Luận văn Xây dựng và phát triển nhân cách học sinh trung học phổ thông tỉnh Nam Định qua giảng dạy môn Giáo dục công dân hiện nay
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Xây dựng và phát triển nhân cách học sinh trung học phổ thông tỉnh Nam Định qua giảng dạy môn Giáo dục công dân hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
luan_van_xay_dung_va_phat_trien_nhan_cach_hoc_sinh_trung_hoc.pdf
Nội dung text: Luận văn Xây dựng và phát triển nhân cách học sinh trung học phổ thông tỉnh Nam Định qua giảng dạy môn Giáo dục công dân hiện nay
- LUẬN VĂN: Xây dựng và phát triển nhân cách học sinh trung học phổ thông tỉnh Nam định qua giảng dạy môn Giáo dục công dân hiện nay
- MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông Việt Nam hiện nay là từng bước hình thành và phát triển toàn diện nhân cách tốt đẹp cho thế hệ trẻ. Đó là những công dân tương lai, những người lao động mới phát triển toàn diện trên tất cả các mặt sao cho phù hợp với yêu cầu, điều kiện và hoàn cảnh của đất nước cũng như phù hợp với sự phát triển của thời đại. Luật giáo dục 2005 đã chỉ rõ:“ Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [Điều 27]. Trong bối cảnh hiện nay, khi thế giới đang có những biến đổi mạnh mẽ và sâu sắc, mọi mặt của đời sống xã hội đang trong quá trình quốc tế hóa, toàn cầu hóa, đã mang lại cho nước ta nhiều cơ hội lớn để phát triển cũng như những thành tựu to về kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, y tế Tạo tiền đề quan trọng đưa nước ta thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội và hòa nhập vào dòng chảy của thời đại. Bên cạnh đó, trong sâu thẳm của đời sống xã hội, chúng ta đang phải đối mặt trước những vấn đề mang tính báo động, đó là sự tha hóa về nhân cách, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ dân cư, đặc biệt là học sinh THPT; những tệ nạn xã hội đang ngày đêm hoành hoành, len lỏi phá hoại nếp sống văn minh, đạo lý truyền thống tốt đẹp ngàn đời của dân tộc. Đây là những vấn đề nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự sống còn của quốc gia, dân tộc trong quá trình hội nhập. Nhiệm vụ giáo dục tư tưởng, chính trị, kinh tế, đạo đức và pháp luật góp phần xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh THPT được thực hiện ở tất cả các môn học, thông qua các hình thức giáo dục trong nhà trường. Trong đó, môn GDCD là môn học cơ bản, trực tiếp giáo dục cho học sinh những tri thức nêu trên theo một hệ thống xác định và toàn diện.
- Thực tế hiện nay môn GDCD chưa được quan tâm đúng mức, nhiều giáo viên giảng dạy bộ môn còn đang đứng bên lề của nền giáo dục, đa số học sinh không thích học môn GDCD vì môn này không phải thi, cho rằng những kiến thức cơ bản về đạo đức, triết học, pháp luật, kinh tế, chính trị có thể học ngoài xã hội Nhiều học sinh ngồi trên ghế nhà trường chỉ trăn trở suy nghĩ về tương lai nghề nghiệp của mình, mà rất ít khi dành thời gian nhìn nhận xem mình là ai. Không ít học sinh THPT giỏi về tư duy nắm bắt tri thức các môn khoa học cơ bản nhưng yếu kém về phẩm chất đạo đức, nhân cách. Trong những năm qua, học sinh Nam Định luôn phát huy truyền thống hiếu học, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nam định đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, luôn là lá cờ đầu trong phong trào giáo dục của cả nước. Tuy nhiên, giáo dục cấp THPT vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém, bất cập. Bộc lộ rõ nhất là chất lượng giáo dục toàn diện, chất lượng giáo dục nhân cách cho học sinh THPT qua môn GDCD còn thấp. Thực trạng đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống của một bộ phận không nhỏ học sinh có những biểu hiện đáng lo ngại: nhận thức lệch chuẩn, mờ nhạt lý tưởng, lối sống thực dụng, đua đòi, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp. Nhiều học sinh đã sa ngã vào những tệ nạn xã hội, tiếp cận với những thông tin không lành mạnh, hư hỏng, bị xói mòn và băng hoại về tâm hồn và thể xác. Tình trạng vi phạm pháp luật, xuống cấp về đạo đức, nhân cách của lứa tuổi học trò đã và đang ngày càng tiếp diễn, là tiếng chuông báo động đối với sự tồn tại và phát triển của tỉnh nhà. Vì vậy, việc xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh THPT là một trong những vấn đề được đặt ra hết sức cấp thiết. Đây cũng là nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của GD&ĐT tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay. Với mong muốn góp một phần của mình vào việc nâng cao vị trí, vai trò, hiệu quả giáo dục nhân cách cho học sinh THPT ở Nam Định hiện nay, thông qua chất lượng giảng dạy và học tập bộ môn GDCD, tác giả chọn đề tài: “Xây dựng và phát triển nhân cách học sinh trung học phổ thông tỉnh Nam định qua giảng dạy môn Giáo dục công dân hiện nay”, làm đề tài luận văn thạc sỹ triết học, chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Thông qua giảng dạy môn GDCD để hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh THPT là một nội dung rất quan trọng trong chiến lược giáo dục - đào tạo con người
- của Đảng. Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục nhân cách dưới những góc độ khác nhau, có giá trị rất lớn về mặt lý luận và thực tiễn. Cụ thể là: Sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), đề tài mang mã số NN7: “ Cải tiến công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống cho học sinh, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân ” do Phạm Tất Dong làm chủ nhiệm. Đề tài nghiên cứu về nhân cách nói chung, về giáo dục đạo đức, chính trị và tư tưởng trong các trường từ tiểu học đến đại học những năm đầu của thập kỷ 90. Các đề tài do Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm mang mã số: KX - 07.01. “Phương pháp luận nghiên cứu con người” (1991 -1995); KHXH- 04. “Phát triển toàn diện con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (1996 - 2000); KH – 05.07. “Xây dựng con người Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường” (2001 - 2005). Tác giả đã nghiên cứu về con người với tư cách là mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội; nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc nhân cách, thực hiện giáo dục đạo đức trong quá trình phát triển nhân cách, xem đó như mục tiêu quan trọng nhất của việc thực hiện chất lượng giáo dục. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Trọng Phúc ( 2003), “ Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách đã phân tích những biến động trong lĩnh vực đạo đức, lý giải vai trò của đạo đức, khẳng định yêu cầu đẩy mạnh công tác giáo dục, xây dựng nền đạo đức mới ở nước ta hiện nay Huỳnh Khái Vinh ( 2001), “Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách đề cập những vấn đề cơ bản của lối sống, đạo đức với phát triển văn hóa và con người, quan điểm và giải pháp xây dựng lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội “Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ 21, kinh nghiệm của các quốc gia”, (2002), của viện Nghiên cứu phát triển giáo dục, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Đây là tập hợp những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học có liên quan đến lĩnh vực chiến lược phát triển giáo dục nước ta giai đoạn hiện nay.Trong đó đáng chú ý có nhà nghiên cứu Hà Thế Ngữ đã đi sâu nghiên cứu vấn đề tổ chức quá trình giáo dục đạo đức thông qua giảng dạy các môn khoa học, đặc biệt là các môn khoa học xã hội và nhân văn. Ngoài ra
- tác giả còn đề cập đến việc rèn luyện phương pháp tư duy khoa học, trên cơ sở đó giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức, hướng dẫn thực hiện các hành vi đạo đức cho học sinh. Phạm Hoàng Gia nghiên cứu mối quan hệ giữa giáo dục nhận thức khoa học với giáo dục đạo đức, những biểu hiện nhân cách trong lối sống và đưa ra dự báo mô hình nhân cách thanh niên năm 2000. Đào Thị Oanh (2007), “Vấn đề nhân cách trong tâm lí học ngày nay”, Nxb Giáo dục, Hà Nội. Cuốn sách tổng hợp và khái quát lí luận tâm lí học về nhân cách, đề xuất các giải pháp về hình thành, phát triển nhân cách trong công tác giáo dục thế hệ trẻ Ngoài ra còn có một số luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ khác nghiên cứu đến vấn đề đạo đức, nhân cách học sinh, sinh viên như: Luận án tiến sỹ triết học của Trần Sỹ Phán (1999), nghiên cứu về: “Giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam giai đoạn hiện nay”. Luận án tiến sỹ triết học chuyên ngành CNXHKH của Đỗ Tuyết Bảo (2001) với vấn đề: “Giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh ở nước ta hiện nay”. Luận án tiến sỹ triết học chuyên ngành CNXHKH của Nguyễn Sỹ Quyết Tâm (2008) nghiên cứu về: “Giáo dục tinh thần yêu nước Xã hội chủ nghĩa cho học sinh THPT ở miền Đông Nam Bộ hiện nay”. Luận án thạc sỹ triết học chuyên ngành CNXHKH của Nguyễn Sỹ Quyết Tâm (2003) nghiên cứu về: “Giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa qua môn giáo dục công dân cho học sinh trung học phổ thông ở Bà Rịa – Vũng Tàu hiện nay” Tôi đã kế thừa trực tiếp những thành quả nghiên cứu khoa học nêu trên, dựa vào những gợi mở của các tác giả đi trước về lý luận và phương pháp để triển khai công trình của mình. Tuy đã có nhiều công trình của các nhà khoa học nghiên cứu về con người, giáo dục đạo đức, phát triển nhân cách. Nhưng đến nay vẫn chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu trực tiếp về: “Xây dựng và phát triển nhân cách học sinh trung học phổ thông tỉnh Nam định qua giảng dạy môn Giáo dục công dân hiện nay”. Vì vậy, đề tài của tôi không trùng lặp với các công trình đã được công bố. Những tài liệu nêu trên giúp ích cho tôi trong việc tham khảo để nghiên cứu đề tài, viết luận văn thạc sỹ.
- 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích Trên cơ sở làm rõ tầm quan trọng của vấn đề nhân cách, vai trò của môn GDCD và thực trạng xây dựng và phát triển nhân cách học sinh THPT ở tỉnh Nam Định qua giảng dạy môn GDCD, từ đó đề xuất những định hướng, giải pháp xây dựng và phát triển nhân cách tốt đẹp cho học sinh THPT tỉnh Nam Định, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH. 3.2. Nhiệm vụ - Phân tích vấn đề nhân cách và vai trò của môn GDCD trong xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh THPT. - Phân tích tình hình xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh THPT tỉnh Nam Định qua giảng dạy môn học GDCD, nêu những nguyên nhân ảnh hưởng, bài học kinh nghiệm và những vấn đề đang đặt ra. - Đề xuất những định hướng và giải pháp xây dựng, phát triển nhân cách cho học sinh THPT ở Nam Định qua môn GDCD. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh THPT tỉnh Nam Định qua môn GDCD. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Địa bàn nghiên cứu là một số trường THPT điển hình ở tỉnh Nam Định. Thời gian nghiên cứu từ năm 1997 – khi Nam Định được tái lập tỉnh và bắt đầu triển khai thực hiện Nghị quyết BCH TW khoá VIII về GD & ĐT. 5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn 5.1. Cơ sở lý luận, thực tiễn - Cơ sở lý luận của luận văn là những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là những quan điểm của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới liên quan đến giáo dục nhân cách, định hướng giá trị cho thế hệ trẻ.
- - Cơ sở thực tiễn của luận văn là thực trạng sự băng hoại về đạo đức, lối sống, xói mòn về nhân cách, phai nhạt về những chuẩn mực đạo đức và thực tiễn công tác giảng dạy môn GDCD cho học sinh THPT ở tỉnh Nam Định những năm vừa qua. 5.2. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu - Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cở sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. - Phương pháp cụ thể: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp logic và lịch sử, phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê xã hội học 6. Những đóng góp mới của luận văn Làm rõ hơn tầm quan trọng của việc xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh THPT từ hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu dưới góc độ chính trị - xã hội. Đánh giá tình hình xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh THPT tỉnh Nam Định qua giảng dạy môn GDCD hiện nay. Từ đó đã đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh THPT ở tỉnh Nam định qua môn GDCD. 7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Góp phần vào việc nhận thức đầy đủ hơn vai trò của môn GDCD đối với quá trình xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh THPT. Kết quả nghiên cứu của tác giả có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy môn GDCD trong trường THPT, công tác chỉ đạo của các cán bộ quản lý giáo dục ở nước ta nói chung và ở tỉnh Nam định nói riêng. 8. Kết cấu của luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, phụ lục, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
- Chương 1 NHÂN CÁCH VÀ VAI TRÒ CỦA MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1. NHÂN CÁCH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Vấn đề nhân cách và xây dựng, phát triển nhân cách cho học sinh THPT là vấn đề trung tâm của hệ thống khoa học giáo dục về con người, nó vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn lớn lao đối với sự tồn tại và hưng thịnh của mỗi quốc gia, dân tộc trong quá trình hoà mình vào dòng chảy của thời đại hôm nay và mai sau. Xuyên suốt chiều dài của lịch sử tư tưởng nhân loại đã có rất nhiều khoa học tiếp cận nghiên cứu về nhân cách và những vấn đề có liên quan đến nó ở nhiều góc độ khác nhau như: triết học, giáo dục học, xã hội học, đạo đức học, tâm lý học .Tuy nhiên, triết học là một bộ môn khoa học giải đáp rõ nét, cơ bản nhất bản chất xã hội của con người và những vấn đề chung về nhân cách con người. Đây là cơ sở lý luận vô cùng quan trọng, cung cấp cho các nhà giáo dục những hiểu biết khoa học trong quá trình nghiên cứu, xây dựng phát triển nhân cách cho học sinh THPT. 1.1.1. Khái niệm con người, cá nhân, nhân cách 1.1.1.1. Con người và bản chất con người Ngay từ khởi đầu Triết học đã chú ý và coi con người là đối tượng nghiên cứu. Vào đầu thế kỷ thứ V - thứ VI sau CN, nhà triết học Bôêtut (480-525, La Mã) đã đưa ra một định nghĩa khá hoàn chỉnh về con người. Theo ông: Con người là một bản thể cá thể của bản chất lý trí, như là một cá thể; nó là vật chất, từ đó tạo nên nguyên tắc cá thể hoá. Tâm hồn không phải là con người, mà chỉ là một cái gì đó được tạo lập nên. Chỉ một mình
- người là một trong tồn tại người vật chất; người là tồn tại vật chất cao nhất, tạo nên các phẩm chất đặc biệt là nhân phẩm và các quyền. Quan điểm duy tâm, siêu hình đã quy đặc trưng, bản chất con người vào lĩnh vực ý thức, tư tưởng, tình cảm, đạo đức. Xem bản chất con người là cái gì đó dược quy định sẵn từ tự nhiên, là những nhu cầu thuộc về sự duy trì thể xác và dục vọng để phát triển giống nòi. Do đó, giải thích bản chất con người từ góc độ những điểm chung của mọi sinh vật trên trái đất. Hoặc lại tìm kiếm bản chất con người trong khuôn khổ cá nhân riêng lẻ, nghĩa là con người bị tách khỏi mối quan hệ xã hội hiện thực của nó. Tính chất siêu hình của các quan điểm trên về bản chất con người biểu hiện ở chỗ: coi bản chất con người là cái vốn có, trừu tượng và quy nó về bản tính tự nhiên, tách khỏi xã hội và trở nên bất biến. Với quan điểm duy vật triệt để và phương pháp biện chứng C.Mác và Ph.Ăngghen đã tạo nên một bước ngoặt quan trọng trong việc nhận thức con người và bản chất con người. Các ông xem xét, phân tích con người xuất phát từ con người hiện thực, con người thực tiễn và chỉ rõ: thông qua hoạt động thực tiễn con người làm biến đổi đời sống xã hội, đồng thời cũng biến đổi chính bản thân mình. Điều đó nghĩa là con người tiếp nhận bản chất xã hội của mình thông qua hoạt động thực tiễn. Con người vừa là một thực thể tự nhiên vừa là một thực thể xã hội Đứng về mặt sinh học thì “Con người là một bộ phận của giới tự nhiên” ( , tr135), phát sinh trực tiếp từ động vật. Theo Ph.Ăngghen: “Bản thân cái sự kiện là con người từ loài động vật mà ra, cũng đã quyết định việc con người không bao giờ hoàn toàn thoát ly khỏi những đặc tính vốn có của con vật. Thành thử bao giờ cũng chỉ nói đến việc những đặc tính ấy có ảnh hưởng nhiều đến sự chênh lệch về mức độ thú tính và tính người mà thôi”. ( , tr146) Như hết thảy mọi sinh vật khác, con người sống dựa vào tự nhiên nhưng khác ở chỗ con người không chỉ dựa vào, mà còn cải tạo giới tự nhiên, tạo ra tự nhiên thứ hai xung quanh mình. Ph.Ăngghen chỉ ra bước chuyển từ vượn thành người là nhờ có lao động. Quá trình con người lao động cải tạo giới tự nhiên cũng là quá trình con người tạo ra con người. Theo Ph.Ăngghen: “Lao động sáng tạo ra con người là theo nghĩa đấy”.
- Thừa nhận ý nghĩa quyết định của mặt xã hội đối với việc hình thành bản chất con người. Song Chủ nghĩa Mác không coi nhẹ mặt tự nhiên, phủ nhận yếu tố sinh vật trong các yếu tố cấu thành bản chất con người. Theo Mác: “giới tự nhiên là thân thể của con người”. Con người gắn liền với giới tự nhiên vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên. Mỗi người sinh ra trước hết là một thực thể tự nhiên, một sản phẩm của thiên nhiên, một bộ phận của vũ trụ và chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên phức tạp. C.Mác vạch ra sự khác nhau giữa con người và con vật: Con vật hoạt động theo bản năng còn con người hoạt động theo ý thức. Chính mặt xã hội của con người đã làm cho mặt sinh vật trong con người phát triển ở trình độ cao hơn những động vật khác. Con người sống, hoạt động không phải chỉ theo những bản năng di truyền, có sẵn như các động vật thông thường mà chủ yếu theo sự phát triển của văn hoá, của tiến bộ lịch sử - xã hội. Khi xã hội biến đổi thì mỗi con người cũng có sự thay đổi tương ứng. Sự phát triển của mỗi cá nhân là tiền đề cho sự phát triển của xã hội vì mỗi người đều sống trong xã hội nhất định, là sản phẩm của lịch sử - xã hội, sản phẩm của nền văn minh. Từ một con người tự nhiên phát triển thành một nhân cách, con người phải chịu hàng loạt những tác động, chi phối của những yếu tố chủ quan và khách quan, theo cả quy luật tự nhiên và quy luật xã hội. Sự phát triển của con người là sự trưởng thành cả về thể chất và tinh thần. Sự phát triển về thể chất là sự trưởng thành sinh học, cơ bắp, thần kinh và các cơ quan nội tạng theo quy luật tự nhiên. Sự phát triển về tinh thần là sự trưởng thành về tâm lý, ý thức theo quy luật tâm lý và quy luật xã hội trên cơ sở lĩnh hội nền văn minh nhân loại. Sự phát triển thể chất gắn liền với sự phát triển về tinh thần, theo quy luật phát triển tâm, sinh lý lứa tuổi, đó là sự biến đổi về số lượng, chất lượng và sự chuyển hoá chúng cho nhau; là bước phát triển nhảy vọt của từng cá nhân về năng lực và phẩm hạnh phù hợp với lịch sử xã hội và thời đại. Sự phát triển đó tạo nên nhân cách của con người, trong đó có nhân cách của học sinh THPT. Trong khi phê phán những quan điểm của Phơbách, xuất phát từ những cá thể cô lập để nhận thức bản chất con người. C.Mác đã đưa ra luận điểm nổi tiếng về bản chất con người: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng
- biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” ( ,11) Khi nói bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội cũng có nghĩa là tất cả các quan hệ xã hội đều góp phần hình thành bản chất con người, nhưng yếu tố có ý nghĩa quyết định nhất là quan hệ sản xuất. Bởi vì các quan hệ khác đều trực tiếp hoặc gián tiếp chịu sự quy định của quan hệ này. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một kiểu quan hệ sản xuất nhất định giữ vai trò chi phối và chính kiểu quan hệ sản xuất đó lại là cái xét đến cùng, tạo nên bản chất của con người trong giai đoạn lịch sử đó. Các quan hệ xã hội không phải chỉ xét ở quan hệ trong từng hình thái xã hội riêng biệt mà còn khái quát những quan hệ xã hội chung thể hiện qua từng chế độ, thời đại riêng biệt. Quan hệ xã hội vừa diễn ra theo chiều ngang đương đại, vừa theo chiều dọc lịch sử. Các quan hệ xã hội quy định bản chất con người bao gồm cả quan hệ xã hội hiện tại và quan hệ xã hội truyền thống, bởi vì trong lịch sử của mình con người bắt buộc phải kế thừa di sản của những thế hệ trước đó. Khi xem xét bản chất con người ta không được tách rời hiện tại và quá khứ vì trên lĩnh vực văn hóa tinh thần có những truyền thống thúc đẩy con người biết cố gắng vươn lên, nhưng cũng có những truyền thống “đè nặng lên những con người đang sống”. Bản chất một con người cụ thể là tổng hoà các quan hệ xã hội “vốn có” và quy định những đặc điểm cơ bản chi phối mọi hành vi của người đó. Còn tất cả những hành vi của người đó bộc lộ ra bên ngoài là những hiện tượng biểu hiện bản chất của họ. Sự thể hiện bản chất của con người không phải theo con đường thẳng trực tiếp, mà thường là gián tiếp, quanh co qua hàng loạt mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội, giữa kinh nghiệm và nhận thức khoa học, giữa lợi ích trước mắt và lâu dài; giữa bản năng sinh vật và hoạt động có ý thức, giữa di truyền tự nhiên và văn hoá xã hội. Như vậy, con người là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội; có sự thống nhất biện chứng giữa hai phương diện tự nhiên và xã hội. Sự tác động qua lại giữa hai mặt này trong con người tạo thành bản chất người. Bản chất con người không phải là trừu tượng mà là hiện thực, không phải là tự nhiên mà là lịch sử, không phải là cái vốn có trong mỗi cá thể riêng lẻ mà là tổng hoà của
- toàn bộ quan hệ xã hội. Đây là phát hiện có giá trị to lớn của Chủ nghĩa Mác về bản chất con người. Con người tồn tại qua những cá nhân người. Mỗi cá nhân người là một chỉnh thể gồm một hệ thống những nhân tố, bao hàm cả những đặc điểm cụ thể không lặp lại, khác biệt với những cá nhân khác về cơ chế, tâm lí, trình độ 1.1.1.2. Cá nhân * Cá thể người: Nói đến cá thể người là nói đến thành phần của loài người đã bứt khỏi loài vật, vừa chứa đựng thành tựu tiến hoá của thế giới vật chất, nhất là của thế giới sinh vật, tức là vẫn chịu sự chi phối của thế giới xung quanh , vừa thoát ra vòng cương toả của thế giới đó, tức là đứng ngoài sự chi phối của chúng. Nó vừa chịu tác động của các quy luật trong vũ trụ, vừa chịu tác động của các quy luật sinh vật, đồng thời bắt đầu chịu tác động của các quy luật xã hội. * Cá nhân: dùng để chỉ một con người cụ thể của một cộng đồng, thành viên của xã hội. Cá nhân là phương thức tồn tại của giống loài “người”, không có con người nói chung, loài người nói chung tồn tại cảm tính. Cá nhân là cá thể người riêng rẽ, là phần tử tạo thành cộng đồng xã hội, là một chỉnh thể toàn vẹn có nhân cách. Cá nhân được hình thành và phát triển chỉ trong quan hệ xã hội, nhưng xã hội thay đổi theo tiến trình lịch sử nên cá nhân là một hiện tượng có tính lịch sử. Mỗi thời kỳ lịch sử có một “kiểu xã hội của cá nhân” mang tính định hướng về thế giới quan, phương pháp luận cho hoạt động của con người trong thời kỳ lịch sử cụ thể đó. Cá nhân người là một thành viên của xã hội, là khách thể mang “ tổng hoà các quan hệ xã hội”. Nó không những chịu ảnh hưởng mà còn góp phần tạo ra những quan hệ xã hội. Sự phát triển của cá nhân người diễn ra theo quy luật xã hội - lịch sử, lịch sử - văn hóa, nghĩa là chịu sự tác động của giáo dục và môi trường xã hội. * Cá tính: dùng để chỉ cái đơn nhất, có một không hai, không lặp lại của cá nhân. Trong tác phẩm Bàn về tự do, Giôn S.Min (1806 – 1873, Anh) đã viết: “Mỗi một con người được phát triển và biến đổi bởi văn hoá riêng của anh ta – thì được gọi là người có
- cá tính”[ ,132]. Ông rất tán thưởng quan điểm phát triển người – coi trọng cá tính của con người. Ông viết: “Cá tính đồng nghĩa với phát triển”, và “Sự phát triển tự do của cá nhân là điều tối quan trọng cho an sinh”[ ,132 -146]. Trong Tuyên ngôn Đảng cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh đến cá tính con người và mong muốn mỗi cá nhân phải có tính độc lập, có cá tính. Theo Anhxtanh: Nhà trường phải phát triển ở cá thể các phẩm chất và năng lực có giá trị cho cuộc sống xã hội. Nhưng không có nghĩa là phá huỷ hay biến các cá nhân trở thành công cụ đơn thuần của cộng đồng, như những bầy ong, đàn bướm. Nếu một cộng đồng toàn những cá thể đồng loạt giống nhau, không có tính độc đáo cá nhân và mục đích cá nhân thì sẽ là một cộng đồng nghèo, không có khả năng phát triển. Nếu như cá nhân là khái niệm phân biệt sự khác nhau giữa cá thể với giống loài, sự khác biệt biểu hiện ra bên ngoài của cá nhân này với cá nhân khác thì nhân cách là khái niệm để chỉ sự khác biệt giữa những yếu tố bên trong riêng biệt với toàn bộ hoạt động sống của nó, của cá nhân này với cá nhân khác. 1.1.1.3. Nhân cách Đứng trên quan điểm mác xít, xuất phát từ nguyên tắc thừa nhận bản chất con người để nghiên cứu đã có rất nhiều lý thuyết khoa học về nhân cách. X.L.Rubinstein đã viết: Con người là nhân cách do nó xác định được quan hệ của mình với những nhân cách xung quanh một cách có ý thức. Theo A.V. Petrovxki nhân cách là chủ thể của nhận thức và cải tạo tích cực hiện thực. A.G. Covaliov xem nhân cách là một cá thể có ý thức, chiếm một vị trí nhất định trong xã hội và thực hiện một vai trò nào đó trong xã hội. E.V. Sorokhova nhấn mạnh: nhân cách là một con người với tư cách là một vật mang toàn bộ những thuộc tính và phẩm chất tâm lý quy định các hình thức hoạt động và hành vi có ý nghĩa xã hội. V.N. Miasaev thì chú trọng tới khía cạnh thái độ trong nhân cách, thái độ đối với người khác, với bản thân, với thế giới bên ngoài. Có nhiều định nghĩa khác nhau về nhân cách nhưng các tác giả đều nhấn mạnh đến tính xã hội của con người:
- Nhân cách là chủ thể trong các hoạt động, trong các mối quan hệ xã hội đa dạng. Nhân cách là tổ hợp những điều chỉnh với những tác động từ bên ngoài. Nhân cách là một con người cụ thể, là thành viên của một xã hội, một dân tộc, một quốc gia, của một thời đại lịch sử. Nhân cách có những đặc thù cá biệt và cũng có những nét tương đồng chung của dân tộc, thời đại vì nhân cách phản ánh trình độ phát triển của dân tộc, thời đại. Triết học Mác đã tiếp cận nhân cách như một quá trình mở rộng và đi sâu từ con người hiện thực, từ bản chất xã hội, quan hệ xã hội đến hệ thống các giá trị và chức năng xã hội của con người. Khái niệm nhân cách bao hàm phần xã hội, tâm lí của cá nhân với tư cách là thành viên của một xã hội nhất định, là chủ thể của các quan hệ người– người, của hoạt động có ý thức và giao lưu. Nhân cách là nội dung, trạng thái, tính chất, xu hướng bên trong riêng biệt của mỗi cá nhân. Đó là thế giới của cái “tôi” do tác động tổng hợp của các yếu tố cơ thể và xã hội riêng biệt tạo nên. Nhân cách chính là chất lượng xã hội của con người. Giá trị xã hội của nhân cách được tạo lập từ các phẩm chất và năng lực của con người, kết quả của giáo dục và tự giáo dục Mỗi cá nhân “dấn thân ”vào cuộc sống, tiếp thu và chuyển những giá trị văn hoá của xã hội vào bên trong mình, thực hiện quá trình so sánh, lọc bỏ, tự đánh giá, tự tạo nên thế giới riêng của mình. Đó là quá trình xã hội hoá cá nhân và cá nhân hóa xã hội. Với nhân cách riêng, mỗi cá nhân có khả năng tự ý thức về mình, làm chủ cuộc sống của mình, tự lựa chọn chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm hoạt động cụ thể trong xã hội. Mô hình nhân cách con người phát triển toàn diện bao gồm nhiều mặt, nhiều khía cạnh, song có thể khái quát thành ba mặt cơ bản: phẩm chất đạo đức, tri thức khoa học và năng lực nghề nghiệp, chuyên môn. Kết hợp ba nội dung giáo dục trên chính là hướng tới việc hình thành ba mặt cơ bản trong nhân cách con người phát triển toàn diện. Như vậy, nhân cách của con người là hệ thống các thái độ của mỗi người thể hiện ở mức độ phù hợp giữa thang giá trị và thước đo giá trị của người ấy với thang giá trị và
- thước đo giá trị của cộng đồng và xã hội; độ phù hợp càng cao thì nhân cách càng lớn. [, 138] Tóm lại, khi con người là đại diện của loài ta gọi là cá thể. Với tư cách là thành viên của xã hội ta gọi là cá nhân như là một thực thể độc lập và khi nó có đủ khả năng để trở thành chủ thể của hoạt động học tập, lao động, vui chơi thì con người trở thành nhân cách. Giáo sư –Viện sĩ Phạm Minh Hạc đã khái quát vấn đề này qua hình vẽ: Các khái niệm chỉ con người.( ,80) Con người Cá thể Cá nhân Nhân cách thể Quá Đại diện loài trình “bứt Thành viên xã hội khỏi ” Thế Chủ thể của hoạt động giới sinh vật Vũ Trụ 1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc xây dựng và phát triển nhân cách học sinh trung học phổ thông Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng (Nguyễn Như Ý - chủ biên): Xây dựng: Làm nên, gây dựng và vun đắp nên. Có thiện ý, nhằm vun đắp cho tốt đẹp hơn. Phát triển: Vận động, tiến triển theo chiều hướng tăng lên. Nhân cách: Tư cách và phẩm chất, đạo đức của con người. Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (http:// www bachkhoa) Nhân cách: bộ mặt tâm lí, tổ hợp thái độ riêng, thuộc tính riêng biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của cá nhân với tư cách là chủ thể của hoạt động, giao tiếp. Người ta sinh ra là người, nhưng nhân cách chỉ hình thành trong hoạt động, giao tiếp. Thực chất: đó là quá trình xã hội hoá cá nhân, tiếp thụ các giá trị văn hoá của gia
- đình, cộng đồng, xã hội và tăng dần (hay ngược lại) mức phù hợp giữa thang giá trị, thước đo giá trị, định hướng giá trị của bản thân và cộng đồng, xã hội. Nhân cách có tính chất xã hội, đồng thời cũng mang tính cá biệt với những kinh nghiệm, nếp suy nghĩ, tình cảm, hoài bão, niềm tin, định hướng giá trị, tính cách riêng tạo ra tính đa dạng của các cá nhân Khi bàn về vấn đề xây dựng và phát triển nhân cách có rất nhiều quan điểm khác nhau. Nhà triết học XôViết Smirnov đã khẳng định: Con người được sinh ra nhưng nhân cách thì phải được hình thành ( ,83). Nhân cách không có sẵn mà được hình thành và phát triển trong quá trình sống, giao tiếp, học tập, vui chơi, lao động Theo V.I.Lênin: cùng với dòng sữa mẹ, con người hấp thụ tâm lí, đạo đức của xã hội mà nó là thành viên. A.N.Lêonchiev – nhà tâm lí học Xô viết chỉ rõ: nhân cách cụ thể là nhân cách của con người sinh thành và phát triển theo con đường từ bên ngoài chuyển vào nội tâm, từ các quan hệ với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật, nền văn hoá xã hội do các thế hệ trước tạo ra, các quan hệ xã hội mà nó gắn bó. Việc xây dựng và phát triển nhân cách học sinh THPT là một diễn biến phức tạp, nó bị chi phối bởi những yếu tố chủ yếu sau : 1.1.2.1. Yếu tố sinh học Mỗi em học sinh ngay từ khi mới sinh ra đã kế thừa những phẩm chất sinh vật của các thế hệ cha ông mình, mang dấu ấn đặc trưng của nòi giống, đó gọi là hiện tượng di truyền. Di truyền học đã chứng minh rằng, các thế hệ con người có thể truyền lại cho nhau những đặc điểm về cấu tạo cơ thể, về các loại thần kinh, về chức năng hoạt động của chúng tạo thành sức sống tự nhiên của con người. Sức sống tự nhiên là những tiền đề vật chất có vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển nhân cách. Tư chất thông minh, gen di truyền có vai trò là “nhân tố gốc” tạo nên năng lực nhận thức, tư duy của mỗi học sinh. Nhờ yếu tố bẩm sinh di truyền mà sự tác động của các môi trường giáo dục gia đình, nhà trường, xã hội sẽ hình thành nên nhân cách, phẩm chất, lối sống tốt trong mỗi cá thể người.
- Mỗi một học sinh ít nhiều có một khả năng bẩm sinh nào đó, với những em đặc biệt có năng khiếu bẩm sinh biểu hiện dưới dạng tư chất, nếu giáo viên biết phát hiện và bồi dưỡng thì các em có thể trở thành nhân tài, trở thành chủ thể có ích cho đất nước. Tuy nhiên trong quá trình phát triển của con người, mặt xã hội với các thuộc tính phức tạp như: ý thức, thế giới quan, niềm tin đạo đức không có một chương trình di truyền nào cả. Hoàn cảnh sống, hoạt động, giao tiếp của cá nhân và giáo dục xã hội giữ vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đối với quá trình hình thành và phát triển các phẩm chất đó. Vì thế, nhà trường cần phải đánh giá đúng vai trò của yếu tố sinh học, thấy được vị trí quan trọng của nó nhưng cũng không nên tuyệt đối hoá mặt sinh học để tránh những sai lầm trong nhận thức cũng như trong tổ chức các hoạt động giáo dục. 1.1.2.2. Yếu tố môi trường Bên cạnh yếu tố sinh học, con người trong quá trình phát triển để trở thành nhân cách còn chịu tác động của môi trường sống. Môi trường là hệ thống phức tạp những hoàn cảnh bên ngoài, kể cả các điều kiện tự nhiên và xã hội, có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, hoạt động và phát triển nhân cách các em. Môi trường xã hội với thể chế chính trị, luật pháp, hệ tư tưởng, trình độ dân trí, truyền thống văn hoá dân tộc và các quan hệ xã hội khác ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển nhân cách của mỗi học sinh. Trình độ sản xuất, chế độ chính trị quy định chiều hướng và nội dung của nền giáo dục xã hội và cũng quy định cả chiều hướng phát triển của từng cá nhân. Các mối quan hệ xã hội ảnh hưởng theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực đến học sinh. Tuy nhiên, tính chất và mức độ ảnh hưởng của môi trường đối với mỗi cá nhân còn tuỳ thuộc vào quan điểm, xu hướng, năng lực của cá nhân. Tập thể, trong đó là những nhóm bạn bè, lớp học, Đoàn thanh niên cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng và phát triển nhân cách học sinh. Trong sinh hoạt tập thể, các em chọn lọc những gì phù hợp với sở trường, xu hướng, năng lực của mình để hoạt động. Đồng thời chịu những tác động có ý thức và không có ý thức từ bên ngoài mà lớn lên. Tập thể vừa là môi trường, vừa là phương tiện để giáo dục học sinh.
- Những nhóm bạn bè tự phát cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành nhân cách học sinh. Bạn tốt sẽ giúp đỡ các em học tập tốt hơn, bạn bè xấu làm các em dễ hư hỏng, đúng như câu châm ngôn mà cha ông ta đã từng dăn dạy: “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”. Vì thế mỗi học sinh rất cần phải: “Chọn bạn mà chơi”. 1.1.2.3. Yếu tố hoạt động Trong đời sống con ng ư thế nào thì nhân cách con người phát triển như thế ấy. Hoạt động tích cực là con đường để tiến thân, để thành đạt và là phương thức để mỗi người vươn tới lý tưởng và hạnh phúc cá nhân. Mỗi con người có thể nói là sản phẩm của chính bản thân mình. Hoạt động là phương thức tồn tại và cũng là con đường cơ bản để xây dựng và phát triển nhân cách. Nội dung, phương thức cũng như mục đích và ý thức của mỗi cá nhân trong hoạt động sẽ tạo nên và phát triển những nét tính cách riêng của từng học sinh như: tính tích cực, sáng tạo, ý chí và tình cảm Hoạt động của học sinh bao gồm: học tập, vui chơi, văn nghệ, thể dục thể thao, lao động và hoạt động tập thể Học sinh sẽ hình thành được các phẩm chất, tính cách, năng lực khi tham gia tích cực vào các loại hình hoạt động đa dạng trong xã hội, hiểu biết và tiếp thu các giá trị văn hóa của loài người. Hoạt động và giao lưu là hai mặt cơ bản, thống nhất trong cuộc sống con người. Tính đa dạng của hoạt động tạo nên tính đa dạng của giao lưu. Phương thức, mục đích giao lưu giúp cá nhân chiếm lĩnh được những giá trị đích thực của cuộc sống. Thông qua giao lưu các em tìm ra lẽ phải, chân lý, rút ra được kinh nghiệm sống, hình thành nên những nét tính cách điển hình. Như vậy, để xây dựng, phát triển nhân cách người công dân cho thanh niên học sinh và thực hiện được mục tiêu GDCD, giáo viên không thể chỉ dùng thuyết lý của mình mà phải thông qua các hoạt động và giao lưu của chính các em như (Thảo luận, đóng vai, điều tra thực tiễn, liên hệ và tự liên hệ, sưu tầm tài liệu, chơi trò chơi ). Quá trình dạy học môn GDCD cho học sinh THPT phải là quá trình tổ chức cho các em các hoạt động giao lưu với thầy, với bạn và những người khác để thông qua đó các em chủ động phát hiện và
- lĩnh hội nội dung bài giảng, hình thành kỹ năng sống, khắc phục được mâu thuẫn giữa nhận thức và hành vi của mình. 1.1.2.4. Yếu tố giáo dục Giáo dục với tư cách là một hoạt động đặc biệt giữ vai trò chủ đạo, có ảnh hưởng quyết định trong xây dựng và phát triển nhân cách mỗi cá nhân. Giáo dục cũng như sự tương tác giữa giáo dục và tự giáo dục in dấu ấn quan trọng lên trình độ phát triển người và nhân cách của con người, là con đường và phương thức chủ yếu tạo nên diện mạo nhân cách của con người Yếu tố đầu tiên trong việc hình thành nhân cách cho các em – những công dân tương lai là do sự giáo dục của gia đình những năm đầu của tuổi thơ. Đúng như nhà sư phạm nổi tiếng Xu khômlinxki đã nói: “Tổ quốc khởi đầu từ gia đình”. Gia đình là nơi sinh ra, là môi trường sống đầu tiên, là nơi chuyển giao các giá trị truyền thống, nuôi dưỡng và hình thành nhân cách ban đầu cho thế hệ trẻ. Gia đình đầm ấm, hạnh phúc luôn là nơi nương tựa vững chắc cả về vật chất và tinh thần cho mỗi em. Là môi trường tốt nhất cho sự hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân, là nơi trẻ rèn luyện để hình thành lối sống cao đẹp, sống có tình nghĩa, đạo lý. Cho dù xã hội có bắt nhịp phát triển với tốc độ như thế nào đi chăng nữa thì gia đình vẫn luôn giữ vai trò là hạt nhân, là viên đá tảng xây dựng nền móng xã hội. Mức sống, trình độ học vấn, thói quen, nếp sống của gia đình, mối quan hệ tình cảm của các thành viên, tính mẫu mực của người lớn và phương pháp giáo dục gia đình có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành nhân cách của các em. Có người đã nói: tổ ấm gia đình là một pháo đài vững chắc để mỗi cá nhân được an toàn trước những cám dỗ của xã hội và cũng chính là bệ phóng tốt nhất để cá nhân có thể hoà nhập vào xã hội và góp ích cho xã hội. Giáo dục gia đình được tiến hành trong cả cuộc đời một con người với nhiều nội dung và hình thức phong phú. Với đặc điểm chủ yếu là quan hệ tình yêu, pháp lý và huyết thống, giáo dục gia đình được xây dựng trên cơ sở tình cảm gia đình bền chặt, là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách cho mỗi học sinh. Trong các loại giáo dục: giáo dục gia đình, xã hội và nhà trường thì giáo dục nhà trường có vai trò quan trọng nhất.
- Nhà trường là cơ quan giáo dục chuyên nghiệp, có đội ngũ các nhà sư phạm được đào tạo, nội dung chương trình được chọn lọc, phương pháp giáo dục phù hợp với mọi lứa tuổi, có các phương tiện kỹ thuật phục vụ cho giáo dục. Mục đích giáo dục nhà trường phù hợp với xu thế phát triển xã hội và thời đại. Giáo dục nhà trường, bằng kiến thức và phương pháp khoa học, bằng tổ chức các hoạt động, giao lưu trong thực tiễn đã xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh. Qua đó tạo nên bộ mặt tâm lí cá nhân phù hợp với những tiêu chuẩn, giá trị xã hội và thời đại. Giáo dục xã hội là giáo dục của toàn xã hội, với thể chế chính trị, pháp luật, với truyền thống văn hóa, đạo đức được thực hiện qua hệ thống tổ chức nhà nước, qua bộ máy tuyên truyền thông tin đại chúng, qua dư luận xã hội, qua hoạt động giáo dục của các đoàn thể quần chúng góp phần quan trọng cho sự phát triển nhân cách. Ngoài ra sự tác động tích cực của nhà trường và các tổ chức đoàn thể là không thể thiếu trong đào tạo những công dân tương lai có nhân cách tốt, có ích cho gia đình và góp phần phát triển xã hội. Giáo dục còn bao gồm cả tự giáo dục, tự giáo dục là bước tiếp theo, nhưng quyết định kết quả của toàn bộ quá trình giáo dục. Tự giáo dục, tự tu dưỡng là hoạt động có ý thức, là giai đoạn phát triển cao của nhân cách. Như vậy giáo dục là yếu tố chủ đạo trong quá trình xây dựng và phát triển nhân cách. Một nền giáo dục mạnh, được tổ chức tốt, bằng các hình thức hoạt động và giao lưu phong phú, đa dạng, với những phương pháp tốt có thể làm cho học sinh đạt tới sự phát triển toàn diện phù hợp với sự phát triển của thời đại. Nhân cách người thầy giáo Trong nhà trường, thầy giáo là người trực tiếp thực hiện quan điểm giáo dục của Đảng, người quyết định “phương hướng của việc giảng dạy, “lực lượng cốt cán trong sự nghiệp giáo dục, văn hoá”. Sản phẩm lao động của người thầy giáo là nhân cách học sinh. Vì vậy lao động của người thầy giáo yêu cầu không được tạo ra thứ phẩm, phế phẩm như ở một số nghề khác. Có người đã nói: làm hỏng một đồ vàng ta có thể nấu lại, một viên ngọc quý ta có thể bỏ đi, làm hỏng một con người là một tội lớn, một lỗi lầm không thể chuộc lại được. Vàng, ngọc, kim cương đều quý nhưng không thể so sánh chúng với tâm hồn, nhân cách một con
- người. Sự phù hợp giữa yêu cầu khách quan của nghề dạy học với những phẩm chất tương ứng trong nhân cách của người thầy giáo sẽ tạo nên chất lượng cao của sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh THPT. K.D. Usinxki đã nhấn mạnh: Trong việc giáo dục, tất cả phải dựa vào nhân cách của người giáo dục, bởi vì sức mạnh của giáo dục chỉ bắt nguồn từ nhân cách con người mà có. Không một điều lệ, chương trình, không một cơ quan giáo dục nào dù có được tạo ra một cách khôn khéo như thế nào cũng không thể thay thế được nhân cách của con người trong sự nghiệp giáo dục. Không một sách giáo khoa, một lời khuyên răn nào, một hình phạt, một khen thưởng nào có thể thay thế ảnh hưởng cá nhân người thầy giáo đối với học sinh [ ,63]. Hoạt động chính của thầy giáo là tổ chức và điều khiển học sinh lĩnh hội, thông trải những kinh nghiệm, những tinh hoa mà loài người tích luỹ được và biến chúng trở thành những nét nhân cách của chính mình. Không ai trong xã hội, kể cả cha mẹ cũng không thể thay thế được vai trò và chức năng của người thầy giáo. Trong dạy học và giáo dục, thầy giáo dùng nhân cách của chính mình để tác động vào học sinh. Đó là phẩm chất chính trị, là thế giới quan khoa học, sự giác ngộ về lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ; là lòng yêu nghề, là trình độ học vấn, là sự thành thạo về nghề nghiệp; là lối sống và phẩm chất đạo đức; là năng lực giao tiếp sư phạm, năng lực cảm hoá học sinh, năng lực vạch dự án phát triển nhân cách học sinh Đúng như K.D.Usinxki khẳng định: không gì hiệu quả hơn là dùng nhân cách để giáo dục nhân cách. Tóm lại, sự phát triển của con người là toàn bộ sự phát triển, hoàn thiện về thể chất và tinh thần, nó bị chi phối bởi hàng loạt những yếu tố chủ quan và khách quan. Nhân cách con người là tổ hợp những phẩm chất tâm lí cá nhân. Việc xây dựng và phát triển nhân cách học sinh THPT được thực hiện dưới ảnh hưởng của hệ thống các quan hệ xã hội mà các em sống, hoạt động và giao lưu. 1.2. VAI TRÒ CỦA MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.2.1. Đặc điểm kiến thức môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông
- 1.2.1.1. Nội dung và cấu trúc chương trình môn Giáo dục công dân từ năm học 1990 -1991 đến năm học 2005 – 2006 Trong những năm đầu đổi mới, môn GDCD trong các trường THPT ở nước ta được gọi là môn chính trị, là “dạy học chính trị”, phục vụ cho việc định hướng chính trị tư tưởng trong nhà trường. Từ năm học 1990 – 1991 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định môn GDCD là một bộ môn khoa học xã hội trong nhà trường THPT. Môn GDCD đã được giảng dạy ở cả ba khối lớp 10, 11,12. Nhưng chỉ có lớp 10 là có sách giáo khoa, còn lớp 11 và 12 chỉ là “Tài liệu Giáo dục công dân”. * Lớp 10: 1 tiết/tuần. Bao gồm 14 bài, trong đó học sinh được học những vấn đề cơ bản của Triết học Mác – Lênin. Bảng 1.1: STT Tên bài Số tiết Bài 1 Bài mở đầu 1 tiết Bài 2 Tính vật chất của thế giới 3 tiết Bài 3 Sự phát triển của thế giới 3 tiết Bài 4 Sự tồn tại và phát triển của giới tự nhiên 2 tiết Bài 5 Sự tồn tại và phát triển của xã hội 3 tiết Bài 6 Vai trò của đấu tranh giai cấp đối với sự phát triển của xã hội 1 tiết Bài 7 Vai trò của quần chúng và cá nhân kiệt xuất đối với sự phát 1 tiết triển của xã hội Bài 8 Tự do và tất yếu 4 tiết Bài 9 Con đường nhận thức cái tất yếu 2 tiết Bài 10 Sự hình thành nhân cách 1 tiết Bài 11 Cá nhân và xã hội 1 tiết Bài 12 Lý tưởng nhân đạo 1 tiết Bài 13 Hướng đến nền văn minh và con người 1 tiết Bài 14 Bài tổng kết 2 tiết
- * Lớp 11: 1,5 tiết/tuần. Nội dung chương trình là những vấn đề lớn của thời đại, như: CNTB, CNXH; về đạo đức học, về truyền thống đạo đức dân tộc. Bao gồm 25 bài. Bảng 1.2: STT Tên bài Số tiết Bài 1 Tiến bộ xã hội 1 tiết Bài 2 Sản xuất hàng hoá và sự ra đời của Chủ nghĩa tư bản 2 tiết Bài 3 Nền sản xuất Tư bản chủ nghĩa và các quan hệ giai cấp trong 2 tiết xã hội tư bản Bài 4 Nhà nước tư bản và nền dân chủ tư sản 1 tiết Bài 5 Văn hoá tư sản và những tệ nạn xã hội trong xã hội Tư bản chủ 1 tiết nghĩa Bài 6 Chủ nghĩa đế quốc 1 tiết Bài 7 Chủ nghĩa tư bản sẽ bị thay thế bằng một xã hội tiến bộ hơn 2 tiết Bài 8 Sự ra đời của Chủ nghĩa xã hội 3 tiết Bài 9 Xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt 5 tiết Nam Bài 10 Những khó khăn và triển vọng của công cuộc đổi mới Xã hội 1 tiết chủ nghĩa Bài 11 Những vấn dề chung của nhân loại ngày nay 3 tiết Bài 12 Cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì độc lập dân tộc, dân 2 tiết chủ và tiến bộ xã hội Bài 13 Nghĩa vụ 1 tiết Bài 14 Lương tâm 1 tiết Bài 15 Nhân phẩm và danh dự 1 tiết Bài 16 Hạnh phúc 1 tiết Bài 17 Chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế 2 tiết Bài 18 Quan điểm và thái độ đúng đắn đối với lao động 2 tiết Bài 19 Chủ nghĩa tập thể Xã hội chủ nghĩa 1 tiết Bài 20 Chủ nghĩa nhân đạo Xã hội chủ nghĩa 2 tiết
- Bài 21 Tình bạn, tình đồng chí 1 tiết Bài 22 Tình yêu 1 tiết Bài 23 Tình cảm gia đình 1 tiết Bài 24 Một số nét về truyền thống đạo đức dân tộc 3 tiết Bài 25 Phấn đấu vì lý tưởng dân giàu nước mạnh theo con đường Xã 1 tiết hội chủ nghĩa * Lớp 12: 1,5 tiết/tuần. Học sinh được trang bị những tri thức về đường lối phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục của ĐCSVN và những vấn đề về Nhà nước, pháp luật ở Việt Nam. Bảng 1.3: STT Tên bài Số tiết Bài 1 Xây dựng đất nước theo con đường Xã hội chủ nghĩa 1 tiết Bài 2 Thực trạng kinh tế xã hội nước ta hiện nay và những mục tiêu 2 tiết phấn đấu trong những năm trước mắt Bài 3 Phương hướng xây dựng và phát triển kinh tế 5 tiết Bài 4 Xây dựng nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa ở nước ta 2 tiết Bài 5 Chính sách văn hoá, giáo dục và khoa học 3 tiết Bài 6 Một số chính sách xã hội 4 tiết Bài 7 Chính sách quốc phòng và an ninh 2 tiết Bài 8 Chính sách đối ngoại 1 tiết Bài 9 Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật 2 tiết Bài 10 Luật nhà nước và Hiến pháp 1992 2 tiết Bài 11 Luật dân sự và hợp đồng dân sự 2 tiết Bài 12 Luật lao động và hợp đồng lao động 2 tiết Bài 13 Pháp luật về thuế 1 tiết Bài 14 Luật hôn nhân và gia đình 2 tiết Bài 15 Luật hành chính và pháp lệnh xử phạt hành chính 2 tiết Bài 16 Luật hình sự và bộ luật hình sự 2 tiết Bài 17 Pháp luật tố tụng và luật tố tụng dân sự 2 tiết
- Bài 18 Luật tố tụng hình sự 2 tiết Bài 19 Pháp luật và khiếu nại tố cáo của công dân 2 tiết Bài 20 Nêu cao trách nhiệm công dân 1 tiết Nhìn chung, nội dung chương trình, sách giáo khoa, tài liệu môn học chưa thật sự ổn định. Có nhiều vấn đề bất cập, lạc hậu, mâu thuẫn với thực tiễn, rất khó đối với học sinh nên tính thuyết phục không cao. Từ đó, khiến các em không thấy rõ được tác dụng thiết thực của tri thức bộ môn trong nhận thức cũng như trong hành động. Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến quá trình xây dựng và phát triển nhân cách học sinh trong nhà trường THPT. 1.2.1.2. Nội dung và cấu trúc chương trình môn Giáo dục công dân từ- năm học 2006 - 2007 đến nay * Kế hoạch giảng dạy bộ môn Bảng 1.4: Lớp Số tiết/tuần Số tuần Tổng số tiết/năm 10 1 35 35 11 1 35 35 12 1 35 35 Cộng (toàn cấp) 105 105 Nguồn: Phân phối chương trình GDCD của Bộ Giáo dục và Đào tạo. * Thời lượng: Lớp 10: Học phần I & II Lớp 11: Học phần III & IV Lớp 12: Học phần V * Nội dung dạy học từng lớp - Lớp 10: 1tiết/ tuần x 35 tuần = 35 tiết Phần I - Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học . Phần II - Công dân với đạo đức
- Bảng 1.4: STT Tên bài Số tiết Bài 1 Thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng. 2 tiết Bài 2 Thế giới vật chất tồn tại khách quan. 2 tiết Bài 3 Sự vận động và phát triển của thế giới vật chất 1 tiết Bài 4 Nguồn gốc vận động , phát triển của sự vật và hiện tượng. 2 tiết Bài 5 Cách thức vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng. 1 tiết Bài 6 Khuynh hướng phát triển của sự vật và hiện tượng. 1 tiết Bài 7 Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức. 2 tiết Bài 8 Tồn tại xã hội và ý thức xã hội. 3 tiết Bài 9 Con người là chủ thể của lịch sử và là mục tiêu phát triển của xã hội. 2 tiết Bài 10 Quan niệm về đạo đức 1 tiết Bài 11 Một số phạm trù cơ bản của đạo đức học 2 tiết Bài 12 Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình. 2 tiết Bài 13 Công dân với cộng đồng 2 tiết Bài 14 Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 2 tiết Bài 15 Công dân với một số vấn đề cấp thiết của nhân loại. 1tiết Bài 16 Tự hoàn thiện bản thân. 1tiết - Lớp 11: 1 tiết/ tuần x 35 tuần = 35 tiết Phần III – Công dân với kinh tế Phần IV – Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội Bảng 1.5: STT Tên bài Số tiết Bài 1 Công dân với sự phát triển của kinh tế 2 tiết Bài 2 Hàng hoá - Tiền tệ - Thị trường 3 tiết Bài 3 Quy luật giá trị trong sản xuất và lưu thông hàng hoá 2 tiết
- Bài 4 Cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hoá 1tiết Bài 5 Cung - cầu trong sản xuất và lưu thông hàng hoá 1tiết Bài 6 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước 2 tiết Bài 7 Thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần và vai trò quản lý kinh tế 2 tiết của nhà nước Bài 8 Chủ nghĩa xã hội 2 tiết Bài 9 Nhà nước xã hội chủ nghĩa 3 tiết Bài 10 Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa 2 tiết Bài 11 Chính sách dân số và giải quyết việc làm 1tiết Bài 12 Chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường 1tiết Bài 13 Chính sách giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá 3 tiết Bài 14 Chính sách quốc phòng và an ninh 1tiết Bài 15 Chính sách đối ngoại 1tiết - Lớp 12: 1 tiết/ tuần x 35 tuần = 35 tiết Phần V – Công dân với pháp luật Bảng 1.6: STT Tên bài Số tiết Bài 1 Pháp luật và đời sống 3 tiết Bài 2 Thực hiện pháp luật 3tiết Bài 3 Công dân bình đẳng trước pháp luật 1tiết Bài 4 Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống 3 tiết xã hội Bài 5 Quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo. 2 tiết Bài 6 Công dân với các quyền tự do cơ bản 4 tiết Bài 7 Công dân với các quyền dân chủ 3 tiết Bài 8 Pháp luật với sự phát triển của công dân. 2 tiết Bài 9 Pháp luật với sự phát triển bền vững của đất nước 4 tiết Bài 10 Pháp luật với hoà bình và sự phát triển tiến bộ của nhân loại 2 tiết Nguồn: Tác giả tự thống kê.
- 1.2.1.3. Khái quát đặc điểm kiến thức môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông hiện nay Môn GDCD ở THPT là sự kế thừa, phát triển môn đạo đức ở tiểu học và môn GDCD ở THCS. Đây là môn học góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục ở THPT, nhằm hình thành cho học sinh lý tưởng sống đúng đắn, những phẩm chất và năng lực cơ bản của người công dân Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH đất nước, thời kỳ hội nhập và phát triển với các nước trong khu vực và trên thế giới. Kiến thức môn GDCD ở THPT được xây dựng dựa trên tri thức các môn khoa học như: Triết học, Đạo đức học, Luật học, Kinh tế - Chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học , dựa trên các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Môn GDCD là môn học có nội dung tri thức mang tính lí luận cao. Kiến thức bộ môn mang tính trừu tượng, khái quát hoá cao, biểu hiện thông qua các phạm trù, khái niệm, nguyên lý của Triết học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học. Kiến thức môn GDCD mang tính hệ thống, logic. Chương trình giáo dục công dân từ lớp 10 đến lớp 12 gồm 5 phần: Phần thứ nhất: Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học (17 tiết). Phần này gồm một số nội dung của triết học nhằm trang bị cho học sinh những cơ sở ban đầu về thế giới quan, phương pháp luận trong cuộc sống và là căn cứ lý luận cho các phần sau. Phần thứ hai: Công dân với đạo đức (11 tiết). Gồm một số giá trị đạo đức, tư tưởng, chính trị, lối sống của con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Thông qua kiến thức phần này giúp học sinh giải quyết hợp lý, có hiệu quả các mối quan hệ xã hội. Phần thứ ba: Công dân với kinh tế (14 tiết). Là những kiến thức cơ bản về phương hướng phát triển kinh tế xã hội, giúp học sinh xác định phương hướng học tập, lựa chọn ngành nghề hoặc các lĩnh vực khác khi ra trường Phần thứ tư: Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội (13 tiết). Giúp học sinh có những hiểu biết cơ bản về chính trị – xã hội. Từ đó các em có thể xác định được trách nhiệm công dân với công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
- Phần thứ năm: Công dân với pháp luật (27 tiết). Bao gồm những kiến thức cơ bản về bản chất, vai trò và vị trí của pháp luật. Qua đó giúp học sinh chủ động, tự giác điều chỉnh hành vi của cá nhân và đánh giá được hành vi của người khác trong cuộc sống. Đây là năm phần cơ bản tạo ra những hiểu biết cần thiết nhất về thế giới quan, phương pháp luận khoa học, các chuẩn mực đạo đức, pháp luật, thể chế chính trị, lĩnh vực kinh tế - xã hội, từ đó giúp học sinh THPT nâng cao ý thức, trách nhiệm công dân. Nội dung kiến thức môn GDCD phong phú, đa dạng, bao gồm nội dung của nhiều khoa học khác nhau như: triết học, kinh tế chính trị học, đạo đức học, chủ nghĩa xã hội khoa học, pháp luật Vì thế nó đòi hỏi giáo viên giảng dạy phải được trang bị đầy đủ kiến thức những môn khoa học đó. Đồng thời phải là người am hiểu khá nhiều các vấn đề kinh tế xã hội cũng như những kiến thức sâu rộng về tâm lí học lứa tuổi, có kinh nghiệm cuộc sống. Có như vậy giáo viên bới có thể thực hiện tốt mục tiêu dạy học: không chỉ trang bị những kiến thức lý luận mà qua trọng hơn là mục tiêu giáo dục công dân nhằm xây dựng và phát triển nhân cách tốt đẹp cho học sinh THPT. Kiến thức môn giáo dục công dân mang tính chính xác. Những khái niệm, phạm trù, các chuẩn mực đạo đức, pháp luật, những quan điểm chính trị phải đảm bảo sự đúng đắn, chính xác đối với cả người dạy và người học. Kiến thức môn giáo dục công dân mang tính thời sự cao hơn so với các môn học khác. Các sự kiện lớn về chính trị, kinh tế, đạo đức, văn hoá, luật pháp mặc dù không được thể hiện trong sách giáo khoa nhưng tự nó đã gắn bó mật thiết với thực tiễn đời sống xã hội. Do đó trong quá trình dạy học, nhất thiết giáo viên phải luôn luôn cập nhật thông tin và đưa vào nội dung bài giảng. Như vậy, trong xu hướng cải cách giáo dục việc đổi mới chương chình và sách giáo khoa mới, nâng cao chất lượng kiến thức về GDCD đã được thực hiện, vừa kế thừa một phần chương trình và sách giáo khoa cũ, vừa đổi mới ở một mức độ phù hợp, khoa học hơn. Công việc này đã và đang tạo ra những hiệu ứng xã hội tích cực cho diện mạo và đặc trưng của nền giáo dục, cho chiều hướng phát triển và thực hiện mục tiêu giáo dục. Ngoài ra môn GDCD còn tích hợp nhiều kiến thức giáo dục xã hội cần thiết khác như: giáo dục kĩ năng sống, giáo dục văn hoá hoà bình, giáo dục môi trường, giáo dục giới
- tính - sức khoẻ sinh sản vị thành niên, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục phòng chống ma tuý, phòng tránh HIV/AIDS Hiện nay môn GDCD là một trong những môn học có chương trình đảm bảo cân đối, hài hoà giữa yêu cầu trang bị kiến thức với việc rèn luyện kĩ năng và phát triển thái độ tích cực cho học sinh. Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng tạo ra sức sống và những giá trị bền vững trong giáo dục nói chung, trong xây dựng và phát triển nhân cách cho những công dân tương lai của đất nước hôm nay và mai sau. 1.2.2. Đặc điểm tâm - sinh lý học sinh trung học phổ thông Thế giới đang bước vào một kỷ nguyên mới của kỹ thuật, thông tin và công nghệ. Các quốc gia, các dân tộc hôm nay phải tự lựa chọn con đường đi lên của mình trong xu thế vừa đấu tranh, vừa hợp tác với nhau, vừa nhằm giải quyết những vấn đề của bản thân mình, vừa góp sức cùng toàn nhân loại giải quyết những vấn đề toàn cầu: chiến tranh và hoà bình, dân số, sức khoẻ, môi trường Những vấn đề to lớn đó đang đặt lên vai thế hệ trẻ nói chung, học sinh THPT nói riêng, lên sự nghiệp giáo dục đào tạo họ. Theo điều 4, điều 23 của Luật giáo dục 2005 và điều 26 trong những điểm mới của Luật Giáo dục 2005 ở nước ta: Giáo dục THPT được thực hiện trong ba năm học, từ lớp mười đến lớp mười hai. Học sinh vào học lớp mười phải có bằng tốt nghiệp THCS, có tuổi là mười lăm. Điều lệ trường trung học ở nước ta cũng quy định rõ tuổi của học sinh THPT là 15 – 19. Học sinh THPT có độ tuổi là 15 - 19 tuổi. Với độ tuổi này học sinh THPT thuộc giai đoạn đầu của tuổi thanh niên(còn gọi là thanh niên mới lớn, thanh niên học sinh) và là giai đoạn cuối của tuổi dậy thì. Đây là lứa tuổi chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn; đó là lứa tuổi nở rộ sức mạnh thể chất, tinh thần và trí tuệ; lứa tuổi với những hoạt động đặc trưng để hình thành nhân cách và phẩm chất của một công dân, hình thành thế giới quan và lý tưởng; là lứa tuổi luôn luôn tự tìm hiểu bản thân mình và tìm hiểu người khác; lứa tuổi tự khẳng định và tìm cách xác định vị trí, vai trò của mình trong xã hội. Về tâm sinh lý học sinh THPT có thể khái quát trên những đặc điểm sau: Một là, đặc điểm cơ thể
- Lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi đang dần dần hoàn chỉnh về mặt thể chất. Nhờ điều kiện kinh tế xã hội phát triển, cuộc sống ngày càng được nâng cao hơn trước nên học sinh THPT có sự phát triển tốt hơn về chiều cao, trọng lượng, thể trạng. Thế nhưng sự phát triển về cơ thể các em vẫn kém hơn so với sự phát triển cơ thể của người lớn. Bước vào giai đoạn này nhịp độ tăng trưởng chiều cao và trọng lượng của các em đã chậm lại. Các em gái đạt được sự tăng trưởng của mình trung bình vào khoảng 16,17 tuổi; các em trai khoảng 17, 18 tuổi. Có thể nói đây là lứa tuổi các em có cơ thể phát triển cân đối, đẹp và khỏe mạnh. Trọng lượng cơ thể nói chung phát triển nhanh, trọng lượng của các em trai đã đuổi kịp các em gái và tiếp tục vươn lên. Các tố chất thể lực như sức mạnh, sức bền, sự dẻo dai được tăng cường. Cơ bắp, sức lực các em trong giai đoạn này phát triển mạnh, dễ đạt được những thành tích trong thể thao. Đây là lứa tuổi bắt đầu có sự trưởng thành về giới tính, là giai đoạn của những nam thanh, nữ tú. Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển. Bộ não, hệ thần kinh các em phát triển và khỏe mạnh, tạo cơ sở cho các em tiếp thu, xử lý một khối lượng lớn tri thức trong quá trình học tập. Hai là, đặc điểm về hoạt động học tập Nội dung và tính chất của hoạt động học tập ở học sinh THPT khác rất nhiều so với học sinh THCS. Sự khác nhau cơ bản đó là nội dung học tập của các em ngày một sâu hơn, tính năng động và tính độc lập ở mức cao hơn, sự phát triển về tư duy lý luận cũng sâu sắc hơn, thái độ học tập có ý thức của các em ngày càng phát triển. Đặc biệt, thái độ của học sinh THPT đối với các môn học đã có sự lựa chọn rõ dệt. Các em đã hình thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp. Cuối cấp học các em đã xác định được cho mình một hứng thú ổn định đối với một lĩnh vực tri thức nhất định, liên quan đến một nghề nghiệp nào đó trong tương lai. Nhận thức của các em mang tính rộng rãi, sâu sắc và bền vững hơn học sinh THCS.
- Nhưng thái độ học tập ở không ít em có nhược điểm là, một mặt các em rất tích cực học một số môn mà các em cho là quan trọng đối với nghề mình đã chọn, mặt khác các em lại sao nhãng các môn học khác, chỉ học để đạt điểm trung bình. Giáo viên phải có thái độ lắng nghe, khuyến khích động viên, cần làm cho các em học sinh đó hiểu được ý nghĩa và chức năng của giáo dục phổ thông đối với mỗi môn học trong nhà trường. Tóm lại, thái độ học tập có ý thức là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển tính chủ định của các quá trình nhận thức và năng lực điều khiển bản thân của học sinh THPT trong hoạt động học tập. Ba là, đặc điểm về nhận thức, trí tuệ Đối với học sinh THPT, tri giác có mục đích đã đạt tới mức rất cao. Quan sát ở các em trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn. Quá trình quan sát đã chịu sự điều khiển của hệ thống tín hiệu thứ hai nhiều hơn và không tách khỏi tư duy ngôn ngữ. Tuy nhiên, quan sát của các em sẽ khó đạt được hiệu quả nếu thiếu sự chỉ đạo của giáo viên. Giáo viên cần quan tâm để hướng sự quan sát của các em vào một nhiệm vụ nhất định, không vội vàng kết luận khi chưa đầy đủ các sự kiện. Với học sinh THPT, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt. Đặc biệt các em đã tạo được tâm thế phân hoá trong ghi nhớ, nhưng một số em vẫn còn ghi nhớ một cách đại khái, chung chung. Hoạt động tư duy của học sinh THPT có nhiều thay đổi quan trọng do cấu trúc của não phức tạp và chức năng của não phát triển; do sự phát triển của quá trình nhận thức nói chung, do ảnh hưởng của hoạt động học tập. Các em có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo. Tư duy của các em chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn học sinh THCS. Đồng thời tính phê phán của tư duy cũng phát triển Những đặc điểm đó tạo điều kiện cho các em phân tích được những nội dung cơ bản của khái niệm trừu tượng và nắm được mối quan hệ nhân quả trong tự nhiên và trong xã hội Đây là cơ sở quan trọng hình thành thế giới quan. Tuy vậy hiện nay số học sinh THPT đạt tới mức tư duy đặc trưng cho lứa tuổi như trên còn chưa nhiều. Nhiều khi các em chưa chú ý phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ
- của bản thân .Vì vậy, việc giúp các em phát triển khả năng nhận thức, trí tuệ là một nhiệm vụ quan trọng của giáo viên. Bốn là, sự phát triển của tự ý thức Đây là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của học sinh THPT, nó có ý nghĩa to lớn trong sự phát triển tâm lý của lứa tuổi các em. Nội dung của tự ý thức: là một quá trình lâu dài, phong phú, trải qua nhiều mức độ khác nhau và rất phức tạp. Các em luôn quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, phẩm chất nhân cách cũng như năng lực riêng của mình. Các em không chỉ nhận thức về cái tôi của mình trong hiện tại như học sinh THCS, mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội, trong tương lai. Học sinh THPT có khả năng đánh giá những cử chỉ, hành vi riêng lẻ, từng thuộc tính riêng biệt về nhân cách của mình. Các em có thể hiểu rõ bản thân thông qua những phẩm chất nhân cách như: lòng yêu lao động, tính cần cù, dũng cảm và những quan hệ nhiều mặt của nhân cách như: tinh thần trách nhiệm, lòng tự trọng, tình cảm nghĩa vụ Học sinh THPT không chỉ có nhu cầu đánh giá mà còn có khả năng đánh giá sâu sắc hơn học sinh THCS về những phẩm chất, mặt mạnh, mặt yếu của những người xung quanh và của chính mình. Các em thường dễ có xu hướng cường điệu trong khi tự đánh giá: hoặc là đánh giá thấp cái tích cực, tập trung phê phán cái tiêu cực; hoặc là đánh giá cao nhân cách của mình, tỏ ra tự kiêu tự đại, coi thường người khác. Nhiều khi các em có thể sai lầm khi tự đánh giá. Tuy nhiên, khả năng biết tự phân tích là dấu hiệu của một nhân cách đang trưởng thành và là tiền đề của sự tự giáo dục có mục đích. Do vậy, trong hoạt động dạy học và giáo dục giáo viên cần phải biết chia sẻ, phải có thái độ nghiêm túc, chân thành khi nghe các em phát biểu, tuyệt đối không được chế diễu ý kiến tự đánh giá đó, nhằm hình thành cho các em một biểu tượng khách quan về nhân cách của mình. Năm là, sự hình thành thế giới quan Lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi quyết định của sự hình thành thế giới quan - hệ thống quan điểm về tự nhiên, về xã hội, về các nguyên tắc và quy tắc cư xử Những điều kiện về mặt trí tuệ và xã hội để xây dựng một hệ thống quan điểm riêng trong giai đoạn này đã được hình thành (đặc biệt là sự phát triển của tư duy lý luận, tư duy
- trừu tượng). Suốt thời gian học tập ở THPT, học sinh đã lĩnh hội được những tâm thế, thói quen đạo đức nhất định, ý thức được cái đẹp, cái xấu, cái thiện, cái ác thông qua các tiêu chuẩn và nguyên tắc hành vi xác định. Thời kỳ này nhân cách đã được xây dựng và phát triển tương đối cao. Đã xuất hiện ở các em nhu cầu đưa những tiêu chuẩn, nguyên tắc hành vi đó vào một hệ thống hoàn chỉnh. Một khi đã có được hệ thống quan điểm riêng thì các em không chỉ hiểu về thế giới khách quan, mà còn đánh giá và xác định được thái độ của mình với thế giới nữa. Chỉ số đầu tiên của sự hình thành thế giới quan là sự phát triển của hứng thú nhận thức đối với những vấn đề thuộc nguyên tắc chung nhất của vũ trụ, những quy luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và của sự tồn tại xã hội loài người Các em cố gắng xây dựng quan điểm riêng trong lĩnh vực khoa học, đối với các vấn đề xã hội, tư tưởng, chính trị, đạo đức. Chính nội dung các môn học ở THPT, đặc biệt là môn GDCD giúp cho các em xây dựng được thế giới quan tích cực về mặt tự nhiên, xã hội. Học sinh THPT quan tâm nhiều nhất đến các vấn đề liên quan đến con người, vai trò của con người trong lịch sử, quan hệ giữa con người và xã hội, giữa quyền lợi và nghĩa vụ, nghĩa vụ và tình cảm Vấn đề ý nghĩa cuộc sống chiếm vị trí trung tâm trong suy nghĩ của các em. Vì vậy, việc định hướng giá trị trong hoạt động của cá nhân thông qua giáo dục cho học sinh hệ thống tri thức về đời sống có ý nghĩa hết sức quan trọng. Giúp các em xây dựng được hệ thống thế giới quan đầy đủ, tránh lối sống thụ động, ỷ nại, trông chờ vào người khác hoặc đánh giá quá cao cuộc sống hưởng thụ, sa đà vào những tệ nạn xã hội Sáu là, đặc điểm về giao tiếp, đời sống tình cảm và tâm lý Tuổi học sinh THPT là lứa tuổi mang tính chất tập thể nhất, các em rất coi trọng việc sinh hoạt với các bạn cùng lứa tuổi để khẳng định vị trí của mình trong nhóm. Trong các lớp học dần dần xảy ra một sự phân cực nhất định - xuất hiện những người được lòng nhất và những người ít được lòng nhất. Những em có vị trí thấp, ít được lòng các bạn thường băn khoăn, suy nghĩ nhiều về nhân cách của mình. Cùng với sự trưởng thành nhiều mặt, quan hệ dựa dẫm, phụ thuộc vào cha mẹ dần dần được thay thế bằng quan hệ bình đẳng, tự lập. Trong việc phát triển nhu cầu sở thích, học sinh hướng vào bạn bè nhiều hơn hướng vào cha mẹ. Nhưng khi bàn đến những giá trị
- sâu sắc hơn như chọn nghề, thế giới quan, những giá trị đạo đức thì cha mẹ và thầy cô giáo lại có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn rất nhiều. Sự mở rộng phạm vi giao tiếp và sự phức tạp hoá hoạt động riêng của học sinh THPT là do số lượng nhóm mà các em tham gia tăng lên. Việc tham gia vào nhiều nhóm sẽ dẫn đến những sự khác nhau nhất định và có thể xung đột về vai trò nếu cá nhân phải lựa chọn giữa các vai trò khác nhau ở các nhóm. Trong công tác giáo dục cần chú ý ảnh hưởng của nhóm, hội tự phát ngoài nhà trường. Nhà trường cần tổ chức phong phú, sinh động các hoạt động tập thể, đặc biệt là tổ chức đoàn, nhằm phát huy tính tích cực của các em. Đời sống tình cảm của học sinh THPT rất phong phú và nhiều vẻ. Nhu cầu về tình bạn tâm tình cá nhân tăng lên rõ rệt. Tình bạn sâu sắc đã được bắt đầu từ tuổi thiếu niên, nhưng sang tuổi này tình bạn của các em trở nên sâu sắc hơn nhiều. Các em có yêu cầu cao hơn đối với tình bạn (yêu cầu sự chân thật, lòng vị tha, tin tưởng, tôn trọng, hiểu biết và sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau ). Trong quan hệ với các bạn các em cũng nhạy cảm hơn, đó là khả năng xúc cảm và khả năng đáp ứng lại xúc cảm, đặc biệt là sự đồng cảm với người khác. Đối với học sinh THPT sự khác biệt giữa các cá nhân về quan niệm, sự thân tình trong tình bạn rất rõ rệt. Nguyên nhân kết bạn cũng rất phong phú ( có thể vì phẩm chất tốt ở bạn, vì tính tình tương phản, vì có hứng thú, sở thích chung ). Ngoài ra, phạm vi quan hệ bạn bè được mở rộng, nhu cầu về tình bạn khác giới được tăng cường. Đã xuất hiện sự lôi cuốn đầu tiên khá mạnh mẽ và nhu cầu về tình yêu nam nữ. Sự tác động giáo dục của nhà trường và gia đình về trạng thái tình cảm mới mẻ này của học sinh THPT là hết sức quan trọng và cần thiết, giúp định hướng đúng đắn cho hành vi nhân cách của các em. Đây là thời kỳ tâm lý của các em xảy ra những biến đổi và cũng là thời kỳ then chốt của sự phát triển tâm lý, chịu ảnh hưởng rất lớn của những điều kiện kinh tế - xã hội và môi trường sống. Học sinh THPT thuộc lứa tuổi giàu ý chí, khát vọng, tình cảm và cảm xúc; ham hiểu biết, hăng hái tham gia các hoạt động của Đoàn thanh niên và xã hội như âm nhạc, thời
- trang, hội họa, từ thiện ; có nhu cầu về tình bạn, tình yêu. Những đặc điểm này tác động tích cực tới việc xây dựng và phát triển nhân cách của học sinh, giúp các em làm phong phú thêm đời sống nội tâm và thu lượm được nhiều kinh nghiệm xã hội. Đây cũng là lứa tuổi có những hạn chế nhất định. Đó là tâm lý không thích nghe, không thích bàn luận đến các vấn đề chính trị, thời sự. Các em còn thiếu kinh nghiệm sống nên đời sống tâm lý dễ bị chi phối, dễ mơ hồ về chính trị, dễ bị kẻ xấu lợi dụng. Vì vậy giáo viên GDCD cần tạo cơ hội cho học sinh được chia sẻ, bày tỏ quan điểm, ý kiến cá nhân về vấn đề đang học, nêu những băn khoăn thắc mắc cho thầy, cho bạn. Bên cạnh đó, giáo viên cần khuyến khích học sinh tự liên hệ, điều tra, phân tích, đánh giá các sự kiện trong đời sống thực tiễn nhà trường, địa phương, đất nước. Như vậy, thanh niên nói chung, học sinh THPT nói riêng – đó là một lớp người trẻ tuổi trong dân cư, đang phát triển về nhân cách và có nhu cầu khẳng định mạnh mẽ về cá tính, là nguồn dự trữ cơ bản của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và tinh thần của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Nghiên cứu, xem xét đặc điểm tâm sinh lý học sinh THPT là một trong những căn cứ quan trọng để xác định nội dung, cách thức tổ chức giáo dục phù hợp trong quá trình xây dựng và phát triển nhân cách cho các em. 1.2.3. Vị trí và vai trò của môn Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ thông 1.2.3.1. Vị trí, nhiệm vụ của môn Giáo dục công dân Trước và những năm đầu đổi mới môn GDCD được đưa vào giảng dạy trong các trường THPT ở nước ta với những hình thức và tên gọi khác nhau. Từ năm học 1990 – 1991 môn GDCD đã được xác định là môn khoa học xã hội. Theo Luật giáo dục 2005: “ Giáo dục Trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả giáo dục Trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông, có những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện lựa chọn hướng phát triển và phát huy năng lực cá nhân, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”. Cũng như tất cả các môn học khác trong nhà trường THPT, môn GDCD đã được đổi mới về nội dung, cấu trúc chương trình cho phù hợp với hoàn cảnh và yêu cầu mới.
- Vấn đề trên vừa quan trọng, vừa hệ trọng vì thế bắt đầu từ năm 2006, Bộ GD&ĐT đã ban hành chương trình và sách giáo khoa GDCD mới biên soạn theo chương trình cải cách (năm 2006 xuất bản sách GDCD Lớp10, năm 2007 xuất bản sách GDCD Lớp 11, năm 2008 xuất bản sách GDCD Lớp 12). Điều này nói lên vị trí quan trọng của môn GDCD trong nhà trường. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: một dân tộc yếu là một dân tộc dốt. Một xã hội văn minh, ổn định và phát triển là một xã hội có nhiều công dân tốt. Công dân tốt trước hết phải là người có học, có nhân cách, có tính cộng đồng sâu sắc. Dù ở giai đoạn nào, thời điểm nào trong sự phát triển của lịch sử xã hội cũng không thể đào tạo những người lao động mới phát triển toàn diện khi chỉ chú ý tới việc giáo dục trí dục, bỏ qua hoặc coi thường giáo dục các mặt khác. Chính vì vậy, nhà trường phổ thông phải có chương trình, nội dung giáo dục, giáo dưỡng phù hợp với đất nước, con người Việt Nam, phù hợp với thời đại. Trong nhà trường tất cả các môn học và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đều có tác dụng to lớn trong xây dựng và phát triển dần nhân cách, năng lực, phẩm chất cho học sinh THPT. Tuy nhiên, GDCD là một môn khoa học xã hội có ưu thế hơn cả trong việc giáo dục để hình thành, phát triển nhân cách cho học sinh THPT. Môn GDCD là bộ môn dạy cho học sinh những tri thức khoa học có tính phổ thông, cơ bản và thiết thực nhất. Nó không những trang bị cho học sinh những hiểu biết cơ bản về thế giới quan, nhân sinh quan, hệ thống các giá trị đạo đức, pháp luật, thể chế chính trị và những phương hướng phát triển kinh tế – xã hội, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước mà còn giúp các em định hình và phát triển được về nhân cách, nâng cao trách nhiệm công dân của học sinh, xác định vị trí của bản thân với tư cách là chủ thể của sự phát triển cá nhân, xã hội và tự nhiên. Chính trên cơ sở của những tri thức đó, học sinh sẽ dễ hình thành những quan điểm mới, những khuynh hướng tư tưởng mới, động cơ, hoài bão, niềm tin và hành vi tốt đẹp của con người. Đồng thời thông qua tri thức của môn GDCD sẽ hình thành từng bước phương pháp nhận thức, tư duy khoa học và phương pháp hành động đúng quy luật khách quan. Từ đó tạo nền tảng vững chắc xây dựng và phát triển nhân cách tốt đẹp cho các em trong cuộc sống.
- Học sinh hôm nay sẽ là những công dân tương lai, là chủ nhân xây dựng và bảo vệ đất nước, họ cần được giáo dục để có ý thức công dân, có nhân cách tốt để trở thành những công dân gương mẫu có ích cho tổ quốc mình. Việc nhận thức đúng đắn và đầy đủ vị trí và nhiệm vụ quan trọng của môn GDCD trong GD&ĐT thế hệ trẻ sẽ góp phần thực hiện thành công chiến lược xây dựng, phát triển toàn diện con người Việt Nam về đức, trí, thể, mỹ và lao động. 1.2.3.2. Vai trò của môn Giáo dục công dân trong xây dựng và phát triển nhân cách học sinh Giáo dục THPT là thời kỳ giáo dục trong đó học sinh được dẫn dắt để trở thành những người lớn vừa có tri thức, vừa có đạo đức, có phẩm chất chính trị, tư tưởng, ý thức trách nhiệm cộng đồng, gia đình, tập thể và bản thân mình. Chúng ta biết rằng học sinh THPT là lứa tuổi từ khi vào trường đến khi tốt nghiệp vẫn còn đang trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách. Vì vậy xây dựng và phát triển nhân cách cho học sinh THPT hiện nay trở thành một trong những vấn đề vô cùng quan trọng của công tác giáo dục trong nhà trường hiện nay. Môn GDCD là một trong những môn học giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp đó. Môn GDCD góp phần to lớn trong việc hình thành thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học cho học sinh THPT Hơn bất cứ môn khoa học nào khác trong nhà trường THPT, những tri thức đề cập trong môn GDCD là những tri thức phổ thông, cơ bản, mang tính khái quát hoá cao, được giảng dạy thông qua hệ thống những khái niệm, phạm trù, quy luật mang tính phổ quát có ý nghĩa to lớn trong việc hình thành thế giới quan và nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học, trên cơ sở đó giúp học sinh nhận thức tốt hơn những vấn đề thuộc các môn khoa học khác. Thế giới quan là hệ thống những quan điểm về thế giới, là sản phẩm của nhận thức khoa học và hoạt động xã hội, là một trong những yếu tố cấu thành phẩm chất đạo đức. Giáo dục thế giới quan cho học sinh là một trong những nhiệm vụ quan trọng của môn GDCD, thể hiện vai trò của bộ môn trong xây dựng và phát triển nhân cách cho các em. Với những quan điểm duy vật biện chứng chung nhất về thế giới và một số quan điểm duy vật biện chứng về xã hội, con người trong phần triết học – GDCD lớp 10 và phần
- kinh tế chính trị – GDCD lớp 11 giúp học sinh nắm được về bản chất vật chất của thế giới, sự vận động và phát triển của thế giới vật chất tuân theo những quy luật khách quan, con người có khả năng nhận thức và cải tạo được thế giới khách quan, về tồn tại xã hội và ý thức xã hội, về con người – chủ thể của lịch sử và là mục tiêu phát triển của xã hội Ngoài ra giúp cho học sinh THPT có những tiền đề lý luận cơ bản để hiểu và nhận thức được tính tất yếu khách quan của quá trình đi lên CNXH trong thời đại ngày nay và sự nghiệp cách mạng XHCN của Đảng và nhân dân ta. Môn GDCD giáo dục cho học sinh phẩm chất chính trị, tư tưởng của người công dân trong giai đoạn hiện nay Là môn học giáo dục đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nên môn GDCD có ưu thế giúp các em có hiểu biết về xã hội XHCN, về nền dân chủ XHCN; nhận thức đúng đắn về bản chất của nhà nước pháp quyền Việt Nam, về thể chế chính trị, về phương hướng phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, về vai trò và giá trị của pháp luật đối với sự tồn tại và phát triển của cá nhân, nhà nước và xã hội; về quyền lợi và trách nhiệm của học sinh trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc Trên cơ sở đó các em nâng cao được ý thức, biết lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với các giá trị xã hội; biết bảo vệ cái đúng, cái tốt, đấu tranh phê phán đối với các hành vi, hiện tượng tiêu cực trong cuộc sống phù hợp với lứa tuổi. Bên cạnh đó hình thành ở các em niềm tin đối với Đảng, với chế độ, với sự nghiệp đổi mới của đất nước. Trở thành một chủ thể của sự phát triển nhân cách có hoài bão và mục đích sống cao đẹp. Môn GDCD giáo dục các giá trị đạo đức, góp phần trực tiếp xây dựng lối sống đúng đắn và lành mạnh cho học sinh Thông qua nội dung chương trình học sinh được trang bị những tri thức về đạo đức một cách khái quát và có hệ thống, giúp các em hiểu và biết giữ gìn các giá trị đạo đức như: nghĩa vụ, lương tâm, nhân phẩm, danh dự và hạnh phúc của bản thân và xã hội. Từ đó, biết đặt mục tiêu phấn đấu, coi trọng việc rèn luyện và tự hoàn thiện bản thân, giao tiếp và ứng xử có văn hoá, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Hiểu đúng đắn về tình yêu, hôn nhân, gia đình; biết sống nhân nghĩa, hoà nhập, hợp tác với mọi người xung quanh. Có hiểu biết về truyền thống yêu nước của dân tộc, luôn có ý
- thức học tập, rèn luyện để góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước Qua đó các em tăng thêm tính tự giác trong hành vi đạo đức của mình, phát triển lý tưởng sống cao đẹp, những phẩm chất và năng lực cơ bản của con người Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH. Học chữ, học làm người là nhiệm vụ cơ bản nhất của người học sinh. Học để có tri thức, học để hoàn thiện nhân cách là cả một quá trình lâu dài và vô cùng gian khổ, không những đòi hỏi các em phải có niềm tin, phương pháp mà còn phải có ý chí và nghị lực. Môn GDCD có vai trò to lớn trong việc xây dựng và phát triển hai thành tố chủ yếu của nhân cách con người đó là “đức” “tài”, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục ở THPT. Môn GDCD góp phần nâng cao chất lượng học tập các bộ môn khoa học khác trong nhà trường Học sinh không thể nào đạt kết quả cao trong học tập khi mà mỗi cá nhân không xác định cho mình động cơ, mục đích học tập, rèn luyện đúng đắn và khoa học. Trong quá trình học tập, khi tiếp nhận và vận dụng được tri thức môn GDCD các em sẽ có phương pháp khoa học khi tiếp thu kiến thức các môn học khác, đồng thời biết cách xử lý thông tin một cách dễ dàng. Bên cạnh đó, các em sẽ nhận thức đúng đắn hơn khi định hướng lao động nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp. Điều này giúp các em thích ứng với những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể trong quá trình phát triển của xã hội. Chương 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH NAM ĐỊNH QUA GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN HIỆN NAY 2.1. KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ GIÁO DỤC CẤP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH NAM ĐỊNH 2.1.1. Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Nam Định * Vị trí địa lí tự nhiên Là tỉnh đồng bằng ven biển nằm ở cực Nam châu thổ sông Hồng, Nam Định có tổng diện tích tự nhiên 1650 km2, với dân số khoảng 1.916.400 người. Tỉnh Nam Định
- phía Đông giáp với tỉnh Thái Bình, phía Tây giáp với tỉnh Ninh Bình, phía Nam và Đông Nam giáp biển Đông, phía Bắc giáp với tỉnh Hà Nam. Nam Định là tỉnh có nhiều đặc điểm khác hẳn với các tỉnh khác trong cả nước, đặc biệt là về lịch sử hình thành và phát triển. Đời Đường Nam Định thuộc huyện Chu Duyên. Đời Trần được gọi là lộ Thiên Trường, sau lại chia làm ba lộ: Kiến Xương, An Tiêm, Hoàng Giang. Thời thuộc Minh, vùng đất này được chia làm ba phủ: Trấn Nam, Phụng Hóa, Kiến Bình. Đời Lê, thuộc xứ Sơn Nam, đến niên hiệu Cảnh Hưng thứ 2 năm 1741, vùng đất này thuộc lộ Sơn Nam Hạ. Đến triều Nguyễn, năm 1832 đổi tên thành tỉnh Nam Định, với 4 phủ, 18 huyện bao gồm phần đất tỉnh Thái Bình hiện nay. Năm 1890, Thái Bình tách ra thành tỉnh riêng lúc này Nam Định còn 2 phủ và 9 huyện. Từ năm 1926, Nam Định có 2 phủ và 7 huyện, 78 tổng, 705 xã. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, tỉnh Nam Định thuộc liên khu ba. Tháng 5 – 1965, Nam Định hợp nhất với tỉnh Hà Nam thành tỉnh Nam Hà. Năm 1976 Nam Hà hợp nhất với tỉnh Ninh Bình thành tỉnh Hà Nam Ninh. Đến năm 1991 lại chia tách và tái lập tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình. Tháng 11 – 1996 tỉnh Nam Hà lại được tách để tái lập 2 tỉnh là Nam Định và Hà Nam. Theo Quyết định của Quốc Hội khóa IX, kỳ họp thứ 10, ngày 1/1/1997 Nam Định được tái lập, có 10 đơn vị hành chính, bao gồm: thành phố Nam Định, 9 huyện, 229 xã phường, thị trấn. Nếu như sông Hồng và sông Đáy tạo nên địa giới tự nhiên giữa Nam Định với Ninh Bình và Thái Bình, thì phạm vi trong tỉnh sông Đào phân chia Nam Định thành hai vùng Nam - Bắc. Sông Ninh Cơ, sông Sò là giới hạn các huyện trong tỉnh. Với bờ biển dài 72 km2, Nam Định là vùng kinh tế giàu tiềm năng có thể triển khai, thực hiện nhiều đề án phát huy thế mạnh kinh tế biển. Là tỉnh được phù sa bồi đắp, có nhiều đồi núi nhưng không cao, lại có dòng chảy của khe ngòi liền kề đã tạo cho Nam Định sự màu mỡ phì nhiêu và cảnh non nước hữu tình. * Điều kiện kinh tế – xã hội tỉnh Nam Định Nam Định là một trong những tỉnh có môi trường đầu tư đang ngày càng được cải thiện, tạo thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển một cách bình đẳng, thu hút được nhiều nguồn lực, nhất là nguồn lực của các doanh nghiệp và tư nhân.
- Sản xuất công nghiệp tỉnh Nam Định phát triển tương đối sớm với nhiều ngành nghề truyền thống, trong đó có công nghiệp Dệt – May là một trong những trung tâm dệt may lớn của cả nước. Tỉnh đã duy trì được tốc tăng trưởng và nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất công nghiệp. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2008 ước đạt 7.384,8 tỷ đồng. Nam Định nằm trong vùng trọng điểm sản xuất lương thực – thực phẩm của đồng bằng Bắc Bộ nên sản xuất nông nghiệp luôn chú trọng theo hướng kinh doanh hàng hóa, xây dựng nông thôn mới. Theo số liệu của Uỷ ban nhân tỉnh tính đến năm 2008: Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản ước đạt 4.189 tỷ đồng. Trong những năm qua Nam Định đã tập trung khắc phục khó khăn, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh và dịch vụ. Chủ động chống lạm phát và phòng chống thiên tai, dịch bệnh, giữ tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý, bền vững. Bên cạnh đó, tỉnh đã bảo đảm cung cầu hàng hóa không để tăng giá đột biến những vật tư đầu vào của sản xuất và những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân. Tăng cường kiểm soát thị trường, chống buôn lậu, kinh doanh hàng giả, kém chất lượng, trốn thuế, đảm bảo an toàn thực phẩm. Nam Định hiện đang đẩy nhanh tiến độ một số chương trình, dự án đầu tư lớn, trọng điểm. Đó là chương trình nâng cấp tuyến đê biển, cải tạo nâng cấp Quốc lộ 21, dự án xây dựng thành phố Nam Định thành trung tâm kinh tế - văn hóa – xã hội, các chương trình đầu tư bằng trái phiếu chính phủ cho nông nghiệp, thủy lợi, y tế và GD&ĐT. Tăng cường đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường, đảm bảo an sinh xã hội. Nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý điều hành của chính quyền các cấp. Giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, những tác động của thiên tai và tình hình lạm phát đã ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế, đầu tư, xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội và đời sống nhân dân. Đặc biệt là sức hấp dẫn và thu hút đầu tư vào tỉnh chưa cao. Chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế so với yêu cầu phát triển giai đoạn hiện nay. * Về văn hoá - xã hội
- Dù trải qua biết bao những biến cố thăng trầm của lịch sử, Nam Định vẫn giữ gìn và phát huy được truyền thống văn hoá lâu đời triều Trần, truyền thống hiếu học từ bao đời của mảnh đất địa linh nhân kiệt. Từ vùng quê mang đậm nét của nền văn minh lúa nước, đã sản sinh ra những danh nhân văn hoá “tài cao, học rộng”, những trạng nguyên, bảng nhãn, tiến sỹ. Đó là các trạng nguyên Nguyễn Hiền; Đào Sư Tích thời nhà Trần; Lương Thế Vinh, Vũ Tuấn Chiêu thời Hậu Lê, Trần Văn Bảo thời nhà Mạc, tiến sĩ Trần Bích San thời Nguyễn đỗ đầu cả ba kì thi Hương, thi Hội, thi Đình Nam Định là quê hương của cố Tổng Bí thư Trường Chinh và của nhiều nhà văn hoá lớn Việt Nam: nhà thơ Trần Tế Xương, nhà thơ Nguyễn Bính, nhạc sĩ Văn Cao, nhà sử học Trần Huy Liệu Trải qua các giai đoạn cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống ấy được nhân lên, phát huy và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Sau cách mạng tháng Tám thành công, nhân dân trong tỉnh đã hăng hái tham gia phong trào bình dân học vụ, hệ thống giáo dục phổ thông được xây dựng và dần dần củng cố vững chắc. Những năm qua sự nghiệp GD&ĐT tỉnh Nam Định đã đạt được nhiều thành tựu đáng tự hào. Ngay từ năm 1991, Nam Định đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Năm 1999 đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục đúng độ tuổi. Năm 2001 đạt chuẩn quốc gia về phổ cập THCS. Năm 2007 đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục THPT. Hiện nay ở Nam Định, trong số 10 người dân thì có khoảng 3 người đang theo học ở tất cả các loại hình trường lớp từ mẫu giáo, phổ thông đến trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học. Như vậy, Nam Định là một vùng quê giàu truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng và lao động sáng tạo, một vùng kinh tế, văn hoá, văn hiến tiêu biểu và có vị thế đặc biệt trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Hơn nữa, đã và đang là một trung tâm GD&ĐT lớn của cả nước - một mô hình điển hình xuất sắc của sự nghiệp GD&ĐT trong thời kỳ mới. 2.1.2. Đặc điểm giáo dục cấp trung học phổ thông tỉnh Nam Định Phát huy truyền thống hiếu học, trải qua hơn 50 năm nỗ lực phấn đấu, quy mô giáo dục tỉnh Nam Định ngày càng phát triển không ngừng. Ngân sách chi thường xuyên cho
- giáo dục luôn ở mức cao: năm 2007: 600.700 triệu đồng; năm 2008: 741.148 triệu đồng). Bằng nguồn vốn đầu tư của nhà nước, của các địa phương và sự đóng góp trực tiếp của nhân dân nhiều trường học trong tỉnh đang được kiên cố hoá, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện (năm học 2008 có 73 phòng học cấp THPT được xây mới và sửa chữa, phòng học kiên cố hoá đạt 86,91%). Giáo dục cấp THPT luôn được hoàn thiện và chuẩn hoá: trường chuẩn, giáo viên chuẩn, quy trình giảng dạy được thực hiện đúng quy định của Bộ GD&ĐT. Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục tỉnh Nam Định cơ bản là những người tâm huyết với nghề nghiệp, tiếp thu kinh nghiệm của các thế hệ đi trước, luôn quyết tâm xây dựng kỷ cương nề nếp và chất lượng dạy học. Đây là những yếu tố quyết định làm cho chất lượng giáo dục THPT ngày càng nâng cao. Biểu hiện ở tỷ lệ thi đỗ tốt nghiệp, tỷ lệ học sinh thi đỗ đại học, chất lượng thi học sinh giỏi luôn đạt ở mức cao. Vấn đề đào tạo nhân tài đã được chú trọng, các trường đã tuyển chọn những học sinh giỏi toàn diện vào học tập và bồi dưỡng nguồn học sinh giỏi của tỉnh. Tiêu biểu như trường THPT chuyên Lê Hồng Phong là đơn vị dẫn đầu về thành tích học sinh giỏi quốc gia và quốc tế, được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu đơn vị anh hùng thời kỳ đổi mới. Trong nhiều năm liền kết quả bồi dưỡng các môn văn hoá khối THPT của toàn tỉnh giữ vị trí tốp đầu cả nước.[nguồn: Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2 khóa VIII về giáo dục đào tạo tỉnh Nam Định]. Bảng 2.1: Giải cá nhân cấp quốc gia Giải Giải Năm Số dự châu Tỷ lệ quốc học thi Nhất Nhì Ba KK Cộng Á - % tế TBD 1997- 88 7 25 36 12 80 90,8 1998 2007- 66 7 23 18 12 60 90,9 2008
- Hệ thống các trường THPT phát triển nhanh: huyện Hải hậu có 7 trường, huyện Ý Yên có 5 trường, thành phố Nam Định có 9 trường. Toàn tỉnh có 53 trường THPT với ba loại hình trường: công lập, dân lập và tư thục. Trong đó có 41 trường công lập, 10 trường dân lập, 02 trường tư thục. Quy mô học sinh được duy trì và phát triển: có khoảng 69.067 học sinh THPT, riêng lớp 10 có 485 lớp với 23.361 học sinh. Sỹ số học sinh các lớp được duy trì tốt, tỷ lệ học sinh bỏ học thấp. Các trường THPT đã triển khai, thực hiện nghiêm túc chương trình thay sách giáo khoa mới theo yêu cầu và hướng dẫn của Bộ, của Sở. Đặc biệt là việc tăng cường đồ dùng, thiết bị dạy học, góp phần tích cực trong đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả dạy học và kiểm tra, đánh giá học sinh. Theo Báo cáo của Sở GD&ĐT Nam Đinh tính đến năm học 2008 – 2009 toàn tỉnh có: 466 lớp 11, trong đó 50 lớp ban khoa học tự nhiên (2510 học sinh); 2 lớp học ban khoa học xã hội và nhân văn (96 học sinh và 409 lớp học ban cơ bản (20.541 học sinh). Tỷ lệ học sinh học tập phân hoá trong ban cơ bản như sau: 126 lớp với 6903 học sinh học nâng cao các môn Toán, Lý, Hoá; 3 lớp với 170 học sinh học nâng cao các môn Toán, Hoá, Sinh; 7 lớp với 380 học sinh học nâng cao các môn Văn, Sử, Địa; 11 lớp với 614 học sinh học nâng cao các môn Toán, Văn, Ngoại ngữ. Học sinh lớp 10 gồm 485 học sinh, trong đó: 51 lớp học ban khoa học tự nhiên, 2 lớp học ban khoa học xã hội và nhân văn, 432 lớp học ban cơ bản, trong đó có 133 lớp học nâng cao các môn Toán, Lý, Hoá. Các trường THPT trong tỉnh đã bắt nhịp được yêu cầu của cuộc vận động “Hai không” – Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục. Phong trào xây dựng “trường học thân thiện, học sinh tích cực”, “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ, của Sở, các trường học đã tăng cường rà soát, phân loại học sinh học lực yếu, kém; tìm nguyên nhân và các giải pháp đồng bộ để khắc phục. Một số trường học có biện pháp cụ thể, chủ động, sáng tạo trong việc dạy sát đối tượng, phân công giáo viên có kinh nghiệm và học sinh khá, giỏi, kèm cặp học sinh yếu, kém. Nhằm từng bước nâng dần chất lượng, hạn chế, tiến tới xoá bỏ hiện tượng học sinh “ngồi
- sai lớp”. Công tác dạy - học tiếp tục được các trường đầu tư mạnh, cả về đại trà và mũi nhọn. Kỳ thi tốt nghiệp THPT luôn được chuẩn bị chu đáo, nghiêm túc, nhất là khâu ôn tập, rèn kỹ năng, giúp đỡ học sinh học lực còn yếu. Kết quả kỳ thi tốt nghiệp toàn tỉnh đạt tỷ lệ 94,29%, trong đó: đỗ vào loại khá, giỏi đạt 16,17%. Tiếp tục khẳng định vị trí tốp dẫn đầu của toàn quốc 15 năm liên tục. (Năm học 2005 – 2006: xếp thứ I, năm học 2006 – 2007: xếp thứ II, năm học 2007 – 2008: xếp thứ I, năm học 2008 – 2009: xếp thứ I. Nguồn CNTT Bộ Giáo dục và Đào tạo). Nhìn chung, học sinh các trường THPT có tư tưởng, đạo đức tốt. Học sinh đạt yêu cầu khá về lĩnh hội kiến thức và kỹ năng môn học. Xếp loại các mặt giáo dục THPT cuối năm học 2008 -2009 về hạnh kiểm (cả ba khối): xếp loại tốt 67,81%, xếp loại khá 24,94%, xếp loại trung bình 6,25%, xếp loại yếu 1,01%.[phụ lục, bảng ] Có được những thành tựu to lớn này là do các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền, đặc biệt là Sở GD&ĐT Nam Định đã có nhiều giải pháp tích cực triển khai thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về đổi mới sự nghiệp GD&ĐT. Mặt khác, truyền thống hiếu học được khơi dậy và phát huy, tạo nên một phong trào toàn dân chăm lo cho sự nghiệp GD&ĐT. Tuy nhiên, giáo dục THPT ở Nam Định vẫn còn nhiều khó khăn, thử thách. Chất lượng giáo dục toàn diện học sinh THPT chưa thực sự được nâng cao. Thực tế chứng minh dưới tác động của nền kinh tế thị trường, của văn hoá hội nhập, cùng với sự phát triển của kinh tế biển, của công thương nghiệp, của nông nghiệp, của du lịch thì nhiều thang giá trị xã hội đang thay đổi, gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức và lối sống của thanh niên học sinh. Lối sống lai căng, đua đòi, thực dụng, đề cao giá trị vật chất đã và đang xuất hiện, nhiều giá trị đạo đức đang bị sa sút nghiêm trọng. 2.2. NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ TRONG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH NAM ĐỊNH QUA GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN 2.2.1. Những thành tựu và hạn chế
- 2.2.1.1. Môn giáo dục công dân với việc trang bị thế giới quan khoa học cho học sinh trung học phổ thông ở Nam Định Trong bất cứ thời đại lịch sử nào, sự phát triển trí tuệ của con người cũng luôn gắn với một thế giới quan nhất định. Mỗi người có thể tự tin khẳng định được mình trong cuộc sống khi trau dồi được một thế giới quan khoa học. GS – VS Phạm Minh Hạc cho rằng: thế giới quan là một trong những phẩm chất cấu thành đạo đức cá nhân. Việc khai thác tri thức trong quá trình dạy và học môn GDCD trong các trường THPT ở Nam Định đã góp phần trang bị thế giới quan, phương pháp luận khoa học, tư duy logic, tư duy biện chứng duy vật cho học sinh. Theo kết quả khảo sát ở một số trường THPT trong tỉnh cho thấy, sau khi được học kiến thức 9 bài ở phần I “Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học”– GDCD lớp 10 thì 87,5% học sinh hiểu được nội dung cơ bản của thế giới quan khoa học – thế giới quan duy vật của triết học Mác. Rất nhiều em đã có quan điểm, niềm tin khoa học và cách nhận thức đúng đắn về sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Trên cơ sở đó các em bước đầu đã xác định được lý tưởng sống phù hợp. Có 96% học sinh hiểu con người và xã hội loài người là sản phẩm của giới tự nhiên, là một bộ phận của thế giới vật chất. Các em rất tin tưởng con người có khả năng nhận thức và cải tạo giới tự nhiên. Việc các em nhận thức đúng đắn con người là sản phẩm hoàn hảo nhất, là kết quả phát triển lâu dài của tự nhiên và xã hội có ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp các em nâng cao ý thức cải tạo bản thân mình. Qua môn học 85% học sinh hiểu sâu sắc hơn thế nào phát triển, nguồn gốc, cách thức, khuynh hướng của quá trình vận động và phát triển, rút ra được bài học không nên có thái độ thành kiến, bảo thủ, dám đấu tranh giải quyết mâu thuẫn. Từ đó, hình thành cho mình thái độ cầu thị, biết mình nên kế thừa cái gì, phủ định cái gì trong học tập và cuộc sống hàng ngày. Có 86.3 % học sinh nhận thức được ý nghĩa và sự cần thiết phải tôn trọng quy luật khách quan, hiểu được vai trò của thực tiễn. Qua đó có ý thức tìm hiểu thực tế, gắn học với hành, vận dụng những điều đã học vào trong cuộc sống. Đa số học sinh đánh giá được vai trò của những nhân tố đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội như: Môi trường tự nhiên, dân số, phương thức sản xuất. Đặc biệt 90,5% học sinh đã chứng minh được mọi giá trị vật chất và tinh thần đều do con người
- sáng tạo ra. Bước đầu giải thích được tại sao con người là chủ thể đồng thời là mục tiêu của sự phát triển xã hội. Hiểu được những giá trị nhân văn, nhân bản của tín ngưỡng tôn giáo ở địa phương trong giáo dục đạo đức, nhân cách; góp phần thiết thực kìm hãm tốc độ suy thoái của đạo đức xã hội trước những mặt trái của cơ chế thị trường. Nếu hiểu thế giới quan là toàn bộ những nguyên tắc, quan điểm và niềm tin quy định hướng hoạt động và quan hệ của từng người, của một tập đoàn xã hội, của một giai cấp hay của xã hội nói chung đối với thực tại, thì kiến thức chương trình phần I rất quan trọng và cần thiết trong định hướng nhân cách, giúp các em tránh những tác động tiêu cực đang hàng ngày hàng giờ lung lạc, cuốn hút mình. Tuy nhiên, vẫn còn bộ phận học sinh chưa thực sự kiên định trong quan điểm và niềm tin. Một số em còn có quan điểm duy tâm về thế giới, về nguồn gốc của con người. Cho rằng “con người do thượng đế, thần linh sáng tạo ra”, luôn tin rằng “sống chết có mệnh, giàu sang do trời”, “học tài thi phận”. Có thái độ xuê xoa, “dĩ hoà vi quý” trong nhận thức và hành vi. Không phân biệt được đâu là đúng, đâu là sai, đâu là tiến bộ, đâu là lạc hậu, không tích cực tham gia các hoạt động. Một số em chưa thực sự hiểu, chưa có khả năng đánh giá, nhận xét được những thuận lợi và hạn chế về vấn đề tài nguyên, môi trường, dân số và trình độ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương cũng như của tỉnh mình. Do đó, bản thân chưa định hướng được những thuận lợi và khó khăn trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai. Nhiều học sinh sống thiếu hoài bão, thiếu niềm tin vào khả năng của chính mình, như thế đương nhiên các em không thể nào phát triển nhân cách tốt được. Những điều trên chứng tỏ môn GDCD chưa phát huy hết vai trò của mình trong việc hình thành, củng cố và phát triển những phẩm chất thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận khoa học cho học sinh THPT ở Nam Định. 2.2.1.2. Môn giáo dục công dân với việc hình thành các phẩm chất đạo đức cho học sinh trung học phổ thông tỉnh Nam Định Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh - người thầy vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã từng chỉ rõ vai trò của đạo đức cách mạng. Theo Bác: “Cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người
- cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”[, 252] Trong những năm qua môn GDCD đã trang bị cho học sinh những phạm trù đạo đức cơ bản cần thiết ( nghĩa vụ, lương tâm, phẩm chất, danh dự và hạnh phúc ) và trách nhiệm đạo đức của người công dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Hiểu được thế nào là tình yêu, tình yêu chân chính, những tiến bộ của chế độ hôn nhân ở nước ta hiện nay và các chức năng cơ bản của gia đình. Hiểu thế nào là nhân nghĩa, sống hoà nhập, hợp tác; thế nào là lòng yêu nước và các biểu hiện cụ thể của lòng yêu nước. Từ đó giúp học sinh hiểu, nắm vững và hình thành được những phẩm chất, tính cách quan trọng của bản thân. Qua những phạm trù đạo đức cơ bản trong phần II: “Công dân với đạo đức”, học sinh biết điều chỉnh hành vi của bản thân theo các yêu cầu đạo đức xã hội. Rất nhiều em đã khẳng định rằng đây là căn cứ khoa học để các em lựa chọn cho mình nhân cách sống phù hợp với chuẩn mực, giá trị xã hội hiện nay. Có 90% học sinh các trường THPT cho biết việc học tập những phạm trù đạo đức cơ bản trong môn GDCD giúp cho các em nhận thức được hạnh phúc chân chính của con người là biết gắn lợi ích bản thân với lợi ích gia đình, lợi ích giai cấp, dân tộc, nhân loại. Các em đã ý thức được rằng yêu nước đối với học sinh là phải kính trọng, biết ơn ông bà, cha mẹ, yêu quý nhân dân, phải cố gắng học tập tu dưỡng để sau khi ra trường trực tiếp góp phần xây dựng đất nước. Đa số các em sau khi học thấy được sự cần thiết phải tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với các chuẩn mực của xã hội. Đồng thời học sinh còn biết đánh giá, phê phán, đấu tranh chống lại những hành vi lệch chuẩn, những biểu hiện tiêu cực đi ngược với các giá trị chân – thiện – mỹ trong đời sống hàng ngày ở trường và ngoài xã hội. Trên cơ sở đó, học sinh có ý thức quyết tâm học tập, rèn luyện, tự hoàn thiện nhân cách, lối sống, hành vi của mình để trở thành người công dân chân chính. Tuy nhiên, qua khảo sát thực tiễn cho thấy hiệu quả giáo dục các phẩm chất đạo đức cho học sinh THPT tỉnh Nam Định thông qua giảng dạy môn GDCD chưa tương xứng với chức năng và vai trò của bộ môn. Nhiều chuẩn mực đạo đức chưa trở thành thói quen và niềm tin của một bộ phận học sinh. Do đó, những em này còn có những biểu hiện chưa tốt về đạo đức, nhân cách như: trốn học, ham mê điện tử, gây gổ đánh nhau, nói tục chửi bậy,
- lười biếng, cẩu thả, kém ý chí phấn đấu, không có tinh thần hợp tác trong quá trình học tập. Khá nhiều em không hiểu được mối quan hệ giữa tình yêu, hôn nhân và gia đình. Từ đó có thái độ ủng hộ lối sống, tình yêu theo kiểu phương Tây, thích lối sống tự do, ít ràng buộc trong tình yêu, hôn nhân, đồng tình với kiểu sống thử trước hôn nhân đang diễn ra hiện nay. Rất nhiều em còn thờ ơ, không hiểu được sự nguy hiểm của các vấn đề: ô nhiễm môi trường, bùng nổ dân số, các dịch bệnh hiểm nghèo. Các em cho rằng đó là việc của người lớn nên có thái độ không quan tâm nhiều đến những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong giải quyết những vấn đề cấp thiết của nhân loại hiện nay. Chẳng hạn, về ý thức bảo vệ môi trường, qua điều tra cho thấy các em “học’’ nhưng không “hành”. Có thể biết và nói được giữ vệ sinh môi trường vừa có tầm quan trọng, vừa là trách nhiệm chung của tất cả mọi người, nhưng chính bản thân hoặc nhìn thấy người khác phá hoại cảnh quan, không giữ gìn vệ sinh, vứt rác trong lớp, trong trường hoặc chính nơi mình ở lại thấy đó là chuyện bình thường. Khoảng 45% học sinh nhận thấy bản thân chưa thực sự có ý thức đấu tranh với những hành vi phá hoại môi trường ở địa phương mình. Ngoài ra, một vấn đề đang tồn tại hiện nay nữa là rất nhiều học sinh đang mất dần thái độ trân trọng và kế thừa những giá trị văn hoá của dân tộc, chưa ý thức sâu sắc được trách nhiệm của bản thân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Đa số học sinh hiện nay thích những bộ phim, bài hát, bản nhạc từ nước ngoài mà không cần quan tâm nó có ý nghĩa gì. Đây là nhân tố làm nhân cách các em phát triển lệch lạc do hấp thụ những luồng văn hoá không lành mạnh. Các em ít bàn luận đến vấn đề truyền thống dân tộc, 13% học sinh không nhận thức được “tinh thần yêu nước là truyền thống quý báu, là giá trị đạo đức quan trọng cần phải kế thừa và phát huy” trong công cuộc đổi mới đất nước. Vì thế, chưa xác định đúng lý tưởng sống cho bản thân, tỏ thái độ bàng quang, không quan tâm đến các hoạt động chính trị – xã hội. 2.1.2.3. Môn GDCD với việc trang bị những tri thức khoa học về kinh tế và chính trị - xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá



