Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - Tập 2 (Phần 1)

pdf 797 trang ngocly 50 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - Tập 2 (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdflich_su_nam_bo_khang_chien_tap_2_phan_1.pdf

Nội dung text: Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - Tập 2 (Phần 1)

  1. 9(3)2 Mã số: CTQG - 2011
  2. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến tập - tập II (1954-1975) 4 HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO BIÊN TẬP - XUẤT BẢN PGS.TS. TÔ HUY RỨA Chủ tịch Hội đồng LÊ THANH HẢI Ủy viên NGÔ VĂN DỤ Ủy viên GS.TS. LÊ HỮU NGHĨA Ủy viên TS. NGUYỄN DUY HÙNG Ủy viên TRẦN VĂN KÍNH Ủy viên
  3. Không có gì quý hơn độc lập, tự do! Hồ Chí Minh
  4. HộI ĐỒNG CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN Thành lập theo Quyết định số 1431/QĐ-TTg ngày 07-11-2001 và Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 25-01-2002 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 08/QĐ-HĐ ngày 20-10-2002 của Chủ tịch Hội đồng Chỉ đạo biên soạn bổ sung nhân sự Hội đồng 7 Chủ tịch: VÕ VĂN KIỆT nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thủ tướng Chính phủ, nguyên Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Ủy viên: TRẦN VĂN SỚM nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Trưởng ban Nội chính Trung ương NGÔ THỊ HUỆ nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức - Cán bộ, Ban Tổ chức Trung ương NGUYỄN VĂN CHÍ nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương NGUYỄN MINH ĐƯỜNG nguyên Bí thư Khu ủy Khu 8 MAI CHÍ THỌ Đại tướng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Nội vụ TRẦN BẠCH ĐẰNG Nhà nghiên cứu, Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh NGUYỄN VĂN CHÍNH nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng NGUYỄN THỚI BƯNG Trung tướng - Tiến sĩ, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng CAO ĐĂNG CHIẾM Thượng tướng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ VÕ TRẦN CHÍ nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh LÊ PHƯỚC THỌ nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Trưởng ban Tổ chức Trung ương
  5. NGUYỄN BẠCH TUYẾT nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai NGUYỄN VĂN HƠN nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy An Giang HUỲNH VĂN NIỀM nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí 8 thư Tỉnh ủy Tiền Giang PHẠM VĂN HY nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Bà Rịa - Vũng Tàu TRỊNH VĂN LÂU nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long LÊ THANH NHÀN nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương LỮ MINH CHÂU nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước TRẦN HỒNG QUÂN Giáo sư - Tiến sĩ, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo LÊ VĂN KIẾN nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Long An NGUYỄN XUÂN KỶ nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre NGUYỄN THẾ HỮU nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp TRẦN QUANG QUÍT nguyên Bí thư Tỉnh ủy Kiên Giang DƯƠNG ĐÌNH THẢO nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh PHẠM CHÁNH TRỰC nguyên Phó Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Trưởng ban Kinh tế Trung ương CAO VĂN SÁU nguyên Ủy viên Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tiền Giang MẠC ĐƯỜNG Phó Giáo sư - Tiến sĩ, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh TRẦN CHÍ ĐÁO Phó Giáo sư - Tiến sĩ, nguyên Thứ trưởng Bộ
  6. Giáo dục và Đào tạo, nguyên Giám đốc Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh VIỄN PHƯƠNG Nhà văn, nguyên Chủ tịch Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các 9 Hội văn học nghệ thuật Việt Nam TRẦN ĐÌNH BÚT Phó Giáo sư, thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Ủy viên Hội đồng Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh HUỲNH NGHĨ Thiếu tướng, Giáo sư - Tiến sĩ, nguyên Phó Giám đốc Học viện Lục quân Thư ký Hội đồng: TRẦN VĂN KÍNH nguyên Phó Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy Long An, Tổng Biên tập báo Long An
  7. BAN THƯỜNG TRỰC HộI ĐỒNG CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN VÕ VĂN KIỆT NGUYỄN THỚI BƯNG 10 NGUYỄN VĂN CHÍ LÊ PHƯỚC THỌ MAI CHÍ THỌ TRẦN VĂN SỚM TRẦN BẠCH ĐẰNG PHẠM VĂN HY NGÔ THỊ HUỆ DƯƠNG ĐÌNH THẢO HUỲNH NGHĨ TRẦN CHÍ ĐÁO Thư ký: TRẦN VĂN KÍNH BAN BIÊN SOẠN Chủ biên: TRẦN BẠCH ĐẰNG Thư ký: NGUYỄN TRỌNG XUẤT DƯƠNG ĐÌNH THẢO nguyên Ủy viên Thường vụ - Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh TÔ BỬU GIÁM nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Cục miền Nam NGUYỄN TRỌNG XUẤT nguyên Chánh Văn phòng Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Trưởng ban Tuyên huấn Khu ủy Sài Gòn - Gia Định TRẦN PHẤN CHẤN Đại tá, nguyên Phó Trưởng phòng Khoa học công nghệ và môi trường Quân khu 7 NGUYỄN THIỆN CHIẾN nguyên Phó Giám đốc Trường Đảng Nguyễn Văn Cừ Thành phố Hồ Chí Minh BÙI CÔNG ĐẶNG nguyên Trưởng khoa Quản lý Kinh tế Trường Nguyễn Ái Quốc II
  8. VŨ HẠNH nhà văn, nguyên Tổng thư ký Lực lượng Bảo vệ Văn hóa Dân tộc Việt Nam TS. PHAN VĂN HOÀNG nguyên Tổ trưởng Tổ Trinh sát vũ trang, Ban An ninh Khu Sài Gòn - Gia Định (T4) TS. HÀ MINH HỒNG Trưởng khoa Sử Trường Đại học Khoa học 11 Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh PGS. HUỲNH LỨA nguyên Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh PHẠM QUANG nguyên Phó Trưởng ban Tuyên huấn Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh; Giám đốc Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh NGUYỄN VĂN TÒNG Đại tá, nguyên Chính ủy Sư đoàn 9 Quân Giải phóng miền Nam, nguyên Phó Chính uỷ Quân khu 9 LÊ THANH VĂN nguyên Phó Trưởng ban Dân vận Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Các cộng tác viên: Giáo sư Nguyễn Công Bình Nhà nghiên cứu Nguyễn Quế Giáo sư Nguyễn Phan Quang Thạc sĩ Nguyễn Thanh Bền Kỹ sư Nguyễn Đăng Nhà báo Huỳnh Hùng Lý Kỹ sư Huỳnh Kim Trương Nhà báo Trương Võ Anh Giang Nhà ngoại giao Võ Anh Tuấn Bác sĩ Ngô Văn Quỹ Đại tá, Tiến sĩ Hồ Sơn Đài Bác sĩ Lê Hồng Quang Đại tá, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Nguyên ThS. Nguyễn Thị Ánh Xuân Nhà nghiên cứu Lưu Tấn Phát Bà Trần Thị Ngọc Lan Nhà nghiên cứu Lý Bích Quang Bà Trần Thị Kim Anh Nhà nghiên cứu Tăng Anh Dũng Ông Trang Sĩ Sơn
  9. LỜI NHÀ XUẤT BẢN Lịch sử Nam Bộ kháng chiến là một bộ sách có ý nghĩa chính trị, tư tưởng, xã hội to lớn và sâu sắc ở nước ta. Bộ sách có số lượng lớn về tư liệu lịch sử, sự kiện, nhân vật, con số được khái quát trong hàng nghìn trang in khổ lớn; chứa đựng khối lượng nội dung hết sức phong phú và đa dạng rất nhiều hoạt động về cuộc kháng chiến cứu nước đầy gian khổ, hy sinh anh dũng của đồng bào, đồng chí ở vùng đất Nam Bộ liên tục suốt gần một phần ba thế kỷ (1945-1975); phản ánh, khắc ghi được khá trung thực những chiến công lừng lẫy của quân dân Thành đồng Tổ quốc đã được cả nước và thế giới ngưỡng mộ, ngợi ca. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến là bộ sách có ý nghĩa to lớn còn là vì,“động thái của Nam Bộ kháng chiến không chỉ liên quan đến Nam Bộ, mà mỗi động tĩnh của Nam Bộ đều dính đến động tĩnh chung của cả Việt Nam”; “Nam Bộ là biểu tượng tinh thần quật khởi dân tộc, nơi đầu tiên “đứng mũi chịu sào” trước quân xâm lược, nơi “đi trước về sau” là đội xung kích của kháng chiến toàn quốc”. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến là kết quả làm việc nghiêm túc, chấp hành Quyết định của Bộ Chính trị và các Quyết định số 1431/QĐ-TTg ngày 7-11-2001 và số 89/QĐ-TTg ngày 25-1-2002 của Thủ tướng Chính phủ. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hội đồng Chỉ đạo biên soạn, sự làm việc miệt mài, cố gắng rất lớn của Ban Thường trực, Ban Biên soạn và hàng trăm cộng tác viên, đến nay công trình đã được hoàn thành. Chúng ta kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ và tri ân các đồng chí Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng và các đồng chí trong Hội đồng Chỉ đạo biên soạn, trong Ban Biên soạn, các cộng tác viên vì tuổi cao, bệnh nặng, chịu hậu quả của cuộc chiến tranh ác liệt đã qua đời trong thời gian thực hiện công trình Lịch sử Nam Bộ kháng chiến đầy ý nghĩa này.
  10. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) Thiết thực chào mừng Đại hội lần thứ XI của Đảng và kỷ niệm 81 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật phối hợp với Hội đồng Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến cho ra mắt bạn đọc tập I và II phần chính sử bộ sách Lịch sử Nam Bộ kháng chiến cùng tập Biên niên sự kiện lịch sử Nam Bộ kháng 14 chiến 1945-1975 và Những vấn đề chính yếu trong lịch sử Nam Bộ kháng chiến do cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt làm Chủ tịch Hội đồng Chỉ đạo biên soạn, cố đồng chí Trần Bạch Đằng làm Chủ biên. Nội dung bộ sách đề cập rất nhiều sự kiện lịch sử xảy ra trong thời gian dài của cuộc kháng chiến có quy mô lớn, rất cam go, ác liệt, đầy hy sinh, gian khổ của quân dân Nam Bộ. Đặc biệt, công trình được tiến hành trong điều kiện cuộc chiến tranh đã lùi xa 35 năm, nhiều hồ sơ, nhân chứng lịch sử đã không còn, nhiều tư liệu bị phân tán, thất lạc; vì vậy, bộ sách khó tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết. Rất mong nhận được sự thể tất, lượng thứ của đồng bào, đồng chí trong cả nước và bạn bè thế giới, nhất là các đồng chí từng là nhân chứng của các sự kiện, thời khắc lịch sử mà bộ sách đề cập. Chúng tôi mong nhận được sự hợp tác, cung cấp thông tin, những góp ý xây dựng của bạn đọc để tiếp tục hoàn thiện trong lần xuất bản sau. Tập II phần chính sử tập trung phản ánh cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ của nhân dân Việt Nam diễn ra trên địa bàn Nam Bộ thời kỳ 1954-1975. Xin trân trọng giới thiệu tập II của bộ sách với bạn đọc. Tháng 12 năm 2010 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
  11. PHẦN THỨ HAI NAM BỘ KHÁNG CHIẾN CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ (1954 - 1975)
  12. Giai đoạn thứ nhất TỪ ĐẤU TRANH THI HÀNH HIỆP ĐỊNH GENÈVE 1954 ĐẾN ĐỒNG KHỞI 1960 CHƯƠNG MỘT ĐẤU TRANH THI HÀNH HIỆP ĐỊNH GENÈVE (từ giữa năm 1954 đến giữa năm 1956) I. TÌNH HÌNH THẾ GIỚI TRONG NỬA SAU CỦA THẬP NIÊN 50 THẾ KỶ XX Trong nửa sau của thập niên 50 thế kỷ XX, cuộc chiến tranh lạnh giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa phát triển gay gắt trên quy mô toàn cầu. 1. Mỹ và phe tư bản chủ nghĩa Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ trở thành nước giàu mạnh đứng đầu phe tư bản chủ nghĩa. Trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ cuối năm 1952, liên danh Dwight D. Eisenhower - Richard Nixon của Đảng Cộng hoà thắng cử. Ngay khi lên cầm quyền, Eisenhower đã khẳng định tham vọng làm bá chủ thế giới: “Định mệnh đặt lên đất nước chúng ta (tức là Mỹ) trách nhiệm lãnh đạo thế giới tự do”1. Eisenhower phê phán “chính sách ngăn chặn cộng sản” của Chính phủ Truman mang tính chất phòng ngự, thụ động và không ___ 1. Báo New York Times, ngày 21-1-1953.
  13. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) hiệu quả. Trong khi tranh cử, tập đoàn Eisenhower đưa ra chính sách toàn cầu mới, “chính sách đẩy lùi cộng sản” với tham vọng “giải phóng” các nước xã hội chủ nghĩa, một chính sách mà họ cho là năng động và chủ động hơn. Về quân sự, Eisenhower - Nixon đưa ra “chiến lược trả đũa ồ ạt”, 18 đẩy mạnh cuộc chạy đua vũ tang để tạo ra “một khả năng to lớn nhằm trả đũa ngay lập tức bằng những phương tiện và tại những địa điểm do chính chúng ta (Mỹ) lựa chọn”1. Để bao vây các nước xã hội chủ nghĩa, ngoài các khối quân sự Bắc Đại Tây Dương NATO (1949), ANZUS (1951, gồm Australia, New Zealand, Mỹ), CENTO (1959, gồm Anh, Iran, Pakistan, Thổ Nhĩ Kỳ), Mỹ lập thêm Tổ chức Liên minh phòng thủ Đông Nam Á - SEATO (ngày 8-9-1954), để chuẩn bị can thiệp vào Đông Dương; ký một loạt hiệp ước phòng thủ an ninh song phương như Hiệp ước Mỹ - Nam Triều Tiên2 (ngày 1-10-1953), Hiệp ước Mỹ - Pakistan (ngày 19-5-1954), Hiệp ước Mỹ - Đài Loan (ngày 2-12-1954), Hiệp ước Mỹ - Nhật (ngày 8-9-1951, gia hạn ngày 19-1-1960). Sau thất bại ở Đông Dương, Pháp tiếp tục sa lầy ở Algérie nên vẫn còn lệ thuộc vào viện trợ Mỹ3. Phong trào giải phóng dân tộc trỗi dậy, đưa Anh vào thế lúng túng đối phó, cho nên Anh phải ra sức củng cố “Khối thịnh vượng chung” (Liên hiệp Anh), rồi vào địa vị phụ họa Mỹ trong cuộc chiến tranh lạnh. 2. Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa Liên Xô đã sản xuất được bom nguyên tử (1949), tên lửa tầm xa (1957) và vượt qua Mỹ trong lĩnh vực chinh phục vũ trụ: đưa vệ tinh nhân tạo đầu tiên Sputnik (1957) và con người đầu tiên ___ 1. Tuyên bố của John F. Dulles, Ngoại trưởng Mỹ, trích dẫn bởi Stephen E. Ambrose, trong cuốn sách Rise to Globalism (Vươn lên chủ nghĩa toàn cầu), Nxb. Penguin Books, New York, 1991, tr. 138. 2. Nay là Hàn Quốc - BT. 3. Dưới sức ép của Mỹ, cuối cùng Pháp phải rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam vào tháng 4-1956.
  14. Chương một: Đấu tranh thi hành Hiệp định Genève (Yuri A. Gagarin) lên quỹ đạo trái đất (1961). So sánh lực lượng giữa hai phe đã có sự thay đổi lớn. Uy tín và ảnh hưởng của Liên Xô, của phe xã hội chủ nghĩa tăng lên rất nhanh và có mặt áp đảo phe tư bản chủ nghĩa trong những năm cuối thập niên 50 và đầu thập niên 60. 19 Tuy nhiên, trong quản lý kinh tế - xã hội của Liên Xô và các nước Đông Âu đã xuất hiện tình trạng trì trệ, do mô hình xã hội chủ nghĩa của Liên Xô có những vấn đề cơ bản trái với quy luật phát triển kinh tế - xã hội. Sau khi Stalin qua đời (1953) có nhiều sự thay đổi trong Ban lãnh đạo Liên Xô. Nikita Khrushchev trở thành Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (tháng 9-1953) và sau đó kiêm luôn chức vụ Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô (tháng 3-1958). Tại Đại hội lần thứ XX Đảng Cộng sản Liên Xô (từ ngày 14 đến ngày 25-2-1956), Khrushchev chủ trương các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau có thể “chung sống hòa bình”, “thi đua hòa bình với nhau”, các nước tư bản chủ nghĩa có thể “hòa bình tiến lên chủ nghĩa xã hội” thông qua con đường đấu tranh nghị viện, không nhất thiết bằng bạo lực cách mạng. Sự có mặt quá lâu của quân đội Xôviết tại các nước Đông Âu (theo yêu cầu của Khối quân sự Warszawa) nhằm đối đầu với Khối quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO), đã làm nảy sinh những va chạm mang tính dân tộc chủ nghĩa. Đã xảy ra bạo động chống Liên Xô ở Ba Lan (ngày 28-6-1956) và Hungary (ngày 23-10-1956). Nam Tư muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội theo đường lối độc lập của mình bị khối xã hội chủ nghĩa phê phán. Năm 1959, khối xã hội chủ nghĩa có thêm một thành viên mới: sau khi lật đổ chế độ độc tài Batista thân Mỹ, ban lãnh đạo mới của cách mạng Cuba - do Fidel Castro đứng đầu - tuyên bố theo con đường xã hội chủ nghĩa. Đây là quốc gia xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở Tây Bán Cầu, nằm sát nước Mỹ. Cùng với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ trên thế giới, giai cấp công nhân trong các nước phát triển và đang
  15. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) phát triển cũng tăng cao cả về lượng và chất. Phong trào công nhân đấu tranh vì hòa bình, dân chủ, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội ở các nước tư bản chủ nghĩa và dân tộc chủ nghĩa phát triển mạnh, trở thành một mũi tiến công quan trọng đánh vào giai cấp tư sản, chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước. 20 Tuy nhiên, phong trào cộng sản và công nhân các nước châu Âu cũng có những chuyển động bất lợi, nổi lên ở các điểm: Sau khi Quốc tế Cộng sản (Kominter) tuyên bố giải tán tháng 8 năm 1943, Phòng Thông tin các Đảng Cộng sản Quốc tế (Kominform) thành lập năm 1947 và chấm dứt hoạt động từ năm 1956, các tổ chức quần chúng Liên hiệp Công đoàn thế giới, Thanh niên Dân chủ thế giới, Phụ nữ Dân chủ thế giới với Liên Xô là trung tâm và là ngọn cờ cổ vũ đấu tranh của nhân dân thế giới vì Hòa bình, Độc lập dân tộc, Tiến bộ xã hội trước sự biến đổi sâu sắc của thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đã giảm dần sức tác động mạnh mẽ ban đầu. Hội nghị các Đảng Cộng sản và công nhân thế giới (1957) và Hội nghị đại biểu 81 Đảng Cộng sản và công nhân thế giới (1960) ra bản Tuyên bố làm cương lĩnh cách mạng chung cho tất cả các đảng Mác - Lênin1 nhưng bắt đầu nảy sinh những rạn nứt trong khối đoàn kết, nhất trí đã từng là sức mạnh của phong trào cách mạng thế giới, chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa tư bản. Trung Quốc bất đồng ý kiến với Liên Xô về một loạt vấn đề có tính nguyên tắc trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, quan hệ về mặt Đảng và Nhà nước giữa Liên Xô và Trung Quốc ngày càng xấu hơn2, ảnh hưởng và gây bất lợi lớn cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. ___ 1. Tuyên ngôn năm 1957 được Hội nghị đại biểu của 81 Đảng Cộng sản và công nhân họp ở Mátxcơva năm 1960 bổ sung và phát triển (Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, tr. 231, 626). 2. Liên Xô tuyên bố hủy bỏ Hiệp định cung cấp kỹ thuật và nguyên liệu hạt nhân cho Trung Quốc (tháng 10-1957) và sau đó hủy toàn bộ các hợp đồng hợp tác khoa học kỹ thuật giữa hai nước, rút về nước hàng nghìn chuyên gia đang giúp Trung Quốc trên lĩnh vực công nghiệp. Đã bắt đầu có xung đột biên giới giữa hai quốc gia lớn nhất của phe xã hội chủ nghĩa.
  16. Chương một: Đấu tranh thi hành Hiệp định Genève 3. Phong trào giải phóng dân tộc Cùng với chiến thắng của Việt Nam chống cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, phong trào giải phóng dân tộc có bước phát triển vượt bậc, đẩy nhanh quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ. Chỉ trong vòng 5 năm từ năm 1956 đến năm 1960 đã có 26 21 nước giành được độc lập. Riêng trong năm 1960 có 19 nước được giải phóng, trong đó có 18 nước châu Phi, cho nên năm 1960 được gọi là “Năm châu Phi”1. Ở Trung Đông, một loạt biến động chính trị - quân sự đã diễn ra: Cộng hòa Ai Cập được thành lập (1953) và kênh Suez - con đường hàng hải huyết mạch từ Tây sang Đông và ngược lại, - được quốc hữu hóa (1958), Cộng hoà Iraq ra đời (1958), Cộng hòa Lebanon tách khỏi ảnh hưởng của Mỹ (ngày 25-10-1958). Ở Nam Mỹ, nơi Mỹ xem là “sân sau” của mình, các chế độ độc tài quân phiệt được Mỹ hậu thuẫn nên còn rất mạnh ở Argentina, Chile, Brazil, Ecuador, Bolivia, Uruguay , riêng chế độ Batista bị nhân dân Cuba lật đổ. Ở Bắc Á, nhân dân Nam Triều Tiên phản đối cuộc bầu cử gian lận, khiến Tổng thống Lý Thừa Vãn (thân Mỹ) phải từ chức, lưu vong ở Hawaii (1960); một chính phủ thân Mỹ khác do Park Chung Hy đứng đầu lên thay. Nhìn chung, tuy trong nội bộ khối xã hội chủ nghĩa đã xuất hiện những mâu thuẫn nội tại và những hạn chế nhất định, nhưng “ba dòng thác cách mạng” trên thế giới (phong trào xã hội chủ ___ 1. Các nước được độc lập: - 1956: Sudan, Maroc, Tunisie. - 1957: Ghana, Liên bang Mã Lai. - 1958: Guinée. - 1959: Singapore (tự trị). - 1960: Đông Cameroun, Congo Kinshasa (Zaire), Togo, Senegal, Mali, Madagascar, Somali, Cộng hoà Trung Phi, Dahomey (Bénin), Niger, Thượng Volta (Burkina Faso), Bờ Biển Ngà, Tchad, Congo Brazzaville, Chypre, Gabon, Nigeria, Mauritanie, Uganda.
  17. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) nghĩa, phong trào công nhân và nhân dân tiến bộ ở các nước tư bản chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới) đang ở thế tiến công mạnh mẽ vào chủ nghĩa tư bản. Động lực của ba dòng thác cách mạng là bốn mối mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, mâu thuẫn giữa các nước độc lập 22 dân tộc và chủ nghĩa đế quốc, mâu thuẫn giữa các đế quốc với nhau, mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư bản, trong đó mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Trong khi tình thế đối đầu giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa diễn ra gay gắt, phong trào giải phóng dân tộc ở các châu lục ngày càng sôi nổi, xu hướng chống Mỹ phát triển mạnh, thì xu thế trung lập và không liên kết được nhiều nước dân tộc chủ nghĩa hưởng ứng. 4. Tình hình khu vực châu Á Ở khu vực châu Á, có ba xu thế chính trị khác nhau. Trước hết là xu thế xã hội chủ nghĩa của các nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa1, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên2, Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ. Các nước còn nằm trong quỹ đạo của Mỹ, chủ trương chống cộng triệt để, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan và các thuộc địa ___ 1. Ở Trung Quốc, Mao Trạch Đông chủ trương đẩy nhanh tốc độ cải tạo nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp (1953), đưa 96,3% hộ nông dân và 92,2% thợ thủ công vào hợp tác xã (1956). Phát động phong trào Đại nhảy vọt (1957), toàn dân làm gang thép, nhằm tăng sản lượng thép lên 20 lần, tăng sản xuất công nghiệp lên 6,5 lần, tăng sản xuất nông nghiệp lên 2,5 lần (Nhưng chất lượng đời sống nhân dân không được cải thiện tương ứng). (Xem Nguyễn Huy Quý: Lịch sử hiện đại Trung Quốc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 47, 48, 59, 94). 2. Sau ba năm chiến tranh (1950-1953), một hiệp định đình chiến được ký ở Bàn Môn Điếm, ngày 27-7-1953, lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới quân sự giữa hai miền Nam, Bắc của Triều Tiên.
  18. Chương một: Đấu tranh thi hành Hiệp định Genève cũ của Mỹ, Anh, Pháp (như Philippines, Pakistan, Mã Lai, Singapore, miền Nam Việt Nam ). Ngoài các hiệp ước quân sự song phương (như đã nói ở phần trước), Mỹ còn lập Tổ chức liên minh phòng thủ Đông Nam Á1 nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của phong trào giải phóng dân tộc theo xu hướng xã hội chủ nghĩa lan rộng tới Đông 23 Nam Á, bảo vệ vùng ảnh hưởng của Mỹ, bảo vệ chủ nghĩa quốc gia theo xu hướng tư bản chủ nghĩa. Từ năm 1955, xuất hiện một khuynh hướng chính trị mới: các nước mới giành được độc lập không muốn bị lôi kéo vào cuộc “chiến tranh lạnh” giữa hai khối Liên Xô và Mỹ, tự tìm con đường trung lập, không liên kết về mặt quân sự với bất cứ khối nào. Từ ngày 18 đến ngày 24-4-1955, 29 nước Á - Phi tham dự hội nghị tại Bangdung (Indonesia), đưa ra 10 nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình (trên cơ sở phát triển năm nguyên tắc2 do Ấn Độ và Trung Quốc đề xướng tháng 6-1954). Ấn Độ3, Miến Điện (nay là Myanmar) và Indonesia là ba nước có nhiều đóng góp cho thành công của hội nghị. ___ 1. Southeast Asia Treaty Organization, viết tắt là SEATO. 2. Từ điển bách khoa Việt Nam (t.3, tr. 39) ghi Trung Quốc và Ấn Độ họp với nhau ngày 29-4-1954. “Lịch sử Trung Quốc” ghi: năm nguyên tắc này do Nehru và Chu Ân Lai đưa ra trong chuyến Chu Ân Lai sang Ấn Độ “trong thời gian họp Hội nghị Genève” (nói đúng hơn: trong thời gian hội nghị nghỉ họp). Sách Phong trào không liên kết ghi là: tháng 6-1954 (thời gian này có thể đúng hơn). Năm nguyên tắc đó là: a. Tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của nhau. b. Không xâm phạm lẫn nhau. c. Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. d. Bình đẳng, hai bên cùng có lợi. đ. Chung sống hòa bình. 3. Ấn Độ giữ chức Chủ tịch Ủy hội quốc tế kiểm soát và giám sát đình chiến theo Hiệp định Genève 1954 về Đông Dương (International Commission for Control and Supervision, viết tắt là ICCS). Sau những xung đột vũ trang ở biên giới Ấn Độ - Trung Quốc, Ấn Độ nhận viện trợ của Mỹ.
  19. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) Sau Hiệp định Genève, Chính phủ Vương quốc Campuchia - do Hoàng thân Sihanouk đứng đầu - đi theo con đường trung lập, không tham gia bất cứ liên minh quân sự hay chính trị nào, tiếp nhận viện trợ từ mọi nước miễn là không có điều kiện ràng buộc. Mỹ, Thái 24 Lan, chính quyền Sài Gòn giúp các lực lượng thân Mỹ (như Sơn Ngọc Thành, Sam Xari, Đáp Chuôn ) tìm cách lật đổ Chính phủ Sihanouk, nhưng mọi âm mưu đó đều bị đập tan. Tình hình ở Vương quốc Lào có sự phân hóa gay gắt giữa ba lực lượng: - Đảng Nhân dân Lào (thành lập ngày 22-3-1955, nay là Đảng Nhân dân cách mạng Lào) và Mặt trận Lào yêu nước (thành lập ngày 6-1-1956) là lực lượng cách mạng và yêu nước. - Lực lượng thân Mỹ của Kà Tày, Phủi Sananikon, Phumi Nosavẳn. - Lực lượng trung lập do Hoàng thân Phuma cầm đầu. Cuộc đấu tranh của nhân dân Lào - dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Lào và Mặt trận Lào yêu nước - dẫn tới sự thành lập của hai chính phủ liên hiệp (lần thứ nhất vào tháng 8-1956, lần thứ hai vào tháng 6-1962) có sự tham gia của Hoàng thân Suphanuvong, đại diện Mặt trận Lào yêu nước, nhưng do Mỹ và các lực lượng thân Mỹ phá hoại, cả hai chính phủ liên hiệp đều tồn tại không lâu. Nhìn chung trong thập niên 50 của thế kỷ XX, ở khu vực châu Á, một số nước đi theo xu hướng trung lập tích cực, nhưng phần lớn các nước còn lại vẫn chịu sự chi phối của Mỹ cả về đối nội, đối ngoại, sẵn sàng vào phe Mỹ để “ngăn chặn làn sóng Cộng sản” từ Trung Quốc, Bắc Việt Nam tràn xuống. Đường lối, chính sách của Việt Nam vào những năm đầu thi hành Hiệp định Genève 1954 phải tính đến âm mưu của đế quốc Mỹ cùng với tác động của “chiến tranh lạnh”giữa hai phe gây ra trong khu vực châu Á và thế giới.
  20. Chương một: Đấu tranh thi hành Hiệp định Genève II. TÌNH HÌNH TRONG NƯỚC 1. Việt Nam chuyển sang một thời kỳ mới Sau 9 năm chiến tranh, Hiệp định Genève được ký kết ngày 20-7-1954 (đúng ra là sáng sớm ngày 21-7-1954) đã đem lại việc 25 đình chỉ chiến sự. Bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève đề ra hướng giải quyết việc thống nhất nước Việt Nam bằng cuộc Tổng tuyển cử dự kiến được tổ chức trong cả nước vào tháng 7-1956. Đất nước đã bước vào một giai đoạn mới với những đặc điểm sau: + Từ chiến tranh chuyển sang hòa bình. Đó là một sự biến đổi rất lớn, ảnh hưởng tới toàn bộ chính sách, nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động của mỗi bên. + Lãnh thổ Việt Nam tạm thời phân làm hai vùng tập kết quân đội, lấy vĩ tuyến 17 (dọc theo sông Bến Hải) làm giới tuyến quân sự tạm thời. Miền Bắc thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, miền Nam do Pháp và chính quyền Sài Gòn kiểm soát. + Thực dân Pháp, tuy trên danh nghĩa vẫn còn trách nhiệm thi hành Hiệp định Genève, nhưng lệ thuộc vào viện trợ Mỹ, thường phải nhượng bộ trước các yêu sách của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Do đó, đế quốc Mỹ đã trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Việt Nam. Tại Hội nghị Genève, Chính phủ Pháp đã phải công khai cam kết “sẵn sàng rút quân đội Pháp khỏi lãnh thổ” nước Việt Nam, “tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ” của dân tộc Việt Nam1. Trên thực tế, tuy có mâu thuẫn về quyền lợi với Mỹ nhưng do khó khăn về kinh tế - tài chính, Pháp phải dựa vào ___ 1. Điều 10 và 11, Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève.
  21. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) viện trợ Mỹ, cho nên xu hướng “hướng về Đại Tây Dương” (thân Mỹ) vẫn chi phối chính trường nước Pháp1. Mỹ không chấp nhận bản Tuyên bố chung của Hội nghị Genève, ra một tuyên bố đơn phương nhưng buộc phải “ghi nhận” Hiệp định và bản Tuyên bố chung và cam kết không “đe dọa để thay đổi những 26 điều khoản” của Hiệp định Genève. Sau hai Hiệp định đình chiến ở Triều Tiên (tháng 7-1953) và ở Đông Dương (tháng 7-1954), Mỹ xúc tiến mưu đồ biến Nam Việt Nam thành chốt chặn làn sóng cộng sản và phong trào giải phóng dân tộc đang lớn mạnh ở châu Á. Ngày 24-6-1954, Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles nói với các nhà lãnh đạo Quốc hội Mỹ: “Điều cơ bản là phải lập ra một phòng tuyến mà cộng sản không thể vượt qua, rồi sau đó giữ vững vùng này và chiến đấu lật đổ (các chính thể cộng sản) trong khu vực này với tất cả sức mạnh mà chúng ta (Mỹ) có thông qua viện trợ kinh tế và xây dựng một lực lượng quân sự hùng mạnh - Mỹ phải đi đầu trong việc hình thành một tập đoàn phòng thủ khu vực đủ mạnh để duy trì tự do tại Đông Nam Á”2. Ngày 8-9-1954 Mỹ lập ra Tổ chức Liên minh phòng thủ Đông Nam Á (SEATO) nhằm chống lại Hiệp định Genève vừa được ký kết, đặt miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia dưới ô bảo hộ của tổ chức này. Nắm rõ ý đồ của Mỹ, từ từng bước can thiệp vào chiến tranh Đông Dương đến loại bỏ và thay thế Pháp ở Đông Dương, Hội ___ 1. Theo P. Devillers và J. Lacouture, vào thời gian này “ dòng chủ lưu, các nhà ngoại giao và quân sự (Pháp) không trừ một ai, là tỏ ra thân Mỹ (“hướng về Đại Tây Dương” - BT) họ chỉ có khác nhau chút ít trong (cách) diễn đạt (về việc) sử dụng viện trợ của Mỹ”. (P.Devillers và J. Lacouture: Vietnam de la guerre française à la guerre américaine (Việt Nam từ cuộc chiến tranh của Pháp đến cuộc chiến tranh của Mỹ), Nxb. Seuil, 1969, tr. 341). 2. George C. Herring: America’s longest war (Cuộc chiến dài nhất của nước Mỹ), Nxb. Mc.Graw-Hill, Inc, New York, 1986, tr. 41.
  22. Chương một: Đấu tranh thi hành Hiệp định Genève nghị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam mở rộng lần thứ sáu (từ ngày 15 đến ngày 17-7-1954) đã xác định: “Đế quốc Mỹ là một trở lực chính ngăn cản việc lập lại hòa bình ở Đông Dương và hiện đang trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Đông Dương”1. Từ những đặc điểm của giai đoạn mới, Bộ Chính trị Trung ương 27 Đảng đã đề ra nhiệm vụ cách mạng của hai miền: “Nhiệm vụ chung của Đảng ta là: đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện Hiệp định đình chiến, đề phòng và khắc phục mọi âm mưu phá hoại Hiệp định đình chiến để củng cố hòa bình, ra sức hoàn thành cải cách ruộng đất, phục hồi và nâng cao sản xuất, tăng cường xây dựng quân đội nhân dân để củng cố miền Bắc, giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam, đặng củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc"2. 2. Tình hình chính trị - kinh tế - xã hội miền Bắc Sau 9 năm kháng chiến gian khổ, trong khí thế chiến thắng, nhân dân miền Bắc hân hoan đón mừng hòa bình lập lại, chen lẫn niềm âu lo về đất nước bị chia cắt, miền Nam sẽ phải sống dưới sự quản lý của chính quyền Sài Gòn. Ngày 10-10-1954, đoàn quân chiến thắng tiến vào tiếp quản thủ đô Hà Nội. Ngày 1-1-1955, đông đảo nhân dân tập hợp ở Quảng trường Ba Đình chào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngày 13-5-1955, bộ đội Việt Nam tiến vào thành phố Hải Phòng hoàn tất việc tiếp quản toàn miền Bắc. Sau ngày giải phóng, Chính phủ và nhân dân miền Bắc bắt tay ngay vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng cuộc sống mới. ___ 1. Xem: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.15, tr. 225. 2. Văn kiện Đảng Toàn tập, t.15, tr. 287.
  23. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) Gần một thế kỷ dưới chế độ thực dân của Pháp, rồi thời kỳ đen tối “một cổ hai tròng” (1940-1945), chín năm chiến tranh đã để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cần giải quyết. Nông nghiệp miền Bắc vốn lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá 28 nặng nề; 143.000 ha ruộng đất bị bỏ hoang; nhiều công trình thủy nông bị phá hủy; hàng vạn trâu bò bị giết khiến sức kéo thiếu nghiêm trọng. Công nghiệp miền Bắc nhỏ bé. Sau ngày hoà bình lập lại, nhiều nhà máy xí nghiệp gặp khó khăn, phải ngưng hoạt động. Phần lớn đường bộ, đường sắt bị hư hỏng nặng, 3.500 cầu cống bị phá sập. Rất nhiều phương tiện vận tải không hoạt động được vì hư hỏng hay thiếu phụ tùng thay thế. Do sản xuất ngưng trệ, lưu thông phân phối trở ngại nên hàng hoá trên thị trường khan hiếm, giá cả tăng vọt. Tháng 10-1954, gần nửa triệu người bị đói, có nơi có người chết đói. Số bác sĩ, kỹ sư, chuyên viên kỹ thuật trong các ngành chuyên môn thiếu trầm trọng. Các bệnh viện, bệnh xá thiếu thuốc men. Các bệnh sốt rét, lao, đau mắt hột rất phổ biến. Trong thời gian chuyển quân, trước khi xuống tàu vào Nam, Pháp, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã tiến hành nhiều vụ phá hoại nhằm gây khó khăn cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau này. Họ phá hoại nhiều công trình công cộng hay di tích lịch sử - văn hóa (chùa Một Cột ở Hà Nội, nhà máy điện Uông Bí, cầu Phủ Lạng Thương ở Bắc Giang, cầu Thạch Lỗi ở Sơn Tây, cầu Đồng Lạc ở Vĩnh Yên ); đốt phá một số kho tàng; tháo dỡ máy móc, thiết bị; di chuyển tài sản, vật tư vào Nam; hủy hoại hồ sơ, tài liệu của các cơ quan, nhà máy; dời một số nhà máy, hãng buôn, trường học vào miền Nam Đặc biệt, từ ngày 1-6-1954 Mỹ tổ chức hai đội biệt kích do Phái bộ quân sự Sài Gòn (SMM)1 chỉ đạo để thực hiện các vụ phá hoại ___ 1. SMM: Saigon Military Mission, thực chất là một tổ chức tình báo bí mật, do đại tá Mỹ Edward Lansdale cầm đầu.
  24. Chương một: Đấu tranh thi hành Hiệp định Genève và tiến hành chiến tranh tâm lý bí mật1. Chúng tung những tờ truyền đơn giả mạo (ký tên là “Việt Minh”) xuyên tạc chính sách của Việt Minh khi vào tiếp quản vùng tạm chiếm ở miền Bắc nhằm gieo rắc lo sợ trong dân chúng. Chúng còn phao tin “Mỹ sắp thả bom nguyên tử xuống miền Bắc” để người dân không dám ở lại. Đối với tín đồ Công 29 giáo, chúng tung tin “Chúa đã vào Nam”, “Ai ở lại miền Bắc với Cộng sản vô thần thì sẽ bị mất linh hồn”, cung cấp tiền bạc để một số linh mục tổ chức cho giáo dân trong cả giáo xứ cùng di cư vào Nam. Trong lúc đó, Đảng và Chính phủ miền Bắc phải lo đón tiếp, tổ chức cuộc sống cho hàng vạn cán bộ, chiến sĩ, con em miền Nam tập kết ra Bắc. Trước vô vàn khó khăn đó, Chính phủ và nhân dân miền Bắc ra sức khôi phục kinh tế, ổn định tình hình. Trước hết là phục hồi sản xuất lương thực, thực phẩm và những mặt hàng nhu yếu nhằm phục vụ đời sống hằng ngày. Khắp nơi nông dân khai hoang phục hóa, đào mương, khơi ngòi, đắp đê, sửa chữa các hệ thống thủy lợi, thực hiện công trình thủy nông lớn Bắc - Hưng - Hải. Việc sửa sang và làm mới đường bộ, đường sắt diễn ra khắp nơi. Nhiều bến cảng được đưa vào hoạt động trở lại: Hải Phòng, Cẩm Phả, Hòn Gai, Bến Thủy. Các dịch vụ như cung cấp điện, nước, bưu chính - viễn thông được tái lập. Các trường học, bệnh viện, chợ búa hoạt động trở lại bình thường. Ngày 6-12-1954, Đại hội văn công toàn quốc khai mạc ở Hà Nội là hội diễn lớn nhất kể từ ngày hòa bình lập lại. Ngày 19-1-1955, Trường Đại học nhân dân Việt Nam khai giảng; ngày 19-3-1955, Trường sư phạm miền núi trung ương bắt đầu năm học đầu tiên ___ 1. Mùa hè 1954 Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ kêu gọi thực hiện một “sáng kiến mới” để giữ vững địa vị của Mỹ ở Đông Nam Á trong đó có việc “dùng mọi biện pháp hiện có” để làm suy yếu chế độ Việt Minh còn non nớt ở Bắc Việt Nam” (Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ: Chính sách của Mỹ tại Viễn Đông tháng 8-1954, Quyển 10, tr. 731-741, trích lại của George C. Herring: America's longest war, Sđd, tr. 78). Thực hiện chủ trương này, Edward Lansdale và Lucien Conein đã đưa hai đội biệt kích vũ trang (200 người) xâm nhập miền Bắc.
  25. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) Trong hoàn cảnh cực kỳ thiếu thốn, Chính phủ và nhân dân miền Bắc đã dành mọi ưu ái trong việc lo cuộc sống, công tác, chữa bệnh, học tập cho cán bộ, bộ đội miền Nam tập kết, đặc biệt là thiếu niên nhi đồng. 30 Bằng nỗ lực chủ quan, đồng thời tranh thủ sự đồng tình và giúp đỡ của bạn bè quốc tế, trước hết là Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác, miền Bắc nêu cao quyết tâm nhanh chóng khôi phục đời sống bình thường để có thể làm chỗ dựa cho cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam. Nhìn chung, trong không khí chiến thắng vì nửa nước đã giành được độc lập tự do, vượt qua vô vàn khó khăn, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chỉ rõ hai nhiệm vụ mang tính chiến lược của miền Bắc là: - Củng cố miền Bắc là điều kiện sống còn của bản thân chế độ Dân chủ Cộng hòa. - Củng cố miền Bắc còn làm tốt nhiệm vụ hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh hòa bình, thống nhất đất nước. 3. Tình hình chính trị - kinh tế - xã hội miền Nam 1- Theo Hiệp định Genève, Nam Việt Nam từ vĩ tuyến 17 đến Cà Mau thuộc quyền quản lý của chính quyền Sài Gòn, trước khi tiến hành tổng tuyển cử thống nhất đất nước (quy định tổ chức vào tháng 7-1956), sau khi bộ đội cách mạng tập kết chuyển quân. Các vùng tự do cũ gồm hai căn cứ rộng lớn là Liên khu 5 (Trung Trung Bộ) và Khu 9 (Tây Nam Bộ) cùng một số vùng đã được giải phóng ở Khu 7 (Đông Nam Bộ), Khu 8 (Trung Nam Bộ) đều nằm dưới sự kiểm soát của chế độ Mỹ - Diệm. Dân số miền Nam lúc đó là 12 triệu dân. Sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, giai cấp nông dân (chiếm hơn 80% dân số) đã có nhiều biến đổi căn bản: người nông dân được cách mạng lấy ruộng đất tịch thu của đế quốc Pháp, Việt gian tạm cấp ngay trong kháng chiến chống
  26. Chương một: Đấu tranh thi hành Hiệp định Genève Pháp1, đã trở thành trung nông, chiếm tỷ lệ lớn trong nông dân, trở thành nhân vật trung tâm của nông thôn. Giai cấp công nhân sống tập trung ở các đô thị vùng tạm chiếm, đa số có gốc nông dân, trong chiến tranh làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp (công nghiệp quốc phòng, công nghiệp nhẹ) hoặc trong các 31 cơ sở dịch vụ, hoặc lao động ở các bến cảng, v.v Dân lao động ở thành thị, số lượng tăng do chiến tranh, sống bằng nhiều nghề, từ làm thuê làm mướn đến buôn bán nhỏ ở các chợ, hoặc bán hàng rong, hình thành các khu xóm lao động ngay trong nội đô Sài Gòn - Chợ Lớn (như các khu Bàn Cờ, Vườn Lài, Bàu Sen, Mả Lạng ) và các thị xã, thị trấn. Tầng lớp trí thức, xuất thân từ gia đình trung lưu, công chức hoặc điền chủ, một số có học vị, được đào tạo từ nền văn hóa Pháp. Nhiều người có tinh thần dân tộc, được trọng vọng trong xã hội. Một số “trí thức” gọi là trùm chăn vì không hoạt động cho kháng chiến nhưng cũng không cộng tác với Pháp, giữ tiết tháo. Một số trước kia theo Pháp, nay ngả dần theo Mỹ với tâm lý dựa vào Mỹ là nước giàu mạnh hơn. Giai cấp tư sản có sự phân hóa, một số làm giàu nhờ chiến tranh xâm lược của Pháp (kinh doanh phế liệu hoặc cung cấp dịch vụ), trở thành mại bản thân Pháp; một số muốn phát triển sản xuất trong nước, dần dần thay thế hàng ngoại nhập, có mâu thuẫn với chính sách viện trợ của Mỹ ngày càng chi phối cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương. Phần lớn địa chủ không còn sống bằng nguồn thu địa tô như cũ. Một bộ phận ở vùng tạm chiếm mở nhà máy, nhà buôn, có xu hướng tư sản hóa. Một số điền chủ yêu nước đã hiến điền cho cách mạng. ___ 1. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, phong trào tạm cấp ruộng đất ở Nam Bộ còn tiếp tục với ruộng đất do các điền chủ yêu nước hiến điền và đất vắng chủ; sau Hiệp định Genève thì cấp hẳn, bỏ từ “tạm cấp”.
  27. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) Trong chiến tranh, đã hình thành một tầng lớp sĩ quan, xuất thân từ quân đội Pháp, dần dần chuyển sang chỉ huy đội quân chính quy “quốc gia Việt Nam” của Bảo Đại. Về tính chất, đội quân này đã có mặt khác với lực lượng “thân binh” (partisan) do Pháp tuyển 32 dụng khi trở lại xâm lược Việt Nam. Một số tôn giáo được Pháp tài trợ và trang bị vũ khí để lập các lực lượng vũ trang chống lại kháng chiến, đã từng cát cứ ở các khu vực nông thôn (Tây Ninh, An Giang ). Cuộc di cư của hơn 850.000 người miền Bắc vào Nam năm 1954 là một âm mưu lớn của Mỹ vừa nhằm tạo cơ sở xã hội - chính trị cho chế độ Sài Gòn, vừa nhằm làm mất uy tín của chính quyền miền Bắc. Động cơ của cuộc di cư lớn lao đó rất phức tạp, một phần do Pháp và Mỹ tác động, vừa hù dọa, vừa dụ dỗ, nhất là đối với người dân theo Công giáo; phần khác do ảnh hưởng xấu của những sai lầm trong các đợt cải cách ruộng đất ở miền Bắc (phát động từ năm 1953). Trong những người Công giáo di cư năm 1954, một số trở thành chỗ dựa của chế độ Sài Gòn; trong đó, có những người trở thành cốt cán trong chính sách “Tố cộng, diệt cộng” hiểm độc sau này của chính quyền họ Ngô. Hàng vạn gia đình từng sống trong vùng tự do Liên khu 5 (gồm 4 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên) do chính quyền cách mạng quản lý trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, phải di chuyển đến các địa phương khác (chủ yếu là vào Nam Bộ) để trốn tránh việc chính quyền Mỹ - Diệm khủng bố, trả thù những người cựu kháng chiến và thân nhân những người đi tập kết. Việc di dân diễn ra hai đợt: đợt đầu, sau khi quân đội cách mạng chuyển quân tập kết ra miền Bắc (cuối năm 1954); đợt thứ hai, sau khi có Luật 10/59 của Ngô Đình Diệm (tháng 5-1959). Sau Hiệp định Genève 1954, mặc dù toàn bộ lãnh thổ nam vĩ tuyến 17O nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền Sài Gòn, nhưng người dân miền Nam đã được sống hoặc đã hiểu tính ưu việt của chế
  28. Chương một: Đấu tranh thi hành Hiệp định Genève độ dân chủ nhân dân, nên luôn ủng hộ cách mạng, trong đó, hơn 60.000 người cán bộ, đảng viên được bố trí ở lại Nam Bộ (ở Trung Bộ hơn 25.000), trở thành lực lượng nòng cốt và lãnh đạo quần chúng trong cuộc đấu tranh với Mỹ - Diệm cả ở nông thôn và đô thị. 33 2- Về kinh tế, do Nam Bộ nói riêng, miền Nam nói chung ít bị tàn phá trong chiến tranh so với miền Bắc, lại có thêm viện trợ của Mỹ (trung bình 200 triệu đôla/năm), nên các nhà máy, xí nghiệp, đồn điền có từ trước năm 1954 vẫn duy trì được các hoạt động. Chính quyền Sài Gòn có điều kiện tạm thời ổn định tình hình kinh tế - xã hội. Chính quyền Sài Gòn do Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng (thay Bửu Lộc) từ ngày 7-7-1954 (2 tuần lễ trước ngày ký Hiệp định Genève) được Mỹ đưa lên nhằm thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam. Thủ đoạn chủ yếu của chủ nghĩa thực dân kiểu mới là công nhận độc lập chính trị của các nước vốn là thuộc địa cũ, nhưng kiểm soát xu hướng chính trị các nước này thông qua kiểm soát về kinh tế; viện trợ kinh tế kèm theo điều kiện chính trị do đế quốc Mỹ áp đặt. Chỗ dựa xã hội của chủ nghĩa thực dân mới là các giai cấp, tầng lớp bóc lột ở nước đó. Ở miền Nam, Mỹ dựa vào giai cấp phong kiến chống cộng mà tiêu biểu là gia đình họ Ngô. Chính quyền Sài Gòn, theo phân tích và đánh giá của Bí thư Xứ ủy Lê Duẩn, “không phải chỉ là một chính quyền của đế quốc phong kiến bại trận để lại, nó là một chính quyền thực dân kiểu mới của một đế quốc xâm lược đương muốn gây chiến tranh, là đế quốc Mỹ Chính bọn đế quốc xâm lược muốn gây chiến tranh này đương cầm đầu bọn phong kiến Ngô Đình Diệm hiếu chiến, trả thù, sự cấu kết ấy đã phát sinh ra một chế độ độc tài phát xít tàn ác thâm độc”1. Như vậy, trong lòng xã hội miền Nam đã lộ rõ mâu thuẫn giữa nhân dân miền Nam với chính quyền do Mỹ dựng lên. Mâu thuẫn ___ 1. Văn kiện Đảng Toàn tập, t.17, tr. 787-788.
  29. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) cơ bản này thể hiện trong các mâu thuẫn chủ yếu sau: - Mâu thuẫn giữa nguyện vọng hòa bình, thống nhất và độc lập dân tộc của nhân dân với chính sách của đế quốc Mỹ và chế độ Ngô Đình Diệm chia cắt lâu dài đất nước, gây lại chiến tranh. 34 - Mâu thuẫn giữa khát vọng tự do dân chủ, quyền bảo đảm tính mạng tài sản, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân với chính sách phát xít, đàn áp, nô dịch của Mỹ - Diệm. - Mâu thuẫn giữa quyền có công ăn việc làm, lương bổng hợp lý của công nhân lao động, quyền sở hữu ruộng đất giành được trong kháng chiến của nông dân, quyền mở mang phát triển công thương nghiệp dân tộc , với chính sách kinh tế lệ thuộc Mỹ của chế độ Mỹ - Diệm, bóc lột người lao động, lấy đất đai của nông dân trả lại cho địa chủ. Bên cạnh những mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu nói trên giữa nhân dân Việt Nam và Mỹ - Diệm, còn nổi lên gay gắt mối mâu thuẫn giữa Pháp và Mỹ trong ý đồ giành giật miền Nam, giữa số tướng tá và chính khách thân Pháp đang nắm quân đội, cảnh sát (Nguyễn Văn Hinh, Lê Văn Viễn) và các lực lượng vũ trang giáo phái (Cao Đài, Hòa Hảo) với số thân Mỹ (đứng đầu là Ngô Đình Diệm) đang giữ thế chi phối trong bộ máy chính quyền và quân đội, được Mỹ hết lòng hậu thuẫn. Những mâu thuẫn đó bộc lộ cụ thể trong các diễn biến ở miền Nam trong những năm tiếp sau Hiệp định Genève. 3- Ngay từ năm 1954, ở miền Nam đã diễn ra cuộc đấu tranh mới giữa: - Một bên là đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn với ưu thế về bộ máy cai trị và đàn áp, về sức mạnh kinh tế do Mỹ viện trợ. (Trong lòng chính quyền Sài Gòn lại âm ỉ mâu thuẫn giữa Pháp với Mỹ, giữa số thân Pháp với số thân Mỹ). - Một bên là nhân dân miền Nam, đã được hưởng độc lập tự do sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, đã kinh qua cuộc
  30. Chương một: Đấu tranh thi hành Hiệp định Genève chiến tranh cách mạng chống xâm lược Pháp, đã sống nhiều năm dưới chế độ dân chủ nhân dân trong các vùng tự do ở nông thôn, đã được khơi động tinh thần dân tộc, chống áp bức dù ở vùng địch tạm chiếm, vùng đô thị, đã thực tế giành được những quyền lợi cụ thể về ruộng đất, tổ chức đời sống mới, đã có nhận thức sâu sắc 35 hơn về quyền dân tộc tự quyết, về tự do dân chủ; có một đội ngũ nòng cốt là những cán bộ và đảng viên cộng sản, trung với nước, hiếu với dân, dũng cảm, mưu trí, có bản lĩnh; có cơ sở pháp lý của Hiệp định Genève được quốc tế công nhận. III. CHỦ TRƯƠNG CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG - TỔ CHỨC LẠI LỰC LƯỢNG YÊU NƯỚC, CÁCH MẠNG Ở NAM BỘ 1. Chủ trương của Đảng trong tình hình mới Trước ngày ký Hiệp định Genève, từ ngày 15 đến ngày 17-7- 1954, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp Hội nghị lần thứ sáu mở rộng. Hội nghị xác định “đế quốc Mỹ hiện đang trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Đông Dương”, do đó từ nay phải “chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ và hiếu chiến Pháp” nhằm “củng cố hòa bình và thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc”1. Sau khi Hiệp định Genève 1954 được ký kết, ngày 6-9-1954, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã họp và ra Chỉ thị về tình hình mới và nhiệm vụ công tác mới của miền Nam2. Chỉ thị nêu rõ những đặc điểm của tình hình miền Nam; kẻ thù cụ thể trước mắt là đế quốc Mỹ, hiếu chiến Pháp và tay sai của chúng (cụ thể là chính phủ Ngô Đình Diệm); khẩu hiệu chung của miền Nam là: hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ; ___ 1. Văn kiện Đảng Toàn tập, t.15, tr. 225. 2. Xem: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.15, tr. 271-282.
  31. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) và nhiệm vụ chung là: củng cố hòa bình, đòi tự do dân chủ và cải thiện dân sinh, tiến tới thực hiện thống nhất và hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc. Ba nhiệm vụ trước mắt của miền Nam là: "1. Thi hành triệt để Hiệp định đình chiến Đấu tranh đòi Pháp 36 phải thi hành đúng Hiệp định Cần dựa vào những điều khoản của Hiệp định Giơnevơ và những điều thỏa thuận ở Trung Giã* 2. Chuyển hướng công tác cho thích hợp với điều kiện hòa bình 3. Đoàn kết rộng rãi, tập hợp mọi lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình, đấu tranh để đánh đổ Chính phủ Ngô Đình Diệm thân Mỹ, vận động lập nên một chính phủ: - Không thân Mỹ, phản đối khối xâm lược Đông Nam Á của Mỹ, - Tán thành đình chiến và hòa bình, - Thừa nhận quyền tự do dân chủ của nhân dân, - Tán thành thống nhất bằng tổng tuyển cử "1. Sách lược chung là tập trung mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ, hiếu chiến Pháp và tay sai của chúng. Tranh thủ tất cả mọi người không thân Mỹ và tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ (không phân biệt xu hướng chính trị và tôn giáo). Phương châm chung và phương châm công tác là mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất (chung cho toàn quốc). Chính cương và Điều lệ của Liên Việt sẽ sửa lại cho thích hợp, song nó phải bao gồm tính chất dân tộc và dân chủ rộng rãi. Chỉ thị nhắc nhở: “Tổ chức quần chúng chủ yếu là hợp pháp và nửa hợp pháp phương thức đấu tranh cần ôn hòa. Không kể những hình thức đấu tranh vũ trang phải đình chỉ, mà những hình thức như biểu tình, míttinh, bãi công, bãi thị, bãi khóa, v.v. cũng phải cân nhắc để sử dụng một cách thận trọng và tiến hành theo nguyên tắc có lý, có lợi, có ___ * Trung Giã, một địa điểm thuộc tổng Thượng Giã, huyện Thiên Phúc, phủ Đa Phúc, trấn Kinh Bắc, nay thuộc huyện Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội, nơi diễn ra Hội nghị hai bên đầu tiên - BT. 1. Văn kiện Đảng Toàn tập, t.15, tr. 274.
  32. Chương một: Đấu tranh thi hành Hiệp định Genève mức Cần dựa vào những luật pháp và những điều hứa hẹn của Pháp và ngụy quyền mà đòi hỏi, yêu cầu. Nên dùng những hình thức đấu tranh hợp pháp, nhưng không phải chỉ bó hẹp mình trong những hình thức ấy”1. Chỉ thị đề cập đủ các đối tượng vận động, trong đó có cả 37 “đồng bào Bắc đã di cư vào Nam”. Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đặc biệt nhấn mạnh “thực hiện được nhiệm vụ mới, thông suốt được chính sách mới hay không, trước hết phải dựa vào sự củng cố và đoàn kết của Đảng”. Hội nghị quyết định giải thể Trung ương Cục miền Nam, lập lại Xứ ủy Nam Bộ. Như vậy là sau Hội nghị Genève, chủ trương của Trung ương Đảng là đấu tranh chính trị hòa bình nhằm thống nhất nước nhà theo đúng tinh thần Hiệp định Genève. 2. Tổ chức lại lực lượng yêu nước, cách mạng ở Nam Bộ Hội nghị thành lập Xứ ủy Nam Bộ được tiến hành trong tháng 10-1954 tại Kinh 13, xã Vĩnh Thuận (Kiên Giang) vùng Kinh Xáng Chắc Băng dưới sự chủ trì của Uỷ viên Bộ Chính trị Lê Duẩn2. Hội nghị nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (mở rộng) tháng 7-1954 và Chỉ thị ngày 6-9-1954 của Bộ Chính trị, thông qua ___ 1. Văn kiện Đảng Toàn tập, t.15, tr. 280-281. 2. Lê Duẩn nguyên là Bí thư Xứ ủy Nam Bộ (1947-1951), Bí thư Trung ương Cục miền Nam (1951 - giữa năm 1952). Giữa năm 1952, được điều động ra Trung ương. Sau Hiệp định Genève, được phái vào Nam. Ngày 8-2- 1955, Bí thư Xứ ủy Lê Duẩn lên tàu Kilinski (Ba Lan) ở cửa sông Ông Đốc (Cà Mau) làm như sắp cùng cán bộ chiến sĩ tập kết ra miền Bắc, nhưng vào đêm hôm sau lại xuống một chiếc xuồng con bí mật trở vào bờ. Địch hoàn toàn không hay biết việc ông ở lại miền Nam để lãnh đạo phong trào cách mạng. Để nắm tình hình khắp Nam Bộ, ông từ Cà Mau lên Bến Tre, Mỹ Tho rồi ở Sài Gòn (nhà số 29, đường Huỳnh Khương Ninh, Đakao, nay thuộc quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh).
  33. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) báo cáo của Trung ương Cục miền Nam trước khi kết thúc nhiệm vụ lịch sử, thảo luận những nhiệm vụ cụ thể của Đảng bộ Nam Bộ. Hội nghị bầu Xứ ủy Nam Bộ do Lê Duẩn làm Bí thư1 , chia Nam Bộ làm 3 liên tỉnh (miền Đông, miền Trung và miền Tây Nam Bộ) và khu Sài Gòn - Chợ Lớn2. 38 Xứ ủy thành lập Văn phòng Xứ ủy và các ban: Ban Đảng vụ (sau đổi thành Ban Tổ chức), Ban Tuyên huấn, Ban Nghiên cứu (sau đổi thành Ban Địch tình), Ban Binh vận, Ban Dân vận, Ban Phụ vận, Ban Thanh vận, Ban Kinh tài, Ban Cơ yếu, Ban Giao thông liên lạc để giúp Xứ ủy triển khai việc lãnh đạo3. Hệ thống tổ chức các liên tỉnh ủy, tỉnh ủy, quận ủy đã hoàn chỉnh ở khắp Nam Bộ ngay sau khi kết thúc tập kết chuyển quân. Lúc đó, ở Nam Bộ có 60.365 đảng viên. Đảng viên được chia làm ba loại: loại A là những đảng viên trung kiên, tích cực, hoạt động trong các chi bộ bí mật; loại B là những đảng viên trung bình, được sinh hoạt đơn tuyến; loại C là những đảng viên có vấn đề phức tạp, tạm thời cắt liên lạc. ___ 1. Xứ ủy Nam Bộ gồm có Bí thư Lê Duẩn, Phó Bí thư Phạm Hữu Lầu; Ủy viên thường trực Hoàng Dư Khương; các ủy viên thường vụ: Phan Văn Đáng, Lê Toàn Thư, Nguyễn Đức Thuận, Nguyễn Văn Linh, Phạm Thái Bường; các ủy viên: Nguyễn Minh Đường, Phạm Văn Xô, Phan Đức, Văn Viên; các ủy viên dự khuyết: Võ Văn Kiệt, Võ Văn Khánh, Mai Chí Thọ. 2. Miền Đông Nam Bộ gồm các tỉnh: Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Gia Định, Tây Ninh, Chợ Lớn; Bí thư Liên tỉnh ủy: Phan Đức (sau đó là Nguyễn Văn Chí, rồi Mai Chí Thọ thay) - gọi là Khu 1 (T1). Miền Trung Nam Bộ gồm các tỉnh: Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Kiến Tường, Kiến Phong, Long Xuyên, Châu Đốc; Bí thư Liên tỉnh ủy: Nguyễn Minh Đường - gọi là Khu 2 (T2). Miền Tây Nam Bộ gồm các tỉnh: Bạc Liêu (gồm cả Cà Mau), Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Rạch Giá, Long Châu Hà; Bí thư Liên tỉnh ủy: Phạm Thái Bường - gọi là Khu 3 (T3). Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn; Bí thư: Nguyễn Văn Linh - gọi là Khu 4 (T4). 3. Sau khi thành lập, Văn phòng Xứ ủy và các Ban chuyên trách đều lần lượt chuyển vào đô thị, nhất là Sài Gòn, đứng chân ngay tại sào huyệt đối phương để chỉ đạo phong trào.
  34. Chương một: Đấu tranh thi hành Hiệp định Genève Trong điều kiện mới, các tổ chức chính trị - xã hội của cách mạng thời kháng chiến được chuyển thành các tổ chức quần chúng hợp pháp, nửa hợp pháp, biến tướng Trong thời kỳ này, Đảng xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng trong lòng địch, công tác vận động gia đình binh sĩ, binh sĩ quân Sài Gòn, phát triển rất 39 mạnh, như Bạc Liêu đưa được 655 nội tuyến, Rạch Giá, Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh mỗi tỉnh đưa hàng trăm người vào hàng ngũ địch. Mỹ đã lộ rõ ý đồ xé bỏ Hiệp định Genève ngay từ đầu. Khi Hiệp định Genève vừa được ký kết, trong cuộc họp báo ngày 21- 7- 1954 tại Washington, Tổng thống Mỹ Eisenhower tuyên bố: “Mỹ không phải là một bên tham chiến trong chiến tranh (Đông Dương) (Do đó) chúng tôi không phải là một bên có những quyết định ở Hội nghị [Genève] hay bị những quyết định ấy ràng buộc”1. Thực hiện ý đồ đó của Mỹ, ngày 16-7-1955 Ngô Đình Diệm tuyên bố: “Chúng ta (chính quyền Sài Gòn) không ký Hiệp định Genève. Bất cứ phương diện nào, chúng ta cũng không thể bị ràng buộc bởi Hiệp định đó”. Và viện cớ “ở miền Bắc không thể có tuyển cử tự do”, Ngô Đình Diệm từ chối hiệp thương với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về tổ chức tổng tuyển cử. Trước tình hình đó, nhiều địa phương Nam Bộ đã có những hoạt động tự vệ vũ trang, tuy nhiên Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lần thứ tám (tháng 8-1955) đã uốn nắn: “Chủ trương của ta là thực hiện thống nhất Việt Nam bằng phương pháp hòa bình”; Nghị quyết phê phán những người “cho rằng phương pháp đấu tranh hòa bình là vô hiệu, chỉ có đấu tranh vũ trang mới thành công được, do đó có thể phát sinh những hành động phiêu lưu, mạo hiểm, bộc lộ và tiêu hao lực lượng”. ___ 1. D.D.Eisenhower: Mandate for Change, Nxb. The New American Library, New York, 1965, tr. 448.
  35. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) Ngày 8-3-1956 Ban Bí thư Trung ương Đảng tiếp tục điện cho Xứ ủy Nam Bộ và Liên khu ủy Nam Trung Bộ nội dung như sau: “Hình thức đấu tranh hiện nay chủ yếu là hợp pháp, nửa hợp pháp. Không nên dùng các hình thức đấu tranh cao Bãi thị, biểu tình, khi nào có điều kiện thuận lợi mới dùng”1. 40 Như vậy, trong thời gian từ tháng 7-1954 đến tháng 6-1956, Trung ương vẫn kiên trì chủ trương đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Genève bằng phương pháp chính trị, hòa bình, không cho phép miền 4 Nam tiến hành đấu tranh vũ trang, kể cả việc kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị dưới mọi hình thức, cho như thế là mạo hiểm, phiêu lưu. Khi Ngô Đình Diệm bắt đầu chiến dịch tố cộng (1955), Xứ ủy chủ trương cho những đảng viên bị lộ được điều lắng (điều là điều động từ địa phương này sang địa phương khác; lắng là tạm thời giảm bớt hay ngưng hẳn hoạt động). Tùy mức độ bị lộ mà lắng tại chỗ, hoặc vừa điều vừa lắng. Để bám dân, bám cơ sở, Xứ ủy cho thành lập những “tổ nòng cốt” gồm những quần chúng trung kiên để qua đó duy trì mối liên hệ với quần chúng. Xứ ủy cũng chỉ đạo các cấp bộ Đảng tập hợp quần chúng trong các tổ chức công khai hợp pháp, biến tướng như hội tương tế, hội ái hữu, hội đình miếu, tổ vần công, đổi công Xứ ủy cũng chủ trương đưa người yêu nước vào các đoàn thể chính trị, bộ máy hành chính hay quân đội Sài Gòn để gây cơ sở nội tuyến hoạt động bí mật trong lòng địch, đồng thời hạn chế các hành động tàn bạo của chế độ Ngô Đình Diệm. Khi Ngô Đình Diệm thanh trừng các tổ chức Bình Xuyên, Hòa Hảo và Cao Đài Tây Ninh, Xứ ủy chủ trương tranh thủ những nhóm chống Mỹ - Diệm kiên quyết nhất (như nhóm Võ Văn Môn trong Bình Xuyên, nhóm Huỳnh Thanh Mừng trong Cao Đài Tây Ninh ), ___ 1. Văn kiện Đảng Toàn tập, t.17, tr. 79.
  36. Chương một: Đấu tranh thi hành Hiệp định Genève động viên họ tiếp tục chiến đấu, chống xu hướng đầu hàng hay tan rã, lập ra Mặt trận Cao - Hòa - Bình (viết tắt của Cao Đài Tây Ninh, Hòa Hảo và Bình Xuyên), giúp lực lượng vũ trang của các nhóm này đứng chân trên các chiến khu Đ, Dương Minh Châu, Đồng Tháp Mười. Năm 1956, khi các tổ chức này bị Mỹ - Diệm tấn 41 công, có nguy cơ tan rã, Xứ ủy Nam Bộ chủ trương vận động họ mang vũ khí cùng với nhân dân chống đế quốc Mỹ và Ngô Đình Diệm, lập các đơn vị vũ trang mang danh nghĩa giáo phái do nông dân chí cốt của cách mạng làm nòng cốt để tiếp tục cuộc chiến đấu. IV. CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA MỸ Ở MIỀN NAM VIỆT NAM Ý đồ của Mỹ đối với Đông Dương đã có từ những năm đầu thập niên 40 của thế kỷ XX. Theo cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara, từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Mỹ coi “Đông Dương là một bộ phận cần thiết trong chính sách ngăn chặn1 của chúng ta [tức của Mỹ], một bức tường thành quan trọng trong chiến tranh lạnh”2. Do đó, năm 1945 “Mỹ đã ngầm bằng lòng cho Pháp trở lại Đông Dương” và trong suốt 9 năm sau đó, Mỹ “đã phải bao cấp cho những hoạt động quân sự của Pháp chống lại các lực lượng của ông Hồ”3. Từ năm 1945 đến năm 1954, tuy được Mỹ viện trợ 4,7 tỷ đôla, Pháp liên tiếp thất bại trên các chiến trường, đặc biệt là tại Điện ___ 1. “Chính sách ngăn chặn” (The Containment Policy) là chính sách toàn cầu của Mỹ (có từ thời Truman) nhằm ngăn chặn sự phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. 2, 3. Robert S. McNamara: In Retrospect, The Tragedy and Lessons of Vietnam (Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam), Nxb. Random House, New York, USA, 1995, tr. 31.
  37. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) Biên Phủ (ngày 7-5-1954) nên phải ký Hiệp định Genève (ngày 20- 7-1954), chấp nhận chấm dứt chiến tranh, lập hai vùng tập kết quân cho quân đội nhân dân Việt Nam và quân Liên hiệp Pháp ở phía bắc và phía nam vĩ tuyến 17; và hứa tổ chức tổng tuyển cử vào 42 tháng 7-1956 để tái thống nhất Việt Nam. Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ xem Hiệp định Genève là “một tai họa”1 đối với nước Mỹ, ngoại trưởng John F. Dulles đánh giá đó là “một bước giật lùi”2 trong nền ngoại giao Mỹ, còn Thượng nghị sĩ William Knowland thì cho đây là “thắng lợi vĩ đại nhất mà những người Cộng sản giành được trong 20 năm qua”3. Để thực hiện ý đồ trên, Chính phủ Mỹ chỉ đạo: - Từng bước loại bỏ Pháp, các phần tử thân Pháp (Bảo Đại, Nguyễn Văn Hinh, Lê Văn Viễn, ) và các tổ chức thân Pháp (Cao Đài Tây Ninh, Hòa Hảo, Bình Xuyên), đang nắm những vị trí quan trọng trong chính quyền, quân đội, cảnh sát miền Nam Việt Nam và những địa bàn trọng yếu đông dân (miền Đông, miền Trung và miền Tây Nam Bộ). - Ủng hộ Ngô Đình Diệm - một chính khách được đào tạo tại Mỹ từ năm 1950 -, trao viện trợ trực tiếp cho Diệm (thay vì qua tay của Pháp như trước), giúp Diệm xây dựng một bộ máy chính quyền và quân sự vững mạnh để qua đó thực hiện các chủ trương của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. - Xé bỏ Hiệp định Genève 1954 về Đông Dương, đặc biệt là ___ 1. The Pentagon Papers (Tài liệu Lầu Năm Góc), Nxb. Bantam Books, New York, 1971, tr. 14. 2. F. M. Kail: What Washington Said (Những gì Washington đã nói), Nxb. Harper & Row, New York, 1973, tr. 157. 3. George C. Herring: America’s longest war (Cuộc chiến tranh dài nhất của nước Mỹ), Nxb. Mc Graw-Hill, Inc, New York, 1996, tr. 43. 4. The Pentagon Papers (Tài liệu Lầu Năm Góc), Nxb. Bantam Books, New York, 1971, tr. 1.
  38. Chương một: Đấu tranh thi hành Hiệp định Genève không tổ chức hiệp thương (năm 1955) và tổng tuyển cử (năm 1956) để tái thống nhất Việt Nam4. Những diễn biến của các năm 1955, 1956 thể hiện sự phát triển của các mối mâu thuẫn xã hội ở miền Nam, đặc biệt là mâu thuẫn gay gắt giữa thực dân Pháp và các phần tử thân Pháp với đế 43 quốc Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm được Mỹ bảo trợ. 1. Từng bước loại thực dân Pháp và các thế lực thân thực dân Pháp Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ họp trong hai ngày 8 và ngày 12- 8-1954 chính thức ấn định chính sách của Mỹ đối với Việt Nam và thông qua văn kiện NSC 5429/2 ngày 20-8-19541. Hội đồng đề ra nhiệm vụ “ủng hộ một chính phủ bản xứ mạnh” và “xây dựng lực lượng quân sự bản xứ có thể bảo đảm an ninh nội địa”, đưa ra một loạt biện pháp như: bầu cử một Quốc hội, soạn thảo một hiến pháp, truất phế Bảo Đại một cách hợp pháp, gắn cải cách điền địa với tái định cư dân di cư, trao viện trợ trực tiếp cho người Việt Nam không thông qua Pháp nữa2. Ngày 7-7-1954, ở miền Nam một nội các bù nhìn tay sai Mỹ ___ 1. The Pentagon Papers (Tài liệu Lầu Năm Góc), Nxb. Bantam Books, New York, 1971, tr. 1. 2. The Pentagon Papers (Tài liệu Lầu Năm Góc), ấn bản của Thượng nghị sĩ Gravel, Nxb. Beacon Press, Boston, 1971, t.I, tr. 204. 3. Ngô Đình Diệm sinh năm 1901 (có tài liệu ghi là năm 1897) tại xã Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, xuất thân từ gia đình quan lại theo Công giáo. Sau khi tốt nghiệp trường Hậu bổ (1918-1922) Diệm lần lượt được bổ làm tri huyện, tri phủ, quản đạo, rồi tuần vũ Bình Thuận. Từ năm 1925, Diệm đã tích cực đàn áp các hoạt động của Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng và của Đảng Cộng sản. Nhờ vậy, năm 1933 được Khâm sứ Pháp Thibaudeau tiến cử làm Thượng thư Bộ Lại (tương đương với Bộ trưởng Bộ Nội vụ) trong nội các của Bảo Đại. Do mâu thuẫn với Phạm Quỳnh, Diệm từ chức. Năm 1950, Diệm qua Mỹ, được Hồng y Spellman, nhân vật có thế lực trong chính giới Mỹ, đỡ đầu.
  39. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) được thành lập. Ngô Đình Diệm3 cùng một lúc giữ ba chức vụ chủ chốt: Thủ tướng, Tổng trưởng quốc phòng, kiêm Tổng trưởng nội vụ. Chức vụ chủ chốt thứ tư Tổng trưởng ngoại giao được giao cho Trần Văn Đỗ là chú vợ của Ngô Đình Nhu. Ngày 10-9-1954, qua đạo diễn của cố vấn Mỹ Edward Lansdale, 44 Ngô Đình Diệm ký nghị định cử trung tướng Nguyễn Văn Hinh đi công cán ở Pháp nhằm loại Nguyễn Văn Hinh ra khỏi chức Tổng tham mưu trưởng Quân đội quốc gia Việt Nam. Nguyễn Văn Hinh cùng một số tướng tá thân Pháp phản ứng lại bằng cách chuẩn bị lực lượng lật đổ Ngô Đình Diệm. Hay tin, Tướng O’Daniel (chỉ huy MAAG) và đại tá Lansdale (chỉ huy SMM) nói thẳng với Nguyễn Văn Hinh: nếu quân đội làm đảo chính, Mỹ sẽ ngưng viện trợ cho quân đội. Trong khi đó, Dulles gây sức ép với Chính phủ Pháp để Bảo Đại gọi Nguyễn Văn Hinh qua Pháp và cách chức Hinh (ngày 29-11-1954). Ngày 1-12-1954, Ngô Đình Diệm cử thiếu tướng Lê Văn Tỵ - một sĩ quan do Pháp đào tạo nhưng đã ngả theo Ngô Đình Diệm - làm Tổng tham mưu trưởng. Một loạt tướng tá thân Pháp bị loại khỏi quân đội, một số phải rời miền Nam Việt Nam. Ngược lại, những sĩ quan nào ngả theo Ngô Đình Diệm đều được thăng cấp, thăng chức1. Ngày 25-4-1955, Ngô Đình Diệm cách chức Tổng Giám đốc Cảnh sát công an quốc gia Việt Nam Lại Văn Sang, một tay chân thân cận của Lê Văn Viễn, giải tán Công an xung phong của Bình Xuyên, cử đại tá Nguyễn Ngọc Lễ thay Lại Văn Sang. Bình Xuyên phản ứng quyết liệt, nã súng cối vào Dinh Độc Lập (nơi ở và làm việc của Ngô Đình Diệm), trụ sở Bộ tổng tham mưu Quân đội quốc gia, trụ sở Cảnh sát đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn (do Ngô Đình Diệm mới lập ra ngày 26-3-1955 không thuộc quyền của Sang). Quân của Ngô Đình Diệm và quân Bình Xuyên đánh nhau ___ 1. Ví dụ, chỉ trong 2 năm, Lê Văn Tỵ từ đại tá (1954) được thăng liên tiếp lên thiếu tướng, trung tướng rồi đại tướng (ngày 8-12-1956).
  40. Chương một: Đấu tranh thi hành Hiệp định Genève ác liệt trên các đường phố ở Sài Gòn - Chợ Lớn trong nhiều ngày khiến nhiều thường dân chết và bị thương, hàng nghìn căn nhà bị cháy1. Được Mỹ trang bị, quân của Ngô Đình Diệm đánh bật quân Bình Xuyên ra khỏi thành phố. Từ ngày 21-9 đến ngày 23-10-1955, Ngô Đình Diệm mở chiến dịch Hoàng Diệu (do đại tá Dương Văn 45 Minh chỉ huy) truy kích quân Bình Xuyên đến tận Rừng Sác. Lê Văn Viễn, Lại Văn Sang và một số người cầm đầu Bình Xuyên chạy sang Pháp, bị Tòa án quân sự của Ngô Đình Diệm kết án tử hình vắng mặt (ngày 13-1-1956). Phần lớn quân Bình Xuyên bị bắt, bị giết hay ra hàng. Một bộ phận do trung tá Võ Văn Môn2 chỉ huy ra các chiến khu Đ và Dương Minh Châu tiếp tục chống Mỹ - chính quyền Sài Gòn. Đối với hai giáo phái Cao Đài Tây Ninh và Hòa Hảo, được sự tài trợ của Mỹ, Ngô Đình Diệm dùng tiền bạc, địa vị để lôi kéo những người cầm đầu các phe nhóm trong hai giáo phái ấy bỏ Pháp, ủng hộ Ngô Đình Diệm: mỗi giáo phái được cấp 5 triệu đồng một tháng; những người cầm đầu được trả hàng triệu USD (Trịnh Minh Thế 2 triệu USD, Trần Văn Soái 3 triệu USD, Nguyễn Thành Phương 3,6 triệu USD, v.v.)3; cho bốn nhân vật của Cao Đài Tây Ninh và 4 nhân vật của Hòa Hảo làm quốc vụ khanh, tổng trưởng, bộ trưởng hay thứ trưởng trong chính phủ mở rộng ngày 24-9-1954; gắn lon trung tướng cho Trần Văn Soái, lon thiếu tướng cho Nguyễn Thành Phương, Trịnh Minh Thế, Văn Thành Cao, Nguyễn Giác Ngộ, Lâm Thành Nguyên, v.v ___ 1. Theo Đoàn Thêm (Hai mươi năm qua 1945-1964, việc từng ngày, Nam Chi tùng thư, Sài Gòn, 1966, tr. 177, 180), có 88 thường dân chết, 592 bị thương, 7.826 nhà cháy, 81.445 người mất nhà cửa. Con số này còn thấp hơn sự thật. 2. Sau này, Võ Văn Môn được bầu làm Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. 3. Bernard B. Fall: Vietnam Witness 1953-1956 (Nhân chứng về Việt Nam 1953-1956), Nxb. Praeger, New York, 1966, tr. 145; Bernard B. Fall: Les deux Vietnam (Hai Việt Nam), Nxb. Payot, Paris, 1967, tr. 282.
  41. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) Đối với những phe nhóm Cao Đài Tây Ninh và Hòa Hảo không chịu “quy thuận”, Ngô Đình Diệm dùng quân sự để “tảo thanh”. Từ giữa năm 1955 đến cuối năm 1956, Ngô Đình Diệm mở liên tiếp nhiều chiến dịch (chiến dịch Đinh Tiên Hoàng, chiến dịch Nguyễn Huệ, chiến dịch Thoại Ngọc Hầu, chiến dịch 46 Trương Tấn Bửu). Mỗi chiến dịch Ngô Đình Diệm sử dụng trên 1 sư đoàn. Kết quả: Phạm Công Tắc (hộ pháp Cao Đài Tây Ninh) cùng một số chức sắc cao cấp của giáo phái này phải chạy sang Phnôm Pênh (Campuchia, ngày 16-2-1956) sống lưu vong1. Hầu hết các phe nhóm Cao Đài Tây Ninh và Hòa Hảo lần lượt đầu hàng. Riêng nhóm Hòa Hảo của Lê Quang Vinh tiếp tục chống Ngô Đình Diệm cho đến khi Lê Quang Vinh bị bắt ở Chắc Cà Đao (An Giang) ngày 13-4-1956 và bị Ngô Đình Diệm cho chém đầu tại Cần Thơ ngày 13-7-1956. Nhóm Cao Đài Tây Ninh của thiếu tá Huỳnh Thanh Mừng ra chiến khu cùng nhân dân tiếp tục chống Ngô Đình Diệm2. Đối với các cá nhân và phe nhóm thân Pháp, Ngô Đình Diệm dùng nhiều thủ đoạn như chia để trị (Ngô Đình Diệm chấp nhận thương lượng với các nhóm trong hai giáo phái Cao Đài Tây Ninh và Hòa Hảo, nhưng cự tuyệt phe của Nguyễn Văn Hinh và Lê Văn Viễn); chia rẽ nội bộ của từng phe nhóm (dùng các phe Cao Đài của Nguyễn Thành Phương và Văn Thành Cao chống lại phe Cao Đài của Phạm Công Tắc - Hồ Tấn Khoa); hoặc chia rẽ các phe nhóm (dùng quân Cao Đài của Trịnh Minh Thế đánh quân Bình Xuyên của Lê Văn Viễn). Nhờ sự đạo diễn của Lansdale Ngô Đình Diệm đã loại trừ được các phe nhóm thân Pháp, củng cố vị thế của mình ở Sài Gòn. Do đó, khi Pháp nhiều lần lên tiếng phản đối Ngô Đình Diệm, ủng ___ 1. Phạm Công Tắc chết ở Phnôm Pênh, ngày 17-5-1959. 2. Về sau, Huỳnh Thanh Mừng tham gia Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, được bầu làm ủy viên Hội đồng cố vấn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
  42. Chương một: Đấu tranh thi hành Hiệp định Genève hộ những phe phái thân Pháp, thì Mỹ thẳng thừng dọa sẽ cắt viện trợ nếu Pháp nhúng tay vào việc lật đổ Ngô Đình Diệm. Tổng thống Mỹ Eisenhower đích thân viết thư cho Ngô Đình Diệm. “Lá thư này có tầm quan trọng to lớn đối với Diệm vì nó báo cho các đối thủ hiện nay của Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt 47 Nam biết rằng Ngô Đình Diệm đã được chọn làm công cụ của chính sách Mỹ”1. Ngày 28-4-1955, Pháp gợi ý cho Bảo Đại (đang sống ở Pháp) gửi điện triệu tập Ngô Đình Diệm sang Pháp với ý định cách chức Ngô Đình Diệm. Được Mỹ ủng hộ, Ngô Đình Diệm không tuân lệnh Bảo Đại. Ngay từ ngày 20-8-1954, Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ đã chủ trương “truất phế Bảo Đại một cách hợp pháp”2. Nay đã tới lúc thực hiện chủ trương này. Dưới sự đạo diễn của đại tá tình báo Mỹ Lansdale, ngày 29-4-1955, Ngô Đình Diệm cho Ngô Đình Nhu thành lập Hội đồng nhân dân cách mạng, ra tuyên cáo truất phế Bảo Đại. Trong những tháng sau đó, Diệm mở chiến dịch đả kích Bảo Đại. Một cuộc “trưng cầu dân ý” được tổ chức ngày 23-10-1955 để “truất phế Bảo Đại và suy tôn Ngô Đình Diệm làm Quốc trưởng”, nhờ dùng các biện pháp gian lận3. Cũng từ tháng 8-1954, Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ đã chủ trương “kêu gọi Pháp rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam”4. Nhưng vì Hiệp định Genève không cho phép Mỹ đổ quân một cách ồ ạt vào miền Nam, việc rút ngay và rút hết quân Pháp sẽ tạo ra một khoảng trống quân sự nguy hiểm, do đó Mỹ chủ trương ___ 1. Peter A. Poole: Nước Mỹ và Đông Dương từ Roosevelt đến Nixon, bản dịch của Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1986, tr. 60. 2. The Pentagon Papers (Tài liệu Lầu Năm Góc), ấn bản của Thượng nghị sĩ Gravel, Sđd, t.I, tr. 204. 3. Việc gian lận diễn ra ngay tại Sài Gòn, chẳng hạn tại khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn có 450.000 cử tri đăng ký, nhưng có đến 605.025 lá phiếu bầu, Ngô Đình Diệm có tới 98,2% tổng số phiếu, trong khi Bảo Đại chỉ được 1,1%. 4. The Pentagon Papers (Tài liệu Lầu Năm Góc), ấn bản của Thượng nghị sĩ Gravel, Sđd, t.I, tr. 215.
  43. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) quân Pháp rút dần, song song với việc củng cố và tăng cường quân đội của Ngô Đình Diệm. Quân số của Pháp giảm dần: 65.000 vào giữa năm 1955, 35.000 vào cuối năm 1955, 15.000 vào tháng 2-1956 và chỉ còn 3.000 vào tháng 3- 1956. Ngày 26-4-1956, quân Pháp diễu binh lần cuối cùng trên bến 48 Bạch Đằng, Sài Gòn. Ngày 28-4-1956, Bộ Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở miền Nam giải thể, tướng Pierre Jacquot làm lễ cuốn cờ. Ngày 30- 4-1956, những người lính Pháp cuối cùng rút khỏi miền Nam, chấm dứt gần một thế kỷ hiện diện quân sự của Pháp trên đất nước này (1858 - 1956). Thế là chưa đầy hai năm sau Hiệp định Genève, Mỹ đã sử dụng chính quyền Ngô Đình Diệm, hoàn toàn gạt Pháp khỏi miền Nam Việt Nam, cả về chính trị lẫn về quân sự. 2. Củng cố chế độ Ngô Đình Diệm Song song với việc loại bỏ Pháp và các tay chân của Pháp, Mỹ ráo riết xúc tiến thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, trong đó việc cốt lõi là sử dụng Ngô Đình Diệm để xây dựng một quốc gia riêng biệt ở miền Nam Việt Nam nằm trong quỹ đạo của “thế giới tự do” do Mỹ chỉ huy, chủ trương chia cắt lâu dài Việt Nam, phá hoại cuộc tổng tuyển cử tái thống nhất đất nước được dự kiến trong Hiệp định Genève. Để có cơ sở lý luận cho cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa quốc gia với chủ nghĩa cộng sản, Ngô Đình Nhu tổng hợp chủ nghĩa duy linh của Thomas d’Aquin và chủ nghĩa nhân vị1 của ___ 1. Chủ nghĩa duy linh (spiritualisme) cho linh hồn là bản chất của hiện thực, còn vật chất, vật thể, v.v. chẳng qua chỉ là sản phẩm hay hiện tượng của linh hồn mà thôi. Chủ nghĩa duy linh được Thomas d’Aquin (1225-1274) phát triển trong thời trung cổ ở Italia, được xem là cơ sở thần học của Giáo hội Công giáo La Mã. Chủ nghĩa nhân vị (personnalisme) quan niệm con người là giá trị cao nhất, trên các giá trị khác (như chính trị, kinh tế, tổ chức xã hội ) vì vậy, phải thực hiện sự phát triển nhân vị thì sẽ giải quyết được mọi vấn đề xã hội. Chủ nghĩa nhân vị được Emmanuel Mounier (1905-1950)
  44. Chương một: Đấu tranh thi hành Hiệp định Genève Emmanuel Mounier (có pha trộn thêm một ít triết lý của Nho giáo) thành chủ thuyết “Duy linh - Nhân vị”1. Về cơ sở xã hội, Ngô Đình Diệm cho lập Đảng Cần lao Nhân vị quy tụ những tay chân cốt cán, chi phối toàn bộ bộ máy chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, xã hội; lập ra Phong trào cách mạng quốc 49 gia, Thanh niên Cộng hòa, Phụ nữ Cộng hòa, một số tổ chức chính trị như Đảng Dân chủ - Xã hội, Tập đoàn Công dân, Phong trào tranh thủ tự do, v.v.2. Trọng tâm của Mỹ - Diệm là xây dựng quân đội, vì như F. Dulles đã tuyên bố: “Một quân đội mạnh có thể làm ổn định chính phủ Nam ___ trình bày trên tạp chí Esprit xuất bản ở Pháp và trong cuốn Le Personnalisme xuất bản sau khi ông qua đời. Chủ nghĩa “Duy linh - Nhân vị” không thể hiện đúng tư tưởng của Thomas d’Aquin và E. Mounier. 1. Một sĩ quan trong quân đội Sài Gòn nhận xét: “Thuyết nhân vị của ông Ngô Đình Nhu là một thứ pha trộn mình Ngô đầu Sở, chắp vá bằng một mớ tư tưởng hổ lốn, góp nhặt mỗi thứ một ít, từ giáo lý Thiên chúa giáo đến chủ nghĩa nhân vị của Muniê (Mounier), pha thêm thuyết nhân ái của Khổng Tử, cộng thêm vài nét của chủ nghĩa tư bản, lẫn lộn với chủ nghĩa duy linh chống Cộng” (Hoành Linh Đỗ Mậu: Tâm sự tướng lưu vong (Hồi ký), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 179). 2. Về các tổ chức chính trị xã hội của Ngô Đình Diệm, xem chi tiết ở Chương hai tập sách này. 3. George C. Herring: America’s longest war (Cuộc chiến tranh dài nhất của nước Mỹ), Sđd, tr. 52. 4. Lịch sử chính thức của quân đội Sài Gòn viết: Vào nửa sau năm 1954, sau thảm họa tại Điện Biên Phủ, “Người lính quốc gia đã không còn tinh thần để chiến đấu” vì “trước đà thắng thế của đối phương, phải liên miên chịu đựng áp lực nặng nề, vừa chiến đấu mệt mỏi, không được nghỉ ngơi, không được bổ sung, vừa bị khủng hoảng tinh thần bởi các sự tuyên truyền của đối phương” nên “đã đào ngũ khá nhiều”. Từ ngày 21-7 đến ngày 20-8-1954, chỉ trong 1 tháng, “số đào ngũ [ở] miền Bắc lên tới 21.421người, 112 sĩ quan, 1.031 hạ sĩ quan và 20.278 binh sĩ. Số đào ngũ vẫn gia tăng vào những tháng chót” (Lê Văn Dương và các tác giả khác: Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn hình thành 1946-1955, Phòng 5 Bộ Tổng tham mưu xuất bản, Sài Gòn, 1972, tr. 199, 206).
  45. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) Việt Nam hơn bất kỳ một yếu tố nào khác”3. Vào cuối năm 1954, “Quân đội quốc gia” có 216.997 người, gồm 179.197 quân chính quy và 37.800 quân phụ lực. Mỹ muốn thay đổi tính chất của một đạo quân thất bại do Pháp lập ra4, yêu 50 cầu Ngô Đình Diệm giảm quân số xuống còn từ 90.000 đến 100.000 người. Tính đến ngày 15-5-1955, chính quyền Ngô Đình Diệm đã giải ngũ 58.445 người. Tuy nhiên, việc giải ngũ phải ngưng lại vì Ngô Đình Diệm cần có lính đông để đối phó với Bình Xuyên, Cao Đài Tây Ninh và Hòa Hảo. Trong 8 tháng đầu năm 1955, Ngô Đình Diệm lập 10 sư đoàn (gồm 4 sư đoàn dã chiến và 6 sư đoàn khinh chiến). Các binh chủng lần lượt ra đời: nhảy dù, pháo binh, thiết giáp, công binh, xa 5 binh, viễn thông. Ngày 20-8-1955, có thêm hai quân chủng Hải quân và Không quân (do Pháp bàn giao). Ngoài quân chủ lực, Ngô Đình Diệm lập thêm Bảo an đoàn (ngày 8-4-1955) và Dân vệ đoàn (ngày 28-8-1955). Mỹ cải tổ toàn diện quân đội của Ngô Đình Diệm, từ hình thức đến nội dung, xóa mọi vết tích của thời Pháp (tổ chức đốt quân hàm, huy hiệu thời Pháp). Từ năm 1955, việc huấn luyện theo kiểu Mỹ bắt đầu. Một số sĩ quan được gửi sang Mỹ, Philippines để học. Trước năm 1954, Mỹ đã có mặt ở miền Nam với một tòa đại sứ (do đại sứ Donald Heath đứng đầu) và một Phái bộ cố vấn viện trợ quân sự MAAG (do trung tướng O’Daniel chỉ huy). Gần đến ngày đình chiến, Mỹ gửi sang Sài Gòn một tổ chức tình báo đặc biệt nhằm phá hoại miền Bắc và đánh phá cách mạng miền Nam, núp dưới tên gọi Phái bộ quân sự Sài Gòn SMM (do đại tá Edward G. Lansdale cầm đầu). Ngày 8-11-1954, Mỹ cử thêm đại tướng J. Lawton Collins, nguyên Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ, sang miền Nam với tư cách là đại sứ đặc biệt, đại diện riêng của Tổng thống Mỹ bên cạnh Ngô Đình Diệm, được Eisenhower giao “quyền
  46. Chương một: Đấu tranh thi hành Hiệp định Genève hành rộng rãi để chỉ huy, sử dụng và kiểm soát mọi cơ quan và nguồn lực của Chính phủ Mỹ liên quan đến Việt Nam”1. Chính phủ Mỹ còn hợp đồng với Trường đại học bang Michigan cử hơn 50 giáo sư, tiến sĩ, chuyên gia sang giúp Ngô Đình Diệm soạn thảo hiến pháp, cải cách điền địa, cải tổ thuế má, đào tạo công chức, 51 huấn luyện bộ máy cảnh sát và mật vụ, v.v Như vậy, Mỹ đã giúp Ngô Đình Diệm một cách toàn diện để dựng lên ở miền Nam Việt Nam một chính phủ thân Mỹ và chống cộng. Tài liệu Lầu Năm Góc nhận xét: “Về cơ bản, [chế độ] miền Nam Việt Nam là một sản phẩm do Mỹ tạo ra”2. Một trong những chủ trương lớn của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (được Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ đề ra từ tháng 8-1954) là tiến hành cải cách điền địa. Mỹ cử tiến sĩ Wolf Ladejinsky, một chuyên gia về cải cách điền địa, sang giúp Ngô Đình Diệm2. Ngày 8-1 và 5-2-1955, Ngô Đình Diệm ký liên tiếp hai Dụ số 2 và số 7, quy định tá điền phải ký khế ước mướn ruộng với điền chủ, ấn định địa tô hằng năm từ 15 đến 25% trị giá hoa lợi vụ mùa chính trong năm. Trong trường hợp ruộng bỏ hoang, ruộng vắng chủ hay ruộng công, tá điền phải ký khế ước mướn ruộng với chính quyền xã. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945 và trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chính quyền cách mạng đã cấp 564.547 ha ruộng đất ___ 1. Ronald H. Spector: Advice and Support (Cố vấn và yểm trợ), Nxb. The Free Press, New York, 1985, tr. 232. 2. The Pentagon Papers (Tài liệu Lầu Năm Góc), Nxb. Bantam Books, Sđd, tr. 25. 2. “Chương trình cải cách điền địa do Ladejinsky soạn thảo và ông Diệm ban hành” (Edward Lansdale: Tôi làm quân sư cho Tổng thống Ngô Đình Diệm, bản dịch, Nxb. Văn học, Sài Gòn, 1972, tr. 246). 3. Nguyễn Ngọc Minh (Chủ biên): Kinh tế Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám đến kháng chiến thắng lợi 1945-1954, Nxb. Khoa học, Hà Nội, 1966, tr. 141. 4. Lâm Quang Huyên: Cách mạng ruộng đất ở miền Nam Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985, tr. 25.
  47. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) (gồm ruộng công, ruộng bỏ hoang, ruộng tịch thu của thực dân Pháp, Việt gian, của địa chủ chạy ra vùng tạm chiếm, và ruộng do các địa chủ tự nguyện hiến) cho 527.163 nông dân nghèo ở Nam Bộ3 và 2.842 mẫu Trung Bộ cho 17.202 nông dân nghèo ở Liên khu 54. Tài liệu Lầu Năm Góc ghi nhận: “Chương trình cải cách điền địa 52 của Ngô Đình Diệm thay vì phân phối lại ruộng đất cho người nghèo, rút cuộc chỉ lấy lại những gì Việt Minh đã đem lại cho nông dân để trả lại cho địa chủ”1. Mục đích của Mỹ trong cải cách điền địa là một mặt tước đoạt ruộng đất mà nông dân đã được chính quyền kháng chiến cấp nhằm xóa bỏ ảnh hưởng của cách mạng ở nông thôn, đồng thời buộc nông dân phải quy phục chính quyền Sài Gòn. Mặt khác, trả ruộng đất lại cho địa chủ, chuyển một số địa chủ sang kinh doanh nhằm phục hồi giai cấp này để làm chỗ dựa cho chế độ Ngô Đình Diệm2. Cùng với chính sách cải cách điền địa, Mỹ - Diệm lập các khu dinh điền chốt sâu vào vùng căn cứ kháng chiến cũ, các tuyến chiến lược, như khu dinh điền Cái Sắn - Tân Hiệp (Kiên Giang), Thốt Nốt (Cần Thơ), Bình Hưng, Cái Cám, Khánh Lâm (Cà Mau); lập các khu trù mật để dồn dân kìm kẹp (địch gọi là “tát nước bắt cá”) như khu trù mật Vị Thanh - Hoả Lựu (Cần Thơ), Hậu Mỹ (Tiền Giang), Ba Thê (An Giang), Long Vĩnh (Trà Vinh), Cái Sơn (Vĩnh Long) Trên toàn miền Nam, địch lập 42 khu trù mật mà nhân dân gọi một cách rất hình tượng là "khu trào mật", "khu trù mạt" vì thực chất đó là những "trại tập trung" trá hình. Về mặt xã hội, bộ mặt của miền Nam đã có nhiều đổi khác: Sự có mặt của khoảng hơn 800.000 đồng bào miền Bắc vào Nam mang lại nhiều sắc thái mới trong đời sống văn hóa - xã hội Nam Bộ. Các trường thuộc Viện Đại học Hà Nội và một số trường trung học công lập như (trường Chu Văn An, trường Trưng Vương ) ___ 1. The Pentagon Papers (Tài liệu Lầu Năm Góc), Nxb. Bantam Books, tr. 17. 2. Xem chi tiết về cải cách điền địa ở Chương ba tập sách này.
  48. Chương một: Đấu tranh thi hành Hiệp định Genève được dời vào Nam. Nhiều nhà giáo miền Bắc di cư lập ra các trường tư (nhất là ở Sài Gòn). Các ký giả, văn nghệ sĩ di cư đem lại những yếu tố mới trong văn phong, từ ngữ cũng như trong hoạt động văn học, nghệ thuật. Nhờ viện trợ của Mỹ1, chính quyền Ngô Đình Diệm được củng 53 cố, đời sống nhân dân miền Nam có bề ngoài phồn vinh với các loại hàng tiêu dùng khá dồi dào nhập từ các nước tư bản chủ nghĩa, tô điểm cho bộ mặt của chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam2 mặc dù thực lực sản xuất công - nông nghiệp trong nước vẫn còn yếu ớt. 3. Phá hoại Hiệp định Genève Trong cuộc họp báo ở Washington D.C ngày 21-7-1954, ngay khi Hiệp định Genève vừa được ký kết, Tổng thống Mỹ Eisenhower đã tuyên bố: “Trong Hiệp định có những điểm mà chúng tôi không ưa”3. Một trong những điểm mà Eisenhower “không ưa” là cuộc tổng tuyển cử mà Hội nghị Genève dự kiến sẽ tổ chức vào tháng 7-1956 để tái thống nhất hai miền Nam Bắc Việt Nam. Eisenhower tin rằng, nếu tổng tuyển cử diễn ra, “Hồ [Chí Minh] có thể thu 80% số phiếu”4. Tháng 8-1954, Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ chủ trương phải phá hoại hiệp thương và tổng tuyển cử để “ngăn chặn một thắng lợi của ___ 1. Robert S. McNamara, Sđd, tr. 44. Từ năm 1955 đến năm 1961, Mỹ viện trợ cho Diệm hơn 7 tỷ đôla, trong đó viện trợ quân sự chiếm 80%, phần còn lại là viện trợ kinh tế và viện trợ kỹ thuật. 2. Từ năm 1955 đến 1959, chương trình nhập khẩu thương mại gây được gần 1 tỷ đô la cho Quỹ đối giá (Counter-part fund), giúp Diệm trang trải mọi chi phí cho chế độ Nam Việt Nam (xem chi tiết về Viện trợ Mỹ ở Chương ba tập sách này). 3, 4. Dwight D. Eisenhower: Mandate for Change (Sứ mạng cho sự đổi thay), Sđd, tr. 448, 449. 5. The Pentagon Papers (Tài liệu Lầu Năm Góc), Nxb. Bantam Books, Sđd, tr. 1, 22.
  49. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) Cộng sản thông qua tổng tuyển cử trong cả nước Việt Nam”5. Thi hành chính sách nói trên của Mỹ, Ngô Đình Diệm khăng khăng cự tuyệt những đề nghị của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về hiệp thương và tổng tuyển cử. 54 * Mở các chiến dịch tố cộng, diệt cộng Mặc dù Điều 4 của Hiệp định Genève cấm “dùng cách trả thù hay phân biệt đối xử nào đối với những cá nhân hay tổ chức vì lý do hoạt động của họ trong lúc chiến tranh”, thế nhưng sau khi tiếp quản miền Nam, Ngô Đình Diệm làm ngược hẳn lại. Ngô Đình Diệm chia nhân dân miền Nam làm ba loại: - Loại A: Đảng viên cộng sản hay người từng tham gia kháng chiến chống Pháp không đi tập kết (mà Ngô Đình Diệm gọi chung là “Việt cộng nằm vùng”). - Loại B: Thân nhân của loại A hay của người đi tập kết ra Bắc. - Loại C: Người không thuộc hai loại trên. Sau khi bộ đội và cán bộ kháng chiến Nam Bộ hoàn tất việc tập kết, Ngô Đình Diệm liên tiếp mở nhiều chiến dịch (chiến dịch Tự do ở vùng căn cứ U Minh cũ, chiến dịch Phan Châu Trinh, chiến dịch Giải Phóng, chiến dịch Trịnh Minh Thế ở các tỉnh vùng tự do Liên khu 5 cũ), bắt bớ và bắn giết những người cựu kháng chiến nhằm khủng bố và uy hiếp tinh thần quần chúng. Ở vùng giáp giới ba tỉnh Bạc Liêu, Rạch Giá, Sóc Trăng gồm các huyện An Biên, Thới Bình, Phước Long, Ngô Đình Diệm cho thành lập Đặc khu An Phước do Lâm Quang Phòng làm Đặc khu trưởng (Phòng là cán bộ đầu hàng phản bội) để khống chế nhân dân vùng căn cứ U Minh cũ. Ngô Đình Diệm cho lập “lực lượng quốc gia Áo Đen” (mặc quân phục màu đen như Vệ quốc đoàn Nam Bộ) rồi tung tin lừa bịp quần chúng là lực lượng vũ trang của Việt Minh để lại, đợi thời cơ đánh lại quốc gia (tức chính quyền Sài Gòn).
  50. Chương một: Đấu tranh thi hành Hiệp định Genève Từ tháng 5-1955, Ngô Đình Diệm phát động “chiến dịch tố cộng”1 trên quy mô toàn miền Nam, lập Hội đồng chỉ đạo tố cộng ở cấp trung ương, Ủy ban chỉ đạo tố cộng ở ba cấp (tỉnh, huyện, xã), phối hợp các lực lượng: công dân vụ (thành lập ngày 7-3-1955), cảnh sát, mật vụ, bảo an, dân vệ, sử dụng cả những kẻ đầu hàng 55 phản bội để phát hiện những người mà Ngô Đình Diệm gọi là “Việt cộng nằm vùng” (tức người dân loại A nói trên). Mặt khác, Ngô Đình Diệm còn buộc mọi người dân phải tố giác “Việt cộng” (không tố giác bị xem là đồng lõa), đồng thời kêu gọi người cách 2 mạng và yêu nước ra đầu hàng tự thú. Ở Nam Bộ, tỉnh Chợ Lớn được chọn làm thí điểm. Những người yêu nước và cả những người không ăn cánh với Ngô Đình Diệm bị phát hiện liền bị bắt giam vào các trại tập trung (mà Ngô Đình Diệm gọi là “trung tâm huấn chính”, sau đổi tên là “trung tâm cải huấn”), bị buộc phải khai báo tổ chức, v.v Ngô Đình Diệm còn tìm cách tiêu diệt sinh mạng chính trị của họ bằng cách bắt họ tuyên bố “ly khai với cộng sản”, tố cáo “tội ác của cộng sản”, xé cờ đỏ sao vàng và cờ búa liềm, xé ảnh lãnh tụ cách mạng. Những người không khuất phục bị tra tấn tàn nhẫn, bị thủ tiêu, hay bị đày ra Côn Đảo. Chiến dịch tố cộng không chỉ tiến hành trong dân mà cả trong bộ máy chính quyền và quân đội của Ngô Đình Diệm, nhằm thanh lọc những người không theo Ngô Đình Diệm. Ngày 11-1-1956, Ngô Đình Diệm ra Dụ số 6 thi hành những biện ___ 1. “Chiến dịch tố cộng diệt cộng giai đoạn I”: Từ tháng 5-1955 đến tháng 6-1956. “Chiến dịch tố cộng diệt cộng giai đoạn II”: Từ tháng 6-1956 đến tháng 4-1958. 2. Từ tháng 10-1956, tỉnh Chợ Lớn hợp nhất với tỉnh Tân An thành tỉnh Long An. Trước đó, huyện Mộc Hóa tách khỏi tỉnh Tân An để chuyển thành tỉnh Kiến Tường.
  51. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) pháp an ninh đối với những người bị coi là nguy hiểm cho quốc phòng và an ninh công cộng. Theo Dụ này, những người ấy có thể bị “an trí tại một trại giam; hoặc bị cưỡng bách cư trú tại một địa điểm nhất định; hoặc bị biệt trú khỏi nơi cư trú hay những địa điểm chỉ 56 định; hoặc bị kiểm thúc về mặt hành chính. Nếu không tuân lệnh sẽ bị phạt tù từ 6 tháng đến 2 năm”. Hơn bảy tháng sau, ngày 21-8-1956, Ngô Đình Diệm lại ra Dụ số 47 “trừng phạt chống nền an ninh quốc ngoại” theo đó mọi hành động được thực hiện trong hay cho bất cứ tổ chức cộng sản nước ngoài nào đều có thể bị xử tử hình. Tài liệu Lầu Năm Góc thừa nhận: “Trong chiến dịch tố cộng bắt đầu từ mùa hè 1955, có từ 50 ngàn đến 100 ngàn người bị bắt vào các trại giam. Nhưng nhiều người bị giam chẳng phải là cộng sản”1. Tác giả Mỹ Alexander Kendrick cho biết: “Hơn 50.000 người bị bắt và 75.000 người bị giết”2. V. CÁC PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA NHÂN DÂN NAM BỘ Phong trào đấu tranh của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam Bộ, Liên tỉnh ủy miền Nam Trung Bộ đã diễn ra ngay sau khi có kết quả Hội nghị Genève và phát triển liên tục, có nhiều cuộc quyết liệt, đổ máu. 1. Phong trào Bảo vệ hòa bình Phong trào Bảo vệ hòa bình ở Sài Gòn - Chợ Lớn được thành ___ 1. The Pentagon Papers (Tài liệu Lầu Năm Góc), Nxb. Bantam Books, Sđd, tr. 71. 2. Alexander Kendrick: The wound within (Vết thương trong lòng), trích dẫn bởi Michael Maclear trong Vietnam: The Ten Thousand Day War (Việt Nam: Cuộc chiến tranh mười nghìn ngày), Nxb. Thames Methuen, London, 1984, tr. 73.
  52. Chương một: Đấu tranh thi hành Hiệp định Genève lập vào cuối tháng 7-1954. Phong trào đề ra mục đích đòi các bên tham dự Hội nghị Genève phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định, ban hành tự do dân chủ, thả tù binh và tù chính trị, hiệp thương để tiến tới tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Phong trào quy tụ hầu hết các trí thức, nhân sĩ tiêu biểu ở Nam Bộ như các luật sư Trịnh Đình Thảo, Hoàng Quốc Tân, Nguyễn Hữu Thọ, kỹ sư Lưu 57 Văn Lang, giáo sư Phạm Huy Thông, ông Michel Nguyễn Văn Vỹ, Hòa thượng Thích Huệ Quang, các nghệ sĩ Năm Châu (Nguyễn Thành Châu), các ký giả Nguyễn Bảo Hóa (tức Tô Nguyệt Đình), Tư Mã Việt, các bà Nguyễn Thị Lựu, Thái Thị Nhạn. Phong trào được sự hưởng ứng của các giới: tại Sài Gòn - Chợ Lớn đã thành lập 32 ủy ban khu phố, xí nghiệp và hàng trăm ủy ban độc lập khác; nhiều tỉnh lập ủy ban. Phong trào xuất bản tờ nội san Hòa bình, do các giáo sư Phạm Huy Thông, Nguyễn Văn Hiếu, và các nhà báo Nguyễn Bảo Hóa, Tư Mã Việt phụ trách. Ngày 1-8-1954 một cuộc biểu tình lớn gồm hơn 50.000 đồng bào diễn ra ở Sài Gòn, từ ngã tư đường Gallieni - Kitchener (nay là ngã tư đường Trần Hưng Đạo - Nguyễn Thái Học) kéo về trung tâm thành phố. Hàng hàng lớp lớp nhân dân lao động, học sinh, sinh viên, nhân sĩ, trí thức, tiểu thương, công nhân, nông dân Sài Gòn - Gia Định và đại diện các tỉnh diễu hành trước chợ Bến Thành, vừa đi vừa hoan hô hòa bình, giương cao các biểu ngữ đòi thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Genève. Chính quyền Ngô Đình Diệm cho cảnh sát nổ súng đàn áp, nhiều người bị thương, bị bắt. Cuộc đối đầu quyết liệt giữa cảnh sát và quần chúng kéo dài đến 12 giờ trưa. Hợp đồng với cuộc đấu tranh ở nội đô, đồng bào ven đô đã tổ chức míttinh, biểu tình hưởng ứng. Ở Bình Chánh, hơn 2.000 đồng bào biểu tình, bao vây bót Bình Long. Một cuộc biểu tình lớn khác nổ ra ở Củ Chi. Hưởng ứng phong trào Bảo vệ hòa bình Sài Gòn - Chợ Lớn, nhiều tỉnh đã huy động quần chúng xuống đường biểu tình “Hoan hô hòa bình”, “Hoan hô Hiệp định Genève” Như tại thị xã Cần Thơ có 15.000 người, Sóc Trăng có 12.000 người biểu tình trong ngày 11- 8-
  53. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) 1954, diễu hành qua các đường phố ở hai thị xã, buộc chính quyền tại chỗ phải ra tiếp xúc nhận bản kiến nghị của đồng bào. Ở Gò Công, ngày 16-8-1954, hơn 20.000 người dự mít tinh chào mừng hòa bình; quân Sài Gòn xả súng bắn chết 8 người, bị thương hơn 100 người, bắt giam hàng chục người Đây là sự kiện gây xúc động lớn ở các tỉnh 58 miền Trung Nam Bộ. Sau đó, chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam luật sư Nguyễn Hữu Thọ, giáo sư Phạm Huy Thông, giáo sư Nguyễn Văn Dưỡng, nghiệp chủ Từ Bá Đước, dược sư Lê Quang Thăng, bác sĩ Trần Văn Du, luật sư Hoàng Quốc Tân và nhiều vị khác1. Đồng bào các giới tiếp tục đấu tranh, yêu cầu Ủy hội quốc tế giám sát và kiểm soát đình chiến can thiệp để trả tự do cho những chiến sĩ Hòa bình, biểu tình trước tòa án phản đối việc xét xử các lãnh tụ của Phong trào khiến phiên tòa phải ngưng lại. Tuy nhiên, hành động đàn áp khốc liệt của chính quyền Ngô Đình Diệm ngay trong những ngày đầu thi hành Hiệp định Genève tại Sài Gòn - Gia Định đã khiến phong trào sau nhiều tháng hoạt động sôi nổi, phải tạm lắng xuống. 2. Phong trào đòi hiệp thương tổng tuyển cử theo Hiệp định Genève Ngay trong thời gian chuyển quân tập kết (từ tháng 8-1954 đến tháng 2-1955) nhiều cuộc đấu tranh chống chính quyền Ngô Đình Diệm giết hại những người kháng chiến ở Mỏ Cày (Bến Tre), Chợ ___ 1. Ngày 9-2-1955, sau thời gian giam giữ các vị ở khám lớn Sài Gòn và khám Gia Định, chính quyền Ngô Đình Diệm đưa 26 vị ra Hải Phòng (khu vực dưới sự quản lý của quân đội Pháp trong 300 ngày trước khi rút khỏi miền Bắc theo quy định của Hiệp định Genève), ngụ tại số 13 đường Lạch Tray. Sau một thời gian đấu tranh của các vị và sự can thiệp của Ủy hội quốc tế giám sát và kiểm soát việc thi hành Hiệp định, chính quyền Ngô Đình Diệm buộc phải đưa các vị trở lại Sài Gòn; trong 26 vị, giáo sư Phạm Huy Thông cùng với Lê Thành Nam và Nguyễn Thị Hợi xin ở lại miền Bắc. Mấy ngày sau khi đưa 23 vị về Sài Gòn, chính quyền Ngô Đình Diệm triệu tập 11 vị đến Cảnh sát cuộc quận 2 (nay là trụ sở Công an quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh), tạm giữ tại đây hơn một tuần trước khi đưa các vị ra cưỡng bách cư trú tại thị xã Tuy Hòa (tỉnh Phú Yên).
  54. Chương một: Đấu tranh thi hành Hiệp định Genève Được (Quảng Nam), Vĩnh Xuân (Cần Thơ), v.v. buộc Ủy hội quốc tế và Ủy ban liên hiệp đình chiến phải cử phái đoàn đến điều tra, lập biên bản buộc tội chính quyền Ngô Đình Diệm. Có tỉnh (như Sóc Trăng) còn cử nhiều đoàn đại biểu các tầng lớp nhân dân mang kiến nghị đến Ủy hội quốc tế ở Sài Gòn tố cáo những hành động vi phạm Hiệp định, bắt người, đàn áp quần chúng của chính quyền Ngô Đình Diệm. 59 Trong thời gian 2 năm 1955-1956 nhiều đợt đấu tranh quy mô đã diễn ra ở Sài Gòn - Chợ Lớn và các thị xã, thị trấn trên toàn miền Nam; nổi nhất là trong đợt tháng 7-1955 như cuộc đấu tranh lớn của 2.000 đồng bào ở Tân Châu (An Giang); và đợt tháng 6, tháng 7-1956, nhân dân đấu tranh đòi chính quyền Sài Gòn phải đáp ứng đề nghị của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc bình thường hóa quan hệ giữa hai miền Nam - Bắc, tổ chức hiệp thương (tháng 7-1955) để tiến tới Tổng tuyển cử thống nhất đất nước (tháng 7-1956) theo quy định của Hiệp định Genève1. Để đối phó với phong trào quần chúng, Ngô Đình Diệm tổ chức các cuộc phản đối Hiệp định Genève vu khống Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa “chia cắt đất nước”, và gọi ngày 20-7 (ngày ký Hiệp định Genève) là “ngày quốc hận”, ra lệnh treo cờ rủ. Trong tháng 7-1955 và tháng 7-1956, Ngô Đình Diệm huy động người của ___ 1. Trung thành với nguyên tắc “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, và cũng nhằm thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Genève, trong năm 1955 Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không ngừng đấu tranh cho thống nhất đất nước. Ngày 4-2-1955, Hội đồng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đề nghị với chính quyền Sài Gòn lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền nhằm tạo điều kiện cho nhân dân hai miền liên lạc với nhau, tự do đi lại giữa hai miền. Các ngày 6-6-1955 và ngày 19-7-1955, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lại đề nghị chính quyền Sài Gòn mở hội nghị hiệp thương từ ngày 20-7-1955 để bàn về vấn đề tổ chức, tổng tuyển cử trong cả nước vào tháng 7-1956. Quyết tâm chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam theo chủ trương của Mỹ, Ngô Đình Diệm bác bỏ mọi đề nghị nói trên.
  55. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) các đoàn thể trong Phong trào cách mạng quốc gia, sử dụng số người Công giáo di cư làm nòng cốt, xuống đường biểu tình, ném đá vào trụ sở Phái đoàn liên lạc Quân đội nhân dân Việt Nam (ở số 87A đường Trần Kế Xương, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay), tấn công cả các thành viên của Ủy hội quốc tế đang đóng 60 tại hai khách sạn Majestic và Gallieni. Để chống cuộc bầu cử Quốc hội Lập hiến riêng lẻ của chính quyền Ngô Đình Diệm (ngày 4-3-1956) và đòi Hiệp thương Tổng tuyển cử theo quy định của Hiệp định Genève, toàn Nam Bộ phát động cuộc đấu tranh thống nhất từ ngày 20-10-1955 đến ngày 26-2-1956. Cuộc đấu tranh đã diễn ra với nhiều hình thức phong phú như: mít tinh, biểu tình, đình công, bãi thị , được đông đảo nhân dân hưởng ứng. Ở nhiều thị xã, thị trấn, tiểu thương nghỉ chợ, tiệm buôn, nhà máy đóng cửa (hoặc chỉ mở hé một cánh cửa, đề phòng cảnh sát của Ngô Đình Diệm làm khó dễ). Tín đồ các giáo phái Cao Đài Tây Ninh, Hòa Hảo (đang bị Ngô Đình Diệm đàn áp) và lực lượng Bình Xuyên của Võ Văn Môn (Bảy Môn) cũng tích cực tham gia cuộc đấu tranh, rải truyền đơn kêu gọi dân chúng không đi bỏ phiếu trong ngày 4-3-1956. Riêng ở Định Tường (Mỹ Tho), hầu hết các phương tiện chuyên chở công cộng (xe đò, xe ngựa, xích lô, xuồng máy ) ngưng hoạt động để hưởng ứng cuộc đấu tranh. Ở các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu , liên tục có nhiều cuộc đấu tranh của quần chúng. Hàng ngàn quần chúng mít tinh, tuần hành ngay trên quốc lộ 4 (nay là quốc lộ 1A) với khẩu hiệu: đòi hiệp thương, tổng tuyển cử, đặt quan hệ giữa hai miền Nam - Bắc, chống bầu cử Quốc hội của Ngô Đình Diệm. 3. Phong trào đòi dân sinh, dân chủ Phong trào đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Genève được gắn với các phong trào đòi dân sinh, dân chủ của các tầng lớp quần chúng. Ở miền Đông Nam Bộ, phong trào đấu tranh trong công
  56. Chương một: Đấu tranh thi hành Hiệp định Genève nhân, lao động, học sinh, sinh viên, tiểu thương diễn ra liên tục. Có nhiều cuộc diễn ra dài ngày như cuộc đấu tranh của công nhân viên chức phục vụ trong các cơ sở hậu cần của Pháp ở Sài Gòn - Gia Định, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, chống sa thải, đòi áp dụng chế độ tăng lương mới kéo dài 20 ngày. Trong ba tháng đầu năm 1955, Sài 61 Gòn - Gia Định đã có 30 cuộc đấu tranh lớn của công nhân lao động, tổng cộng có trên 100 ngàn công nhân tham gia đình công. Có những cuộc đấu tranh tiêu biểu như: 800 công nhân Nhà máy điện Sài Gòn đình công chống sa thải 3 công nhân (ngày 26-3-1956). Ngô Đình Diệm đưa lính thợ vào thay thế, chiếm giữ nhà máy thì lập tức ngày hôm sau (27-3) toàn thể công nhân ngành điện lực gồm 200 ngàn công nhân lao động bãi công hưởng ứng. Cuộc đấu tranh của công nhân FACI nổ ra thì có 128 nghiệp đoàn hưởng ứng, tiểu thương ở 36 chợ cũng tích cực ủng hộ. Phong trào đấu tranh gắn liền với việc phát triển các tổ chức nghiệp đoàn. Nhìn chung, trong thời gian cuối năm 1954 - đầu năm 1955, thế và lực của Ngô Đình Diệm còn chưa vững vàng nên phong trào đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Genève gắn với các phong trào đấu tranh về dân sinh, dân chủ, bảo vệ cơ sở và sinh mạng, tài sản của quần chúng diễn ra liên tục, sôi nổi, đạt một số kết quả nhất định. Các phong trào đấu tranh cũng tạo điều kiện cho việc phát triển cơ sở cách mạng, hình thành nhiều tổ chức biến tướng hợp pháp và bán hợp pháp tiến bộ, đặc biệt là các tổ chức nghiệp đoàn công nhân lao động các ngành nghề, nhất là Tổng liên đoàn lao động của Lê Văn Thốt và Nguyễn Thừa Nghiệp. Công nhân đã khai thác được những mâu thuẫn giữa các tổ chức nghiệp đoàn thân Pháp của Nguyễn Khánh Vân, Bùi Lượng như Lực lượng thợ thuyền, Liên hiệp các nghiệp đoàn tự do, Tổng công đoàn tự do để làm lợi cho phong trào công nhân. Lúc đầu, để tranh thủ công nhân lao động, ngày 1-5-1955, Ngô Đình Diệm đứng ra đọc lời chúc mừng công nhân nhân ngày Quốc tế
  57. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) Lao động, hứa hẹn nhiều điều tốt đẹp đối với đời sống công nhân; nhưng chỉ một năm sau, ngày 1-5-1956, trước khí thế đấu tranh của công nhân lao động, Ngô Đình Diệm trở mặt ra lệnh bắt bớ, đàn áp công nhân trong cuộc mít tinh, biểu tình của 200 ngàn công nhân lao động và đại biểu của các giới, các ngành tham dự. 62 Phong trào đấu tranh của giới tiểu thương ở hầu khắp các chợ lớn ở Sài Gòn - Gia Định như Bến Thành, An Đông, Gò Vấp, Bà Chiểu đã diễn ra sôi nổi với yêu sách đòi giảm thuế chợ, giải quyết đời sống, xây thêm bệnh viện, trường học, v.v Ngày 29-7- 1955, 160 đại biểu đại diện cho 30.000 tiểu thương các chợ mở đại hội yêu cầu chính quyền Sài Gòn phải bình ổn giá sinh hoạt, giảm thuế, chống phạt vạ. Chị em còn cử đại biểu đưa yêu sách đến Tòa đô chính để yêu cầu được giải quyết. Ở các tỉnh phong trào đấu tranh đòi hiệp thương, tổng tuyển cử kết hợp vào những ngày lễ lớn như: Quốc tế Lao động 1 tháng 5, kỷ niệm Hai Bà Trưng và Quốc tế Phụ nữ 8 tháng 3, kỷ niệm sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh 19 tháng 5; các cơ sở cách mạng đã vận động quần chúng các vùng nông thôn kéo ra thị xã, thị trấn đấu tranh gắn yêu sách đòi hiệp thương, Tổng tuyển cử, thống nhất đất nước với các yêu sách về dân sinh, dân chủ, chống áp bức, đàn áp, chống bắt lính, chống cướp lại ruộng đất của nông dân Điển hình như ở Cần Thơ có 5.000 phụ nữ thị xã và nông thôn biểu tình trong ngày 8-3- 1955, 10.000 người thuộc các nghiệp đoàn nông dân biểu tình trong ngày 1-5-1955 và hàng ngàn người mít tinh ở chợ Hàng Dương (Cần Thơ) trong ngày 19-5-1955. Ở Rạch Giá (Kiên Giang), phong trào “chống cướp”, thực chất là bảo vệ cán bộ, giành giựt cán bộ cách mạng bị địch bắt, phát triển mạnh từ huyện Hồng Dân qua Long Mỹ, đến An Biên, Gò Quao, Giồng Riềng, Châu Thành Nhiều cuộc đấu tranh tương tự cũng diễn ra ở một số tỉnh lỵ như: Bạc Liêu, Sóc Trăng, Rạch Giá, v.v Đây là hình thức đấu tranh chính trị rất sáng tạo của nhân dân trong thời
  58. Chương một: Đấu tranh thi hành Hiệp định Genève kỳ này. 4. Phong trào cứu tế nạn nhân cuộc xung đột giữa chính quyền Mỹ - Diệm và phe phái thân Pháp Từ đầu năm 1955, Ngô Đình Diệm thanh trừng liên tục phe 63 Bình Xuyên và các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo. Cuộc xung đột đẫm máu diễn ra trong nhiều ngày đã khiến rất nhiều người chết và bị thương, hàng vạn ngôi nhà bị thiêu hủy, 20.000 người bị thiếu đói, hàng chục vạn người dân phải tản cư tránh đạn1. Các khu vực bị thiệt hại nặng nề nhất là khu Chợ Nancy, kênh Tàu Hủ, đường Nguyễn Tấn Nghiệm (nay là đường Trần Đình Xu), đường Marchand (nay là đường Nguyễn Cư Trinh), Ngã Sáu, Bàn Cờ. Một “Ủy ban Cứu tế và bảo vệ sanh mạng tài sản dân chúng” được thành lập, do nhà báo Nguyễn Văn Mại làm Chủ tịch, đặt trụ sở tại văn phòng Hội Phụ nữ Việt Nam ở đường Richaud nối dài (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu). Ủy ban tổ chức các đoàn cứu tế lưu động gồm học sinh, sinh viên, hướng đạo sinh, đồng bào các giới, ở Sài Gòn - Gia Định, và các tỉnh về, đến các khu nhà cháy để dọn dẹp nền nhà, cất mái tạm che, khám bệnh, phát thuốc miễn phí. Ủy ban cũng giúp điều tra thiệt hại, lập kiến nghị, lấy chữ ký nạn nhân để đòi chính quyền phải bồi thường Phong trào cứu tế nạn nhân đã hoạt động có hiệu quả, gây ảnh hưởng chính trị sâu sắc trong đồng bào các giới, huy động nhiều người ở mỗi cuộc tổ chức cứu trợ; nổi bật là cuộc cứu trợ khu Bàu Sen chủ nhật ngày 22-5-1955 quy tụ hơn 30.000 người. Cuộc cứu trợ biến thành mít tinh tố cáo chính quyền Ngô Đình Diệm đã gây tai họa cho đồng bào. ___ 1. Theo Đoàn Thêm trong Hai mươi năm qua 1945-1964, việc từng ngày, Sđd, có 680 người chết và bị thương, 7.826 nhà bị cháy, 81.445 người mất nhà cửa (con số này có thể không đúng vì nếu trung bình 1 gia đình có từ 5-6 người thì số nhà bị mất là hơn 16.000).
  59. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập II (1954-1975) Chính quyền Sài Gòn, một mặt lập ra “Ủy ban Cứu tế trung ương” (ngày 23-5-1956) buộc các đoàn thể phải theo chỉ đạo của tổ chức này, cho cảnh sát bao vây khu nhà cháy, ngăn cản những người đi cứu trợ, mặt khác bắt giam các vị trong “Ủy ban Cứu tế 64 và Bảo vệ sinh mạng và tài sản dân chúng” như nhà báo Nguyễn Văn Mại, giáo sư Lê Văn Thả, dược sĩ Nguyễn Chí Nhiều, nhà giáo Nguyễn Thị Tú, nữ sĩ Ái Lan, bà Phạm Văn Lạng, ký giả Trần Ngọc Sơn Dù bị đàn áp, phong trào cứu tế không chùn bước; Nghiệp đoàn giáo học tư thục phối hợp với các giới do các nhà giáo Trần Hữu Đức, Nguyễn Văn Thiện (Trường Giang) đứng đầu tiếp tục đòi Ngô Đình Diệm phải trả tự do cho những người bị bắt đồng thời phải để cho các tổ chức quần chúng tiếp tục cứu trợ đồng bào bị nạn. Phong trào cứu tế còn kéo dài trong hơn 2 tháng sau đó. 5. Phong trào đấu tranh giữ ruộng đất của nông dân Cuộc đấu tranh giữ quyền làm chủ ruộng đất được cấp trong thời kỳ kháng chiến diễn ra ngay sau ngày chính quyền Ngô Đình Diệm tiếp quản các vùng tự do và tiến hành chương trình cải cách điền địa (thực chất là khôi phục giai cấp địa chủ, cướp lại ruộng đất của nông dân). Trên diện rộng phong trào nông dân ở rất nhiều nơi tẩy chay không làm “khế ước”, và một số cuộc nông dân dùng cả bạo lực chống lại. Cuộc đấu tranh đầu tiên nổ ra vào cuối năm 1954 là của hàng ngàn nông dân huyện Thủ Thừa (tỉnh Tân An) đấu tranh chống địa chủ Võ Thành Tây. Nông dân các xã Tân Thành, Tân Phú, Bình Thành ở Long Xuyên, xã Tân Hộ Cơ (huyện Hồng Ngự, tỉnh Châu Đốc) tập hợp thành từng nhóm, trang bị gậy gộc, dao búa, rượt chém những người do địa chủ và chính quyền Ngô Đình Diệm phái đến để đo đất. Anh nông dân Cù Giáo ở xã Vĩnh Hòa (huyện Tân Châu, tỉnh