Mức sinh và mức chết ở Việt Nam: Thực trạng, xu hướng và những khác biệt (Phần 1)

pdf 64 trang ngocly 30
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Mức sinh và mức chết ở Việt Nam: Thực trạng, xu hướng và những khác biệt (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfmuc_sinh_va_muc_chet_o_viet_nam_thuc_trang_xu_huong_va_nhung.pdf

Nội dung text: Mức sinh và mức chết ở Việt Nam: Thực trạng, xu hướng và những khác biệt (Phần 1)

  1. Bộ kế hoạch và đầu tư Tổng cục thống kê Tổng điều tra Dân số và nhà ở VIỆT NAM năm 2009 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT Hà Nội, tháng 6 năm 2011
  2. Lời nói đầu Cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 được tiến hành vào thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2009 theo Quyết định số 94/2008/QĐ-TTg ngày 10 tháng 7 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là cuộc Tổng điều tra dân số lần thứ tư và điều tra nhà ở lần thứ ba tiến hành ở nước ta kể từ khi nước nhà thống nhất vào năm 1975. Mục đích của cuộc Tổng điều tra là thu thập số liệu cơ bản về dân số và nhà ở trên toàn bộ lãnh thổ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, phục vụ công tác kế hoạch hóa phát triển đất nước. Số liệu điều tra mẫu 15% tổng dân số được xử lý ngay sau khi kết thúc điều tra và đã được công bố vào ngày 31 tháng 12 năm 2009. Ngày 21 tháng 07 năm 2010, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương đã công bố toàn bộ số liệu của cuộc Tổng điều tra. Nhằm cung cấp các kết quả của cuộc Tổng điều tra tới người dùng tin, tiếp theo các ấn phẩm đã phát hành của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, với sự giúp đỡ của Quỹ Dân số Liên hợp quốc, Tổng cục Thống kê đã phối hợp với các nhà nghiên cứu thuộc các cơ quan và tổ chức khác nhau trong nước, tiến hành phân tích sâu các kết quả của cuộc Tổng điều tra thông qua một số chuyên khảo của một số lĩnh vực. Cuốn sách “Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Mức sinh và mức chết ở Việt Nam: thực trạng, xu hướng và những khác biệt” do các cán bộ nghiên cứu thuộc Vụ Thống kê Dân số và Lao động, Tổng cục Thống kê thực hiện là kết quả của một trong những nỗ lực trên. Chuyên khảo gồm 4 chương chính. Chương 1 giới thiệu và phương pháp luận. Chương 2 phân tích mức sinh và xu hướng sinh hiện tại của Việt Nam qua số liệu của các cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở. Chương 3 trình bày các kết quả phân tích về mức tử vong. Một số kỹ thuật đánh giá đã được áp dụng nhằm bổ sung những căn cứ khoa học cho các phân tích thực tiễn, như phương pháp hệ số sống nghịch đảo, phương pháp Trussell và phương pháp Zlotnik-Hill. Cuối cùng, Chương 4 đưa ra một số kết luận và khuyến nghị nhằm đưa ra một số định hướng chính sách, đóng góp cho công tác xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình Dân số Sức khỏe sinh sản của Việt Nam. Cuốn sách được hoàn thành với sự trợ giúp kỹ thuật và tài chính của Quỹ Dân số Liên hợp quốc. Chúng tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành tới các cán bộ của Văn phòng Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam, về những đóng góp quý báu trong quá trình biên soạn và hoàn thiện chuyên khảo. Chúng tôi đánh giá cao và cảm ơn các cán bộ của Tổng cục Thống kê, những người đã làm việc với lòng nhiệt tình và tận tâm cho sự ra đời của cuốn sách này. Chúng tôi rất hân hạnh giới thiệu chuyên khảo này tới tất cả các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, các nhà lập kế hoạch, các nhà ra quyết định và chính sách cùng các đối tượng sử dụng khác có quan tâm đến vấn đề này. Mặc dù có nhiều cố gắng trong việc biên soạn tài liệu, song khó tránh khỏi thiếu sót và hạn chế, chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để rút kinh nghiệm cho các ấn phẩm tiếp theo của cuộc Tổng điều tra. Tổng cục Thống kê MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT iii
  3. Mục lục Lời nói đầu iii Các biểu phân tích viii Các hình phân tích ix Bản đồ Việt Nam x CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 1 1.1 Giới thiệu 1 1.2 Mục đích nghiên cứu và nội dung 1 1.3 Nguồn số liệu 2 1.4 Phương pháp ước lượng 2 1.5 Hạn chế 6 CHƯƠNG 2: MỨC SINH VÀ MÔ HÌNH SINH HIỆN TẠI 7 2.1 Các chỉ tiêu phản ánh mức sinh 7 2.2 Sự thay đổi mức sinh của Việt Nam thời kỳ 1999-2009 9 2.2.1 Sự thay đổi tổng tỷ suất sinh 9 2.2.2 Sự thay đổi tỷ suất tái sinh sản nguyên 10 2.2.3 Sự thay đổi tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi 11 2.2.4 Sự thay đổi tỷ suất sinh thô 14 2.2.5 Sự thay đổi tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên 16 2.3 Sự khác biệt mức sinh theo lãnh thổ 17 2.3.1 Sự khác biệt theo các vùng kinh tế - xã hội 17 2.3.2 Sự khác biệt theo tỉnh/thành phố 22 2.4 Sự khác biệt mức sinh theo các đặc trưng nhân khẩu học và kinh tế - xã hội của người mẹ 25 2.4.1 Sự khác biệt về mức sinh giữa các tôn giáo 25 2.4.2 Sự khác biệt về mức sinh theo dân tộc 26 2.4.3 Sự khác biệt về mức sinh theo trình độ học vấn 27 2.4.4 Sự khác biệt về mức sinh theo tình trạng hoạt động kinh tế 28 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT v
  4. 2.4.5 Sự khác biệt về mức sinh theo tình trạng di cư 29 CHƯƠNG 3: MỨC TỬ VONG 31 3.1 Chất lượng thông tin về tử vong 31 3.2 Sự thay đổi mức tử vong 32 3.2.1 Sự thay đổi tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi 32 3.2.2 Sự thay đổi tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi 33 3.2.3 Sự thay đổi tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi 34 3.2.4 Sự thay đổi tỷ suất chết thô 36 3.2.5 Sự thay đổi tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh 37 3.3 Sự khác biệt mức tử vong theo lãnh thổ 38 3.3.1 Sự khác biệt theo các vùng kinh tế - xã hội 38 3.3.2 Sự khác biệt theo tỉnh/thành phố 39 3.4 Sự khác biệt mức tử vong theo các đặc trưng nhân khẩu học và kinh tế - xã hội của người mẹ 44 3.4.1 Sự khác biệt về mức tử vong trẻ em theo tôn giáo của người mẹ 44 3.4.2 Sự khác biệt về mức tử vong trẻ em theo dân tộc của người mẹ 44 3.4.3 Sự khác biệt về mức tử vong trẻ em theo trình độ học vấn của người mẹ 45 3.4.4 Sự khác biệt về mức tử vong trẻ em theo nghề nghiệp của người mẹ 46 3.5 Nguyên nhân chết 47 3.6 Tử vong mẹ 49 CHƯƠNG 4: TÓM TẮT VÀ KHUYẾN NGHỊ 51 4.1 Tóm tắt các phát hiện 51 4.1.1 Về mức sinh 51 4.1.2 Về mức tử vong 51 4.2 Khuyến nghị 52 vi MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  5. CÁC BIỂU TỔNG HỢP 55 Biểu 1: Một số chỉ tiêu về mức sinh chia theo đơn vị hành chính 57 Biểu 2: Số phụ nữ 15-49 tuổi, số trẻ em sinh trong 12 tháng trước điều tra (số đã điều chỉnh), tỷ suất sinh đặc trưng theo độ tuổi (ASFR) chia theo thành thị/nông thôn, các vùng kinh tế - xã hội, tỉnh/thành phố và một số đặc trưng cơ bản, 1/4/2009 60 Biểu 3: Số phụ nữ 15-49 tuổi chia theo tổng số con đã sinh, tuổi của người mẹ, thành thị/ nông thôn, các vùng kinh tế - xã hội và tỉnh/thành phố, 1/4/2009 91 Biểu 4: Số phụ nữ 15-49 tuổi chia theo tổng số con hiện còn sống, tuổi của người mẹ, thành thị/nông thôn, các vùng kinh tế - xã hội và tỉnh/thành phố, 1/4/2009 109 Biểu 5: Số trẻ sinh trong 12 tháng trước điều tra chia theo giới tính của trẻ, thành thị/ nông thôn, tuổi của người mẹ, các vùng kinh tế - xã hội và tỉnh/thành phố, 1/4/2009 127 Biểu 6: Một số chỉ tiêu về mức tử vong chia theo đơn vị hành chính 145 Biểu 7: Bảng sống chia theo giới tính, thành thị/nông thôn, các vùng kinh tế - xã hội và tỉnh/thành phố, 1/4/2009 148 PHỤ LỤC 221 Phụ lục 1: Phân bổ phạm vi điều tra mẫu chi tiết chia theo thành thị/nông thôn, các vùng kinh tế - xã hội, tỉnh/thành phố và các quận/huyện 223 Phụ lục 2: Các khái niệm và định nghĩa của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 246 Phụ lục 3: Phiếu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 251 Phụ lục 4: Các ấn phẩm và sản phẩm điện tử dùng cho cung cấp kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 263 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT vii
  6. CÁC BIỂU PHÂN TÍCH Biểu 2.1: Tổng tỷ suất sinh (TFR), 1999-2009 10 Biểu 2.2: Tỷ trọng dân số nữ và tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi, 1999 và 2009 12 Biểu 2.3: Tỷ suất sinh thô, 1999-2009 15 Biểu 2.4: CBR năm 1999 và 2009 chuẩn hóa theo cơ cấu tuổi của phụ nữ 15-49 tuổi năm 2009 16 Biểu 2.5: Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ 3 trở lên chia theo thành thị/nông thôn, 2001-2009 17 Biểu 2.6: TFR chia theo vùng kinh tế - xã hội, 2009 18 Biểu 2.7: Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá thực tế và tỷ lệ hộ nghèo của năm 2008 chia theo các vùng kinh tế - xã hội, 2009 19 Biểu 2.8: Tỷ trọng phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và trong độ tuổi có tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi cao trong tổng dân số chia theo các vùng kinh tế - xã hội, 2009 21 Biểu 2.9: TFR, CBR chưa chuẩn hóa năm 2009 và CBR chuẩn hóa theo cơ cấu tuổi của dân số toàn quốc năm 2009 chia theo các vùng kinh tế - xã hội 22 Biểu 2.10: Tổng tỷ suất sinh của các tôn giáo, thành thị/nông thôn, 2009 25 Biểu 2.11: Tổng tỷ suất sinh chia theo dân tộc, 1989, 1999 và 2009 26 Biểu 2.12: Tổng tỷ suất sinh theo tình trạng hoạt động kinh tế và thành thị/nông thôn, 2009 29 Biểu 2.13: Tổng tỷ suất sinh chia theo tình trạng di cư và thành thị/nông thôn, 2009 30 Biểu 3.1: Tỷ suất chết của trẻ em dưới một tuổi chia theo thành thị/nông thôn, 1989-2009 33 Biểu 3.2: Tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh chia theo giới tính, 1989-2009 37 Biểu 3.3: Một số chỉ tiêu về mức tử vong chia theo các vùng kinh tế - xã hội, 2009 39 Biểu 3.4: Một số chỉ tiêu về mức tử vong chia theo tôn giáo, 2009 44 Biểu 3.5: Một số chỉ tiêu về mức tử vong chia theo dân tộc, 2009 45 Biểu 3.6: Ước tính tỷ suất chết mẹ, nguy cơ tử vong mẹ chia theo các khu vực của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), 2008 50 viii MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  7. CÁC HÌNH PHÂN TÍCH Hình 2.1: Tỷ suất tái sinh sản nguyên, 1999-2009 11 Hình 2.2: Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi (ASFR), 1999 và 2009 13 Hình 2.3: Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi chia theo thành thị và nông thôn, 1999 và 2009 14 Hình 2.4: Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ ba trở lên chia theo trình độ học vấn, 2009 17 Hình 2.5: Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi chia theo vùng kinh tế - xã hội, 2009 20 Hình 2.6: TFR và CBR chia theo vùng kinh tế - xã hội, 2009 21 Hình 2.7: TFR chia theo trình độ học vấn và thành thị/nông thôn, 2009 28 Hình 3.1a: Tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi của Việt Nam, 1989-2009 (nam) 35 Hình 3.1b: Tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi của Việt Nam, 1989-2009 (nữ) 35 Hình 3.2: Tỷ suất chết thô, 1960-2009 36 Hình 3.3: Tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh của một số nước ASEAN, 1989-2009 38 Hình 3.4: Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi và tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi chia theo trình độ học vấn của người mẹ, 2009 46 Hình 3.5: Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi và tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi chia theo nghề nghiệp và khu vực kinh tế của người mẹ, 2009 47 Hình 3.6: Tỷ suất chết do bệnh tật chia theo giới tính và vùng kinh tế - xã hội, 2009 48 Hình 3.7: Tỷ suất chết do tai nạn giao thông chia theo giới tính và vùng kinh tế - xã hội, 2009 49 Bản đồ 2.1: TFR và thu nhập bình quân đầu người của các tỉnh/thành phố 24 Bản đồ 3.1: CDR của các tỉnh/thành phố, 2009 41 Bản đồ 3.2: IMR của các tỉnh/thành phố, 2009 42 Bản đồ 3.3: Tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh của các tỉnh/thành phố, 2009 43 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT ix
  8. BẢN ĐỒ VIỆT NAM V1. Trung du và miền núi phía Bắc 02. Hà Giang 04. Cao Bằng 06. Bắc Kạn 08. Tuyên Quang 10. Lào Cai 11. Điện Biên 12. Lai Châu 14. Sơn La 15. Yên Bái 17. Hoà Bình 19. Thái Nguyên 20. Lạng Sơn 24. Bắc Giang 25. Phú Thọ V2. Đồng bằng sông Hồng 01. Hà Nội 22. Quảng Ninh 26. Vĩnh Phúc 27. Bắc Ninh 30. Hải Dương 31. Hải Phòng 33. Hưng Yên 34. Thái Bình 35. Hà Nam 36. Nam Định 37. Ninh Bình V3. Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 38. Thanh Hóa 40. Nghệ An 42. Hà Tĩnh 44. Quảng Bình 45. Quảng Trị 46. Thừa Thiên Huế 48. Đà Nẵng 49. Quảng Nam 51. Quảng Ngãi 52. Bình Định 54. Phú Yên 56. Khánh Hòa 58. Ninh Thuận 60. Bình Thuận V4. Tây Nguyên 62. Kon Tum 64. Gia Lai 66. Đắk Lắk 67. Đắk Nông 68. Lâm Đồng V5. Đông Nam Bộ 70. Bình Phước V6. ĐB sông Cửu Long 86. Vĩnh Long 93. Hậu Giang 72. Tây Ninh 80. Long An 87. Đồng Tháp 94. Sóc Trăng 74. Bình Dương 75. Đồng Nai 82. Tiền Giang 89. An Giang 95. Bạc Liêu 77. Bà Rịa-Vũng Tàu 83. Bến Tre 91. Kiên Giang 96. Cà Mau 79. Tp Hồ Chí Minh 84. Trà Vinh 92. Cần Thơ * Theo quy định của Nghị định 92/NĐ-CP ngày 7 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ, vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc được quy hoạch lại thành vùng mới có tên gọi là Trung du và miền núi phía Bắc; vùng Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ được quy hoạch lại thành vùng mới có tên gọi Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung; Quảng Ninh được chuyển từ vùng Đông Bắc về Đồng bằng sông Hồng; Ninh Thuận và Bình Thuận chuyển từ Đông Nam Bộ về Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung. Trong các biểu số liệu các Vùng 1, Vùng 2, , đến Vùng 6 được viết tắt tương ứng là V1, V2, , V6. x MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  9. Chương 1: GIỚI THIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 1.1 Giới thiệu Cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 được thực hiện vào thời điểm 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2009 theo Quyết định số 94/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 10 tháng 7 năm 2008. Kết quả sơ bộ của Tổng điều tra được công bố vào tháng 8 năm 2009. Tiếp sau đó kết quả điều tra mẫu được công bố vào tháng 12 năm 2009. Kết quả toàn bộ được phát hành vào tháng 7 năm 2010, tiếp sau đó là các báo cáo phân tích và chuyên khảo được soạn thảo và lần lượt được công bố. Trong Tổng điều tra năm 2009 có lồng ghép điều tra mẫu 15%, thu thập nhiều thông tin chi tiết, trong đó có có thông tin để ước lượng các số đo về mức độ sinh và chết của dân số Việt Nam. Kết quả của cuộc Tổng điều tra năm 2009 và các cuộc Tổng điều tra trước đó cho thấy mức sinh của nước ta tiếp tục giảm và đã đạt mức sinh thay thế. Mức độ chết (tử vong) của trẻ sơ sinh cũng giảm liên tục và tuổi thọ trung bình tính từ khi sinh tăng. 1.2 Mục đích nghiên cứu và nội dung Một số nét chính về mức độ sinh và mức độ chết thu thập được trong Tổng điều tra đã được tính toán và công bố1. Chuyên khảo này nhằm đưa ra bức tranh chi tiết hơn về mức độ sinh và mức độ chết của dân số Việt Nam trong những năm qua, sự thay đổi và khác biệt của các số đo nói trên theo các đặc trưng nhân khẩu học, đồng thời đưa ra các yếu tố có thể ảnh hưởng đến các số đo đó. nội dung của chuyên khảo này gồm 4 chương, như sau: Chương 1: giới thiệu tóm tắt về các phương pháp sử dụng để ước lượng các số đo về mức sinh và mức chết; Chương 2: Trình bày các ước lượng của các số đo về mức độ sinh, thay đổi và khác biệt của các số đo đó theo các đặc trưng nhân khẩu học; Chương 3: Trình bày các ước lượng của các số đo về mức độ chết, sự thay đổi và khác biệt của chúng theo các đặc trưng nhân khẩu học; Chương 4: Các khuyến nghị chính sách để tiếp túc giảm bền vững mức sinh, giảm mức chết trẻ em, tăng tuổi thọ nhằm tạo một cơ sở cơ bản quan trọng về dân số cho công cuộc phát triển bền vững 1 Xem: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, Các Kết quả Chủ yếu, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương, Hà Nội, 6/2010. MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT 1
  10. 1.3 Nguồn số liệu Chuyên khảo này sử dụng số liệu về sinh và chết của điều tra mẫu 15% thu thập được trong Tổng điều tra 2009 và các phương pháp ước lượng gián tiếp để tính các số đo về mức độ sinh và chết, phản ánh cho thời kỳ 12 tháng trước thời điểm điều tra. Ngoài ra, số liệu đã được công bố của Tổng điều tra 1989 và 1999, và các số liệu, tài liệu liên quan của nước ta hoặc của các nước/khu vực khác cũng được dùng để so sánh đối chiếu. Các phương pháp ước lượng gián tiếp để tính các số đo về mức độ sinh và chết sử dụng trong chuyên khảo này được trình bày dưới đây: 1.4 Phương pháp ước lượng Do các dữ liệu về sinh và chết trong các cuộc điều tra mẫu, Tổng điều tra thường không cao do bị bỏ sót nên các nhà nhân khẩu học đã nghiên cứu xây dựng các kỹ thuật gián tiếp để ước lượng các chỉ tiêu phản ánh mức sinh và mức chết. Các kỹ thuật này cũng luôn luôn được làm mới và tin học hóa. Liên hợp quốc đưa ra khuyến nghị và cung cấp các kỹ thuật gián tiếp dưới dạng phần mềm. 1.4.1 Kỹ thuật gián tiếp ước lượng mức độ sinh Kỹ thuật ước lượng gián tiếp là ước lượng tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi của phụ nữ trong tuổi sinh đẻ 15-49 từ số liệu về số con đã sinh tổng hợp theo tuổi người mẹ và mô hình của mức sinh theo tuổi của người mẹ, ghi nhận được trong 12 tháng trước điều tra. Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi thu thập được luôn thấp hơn (hoặc cao hơn) mức sinh thực bởi vì các sự kiện sinh thường bị bỏ sót (hoặc ghi trùng) trong điều tra. Nhà nhân khẩu học Brass2 đã xây dựng một phương pháp, thường gọi là phương pháp P/F, để đánh giá và chỉnh tỷ suất sinh đã ghi nhận được bằng cách so sánh các tỷ suất đã ghi nhận được với số liệu số con sinh trung bình tính cho nhóm 5 độ tuổi của phụ nữ. Phương pháp P/F giả thiết rằng mức sinh là không đổi trong thời kỳ trước đây, mô hình của tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi ghi chép được (ký hiệu là ASFR) là đúng, và mức sinh tích luỹ đối với nhóm phụ nữ trẻ theo số con đã sinh (CEB) là chính xác. Brass đơn giản cộng dồn và làm trơn số liệu ASFR ghi chép được dưới dạng số liệu số con sinh. Với giả thiết mức sinh không thay đổi, các số liệu đã được làm trơn (ký hiệu là nFx) là so sánh được với số con đã sinh ghi chép được (nCEBx). Tỷ lệ nCEBx/ nFx đối với nhóm tuổi trẻ cung cấp hệ số điều chỉnh chấp nhận được để điều chỉnh các tỷ suất sinh đã ghi nhận. nhà nhân khẩu học Arriaga sau đó đã cải tiến phương pháp nói trên và mở rộng ra cho cả những trường hợp mức sinh đang thay đổi. Mô tả đầy đủ cách tiếp cận Brass và Arriaga về ước lượng tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi từ số liệu số con đã sinh ghi chép được và từ mô hình sinh theo tuổi trình bày trong công trình nghiên cứu của Arriaga. Cơ quan Tổng điều tra của Hoa Kỳ đã tin học hóa kỹ thuật này bằng một bảng tính excel có tên gọi là bảng tính PFRATIO trong bộ các bảng tính phân tích dân số3. 2 Cẩm nang số 10: Các kỹ thuật gián tiếp về ước lượng nhân khẩu học, Nhà Xuất bản Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội 1976. 3 Eduardo E. Arriaga, Phân tích dân số với máy vi tính, Cơ quan Tổng điều tra Hoa Kỳ, tháng 11 năm 1994 (Population Analysis with Microcomputer, Bureau of the Census, November 1994). 2 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  11. Dựa vào hệ số điều chỉnh “k” chọn được, tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi (ASFR), Tổng tỷ suất sinh (TFR) và Tỷ suất sinh thô (CBR) cũng được điều chỉnh một cách tương tự, cụ thể là: ASFRi* = k x ASFRi, i là các nhóm 5 độ tuổi của khoảng tuổi 15-49, TFR* = k x TFR, CBR* = k x CBR, trong đó, ASFRi, TFR, CBR là chỉ tiêu chưa điều chỉnh, còn ASFRi*, TFR* và CBR* là các các số đo đã được điều chỉnh. 1.4.2 Kỹ thuật gián tiếp ước lượng mức độ chết (i) Gián tiếp ước lượng tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi nhà nhân khẩu học Brass đã chứng minh rằng xác suất chết trong khoảng thời gian từ khi sinh đến độ tuổi a (ký hiệu là q(a) có thể ước lượng theo công thức: q(a) = 5Mx. 5Dx, trong đó 5Dx là tỷ trọng trẻ em chết đối với phụ nữ nhóm tuổi (x,x+5) và 5Mx hệ số đặc trưng theo tuổi, gọi là hệ số nhân, nó phụ thuộc vào chỉ số mô hình tuổi của mức sinh. Tỷ trọng trẻ em chết đối với phụ nữ nhóm tuổi 15-19, 20-24, 25-29, , 45-49 được sử dụng để tính q(a) cho các giá trị tương ứng bằng 1, 2, 3, 5, 10, 15 và 20. Sau đó Sullivan4 chứng minh rằng kiểu quan hệ như thế cũng tồn tại khi số liệu được tính toán theo độ dài hôn nhân. Trong trường hợp này, độ dài hôn nhân 0-4 năm, 5-9 năm, , 30-34 năm tương ứng với q(a) đối với các độ tuổi tương ứng là 2, 3, 5, 10, 15, 20 và 25. Để tái hiện, phương trình hồi quy được xây dựng liên quan đến hệ số nhân 5Mx đối với các chỉ số của trật tự sinh. Có 9 tập riêng biệt phương trình hồi quy được ước lượng, 5 tập đầu cho từng mô hình Liên hợp quốc5 và 4 tập cuối cho từng mô hình của Coale và Demeny (hồi quy Trussell6). Thông qua tập thứ hai, các phương trình hồi quy cũng đã được xây dựng từ cùng một tập các biến độc lập, chúng ước lượng thời gian tương ứng với các giá trị q(a). Các biến độc lập mà chúng ước lượng giá trị q(a), cũng như thời gian tham chiếu, được tính toán từ số liệu đầu vào. Hơn nữa, đối với tỷ trọng trẻ em chết theo nhóm tuổi hoặc theo độ dài hôn nhân của phụ nữ, các biến cần được tính bằng tỷ lệ giữa số trẻ em sinh bình quân của phụ nữ ở nhóm tuổi đầu tiên hoặc nhóm độ dài hôn nhân đầu tiên và số liệu đó của nhóm tuổi thứ hai hoặc nhóm độ dài hôn nhân thứ hai, tỷ lệ giữa số trẻ em sinh bình quân của phụ nữ ở nhóm tuổi thứ hai hoặc nhóm độ dài hôn nhân thứ hai và số liệu đó của nhóm tuổi thứ ba hoặc nhóm độ dài hôn nhân thứ ba, và tuổi sinh con trung bình. Biến cuối cùng chỉ được sử dụng để tính toán dựa vào các mô hình của Liên hợp quốc; ước lượng gần đúng tuổi sinh con trung bình có thể được tính từ các trường hợp sinh trong 12 tháng trước điều tra và tuổi của người mẹ. Phương trình hồi quy được sử dụng để tính toán các ước lượng tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi (1q0), xác suất chết giữa 1 và 5 tuổi (4q1), và tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh tương ứng với các giá trị q(a) trong từng mô hình bảng sống mẫu (đối với cả hai giới). Cách ước lượng này đã được Liên hợp quốc tin học hóa bằng phần mềm có tên là QFIVE để ước lượng 1q0, 4q1 và tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh (viết tắt là e0). 4 Sullivan, J. M. 1972. “Mô hình ước lượng xác suất chết trong thời gian từ khi sinh đến độ tuổi nào đó của trẻ em”, Nghiên cứu dân số, tập 26, số 1 (tháng 3 năm 1972), trang 77-99. 5 Palloni, A và L. Heliman, 1985, “Ước lượng lại các tham số cấu trúc để ước lượng mức độ chết của các nước đang phát triển”, Bản tin dân số của Liên hợp quốc, số 18, trang 10-33. 6 Cẩm nang số 10: Các kỹ thuật gián tiếp về ước lượng nhân khẩu học, Nhà Xuất bản Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội 1976. MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT 3
  12. (ii) Ước lượng tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi Tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi thường được viết tắt là 5q0 và tính theo công thức sau: 5q0 = 1q0 + 4q1 – 1q0 × 4q1, trong đó: 1q0 là tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi; 4q1 là xác suất chết giữa 1 và 5 tuổi được ước lượng gián tiếp như ở đã trình bày ở trên bằng phần mềm QFIVE. (iii) Gián tiếp ước lượng mức độ sót của khai báo chết của toàn bộ dân số ngoài kỹ thuật ước lượng gián tiếp tỷ suất chết của trẻ em, hai phương pháp cân bằng tăng trưởng chung (GGB) và thế hệ chết giả định (SEG) cũng đã được áp dụng kết hợp để đánh giá mức độ đầy đủ của thông tin về chết của toàn bộ dân số . Phương pháp cân bằng tăng trưởng chung: Năm 1975 nhà nhân khẩu học Brass đã đưa ra phương pháp GGB, thu được từ dân số ổn định được biểu thị bằng biểu thức quan hệ trực giác đối với mỗi một nhóm tuổi mở a+ của dân số đóng, tỷ lệ tham gia vào nhóm tuổi (b(a+)) bằng tỷ lệ tăng trưởng của nhóm (r(a+)) cộng với tỷ lệ ra khỏi nhóm tuổi (tỷ lệ chết) (d(a+)). Tất nhiên, điều tất yếu xảy ra đối với toàn bộ dân số đóng là tỷ lệ tăng trưởng bằng tỷ lệ sinh trừ tỷ lệ chết. Vì vậy, r(a+) = b(a+) – d(a+) hay b(a+) = r(a+) + d (a+) (1) đối với dân số đóng, tỷ lệ tăng trưởng là hằng số đối với tất cả các nhóm tuổi, do đó tỷ lệ tham gia vào nhóm và tỷ lệ chết phải quan hệ tuyến tính với nhau. Nếu biểu thị N(a) và N(a+) tương ứng là số tham gia vào nhóm (tức là số sinh vào tuổi a) và dân số của nhóm tuổi a, r là tỷ lệ tăng trưởng của dân số ổn định, và D(a+) là số chết từ tuổi a trở lên, ta có: N(a)/N(a+) = r + (D(a)/N(a+)) (2) nếu tỷ lệ tham gia vào nhóm được tính toán phân bố dân số chỉ sử dụng cách tiếp cận tương đối đơn giản, thí dụ N(a) bằng một phần năm của trung bình nhóm 5 độ tuổi nhỏ hơn và lớn hơn tuổi a, bất kỳ sai số phạm vi nào bất biến với tuổi phải được xoá bỏ, ngược lại, tỷ lệ chết, tính từ số chết theo tuổi và dân số theo tuổi, sẽ bị ảnh hưởng bởi tất cả khác biệt giữa dân số và số chết. Hệ số góc của đường thẳng giữa tỷ lệ tham gia vào nhóm tuổi đối và tỷ lệ ra khỏi nhóm tuổi sẽ ước lượng mức độ đầy đủ của số chết ghi nhận được và cung cấp hế số điều chỉnh số chết. N0(a)/N0(a+) = r + ((1/c).(D0(a+)/N0(a+))) (3) trong đó, chỉ số trên “0” dùng để biểu thị giá trị quan sát được, N0(a)/N0(a+) là tỷ lệ tham gia vào nhóm tuổi, ), D0(a+)/N0(a+) là tỷ lệ chết quan sát được, r là tỷ lệ tăng trưởng của dân số ổn định và c là mức độ đầy đủ của số chết ghi nhận được đối với dân số ghi nhận được (giả thiết rằng là hằng số đối với tuổi). năm 1987, các nhà nhân khẩu học đã mở rộng phương pháp đơn giản này cho dân số không ổn định với biểu thức sau: N0(a)/N0(a+) – r0(a+) = k + ((1/c).(D0(a+)/N0(a+))) (4) trong đó, r0(a+) là tỷ lệ tăng trưởng quan sát được của dân số từ tuổi a trở lên, và k là sai số trong tỷ lệ tăng trưởng (giả thiết rằng là hằng số đối với tuổi). 4 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  13. Phương pháp GGB yêu cầu 3 giả thiết chính: i). Dân số đóng; ii). Dân số và số chết thay đổi theo thời gian, nhưng cùng một nguồn; và iii). Việc ghi chép tuổi của dân số và người chết là chính xác. Phương pháp thế hệ chết giả định: Phương pháp SEG được hai nhà nhân khẩu học Bennett và Horiuchi đưa ra vào năm 1984 dựa vào đề xuất của Vicent (1951) rằng trong dân số đóng với đăng ký đầy đủ số chết, dân số độ tuổi a vào thời điểm t có thể được ước lượng bằng cách cộng tích luỹ số chết đối với các thế hệ sau thời điểm t cho đến khi thế hệ đó chết hết. Điều này tương đương với quan hệ của bảng sống rằng (5) vì vậy, đối với dân số ổn định, số chết cả thời kỳ từ độ tuổi a trở đi tương đương với dân số vào đúng độ tuổi a. Bennett và Horiuchi đã phát triển phương pháp này cho dân số đóng không ổn định bằng cách sử dụng tỷ lệ tăng trưởng theo độ tuổi. Dân số độ tuổi a có thể ước lượng từ số chết thời kỳ của tất cả tuổi x lớn hơn a bằng cách cộng dồn hàm mũ của các tỷ lệ chết đặc trưng theo tuổi từ a đến x cho phép biết được lịch sử nhân khẩu học của dân số: (6) Tỷ số giữa dân số độ tuổi a được ước lượng theo cách này từ số chết quan sát được và dân số độ tuổi a cho phép ước lượng mức độ đầy đủ của số chết ghi nhận được (giả thiết là không đổi đối với tất cả các độ tuổi) trong điều tra: (7) Trong đó č (a) là ước lượng số chết lớn hơn tuổi a của dân số và Ň(a) là dân số độ tuổi a ước lượng được thu được từ số chết và tỷ lệ tăng trưởng lớn hơn độ tuổi a. Trong hình thức cơ bản này, phương pháp SEG thêm vào các giả thiết bổ sung – dân số thay đổi theo thời gian – đối với 3 giả thiết của phương pháp GGB được đề cập ở trên. Bennett và Horiuchi cũng gợi ý sử dụng kết hợp phương pháp SEG và GGB: đầu tiên ước lượng sự thay đổi phạm vi điều tra bằng cách sử dụng phương pháp GGB, sau đó điều chỉnh số liệu tổng điều tra theo sự thay đổi phạm vi đã ước lượng ở trên, cuối cùng là áp dụng phương pháp SEG; người ta gọi kiểu làm này cách tiếp cận “GGB–SEG kết hợp”. Cách tiếp cận này đã được thể hiện dưới dạng một bảng tính có thông tin đầu vào là dân số vào một thời điểm và số người chết trong 12 tháng trước thời điểm đó chia theo độ tuổi. MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT 5
  14. 1.5 Hạn chế Một số hạn chế của nghiên cứu về mức độ sinh và mức độ chết trong chuyên khảo này bao gồm: Thứ nhất, do các chỉ tiêu về mức độ sinh và mức độ chết trong tài liệu này được ước lượng gián tiếp. Những chỉ tiêu này không phải được tính toán trực tiếp từ số liệu vi mô của điều tra mẫu, vì vậy không thể tình được sai số mẫu và khoảng tin cậy. Thứ hai, thiết kế mẫu của Tổng điều tra dân số 1989, 1999 và 2009 là nhằm cung cấp số liệu đại diện cho cấp tỉnh. Do vậy, những phân tổ nhỏ hơn, chi tiết hơn chỉ để nhằm cung cấp xu hướng thay đổi của chỉ tiêu đó, chứ không đảm bảo đó là giá trị thực. Thứ ba, các kỹ thuật ước lượng gián tiếp luôn yêu cầu một số giả thiết, ví dụ như dân số đóng, mức sinh hoặc mức chết không đổi, tính đầy đủ của số liệu gốc Vì vậy, tính chính xác của kết quả thu được từ kỹ thuật ước lượng gián tiếp phụ thuộc vào các giả thiết mà kỹ thuật đó yêu cầu có được đảm bảo hay không. Ví dụ, liên quan đến giả thiết dân số đóng (dân số không có biến động cơ học - di chuyển), thì một kỹ thuật ước lượng gián tiếp có thể cung cấp một kết quả rất tốt cho cả nước, nhưng đưa ra kết quả hạn chế hơn cho cấp đơn vị hành chính cấp dưới (tỉnh/thành phố); thậm chí trong cùng cấp tỉnh/thành phố, kết quả ước lượng của đơn vị này cũng có thể khả dĩ hơn so với kết quả của đơn vị khác. Điều này là do mức độ biến động cơ học của các đơn vị là khác nhau, trong phạm vi cả nước biến động cơ học không có hoặc ở mức độ không đáng kể, còn biến động cơ học của tỉnh/thành phố lớn hơn của cả nước và khác nhau giữa các tỉnh/thành phố. với những lý do trên, nên khi sử dụng số liệu trình bày trong tài liệu này cần có có cân nhắc thận trọng đối với các chỉ tiêu phân tổ chi tiết. 6 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  15. Chương 2: MỨC SINH VÀ MÔ HÌNH SINH HIỆN TẠI sinh, chết và di cư là ba nhân tố chủ yếu tác động đến quá trình tăng trưởng dân số. Trong các yếu tố đó, mức sinh giữ vai trò quan trọng nhất vì nó là yếu tố chính cho sự thay thế sinh vật học và duy trì sự phát triển của nhân loại. Để đảm bảo quá trình phát triển lâu dài, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều hướng tới sự phát triển dân số phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của mình. Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ. Việc phân tích sâu về mức độ, xu hướng và những khác biệt về mức sinh của dân số theo các đặc trưng kinh tế - xã hội khác nhau là công cụ giúp các nhà quản lý, nghiên cứu, lập kế hoạch, người dùng tin trong và ngoài nước đánh giá các thành tựu, hạn chế và yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh, làm căn cứ để xây dựng các chương trình, chiến lược và chính sách dân số và xã hội khác của quốc gia. Dựa vào kết quả thu được từ cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 và các cuộc điều tra biến động dân số hàng năm từ năm 2001-2008, chương này trao đổi về thực trạng và xu hướng biến đổi mức sinh của Việt Nam, đưa ra một số thông tin và khuyến nghị liên quan đến dân số cho công tác lập kế hoạch và xây dựng chương trình phát triển kinh tế - xã hội cho thời kỳ tới. 2.1 Các chỉ tiêu phản ánh mức sinh Mức sinh phản ánh mức độ sinh đẻ thực tế của một tổng thể dân cư trong thời kỳ nghiên cứu. Nó không những phụ thuộc vào khả năng sinh sản của mỗi người phụ nữ, mà còn phụ thuộc vào các nhân tố dân số, kinh tế và xã hội khác như: mức độ kết hôn, tuổi kết hôn, thời gian sống trong hôn nhân, số con mong muốn của các cặp vợ chồng, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, địa vị của người phụ nữ, chính sách của nhà nước và hiệu quả sử dụng các biện pháp tránh thai Mức sinh có thể được đánh giá qua các chỉ tiêu: Tỷ suất sinh thô (Crude Birth Rate - CBR); tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi (Age Specifiec Fertility Rate – ASFR); tổng tỷ suất sinh (Total Fertility Rate – TFR) và tỷ suất tái sinh sản nguyên (Gross Reproduction Rate – GRR). Tỷ suất sinh thô (CBR) biểu thị số trẻ em sinh ra sống trong 12 tháng trước thời điểm điều tra, tính bình quân trên 1.000 người dân7. Gọi là “thô” bởi vì: (1) tỷ suất này tính trên toàn bộ dân số (tức là bao gồm cả những người có khả năng và không có khả năng sinh con); (2) tỷ suất này không tính đến phân bố cơ cấu dân số chia theo độ tuổi, nhân tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến số trẻ sinh ra trong năm. Vì thế, khó có thể sử dụng CBR để so sánh và đánh giá sự khác biệt về sinh của dân số qua các thời kỳ hoặc giữa các dân số khác nhau trong cùng một thời kỳ mà không sử dụng các kỹ thuật chuẩn hóa theo cơ cấu tuổi của dân số. Mặc dù vậy, CBR vẫn được sử dụng vì đây là chỉ tiêu hữu hiệu phản ánh mức tăng hoặc giảm dân số trong một thời kỳ nhất định, hơn nữa việc tính toán các chỉ tiêu này không quá phức tạp với hai thông số: số trẻ sinh ra trong năm trước điều tra và dân số trung bình của thời kỳ đó. 7 Khái niệm sinh hay sinh sống được hiểu là đứa trẻ khi được sinh ra có ít nhất một trong các biểu hiện còn sống, như: khóc, tim còn đập, cuống nhau rung động, v.v Những trường hợp chết bào thai, chết lưu (chết từ trong bụng mẹ) không được coi là sinh. MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT 7
  16. CBR phụ thuộc nhiều vào cơ cấu dân số theo giới tính và độ tuổi. Trong cùng một thời kỳ tham chiếu, hai nhóm dân số có cùng quy mô và mức độ sinh theo độ tuổi của phụ nữ như nhau, dân số nào có tỷ trọng phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ cao hơn, dân số đó sẽ có số trẻ được sinh ra lớn hơn. Vì vậy, để đánh giá mức sinh được chính xác hơn, người ta sử dụng: tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi (Age Specifiec Fertility Rate - ASFR). Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi (ASFR) cho biết bình quân cứ 1000 phụ nữ trong một độ tuổi (hoặc một nhóm tuổi) nhất định có bao nhiêu trẻ em sinh sống trong năm. ASFR là công cụ thích hợp để nghiên cứu mô hình sinh của dân số và so sánh xu hướng sinh của dân số ở các độ tuổi và nhóm tuổi khác nhau, nhưng nó lại quá chi tiết nên rất khó sử dụng để so sánh mức sinh tổng quát của toàn bộ dân số. để đo lường mức sinh tổng quát, các nhà nhân khẩu học đã kết nối các tỷ suất sinh đặc trưng theo từng độ tuổi, nhóm tuổi riêng biệt thành một chỉ số tổng hợp gọi là Tổng tỷ suất sinh (Total Fertility Rate - TFR). Tổng tỷ suất sinh là số con sinh sống bình quân của một người phụ nữ trong cả cuộc đời, nếu người phụ nữ đó trong suốt thời kỳ sinh đẻ tuân theo tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi như quan sát được trong 12 tháng trước điều tra của những phụ nữ 15-49 tuổi. Mặc dù, TFR là chỉ tiêu tổng hợp của mức sinh nhưng chưa đủ để xác định được khả năng tái sinh sản (sinh thay thế) của dân số. Vì TFR cho biết số con trung bình (cả con trai và con gái) mà một người phụ nữ có thể có, trong khi chỉ có những người con gái mới thực sự thay thế những người mẹ của họ làm nhiệm vụ sinh con trong tương lai. Vì vậy, người ta sử dụng chỉ tiêu tỷ suất tái sinh sản nguyên (Gross Reproduction Rate - GRR) và tỷ suất tái sinh sản tịnh (Net Reproduction Rate - NRR) để đánh giá khả năng sinh thay thế của dân số8. grr là số con gái sinh sống bình quân của một người phụ nữ trong suốt cả cuộc đời, nếu người phụ nữ đó trong suốt thời kỳ sinh đẻ tuân theo tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi như quan sát được trong 12 tháng trước điều tra. Số con gái đã sinh GRR = x TFR Tổng số con đã sinh NRR là số con gái sinh sống bình quân của một người phụ nữ trong suốt cả cuộc đời, nếu người phụ nữ đó trong suốt thời kỳ sinh đẻ tuân theo tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi và trật tự chết như quan sát được trong 12 tháng trước điều tra. NRR giống như GRR, nhưng luôn thấp hơn GRR, vì có một số phụ nữ không sống được đến hết tuổi có khả năng sinh đẻ. Số con gái đã sinh NRR = x ∑ASFR * L /100000 Tổng số con đã sinh x 5 x Trong đó: 5Lx/100000 là hệ số sống của phụ nữ từ khi sinh đến độ tuổi x theo bảng sống. nrr cho biết khả năng tái sinh sản (mức sinh thay thế) của dân số: 8 Population Reference Bureau. Population handbook. 5th Edition. Chương 3. Trang 17. 8 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  17. - nếu NRR = 1 nghĩa là với mức sinh này, số con gái do những người phụ nữ sinh ra sẽ vừa đủ để thay thế chính họ thực hiện nhiệm vụ tái sinh sản dân số trong tương lai. - nếu NRR > 1 nghĩa là với mức sinh này, số con gái do những người phụ nữ sinh ra sẽ vượt quá số cần thiết để thay thế chính họ thực hiện nhiệm vụ tái sinh sản dân số trong tương lai. - nếu NRR < 1 nghĩa là với mức sinh này, số con gái do những người phụ nữ sinh ra sẽ không đủ để thay thế chính họ thực hiện nhiệm vụ tái sinh sản dân số trong tương lai9. nếu giả thiết rằng tất cả số trẻ em gái sinh ra đều có thể sống được qua thời kỳ có khả năng sinh sản thì có thể sử dụng GRR để đánh giá mức sinh thay thế của một tập hợp dân số. 2.2 Sự thay đổi mức sinh của Việt Nam thời kỳ 1999-2009 2.2.1 Sự thay đổi tổng tỷ suất sinh Biểu 2.1 trình bày tổng tỷ suất sinh trong 10 năm từ năm 1999 đến năm 2009 của toàn quốc, thành thị và nông thôn. Số liệu cho thấy, trong những năm đầu của thập kỷ qua, tổng tỷ suất sinh có tăng và giảm với biên độ dao động nhỏ (dưới 6%) nhưng bắt đầu từ năm 2006 đến nay, xu thế giảm sinh là khá vững chắc và đã đạt dưới mức sinh thay thế. đây được coi là thành công quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đầu tiên của chiến lược dân số - kế hoạch hóa gia đình 2001-201010. Thành công này không những giúp Việt Nam giảm được tốc độ gia tăng dân số nhanh mà còn là cơ sở để tạo ra một bước chuyển đổi có tính căn bản trong lĩnh vực sinh sản, chuyển từ sinh sản tự nhiên, với mức sinh rất cao sang sinh đẻ tự chủ hay còn gọi là “sinh đẻ có kế hoạch”, với mức sinh hợp lý, tiến tới đạt mức sinh duy trì trạng thái cân bằng của dân số. số liệu trong Biểu 2.1 cho thấy, có sự khác biệt về mức sinh giữa thành thị và nông thôn. Năm 2009, bình quân mỗi phụ nữ nông thôn có nhiều hơn 0,3 người con so với phụ nữ thành thị. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là do tâm lý thích đông con nhiều cháu vẫn còn khá phổ biến ở một số khu vực nông thôn và khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình ở nông thôn, đặc biệt vùng sâu, vùng xa còn kém hơn ở thành thị, khiến một số phụ nữ vẫn còn gặp khó khăn trong việc hạn chế tình trạng mang thai và sinh con ngoài ý muốn. Ngoài ra, tỷ lệ chết sơ sinh và chết trẻ em ở thành thị thấp hơn ở nông thôn, cũng tác động làm giảm nhu cầu sinh thay thế ở khu vực này. 9 John R, Weeks, Population - An Introduction to Concepts and Issues, 7th edition, chương 5, trang 187. 10 Mục tiêu 1 của Chiến lược dân số 2001-2010: “Duy trì vững chắc xu thế giảm sinh để đạt mức sinh thay thế bình quân trong toàn quốc chậm nhất vào năm 2005, ở vùng sâu, vùng xa và vùng nghèo chậm nhất vào năm 2010 để quy mô, cơ cấu dân số và phân bổ dân cư phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội vào năm 2010” MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT 9
  18. BIỂU 2.1: TỔNG TỶ SUẤT SINH (TFR), 1999-2009 Đơn vị tính: Con/phụ nữ Tổng tỷ suất sinh (TFR) Thời kỳ tham chiếu Toàn quốc Thành thị Nông thôn 1/4/1998-31/3/1999 2,33 1,67 2,57 1/4/2000-31/3/2001 2,25 1,86 2,38 1/4/2001-31/3/2002 2,28 1,93 2,39 1/4/2002-31/3/2003 2,12 1,70 2,30 1/4/2003-31/3/2004 2,23 1,87 2,38 1/4/2004-31/3/2005 2,11 1,73 2,28 1/4/2005-31/3/2006 2,09 1,72 2,25 1/4/2006-31/3/2007 2,07 1,70 2,22 1/4/2007-31/3/2008 2,08 1,83 2,22 1/4/2008-31/3/2009 2,03 1,81 2,14 số liệu cũng cho thấy, 10 năm qua tổng tỷ suất sinh của khu vực nông thôn giảm khá ngoạn mục, từ 2,57 con/phụ nữ xuống còn 2,14 con/phụ nữ, gần đạt mức sinh thay thế. Trong khi con số đó của khu vực thành thị gần như thay đổi không đáng kể xung quanh mức 1,80 con/phụ nữ. Trong 10 năm qua, chất lượng cuộc sống được nâng cao và cơ hội tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản được cải thiện. Việc cung cấp thông tin về hiệu quả của lợi ích sinh ít con đối với phụ nữ ở khu vực nông thôn được coi là một trong những nguyên nhân cơ bản góp phần thu hẹp khoảng cách khác biệt về mức sinh giữa thành thị và nông thôn. điều này một lần nữa khẳng định sự thành công của chương trình dân số- kế hoạch hóa gia đình và rất nhiều chương trình, chiến dịch chăm sóc sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là sức khỏe sinh sản ở khu vực nông thôn trong những năm qua. Dẫu vậy, mức sinh ở nông thôn vẫn cao hơn khá nhiều so với ở thành thị, nên trong thời gian tới vẫn cần nhiều nỗ lực trong công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình kết hợp với việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội hướng về khu vực nông thôn nhiều hơn nữa để giảm bớt khoảng cách sinh giữa hai khu vực, nhằm có được thành công hơn nữa trong công cuộc phát triển nông thôn nói chung, và trong công tác giảm sinh và chăm sóc sức khỏe nói riêng. 2.2.2 Sự thay đổi tỷ suất tái sinh sản nguyên hình 2.1 mô tả sự thay đổi tỷ suất tái sinh sản nguyên (GRR) của Việt Nam từ năm 1999 đến năm 2009. Đồ thị cho thấy, cùng với quá trình giảm sinh và tăng tỷ số giới tính khi sinh, tỷ suất tái 10 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  19. sinh sản nguyên của Việt Nam đã giảm mạnh từ năm 1999 đến năm 2009. Năm 1999, mức tái sinh sản nguyên của dân số Việt Nam còn ở trên ngưỡng 1 con gái/phụ nữ (1,13), tức là với mức sinh năm 1999, số con gái được sinh ra vượt quá số cần thiết để thay thế những người phụ nữ trong độ tuổi sinh sản để thực hiện nhiệm vụ tái sinh sản dân số trong tương lai. Con số này giảm dần qua các năm từ 1999 đến 2009 và đạt mức 1 con gái/phụ nữ vào năm 2006. Từ năm 2006 đến nay, TFR giảm không nhiều nhưng do tỷ số giới tính khi sinh có dấu hiệu tăng cao hơn nên GRR có xu hướng giảm nhanh hơn so với TFR, và đạt dưới 1 con gái/phụ nữ. Năm 2009, bình quân một phụ nữ sinh được 0,96 người con gái; nếu tính đến xác suất sống đến khi kết thúc thời kỳ có khả năng sinh sản của những người con gái đó thì tỷ suất tái sinh sản tịnh của Tổng điều tra dân số 2009 là 0,94 con gái/ phụ nữ. HÌNH 2.1: TỶ SUẤT TÁI SINH SẢN NGUYÊN, 1999-2009 1,15 1,13 1,10 1,10 1,08 1,07 1,05 1,04 1,02 1,00 1,00 0,98 0,98 0,96 0,95 GRR (con gái/phụ nữ) 0,90 0,85 1999 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 Năm Mặc dù đã đạt dưới mức sinh thay thế nhưng quy mô dân số Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trong vài thập kỷ tới, mức sinh cao trong quá khứ dẫn đến sự tập trung cao số phụ nữ trong các độ tuổi sinh đẻ và do vậy tổng số sinh tiếp tục vượt quá tổng số chết. Đây là thời kỳ tăng trưởng do đà tăng dân số. Có thể phải hai hoặc ba thế hệ sau (từ 50 đến 70 năm) khi mỗi trường hợp sinh ra sống được cân bằng với một trường hợp chết, thì quy mô dân số mới đạt được trạng thái “ổn định”. 2.2.3 Sự thay đổi tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi a. Sự thay đổi qua thời gian nghiên cứu biến động của mô hình sinh đặc trưng theo tuổi (ASFR) sẽ cho thấy rõ hơn ảnh hưởng của cơ cấu tuổi và giới tính đến mức sinh trong thời gian qua (1999-2009). Biểu 2.2 trình bày tỷ trọng phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ trong tổng dân số chia theo nhóm 5 độ tuổi và tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi tương ứng của Việt Nam thu thập được qua hai cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999 và 2009. MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT 11
  20. BIỂU 2.2: TỶ TRỌNG DÂN SỐ NỮ VÀ TỶ SUẤT SINH ĐẶC TRƯNG THEO TUỔI, 1999 VÀ 2009 Tỷ trọng dân số nữ trong tổng dân số11 ASFR (phần nghìn) Nhóm tuổi (phần trăm) 1999 2009 1999 2009 15-19 29 24 5,35 5,11 20-24 158 121 4,58 4,87 25-29 135 133 4,31 4,53 30-34 81 81 3,97 3,97 35-39 41 37 3,75 3,77 40-44 18 10 3,10 3,49 45-49 6 1 2,19 3,27 Nguồn: Năm 1999: Ban Chỉ đạo Tổng điều tra Trung ương, Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999 - Kết quả điều tra mẫu. Nhà xuất bản Thế giới – 2000. số liệu trong Biểu 2.2 cho thấy, từ năm 1999 đến nay, độ tuổi có mức sinh cao nhất của phụ nữ Việt Nam là độ tuổi 20-29. Đây cũng là hiện tượng phổ biến đối với ở các nước đang phát triển, mức sinh cao nhất tập trung vào nhóm tuổi này. Trong 10 năm qua, nhóm tuổi 20-29 có sự gia tăng tương đối lớn so với các nhóm tuổi khác của độ tuổi có ASFR cao, từ 8,9% năm 1999 lên 9,4% năm 2009. Mặc dù ASFR có xu hướng giảm mạnh ở tất cả các nhóm tuổi, đặc biệt là ở nhóm tuổi 20-29, nhưng sự gia tăng số lượng phụ nữ nhóm tuổi 20-29 làm cho CBR năm 2009 giảm không đáng kể so với năm 1999.11 hình 2.2 mô tả sự thay đổi mô hình sinh trong thời kỳ 1999 - 2009, đường gấp khúc biểu diễn mô hình sinh năm 2009 nằm phía dưới đường gấp khúc của năm 1999 khẳng định rằng mức sinh của năm 2009 giảm so với mức sinh của năm 1999. Ngoài ra, đỉnh của đồ thị năm 2009 thuộc về phụ nữ nhóm tuổi 25-29 trong khi đỉnh đồ thị năm 1999 thuộc về phụ nữ nhóm tuổi 20-24 cho biết có sự chuyển dịch mô hình sinh của phụ nữ Việt Nam từ “sớm” sang “muộn”. Trong thời kỳ 1999 -2009, mức sinh vẫn tập trung chủ yếu ở nhóm phụ nữ 20-29 tuổi. Sau độ tuổi này, mức sinh giảm nhanh, cường độ giảm từ sau độ tuổi 35-39 của năm 1999 nhỏ hơn nhiều so với năm 2009. Điều này cho thấy so với 10 năm trước, phụ nữ sinh con muộn hơn, song lại có xu hướng kết thúc thời kỳ sinh đẻ khá sớm, trước 35 tuổi. 11 Kết quả điều tra toàn bộ Tổng điều tra 1999 và 2009. 12 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  21. HÌNH 2.2: TỶ SUẤT SINH ĐẶC TRƯNG THEO TUỔI (ASFR), 1999 VÀ 2009 180 158 150 133 135 1999 120 121 2009 90 81 60 37 41 30 29 24 ASFR (Trẻ sinh sống/1000 phụ nữ) 18 10 6 0 1 15-19 20-24 25-29 30-34 35-39 40-44 45-49 Nhóm tuổi b. Sự thay đổi theo thành thị nông thôn hình 2.3 mô tả sự thay đổi tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi của khu vực thành thị và nông thôn trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 21. Các đường gấp khúc trên đồ thị cho thấy, trong thời kỳ 1999-2009, mức giảm sinh xảy ra ở tất cả các nhóm tuổi có khả năng sinh đẻ của phụ nữ ở khu vực nông thôn. Mô hình sinh của phụ nữ khu vực này năm 1999 có đỉnh rất nhọn, giá trị cực đại thuộc về nhóm tuổi 20-24, đạt 181 con/1000 phụ nữ, số con của những phụ nữ nhóm tuổi kế tiếp (25-29) thấp hơn khá nhiều với 146 con/1000 phụ nữ, giảm gần 20% . Điều này có nghĩa là, 10 năm trước đây, mô hình sinh của phụ nữ nông thôn có đặc trưng của mô hình sinh sớm, đa phần họ sinh con trong độ tuổi 20 đến 24, từ sau độ tuổi này, mức sinh của họ giảm khá nhanh. Mặc dù, cũng có đỉnh tại nhóm tuổi 20-24 với 144 con/1000 phụ nữ nhưng độ nhọn của mô hình sinh của phụ nữ nông thôn năm 2009 so với năm 1999 giảm đi rất nhiều. Năm 2009, mức sinh của phụ nữ nông thôn nhóm tuổi 25-29 chỉ thấp hơn đôi chút (6%) so với nhóm tuổi 20-24, bước sang độ tuổi 30, mức sinh của họ mới có dấu hiệu giảm mạnh. Điều này có nghĩa là, năm 2009, mức sinh của phụ nữ khu vực nông thôn vẫn được đặc trưng bởi mô hình “sinh sớm”. Tuy nhiên, so với năm 1999, mô hình sinh của họ đã có độ trễ. MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT 13
  22. HÌNH 2.3: TỶ SUẤT SINH ĐẶC TRƯNG THEO TUỔI CHIA THEO THÀNH THỊ VÀ NÔNG THÔN, 1999 VÀ 2009 200 180 181 Thành thị 2009 160 Nông thôn 2009 144 146 Thành thị 1999 140 135 129 Nông thôn1999 120 106 100 93 91 ASFR (con/1000 phụ nữ) 84 80 77 76 73 60 44 40 33 35 28 20 20 13 13 7 9 0 15-19 20-24 25-29 30-34 35-39 40-44 45-49 hình 2.3 cũng cho thấy, mười năm qua, mô hình sinh của phụ nữ khu vực thành thị vẫn mang đặc trưng của mô hình sinh muộn, với giá trị mức sinh cực đại thuộc về nhóm tuổi 25-29. Tuy nhiên, cũng giống khu vực nông thôn, mức sinh của phụ nữ khu vực thành thị năm 2009 cũng có sự “trễ hóa” so với năm 1999. đồ thị miêu tả mô hình sinh của phụ nữ khu vực thành thị qua 2 cuộc Tổng điều tra, ta còn thấy một điểm quan trọng đáng lưu ý là mức sinh năm 2009 cao hơn mức sinh năm 1999. Đặc điểm này trái ngược với đặc điểm về xu thế giảm sinh chung trong toàn quốc. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là do: một là, có sự thu thập và ước lượng thiếu các trường hợp sinh từ kết quả Tổng điều tra năm 1999; hai là, có sự thay đổi địa giới hành chính của một số địa phương trong Tổng điều tra năm 2009, khiến cho khá nhiều địa bàn nông thôn trở thành địa bàn thành thị, trong khi, bản thân nó vẫn mang các đặc trưng kinh tế- xã hội và nhân khẩu học của một địa bàn nông thôn, với mức sinh và mức chết thường cao hơn các địa bàn thành thị cũ. Điều này khiến mức sinh của khu vực thành thị năm 2009 cao hơn so với năm 1999 như đã quan sát được ở Hình 2.3. 2.2.4 Sự thay đổi tỷ suất sinh thô Biểu 2.3 trình bày kết quả ước lượng gián tiếp CBR của Việt Nam thu thập được qua các cuộc điều tra biến động dân số hàng năm từ 2001 đến 2008 và qua hai cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999 và 2009. Số liệu trong Biểu 2.3 cho thấy, trong phạm vi toàn quốc, tỷ suất sinh thô năm 2009 giảm so với năm 1999. Nếu năm 1999, bình quân cứ 1000 người dân thì có 19,9 trẻ em sinh ra sống thì đến năm 2009, con số này là 17,6 trẻ em trên 1000 người dân. Như vậy, sau 10 năm, tỷ suất sinh thô của dân số Việt Nam giảm 2,3 điểm phần nghìn. 14 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  23. Có sự khác biệt về sự thay đổi của tỷ suất sinh thô theo nơi cư trú. Mức độ giảm tỷ suất sinh thô của khu vực nông thôn cao hơn mức độ giảm chung của toàn quốc, bình quân cứ 1000 người dân ở nông thôn năm 2009 có 17,9 trẻ sinh ra sống, giảm hơn 3 trẻ so với năm 1999. Trong khi đó, tỷ suất sinh thô khu vực thành thị giai đoạn 1999-2009 lại tăng lên đôi chút, từ 15,9 trẻ sinh ra sống trên 1000 dân vào năm 1999 lên 17,3 trẻ sinh ra sống trên 1000 người dân vào năm 2009. Vì CBR chịu ảnh hưởng nhiều bởi cơ cấu tuổi và giới tính của dân số nên xu hướng biến động này của CBR không có nghĩa là mức sinh thời kỳ 1999-2009 của khu vực thành thị tăng lên mà thực chất là sự biến động trong cơ cấu tuổi và giới tính của dân số thành thị thời kỳ này đang diễn ra mạnh mẽ. BIỂU 2.3: TỶ SUẤT SINH THÔ, 1999-2009 Đơn vị tính: Trẻ sinh sống/1000 dân Tỷ suất sinh thô (CBR) Thời kỳ tham chiếu Toàn quốc Thành thị Nông thôn 1/4/1998-31/3/1999 19,9 15,9 21,2 1/4/2000-31/3/2001 18,6 15,4 19,7 1/4/2001-31/3/2002 19,0 16,9 19,6 1/4/2002-31/3/2003 17,5 15,0 18,9 1/4/2003-31/3/2004 19,2 16,7 19,9 1/4/2004-31/3/2005 18,6 15,6 19,9 1/4/2005-31/3/2006 17,4 15,3 18,2 1/4/2006-31/3/2007 16,9 - - 1/4/2007-31/3/2008 16,7 15,8 17,3 1/4/2008-31/3/2009 17,6 17,3 17,9 Ta có thể thấy rõ ảnh hưởng của sự thay đổi cơ cấu tuổi của dân số đến CBR năm 1999 và 2009 trong Biểu 2.4 - Kết quả chuẩn hóa Tỷ suất sinh thô năm 1999 và 2009 theo cơ cấu tuổi của phụ nữ năm 2009 (xem phương pháp cụ thể ở Mục 3, Chương 4 - Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Các kết quả chủ yếu). số liệu trong Biểu 2.4 cho thấy, nếu cơ cấu tuổi của dân số năm 1999 giống cơ cấu tuổi dân số năm 2009 (lấy cơ cấu tuổi dân số năm 2009 làm chuẩn) và với mức sinh đặc trưng theo tuổi như đã quan sát được của năm 1999 và năm 2009 thì CBR năm 1999 sẽ cao hơn khá nhiều (gần 3 điểm phần nghìn) so với năm 2009, tương ứng là 20,4‰ và 17,6‰. Điều này chứng tỏ, tỷ suất sinh thô năm 1999 và năm 2009 khi chưa chuẩn hóa không khác biệt nhiều là do sự thay đổi đáng kể trong cơ cấu tuổi dân số Việt Nam sau 10 năm. MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT 15
  24. BIỂU 2.4: CBR NĂM 1999 VÀ 2009 CHUẨN HÓA THEO CƠ CẤU TUỔI CỦA PHỤ NỮ 15-49 TUỔI NĂM 2009 Số trẻ sinh trong 12 tháng trước điều tra Số trẻ sinh trong 12 Nhóm Phụ nữ 15-49 ASFR ASFR năm 1999 chuẩn hóa tháng trước điều tra năm tuổi năm 2009 1999 2009 theo cơ cấu tuổi năm 2009 2009 (A) (1) (2) (3) (4)=(1)x(2)/1000 (5) 15-19 4 257 045 29 24 123 454 102 092 20-24 3 968 673 158 121 627 050 480 071 25-29 3 828 866 135 133 516 897 508 562 30-34 3 389 906 81 81 274 582 273 972 35-39 3 243 539 41 37 132 985 118 996 40-44 3 022 031 18 10 54 397 28 824 45-49 2 815 996 6 1 16 896 3 943 Tổng cộng 1 746 262 1 516 460 CBR*=B*/P*=∑Bi* /P* 20,4 17,6 2.2.5 Sự thay đổi tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên biểu thị số phụ nữ có sinh con thứ ba trở lên trong 12 tháng trước điều tra trên 100 phụ nữ sinh con trong thời kỳ đó. Biểu 2.5 trình bày tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ ba trở lên ở Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2009 chia theo thành thị và nông thôn. Số liệu cho thấy, trong 10 năm qua, tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên trong cả nước giảm từ 21,7% năm 2001 xuống 16,1% năm 2009. Trải qua một thập kỷ, tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên ở nông thôn cao hơn hai lần so với ở thành thị nhưng tỷ lệ này của khu vực nông thôn có xu hướng giảm nhanh so với khu vực thành thị. Hay có thể nói, tỷ lệ phụ nữ thôi không sinh thêm con sau khi có từ 1 đến 2 con ở cả khu vực thành thị và nông thôn đều tăng lên, góp phần tích cực làm giảm mức sinh ở Việt Nam, đưa nước ta trở thành một nước đạt mức sinh dưới mức thay thế. Xu hướng này giúp Việt Nam có cơ hội ổn định dân số, giảm bớt gánh nặng phụ thuộc trẻ, tạo thời cơ thuận lợi cho Việt Nam thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững. 16 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  25. BIỂU 2.5: TỶ LỆ PHỤ NỮ 15-49 TUỔI SINH CON THỨ 3 TRỞ LÊN CHIA THEO THÀNH THỊ/NÔNG THÔN, 2001-2009 Đơn vị tính: Phần trăm Nơi cư trú 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 Toàn quốc 21,7 21,5 20,2 20,8 20,8 18,5 16,7 16,9 16,1 Thành thị 12,9 12,6 11,5 11,6 11,6 10,0 9,0 9,7 9,3 Nông thôn 24,3 24,2 23,2 23,7 23,7 21,4 19,3 19,6 18,9 hình 2.4 mô tả tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ ba trở lên năm 2009 chia theo trình độ học vấn. Quan sát đồ thị Hình 2.3 ta thấy có mối tương quan nghịch giữa tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba và trình độ học vấn của họ. Tỷ lệ phần trăm phụ nữ sinh con thứ ba trở lên trong năm 2009 của những phụ nữ chưa đi học cao dẫn đầu với 47,5%; tỷ lệ này giảm dần ở những phụ nữ có trình độ học vấn cao hơn, 28,1% đối với phụ nữ chưa tốt nghiệp tiểu học, 19,4% đối với phụ nữ tốt nghiệp tiểu học, 14,2% đối với phụ nữ tốt nghiệp trung học cơ sở và chỉ còn 4,7% đối với phụ nữ có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên. Như vậy, nâng cao trình độ học vấn của phụ nữ có thể được coi là một trong những chính sách quan trọng nhằm giảm tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên. HÌNH 2.4: TỶ LỆ PHỤ NỮ 15-49 TUỔI SINH CON THỨ BA TRỞ LÊN CHIA THEO TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN, 2009 47,5 50 45 40 35 28,1 30 25 19,4 20 14,2 15 10 4,7 5 0 Chưa đi học Chưa tốt nghiệp Tiểu học Trung học cơ sở Trung học phổ thông tiểu học trở lên 2.3 Sự khác biệt mức sinh theo lãnh thổ 2.3.1 Sự khác biệt theo các vùng kinh tế - xã hội Mặc dù có bằng chứng rõ ràng về giảm sinh của dân số Việt Nam trong 10 năm qua, nhưng xu hướng này không đồng nhất giữa các vùng. Hay nói cách khác, có sự khác biệt về mức sinh theo các vùng kinh tế - xã hội. Sự khác biệt này được quan sát thấy trên tất cả các chỉ tiêu cơ bản phản ánh mức sinh của các vùng như tổng tỷ suất sinh, tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi, tỷ suất sinh thô. MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT 17
  26. a. Sự khác biệt về tổng tỷ suất sinh Biểu 2.6 trình bày tổng tỷ suất sinh của các vùng kinh tế - xã hội ước lượng được từ kết quả điều tra mẫu Tổng điều tra năm 2009. BIỂU 2.6: TFR CHIA THEO VÙNG KINH TẾ - XÃ HỘI, 2009 Tổng tỷ suất sinh Vùng kinh tế - xã hội (TFR – con/phụ nữ) Trung du và miền núi phía Bắc 2,24 Đồng bằng sông Hồng 2,11 Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 2,21 Tây Nguyên 2,65 Đông Nam Bộ 1,69 Đồng bằng sông Cửu Long 1,84 Biểu 2.7 cho thấy, Tây Nguyên là vùng có TFR cao nhất cả nước (2,65 con/phụ nữ), mỗi phụ nữ Tây Nguyên sinh gần 3 con trong cuộc đời của mình. Đứng thứ hai sau Tây Nguyên là Trung du và miền núi phía Bắc (2,24 con/phụ nữ). Hai vùng có mức sinh thấp nhất và thấp hơn mức trung bình của cả nước là Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, tương ứng là 1,69 và 1,84 con/phụ nữ. Bình quân mỗi phụ nữ Tây Nguyên trong suốt cả cuộc đời của mình sinh nhiều hơn gần 1 con so với phụ nữ Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Sự chênh lệch về trình độ phát triển, cùng với những khác biệt về đặc điểm xã hội, tâm lý, tập quán, tôn giáo, nghề nghiệp, cấu trúc dân cư giữa các vùng là nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt về mức sinh nói trên. Trong đó, theo Davis Lucas và Paul Meyer (1996), sự chênh lệch về trình độ phát triển chính là nguyên nhân quan trọng nhất. Biểu 2.7 biểu thị trình độ phát triển của các vùng thông qua thu nhập bình quân đầu người và tỷ lệ hộ nghèo của các vùng. Số liệu trên biểu cho thấy, Đông Nam Bộ là vùng có trình độ phát triển cao nhất trong cả nước xét trên phương diện thu nhập bình quân đầu người cao nhất với 1,8 triệu đồng/người/tháng và tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất với 2,5% tổng số hộ thì đồng thời cũng là vùng có TFR thấp nhất, thấp hơn nhiều so với mức sinh trung bình của cả nước. Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên là những vùng có trình độ phát triển thấp nhất cả nước. Thu nhập bình quân đầu người các vùng này thấp hơn thu nhập bình quân của vùng Đông Nam Bộ từ 2,5 đến 3 lần và tỷ lệ hộ nghèo của chúng cao nhất cả nước (với khoảng 1 phần 5 số hộ nghèo). Đây cũng đồng thời là ba vùng có tổng tỷ suất sinh cao nhất của cả nước. Hai vùng còn lại (Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long) là hai vùng có trình độ phát triển ở mức trung bình, đồng thời là hai vùng có TFR dao động xung quanh TFR trung bình của cả nước. Mặc dù chưa lượng hóa được mức độ tương quan giữa TFR và thu nhập nhưng dựa trên số liệu quan sát được ta cũng có thể khẳng định rằng, một trong những biện pháp để thu hẹp khác biệt về mức sinh giữa các vùng là việc rút ngắn khoảng cách khác biệt về trình độ phát triển. 18 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  27. BIỂU 2.7: THU NHẬP BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI MỘT THÁNG THEO GIÁ THỰC TẾ VÀ TỶ LỆ HỘ NGHÈO CỦA NĂM 2008 CHIA THEO CÁC VÙNG KINH TẾ - XÃ HỘI, 2009 Thu nhập bình quân đầu Tỷ lệ hộ nghèo Các vùng kinh tế - xã hội người/ tháng (giá thực tế: (Phần trăm) 1000 đồng/người) Trung du và miền núi phía Bắc 657 25,1 Đồng bằng sông Hồng 1065 8,6 Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 728 19,2 Tây Nguyên 795 21,0 Đông Nam Bộ 1773 2,5 Đồng bằng sông Cửu Long 940 11,4 Nguồn: Niên giám Thống kê 2009. Biểu 298 (trang 614) và Biểu 309 (trang 630). b. Sự khác biệt về mô hình sinh sự khác biệt về mô hình sinh đặc trưng theo tuổi giữa các vùng kinh tế - xã hội ước lượng được kết quả điều tra mẫu Tổng điều tra 2009 được mô tả trên Hình 2.5. Hình 2.5 cho thấy, mô hình sinh của phụ nữ Trung du và miền núi phía Bắc mang đặc trưng điểu hình của mô hình sinh sớm, với mức sinh cao nhất thuộc về nhóm tuổi 20-24 (168 con/1000 phụ nữ), cao hơn khá nhiều so với mức sinh của nhóm tuổi kế tiếp (129 con/1000 phụ nữ). Cũng mang đặc trưng của mô hình sinh sớm, với mức sinh cao nhất thuộc về phụ nữ nhóm tuổi 20-24, nhưng mô hình sinh của phụ nữ Đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu có xu hướng chuyển sang mô hình sinh muộn do mức sinh của nhóm tuổi 20-24 cao hơn không đáng kể so với mức sinh nhóm tuổi 25-29. Phụ nữ vùng Tây Nguyên đang ở giai đoạn đầu của mô hình sinh muộn với mức sinh cao nhất (163 con/1000 phụ nữ) thuộc về nhóm tuổi 25-29, cao hơn một chút so với mức sinh nhóm tuổi 20-24 (160 con/1000 phụ nữ). Ba vùng còn lại, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ đều mang đặc trưng của mô hình sinh muộn với mức sinh cao nhất thuộc về nhóm tuổi 25-29. MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT 19
  28. Hình 2.5: Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi chia theo vùng kinh tế - xã hội, 2009 180 Trung du và miền núi phía Bắc 168 160 163 Đồng bằng sông Hồng 160 151 Bắc Trung bộ và Duyên hải miền trung 140 130 Tây Nguyên 128 129 120 113 Đông Nam Bộ 115 111 100 99 Đồng bằng sông Cửu Long 80 75 Con/1000 phục nữ 69 60 40 20 0 15-19 20-24 25-29 30-34 35-39 40-44 45-49 Nhóm tuổi Căn cứ vào nhóm tuổi có mức sinh cao nhất quan sát được trên Hình 2.5 thì ta có thể khẳng định rằng phụ nữ vùng Trung du và miền núi phía Bắc có xu hướng sinh con sớm nhất và phụ nữ vùng Đông Nam Bộ có xu hướng sinh con muộn nhất. hình 2.5 cũng cho thấy, ở tất cả các nhóm tuổi (trừ nhóm tuổi 20-24), mức sinh của phụ nữ khu vực Tây Nguyên là cao nhất. Điều này giải thích vì sao TFR của khu vực này đứng đầu trong cả nước. c. Sự khác biệt về tỷ suất sinh thô hình 2.6 mô tả sự khác biệt về Tổng tỷ suất sinh và Tỷ suất sinh thô giữa các vùng kinh tế - xã hội ước lượng được từ kết quả Tổng điều tra 2009. Hình 2.6 cho thấy, một điều khá thú vị là, tuy có TFR thấp nhất, nhưng Đông Nam Bộ lại là vùng có CBR khá cao, cao hơn mức trung bình chung của cả nước. Bình quân cứ 1000 người dân ở Đông Nam Bộ thì có xấp xỉ 17,8 trẻ em sinh ra sống trong 12 tháng trước thời điểm điều tra. Đông Nam Bộ là vùng có tỷ trọng phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15- 49) cao nhất, đặc biệt tập trung chủ yếu ở độ tuổi 20-34. Bình quân cứ 100 người vùng Đông Nam Bộ thì có 32 phụ nữ trong độ tuổi 15-49, trong đó trên một nửa là phụ nữ trong độ tuổi 20-34. Trong khi đó, ở các vùng khác tỷ trọng phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và tuổi 20-34 chỉ dao động xung quanh mức tương ứng là 28% và 13%, thấp hơn từ 3 đến 5 điểm phần trăm so với Đông Nam Bộ (Biểu 2.8). 20 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  29. HÌNH 2.6: TFR VÀ CBR CHIA THEO VÙNG KINH TẾ - XÃ HỘI, 2009 2,65 21,9 19,6 2,24 2,21 2,11 17,6 17,8 16,9 1,84 16,0 1,69 Vùng 1 Vùng 2 Vùng 3 Vùng 4 Vùng 5 Vùng 6 Vùng 1 Vùng 2 Vùng 3 Vùng 4 Vùng 5 Vùng 6 TFR CBR Ghi chú Vùng 1: Trung du và miền núi phía Bắc Vùng 2: Đồng bằng sông Hồng Vùng 3: Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung Vùng 4: Tây Nguyên Vùng 5: Đông Nam Bộ Vùng 6: Đồng bằng sông Cửu Long Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung là vùng có tỷ trọng phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và độ tuổi 20-34 thấp nhất, vì vậy, mặc dù TFR của vùng này khá cao, (đứng thứ hai trong cả nước), chỉ sau TFR của Tây Nguyên nhưng CBR của vùng này lại khá thấp. Bình quân cứ 1000 người dân ở Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung thì có 16,9 trẻ em sinh ra sống trong năm. Các vùng còn lại do không có sự khác biệt nhiều về tỷ trọng phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nên giá trị CBR nhìn chung là tương đương với giá trị TFR. BIỂU 2.8: TỶ TRỌNG PHỤ NỮ TRONG ĐỘ TUỔI SINH ĐẺ VÀ TRONG ĐỘ TUỔI CÓ TỶ SUẤT SINH ĐẶC TRƯNG THEO TUỔI CAO TRONG TỔNG DÂN SỐ CHIA THEO CÁC VÙNG KINH TẾ - XÃ HỘI, 2009 Đơn vị tính: Phần trăm Các vùng kinh tế - xã hội Tỷ trọng phụ nữ 15-49 Tỷ trọng phụ nữ 20-34 Toàn quốc 29,0 13,4 Trung du và miền núi phía Bắc 28,5 13,0 Đồng bằng sông Hồng 28,3 12,9 Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 27,5 11,5 Tây Nguyên 27,3 12,4 Đông Nam Bộ 32,9 16,9 Đồng bằng sông Cửu Long 29,1 13,5 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT 21
  30. Bằng cách chuẩn hóa CBR, ta có thể thấy rõ hơn mức độ ảnh hưởng của cơ cấu tuổi của dân số đến tỷ suất sinh thô. Phương pháp và kết quả chuẩn hóa cụ thể được trình bày trong Biểu 1 - Các biểu tổng hợp. Biểu 2.9 trình bày số liệu TFR và CBR trước và sau khi chuẩn hóa theo cơ cấu tuổi của dân số toàn quốc năm 2009 chia theo các vùng kinh tế - xã hội. Số liệu trong Biểu 2.9 cho thấy, nếu loại bỏ sự ảnh hưởng của cơ cấu tuổi thì thứ hạng CBR tương ứng với thứ hạng TFR của mỗi vùng. CBR cao nhất sau khi chuẩn hóa thuộc về Tây Nguyên, vùng có TFR cao nhất. CBR sau khi chuẩn hóa thấp nhất thuộc về vùng có TFR thấp nhất, đó là Đông Nam Bộ. BIỂU 2.9: TFR, CBR CHƯA CHUẨN HÓA NĂM 2009 VÀ CBR CHUẨN HÓA THEO CƠ CẤU TUỔI CỦA DÂN SỐ TOÀN QUỐC NĂM 2009 CHIA THEO CÁC VÙNG KINH TẾ - XÃ HỘI CBR chưa chuẩn CBR chuẩn hóa theo Tổng tỷ hóa năm 2009 cơ cấu tuổi của dân số Các vùng kinh tế - xã hội suất sinh (Trẻ sinh toàn quốc năm 2009 (Con/phụ nữ) sống/1000 dân) (Trẻ sinh sống/1000 dân) Toàn quốc 2,03 17,6 17,6 Trung du và miền núi phía Bắc 2,24 19,6 19,9 Đồng bằng sông Hồng 2,11 17,6 18,4 Bắc Trung Bộ và DH miền Trung 2,21 16,9 19,2 Tây Nguyên 2,65 21,9 23,1 Đông Nam Bộ 1,69 17,8 14,5 Đồng bằng sông Cửu Long 1,84 16,0 16,0 Tóm lại, quá trình biến đổi cơ cấu tuổi của dân số không chỉ diễn ra trên phạm vi rộng của cả nước, mà còn diễn ra trong từng vùng, từng địa phương ở phạm vi hẹp. Mức độ biến đổi ở các vùng còn mạnh hơn ở toàn quốc do nó không chỉ chịu ảnh hưởng của các biến động tự nhiên của các yếu tố dân số mà còn chịu ảnh hưởng của các biến động cơ học của quá trình này, với tình trạng di dân nội địa trong thập niên đầu của thế kỷ 21 tăng mạnh (xem Chương 6 - Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Các kết quả chủ yếu). Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ suất sinh thô của các vùng, làm cho thứ hạng CBR khác với thứ hạng TFR của chúng. 2.3.2 Sự khác biệt theo tỉnh/thành phố a. Sự khác biệt về tổng tỷ suất sinh sự khác biệt về tổng tỷ suất sinh giữa các tỉnh/thành phố trong cả nước được thể hiện trên Bản đồ 2.1. Giải màu tím trên bản đồ được chia thành 5 mức khác nhau từ nhạt đến đậm thể hiện 5 nhóm TFR từ thấp đến cao của 63 tỉnh/thành phố trên phạm vi cả nước. Bản đồ cho thấy, các tỉnh có mức sinh thấp nằm tập trung chủ yếu ở Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Các tỉnh có 22 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  31. mức sinh cao hầu hết đều tập trung ở hai vùng kém phát triển nhất của cả nước là Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Vùng có sự khác biệt nhiều nhất về mức sinh giữa các tỉnh là vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung. Vùng này bao gồm cả những tỉnh có mức sinh rất thấp (dưới mức sinh thay thế) như Thanh Hóa (1,89 con/phụ nữ), Phú Yên (1,96 con/phụ nữ) và những tỉnh có mức sinh rất cao, gần 3 con/phụ nữ như tỉnh Quảng Trị (2,85 con/phụ nữ), Nghệ An (2,55 con/phụ nữ). Bản đồ cũng đồng thời biểu thị trình độ phát triển giữa các vùng thông qua thu nhập bình quân đầu người một tháng năm 2008. Hình vuông màu đỏ từ to nhất đến nhỏ nhất trên hình biểu thị thu nhập bình quân đầu người từ cao xuống thấp. Phân tích phân bố của hai chỉ tiêu này cho thấy phần lớn hình vuông nhỏ (biểu thị những tỉnh nghèo có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn) thuộc về các tỉnh thuộc Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Hầu hết các tỉnh này đều có màu xanh tím than, biểu thị mức sinh cao. Ngược lại những tỉnh có hình vuông to (tức là thu nhập bình quân đầu người khoảng từ 1 triệu/tháng trở lên) thường là những tỉnh có màu trắng và màu tím nhạt. nói một cách khác, thu nhập bình quân đầu người có quan hệ trái chiều với tổng tỷ suất sinh đối với đa số các tỉnh/thành phố. Tuy nhiên cũng có trường hợp ngoại lệ như tỉnh Bình Phước, vừa có mức sinh cao, vừa có thu nhập bình quân đầu người cao; một số tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long vừa có mức sinh thấp vừa có thu nhập bình quân đầu người thấp. Điều này phản ánh rằng thu nhập bình quân đầu người không phải là nhân tố duy nhất tác động đến mức sinh. MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT 23
  32. Bản đồ 2.1: Tfr và thu nhập bình quân đầu người của các tỉnh/thành phố V1. Trung du và miền núi phía Bắc 02. Hà Giang 04. Cao Bằng 06. Bắc Kạn 08. Tuyên Quang 10. Lào Cai 11. Điện Biên 12. Lai Châu 14. Sơn La 15. Yên Bái 17. Hoà Bình 19. Thái Nguyên 20. Lạng Sơn 1,80 2,00 2,20 2,40 24. Bắc Giang 25. Phú Thọ V4.Tây Nguyên Đơn vị tính: Con/phụ nữ 62. Kon Tum V2. Đồng bằng 64. Gia Lai sông Hồng 66. Đắk Lắk 01. Hà Nội 67. Đắk Nông 22. Quảng Ninh 68. Lâm Đồng 26. Vĩnh Phúc 27. Bắc Ninh V5. Đông Nam Bộ 30. Hải Dương 70. Bình Phước 31. Hải Phòng 72. Tây Ninh 33. Hưng Yên 74. Bình Dương 34. Thái Bình 75. Đồng Nai 35. Hà Nam 77. Bà Rịa-Vũng Tàu 36. Nam Định 79. Tp Hồ Chí Minh 37. Ninh Bình V6. Đồng bằng sông Cửu V3. Bắc Trung Bộ Long và Duyên hải miền Trung 80. Long An 38. Thanh Hóa 82. Tiền Giang 40. Nghệ An 83. Bến Tre 42. Hà Tĩnh 84. Trà Vinh 44. Quảng Bình 86. Vĩnh Long 45. Quảng Trị 87. Đồng Tháp 46. Thừa Thiên Huế 89. An Giang 48. Đà Nẵng 91. Kiên Giang 49. Quảng Nam 92. Cần Thơ 51. Quảng Ngãi 93. Hậu Giang 52. Bình Định 94. Sóc Trăng 54. Phú Yên 95. Bạc Liêu 56. Khánh Hòa 96. Cà Mau 58. Ninh Thuận 60. Bình Thuận 24 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  33. 2.4 Sự khác biệt mức sinh theo các đặc trưng nhân khẩu học và kinh tế - xã hội của người mẹ 2.4.1 Sự khác biệt về mức sinh giữa các tôn giáo Tôn giáo tín ngưỡng cũng là một nhân tố có ảnh hưởng đến mức sinh, mức độ ảnh hưởng này rất khác nhau giữa các tín đồ tôn giáo và không tôn giáo. Nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên xuất phát từ chủ thuyết của các tôn giáo đối với vấn đề sinh đẻ, áp dụng các biện pháp tránh thai và nạo phá thai. ở Việt Nam, pháp luật tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Tôn giáo là một đặc trưng của dân số. việt Nam là một nước có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau bao gồm: Phật giáo, Công giáo, Phật giáo Hoà Hảo, Hồi Giáo, Cao Đài, Minh Sư Đạo, Minh Lý Đạo, Tin Lành, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam, Đạo tứ ân hiếu nghĩa, Bửu Sơn Kỳ Hương, Ba Ha’I và Bà La Môn . Một số tôn giáo có số lượng tín đồ rất nhỏ, để đảm bảo chất lượng của kết quả, Biểu 2.10 dưới đây chỉ đưa ra số liệu của những tôn giáo có số lượng tín đồ tương đối lớn. Các tôn giáo có số lượng tín đồ rất nhỏ được gộp lại thành nhóm “Tôn giáo khác”. BIỂU 2.10: TỔNG TỶ SUẤT SINH CỦA CÁC TÔN GIÁO, THÀNH THỊ/ NÔNG THÔN, 2009 Đơn vị tính: Con/phụ nữ Tôn giáo Toàn quốc Thành thị Nông thôn Toàn quốc 2,03 1,81 2,14 Không theo tôn giáo 2,02 1,82 2,12 Phật giáo 1,83 1,67 1,97 Công giáo 2,28 1,86 2,53 Phật giáo Hoà hảo 1,91 1,94 1,90 Tôn giáo khác 2,43 1,81 2,58 Dân số tín ngưỡng Phật giáo có mức sinh thấp nhất với TFR là 1,83 con/phụ nữ. TFR của đồng bào Công giáo khá cao với 2,28 con/phụ nữ, cao hơn mức sinh thay thế và mức sinh bình quân chung của cả nước là 0,25 con/phụ nữ. Mức sinh cao nhất thuộc về các tín đồ nhóm “Tôn giáo khác”, bình quân mỗi người phụ nữ nhóm này sinh 2,43 con, cao hơn mức sinh trung bình của cả nước 0,4 con/phụ nữ. Chiếm số lượng đông đảo nhất trong dân số (82%) là những người không theo tôn giáo, mức sinh của họ xấp xỉ bằng mức sinh chung của cả nước, 2,02 con/phụ nữ. nhìn chung, mức độ ảnh hưởng của các giáo lý tôn giáo đến mức sinh ở nông thôn nhiều hơn ở thành thị. Bằng chứng là TFR của những người không có tín ngưỡng tôn giáo (trừ Phật giáo) sống ở khu vực thành thị đều có giá trị xấp xỉ nhau, dao động ở mức 1,8 con/phụ nữ. Trong khi đó, TFR của các tôn giáo ở khu vực nông thôn có sự khác biệt khá rõ nét, là yếu tố chủ yếu góp phần tạo nên sự khác biệt chung về mức sinh giữa các tôn giáo. MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT 25
  34. 2.4.2 Sự khác biệt về mức sinh theo dân tộc việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó người Kinh chiếm tới 85,7% và các dân tộc còn lại chỉ chiếm 14,3%. Tuy các dân tộc thiểu số chỉ chiếm 1/7 dân số cả các nước nhưng vấn đề dân tộc và phát triển dân tộc luôn được Đảng và Chính phủ coi trọng. Mặc dù, có cỡ mẫu lớn với 15% tổng dân số, nhưng kết quả suy rộng mẫu liên quan đến mức sinh vẫn không thể đảm bảo tính đại diện cho toàn bộ 54 dân tộc trong cả nước, đặc biệt là với những dân tộc chỉ có vài nghìn người. Vì vậy, phân tích này chỉ lựa chọn những dân tộc có số dân đủ lớn để mẫu có thể đại diện được, đó là các dân tộc: Kinh, Tày, Thái, Mường, Khmer, Mông (H’Mông), các dân tộc còn lại được gộp thành một nhóm gọi chung là nhóm “Các dân tộc khác”. Biểu 2.11 trình bày sự thay đổi tổng tỷ suất sinh của các dân tộc thu thập được qua 3 cuộc Tổng điều tra dân số 1989, 1999 và 2009. Số liệu cho thấy, xu hướng giảm sinh diễn ra phổ biến ở tất cả các dân tộc trong phạm vi cả nước trong 20 năm qua. Nổi bật nhất là mức giảm sinh của đồng bào dân tộc Mông. Vào năm 1999, bình quân một phụ nữ người Mông đã sinh được hơn 9 người con thì đến năm 2009, con số này đã giảm mạnh chỉ còn gần 5 con/phụ nữ. Các dân tộc còn lại (trừ người Kinh) đều có mức sinh rất cao (trên 5 con/phụ nữ) vào năm 1989 nhưng đã giảm mạnh trong năm 1999 và nhìn chung đều đạt dưới mức sinh thay thế năm 2009 (trừ dân tộc Thái, Mông và nhóm các dân tộc khác). Đây là thành tích đáng ghi nhận của chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc sức khỏe sinh sản ở các tỉnh vùng cao, vùng sâu nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Cũng cần phải lưu ý rằng cỡ mẫu thu thập thông tin về lịch sử sinh của phụ nữ dùng để tính toán các chỉ tiêu về sinh của 3 cuộc Tổng điều tra 1989, 1999 và 2009 là rất khác nhau, tương ứng là 5%, 3% và 15%. Hơn nữa, thiết kế mẫu của cả 3 cuộc Tổng điều tra chủ yếu tập trung vào việc cung cấp số liệu đại diện cho các đơn vị hành chính cấp tỉnh. Do vậy, khi sử dụng các kết quả phân tích đề cập trong chương này về thay đổi mức sinh theo các đặc trưng nhân khẩu học khác như tôn giáo, dân tộc và di cư cần có sự cân nhắc thận trọng. BIỂU 2.11: TỔNG TỶ SUẤT SINH CHIA THEO DÂN TỘC, 1989, 1999 VÀ 2009 Đơn vị tính: Con/phụ nữ Dân tộc Tổng điều tra 1989 Tổng điều tra 1999 Tổng điều tra 2009 Toàn quốc 3,80 2,30 2,03 Kinh 3,60 1,87 1,95 Tày 4,30 2,10 1,92 Thái 5,70 2,56 2,19 Mường 4,40 1,95 1,89 Khmer 5,30 2,31 2,00 Mông 9,30 7,06 4,96 Khác - - 2,52 26 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  35. Mặc dù giảm sinh là xu hướng chung nhưng vẫn tồn tại sự khác biệt khá rõ về mức sinh giữa các dân tộc. Mức sinh của các dân tộc Kinh, Tày, Mường, Khmer đều thấp hơn mức sinh trung bình của cả nước với khoảng 1,9 đến 2,0 con/phụ nữ. Phụ nữ dân tộc Mông luôn đứng vị trí hàng đầu về mức sinh cao. Năm 2009, mặc dù mức sinh phụ nữ Mông đã giảm rất nhiều so với 10 năm trước, nhưng trung bình mỗi phụ nữ dân tộc Mông vẫn có gần 5 người con, cao hơn mức trung bình chung của cả nước tới 3 con/phụ nữ và cao hơn số con của nhóm dân tộc có mức sinh cao thứ hai tới 2,5 con/phụ nữ. Đây thực sự là mức sinh rất cao đối với một dân tộc mà tất cả các chỉ số phát triển đều ở dưới mức trung bình của cả nước. Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi của dân tộc Mông là 45,5 trẻ trên 1000 trẻ sinh sống - cao hơn gấp gần 3 lần so với mức trung bình của cả nước (16/1000); tuổi thọ bình quân là 64,3 tuổi - thấp hơn tuổi thọ trung bình cả nước là 8,5 tuổi; tỷ lệ dân số từ 10 tuổi trở lên biết đọc biết viết là 46%; tỷ trọng dân số từ 15 tuổi trở lên chưa đi học là 61,4%; tỷ trọng hộ có nhà kiên cố là 5,7%, trong khi đó, các con số này của cả nước lần lượt tương ứng là: 94%; 5% và 46,7%.12 Tình trạng tương tự cũng xảy ra đối với đồng bào thuộc nhóm dân tộc khác. Rõ ràng, đông con, nghèo đói và thất học là cái vòng luẩn quẩn kìm hãm sự phát triển của đồng bào dân tộc nói chung và của người Mông nói riêng. Hậu quả là, mặc dù đã có rất nhiều chương trình của Chính phủ được xây dựng và thực hiện nhằm hỗ trợ đồng bào các dân tộc thiểu số, nhưng các con số đề cập ở trên cho thấy rằng một số dân thiểu số vẫn còn là “lõi nghèo”, “túi nghèo” của cả nước.13 2.4.3 Sự khác biệt về mức sinh theo trình độ học vấn Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy giữa trình độ học vấn và mức sinh có quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau (Hình 2.7). Phụ nữ chưa bao giờ đi học có mức sinh cao nhất với số con trung bình là 3,00 con/phụ nữ. Phụ nữ đã đi học nhưng chưa tốt nghiệp tiểu học có mức sinh cao thứ hai, với 2,30 con/phụ nữ. Tiếp theo là phụ nữ đã tốt nghiệp tiểu học với 2,15 con/phụ nữ. Nhìn chung, phụ nữ càng có trình độ học vấn cao, thì mức sinh của họ càng thấp. Phụ nữ có trình độ học vấn cao nhất có TFR thấp nhất với 1,80 con/phụ nữ. Có sự khác biệt về tổng tỷ suất sinh của các nhóm phụ nữ cùng trình độ học vấn theo khu vực thành thị và khu vực nông thôn. Cũng như của toàn quốc, mức sinh của nông thôn luôn cao hơn mức sinh của thành thị đối với tất cả các trình độ học vấn, trình độ càng cao thì mức khác biệt về mức sinh giữa nông thôn và thành thị càng giảm. Trong nhiều thập kỷ qua, khoảng cách về trình độ học vấn giữa nam và nữ ngày càng được thu hẹp. Đó là sự thành công của các chính sách, chương trình của Nhà nước về bình đẳng giới. Tuy nhiên, phụ nữ nông thôn vẫn chưa được hưởng lợi nhiều về giáo dục như phụ nữ thành thị. Do vậy tỷ lệ sinh của phụ nữ nông thôn cao hơn của phụ nữ thành thị. 12 Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Các kết quả chủ yếu, Hà Nội tháng 6 năm 2010. Biểu A.12, trang 171. 13 Theo báo cáo tổng hợp “Sự phát triển kinh tế của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam” do Viện Nghiên cứu Phát triển và Khoa Kinh tế học, Trường Đại hoc Sussex kết hợp với Trung tâm Phân tích và Dự báo, Viện Khoa học xã hội Việt Nam thực hiện. MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT 27
  36. Hình 2.7: TFR chia theo trình độ học vấn và thành thị/nông thôn, 2009 3,5 3,1 3 3,0 2,5 2,3 2,36 2,15 2,2 2,22 2,04 2,01 2,1 1,9 1,91 2,0 1,8 1,82 1,79 1,5 Con/phụ nữ 1,0 0,5 0,0 Toàn quốc Thành thị Nông thôn Chưa đi học Chưa tốt nghiệp tiểu học Tốt nghiệp tiểu học Tốt nghiệp trung học cơ sở Tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên Không chỉ ở Việt Nam, mà nhiều nghiên cứu đã khẳng định rằng không một nơi nào trên thế giới, phụ nữ có trình độ học vấn cao hơn lại có mức sinh cao hơn phụ nữ có trình độ học vấn thấp. Mặc dù, có thể phụ nữ có trình độ học vấn cao ở vùng này (quốc gia này) có mức sinh cao hơn phụ nữ có trình độ học vấn thấp hơn ở vùng khác (quốc gia khác) (John R.Weeks, 1999). Nghiên cứu về mối quan hệ giữa mức sinh và trình độ giáo dục của các nước trên thế giới đã giải thích lý do phụ nữ có trình độ học vấn cao sẽ sinh ít con hơn như sau: thứ nhất, phụ nữ có trình độ học vấn cao thường có xu hướng kết hôn muộn hơn so những người cùng giới có trình độ học vấn thấp. Kết hôn muộn sẽ làm giảm thời gian sinh sản thực tế của họ so với thời gian sinh sản lý thuyết, dẫn đến khả năng họ sinh ít con hơn. Thứ hai, phụ nữ có trình độ học vấn cao hơn sẽ có nhiều cơ hội việc làm hơn và khả năng thất nghiệp ít hơn, vì thế họ sẽ sinh ít con hơn để ưu tiên cho công việc. Thứ ba, khả năng sống của người con có quan hệ chặt chẽ với trình độ học vấn của người mẹ. Người mẹ có trình độ học vấn cao hơn thường có kiến thức về chăm sóc sức khỏe con mình tốt hơn, làm cho khả năng sống của con cái họ cao hơn so với những người mẹ có trình độ học vấn thấp. Khả năng sống của người con tăng tất yếu làm giảm nhu cầu sinh bù của người mẹ. Cuối cùng, không kém phần quan trọng, phụ nữ có trình độ học vấn cao sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận các biện pháp kế hoạch hóa gia đình hiện đại và hiệu quả. Cơ hội này đã giúp họ kiểm soát được số con mong muốn và giảm thiểu những lần sinh con ngoài ý muốn. 2.4.4 Sự khác biệt về mức sinh theo tình trạng hoạt động kinh tế Các nhà nhân khẩu học khẳng định rằng: “trong mối quan hệ về tình trạng tham gia lực lượng lao động của phụ nữ và mức sinh của họ, có tồn tại tranh luận theo kiểu quả trứng - con gà, cái nào có trước”.14 Có quan điểm cho rằng, mức sinh thấp sẽ tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào thị trường lao động dễ dàng hơn; song quan điểm khác lại khẳng định rằng, khi đi làm, phụ nữ sẽ có ít thời gian chăm sóc gia đình và con cái hơn, và điều đó khiến họ quyết định sinh ít con và chú trọng đến chất lượng nuôi dạy con hơn. Thực tế chứng minh rằng, cả hai quan điểm đó đều có cơ sở (Cramer 1980; Groat, et al. 1982). 14 John R.Weeks. Population, an introduction to concepts and issues. 28 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  37. Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, TFR của phụ nữ có việc làm là 1,9 con/ phụ nữ, chỉ bằng gần một phần ba so với con số của phụ nữ thất nghiệp và bằng hai phần ba so với con số của phụ nữ không hoạt động kinh tế. BIỂU 2.12: TỔNG TỶ SUẤT SINH CHIA THEO TÌNH TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH TẾ VÀ THÀNH THỊ/ NÔNG THÔN, 2009 Đơn vị tính: Con/phụ nữ Tình trạng hoạt động kinh tế Toàn quốc Thành thị Nông thôn Có việc làm 1,88 1,59 1,98 Thất nghiệp 6,00 4,77 6,97 Không hoạt động kinh tế 2,82 2,38 3,31 Biểu 2.12 cũng cho thấy, dù có việc làm hay không, mức sinh của phụ nữ nông thôn đều cao hơn so với mức sinh của phụ nữ thành thị. Ở khu vực thành thị, TFR của phụ nữ có việc làm là 1,6 con/phụ nữ, thấp hơn 0,4 con so với nông thôn. Đối với những phụ nữ không hoạt động kinh tế, TFR của phụ nữ nông thôn là 3,3 con, cao hơn 0,9 con so với thành thị. Đối với nhóm phụ nữ đang trong tình trạng thất nghiệp, TFR của phụ nữ thành thị là 4,8 con, thấp hơn 2,2 con so với nông thôn. Như vậy, có sự khác biệt rõ nét về mức sinh giữa khu vực thành thị và nông thôn theo tình trạng hoạt động kinh tế. Khác biệt này ở phụ nữ có việc làm là thấp nhất và bắt đầu tăng ở nhóm phụ nữ không hoạt động kinh tế và cao nhất ở nhóm phụ nữ thất nghiệp. Điều này cho thấy, tạo thêm nhiều việc làm cho phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ nông thôn, là một trong những giải pháp để thu hẹp khoảng cách về mức sinh giữa nông thôn và thành thị. Theo kết quả suy rộng mẫu của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, cả nước có khoảng 541 nghìn phụ nữ 15-49 thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp của nữ khu vực thành thị là 4,38% và nông thôn là 2,22%. Số tổng thể phụ nữ nhóm này khá nhỏ nên sẽ có độ chệch cao và sự đảm bảo về tính đại diện của chỉ tiêu này không cao. Vậy nên kết quả trình bày trên Biểu 2.12 chỉ đại diện cho xu thế thay đổi chung chia theo tình trạng hoạt động kinh tế của các phụ nữ, chứ không đảm bảo mức độ chính xác tuyệt đối. Vì vậy, khi dùng loại số liệu này cần đặc biệt lưu ý. 2.4.5 Sự khác biệt về mức sinh theo tình trạng di cư Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy giai đoạn 2004-2009, số người di cư trong nước là 6,6 triệu người, tăng hơn 2 triệu người so với giai đoạn cùng kỳ 10 năm trước (1994- 1999). Luồng di cư chủ yếu là đến khu vực thành thị và khu công nghiệp, nơi có nhiều cơ hội việc làm. Điều này dẫn tới, trong giai đoạn 1999-2009, tỷ lệ tăng dân số hàng năm của thành thị cao hơn nhiều so với con số đó của nông thôn, tương ứng là 3,4% và 0,4%. Biểu 2.13 cho thấy, nói chung tổng tỷ suất sinh hầu như không có sự khác biệt giữa người di cư và không di cư trên phạm vi cả nước (1,97 và 2,04 con/phụ nữ). Tuy nhiên, khi phân tích riêng khu vực thành thị và nông thôn, sự khác biệt này là khá rõ. Trong khi ở khu vực thành thị, tổng tỷ suất sinh của người không di cư lớn hơn 0,29 con/phụ nữ so với người di cư, thì ở nông thôn con số đó của người di cư lại lớn hơn 0,41 con/phụ nữ so với người không di cư. MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT 29
  38. BIỂU 2.13: TỔNG TỶ SUẤT SINH CHIA THEO TÌNH TRẠNG DI CƯ VÀ THÀNH THỊ/ NÔNG THÔN, 2009 Đơn vị tính: Con/phụ nữ Tình trạng di cư15 Toàn quốc Thành thị Nông thôn Không di cư 2,04 1,87 2,11 Di cư ngoại tỉnh 1,97 1,58 2,52 điều này có thể là do, đa số phụ nữ di cư ngoại tỉnh đến khu vực thành thị là trẻ và họ di chuyển đến nơi ở mới để tìm việc làm, thường phải đối mặt với nhiều khó khăn, như nếu sinh con sẽ có ít cơ hội tìm kiếm việc làm hay họ cần phải học tập để nâng cao khả năng của mình, chính vì vậy họ quyết định trì hoãn hoặc sinh ít con hơn so với phụ nữ đã ở thành thị từ trước.15 15 Cách phân loại tình trạng di cư xem “Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Chương 6, Các kết quả chủ yếu, Hà Nội, tháng 6 năm 2010”. 30 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  39. Chương 3: MỨC TỬ VONG Trong nhiều thập kỷ qua, các quốc gia đã có nhiều thành công trong công tác chăm sóc sức khỏe nhằm tăng tuổi thọ của người dân. Tử vong (hay mức chết) luôn là chủ đề nghiên cứu quan trọng trong nhân khẩu học và nhiều ngành khoa học khác có liên quan như dịch tễ học, y tế cộng đồng và thống kê , và mục đích của nghiên cứu là nhằm thu được những kiến thức khoa học cần thiết để cải thiện cuộc sống thông qua các chương trình và chính sách thích hợp. Trong nghiên cứu nhân khẩu học, tử vong đóng vai trò khá quan trọng, vì mức độ chết cùng với mức độ sinh là nhân tố quan trọng xác định tỷ lệ tăng trưởng của dân số. giảm mức chết là không dễ dàng, vì điều đó phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường, kinh tế, văn hóa, xã hội, công nghệ, Làm giảm mức tử vong ở Việt Nam vẫn là mục tiêu quan trọng của công tác chăm sóc sức khỏe và của các chính sách, chương trình phát triển. Việc đầu tư đáng kể cho y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng trong thời gian qua đã cải thiện đáng kể mức tử vong của Việt Nam, như mức độ chết của trẻ em giảm và tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh tăng lên trong nhiều thập niên gần đây. Cũng như các cuộc Tổng điều tra trước đây, Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 có thu thập thông tin về các trường hợp chết của hộ xảy ra trong 12 tháng trước thời điểm điều tra tại các địa bàn mẫu. Cỡ mẫu của Tổng điều tra năm 2009 là 15% dân số trên phạm vi cả nước. Cỡ mẫu của Tổng điều tra lần này lớn hơn nhiều so với Tổng điều tra 1989 (5%) và 1999 (3%). Dựa vào số liệu của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 có thể ước lượng được các số liệu tin cậy về mức độ chết của dân số nước ta. 3.1 Chất lượng thông tin về tử vong nói chung, thông tin tử vong thu thập từ các cuộc điều tra mẫu, Tổng điều tra về dân số thường bỏ sót các trường hợp chết, dẫn đến ước lượng thấp mức độ chết. Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 của Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. để đảm bảo tính toán, ước lượng chính xác các chỉ tiêu về chết, các nhà nhân khẩu học đã xây dựng kỹ thuật ước lượng gián tiếp các chỉ tiêu nói trên. Tuy nhiên, các kỹ thuật gián tiếp cũng đòi hỏi số liệu thu được của các cuộc điều tra phải có độ chính xác nhất định. Người đi tiên phong trong nghiên cứu tử vong là nhà nhân khẩu học có tên là Brass và các học giả khác như Hill và Trussel. Chương 1 đã trình bày tóm tắt mô tả kỹ thuật ước lượng gián tiếp tỷ suất chết của trẻ em và đánh giá mức độ đầy đủ của báo cáo các trường hợp chết đối với các cuộc điều tra mẫu, Tổng điều tra về dân số. Trong các công cụ ước lượng gián tiếp, kỹ thuật dùng để tính toán mức chết của trẻ em là thành công nhất và được chấp nhận rộng rãi. Kỹ thuật này sử dụng thông tin đầu vào là số con đã sinh và số con còn sống của phụ nữ trong tuổi sinh đẻ. MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT 31
  40. ngoài kỹ thuật ước lượng gián tiếp tỷ suất chết của trẻ em, hai phương pháp cân bằng tăng trưởng chung (GGB) và thế hệ chết giả định (SEG) cũng đã được áp dụng kết hợp để đánh giá mức độ đầy đủ của thông tin về chết của toàn bộ dân số.16 Cách tiếp cận “GGB– SEG kết hợp” được dùng để đánh giá số liệu về chết của Tổng điều tra 2009. Kết quả cho thấy mức độ đầy đủ của dữ liệu về các trường hợp chết thu thập được trong Tổng điều tra 2009 là tương đối thấp. Mức độ đầy đủ đối với chết của dân số nam cao hơn 13 điểm phần trăm so với con số đó của dân số nữ, tương ứng là 67 và 54 phần trăm.17 3.2 Sự thay đổi mức tử vong 3.2.1 Sự thay đổi tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi (IMR) là số trẻ dưới 1 tuổi chết tính trên 1000 trẻ sinh sống trong thời kỳ nghiên cứu, thường là một năm. Nói chung việc khai báo số các trường hợp về chết thường bị sót, đặc biệt là đối với trẻ em dưới một tuổi bị chết, vì đây là thông tin nhạy cảm, nên người thân không muốn nhắc đến. Chính vì lý do đó Liên hợp quốc đã khuyến nghị sử dụng các phương pháp ước lượng gián tiếp để tính toán tỷ suất chết trẻ em đối với các cuộc điều tra mẫu, cũng như Tổng điều tra về dân số. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi được ước lượng gián tiếp thông qua số con đã sinh và số con còn sống của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ thu thập được trong Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009. Ước lượng gián tiếp IMR được thực hiện bằng phần mềm QFIVE như đã đề cập trong Chương 1. số liệu trong Biểu 3.1 cho thấy mức độ chết trẻ em của toàn quốc đã giảm đáng kể trong vòng 20 năm qua (1989 - 2009), đặc biệt là trong vòng 10 năm gần đây. Ở khu vực thành thị, IMR giảm từ 18,3 xuống 9,4 trẻ em tử vong trên 1000 trẻ em sinh sống, trong khi đó ở nông thôn IMR đã giảm từ 41,0 xuống 18,7 trẻ em tử vong trên 1000 trẻ em sinh sống trong vòng 10 năm qua (1999- 2009). Trong 10 năm qua, mặc dù sự sụt giảm điểm phần nghìn của IMR ở khu vực nông thôn cao hơn ở khu vực thành thị nhưng cường độ của hai khu vực này không khác nhau nhiều, tương ứng thành thị giảm 49%, còn nông thôn giảm 54%. Mặt khác, năm 1999, IMR của khu vực nông thôn cao gấp 2,2 lần IMR của khu vực thành thị và đến năm 2009, sự khác biệt đó tăng không đáng kể (2,3 lần). Điều đó cho thấy, sự sụt giảm IMR thời kỳ 1999-2009 diễn ra tương đối đồng đều ở cả khu vực thành thị và khu vực nông thôn nhưng không có dấu hiệu của sự thu hẹp khoảng cách về tỷ suất này giữa hai khu vực. 16 Xem: Các phương pháp phân bố chết đối với ước lượng chết người lớn: Phân tích nhạy cảm với các sai sót của số liệu mô hình. Nghiên cứu nhân khẩu học, tập 21, bài 9 trang 235-254, 25 tháng 8 năm 2009. Ken- neth Hill, Danzhen You, Yonoung Choi 17 Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, Các kết quả chủ yếu, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương, Hà Nội, 6-2010, trang 67. 32 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  41. BIỂU 3.1: TỶ SUẤT CHẾT CỦA TRẺ EM DƯỚI MỘT TUỔI CHIA THEO THÀNH THỊ/NÔNG THÔN, 1989-2009 Đơn vị tính: Trẻ dưới 1 tuổi tử vong/1000 trẻ sinh sống Nơi cư trú Nơi cư1989 trú 1999 2009 1989 1999 2009 Toàn quốc 42,3 36,7 16,0 Toàn quốc 42,3 36,7 16,0 Thành thị 31,5 18,3 9,4 Thành thị 31,5 18,3 9,4 Nông thôn 45,0 41,0 18,7 Nông thôn 45,0 41,0 18,7 Nguồn: 1989: Tổng điều tra dân số Việt Nam 1989, “chuyên khảo ước lượng mức độ sinh và chết cho các tỉnh và nhóm dân tộc Việt Nam”, Nhà xuất bản Thống kê – 1994, trang 58. 1999: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999, “chuyên khảo về hôn nhân, sinh đẻ và tử vong ở Việt Nam: mức độ, xu hướng và những khác biệt”, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội - 2001, trang 99. những con số trên thể hiện sự thành công rất lớn của các chương trình và chính sách về y tế, đặc biệt là công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Điều này nói lên tính ưu việt của Nhà nước ta trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu của công dân. so với các nước trong khu vực, tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi của nước ta ở mức trung bình thấp, cao hơn so với của Singapore, Brunei, Thái Lan và Malaysia (tương ứng là 2,1; 7; 7 và 9 phần nghìn); nhưng thấp hơn nhiều so với của Phi-líp-pin, In-đô-nê-xi-a, Cam-pu-chia, Lào và Myanmar (tương ứng là 23, 34, 62, 64 và 75 phần nghìn).18 3.2.2 Sự thay đổi tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi Tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi là một chỉ tiêu quan trọng, đo lường mức độ chết cho cả nhóm 5 độ tuổi đầu của dân số. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi, thường được biểu diễn bằng 5q0, là số đo mức độ chết của trẻ em trong 5 năm đầu tiên của cuộc sống. Tỷ suất này được định nghĩa là số trẻ em dưới 5 tuổi chết tính bình quân trên 1.000 trẻ em sinh ra sống trong năm. Chăm sóc sức khỏe trẻ em luôn là vấn đề được thế giới quan tâm. Tại Hội nghị thượng đỉnh Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc năm 2000, 189 quốc gia thành viên nhất trí thông qua Tuyên bố Thiên niên kỷ và cam kết đạt được tám mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) vào năm 2015. Trong 8 mục tiêu đó, có 1 mục tiêu đề cập cụ thể đến việc cải thiện tình trạng sức khỏe trẻ em. Đó là Mục tiêu thiên niên kỷ số 4: giảm 2/3 tỉ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi trong giai đoạn 2000 - 2015. Theo báo cáo “Việt Nam 2/3 chặng đường thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, hướng tới 2015” đánh giá rằng, hiện nay mức tử vong trẻ em dưới 5 tuổi ở nước ta tương đương với tỷ suất của các nước có thu nhập bình quân đầu người cao hơn Việt Nam 3-4 lần. Việt Nam có mức giảm tỷ suất tử vong trẻ em dưới năm tuổi cao hơn mức giảm trung bình của khu vực Châu Á- Thái Bình Dương. So với mục tiêu đề ra trong “Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001-2010” là giảm tỷ suất tử vong trẻ em dưới năm tuổi xuống còn 36 vào năm 2005 và 32 vào 18 IMR của các nước trong khu vực được lấy từ “Bảng số liệu dân số thế giới năm 2009” của Population Refer- ence Bureau. MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT 33
  42. năm 2010 thì Việt Nam đã vượt xa mục tiêu quốc gia. Nhận định này được chứng minh qua kết quả tính toán được từ Tổng điều tra 2009 và 1999, số trẻ em dưới năm tuổi tử vong đã giảm từ 58 (năm 1999) xuống còn 24 trên 1000 trẻ đẻ sống (năm 2009). Chiến lược này cũng đặt mục tiêu đến năm 2015, phấn đấu đạt tỷ suất trẻ em dưới 5 tuổi còn dưới 20 và tỷ suất chết trẻ em dưới một tuổi còn dưới 12, vì vậy sẽ hoàn thành Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ số 4 về giảm tỷ suất tử vong trẻ em. 3.2.3 Sự thay đổi tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi Tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi (ASDR) là tổng số trường hợp chết của một độ tuổi hoặc nhóm tuổi chia cho dân số của độ tuổi hoặc nhóm tuổi đó và nhân với hệ số, thường là 1000. Số đo này có thể được tính cho thời kỳ nào đó, thường là một năm lịch, hoặc 12 tháng trước điều tra, cho một nước hoặc một đơn vị lãnh thổ; và cho từng giới tính. Biểu thị các giá trị ASDR theo các độ tuổi hoặc nhóm tuổi bằng một đường cong, phản ánh mức độ chết đặc trưng theo tuổi còn được gọi là mô hình tử vong. Khi so sánh mô hình tử vong của nước ta theo số liệu Tổng điều tra 1989 với 4 họ bảng sống mẫu của Coal-Denemy đã rút ra kết luận là trật tự chết của dân số Việt Nam gần với họ Bắc của hệ thống Bảng sống mô hình Coale – Deneny. Mức tử vong thay đổi có thể làm cho mô hình tử vong thay đổi theo. Kiểm nghiệm mô hình tử vong của số liệu chết thu thập được trong Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 (xem “Dự báo dân số Việt Nam 2009-2049”19 ) bằng cách so sánh đồ thị mô hình tử vong năm 2009 với 4 họ Bắc, Nam, Đông và Tây của hệ thống bảng sống mẫu Coale- Demeny. Kết quả cho thấy đường cong ASDR của nước ta rất gần với cả 4 đường cong của 4 họ nói trên. Song khi so sánh bằng phương pháp bình quân tối thiểu, thì kết quả cho thấy họ Bắc cho giá trị bình phương tối thiểu nhỏ nhất. Điều này cho thấy, cũng như kết luận đối với số liệu tử vong của Tổng điều tra 1989, mô hình tử vong của Việt Nam gần với họ Bắc hơn cả so với các họ còn lại. Mô hình tử vong họ Bắc có đặc trưng tỷ suất chết trẻ dưới một tuổi khá thấp, tỷ suất chết trẻ em khá cao và tỷ suất chết trên 50 tuổi giảm xuống dưới chuẩn. Tuổi thọ dự tính cho bảng sống này là từ 44,5 năm đến 74,7 năm.20 Tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi và giới tính của Tổng điều tra 1989, 1999 và 2009 được trình bày trong Hình 3.1. Số liệu cho thấy tỷ suất chết trẻ em ở những độ tuổi nhỏ giảm liên tục trong 3 cuộc Tổng điều tra. Song, tỷ suất chết của dân số 15 tuổi trở lên của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999 có giảm so với năm 1989; nhưng con số đó của năm 2009 lại tăng so với năm 1999, đặc biệt là với nhóm dân số già từ 60 tuổi trở lên. 19 Dự báo Dân số Việt Nam 2009-2049, Tổng cục Thống kê, Hà Nội 2-2011, trang 13-15. 20 Liên hợp quốc, 1983. Cẩm nang số X: Các kỹ thuật gián tiếp về ước lượng nhân khẩu học 34 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  43. HÌNH 3.1a: TỶ SUẤT CHẾT ĐẶC TRƯNG THEO TUỔI CỦA VIỆT NAM, 1989-2009 NAM 200 150 1989 1999 2009 100 50 0 0 1-4 5-9 10-14 15-19 20-24 25-29 30-34 35-39 40-44 45-49 50-54 55-59 60-64 65-69 70-74 75-79 80-84 85+ Nhóm tuổi HÌNH 3.1b: TỶ SUẤT CHẾT ĐẶC TRƯNG THEO TUỔI CỦA VIỆT NAM, 1989-2009 NỮ 200 150 1989 1999 2009 100 50 0 0 1-4 5-9 10-14 15-19 20-24 25-29 30-34 35-39 40-44 45-49 50-54 55-59 60-64 65-69 70-74 75-79 80-84 85+ Nhóm tuổi nghiên cứu tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy, trung bình cứ 1000 trẻ em sinh ra trong năm trước thời điểm Tổng điều tra có 16 em bị chết. Tỷ suất chết đột ngột giảm xuống ở độ tuổi 1-4 với mức cứ 1000 trẻ em ở nhóm này chỉ có 2 em bị chết trong năm. Sau đó lại giảm từ từ cho tới khi đạt giá trị cực tiểu tại nhóm 10-14 tuổi, tỷ suất chết đặc trưng của nhóm này chỉ có 0,7 trên 1000. Sau tuổi 14, ASDR lại tăng dần cho tới nhóm 55-59 tuổi. Từ 60 tuổi trở đi, ASDR tăng nhanh hơn so với các nhóm tuổi trẻ. Đồ thị biểu diễn tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi của Việt Nam có hình dạng giống với chữ J hơn là chữ U. Đặc điểm này cho thấy mức tử vong của 2 nhóm người rất già cao hơn nhiều so với nhóm trẻ và có nhiều nhóm tuổi có tỷ suất chết thấp. MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT 35
  44. số liệu của cả 3 cuộc Tổng điều tra đều cho thấy tỷ suất chết của nam nói chung đều cao hơn của nữ ở hầu hết các nhóm tuổi. Đây là xu hướng chung của nhiều quốc gia, cụ thể là xác suất sinh nam cao hơn sinh nữ, tuy nhiên nam có nguy cơ tử vong lớn hơn nữ, kết quả là nữ thường sống thọ hơn nam. Điều này còn do môi trường, thói quen văn hóa, lối sống khác nhau giữa nam và nữ. So với nữ giới, nam thường làm những nghề nghiệp mạo hiểm hơn, thường sử dụng nhiều hơn các đồ có hại và gây nghiện, như thuốc lá, rượu, bia, ma tuý, nên có ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe. Hậu quả là nam giới dễ gặp rủi do và bệnh tật hơn so với nữ giới. 3.2.4 Sự thay đổi tỷ suất chết thô Tỷ suất chết thô (CDR) cho biết, trung bình cứ 1000 dân, có bao nhiêu người chết trong một khoảng thời gian, thường là một năm lịch hay 12 tháng trước thời điểm điều tra. Tỷ suất chết thô bị ảnh hưởng bởi phân bố dân số theo tuổi và giới tính. Khi tỷ trọng dân số dưới 5 tuổi (có tỷ lệ chết tương đối cao) giảm đi trong điều kiện mức sinh thấp, tỷ suất chết thô có thể giảm. Tuy nhiên, sự gia tăng dân số già (có tỷ suất chết cao) sẽ bù vào sự sụt giảm của số lượng chết sơ sinh và chết trẻ em. Kết quả là, tỷ suất chết thô có thể không thay đổi hoặc thậm chí tăng lên. hình 3.2 trình bày CDR của Việt Nam từ năm 1960 đến năm 2009. Đồ thị cho thấy, CDR có xu hướng giảm. Xu hướng này có điểm bất bình thường vào năm 1999. Điều này có thể do hai lý do, một là năm 1999 đã ước lượng CDR thấp hơn so với thực tế; hai là CDR cũng có thể tăng do tỷ trọng người già tăng. Cả hai lý do này làm cho CDR có chiều hướng đi lên sau năm 1999. HÌNH 3.2: TỶ SUẤT CHẾT THÔ, 1960 - 2009 Phần nghìn 50 40 30 20 10 0 1960 1970 1979 1989 1999 2009 Năm Nguồn: 1960, 1970: Viện Khoa học Lao động và Xã hội, “Dân số và phát triển ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Thế giới, 2004 1979: Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số Trung ương, “Dân số Việt Nam 1-10-1979”, Nhà máy in Tiến bộ, Hà Nội 1983 1989: Tổng điều tra dân số Việt Nam 1989, “chuyên khảo ước lượng mức độ sinh và chết cho các tỉnh và nhóm dân tộc Việt Nam”, Nhà xuất bản Thống kê – 1994, trang 58. 36 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT
  45. 1999: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999, “chuyên khảo về hôn nhân, sinh đẻ và tử vong ở Việt Nam: mức độ, xu hướng và những khác biệt”, Nhà xuất bản Thống kê – 2001, trang 99. Cơ cấu tuổi của dân số ảnh hưởng khá lớn tới CDR. Trong cùng một điều kiện kinh tế - xã hội, dân số trẻ thường có mức chết thấp hơn so với dân số già. Theo kết quả toàn bộ, chỉ số già hóa (biểu thị bằng số người 60 tuổi trở lên trên 100 người dưới 15 tuổi) đang có xu hướng tăng lên từ 18,2 phần trăm vào năm 1989, lên 24,3% vào năm 1999 và cho đến Tổng điều tra 2009, con số này là 35,5 phần trăm. Theo dự báo dân số của Tổng cục Thống kê, con số này sẽ tiếp tục tăng lên đến 140,8 vào năm 2049. Rõ ràng dân số Việt Nam đang già hóa. Điều này là một trong những nguyên nhân góp phần làm tăng tỷ lệ chết. Ngoài ra trong một số năm gần đây, tai nạn giao thông gia tăng cùng với biến đổi khí hậu và môi trường ô nhiễm, tác động gây bệnh cao, cũng có thể là những nguyên nhân gây tử vong cao. 3.2.5 Sự thay đổi tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh Tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh (còn gọi là triển vọng sống trung bình khi sinh hay tuổi thọ trung bình, được ký hiệu là e0) là chỉ tiêu thống kê chủ yếu của Bảng sống, biểu thị triển vọng một người mới sinh có thể sống được bao nhiêu năm nếu như mô hình chết hiện tại được tiếp tục duy trì. Tuổi thọ trung bình được sử dụng rộng rãi trong phân tích dân số, phản ánh mức độ chết của dân số không bị tác động của cơ cấu dân số theo độ tuổi.21 Song, tuổi thọ trung bình lại chịu ảnh hưởng bởi mức độ chết ở tất cả các độ tuổi, đặc biệt là tuổi sơ sinh và trẻ em. Vì vậy, chỉ tiêu này được sử dụng để so sánh mức độ chết giữa các thời kỳ, giữa các vùng, các nước. Ngoài ra, một công dụng không kém quan trọng của tuổi thọ trung bình là nó thường được sử dụng trong dự báo dân số và là một thành tố để tính chỉ số phát triển con người. BIỂU 3.2: TUỔI THỌ TRUNG BÌNH TÍNH TỪ LÚC SINH CHIA THEO GIỚI TÍNH, 1989-2009 Đơn vị tính: Năm Năm Nam Nữ Sự khác biệt (nam - nữ) 1989 63,0 67,5 4,5 1999 66,5 70,1 4,6 2009 70,2 75,6 5,4 Nguồn: 1989: Tổng điều tra dân số Việt Nam 1989, “chuyên khảo ước lượng mức độ sinh và chết cho các tỉnh và nhóm dân tộc Việt Nam”, Nhà xuất bản Thống kê – 1994, trang 58. 1999: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999, “chuyên khảo về hôn nhân, sinh đẻ và tử vong ở Việt Nam: mức độ, xu hướng và những khác biệt”, Nhà xuất bản Thống kê – 2001, trang 103. 21 Các ký hiệu trong bảng sống (Biểu 7 - Phần Biểu tổng hợp): Lx: số năm-người đang sống trong độ tuổi x; lx: số người sống đến độ tuổi x; dx: số người chết trong khoảng tuổi (x, x+1); qx: xác suất chết trong khoảng tuổi (x, x+1); px: xác suất sống trong khoảng tuổi (x, x+1); mx: tỷ suất chết của bảng sống; Tx: tổng số năm những người đã đạt tuổi x còn sống được; ex: tuổi thọ trung bình. MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT 37
  46. Biểu 3.2 trình bày tuổi thọ trung bình cho nam và nữ trong giai đoạn 1989-2009. Số liệu trong biểu này cho thấy, tuổi thọ của nam và nữ tăng liên tục trong hai thập kỷ qua và con số đó của nữ cao hơn của nam. Vào năm 1989, e0 của nam và nữ tương ứng là 63,0 và 67,5 năm. Tuổi thọ trung bình tăng và đạt 66,5 đối với nam và 70,1 đối với nữ vào Tổng điều tra 1999. Trong giai đoạn 1989-1999, tuổi thọ trung bình của nam tăng nhanh hơn so với của nữ (3,5 năm so với 2,6 năm). Tuy nhiên đến giai đoạn 1999-2009, tuổi thọ trung bình của nữ tăng nhanh hơn so với của nam (5,5 năm so với 3,7 năm). Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, Việt Nam đã tương đối thành công trong việc giảm tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi và tăng tuổi thọ bình quân trong 20 năm qua. So với một số nước có trình độ phát triển khá ở khu vực ASEAN (trừ Inđônêxia) thì Việt Nam là nước có tuổi thọ bình quân tăng nhanh nhất (xem Hình 3.3). HÌNH 3.3: TUỔI THỌ TRUNG BÌNH TÍNH TỪ LÚC SINH CỦA MỘT SỐ NƯỚC ASEAN, 1989-2009 80 76 75 73 73 73 73 71 71 71 70 68 68 70 67 65 65 62 60 55 Tuổi thọ trung bình 50 45 40 Bru-nây In-đô-nê-xi-a Ma-lay-xi-a Thái Lan Việt Nam 1989 1999 2009 Nguồn: United State of America. Census Bureau, International Data Base 3.3 Sự khác biệt mức tử vong theo lãnh thổ 3.3.1 Sự khác biệt theo các vùng kinh tế - xã hội Biểu 3.3 phản ánh một số chỉ tiêu về mức chết chia theo các vùng kinh tế - xã hội của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009. Trong sáu vùng kinh tế - xã hội, Tây Nguyên có CDR thấp nhất (6,1 người chết/1000 dân). Sau Tây Nguyên, Đông Nam Bộ là vùng có CDR thấp thứ hai của cả nước (6,3 người chết/1000 dân). Vùng có CDR cao nhất là Đồng bằng sông Hồng (7,2 người chết/1000 dân). Như đã đề cập ở trên, điều này chủ yếu là do dân số Tây Nguyên trẻ hơn so với các vùng khác và Đồng bằng sông Hồng có dân số già nhất. Cụ thể là, trong các vùng, Tây Nguyên cũng có tuổi trung vị (23,6 năm) và chỉ số già hóa (17,1 phần trăm) thấp nhất; còn các số đó của Đồng bằng sông Hồng cao nhất, tương ứng là 48,5 phần trăm và 29,6 năm. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có CDR tương đương với mức chung của cả nước. 38 MỨC SINH VÀ MỨC CHẾT Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT