Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - Tập 1 (Phần 2)

pdf 489 trang ngocly 50 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - Tập 1 (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdflich_su_nam_bo_khang_chien_tap_1_phan_2.pdf

Nội dung text: Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - Tập 1 (Phần 2)

  1. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) 634 PHỤ LỤC
  2. Kết luận phần Nam Bộ kháng chiến 635
  3. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) 636 PHỤ LỤC 1 HẢI XÂM – HẢI THOÁI XƯA ẢNH HƯỞNG ĐẾN VÙNG ĐỒNG BẰNG NAM BỘ LIÊU KIM SANH1 Do ảnh hưởng của các hành tinh, mặt trời, mặt trăng và nhiều lực hút thiên văn phức tạp, hàng ngày nước biển vẫn dâng lên gọi là nước lớn hay triều cao và hạ xuống gọi là nước ròng hay triều thấp, chúng dường như đã thành quy luật tự ngày xưa. Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi, Buôn bán chẳng lời chèo chống mỏi mê. Mười bảy nước nhảy khỏi bờ. Nước ròng trong ngọn chảy ra, Em toan lo liệu kẻo già hết duyên. Ở đây đáng nói là trong quá khứ đã nhiều lần mực biển dâng cao hơn bình thường khiến cho nước mặn tràn vào lục địa gọi là hải xâm; và ở nhiều dịp khác thì mực biển xuống thấp gọi là hải thoái đến mức một biển khá to như biển Đông Việt Nam bị thu nhỏ như một cái hố nước mặn. Diễn tiến ở quy mô thế giới và trong thời gian khá dài, các đợt hải xâm và hải thoái còn lưu lại nhiều di tích đặc biệt khắp các miền duyên hải, ở bất cứ nơi nào mà vách núi chạm bờ biển ___ 1. Sở Nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Phụ lục và nham chất có thể bị tác dụng hòa tan hay là ở hải đảo nào có nhiều hang động để sò ốc và san hô phát triển rồi khi chết thì vỏ và xương được bảo tồn. Sự phân tích một số dữ kiện cơ bản về mực nước biển sẽ giúp ích cho việc tìm hiểu và minh giải các biến động liên quan đến vùng Óc Eo đồng bằng sông Cửu Long. 637 Hình 1 Căn cứ vào các di tích hải thoái, hải xâm tìm được dọc duyên hải và nhiều nơi trên lục địa Đông Dương được định tuổi tuyệt đối C14, H. Fontaine có đưa ra giả thuyết, ước tính gần đúng, về những đợt dao động mực biển địa phương Việt Nam (Hình 1). Theo H. Fontaine thì kể sau đợt hải thoái cuối canh tân (plêixtôxen) đầu toàn tân (hôlôxen) ứng với băng kỷ Wiirm kéo dài cách nay 60.000 - 11.000 năm và liền theo thời kỳ chuyển tiếp cách nay 11.000 - 10.250 năm thì xảy ra đợt tan băng và nước biển bắt đầu dâng lên. Nếu lấy mực biển trung bình hiện nay làm mực chuẩn 0m, thì hải thoái plêixtôxen - hôlôxen làm hạ thấp mực biển 100 -
  5. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) 120m. Sau đó mực nước dâng lên đến mực 0 m vào năm 4.850 trước Công nguyên, cách nay 6.800 năm1. Kế đó là 4 đợt nước dâng và 3 lượt nước hạ. 638 1. Hải xâm hôlôxen I, ký hiệu H I từ 4.850 đến 1.650 năm trước Công nguyên. Thời gian 3.200 năm, với 3 giai đoạn đỉnh cao 4m (năm 3.900), 3m (2.950), 2m (2.350) và 2 giai đoạn tương đối hạ thấp vào các năm 3.500 và 2.850. 2. Hải thoái hôlôxen 1, ký hiệu h1 từ 1.650 đến 1.150 năm trước Công nguyên. Thời gian 500 năm, với cực tiểu - 0,8m xảy ra vào năm 1.400 trước Công nguyên. 3. Hải xâm hôlôxen II, ký hiệu H II từ 1.150 đến 850 năm trước Công nguyên. Thời gian 300 năm, với đỉnh cao nhất 0,3m xảy ra vào năm 950 trước Công nguyên. 4. Hải thoái hôlôxen 2, ký hiệu h2 từ 850 đến 200 năm trước Công nguyên. Thời gian 650 năm, với cực tiểu (dưới 0m, tức - 1m) xảy ra vào năm 550 trước Công nguyên. 5. Hải xâm hôlôxen III, ký hiệu H III từ -200 đến 50 năm sau Công nguyên. Thời gian 250 năm, với mức cao nhất là 0,4m ghi nhận vào khoảng năm 50 trước Công nguyên. 6. Hải thoái hôlôxen 3, ký hiệu h3 từ 50 đến 550 năm sau Công nguyên. Thời gian 500 năm, với đáy thấp nhất phỏng chừng - 0,5m được biết là vào năm 200 sau Công nguyên. 7. Hải xâm hôlôxen IV, ký hiệu H IV từ 350 đến 1.150 năm sau Công nguyên. Thời gian 800 năm, với điểm cao trung bình 0,8m ghi nhận vào năm 650 sau Công nguyên. 8. Từ 1.150 đến 1.950, ký hiệu h4 mực biển dao động ± 1m, ___ 1. Trong cách xác định tuổi tuyệt đối bằng phương pháp C14, năm chuẩn 0 được chọn là năm 1950. Ví dụ, một biến cố xảy ra cách nay 2.000 năm theo tuổi C14 thì ứng với năm 50 trước Công nguyên: 50 + 1950 = 2.000 năm; một sự kiện xảy ra vào năm 100 sau Công nguyên sẽ có tuổi tuyệt đối tính theo phương pháp C14 là: 1950 - 100 = 1.850 năm.
  6. Phụ lục xem như ổn định hơn các thời kỳ trước. 639
  7. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) Qua lược đồ của H. Fontaine và xét đề tài về hải cảng Óc Eo đang nói ở đây, ta chú ý đến đợt hải xâm gần hiện tại nhất mà người viết đặt tên là hải xâm hôlôxen IV, ký hiệu H IV. Sau khi hiệu chính hợp lý về tuổi định thời do phương pháp C14, các 640 đặc tính về tầm cỡ và thời hạn của hải xâm này được phỏng chừng như sau: - Thời hạn: 800 năm, từ năm 350 đến 1.150 với đỉnh cao vào năm 650 sau Công nguyên. - Mực biển cao nhất từ 0,5 đến 1m trong 30 năm, từ 635 đến 665 sau Công nguyên. - Giai đoạn lên từ năm 350 đến 650 sau Công nguyên. - Giai đoạn xuống từ năm 650 đến 1.150 sau Công nguyên. Những nơi còn giữ di tích các mực biển cổ tại Việt Nam. Các biến động về mực biển vừa kể trực tiếp liên quan đến sự hình thành vào thế kỷ I, cực thịnh vào thế kỷ II - IV để rồi tan biến vào cuối thế kỷ VII hải cảng Óc Eo và cả nền văn minh cùng tên ấy, mà cụ thể giai đoạn từ đợt hải thoái hôlôxen 3 đến kỳ hải xâm hôlôxen IV là có vai trò quyết định. Để cho luận cứ thêm phần vững chắc ta hãy lược duyệt xem các dao động quan trọng như vậy còn để lại di tích gì dọc duyên hải Việt Nam. Về mặt này các khám phá thật phong phú, nhưng ở đây ta chú ý đến các mực biển và bậc thềm 2m - 1,5m và thấp hơn. - Tại Cầu Đá - Nha Trang. Bậc thềm 2m được tìm thấy ở Hải học viện Nha Trang, ở Hòn Tre là hải đảo lớn nhất trong vùng, ở Hòn Mùng và Hòn Miêu. Bậc thềm 4m đã được khoan thăm dò xuyên suốt, từ cao độ 5,50m - 25,20m (sâu 30,70m). Cột địa tầng được E. Saurin và Nguyễn Lan Tú khảo sát (1965) cho thấy sản vật tàng tích của nhiều đợt hải xâm và hải thoái. Tuy rằng bậc thềm 4m tương đối xưa và chưa có định tuổi trực tiếp nhưng một cuộc khảo sát chi tiết hơn nữa có thể
  8. Phụ lục phân tích các bậc thềm 2m và 4m thành những cao độ thấp hơn như 1,75m, 1,50m, 1,25m từng được mô tả tại vùng Hà Tiên. 641
  9. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) - Tại Tô Bồng - Ninh Hòa. Một bậc thềm duyên hải nằm ở 1,5m trên bờ biển hiện tại được H. Fontaine tìm thấy ở Tô Bồng, cách Vạn Giã 15km về phía bắc - đông bắc. Các trầm tích của bậc thềm này bị xâm thực rất nhiều và hạn chế trong diện tích phỏng chừng 40m2 bao gồm các loại đất sét vôi 642 (marne) màu xám, chứa nhiều cát thạch anh lưu chuyển, được củng cố và nhào trộn bởi rất nhiều vỏ sò ốc. Các loại sò ốc tìm thấy nhiều nhất là: Anomalocardia squamosa L, Batillaria zonalis Brug, Potamides Sp. Các loại sau đây cũng được ghi nhận, nhưng vỏ của chúng đôi khi chỉ còn lưu lại dấu in mặt trong vì đã bị hòa tan: Terebralia sulcata, Circe gibba, Natica Sp. Thành phần này có đặc tính là chứa nhiều loài sò ốc của vũng cạn và cửa sông, chứng tỏ các điều kiện trầm tích tương tự như hiện tại, tức là ứng với một đợt dâng nước quy mô nhỏ và gần đây theo nghĩa định chất của hai từ này. - Vùng Ninh Thuận. Tuy không được mô tả đầy đủ chi tiết nhưng E. Saurin cũng có nêu lên sự hiện hữu của bậc thềm 2m tại nhiều địa điểm như Vĩnh Hảo, Bình Thiện (núi Bình Nhơn), phía nam mũi Dinh. Phần lớn cấu tạo bằng cát, sa thạch vôi và mảnh vụn san hô. - Vùng Hà Tiên và vịnh Thái Lan. Tác dụng hóa học và cơ học của mặt biển đã để lại bên ngoài các khối nham thạch nhiều hàng lỗ nhỏ ghi nhận được tại đảo Saracen (Carbonnel, 1964). Mực biển 2m cũng có đào một hốc duyên hải rất rõ ăn vào các nham chất với Pecmê tại Hòn Chông, Ba Hòn và Hòn Nghệ. Đảo Gầm Ghì thuộc quần đảo An Thới được nối dài về phía tây bắc bởi một hệ thống mõm đá có vẻ như là những mảnh vụn của một thềm đá tạo nên bởi mực biển 2m. Tại vùng Hà Tiên, các khối đá vôi tại Hòn Nghệ chứa nhiều hang và chỗ lõm mài láng có lẽ do sóng biển tạo thành ở cao độ từ 4 đến 5m. Ở chân núi Còm gần Kiên Lương nằm cách biển hiện tại 4,5 km, thời kỳ hải xâm Flandrian trung đã để lại nhiều di tích dưới dạng các hốc đào trong đá vôi, chứng tỏ có 4
  10. Phụ lục mực biển cố theo thứ tự từ trên xuống là 4,5 m - 4m, 3m, 1,75m và 1,25m. Phát hiện này có ý nghĩa khá quan trọng đối với việc giải thích các hồng thủy ngắn hạn theo nghĩa địa chất có sau thời gian hải xâm Flandria. Tại đảo Mây Rút Ngoài, thuộc quần đảo An Thới, có nhiều hang ở độ cao 1,6 - 643 1,8m đào trong khối sa thạch thượng. Một giải sò ốc cũ được bảo tồn trong các hang của Hòn Chông và Hòn Nghệ ở cao độ 2m bên trên các sò ốc còn sống hiện tại. Nhiều khối san hô chết thuộc mực biển 2m được tìm thấy tại bờ biển Hòn Nghệ và Hòn Sao. Mực biển 2m còn để lại các mảng cuội sỏi, đá tảng đủ loại tại An Thới và Hòn Sao. Quần đảo Thổ Châu gồm có 8 hòn đảo với bậc thềm 2m đã phát hiện tại đảo chính, chứa san hô, vỏ sò ốc, hỗn nham. Bậc thềm này khá lớn, bề ngang đến 300m tại Bãi Ngự. Tại Hòn Cao cũng thấy bậc thềm 2m như vậy. Quần đảo Bà Lụa hay Bình Trị với 30 đảo và hòn, cách Hà Tiên 30km về phía đông nam. Tại Hòn Rễ Lớn có thềm san hô cao độ 1,5 - 2m. Tại Hòn Đá Bạc nhiều thềm đá hiện ra ở cao độ 1 - 2m trên mọc sò hến hiện tại có thể được xem như kết quả của tác dụng xâm thực của một mặt biển cổ. Tại Hòn Đá Lửa có nhiều mực biển xếp thành hệ thống, trong số đó mực biển 2m chứa nhiều vỏ sò ốc còn dính trên vách đá ở các chỗ khúc khuỷu được tìm thấy tại nhiều nơi, bên trên các bãi sò hiện tại. Ngoài ra, trong các khối nham chất vôi còn có hốc đá nằm ngang rất rõ, cũng ở cao độ 2m1. Định tuổi các mực biển cổ. Tuổi của các bậc thềm từ 1,5 đến 2m có thể được xác định bằng hai cách gián tiếp và trực tiếp. Phương pháp gián ___ 1. H. Fontaine: Ghi chú về vịnh Thái Lan (chữ Pháp), Sài Gòn, 1968. H. Fontaine: Ghi chú về các vùng Hà Tiên và Hòn Chông (chữ Pháp), Sài Gòn, 1970.
  11. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) tiếp là cách định tuổi tương đối các bậc thềm bằng sự đối chiếu với các tài liệu khảo cổ của những nền văn minh tiền sử. - Tại Côn Sơn. Nhiều di tích tiền sử như đồ đồng, quặng sắt, đồ gốm và rìu đá mài đã được thu nhặt trên đỉnh một đồi 644 cát nhân khi đào huyệt chôn người mới chết. Tiếc rằng sau đó chưa có cuộc khảo cứu nào tiếp tục đào xới thêm. - Tại Quảng Ngãi: Khu mộ Sa Huỳnh cũng nằm trên một đồi cát tạo thành dải duyên hải ngăn cách bờ biển với một vũng bên trong. Căn cứ vào các dụng cụ tìm thấy thì cả 2 địa điểm này đều thuộc thời đại đồ sắt và nằm sát bờ biển, mà vùng duyên hải liên hệ có địa thế rất bất thường do các đổi thay mực biển. Vậy nếu chúng bị mực biển 2m xâm lấn thì đã bị phá hủy. Điều này chứng tỏ 2 di tích Côn Sơn và Sa Huỳnh phải xuất hiện sau mực biển 2m. - Tại Quảng Bình. Ở gần Đông Hải thuộc làng Tam Tòa có di chỉ tiền sử Bàu Tró nằm ngay tại mực biển. Khu này đã cung cấp một bộ dụng cụ bằng đá quan trọng gồm nhiều đồ gốm có tô vẽ và nhiều món khác bằng xương được định tuổi là hậu kỳ của thời đồ đá mới. Mặc dù chưa tìm được vật dụng kim khí, nhưng các đồ gốm khá văn minh có thể tượng trưng những năm khởi đầu của thời đại đồ đồng tức là một đại diện nghèo của nền văn hóa Sam Rong Sen (Campuchia)1. - Tại Minh Cầm, nằm ở hữu ngạn sông Rào Nậy, cách Đông Hải 75km về phía tây bắc, cũng tìm được nhiều di tích của nền văn hóa đá mới gần giống như trên. Các trầm tích bao quanh những vật tìm thấy chỉ còn được bảo tồn trên các vách hang động. Sự xâm thực đã phá hủy nóc các hang cũ và chỉ để ___ 1. E. Patte: “Khai quật một cồn cỏ điệp thời kỳ đá mới ở Tam Tòa gần Đồng Hới“ (chữ Pháp); trong Tập san: Trường Viễn Đông Bác cổ, t. 23, 1923.
  12. Phụ lục lại các di tích sau khi đã ăn mòn ngót 4m bề dày. Theo E. Patte sự xâm thực tương đương được nhận ra ở các hang động tại Đông Dương cách Hải Phòng 12km về phía bắc. Có thể sự xâm thực này đã phát sinh như hậu quả của một sự hạ thấp mực biển. 645 - Tại Ninh Bình. Di chỉ đồ đá mới Chợ Gành nằm cách bờ biển hiện nay khoảng 20km, đã cung cấp một số lớn vỏ sò ốc gốc biển là tàn vật nhà bếp. Mặt khác các vách đứng bằng đá vôi tại vùng gần đó cũng có nhiều hốc đào ở dưới chân chắc là hậu quả của tác dụng xâm thực bởi sóng biển. Các nhận xét này đã khiến cho M. Colani đưa ra giả thuyết là mặt biển, rất có thể là mực 4m hoặc mực 2m hay là mực thấp hơn đã tràn đến Chợ Gành trong thời đồng đá. Tuy nhiên M. Colani chẳng nói rõ là mực biển nào. Cánh đồng lầy ngập nước vùng Chợ Gành với cao độ thường kém hơn 0,5m không gây trở ngại gì cho các đợt hải xâm nói trên1. - Tại Quảng Yên. Nếu ta đi ngược về bắc đến tận vùng vịnh Hạ Long thì cần nêu lên sự phát hiện của E. Saurin về một bộ dụng cụ thuộc địa tầng Hòa Bình tại vùng Giáp Khẩu, ở gần Hồng Gai, có tuổi đồng thời với những năm đầu của thời đại đồ đá mới. Sự phát kiến này khiến cho E. Saurin kết luận rằng các “kỹ nghệ tiền sử từ thời kỳ địa tầng Hòa Bình đến thời kỳ cuối cùng của thời đại đồ đá mới đã có tuổi muộn hơn là mực biển 2m”. Nói như vậy là thêm tuổi cho mực biển 2m đặc biệt già đi khá nhiều2. J.G.Anderson (1939) cũng khảo sát vùng vịnh Hạ Long và cho rằng mực biển 2m đã hiện hữu tại đây trong thời kỳ của nền ___ 1. M. Colani: “Điều tra nghiên cứu về tiền sử học Đông Dương” (chữ Pháp); trong Tập san: Trường Viễn Đông Bác cổ, t.30, 1930. 2. E. Saurin: Ghi chú về một số thành tạo cận đại ở Nam Việt Nam (chữ Pháp), Sài Gòn, 1957.
  13. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) văn hóa đồ đá mới Danh Đô La, nhưng các luận cứ đưa ra lại có vẻ kém chắc chắn. Như vậy thể theo các bằng chứng khảo cổ vừa được duyệt bên trên thì các mực biển từ 1,5 đến 2m đã có trước nền văn hóa Sa Huỳnh cổ điển, nghĩa là xưa hơn thời đại đồ sắt. Nền văn hóa 646 này lại được tìm thấy gần đây ở nhiều nơi, trong đó có di chỉ Hàng Gòn, gần Xuân Lộc (Long Khánh) và được định tuổi bằng phương pháp C14 là 2.100 - 2.300 ± 150 năm cách nay, nghĩa là 150 - 350 năm trước Công nguyên. Các di tích ở Quảng Bình cho thấy mực biển 2m có tuổi cổ hơn nữa, có thể hiện hữu trước thời đại đồ đồng một thời gian ngắn. Người ta có thể nghĩ rằng các dân cư vùng Tam Tòa đã di chuyển đến sống gần Bàu Tró vào một thời gian rất ngắn sau khi có sự hạ thấp của mực biển 2m xuống mực biển 0 m hiện tại. Mặt khác dân cư vùng Minh Cầm có thể đã cư trú trong các hang động mà sự xâm thực đã khởi sự đào được vài rãnh hẹp. Một sự định tuổi bằng phương pháp C14 tại địa điểm ở vùng Hàng Gòn thuộc thời đại đồ đồng đã cho kết quả là 3.950 ± 250 năm cách nay, tức là 2.000 năm trước Công nguyên. Con số này đã đẩy tuổi của bậc thềm 2m lùi lại gần với tuổi của bậc thềm 4m và cho thấy lịch sử của giai đoạn mực biển 2m thật là ngắn ngủi. Tuy nhiên cần lưu ý rằng đây chỉ là con số đo được từ C14 với tất cả rủi ro và sai lầm thường vấp phải của phương pháp định tuổi này. Cacbon phóng xạ báo cáo trực tiếp tuổi tuyệt đối của các đợt hải xâm và hải thoái. Trong thời gian 1970-1972 một loạt định tuổi bằng phương pháp C14, với các mẫu vật lấy từ vùng lưu vực sông Đồng Nai và châu thổ sông Cửu Long đã mang lại nhiều kiến thức mới về thời biểu hôlôxen có liên quan đến các nền văn hóa tiền sử. Đợt hải xâm do sự tan băng cuối Wiirm đã ghi dấu bằng hốc đá cao 4 - 5m tại Hà Tiên. Nước mặn tràn vào vùng Óc Eo, Long Xuyên.
  14. Phụ lục Vài đảo vỏ sò được thành lập như tại gần Núi Chóc mà các mảnh trên cùng được định tuổi là: 4.870 ± 120 năm, 5.570 ± 120 năm, 5.680 ± 120 năm cách nay. Sau đó, mực biển hạ xuống 3m và 2m. Một bãi sò cổ nằm ở 2m cách các sò hiện nay được định tuổi là: 4.150 ± 140 năm cách nay. Lượn cát tại châu thổ sông 647 Cửu Long cao 2m so với mặt đất hiện thời có tuổi là: 4.500 ± 110 năm cách nay. Tích tụ tạp loại của mức triều cường nằm ở trên và phía sau các tích tụ triều cường hiện nay: 4.500 ± 250 năm, 4.200 ± 110 năm cách nay. Mực biển tiếp tục xuống thấp và để lại nhiều lượn cát khác. Một trong số các lượn cát đó là Giồng Đá: 3.430 ± 110 năm cách nay. Vịnh Rạch Giá lúc đó to hơn bây giờ với những con sò đã vùi trong đất: 2.500 ± 100 năm cách nay. Châu thổ sông Cửu Long từ từ hiện ra. Một mẩu đất cổ lấy ở độ sâu 0,9m tại vùng 10km phía Nam Tân An có chứa nhiều chất hữu cơ của môi trường nước lợ (Coleman 1972), có niên đại là 2.700 ± 200 năm cách nay. Vậy tại Long An, châu thổ đã gần hoàn chỉnh vào năm 750 trước Công nguyên. Người tiền sử ở Bến Đò, Long Bình chế tác nhiều dụng cụ và đồ gốm, định tuổi là: 3.040 ± 140 năm, 3.000 ± 110 năm cách nay. Di chỉ cổ nhất ở miền đất thấp tìm thấy ở Rạch Núi đã để lại nhiều tàn vật nhà bếp nhờ C14, cho biết tuổi là: 2.400 ± 100 năm cách nay. Có lẽ sau những năm này và nhân có đợt hải thoái, người tiền sử lần dò xuống chiếm cứ tại châu thổ sông Cửu Long để rồi lập nên những khu cư dân rộng lớn vào thế kỷ I trước Công nguyên, cách hiện tại 2.050 - 2.150 năm theo lịch C14. Ở đây cần lưu ý là bằng chứng của hải xâm H IV với một mực biển cổ ở cao độ 1 - 1,5m chẳng phải là dễ phát hiện. Nói chung mực biển cổ cần có vách đá đặc biệt tương đối đúng, nhô
  15. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) trần ra không bị cây cỏ che phủ, chẳng có nhiều đá tảng cuội sỏi ở chân tích tụ lên đến chiều cao đó, để rồi qua năm rộng tháng dài các đợt sóng đánh dồn dập vào đấy mà đẽo gọt thành hang hốc, rãnh hoặc cho các nhuyễn thể và san hô có nơi tựa để bám gởi 648 mảnh vỏ hoặc là đục lỗ đặc trưng. Nếu là nơi có chênh mực nhiều giữa triều lên và triều xuống, như khi triều cường sóng gió đánh mạnh tung tóe nước vung cao thì di tích cổ càng khó tách biệt. Mặt khác ngang bên trên mực biển 1 - 1,5m là mực biển 2m đã được duy trì khá lâu trong quá khứ đến 1.200 năm và đã để lại nhiều di tích rõ nét mang các giải vỏ sò ốc cụ thể, khiến cho chỉ cần tạo hóa hơi vụng về một chút, xê xích tí xíu thì hai mực biển 1,5m và 2m lại trùng chập vào nhau. Chẳng hạn như tại Kiên Lương và Hòn Chồng mực 1m rất gần với mực 2m. Cả hai tạo ra hốc chung khá lớn, chỉ ngăn cách bên trong bởi một gò đá nằm ngang. Được như vậy là nhờ vùng Hà Tiên có các núi đá vôi thứ tốt giúp cho sự chạm khắc được tinh tế. Tại nhiều nơi khác có các di tích mực biển ở 1,25m, 1,50m, 1,75m thì các nhà nghiên cứu dễ tính liền xếp gộp vào nhóm bậc thềm 2m một cách gần đúng; chưa kể là các chuyên viên đó chỉ ước tính giảm lược cao độ là 2m rồi ghi thẳng vào các bài báo cáo mà chẳng cần chi tiết hóa dài dòng. Thái độ này thật dễ hiểu, vì những xê xích chút ít như vậy chẳng có ý nghĩa gì đối với sự lược duyệt các biến chuyển địa chất trọng đại. Họ không có nhiệm vụ đi tìm năm ba tấc nước để châm thêm vào cơn lũ ngõ hầu hủy diệt một nền văn minh cổ như chúng tôi đang cố gắng phân tích ở đây. Còn bàn đến yếu tố thời gian thì ngay khi định tuổi bằng C14 một cách chính xác, cũng vẫn đưa đến kết quả có sai số. Ví như, niên đại lượn cát ở đồng bằng sông Cửu Long cao 2m là 4.500 ± 110 năm cách nay; Niên đại Giồng Đá (Kiên Giang) là 3.430 ± 110 năm cách nay. Khoảng sai số như vậy được
  16. Phụ lục xem không đáng kể với khoa học địa chất, song trong đời sống con người, một đợt ngập lụt kéo dài chỉ cần 1/10 sai số đó là 11 năm thôi cũng đủ xóa đi cả vùng dân cư nơi đồng ruộng thấp như Tây Nam Bộ xưa. Rõ ràng có những khó khăn nhất định trong việc sử dụng các dữ kiện địa chất và niên đại C14 649 vào việc xác định ảnh hưởng của hải xâm đối với cuộc sống của con người trong những thế kỷ gần đây. Nhưng không phải từ đó phủ định một đợt hải xâm mà chúng tôi gọi là đợt hải xâm IV. Có một bằng chứng khá quan trọng để soi sáng hiện tượng tự nhiên nói trên. Đó là di tích của một khối san hô dày đến 1,20m lẫn vỏ sò ốc, bị che khuất dưới 0,4m đất và nằm ở ngay mực triều cao tại Đông Hải, trong vùng Ninh Hòa, có tuổi C14 là 900 ± 90 năm cách nay. 1. Ở đây cần lưu ý các sự kiện về cao độ mực biển và tuổi của màu san hô: - Biên độ triều hay là cách biệt giữa triều cao và thấp tại địa phương là trên 2m, và tộc đoàn san hô khi thành lập cần có một ít nước biển bên trên để sống, do đó vào sinh thời của khối san hô nói trên mực biển trung bình phải cao hơn mực hiện nay cỡ 1,5 - 2m. - Tuổi tìm thấy bên trên là của một mẫu chọn ngẫu nhiên, chưa phải là phản ảnh sát số tuổi thật của cả khối và dĩ nhiên số tuổi này phải có nhiều đợt, nhiều thế hệ già hơn, tỷ như 1.000 - 1.100 năm chẳng hạn. - Phương pháp C14 cho ta biết tuổi của mẫu vật kể từ năm tộc đoàn san hô hoặc sò ốc đã chết, chưa phải là lúc sinh vật mới hình thành. Đành rằng đời sống san hô và sò ốc mỗi thế hệ tương đối ngắn, nhưng cũng nên dự trù sai biệt một số năm. - Lượng C14 tại các xứ nhiệt đới như Việt Nam có khá nhiều trong nước mưa do CO2 hòa tan. Khi rơi xuống mặt đất nếu gặp loại mẫu vật chứa cacbonnat theo kiểu vỏ sò ốc và san
  17. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) hô dễ nhiễm CO2 thì mẫu vật đó được tăng cường thêm một hàm lượng C14 ngoại lệ và sẽ làm giảm bớt số tuổi khi đưa vào máy phát hiện phóng xạ yếu. Hiệu ứng này gọi là sự “trẻ trung hóa” hay sự giảm tuổi của mẫu vật cacbonnat có thể bỏ 650 qua khi xét các niên đại chung chung nhưng cần lượng định kỹ khi phân tích chi tiết chính xác thời điểm cụ thể của biến cố. Hiệu chính 20% tỷ lệ giảm tuổi sau khi sò ốc đã chết thì tuổi của khối trầm tích biển Đông có thể già hơn như cỡ 1.200 - 1.300 năm cách nay. Với sự hiệu chính hợp lý như vậy thì hải xâm biển Đông xảy ra đúng vào giữa thế kỷ VII cho đến đầu thế kỷ VIII sau Công nguyên. Đợt hải xâm ấy góp phần chính làm tan biến hải cảng Óc Eo cuối thế kỷ VII và cả các di tích trong nền văn minh Óc Eo ở đồng bằng sông Cửu Long. Mặt khác, chúng ta cũng ghi nhận được hiện tượng tự nhiên tương đương như vậy ở bên kia bờ Thái Bình Dương. Chẳng hạn như ở duyên hải Hoa Kỳ, R. W. Fairbridge có vẽ lược đồ về các đợt hải thoái và bậc thềm cận đại với quan niệm chủ yếu là kể từ sau đợt tan băng đầu hôlôxen làm dâng mực nước biển lên 4 - 5m thì mực biển trung bình hạ dần thông qua những dao động lên xuống theo kiểu rung với biên độ càng tiến gần thời hiện tại càng nhỏ lại. Fairbridge đã đưa ra lược đồ như sau: - Hải thoái, hay là sự nhô ra Paria được định tuổi là 1.250 năm cách nay (700 sau Công nguyên). Bậc thềm từ 0,5m đến 1m (2 đến 3 feet) đặt tên là bậc thềm Rott, est, định tuổi 1.000 - 1.200 năm cách nay (950 - 750 sau Công nguyên). - Hải thoái hay sự nhô ra Florida được định tuổi là 2.000 năm cách nay (50 trước Công nguyên) và làm hạ thấp mực biển đến 3m dưới mực biển trung bình hiện nay. Bậc thềm từ 1,5 đến 2m (5 đến 6 feet) hay bậc thềm Abrolhos, tuổi trong khoảng 2.300 năm cách nay (350 trước Công nguyên).
  18. Phụ lục - Hải thoái hay sự nhô ra Crane Key được định tuổi là 3.300 năm, hạ thấp đến 2m. Hải thoái hay sự nhô ra Pelham Bay, được định tuổi là 2.400 - 2.800 năm cách nay, hạ thấp đến 3m dưới mực biển trung bình hiện nay. Bậc thềm 3m (10 feet) hay là bậc thềm Younger Peron, tuổi từ 3.400 đến 3.900 năm 651 cách nay. - Hải thoái hay sự nhô ra Bahama được định tuổi là 4.300 năm cách nay, hạ thấp mực biển đến 3m. Bậc thềm từ 3m đến 4m (10 đến 15 feet) hay bậc thềm Older Peron, tuổi trong khoảng 5.000 năm cách nay1. Ngoài ra, tuy chưa nắm hết dữ kiện, nhưng chỉ là cũng có thể dự liệu rằng tại miền duyên hải và hải đảo khác từ Malaysia đến Australia, từ Bornéo đến Đài Loan, đều có hệ bậc thềm dùng làm chứng tích các đợt dâng lên và hạ xuống của mực nước Thái Bình Dương như vậy. Một ví dụ là tại Merizo, hải đảo Guam, J. I. Tracey (1964) đã cho rằng các nham chất vôi nằm giữa Thái Bình Dương này có tuổi là 3.400 ± 250 năm có kèm theo sự xác nhận rằng chúng ở cao độ 2m (6,5 feet) cao hơn mặt biển hiện tại2. ___ 1. R. W. Fairbridge: Định niên đại những chuyển động mới nhất của mực nước biển kỷ đệ tứ (chữ Anh), New York, 1958. R. W. Fairbridge: Mực nước biển toàn cầu và những biến đổi của khí hậu (chữ Anh), 1962. 2. K. Pitakpaivan và R. Srilenawat: Những biến đổi của mực biển sau thời thượng tân ở vịnh Thái Lan (chữ Anh), 1967. S. Fujii et N. Fuji: Mực nước biển hậu băng kỷ ở các đảo Nhật Bản (chữ Anh), Osaka, 1967.
  19. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) Điều thật đáng thú vị là dù một duyên hải ở bên này và một khảo cứu ở bên kia Thái Bình Dương cách xa đến 1/3 vòng trái đất mà đã đưa đến hai thời biểu vừa chính xác vừa tương ứng với nhau (xem Bảng 1). Sự tương ứng ấy đã góp phần xác nhận hiện tượng hải xâm IV vào khoảng thế kỷ VI - VII là phổ biến 652 chung. Hải cảng Óc Eo phải chăng đã lụi tàn đi nhanh chóng, một phần do bởi đợt hải xâm nói trên? Bảng 1: Tương đương về các đợt dâng lên và hạ xuống của mực biển tại Việt Nam và bên Hoa Kỳ. Cao độ so với mực biển trung bình hiện nay. Tuổi tuyệt đối định bằng phương pháp C14 Lưu ý: Tuổi của các mẫu sò ốc, san hô và sinh vật sống vào thời các hải xâm và hải thoái được định bằng phóng xạ yếu với sai số từ 100 đến 250 năm. Nếu hiệu chính số năm thông qua các sai số thì hai thời biểu bên Việt Nam và bên Hoa Kỳ hoàn toàn ăn khớp với nhau. Nguồn: Văn hóa Óc Eo và các văn hóa cổ ở Đồng bằng Cửu Long - Nhiều tác giả, Sở Văn hóa và Thông tin An Giang, xuất bản, 1984.
  20. Phụ lục PHỤ LỤC 2 653 “HỒ CHÍ MINH - BIÊN NIÊN TIỂU SỬ” (Trích) Tháng 10, khoảng cuối tháng (1943). Hồ Chí Minh bắt đầu tham gia một số hoạt động của Việt Nam cách mạng đồng minh hội1. Tháng 11, khoảng giữa tháng (1943). Theo yêu cầu của Trương Phát Khuê, Hồ Chí Minh nhận chức Phó Chủ tịch Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Chủ tịch là Nguyễn Hải Thần). ___ 1. Việt Nam cách mạng đồng minh hội là một tổ chức của người Việt Nam ở Trung Quốc thuộc nhiều đảng phái, được sự hiệp trợ của Đệ tứ chiến khu. Tháng 7-1942, đã có một ủy ban trù bị gồm 28 đại biểu của các đoàn thể, do Nguyễn Hải Thần làm Chủ nhiệm. Đại hội thành lập, lúc đầu định vào ngày 10-8-1942, sau hoãn đến ngày 1-10-1942. Quốc dân Đảng Trung Quốc muốn nắm chặt tổ chức này, giao cho Chủ nhiệm Cục Chính trị Lương Hoa Thịnh làm đại diện chỉ đạo. Tháng 5-1943, Lương được điều đi, Chủ nhiệm mới của Cục Chính trị là Hầu Chí Minh thay. Đến tháng 12- 1943, Tư lệnh Đệ tứ chiến khu Trương Phát Khuê kiêm chức đại diện, Hầu Chí Minh làm phó đại diện. Đại diện chỉ đạo có văn phòng giúp việc, do Tiêu Văn - Trưởng phòng ngoại vụ của Đệ tứ chiến khu - phụ trách. Sau ngày thành lập, Đồng minh hội vẫn năm bè bảy mối, rời rạc, bê bối. Trương Phát Khuê quyết định cải tổ Đồng minh hội để Hồ Chí Minh tham gia công tác lãnh đạo. Trước khi chính thức cải tổ, Trương yêu cầu Hồ Chí Minh hợp tác với Nguyễn Hải Thần với cương vị Phó Chủ tịch Việt Nam cách mạng đồng minh hội.
  21. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) Tháng 11, ngày 23 (1943). Hồ Chí Minh rời khỏi Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu đến ở trong nhà Tổng bộ Việt Nam cách mạng đồng minh hội1 đặt tại đường Ngư Phong trong thành phố Liễu Châu. Cuối năm (1943). 654 Hồ Chí Minh đến nói chuyện với lớp huấn luyện cán bộ đặc biệt của thanh niên Việt Nam do Đoàn huấn luyện cán bộ Đệ tứ chiến khu tổ chức tại Đại Kiều (Liễu Châu, Quảng Tây, Trung Quốc). Nguồn: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t. 2, tr. 199-204. Tháng 2, khoảng cuối tháng (1944). Hồ Chí Minh tham dự Hội nghị trù bị Đại hội đại biểu toàn quốc của Việt Nam cách mạng đồng minh hội. Tại Hội nghị, Người đề nghị mở rộng thành phần Đại hội, trong đó có đại biểu của Việt Minh được Trương Phát Khuê tán thành và ủy thác cho Người khởi thảo kế hoạch triệu tập Đại hội quan trọng này1. Nguồn: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí ___ 1. Không dám trái ý Trương Phát Khuê, Nguyễn Hải Thần cử Diệp Thụy Đình và Trung Tú Nghị là ủy viên quân sự đặc biệt của Việt Nam cách mạng đồng minh hội đến Cục Chính trị Đệ tứ chiến khu đón Hồ Chí Minh ra “công tác”. 2. Tại Hội nghị trù bị Đại hội đại biểu toàn quốc của Việt Nam cách mạng đồng minh hội do Trương Phát Khuê triệu tập, Hồ Chí Minh nêu rõ: Thành phần Đại hội, ngoài Ban Chấp hành Việt Nam cách mạng đồng minh hội, đại biểu Quốc dân Đảng (Việt Nam) và Đảng Đại Việt ra, nên có đại biểu của Việt Minh và các tổ chức khác ở trong nước như Hội Phật giáo, Hội truyền bá chữ quốc ngữ, Hội Ánh sáng Nhưng khi thảo luận, một số người không đồng ý cho tổ chức thuộc Việt Minh cử đại biểu tham dự. Về thời gian đại hội, Hội nghị trù bị cũng không nhất trí được.
  22. Phụ lục Minh - Viện Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Hà Nội, 2006, t. 2, tr. 208-210. 655
  23. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) Tháng 8, ngày 9 (1944). Hồ Chí Minh được tướng Trương Phát Khuê trả lại tự do và cho phép trở về Việt Nam1 cùng với 18 thanh niên do Người chọn2. Trước khi rời Liễu Châu, Người nói với tướng Trương: 656 “Tôi là một người cộng sản, nhưng điều mà tôi quan tâm hiện nay là độc lập và tự do của nước Việt Nam, chứ không phải là ___ Hồ Chí Minh bàn với các thành viên Việt Minh nêu ý kiến đổi tên Đại hội đại biểu toàn quốc thành Đại hội đại biểu các đoàn thể cách mạng hải ngoại. Ý kiến này được giao cho Lê Tùng Sơn báo cáo với Trương Phát Khuê. Trương Phát Khuê đồng ý và ủy thác cho Hồ Chí Minh khởi thảo kế hoạch triệu tập Đại hội đại biểu các đoàn thể cách mạng hải ngoại thuộc Việt Nam cách mạng đồng minh hội. Kế hoạch được thảo rất nhanh, trong đó Hồ Chí Minh đề nghị thành phần đại hội gồm: các ủy viên chấp hành của Việt Nam cách mạng đồng minh hội, đại biểu “lớp huấn luyện đặc biệt” ở Đại Kiều, đại biểu người Việt trong biệt động quân Nam Ninh, đại biểu “Hội giải phóng” ở Vân Nam, đại biểu Việt Nam phục quốc quân, đại biểu đảng Đại Việt và đại biểu Phân hội Việt Nam Hiệp hội Quốc tế chống xâm lược, v.v Kế hoạch cũng đề ra cách bầu lại Ban Chấp hành Việt Nam cách mạng đồng minh hội và một số điểm về việc quá độ từ Đại hội đại biểu hải ngoại đến Đại hội đại biểu toàn quốc. Trong một buổi tiệc trà do Trương Phát Khuê mời các đại biểu Hội nghị trù bị tham dự, kế hoạch do Hồ Chí Minh thảo ra được Trương giới thiệu và khẳng định trước mọi người. Phái phản đối cũng đành phải nghe theo. 1. Theo tướng Trương Phát Khuê trong báo cáo ngày 9-8-1944 (Việt Nam văn kiện hội biên) và trong cuộc tọa đàm với King C.Chen thì Hồ Chí Minh được cấp một giấy phép đi đường, Giấy chứng minh thư do Tướng Trương ký, một bản đồ quân sự, tài liệu tuyên truyền, thuốc phòng bệnh và 76.000 đồng quan kim để đi đường và làm kinh phí huấn luyện. 2. Mười tám thanh niên đó là: Dương Văn Lộc, Vi Văn Tôn, Hoàng Quang Trao, Hoàng Kim Liên, Phạm Văn Minh, Hoàng Sĩ Vịnh, Nông Văn Mưu, Hoàng Gia Tiến, Trương Hữu Chi, Lê Nguyên, Hoàng Nhân, Nông Kim Thanh, Hoàng Thanh Thủy, Hà Hiền Minh, Lê Văn Tiến, Dương Văn Lễ, Đỗ Trọng Viễn, Đỗ Lạc.
  24. Phụ lục chủ nghĩa cộng sản. Tôi có một lời đảm bảo đặc biệt đối với ông rằng: chủ nghĩa cộng sản sẽ chưa được thực hiện ở Việt Nam trong vòng 50 năm tới”1. Người cám ơn sự giúp đỡ của tướng Tiêu Văn và nói: 657 “Những gì tôi đã nói với ông (về Việt Nam và phong trào cách mạng Việt Nam) là sự thật 99%. Chỉ có 1% tôi chưa nói với ông mà thôi”2. Tháng 9, đầu tháng (1944). Rời khu Hạ Đống, Hồ Chí Minh và những người cùng đi đến Thủy Khẩu Quan, giáp biên giới. Bị lính canh ải của Quốc dân Đảng Trung Quốc khám xét và làm khó dễ, Người gọi điện cho Phòng đốc sát quân cảnh Long Châu, nhờ Tăng Thiên Tiết can thiệp và đã được phép đi qua. Nguồn: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.2, tr.217- 220. ___ 1. Hồi ký của Trương Phát Khuê, Tuần báo Liên hợp tạp chí, Hồng Kông, 1962. 2. Liu San: “When President Ho Chi Minh was in South China”, Wen hui pao (Văn hồi báo), Hồng Kông, 7-9-1953.
  25. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) 658 PHỤ LỤC 3 NGHỊ QUYẾT CỦA BAN TRUNG ƯƠNG ĐẢNG NGÀY 6, 7, 8 THÁNG 11 NĂM 19391 (Trích) III CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG Trước kia trong khi đế quốc Pháp còn có thể đứng vào Mặt trận dân chủ thế giới chống phátxít xâm lược, chống chiến tranh để duy trì hòa bình, chính sách cai trị ở chính quốc và thuộc địa có đôi chút tính chất tiến bộ, dân chúng Đông Dương một mặt vì còn có thể lợi dụng những sự có thể công khai (possibilités légales) của tư sản dân chủ, lại nhờ Mặt trận bình dân Pháp là điều kiện thuận tiện để tranh đấu chống phản động thuộc địa đòi cải cách tiến bộ, đòi cơm áo, chống sự hăm dọa của phátxít Nhật để giữ gìn hòa bình; một mặt vì tình thế quốc tế và trong xứ chưa đặc biệt căng thẳng, vận mệnh và tài sản của dân chúng Đông Dương chưa trực tiếp bị hăm dọa, chưa đẩy dân chúng lên đường tranh đấu quyết liệt với đế quốc Pháp, thì trong lúc nhất định ấy, hình thức tổ chức và tranh đấu thích hợp hơn hết và cần thiết hơn hết của dân chúng là lập Mặt trận dân chủ chống phản động thuộc địa và chống phátxít xâm lược. ___ 1. Thường được gọi là Nghị quyết Trung ương 6.
  26. Phụ lục Bây giờ tình thế đã đổi khác hẳn, đế quốc Pháp hiện giờ là một tên thủ phạm đương phát động cuộc thế giới đế quốc chiến tranh. Chính sách cai trị của Chính phủ Đalađiê đã hoàn toàn phản động (phátxít hóa). Sự thống trị các thuộc địa, nhất là Đông Dương là một chế độ quân nhân phátxít rõ rệt và sự mưu mô đầu 659 hàng thỏa hiệp với phátxít Nhật đã đặt ra trước mắt vấn đề sống còn của các dân tộc Đông Dương. Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng để tranh lấy giải phóng độc lập. Đế quốc Pháp còn, dân chúng Đông Dương chết, đế quốc Pháp chết, dân chúng Đông Dương còn. Cuộc thế giới đế quốc chiến tranh sẽ làm cho đế quốc chủ nghĩa thế giới ngày càng yếu dần, trái lại vì những sự đau đớn, thê thảm do chiến tranh gây nên bắt dân chúng phải chịu, làm cho họ càng bất bình, căm tức nên phong trào cách mạng thế giới sẽ càng to rộng, mạnh mẽ, những lò lửa cách mạng thế giới tất nhiên sẽ bùng cháy. Sự bóc lột tàn ác của đế quốc Pháp ở Đông Dương để cung cấp cho chiến tranh sẽ làm cho dân Đông Dương ngày càng cách mạng hóa. Cuộc cách mạng đánh đổ đế quốc Pháp của các dân tộc Đông Dương nhất định sẽ nổ bùng. Căn cứ vào những sự biến đổi trên quốc tế và trong xứ và sự biến chuyển mới của phong trào cách mệnh thế giới và Đông Dương, Đảng ta phải thay đổi chính sách. Mặt trận dân chủ thích hợp với hoàn cảnh trước kia, ngày nay không còn thích hợp nữa. Ngày nay phải thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương (M.T.T.N.D.T.P.Đ.Đ.D.) để tranh đấu chống đế quốc chiến tranh, đánh đổ đế quốc Pháp và bọn phong kiến thối nát, giải phóng các dân tộc Đông Dương làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Nội dung và đặc điểm của Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương (M.T.T.N.D.T.P.Đ.Đ.D.): là hình thức
  27. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) liên hiệp tất cả các dân tộc Đông Dương dưới nền thống trị đế quốc Pháp, tất cả các giai cấp, các đảng phái, các phần tử phản đế muốn giải phóng cho dân tộc, để tranh đấu chống đế quốc chiến 660 tranh, chống xâm lược phátxít, đánh đổ đế quốc Pháp, vua chúa bổn xứ và tất cả bọn tay sai của đế quốc đòi hòa bình, cơm áo, thực hiện nền độc lập hoàn toàn cho các dân tộc Đông Dương với quyền dân tộc tự quyết. Khác với Mặt trận dân chủ là sự liên hiệp các giai cấp có ít nhiều tiến bộ, các đảng phái cách mệnh với các đảng phái cải lương để đòi cải cách tiến bộ, Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế là mặt trận cách mệnh là sự liên hiệp các dân tộc, các giai cấp, các đảng phái, các phần tử có tính chất phản đế. Nếu Mặt trận dân chủ chưa làm liệt bại các xu hướng cải lương đề huề thì Mặt trận T.N.D.T.P.Đ. là một mặt trận kịch liệt chống với các đảng phái, các xu hướng cải lương đề huề, làm liệt bại chúng nó hoàn toàn trong phong trào giải phóng dân tộc. Mặt trận dân chủ còn khác với Mặt trận phản đế là trong tiến trình phát triển cách mệnh, sự liên quan lực lượng trong Mặt trận phản đế sẽ mau biến chuyển và biến chuyển theo một hình thức đặc biệt khác với sự biến chuyển có thể có của Mặt trận dân chủ; nói một cách khác là giai cấp tư sản nằm trong Mặt trận dân chủ trong khi đi chung với dân chúng để thực hiện yêu sách dân chủ có thể ít và chậm quay lại phản bội quyền lợi dân tộc. Trái lại, những tầng lớp tư sản có ít nhiều tính chất phản đế nằm trong Mặt trận phản đế trên bước đường cách mạng của dân chúng sẽ rất dễ và rất mau quay lại phản bội quyền lợi dân tộc, phá hoại phong trào giải phóng dân tộc. Mặt trận T.N.D.T.P.Đ.Đ.D. với cách mạng tư sản dân quyền: Cuộc cách mạng giải phóng các dân tộc của Mặt trận
  28. Phụ lục phản đế là một kiểu của cách mạng tư sản dân quyền. Song đứng trong tình thế khác ít nhiều với tình thế 1930-1931, chiến lược cách mạng tư sản dân quyền bây giờ cũng phải thay đổi ít nhiều cho hợp với tình thế mới. Cách mệnh phản đế và điền địa là hai cái mấu chốt của 661 cách mệnh tư sản dân quyền. Không giải quyết được cách mệnh điền địa thì không giải quyết được cách mệnh phản đế. Trái lại không giải quyết được cách mệnh phản đế thì không giải quyết được cách mệnh điền địa - cái nguyên tắc chính ấy không bao giờ thay đổi được, nhưng nó phải ứng dụng một cách khôn khéo thế nào để thực hiện được nhiệm vụ chính cốt của cách mệnh là đánh đổ đế quốc. Hiện nay tình hình có đổi mới. Đế quốc chiến tranh, khủng hoảng cùng với ách thống trị phátxít thuộc địa đã đưa vấn đề dân tộc thành một vấn đề khẩn cấp rất quan trọng. Đám đông trung tiểu địa chủ và tư sản bổn xứ cũng căm tức đế quốc. Đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mệnh, cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào cái mục đích ấy mà giải quyết. Vì vậy, trong khi chủ trương M.T.T.N.D.T.P.Đ.Đ.D. cách mệnh tư sản dân quyền trong lúc này chỉ mới tịch ký ruộng đất của những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc. Một điều khác nữa là Mặt trận phản đế chưa đưa khẩu hiệu lập Chính phủ “Xôviết công nông binh” là hình thức chính phủ riêng của dân chúng lao động, mà đưa khẩu hiệu “Chính phủ Liên bang cộng hòa dân chủ Đông Dương” là hình thức chính phủ chung cho tất cả các tầng lớp dân chúng trong xứ và trong phong trào giải phóng dân tộc, một bộ phận của giai cấp tư sản còn có thể đi chung với dân chúng trong một giai đoạn nào. Song cuộc cách mệnh tư sản dân quyền trong giai đoạn lập Mặt trận phản đế còn và phải biến chuyển theo những hình thức
  29. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) mới và triệt để hơn, tùy theo tình thế thay đổi của Mặt trậnvà lực lượng tương đương trong hàng ngũ. Đảng cộng sản luôn luôn coi chính quyền Xôviết là hình thức chính phủ rộng rãi, dân chủ hơn hết và triệt để của dân chúng. Cách mệnh tư sản dân quyền 662 còn và phải biến chuyển qua cách mạng vô sản. Sự biến chuyển ấy hoặc hòa bình không phải võ trang bạo động nữa, chứ không phải không đổ máu, hoặc bằng bạo động tùy theo lực lượng vô sản và sự liên minh của nó với nông dân trong xứ cùng sức ủng hộ của vô sản thế giới. Chiến lược của Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương: Mục đích của Mặt trận T.N.D.T.P.Đ.Đ.D. là đánh đổ đế quốc Pháp, vua chúa bổn xứ và tất cả bọn tay sai của đế quốc phản bội dân tộc. Lực lượng chính của cách mạng là công nông, dựa vào các tầng lớp trung sản thành thị, thôn quê và đồng minh trong chốc lát hoặc trung lập giai cấp tư bản bổn xứ, trung, tiểu địa chủ. Mặt trận ấy phải dưới quyền chỉ huy của vô sản giai cấp. Không nhận rõ sự cần thiết lãnh đạo của vô sản giai cấp trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền, một giai cấp cách mạng triệt để hơn hết, có một Đảng mạnh nhất thế giới, một bộ tham mưu đủ tài năng, đủ kinh nghiệm, đủ hy sinh là Quốc tế cộng sản và chi nhánh của nó là Đảng Cộng sản Đông Dương thì không rõ vai trò lãnh đạo của vô sản. Trong cuộc cách mệnh giải phóng dân tộc giai cấp vô sản cầm quyền lãnh đạo thì vấn đề điền địa mới giải quyết được một cách đúng đắn và thích hợp vì nó là một giai cấp tiên tiến nhất, cách mệnh triệt để, không có chút khí cụ sinh sản nào và không dính líu đến vấn đề đất ruộng, mà vấn đề điền địa có giải quyết được rành mạch, thỏa mãn và hợp thời thì cuộc cách mạng phản đế mới thắng lợi, cách mạng giải phóng dân tộc
  30. Phụ lục mới thành công. Cuộc cách mạng điền địa không có giai cấp vô sản chỉ huy không thể đi đến triệt để. Công nông là hai cái lực lượng chính của cách mệnh, sự đồng minh chặt chẽ của công nông là vấn đề sống chết của cách mạng, không có sự đồng minh ấy 663 thì cách mạng không thể thắng lợi được. Công nông phải đưa cao cây cờ dân tộc lên, vì quyền lợi sinh tồn của dân tộc mà sẵn sàng bắt tay với tiểu tư sản và những tầng lớp tư sản bổn xứ, trung tiểu địa chủ còn có căm tức đế quốc, vì sự căm tức ấy có thể làm cho họ có ít nhiều tinh thần chống đế quốc. Tuy nhiên bản chất của giai cấp tư sản trong thời đại này luôn luôn sợ sệt phong trào dân chúng. Trong lúc cao trào cách mệnh, họ sẽ rời hàng ngũ phản đế, vì quyền lợi ích kỷ mà bỏ con đường giải phóng dân tộc, con đường cách mệnh phản đế và sẽ nghiêng về phe đế quốc. Trong lúc ấy thì sự trung lập giai cấp tư sản bổn xứ là một điều rất cần thiết cho cách mệnh giải phóng dân tộc và cũng vì những lẽ ấy, muốn thực hiện Mặt trận phản đế và bảo đảm sự thắng lợi của cách mệnh phản đế, cần phải làm liệt bại xu hướng quốc gia cải lương. Ngoài những lực lượng chính và phụ ấy, cuộc cách mạng còn cần đến những lực lượng dự trữ gián tiếp như vô sản Pháp, vô sản thế giới, Liên Xô, dân chúng thuộc địa và bán thuộc địa. Trong cuộc tranh đấu với dân chúng Đông Dương, đế quốc Pháp còn kéo các đế quốc khác hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp đồng minh với nó để dẹp phong trào cách mệnh thì sự liên lạc đồng minh của các dân tộc Đông Dương với các lực lượng cách mạng giải phóng chống đế quốc trên thế giới, với vô sản giai cấp thế giới, với thành trì cách mệnh thế giới là Liên Xô là một sự cần thiết không thể không có được, vì sự đồng tình và ủng hộ cuộc cách mệnh thế giới có thể quyết định phong trào
  31. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) cách mạng trong xứ trong một phạm vi không phải nhỏ (kinh nghiệm cách mệnh Tây Ban Nha và Trung Quốc). Cuộc cách mạng tư sản dân quyền do Mặt trận T.N.D.T.P.Đ.Đ.D. thực hiện giải quyết: 1) Đánh đổ đế quốc 664 Pháp, vua chúa bổn xứ và tất cả bọn phản động tay sai cho đế quốc và phản bội dân tộc. 2) Đông Dương hoàn toàn độc lập (thi hành quyền dân tộc tự quyết). Không một dân tộc nào có thể giải phóng riêng rẽ vì Đông Dương ở dưới quyền thống trị duy nhất của đế quốc Pháp về mặt chính trị, kinh tế và binh bị. Không có thể một bộ phận nào thoát khỏi nền thống trị ấy mà chẳng liên quan đến cả toàn thể nền thống trị của đế quốc Pháp. Sự liên hiệp các dân tộc Đông Dương không nhất thiết bắt buộc các dân tộc phải thành lập một quốc gia duy nhất vì các dân tộc như Việt Nam, Miên, Lào xưa nay vẫn có sự độc lập. Mỗi dân tộc có quyền giải quyết vận mệnh theo ý muốn của mình, song sự tự quyết cũng không nhất định nghĩa là rời hẳn nhau ra. 3) Lập Chính phủ Liên bang cộng hòa dân chủ Đông Dương (đã giải thích trên). 4) Đánh đuổi hải lục không quân của đế quốc Pháp ra khỏi xứ, lập quốc dân cách mệnh quân (nói đánh đuổi ra khỏi xứ mà không nói đánh đuổi trống không, vì nếu quân đội của đế quốc đã bị đánh đuổi tan nát, song vẫn còn lẩn lút trong xứ thì sự âm mưu đánh lại cách mệnh vẫn còn. Một ngày nào mà có quân lính đế quốc ở trong xứ thì Đông Dương chưa phải là hoàn toàn độc lập, những quân lính ấy bất cứ người Pháp hay người bổn xứ). 5) Quốc hữu hóa những nhà băng, các cơ quan vận tải, giao thông, các binh xưởng, các sản vật trên rừng, dưới biển và dưới đất. 6) Tịch ký và quốc hữu hóa tất cả các xí nghiệp của tư bản ngoại quốc và bọn đế quốc thực dân và tài sản của bọn phản bội dân tộc, nhà máy giao thợ thuyền quản lý. 7) Tịch ký và quốc hữu hóa đất ruộng
  32. Phụ lục của đế quốc thực dân, cố đạo và bọn phản bội dân tộc. Lấy đất bọn phản bội, bọn cố đạo, đất công điền, đất bỏ hoang chia cho quân chúng nông dân cày cấy. (Chính phủ chỉ lấy đất của bọn địa chủ phản bội, của cố đạo, công điền, đất bỏ hoang chia cho dân cày làm đủ ăn, nếu thiếu phải lấy thêm 665 đất tịch ký của bọn thực dân; nhưng khi chia đất cho dân cày, chia cho bần nông và công nhân nông nghiệp ở thôn quê trước, còn nữa sẽ chia cho trung nông cho họ đủ sống). Những đồn điền tập trung sẽ lập thành đồn điền của Nhà nước (như Sốpkhôsơ: Sovkhoze) 1 , công nhân nông nghiệp ở đó sẽ làm việc ăn lương và hưởng quyền lợi như thợ thuyền. Dân cày có thể đủ sống rồi, còn bao nhiêu Chính phủ phải để về Chính phủ kinh dinh theo lối đại sinh sản để dùng vào sự lợi ích chung cho quốc gia, nếu ta hô một câu suông “Tất cả ruộng đất tịch ký đều chia cho dân cày”, sau này nếu Chính phủ để lại phần nào, bọn phản động sẽ vin vào đó làm cho dân cày bất bình Chính phủ. Đất chia dân cày, dân cày được hưởng hoa lợi, nhưng quyền sở hữu vẫn là của Chính phủ, những người được đất không được cầm bán và không ai được mua, sự chia ruộng đất tùy theo tay làm và miệng ăn. 8) Thi hành luật lao động ngày 8 giờ, 7 giờ cho các hầm mỏ, luật xã hội bảo hiểm hoàn toàn, tiền hưu trí cho thợ, tìm công ăn việc làm cho thợ thất nghiệp, trợ cấp thất nghiệp, công việc ngang nhau đồng lương ngang nhau, không phân biệt già trẻ, đàn ông, đàn bà. 9) Bỏ hết các thứ sưu thuế, đánh thuế lũy tiến hoa lợi. 10) Thủ tiêu tất cả các khế ước cho vay đặt nợ. Lập nhà băng nông phố và bình dân ngân hàng. 11) Ban hành các quyền tự do dân chủ, cả quyền nghiệp đoàn, bãi công, phổ thông đầu phiếu, những người công dân từ 18 tuổi trở lên bất cứ đàn ông, đàn bà nòi giống nào đều ___ 1. Sốpkhôsơ: Tiếng Nga có nghĩa là: Nông trường quốc doanh - B.T.
  33. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) được quyền bầu cử, ứng cử. 12) Phổ thông giáo dục cưỡng bách. 13) Nam nữ bình quyền về mọi phương diện xã hội, kinh tế và chính trị. 14) Mở rộng các cuộc xã hội, y tế, cứu tế, thể thao, v.v 666 Nguồn: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.6, tr.535-543.
  34. Phụ lục PHỤ LỤC 4 667 NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG LẦN THỨ VIII ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG (5-1941) (Trích) III. VẤN ĐỀ DÂN TỘC Chính sách dân tộc của Pháp: Đối với các dân tộc Đông Dương, Pháp dùng chính sách cai trị rất dã man. Chúng nó theo chính sách đế quốc chủ nghĩa mà nước Anh đã dùng để cai trị là chính sách “chia để trị”. Đối với nước Việt Nam một dân tộc, một lịch sử, một văn hóa, một tình hình sinh hoạt như nhau, thế mà chúng chia làm ba kỳ, dùng ba lối cai trị khác nhau rồi gây mối thù hằn cừu thị ở các xứ đó. Làm cho sự đoàn kết giữa các dân tộc ngày càng khó khăn. Đối với các dân tộc khác như Cao Miên, Lào chúng nó cũng làm cho xa cách hẳn dân Việt Nam, làm cho họ ác cảm dân tộc Việt Nam, không có chút thiện cảm nào đối với nhau. Ly gián dân tộc để ngăn cản sự đoàn kết cách mạng của các dân tộc là một mục đích. Một mục đích nữa là đem dân tộc này bắn giết dân tộc khác. Trong các phong trào cách mạng Đông Dương chúng nó thường đem dân tộc này chống dân tộc khác. Đem lính Nam qua Miên, Lào, đem lính Miên, Lào về Nam.
  35. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) Trong cuộc khởi nghĩa của nhân dân Nam Kỳ, đế quốc Pháp đem lính Cao Miên và Mọi bắn đồng bào ta ở Nam Kỳ. Ngoài các dân tộc Miên, Lào ra lại có các dân tộc thiểu số, ở Bắc Kỳ có dân Thổ, Mèo, Mường, Mán, v.v. Ở Trung Kỳ có 668 Mường, Đê, Hời, v.v. Ở Nam Kỳ có các dân tộc Mọi. Như thế các dân tộc ấy phần lớn là trình độ sinh hoạt thấp, còn dại khờ nên dễ bị lừa gạt. Trong mấy năm gần đây đã trở nên cái lợi khí của đế quốc lợi dụng đem chống lại đồng bào Việt Nam. Muốn ly gián các dân tộc Đông Dương, đế quốc Pháp tìm cách ngăn trở sự giao thiệp, liên lạc giữa các dân tộc như không cho người Nam vào buôn bán trong Mọi, không cho dân tộc Mọi bận áo quần người Nam, không được cưới hỏi lấy nhau ở các đồn điền, chúng nó lại dùng nhân công Mọi chống lại nhân công người Nam. Ở trong trại lính tụi quan binh tìm cách làm cho các dân tộc ác cảm nhau, gây ra cuộc đánh lộn nhau, rồi tìm cách ủng hộ dân tộc này chống dân tộc kia. Ly gián dân tộc vẫn chưa đủ, chúng nó lại còn tìm cách làm mờ ám tinh thần dân tộc, xuyên tạc những trang lịch sử chiến đấu oanh liệt của các dân tộc, duy trì các phong tục mê tín, hủ lậu làm cho họ ngu muội và có lúc làm tiêu diệt cả một dân tộc nữa. Đứng trước chính sách dân tộc của Pháp, các dân tộc Đông Dương chỉ cần có một cuộc cách mạng mà đánh đổ cả những chính sách ấy mới làm cho các dân tộc Đông Dương tồn tại một cách hợp với tiến hóa, mới bước vào con đường văn minh chân chính được. Chính sách dân tộc của Đảng ta: Các dân tộc Đông Dương hiện nay bị dưới hai tầng áp bức bóc lột của giặc Pháp - Nhật. Ách áp bức ấy quá nặng nề, các dân tộc Đông Dương không thể nào chịu được. Đế quốc Pháp - Nhật chẳng những áp bức bóc lột cả các dân tộc không chừa một hạng nào. Dẫu là anh tư bản, anh địa chủ, một anh thợ hay một anh dân cày đều cảm thấy cái ách nặng nề của đế quốc là không thể nào
  36. Phụ lục sống được. Quyền lợi tất cả các giai cấp bị cướp giật, vận mạng dân tộc nguy vong không lúc nào bằng. 669
  37. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) Pháp - Nhật ngày nay không phải chỉ là kẻ thù của công nông mà là kẻ thù của cả dân tộc Đông Dương. Trong lúc này khẩu hiệu của Đảng ta là trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách của giặc Pháp - Nhật. 670 Muốn làm tròn nhiệm vụ ấy, trước hết tập trung cho được lực lượng cách mạng toàn cõi Đông Dương, không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư bản, bản xứ, ai có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận, thu góp toàn lực đem tất cả ra giành quyền độc lập, tự do cho dân tộc, đánh tan giặc Pháp - Nhật xâm chiếm nước ta. Sự liên minh tất cả lực lượng của các giai cấp, đảng phái, các nhóm cách mạng cứu nước, các tôn giáo các dân tộc chống Pháp - Nhật, đó là công việc cốt yếu của Đảng ta. Nói như thế không phải Đảng ta thủ tiêu vấn đề giai cấp đấu tranh trong cuộc cách mạng Đông Dương. Không! Vấn đề giai cấp đấu tranh vẫn tồn tại mãi mãi. Nhưng trong giai đoạn hiện tại, quốc gia trước hết, thì tất thảy những yêu sách của bộ phận mà có hại đến quyền lợi của toàn thể, của giai cấp mà có hại đến quyền lợi của dân tộc, thì phải gác lại để giải quyết sau. Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Đó là nhiệm vụ của Đảng ta trong vấn đề dân tộc. Một điều thứ hai nữa là đã nói đến vấn đề dân tộc tức là nói đến sự tự do độc lập của mỗi dân tộc tùy theo ý muốn của mỗi dân tộc. Nói như thế nghĩa là sau lúc đánh đuổi Pháp - Nhật, ta phải thi hành đúng chính sách “dân tộc tự quyết” cho các dân tộc Đông Dương. Các dân tộc sống trên cõi Đông Dương sẽ tùy
  38. Phụ lục theo ý muốn, tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành một dân tộc quốc gia tùy ý. Một chính phủ cộng hòa mạnh hơn không có quyền bắt các dân tộc nhỏ yếu tuân theo chính sách mình và tham gia chính phủ mình và các dân tộc thiểu số cũng 671 không phải bắt buộc theo các dân tộc đa số và mạnh. Văn hóa của mỗi dân tộc sẽ được tự do phát triển tồn tại, tiếng mẹ đẻ của các dân tộc sẽ được tự do phát triển tồn tại và được bảo đảm. Sự tự do độc lập của các dân tộc sẽ được thừa nhận và coi trọng. Nếu các dân tộc nhỏ muốn cùng dân tộc lớn thành lập liên bang dân chủ to lớn, đó không phải là một sự bắt buộc mà là một sự tùy ý muốn của nhân dân trong xứ. Riêng dân tộc Việt Nam, một dân tộc đông và mạnh hơn hết ở Đông Dương, sau lúc đánh đuổi được Pháp - Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần tân dân chủ. Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là của chung cả toàn thể dân tộc, chỉ trừ có bọn tay sai của đế quốc Pháp - Nhật và những bọn phản quốc, những bọn thù, không được giữ chính quyền, còn ai là người dân sống trên dải đất Việt Nam đều thảy được một phần tham gia giữ chính quyền, phải có một phần nhiệm vụ giữ lấy và bảo vệ chính quyền ấy. Đối với các dân tộc Miên, Lào và các dân tộc thiểu số ở Đông Dương, dân tộc Việt Nam có nghĩa vụ phải dìu dắt giúp đỡ trong bước đường tranh đấu tự do độc lập. Nhưng muốn làm tròn hai nhiệm vụ trên kia là giải phóng dân tộc và dân tộc tự quyết ta phải nhận rằng: 1) Những dân tộc sống ở Đông Dương đều chịu dưới ách thống trị của giặc Pháp - Nhật, cho nên muốn đánh đuổi chúng nó không chỉ dân tộc này hay dân tộc kia mà đủ, mà phải có một lực lượng thống nhất của tất thảy các
  39. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) dân tộc Đông Dương họp lại. 2) Cuộc cách mạng Đông Dương là một bộ phận cách mạng thế giới và giai đoạn hiện tại là một bộ phận dân chủ chống 672 phátxít. Bởi vì Pháp - Nhật hiện nay là một bộ phận đế quốc xâm lược và là một bộ phận phátxít thế giới. 3) Vận mạng của dân tộc Đông Dương lại chung với vận mạng nước Tàu cách mạng và Liên bang Xôviết. Cuộc tranh đấu chống phátxít của Liên Xô và Tàu là cuộc tranh đấu chung vận mạng của các dân tộc Đông Dương. Bởi vậy ở Đông Dương cuộc tranh đấu chống phátxít Nhật là cuộc tranh đấu một bộ phận của cuộc đấu tranh của Tàu và Liên Xô chống lại phátxít thế giới. Tóm lại, phải giữ một chính sách dân tộc như trên kia hợp với nguyện vọng của toàn thể nhân dân, hợp với nguyện vọng của các giai cấp, các dân tộc Đông Dương, hợp với cuộc tranh đấu chung của toàn thế giới chống phátxít và xâm lược, cuộc cách mạng Đông Dương mới thành công chắc chắn được. IV. CHÍNH SÁCH MỚI CỦA ĐẢNG Tình hình thay đổi. Pháp mất nước cho Đức, Đức gây chiến với Liên Xô, Nhật chiếm Đông Dương, đó là những biến cố lớn đã xảy ra, một cuộc chiến tranh thế giới đã bước vào một giai đoạn mới, giai đoạn các nước đế quốc phátxít cùng với các nước dân chủ hoàn cầu xâu xé nhau dữ dội hơn. Trong lúc đó Liên Xô đã trở nên một đội quân tiền phong trong Mặt trận dân chủ, đã tập hợp tất cả lực lượng dân chủ toàn thế giới quanh mình để diệt trừ tụi phátxít. Tình hình Đông Dương cũng không kém thay đổi. Đế quốc Nhật chiếm Đông Dương tròng thêm một cái ách nô lệ
  40. Phụ lục cho dân Đông Dương. Nhân dân Đông Dương nay không phải chỉ làm nô lệ cho giặc Pháp mà còn làm trâu ngựa cho giặc Nhật nữa. Pháp đầu hàng Đức và Nhật gây ra chiến tranh Thái Bình Dương, chúng càng tăng thêm sự áp bức bóc lột xứ Đông Dương. Trước tình thế đó nhân dân Đông Dương vô cùng khốn 673 đốn, không những các tầng lớp thợ thuyền, dân cày, quần chúng lao khổ cũng phải ráo riết dưới hai tầng áp bức của Pháp - Nhật, mà ngay các tầng lớp tiểu tư sản, phú nông, địa chủ, viên chức thảy đều bị phá sản và khánh kiệt dưới sự bóc lột của Pháp - Nhật. Do đó thái độ của các giai cấp nhân dân thay đổi nhiều. Sự thay đổi thái độ của các giai cấp trong nhân dân làm cho lực lượng cách mạng và phản cách mạng cũng thay đổi. Thái độ của các giai cấp nhân dân thay đổi như thế nào? Giai cấp vô sản và dân cày nghèo nàn, khốn khổ nặng nề hơn lúc nào hết, đã hăng hái quyết liệt hơn chống đế quốc. Xem những cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ và Bắc Sơn, giai cấp công nông đã có một tinh thần hy sinh và quyết liệt hơn ngày trước. Đến anh em binh lính trước kia họ là một lợi khí cho quân đế quốc lợi dụng đàn áp cách mạng, ngày nay căn cứ vào cuộc bạo động Nam Kỳ, vào cuộc khởi nghĩa Đô Lương thì thấy rằng tinh thần cách mạng binh lính đã lên cao, họ không ngần ngại trên bước đường cùng với thợ thuyền, dân cày tranh đấu chống đế quốc xâm lược. Giai cấp tiểu tư sản đặc biệt là các hàng viên chức, tiểu chủ, tiểu nông vì nạn bóc lột của đế quốc và sinh hoạt khốn đốn, đối với cách mạng tham gia hăng hái một phần, một phần nữa lại tỏ cảm tình với cách mạng một cách sốt sắng hơn trước. Giai cấp địa chủ - phú nông và một phần tư bản bản xứ thay đổi thái độ nhiều hơn. Trước kia đối với cách mạng hoặc có thái độ ác cảm, tìm cách phá hoại, hoặc thờ ơ lãnh đạm. Thế mà ngày nay lại khác, chỉ trừ một số ít làm tay sai cho
  41. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) giặc Pháp, hoặc đi bợ đỡ ton hót bọn Nhật, còn phần đông đã có cảm tình với cách mạng hoặc giữ thái độ trung lập. Thái độ của các đảng phái chính trị cũng có thay đổi ít nhiều. Những đảng phái có tính chất chân thành cách mạng thì nay 674 đã có một thái độ rõ rệt và quyết tâm hơn tuy lực lượng của họ còn yếu. Còn các đảng phái thân Nhật thì một số đông quần chúng trước kia bị chúng nó lừa phỉnh mà nghe theo nay đã thấy rõ chỗ dã tâm của Nhật, lại càng chán Nhật, nên họ cũng có khuynh hướng cách mạng. Xem như quần chúng của Việt Nam phục quốc đồng minh hội sau lúc quân Nhật đem tố giác cho Pháp bắt và giết hại thì họ lại càng tức ghét Pháp - Nhật, tỏ một thái độ muốn đi với Đảng ta để chống kẻ thù chung. Các đoàn thể tôn giáo như đạo Cao Đài trước kia là thân Nhật, nhưng ngày nay trước những hành động gian trá của Nhật một số đông tín đồ dưới hạ tầng quần chúng lại có khuynh hướng cách mạng mà ghét Nhật chống Pháp. Kèm theo sự thay đổi thái độ ấy lại đi theo với sự thay đổi lực lượng cách mạng, những giai cấp trước còn xa cách mạng nay trung lập hay cảm tình với cách mạng. Những hạng như địa chủ, tư bản bản xứ trước kia có thể là đội quân hậu bị của đế quốc chống cách mạng nay đã biến thành hậu bị quân của cách mạng. Trong sự thay đổi ấy ta thấy lực lượng của phe cách mạng tăng gia mà hậu bị quân của địch nhân sẽ do đó mà giảm xuống nhiều. Hơn nữa những cuộc cách mạng dân tộc giải phóng của Tàu, Ấn Độ cuộc cách mạng vô sản Pháp - Nhật, cuộc chiến tranh thế giới và Thái Bình Dương, cuộc kháng chiến của Liên Xô. Nói tóm lại, trong cuộc cách mạng Đông Dương hai lực lượng cách mạng và phản cách mạng đã bày ra như sau: a- Lực lượng cách mạng
  42. Phụ lục 1. Tiền phong quân: vô sản giai cấp Đông Dương. 2. Hậu bị quân trực tiếp: a) Trong nước: 1) Nông dân. 2) Các tầng lớp nhân dân phản đế toàn quốc. 675 b) Ngoài nước: 1) Cuộc kháng chiến của nhân dân Tàu. 2) Cuộc cách mạng dân tộc giải phóng của các dân tộc dưới ách thống trị của Pháp - Nhật. 3) Cuộc cách mạng của nhân dân Pháp, Nhật.
  43. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) 4) Liên Xô, v.v 3. Hậu bị quân gián tiếp: a) Những mâu thuẫn ngấm ngầm và biểu lộ giữa phátxít Nhật, Pháp. 676 b) Những mâu thuẫn ngấm ngầm và biểu lộ trong hàng ngũ thống trị Pháp và Nhật ở Đông Dương. c) Những mâu thuẫn ngấm ngầm và biểu lộ giữa bọn tay sai Pháp và tay sai Nhật. d) Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương. e) Cuộc chiến tranh thế giới. b. Lực lượng phản cách mạng 1. Thống trị Pháp ở Đông Dương và bọn tay sai của chúng. 2. Phátxít Nhật và bọn tay sai của chúng nó. Cần phải thay đổi chiến lược. Sự thay đổi về kinh tế, chính trị Đông Dương, sự thay đổi thái độ, lực lượng các giai cấp ở Đông Dương, buộc Đảng ta phải thay đổi chính sách cách mạng ở Đông Dương cho phù hợp với nguyện vọng chung của toàn thể nhân dân Đông Dương, cho hợp với tình hình thay đổi, Đảng ta phải có một chính sách cách mạng thích hợp với tình trạng ấy, mới chỉ dẫn cuộc cách mạng đến thắng lợi chắc chắn được. Vậy nguyện vọng của nhân dân Đông Dương hiện nay là gì? Chính là nhân dân Đông Dương, không phân biệt dân tộc nào, giai cấp nào. Nhiệm vụ đánh Pháp đuổi Nhật cũng không phải riêng của giai cấp vô sản và dân cày, mà là nhiệm vụ chung của toàn thể nhân dân Đông Dương. Tóm lại, nhiệm vụ giải phóng dân tộc, độc lập cho đất nước là một nhiệm vụ trước tiên của Đảng ta và của cách mạng Đông Dương hợp với nguyện vọng chung của tất cả nhân dân Đông Dương. Muốn làm tròn nhiệm vụ đó, Đảng ta phải thống nhất lực lượng cách mạng của nhân dân Đông Dương
  44. Phụ lục dưới một hiệu cờ thống nhất, tất cả các tầng lớp, các giai cấp, các đảng phái, các dân tộc, các tôn giáo có tinh thần chống Pháp, chống Nhật muốn độc lập cho đất nước, thành một mặt trận cho cách mạng chung. Vậy thì cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không 677 phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng”, vậy thì cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng. 3. Cách mạng dân tộc giải phóng. Chưa chủ trương làm cách mạng tư sản dân quyền mà chủ trương làm cách mạng giải phóng dân tộc. Không phải giai cấp vô sản Đông Dương bỏ mất nhiệm vụ điền địa đi đâu, cũng không phải đi lùi lại một bước, mà chỉ bước một bước ngắn hơn để có sức mà bước một bước dài hơn. Trong giai đoạn hiện tại ai cũng biết rằng: nếu không đánh đuổi được Pháp - Nhật thì vận mạng của dân tộc phải chịu kiếp trâu ngựa muôn đời mà vấn đề ruộng đất cũng không làm sao giải quyết được. Vậy thì trong lúc muốn giải quyết nhiệm vụ giải phóng không thể đưa thêm một nhiệm vụ thứ hai chưa cần thiết với toàn thể nhân dân, giải quyết trước mà có hại cho nhiệm vụ thứ nhất. Vì muốn đánh đổ Pháp - Nhật, ta phải liên hiệp với tất thảy nhân dân Đông Dương không chừa một giai cấp nào, mà trong lúc đó nếu đưa nhiệm vụ điền địa ra giải quyết, nghĩa là phải đánh đổ địa chủ, như thế chẳng phải là mâu thuẫn lắm sao? Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới quyền lợi giải phóng của toàn thể dân tộc. Vậy thì quyền lợi của nông dân và thợ thuyền phải đặt dưới quyền lợi giải phóng độc lập của toàn thể nhân dân. Ngay bây giờ nếu ta nêu khẩu hiệu đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày, như thế chẳng
  45. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) những ta bỏ mất một lực lượng đồng minh, một lực lượng hậu thuẫn trong cuộc cách mạng đánh đuổi Pháp - Nhật mà còn đẩy lực lượng ấy về phe địch làm thành hậu bị quân cho phe địch nữa. 678 Nhưng ta cũng đừng tưởng rằng chưa giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân sẽ làm giảm bớt sự hăng hái tranh đấu mà vẫn nỗ lực tranh đấu mạnh hơn vì trong cuộc tranh đấu giải phóng dân tộc họ cũng được hưởng nhiều quyền lợi to tát: a) Đánh đuổi phátxít Pháp - Nhật, đó là lật được một cái ách áp bức bóc lột nặng nhất của họ. b) Đánh đuổi Pháp - Nhật, thủ tiêu thuế đinh, điền và các thứ thuế khác đó là cái lợi thứ hai. c) Được chia công điền lại một cách công bằng hơn, giảm địa tô, sửa đổi nền chính trị hương thôn cho họ được hưởng nhiều quyền lợi hơn, lại được hưởng nhiều ruộng đất tịch thu của bọn Việt gian phản quốc và một phần của đế quốc tư bản đó là quyền lợi thứ ba. d) Họ cũng được hưởng quyền lợi kinh tế, chính trị khác mà toàn thể nhân dân đều được hưởng. Như vậy không giảm bớt được lực lượng cách mạng của nông dân trong cuộc tranh đấu chống Pháp, chống Nhật, mà lại còn tăng thêm những lực lượng đồng minh. Như vậy là giai cấp vô sản đi đúng con đường chính trị hoàn toàn có lợi mới mau hoàn thành cách mạng. 4. Nhiệm vụ dân tộc giải phóng (xem bản chương trình Việt Minh). 5. Cách mạng dân tộc giải phóng và cách mạng xã hội. Trên kia đã nói cách mạng giải phóng dân tộc phải đi đến cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Vậy nên không thể làm cách mạng giải phóng rồi ngừng lại, mà phải tiến lên làm tròn nhiệm vụ tư sản dân quyền và chinh phục chính
  46. Phụ lục quyền vô sản. Chính quyền vô sản làm xong cách mạng xã hội như thế không phải kéo dài thời gian ra vì: a) Nếu ngày nay sự tổ chức của vô sản mạnh và đội tiền phong của nó có thể hiệu triệu toàn dân ra làm cách mạng, thì sự 679 chuyển biến sau đây rất dễ dàng và không kéo dài thời giờ. Vậy nên cuộc hoạt động của Đảng ta là cần thiết, cấp bách và sự chuẩn bị điều kiện chuyển biến cuộc cách mạng phải chuẩn bị ngay từ bây giờ. b) Nhờ những chính quyền giành được sau cuộc cách mạng giải phóng của giai cấp vô sản có một tổ chức mạnh mẽ và đủ sức để tiến lên làm xong những bước cách mạng cao hơn. Mác có nói: “Hai mươi năm biến chuyển trong ngày thường không bằng ba tháng cách mạng”. Vậy thì cái bước nhảy vọt của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Đông Dương sau đây có thể mau chóng. c) Một điều nữa là sau lúc cách mạng Đông Dương thành công, tình hình thế giới nhất định biến chuyển to lớn và cả thế giới như một nồi nước sôi. Tình hình bên ngoài sẽ ảnh hưởng đến cách mạng bên trong. Lúc bấy giờ vô sản giai cấp sẽ bước những bước vĩ đại của lịch sử để tiến lên cách mạng vô sản, lập nền chuyên chính vô sản, kiến thiết xã hội chủ nghĩa để qua cộng sản chủ nghĩa. Nguồn: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.7, tr. 111 - 121.
  47. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) 680 PHỤ LỤC 5 VIỆT NAM ĐỘC LẬP ĐỒNG MINH TUYÊN NGÔN, CHƯƠNG TRÌNH, ĐIỀU LỆ TỰA “Việt Nam độc lập đồng minh” là một đoàn thể cách mạng chân chính, có chủ trương cứu nước đúng đắn và lập trường chính trị rõ ràng. Càng ngày chính sách của Việt Minh càng được sự thực chứng nhận là đúng. Uy tín của Việt Minh trong dân gian vì thế tăng gia và Việt Minh đã sớm thành một tổ chức cách mạng có sức thu hút mạnh mẽ. Trong khi nước nhà đang bị lũ quỷ Pháp - Nhật giày xéo, nhiều bạn tâm huyết đã bắt đầu nhận thấy mục đích chân chính của Việt Minh. Các bạn ấy đang tìm hiểu thêm Việt Minh đặng cùng Việt Minh chiến đấu giải phóng cho Tổ quốc. Đã đến lúc những tài liệu quan trọng giúp cho ta nhận rõ chính sách nền tảng của Việt Minh phải được phổ biến trong dân chúng. Bởi thế chúng tôi xét thấy cần phải thu thập và in lại Tuyên ngôn, Chương trình, Điều lệ Việt Minh trong cuốn sách nhỏ này. Hai bản Tuyên ngôn và Chương trình Việt Minh đã được bổ chính cho hợp với tình thế mới. Ngày 15 tháng 3 năm 1944 BỘ TUYÊN TRUYỀN CỔ ĐỘNG
  48. Phụ lục VIỆT MINH 681
  49. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) I TUYÊN NGÔN Hỡi đồng bào! Từ khi Pháp mất nước cho Đức, giặc Pháp đã biến thành tên 682 đầy tớ của Đức - Ý - Nhật. Chúng để cho Nhật xâm lấn nước ta, lại cắt một phần mười đất Đông Dương cho bọn quân phiệt Xiêm, tay sai của Nhật. Nước ta khác nào miếng thịt béo cho bọn phátxít quân phiệt xâu xé. Đồng bào ta khác nào con bò vắt sữa, phải nuôi sống quân cướp nước: Pháp, Đức, Xiêm, Nhật. Kinh tế khủng hoảng, làm ăn sa sút, sưu thuế nặng nề, lạc quyên, quốc trái, sinh hoạt đắt đỏ, v.v., biết bao tai họa do giặc Pháp gây ra, đã đẩy các giới đồng bào đến chỗ cùng quẫn. Chế độ quân nhân độc tài phátxít lại biến xứ Đông Dương thành một địa ngục. Thật thế, giặc Pháp đàn áp, bắn giết dân ta hết sức tàn nhẫn ở Nam Kỳ, chúng đốt làng, quăng nhiều người bị tình nghi trong cuộc khởi nghĩa cuối năm ngoái xuống sông, biển; cho lính lê dương và lính Cao Miên hãm hiếp cướp bóc nhân dân. Ở Thanh, Nghệ, Tĩnh (Trung Kỳ) hiện nay, chúng dỡ nhà những người trốn tránh. Ở Bắc Sơn, Đình Cả (Bắc Kỳ) chúng đem lính về các làng đốt nhà, triệt lũy phá tán của cải lương dân. Tòa án binh có toàn quyền hành động. Sở mật thám chính trị thành lập khắp nơi. Bọn mật thám tha hồ bắt bớ, đánh đập nhân dân, tra tấn những người bị tình nghi để lấy của. Bọn cai trị Pháp thi nhau ăn hối lộ, vơ vét cho đầy túi tham, đặng sửa soạn cuốn gói bước đi. Giặc Nhật mới sang ta cũng đã hoành hành như một bầy thú dữ. Nào hiếp dâm, cướp bóc, nào giết chóc, đánh đập dân ta, coi dân ta như cỏ rác. Gần nơi quân Nhật đóng, những cảnh thương tâm uất máu đã đập vào mắt mọi người. Hiện nay, hàng vạn con yêu của dân tộc đang rên xiết
  50. Phụ lục trong các nhà lao và các trại giam. Hàng trăm chiến sĩ đã hy sinh ở trường bắn vì muốn mưu giải phóng cho Tổ quốc. Bảy vạn con em của đất nước đi lính sang Pháp bị cầm tù ở Pháp, ở Đức hay châu Phi. Ấy là chưa kể ngót vạn lính ta đã phơi 683 thây trên mặt trận Pháp - Đức. Rồi đây đánh nhau với Liên Xô, xung đột với Anh - Mỹ, bọn phátxít Nhật - Pháp còn đem thanh niên ta đi chết thay cho chúng. Vì lòng tham muốn của chủ nghĩa đế quốc, nạn chiến tranh còn giày xéo lên đất nước ta, tàn sát dân ta chưa biết đến đâu là cùng. Tinh thần dân tộc của ta bị chà đạp; văn hóa bị kìm hãm, dư luận bị hất hủi. Trong vòng hợp pháp, không ai được kêu, được nói, được viết một câu gì xúc phạm đến bọn thống trị, hoặc than thở cảnh ngộ bất công. Đế quốc Pháp bịt mồm khóa miệng dân ta. Chúng đem tư tưởng phản quốc của Pêtanh (Pétain) đầu độc thanh niên ta, muốn cho dân ta u mê, hèn nhát như một bầy chó ngô để phụng sự quyền lợi cho chúng. Hỡi đồng bào! Từ khi lập quốc, xét lịch sử nước ta, chưa bao giờ dân tộc ta nhục nhằn, đau khổ như lúc này. Nhưng chúng ta có cam tâm làm nô lệ mãi không? Chúng ta có chịu cho quân sài lang đế quốc giày xéo lên thân ta, đẽo khoét dân ta đến tận xương tủy không? Trăm lần không! Một dân tộc có trên bốn nghìn năm lịch sử, trước sau bị Tàu đô hộ đến hơn mười thế kỷ mà vẫn không bị diệt vong; một dân tộc đã đẻ ra những vị anh hùng cứu quốc như Trưng Trắc, Triệu Ẩu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, quyết không chịu làm vong quốc nô mãi! Một dân tộc sáu bảy mươi năm chiến đấu không ngớt chống chủ nghĩa đế quốc, đã viết lên những trang lịch sử đầy hy sinh, anh dũng ở Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương, quyết không chịu làm trâu ngựa cho quân đế quốc da trắng hay da vàng!
  51. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) Bọn Việt gian thân Nhật “Đại Việt xã hội quốc dân đảng”, “Việt Nam phục quốc đồng minh hội”, v.v., đã xướng ra thuyết “mượn Nhật đuổi Pháp rồi sẽ đuổi Nhật”. Nhưng sự thực 684 chúng chỉ là một lũ đầu cơ chính trị ăn tiền của Nhật, vận động thay thầy đổi chủ, muốn cho đồng bào làm tôi mọi cho giặc Lùn. Bọn Việt gian thân Pháp thì dụ dỗ đồng bào đem tiền tài, xương máu giúp vào công cuộc “phục hưng” của Pháp, cũng chỉ là một lũ chó săn cho phátxít Pháp, muốn giam hãm đồng bào trong cảnh trầm luân. Cả hai bọn Việt gian thân Nhật và thân Pháp đều có dã tâm bán nước cầu vinh. Chúng đang gieo tư tưởng khốn nạn “thà nô lệ còn hơn chết” vào đầu não đồng bào. Chúng hoàn toàn phản bội tinh thần độc lập, tự do của dân tộc. Chúng hoàn toàn bội phản quyền lợi sinh tử của nhân dân. Đồng bào tin theo chúng, tức là giẫm vào cạm bẫy của Nhật - Pháp. Hỡi đồng bào! Hỡi các bạn sĩ, công, nông, thương, binh! Hỡi các bậc phú hào yêu nước! Hỡi các bậc phụ lão thương nòi! Nguy cơ diệt vong đã bày ra trước mắt. Hiện thời chúng ta chỉ có một con đường mưu sống là đoàn kết thống nhất, đánh đuổi Nhật - Pháp, trừ khử Việt gian. Mở con đường ấy cho đồng bào, “Việt Nam độc lập đồng minh” (Việt Minh) ra đời, chào các bạn. Việt Minh chủ trương liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn. Việt Minh chủ trương tập hợp hết thảy mọi tinh thần độc lập chân chính của giống nòi, kết thành một khối cách mạng vô địch,
  52. Phụ lục đặng đập tan xiềng xích của Nhật - Pháp, quét sạch những mưu mô xảo trá của một nhóm Việt gian phản quốc chúng đã tự gạch tên trong quốc tịch của người Việt Nam. 685
  53. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) Coi quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, Việt Minh sẵn sàng giơ tay đón tiếp những cá nhân hay đoàn thể, không cứ theo chủ nghĩa quốc tế hay quốc gia, miễn thành thực muốn đánh đuổi Nhật - Pháp để dựng lên một nước Việt Nam tự do và 686 độc lập. Muốn cho lực lượng đánh đuổi Nhật - Pháp được mạnh mẽ, Việt Minh chủ trương liên hiệp với hết thảy các dân tộc thiểu số sống chung trên mảnh đất Đông Dương và hiện đương cùng dân Việt Nam rên xiết dưới bàn tay sắt của Nhật - Pháp như Mường, Thổ, Miên, Lào. Việt Minh lại sẵn sàng bắt tay các dân tộc bị áp bức ở châu Á, nhất là các dân tộc Tàu, Triều Tiên, Diến Điện, Ấn Độ, đặng cùng các dân tộc ấy thành lập mặt trận liên minh chống đế quốc phátxít. Việt Minh cũng không quên kêu gọi dân chúng cần lao Nhật Bản và những người Pháp dân chủ hãy cùng dân tộc Việt Nam thống nhất hành động đánh đổ kẻ thù chung là phátxít Nhật và bọn Pháp gian. Hỡi đồng bào! Đối với những người bị áp bức tổ chức thống nhất là một thứ khí giới sắc bén để tự giải phóng. Có tổ chức thống nhất tức là có tiền, có võ khí, có tinh thần. Đồng bào ta hãy tìm các đoàn thể cứu quốc của Việt Minh mà gia nhập cho mau. Các bạn trẻ hãy thống nhất lại trong “Thanh niên cứu quốc đoàn”. Các trẻ em yêu nước hãy dắt tay nhau vào “Nhi đồng cứu vong hội” hay “Thiếu niên tiền phong đội”. Các bạn gái hãy gia nhập “Phụ nữ cứu quốc đoàn”. Anh chị em thợ thuyền và dân cày hãy vào “Công nhân cứu quốc hội” và “Nông dân cứu quốc hội”. Các bậc trí thức, văn nhân hãy đoàn kết thành “Văn hóa cứu quốc hội”. Và các
  54. Phụ lục anh em binh lính, các “Hội quân nhân cứu quốc” đang chờ đón các anh em! Hai trăm triệu nhân dân Liên Xô và bốn trăm năm mươi triệu nhân dân Tàu đang chiến đấu anh dũng, giết bọn phátxít xâm 687 lược. Làn sóng cách mạng thế giới đã bắt đầu nổi dậy, nhiều lớp sóng vĩ đại nữa sẽ dồn dập tới sau. Pháp đã mất nước và hoàn toàn hoang mang, do dự. Nhật chưa sao rút chân ra khỏi vũng bùn lầy ở Tàu. Cơ hội giải phóng của nhân dân đã đến! Chúng ta hãy mau mau đoàn kết đặng chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Đáp lại lời thiết tha kêu gọi của Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên! Người có tiền giúp tiền, kẻ có sức giúp sức, người có tài trí giúp tài trí. Ai nấy đều phải góp một phần vào công cuộc cứu nước! Việc giải phóng của ta phải do ta làm lấy. Trông cậy vào đế quốc là tự bán mình cho đế quốc. Chỉ có dân tộc nào cùng ta chung một mối thù, chẳng hạn như dân Cao Ly, dân Tàu mới là bạn đồng minh của chúng ta mà thôi! Hỡi đồng bào! Nước Việt Nam không thể mất! Giống Việt Nam không thể chết! Đất nước Việt Nam này do ông cha chúng ta đổ máu mà dựng lên và truyền lại cho ta, chúng ta có bổn phận hy sinh mà giữ lấy và làm cho nó mỗi ngày một thêm tốt đẹp. Chúng ta hãy nhìn lại quá khứ vẻ vang của Tổ quốc mà tin ở tiền đồ rực rỡ của giống nòi. Ai là người Việt Nam hãy phấn chấn tự cường, hãy tự tin, tự trọng, hãy đoàn kết thống nhất! Dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh của Việt Minh, các bạn hãy xếp chặt hàng ngũ, cùng nhau hô lớn:
  55. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) - Thống nhất dân tộc! - Đánh đuổi Nhật - Pháp! - Độc lập tự do! Ngày 25-10-1941 688 VIỆT NAM ĐỘC LẬP ĐỒNG MINH (VIỆT MINH)
  56. Phụ lục II CHƯƠNG TRÌNH A. TÌNH HÌNH THẾ GIỚI 689 Mùa thu 1939, cuộc đại chiến giữa các nước đế quốc bùng nổ. Chiến tranh chưa đầy một năm mà Pháp đã mất nước. Một năm sau, mười bốn nước châu Âu bị Đức quốc xã chiếm đóng. Nước chủ nghĩa xã hội Xô - Nga, tuy đã cùng Đức ký hiệp ước không xâm phạm; song ngày 22-6-1941, vẫn bị bọn Hítle bội ước đánh lại. Tháng 12-1941, thừa lúc Anh, Mỹ, Nga đang mắc đánh nhau với Đức, đế quốc Nhật gây ra chiến tranh Thái Bình Dương, đặng cướp giật thuộc địa của Anh, Mỹ. Thế là ngọn lửa chiến tranh ngùn ngụt cháy khắp toàn cầu. Ba nước phátxít Đức, Ý, Nhật thi nhau xâm chiếm thuộc địa, tàn sát nhân loại. Nhưng các nước chống phátxít xâm lược có Anh, Mỹ, Nga đứng đầu, cùng liên hiệp lại, lập thành mặt trận thống nhất chống xâm lược trên khắp thế giới. Hiện nay, cuộc chiến tranh thế giới đã biến thành chiến tranh giữa hai phe xâm lược và chống xâm lược; giữa phe phátxít (Đức - Ý - Nhật) và phe chống phátxít (Anh - Mỹ - Nga - Tàu) cùng các dân tộc yêu chuộng tự do, tiến bộ. Chiến tranh của phe phátxít là chiến tranh trái chính nghĩa phản tiến bộ, nên phe phátxít xâm lược nhất định sẽ bại. Còn chiến tranh của phe dân chủ chống phátxít xâm lược là chiến tranh hợp chính nghĩa thuận tiến bộ nên phe dân chủ chống phátxít xâm lược nhất định sẽ thắng. Cách mạng thế giới ngày một nảy nở. Bên Viễn Đông, cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân Tàu đánh Nhật đã đến năm thứ năm và gần ngày thắng lợi. Tình hình thế giới ảnh hưởng rất tốt cho cuộc vận động cách mạng dân tộc giải phóng của ta.
  57. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) B. TÌNH HÌNH VIỆT NAM Bảy, tám mươi năm nay, nước ta bị đế quốc Pháp áp bức, bóc lột. Bao nhiêu của cải dân ta đã bị chúng vơ vét. Chúng cướp đất ruộng tốt để làm đồn điền; chiếm giữ các hầm mỏ để 690 đào nguyên liệu. Chúng đặt ra sưu cao thuế nặng, hút máu mủ dân ta, làm cho nước ta dân nghèo của hết. Chúng không để cho dân ta một chút tự do dân chủ nào, lại dùng nhiều thủ đoạn định tiêu diệt tinh thần dân tộc của ta. Từ khi xảy ra chiến tranh, chúng đè nén dân ta ngày một nặng, bóc lột dân ta ngày một nhiều. Phần thì chúng bắt dân ta đi phu, đi lính để chết thay cho chúng. Phần thì chúng đặt thuế mới, tăng thuế cũ, phát hành quốc trái, ra sức lạc quyên. Chúng in hàng chục triệu bạc giấy, thu hết bạc thực khiến cho đời sống của dân ta đã vì chiến tranh mà đắt đỏ, lại càng thêm đắt đỏ. Chúng cấm sách cấp tiến làm cho dân ta như điếc như mù; lập trại giam chung để cầm tù những kẻ vì dân vì nước. Sau khi Pháp mất nước, đế quốc Nhật thừa cơ xâm chiếm Đông Dương. Nhật bước chân lên đất nước ta chưa được bao lâu thì phần đông dân ta đều nhận rõ chúng chẳng qua cũng chỉ là một bọn giết người, cướp của. Thế mà một số Việt gian thân Nhật còn dám mượn tiếng “cách mạng” lừa dối đồng bào để làm chó săn cho Nhật. Giặc Pháp lại cắt bảy vạn cây số vuông đất Đông Dương cho Xiêm. Chúng coi dân ta như món hàng buôn bán. Thế là dân ta phải làm trâu ngựa cho Pháp, làm tôi mọi cho Nhật, lại làm nô lệ cho Xiêm. Trước tình thế ấy, dân ta không thể khoanh tay ngồi chịu. Tinh thần cứu nước của dân ta không bao giờ tiêu diệt, không thể tiêu diệt! Từ khi đế quốc Pháp cướp nước ta, biết bao anh hùng đã đứng ra chống với quân địch! Gương nghĩa liệt Phan Đình Phùng,
  58. Phụ lục Hoàng Hoa Thám, Đội Cấn, Nguyễn Thái Học, v.v., đồng bào ta ai cũng biết. Noi theo gương ấy, mới đây, dân tộc ta lại lần lượt phất cờ khởi nghĩa, đánh nhau với quân địch ở Bắc Sơn, Đô Lương, Nam Kỳ. Hiện nay, từ Nam đến Bắc, đồng bào ta đang hăng hái dự bị 691 một cuộc tổng khởi nghĩa đặng giành lại tự do, độc lập. Nhiệm vụ của “Việt Nam độc lập đồng minh” là làm cho cuộc cách mạng dân tộc giải phóng được thắng lợi. Vậy cần phải tuyên bố rõ chủ trương cứu nước của mình. C. CHỦ TRƯƠNG CỨU NƯỚC CỦA VIỆT MINH Việt Minh chủ trương liên hiệp hết các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể cách mạng, các dân tộc bị áp bức ở Đông Dương, đặng đánh đổ chủ nghĩa đế quốc, làm cho nước Việt Nam và cả xứ Đông Dương được hoàn toàn độc lập. Việt Minh hết sức giúp cho dân Sau khi đánh đổ được bọn đế quốc phátxít Nhật - Pháp, sẽ lập nên chính phủ cách mạng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, theo tinh thần tân dân chủ, lấy cờ đỏ giữa có ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ chung của nước. Chính phủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do quốc dân đại hội cử lên, sẽ thi hành những chính sách dưới đây: a) Về mặt chính trị: 1. Thi hành phổ thông đầu phiếu. Ai là người Việt Nam hay có quốc tịch Việt Nam (như Mường, Mán, Thổ, v.v.), không cứ trai hay gái, từ 18 tuổi trở lên, nếu không phải Việt gian đều có quyền ứng cử và tuyển cử. 2. Ban bố các quyền tự do dân chủ: tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng, tự do tổ chức, tự do hội họp, tự do đi lại trong nước và tự do xuất dương, v.v
  59. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) 3. Tổ chức hải, lục, không quân; thành lập đội quân cách mạng Việt Nam và võ trang cho dân chúng; thẳng tay trừng trị bọn phản quốc, giữ vững chính quyền cách mạng. 4. Thả hết chính trị phạm lẫn thường phạm. 692 5. Đàn bà, đàn ông ngang quyền. 6. Thừa nhận quyền dân tộc tự quyết đối với các dân tộc thiểu số ở Đông Dương. 7. Liên hiệp thân thiện với tất cả các dân tộc nhỏ yếu đang tranh đấu giành quyền độc lập. 8. Hủy bỏ hết thảy những hiệp ước Pháp đã ký với bất cứ nước nào. 9. Kiên quyết chống hết thảy những lực lượng xâm phạm đến quyền tự do, độc lập của nước Việt Nam. b) Về mặt kinh tế: 1. Bỏ thuế thân và các thứ thuế do đế quốc đặt ra; lập một thứ thuế rất nhẹ và công bằng. 2. Tịch thu hết tài sản của đế quốc phátxít Nhật - Pháp và của Việt gian, Hán gian. Những tài sản ấy sẽ quốc hữu hóa hay phát mại tùy theo tính chất của mỗi thứ. 3. Quốc hữu hóa các nhà băng của đế quốc, lập quốc gia ngân hàng. 4. Mở mang các ngành kỹ nghệ, nhất là kỹ nghệ nặng khiến cho nền kinh tế quốc gia phát triển một cách độc lập và mau chóng; khuyến khích các nghề thủ công. 5. Chia lại công điền. 6. Giảm địa tô. 7. Mở mang các công trình lấy nước vào ruộng; bồi đắp đê điều, làm cho nghề nông phồn thịnh. 8. Nhân dân tự do khai khẩn đất hoang, do Chính phủ giúp đỡ.
  60. Phụ lục 9. Thuế đoan độc lập. 693
  61. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) 10. Mở mang các đường giao thông vận tải và các hải cảng. 11. Thống nhất đo lường. c) Về mặt xã hội: 1. Thi hành luật ngày làm tám giờ và các luật xã hội khác. 694 2. Bài trừ nạn thất nghiệp và nạn mãi dâm. 3. Giúp đỡ các gia đình đông con. 4. Cấp dưỡng những người tàn tật và dạy nghề cho họ. 5. Lập thêm nhà thương và nhà đỡ đẻ. 6. Lập hài nhi viện và ấu trĩ viện. d) Về mặt văn hóa: 1. Bài trừ văn hóa phản động. Mở mang nền tân văn hóa Việt Nam. 2. Hủy bỏ giáo dục nô lệ và thuộc địa, gây dựng nền quốc dân giáo dục. Mỗi dân tộc có quyền dùng tiếng mẹ đẻ dạy trong các trường học của mình. 3. Cưỡng bách giáo dục đến bậc sơ học. 4. Lập các trường chuyên môn huấn luyện chính trị, quân sự và kỹ thuật để đào tạo các hạng nhân tài. 5. Khuyến khích và giúp đỡ về mọi mặt, làm cho các hạng trí thức và nghệ sĩ được phát triển tài năng đến tột bậc. 6. Lập những nhà chiếu bóng, diễn kịch và câu lạc bộ để nâng cao trình độ hiểu biết cho nhân dân. 7. Khuyến khích và giúp đỡ nền thể dục quốc dân làm cho nòi giống ngày thêm mạnh. đ) Đối với các tầng lớp nhân dân: 1. Tư sản - Được tự do kinh doanh. Được giúp đỡ trong việc mở mang các ngành kỹ nghệ cần thiết. 2. Địa chủ - Quyền sở hữu về ruộng đất vẫn được coi trọng. Được khai phá đất hoang.
  62. Phụ lục 3. Nhà buôn - Được tự do thông thương. Sản nghiệp thương mại được pháp luật binh vực. Không phải nộp các thứ thuế lặt vặt (như thuế màn, thuế biển, thuế vỉa hè, v.v.). 4. Thợ thuyền - Được hưởng luật lao động. Bỏ các giấy giao kèo nô lệ, lập giấy giao kèo chung giữa chủ và thợ; thợ 695 thuyền già có lương hưu trí, cải thiện chế độ học việc. 5. Dân cày - Có đủ ruộng cày cấy; được cứu tế trong những năm mất mùa. Tá điền được giảm địa tô. 6. Binh lính - Hậu đãi binh lính có công gìn giữ Tổ quốc và phụ cấp đầy đủ cho gia đình họ. 7. Công chức - Hậu đãi công chức xứng đáng với tài năng của mỗi người. 8. Học sinh - Bỏ các khoản học phí, khai sinh, hạn tuổi; mở thêm trường học: cấp học bổng rộng rãi cho học trò nghèo, kiếm việc cho học sinh tốt nghiệp. 9. Đàn bà - Được ngang quyền với đàn ông về mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa, v.v Việc làm ngang đàn ông, lĩnh lương bằng đàn ông. 10. Trẻ em - Được chính phủ đặc biệt săn sóc về thể dục, trí dục và đức dục. 11. Người già và kẻ tàn tật - Được chính phủ chăm nom và cấp dưỡng. Hỡi đồng bào! Bản chương trình trên đây cốt thực hiện hai điều mà toàn thể đồng bào đang mong ước: Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; Làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do. Trong khi các phái đảng Việt gian đưa ra những bản chương trình mập mờ, đội lốt cách mạng, lừa phỉnh đồng bào đặng kìm hãm đồng bào trong vòng đen tối thì bản chương trình trên đây là một ngôi sao chiếu sáng cho đồng bào tiến tới cõi vinh
  63. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) quang. Thật thế, chỉ có chương trình cứu nước của Việt Minh mới đoàn kết được tất cả các giới đồng bào đặng mau giải phóng cho Tổ quốc khỏi ách Nhật, Pháp. 696 Chỉ có chương trình cứu nước của Việt Minh mới làm cho nước Việt Nam sau này thành một nước tân dân chủ, mạnh mẽ, văn minh và tiến bộ. Chỉ có chương trình cứu nước của Việt Minh mới mang lại độc lập, tự do, cơm áo cho nhân dân. Hết thảy các giới đồng bào hãy xếp chặt hàng ngũ dưới cờ Việt Minh, đặng sẵn sàng nổi dậy đánh đuổi lũ giặc nước! Cách mạng Việt Nam nhất định sẽ thắng! Một nước Việt Nam Cộng hòa Dân chủ sẽ xuất hiện. Cách mạng dân tộc giải phóng thành công, chúng ta sẽ cùng nhau thực hiện chương trình vĩ đại trên đây. VIỆT NAM ĐỘC LẬP ĐỒNG MINH III ĐIỀU LỆ 1. Tên - Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh). 2. Tôn chỉ - Liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, đặng cùng nhau đánh đuổi Nhật, Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng lên một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 3. Điều kiện vào Việt Minh - Việt Minh kết nạp từng đoàn thể, không cứ đảng phái, đoàn thể nào của người Việt Nam hay của các dân tộc thiểu số sống trong nước Việt Nam, không phân biệt giai cấp, tôn giáo và xu hướng chính trị, hễ thừa nhận
  64. Phụ lục mục đích, tôn chỉ và chương trình của Việt Minh và được Tổng bộ Việt Minh thông qua, thì được gia nhập Việt Minh. 697
  65. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) 4. Nhiệm vụ các đoàn thể trong Việt Minh - Đoàn thể nào trong Việt Minh cũng phải: a) Trung thành với mục đích, tôn chỉ của Việt Minh; b) Làm cho Việt Minh chóng phát triển; 698 c) Đóng nguyệt phí (cho Tổng bộ). 5. Quyền hạn các đoàn thể trong Việt Minh - Các đoàn thể có chân trong Việt Minh đều có quyền: a) Đề nghị, chất vấn, thảo luận và biểu quyết; b) Cử đại biểu vào các ban phụ trách của Việt Minh. 6. Nguyên tắc tổ chức Việt Minh - Việt Minh tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung, nghĩa là: cơ quan chỉ đạo của Việt Minh cấp nào đều do đại biểu của các đoàn thể Việt Minh cấp ấy họp thành; trong các ủy ban Việt Minh, khi biểu quyết số ít phải theo số nhiều, khi thực hành thì ủy ban Việt Minh cấp dưới phải theo ủy ban Việt Minh cấp trên. 7. Hệ thống tổ chức Việt Minh: a) Làng hay xã có ban chấp hành của Việt Minh do các đoàn thể Việt Minh ở làng hay xã cử ra; b) Tổng, huyện (hay phủ, châu, quận) tỉnh, kỳ, cấp nào có ban chấp ủy của Việt Minh cấp ấy. Việt Minh toàn quốc có Tổng bộ; c) Ban chấp ủy Việt Minh cấp nào đều do đại biểu các đoàn thể Việt Minh cấp ấy cử ra; d) Các ban chấp ủy Việt Minh nếu quá số bốn người thì phải bầu ra ban thường vụ để làm công việc hằng ngày; đ) Mỗi cơ quan chấp hành phải cử ra một người chủ nhiệm để chỉ đạo công việc hằng ngày và một người phó chủ nhiệm để giúp việc; e) Các ban chấp hành từ làng tới huyện mỗi tháng khai hội hai lần; ban chấp hành tỉnh (hay tỉnh bộ) mỗi tháng khai hội một lần. Ban chấp hành kỳ (hay kỳ bộ) ba tháng một lần. Nếu
  66. Phụ lục có việc cần kíp thì chủ nhiệm các cấp có quyền triệu tập hội nghị bất thường; 699
  67. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) g) Các cấp bộ từ làng tới phủ sáu tháng cử lại một lần; tỉnh, kỳ mỗi năm cử lại một lần. Tổng bộ mười tám tháng cử lại một lần. 8. Kỷ luật - Những đại biểu các đoàn thể trong các cấp chỉ đạo của Việt Minh, nếu phạm lỗi, lần thứ nhất phê bình, lần thứ hai 700 cảnh cáo, lần thứ ba khai trừ ra ngoài cơ quan chỉ đạo. Trước khi khai trừ phải thông tri cho đoàn thể của người đại biểu phạm lỗi ấy biết để cử người khác lên thay. 9. Tài chính - Kinh phí của Việt Minh do nguyệt phí của các đoàn thể trong Việt Minh đóng góp. Khi cần mở lạc quyên. 10. Sửa đổi điều lệ - Bản điều lệ này chỉ có Đại hội toàn quốc của Việt Minh mới có quyền sửa đổi. Nguồn: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.7, tr. 457- 474.
  68. Phụ lục PHỤ LỤC 6 701 NHẬT - PHÁP BẮN NHAU VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA CHÚNG TA Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 12-3-1945 I. NHẬN XÉT TÌNH HÌNH a) Cuộc chính biến nổ ra: Tám giờ 25 tối hôm 9-3-1945, Nhật nổ súng bắn Pháp, chiếm các thành phố lớn và địa điểm quân sự quan trọng. Sức kháng chiến của Pháp yếu. Pháp sẽ bại, vì ba lẽ: Không có tinh thần chiến đấu; Thiếu võ khí tinh xảo; Không thống nhất hành động với lực lượng chống Nhật của Đông Dương. b) Tính chất và mục đích cuộc chính biến: Chính biến ngày 9-3-1945 là một cuộc đảo chính, mục đích là truất quyền Pháp, tước khí giới của Pháp, chiếm hẳn lấy Đông Dương làm thuộc địa riêng của chủ nghĩa đế quốc Nhật. c) Nguyên nhân cuộc chính biến: Cuộc chính biến ngày 9-3- 1945 có ba nguyên nhân dưới đây: 1. Hai con chó đế quốc không thể ăn chung một miếng mồi béo như Đông Dương. 2. Tàu, Mỹ sắp đánh vào Đông Dương. Nhật phải hạ Pháp để trừ cái họa bị Pháp đánh sau lưng khi quân Đồng minh đổ bộ. 3. Sống chết Nhật phải giữ lấy cái cầu trên con đường nối
  69. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) liền các thuộc địa miền Nam Dương với Nhật; vì sau khi Phi Luật Tân bị Mỹ chiếm, đường thủy của Nhật đã bị cắt đứt. d) Cuộc khủng hoảng chính trị do cuộc đảo chính của Nhật gây ra: Ngay bây giờ, chúng ta đã nhận rõ mấy hiện tượng sau 702 này, biểu hiện một cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc: 1. Hai quân cướp nước cắn xé nhau chí tử. 2. Chính quyền Pháp tan rã. 3. Chính quyền Nhật chưa ổn định. 4. Các tầng lớp đứng giữa hoang mang. 5. Quần chúng cách mạng muốn hành động. II. ĐIỀU KIỆN MỚI DO TÌNH THẾ GÂY RA 1. Những điều kiện khởi nghĩa chưa thực chín muồi: Mặc dầu tình hình chính trị khủng hoảng sâu sắc, nhưng điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương hiện nay chưa thực chín muồi. Vì: a) Cuộc kháng chiến của Pháp quá yếu và cuộc đảo chính của Nhật tương đối dễ dàng; nên tuy giữa hai bọn thống trị Nhật, Pháp có sự chia rẽ đến cực điểm; tuy hàng ngũ bọn Pháp ở Đông Dương hoang mang, tan rã đến cực điểm; nhưng xét riêng bọn thống trị Nhật, ta thấy chúng chưa chia rẽ, hoang mang, do dự đến cực điểm. b) Các tầng lớp nhân dân đứng giữa tất nhiên phải qua một thời kỳ chán ngán những kết quả tai hại của cuộc đảo chính, lúc ấy mới ngả hẳn về phe cách mạng, mới quyết tâm giúp đỡ đội tiền phong. c) Trừ những nơi có địa hình, địa thế, có bộ đội chiến đấu không kể, nói chung toàn quốc, đội tiền phong còn đang lúng túng ở chỗ sửa soạn khởi nghĩa, chưa sẵn sàng chiến đấu, chưa quyết tâm hy sinh. 2. Những cơ hội tốt đang giúp cho những điều kiện khởi
  70. Phụ lục nghĩa mau chín muồi: Ba cơ hội tốt dưới đây sẽ giúp cho những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương chín muồi một cách nhanh chóng và một cao trào cách mạng nổi dậy: a) Chính trị khủng hoảng (quân thù không rảnh tay đối phó 703 với cách mạng). b) Nạn đói ghê gớm (quần chúng oán ghét quân cướp nước). c) Chiến tranh đến giai đoạn quyết liệt (Đồng minh sẽ đổ bộ vào Đông Dương đánh Nhật). III. CHIẾN THUẬT CỦA ĐẢNG THAY ĐỔI 1. Hàng ngũ kẻ thù và Đồng minh có chỗ thay đổi: Cuộc đảo chính của Nhật mang lại những thay đổi lớn dưới đây: a) Đế quốc Pháp mất quyền thống trị ở Đông Dương, không phải là kẻ thù cụ thể trước mắt ta nữa - mặc dù ta vẫn phải đề phòng cuộc vận động của bọn Đờ Gôn định khôi phục quyền thống trị của Pháp ở Đông Dương. b) Sau cuộc đảo chính này, đế quốc phátxít Nhật là kẻ thù chính - kẻ thù cụ thể trước mắt - duy nhất của nhân dân Đông Dương. c) Bọn Pháp kháng chiến đang đánh Nhật là đồng minh khách quan của nhân dân Đông Dương lúc này. 2. Khẩu hiệu chính thay đổi và toàn bộ chiến thuật thay đổi: Cương quyết tẩy trừ những khẩu hiệu và hình thức tranh đấu cũ; chuyển qua những hình thức tuyên truyền, tổ chức và tranh đấu mới. Đặc biệt chú ý những điều dưới đây: a) Đem khẩu hiệu “Đánh đuổi phátxít Nhật!” thay cho khẩu hiệu “Đánh đuổi Nhật, Pháp!”. Đem khẩu hiệu “Thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân Đông Dương” chống lại chính quyền Nhật và chính phủ bù nhìn của bọn Việt gian thân Nhật. b) Chuyển trục tâm tuyên truyền vào hai vấn đề: 1. Giặc Nhật không giải phóng cho ta; trái lại, tăng gia áp
  71. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) bức bóc lột ta. 2. Giặc Nhật không thể củng cố chính quyền ở Đông Dương và nhất định chúng sẽ chết. 704
  72. Phụ lục c) Thay đổi mọi hình thức tuyên truyền, cổ động, tổ chức và tranh đấu cho hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa; động viên mau chóng quần chúng nhân dân lên mặt trận cách mạng, tập dượt cho quần chúng mạnh dạn tiến lên tổng khởi nghĩa. d) Phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ 705 làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa. Cao trào ấy có thể bao gồm từ hình thức bất hợp tác, bãi công, bãi thị, phá phách, cho đến những hình thức cao như biểu tình thị uy võ trang, du kích. e) Sẵn sàng chuyển qua hình thức tổng khởi nghĩa một khi đã đủ điều kiện (ví dụ quân Đồng minh bám chắc và tiến mạnh trên đất ta). IV. THÁI ĐỘ CỦA TA ĐỐI VỚI CUỘC KHÁNG CHIẾN CỦA PHÁP VÀ VIỆC LẬP MẶT TRẬN DÂN CHỦ CHỐNG NHẬT Ở ĐÔNG DƯƠNG 1. Cuộc kháng chiến của Pháp tương đối tiến bộ: Cuộc kháng chiến của Pháp tuy có mục đích là giành giật quyền lợi đế quốc với Nhật; nhưng ta rất tán thành nó. Vì đứng về khách quan mà xét, nó đánh kẻ thù chính của ta là đế quốc phátxít Nhật - nó có tính chất tương đối tiến bộ. 2. Những điều kiện làm cơ sở cho Mặt trận dân chủ thống nhất kháng Nhật ở Đông Dương: Bọn Pháp kháng chiến có thể cùng nhân dân cách mạng Đông Dương đứng trong Mặt trận dân chủ thống nhất kháng Nhật ở Đông Dương được, nếu họ thừa nhận bốn điều kiện của Đảng đã đề ra từ năm 1943 và sửa lại như dưới đây: 1) Những người ngoại quốc chống Nhật ở Đông Dương phải thừa nhận quyền dân tộc độc lập hoàn toàn và tức khắc của nhân dân Đông Dương. 2) Những lực lượng kháng Nhật của người ngoại quốc ở Đông Dương và cách mạng Đông Dương phải thống nhất hành
  73. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) động về mọi mặt, kể cả mặt quân sự. Sự thống nhất hành động ấy phải lấy nguyên tắc bình đẳng tương trợ làm nền tảng. 706
  74. Phụ lục 3) Các chính trị phạm người Đông Dương và người ngoại quốc đều được tha bổng. 4) Chính phủ cách mạng Đông Dương bảo đảm sinh mệnh tài sản cho những người ngoại quốc chống phátxít Nhật ở Đông Dương và cho họ được hưởng quyền tự do cư trú và buôn bán. 707 3. Đánh Nhật trước đã!: Tuy nhiên không phải trong bất cứ trường hợp nào ta cũng ôm khư khư cả bốn điều kiện trên đây một cách máy móc và bỏ lỡ cơ hội thực hiện cuộc liên hiệp hành động cùng người Pháp đánh Nhật trên đất Đông Dương. Cho nên ta sẵn sàng bắt tay những người Pháp thành thực chống Nhật đến cùng và hiện đang bắn nhau với Nhật; và ta hô hào họ giúp khí giới cho ta để cùng ta đánh Nhật trước đã! Như thế không phải ta bỏ quyền dân tộc độc lập, trái lại ta nhận rõ rằng: rốt cuộc, khẩu hiệu “Dân tộc độc lập” do sức mạnh của quần chúng võ trang mà quyết định chứ không phải do lời hứa hẹn của bọn Pháp kháng chiến mà quyết định. 4. Thực hiện thống nhất hạ tầng: Nhưng nếu bọn Pháp kháng chiến không tán thành bốn điều kiện trên kia, cũng không giúp khí giới cho ta đánh Nhật, thì bổn phận ta là phải vận động thống nhất với hạ tầng quân đội kháng chiến của Pháp, kéo những phần tử kiên quyết chống phátxít, có xu hướng quốc tế, thống nhất hành động với ta đánh Nhật, hoặc mang võ khí của đế quốc Pháp chạy sang phe ta, vượt qua đầu bọn võ quan ích kỷ và không triệt để đặng cùng ta thực hiện Mặt trận dân chủ thống nhất chống Nhật ở Đông Dương. V. CÔNG VIỆC CẦN KÍP 1. Về tuyên truyền a) Khẩu hiệu: Chống chính quyền của Nhật và của bọn Việt gian thân Nhật. Nêu khẩu hiệu “Chính quyền cách mạng của nhân dân”.
  75. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) b) Hình thức: Chuyển qua những hình thức tuyên truyền cổ động mạnh bạo hơn, như míttinh diễn thuyết có cờ, áp phích, truyền đơn bươm bướm. Tổ chức những cuộc hát đồng thanh và thao diễn. Tổ chức những cuộc triển lãm sách báo, tranh 708 ảnh, võ khí, v.v c) Thực hiện tuyên truyền xung phong: thành lập những đội “tán phát xung phong” võ trang đi phát thật nhiều tuyên ngôn Việt Minh về tình hình Nhật, Pháp bắn nhau và các thứ truyền đơn bươm bướm hay sách báo. Đặc biệt chú trọng dán áp phích cho nhiều và năng giới thiệu lá cờ Việt Minh với quốc dân. Thành lập các đội “Tuyên truyền xung phong” võ trang công khai diễn thuyết các nơi. 2. Về tranh đấu a) Khẩu hiệu tranh đấu: Gắn khẩu hiệu đòi cơm áo, chống thu thóc, thu thuế với khẩu hiệu “Chính quyền cách mạng của nhân dân”. b) Thuật vận động tranh đấu: Bám lấy nạn đói mà cổ động quần chúng lên đường tranh đấu (tổ chức những cuộc biểu tình đòi gạo, đòi ăn hay phá những kho gạo thóc của đế quốc). c) Hình thức tranh đấu: Chuyển qua những hình thức tranh đấu cao hơn: tổng biểu tình tuần hành, bãi công, chính trị, míttinh công khai, bãi khóa, bãi thị, bất hợp tác với Nhật về mọi phương diện; chống thu thóc, không nộp thuế. Huy động đội tự vệ tước võ khí của binh lính bại trận đào ngũ, dao động, mất tinh thần. Phát động du kích ở những nơi có địa hình, địa thế. d) Đề phòng Nhật đàn áp. Hai trường hợp: 1. Nếu Nhật về đàn áp, bắt bớ ở một làng nào, thì huy động cả làng và các làng chung quanh nổi trống, mõ, ốc, tù và, bắn súng, làm sức thanh viện, xua đuổi chúng; đồng thời mai phục
  76. Phụ lục đánh tháo cho những người bị bắt. 709
  77. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) 2. Nếu Nhật đem quân đánh phá khu du kích thì đội quân du kích phải khéo dùng chiến thuật hóa chẵn thành lẻ, hóa lẻ thành chẵn, phối hợp với nhân dân đằng sau quân địch đánh phá, nhiễu loạn làm cho chúng phải rút lui. 710 3. Về tổ chức a) Mở rộng cơ sở Việt Minh: - Thành lập những ban “tổ chức xung phong” đi gây cơ sở cứu quốc ở những nơi chưa có phong trào. - Dùng những hình thức tổ chức đơn sơ như bảo an, nhân dân tự vệ đội, nghĩa dũng đoàn, vũ dũng đoàn, ủy ban hàng xã, ủy ban trật tự nhà máy, v.v., rồi do những hình thức ấy gây ra cơ sở cứu quốc cho nhanh chóng. - Đặc biệt chú ý phát triển các đội tự vệ cứu quốc và thanh niên cứu quốc. b) Tổ chức quân sự: - Tổ chức thêm nhiều bộ đội du kích và tiểu tổ du kích. - Thành lập những căn cứ địa mới. - Thống nhất các chiến khu và thành lập “Việt Nam cứu quốc quân”. - Tổ chức “Ủy ban quân sự cách mạng” (tức Ủy ban khởi nghĩa) để thống nhất chỉ huy du kích các chiến khu. c) Tổ chức chính quyền: - Thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng ở các nhà máy, mỏ, làng ấp, đường phố, trại lính, trường học, công, tư sở, v.v Những ủy ban này vừa có tính chất Mặt trận dân tộc thống nhất chống Nhật rộng rãi, vừa có ý nghĩa “tiền chính phủ” của đồng bào trong các xí nghiệp, các làng, v.v - Thành lập “Ủy ban nhân dân cách mạng” và “Ủy ban công nhân cách mạng” ở những vùng quân du kích hoạt động. - Thành lập “Ủy ban nhân dân cách mạng Việt Nam” theo
  78. Phụ lục hình thức một Chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam. 711
  79. Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - tập I (1945-1954) 4. Về huấn luyện Chú ý hai điều: a) Đề phòng phong trào lan rộng mà kém ăn sâu, nên tổ chức đến đâu phải thực hành huấn luyện theo “chương trình huấn 712 luyện Việt Minh” đến đó. b) Các cuộc tuyên truyền và tranh đấu đều có tính chất quân sự hóa, nên việc huấn luyện quân sự cho cán bộ các cấp và đội trưởng các đội tự vệ là rất cần. VI. SẴN SÀNG HƯỞNG ỨNG QUÂN ĐỒNG MINH 1. Khi quân Đồng minh kéo vào Đông Dương đánh Nhật, không phải ta có thể phát động tổng khởi nghĩa ngay tức khắc. Phải đợi cho quân Đồng minh không những bám chắc mà còn tiến được trên đất ta. Đồng thời phải chờ quân Nhật kéo ra mặt trận ngăn cản quân Đồng minh để phía sau tương đối sơ hở; lúc đó phát động tổng khởi nghĩa mới có lợi. 2. Nơi nào quân Đồng minh đổ bộ, phải vận động nhân dân biểu tình hoan nghênh uý lạo họ và võ trang quần chúng thành lập dân quân, cùng quân Đồng minh chiến đấu. Nếu nơi ấy có bộ đội du kích của ta hoạt động, thì bộ đội phải tìm cách liên lạc với quân Đồng minh để cùng họ thực hiện việc đánh Nhật theo kế hoạch chung. Nhưng luôn luôn phải giữ quyền chủ động trong việc tác chiến. 3. Còn ở các vùng sau lưng quân địch trong khắp nước thì phải vận động quần chúng ra đường biểu tình hoan hô quân Đồng minh và đặc biệt xem xét nhất cử nhất động của quân Nhật đặng báo tin cho quân ta và quân Đồng minh rõ; đồng thời thực hiện một phần công tác phá hoại ở những nơi cần thiết. Khi nào có lệnh phát động tổng khởi nghĩa thì nổi dậy tất cả,
  80. Phụ lục đánh phá tan nát các đường giao thông vận tải của giặc Nhật; đánh chiếm các kho tàng, đồn trại của Nhật, đánh chặn các đội quân tuần tiễu và vận tải của Nhật; làm cho chiến tranh du kích lan tràn ra khắp nước đến tận các thành phố. 713 4. Và ngay bây giờ phát động du kích, phải chiếm căn cứ địa duy trì và mở rộng chiến tranh du kích, phải là phương pháp duy nhất của dân tộc ta để đóng vai chủ động trong việc đánh đuổi quân ăn cướp Nhật Bản ra khỏi nước, chuẩn bị hưởng ứng quân Đồng minh một cách tích cực. 5. Song dù sao ta không thể đem việc quân Đồng minh đổ bộ vào Đông Dương làm điều kiện tất yếu cho cuộc tổng khởi nghĩa của ta; vì như thế là ỷ lại vào người và tự bó tay trong khi tình thế biến chuyển thuận tiện. Nếu cách mạng Nhật bùng nổ, và chính quyền cách mạng của nhân dân Nhật thành lập hay nếu giặc Nhật mất nước như Pháp năm 1940, và quân đội viễn chinh của Nhật mất tinh thần, thì khi ấy dù quân Đồng minh chưa đổ bộ, cuộc tổng khởi nghĩa của ta vẫn có thể bùng nổ và thắng lợi. * * * Các đồng chí! Hãy giương cao lá cờ chói lọi của Đảng; gắng vượt mọi khó khăn nguy hiểm thực hành chỉ thị trên đây. Thắng lợi cuối cùng nhất định về tay chúng ta! Ngày 12-3-1945 BAN THƯỜNG VỤ TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG