Phát triển hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2020 (Phần 2)

pdf 104 trang ngocly 50
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Phát triển hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2020 (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfphat_trien_he_thong_an_sinh_xa_hoi_o_viet_nam_den_nam_2020_p.pdf

Nội dung text: Phát triển hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2020 (Phần 2)

  1. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 46 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 PHẦN II AN SINH XÃ HỘI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2012-2020
  2. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 47 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 PHẦN II. AN SINH XÃ HỘI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2012-2020 CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI VIỆT NAM 1. Chủ trương của Đảng và Nhà nước về An Sinh Xã Hội Từ thực tiễn đất nước và kinh nghiệm quốc tế, nhận thức về chính sách an sinh xã hội trong hệ thống chính sách xã hội ngày càng được hoàn thiện, thể hiệ n rấ t rõ trong cá c văn kiệ n củ a Đả ng. Ngay từ khi Cách mạng tháng 8 thành công, Đảng và Nhà nước đã coi nhiệm vụ diệt giặc đói, giặc dốt như diệt giặc ngoại xâm. Trong đó, đối phó với giặc đói được đặt lên hàng đầu. Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ mong muốn là: “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) khẳ ng đị nh: “Chính sách xã hội bảo đảm và không ngừng nâng cao đời sống vật chất của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất Có chính sách bảo trợ và điều tiết hợp lý thu nhập giữa các bộ phận dân cư, các ngành và các vùng”. Đặ c biệ t lầ n đầ u tiên, Cương lĩnh xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (được bổ sung, phát triển năm 2011) đã tuyên bố cầ n phả i: “Hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội”. Cụm từ “an sinh xã hội” được chí nh thứ c sử dụ ng trong văn kiện Đại hội IX của Đảng (4/2001): “Khẩn trương mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội. Sớm xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp”.
  3. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 48 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Đại hội X đã đưa ra tư tưởng chỉ đạo có tính chất định hướng chiến lược là: “Thực hiện tốt chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi với nghĩa vụ, cống hiến với hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ hơn cho phát triển kinh tế – xã hội”. Đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiệ n cá c chính sá ch xã hộ i trên nguyên tắ c tiế n bộ và công bằ ng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, giải quyết tốt các vấn đề xã hội có ý nghĩa chiến lược, đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường, nhất là vấn đề việc làm, giảm thất nghiệp, ưu đãi người có công, xoá đói giảm nghèo, bảo trợ xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội Nghị quyế t Đạ i hộ i X củ a Đả ng chủ trương: “Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng, phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân ; đa dạng hoá các loại hình cứu trợ xã hội”. Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (Khóa X) một lần nữa nhấn mạnh: “Từng bước mở rộng và cải thiện hệ thống an sinh xã hội để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, nhất là của nhóm đối tượng chính sách, đối tượng nghèo”. Đến Đại hội XI, nhận thức về hệ thống chính sách an sinh xã hội tiếp tục được hoàn thiện và nâng lên tầm chiến lược về phát triển hệ thống chính sá ch an sinh xã hội trong giai đoạ n mớ i, phá t triể n kinh tế thị trường đị nh hướ ng xã hội chủ nghĩa và hộ i nhậ p sâu rộ ng và o nề n kinh tế thế giớ i. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Tạ o bướ c tiế n rõ rệ t về thự c hiệ n tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỷ lệ hộ nghèo; cả i thiệ n điề u kiệ n chăm só c sứ c khỏ e nhân dân”. Đại hội XI tiếp tục làm rõ những quan điểm, định hướng, nội dung cụ thể cho từng chính sách an sinh xã hội: “Tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, vượt qua khó khăn hoặc
  4. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 49 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 các rủi ro trong đời sống. Tăng tỷ lệ người lao động tham gia các hình thức bảo hiểm. Đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ bảo hiểm xã hội, chuyển các loại hình trợ giúp, cứu trợ sang cung cấp dịch vụ bảo trợ xã hội dựa vào cộng đồng. Bảo đảm cho các đối tượng bảo trợ xã hội có cuộc sống ổn định, hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng, có cơ hội tiếp cận nguồn lực kinh tế, dịch vụ công thiết yếu. Thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội, bảo đảm thực hiện đúng, đầy đủ chế độ quy định đối với mọi đối tượng”. Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 nhấn mạnh: “Phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả. Phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người lao động tiếp cận và tham gia các loại hình bảo hiểm. Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi và không ngừng nâng cao mức sống đối với người có công. Mở rộng các hình thức cứu trợ xã hội, nhất là đối với các đối tượng khó khăn”. Nghị Quyết số 15-NQ/TW của Ban chấp hành TW Đảng ngày 1/6/2012 đặt ra yêu cầu “Chính sách xã hội phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong từng thời kỳ ”, đồng thời thự c hiệ n có trọ ng tâm, trọ ng điể m, bả o đả m mứ c số ng tố i thiể u và hỗ trợ kị p thờ i ngườ i có hoà n cả nh khó khăn. 2. Nguyên tắc, Chức năng và các Cấu phần của Hệ thống An Sinh Xã Hội Việt Nam 2.1. Quan điểm phát triển Thứ nhất, coi bảo đảm an sinh xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.
  5. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 50 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Thứ hai, phát triển hệ thống an sinh xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế-xã hội và khả năng huy động và cân đối nguồn lực của đất nước trong từng thời kỳ; ưu tiên người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số. Thứ ba, xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng, toàn diện, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ, bảo đảm bền vững, công bằng. Thứ tư, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội, đồng thời tạo điều kiện để người dân nâng cao khả năng tự bảo đảm an sinh. Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế để có thêm nguồn lực, kinh nghiệm trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách an sinh xã hội. 2.2. Nguyên tắc Vận dụng kinh nghiệm của các nước và điều kiện cụ thể của Việt Nam, việc xây dựng và phát triển hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam dựa trên năm nguyên tắc cơ bản sau đây: toàn dân, mọi người dân có quyền và nghĩa vụ tham gia hệ thống an sinh xã hội; chia sẻ, dựa trên cơ chế phân phối lại thu nhập giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ, giữa nhà nước, doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân; công bằng và bền vững, gắn trách nhiệm với quyền lợi, giữa đóng góp và hưởng lợi của các thành viên tham gia hệ thống; tăng cường năng lực tự an sinh của người dân và doanh nghiệp trong việc bảo đảm an sinh; tập trung hỗ trợ người nghèo, đối tượng dễ bị tổn thương, bảo đảm mức sống tối thiểu khi gặp rủi ro, suy giảm hoặc mất thu nhập tạm thời hay vĩnh viễn.
  6. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 51 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 2.3. Chức năng Hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam có 3 chức năng chính: Quản lý rủi ro: Hệ thống an sinh xã hội nhằm hỗ trợ người dân quản lý rủi ro tốt hơn thông qua 3 nhóm công cụ cơ bản: (i) Phòng ngừa rủi ro: hỗ trợ người dân chủ động ngăn ngừa rủi ro về đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và biến động của môi trường tự nhiên; (ii) Giảm thiểu rủi ro: giúp cho người dân có đủ nguồn lực để bù đắp những thiếu hụt về thu nhập do các biến cố trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và môi trường tự nhiên; (iii) Khắc phục rủi ro: hỗ trợ kịp thời cho người dân để hạn chế tối đa các tác động không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát do các biến cố trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và môi trường tự nhiên, bảo đảm điều kiện sống tối thiểu của người dân. Phân phối lại thu nhập: Các chính sách giảm nghèo, các hình thức trợ giúp xã hội thường xuyên và đột xuất cho các nhóm đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương và phương châm “người trẻ đóng-người già hưởng” trong bảo hiểm xã hội, hay “người khỏe đóng - người ốm hưởng” trong bảo hiểm y tế nhằm phân phối lại thu nhập của dân cư, tạo cơ chế chia sẻ khi gặp các rủi ro về sức khỏe, sản xuất kinh doanh và môi trường tự nhiên. Gắn kết xã hội: Trong điều kiện kinh tế thị trường thì phân tầng xã hội ngày càng có xu hướng gia tăng, việc làm tốt chức năng quản lý rủi ro, phân phối lại thu nhập sẽ giúp tăng cường sự gắn kết xã hội, bảo đảm thành tựu phát triển được bền vững và chia sẻ giữa các thành viên trong xã hội.
  7. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 52 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 2.4. Các cấu phần của an sinh xã hội Hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam được xây dựng trên nguyên lý quản lý rủi ro, đồng thời nhấn mạnh đến vai trò cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, gồm 4 nhóm chính sách cơ bản sau đây: - Nhóm chính sách việc làm đảm bảo thu nhập tối thiểu và giảm nghèo: nhằm hỗ trợ người dân chủ động phòng ngừa các rủi ro thông qua tham gia thị trường lao động để có được việc làm tốt, thu nhập tối thiểu và giảm nghèo bền vững. - Nhóm chính sách bảo hiểm xã hội: nhằm hỗ trợ người dân giảm thiểu rủi ro khi bị ốm đau, tai nạn lao động, tuổi già thông qua tham gia vào hệ thống BHXH để chủ động bù đắp phần thu nhập bị suy giảm hoặc bị mất do các rủi ro trên. - Nhóm chính sách trợ giúp xã hội: bao gồm chính sách thường xuyên và đột xuất nhằm hỗ trợ người dân khắc phục các rủi ro không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát (mất mùa, đói, nghèo kinh niên). - Nhóm chính sách dịch vụ xã hội cơ bản nhằm tăng cường cho người dân tiếp cận hệ thống dịch vụ cơ bản ở mức tối thiểu, bao gồm giáo dục tối thiểu, y tế tối thiểu, nhà ở tối thiểu, nước sạch và thông tin truyền thông.
  8. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 53 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Sơ đồ 6: Hệ thống an sinh xã hội Việt Nam giai đoạn 2012-2020 HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI VIỆT NAM VIỆC LÀM, ĐẢM BẢO TRỢ GIÚP XÃ HỘI DỊCH VỤ XÃ HỘI THU NHẬP TỐI THIỂU BẢO HIỂM XÃ HỘI CHO CÁC NHÓM CƠ BẢN VÀ GIẢM NGHÈO ĐẶC THÙ TẠO VIỆC LÀM BHXH BẮT BUỘC TRỢ GIÚP XÃ HỘI GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN Y TẾ ỐM ĐAU TÍN DỤNG CHĂM (gồm BHYT) ƯU ĐÃI SÓC TẠI THAI SẢN CƠ SỞ NHÀ Ở BẢO TRỢ HỖ TRỢ XH VÀ HỌC NGHỀ TAI NẠN LĐ - CỘNG BỆNH NN NƯỚC SẠCH ĐỒNG HỖ TRỢ THÔNG TIN TÌM VIỆC LÀM HƯU TRÍ (TRONG VÀ HỖ TRỢ NGOÀI TIỀN MẶT TỬ TUẤT NƯỚC) BHXH TỰ NGUYỆN TRỢ GIÚP XÃ HỘI CHƯƠNG ĐỘT XUẤT TRÌNH VIỆC LÀM HƯU TRÍ CÔNG TỬ TUẤT GIẢM NGHÈO BH THẤT NGHIỆP BẢO HIỂM HƯU TRÍ BỔ SUNG
  9. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 54 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 3. Mục tiêu phát triển an sinh xã hội giai đoạn 2012-202015 3.1. Mục tiêu tổng quát Đến năm 2020 cơ bản hình thành hệ thống an sinh xã hội bao phủ toàn dân với các yêu cầu: bảo đảm để người dân có việc làm, thu nhập tối thiểu; tham gia bảo hiểm xã hội, bảo đảm hỗ trợ những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người cao tuổi thu thập thấp, người khuyết tật nặng, người nghèo ); bảo đảm cho người dân tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin), góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân. 3.2. Các mục tiêu cụ thể 3.2.1. Việc làm, đảm bảo thu nhập và giảm nghèo a) Tạo việc làm, đảm bảo thu nhập Nhà nước bảo đảm mọi người dân có việc làm có thu nhập, đặc biệt là người nghèo, thanh niên, lao động nông thôn và các nhóm lao động dễ bị tổn thương khác Giai đoạn 2012-2020: bình quân mỗi năm tạo việc làm mới cho 1,6 triệu lao động, trong đó từ Chương trình mục tiêu quốc gia về Việc làm và dạy nghề và Chương trình việc làm công khoảng 250-300 nghìn lao động (có 150-200 nghìn người lao động thuộc hộ nghèo); chuyển đổi việc làm cho 500-800 nghìn lao động nông nghiệp; mỗi năm đưa khoảng 80-100 nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (có 30-40 nghìn lao động thuộc hộ nghèo). Đến năm 2020, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp giảm còn 30%, tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước duy trì dưới 3%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp thành thị dưới 4%. 15 Nghị Quyết số 15-NQ/TW của BCH TW Đảng khóa 5, ngày 1/6/2012
  10. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 55 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 b) Giảm nghèo16 Hỗ trợ người lao động thuộc hộ nghèo phát triển sản xuất, có việc làm ổn định, tăng thu nhập, thoát nghèo bền vững. Thu nhập bình quân đầu người hộ nghèo năm 2020 dự kiến tăng 3,5 lần so với năm 2010. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 1,5-2%/năm, riêng các huyện, xã có tỷ lệ nghèo cao giảm 4%/năm theo chuẩn nghèo của từng giai đoạn. 3.2.2. Về bảo hiểm xã hội Tăng số người tham gia bảo hiểm xã hội, nhất là bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp. Đến năm 2015, có khoảng 18 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội (17,2 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và 800 nghìn người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện), chiếm 33% tổng lực lượng lao động; 11 triệu lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp, chiếm 20% tổng lực lượng lao động. Đến năm 2020, có khoảng 29 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội (26 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và 3 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện), chiếm 50% tổng lực lượng lao động; có 20 triệu lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp, chiếm 35% tổng lực lượng lao động. 3.2.3. Trợ giúp xã hội những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn a) Trợ giúp xã hội thường xuyên Nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp xã hội, tiếp tục mở rộng đối tượng thụ hưởng, nâng dần mức trợ cấp xã hội thường xuyên phù hợp với khả 16 Do chính sách giảm nghèo gồm cả nhóm chính sách thị trường lao động chủ động và trợ giúp xã hội nên nội dung giảm nghèo có thể để cả ở nhóm chính sách trợ giúp xã hội.
  11. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 56 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 năng ngân sách nhà nước. Đến năm 2015, có trên 2,6 triệu người được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên chiếm 2,7% dân số (trong đó, số người cao tuổi hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên là 1,3 triệu người, chiếm gần 50% số người cao tuổi). Phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 3 triệu người, được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên chiếm 3% dân số (trong đó trên 30% là người cao tuổi). b) Trợ giúp xã hội đột xuất Bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai, bão lụt, bị chết người, mất tài sản được hỗ trợ kịp thời để vượt qua khó khăn, khôi phục sản xuất, việc làm, bảo đảm thu nhập, ổn định cuộc sống. 3.2.4. Bảo đảm mức tối thiểu một số dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, đặc biệt là người nghèo, dân tộc thiểu số và người có hoàn cảnh khó khăn a) Bảo đảm giáo dục tối thiểu Nâng cao chất lượng phổ cập tiểu học và trung học cơ sở, nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, dạy nghề và đào tạo đại học, cao đẳng. Giảm chênh lệch về giáo dục cho người nghèo, dân tộc thiểu số và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Đến năm 2015, hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; tỷ lệ đi học đúng độ tuổi ở tiểu học là 98%, trung học cơ sở là 90% và 70% đạt trình độ học vấn trung học phổ thông và tương đương; tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân tăng lên 300; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 60%, trong đó dạy nghề là 35%; tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 trở lên là 96%. Đến năm 2020, có 99% trẻ em đi học đúng độ tuổi ở bậc tiểu học, 95% ở bậc trung học cơ sở, 80% đạt trình độ học vấn trung học phổ thông và tương đương; tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân tăng lên 350 - 400; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70%, trong đó đào tạo nghề là 40%; tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 trở lên là 98%.
  12. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 57 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 b) Bảo đảm y tế tối thiểu Nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Đến năm 2015, bảo đảm 90% trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ, tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi còn 14‰, tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi còn 19,3‰, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi chỉ còn 15%, 98% phụ nữ mang thai được tiêm phòng uốn ván, 90% phụ nữ mang thai được khám thai từ 3 lần trở lên. Đến năm 2020, trên 90% trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ, tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi còn 11‰, tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi còn 16‰, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi chỉ còn 10%, 99% phụ nữ mang thai được tiêm phòng uốn ván, 93% phụ nữ mang thai được khám thai từ 3 lần trở lên. Đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả Chương trình phòng, chống lao quốc gia, giảm mạnh số người bị lao và chết vì lao, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam ra khỏi danh sách 20 nước bệnh lao nặng nhất thế giới. Tăng nhanh tỷ lệ dân số có bảo hiểm y tế để tiến tới mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân. Đến năm 2015, có khoảng 70 triệu người tham gia bảo hiểm y tế chiếm 76,3% dân số, trong đó tổng số người được được Nhà nước hỗ trợ là 48,4 triệu người chiếm 69,2% tổng số người tham gia (30,5 triệu người được hỗ trợ toàn bộ và 17,9 triệu người được hỗ trợ một phần). Đến năm 2020, có khoảng 77 triệu người tham gia bảo hiểm y tế chiếm 80% dân số, trong đó tổng số người được được Nhà nước hỗ trợ là 48,6 triệu người chiếm 63% tổng số người tham gia (31,3 triệu người được hỗ trợ toàn bộ và 17,3 triệu người được hỗ trợ một phần). c) Bảo đảm nhà ở tối thiểu Cải thiện điều kiện ở cho người dân, đặc biệt là người nghèo, người có thu nhập thấp ở đô thị, từng bước giải quyết nhu cầu về nhà ở cho người lao động tại các khu công nghiệp, học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp, trung học và dạy nghề.
  13. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 58 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Giai đoạn 2013-2015: Hỗ trợ cải thiện nhà ở cho khoảng 400 nghìn hộ nghèo ở nông thôn, vùng dân tộc, miền núi đạt tiêu chuẩn 3 cứng (nền cứng, tường cứng, mái cứng); xây dựng tối thiểu khoảng 10 triệu m2 nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp ở đô thị; phấn đấu đáp ứng nhu cầu của 60% số sinh viên, học sinh và 50% công nhân lao động tại các khu công nghiệp có nhu cầu về nhà ở. Giai đoạn 2016 - 2020: Hỗ trợ cải thiện nhà ở cho khoảng 500 nghìn hộ nghèo ở nông thôn, vùng dân tộc, miền núi; xây dựng tối thiểu khoảng 12,5 triệu m2 nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp ở đô thị; phấn đấu đáp ứng nhu cầu của 80% số sinh viên, học sinh và khoảng 70% công nhân lao động tại các khu công nghiệp có nhu cầu được giải quyết nhà ở. d) Bảo đảm nước sạch Cải thiện cơ bản tình hình sử dụng nước sạch của dân cư, đặc biệt là dân nông thôn, vùng dân tộc thiểu số. Giải quyết cơ bản tình trạng thiếu nước sinh hoạt ở những vùng khó khăn, vùng núi cao. Đến năm 2015, 90% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó 55% sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia. Đến năm 2020, 100% dân số nông thôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó 70% sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia. đ) Bảo đảm thông tin Tăng cường thông tin truyền thông đến người dân nghèo, vùng nghèo, vùng khó khăn. Đến năm 2015 bảo đảm 100% số xã khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo phủ sóng phát thanh, truyền hình mặt đất và 100% các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới và xã an toàn khu, xã bãi ngang ven biển và hải đảo có đài truyền thanh xã.
  14. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 59 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ TẠO VIỆC LÀM 1. Vai trò Người yếu thế thông thường không có nhiều cơ hội tiếp cận được việc làm tốt, với thu nhập ổn định và điều kiện làm việc tốt. Những nguyên nhân cơ bản là trình độ học vấn thấp, sức khỏe kém, ít thông tin về thị trường lao động, hạn chế về năng lực mặc cả, đàm phán Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, biến động cung - cầu lao động trên thị trường lao động xảy ra thường xuyên, tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm của lao động ngày càng tăng. Do vậy, tạo nhiều cơ hội việc làm, thu nhập cao và ổn định thông qua đào tạo nghề, vốn vay tạo việc làm, tiếp cận thông tin thị trường lao động để tìm được việc làm và nâng cao thu nhập là giải pháp xoá đói giảm nghèo, bảo đảm việc làm, hiệu quả và bền vững. 2. Mục tiêu Chính sách hỗ trợ việc làm bao gồm hệ thống luật pháp, các quy định, chương trình, đề án và các giải pháp phát triển thị trường lao động do nhà nước hoặc các tổ chức thực hiện nhằm chủ động hỗ trợ người lao động nâng cao cơ hội tìm việc làm, tham gia thị trường lao động để có thu nhập, từng bước bảo đảm thu nhập tối thiểu cho người dân, đặc biệt là người nghèo, thanh niên, lao động nông thôn và các nhóm lao động dễ bị tổn thương khác, cải thiện cuộc sống cho người dân, góp phần chuyển đổi cơ cấu việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, xóa đói, giảm nghèo và ổn định xã hội 3. Các chính sách hỗ trợ việc làm Các chính sách hỗ trợ việc làm bao gồm những chính sách cơ bản sau: Chính sách phát triển thị trường lao động;
  15. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 60 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Chính sách tín dụng ưu đãi hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm; Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề; Chính sách đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng; và Chính sách hỗ trợ lao động di chuyển. 3.1. Chính sách phát triển thị trường lao động Các yếu tố tác động đến phát triển thị trường lao động bao gồm: các thể chế có liên quan (hệ thống pháp luật kinh tế, hệ thống luật pháp về lao động); hoạt động của các đối tác tham gia thị trường lao động (Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức môi giới trung gian và người lao động). 3.1.1. Hệ thống pháp luật kinh tế, hệ thống luật pháp lao động Hệ thống pháp luật kinh tế và lao động có tác động đến cả cung và cầu về lao động nhằm đảm bảo quyền tự do lao động, tạo việc làm, tăng cường cơ hội việc làm và cải thiện mối quan hệ lao động. Cùng với việc ban hành, sửa đổi hệ thống pháp luật về kinh tế và lao động, Nhà nước ngày càng làm tốt hơn vai trò hỗ trợ, thúc đẩy thị trường lao động phát triển.
  16. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 61 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Hộp 1: Hệ thống pháp luật của Việt Nam tương đối hoàn chỉnh Hiến Pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992) xác định “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân. Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động”. - Về hệ thống pháp luật kinh tế: Luật Đất đai (1993), Luật Đầu tư (2005), Luật Doanh nghiệp (2005), Luật Hợp tác xã (2013), Luật Thuế, Luật Thương mại (2005), Luật Phá sản (2004) đã góp phần giải phóng sức sản xuất, tạo điều kiện cho thị trường lao động phát triển. - Về hệ thống pháp luật lao động: Bộ luật Lao động (năm 1994, bổ sung, sửa đổi các năm 2002, 2006 và 2012) khẳng định mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập mà không bị pháp luật cấm đều là việc làm. Người làm việc trong hay ngoài khu vực nhà nước đều có quyền và nghĩa vụ, lợi ích như nhau, được tham gia và hưởng bảo hiểm xã hội, được đối xử bình đẳng trước pháp luật. Luật Cư trú (năm 2007) đã mở rộng quyền cư trú của công dân, giúp cho việc di chuyển lao động dễ dàng. Luật Dạy nghề (năm 2006) quy định quyền được học nghề và được hỗ trợ để đạt được trình độ chuyên môn kỹ thuật nhất định Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (2006) quy định quyền lợi và trách nhiệm của Chính phủ, doanh nghiệp và người lao động trong việc mở rộng cơ hội việc làm ở nước ngoài. Luật Bảo hiểm xã hội với chính sách bảo hiểm thất nghiệp, thực hiện năm 2009 bảo đảm cho người lao động được tham gia bảo hiểm thất nghiệp nhanh chóng tái hòa nhập vào thị trường lao động khi bị mất việc làm. Các nghị định, thông tư liên quan tới lao động, thị trường lao động và việc làm đã từng bước hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường lao động phát triển. Chương trình mục tiêu quốc gia Việc làm và Dạy nghề qua các năm (gần đây nhất là Chương trình mục tiêu quốc gia Việc làm và dạy nghề giai đoạn 2012- 2015 theo Quyết định số 2101/QĐ-TTg ngày 31/8/2012 của Thủ tướng Chính phủ).
  17. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 62 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Những vấn đề tồn tại: Thể chế chính sách liên quan đến phát triển thị trường lao động chưa theo kịp yêu cầu tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Mặc dù qua nhiều lần sửa đổi, Bộ luật Lao động mới chỉ tập trung cho khu vực có quan hệ lao động, một bộ phận lớn người lao động làm việc trong khu vực phi chính thức, tự làm, kinh tế hộ .còn chưa được bảo vệ. Một số chính sách, văn bản hướng dẫn thực hiện, chính sách thiếu đồng bộ gây khó khăn trong quá trình thực hiện. Vai trò kiểm soát, giám sát thị trường lao động của Nhà nước còn nhiều bất cập do thiếu hệ thống thông tin, nhân lực và tài chính. 3.1.2 Kết nối cung cầu lao động Mục tiêu của kết nối cung cầu lao động nhằm tăng cơ hội để người lao động tiếp cận thông tin về việc làm để lựa chọn công việc. Hoạt động kết nối cung cầu lao động bao gồm việc cung cấp thông tin về xu hướng thị trường lao động (việc làm, việc làm còn trống, nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, xu hướng về cung lao động, người thất nghiệp, người có nhu cầu tìm việc làm ) và thực hiện các môi giới về lao động (người tìm việc biết và đến địa chỉ của người sử dụng lao động để tìm hiểu và có thể đi đến thoả thuận về việc làm, hoặc cung cấp thông tin về người có nhu cầu làm việc cho người sử dụng lao động tiếp xúc và có thể đi đến thoả thuận tuyển dụng). Đối tượng phục vụ là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu tìm việc làm, doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng lao động. Nhà nước tổ chức hoạt động kết nối cung cầu lao động thông qua việc phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động và các trung tâm dịch vụ việc làm.
  18. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 63 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 a) Phát triển thông tin thị trường lao động Thông qua các hoạt động: thu thập, cập nhật, xử lý, phân tích, khai thác, phổ biến thông tin, xây dựng bản đồ việc làm, thực hiện các dự báo thị trường lao động và công bố các báo cáo về xu hướng thị trường lao động Chính phủ bước đầu quản lý giám sát thị trường lao động, hỗ trợ việc kết nối cung cầu lao động. b) Phát triển hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm Chương trình việc làm quốc gia theo Nghị quyết số 120/1992/NQ-HĐBT ngày 11/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng, đã tạo môi trường pháp lý phát triển dịch vụ kết nối cung - cầu về lao động, tăng cường cơ hội để người lao động tiếp cận thông tin về việc làm, lựa chọn công việc. Đặc biệt, với việc sửa Điều 18 của Bộ luật Lao động năm 1995, Nghị định số 19/2005/ NĐ-CP ngày 28/5/2005 và Nghị định số 71/2008/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2005/NĐ-CP và Quyết định số 2101/QĐ-TTg ngày 31/8/2012 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Việc làm và Dạy nghề giai đoạn 2012- 2015, đã từng bước hoàn thiện hệ thống khung pháp lý cho dịch vụ việc làm, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu kết nối cung cầu lao động và hỗ trợ tìm việc làm. c) Hỗ trợ lao động di chuyển Hỗ trợ lao động di chuyển là một trong những chính sách của phát triển thị trường lao động của Chính phủ nhằm tái phân bố lao động, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế, tăng thu nhập và ổn định cuộc sống. Trong thời gian qua, Chính phủ đã thực hiện các chương trình hỗ trợ di cư đến các vùng kinh tế mới; hỗ trợ di dân thực hiện định canh định cư đối với đồng bào dân tộc thiểu số (Quyết định số 33/2013/QĐ-TTg ngày 04/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số đến năm 2015).
  19. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 64 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Các chương trình di dân đã đáp ứng một phần về tái phân bố nguồn lao động, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế vùng, góp phần ổn định đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số và bảo vệ an ninh quốc phòng. Cơ quan tổ chức thực hiện: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý nhà nước hoạt động kết nối cung cầu lao động. Hộp 2: Kết quả thực hiện chính sách phát triển thị trường lao động Công tác giải quyết việc làm có nhiều chuyển biến tích cực, thời kỳ 2002- 2012, nền kinh tế bình quân mỗi năm tăng thêm khoảng 1,13 triệu việc làm17 , góp phần giải quyết việc làm cho 1,6 triệu lao động. Năm 2012, tỷ lệ thất nghiệp chung giữ ở mức 1,77%, tỷ lệ thất nghiệp thành thị còn 2,98%; tỷ trọng lao động nông nghiệp còn 47,3%; thu nhập bình quân một tháng qui đổi của người lao động đạt 4,26 triệu đồng18 . Hoạt động dự báo và thông tin thị trường lao động trong và ngoài nước ngày càng phát triển, đa dạng hóa các hình thức kết nối cung cầu lao động thông qua các trung tâm dịch vụ việc làm. Từ năm 2009, việc xuất bản ấn phẩm “Xu hướng lao động- xã hội Việt Nam” và “Báo cáo xu hướng việc làm” hàng năm đã cung cấp các thông tin kịp thời về xu hướng hiện tại và các dự báo tương lai của thị trường lao động. Công tác nghiên cứu, dự báo bước đầu được hoàn thiện, tập trung vào các thị trường lao động “nóng” như khu công nghiệp, khu chế xuất, các thị trường trọng điểm như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương. Hệ thống dịch vụ việc làm ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu về kết nối của thị trường lao động. Đến nay, hệ thống dịch vụ việc làm đã có 150 trung tâm giới thiệu việc làm công lập và trên 100 doanh nghiệp dịch vụ việc làm tư nhân. Hoạt động của các trung tâm giới thiệu việc làm từng bước được hoàn thiện và mở rộng về quy mô và hình thức, gồm tổ chức hội chợ việc làm, sàn giao dịch việc làm và các điểm giao dịch vệ tinh. 17 Là tổng số việc làm tăng thực của nền kinh tế, tính bằng tổng việc làm năm trước trừ đi năm sau, cho giai đoạn 2002-2012. 18 Qui đổi mức tiền lương tháng với 48h làm việc/tuần
  20. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 65 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Nhiều địa phương đã tổ chức sàn giao dịch việc làm có hiệu quả, nhất là cho người khuyết tật và các nhóm đối tượng yếu thế. Thời kỳ 2002-2012, bình quân mỗi năm tư vấn cho trên 600 nghìn lượt người tìm việc làm, giới thiệu và cung ứng việc làm cho 230 nghìn người, dạy nghề cho trên 160 nghìn người. 6 tháng đầu năm 2013 có khoảng 300 phiên giao dịch được tổ chức tại 44 sàn giao dịch việc làm trong cả nước; bình quân một phiên giao dịch thu hút 30-40 doanh nghiệp và khoảng 600-700 lao động tham gia. Quỹ Quốc gia Giải quyết việc làm đã ngày càng hỗ trợ tốt hơn cho việc tạo và tự tạo việc làm cho người lao động. Nhiều mô hình tạo việc làm có hiệu quả, lồng ghép với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương đã tăng cường cơ hội việc làm cho người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, lao động nữ, lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành nông nghiệp, nông thôn, nông thôn - đô thị. Thời kỳ 2002 – 2012, mỗi năm Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm tạo việc làm cho khoảng 350 nghìn lao động, trong đó lao động thanh niên chiếm 40%, tương đương với 30% số việc làm mới. Những vấn đề tồn tại: Thị trường lao động tuy đã có bước phát triển nhưng chưa hoàn thiện, chất lượng việc làm còn thấp. Về cơ bản Việt Nam vẫn là một thị trường dư thừa lao động trong nông nghiệp, nông thôn với chất lượng cung lao động thấp, phân bổ chưa hợp lý và khả năng di chuyển còn bị hạn chế; cầu lao động thấp về số lượng và vẫn còn một tỷ lệ lớn lao động làm việc trong các nghề giản đơn, không đòi hỏi chuyên môn kỹ thụât, khu vực làm công ăn lương phát triển chậm; có sự phân cách lớn giữa thành thị và nông thôn, vùng phát triển kinh tế và vùng kém phát triển kinh tế. Lao động chủ yếu làm việc trong khu vực nông nghiệp, khu vực phi kết cấu, năng suất thấp với điều kiện lao động kém, thu nhập bấp bênh. Hệ thống thông tin của thị trường lao động chưa đáp ứng nhu cầu của người sử dụng lao động và người lao động: nội dung thông tin giới thiệu
  21. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 66 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 việc làm chưa phong phú; hệ thống chỉ tiêu về thị trường lao động chưa đầy đủ, cơ sở dữ liệu về thị trường lao động chưa được cập nhật thường xuyên, chưa hình thành cơ sở dữ liệu cấp quốc gia về thị trường lao động; Theo dõi, giám sát, nắm bắt biến động thị trường lao động chưa được thực hiện thường xuyên; thiếu mô hình dự báo thị trường lao động, thiếu đội ngũ cán bộ, chuyên gia làm công tác thống kê, phân tích, dự báo; chưa có báo cáo định kỳ quý về xu hướng cung-cầu lao động, chưa phát hiện các “nút thắt” về nhu cầu nguồn nhân lực. Hệ thống các trung tâm dịch vụ việc làm bị chia cắt theo các Bộ, ngành, địa phương và chưa phát triển đến các vùng nông thôn; tỷ lệ người lao động cũng như doanh nghiệp sử dụng dịch vụ giới thiệu việc làm còn thấp; mối quan hệ gắn kết giữa các trung tâm trên cùng địa bàn cung cấp các thông tin về thị trường lao động chưa tốt. Thực hiện chính sách hỗ trợ lao động bị mất việc làm do bị thu hồi đất nông nghiệp chưa hiệu quả, chú trọng vào việc đền bù hơn là đào tạo, cho vay vốn để chuyển đổi việc làm; Hệ thống chính sách hỗ trợ lao động di chuyển đến các khu công nghiệp, khu đô thị còn thiếu; Đa số người dân di cư ra các đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất chưa được hưởng các chính sách hỗ trợ di chuyển và ổn định tại nơi đến; Một số quy định còn hạn chế khả năng tiếp cận của người di cư đến việc làm tốt, các dịch vụ xã hội cơ bản tại đô thị. 3.2. Tín dụng ưu đãi hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm Chính sách hỗ trợ tín dụng có mục đích khuyến khích phát triển sản xuất hộ gia đình, doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, thu hút lao động; người lao động tham gia xuất khẩu lao động nhằm tăng thu nhập,
  22. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 67 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 giảm nghèo, vay vốn theo Chương trình Mục tiêu quốc gia về Việc làm19 , chương trình Mục tiêu Quốc gia về xóa đói, giảm nghèo, Đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động để giảm nghèo bền vững, tín dụng học sinh, sinh viên. - Đối với hộ nghèo, người nghèo: Chính phủ đã ban hành gần 20 văn bản chính sách tín dụng ưu đãi để hỗ trợ phát triển sản xuất, cho người nghèo, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, thanh niên, xuất khẩu lao động, hỗ trợ hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất qua Chương trình Mục tiêu Quốc gia xoá đói giảm nghèo qua các thời kỳ . Đặc biệt gần đây nhất là Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg ngày 04/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; - Đối với các cá nhân, tổ chức kinh doanh: các cơ sở sản xuất kinh doanh (doanh nghiệp nhỏ và vừa, trang trại, làng nghề ) có khả năng tạo nhiều việc làm mới cho người lao động; hộ gia đình; các đối tượng yếu thế (lao động là người tàn tật, lao động nữ, lao động khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, lao động là người dân tộc ) được vay vốn tạo việc làm từ Chương trình mục tiêu Quốc gia về Việc làm và các chương trình hỗ trợ tín dụng khi có khó khăn (ví dụ, Quyết định số 30/2009/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nhằm hỗ trợ đối với người lao động mất việc làm trong doanh 19 Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm có nhiều ưu điểm: (i) đối tượng vay vốn giải quyết việc làm được mở rộng; (ii) các đối tượng vay từ 20 triệu đồng trở xuống không phải thế chấp tài sản tài sản (quy định này sẽ giúp các hộ gia đình khó khăn có điều kiện tiếp cận với vốn tín dụng); (iii) mức vay vốn cũng được nâng lên; (iv) việc thẩm định và phê duyệt dự án đã được phân cấp thẩm quyền cho cấp dưới và (v) Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện việc cho vay và thu nợ trực tiếp từ người vay thay vì uỷ quyền cho chủ dự án giải ngân vốn vay và thu nợ đối với từng hộ trong dự án nhóm hộ như trước đây. Mức lãi suất cho vay của Quỹ theo đúng quy định hiện hành về lãi suất cho vay đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Riêng đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh mà người lao động là người tàn tật thì mức lãi suất cho vay bằng 50% lãi suất cho vay ưu đãi.
  23. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 68 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 nghiệp gặp khó khăn do suy giảm kinh tế), hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động trong những địa bàn khó khăn (Quyết định số 92/2009/QĐ-TTg ngày 08/7/2009 hỗ trợ về tín dụng đối với thương nhân hoạt động thương mại tại vùng khó khăn). Hộp 3: Kết quả thực hiện chính sách ưu đãi tín dụng Năm 2012, Ngân hàng chính sách xã hội thực hiện tín dụng ưu đãi cho 7 chương trình của chính phủ, tổng dư nợ 7 chương trình tín dụng chính sách đạt 113.921 tỷ đồng, gồm: (1) Chương trình cho vay hộ nghèo chiếm 36,5%, trong đó cho vay hộ nghèo theo nghị quyết 30ª chiếm 0,19%; (2) Chương trình cho vay học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn chiếm 31,4%; (3) Chương trình cho vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh vùng khó khăn chiếm 9,6%; (4) Cho vay trả chậm hộ có nhà ở Đồng bằng sông Cửu Long và Tây nguyên chiếm 0,65%; (5) Chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn chiếm 9,33%; (6) Chương trình cho vay giải quyết việc làm chiếm 4,97%; (7) Chương trình cho vay hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở chiếm 3,4%. Giai đoạn 2012, đến 31/8/2013 có 3.489 nghìn lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo và đối tượng chính sách được tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi, với mức dư nợ bình quân trên 16 triệu đồng/khách hàng, góp phần giúp gần 1 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo, thu hút, tạo việc làm cho trên 237 nghìn lao động; hỗ trợ trên 563 nghìn học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập trong kỳ; xây dựng trên 1.208 nghìn công trình cung cấp nước sạch, công trình nhà tiêu hợp vệ sinh nông thôn, gần 1 nghìn căn nhà cho hộ gia đình vượt lũ vùng đồng bằng sông Cửu Long, gần 460 nghìn căn nhà cho hộ nghèo Cơ quan tổ chức thực hiện Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các bộ ngành có liên quan. Những vấn đề tồn tại Việc thực thi các chính sách ưu đãi tín dụng còn nhiều khó khăn do có nhiều văn bản chính sách chồng chéo trên cùng một đối tượng; chính
  24. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 69 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 sách tín dụng chưa phù hợp về điều kiện vay và mức vay; Thiếu gắn kết giữa cho vay vốn và hỗ trợ đầu vào tiếp cận thị trường nên hiệu quả sử dụng vốn chưa cao. 3.3. Chính sách hỗ trợ đào tạo và đào tạo nghề Mục tiêu chính sách hỗ trợ đào tạo và đào tạo nghề nhằm tăng cường cơ hội cho các nhóm lao động yếu thế có việc làm, nhất là học sinh, sinh viên thuộc hộ nghèo, khó khăn, gia đình chính sách, lao động nông thôn. Đối với học sinh, sinh viên: Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Đối với học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số: Quyết định số 267/2005/ QĐ-TTg ngày 31/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách dạy nghề đối với học sinh tốt nghiệp các trường trung học cơ sở dân tộc nội trú và trung học phổ thông dân tộc nội trú; Quyết định số 66/2013/QĐ- TTg ngày 11/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về chi phí học tập đối với sinh viên là dân tộc thiểu số học tại cơ sở giáo dục đào tạo. Đối với thanh niên: Quyết định số 103/2008/QĐ-TTg ngày 21/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án dạy nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008- 2015 cho thanh niên được vay vốn học nghề, tạo việc làm trong nước và nước ngoài. Đối với lao động nữ: Quyết định số 295/QĐ-TTg ngày 26/2/2010 về Đề án “Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010 - 2015” Đối với lao động nông thôn: Quyết định số 1956/2009/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án về dạy nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020, trong đó ưu tiên người hưởng chính
  25. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 70 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 sách, ngườ i có công vớ i cá ch mạ ng, hộ nghèo, hộ cận nghèo, dân tộc thiểu số, ngườ i tà n tậ t, ngườ i bị thu hồ i đấ t canh tá c. Cơ quan tổ chức thực hiện: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý Nhà nước về công tác dạy nghề. Uỷ ban nhân dân các tỉnh chỉ đạo thực hiện. Các trường nghề tổ chức dạy nghề cho đối tượng. Hộp 4: Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề Năm 2012, Ngân hàng chính sách xã hội thực hiện tín dụng ưu đãi cho 7 Mạng lưới cơ sở dạy nghề phát triển nhanh chóng với 3 cấp trình độ (sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề). Đến 30/6/2013, cả nước có 1.330 cơ sở dạy nghề (158 trường cao đẳng nghề; 303 trường Trung cấp nghề và 869 trung tâm dạy nghề); 426 trường đại học, cao đẳng (212 đại học và 214 trường cao đẳng), 21 trường đại học do UBND tỉnh quản lý. Năm 2013, ước tuyển sinh dạy nghề cho khoảng 1.493 nghìn người, trong đó : trung cấp nghề, cao đẳng khoảng 213 nghìn ngườ i; sơ cấp nghề và dạ y nghề thườ ng xuyên dướ i 03 thá ng khoảng 1.280 nghìn ngườ i (trong đó khoả ng 485 nghìn lao động nông thôn). Các cơ sở đào tạo nghề được thành lập ở hầu hết các các vùng, các địa phương, nhất là vùng khó khăn như Tây Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long. Năm 2012, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt 45,5%, trong đó, lao động qua đào tạo nghề là 33,4%, bước đầu đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động. Bình quân mỗi năm dạy nghề cho 1,8 triệu lao động, trong đó dạy nghề ngắn hạn khoảng 1 triệu người. Đào tạo nghề, đặc biệt là cho đào tạo nghề nông thôn được quan tâm. Tổng kinh phí đầu tư theo Quyết định 1956/QĐ-TTg thời kỳ 2009-2012 đạt 4,78 nghìn tỷ đồng. Sau 3 năm thực hiện có khoảng 1,09 triệu lao động nông thôn được hỗ trợ đào tạo nghề, bình quân mỗi năm có 0,36 triệu lao độ ng. Năm 2012, có 0,49 triệu lao động nông thôn được hỗ trợ đào tạo nghề, tăng 1,9 lần so với năm 2010 (0,26 triệu người). Sau thờ i gian họ c nghề , số lượ ng lao độ ng nông thôn có đượ c việ c là m đạ t 0,81 triệ u ngườ i, chiế m 74,2% tổ ng số lao độ ng đượ c hỗ trợ họ c nghề.
  26. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 71 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Những vấn đề tồn tại Việc học nghề chưa được quan tâm đúng mức, chưa nhận được sự hưởng ứng của xã hội và chưa đáp ứng được yêu cầu nhân lực của nền kinh tế; Hệ thống các cơ sở dạy nghề chưa phát triển đầy đủ ở những vùng khó khăn, đối tượng hỗ trợ còn hạn hẹp; chưa có các chính sách đào tạo cho lao động bị mất việc hàng loạt do suy giảm kinh tế; Các chương trình đào tạo nghề, đặc biệt cho lao động nông thôn có nơi còn chưa hiệu quả. Năm 2011, cả nước vẫn còn gần 58% lao động chưa được đào tạo, đặc biệt tỷ lệ lao động dân tộc thiểu số chưa qua đào tạo trên 90%. 3.4. Đưa lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng Đưa người Việt nam đi làm việc ở nước ngoài là chủ trương lớn của Chính phủ nhằm tăng cường cơ hội có việc làm và việc làm tốt cho người lao động. Nhà nước đã phát triển hệ thống chính sách phát triển việc làm ngoài nước thông qua các chương trình vay vốn đi làm việc ở nước ngoài, hỗ trợ đào tạo nghề, ngoại ngữ, văn hóa, pháp luật hỗ trợ khi về nước, trong đó đặc biệt ưu tiên đối với lao động thuộc hộ nghèo, huyện nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số. Quyết định số 365/2004/QĐ-NHNN về việc cho vay vốn đối với lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Quyết định số 144/2007/QĐ- TTg ngày 31/8/2007 về việc thành lập, quản lý Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước; Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 phê duyệt Đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009-2020;
  27. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 72 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Cơ quan tổ chức thực hiện Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý nhà nước hoạt động đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Các doanh nghiệp có giấy phép trực tiếp đưa lao động đi làm việc tại nước ngoài. Hộp 5: Kết quả thực hiện chính sách đưa lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng Hoạt động đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài đóng vai trò tích cực trong tạo việc làm gắn với giảm nghèo bền vững. Trong giai đoạn 2002 – 2012, số lượng lao động lao động đi làm việc ở nước ngoài có thời hạn theo hợp đồng tăng gần gấp đôi (80.320 người năm 2012 so với 46.122 người năm 2002); bình quân mỗi năm chiếm khoảng 5% việc làm mới. Năm 2012, khoảng 80.320 ngàn lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, trong đó nữ chiếm 33%, lao động có kỹ thuật chiếm khoảng 41%. Các thị trường chính của lao động Việt Nam vẫn là Đài Loan với số lao động được đưa đi hàng năm, chiếm hơn 1/3 tổng số lao động đưa đi hàng năm (38%), tiếp đến là thị trường Malaixia (11,58%) và Hàn Quốc (11,49%); đứng thứ tư là thị trường Nhật Bản (10,93%). Đến nay, Việt Nam có khoảng 500 nghìn lao động đang làm việc tại hơn 40 nước và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm ngành nghề Chất lượng lao động ngà y cà ng đượ c nâng cao (trên 50% lao độ ng đi là m việ c ở nướ c ngoà i đượ c đà o tạ o nghề và trên 90% đượ c giá o dụ c đị nh hướ ng). Lao động đi làm việc bên ngoài có thời hạn đã và đang đem lại nguồn ngoại tệ hàng năm khá lớn, riêng năm 2008, số ngoại tệ chuyển về nước khoảng 1,8 tỷ USD bằng khoảng 2% GDP. Đến tháng 6/2013, đã có 10.000 người dân các huyện nghèo đi xuất khẩu lao động. Những vấn đề tồn tại: Một số lao động bị về nước trước thời hạn do ý thức chấp hành kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp thấp. Việc vận động người dân ở các huyện nghèo đi lao động nước ngoài gặp khó khăn do tâm lý không muốn xa gia đình;
  28. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 73 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Thông tin về thị trường chưa đầy đủ; kết nối giữa đào tạo, dạy nghề, cho vay vốn và đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài chưa hiệu quả; Hỗ trợ dịch vụ chuyển tiền, theo dõi thông tin và hỗ trợ pháp lý cho người lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài chưa kịp thời; Các chương trình hỗ trợ người đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài trở về tái hòa nhập thị trường lao động trong nước chưa được chú trọng. 4. Định hướng phát triển chính sách Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật hỗ trợ người dân tham gia đào tạo, tăng cường cơ hội việc làm và tăng thu nhập, đặc biệt chú trọng đến nhóm đối tượng lao động nghèo, người khuyết tật, người thất nghiệp, dân tộc thiểu số, lao động nông thôn bị thu hồi đất canh tác, học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Hoàn thiện các chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách ưu đãi đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng nhiều lao động, nhất là ở địa bàn nông thôn, khuyến khích tối đa các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp phát triển mạnh sản xuất kinh doanh để tạo nhiều việc làm, nhất là ở địa bàn nông thôn; Tiếp tục hoàn thiện chính sách cho vay ưu đãi học nghề, hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn, bộ đội xuất ngũ, phụ nữ, thanh niên . Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm. Phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động, nâng cao năng lực dự báo và cung cấp thông tin tại các vùng nông thôn, vùng chuyển đổi cơ cấu đất đai. Hoàn thiện Luật đưa lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng, xây dựng Luật Việc làm.
  29. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 74 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Xây dựng chương trình việc làm công nhằm tạo thu nhập tạm thời ở mức tối thiểu cho người dân, đặc biệt là người lao động nghèo, người thất nghiệp. Hộp 6: Chương trình Việc làm công Phần lớn người nghèo thiếu việc làm hoặc việc làm thu nhập thấp và không ổn định. Họ là những người chịu ảnh hưởng nhiều nhất trước các biến động và các cú sốc do khủng hoảng kinh tế, do thiên tai. Để đảm bảo cho người nghèo có thêm việc làm, có thu nhập, bên cạnh các chương trình phát triển kinh tế-xã hội, một số nước đã thực hiện Chương trình việc làm công cho người lao động nghèo nông thôn, miền núi nhằm hỗ trợ tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, giảm gánh nặng cho quỹ bảo hiểm xã hội. Nhiều nước ở châu Mỹ, châu Phi và châu Á đã và đang triển khai chương trình này khá thành công. Họ coi đây là một giải pháp giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội quan trọng, mang lại lợi ích cho cả nhà nước và người dân nghèo do vậy được người dân nhiệt tình tham gia. Các chương trình việc làm công đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn, tăng thu nhập cho người dân, giảm áp lực di cư nông thôn tìm việc làm. Chương trình việc làm công được tổ chức như sau: hàng năm, Nhà nước dành một phần việc làm từ các công trình đầu tư công như làm đường nông thôn, thu gom rác thải, sửa chữa đường, trồng, chăm sóc rừng để bố trí cho lao động nghèo làm việc. Số ngày tối đa cho mỗi lao động trong một năm được quy định cụ thể. Mức tiền công được Nhà nước trả theo mức lương tối thiểu. Việc tổ chức thực hiện do Nhà nước quản lý và chỉ đạo trực tiếp.
  30. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 75 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 CHƯƠNG 3: NHÓM CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Vai trò Bả o hiể m xã hộ i là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng góp vào quỹ bả o hiể m xã hộ i. Bả o hiể m xã hộ i giữ vai trò trụ cộ t trong hệ thống an sinh xã hội và tạo nền tảng bền vững cho sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Tham gia vào hệ thống bảo hiểm xã hội, đặc biệt bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm thất nghiệp, người dân phát huy tính chủ động, khả năng tự an sinh khi xảy ra các tác động bất lợi về kinh tế, xã hội, môi trường, sức khỏe và tuổi già. 2. Mụ c tiêu Mụ c tiêu cơ bả n của bả o hiểm xã hộ i nhằm: (i) Ổ n định cuộc sống người lao động, trợ giúp người lao động khi gặp rủi ro về sứ c khỏ e, tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp, mấ t việ c là m sớm phục hồi sức khỏe, việc làm, góp phần duy trì và phát triển nguồn lao động cho nền sản xuất xã hội; (ii) Tạo sự an tâm, tin tưởng của người lao động khi về già có thu nhập ổn định sau cả cuộc đời lao động; (iii) Góp phần vào việc phân phối lại thu nhập một cách công bằng, chia sẻ giữa các tầng lớp dân cư, giữa các thế hệ; (iv) Giảm chi ngân sách nhà nước cho người già, người bị thất nghiệp, góp phần bảo đảm an sinh xã hội bền vững;
  31. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 76 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 (v) Đảm bảo sự bình đẳng trong tham gia, đóng góp và hưởng thụ của những người lao động trong các thành phần kinh tế khác nhau, thúc đẩy đoàn kết và gắn kết xã hội. 3. Các chính sách bả o hiểm xã hộ i Hệ thống chính sách bả o hiể m xã hộ i hiệ n hà nh gồ m 3 nhóm chí nh sá ch cơ bản: bả o hiể m xã hộ i bắ t buộ c, bả o hiể m xã hộ i tự nguyệ n và bả o hiể m thấ t nghiệ p. 3.1. Chính sách bả o hiể m xã hộ i bắ t buộ c Chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc được hình thành từ năm 1946, tuy nhiên, từ năm 1995 mới được điều chỉnh, sửa đổi phù hợp với yêu cầu phá t triể n kinh tế -xã hộ i. Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội ngày càng mở rộng. Thời kỳ 1995- 2003, chỉ bao gồm những ngườ i lao độ ng có hợ p đồ ng lao độ ng, hợp đồng làm việc trên 3 thá ng, là m việ c trong cơ quan, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh có qui mô từ 10 lao độ ng trở lên. Thời kỳ từ 2003 đến nay, mọi người lao động có hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc từ 3 tháng trở lên, không phân biệt quy mô lao động của doanh nghiệp, đều thuộc diện điều chỉnh của Chính sách bảo hiểm xã hộ i bắt buộc. Về thể chế chính sách: từ năm 2007, Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực (thay thế cho Điều lệ bảo hiểm xã hội) đánh dấu mốc quan trọng trong quá trì nh phá t triể n củ a chính sách bả o hiể m xã hộ i ở Việ t Nam. Chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc được thiết kế theo nguyên tắc tọa thu tọa chi (Pay As You Go) với 5 chế độ bảo hiểm: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất (trong đó chế độ hưu trí và tử tuất là 2 chế độ cốt lõi của chính sách bảo hiểm xã hội) với
  32. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 77 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 mục tiêu giảm thiểu tác động về thu nhập do những rủi ro về sức khỏe, tai nạ n lao động-bệ nh nghề nghiệ p, tuổ i già . Đố i tượ ng tham gia BHXH bắ t buộ c theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội gồm: Công dân Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên; cán bộ, công chức, viên chức; công nhân quốc phòng, công nhân công an; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân; hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Người sử dụng lao động, bao gồm: cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động. Mứ c đó ng bả o hiể m xã hộ i bắ t buộ c: Hiện tại, hằng thá ng người lao động đóng bằng 7% mức tiền lương, tiền công vào quỹ hưu trí và tử tuất; người sử dụng lao động đóng trên quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của người lao động, trong đó đó ng 3% vào quỹ ốm đau và thai sản, 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, 12% vào quỹ hưu trí và tử tuất. Từ năm 2014, mức đóng của người lao động vào quỹ hưu trí và tử tuất sẽ là 8%; còn của người sử dụng lao động sẽ là 14%. Việc điều chỉnh theo hướng tăng mức đó ng bả o hiể m xã hộ i bắ t buộ c nhằ m tăng tí nh bề n vữ ng tà i chí nh củ a quỹ bả o hiể m xã hộ i.
  33. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 78 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Điều kiện hưởng chế độ hưu trí : Người lao động có đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu khi thuộc một trong hai trường hợp sau đây: (1) nam đủ sáu mươi tuổi, nữ đủ năm mươi lăm tuổi; (2) nam từ đủ năm mươi lăm tuổi đến đủ sáu mươi tuổi, nữ từ đủ năm mươi tuổi đến đủ năm mươi lăm tuổi và có đủ mười lăm năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên. Tuổi đời được hưởng lương hưu trong một số trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định. Nhữ ng ưu đã i về điề u kiện hưởng chế độ hưu trí ở trường hợp 2 là ghi nhận sự cống hiến của ngườ i lao độ ng cho sự nghiệ p phá t triể n chung củ a đấ t nướ c. Mứ c hưở ng chế độ hưu trí : Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội tương ứng với mười lăm năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%. Việ c tí nh thêm mứ c hưở ng hưu trí sau năm thứ mười lăm của nữ cao hơn so với của nam nhằm khi đạt được mức hưởng tối đa thì thời gian đóng bảo hiểm xã hội của người lao độ ng nữ ngắ n hơn so vớ i củ a lao độ ng nam là 5 năm, tương ứ ng vớ i tuổ i nghỉ hưu của nữ thấ p hơn so vớ i củ a nam cũ ng là 5 năm. Cơ quan tổ chứ c thự c hiệ n: Trước năm 1995, hoạt động quản lý Nhà nước và công tác nghiệp vụ bả o hiể m xã hộ i do Bộ Lao độ ng-Thương binh và Xã hộ i thực hiện. Từ năm 1995, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam được thành lập có chức năng thực hiện triển khai chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội; quản lý và sử dụng các quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật Bả o hiể m xã hộ i.
  34. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 79 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Mạng lưới của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam được tổ chức trên toàn quốc ở cả 3 cấp Trung ương, tỉnh và huyện. Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội gồm đại diện Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam, Liên minh hợp tác xã Việt Nam, tổ chức bảo hiểm xã hội và một số thành viên khác do Chính phủ quy định. Quỹ bảo hiểm xã hội được Nhà nước bảo hộ, không bị phá sản. Nhà nướ c miễn thuế đối với lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội được miễn thuế. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm xã hội; có chính sách ưu tiên đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội và các biện pháp cần thiết khác để bảo toàn, tăng trưởng quỹ. Hộp 7: Kết quả thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc Bảo hiểm xã hội bắt buộc đã từng bước trưởng thành và đóng vai trò quan trọ ng trong hệ thố ng cá c chương trì nh bả o hiể m xã hộ i nó i riêng và an sinh xã hộ i nó i chung. Đối tượng tham gia không ngừng tăng cao, từ hơn 2,2 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc năm 1995 đã tăng lên 10,43 triệu người vào năm 2012, chiếm khoảng 65% số đối tượng thuộc diện tham gia và bằng khoảng 20% lực lượng lao động cả nước. Năm 2012, mỗ i năm bả o hiể m xã hộ i giải quyết cho gần 130 nghìn người hưởng chế độ bả o hiể m xã hộ i hàng tháng, hơn 700 trăm người hưởng trợ cấp một lần, hơn 5,5 triệu lượt người hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ; hàng tháng thực hiện chi trả lương hưu cho hơn 1,96triệu người, trong đó gần 870 nghìn người hưởng hưu từ ngân sách nhà nước Mức lương hưu bình quân của người hưởng lương hưu từ ngân sách nhà nướ c (nghỉ hưu trướ c năm 1995) là 2,88 triệu đồng/tháng và của ngườ i hưởng lương từ quỹ bảo hiểm chi trả là 3,07 triệu đồng/tháng (năm 2012), cao hơn so với mức tiền lương bì nh quân làm căn cứ đóng bả o hiể m xã hộ i bắ t buộ c của người lao động (2,156 triệu đồng/người/tháng).
  35. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 80 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Những vấn đề tồn tại Mức độ tuân thủ tham gia bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp không cao; tình hình nợ tiền bảo hiểm xã hội còn lớn, nhất là với khối doanh nghiệ p ngoài nhà nước. Mộ t số nguyên nhân chí nh củ a tì nh trạ ng nà y là : Công tác tuyên truyền, phổ biế n chí nh sá ch vẫ n cò n hạ n chế , nhiều người lao động không biết thông tin về quyền lợi và nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội; ý thức và hiểu biết pháp luật của một bộ phận người sử dụ ng lao độ ng chưa cao; công tá c thanh tra, chế tà i sử phạ t chưa nghiêm; ; các qui định về phương thức đóng chưa phù hợp ( theo qui đị nh hiệ n hà nh, doanh nghiệ p là ngườ i đó ng trự c tiế p cho cơ quan bả o hiể m xã hộ i chứ không phả i là ngườ i lao độ ng, do vậ y, ngườ i lao độ ng không đủ thông tin giá m sá t kị p thờ i về quyề n tham gia bả o hiể m xã hộ i của họ). Nguy cơ mất cân đối quỹ bảo hiểm xã hội cao do quan hệ giữa mức đóng và mức hưởng bảo hiểm xã hội còn mất cân đối, mức đóng chưa tương ứng với mức hưởng20 ; Cơ chế và phương thức đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội chưa bảo tồn được giá trị của quỹ (thời kỳ 2001-2011, lãi suất đầu tư trung bình là 6%, thấp hơn chỉ số lạm phát là 10%); chi phí quản lý bảo hiểm xã hội còn cao. Phạm vi hưởng hưu trí còn thấp, tính đến cuối 2012, có gần 1,96 triệu người (chiếm trên 21% người từ 60 tuổi trở lên) có lương hưu. Mức lương hưu thực tế thấp do tiền lương sử dụng làm căn cứ tính đóng bảo hiểm xã hội hàng tháng thấp. Công tác tổ chức thực hiện các chế độ của bảo hiểm xã hội vẫn còn lạc hậu, chưa ứng dụng có hiệu quả công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý thực hiện bảo hiểm xã hội dẫn đến việc thực thi các qui định của Luật Bảo hiểm xã hội còn bị hạn chế. 20 Theo qui định của luật, mức đóng vào quỹ hưu trí từ năm 2014 là 22% và mức hưởng hưu trí cao nhất là 75% nên số đóng tích lũy của đối tượng chỉ đủ để hưởng trong khoảng 10 năm; tỷ lệ giữa số người đóng bảo hiểm xã hội so với số hưởng đang giảm nhanh
  36. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 81 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 3.2. Bảo hiểm xã hội tự nguyện Theo lộ trình của Luật Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm xã hội tự nguyện được triể n khai thự c hiệ n từ năm 2008 với 2 chế độ bảo hiểm là hưu trí và tử tuất. Đố i tượ ng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động không thuộ c diệ n tham gia bả o hiể m xã hộ i bắ t buộ c, bao gồm: 1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng. 2. Cán bộ không chuyên trách cấp xã. 3. Người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, kể cả xã viên không hưởng tiền lương, tiền công trong các hợp tác xã, liên hợp hợp tác xã. 4. Người lao động tự tạo việc làm. 5. Người lao động làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó chưa tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc đã nhận bảo hiểm xã hội một lần. 6. Người tham gia khác”. Mứ c đó ng bả o hiể m xã hộ i tự nguyệ n: Hiện nay, mức đóng hằng tháng bằng 20% mức thu nhập người lao động lựa chọn đóng bảo hiểm xã hội, từ năm 2014, mức đóng sẽ là 22%. Mức thu nhập làm cơ sở để tính đóng bảo hiểm xã hội được thay đổi tuỳ theo khả năng của người lao động ở từng thời kỳ, nhưng thấp nhất bằng 01 tháng lương tối thiểu và cao nhất bằng hai mươi tháng lương tối thiểu chung do Chính phủ quy định tại thời điểm tương ứng.
  37. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 82 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Điề u kiệ n hưở ng chế độ hưu trí : Người lao động có đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu khi nam đủ sáu mươi tuổi và nữ đủ năm mươi lăm tuổi. Trường hợp đã đủ tuổi hưởng hưu trí nhưng thời gian đóng bảo hiểm xã hội còn thiếu không quá năm năm so với thời gian quy định thì được đóng tiếp cho đến khi đủ hai mươi năm. Mứ c hưở ng chế độ hưu trí : Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội tương ứng với mười lăm năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%. Hộp 8: Kế t quả thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện Bả o hiể m xã hộ i tự nguyệ n bước đầu đã thu hút lao động khu vực phi chính thức tham gia, đặc biệt là nhữ ng người lao độ ng đã từ ng tham gia bả o hiể m xã hộ i bắ t buộ c, song chưa đủ điề u kiệ n về tuổ i và thờ i gian đó ng để đượ c hưở ng chế độ hưu trí . Tí nh đế n cuố i năm 2012, số đố i tượ ng tham gia bả o hiể m xã hộ i tự nguyệ n đạ t 134 nghì n ngườ i (khoả ng trên 70% là đã từ ng tham gia bả o hiểm xã hội bắt buộc); có trên 2,2 nghìn người hưởng hưu trí hàng tháng từ bảo hiểm xã hội tự nguyện với mức lương hưu bình quân là 1.049 nghìn đồng/người. Những vấn đề tồn tại Số người tham gia còn rất thấp, năm 2012 mới chiếm khoảng 0,27% số lao động thuộc diện tham gia; nông dân, lao động trẻ tham gia chưa nhiều.
  38. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 83 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Nguyên nhân do: (i) công tác tuyên truyền thông tin còn yếu, dẫn đến nhận thức về ý nghĩa và vai trò của bảo hiểm xã hội tự nguyện rất thấp, thu nhập hàng tháng của người lao động thấp, không đủ khả năng tham gia; (ii) Thiết kế chính sách chưa phù hợp, với quy định số năm đóng góp tối thiểu là 20 năm để được hưởng lương hưu thì nhóm lao động nam từ 45, nữ từ 40 tuổi trở lên mới tham gia sẽ không được hưởng chế độ hưu trí khi đến tuổi nghỉ hưu; sự chênh lệch giữa chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc (5 chế độ) và tự nguyện (2 chế độ) khiến người lao động không muốn tham gia 3.3. Bả o hiể m thấ t nghiệ p Theo lộ trình của Luật Bảo hiểm xã hội, bả o hiể m thất nghiệp đượ c triể n khai thự c hiệ n từ năm 2009 gồm 4 chế độ : trợ cấ p thấ t nghiệ p, hỗ trợ họ c nghề , hỗ trợ tì m việ c là m và bả o hiể m y tế . Đố i tượ ng tham gia bả o hiểm thất nghiệ p gồm: Người lao động có hợp đồng lao động từ đủ 12 tháng trở lên và làm việc trong các cơ sở sản xuất kinh doanh có qui mô từ 10 lao động trở lên; Cán bộ, viên chức làm việc trong khu vực sự nghiệp. Công chức nhà nước làm trong khu vực hành chính không phải là đối tượng của bảo hiểm thất nghiệp. Mứ c đó ng bả o hiể m thấ t nghiệ p: Người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước tham gia đóng gó p và o quỹ bả o hiể m thấ t nghiệ p. Trong đó, người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp; người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp; hằng tháng, Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền
  39. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 84 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp và mỗi năm chuyển một lần. Quỹ được bảo toàn và tăng trưởng thông qua đóng góp từ tiền sinh lợi của hoạt động đầu tư và từ các nguồn thu hợp pháp khác. Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp: Người thất nghiệp được hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi có đủ các điều kiện: (i) đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai tháng trở lên trong thời gian hai mươi bốn tháng trước khi thất nghiệp; (ii) đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội; (iii) chưa tìm được việc làm sau mười lăm ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp. Mứ c hưở ng trợ cấp thất nghiệp: Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của sáu tháng liền kề trước khi thất nghiệp. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định như sau: (i) ba tháng, nếu có từ đủ mười hai tháng đến dưới ba mươi sáu tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp; (ii) sáu tháng, nếu có từ đủ ba mươi sáu tháng đến dưới bảy mươi hai tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp; (iii) chín tháng, nếu có từ đủ bảy mươi hai tháng đến dưới một trăm bốn mươi bốn tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp; (iv) mười hai tháng, nếu có từ đủ một trăm bốn mươi bốn tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trở lên. Ngoài ra, người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp còn được hưởng các chế độ sau: Hỗ trợ học nghề: người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được hỗ trợ học nghề với thời gian không quá sáu tháng. Mức hỗ trợ bằng mức chi phí học nghề ngắn hạn theo quy định của pháp luật về dạy nghề.
  40. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 85 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Hỗ trợ tìm việc làm: người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí. Bảo hiểm y tế: người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được hưởng chế độ bảo hiểm y tế. Tổ chức bảo hiểm xã hội đóng bảo hiểm y tế cho người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp và trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp thì được bảo lưu thời gian tham gia chế độ bảo hiểm hưu trí và tử tuấ t. Hộp 9: Kế t quả thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp Sau 4 năm thực hiện bảo hiểm thất nghiệp, đã có trên 8,3 triệu người tham gia, bằng gần 16% tổng lực lượng lao động và khoảng 47% số lao động làm công ăn lương. Năm 2012, cả nước có trên 482 nghìn người đăng ký bảo hiểm thất nghiệp trong đó có hơn 421 nghìn người được hưởng bảo hiểm thất nghiệp hàng thá ng; số đượ c tư vấ n giớ i thiệ u việ c là m là 342 nghì n ngườ i, đượ c trợ cấ p họ c nghề là gầ n 5 nghì n ngườ i. Những vấn đề tồn tại Trước hết là phạm vi bao phủ của chính sách: mới chỉ giới hạn trong nhóm lao động làm việc trong các doanh nghiệp có sử dụng từ 10 lao động trở lên trong khi, về mức độ an ninh việc làm, thì nguy cơ mất việc làm xảy ra ở nhóm doanh nghiệp qui mô lao động ít hơn và vì thế ả nh hưở ng đế n khả năng tham gia củ a ngườ i lao độ ng21 ; Thứ hai, các qui định của chính sách bảo hiểm thất nghiệp khá dễ dàng (người lao động chỉ cần tham gia đóng 12 tháng là được hưởng), với mức hưởng khá cao, nên dẫn đến hiện tượng trục lợi chính sách. 21 Kế t quả tham vấ n ý kiế n củ a cá c đị a phương: Việc quy định bảo hiểm thất nghiệp đố i với doanh nghiệp 10 lao động trở lên là không hợp lý. Với những tỉnh nghèo, không có khu công nghiệp lớn, các doanh nghiệp trên địa bàn chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, nên còn có hiện tượng trốn bảo hiểm thất nghiệp bằng cách đăng ký dưới 10 lao động.
  41. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 86 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 4. Định hướng phát triển chính sách Chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc, tự nguyện và thất nghiệp tiếp tục mở rộng đối tượng tham gia, hướng tới bảo vệ cho toàn bộ người lao động, bảo đảm cân đối quỹ bảo hiểm xã hội. Bả o hiể m xã hộ i bắ t buộ c: Tăng cườ ng chế tà i để gia tăng mứ c độ tuân thủ Luậ t Bả o hiể m xã hộ i; Tiế p tụ c cả i cá ch cá c thông số bả o hiể m xã hộ i để đả m bả o khả năng cân đố i tà i chí nh quỹ trong dà i hạ n; Từng bước điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu hưởng bảo hiểm xã hội đối với một số nhóm đối tượng để gia tăng thời gian đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội và giả m thờ i gian hưở ng; Cả i thiệ n tì nh hì nh đầ u tư tăng trưở ng quỹ bả o hiể m xã hộ i; Nghiên cứu xây dựng chính sách khuyến khích nông dân, người lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện; Bảo hiể m xã hội tự nguyệ n: Tạo điều kiện cho lao độ ng nam trên 45 tuổ i và nữ trên 40 tuổ i tiếp tục tham gia bả o hiể m xã hộ i để đượ c hưở ng lương hưu; Thực hiện chính sách hỗ trợ mộ t phầ n phí đó ng bả o hiể m xã hộ i tự nguyện cho lao động đặc thù (người cận nghèo, người nghèo, lao động có mức sống trung bình trở xuống làm trong nông, lâm, ngư, diêm nghiệp).
  42. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 87 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Bảo hiể m thấ t nghiệ p: Mọi người lao động có hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc từ đủ 3 thá ng trở lên đều thuộ c diệ n tham gia bả o hiể m thấ t nghiệ p. Mọi doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đều thuộc diện tham gia bảo hiể m thấ t nghiệ p, không phân biệ t qui mô lao độ ng củ a đơn vị . Tăng cườ ng chế tà i xử phạt doanh nghiệp không tuân thủ để hạ n chế tì nh trạ ng lạ m dụ ng quỹ bả o hiể m thấ t nghiệ p. Tổng kết thí điểm bảo hiểm hưu trí bổ sung tiến tới xây dựng thành chính sách của hệ thống bảo hiểm xã hội. Hộp 10: Bảo hiểm hưu trí bổ sung Việ t Nam mớ i có mộ t hệ thố ng bả o hiể m xã hộ i đơn nhấ t nên ngườ i lao động chỉ có cơ hội được hưởng một chế độ hưu trí từ quỹ bảo hiểm xã hội. Thự c tế nà y đang bó hẹ p cơ hộ i nâng cao mứ c số ng củ a mộ t số nhó m đố i tượng khi nghỉ hưu. Để giải quyết vấn đề này, Việt Nam đang thí điểm chế độ hưu trí bổ sung ngoà i cá c chế độ bả o hiể m xã hộ i hiệ n hà nh đố i vớ i mộ t số doanh nghiệ p lớ n. Nhờ vậ y, ngườ i lao độ ng có thể vừ a tham gia bả o hiể m xã hộ i theo hệ thố ng hiệ n nay vừ a có thể tham gia đó ng gó p và o cho chế độ hưu trí bổ sung (nếu có nhu cầu) để khi nghỉ hưu sẽ được hưởng 2 chế độ hưu trí. Sau thời gian thí điểm, thể chế hóa chương trình này vào Luật Bảo hiểm xã hội.
  43. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 88 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 CHƯƠNG 4: NHÓM CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI 1. Vai trò Một bộ phận dân cư vì các lý do khác nhau như tàn tật, khuyết tật, người già cô đơn, người tâm thần, trẻ em mồ côi, người nhiễm HIV, hoặc gặp các rủi ro do thiên tai, không có khả năng tạo thu nhập, cần được Nhà nước và cộng đồng hỗ trợ thu nhập tối thiểu cho người dân, góp phần ổn định cuộc sống, nâng cao năng lực phòng chống rủi ro. 2. Mục tiêu Thông qua sự trợ giúp của Nhà nước, nhân dân và cộng đồng quốc tế, các chính sách trợ giúp xã hội nhằm bảo đảm thu nhập và các điều kiện sinh sống ở mức tối thiểu (bằng các hình thức và biện pháp khác nhau) đối với các đối tượng gặp rủi ro, bất hạnh, nghèo đói, thiệt thòi trong cuộc sống không đủ khả năng tự lo được cuộc sống của bản thân và gia đình. 3. Chính sách trợ giúp xã hội Trợ giúp xã hội được gồm hai nhóm là trợ giúp xã hội thường xuyên và trợ giúp xã hội đột xuất. 3.1. Trợ giúp xã hội thường xuyên 3.1.1 Thực hiện chăm sóc những người không tự lo được cuộc sống tại các cơ sở trợ giúp xã hội hoặc tại cộng đồng Nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 và Nghị định số 13/2010/NĐ- CP ngày 27/02/2010 (sửa đổi một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ- CP) quy định đối tượng tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội hoặc nhà xã hội tại cộng đồng là những người tàn tật, người già cô đơn, người tâm thần, trẻ em mồ côi không tự lo được cuộc sống. Mức trợ cấp nuôi dưỡng
  44. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 89 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 hàng tháng thấp nhất cho các đối tượng bảo trợ xã hội sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội từ 360 nghìn đồng đến 450 nghìn đồng. Bên cạnh đó, Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia giúp đỡ đối tượng bảo trợ xã hội. 3.1.2 Thực hiện hỗ trợ tiền mặt cho đối tượngcó hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/02/2010 và Nghị định số 67/2007/ NĐ-CP qui định 9 nhóm đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, gồm: (1) trẻ em mồ côi hoặc bị bỏ rơi không nơi nương tựa; (2) người già cô đơn thuộc hộ nghèo; (3) người từ 80 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội; (4) người tàn tật nặng không có khả năng lao động hoặc không có khả năng tự phục vụ; (5) người mắc bệnh tâm thần; (6) người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động, thuộc hộ gia đình nghèo; (7) gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi; (8) hộ gia đình có từ 02 người trở lên tàn tật nặng, không có khả năng tự phục vụ và (9) người đơn thân thuộc diện hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi. Mức chuẩn để xác định mức trợ cấp xã hội hàng tháng là 180 nghìn đồng và quy định đối với từng nhóm đối tượng, dao động từ 180-720 nghìn đồng. Ngoà i hỗ trợ bằng tiền, các đối tượng được cấp thẻ bảo hiểm y tế và khi chết được hỗ trợ kinh phí mai táng.
  45. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 90 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Hộp 11: Kết quả thực hiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên Cơ sở bảo trợ xã hội ngày càng phát triển. Bên cạnh các hệ thống cơ sở bảo trợ xã hội của nhà nuớc, sự tham gia của khu vực tư nhân vào triển khai các mô hình chăm sóc người cao tuổi, trẻ mồ côi, người khuyết tật, đặc biệt là mô hình nhà dưỡng lão đang được mở rộng; các mô hình chăm sóc người có hoàn cảnh đặc biệt tại cộng đồng đang được triển khai. Đến cuối năm 2011, cả nước có khoảng 432 cơ sở bảo trợ xã hội, trong đó có 182 cơ sở công lập và 250 cơ sở ngoài công lập, nuôi dưỡng trên 41 nghìn người. Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên đã góp phần quan trọng ổn định đời sống cho đối tượng có hoàn cảnh đặc biện khó khăn. Chủ trương tăng cường công tác chăm sóc đối tượng tại cộng đồng tiếp tục được thực hiện. Năm 2012 cả nước có gần 2,9 triệu người hưởng chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng, bao gồm: 80.028 trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi (chiếm 2,76%); 1.523.209 người cao tuổi cô đơn, người từ đủ 80 tuổi trở lên (52,52%); 700.702 người khuyết tật (24,16%); 210.000 người tâm thần (7,24%); 100.760 người nghèo đơn thân nuôi con (3,47%); 25.444 người, gia đình nuôi trẻ em bị bỏ rơi, trẻ mồ côi (0,88%); 8.900 gia đình có từ 2 người khuyết tật nặng trở lên (0,31%); 250.000 người nhiễm HIV/ AIDS (8,62%). Những vấn đề tồn tại Mức chuẩn để tính mức trợ cấp còn thấp, mới bằng 45% so với chuẩn nghèo, bằng 20% so với mức sống tối thiểu, chưa bảo đảm nhu cầu trợ cấp của đối tượng. Mức trợ giúp đột xuất thấp, mới chỉ bù đắp được khoảng 10% thiệt hại của hộ gia đình. Công tác xác định đối tượng cũng như chi trả cũng còn nhiều bất cập. Chưa tách bạch rõ nhiệm vụ xác định đối tượng và chi trả. Trợ cấp còn chưa kịp thời đối với một số đối tượng ở vùng sâu, vùng xa, miền núi. Nhiều đối tượng vẫn chưa được biết thông tin về chính sách. Mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội vẫ n cò n thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, chưa đáp ứng được yêu cầu nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, phục hồi chức năng và cung cấp các dịch vụ cho đối tượng bảo trợ xã hội.
  46. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 91 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Công tác xã hội hóa chậm phát triển, khu vực tư nhân, đối tác xã hội chưa tham gia nhiều vào triển khai hoạt động chăm sóc đối tượng; các mô hình chăm sóc đối tượng dựa vào cộng đồng chưa phát triển. Công tác quản lý hoạt động trợ giúp từ cộng đồng xã hội còn nhiều bất cập, khó kiểm soát và điều phối các nguồn hỗ trợ từ cộng đồng và các đối tượng cần trợ cấp. 3.2. Chính sách trợ giúp đột xuất Trợ giúp xã hội đột xuất là hình thức hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ những người không may bị thiên tai, mất mùa hoặc những biến cố khác nhằm hỗ trợ kịp thời, giúp khắc phục và vượt qua khó khăn sớm ổn định sản xuất và đời sống, đảm bảo thu nhập, không bị rơi xuống nghèo khổ. Nghị định số 13/2010/ NĐ-CP ngày 27 tháng 2 năm 2010 của Chính phủ quy định đối tượng được trợ cấp đột xuất gồm: những người, hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc những lý do bất khả kháng như hộ gia đình có người bị chết, mất tích; hộ gia đình có hộ có người bị thương nặng, hộ có nhà ở bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng; người thiếu đói; người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú mà bị thương nặng hoặc bị chết, gia đình không biết để chăm sóc hoặc mai táng; người lang thang xin ăn trong thời gian tập trung chờ đưa về nơi cư trú. Mức trợ cấp đột xuất và đối tượng hưởng trợ cấp trợ giúp đột xuất tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, khả năng ngân sách nhà nước và đóng góp của cộng đồng. - Mức trợ giúp đối với hộ gia đình: hộ có người chết, mất tích (4.500.000 đồng/người); hộ có người bị thương nặng (1.500.000 đồng/người); hộ có nhà bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng (6.000.000 đồng/hộ và 7.000.000 đồng/hộ đối với hộ sống ở vùng khó khăn); hộ gia đình
  47. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 92 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 phải di dời nhà ở khẩn cấp do nguy cơ sạt lở đất, lũ quét (6.000.000 đồng/hộ). - Mức trợ giúp đối với cá nhân: Trợ giúp cứu đói (15 kg gạo/người/ tháng), trong thời gian từ 1 đến 3 tháng; Người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú bị thương nặng, gia đình không biết để chăm sóc (1.500.000 đồng/người); Người lang thang xin ăn trong thời gian tập trung chờ đưa về nơi cư trú (15.000 đồng/người/ngày) nhưng không quá 30 ngày. Trường hợp đặc biệt cần phải kéo dài thì thời gian được hưởng trợ cấp tối đa không quá 90 ngày và mức trợ cấp bằng mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng tại cơ sở bảo trợ xã hội. - Đối với người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú bị chết, cơ quan, đơn vị đứng ra mai táng được hỗ trợ kinh phí mai táng thấp nhất bằng 3.000.000 đồng/người. Hộp 12: Kết quả thực hiện chính sách trợ giúp đột xuất Phong trào tương thân, tương ái của mọi tầng lớp nhân dân, của các tổ chức quần chúng, các doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài được phát huy. Công tác cứu trợ đột xuất đã được triển khai tương đối kịp thời, góp phần tạm thời ổn định cuộc sống của đối tượng bị rủi ro. Giai đoạn 2006-2011, mỗi năm bình quân Nhà nước chi khoảng 1000 tỷ đồng và khoảng 50-60 ngàn tấn gạo để hỗ trợ các địa phương và người dân khắc phục thiên tai, ổn định cuộc sống.Tính đến tháng 8 năm /2013, Nhà nước đã chi khoảng 42.090 tấn gạo cho 22 tỉnh để hỗ trợ các địa phương và người dân khắc phục thiên tai, ổn định cuộc sống, đặc biệt là vào thời kỳ giáp hạt và Tết Nguyên Đán. Những vấn đề tồn tại Phạm vi của các chính sách còn hẹp, mới tập trung chủ yếu cho đối tượng bị rủi ro do thiên tai, chưa tính đến những rủi ro do tác động của sản xuất kinh doanh, mất mùa, khủng hoảng kinh tế (ví dụ, trong hai năm 2012- 2013, nhiều doanh nghiệp bị đóng cửa, hàng loạt người lao động bị mất
  48. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 93 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 việc làm, song Nhà nước vẫn chưa có các chương trình việc làm công để giải quyết việc làm tạm thời cho họ) Mức trợ cấp còn thấp, mới chỉ bù đắp được một phần thiệt hại, chưa đáp ứng được nhu cầu của hộ gia đình. Trong một số trường hợp, sự hỗ trợ vẫn chưa kịp thời như mong muốn. Công tác quản lý hoạt động trợ giúp còn yếu kém, chưa kiểm soát được các nguồn đóng góp; Vai trò điều phối còn bất cập dẫn đến tình trạng cùng một hậu quả (ví dụ chết người) nhưng mức được trợ cấp lại rất khác nhau (có thể gấp hàng trăm lần); Chưa phân cấp đủ mạnh cho các địa phương trong việc chủ động tổ chức cứu trợ đột xuất. Một số sáng kiến cộng đồng trong tổ chức hỗ trợ đã được thí điểm, song chưa được thể chế hóa và nhân rộng. Cơ quan thực hiện: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm và phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và các địa phương tổ chức thực hiện. 4. Định hướng phát triển chính sách Trợ giúp xã hội thường xuyên Xây dựng mức sống tối thiểu phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội làm căn cứ xác định người thuộc diện hưởng trợ giúp xã hội; Rà soát tổng thể các chính sách hỗ trợ hiện hành, tiến tới xây dựng một gói trợ cấp chung cho các hộ gia đình, người dân thuộc diện thụ hưởng; Sửa đổi bổ sung Nghị định số 67/2007/NĐ-CP và Nghị định số 13/2009/ NĐ-CP;
  49. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 94 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Điều chỉnh mức và mở rộng diện trẻ em nghèo được hỗ trợ tiền để đi học theo Nghị định số 49/2010/NĐ-CP, ưu tiên hỗ trợ trẻ em nghèo ở vùng dân tộc, miền núi. Ưu tiên hộ nghèo có trẻ em, có phụ nữ mang thai và cho những địa bàn khó khăn; Hoàn thiện tiêu thức và qui trình xác định người hưởng, hệ thống thông tin quản lý trợ giúp xã hội; xây dựng bộ cơ sở dữ liệu hợp nhất và tăng cường chia sẻ thông tin giữa các bên liên quan phục vụ giám sát, đánh giá và tự báo cáo; thực hiện kết nối thông tin giữa đối tượng thụ hưởng vớ i cơ quan quả n lý ; Đổi mới hệ thống chi trả, tách bạch giữa nhiệm vụ quản lý nhà nước với hệ thống dịch vụ chi trả; lựa chọn cơ quan chi trả độc lập; tích hợp chi trả một lần cho nhiều chính sách trợ giúp xã hội khác nhau đối với cùng nhóm đối tượng; Tăng cường mô hình chăm sóc người có hoàn cảnh đặc biệt tại cộng đồng; mở rộng sự tham gia của khu vực tư nhân vào triển khai các mô hình chăm sóc người cao tuổi, trẻ mồ côi, người khuyết tật, đặc biệt là mô hình nhà dưỡng lão. Trợ giúp xã hội đột xuất Tiếp tục hoàn thiện cơ chế,chính sách và phương thức tổ chức thực hiện, nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp đột xuất. Tiếp tục tuyên truyền vận động và tổ chức tốt các phong trào tương thân, tương ái. Mở rộng sự tham gia hỗ trợ của cộng đồng, bảo đảm người dân bị thiệt hại khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời. Nghiên cứu và thành lập thí điểm các quỹ phát triển cộng đồng, các nhóm tương trợ, tự cứu ở địa phương.
  50. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 95 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 CHƯƠNG 5: BẢO ĐẢM MỨC TỐI THIỂU CÁC DỊCH VỤ XÃ HỘI CƠ BẢN CHO NGƯỜI DÂN Bảo đảm mức tối thiểu các dịch vụ xã hội cơ bản cho toàn dân là một trong những mục tiêu quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam. Các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm: giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin. 1. Chính sách bảo đảm giáo dục tối thiểu 1.1. Vai trò Một trong những nguyên nhân cơ bản của nghèo đói là do người lao động không có trình độ giáo dục cơ bản và kỹ năng nghề nghiệp để tìm việc làm tốt hơn. Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người dân có trình độ giáo dục tối thiểu, tăng cường chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời. 1.2. Mục tiêu Nâng cao chất lượng giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3-5 tuổi; phổ cập tiểu học và trung học cơ sở, nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, dạy nghề và đào tạo đại học, cao đẳng; Giảm chênh lệch về giáo dục cho người nghèo, dân tộc thiểu số và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. 1.3. Chính sách hiện hành Hiến Pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 xác định “giáo dục là một quyền và là nghĩa vụ của mọi công dân, bậc tiểu học là bắt buộc và không phải trả học phí”.
  51. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 96 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Luật Giáo dục năm 2010 quy định: “phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu mọi công dân đều bình đẳng về cơ hội học tập, ưu tiên giúp đỡ người nghèo, con em dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được học tập; phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở”. Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định trẻ em có quyền được học tập bậc tiểu học trong các cơ sở giáo dục công lập không phải trả học phí. Quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 9/2/2010 khẳng định mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015. Chính sách phổ cập giáo dục tiểu học quy định trẻ em 6 tuổi phải được học lớp 1; học sinh học tại trường, lớp tiểu học công lập không phải đóng học phí. Nhằm tạo cơ hội và điều kiện cho trẻ em trong các hộ gia đình nghèo, trẻ em là người dân tộc thiểu số ở các vùng khó khăn, trẻ em không nơi nương tựa tiếp cận giáo dục cơ bản, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách miễn, giảm học phí và các chính sách ưu đãi khác, gồm Nghị định 74/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về cấp bù học phí cho các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, đào tạo nghề nghiệp và đại học; Quyết định 12/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 24/1/2013 về chính sách hỗ trợ học sinh trung học phổ thông ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Quyết định 36/2013/QĐ-TTg ngày 18/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ gạo cho học sinh tại các trường ở khu vực có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn; Chính sách hỗ trợ tiền ăn: Quyết định 12/2013/QĐ-TTg ngày 24/1/2013, Hỗ trợ tiền ăn trưa cho học sinh 3 tuổi, 4 tuổi theo chế độ quy định tại Quyết định 60/2011/QĐ-TTg ngày 26/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ quy định một số chính sách phát triển giáo dục mầm non; Quyết định 85/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ tiền ăn, ở cho học
  52. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 97 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 sinh bán trú và trường phổ thông dân tộc bán trú; Quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 9/2/2010 quy định hỗ trợ tiền ăn, ở cho học sinh mẫu giáo, học sinh phổ thông con hộ nghèo học bán trú tại các xã đặc biệt khó khăn. Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 quy định miễn, giảm học phí cho học sinh gia đình nghèo, cận nghèo; Cơ quan tổ chức thực hiện: Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức thực hiện và phối hợp với Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội cùng các bộ ngành liên quan hướng dẫn các địa phương thực hiện. Hộp 13: Kết quả thực hiện chính sách đảm bảo giáo dục tối thiểu Mạng lưới giáo dục trong toàn quốc được tăng cường: Năm học 2012- 2013 cả nước có 13.548 trường mầm non, 15.361 trường tiểu học; 10.847 Trung học cơ sở và 2.708 trường Trung học phổ thông. Ngoài ra còn có 305 trường Phổ thông dân tộc nội trú và 569 trường Phổ thông dân tộc bán trú. Việt Nam đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000, phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010. Năm 2012, tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học mẫu giáo 5 tuổi đạt 98,6%, tiểu học đạt 97,4%, trung học cơ sở trên 85,5%, trung học phổ thông đạt 54,4%; tỷ lệ trẻ khuyết tật đi học đạt 58,4%; tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân đạt 56,1 người; tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 tuổi trở lên đạt 98,25%. Công bằng xã hội trong giáo dục đã được cải thiện, đặc biệt tăng cơ hội học tập cho trẻ em gái, trẻ em dân tộc thiểu số, con em gia đình nghèo và trẻ em khuyết tật. Giáo dục ở vùng đồng bảo dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa có tiến bộ rõ rệt.
  53. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 98 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Những vấn đề tồn tại - Việc triển khai xây dựng, hướng dẫn thực hiện chính sách vẫn còn chậm, thủ tục phức tạp làm hạn chế hiệu quả chính sách; cơ sở vật chất trường học vẫn còn nhiều khó khăn: thiếu phòng chức năng, nhà công vụ giáo viên, cơ sở vật chất phục vụ cho bán trú (nhà ở, nhà ăn cho học sinh) chậm được đầu tư; nhiều phòng học tạm xuống cấp nghiêm trọng ; Mức hỗ trợ cho một số đối tượng học sinh chính sách còn thấp (mức hỗ trợ ăn trưa cho trẻ 3-5 tuổi 5.000 đồng/bữa, học bổng học sinh nội trú 28.000 đồng/ngày/học sinh ); định mức lao động cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên ở loại hình trường phổ thông dân tộc bán trú còn bất cập Tình trạng trẻ em bỏ học, nhất là trẻ em là người dân tộc thiểu số ở vùng đặc biệt khó khăn còn cao. Ngoài nguyên nhân nghèo đói thì khó khăn về khoảng cách từ nơi ở đến trường học, giáo trình không phù hợp với năng lực trẻ em dân tộc thiểu số, bất đồng ngôn ngữ trong dạy và học là những nguyên nhân khiến cho học sinh nản học, dẫn đến bỏ học. 1.4. Định hướng phát triển chính sách Tập trung hoàn thiện hệ thống chính sách giáo dục, chú ý đến nhu cầu phát triển giáo dục và đặc điểm của vùng đông đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là các yếu tố về văn hoá và nhân học của người dân tộc thiểu số. Xây dựng và thực hiện quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục, phấn đấu đến năm 2020 tất cả các xã, phường trên toàn quốc có trường mầm non và 100% các trường mầm non tổ chức giáo dục 2 buổi/ngày. Củng cố và phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú. Thúc đẩy, triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ giáo dục đối với học sinh, sinh viên, nhất là người dân tộc thiểu số, đối tượng thuộc diện
  54. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 99 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 chính sách xã hội. Tăng cường các chế độ ưu đãi, học bổng, giảm giá sách giáo khoa, học phẩm và đồ dung học tập; nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tín dụng đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn; ưu tiên đầu tư cho các trường phổ thông dân tộc nội trú. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, ưu tiên cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi; Có chính sách ưu đãi để thu hút, khuyến khích nhà giáo và sinh viên tốt nghiệp Cao đẳng, Đại học đến dạy học ở vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn; Triển khai chương trình, nội dung, phương pháp dạy học phù hợp với điều kiện học tập của học sinh, đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số. Xây dựng môi trường học tập thân thiện, an toàn với chỗ học, chỗ vui chơi khang trang, sạch đẹp. Khuyến khích học song ngữ cả tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số ngay từ bậc mầm non đối với học sinh dân tộc thiểu số. Tiếp tục đổi mới cơ chế tài chính, huy động và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực của nhà nước và xã hội đầu tư cho giáo dục ở các cấp học. Huy động toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục và đào tạo, đặc biệt cho các vùng dân tộc thiểu số và vùng đặc biệt khó khăn. 2. Chính sách bảo đảm y tế tối thiểu 2.1 Vai trò Ốm đau, bệnh tật là một trong những rủi ro thường gặp nhất của con người, đặc biệt là những người thuộc nhóm yếu thế, nhóm dễ bị tổn thương (người nghèo, người dân sống ở vùng đặc biệt khó khăn, người cao tuổi, trẻ em, phụ nữ). Mặt khác, việc khó tiếp cận các dịch vụ y tế cơ bản, y tế công làm tăng gánh nặng y tế của người yếu thế. Do vậy, chăm
  55. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 100 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 sóc sức khoẻ ban đầu cho người dân thông qua phát triển hệ thống bảo hiểm y tế toàn dân có vai trò rất quan trọng. 2.2 Mục tiêu Nhà nước chăm lo, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ nhân dân; đảm bảo mọi người dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, đặc biệt là bà mẹ trẻ em; thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân; mở rộng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng; người dân được sống trong cộng đồng an toàn, phát triển tốt về thể chất và tinh thần, giảm tỷ lệ mắc bệnh, tật, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ, nâng cao chất lượng dân số. 2.3. Chính sách hiện hành 2.3.1 Chăm sóc sức khoẻ ban đầu Hiến pháp năm 1992 quy định “Công dân có quyền được hưởng chế độ bảo hiểm sức khoẻ. Nhà nước quy định chế độ viện phí, chế độ miễn, giảm viện phí”. Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân năm 1989 quy định: “ công dân có quyền được bảo vệ sức khoẻ, nghỉ ngơi, giải trí, rèn luyện thân thể; được bảo đảm vệ sinh trong lao động, vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh môi trường sống và được phục vụ về chuyên môn y tế ”. Quyết định số 122/QĐ-TTg, ngày 10/01/2013 về Phê duyệt Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2030 khẳng định quyết tâm Nhà nước chăm lo, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ nhân dân. Nhà nước đã thực hiện một loạt các chương trình mục tiêu quốc gia liên quan đến y tế và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng như: Chương trình mục tiêu quốc gia về phòng chống các bệnh lây nhiễm, không lây nhiễm, tiêm chủng mở rộng, chăm sóc sức khỏe sinh sản và cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em, y tế học đường; Chương trình mục tiêu quốc gia vệ sinh an toàn thực phẩm; Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống
  56. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 101 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 HIV/AIDS (Quyết định số 1202/QĐ-TTg ngày 31/08/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn 2012-2015); Đồng thời thực hiện nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và xã hội hóa tài chính và cung cấp dịch vụ y tế. Hộp 14: Kết quả thực hiện chính sách chăm sóc sức khoẻ ban đầu Các chương trình y tế đã góp phần đạt được nhiều kết quả nổi bật trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân: Kết quả, đến năm 2012, tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi tiêm đầy đủ đạt trên 90%, tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi đạt dưới 15,3‰; tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi còn 22‰; tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi thể nhẹ cân đạt 16,3%, tỷ lệ hiện mắc lao giảm còn 215 người/100.000 dân; Năm 2012, 96% phụ nữ mang thai được tiêm phòng uốn ván và trên 90% trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ, tỷ lệ phụ nữ mang thai được khám thai từ 3 lần trở lên đạt 83,4%; Một số bệnh đường tiêu hóa (thương hàn, lỵ trực trùng), viêm màng não, nhiều bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là các bệnh có thể dự phòng bằng vác-xin (bạch hầu, ho gà, viêm não) giảm rõ rệt; tuổi thọ trung bình của người dân đạt 73 tuổi; Đến năm 2012, số ca nhiễm HIV đã giảm 31,5% so với năm 2001; tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS được điều trị ARV là 60% (72.711 người). Những vấn đề tồn tại: Mục tiêu xây dựng một hệ thống y tế theo hướng công bằng và hiệu quả trong bối cảnh nền kinh tế thị trường còn nhiều thách thức do sự phân hóa giàu-nghèo trong thụ hưởng dịch vụ y tế có xu hướng tăng lên; Nhận thức về bảo vệ, nâng cao sức khỏe của nhân dân còn chưa đầy đủ. Người nghèo, người yếu thế còn gặp nhiều khó khăn trong chữa trị bệnh tật và chăm sóc sức khoẻ do chi phí liên quan đến điều trị còn lớn;
  57. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 102 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Kết quả chăm sóc sức khỏe toàn dân chưa đồng đều. Việt Nam vẫn chưa đạt được mục tiêu giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em còn cao, đặc biệt suy dinh dưỡng thể thấp còi còn chiếm đến gần 32% trẻ em trên mọi vùng.; Tỷ lệ tử vong của trẻ dưới 1 tuổi tại các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, và Đông Bắc cao gấp 1,5 lần so với mức bình quân chung, có nơi lên đến 42%; tỷ lệ trẻ em tử vong mặc dù giảm, song số lượng còn lớn, khoảng 31000 trẻ em bị tử vong, trong đó khoảng 40% là trẻ sơ sinh; Công tác y tế dự phòng còn nhiều thách thức; công tác tuyên truyền chưa đến được mọi người dân; các yếu tố liên quan đến sức khỏe như nước sạch, môi trường, nghề nghiệp, thực phẩm, lối sống có nguy cơ gia tăng. Số người chết vì bệnh lao vẫn còn nhiều (hằng năm có 180 nghìn người mới mắc bệnh lao, 30 nghìn người chết vì bệnh lao, gấp 3 lần số người chết vì tai nạn giao thông, gấp 600 lần số người chết vì ngộ độc thực phẩm)22 ; số lượng người nhễm HIV khó kiểm soát và có xu hướng gia tăng; Bất bình đẳng trong lĩnh vực chăm sóc y tế giữa các nhóm dân cư có xu hướng gia tăng (nhóm thu nhập, dân tộc, địa bàn cư trú, tình trạng cư trú, giới tính ); nhiều vùng đô thị và vùng kinh tế phát triển đã bắt đầu phải đối mặt với tình trạng trái ngược nhưng tăng nhanh: thừa cân, béo phì ở cả trẻ em và người trưởng thành. Mạng lưới đảm bảo cung cấp dịch vụ y tế tuyến cơ sở cho người dân còn nhiều hạn chế: mặc dù hầu hết các xã đã có trạm y tế, nhưng mới có 46% xã có trạm y tế đạt chuẩn quốc gia; nhiều cơ sở y tế xuống cấp, cán bộ y tế còn thiếu, trình độ chưa cao, cơ cấu và phân bổ cán bộ y tế mất cân đối. 22 Theo báo cáo của Bộ Y tế và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2011, Việt Nam đứng thứ 12/22 nước có tình trạng bệnh lao cao nhất thế giới.
  58. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 103 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Dịch vụ khám chữa bệnh còn nhiều hạn chế, đặc biệt là các vùng khó khăn. Tình trạng vượt tuyến, vượt cấp còn lớn gây nên tình trạng quá tải ở tuyến trên và không sử dụng hết ở tuyến dưới. Công tác xã hội hóa y tế còn nhiều hạn chế. 2.3.2 Bảo hiểm y tế Nghị định số 299-HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về Điều lệ bảo hiểm y tế được ban hành lần đầu tiên vào năm 1992. Luật Bảo hiểm y tế có hiệu lực từ ngày 01/7/2009 với mục tiêu thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân vào năm 2014, trong đó Nhà nước đảm bảo ngân sách để thực hiện các chương trình cấp thẻ bảo hiểm y tế và hỗ trợ toàn bộ, một phần mức đóng bảo hiểm y tế đối với trẻ em dưới 6 tuổi, người nghèo, cận nghèo, người dân tộc thiểu số, hộ gia đình làm nghề nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có mức sống trung bình trở xuống: Quyết định 705/QĐ-TTg ngày 08/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc nâng mức hỗ trợ đóng BHYT cho một số đối tượng người thuộc hộ gia đình cận nghèo; Quyết định số 538/QĐ-TTg ngày 29/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thực hiện lộ trình BHYT toàn dân giai đoạn 2012- 2015 và 2020. Đố i tượ ng tham gia bả o hiể m y tế: Tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam, gồm: Nhà nước cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho: Người có công với cách mạng, thân nhân người có công với cách mạng, người làm trong lực lượng vũ trang, thân nhân người làm trong lực lượng vũ trang, trẻ em dưới 6 tuổi, người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ gia đình cận nghèo thoát nghèo dưới 5 năm hoặc đang sinh sống tại các huyện nghèo;
  59. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG 104 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Nhà nước hỗ trợ một phần mức phí đóng bảo hiểm y tế cho: học sinh, sinh viên, người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình trở xuống. Hộp 15: Kết quả thực hiện chính sách bảo hiểm y tế Chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho các nhóm đối tượng đặc thù và công tác tuyên truyền đã góp phần tăng nhanh số người tham gia bảo hiểm y tế: tỉ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế tăng từ 13,4% năm 2001 lên 66,8% năm 2012 (59,3 triệu người), trong đó Nhà nước hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho 78% số người tham gia, đặc biệt trong nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ được hỗ trợ lên đến 83%. Các doanh nghiệp, đoàn thể, các tổ chức, cá nhân đã có nhiều sáng kiến, phong trào vận động xã hội chăm sóc y tế cho người nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như: trợ giúp khám chữa bệnh, bữa ăn trong bệnh viện, mổ tim, mổ mắt, xe lăn, thiết bị y tế cho các bệnh viện Những vấn đề tồn tại Mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân còn nhiều thách thức. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế ở một số nhóm dân cư còn thấp, đến năm 2012 vẫn còn gần 37% dân số chưa tham gia, trong đó, khoảng 87% người cận nghèo, 66% lao động trong các hợp tác xã và 47% lao động doanh nghiệp ngoài nhà nước. Đối với trẻ em dưới 6 tuổi, mặc dù được hỗ trợ 100% cũng chỉ thực hiện được 81,3%; đối với nhóm học sinh, sinh viên, mặc dù được hỗ trợ 30% mức đóng, cũng mới thực hiện được 76%. Các quyền lợi và dịch vụ của bảo hiểm y tế còn hạn chế, gánh nặng ngân sách dùng để hỗ trợ người dân tham gia bảo hiểm y tế còn lớn. Việc thực hiện bảo hiểm y tế bắt buộc trong doanh nghiệp liên doanh và tư nhân chưa triệt để, nhiều doanh nghiệp không đóng bảo hiểm y tế bắt buộc cho người lao động.
  60. PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 105 Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 Phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm dễ bị lạm dụng và tham nhũng về thuốc men và tài chính. Các khoản chi phí liên quan đến chi phí chăm sóc y tế miễn phí cho các đối tượng nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi ngày càng tăng. 2.4. Định hướng phát triển chính sách Chăm sóc sức khoẻ ban đầu Chính phủ tiếp tục triển khai Chiến lược, các chương trình, đề án về y tế, chú trọng cải thiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân ở các tuyến cơ sở, ưu tiên các huyện nghèo, xã nghèo, vùng đặc biệt khó khăn: Tiếp tục củng cố và hoàn thiện mạng lưới trạm y tế xã, trung tâm y tế huyện; Phát triển đội ngũ nhân viên y tế thôn bản nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới; tăng cường hoạt động bác sỹ gia đình; triển khai quản lý bệnh không lây nhiễm gắn với chăm sóc sức khỏe ban đầu và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại cộng đồng. Xây dựng các chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ nhân dân miền núi, vùng sâu, vùng xa, đặc biệt quan tâm tới đồng bào các dân tộc thiểu số, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng cho nhân dân vùng nghèo, dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn. Củng cố tổ chức và đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao hiệu quả của Ban chăm sóc sức khoẻ nhân dân ở cơ sở; nâng cao nhận thức và tăng cường sự tham gia, phối hợp của chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp đối với hoạt động chăm sóc sức khoẻ ban đầu; Thực hiện lồng ghép các chương trình, mục tiêu, đẩy mạnh các hoạt động truyền thông - giáo dục sức khỏe tại cộng đồng.