệp và đầu hàng. Ngọn cờ chống Pháp chuyển hẳn về nhân dân. Phong trào đấu tranh chống xâm lược của nhân dân Việt Nam diễn ra mạnh mẽ, quyết liệt dưới ngọn cờ phong kiến nửa sau thế kỷ XIX và khuynh hướng dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX nhưng cuối cùng đều thất bại. Trong bối cảnh đó, Nguyễn Ái Quốc đã bôn ba khắp năm châu bốn biển và tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc – con đường cách mạng vô sản. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng giải phóng dân tộc giành được những thắng lợi quan trọng, đỉnh cao là thành công của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 dẫn tới sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thắng lợi này kết thúc 80 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
  16. Hướng dẫn ôn tập. Người học cần nắm vững những nội dung chính của chương như sau: 1. Quá trình thực dân Pháp vũ trang xâm lược Đại nam và cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân ta (1858 - 1884). Trách nhiệm của triều Nguyễn trong việc để mất nước ta ở nửa sau thế kỷ XIX. 2. Phong trào Cần Vương chống Pháp (1885 - 1896). 3. Điều kiện lịch sử mới đầu thế kỷ XX. Con đường cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. 4. Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ 1911 đến 1930. 5. Sự chuyến biến của kinh tế - xã hội Việt Nam qua quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. 6. Quá trình vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1920 - 1930). 7. Phong trào cách mạng toàn quốc 1930 – 1931 với đỉnh cao Xô viết Nghệ tĩnh và cuộc vận động dân chủ 1936 – 1939. 8. Quá trình vận động Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam (1939 - 1945). Câu hỏi ôn tập: 1. Nội dung các điều ước Nhâm Tuất (1862), Giáp Tuất (1874), Hác Măng (1883) và Patơnốt (1884). 2. Trách nhiệm của triều Nguyễn trong việc để mất nước ta ở nửa sau thế kỷ XIX. 3. Đặc điểm của phong trào Cần Vương (1885 - 1896). 4. Con đường cứu nước của Phan Bội Châu. 5. Con đường cứu nước của Phan Châu Trinh. 6. Ý nghĩa những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam thời kỳ 1911 - 1930. 7. Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ 2 của thực dân Pháp ở Việt Nam (1919 - 1929). 8. Phong trào yêu nước 1919 – 1929. 9. Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam: Nội dung và ý nghĩa. 10. Phong trào cách mạng toàn quốc 1930 – 1931 với đỉnh cao Xô viết Nghệ Tĩnh. 11. Cuộc vận động dân chủ 1936 – 1939. 12. Chủ trương giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc của Đảng ta thời kỳ 1939 – 1945. 13. Vấn đề thời cơ của Cách mạng tháng Tám 1945 ở Việt Nam. 14. Cách mạng tháng Tám 1945 ở Việt Nam: nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm.
  17. Chương 4: LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN NAY 4.1. VIỆT NAM NĂM ĐẦU TIÊN SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM (9/1945 -12/1946) Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bản Tuyên ngôn nêu rõ: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”24 Kỷ nguyên mới của dân tộc ta diễn ra trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều biến động lớn. Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa hình thành, Liên Xô trở thành thành trì của cách mạng thế giới. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ, làm lay chuyển hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản chủ nghĩa diễn ra sôi nổi. Mâu thuẫn giữa lực lượng hòa bình, dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội với các nước đế quốc và lực lượng phản cách mạng diễn ra gay gắt. Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa vừa mới ra đời đã phải đối diện với muôn vàn khó khăn và thử thách. Kinh tế nghèo nàn, tài chính trống rỗng. Chính quyền mới chưa được quốc tế công nhận và thiếu kinh nghiệm quản lý. Lực lượng vũ trang non trẻ, trang bị thiếu thốn. Hậu quả xã hội của chính quyền cũ để lại còn nặng nề. Các thế lực đế quốc và phản động đang âm mưu bóp chết chính quyền cách mạng. Nền Cộng hòa đang trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Vận mệnh độc lập, tự do của dân tộc vừa mới giành được đang đứng trước nguy cơ mất còn. Theo đánh giá của người nước ngoài, chỉ riêng đối diện với sự khó khăn về kinh tế, tài chính, nền cộng hòa ấy sẽ phải nghiêng ngả mà sụp đổ. Thực tế lịch sử chứng minh rằng: Nền Cộng hòa ấy không nghiêng ngả, sụp đổ mà ngày càng được củng cố vững chắc hơn. Chính phủ Hồ Chí Minh đã từng bước đưa nước Việt Nam mới vượt qua những thác ghềnh với những biện pháp đối nội và đối ngoại sáng suốt. Chỉ trong một thời gian ngắn năm đầu tiên sau cách mạng tháng Tám, Việt Nam dân chủ Cộng hòa đã đạt được những thành tựu đáng tự hào: nạn đói được đẩy lùi, kinh tế được hồi phục và phát triển, nạn mù chữ từng bước được thanh toán, văn hóa giáo dục có nhiều bước phát triển mới, an ninh quốc phòng được củng cố, lực lượng vũ trang được xây dựng đó là tiền đề xây dựng một chính thể mới. Theo hiệp ước Potsdam, lực lượng Đồng Minh gồm quân Anh và quân Trung Quốc vào Việt Nam để giải giáp vũ khí Nhật. Cả Anh và Trung Hoa Dân Quốc đều muốn hạ bệ chính phủ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Anh ủng hộ sự trở lại của Pháp tại Đông Dương, còn Trung Hoa muốn đưa lực lượng thân Trung Quốc lên nắm quyền. Ở miền Bắc, hơn 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch tiến vào với danh nghĩa giải giáp quân Nhật. Đội quân ô hợp này đốt phá cướp bóc, vơ vét kinh tế. Ở miền Nam, chỉ 4 ngày sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, phái bộ quân sự Anh đã có mặt ở Sài Gòn, theo sau là 24 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, NXB Chính trị Quốc gia, H.1995, tr.557
  18. liên quân Anh-Pháp. Quân Anh trên danh nghĩa là theo lệnh Đồng Minh vào giám sát quân Nhật đầu hàng nhưng đồng thời cũng tạo điều kiện cho quân Pháp vào Nam Bộ. Chính phủ lâm thời của Cộng hòa Pháp muốn khôi phục lãnh thổ thuộc địa Đông Dương. Ngày 19/9/1945, Pháp tuyên bố sẽ lập chính quyền tại miền Nam. Ngày 23/9/1945, với sự giúp đỡ của quân Anh, quân Pháp nổ súng chiếm quyền kiểm soát Sài Gòn. Nước Việt Nam vừa giành được độc lập, lại đứng trước nạn ngoại xâm. Ngày 9 tháng 10, tướng Pháp Leclerc đến Sài Gòn, theo ông ta là lực lượng gồm 40.000 quân Pháp. Từ cuối tháng 10, quân Pháp bắt đầu đẩy mạnh kế hoạch phá vây, mở rộng đánh chiếm ra vùng xung quanh Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ. Từ cuối tháng 9 năm 1945, các đoàn quân "Nam tiến" của Vệ quốc đoàn(quân đội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) bắt đầu lên đường vào Nam chống Pháp. Trong hai tháng cuối năm 1945 và tháng 1 năm 1946, lực lượng Việt Minh tại các tỉnh Nam Bộ đã chiến đấu ngăn chặn làm chậm bước tiến của quân Pháp. Tuy nhiên, do lực lượng chênh lệch, sau một thời gian, các lực lượng này đều phải rút ra những căn cứ đầm lầy và rừng núi, xây dựng chiến khu để bảo tồn lực lượng cho kháng chiến lâu dài. Trong suốt năm 1946, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cố gắng hết mức thương lượng với Pháp để cứu vãn hòa bình và đẩy lùi thời điểm nổ ra cuộc chiến tranh. Sau khi đem quân ra Bắc, thực dân Pháp sử dụng biện pháp gây hấn, khiêu khích, chuẩn bị kịch bản của một cuộc đảo chính nhằm lật đổ chính phủ Hồ Chí Minh. Ngay trong quá trình đàm phán ở hội nghị giữa ta và Pháp đang diễn ra ở Phôngtennnơblô, Pháp đã mở rộng chiến tranh ra nhiều nơi. Ở chiến trường Nam Bộ, Nam Trung Bộ, địch liên tục tiến công chiếm đóng vùng giải phóng. Ngay trong quá trình đàm phán ở hội nghị giữa ta và Pháp đang diễn ra ở Phôngtennobô, Pháp đã mở rộng chiến tranh ra nhiều nơi. Ở chiến trường Nam Bộ, Nam Trung Bộ, địch liên tục tiến công chiếm đóng vùng giải phóng. Tại miền Bắc, tháng 11- 1946, chúng đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn. Tháng 12-1946, chúng đánh Đồ Sơn, Đình Lập. Sau các vụ ném lựu đạn vào nhiều khu vực dân cư thành phố, từ giữa tháng 12 trở đi, chúng đã gây hấn nhiều nơi ở Hà Nội. Sự kiện tàn sát nhân dân ta tại Hàng Bún và phố Yên Ninh tháng 12-1946 chứng tỏ thực dân Pháp đã sẵn sàng bước sang cuộc phiêu lưu quân sự mới. Ngày 18 và 19-12-1946, thực dân Pháp đã liên tiếp gửi tối hậu thư đòi ta phải phá bỏ công sự trong thành phố và đòi để chúng kiểm soát, giữ gìn trật tự Hà Nội. Chúng tuyên bố sẽ hành động bằng sức mạnh quân sự nếu ta không thực hiện các yêu sách đó. Tình hình vô cùng khẩn cấp, đòi hỏi ta phải đứng lên. Ngày 18,19 tháng 12-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì đã nhận định tình hình và chỉ thị cho các địa phương "Tất cả hãy sẵn sàng". Chiều 19-12, Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp ra lệnh cho các đơn vị vũ trang sẵn sàng chiến đấu theo thời gian đã quy định. 20 giờ ngày 19-12-1946, mệnh lệnh chiến đấu bắt đầu. Quân dân Thủ đô đã nổ súng mở đầu cuộc kháng chiến trong toàn quốc. Ngay khi tiếng súng kháng chiến toàn
  19. quốc bùng nổ, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã truyền đi khắp cả nước. "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" cùng với những văn kiện khác như chỉ thị Toàn dân kháng chiến, Kháng chiến nhất định thắng lợi đã nêu bật những vấn đề căn bản nhất về đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp; đó là: Toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh.25 4.2. VIỆT NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1946 – 1954). 4.2.1. Bùng nổ và giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp (1946 – 1950) Hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, các lực lượng vũ trang của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nổ súng chống Pháp tại nhiều khu vực thành thị trên cả nước: Hà Nội, Nam Ðịnh, Hải Phòng, Vinh, Huế, Đà Nẵng , hoàn thành nhiệm vụ bao vây kìm chân và tiêu diệt quân Pháp, tạo thời gian cần thiết để quân chủ lực tản về các căn cứ ở nông thôn và để các cơ quan, công xưởng di chuyển lên vùng chiến khu. Chiến sự ác liệt nhất diễn ra tại Hà Nội. Trong một hoàn cảnh chiến đấu vô cùng khó khăn và chênh lệch về vũ khí, sau 57 ngày đêm chiến đấu ngoan cường trong lòng thành phố, đến đêm 17 tháng 2 năm 1947 Trung đoàn Thủ đô mới rút ra khỏi nội thành. Đa số nhân dân Hà Nội và vùng ven cũng đã bỏ thành phố vượt sông Hồng tản cư lên phía Bắc, tạo thế "vườn không nhà trống". Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn chưa bỏ cuộc trong việc tìm kiếm một giải pháp hòa bình. Ngay ngày đầu tiên của cuộc chiến, Việt Minh rải truyền đơn trên đường phố Hà Nội thông báo với "nhân dân Pháp" rằng chính phủ Việt Nam sẵn lòng tồn tại hòa bình trong Liên hiệp Pháp, rằng chiến tranh nổ ra là do "bọn thực dân phản cách mạng tìm cách chia rẽ và gây chiến”. Ngày 23 tháng 12, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư cho Marius Moutet, Bộ trưởng Bộ các lãnh thổ thuộc địa, và tướng Henri Leclerc, đề nghị một cuộc họp giữa đại diện cả hai bên. Nhưng những nỗ lực ngoại giao hòa bình đã không được thực dân Pháp chu ý, quân Pháp muốn có phản ứng quân sự mạnh trước khi tính đến chuyện đàm phán. Emile Bollaert, Cao ủy Pháp mới được bổ nhiệm từ tháng 3 năm 1947, được tướng Leclerc khuyên "đàm phán bằng mọi giá" đã cố gắng đánh lên Việt Bắc . Ngày 23 tháng 4, qua Bộ trưởng Bộ ngoại giao Việt Nam Hoàng Minh Giám, Hồ Chủ tịch lại gửi thông điệp tới Bollaert đề nghị ngừng bắn lập tức và đàm phán. Tự tin vào ưu thế quân sự, Bollaert đáp lại bằng một loạt các điều kiện đòi quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hạ vũ khí trước khi khôi phục hòa bình. Hồ Chí Minh từ chối thẳng các yêu cầu này khi Paul Mus đến chiến khu Việt Bắc gặp ông để truyền đạt thông điệp trên. Mùa hè năm 1947, lực lượng chủ lực của quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có khoảng 60.000 người, chưa kể tự vệ và du kích địa phương. Vũ khí thiếu, chủ yếu là do tự tạo và lấy được của Pháp. Yếu về hỏa lực nhưng cơ động và có hỗ trợ lớn của nhân 25 Nguyễn Quang Ngọc (2006), Tiến trình Lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, Tr.307-308
  20. dân, các tiểu đoàn Việt Nam ngày càng có khả năng tránh các trận càn của Pháp và tấn công đối phương lại những nơi mình lựa chọn. Ngày 7 tháng 10 năm 1947, cuộc hành quân Léa tấn công vào chiến khu Việt Bắc bắt đầu. Quân Pháp tiến nhanh nhưng đã sai lầm khi định vị được những nơi đóng các cơ quan đầu não của đối phương. Lực lượng vũ trang của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhanh chóng được phân tán, sử dụng chiến thuật du kích, bất thần phục kích quân Pháp ở những khu vực hiểm yếu. Sau 2 tháng hành binh mà không đạt được kết quả như muc tiêu ban đầu, quân Pháp đã phải tháo chạy khỏi Việt Bắc. . Sau chiến dịch Léa, xung đột lặng xuống. Thiếu phương tiện để tiếp tục các chiến dịch tấn công, quân Pháp chỉ giới hạn trong các hoạt động vừa phải ở đồng bằng. Nhưng cũng tại đồng bằng, lực lượng vũ trang Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được phân tán thành các đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung, tổ chức thêm các đội du kích hoạt động bán công khai, sống tại nhà, vừa làm ruộng vừa chiến đấu, thực hiện các hoạt động quấy rối quân Pháp. Các cán bộ Việt Minh vẫn đi lại tuyển quân, thu thuế trong vùng Pháp kiểm soát. Những vùng này vẫn tiếp tục là nơi cung cấp một số loại nhu yếu phẩm như thuốc men, lương thực, vải vóc cho Việt Nam. Tại các chiến khu, chính quyền Việt Nam củng cố căn cứ, tổ chức tự sản xuất lương thực và vũ khí để có thể kháng chiến lâu dài. Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée, thành lập Quốc gia Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, đứng đầu là Quốc trưởng Bảo Đại. Tuy nhiên, chính quyền Quốc gia Việt Nam non trẻ rất yếu ớt do các quyền quan trọng về quân sự, tài chính và ngoại giao đều do người Pháp nắm giữ và quyền hành cao nhất trên thực tế là Cao ủy Pháp. . 4.2.2.Cuộc kháng chiến chống Pháp phát triển và kết thúc thắng lợi (1950-1954). Năm 1950, Chiến tranh Đông Dương có sự thay đổi quan trọng, chuyển sang một giai đoạn mới. Về phía Pháp, chiến tranh đã vào thế sa lầy tuy họ đã dùng đến 40-45% ngân sách quân sự và 10% ngân sách quốc gia. Với sự nổ ra của Chiến tranh Triều Tiên vào tháng 6 năm 1950, Mỹ thay đổi thái độ về Chiến tranh Đông Dương, coi Triều Tiên và Việt Nam là hai chiến trường phụ thuộc lẫn nhau trong cuộc chiến của phương Tây chống lại chủ nghĩa cộng sản, tổng thống Mỹ Truman tuyên bố sẽ viện trợ quân sự trực tiếp cho các nỗ lực của Pháp tại Đông Dương. Đầu năm 1949, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau đó Liên Xô, CHDCND Triều Tiên, Nam Tư và các nước Đông Âu lần lượt thiết lập quan hệ ngoại giao. Việt Nam đã nối liền với hậu phương XHCN. Thành công của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong Chiến dịch Biên giới Thu đông 1950 đã phá được thế bị cô lập của căn cứ địa Việt Bắc, khai thông dải biên giới Việt - Trung từ Cao Bằng tới Vịnh Bắc Bộ để mở đầu cầu tiếp nhận viện trợ. Quân đội Nhân dân Việt Nam bắt đầu chuyển sang thế chủ động tấn công. Năm 1950, các lực lượng vũ trang của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được hoàn chỉnh về biên chế, thống nhất với tên gọi Quân đội Nhân dân Việt Nam.
  21. Sau chiến dịch Biên giới, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam nhận được sự chi viện của các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa. Cũng từ năm 1950 trở đi, Mỹ ngày càng can thiệp sâu vào các nước ở bán đảo Đông Dương. Đến năm 1954, viện trợ quân sự của Mỹ đã chiếm 73% tổng ngân sách chiến tranh của Pháp ở Đông Dương. Tướng Đơ Lat đơ Tatxinhi (De Lattre de Tassiny) được cử sang chỉ huy ở Đông Dương. Đơ Lat vạch kế hoạch tác chiến với nội dung chủ yếu là phải xây dựng lực lượng chủ lực cơ động mạnh, tăng cường lực lượng nguỵ quân; xây dựng tuần phòng ngự bao quanh vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ để ngăn chặn chủ lực ta, tăng cường bình định vùng địch tạm chiếm, tiến công phá căn cứ của ta và chuẩn bị tiến công ra chiếm vùng tự do. Giải pháp chiến tranh mới của địch cũng như sự can thiệp ngày càng trắng trợn của Mỹ ở Việt Nam và Đông Dương làm cho cuộc kháng chìến của nhân dân ta gặp không ít khó khăn. Chỉ riêng ở chiến trường đồng bằng Bắc Bộ, hàng trăm làng bị địch chiếm lại, nhiều khu căn cứ du kích bị địch đánh phá. Tuy nhiên, với nỗ lực phi thường của quân và dân ta, được sự giúp đỡ của các nước trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa, công cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam vẫn phát triển không ngừng và đã làm thất bại những cố gắng của địch trong những năm 1951-1952. Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ hai (1951) là cột mốc quan trọng trong tiến trình lịch sử cách mạng của nhân dân 3 nước Đông Dương. Đại hội đã quyết định lập Đảng mác xít riêng cho Việt Nam, Lào và Campuchia để tạo điều kiện cho cách mạng mỗi nước phát triển trong tình hình mới. Đại hội đã thông qua nhiều văn kiện quan trọng về cách mạng Việt Nam và tổ chức Đảng trong hoàn cảnh mới, nêu rõ nhiệm vụ lâu dài của cách mạng Việt Nam, đặc biệt nhấn mạnh mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và dân chủ trong thời kỳ vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Hệ thống chính quyền kháng chiến các cấp được củng cố từ trung ương xuống cơ sở, phẩm chất đạo đức cách mạng và năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ hành chính được nâng cao; các Bộ đã phát huy được vai trò quản lý nhà nước, điều hành kháng chiến, kiến quốc theo nhiệm vụ đã được Quốc hội và Chính phủ quy định. Cùng với đà phát triển của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nền kinh tế ngày càng thu được những thành tựu quan trọng mới. Nông nghiệp văn là nhân tố quan trọng nhất trong cơ cấu kinh tế nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Năm 1953, Luật Cải cách ruộng đất được ban hành. Đến trước tháng 5-1954, hàng triệu nông dân đã được chia hàng chục vạn hecta ruộng đất của địa chủ Việt gian, thực dân và ruộng đất vắng chủ. Đến năm 1953-1954, sản lượng lương thực vùng giải phóng đạt gần 3 triệu tấn(9). Kết quả của quá trình thực hiện từng bước chính sách ruộng đất đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong giai đoạn quyết định cuối cùng. Ngành công nghiệp, đặc biệt công nghiệp quốc phòng vẫn được chú trọng phát triển, đã đáp ứng được ngày càng nhiều hơn việc cung cấp vũ khí cho bộ đội đánh địch trên các chiến trường. Các bộ phận tiểu thủ công nghiệp vẫn đảm bảo cung cấp đủ những
  22. mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống dân sinh và quốc phòng. Ngành thương nghiệp, bao gồm khu vực do Nhà nước quản lý và tư nhân có phát triển hơn thời kỳ trước. Văn hóa giáo dục trong vùng giải phóng có bước phát triển to lớn kể từ khi thực hiện chính sách cải cách giáo dục năm 1950. Số học sinh cấp I, II, III, trong vùng tự do lên đến khoảng 1 triệu; hàng nghìn cán bộ kỹ thuật đã được đào tạo ; một số sinh viên, cán bộ đã được gửi đi đào tạo ở nước ngoài. Cơ sở y tế, chăm sóc sức khỏe cho bộ đội và nhân dân được mở rộng. Các tác phẩm văn hóa nghệ thuật được sáng tác ngày càng phong phú. Sinh hoạt văn hoá quần chúng ngày càng được chú trọng. An ninh trật tự vùng giải phóng ngày càng bảo đảm. Đời sống của nhân dân, bộ đội, cán bộ hành chính được cải thiện một bước. Nạn đói và nhiều loạt dịch không còn hoành hành như trước. Quan hệ quốc tế giữa nước ta và các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển. Trung Quốc và Liên Xô đã chi viện cho Việt Nam một số quân trang, quân dụng, thuốc men, lương thực và thực phẩm. Nền dân chủ cộng hòa được củng cố và ngày càng phát triển là nhân tố quyết định đến thắng lợi trên mặt trận quân sự. Thực hiện chủ trương tiến công sâu vào vùng địch hậu, tiêu diệt địch, phá thế kìm kẹp của chúng, lực lượng vũ trang cách mạng đã mở nhiều chiến dịch ở vùng trung du và đồng bằng vào đầu những năm 1950. Chiến dịch Trần Hưng Đạo (từ 25-12-1950 đến 17-l-1951): Đại đoàn 308 và 312 cùng hai trung đoàn độc lập và bộ đội địa phương tiến công tiêu diệt địch ở tuyến phòng thủ vòng ngoài của chúng, kéo dài từ Việt Trì đến Bắc Giang, mở rộng vùng giải phóng ra khu vực có nguồn lương thực tương đối dồi dào, từ đó phát động chiến tranh du kích ở vùng địch hậu tại Liên khu III. Chiến dịch Hoàng Hoa Thám (29-3 đến 5-4-1951) : Đại đoàn 308 và 312 cùng một số trung đoàn độc lập tiến công địch ở tuyến quốc lộ 18, đoạn từ Phả Lại đến Uông Bí, Mạo Khê. Mục tiêu của chiến dịch nhằm tiêu diệt lực lượng dịch đồn trú ở đây, tạo đà cho chiến tranh du kích ở địa phương phát triển. Chíến dịch Quang Trung (28-5 đến 20-6-1951 ): Đại đoàn 308, 304 và 320 cùng một số đơn vị hoả lực phối thuộc, có nhiệm vụ tiến công địch trong vùng sâu thuộc các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá tan lực lượng ngụy quân, tạo thế cho cuộc chiến tranh nhân dân phát triển ở vùng đông dân, giành lấy địa bàn quan trọng về kinh tế. Qua 3 chiến dịch ở, trung du và đồng bằng đã để lại nhiều bài học trong việc tổ chức chiến đấu cho lực lượng vũ trang cách mạng. Cuộc chiến đấu quyết liệt giữa bộ đội chủ lực của ta với lực lượng địch đóng trên các địa bàn trên chứng tỏ dù ta có quyết tâm lớn, dù có trận bộ đội ta đông hơn địch, nhưng trước mắt ta chưa thể giành thắng lợi lớn. Rút bài học từ các chiến dịch ở trung du và đồng bằng, bộ đội chủ lực đã tiến công địch ở những địa bàn phù hợp với sở trường của lực lượng vũ trang cách mạng.
  23. Chiến dịch Hoà Bình: Tháng 11-1951, địch sử dụng lực lượng cơ động chiến lược khoảng 30 tiểu đoàn đánh chiếm Hòa Bình, cửa ngõ nối tình tự do với đồng bằng Bắc Bộ. Sau hơn hai tháng chiến đấu (từ 10-12-1951 đến 25-2-1952), 3700 quân địch trên cả hai mặt trận đã bị loại khỏi vòng chiến đấu ; vùng giải phóng và khu căn cứ du kích đều được mở rộng, tạo thành thế liên hoàn trong nhiều tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Chiến thắng Hoà Bình đã đẩy địch sâu vào thế bị động phòng ngự báo hiệu kế hoạch Đơ Lat nhất định thất bại. Chiến dịch Hòa Bình tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội ở các chiến trường Bình Trị Thiên, Nam Trung Bộ, Nam Bộ đẩy mạnh chiến tranh du kích, mở rộng vùng giải phóng. Chiến dịch Tây Bắc: Cuối năm 1952, bộ đội được lệnh tiến công địch ở Tây Bắc nhằm mục đích tiêu diệt sinh lực địch, giành dân, mở rộng vùng giải phóng. Sau gần hai tháng chiến đấu (từ 14-10 đến 10-12-1952) ta đã diệt 6000 địch, mở rộng vùng giải phóng liền với căn cứ địa Việt Bắc. Phối hợp với chiến dịch Tây Bắc, chiến tranh du kích phát triển khắp các chiến trường. Phối hợp cùng bộ đội Pa thét Lào, đầu năm 1953, các đại đoàn chủ lực Việt Nam mở chiến dịch Thượng Lào. Đây là chiến dịch đánh lần đầu tiền của liên quân Lào-Việt trên đất bạn. Sau hơn một tháng vận động truy kích, tiêu diệt địch, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 3000 tên, giải phóng khoảng 1/5 diện tích nước Lào. Thắng lợi đó chứng tỏ cách mạng Đông Dương đang vươn lên giành thế chủ động trên khắp các chiến trường. • Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ Sự sa lầy của Pháp ở Đông Dương càng tạo điều kiện cho Mỹ can thiệp sâu và tìm cách gạt Pháp. Tuy nhiên, cả hai tên thực dân đều muốn tìm giải pháp mới hòng đảo ngược tình thế trên chiến trường. Tướng Nava (Navarre) được điều sang Đông Dương để thực hiện mưu đồ đó. Nava vạch ra kế hoạch tác chiến gồm hai bước: Bước một (từ thu đông 1953 - xuân 1954): Phòng ngự chiến lược ở chiến trường miền Bắc, bình định miền Nam, xoá bỏ vùng tự do Liên khu V. Bước hai (từ mùa thu 1954): Tiến công chiến lược miền Bắc, từ thắng lợi quyết định về quân sự, buộc ta đàm phán theo điều kiện có lợi cho Pháp. Muốn thực hiện ý đồ đó, điều quan trọng nhất là phải tập trung khối cơ động mạnh mới có thể giành thắng lợi với ta trong trận quyết chiến chiến lược. Từ mùa hè năm 1953, Nava bắt đầu thực hiện bước thứ nhất. Địch mở liên tiếp nhiều cuộc hành quân trên các chiến trường và ra sức tập trung lực lượng cơ động. Cuối năm 1953, Nava đã tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ 44 tiểu đoàn. Trước khi trận quyết chiến lược Điện Biên Phủ mở màn, qua mấy tháng đấu trí, đấu lực ở giai đoạn đầu của chiến cuộc đông xuân 1953-1954, địch đã hoàn toàn bị động chiến lược. Trong khi đó, thế trận chiến tranh nhân dân của ta đã phát triển và lớn mạnh chưa từng có. Là sản phẩm của thế bị động, nhưng thực dân Pháp được Mỹ giúp sức đã nhanh chóng biến Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm rất mạnh. Địch có 16.200 quân, bao gồm lực lượng bộ binh tương đương khoảng 14 tiểu đoàn, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu
  24. đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội xe vận tải một liên đội 12 máy bay. Tập đoàn Điện Biên Phủ có 49 cứ điểm đề kháng mạnh với 3 phân khu liên hoàn. Các tướng lĩnh và chính khách cả Pháp và Mỹ tin chắc Điện Biên Phủ là "pháo đài bất khả xâm phạm". Tổng số bộ đội của ta tham gia chiến dịch khoảng 55.000 người, gồm 5 đại đoàn (308,312,316,304,351 ) cùng các tiểu đoàn thuộc đơn vị công binh, vận tải, thông tin, quân y phối thuộc. Lực lượng phục vụ chiến dịch có 260.000 dân công hỏa tuyến, hơn 600 xe ô tô, 20.000 xe đạp thồ và 11.800 thuyền. Hàng chục tấn đạn dược, gần 3 vạn tấn gạo từ hậu phương được dồn ra mặt trận. 13 giờ ngày 13-3-1954, quân ta nổ súng tiến công Điện Biên Phủ. Đây là chiến dịch lớn nhất trong lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân cả nước: Lực lượng bộ đội được huy động đông nhất, với trang bị hiện đại nhất lúc đó; tiến hành chiến dịch liên tục, dài ngày, bao gồm một loạt trận đánh công kiên; kết hợp cường tập, mật tập, vây lấn; ưu thế binh lực trong từng trận đánh nói riêng và toàn bộ chiến dịch nói chung, ta mạnh hơn địch nhiều lần. Sau 3 đợt tiến công đến ngày 7-5-1954, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của địch hoàn toàn bị tiêu diệt, 16.200 tên, kể cả bộ chỉ huy mặt trận của địch bị tiêu diệt hoặc bị bắt sống. Toàn bộ kho tàng, vũ khí của địch bị thu hoặc bị phá hủy, 57 máy bay địch bị bắn rơi. Trong khi bộ đội tiến hành chiến dịch Điện Biên Phủ, quân và dân cả nước đã phối hợp nhịp nhàng, tiến công địch khắp nơi. Những thắng lợi từ mặt trận chính (dội về đã thúc đẩy cuộc chiến đấu ở các địa phương phát triển. Ngược lại, cuộc chiến đấu và chiến thắng của chiến trường cả nước càng làm cho quân viễn chinh Pháp, ở Điện Biên Phủ thêm cô lập, tuyệt vọng. Chiến thắng Điện Biên Phủ là kết quả trực tiếp, cao nhất của chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và là đỉnh cao của 9 năm kháng chiến thần thánh của dân tộc ta. Chiến thắng lịch sử này đã tạo điều kiện căn bản cho cuộc đấu tranh ngoại giao thắng lợi. Một ngày sau khi Pháp thất thủ ở Điện Biên Phủ, Hội nghị quốc tế về chấm dứt chiến tranh họp ở Giơnevơ đã bắt đầu bàn về vấn đề Đông Dương. Hội nghị có đại diện của 9 nước Liên Xô, Trung Quốc, Pháp, Mỹ, Anh, Campuchia, Lào, đại diện của chính quyền Bảo Đại và đoàn đại biểu của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà do Phạm Văn Đồng dẫn đầu. Đại diện của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà tuyên bố lập trường trước sau như một của nhân dân Việt Nam là lập lại hoà bình ở Đông Dương phải là một giải pháp toàn bộ về chính trì và quân sự cho cả 3 nước Đông Dương, trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước. Ngày 21-7-1954, các hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Lào và Campuchia được ký kết. Bản tuyên bố cuối cùng về lập lại hoà bình ở Đông Dương được các nước tham dự hội nghị cam kết chính thức chấp nhận. Đại diện chính phủ Mỹ ra tuyên bố riêng thừa nhận Hiệp định.
  25. Nội dung của Hiệp định Giơnevơ có 13 điều khoản, gồm các nội dung chính: - Chấm dứt chiến sự, lập lại hoà bình ở Đông Dương. - Cấm các nước ngoài đưa nhân viên quân sự và xây dựng căn cứ quân sự ở Đông Dương. Lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời cho hai miền Bắc-Nam. - Thừa nhận nguyên tắc về độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia . - Các bên tham gia hội nghị thừa nhận quyền độc lập, thống nhất, chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam. Hai bên Việt Nam sẽ tiến hành Tổng tuyển cử vào tháng 7-1956. - Quân đội Pháp rút khỏi Đông Dương. Pháp cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thố của Lào và Campuchia. - Những nguyện tắc trong quan hệ giữa 3 nước Đông Dương là tôn trọng chủ quyền độc lập, thống nhất. không can thiệp vào nội bộ của nhau. Với giải pháp Giơnevơ, nhân dân Việt Nam đã đi được một nửa chặng đường trong sự nghiệp thiêng liêng giải phóng Tổ quốc, biểu hiện sinh động rằng trước khi giành thắng lợi hoàn toàn. vì một quốc gia nhỏ như Việt Nam phải đương đầu với thế lực xâm lược lớn. trong bối cảnh quan hệ quốc tế lúc đó, thì cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân ta sẽ diễn ra phức tạp, lâu dài, gian khổ. Ngày 22-7-1954. Chủ tịch Hồ Chí minh ra lời kêu gọi đồng bào cả nước: "Đấu tranh để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ cũng là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ”. Người khẳng định: “Trung, Nam, Bắc đều là bờ cõi của nước ta, nước ta nhất định thống nhất, đồng bào cả nước nhất định được giải phóng”.26 4.3. VIỆT NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 – 1975) 4.3.1. Tình hình Việt Nam sau Hiệp định Giơnevơ 1954 Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương được ký kết đã kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đối với ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Chúng ta đã thực hiện nghiêm chỉnh những điều khoản quy định về đình chiến, tập kết chuyển quân và chuyển giao khu vực. Nhưng phía Pháp chỉ thực hiện khi có những đấu tranh mạnh mẽ và kiên quyết của nhân dân ta. Ngày 10-10-1954, quân Pháp rút khỏi Hà Nội. Cùng ngày, quân ta tiến vào tiếp quản. Thủ đô giải phóng rợp cờ, hoa, biểu ngữ, vang dậy tiếng hoan hô của đồng bào mừng đón đoàn quân chiến thắng trở về. Ngày 1-1-1955, tại quảng trường Ba Đình lịch sử đã diễn ra cuộc mít tinh trọng thể của hàng chục vạn nhân dân Hà Nội chào mừng Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh về Thủ đô. Ngày 16-5-1955, toán lính Pháp cuối cùng rút khỏi Hải Phòng, và đến ngày 22-5- 1955 thì rút khỏi đảo Cát Bà. Miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng. 26 Nguyễn Quang Ngọc (2006), Tiến trình Lịch sử Việt Nam,(Sđ ) Tr.315-324.
  26. Khi rút quân, Pháp mang theo hoặc trước đó đã phá hỏng nhiều máy móc, thiết bị, tài sản để gây khó khăn cho ta. Pháp còn cùng với Mỹ và Ngô Đình Diệm chỉ đạo bọn phản động tiến hành dụ dỗ, cưỡng ép nhiều đồng bào công giáo vào Nam để thực hiện ý đồ phung phá cách mạng về sau. Trong khi đó, ở miền Nam, thực dân Pháp cũng có những hành động phá hoại Hiệp định mới được ký kết. Quân Pháp rút toàn bộ khỏi miền Nam Việt Nam khi còn nhiều điều khoản Hiệp định có liên quan đến trách nhiệm của họ chưa được thi hành, trong đó có điều khoản về việc tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử hai miền Bắc-Nam Việt Nam. Pháp trút bỏ trách nhiệm thi hành những điều khoản còn lại của Hiệp định cho Mỹ-Diệm, người kế tục chúng ở miền Nam. Đế quốc Mỹ ra sức thực hiện ý đồ đã vạch ra từ trước nhằm độc chiếm miền Nam Việt Nam, tiến tới độc chiếm toàn Đông Dương. Ngày 25-6-1954 Mỹ đã ép được Pháp đưa Ngô Đình Diệm (người của Mỹ) thay Bửu Lộc (người của Pháp) lên làm Thủ tướng Chính phủ bù nhìn miền Nam Việt Nam. Ngày 23-7-1954, ngoại trưởng Mỹ Đa lét (Dulles) tuyên bố: "Từ nay về sau, vấn đề bức thiết không phải là than tiếc dĩ vãng, mà là lợi dụng thời cơ để việc thất thủ miền Bắc Việt Nam không mở đường cho chủ nghĩa cộng sản bành trướng ở Đông Nam Á và Tây Nam Thái Bình Dương". Tháng 9-1954, Mỹ lôi kéo được một số đồng minh như Pháp, Anh và một số nước Đông Nam Á lập ra khối "Liên minh quân sự Đông - Nam Á" (SEATO) và ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối này. Đưa được tay sai lên nắm chính quyền ở miền Nam Việt Nam, gạt hết quân Pháp và tay sai của chúng ra khỏi miền Nam, Mỹ đã thực hiện được bước đầu ý đồ độc chiếm miền Nam Việt Nam. Chính quyền Ngô Đình Diệm, với sự giúp đỡ và có sự chỉ đạo của Mỹ, ra sức phá hoại Hiệp định Giơnevơ, từ chối hiệp thương với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà về việc tổ chức tổng tuyển cử tự do trong cả nước để thống nhất Việt Nam trong thời hạn hai năm theo điều khoản của Hiệp định. Đến hạn hai năm, tháng 7-1956, Diệm tuyên bố. "Sẽ không có hiệp thương tổng tuyển cử, vì chúng ta không ký Hiệp định Giơnevơ, bất cứ phương diện nào chúng ta cũng không bị ràng buộc bởi Hiệp định đó". Bằng một loạt hành động trái với hiệp định, như bầy trò "trưng cầu dân ý" để phế truất Bảo Đại rồi suy tôn Ngô Đình Diệm làm Tổng thống (tháng 10-1955), tổ chức bầu cử riêng rẽ, lập quốc hội lập hiến (tháng 5 -1956), ban hành hiến pháp của cái gọi là "Việt Nam cộng hoà" (tháng 10-1956), Diệm đã trắng trợn từ chối và phá hoại việc thống nhất Việt Nam. Trong tình hình đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền, Đảng và Chính phủ đề ra cho cách mạng mỗi miền những nhiệm vụ chiến lược phù hợp với đặc điểm tình hình và yêu cầu của cách mạng từng miền, nhằm chấm dứt tình trạng đất nước bị chia cắt.
  27. Ở miền Bắc, sau khi kháng chiến chống Pháp kết thúc, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân căn bản hoàn thành, Đảng chủ trương chuyển sang xây dựng chủ nghĩa xã hộilà hậu phương cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn dân tộc. Ở miền Nam, Đảng chủ trương tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, phát triển thành cuộc chiến tranh nhân dân, chiến tranh giải phóng dân tộc chống cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ, nhằm giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước Hai miền đồng thời thực hiện những nhiệm vụ, mục tiêu chung của cách mạng cả nước là đánh Mỹ và bọn tay sai của chúng, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thống nhất đất nước, tạo điều kiện để cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới. 4.3.2.Công cuộc xây dựng miền Bắc (1954-1960) Trong năm 1954 và đầu năm 1955, Trung ương Đảng, Chính phủ và Quốc hội đã ra chiếu chỉ thị, chủ trương khôi phục kinh tế. Kế hoạch khôi phục kinh tế trong 3 năm (1955-1957) là phấn đấu đạt các chỉ tiêu kinh tế trước chiến tranh. Nông nghiệp: Thực hiện cải cách ruộng đất trong những năm 1954-1956 không chỉ nhằm thực hiện nhiệm vụ cách mạng dân chủ, chia ruộng đất cho nông dân, mà nó còn có ý nghĩa quyết định trong khôi phục và phái triển kinh tế nông nghiệp. Từ đợt 1 đến đợt V, cải cách ruộng đất được tiến hành trong 3653 xã, đã chia khoảng 334.100 ha ruộng đất cho khoảng 2 triệu hộ nông dân không có hoặc thiếu ruộng. Sau cải cách ruộng đất, các tầng lớp nông dân có diện tích canh tác tương đối đồng đều. Do nông dân thực sự được quyền sở hữu ruộng đất và do các chính sách khuyến nông như, thủy lơi, phân bón, sức kéo nền nông nghiệp được phục hồi nhanh chóng. Đến năm 1957, sản lượng lúa của miền Bắc đạt khoảng 4 triệu tấn, tăng hơn 1,5 triệu tấn so với năm 1939. Về công nghiệp: Hầu hết các cơ sở sản xuất cũ được khôi phục, hơn 50 cơ sở mới, chủ yếu thuộc ngành sản xuất tiêu dùng được xây dựng. Bên cạnh việc xây dựng cơ sơ sản xuất quốc doanh, khu vực công nghiệp tư nhân bao gồm các cơ sở sản xuất tư bản tư doanh và tiểu thủ công nghiệp được khuyến khích phát triển. Ngành văn hoá giáo dục phát triển khá nhanh. Hệ thống giáo dục từ phổ thông đến đại học được tiêu chuẩn hóa một bước. Năm học 1956-1957, có gần 1 triệu học sinh phổ thông, hơn 600.000 học sinh vỡ lòng, 2984 sinh viên đại học, gần 8000 học sinh chuyên nghiệp trung cấp. Hơn 1 triệu người được xoá nạn mù chữ. Hệ thống y tế, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được nhà nước quan tâm xây dựng. Nếp sống lành mạnh, vệ sinh được vận động thực hiện khắp mọi nơi. Đến năm 1957, miền Bắc có 153 cơ sở điều trị, 108 đội y tế lưu động, khoảng 8000 cán bộ y tế từ bác sĩ đến y tá. Những nạn dịch rất phổ biến ở miền Bắc như đau mắt hột, sốt rét không còn xuất hiện nhiều như trước nữa. Tuy nhiên trong buổi đầu xây dựng đất nước không thể tránh khỏi những khuyết điểm hạn chế. Những sai lầm trong khi thực hiện cải cách ruộng đất ảnh hưởng lớn đến tư
  28. tưởng quần chúng nhân dân, nhất là tầng lớp tư sản, tiểu tư sản, trí thức. Lực lượng trong và ngoài nước lợi dụng tình hình đó đã đẩy mạnh hoạt động thổ phỉ ở một số vùng miền núi, gây bạo loạn ở một số nơi ở vùng đồng bằng; nhóm Nhân văn giai phẩm ra nhiều ấn phẩm chống lại vai trò lãnh đạo của Đảng. Đánh giá đúng nguyên nhân của các sự kiện trên, một mặt, Đảng và chính phủ nghiêm khắc sửa chữa sai lầm của mình, mặt khác, tuyên truyền giáo dục, phân hoá những người lầm đường trở về với sự nghiệp chung của dân tộc. Đối với những phần tử đầu sỏ, ngoan cố, nhà nước kiên quyết xử lý theo pháp luật. Trong ba năm khôi phục kinh tế, nền kinh tế miền Bắc được phục hồi, phát triển với sự hiện diện của nhiều thành phần kinh tế. Trên 10 vạn người thất nghiệp ở Hà Nội, Hải Phòng và các thị xã, thị trấn trên miền Bắc đã có việc làm ổn định. Đời sống nhân dân dần được nâng cao. Với những thành tựu thu được trong thời kỳ khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá xã hội (1955-1957), miền Bắc đã cơ bản khắc phục được hậu quả của chiến tranh. Đây là thời đoạn lịch sử quá độ chuẩn bị cho miền Bắc bước vào thời kỳ mới. Trong thời kì cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958-1960) Hội nghị lần thứ 14 Ban chấp hành Trung ương Đảng ) tháng 11-1958 vạch chủ trương thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế tư bản tư doanh, tiểu thương tiểu chủ, thợ thủ công và nông dân cá thể. Đi đôi với quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa. Hội nghị xác định phải ra sức xây dựng, phát triển thành phần kinh tế quốc doanh. Trong kế hoạch 3 năm lần thứ hai, nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp có vị trí trọng tâm, quan trọng nhất. Phương hướng cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp là đưa nông dân vào làm ăn tập thể. Từ quý III năm 1958, một số hợp tác xã sản xuất nông nghiệp có vị trí trọng tâm, quan trọng nhất. Phương hướng cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp được xây dựng thí điểm. Năm 1959, phong trào phát triển khắp nơi và trở thành cao trào trong năm 1960. Đến cuối năm 1960, có 85,83% tổng sản xuất tập thể Chủ trương cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với lực lượng tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công là đưa họ vào con đường làm ăn tập thể trong các hợp tác xã thủ công nghiệp, tổ sản xuất thủ công nghiệp, hợp tác xã mua bán. Phần lớn lực lượng tiểu thương được chuyển sang sản xuất nông nghiệp. Đồng thời với nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa, công nghiệp quốc doanh được ưu tiên đầu tư xây dựng. Vốn đầu tư năm 1960 ở khu vực công nghiệp quốc doanh tăng 2.6 lần so với năm 1957. Vì vậy, có hàng trăm cơ sở sản xuất mới và tỷ trọng giá trị tổng sản lượng công nghiệp ngày một cao. Tỷ trọng công nghiệp quốc doanh và công ty hợp doanh chiếm 25.6% vào năm 1957 đã lên 58% tổng giá trị sản phẩm công nghiệp vào năm 1960. Tỷ trọng giữa công nghiệp và nông nghiệp năm 1957 là 31,4%/ 68,4% đã tăng lên 42,6%/ 57.4% vào năm 1960. Cải tạo xã hội chủ nghĩa đã làm thay đổi căn bản cơ cấu kinh tế-xã hội miền Bắc, đưa thành phần kinh tế toàn dân và tập thể thành vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế quốc dân.
  29. Văn hóa, giáo dục cũng thu được nhiều thành tựu to lớn. Vào năm học 1959-1960, miền Bắc có 6.300 trường, với 2,5 triệu học sinh, sinh viên, chiếm khoảng 17% dân số. Số học sinh phổ thông ở các cấp I, II, III và số sinh viên đại học tăng từ 2 đến 4 lần so với năm học 1956-1957. Số nữ sinh và học sinh các dân tộc miền núi đến trường ngày càng đông. Hệ thống y tế chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng phát triển khá nhanh. Số cơ sở điều trị, điều dưỡng, nhà hộ sinh tăng hơn 10 lần so với năm 1956. Các bệnh dịch lây lan với quy mô và phạm vi lớn ở miền Bắc căn bản không còn nữa. Hệ thống chính trị được củng cố, hoàn thiện. Hiến pháp mới của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã được ban hành ngày 1-1-1960. Cơ quan hành chính các cấp từ trung ương đến cơ sở tuy giảm về số lượng biên chế, nhưng hiệu quả công tác lại được nâng cao hơn trước. Lực lượng vũ trang cách mạng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Chế độ nghĩa vụ quân sự xác định nhập ngũ bảo vệ tổ quốc là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi công dân. Các sư đoàn chủ lực được trang bị binh khí kỹ thuật mới, tiến dần lên chính quy hiện đại. Bộ đội địa phương, dân quân du kích được tổ chức, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Lực lượng Công an nhân dân được kiện toàn về tổ chức, nghiệp vụ được nâng cao. Đến năm 1960, về căn bản, quân và dân miền Bắc đã tiêu trừ xong lực lượng phỉ và bọn bạo loạn. Thực hiện kế hoạch 3 năm lần thứ nhất (1955-1957) và 3 năm lần thứ hai 1 (1958- 1960) đã làm diện mạo miền Bắc thay đổi. 4.3.3. Đấu tranh chống Mỹ-Ngụy ở miền Nam Tháng 3 năm 1956, Mỹ Diệm tổ chức bầu cử Quốc hội ở miền Nam, lập chế độ việt Nam cộng hòa do Diệm làm Tổng thống. Sự kiện Mỹ Diệm lập quốc gia độc lập dân chủ ở miền Nam là cột mốc đánh dấu Mỹ đã áp đặt xong thể chế chính trị hoàn toàn phụ thuộc Mỹ ở miền Nam. Để gây dựng và duy trì chủ nghĩa thực dân kiểu mới, Mỹ đã tăng cường viện trợ mọi mặt cho Diệm. Lực lượng cột trụ để bảo vệ "Việt Nam cộng hòa" là quân đội Sài Gòn do Mỹ huấn luyện,chỉ huy. Mỹ nhanh chóng xây dựng 10 sư đoàn cho quân ngụy, với trang bị hiện đại. Sau khi dẹp xong lực lượng Việt quốc,Việt cách ở miền Trung: Diệm quay sang tiêu diệt lực lượng vũ trang của các giáo phái thân Pháp (Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên). Cuộc chiến giữa Diệm với lực lượng thân Pháp bùng nổ tại Sài Gòn và vùng bưng biền Đồng Tháp trong những năm 1954-1955 ở quy mô một cuộc chiến tranh, về thực chất là sự hất cẳng quân sự của chủ nghĩa thực dân kiểu mới đối với Pháp. Viện trợ tài chính cho Sài Gòn liên tục được tăng cường song song với sự hiện diện ngày càng nhiều cố vấn quân sự Mỹ. Các căn cứ quân sự hiện đại được xây dựng nhanh chóng. Lối sống Mỹ, văn hóa Mỹ du nhập và truyền bá vào miền Nam. Miền Nam có vị trí quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Mục tiêu của Mỹ ở đây là biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự, ngăn chặn "làn
  30. sóng đỏ" đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á, chống lại phong trào giải phóng dân tộc đang bùng nổ ở khu vực này. Khi Mỹ triển khai và đã áp đặt xong chủ nghĩa thực dân kiểu mới ở miền Nam, thì đối tượng đấu tranh của nhân dân ta không còn là chủ nghĩa thực dân kiểu cũ, mà đã chuyển sang chủ nghĩa thực dân kiểu mới - đế quốc Mỹ, một siêu cường có tiềm lực kinh tế và quân sự khổng lồ, hung hăng, hiếu chiến. Vì vậy, cuộc đấu tranh vì độc lập, thống nhất dân tộc của nhân dân ta chắc chắn sẽ diễn ra ác liệt gấp bội so với thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong 300 ngày chuyển quân tập kết, cán bộ và chiến sĩ chiến đấu, công tác ở miền Nam rời chiến trường ra Bắc. Chính quyền kháng chiến các cấp giải thể; vùng giải phóng rộng lớn ở miền Trung và Nam Bộ được giao cho đối phương quản lý. Nhìn trong phạm vi cục bộ, cuộc đấu tranh với Mỹ - Diệm của đồng bào, đồng chí ở lại miền Nam không còn có đủ những ưu thế giống như họ từng có trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng, nhân dân miền Nam đã chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương chuyển hướng chủ đạo chiến lược của Đảng với lực lượng chính trị của mình, đã kiên cường đấu tranh chống kẻ thù đang rắp tâm phá hoại hiệp định Giơnevơ, chống đàn áp, trả tthù những người kháng chiến cũ. Khẩu hiệu đấu tranh chính, chủ yếu của nhân dân miền Nam trong thời kỳ này là đòi hỏi đối phương phải thả tù chính trị, đòi thực hiện hiệp thương, tổng tuyển cử, thống nhất đất nước như Hiệp Định Giơnevơ đã quy định. Mục tiêu đó đã thu hút hàng triệu quần chúng xuống đường trong các năm từ 1954-1956. Ở Sài Gòn – Gia Định, có những cuộc míttinh, tuần hành lôi cuốn hàng chục vạn đồng bào tham gia. Từ ngày ký hiệp định Giơnevơ cho đến giữa năm 1956, lực lượng nhân dân miền Nam luôn chiếm ưu thế về chính trị. Tuy mục tiêu đấu tranh đòi hiệp thương Tổng tuyển cử không thực hiện được bởi Mỹ - Diệm ngoan cố chia cắt nước ta, nhưng phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam, của đồng bào đô thị đã thể hiện rằng thống nhất đất nước là nguyện vọng sâu sắc, thiêng liêng của nhân dân cả nước. Với kẻ thù mới, nhân dân miền Nam cần có phương hướng đấu tranh thích hợp để hoàn thành mục tiêu cách mạng của mình. 4.3.4. Miền Nam chiến đấu chống chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" và “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ (1960 – 1968) Để tránh thất bại hoàn toàn ở miền Nam Việt Nam sau cuộc "Đồng khởi" (1959- 1960), Mỹ buộc phải thay đổi chiến lược. Chiến tranh đặc biệt'’ là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ, được tiến hành bằng quân đội tay sai, dưới sự chỉ huy của hệ thống cố vấn quân sự và dựa vào vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh của Mỹ nhằm chống lại các lực lượng cách mạng và nhân dân ta. Âm mưu cơ bản của "Chiến tranh đặc biệt" là "dùng người Việt đánh người Việt". Thực hiện kế hoạch chiến lược trên, Mỹ tăng nhanh viện trợ quân sự cho Diệm, đưa vào miền Nam số lượng ngày càng lớn "cố vấn" quân sự và lực lượng hỗ trợ chiến
  31. đấu. Số lượng đó tăng lên hàng năm: cuối năm 1960 có 1.100 tên; cuối năm 1962 có 11.000 ; cuối năm 1964 có 26.000. Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (MACV) được thành lập tại Sài Gòn ngày 8-2-1962 thay cho Đoàn cố vấn viện trợ quân sự (MAAG) được thành lập năm 1950. Để phối hợp, chính quyền Sài Gòn ra sức bắt lính, tăng nhanh lực lượng quân ngụy, từ 170.000 (giữa 1961) lên 560.000 (cuối 1964). Quân ngụy được trang bị hiện đại, sử dụng phổ biến các chiến thuật mới, như "trực thăng vận", "thiết xa vận". Dựa vào lực lượng quân sự và bằng những cuộc hành quân càn quét, chính quyền Sài Gòn đã ráo riết dồn dân, lập “Ấp chiến lược” dự định dồn 10 triệu nông dân vào 16.000 ấp trong tổng số 17.000 ấp toàn miền Nam bằng thủ đoạn cưỡng ép. Chúng lập ấp đến đâu thì giăng đồn bốt, lập bảo an, dân vệ, chính quyền đến đó để kìm kẹp. Nhân dân trong các "Ấp chiến lược" bị kiểm soát gắt gao, ngột ngạt, như trong các trại tập trung. Ngày 15-2-1961, các lực lượng vũ trang cách mạng thống nhất thành Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Đây là sự kiện quan trọng tiếp sau sự kiện Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời (ngày 20-12-1960) và Trung ương Cục miền Nam Việt Nam được thành lập (tháng 1-1961) thay cho Xứ uỷ Nam Bộ cũ. Dưới ngọn cờ đoàn kết cứu nước của Mặt trận do Đảng lãnh đạo, Quân giải phóng miền Nam cùng với nhân dân đẩy mạnh đấu tranh chống Mỹ và tay sai, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, nổi dậy với tiến công trên cả ba vùng chiến lược, tiến công địch bằng cả ba mũi chính trị, quân sự và binh vận. Trên mặt trận quân sự, Quân giải phóng giành thắng lợi mở đầu vang dội trong trận Ấp Bắc (Mỹ Tho) ngày 2-1-1963. Tại đây, lần đầu tiên với số quân ít hơn địch 10 lần, Quân giải phóng đánh bại cuộc hành quân càn quét của trên 2.000 lính nguỵ có cố vấn Mỹ chỉ huy, được pháo binh, máy bay lên thẳng, xe tăng, xe bọc thép của Mỹ yểm trợ. Trên mặt trận chống phá "bình định", giữa địch và quân cách mạng đã diễn ra cuộc đấu tranh dai dẳng, giằng co nhau quyết liệt giữa lập và phá "Ấp chiến lược". Đến cuối năm 1964 đầu năm 1965, từng mảng lớn "Ấp chiến lược" do địch lập ra bị quân dân ta phá và có nhiều ấp sau đó trở thành làng chiến đấu. Phong trào đấu tranh chính trị lên cao ở các đô thị và nhiều vùng nông thôn rộng lớn. Đặc biệt ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, phong trào đã thu hút đông đảo quần chúng, nhất là giới phật tử, các tầng lớp học sinh, sinh viên tham gia. Chính phong trào này đã góp phần quyết định làm lung lay ngụy quyền Sài Gòn, buộc Mỹ phải đi đến quyết định làm đảo chính quân sự thay Diệm. Đông - Xuân 1964-1965, Quân giải phóng mở chiến dịch tiến công địch ở miền Đông Nam Bộ với trận mở màn chiến thắng ở Bình Giã (ngày 2-12-1964), làm phá sản về cơ bản chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ. 27 Đầu năm 1965, trước nguy cơ phá sản hoàn toàn của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh và quân chư hầu cùng với vũ khí, phương tiện 27 Nguồn:Lương Ninh 2000,Lịch sử Việt Nam giản yếu, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Tr.569-572.
  32. chiến tranh vào miền Nam nhằm đẩy mạnh chiến tranh xâm lược, chuyển sang chiến lược "Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam và mở rộng "Chiến tranh phá hoại" miền Bắc. "Chiến tranh cục bộ" là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới nằm trong chiến lược quân sự toàn cầu “phản ứng linh hoạt” của Mỹ. "Chiến tranh cục bộ" bắt đầu từ giữa năm 1965 được tiến hành bằng lực lượng của quân viễn chinh Mỹ, quân "đồng minh"1và quân ngụy tay sai ở miền Nam, trong đó quân Mỹ giữ vai trò quan trọng và không ngừng tăng lên về số lượng và trang bị, nhằm chống lại các lực lượng cách mạng và nhân dân ta. Ỷ vào ưu thế quân sự cộng với quân đông, vũ khí hiện đại, hoả lực mạnh, cơ động nhanh, Mỹ vừa mới vào miền Nam đã cho quân viễn chinh mở ngay cuộc hành quân “tìm diệt” mang tên "Ánh sáng sao" vào căn cứ của quân giải phóng ở Vạn Tường - Quảng Ngãi (tháng 8-1965). Tiếp đó Mỹ mở liền hai cuộc phản công chiến lược trong hai mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 bằng nhiều cuộc hành quân vào "Đất thánh Việt cộng” Nhưng với ý chí không gì lay chuyển "quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược", được sự phối hợp chiến đấu và chi viện ngày càng lớn của miền Bắc, quân dân miền Nam đã anh dũng chiến đấu và liên tiếp giành thắng lợi, với thắng lợi mở đầu ở Vạn Tường (ngày 18-8-1965). Khả năng thắng Mỹ trong "Chiến tranh cục bộ" của quân dân ta được chứng minh trong chiến thắng Vạn Tường đã trở thành hiện thực trong hai mùa khô 1965-1966 và 1966-1967. Ta đập tan liền hai cuộc phản công chiến lược bằng hàng loạt cuộc hành quân “tìm diệt” và "bình định" của Mỹ vào "Đất thánh Việt cộng". Tổng hợp trong mùa khô thứ hai, trên toàn miền, quân dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 151.000 tên địch, trong đó có 68.200 Mỹ, 5.540 chư hầu, bắn rơi và phá huỷ 1.231 máy bay, phá huỷ 1.627 xe tăng và xe bọc thép, 2.107 ôtô. Ngoài ra, ở hầu khắp các vùng nông thôn, nông dân được sự hỗ trợ của các lực lượng vũ trang, đã vùng lên đấu tranh chống ách kìm kẹp của địch, trừng trị bọn ác ôn, phá từng mảng lớn "Ấp chiến lược". Trong hầu hết các thành thị miền Nam, giai cấp công nhân, các tầng lớp lao động khác, học sinh, sinh viên, phật tử, các binh sĩ ngụy đều nổi dậy đấu tranh đòi Mỹ rút về nước, đòi tự do dân chủ. Kết quả là vùng giải phóng được mở rộng, uy tín của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế. Đến cuối năm 1967, Mặt trận có cơ quan thường trực ở hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa và ở một số nước thế giới thứ ba. Cương lĩnh của Mặt trận được 41 nước, 12 tổ chức quốc tế và 5 tổ chức có tính chất khu vực lên tiếng ủng hộ. Đêm 30 rạng sáng 31-1-1968, (đêm giao thừa Tết Mậu Thân) quân dân ta trên khắp miền Nam đồng loạt tiến công và nổi dậy ở 37 trong tổng số 44 tỉnh, 5 trong số 6 đô thị, 64 trong số 242 quận lỵ và ở hầu khắp các "Ấp chiến lược", các vùng nông thôn. Tại Sài Gòn, quân giải phóng tiến công tận các vị trí đầu não của địch, như toà Đại sứ Mỹ dinh "Độc lập", Bộ tổng tham mưu ngụy, Bộ tư lệnh biệt khu thủ đô, Tổng nha cảnh sát, Đài phát thanh, sân bay Tân Sơn Nhất Trong đợt 1, không đầy một
  33. tháng, quân dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 147.000 tên địch, trong đó có 43.000 lính Mỹ, phá huỷ một khối lượng lớn vật chất và phương tiện chiến tranh của chúng. Từ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình, đại diện cho tầng lớp trí thức, tư sản dân tộc tiến bộ ở các thành thị đã được thành lập ở Sài Gòn, Huế và toàn miền Nam. Đó là đòn bất ngờ làm cho đích choáng váng. Nhưng do lực lượng địch còn đông (hơn nửa triệu lính Mỹ, gần 1 triệu lính ngụy), cơ sở ở thành thị mạnh, chúng nhanh chóng tổ chức được lực lượng phản công lại quân ta ở cả thành thị lẫn nông thôn, lực lượng của ta gặp không ít khó khăn và tổn thất. 4.3.5. Miền Bắc chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965-1968). Cuối năm 1964 đầu năm 1965, đồng thời với việc đẩy mạnh chiến tranh xâm lược miền Nam, Mỹ mở rộng chiến tranh không quân và hải quân phá hoại miền Bắc. Ngày 5-8-1964, dựng lên "sự kiện vịnh Bắc Bộ", Mỹ cho máy bay ném bom, bắn phá một số nơi ở miền Bắc Ngày 7-2-1965, lấy cớ "trả đũa" việc quân giải phóng miền Nam tiến công doanh trại quân Mỹ ở Plâycu, Mỹ cho máy bay ném bom, bắn phá thị xã Đồng Hới, đảo Cồn Cỏ mở đầu chính thức cuộc chiến tranh không quân và hải quân phá hoại miền Bắc lần thứ nhất. Tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, Mỹ âm mưu : Phá tiềm lực kinh tế, quốc phòng, phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc ; ngăn chặn nguồn chi viện từ bên ngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam; uy hiếp tinh thần, làm lung lay quyết tâm chống Mỹ của nhân dân ta ở cả hai miền đất nước. Ngay từ khi Mỹ bắt đầu mở rộng chiến tranh phá hoại, miền Bắc đã kịp thời chuyển mọi hoạt động cho phù hợp với hoàn cảnh mới, thực hiện quân sự hoá toàn dân, đào đắp công sự chiến đấu, hầm hào phòng tránh, tiến hành triệt để sơ tán, phân tán người và của khỏi những vùng trọng điểm, những nơi đông dân, để tránh thiệt hại lớn, bảo đảm đời sống ổn định. Chống lại những hành động phá hoại của địch là nhiệm vụ của các lực lượng phòng không, không quân, của lực lượng hải quân, với vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại, và của cả lực lượng tự vệ, dân quân, của toàn dân, bất cứ trẻ già, trai gái với vũ khí thông thường, hễ địch đến là đánh, ai không trực tiếp chiến đấu thì phục vụ chiến đấu, lúc tạm thời yên ổn thì toàn dân tham gia sản xuất. Trong chiến đấu và sản xuất, phong trào thi đua chống Mỹ, cứu nước dâng cao, thể hiện sáng ngời chân lý : “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Các lực lượng vũ trang nhân dân nêu khẩu hiệu "Nhằm thẳng quân thù mà bắn", "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược". Giai cấp công nhân nêu quyết tâm "Chắc tay súng, vững tay búa", phấn đấu đạt "Ba điểm cao". Nông dân tập thể nêu quyết tâm "Chắc tay súng, vững tay cày", phấn đấu đạt "Ba mục tiêu'. Thanh niên có phong trào "Ba sẵn sàng", phụ nữ có phong trào "Ba đảm đang", giáo viên và học sinh có phong trào thi đua "Hai tốt", thiếu niên nhi đồng có phong trào "Làm nghìn việc tốt".
  34. Trong hơn bốn năm (từ ngày 5-8-1964 đến ngày 1-11- 1968), quân dân miền Bắc đã bắn rơi, phá huỷ 2.334 máy bay, trong đó có 6 chiếc B52, 3 chiến F111 ; diệt và bắt sống hàng nghìn giặc lái ; bắn cháy, bắn bị thương 143 tàu chiến, tàu biệt kích của chúng. Do bị thất bại nặng ở cả hai miền, đến ngày 1-11-1968, Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng hẳn ném bom, bắn phá miền Bắc. Nhờ những nỗ lực phi thường trong sản xuất, trong chiến đấu bảo vệ sản xuất của giai cấp công nhân, nông dân tập thể, của toàn dân, cùng với sự giúp đỡ to lớn, có hiệu quả của các nước xã hội chủ nghĩa và loài người tiến bộ, những nhu cầu của cuộc chiến đấu tại chỗ và ở miền Nam, cùng với những nhu cầu thiết yếu của đời sống nhân dân đã được đáp ứng. Ngay cả trong điều kiện chiến tranh ác liệt, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, miền Bắc vẫn hướng về miền Nam. Vì tiền tuyến kêu gọi, hậu phương sẵn sàng đáp lại "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người". Vì miền Nam ruột thịt, miền Bắc phấn đấu "Mỗi người làm việc bằng hai". Tuyến đường vận chuyển chiến lược Bắc - Nam mang tên Hồ Chí Minh trên bộ dọc theo dãy Trường Sơn và trên biển dọc theo bờ biển Việt Nam bắt đầu khai thông từ tháng 5-1959, dài hàng nghìn kilômét đã nối liền hậu phương tiền tuyến, thắt chặt tình cảm ruột thịt Bắc - Nam. Qua hai tuyến đường vận chuyển chiến lược đó, chủ yếu trên đường Trường Sơn, trong bốn năm (1965-1968) miền Bắc đã đưa hơn 300.000 cán bộ, bộ đội vào Nam tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu, tham gia các nhiệm vụ xây dựng kinh tế, văn hoá tại các vùng giải phóng, và cũng đã gửi vào Nam hàng chục vạn tấn hàng, gồm vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng, xăng dầu, lương thực, thực phẩm, thuốc men và nhiều vật dụng khác. Tính chung, sức người, sức của từ Bắc chuyển vào Nam trong bốn năm đã tăng gấp 10 lần so với thời kỳ trước. Đó là chưa kể hàng vạn chiến sĩ lái xe, lái tàu, công binh, thanh niên xung phong, giao liên làm nhiệm vụ đưa đón trên tuyến đường Trường Sơn. Nguồn lực chi viện trên cùng với thắng lợi của quân dân miền Bắc giành được trong chiến đấu và sản xuất, có tác dụng to lớn. Nó đã góp phần quyết định vào thắng lợi của quân dân miền Nam trong chiến đấu chống chiến tranh cục bộ của Mỹ - Ngụy 28. 4.3.6. Chống chiến lược “Việt nam hóa” và “Đông Dương hóa” chiến tranh. Đầu năm 1969, vừa trúng cử tổng thống và chính thức bước vào Nhà Trắng, Níchxơn cho ra đời "Học thuyết Níchxơn", đề ra chiến lược toàn cầu "Ngăn đe thực tế" thay cho chiến lược toàn cầu "Phản ứng linh hoạt" của Kennơđi đã bị phá sản trên thế giới và ở Đông Dương. Mỹ thực hiện thí điểm ở các nước Đông Dương chiến lược toàn cầu mới, đề ra chiến lược "Việt Nam hoá" chiến tranh, "Lào hoá" chiến tranh, "Khơme hoá" chiến tranh, và "Đông Dương hoá" chiến tranh. 28 Nguồn:Lương Ninh 2000,Lịch sử Việt Nam giản yếu, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Tr.573-576.