Tiểu luận Lịch sử Việt Nam - Lê Thanh Dung

doc 62 trang ngocly 27/05/2021 240
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tiểu luận Lịch sử Việt Nam - Lê Thanh Dung", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • doctieu_luan_lich_su_viet_nam_le_thanh_dung.doc

Nội dung text: Tiểu luận Lịch sử Việt Nam - Lê Thanh Dung

  1. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 TIỂU LUẬN Lịch sử Việt Nam Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 1
  2. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 MỤC LỤC Trang Phần mở đầu 02 Phần nội dung I. Quá trình hình thành khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam 04 I.1. Hoàn cảnh lịch sử cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX 04 1.1. Tác động của hoàn cảnh quốc tế đến Việt Nam 04 1.2. Tình hình trong nước 07 I.2. Sự du nhập của khuynh hướng dân chủ tư sản vào Việt Nam 14 2.1. Nguồn gốc của tư tưởng dân chủ tư sản 14 2.2. Các con đường du nhập vào Việt Nam 15 2.3. Cơ sở hình thành khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam 17 II. Những phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ 21 II.1. Phong trào đấu tranh trước chiến tranh thế giới thứ nhất 21 1.1. Điều kiện ra đời của phong trào 21 1.2. Các phong trào đấu tranh theo khuynh hướng dân chủ 23 1.3. Đặc điểm của các phong trào 35 II.2. Phong trào cách mạng sau chiến tranh thế giới thứ nhất 37 2.1. Điều kiện ra đời và phát triển của các phong trào 37 2.2. Nội dung của các phong trào yêu nước dân chủ sau chiến tranh 42 2.2.a. Phong trào ở nước ngoài 2.2.b. Phong trào đấu tranh trong nước 2.3. Đặc điểm của các phong trào dân chủ sau chiến tranh thế giới 49 II.4. Nguyên nhân thất bại của các phong trào theo khuynh 50 II.5. Vị trí của khuynh hướng dân chủ tư sản trong cuộc 55 Kết Luận 58 Tài liệu tham khảo 60 Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 2
  3. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 PHẦN MỞ ĐẦU Nghiên cứu lịch sử Việt Nam trong giai đoạn cận đại, một trong những vấn đề quan trọng là việc nhìn nhận, đánh giá vị trí và vai trò của khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Sự tồn tại của khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam nằm trong quy luật vận động của lịch sử. Nó tồn tại là tất yếu và sự thất bại của nó là do đặc điểm lịch sử, đặc điểm xã hội Việt Nam quy định. Tất cả đều chịu sự chi phối của quy luật vận động phát triển và có kế thừa, không thể phủ định sạch trơn. Bên cạnh mặt hạn chế hẳn còn những mặt tích cực khác. Do đó, khi nhận định khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam nên có sự đánh giá khách quan, có tính đến hoàn cảnh cụ thể và phải đặt nó trong tính biện chứng lịch sử. Cũng như bên cạnh sự thất bại, không đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi cuối cùng nhưng cũng không vì thế mà phủ nhận vai trò tích cực, tính tiến bộ của khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam trong phong trào giải phóng dân tộc. Vì nó đặt cơ sở xã hội cho sự tiếp thu tư tưởng mới-tư tưởng vô sản tiếp thu từ chủ nghĩa Mác-Lênin, một tư tưởng tiến bộ của thời đại để thay đổi vận mệnh đất nước. Nhờ có sự tồn tại khuynh hướng dân chủ tư sản mới chuẩn bị được tiền đề cho sự vận động sang một khuynh hướng mới, khuynh hướng vô sản. Dân chủ bấy giờ được xác định là một trong hai nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam. Trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, dân chủ càng được xem là mục tiêu, là động lực cho sự công bằng, đoàn kết tạo nên sức mạnh dân tộc, thành công cho công cuộc đổi mới. Tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân, vì dân muốn thực hiện được nhất định phải chú ý đến vấn đề dân chủ. Điều đó cũng có nghĩa là một tiềm năng kinh tế hôm nay, một môi trường chính trị ổn định hôm nay là thành quả của sự kế thừa, phát triển tư tưởng dân chủ trong khuynh hướng dân chủ tư sản cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Giai đoạn cuối thế kỉ XIX đến trước năm 1930, có nhiều phong trào đấu tranh chống Pháp nổ ra mang khuynh hướng dân chủ tư sản biểu hiện dưới nhiều hình thức Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 3
  4. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 phong phú, đa dạng. Các phong trào diễn ra sôi nổi thể hiện sự khao khát giải phóng dân tộc thay đổi số phận hiện tại của đất nước. Đồng thời là sự biểu hiện cụ thể của tinh thần yêu nước Việt Nam. Hiện nay, các thế lực thù địch vẫn nuôi dưỡng âm mưu chống phá hòng tiêu diệt chế độ xã hội chủ nghĩa nước ta. Do đó, vấn đề khẳng định, phát huy chủ nghĩa yêu nước hơn bao giờ hết càng giữ một vị trí quan trọng. Tìm hiểu khuynh hướng dân chủ tư sản ở nước ta để thấy sự chuyển biến của con đường giải phóng dân tộc, thấy được sự hy sinh, đóng góp của các bậc tiền bối trong quá trình mày mò tìm giải pháp cứu nước. Đó là một chặng đường dài để thấy rằng giá trị của nền độc lập hôm nay cao quý biết nhường nào, góp phần thức tỉnh ý thức dân tộc, dân chủ trong việc góp công giữ gìn độc lập, phát huy những thành tựu đã dày công đạt được. Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 4
  5. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 PHẦN NỘI DUNG I. Quá trình hình thành khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam I.1. Hoàn cảnh lịch sử cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX 1.1. Tác động của hoàn cảnh quốc tế đến Việt Nam Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, thế giới có nhiều sự kiện quan trọng tác động mạnh mẽ đến sự chuyển biến của cách mạng Việt Nam. Thời gian này, hầu hết các nước tư bản chủ nghĩa trên thế giới chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn cao hơn của nó, đó là chủ nghĩa đế quốc. Vì vậy nhu cầu về thị trường, nguyên liệu và nhân công ngày càng trở nên bức thiết. Do đó, chúng đẩy mạnh quá trình xâm lược thuộc địa sang các nước phương Đông. Công việc “săn tìm” thuộc địa lúc bấy giờ không còn là công việc của giai cấp tư sản hay võ quan hiếu chiến nữa mà đã trở thành đường lối chung của nhà nước tư sản. Việt Nam cũng không nằm ngoài quỹ đạo xâm lược thuộc địa của các nước đế quốc. Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX còn có một số biến cố lớn ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc vận động cách mạng và đấu tranh tư tưởng ở Việt Nam. Đặc biệt là phong trào Duy Tân Minh Trị ở Nhật Bản năm 1868, và cuộc vận động biến pháp ở Trung Quốc dẫn đến cách mạng Tân Hợi năm 1911. Nhật Bản trước khi cải cách Minh Trị là một nước phong kiến quân chủ “bế quan tỏa cảng” như Việt Nam. Bước sang thế kỉ XVIII, sự phát triển nội tại của Nhật Bản đã làm cho những mầm mống chủ nghĩa tư bản phát triển nhanh chóng. Đó là những hải cảng, công trường thủ công xuất hiện ngày càng nhiều ở thành thị, kinh tế hàng hóa phát triển. Tầng lớp Samurai (võ sĩ) thuộc thế giới quý tộc hạng trung và hạng nhỏ, không có ruộng đất chỉ phục vụ các Đaimiô bằng việc huấn luyện và chỉ huy các đội vũ trang để hưởng bổng lộc. Do một thời gian dài không có chiến tranh, địa vị của Samurai bị suy giảm, lương bổng thất thường, đời sống khó khăn, nhiều người đã ra khỏi lãnh địa, tham gia hoạt động thương nghiệp, mở xưởng thủ công, dần dần tư sản hoá. Họ có thế lực về kinh tế nhưng không có quyền lực về chính trị, địa vị xã hội tương xứng. Vì vậy tầng lớp này trở thành lực lượng đấu tranh mạnh mẽ chống chế độ phong kiến lỗi thời. Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 5
  6. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 Quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, đồng thời nhu cầu thị trường đòi hỏi ban đầu là xâm nhập vào các nước khác, đặc biệt là những nước phong kiến lạc hậu. Chính vì thế, Nhật Bản bị các nước phương Tây đòi mở cửa. Nhật Bản đến giữa thế kỉ XIX đã lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng, với mâu thuẫn gay gắt giữa lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa và quan hệ sản xuất phong kiến, giờ đây đứng trước sự lựa chọn: hoặc duy trì chế độ phong kiến trì trệ, bảo thủ để các nước đế quốc sâu xé; hoặc tiến hành duy tân, đưa Nhật Bản phát triển theo con đường của các nước tư bản phương Tây. Cuối cùng, nhờ có một số nhà lãnh đạo thức thời sớm tỉnh ngộ trước họa xâm lăng, đã chiến thắng các lực lượng bảo thủ trong nước, theo hướng tư bản chủ nghĩa, mặc dù còn nhiều tàn tích phong kiến. Nhờ có duy tân, đổi mới, Nhật đã trở thành nước độc lập, không những thế mà còn sớm cường thịnh và có chính sách bành trướng thực dân. Trong thời gian này, Việt Nam đang lúng túng trước cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp. Đặc biệt, khi phong trào Cần Vương thất bại (1896), những người Việt Nam yêu nước đang lo tìm con đường cứu nước mới thì chiến tranh Nga-Nhật nổ ra. Nhật đại thắng, sự kiện này vang dội khắp năm châu, tác động mạnh mẽ đến các nhà yêu nước Việt Nam cũng như nhiều nhà yêu nước khác trong khu vực Châu Á. Họ bỏ qua bản chất đế quốc của Nhật chỉ chú ý đến việc một cường quốc da vàng đánh bại một cường quốc da trắng. Chỉ những điều đó thôi, Nhật cũng đã được tôn làm anh cả, làm đầu đàn cho Châu Á vùng lên. Nhật Bản được xem là vị cứu tinh của dân tộc da vàng. Xu hướng thân Nhật đã phát triển ở nhiều nước châu Á như: Trung Quốc, Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam, Bằng chứng là khi sang Nhật, Phan Bội Châu đã gặp Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu cũng đang hoạt động ở đây. Bên cạnh sự tác động của Nhật Bản thì những sự kiện ở Trung Quốc lúc bấy giờ cũng tác động tới cách mạng Việt Nam. Sau chiến tranh Trung-Nhật (1895), uy thế của triều đình phong kiến Mãn Thanh xuống thấp. Phong trào đấu tranh của nhân dân lên cao. Nhiều sĩ phu tiến bộ và trí thức tư sản Trung Quốc đã mạnh dạn đòi cải cách. Họ thành lập nhiều học hội, học đường, nhà xuất bản, toà soạn, truyền bá học thuyết mới mẻ. Tiêu biểu là học hội của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu (ảnh hưởng của tư tưởng quân chủ lập hiến Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 6
  7. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 trực tiếp từ Nhật Bản), Hưng Trung hội của phái trí thức Tây học do Tôn Dật Tiên đứng đầu. Trong khuôn khổ một nước phong kiến thì đề nghị của Lương-Khang, tức cải cách đưa đất nước phát triển nhưng sự thống trị của phong kiến vẫn còn thì dễ dàng chấp nhận hơn. Tháng 6 năm 1897, vua Quang Tự nghe theo Khang Hữu Vi ban bố hiến pháp. Chương trình gồm 11 điểm nhưng bị phái bảo thủ do Thái hậu Từ Hy đứng đầu quyết liệt chống đối. Cuộc vận động cải cách của Trung Quốc bị thất bại. Tuy nhiên những tư tưởng tiến bộ của Lương-Khang đã gây được tiếng vang lớn, ảnh hưởng sâu rộng vào nhân dân, đặc biệt là nhận thức tư tưởng thời đại. Từ đây, những trào lưu tư tưởng của phương Tây dễ dàng thâm nhập vào Trung Quốc, cũng như dễ dàng được tiếp nhận, và bắt đầu tấn công hệ tư tưởng phong kiến quan liêu, hủ bại, mở đường cho tư tưởng dân chủ tư sản phát triển trong xã hội Trung Quốc. Nó thức tỉnh phong trào yêu nước của nhân dân, nâng cao ý thức độc lập dân tộc chống ngoại xâm và ý thức dân chủ chống chuyên chế. Cuộc đấu tranh đó dần phát triển lên cao dẫn đến cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) do Tôn Trung Sơn lãnh đạo, tiến bộ ngay từ chủ trương của Hội “đánh đổ Mãn thanh, khôi phục Trung Hoa, lập chính phủ liên hiệp” trong khi chủ trương trước đó của Lương-Khang là áp dụng các biện pháp duy tân nhưng còn duy trì và cải tiến chế độ phong kiến nhà Thanh. Đối với nước ta, Trung Quốc là nước láng giềng có ảnh hưởng rất sâu sắc. Trung Quốc không chỉ là nước đồng văn, đồng chủng mà còn là nước cùng cảnh ngộ: chế độ phong kiến quân chủ chuyên chế, Nho giáo là thiết chế tư tưởng, chính trị-xã hội lâu đời, và lúc bấy giờ đều bị đế quốc xâm lược, Những biến cố về chính trị, tư tưởng ở Trung Quốc nhanh chóng dội vào Việt Nam theo từng thời kì chuyển biến rõ nét. Điển hình nhất là hoạt động của nhà yêu nước Phan Bội Châu. Lúc Cường học hội của Lương-Khang đang có vai trò mạnh ở Trung Quốc thì ở Việt Nam là hoạt động của Duy Tân hội tôn Ngoại hầu Cường Để lên làm hội trưởng để “thu phục nhân tâm”. Và khi cách mạng Tân Hợi nổ ra thì năm 1912, Duy Tân hội ở Việt Nam cũng giải tán chuyển sang thành lập Việt Nam Quang phục hội với tôn chỉ “đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thành lập cộng hòa dân quốc Việt Nam”. Trên thế giới lúc bấy giờ còn có một sự kiện mà sự tác động của nó cũng không nhỏ đến cách mạng Việt Nam. Đó là cao trào Châu Á thức tỉnh. Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 7
  8. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 Các nước tư bản phương Tây đi xâm lược vô tình mang theo tư tưởng dân chủ, Tự do-Bình đẳng-Bác ái (thành quả tiến bộ của các cuộc cách mạng tư sản) sang các nước phụ thuộc và thuộc địa. Chính nó là một trong những nguyên nhân lớn thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc, đặc biệt lúc bấy giờ ở Châu Á như: Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, Miến Điện, Cao trào Châu Á thức tỉnh càng làm cho khao khát giải phóng dân tộc giành độc lập dân tộc trước hết của Việt Nam thêm cháy bỏng. Nó góp phần nâng cao chí quyết tâm trong quá trình chống thực dân, đế quốc. 1.2. Tình hình trong nước Trước khi bị thực dân Pháp xâm lược, Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền nhưng chế độ phong kiến đã bộc lộ những dấu hiệu của sự khủng hoảng và suy yếu nghiêm trọng. Kinh tế ngày càng sa sút, tài chính khó khăn. Đúng như Nguyễn Tri Phương nhận xét năm 1960 về tình hình Việt Nam, khi thực dân Pháp xâm lược thì nước ta “của đã hết, sức đã thiếu”. Đã thế nhà Nguyễn còn đưa ra một số chủ trương chính sách gây bất lợi cho sự phát triển nền kinh tế. Đường lối đối ngoại sai lầm “bế quan toả cảng” đã khiến cho Việt Nam bị cô lập. Việc hạn chế ngoại thương không xuất phát từ bảo vệ thị trường trong nước mà xuất phát từ ý định ngăn chặn sự xâm nhập của đạo Thiên chúa, cho nên dã dẫn đến chính sách đàn áp giáo sĩ và giáo dân một cách mù quáng. Việc cấm đạo, sát đạo gay gắt càng tạo thêm cớ cho kẻ thù bên ngoài lợi dụng triển khai mưu đồ xâm lược. Các vua kế tiếp nhau càng ra sức củng cố chế độ quân chủ chuyên chế, quyền lực tập trung trong tay vua. Chỗ dựa của nhà nước là giai cấp địa chủ. Ruộng đất tư lúc bấy giờ phát triển mạnh hơn lúc nào hết với 83%, còn lại là 17% là đất công. Chính vì vậy, đời sống của nhân dân ngày càng cực khổ, hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nổ ra làm cho đất nước luôn không ổn định. Mười tám năm cai trị của Gia Long (1802-1820) với 73 cuộc khởi nghĩa của nông dân, 7 năm ở ngôi của Thiệu Trị (1940-1947) có 56 cuộc khởi nghĩa của nông dân Bên cạnh đó, khả năng quốc phòng yếu kém. Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc chống xâm lược của các nước đế quốc thực dân. Trong cuộc chạy đua giành giật thuộc địa giữa các nước tư bản phương Tây, cuối cùng tư bản Pháp bám sâu được vào Việt Nam qua hội truyền giáo thừa sai Pari. Đồng thời thông qua các mối quan hệ đã có từ trước cùng với lợi dụng sự suy yếu Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 8
  9. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 của chế độ phong kiến Việt Nam, chính phủ Pháp ráo riết xúc tiến thực hiện âm mưu xâm lược. Triều đình phong kiến Việt Nam vì những toan tính riêng tư bảo vệ quyền lợi giai cấp nên từ chống cự yếu ớt rồi dần chuyển sang chịu chia sẻ quyền lực với Pháp, ngày càng bộc lộ sự bất lực của mình trượt dài qua các hiệp ước nhượng đất Nhâm Tuất (1862), Giáp Tuất (1874). Triều đình thực sự thừa nhận quyền cai trị của Pháp ở Nam Kì, kết hợp với Pháp trong việc chống lại phong trào của nhân dân và sau cùng là hai bản hiệp ước Hác-măng (1883) và Pa-tơ-nốt (1884) chấm dứt quá trình xâm lược của Pháp ở Việt Nam. Như thế từ sau năm 1884, Việt Nam trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Năm 1897, Việt Nam trở thành bộ phận của Liên bang Đông Dương. Thực dân Pháp thiết lập bộ máy cai trị Liên bang để tiến hành quá trình khai thác và bóc lột thuộc địa. Các chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) và lần thứ hai (1919-1929) của Pháp chủ yếu phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế của chính quốc. Hai cuộc khai thác thuộc địa trước và sau chiến tranh thế giới thứ nhất đã tạo ra những biến đổi sâu sắc về nhiều mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội ở Việt Nam. + Về chính trị: Thực dân Pháp đặc biệt coi trọng chính sách về chính trị để cai trị thuộc địa vừa chiếm được. Chúng tiến hành xây dựng bộ máy nhà nước hoàn chỉnh, thống nhất có tính chất chặt chẽ từ trên xuống. Để đảm bảo thu được lợi nhuận thuộc địa tối đa, thực dân Pháp thi hành chính sách chuyên chế về chính trị. Mọi quyền hành đều nằm trong tay Pháp, vua quan triều Nguyễn chỉ là bù nhìn. Chúng cai trị trực tiếp và thẳng tay đàn áp, không cho dân ta một chút quyền tự do dân chủ nào, kể cả chủ nghĩa cải lương cũng không được phép. “Chia để trị” là chính sách cai trị điển hình của Pháp ở Việt Nam. Mục đích của chúng là làm suy yếu lực lượng dân tộc Việt Nam. Chúng chia cắt nước ta thành 3 xứ với 3 chế độ khác nhau. Nam Kì là xứ thuộc địa do Pháp nắm nên được gọi là chế độ trực trị do một viên Thống đốc của Pháp đứng đầu. Bắc Kì và Trung Kì là 2 xứ bảo hộ vẫn giữ lại chính quyền phong kiến về hình thức. Bắc Kì do Thống sứ đứng đầu, Trung Kì do Khâm sứ đứng đầu, cả hai cũng đều là người Pháp. Người Việt Nam muốn đi lại giữa các kì phải xin giấy phép như ra nước ngoài. Với thủ đoạn này, thực dân Pháp muốn xoá tên Việt Nam, Lào, Campuchia trên bản đồ thế giới, vì bấy giờ Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 9
  10. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 chỉ còn là Liên bang Đông Dương, chia rẽ nhân dân thuộc địa với nhân dân Pháp, chia rẽ nhân dân các nước thuộc địa với nhau. Riêng ở Việt Nam, thực dân Pháp đã phá hoại tính thống nhất dân tộc, dựng nên hàng rào chia cắt về chế độ, kéo theo các cơ quan cai trị riêng biệt, ngăn cản sự giao lưu qua lại, ngăn cản sự phát triển chung, đặc biệt là nhằm phá vỡ khối đoàn kết dân tộc của ta, giảm sức mạnh trong việc chống lại chúng. Bên cạnh đó, thực dân Pháp còn ra đạo luật về tổ chức quân đội thuộc địa (7/1/1900) bao gồm lính Pháp và lính bản xứ. Quân đội đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của viên Tổng chỉ huy người Pháp. Mục đích là nhằm đàn áp các cuộc khởi nghĩa, canh giữ các nhà tù, đàn áp chống đối, ổn định thuộc địa. Cùng với quân đội chính quy ngày 30 tháng 6 năm 1915, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập lực lượng cảnh sát đặc biệt. Nhiệm vụ là đảm bảo trật tự, an ninh trong tỉnh, canh giữ các công sở, các tuyến đường giao thông. Để tăng cường đàn áp, ngày 28 tháng 6 năm 1917, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập Sở tình báo và an ninh trung ương (Sở mật thám Đông Dương). Mỗi xứ có một cơ quan mang tên cảnh sát an ninh. Đi đôi với bộ máy quân sự, cảnh sát to lớn là hệ thống pháp luật khắc nghiệt cùng hệ thống toà án nhà tù dày đặc khắp Việt Nam. Từ huyện, phủ, châu trở lên đều có nhà tù và trại giam. Như vậy, rõ ràng bộ máy chính quyền của thực dân Pháp được thiết lập trên cơ sở của sự cấu kết chặt chẽ giữa thực dân Pháp với giai cấp phong kiến phản động do thực dân Pháp chi phối nhằm thực hiện chính sách khai thác bóc lột vô cùng tàn bạo của chúng. Nhân dân Đông Dương nói chung và nhân dân Việt Nam nói riêng cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX sống trong cảnh ngột ngạt, không có một quyền tự do dân chủ nào. Hơn nữa, nhân dân còn bị áp bức bóc lột tàn nhẫn vô hạn của chính quyền thuộc địa. + Về kinh tế: Các nước đế quốc đẩy mạnh xâm chiếm thuộc địa nhằm thoả mãn nhu cầu phát triển kinh tế và nâng cao nguồn lợi nhuận. Do đó, sau khi hoàn thành xâm lược thuộc địa thì chúng bắt tay ngay vào quá trình khai thác các nguồn lợi ở thuộc địa một cách triệt để. Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 10
  11. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 Việt Nam là một nước giàu tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lí thuận lợi và sẵn nhân công nhưng phương thức sản xuất lạc hậu. Do tư tưởng khép kín, không thức thời nhạy bén tiếp cận thành tựu hiện đại, tiến bộ của phương Tây, nên không thể khai thác hết tiềm năng nội sinh để phát triển đất nước. Vì vậy, để bóc lột tối đa lợi nhuận ở thuộc địa, Pháp đã thi hành một chính sách thực dân rất phản động, bóc lột nặng nề về kinh tế ở nước ta. Trong chương trình hành động gởi bộ trưởng Bộ thuộc địa (22/3/1897), Đume nêu rõ “xây dựng cho Đông Dương một thiết bị kinh tế to lớn, một hệ thống đường sắt, đường bộ, sông hào, bến cảng những cái cần thiết cho sự khai thác xứ Đông Dương”1 Đường bộ được mở rộng đến những khu vực hầm mỏ, đồn điền, và các vùng biên giới quan trọng: trục đường xuyên Đông Dương, đường Sài Gòn-Tây Ninh tới biên giới Campuchia, đường Vinh-Sầm Nứa, Hà Nội-Cao Bằng, lưu thông một cách xuyên suốt. Tổng số chiều dài xây dựng thời kì này là 20.000 km, cùng với 14.000 km đường dây điện thoại. Mở mang đường sắt được giới tư bản ưu tiên để phục vụ chuyên chở hàng hoá, nguyên liệu và tạo ra phương tiện để đưa quân đội đến những nơi cần thiết nhằm đàn áp các cuộc khởi nghĩa. Các đường xe lửa lần lượt được hoàn thành Hà Nội-Lạng Sơn (1902), Hà Nội-Vinh (1905), Đà Nẵng-Huế (1906), Sài Gòn-Nha Trang, Hải Phòng-Vân Nam (1910), Tính đến năm 1912, tổng số chiều dài đường sắt đã xây dựng ở Việt Nam là 2099 km. Tất cả những tuyến đường sắt trừ tuyến Hải Phòng- Vân Nam đều do nhà nước thực dân Pháp thu lãi. Đường thuỷ cũng được khai thông ở các con sông lớn như: Sông Hồng, Thái Bình, Đồng Nai, sông Hậu Giang và các kênh rạch. Các cảng Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn cũng được xây dựng. Riêng ở Nam Kì đến năm 1914 có 1745 km đường thủy và tàu chạy bằng hơi nước. Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn (hơn 10 năm đầu thế kỉ XX), thực dân Pháp đã đầu tư làm thay đổi hẵn cơ sở hạ tầng Việt Nam. Đó là sự đầu tư có dụng ý, nhằm phục vụ cho quyền lợi thực dân, phục vụ cho mưu đồ thống trị, khai thác và bóc lột của chúng. 1 Ngọc Cơ (chủ biên) (2005), Lịch sử Việt Nam từ năm 1858-1918, Nxb Đại học sư phạm, 128 Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 11
  12. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 Trái với tinh thần của cuộc Đại cách mạng Pháp (1789) là diệt trừ tận gốc chế độ phong kiến, mở đường cho nước Pháp hướng mạnh vào con đường phát triển tư bản. Chính sách kinh tế của Pháp ở Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng lại duy trì phương thức sản xuất phong kiến lạc hậu kết hợp với thiết lập rất hạn chế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong nông nghiệp, Pháp cướp đoạt ruộng đất của nông dân một cách trắng trợn, được che đậy bằng sự hợp thức hoá của Điều ước, Nghị định: “Năm 1897, thực dân Pháp bắt triều đình Huế kí điều ước cho thực dân Pháp quyền khai khẩn đất hoang. Tiếp đó, ngày 1/5/1900 Thực dân Pháp ra Nghị định phủ nhận quyền sở hữu ruộng đất trong luật pháp phong kiến” 2. Chúng lập ra hàng loạt các đồn điền kinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa nhưng lại bóc lột bằng cách phát canh thu tô kiểu phong kiến. Những chính sách trong nông nghiệp của Pháp đã kiềm hãm nền nông nghiệp Việt Nam trong vòng lạc hậu. Nông dân bị mất đất, bần cùng đói khổ, lực lượng sản xuất bị hao mòn, kinh tế nông nghiệp ngày trở nên sa sút. Trong công nghiệp, Pháp chỉ chú trọng một số ngành công nghiệp phục vụ cho quá trình khai thác và vơ vét tài nguyên khoáng sản Việt Nam. Công nghiệp nhẹ chỉ được phép phát triển trong một số lĩnh vực phục vụ trực tiếp cho nhu cầu tiêu dùng của Pháp ở thuộc địa. Công nghiệp Việt Nam không được cạnh tranh với công nghiệp Pháp. Một nền công nghiệp đã xuất hiện ở Việt Nam nhưng đó chỉ là một nền công nghiệp phiến diện, què quặt, không có công nghiệp nặng. Điều đó thể hiện rõ tính chất thuộc địa của nền kinh tế Việt Nam lúc bấy giờ. Về thương nghiệp, Pháp độc chiếm thị trường Việt Nam. Hàng hoá Pháp thâm nhập vào hoàn toàn miễn thuế còn hàng hoá nước khác thì phải chịu thuế cao nên hầu hết ít vào được thị trường Việt Nam. Chính sách độc quyền về thương mại của Pháp đã bần cùng hoá nhân dân lao động và bóp chết ngành tiểu thủ công nghiệp Việt Nam. Hình thức bót lột nặng nề về kinh tế của thực dân Pháp còn thể hiện ở việc chúng lập ra Ngân sách chung cho 5 xứ Đông Dương dưới hình thức Ngân hàng Đông Dương. Ngân hàng này là một tập đoàn tư bản tài chính lớn, chi phối mọi ngành kinh tế ở Đông Dương. Nguồn thu của Ngân sách chủ yếu là thuế. Thuế cũ thì tăng vọt, nhiều thuế mới thật vô lí được đặt ra: thuế thân, thuế chợ, thuế vỉa hè, thuế 2 Ngọc Cơ (chủ biên) (2005), Lịch sử Việt Nam từ năm 1858-1918, Nxb Đại học sư phạm, 130 Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 12
  13. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 xe “Trên chiếc lưng cao su của người An Nam, nhà nước tha hồ kéo dài mức thuế co dãn”3 Nhìn chung, chính sách về kinh tế của thực dân Pháp đã làm cho kinh tế Việt Nam có những thay đổi căn bản, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đan xen cùng tồn tại với quan hệ sản xuất phong kiến vốn có. Công, nông, thương nghiệp có bước phát triển nhưng không cân đối về cơ cấu, què quặt và phụ thuộc nặng nề vào đế quốc Pháp. Pháp là nước tư bản già lạc hậu so với các nước tư bản trẻ phát triển mạnh lúc bấy giờ: Mĩ, Đức, Pháp có nền kỉ thuật đã lỗi thời, hàng hoá không thể cạnh tranh nổi với các nước tư bản đang lên nên Pháp phải giải quyết khủng hoảng của mình bằng cách độc chiếm thị trường thuộc địa, hạn chế cạnh tranh, đồng thời là khai thác triệt để nguồn lợi thuộc địa đem về chính quốc sản xuất rồi lại mang hàng hóa sang tiêu thụ ở thuộc địa. Đây là phương thức kinh doanh khác cơ bản so với Mĩ, Đức. Chính vì vậy, thuộc địa của Pháp có nền kinh tế bị què quặt, không tiếp nhận được thành tựu mới, không được giao lưu. Đó cũng chính là nguyên nhân cho sự trì trệ kéo dài, khó khắc phục, cải tạo của Việt Nam sau cách mạng giải phóng dân tộc. + Về xã hội: Xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX dưới sự tác động của công cuộc khai thác của Pháp đã phân hoá sâu sắc. Giai cấp địa chủ phong kiến vốn thuộc giai cấp thống trị nay đầu hàng đế quốc, dựa vào đế quốc để áp bức bóc lột nhân dân ta. Vì vậy, đây là đối tượng của cách mạng. Song, do chính sách cai trị của thực dân Pháp, giai cấp địa chủ bị phân hoá, một bộ phận làm tay sai cho thực dân Pháp, một bộ phận địa chủ nhỏ và vừa ít nhiều có tinh thần dân tộc đứng lên chống Pháp khi có cơ hội. Giai cấp nông dân là giai cấp đông đảo nhất trong xã hội, chiếm 90% dân số bị đế quốc, địa chủ bóc lột nặng nề. Vì vậy, họ căm thù thực dân phong kiến, khao khát độc lập và ruộng đất, họ tích cực tham gia và là nguồn động lực chính trong các cuộc đấu tranh chống đế quốc, phong kiến. Nhưng trong cách mạng dân tộc, dân chủ, họ không thể đóng vai trò lãnh đạo vì không đại diện cho một phương thức sản xuất tiên tiến. 3 Ngọc Cơ (chủ biên) (2005), Lịch sử Việt Nam từ năm 1858-1918, Nxb Đại học sư phạm, 129 Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 13
  14. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 Bên cạnh các giai cấp phong kiến cũ thì thời kì này xuất hiện các giai tầng mới. Đó là công nhân và tư sản. Giai cấp công nhân ra đời là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Mặc dù mới ra đời số lượng còn ít, trình độ văn hoá còn thấp nhưng giai cấp công nhân Việt Nam đã nhanh chóng trưởng thành về số lượng và chất lượng, có khả năng lãnh đạo cách mạng sau này. Còn tư sản thì thật sự trở thành một giai cấp từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Bị tư bản Pháp chèn ép nên giai cấp tư sản Việt Nam phân hoá thành hai bộ phận: tư sản mại bản và tư sản dân tộc. Giai cấp tư sản mại bản gắn chặt quyền lợi với Pháp. Giai cấp tư sản dân tộc tuy có tinh thần yêu nước chống đế quốc, phong kiến nhưng ra đời muộn, thế lực yếu kém về kinh tế lẫn chính trị nên thường cải lương trong quá trình đấu tranh và không có khả năng lãnh đạo và đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi. Các chính sách cai trị của Pháp ở các nước thuộc địa còn làm cho tầng lớp trí thức tiểu tư sản ngày càng đông. Đây là những người được chế độ phong kiến và thực dân đào tạo. Họ ít nhiều bị chèn ép và do truyền thống yêu nước chi phối nên họ cũng khát khao độc lập tự do. Khi có điều kiện thì đây là lực lượng nhạy bén tiếp thu và truyền bá tư tưởng mới và là “ngòi pháo” của các cuộc đấu tranh chống thực dân, phong kiến. Như vậy, sự ra đời của những lực lượng xã hội mới đã tạo điều kiện bên trong cho cuộc vận động giải phóng dân tộc theo những khuynh hướng mới với động lực là những giai tầng có thái độ chính trị và khả năng cách mạng khác nhau. + Về văn hoá giáo dục: Thực dân Pháp thi hành chính sách ngu dân triệt để, giam hãm, đầu độc nhân dân ta trong vùng tăm tối. Chúng xây dựng nhà tù nhiều hơn trường học và bệnh viện. Chính sách văn hoá của Pháp ở Việt Nam chỉ nhằm thực hiện mục đích thực dân “làm cho dân ta ngu để dễ trị”. Pháp chỉ mở trường dạy tiếng Pháp nhằm đào tạo đội ngũ tay sai thuộc địa. Chúng bưng bít, ngăn cản ảnh hưởng văn hoá tiến bộ trên thế giới, truyền bá văn hoá đồi trị và mê tín dị đoan. Hậu quả là trường học thiếu một cách trầm trọng, hàng ngàn trẻ em Việt Nam không biết chữ, thanh niên thì bị ngăn cản không cho du học phương Tây để tiếp thu tư tưởng tiến bộ Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 14
  15. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 của thế giới. Đồng thời chúng còn tìm cách trấn áp, loại trừ những nhà trí thức yêu nước “đòi bỏ rọ lăn sông các sĩ phu”. Tuy nhiên ngoài ý muốn chủ quan của Pháp, trong khi cố tạo ra những điều kiện thuận lợi phục vụ cho bộ máy cai trị trực tiếp ở Việt Nam, chúng đã tạo ra một môi trường văn hoá mới ngoài mục đích văn hoá thực dân. Trong thành phần những tri thức do các trường học mới đào tạo có không ít người có nguồn gốc là con em của chúng những nhà có thù với đế quốc Pháp. “Họ tất nhớ lại cha anh họ bị đày, bị giết vì nước, người trước gnười sau sớm muộn gì cũng theo dấu cha anh, đứng lên đỡ lấy cái gánh nặng non sông mà cha anh họ còn để lại giữa đường, ”4. Dưới ách cai trị của thực dân Pháp, nhân dân Việt Nam đang khao khát tìm kiếm một con đường giải phóng dân tộc khi tư tưởng phong kiến đang suy tàn, mất hết vai trò lãnh đạo, tư tưởng dân chủ-tư tưởng mới được tiếp thu một cách nhanh chóng. Thực dân Pháp cố gắng tìm mọi cách ngăn chặn nhưng có một thứ mà chúng không thể nào ngăn chặn nổi đó là tinh thần tìm hiểu, nghiên cứu về giải phóng dân tộc của nhiều người yêu nước Việt Nam. Như vậy, những chính sách cai trị của Pháp ở Việt Nam mang đậm tính chất thực dân: chuyên chính về chính trị, bóc lột nặng nề về kinh tế, nô dịch tàn bạo về văn hoá giáo dục. Khi mà hệ tư tưởng phong kiến không còn giữ vai trò chủ đạo nữa, phong trào yêu nước theo lập trường phong kiến dần tàn lụi, thất bại, thì những biến đổi về chính trị-kinh tế-văn hoá trong chế độ thực dân là tiền đề cho sự xuất hiện những luồng tư tưởng khác nhau. Đồng thời là cơ sở cho sự tiếp nhận, hấp thụ những nguyên lí cứu nước mới đối với Việt Nam lúc bấy giờ. Đó là khuynh hướng dân chủ tư sản. I.2. Sự du nhập của khuynh hướng dân chủ tư sản vào Việt Nam 2.1. Nguồn gốc của tư tưởng dân chủ tư sản Dân chủ ngày nay được hiểu là một chính quyền mà trong đó nhân dân là người làm chủ, là người quyết định mọi việc. Dân chủ bao hàm ý nghĩa thừa nhận quyền tự do bình đẳng của mọi công dân. Nguyên tắc đặc trưng của chế độ dân chủ là thiểu số phải phục tùng đa số trong quá trình tham gia bàn bạc và định đoạt công việc chung. 4 . Đinh Trần Dương (2002), Sự chuyển biến của phong trào yêu nước trong ba mươi năm đầu thế kỉ XX, Nxb Đại học quốc gia Hà Nộ, 22 Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 15
  16. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 Tư tưởng dân chủ tư sản là thành quả của các cuộc cách mạng tư sản thời cận đại. Tuy nhiên không phải khi cách mạng thắng lợi, chính quyền cách mạng được thiết lập thì tư tưởng dân chủ tư sản mới ra đời, mà tư tưởng này đã xuất hiện từ trước. Tư tưởng dân chủ tư sản là tiền đề tư tưởng (cùng với tiền đề kinh tế, chính trị- xã hội) xuất hiện trước mỗi cuộc cách mạng tư sản, chuẩn bị cho các cuộc cách mạng tư sản bùng nổ. Ở Anh, hệ tư tưởng dân chủ tư sản thể hiện qua cuộc đấu tranh của Thanh giáo chống Anh giáo để xác lập một tôn giáo rẻ tiền, ít tốn kém thời gian và phù hợp với việc kinh doanh của nhà tư bản. Thanh giáo ra đời nhằm hạn chế sự chuyên quyền của nhà nước phong kiến, phản đối giáo hội Anh. Vì thế, nhà nước phong kiến đã sử dụng bạo lực để đàn áp các tín đồ Thanh giáo. Giai cấp tư sản nấp dưới tà áo tôn giáo mới để lôi kéo lực lượng thực hiện mục đích của mình. Ở Pháp, từ đầu thế kỉ XVIII đã xuất hiện trào lưu tư tưởng “ánh sáng”, với nhiều quan điểm tốt đẹp-chống chế độ phong kiến, tôn giáo xây dựng một mô hình xã hội lý tưởng với ba đại biểu xuất sắc: Mông-xte-ki-ơ, Rut-xô, Vôn-te. Ở Nhật, trước Duy Tân Minh Trị đã xuất hiện trào lưu “Hà Lan học”, đề xướng tư tưởng “trọng thương”, tiếp thu nhiều thành tựu tiến bộ của phương Tây Tư tưởng dân chủ tư sản xuất hiện từ sự khao khát một cuộc sống tự do; muốn thoát khỏi sự chuyên chế của nhà nước phong kiến, sự hà khắc của giáo hội Kitô; thoát khỏi sự áp bức bóc lột nặng nề của xã hội hiện tại, mơ ước một xã hội mới công bằng. 2.2. Các con đường du nhập vào Việt Nam Luồng tư tưởng dân chủ tư sản tràn vào Việt Nam cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX chủ yếu qua 3 con đường chính: từ Pháp, từ Nhật Bản và từ Trung Quốc. Con đường du nhập tư tưởng này đến Việt Nam qua quá trình xâm lược và khai thác thuộc địa của Pháp ở Việt Nam là chủ yếu. Người Pháp đến Việt Nam, bên cạnh bộ phận những người trong chính quyền thực dân, còn có những trí thức, hay các nhà khoa học tới Việt Nam với mục đích nghiên cứu, dạy học Và đặc biệt trong đó không thể không kể tới, đó chính là các giáo sĩ truyền đạo Thiên Chúa, họ ít nhiều cũng đã mang tư tưởng bình đẳng của Chúa đến với giáo dân và ảnh hưởng sâu rộng tỉ lệ thuận với quá trình phát triển của đạo Thiên Chúa đối với nhân dân Việt Nam. Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 16
  17. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 Lê-nin viết “Thế kỉ XIX là thế kỉ đem lại văn minh và văn hoá cho toàn thể nhân loại đã tiếp diễn dưới dấu hiệu của đại cách mạng Pháp” [3; 191]. Hơn thế nữa, nền giáo dục Pháp ở Việt Nam mặc dù với mục đích chính là đào tạo những người làm việc cho bộ máy cai trị chính quyền thực dân nhưng ít hay nhiều cũng mang đến cho những người Việt Nam theo Pháp học có những hiểu biết về tư tưởng “ánh sáng” với Milê, người đã có quan niệm về chủ nghĩa cộng sản không tưởng; Mông-te-xki-ơ với tư tưởng xây dựng hệ thống nhà nước “tam quyền phân lập, kiềm chế đối trọng”; Vôn-te có tư tưởng chống độc tài phong kiến và nhà thờ Thiên Chúa; hay Đi-đơ-rô với quan điểm triết học duy vật và Rut-xô với tư tưởng dân chủ cách mạng và nhà nước dân chủ, Vì vậy, nền giáo dục Pháp ở Việt Nam không tránh khỏi đem những tư tưởng này vào giới trí thức của nước ta. Tư tưởng dân chủ tư sản ở Pháp đến Việt Nam không chỉ thâm nhập qua những người Việt Nam làm việc cho Pháp, các trí thức Tây học trong nước, mà còn qua một lực lượng quan trọng là những người Việt Nam xuất ngoại sang Pháp. Những người Việt tới Pháp gồm những nhà tư sản hay trí thức, bằng cách này hay cách khác sang Pháp học tập, làm ăn. Do Pháp ra sức ngăn cản việc người Việt Nam đi du học nước ngoài, đặc biệt là qua Pháp vì sợ họ tiếp thu những thu tưởng mới nên số lượng này là không nhiều ở nước ta lúc bấy giờ. Chiếm số lượng khá đông là người Việt Nam làm việc trên những chuyến tàu của Pháp (Bác Hồ cũng từng làm việc như thế) hay bị đưa sang Pháp tham chiến trong cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất. Đây là con đường tiếp cận tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây trực tiếp chính bằng trình độ nhận thức của người Việt. Tuy nhiên, trong buổi đầu tư tưởng dân chủ tư sản du nhập vào, thành phần tiếp nhận có nhiều hạn chế giai cấp, lịch sử cùng với không gian tiếp cận không đầy đủ nên phong trào yêu nước Việt Nam gắn với tư tưởng mới này chưa có sự chuyển biến rõ nét và phát triển cao. Con đường thứ hai truyền bá tư tưởng dân chủ tư sản tới Việt Nam là thông qua Nhật Bản. Cuộc Duy Tân Minh Trị ở Nhật Bản và việc nước Nhật chiến thắng trong chiến tranh Nga-Nhật (1895) trong khi các nước Châu Á đều bị biến thành thuộc địa hay phụ thuộc của các nước đế quốc thực dân. Điều đó khiến cho Nhật Bản trở thành tấm gương, một “anh cả da vàng” để các nước khác học tập. Cuộc Duy Tân Minh Trị có ảnh hưởng rất lớn đến các nước Châu Á, trước hết là đối với Trung Quốc. Sau Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 17
  18. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 cuộc Duy Tân Minh Trị 30 năm, một phong trào Duy Tân đã bùng nổ ở Trung Quốc. Người chủ xướng phong trào duy tân ở Trung Quốc là Khang Hữu Vi. Ông muốn bắt chước Nhật Bản, cũng tiến hành một cuộc cải cách dưới trướng của một đấng minh quân. Nhưng do hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước Trung Quốc không cho phép nên phong trào duy tân của Khang Hữu Vi bị thất bại. Cuộc Minh Trị Duy Tân ở Nhật Bản cũng đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Việt Nam. Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX các sĩ phu yêu nước Việt Nam như cụ Phan Bội Châu đã hướng về Nhật Bản với lòng ngưỡng mộ và đã bỏ nhiều công sức để tìm con đường cứu nước tại đất nước của Thiên hoàng Minh Trị này. Thậm chí, ở Trung Quốc cũng diễn ra một phong trào Đông du sang Nhật để học tập, và sau Đông du ở Trung Quốc là phong trào Đông du ở Việt Nam. Nhật Bản cũng có những nhân vật ảnh hưởng đến các trào lưu tư sản ở Nhật Bản mà cả với phong trào đấu tranh ở Việt Nam, như nhà tư tưởng dân chủ Fukuzawa Yukichi. Khuynh hướng dân chủ tư sản cũng đến với Việt Nam nhờ rất nhiều vào một con đường khác là Trung Quốc. Đối với nước ta, Trung Quốc không chỉ là nước đồng văn, đồng chủng mà còn là nước cùng cảnh ngộ, ảnh hưởng Nho giáo Trung Quốc ở Việt Nam hết sức sâu đậm. Đầu thế kỉ XX cho đến chiến tranh thế giới thứ nhất, hầu hết các sĩ phu yêu nước, cách mạng đều xuất thân từ tầng lớp sĩ phu Nho học. Số theo Tây học hồi đó còn rất hiếm do nhiều nguyên nhân khác nhau. Chưa có các nhà lãnh đạo cách mạng xuất thân từ tầng lớp trí thức Tây học. Việc người Việt học tập những tư tưởng này qua Trung Quốc phần nào cũng vì tác động từ những cuộc đấu tranh của trí thức tư sản Trung Quốc như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Tôn Trung Sơn, qua cuộc vận động biến pháp, qua cách mạng Tân Hợi, Hơn thế nữa, cả hai nước đều sử dụng Hán tự. Chính vì những lí do đó mà tư tưởng dân chủ tư sản qua Trung Quốc vào Việt Nam có vai trò rất lớn của Tân thư, Tân văn Trung Quốc bấy giờ. Và theo Tân thư, Tân văn từ Trung Quốc, tư tưởng của những nhà “khai sáng” Pháp cũng được dịch truyền vào Việt Nam một cách phổ biến. Tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây vào Việt Nam thông qua Nhật Bản và Trung Quốc rõ ràng đã có sự biến dạng nhất định. Bởi vì đó là cách vận dụng, cách nhìn của phần lớn những nhà theo tư tưởng quân chủ lập hiến. Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 18
  19. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 Cùng với sự thất bại của khuynh hướng cứu nước theo phong kiến, chính sách cai trị của chính quyền thực dân, sự khao khát độc lập, tự do mãnh liệt của nhân dân Việt Nam càng tạo điều kiện cho những nhà yêu nước nhanh chóng tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản, một tư tưởng mới và tiến bộ so với Việt Nam lúc bấy giờ. 2.3. Cơ sở hình thành khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam Sự thất bại của các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến Sau khi buộc triều đình Huế kí Hiệp ước Pa-tơ-nốt (1884), thực dân Pháp về cơ bản đã hoàn thành quá trình xâm lược toàn bộ Việt Nam. Nhưng chúng còn mất thêm hơn mười năm liên tục, hao người, tốn của để tiến hành cuộc bình định bằng quân sự nhằm đối phó với cuộc chiến tranh quyết liệt của ta. Đó là cuộc nổi dậy của phái chủ chiến ở kinh thành Huế (1884), phong trào yêu nước của văn thân, sĩ phu hưởng ứng Chiếu Cần Vương (1885-1896). Và phong trào nông dân tự phát, tiêu biểu là khởi nghĩa nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo (1884-1913). Và đó cũng chính là những phong trào thể hiện sự nổ lực cuối cùng của khuynh hướng cứu nước theo tư tưởng phong kiến. Cuối thế kỉ XIX, phong trào vũ trang chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết đứng đầu với hy vọng khôi phục lại chủ quyền. Tôn Thất Thuyết lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi hai lần ban Chiếu Cần Vương (13/7/1885 và 20/9/1885) nhằm kêu gọi nhân sĩ khắp nơi giúp vua cứu nước. Tầng lớp văn thân, sĩ phu yêu nước tiến bộ hưởng ứng sôi nổi, đứng ra chiêu mộ nghĩa sĩ lập đồn trại kháng chiến. Văn thân, sĩ phu là những người không có đặc lợi ở triều đình, cũng không có tư gia điền sản lớn ở nông thôn nhưng họ có hệ tư tưởng yêu nước gắn với hệ tư tưởng phong kiến. Do đó, yêu nước phải trung quân. Đó là lập trường của Nho giáo truyền thống của phong kiến. Nhưng kể từ khi Pháp xâm lược, cùng với thái độ của triều đình, họ đã chống lại triều đình, không còn trung với vua nữa. Họ chống lại mệnh lệnh của vua để cùng nhân dân kháng Pháp. Khi Chiếu Cần Vương ban ra, tư tưởng “trung quân ái quốc” của họ đã trở lại. Văn thân, sĩ phu là những người hăng hái nhất, đứng ra lãnh đạo phong trào nhân dân “giúp vua cứu nước”. Năm 1888, vua Hàm Nghi bị bắt thì đâu là động lực đấu tranh? Quá trình đấu tranh chưa chấm dứt. Có những cuộc khởi nghĩa quy mô lớn trình độ cao như: Bãi Sậy, Ba Đình, Hùng Lĩnh, Hương Khê. Và như vậy, động lực “giúp vua cứu nước” Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 19
  20. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 đã chuyển sang “giúp dân cứu nước”. Hay quan điểm lập trường sĩ phu, văn thân thay đổi từ “trung quân ái quốc” sang “trung dân ái quốc”, từ lập trường giai cấp sang lập trường dân tộc. Đây là bước chuẩn bị đầu tiên cho sự tiếp nhận tư tưởng mới phù hợp-tư tưởng dân chủ tư sản sau này. Phong trào vũ trang chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương đã tàn lụi với sự thất bại hoàn toàn của cuộc khởi nghĩa Hương Khê (1896). Một số thổ hào địa phương nổi dậy ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta tuy lúc này vẫn còn, nhưng đã phải duy trì cuộc chiến đấu trong những điều kiện hết sức khó khăn, phải thủ hiểm trong những vùng rừng núi hẻo lánh và suy yếu dần trên con đường đi tới tan rã. Duy chỉ có cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo vẫn hiên ngang đương đầu với địch. Nhưng trước âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù, phong trào dần đi vào thất bại. Khác với phong trào Cần Vương-diễn ra và thất bại khi chưa chịu tác động của tư tưởng dân chủ tư sản, nên khi kết thúc không có mầm mống chuyển sang dân chủ tư sản. Còn đối với phong trào nhân dân Yên Thế, thời gian tồn tại có ảnh hưởng của dân chủ tư sản. Vì thế giai đoạn sau, phong trào này có sự dao động khi mà người lãnh đạo Hoàng Hoa Thám có tiếp xúc với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và Tôn Trung Sơn (khi Tôn Trung Sơn sang tuyên truyền tư tưởng cách mạng cho Hoa kiều, ẩn náo tạm thời vì mục đích cách mạng ). Phong trào nông dân Yên Thế cuối cùng cũng thất bại. Song đặc điểm của nó là sự dao động, mang hơi hướng của lập trường dân chủ tư sản. Đây là bước quá độ chuyển biến tư tưởng đầu tiên trong cách mạng Việt Nam. Như vậy, tất cả những phong trào chống Pháp nổ ra cuối thế kỉ XIX đều lần lượt thất bại. Thất bại không phải vì người lãnh đạo kém nhiệt huyết, nhân dân kém anh dũng mà do nguyên nhân chủ quan, khách quan chi phối. Đặc biệt, thất bại là do hệ tư tưởng phong kiến lúc bấy giờ đã lạc hậu, lỗi thời, mất vai trò trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong tình tình mới. Điều đó chỉ ra yêu cầu bức thiết của phong trào yêu nước Việt Nam thời điểm này cần nhanh chóng thoát khỏi những bế tắc của thời đại. Và quan trọng là mau chóng tìm ra một hệ tư tưởng mới chỉ đạo cho con đường cứu nước giành độc lập tự do. Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 20
  21. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 Những chuyển biến kinh tế-xã hội Việt Nam sau cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Pháp Chính sách cai trị của thực dân Pháp ở Việt Nam đã gây ra nhiều hậu quả: kinh tế tàn tạ, chính trị ngột ngạt, các giai cấp trong xã hội phân hoá sâu sắc, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, Những cơ sở kinh tế-xã hội lúc bấy giờ là nguồn gốc tất nhiên của chế độ thực dân nửa phong kiến. Được sống độc lập, tự do là nguyện vọng thiết tha của mọi người. Đó là những tiền đề cho cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ ở nước ta. Trong những năm đầu thế kỉ XX, chính sách cai trị của thực dân Pháp đã tước đoạt hết quyền tự do của nhân dân ta. Chính sách khai thác của thực dân đã làm cho nền kinh tế nước ta phụ thuộc hoàn toàn vào nền kinh tế nước Pháp. Những nhà máy xí nghiệp, hãng buôn, hệ thống giao thông, hải cảng, thành thị ra đời hợp thành bộ phận kinh tế tư bản thực dân, chỉ có tác dụng tiêu thụ hàng công nghiệp của tư bản Pháp; vơ vét các mặt hàng nông-lâm-nghiệp để xuất khẩu và “ăn cướp có tổ chức” tài nguyên thiên nhiên nước ta. Tính chất độc quyền của nền kinh tế thực dân đã dẫn tới hậu quả là: quan hệ sản xuất phong kiến trong nông nghiệp được duy trì gần như nguyên vẹn, các ngành thủ công cổ truyền đang phát triển theo hướng tích cực thì bị bóp nghẹt, kinh tế tư bản dân tộc bị kìm hãm không sao phát triển được. Kinh tế nước ta do đó bị kiệt quệ. Công nhân, nông dân lâm vào cảnh đói rách, bần cùng. Đời sống của các tầng lớp khác như tiểu tư sản, dân nghèo thành thị luôn bị đe dọa. Đó là những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế nước ta đầu thế kỉ XX, gọi là nền kinh tế thực dân nửa phong kiến. Sự áp bức tàn bạo về chính trị và sự bóc lột nặng nề về kinh tế của thực dân Pháp đã gây nên phản ứng mạnh mẽ trong nhân dân ta, nhất là công nhân và dân nghèo thành thị, một bộ phận trí thức yêu nước. Độc lập, tự do bấy giờ là niềm khao khát cháy bỏng, là động lực to lớn thúc đẩy họ đấu tranh chống thực dân, phong kiến khi có thời cơ. Mặt khác, đặc điểm kinh tế, xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX chưa sản sinh được một giai cấp có đủ sức lãnh đạo thành công cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, nhưng không vì thế mà nó bị đình đốn. Xã hội Việt Nam bấy giờ đã sản sinh ra một lớp người thay thế ban đầu, đó là lớp văn thân, sĩ phu yêu nước tiến bộ Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 21
  22. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 đang trên con đường tư sản hoá. Họ phần nào nắm bắt được nguyện vọng của quần chúng nhân dân, đứng ra đảm nhiệm vai trò của giai cấp lãnh đạo, tạo tiền đề phát triển cho cách mạng Việt Nam. Chính những chuyển biến về kinh tế-xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX là tiền đề cho sự tiếp thu khuynh hướng mới vào Việt Nam-khuynh hướng dân chủ tư sản, tạo sự chuyển biến tư tưởng cách mạng Việt Nam. II. Những phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến trước năm 1930 II.1. Phong trào đấu tranh trước chiến tranh thế giới thứ nhất 1.1. Điều kiện ra đời của phong trào Việt Nam đầu thế kỉ XX đang trong tình trạng một nước thuộc địa nửa phong kiến. Do vậy, các khuynh hướng chính trị-tư tưởng lúc bấy giờ có gắn bó chặt chẽ với những phong trào đấu tranh, hoặc đòi hỏi quyền dân tộc hoặc đòi quyền dân chủ. Đầu thế kỉ XX cũng là thời gian mà khuynh hướng dân chủ tư sản chính thức đóng vai trò to lớn trong cuộc đấu tranh đó. Các cuộc khởi nghĩa nông dân cho đến đầu thế kỉ XIX đã hầu như bị Pháp “bình định” cơ bản, chỉ còn cuộc khởi nghĩa Yên Thế vẫn còn hoạt động, nhưng cũng không gây ra nhiều đe dọa cho chính quyền thuộc địa. Đứng trước sự bế tắc của con đường cứu nước cũ và sự du nhập của con đường cứu nước mới, những trí thức Nho học đã có sự nhìn nhận lại phương pháp cách mạng của mình. Đó là những cơ sở cho sự chuyển biến tư tưởng cứu nước của Việt Nam đầu thế kỉ XX. Quá trình cai trị của thực dân Pháp làm cho tình hình Việt Nam có nhiều biến đổi, đặc biệt xã hội ngày càng phân hóa. Do đó, phong trào cách mạng Việt Nam theo khuynh hướng tư sản theo thời gian cũng có sự khác nhau về đặc điểm. Trước hết phải thấy rằng, giai cấp tư sản Việt Nam hình thành về cơ bản không phải do sự phát triển của sức sản xuất xã hội trong sự vận động tự thân của lịch sử Việt Nam mà do chính quá trình xâm lược và thống trị của Pháp. Ngay từ đầu các yếu tố tư bản ở Việt Nam đã mang tính “ngoại nhập”. Những xí nghiệp, hầm mỏ, đồn điền, các hoạt động công-thương nghiệp ở Việt Nam, phần lớn đều bị tư sản Pháp thao túng. Hơn thế nữa, với tính cách tư bản tài chính là ít chú trọng đầu tư hạ tầng mà chủ Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 22
  23. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 yếu là sử dụng hình thức đổ vốn vào việc khai thác và bóc lột thuộc địa với phương châm “một vốn bốn lời”, thì nền kinh tế tư bản ở Việt Nam cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX què cụt hơn nhiều ở các nước tư bản công nghiệp. Việc thực dân Pháp gán ghép chủ nghĩa tư bản một cách không đầy đủ vào Việt Nam đã khiến cho giai cấp tư sản Việt Nam hình thành có những đặc điểm khác với tư sản các nước phương Tây. Một đặc điểm đầu tiên là giai cấp tư sản Việt Nam hình thành rất muộn: sau cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Pháp (1897-1914). Trước đó, tư sản Việt Nam đã xuất hiện nhưng chưa đủ điều kiện để hình thành một giai cấp. Do đó có thể nói giai cấp tư sản ra đời thậm chí còn sau cả sự ra đời của giai cấp công nhân, và giai cấp công nhân Việt Nam dường như ra đời gắn với tư sản người Pháp nhiều hơn là với tư sản người Việt. Và như vậy, giai cấp làm tiền đề quan trọng cho sự xuất hiện, tiếp thu hệ tư tưởng tư sản tràn vào Việt Nam giai đoạn trước chiến tranh thế giới thứ nhất chưa có. Nhưng điều đó cũng không quyết định sự chuyển biến tư tưởng trong cách mạng Việt Nam. Cụ thể là Phan Bội châu, Phan Châu Trinh, bản thân không phải là tư sản mà vẫn tiếp thu được tư tưởng dân chủ tư sản, thành lập các tổ chức lãnh đạo và phát động phong trào đấu tranh theo tư tưởng tưởng mới. Bên cạnh đó, quá trình cai trị của Pháp làm thay đổi hẳn bộ mặt kinh tế xã hội Việt Nam. Hàng loạt các thành phố theo kiểu phương Tây ra đời. Cùng với nó đã tạo ra một bộ phận thị dân. Thị dân là những người sống ở các thành thị, gồm không phải chỉ là một giai cấp nhất định, mà có thể là giới thương nhân, công nhân, học sinh, viên chức, Những thị dân này, một mặt có nhu cầu và điều kiện về sinh hoạt văn hóa, tư tưởng; mặt khác họ được tiếp xúc với các luồng tư tưởng mới. Họ cũng là lớp người có tư tưởng cởi mở nhất, có thể thường xuyên giao tiếp với nhau và giao tiếp với những người đến từ các nước khác nên rất nhanh chóng tiếp thu với những thông tin, tri thức mới Vậy nên, bộ phận thị dân chính là nơi du nhập đầu tiên các luồng tư tưởng tiến bộ nói chung, trong đó có tư tưởng dân chủ tư sản. Họ là lực lượng quan trọng cho khuynh hướng đấu tranh mới và là thành phần có thể giác ngộ đông đảo quần chúng nhân dân trong buổi giao thời. Thị dân cũng có mâu thuẫn với chính quyền thuộc địa về chính trị. Tuy nhiên, họ đa phần tư tưởng còn phân tán, chưa qua trải nghiệm đấu tranh. Thế nên, họ chưa thể Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 23
  24. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 đóng vai trò lãnh đạo. Lãnh đạo phong trào bấy giờ là các sĩ phu Nho học, những tri thức đang trong quá trình tư sản hóa. Lực lượng này có gắn bó thiết tha với sự nghiệp cách mạng trước đó, những người tiếp nối trực tiếp phong trào vũ trang kháng Pháp cuối thế kỉ XIX, mà lúc bấy giờ không có lực lượng nào khác đủ điều kiện thay thế. Họ hình thành nên các nhóm chính trị, đề ra tôn chỉ, mục đích để vận động cách mạng với nhiều hình thức phong phú lôi kéo quần chúng tham gia. Những điều kiện nói trên, đặc biệt về giai cấp lãnh đạo sẽ quyết định rất nhiều tới đặc điểm của khuynh hướng chính trị-tư tưởng dân chủ tư sản ở Việt Nam đầu thế kỉ XX. 1.2. Các phong trào đấu tranh theo khuynh hướng dân chủ tư sản trước chiến tranh thế giới thứ nhất 1.2.a. Phong trào Đông Du Đây là cuộc vận động giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản do Phan Bội Châu khởi xướng. Phan Bội Châu xuất thân là một tri thức Nho học. Ông lớn lên có sự gắn bó mật thiết với các phong trào yêu nước theo tư tưởng phong kiến trước đó. Lúc nhỏ, ông thường cùng bạn bè chơi trò “bình Tây”. Khi Pháp đánh Bắc Kì lần thứ nhất (1883), ông thảo hịch “Bình Tây thu bắc” để kêu gọi nhân dân chống Pháp. Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần Vương, ông lập “Đội Thí sinh quân”. “Tiếp đó là mười năm dạy học, mở rộng giao du, tìm những người đồng tâm, đồng chí bí mật liên lạc với các dư đảng Cần Vương ”5 Trong buổi giao thời, tư tưởng dân chủ tư sản bên ngoài dội vào ngày càng nhiều. Trong đó, gương tự cường của Nhật Bản theo chủ nghĩa dân chủ tư sản có sức hấp dẫn lớn đối với các sĩ phu yêu nước tiến bộ. Nó giúp cho các sĩ phu khắc phục nhanh chóng sự luyến tiếc chế độ phong kiến, cung cấp cho họ nhiều kiến thức mới về tư tưởng chính trị và truyền cho họ ngọn lửa nhiệt tình cách mạng. Cả châu Á xuất hiện phong trào “Châu Á bừng tỉnh”. Lúc này bất luận là cách mạng Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc hay là cuộc đấu tranh chống Anh của Ấn Độ do Tilak lãnh đạo đều 5 Nguyễn Ngọc Cơ (chủ biên) (2005), Lịch sử Việt Nam từ năm 1858-1918, Nxb Đại học sư phạm., 151 Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 24
  25. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 mang tính quần chúng rộng rãi và thêm vào đó tính chất mới-tính chất tư sản. Điều đáng nói ở đây là sự vùng lên của phong trào “Châu Á bừng tỉnh” đều có ảnh hưởng ít nhiều từ phong trào Minh Trị Duy Tân (1868). Thành công của nước Nhật trên con đường cải cách và công nghiệp hóa sau Minh Trị Duy Tân, rồi chiến thắng trong cuộc chiến tranh Nga-Nhật (1904-1905), đã cổ vũ các dân tộc phương Đông về khả năng khắc phục tình trạng lạc hậu và khả năng phục hưng của mỗi nước. Phan Bội Châu và một số sĩ phu cấp tiến Việt Nam mở đường Đông Du bởi sự thôi thúc và hấp dẫn của tấm gương phục hưng tự cường từ nước “đồng chủng, đồng văn” này. Tháng 1 năm 1905, một số sĩ phu Việt Nam do Phan Bội Châu đứng đầu sang Nhật cầu viện. Nhưng Nhật từ chối giúp đỡ viện trợ quân sự cho Việt Nam. Điều này cũng dễ hiểu. Muốn có độc lập tự do thì không thể trông chờ vào người khác được, huống chi bản thân Nhật là một nước đế quốc. Luận thuyết đồng chủng, đồng văn của chúng chẳng qua là một trò bịp bợm. Chủ nghĩa đế quốc “hút máu người” thì không kể đó là cùng màu da hay chủng tộc. Đế quốc làm gì đều có sự tính toán. Nếu họ có đem quân giúp đỡ nước ta thì nhất định sẽ mang theo âm mưu nào đó, thậm chí đó là một mối hiểm họa mới mà chính ta rước vào. Từ đó, Phan Bội Châu nhận ra vấn đề quan trọng muốn giải phóng dân tộc là phải xây dựng thực lực của chính mình. Việc cầu viện quân sự từ đây đã biến thành xuất dương du học. Mặc dù Nhật không giúp Việt Nam quân sự nhưng hứa giúp du học sinh Việt Nam ăn học. Từ năm 1906, phong trào Đông Du đi vào hoạt động ngày càng rầm rộ trên cả ba miền đất nước. Hàng loạt tác phẩm của Phan Bội Châu được dịch từ chữ Hán ra chữ Quốc ngữ, gửi về nước. Những năm 1907 - 1908 là thời kì phong trào Đông Du phát triển mạnh nhất. “Năm 1908, số du học sinh lên tới 200 người, trong đó có hơn 100 người quê ở Nam Kì, 50 người quê ở Bắc Kì, và 40 người quê ở Trung kì” 6. Chương trình học tập ở đây khá đa dạng, chủ yếu là học tri thức phổ thông và tri thức quân sự. Phan Bội Châu cùng các đồng chí của ông lập ra Hội Việt Nam Công Hiến (10/1907). Hội chú trọng tổ chức những buổi sinh hoạt chính trị giúp học sinh rèn luyện tư tưởng, đạo đức cách mạng. Hệ thống tổ chức bố trí nhân sự và điều hành hoạt động ở đây giống như một chính phủ lâm thời. 6 Nguyễn Khánh Toàn (2004), Lịch sử Việt Nam, tập II (1958-1945), Nxb Khoa học xã hội, 144 Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 25
  26. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 Cũng chính vào lúc này, Pháp nhận thấy sự phát triển của phong trào Đông Du ngày càng gây bất lợi cho chúng. Pháp-Nhật câu kết nhau đàn áp cách mạng Việt Nam. Tháng 9 năm 1908, Bộ Nội vụ Nhật hạ lệnh giải tán tổ chức học sinh Việt Nam, đuổi học sinh ra ngoài nước Nhật. Phía Pháp ở Việt Nam bắt buộc các phụ huynh có con em du học tại Nhật phải viết thư gọi về, nhiều người còn bị bắt giam. Tháng 2 năm 1909, Phan Bội Châu và Cường Để cũng bị trục xuất khỏi Nhật. Có thể khẳng định, Đông Du là hoạt động đầu tiên chống chủ nghĩa thực dân trên nền tảng duy tân, đổi mới. Đây là một cuộc đổi mới từ tư duy yêu nước, cứu nước truyền thống là bạo động để khôi phục độc lập dân tộc đã chuyển sang tư duy cải cách, đề cao việc học tập tiến bộ. Xuất dương cầu học là một quyết định mang tính đột phá, thay đổi hướng đi và phương pháp đấu tranh, mở cửa hướng ra bên ngoài để học hỏi, tiếp nhận những cái mới cho phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Phan Bội Châu, chính là con người với hoài bão cách tân, đứng trước bế tắc của lịch sử dân tộc đã cố gắng đi tìm lời giải đáp: tự cường để cứu nước. Xuất phát điểm của Phan Bội Châu chính là lòng yêu nước, thương dân-nền tảng vĩ đại đưa ông suốt cuộc đời phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng. Tư tưởng “vọng ngoại” của Phan Bội Châu cũng là một hình thức thể hiện của chủ nghĩa yêu nước chân chính và của tư tưởng duy tân tự cường. Mục tiêu của phong trào là muốn tìm một thế lực mạnh bên ngoài có thể giúp Việt Nam chống lại Pháp để giành độc lập và sau đó phát triển đất nước giàu mạnh. Chủ trương Đông Du từ cầu viện quân sự chuyển thành xuất dương cầu học. Đây là một sự chuyển đổi hợp lý, có sức thuyết phục và có thể chuyển thành một phong trào yêu nước được nhiều người hưởng ứng. So với phong trào duy tân ở Nhật Bản, con đường canh tân ở Việt Nam có cả những điểm tương đồng và khác biệt. Cả hai nước đều nhận thức được tầm quan trọng của việc học tập khoa học kĩ thuật từ bên ngoài. Ở Nhật có phong trào “Hà Lan học” thì ở Việt Nam có trào lưu canh tân đất nước của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch vào cuối thế kỷ XIX và phong trào Đông Du, Duy Tân đầu thế kỷ XX. Chỉ có điều phong trào duy tân ở Nhật Bản được tiến hành sau khi đã xóa bỏ sự tồn tại của chính quyền phong kiến Mạc Phủ, còn phong trào duy tân ở Việt Nam được thực thi trong điều kiện chế độ phong kiến đang còn tồn tại và đất nước đang nằm dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Kết quả khác nhau là Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 26
  27. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 điều dễ thấy. Tuy vậy, sự thức tỉnh ở Việt Nam được xem là khởi đểm cho những chuyển biến mạnh mẽ trong thời gian tiếp theo. Sự thực, hiện tượng Đông Du trên đất Nhật Bản đầu thế kỉ XX đã tác động sâu sắc đến tư tưởng và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam. Thông qua hoạt động của phong trào đã hình thành một nguồn lực quan trọng, làm phong phú nội lực cho đất nước, tạo tiền đề phát huy nội lực trong tương lai. Không chỉ là một phong trào xuất dương cầu học đơn thuần, đây còn là một phong trào chính trị, cách mạng, là một trường rèn luyện cách mạng cho thanh niên Việt Nam. Thực tế lịch sử cho thấy, phong trào đã đào tạo được một số cán bộ cách mạng cung cấp cho phong trào yêu nước ở Việt Nam trong thế kỉ XX như Đặng Tử Mẫn, Lương Ngọc Quyến, Lương Nhị Khanh, và nhiều gương mặt thanh niên ưu tú khác. Phong trào Đông Du đã góp phần làm phá sản chính sách ngu dân của thực dân Pháp. Đông Du cùng những hoạt động sôi nổi, những tác phẩm tràn đầy nhiệt huyết của Phan Bội Châu kết hợp với phong trào Duy Tân, Đông Kinh nghĩa thục ở trong nước đã tạo ra những chuyển biến mới trong nhận thức tư tưởng và hình thái đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam từ hệ tư tưởng phong kiến sang tư tưởng dân chủ tư sản. Như vậy, tầm nhìn của phong trào Đông Du rất xa và rộng, chỉ có điều hoàn cảnh chính trị-xã hội đương thời không cho phép phong trào đến cái đích thành công. Hoạt động của phong trào đã kích động, mở đường cho những người có tư tưởng canh tân thực hiện chấn hưng đất nước sau này. Những bài học lịch sử của phong trào Đông Du để lại rất có ý nghĩa. Đông Du chỉ ra rằng không thể trông chờ vào đế quốc để chống đế quốc, mà phải biết tự “đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Điều đáng ghi nhận và đánh giá cao là Phan Bội Châu cùng các đồng chí của ông đã thấy rõ không có bạo lực cách mạng thì không thể thắng được kẻ thù. Dù chọn con đường bạo động vũ trang để giành độc lập dân tộc, những nhà cách mạng Đông Du không hề coi nhẹ việc nâng cao dân trí, tuyên truyền giáo dục và thức tỉnh quốc dân đồng bào. Phong trào Đông Du đầu thế kỉ XX còn cho thấy, trong thời cận-hiện đại của lịch sử Việt Nam để cứu nước, để phát triển xã hội, những nhà ái quốc không thể tự giam mình trong phạm vi quốc gia mà phải tiếp cận với thế giới, phải tiếp xúc và giao lưu Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 27
  28. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 bên ngoài. Từ đó có thể hiểu mình, hiểu người, hiểu rõ thực trạng đất nước, tìm ra giải pháp đúng cho quá trình giải phóng dân tộc. 1.2.b. Phong trào Duy Tân Phong trào Duy Tân diễn ra vào khoảng những năm 1906-1908 do một số sĩ phu tiến bộ khởi xướng như Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Phong trào Duy Tân là một biện pháp cách mạng điển hình đầu thế kỉ XX song song tồn tại cùng tư tưởng bạo động vũ trang của Phan Bội Châu. Đại diện tiêu biểu cho xu hướng cải cách lúc bấy giờ là Phan Châu Trinh. Phan Châu Trinh (1872-1926) là một sĩ phu tư sản hóa. Ông đỗ Phó bảng năm 1901, không ra làm quan, lại sống ở một vùng giao thương với nước ngoài phát triển là Quảng Nam-Đà Nẵng. Phan Châu Trinh không những chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nguyễn Lộ Trạch mà còn sớm tiếp xúc Tân thư, Tân văn nói về tư tưởng của nhiều nhà dân chủ tư sản Pháp, Trung Quốc. Tháng 8 năm 1906, Phan Châu Trinh viết thư gửi Toàn quyền Pôn Bô thể hiện tư tưởng của mình và lập tức trở thành thủ lĩnh của xu hướng cải cách trong cả nước. Phong trào Duy Tân nhằm vào cải cách đất nước về văn hóa, xã hội gắn liền với việc động viên lòng yêu nước, đấu tranh cho dân tộc thoát khỏi ách thống trị thực dân. Nếu như Phan Bội Châu chủ trương cầu viện để “bài Pháp” thì Phan Châu Trinh lại “ỷ Pháp cầu tiến bộ”. Về đường lối cứu nước, Phan Châu Trinh chưa đặt việc khôi phục chủ quyền quốc gia thành nhiệm vụ trước mắt. Mặt khác, Phan Châu Trinh còn phản đối việc dùng vũ lực để giành lại độc lập cũng như cầu viện bên ngoài: bất bạo động, bạo động tắc tử, bất vọng ngoại, vọng ngoại giả ngu. Ông chủ trương yêu cầu chính quyền thuộc địa sửa đổi chính sách cai trị để có thể giúp nhân dân Việt Nam từng bước tiến đến văn minh. Ông kịch liệt lên án bọn vua quan phong kiến hủ bại và đề xướng tư tưởng dân chủ tư sản với yêu cầu: “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Phan Châu Trinh cho đây chính là những điều kiện để tiến tới giải phóng dân tộc. Nhưng Phan Châu Trinh cũng như các sĩ phu cải cách không ai nghĩ tới một đảng chính trị trong quá trình hoạt động. Điều này đã phần nào quyết định tính cách và bước đi của xu hướng này. Để thực hiện tư tưởng của mình, Phan Châu Trinh hô hào mở mang trường học, phát triển công thương, cải cách phong tục lạc hậu, chống lề lối phong kiến cổ hủ, Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 28
  29. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 Chủ trương của ông được nhiều sĩ phu yêu nước hưởng ứng, phát triển nhanh chóng rộng khắp cả nước trên hầu hết các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội với nhiều hoạt động rất đa dạng. Trước hết ở Trung Kì từ 1906 đến 1908, Phan Châu Trinh trực tiếp lãnh đạo phong trào Duy Tân và phong trào chống thuế. Để cổ vũ cho lối học thực nghiệp, từ năm 1906, Phan Châu Trinh cho thành lập nhiều trường dạy chữ Quốc ngữ, chữ Pháp, văn hóa kĩ thuật. Các sĩ phu cải cách cũng rất chú trọng phát triển kinh tế, lập ra các hội buôn lớn như: Hội An, Phan Thiết, Liên Thanh thương quán, kinh doanh hàng dệt vải, lâm sản, nông sản, hải sản, giao thương với cả nước ngoài. Hoạt động sôi nổi hơn cả là trên lĩnh vực tư tưởng, sinh hoạt với khẩu hiệu để răng trắng, cắt tóc ngắn, ăn mặc theo kiểu mới, Ở nông thôn nổi lên phong trào chống thuế của nông dân. Đến đây phong trào đã vượt khỏi sự kiểm soát của các sĩ phu cải cách. Thực dân Pháp lợi dụng sự kiện này thẳng tay đàn áp phong trào Duy Tân. Một số sĩ phu bị chém như Trần Quý Cáp, Lê Khiết và hàng chục người bị án lưu đày ở Côn Đảo như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Ở Bắc Kì, đáng chú là sự ra đời của Đông Kinh nghĩa thục tại Hà Nội. Ở đây, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền được sự ủng hộ của nhiều trí thức tiến bộ, đã mở trường tư thục năm 1907 học theo kinh nghiệm của Nhật Bản. Nội dung dạy học theo lối mới, chú trọng khoa học tự nhiên, học bằng chữ Quốc ngữ, Hán và Pháp văn. Thầy dạy là những nhân vật nổi tiếng như Phan Châu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Dương Bá Trạc, Số học sinh lên tới hàng ngàn người. Nhà trường thường cho học sinh đi ngoại khóa, tham gia các cuộc bình giảng thơ văn, nói chuyện với dân chúng. Trường ngay từ lúc đầu đã dịch và biên soạn nhiều sách. Có những cuốn đã trở thành những tác phẩm đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ in ở Hà Nội như Nam Quốc Giai Sử, Việt Nam Quốc Sử Lược, Nam Quốc Địa Cư, đặc biệt đã xuất hiện một số tác phẩm tả khuynh như Tiếng cuốc kêu, Bài ca vận động lính tập, Vì lo sợ, tháng 11 năm 1907, thực dân Pháp đã cho đóng cửa trường này. Phong trào Duy Tân ở Nam Kì diễn ra có vẻ ít rầm rộ hơn với cái tên cuộc Minh Tân, tập trung vào những hoạt động kinh tế. Cùng với Sài Gòn, nhiều tỉnh đồng bằng sông Cửu Long như Mỹ Tho, Vĩnh Long, Sa Đéc, Cần Thơ, đã mọc lên các khách sạn (Nam Trung ở Sài Gòn, Minh Tân ở Mỹ Tho ), các cơ sở công nghệ (dệt, xà Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 29
  30. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 phòng, may mặc ), các hội tương tế và đặc biệt một số công ty như Minh Tân công nghệ xã, Nam Kì thương cuộc, Phong trào Duy Tân ở đây cũng lắng xuống từ cuối năm 1908, sau phong trào chống thuế do Pháp tiến hành đàn áp. Phong trào Duy Tân cuối cùng đã thất bại. Đó cũng là sự thất bại chung của xu hướng cải cách đầu thế kỉ XX. Nguyên nhân thất bại lớn nhất là tách rời hay đúng hơn là đã chống lại biện pháp bạo động cứu nước. Phan Châu Trinh cũng không tán thành cầu viện nước ngoài. Bài xích phương pháp đấu tranh vũ trang, Phan Châu Trinh đã tự tách mình ra khỏi sức mạnh truyền thống lâu đời của ông cha trong đấu tranh chống ngoại xâm đó là vũ trang khởi nghĩa. Tư tưởng cải cách đơn thuần không đặt vấn đề bạo động của Phan Châu Trinh đã dẫn ông tới chỗ hoàn toàn loại trừ vấn đề đánh đuổi người Pháp, ngược lại còn đặt vấn đề dựa vào Pháp để chống phong kiến. Nhưng chống phong kiến chỉ dừng lại ở việc lên án quan lại hủ bại chứ chưa đụng đến toàn bộ cơ cấu của nó. Như vậy chủ trương chống phong kiến của Phan Châu Trinh về cơ bản còn đứng trên lập trường Nho giáo. Do hạn chế nhãn quan chính trị, coi chủ nghĩa đế quốc cũng là chủ nghĩa tư bản, mà chủ nghĩa tư bản thì tiến bộ hơn phương thức sản xuất phong kiến, nên Phan Châu Trinh chủ trương tạm thời dựa vào đế quốc để chống phong kiến, giành lại chủ quyền, sau đó sẽ đánh đổ đế quốc giành lại độc lập dân tộc. Điểm xuất phát trên đây của Phan Châu Trinh là nhận thức sai lầm về bản chất của các cường quốc tư bản Âu, Mĩ, do quá tin vào truyền thống tốt đẹp của nền dân chủ tư sản phương Tây. Mặt khác, Phan Châu Trinh còn phê phán, đánh giá trình độ của nhân dân ta quá kém để từ đó không tin vào khả năng cách mạng của nhân dân. Thực dân và phong kiến đã câu kết chặt chẽ với nhau thì chủ trương dựa vào Pháp để chống phong kiến của Phan Châu Trinh không chỉ là một ảo tưởng, mà còn là một sai lầm nghiêm trọng, làm chệch mục tiêu đấu tranh của quần chúng lúc này, đó là phải mũi nhọn vào kẻ thù chính là thực dân Pháp. Mặc dù chủ trương cứu nước của Phan Châu Trinh còn nhiều hạn chế về mặt lịch sử, nhưng ông vẫn là người có tư tưởng dân chủ sớm nhất ở Việt Nam trong những năm đầu thế kỉ XX. Phan Châu Trinh là một nhà yêu nước nhiệt thành, đã có những đóng góp tích cực vào việc khơi dậy tư tưởng dân chủ, mở ra cách nhìn mới về vấn đề dân tộc, dân chủ. Trong hoàn cảnh một xứ thuộc địa, xu hướng cải cách khi có điều Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 30
  31. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 kiện thâm nhập vào quần chúng sẽ nhanh chóng biến thành bạo động, hoặc không tránh khỏi dẫn tới vũ trang bạo động. Việc cổ động thực nghiệp, bài trừ hủ tục phong kiến đã xen lẫn vận động binh lính chống Pháp. Đó là tiền đề dẫn đến các cuộc đấu tranh chống đi phu, chống thuế điển hình là phong trào năm 1908. 1.2.c. Phong trào Đông Kinh nghĩa thục Nhật Bản cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX là “điểm sáng” thu hút nhiều chí sĩ nhiều nước Châu Á đến học tập để duy tân đất nước. Đặc biệt mở trường học kiểu Tây như Khánh Ứng nghĩa thục của Nhật Bản là hình thức rất được nhiều nước chú ý học hỏi. Năm 1906, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh tham quan Khánh Ứng nghĩa thục tại Đông Kinh. Cuối năm 1906, trong một cuộc họp tại Bắc Ninh đã quyết định thành lập tại Hà Nội Đông Kinh nghĩa thục. Tháng 3 năm 1907, một nhóm sĩ phu cùng chí hướng đứng đầu là Lương Văn Can, Nguyễn Quyền đứng ra thành lập Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội. Mục đích của trường là : - Nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc và chí tiến thủ cho quần chúng. - Truyền bá một nền tư tưởng học thuật mới và một nếp sống văn minh tiến bộ. - Phối hợp hành động với các sĩ phu đã xuất dương và hỗ trợ cho phong trào Đông Du của Phan Bội Châu và phong trào Duy Tân đang phát triển trong cả nước7 Thực chất, Đông Kinh nghĩa thục là một tổ chức cách mạng dùng hình thức mở trường học, tuyên truyền văn hóa để đào tạo nhân tài, tập hợp lực lượng yêu nước và là trung tâm của phong trào vận động văn hóa mang tính chất dân tộc, dân chủ. Do tính chất vận động của văn hóa nên hoạt động của Đông Kinh nghĩa thục phổ biến ở thành thị là chủ yếu. Nội dung hoạt động của Đông Kinh nghĩa thục rất phong phú trên các lĩnh vực văn hóa-giáo dục, tư tưởng, xã hội, kinh tế. Đông Kinh nghĩa thục đả kích nền giáo dục phong kiến cũng như hậu quả của nền giáo dục ngu dân của chính quyền thực dân không có ý nghĩa mở mang văn hóa, văn minh cho dân tộc. Đông Kinh nghĩa thục phê phán nền giáo dục phong kiến xa rời thực tế, xem sách thánh hiền là đỉnh cao của trí tuệ. Mẫu người của nền giáo dục phong kiến hướng tới là kẻ sĩ, là người quân tử, là bậc trượng phu, hoàn toàn khác với những người bình dân, là thành phần đông đảo 7 . Đinh Xuân Lâm (chủ biên) (2005), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập II, Nxb Giáo dục, 160 Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 31
  32. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 nhất trong xã hội. Nội dung chương trình học gồm các môn lịch sử, địa lý, khoa học thường thức dạy chủ yếu bằng chữ Quốc ngữ có kèm chữ Hán và Pháp văn. Trường còn đẩy mạnh biên soạn sách báo lưu hành rộng rãi trong nhân dân. Đông Kinh nghĩa thục vận động học chữ Quốc ngữ, bài trừ mê tín dị đoan, phê phán những nhà nho thủ cựu, đả kích quan lại tham ô, cổ vũ lòng yêu nước, kết đoàn, đánh thẳng vào hệ tư tưởng phong kiến, chĩa mũi nhọn vào kẻ thù chính là thực dân Pháp trên mặt trận văn hóa-tư tưởng. Về kinh tế, Đông Kinh nghĩa thục hô hào lập các hội buôn, nhằm tạo thêm nguồn tài chính cho trường hoạt động. Phong trào văn hóa của Đông Kinh nghĩa thục ngày càng phát triển mạnh. Số người quyên tiền ủng hộ và hưởng ứng Đông Kinh nghĩa thục ngày càng đông. Nhiều chi nhánh được thành lập như Mai Lâm nghĩa thục, Ngọc Xuyên nghĩa thục, Để thu hút lực lượng cho mình, trường còn chủ trương người học không cần đóng học phí, lại còn được cấp giấy, bút, sách vở. Nhà trường có thư viện, kí túc xá, có lớp học ban ngày và buổi tối. Việc tổ chức của trường tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều người theo học. Thời gian đầu, thực dân Pháp phần nào có ngộ nhận về tính chất của Đông Kinh nghĩa thục bởi sự hoạt động công khai, hợp pháp của nó. Nhưng rồi phạm vi hoạt động ngày càng lan rộng, ảnh hưởng trong nhân dân càng lớn, thực tế phong trào đã khơi dậy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết yêu nước sôi nổi. Đông Kinh nghĩa thục trở thành nguy cơ lớn đối với thực dân Pháp ở Việt Nam. Chính vì vậy, cuối năm 1907, thực dân Pháp bắt đầu bắt đóng cửa trường. Năm 1908, pháp bắt các sĩ phu Đông Kinh nghĩa thục trong đó có Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Dương Bá Trạc, tịch thu và cấm lưu hành tài liệu của trường. Mặc dù chỉ hoạt động trong một thời gian ngắn, nhưng những gì mà Đông Kinh nghĩa thục làm được là rất lớn. Đó chính là xây dựng lực lượng vật chất trong các phong trào quần chúng, chuẩn bị về tinh thần, tư tưởng cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng trong thời đại mới. Đông Kinh nghĩa thục đã xây dựng được một phong trào cách mạng công khai hợp pháp khá sôi nổi trên lĩnh vực văn hóa và tư tưởng theo khuynh hướng dân chủ tư sản. Đông Kinh nghĩa thục còn có tác dụng khơi dậy tinh thần dân tộc, ý thức đấu tranh, lòng yêu nước góp phần chuẩn bị cho bạo động vũ trang. Những hoạt động của Đông Kinh nghĩa thục thường được kết hợp với hoạt Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 32
  33. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 động của phong trào Đông Du và Duy Tân, phát triển thành cuộc cách mạng rộng lớn trong cả nước, lôi cuốn đông đảo lực lượng tham gia. Ngoài việc cống hiến lớn cho việc tuyên truyền cổ động cách mạng, phong trào Đông Kinh nghĩa thục còn góp phần tích cực vào phát triển ngôn ngữ, văn tự và văn hóa dân tộc. Phong trào đã đặt nền tảng cho một nền học thuật mới và một nếp sống văn minh tiến bộ ở Việt Nam. Mặc dù kiến thức giảng dạy còn sơ sài nhưng rất thiết thực với nhân dân, với sự phát triển đất nước hiện tại. Lần đầu tiên, một tư tưởng mới xuất hiện phê phán kịch liệt tư tưởng phong kiến Nho giáo lỗi thời cùng những tệ nạn xấu xa của xã hội thực dân. Những tư tưởng mới này dù khởi đầu chưa thể là một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, nhưng đã phần nào đáp ứng được nguyện vọng của quần chúng bị áp bức, bóc lột đang phải sống bần cùng, tăm tối dưới chế độ thực dân phong kiến. Không những thế, Đông Kinh nghĩa thục với những hoạt động tuyên truyền chấn hưng thực nghiệp và kinh doanh của mình đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế tư sản dân tộc trong quá trình hình thành thiếu cơ sở. Nhìn chung, Đông Kinh nghĩa thục dù thất bại nhưng tác dụng của nó rõ ràng không nhỏ. Nó góp phần chuẩn bị về mặt tinh thần cho các phong trào đấu tranh rộng lớn hơn sau đó. Những kinh nghiệm hoạt động phong phú của Đông Kinh nghĩa thục sẽ được các phong trào yêu nước giai đoạn sau kế thừa và phát huy, làm phong phú thêm nội dung, phương pháp đấu tranh cho cách mạng Việt Nam. 1.2.d. Phong trào Việt Nam Quang Phục hội Sau khi phong trào Đông Du tan rã, những người trong Duy Tân hội bị trục xuất khỏi Nhật Bản, một số ở lại lén lút hoạt động chờ thời. Ở trong nước, tình thế cũng không có lợi cho cách mạng Việt Nam. Những người hoạt động trong Duy Tân hội bị thực dân Pháp lùng bắt, sát hại. Cuộc khởi nghĩa Yên Thế được xem là cuộc khởi nghĩa có chiều sâu, là cơ sở quần chúng cho Duy Tân hội cũng gặp nhiều khó khăn do Pháp tiến hành bao vây, cô lập. Lúc bấy giờ, Xiêm là quốc gia Châu Á có tiếng độc lập tuy không có thực quyền. Nhưng chỉ bấy nhiêu đó cũng đủ đem đến cho nhiều chí sĩ yêu nước của Duy Tân hội lòng ngưỡng mộ trong khi ngoài Nhật Bản và Xiêm thì các nước châu Á khác đương thời không tránh khỏi số phận thuộc địa của các nước đế quốc. Xiêm bấy giờ đặc biệt thu hút sự chuyển sang hoạt động của một số người trong tổ chức Duy Tân hội trong Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 33
  34. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 điều kiện ý định nhờ cậy vào Nhật Bản không thành và những nền tảng cho hoạt động trong nước chưa xuất hiện. Trong lúc cách mạng Việt Nam đang gặp khó khăn thì cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc thành công (1911) lật đổ chế độ phong kiến tồn tại lâu đời và lập ra chính phủ lâm thời ở Nam Kinh. Sự kiện đó có tác động đến tư tưởng của những nhà lãnh đạo Duy Tân hội, đem đến cho họ một nguồn phấn khởi và tin tưởng mới. Chính vì thế, rất đông hội viên Duy Tân hội kể cả những người Đông Du từ Nhật Bản, Xiêm và trong nước chuyển sang Trung Quốc hoạt động. Tất cả trên dưới 100 người đã họp nhau bàn kế hoạch hành động, vận động cách mạng trong nước và tranh thủ sự giúp đỡ của bên ngoài đối với cách mạng Việt Nam. Đến tháng 5 năm 1912, tại Quảng Đông (Trung Quốc), một hội nghị có đầy đủ đại biểu của ba kì đã quyết định thủ tiêu Duy Tân hội, thành Việt Nam Quang phục hội. Tôn chỉ của Việt Nam Quang phục hội đã ghi rõ “Đánh đuổi đế quốc Pháp, khôi phục Việt Nam thành nước Cộng hòa Dân quốc Việt Nam”. Thành phần lãnh đạo và lực lượng ban đầu của Việt Nam Quang phục hội cơ bản vẫn là hội viên của Duy Tân hội. Điểm khác của tổ chức mới này so với Duy Tân hội là sự thức thời và phần nào có sự chuyển biến tư tưởng cách mạng của hội viên trong điều kiện mới. Phải thừa nhận rằng giai đoạn đầu hoạt động, Phan Bội Châu không chú ý đến nhiều đến câu hỏi: Nếu như cách mạng thành công, thực dân Pháp bị đánh đuổi thì lực lượng nào, giai cấp nào sẽ lên nắm quyền? Sẽ xây dựng chính thể quân chủ hay dân chủ? Mà vấn đề quan tâm nhất trước mắt của Cụ là giành độc lập dân tộc, còn mục đích cuối cùng của cách mạng, mục đích lâu dài chưa đề ra cụ thể. Điều này thể hiện rõ qua tôn chỉ của Duy Tân hội: đánh Pháp, giành độc lập tự do cho Tổ quốc, ngoài ra chưa có chủ trương gì khác. Nhưng căn cứ vào việc Phan Bội Châu và những sĩ phu yêu nước Việt Nam giai đoạn này đang hướng về Nhật Bản với lòng ngưỡng mộ lớn, thì cũng nhận ra Phan Bội Châu thiên về tư tưởng quân chủ hơn mặc dù đó là quân chủ lập hiến. Trong Duy Tân hội, Cường Để, một người thuộc dòng dõi hoàng tộc được tôn làm Hội chủ nhằm “thu phục nhân tâm”. Rõ ràng trong thâm tâm Phan Bội Châu giai đoạn đầu, giai cấp phong kiến vẫn còn đủ tư cách đứng trên vũ đài chính trị. Đó là chưa nói đến chủ trương của Cụ ngay từ đầu là bạo động mà bộ phận cầm đầu của lực lượng vũ trang lúc đó không ai khác vẫn là hàng ngũ phong kiến. Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 34
  35. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 Phan Bội Châu đã xác định đúng yêu cầu cấp thiết hàng đầu của cách mạng Việt Nam là giành độc lập dân tộc, vì không có độc lập dân tộc thì không có quyền dân chủ, dân làm chủ với ai? Nhưng Cụ cũng không phản đối tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh. Cụ nghĩ quân chủ lập hiến hay cộng hòa thì cũng chẳng qua là phương tiện giành độc lập, cái nào thích hợp thì dùng, đánh Pháp khôi phục chủ quyền mới là cốt yếu. Như vậy trong thực tế, Phan Bội Châu và các đồng chí của ông trong Duy Tân hội đã có sẵn mầm mống tư tưởng dân chủ. Việc chuyển từ chủ trương quân chủ lập hiến sang dân chủ chỉ còn là vấn đề thời gian, tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể mà thôi. Do đó, khi cách mạng Tân Hợi bùng nổ và thành công, Phan Bội Châu từ Xiêm trở về Quảng Châu Trung Quốc thành lập Việt Nam Quang phục hội, công khai xóa bỏ chủ nghĩa quân chủ để theo hẳn chủ nghĩa dân chủ. Bấy giờ kế hoạch đã rõ ràng. Mục đích là đánh đuổi thực dân Pháp và thủ tiêu chế độ quân chủ phong kiến, xây dựng chính thể dân chủ. Phương pháp cách mạng vẫn là bạo động vũ trang để giành chính quyền. Phan Bội Châu luôn tranh thủ sự giúp đỡ bên ngoài cho cách mạng Việt Nam. Năm 1911, nhân dân cách mạng Tân Hợi thắng lợi, Phan Bội Châu thấy cơ hội này thuận lợi cho cách mạng Việt Nam, liền viết Á sô ngôn kêu gọi đoàn kết các nước châu Á chống đế quốc giành độc lập. Tháng 8 năm 1912, nhằm tranh thủ sự giúp đỡ của Đảng cách mạng Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam, Phan Bội Châu thành lập Hội Chấn Hoa Hưng Á, do Đặng Cảnh Á (người Trung Quốc) làm Hội trưởng và Cụ làm Hội phó. Chương trình hành động của Hội nhằm chủ yếu giúp cho Việt Nam Quang phục hội nhanh chóng đánh đuổi Pháp xâm lược. Việt Nam Quang phục hội chủ trương tạo thanh thế, thu hút lực lượng cũng như tạo uy tín cho tổ chức bằng việc ám sát những tên thực dân đầu sỏ, kể cả toàn quyền Đông Dương An-be-xa-rô và những tên tay sai đắc lực của chúng. Ngoài ra, Hội còn liên tiếp phái quân tiến đánh các đồn Pháp dọc theo biên giới Việt-Trung. Trước nhiều cuộc bạo động của tổ chức Việt Nam Quang phục hội, thực dân Pháp tiến hành khủng bố dã man. Chúng bắt giam hàng trăm người, xử tử nhiều chiến sĩ yêu nước. Bản thân Phan Bội Châu cũng bị bọn quân phiệt Trung Quốc bắt ở Quảng Đông (24/12/1913) và bị giam cầm đến tháng 2 năm 1917 mới được thả. Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 35
  36. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 Thế chiến thứ nhất bùng nổ tác động lớn đến tình hình Việt Nam. Thực dân Pháp chuyển các hoạt động kinh tế nước ta sang phục vụ nhu cầu chiến tranh. Ngoài ra, chúng còn tăng cường áp bức bóc lột, đặc biệt là bắt lính, đã gây nên sự phẫn nộ trong nhân dân Việt Nam. Khí thế đấu tranh của quần chúng, nhất là tinh thần phản chiến của lính Việt Nam trong quân đội Pháp ngày càng lên cao. Việt Nam Quang phục hội nhân cơ hội này đã đẩy mạnh hoạt động. Phương pháp đấu tranh vẫn là bạo động. Nhưng các phong trào đều lần lượt thất bại và chấm dứt từ sau năm 1917. Sự thất bại của tổ chức Việt Nam Quang phục hội do nhiều nguyên nhân khác nhau. Phan Bội Châu đã thấy được sức mạnh của bạo lực là sức mạnh có vũ trang của nhiều người, cần liên kết nhiều nước, kết hợp tranh thủ sự giúp đỡ bên ngoài và vận động bên trong để đánh Pháp. Nhưng vì chính lúc này ở trong nước, phong trào cách mạng đang bị địch đàn áp. Hàng nghìn chí sĩ bị bắt, bị giam cầm, tù đày, giết chóc, tổ chức yêu nước bị tan vỡ. Năm 1913, Đề Thám bị sát hại, căn cứ Yên Thế bị san phẳng, cho nên Việt Nam Quang phục hội tuy có tổ chức quy mô vẫn không thể xây dựng được phong trào quần chúng trong nước như Duy Tân hội trước đây. Mặt khác, do thiếu tự tin vào sức lực của mình, dù ít hay nhiều vẫn còn tư tưởng dựa vào bên ngoài, nên ngay từ đầu hoạt động của Hội đã bộc lộ tính phiêu lưu. Những người lãnh đạo cho rằng cần phải làm việc gì đó “kinh thiên động địa” để tạo tiếng vang, “đánh thức đồng bào”, nên họ nhanh chóng tổ chức những cuộc bạo động vũ trang mang tính chất tự phát khi chưa có sự chuẩn bị đầy đủ, kỹ lưỡng. Và như thế, trong điều kiện kẻ thù còn đang mạnh thì những cuộc bạo động nhỏ lẻ, non yếu về chính trị, tổ chức và lực lượng dễ dàng bị đàn áp đẫm máu. Nhìn chung, dự định của Việt Nam Quang phục hội cũng đã đạt được một số kết quả, các cuộc bạo động lẻ tẻ cũng đã khuấy động dư luận trong và ngoài nước. Mặc dù thất bại, nhưng trong hoàn cảnh chưa xuất hiện một tổ chức cách mạng mới có uy tín và trình độ lãnh đạo cao hơn thì danh nghĩa của Việt Nam Quang phục hội, cùng với uy tín của lãnh tụ Phan Bội Châu vẫn là nguồn cổ vũ và là niềm tin cho các lực lượng yêu nước. Tổ chức này đã đánh dấu một bước tiến mạnh hơn trong tư tưởng chính trị của những người lãnh đạo cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ trên con đường dân chủ tư sản. Lần đầu tiên vấn đề chủ trương thành lập chế độ dân chủ cộng hòa được nêu lên trong cương lĩnh của một tổ chức cách mạng. Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 36
  37. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 Đường lối bạo động cách mạng của Phan Bội Châu có ý nghĩa rất lớn. Mặc dù không giành được thắng lợi nhưng vì đi đúng xu thế phát triển của lịch sử, đường lối bạo động cách mạng đó đã phát động mạnh mẽ tinh thần yêu nước, giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Đó là những cống hiến lớn lao của Phan Bội Châu và Việt Nam Quang phục hội vào sự nghiệp cách mạng Việt Nam. 1.3. Đặc điểm của các phong trào Đây là thời kỳ quá độ chuyển từ phạm trù phong kiến sang phạm trù tư sản nên phong trào diễn ra phức tạp. Có nhiều xu hướng đấu tranh cùng song song tồn tại và phát triển (xu hướng bạo động, xu hướng cải cách). Trong từng xu hướng tưởng như có sự đối lập, nhưng thực tế đều chung một mục tiêu là đuổi pháp giành độc lập, tự do, chỉ khác nhau về cách làm, về biện pháp đi tới mục tiêu đó. Tự do là điểm mới của khuynh hướng dân chủ tư sản so với khuynh hướng phong kiến. Xu hướng bạo động do Phan Bội Châu là người đứng đầu và xu hướng cải cách mà Phan Châu Trinh là người đại diện đầy đủ nhất đều có chung nền tảng là chủ nghĩa yêu nước, đều hướng tới độc lập dân tộc. Sở dĩ có phân hóa thành hai xu hướng bạo động và cải cách là do mức độ tiếp thu ảnh hưởng tư tưởng mới không đồng đều trong hàng ngũ sĩ phu yêu nước đầu thế kỉ XX. Việc tiếp thu ảnh hưởng mới đó phụ thuộc vào một số điều kiện nhất định như truyền thống gia đình, truyền thống quê hương, tác động của chính sách khai thác, bóc lột của tư bản Pháp đến các địa phương khác nhau. Hai xu hướng này không hề đối lập nhau, trái lại còn hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển. Trong hoàn cảnh một xứ thuộc địa, xu hướng cải cách khi có điều kiện thâm nhập vào quần chúng thì cũng nhanh chóng trở thành bạo động, có tính cách mạng. Từ cuộc vận động duy tân tiến lên cuộc đấu tranh chống thuế quyết liệt của nông dân các tỉnh miền Trung năm 1908, đó là quá trình phát triển biện chứng của lịch sử. Nếu như khẳng định Phan Bội Châu là nhà yêu nước lớn, là người tiêu biểu cho phong trào cách mạng Việt Nam hồi đầu thế kỉ XX trước khi lãnh tụ mới của thời đại là Nguyễn Ái Quốc xuất hiện trên vũ đài chính trị Việt Nam, thì cũng phải khẳng định Phan Châu Trinh là người có những đóng góp tích cực vào việc khơi dậy tư tưởng dân chủ, mở ra một cách nhìn về vấn đề dân tộc, dân chủ như một sự bổ sung cần thiết cho phong trào cách mạng nói chung, là người đầu tiên có tư tưởng dân chủ ở Việt Nam Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 37
  38. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 hồi đầu thế kỉ XX. Tất nhiên do điều kiện giai cấp và thời đại, cả hai Cụ Phan đều có những hạn chế nhất định trong cách suy nghĩ cũng như việc làm. Phương hướng của các phong trào dân chủ tư sản đầu thế kỉ XX là xóa bỏ hẳn nhà nước phong kiến chuyên chế, xây dựng một nhà nước tiến bộ hơn sau khi giành độc lập. Động lực của phong trào được mở rộng so với trước, không chỉ có nông dân mà có cả những lực lượng và giai cấp xã hội mới tham gia. Vai trò lãnh đạo thuộc về một số sĩ phu yêu nước có nguồn gốc phong kiến, nhưng chịu ảnh hưởng của trào lưu dân chủ tư sản từ ngoài vào nên đã đi theo con đường cứu nước mới. Về hình thức đấu tranh, bên cạnh đấu tranh vũ trang của thời kì trước vẫn được duy trì, đã xuất hiện nhiều hình thức mới, như lập các hội yêu nước (Duy Tân hội, Việt Nam Quang phục hội), mở trường học, ra sách báo tuyên truyền, phổ biến kiến thức mới (Đông Kinh nghĩa thục; các trường Diên phong, Phú Lâm, Phú Bình ở Quảng Nam; Dục Thanh ở Phan Thiết), diễn thuyết, bình văn, Phương pháp đấu tranh đã có sự kết hợp nhiều phương thức kinh tế, chính trị, văn hóa với quân sự; kết hợp phương pháp hòa bình, bạo lực công khai hợp pháp, bất hợp pháp với nhau. Các phong trào diễn ra với quy mô rộng khắp toàn quốc, mặc dù mới là bề rộng, chưa đi vào chiều sâu. Tuy nhiên, kết quả cuối cùng là tất cả các phong trào đấu tranh trước chiến tranh thế giới thứ nhất đều thất bại. Nguyên nhân thất bại có nhiều, nhưng chủ yếu vì thiếu một giai cấp lãnh đạo năng lực, thiếu một đường lối chính trị đúng đắn và một phương pháp cách mạng khoa học, không có cơ sở rộng rãi trong quần chúng. Thế nhưng cũng không thể phủ định rằng, giữa khuynh hướng phong kiến và dân chủ tư sản thì rõ ràng khuynh hướng dân chủ tư sản tiến bộ hơn. Chính khuynh hướng dân chủ tư sản đã làm cho công cuộc vận động giải phóng dân tộc ở Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực. II.2. Phong trào cách mạng sau chiến tranh thế giới thứ nhất 2.1. Điều kiện ra đời và phát triển của các phong trào Bối cảnh thế giới sau chiến tranh thế giới thứ nhất Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) là cuộc chiến tranh phân chia quyền lực, thuộc địa, thị trường thế giới giữa các cường quốc tư bản chủ nghĩa. Cuộc chiến tranh đế quốc này để lại hậu quả nặng nề cho nhân loại. Các nước tham chiến dù thắng hay bại, nền kinh tế, tài chính đều bị lâm vào suy kiệt. Để bù đắp những thiệt hại của Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 38
  39. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 chính quốc sau chiến tranh, Pháp tìm cách trút gánh nặng lên thuộc địa của mình, trong đó có Việt Nam. Ở Đông Dương, Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919-1929) với số vốn đầu tư cũng như cường độ mạnh hơn rất nhiều so với lần khai thác trước đó (1897-1914). Trên thế giới lúc bấy giờ còn ghi nhận một sự kiện quan trọng, cách mạng tháng Mười Nga thành công (1917). Lần đầu tiên trong lịch sử, công nhân và nông dân lên nắm chính quyền và bắt tay xây dựng chế độ xã hội mới, xã hội chủ nghĩa. Sự kiện đó có một ý nghĩa lịch sử to lớn, mở ra con đường giải phóng dân tộc ở phương Đông và thúc đẩy phong trào công nhân các nước tư bản phương Tây phát triển mạnh trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc. Tiếp sau Cách mạng tháng Mười Nga là sự ra đời Quốc tế cộng sản (tức Quốc tế thứ III) tháng 3 năm 1919. Sự kiện này đem lại cho cách mạng thuộc địa những thuận lợi lớn. Đặc biệt với việc Quốc tế cộng sản lập ra hàng loạt các tổ chức quần chúng như Quốc tế nông dân, Quốc tế thanh niên, Quốc tế phục nữ đã có ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Trong hoàn cảnh lịch sử mới, trên thế giới lúc bấy giờ, những lực lượng cách mạng của giai cấp vô sản đều tìm con đường tập hợp nhau lại để thành lập những tổ chức riêng của mình. Điều đó dẫn tới ra đời hàng loạt các Đảng cộng sản ở các nước tư bản cũng như các nước thuộc địa, nửa thuộc địa. Đáng chú ý là sự ra đời của Đảng cộng sản Pháp (1920) và Đảng cộng sản Trung Quốc (1921) tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng Việt Nam “đứng chân”, gây dựng phong trào trong nước. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, bên cạnh chủ nghĩa Mác-Lênin bắt đầu truyền bá vào Việt Nam cùng với con đường cứu nước theo khuynh hướng vô sản, thì những tư tưởng dân chủ tư sản du nhập từ trước đó tiếp tục phát triển, nhất là chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn với nội dung “dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc” vẫn tiếp tục tràn vào Việt Nam. Tình hình thế giới như trên ảnh hưởng không nhỏ tới bước phát triển cũng như đặc điểm của các phong trào dân tộc, dân chủ theo hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam giai đoạn 1919-1930 . Tình hình trong nước sau chiến tranh thế giới thứ nhất Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 39
  40. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 Về chính trị, thực dân Pháp sau chiến tranh thế giới tăng cường khủng bố, đàn áp các tổ chức, các chiến sĩ yêu nước và phong trào đấu tranh phản kháng của nhân dân. Các quyền tự do, dân chủ của nhân dân ta bị bóp nghẹt nhưng lại được che đậy dưới những thủ đoạn bịp bợm. Pháp thi hành chính sách “cải lương hương chính” (sửa đổi việc làng) nhằm tổ chức lại bộ máy chính quyền làng xã, lập ra hương ước mới, nhằm từng bước can thiệp vào công việc làng xã, loại bỏ dần tính tự trị của nó. Trên nguyên tắc, công cuộc “cải lương hương chính” vẫn chấp nhận cơ chế quản lý làng xã cổ truyền, nhưng trên một chừng mực nào đó thực dân Pháp đã đạt được mục tiêu kiểm soát nhân sự, tài chính của bộ máy chính quyền ở một số nơi ở nông thôn. Thực dân Pháp còn thực hiện “cải cách hành chính” tăng thêm một số ít công chức người Việt trong bộ máy chính quyền thực dân; tăng thêm một vài đại biểu người Việt vào Hội đồng quản hạt ở Nam Kì, Viện dân biểu ở Bắc Kì, Trung Kì để xoa dịu bất mãn của công chức người Việt, lôi kéo tầng lớp đại địa chủ, đại tư sản và trí thức thượng lưu. Tuy nhiên, tất cả những chính sách đó của Pháp đều là những trò mị dân. Cuộc cải cách nhỏ giọt một số quyền lực chính trị không nhằm mục đích mở rộng tính dân chủ cho dân tộc thuộc địa mà nhằm xây dựng một đội ngũ tay sai phục vụ đắc lực cho cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của chúng. Về kinh tế, Pháp đẩy mạnh chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai với số vốn lớn hơn rất nhiều so với lần trước (1897-1914). Từ 1888 đến 1918, tổng số vốn đầu tư của cả nhà nước và tư nhân ở Đông Dương, chủ yếu ở Việt Nam, mới có gần 1 tỷ phơrăng, trong đó tư bản tư nhân là 492 triệu. Thế mà chỉ trong 6 năm (1924-1929), riêng tư bản tư nhân Pháp đã đem thêm qua nước ta khoảng 3-4 tỷ phơrăng8 Thực dân Pháp đã biến Việt Nam thực sự trở thành thuộc địa khai thác và thị trường tiêu thụ hàng hóa quan trọng của mình. Cũng giống như lần trước, trong quá trình tăng cường đầu tư khai thác ở nước ta, lần này một mặt chúng cho phát triển có hạn chế kinh tế tư bản chủ nghĩa, mặt khác vẫn duy trì và dung túng quan hệ sản xuất 8 Nguyễn Khánh Toàn (2004), Lịch sử Việt Nam, tập II (1958-1945), Nxb Khoa học xã hội, 199 Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 40
  41. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 phong kiến lạc hậu. Vì vậy, đợt khai thác lần này chỉ làm đậm nét hơn tính chất của nền kinh tế thuộc địa nửa phong kiến ở nước ta lúc đó. Với đặc điểm ấy, kinh tế Việt Nam không thể phát triển độc lập, mà ngày càng kiệt quệ, què quặt, lạc hậu, bị lệ thuộc và phục vụ nền kinh tế Pháp. Dưới tác động của khai thác thuộc địa lần thứ hai thì nền kinh tế Việt Nam tiếp tục chuyển biến sâu sắc thêm theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực. Về hình thức, đó là một cơ cấu kinh tế thuộc địa mang sắc thái hiện đại nhưng lại mất cân đối trong nội bộ ngành, giữa các ngành và mất cân đối giữa các vùng trong cả nước. Sự biến đổi về kinh tế cùng với những tác động của những chính sách về chính trị của thực dân Pháp làm cho tình hình xã hội Việt Nam cũng biến đổi theo. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, bên cạnh các giai cấp cũ lâu đời (địa chủ và nông dân) tiếp tục phân hóa thì tầng lớp tư sản Việt Nam lúc bấy giờ do những điều kiện mới đã trở thành một giai cấp; giai cấp công nhân và tiểu tư sản cũng tăng lên đáng kể và có bước phát triển mới. Giai cấp địa chủ không bị suy giảm, trái lại còn được phát triển mạnh hơn trước. Nguyên nhân là do họ tập trung trong tay ngày càng lớn ruộng đất dưới sự che chở của thực dân Pháp. Địa chủ được chính quyền thực dân sử dụng như một phương thức bóc lột. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, “giai cấp địa chủ chiếm 5-7 % dân số nông thôn nhưng đã chiếm 50% diện tích đất canh tác Đại địa chủ Bắc kì có từ 18-36 ha trở lên. Do đất đai điều kiện canh tác thuận lợi tại Nam kì có những địa chủ sở hữu tới hàng nghìn ha”9 Giai cấp nông nhân là thành phần đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam. Dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa, giai cấp nông dân đã chuyển biến sâu sắc và có sự phân tầng rõ rệt: phú nông, trung nông, bần nông, cố nông. Giai cấp nông dân là giai cấp bị bóc lột và áp bức nặng nề nhất. Cuộc sống của họ bấp bênh, thậm chí bần cùng hóa. Để duy trì cuộc sống, họ phải ra thành phố, hầm mỏ để kiếm công ăn việc làm. Một số người may mắn tìm được nơi bán sức lao động trở thành công nhân, số khác quay về nông dân, cam chịu cuộc sống cùng quẩn và bế tắc. Giai cấp công nhân lúc bấy giờ đã tăng lên rất nhiều đặc biệt là công nhân làm trong các đồn điền. Điều kiện sống và làm việc của họ rất cực khổ. Họ phải làm việc 9 Nguyễn Đình Lễ (chủ biên) (2005), Lịch sử Việt Nam từ 1919 đến 1945, Nxb Đại học sư phạm, 27 Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 41
  42. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 tập trung từ 10-14 giờ/ngày với đồng lương rẻ mạt, thường xuyên bị cúp phạt và đánh đập. Trước khi họ trở thành công nhân, họ đã là nông dân. Vì thế bên cạnh mối thù giai cấp, họ còn có mối thù dân tộc. Do vậy, công nhân Việt Nam sớm giác ngộ ý thức giai cấp và nhanh chóng vươn lên nắm lấy ngọn cờ giải phóng dân tộc. Quá trình đẩy mạnh khai thác thuộc địa của thực dân đẩy nhanh sự xuất hiện càng nhiều thành thị kiểu phương Tây, cùng với nền giáo dục phát triển nên tầng lớp trí thức, tiểu tư sản ngày càng trở nên đông đảo. Đặc điểm chung của họ đều là thị dân, sở hữu một ít tư liệu sản xuất. Thị dân là lực lượng nhạy bén với những tri thức mới và có tinh thần cách mạng. Họ là lực lượng ít nhiều cũng bị chèn ép, có mâu thuẫn với chính quyền thực dân phong kiến. Một hệ thống thành thị phát triển, tầng lớp thị dân trở nên đông đúc là những tiền đề, điều kiện tiếp nhận văn hóa phương Tây. Trong sinh hoạt chính trị và văn hóa dần xuất hiện các đảng phái chính trị, các nhà xuất bản, các dòng báo chí, các thể loại văn học nghệ thuật mới Tất cả có tác động không nhỏ tới cách mạng dân tộc, dân chủ nước ta từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Thời kì sau Đại chiến thế giới thứ nhất, đặc biệt từ 1919-1924, tư sản Việt Nam phát triển với một số tốc độ nhanh chóng. Họ đã tập hợp thành một tập đoàn có địa vị kinh tế và ý thức giai cấp rõ rệt. Tư sản Việt Nam tìm cách nâng cao địa vị kinh tế của mình bằng cách dùng nhiều biện pháp để mở rộng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam. Họ không những cổ động thực nghiệp mà còn cổ động nhân dân tiêu dùng đồ nội hóa chống lại ảnh hưởng của hàng ngoại hóa trên thị trường. Ý thức giai cấp cũng thể hiện rõ bằng sự tự giác liên kết với nhau thành tập đoàn bảo vệ quyền lợi cho nhau, biểu lộ trong quan hệ đối với thực dân Pháp và các giai cấp khác. Để chống lại hay hạn chế sự chèn ép của chính quyền thực dân phong kiến, tư sản Việt Nam có nhu cầu “muốn được tự do tham gia vào hội đồng quản hạt, viện dân biểu, họ muốn có hiến pháp, có nghị viện như một chế độ tư bản; họ muốn có chính đảng của giai cấp tư sản Việt Nam. Họ muốn tự do học tập để trở thành luật sư, bác sĩ, kĩ sư, để phát triển thực nghiệp” 10 10 Nguyễn Công Bình (1959), Tìm hiểu giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc, NXB Văn Sử Địa, Hà Nội, 119 Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 42
  43. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 Mâu thuẫn xuất hiện giữa giai cấp tư sản và công nhân. “Tư sản Việt Nam đã có ý thức cùng nhau dùng những biện pháp để tăng cường bóc lột công nhân Việt Nam, cùng nhau đối phó với sự đấu tranh của công nhân Việt Nam” 11. Tư sản Việt Nam đã thật sự trở thành một giai cấp. Như vậy, sau chiến tranh thế giới thứ nhất, xã hội Việt Nam đã biến đổi sâu sắc, phân hóa phức tạp các giai tầng với các thế lực, địa vị và thái độ chính trị khác nhau. Nhưng họ lại có kẻ thù chung là thực dân Pháp và phong kiến tay sai ở những góc độ, mức độ khác nhau. Điều đó góp phần quy định tính quần chúng của các phong trào yêu nước trong thời kì này trong các khuynh hướng đấu tranh. Tóm lại, tình hình thế giới và trong nước như thế đã tạo ra những điều kiện hình thành cũng như phát triển đồng thời quy định đặc điểm của phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam giai đoạn 1919-1930. 2.2. Nội dung của các phong trào yêu nước dân chủ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến trước năm 1930 2.2.a. Phong trào ở nước ngoài Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, phong trào yêu nước ở nước ngoài của nhân dân Việt Nam ngoài hoạt động của Nguyễn Ái Quốc đang xúc tiến việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam hướng con đường cứu nước theo khuynh hướng vô sản, còn có hoạt động của nhiều nhà yêu nước khác như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường đứng trên lập trường dân chủ tư sản. Đây là một nhân tố làm cho phong trào yêu nước của nhân dân trong cả nước và kiều bào dâng lên rất mạnh mẽ. - Những hoạt động yêu nước của người Việt Nam ở Trung Quốc Trung Quốc là nơi hoạt động của nhà yêu nước Phan Bội Châu và nhiều thanh niên tiểu tư sản trí thức. Trước khi bị bắt (1925), Phan Bội Châu đã ra sức hoạt động, tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước trong người Việt. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, có nhiều biến cố xảy ra tác động đến quá trình hoạt động của Phan Bội Châu. Trong thời gian Cụ bị bọn quân phiệt Trung Quốc bắt giam tại Quảng Châu, những hoạt động của Việt Nam Quang phục Hội lần lượt thất bại. Số hội viên còn lại rất ít do hy 11 Nguyễn Công Bình (1959), Tìm hiểu giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc, NXB Văn Sử Địa, Hà Nội, 118 Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 43
  44. Học viên : Lê Thanh Dũng - Cao học Lịch sử Đảng _ K16 sinh hoặc do chán nãn rút khỏi. Tiếp đó là cách mạng Tháng Mười thắng lợi có sức ảnh hưởng lớn đến nhiều nước trên thế giới. Trong tâm trạng thất vọng, Phan Bội Châu bắt đầu hướng tới một tư tưởng mới, tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Có lần ông đã đến gặp Đại sứ quán Nga ở Bắc Kinh để hỏi việc gửi người Việt Nam sang Nga du học. Nhưng những tình cảm và việc làm của ông mới dừng lại ở bên ngoài, chưa bắt nguồn từ những nhận thức, tư tưởng. Nhưng sự kiện này cũng chứng tỏ Phan Bội Châu luôn là người yêu nước nhiệt thành, thực sự cầu thị, sẵn sàng thay đổi phương châm, đường hướng miễn là đạt được mục đích cuối cùng. Tháng 6 năm 1925, thực dân Pháp bắt Phan Bội Châu tại Quảng Châu và kết án tù. Trước làn sóng phản kháng của nhân dân trong nước, Pháp đưa Phan Bội Châu về giam lỏng ở Huế. Từ đó, ông bị cách biệt với thực tế cuộc sống bên ngoài, không thể vươn tới một tư tưởng mới hay một trào lưu cách mạng tiến bộ hơn. Bên cạnh hoạt động của Phan Bội Châu, còn nhiều người Việt Nam yêu nước sang Trung Quốc tìm đường cứu nước và hoạt động khá sôi nổi tiêu, biểu là nhóm Tâm Tâm xã. Tâm Tâm xã là một tổ chức yêu nước của thanh niên tiểu tư sản được thành lập năm 1923 tại Quảng Châu, chủ trương chống Pháp để phục quốc. Về phương pháp hoạt động, Tâm Tâm xã sẵn sàng làm bất cứ việc gì, kể cả trừng trị những tên thực dân đầu sỏ, nhằm thức tỉnh đồng bào đứng dậy đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi đất nước. Với nhiệt tình yêu nước, các thành viên Tâm Tâm xã hoạt động sôi nổi, tiêu biểu nhất là vụ ám sát Toàn quyền Đông Dương Méc-lanh ở Sa Điện (Quảng Châu, Trung Quốc) do Phạm Hồng Thái thực hiện (16/6/1924). Tuy vụ ám sát không thành nhưng có thể nói tiếng vang của Phạm Hồng Thái có tác dụng rất lớn trong việc cổ vũ, thúc đẩy phong trào yêu nước tiến lên. Đây là một tổ chức tiến bộ nhưng chưa thoát khỏi ảnh hưởng của tư tưởng tư sản trong quá trình hoạt động. Tuy nhiên về sau do sự tác động lớn của chủ nghĩa Mác- Lênin với vai trò truyền bá của Nguyễn Ái Quốc thì hầu hết các thành viên của Tâm Tâm xã đã đi theo con đường cách mạng vô sản. Đây là một sự chuyển biến mới của phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam. - Những hoạt động yêu nước của người Việt Nam ở Pháp Tại Pháp đáng chú ý nhất là những hoạt động của nhà chí sĩ yêu nước lão thành Phan Châu Trinh. Bài tiểu luận : Lịch sử Việt Nam 44