Giáo trình Tiếng Việt thực hành (Bậc Cao đẳng) - Phần 2

pdf 98 trang ngocly 70 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Tiếng Việt thực hành (Bậc Cao đẳng) - Phần 2", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_tieng_viet_thuc_hanh_bac_cao_dang_phan_2.pdf

Nội dung text: Giáo trình Tiếng Việt thực hành (Bậc Cao đẳng) - Phần 2

  1. Chương 3. TIẾP NHẬN VĂN BẢN A. TÓM TẮT MỘT VĂN BẢN I. Khái niệm Tóm tắt một văn bản là sự cô đúc nội dung của văn bản vào trong một số câu nhất định theo một mục đích đã định trước. Người tóm tắt phải thực hiện việc ép, nén nội dung của văn bản. Do vậy, văn bản tóm tắt phải ngắn hơn văn bản ban đầu. Việc lựa chọn thông tin đưa vào trong văn bản tóm tắt phụ thuộc vào mục đích của người tóm tắt. Tóm tắt văn bản có hai mục đích: Để dễ nhớ nội dung văn bản như tóm tắt bài học và để tiện đưa tin. Thí dụ: Tóm tắt các văn bản luật được Quốc hội thông qua năm 2005 để đưa tin ở cổng giao tiếp điện tử của UBND tỉnh Bắc Ninh: “Tại kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005 Quốc hội thông qua 15 Luật: 1 - Bộ Luật Dân sự, gồm 7 phần, với 777 điều quy định về vị trí pháp lí, chuẩn mực pháp lí cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền và nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động. 2 - Luật Dược, gồm 11 chương với 73 điều; quy định việc kinh doanh thuốc, đăng ký, lưu hành thuốc; sử dụng thuốc; cung ứng thuốc; thông tin, quảng cáo thuốc; thử thuốc trên lâm sàng; quản lí thuốc gây nghiện; thuốc hướng tâm thần, tiền chất dùng làm thuốc và thuốc phóng xạ; tiêu chuẩn chất lượng thuốc và kiểm nghiệm thuốc. 3 - Luật Thương mại, gồm 9 chương, 324 điều; Luật điều chỉnh: hoạt động thương mại trên lãnh thổ nước việt Nam, ngoài lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp các bên thỏa thuận chọn áp dụng Luật này hoặc Luật nước ngoài. Điều ước quốc tế mà Việt na m là thành viên có quy định áp dụng Luật này; hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với 72
  2. thương nhân thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng Luật này.”( ) II. Yêu cầu của việc tóm tắt một văn bản 1. Văn bản tóm tắt phải phản ánh trung thực văn bản gốc. Có nghĩa là văn bản tóm tắt phải nêu được các nội dung chính và mối liên hệ giữa các nội dung đó. Người viết không được xuyên tạc hoặc thêm thắt những nội dung không có trong văn bản gốc. 2. Văn bản tóm tắt phải ngắn gọn. Người viết văn bản tóm tắt thường sử dụng những câu ngắn nhưng đầy đủ thành phần nhằm tăng cường tối đa lượng thông tin trong câu. Cần hạn chế dùng câu tỉnh lược để văn bản tóm tắt dễ hiểu, tuy nhiên, nếu ngữ cảnh cho phép xác định đúng quy chiếu thì có dùng câu tỉnh l ược thành phần chủ ngữ nhằm rút ngắn văn bản tóm tắt. Người viết tóm tắt cần loại bỏ những thông tin không cần thiết với mục đích tóm tắt. 3. Văn bản tóm tắt cần khái quát được những nội dung cơ bản của văn bản gốc hoặc phần văn bản định tóm tắt. Người viết tóm tắt cần diễn đạt các nội dung tóm tắt theo cách riêng của mình, tránh dùng lại nguyên v ăn các câu hoặc các đoạn trong văn bản gốc. III. Các bước tóm tắt một văn bản Khi tóm tắt một văn bản, phải tiến hành các bước sau: 1. Tìm hiểu văn bản gốc: Khi tìm hiểu văn bản gốc, người tóm tắt phải đọc nhiều lần để xác định: + Loại văn bản: Văn bản gốc thuộc loại văn bản nào trong các loại văn bản: văn bản khoa học, văn bản hành chính, văn bản nghị luận, văn bản báo chí, văn bản nghệ thuật và văn bản sinh hoạt. 73
  3. + Bố cục của văn bản: Xác định các phần, chương, đoạn trong văn bản gốc. Việc hình dung trước bố cục này sẽ giúp ng ười tóm tắt nhận ra được từng phần trong văn bản gốc và quan tâm đến những phần đáng chú ý nhất. + Chủ đề chung của văn bản và các chủ đề bộ phận (nói cách khác là những nội dung cơ bản, ý chính) Cách xác định chủ đề chung và các chủ đề bộ phận: Xác định chủ đề chung: Chủ đề chung là chủ đề của văn bản. Do đó, chủ đề chung phải được thể hiện xuyên suốt qua toàn bộ v ăn bản. Theo Bùi Minh Toán, “Ý đồ của người viết hay đích hướng tới của văn bản chính là chủ đề của văn bản ấy”. (Tiếng Việt thực hành, NXB Giáo dục, Tr.76) Mỗi kiểu loại văn bản khác nhau có cách thể hiện chủ đề riêng của mình. Chủ đề của văn bản nghị luận chính là luận đề trong văn bản (nêu vấn đề đưa ra để bàn luận), câu luận đề này thường nằm ở phần mở đầu hay phần kết luận của văn bản. Thí dụ: Chủ đề của Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh được thể hiện ở câu luận đề ở cuối tác phẩm: “Vì những lẽ trên, chúng tôi- Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà- trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do, độc lập. Và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền tự do, độc lập ấy.” (Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh) Chủ đề của văn bản hành chính nằm ở phần trích yếu nội dung (dưới tên loại trong văn bản có tên loại hoặc dưới số, kí hiệu trong văn bản không có tên loại). Thí dụ: Chủ đề của Công văn số 2078/BGD&ĐT - TCCB ngày 17 tháng 3 năm 2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc thi nâng ngạch giảng viên lên giảng viên chính năm 2006 chính là việc thi nâng ngạch giảng viên lên giảng viên chính năm 2006. 74
  4. Chủ đề của văn bản khoa học thường nằm trong chính tên của văn bản. Thí dụ: Tiêu đề của bài Vài điểm khác biệt về ngữ pháp của phương ngữ Nam Bộ so với phương ngữ Bắc Bộ trong Tạp chí ngôn ngữ số 2 năm 2002 phản ánh chủ đề của văn bản này. Xác định các chủ đề bộ phận: Trong đoạn văn có câu chủ đề (đoạn văn có cấu trúc tổng phân hợp, cấu trúc diễn dịch và cấu trúc quy nạp), chủ đề bộ phận nằm trong câu chủ đề của đoạn. Về vị trí, câu chủ đề nằm ở cả đầu và cuối đoạn (Trong đoạn văn có cấu trúc tổng phân hợp), hoặc nằm ở đầu đoạn (Trong đoạn văn có cấu trúc diễn dịch), hoặc nằm ở cuối đoạn (Trong đoạn văn có cấu trúc quy nạp). Về nội dung, câu chủ đề khái quát nội dung của tất cả các câu trong đoạn văn. Về hình thức và cấu tạo, câu chủ đề thường đầy đủ thành phần chính và có các từ ngữ như: Khái quát , tổng quan, kết luận Thí dụ: Việc tổ chức công chức theo việc làm khiến cho bộ máy hành chính dễ mất ổn định. Bởi vì có nhiều vị trí không thể đào tạo được. Trong thực tế, với cách tổ chức này, công chức chỉ có “lên” mà không có “xuống”. Vì vậy, làm phức tạp thêm cho công tác tổ chức, đôi khi phải thành lập thêm tổ chức mới để bố trí cho người lãnh đạo, chỉ huy mới được lên chức. (Trích “Tập bài giảng Một số vấn đề cơ bản về hành chính học”, tr 23) Đoạn văn trên có câu mở đầu nêu ý chủ đề của cả đoạn. Thí dụ: Nền hành chính nước ta bao gồm hệ thống thứ bậc chặt chẽ và thông suốt từ Trung ương tới địa phương. Trong đó, nguyên tắc cấp dưới phục tùng, nhận chỉ thị và chịu sự kiểm tra của cấp trên. Đó là sự khác biệt cơ bản với hệ thống dân cử hay hệ thống xét xử. Tính thứ bậc ấy trở thành một cơ chế điều chỉnh năng động do Hiến pháp và pháp luật quy định. (Trích “Tập bài giảng Một số vấn đề cơ bản về hành chính học”, tr 23) Đoạn văn trên có câu chủ đề ở cả đầu và cuối đoạn. Thí dụ: Nhân dân ta tốt thật. Nhưng ta nên nhớ câu chuyện anh Tăng. Địch tuyên truyền xảo quyệt và bền bỉ, ngày này đến ngày khác, năm này đến 75
  5. năm khác, “giọt nước nhỏ lâu đã cũng mòn”. Cho nên không khỏi có một số đồng bào bị địch tuyên truyền mãi mà hoang mang. (Hồ Chí Minh) Trong đoạn văn không có câu chủ đề (đoạn văn có cấu trúc song hành), chủ đề bộ phận không nằm trong một câu nhất định nào đó trong đoạn văn mà toát ra từ nội dung của tất cả các câu, mỗi câu triển khai một phương diện của chủ đề. Người tóm tắt phải xác định được nội dung chung của tất cả các câu. Thí dụ: Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. (Hồ Chí Minh) Chủ đề của đoạn văn trên: Thực dân Pháp đã gây nhiều tội ác đối với phong trào yêu nước của nhân dân ta. 2. Viết tóm tắt: Người ta thường sử dụng hai hình thức tóm tắt: Tóm tắt thành đề cương và tóm tắt thành văn bản hoàn chỉnh. 2.1. Tóm tắt thành đề cương - So sánh đề cương trong tóm tắt văn bản với đề cương trong tạo lập văn bản: + Giống nhau: Đều phản ánh những nội dung chính của văn bản, là cái khung của văn bản. + Khác nhau: Tóm tắt thành đề cương đi ngược lại với xây dựng đề cương khi tạo lập văn bản. Khi tạo lập văn bản, từ cái khung, người viết xây dựng thành văn bản hoàn chỉnh còn khi tóm tắt, từ v ăn bản hoàn chỉnh ta chỉ giữ lại phần khung. - Những nội dung cần tóm tắt: + Tên văn bản và xuất xứ của văn bản (Tác giả, nhà xuất bản, n ơi xuất bản, năm xuất bản) 76
  6. + Những nội dung cơ bản trong văn bản gốc Với những văn bản mà người viết triển khai chủ đề chung và chủ đề bộ phận bằng một hệ thống những đề mục, người viết chỉ cần ghi lại những đề mục đó. Với những văn bản mà người viết không trình bày bằng hệ thống những đề mục, người viết cần xác định chủ đề chung của văn bản và các chủ đề bộ phận; diễn đạt các chủ đề đó bằng các câu hoàn chỉnh hoặc bằng các cụm danh từ; trình bày chúng bằng một hệ thống các kí hiệu. Thí dụ: Tóm tắt thành đề cương Công văn số 2078/BGD&ĐT - TCCB ngày 17 tháng 3 năm 2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc thi nâng ngạch giảng viên lên giảng viên chính n ăm 2006 như sau: Công văn số 1790/BGD&ĐT - NG ngày 06 tháng 3 năm 2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc thi nâng ngạch giảng viên lên giảng viên chính năm 2006 1. Công văn được gửi tới: - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ; - Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; - Các trường đại học, cao đẳng trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo. 2. Căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn việc tổ chức thi nâng ngạch giảng viên lên giảng viên chính năm 2006 như sau: 2.1.Các Bộ, ngành, địa phương, các trường đại học, cao đẳng đăng kí người dự thi trên cơ sở cơ cấu theo tỉ lệ (giảng viên chính trong các trường đại học và cao đẳng chiếm 40%); 2.2. Điều kiện dự thi nâng ngạch; 2.3. Hồ sơ dự thi nâng ngạch; 2.4. Tổ chức sơ tuyển; 2.5. Hội đồng sơ tuyển lập danh sách những giảng viên có đủ điều kiện thi; 2.6. Nội dung và hình thức thi; 77
  7. 2.7. Phần thi ngoại ngữ; 2.8. Quy định về miễn thi ngoại ngữ; 2.9. Kinh phí cho kì thi; 2.10. Địa điểm, thời gian thi; 2.11. Tài liệu phục vụ thi. 2.2. Tóm tắt thành văn bản hoàn chỉnh Người viết tóm tắt cũng phải trình bày tên văn bản, xuất xứ của văn bản và những nội dung cơ bản trong văn bản gốc. Nhưng khi tóm tắt thành văn bản, người viết phải diễn đạt chủ đề chung và chủ đề bộ phận bằng những câu hoàn chỉnh nhưng ngắn gọn. Sau đó nối các câu đó bằng những phương tiện liên kết câu (thuộc những phương thức liên kết câu nh ư phương thức lặp, phương thức thế, phương thức nối, phương thức liên tưởng) để tạo thành một văn bản hoàn chỉnh. Ng ười viết tóm tắt đôi khi phải trích dẫn nguyên văn để đảm bảo tính khách quan của văn bản tóm tắt. Thí dụ: Tóm tắt thành văn bản hoàn chỉnh Công văn số 2078/BGD&ĐT - TCCB ngày 17 tháng 3 năm 2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc thi nâng ngạch giảng viên lên giảng viên chính năm 2006 Công văn số 2078/BGD&ĐT - TCCB ngày 17 tháng 3 năm 2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc thi nâng ngạch giảng viên lên giảng viên chính năm 2006 Công văn được gửi tới các Bộ, cơ quan ngang Bộ; Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các trường đại học, cao đẳng trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo. Căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật, để có cơ sở xây dựng kế hoạch tổ chức thi nâng ngạch giảng viên lên giảng viên chính năm 2006, Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương, các trưòng đại học và cao đẳng về việc đăng kí người dự thi trên cơ sở cơ cấu tỉ lệ (giảng viên chính trong các trưòng đại học và cao đẳng chiếm 40%); điều kiện dự thi nâng ngạch; hồ sơ dự thi nâng ngạch; tổ chức sơ tuyển và lập danh sách 78
  8. những giảng viên có đủ điều kiện thi; nội dung và hình thức thi; phần thi ngoại ngữ và quy định về miễn thi ngoại ngữ; kinh phí cho kì thi; địa điểm, thời gian thi và tài liệu phục vụ thi. IV. Tự động tóm tắt một văn bản điện tử Hiện nay, với sự phát triển của khoa học - công nghệ, người ta đã nghiên cứu xây dựng một hệ thống tự động tóm tắt một văn bản điện tử. Quy trình máy tính tự động tóm tắt một văn bản khoa học như sau: 1. Xác định rõ xuất xứ của văn bản Lệnh cho máy tự động nhận dạng các yếu tố thư mục rồi mô tả văn bản theo các nguyên tắc biên mục. Đó là: Tên tác giả, tên sách, nơi xuất bản, năm xuất bản, số trang. 2. Cho máy tính tự động tóm tắt văn bản Có hai trường hợp sau đây: 2.1. Văn bản đã có sẵn những đoạn văn mang tính chất tóm tắt Để phát hiện những đoạn văn mang tính chất tóm tắt này, máy phải nhận dạng xem có các từ ngữ tổng quan, tóm lại hay bài viết này giới thiệu , chủ đề của bài viết này là , kết luận được rút ra là Máy tự động lấy hết các câu có các từ ngữ này. Những đoạn chữ không bình thường (in đậm hoặc in nghiêng) cần được chú ý vì đó là chỗ nhấn mạnh. Máy tự động cắt lấy các tiêu đề lớn nhỏ này. Trước đó máy tự động thêm vào đoạn câu: Bài viết này gồm các đoạn, phần sau: 2.2. Văn bản không có những đoạn văn tóm tắt Máy giữ lại những câu có từ ngữ tổng quan, bài viết này, bài viết cũng, kết luận và những câu được in đậm hoặc in nghiêng. Kết quả là người ta thu được một văn bản tóm tắt với tỉ lệ 1/10 so với văn bản gốc. Tuy nhiên có một số câu thành câu cụt hoặc thừa từ nên cần có 79
  9. sự hỗ trợ của phần mềm Grammatical autocorrect for Vietnamese để tạo tính mạch lạc của văn bản. B. TỔNG THUẬT VĂN BẢN I. Khái niệm Tổng thuật văn bản là việc giới thiệu và trình bày những nội dung c ơ bản rút ra từ một số văn bản gốc có cùng chủ đề hay có mối quan hệ với nhau về chủ đề. Chính vì vậy, việc tóm tắt văn bản và các thao tác của nó đã tạo ra tiền đề cho việc tổng thuật văn bản. Không phải tất cả các nội dung cơ bản trong một văn bản đều được đưa vào bài tổng thuật mà sự lựa chọn những nội dung cơ bản trong văn bản gốc phụ thuộc vào mục đích của việc làm tổng thuật. Tổng thuật là giới thiệu những nội dung cơ bản rút ra từ một văn bản nhưng không phải là sự liệt kê những nội dung cơ bản đó mà người viết cần có sự khái quát hoá, tổng hợp hoá và phân loại để thấy được những nội dung chung và những nội dung riêng của từng văn bản. Chú ý là những nội dung chung đó không phải và không nhất thiết là chung cho mọi văn bản được tổng thuật. Trong tổng thuật, ngoài những nội dung cơ bản của các văn bản còn có thể kèm theo sự đánh giá chủ quan của người viết về nội dung nào đó trong tổng thuật hoặc sự giới thiệu về tác giả hoặc tác phẩm, hoàn cảnh ra đời của các văn bản được tổng thuật. Những văn bản được tổng thuật có thể có xuất xứ rất khác nhau (có thể cùng 1 tác giả hay của những tác giả khác nhau, có thể ra đời trong những hoàn cảnh khác nhau) nhưng phải có cùng một chủ đề hoặc có mối quan hệ mật thiết về chủ đề. 80
  10. So sánh tóm tắt và tổng thuật: Tóm tắt Tổng thuật Trình bày những nội dung cơ bản của Trình bày những nội dung cơ bản của một văn bản. Như vậy văn bản tóm nhiều văn bản. Do vậy, tổng thuật có tắt có dạng thức một văn bản - một tính khái cao hơn, đối tượng phức tạp chủ đề. hơn, nội dung nhiều hơn. Như vậy văn bản tổng thuật có dạng thức đa văn bản - đa chủ đề (dấu hiệu phân giới giữa các văn bản gốc đã bị nhòe đi và chủ đề của chúng bị hoà tan trong chủ đề chung của văn bản tổng thuật) Trình bày những nội dung cơ bản Chỉ lựa chọn những nội dung cơ bản trong văn bản gốc phục vụ cho mục trong các văn bản phục vụ cho mục đích của người tóm tắt. Do vậy tóm đích của người làm tổng thuật. Việc tắt văn bản không tạo ra tri thức mới. lựa chọn này có tính định hướng rõ ràng (Tổng thuật là phương tiện định hướng cho người dùng tin, giúp cho họ nắm bắt được những gì cần thiết). Tổng thuật tạo ra tri thức mới, thông tin mới ở đây là tính hệ thống toát lên từ văn bản tổng thuật. Thực hiện một cách thuần tuý, khách Có thể thực hiện một cách thuần tuý, quan, không kèm theo sự đánh giá khách quan hoặc có thể có sự đánh chủ quan của người viết. giá chủ quan, sự giới thiệu về văn bản, hoàn cảnh ra đời, tác giả của người viết tổng thuật. 81
  11. II. Yêu cầu của việc tổng thuật các văn bản 1. Những văn bản được tổng thuật phải có cùng chủ đề hoặc có mối quan hệ nào đó về chủ đề. 2. Cũng giống như tóm tắt, tổng thuật không được xuyên tạc nội dung của các văn bản gốc. Nhưng tổng thuật cũng không phải là việc liệt kê những nội dung cơ bản theo một trình tự nào đó mà người viết phải tập hợp và phân loại những nội dung đó (nội dung giống nhau và khác nhau). III. Các bước tổng thuật các văn bản 1. Tìm hiểu các văn bản gốc Đọc và suy ngẫm tất cả những văn bản gốc nhiều lần cho đến khi nắm được những nội dung cơ bản trong các văn bản; xác định hoàn cảnh ra đời của chúng. Tìm hiểu nội dung của từng văn bản, tìm hiểu chủ đề chung và những chủ đề bộ phận. Bước này đã được thực hiện trong tóm tắt văn bản. 2. Tập hợp và phân loại những nội dung cơ bản trong những văn bản gốc Sau khi đã có những nội dung cơ bản của từng văn bản, người viết tập hợp và phân loại chúng, xác định những nội dung chung và những nội dung riêng trong các văn bản nói cách khác là những nội dung giống nhau và những nội dung khác nhau. 3. Viết tổng thuật Có hai cách viết tổng thuật: 3.1 Viết tổng thuật một cách khách quan: Người viết tổng thuật giới thiệu bằng ngôn ngữ của mình lần l ượt những nội dung cơ bản (nội dung chung và những nội dung riêng) trong những văn bản gốc. 82
  12. 3.2 Viết tổng thuật thể hiện sự đánh giá chủ quan: Người viết tổng thuật có thể hiện sự đánh giá chủ quan của mình về nội dung tổng thuật hoặc giới thiệu thêm về tác giả, tác phẩm được tổng thuật. Trong cả hai cách trình bày, người viết cần đảm bảo chính xác nội dung của văn bản gốc, có thể trích dẫn một số câu hay một số đoạn cần thiết. Thí dụ: Tổng thuật các bài viết về dân số Bài 1. Sự bùng nổ dân số và chiến l ược dân số Việt Nam đến năm 2000 Bùng nổ dân số là sự gia tăng dân số một cách quá nhanh, là một trong những vấn đề nóng bỏng, cấp thiết của thời đại ngày nay, nó có ảnh hưởng rộng lớn và toàn diện đến mọi mặt của đời sống xã hội. Từ giữa thế kỉ XX, dân số thế giới gia tăng với nhịp độ chưa từng thấy, Năm 1950, dân số thế giới là 2,5 tỉ người và đến năm 1980, sau 30 năm đã lên đến 4,4 tỉ người, năm 1987 là 5 tỉ. Nếu cứ theo tốc độ gia tăng của những năm 80 của thế kỉ này (thế kỉ X X) thì đến giữa thế kỉ XXI ( năm 2050) dân số thế giới sẽ đạt con số gần 9 tỉ người. Dân số ngày càng tăng nhanh đã ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống của mỗi cá nhân, mỗi dân tộc cũng như toàn thể cộng đồng. Những ảnh hưởng đó là: Không có đủ lương thực, thưc phẩm cung cấp cho bữa ăn hàng ngày, từ đó dẫn đến cảnh đói nghèo, tình trạng thiếu dinh dưỡng dấn đến suy thoái sức khoẻ, giống nòi không những không phát triển mà còn dễ dàng bị thoái hoá. Dân số tăng trong khi việc làm, cơ sở sản xuất có hạn dẫn đến thiếu việc làm, thất nghiệp ngày càng tăng, dân số tăng càng nhanh thì chất lượng cuộc sống cộng đồng, của gia đình và cá nhân ngày càng giảm sút. Biện pháp tích cực nhất để chống bùng nổ dân số là kế hoạch hoá sinh đẻ, hạ tỉ lệ sinh đẻ xuống 1 - 1,5% ở các nước có tỉ lệ sinh đẻ cao. Từ những năm 60, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra vấn đề dân số và kế hoạch hoá gia đình. Tuy nhiên, sau năm 1975, công tác này mới được tiến hành trên phạm vi cả nước. Kết quả tổng hợp lớn nhất của cuộc vận động sinh đẻ có kế 83
  13. hoạch ở Việt Nam trong 30 năm qua là đã giảm con số trung bình của mối phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ từ trên 6 con (vào những năm 60) xuống khoảng 4 con hiện nay. Mặc dù cố gắng nhưng kết quả đạt được còn thấp so với yêu cầu. Đến cuối năm 1993, dân số cả nước đã lên đến 71 triệu ngưòi. Nếu cứ giữ tốc độ tăng dân số cả năm lên 2% như hiện nay thì cứ khoảng 30 năm số dân Việt Nam sẽ tăng gấp đôi, nghĩa là đến năm 2050 có trên 280 triệu người. (Theo Giáo trình dịch Việt Anh, Đại học Mở Hà Nội) Bài 2. Sự gia tăng dân số, một thảm hoạ lớn Dân số thế giới cuối thế kỉ XX đã là 6 tỉ ngưòi và đến thập kỉ thứ nhất của thế kỉ XXI Do sự bùng nổ dân số, các nước Á, Phi, Mĩ Latinh từ cuối thế kỉ XX chiếm 9/10 số tăng trưỏng cảu toàn cầu. Theo dự đoán của các nhà bác học đến năm 2000, trong số những nước đông dân nhất sẽ là các nước đang phát triển: Ấn Độ, Inđônêxia, Pakixtan, Bănglađet, Việt Nam, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kì Nigiêria ở châu Phi, Braxin và Mêhicô ở châu Mĩ Latinh. Trong 25 thành phố đông dân nhất (10 triệu ngưòi vào cuối thế kỉ này) thì phần lớn cũng là những thành phố thuộc các n ước đang phát triển và đô thị lớn nhất trên thế giới sẽ là Mêhicô. Trong đó 10 thành phố lớn nhất sẽ có Xao Paolô, Riô Đê Gianêrô, Bombay, Cancuta, Giacacta và Cairô. Sự bùng nổ dân số ở các nước đang phát triển sẽ làm thay đổi cơ cấu tuổi trung bình dân số trẻ hơn (hiện nay hơn một nửa dân số ở tuổi dưới 25). Sự bùng nổ dân số đáp ứng nhu cầu về sức lao động. Song mặt khác, nó gây trở ngại cho việc khắc phục tình trạng lạc hậu về kinh tế và xã hội, gây khó khăn cho việc cung ứng nhu yếu phẩm và tạo ra việc làm, ảnh h ưởng đến việc xoá nạn mù chữ, khó có thể nâng cao dân trí và mức sống. Nói tóm lại, nó làm tiêu tan hết những tích luỹ vốn nhỏ nhoi của các nước đang phát triển. Phần lớn các nhà khoa học cho rằng nạn bùng nổ dân số sẽ dẫn đến tình trạng di cư bất hợp pháp trong tương lai. Theo dự báo đến năm 2100 dân 84
  14. số của hành tinh chúng ta sẽ lên đến mức khoảng 10 tỷ, mật độ dân ở Trái đất sẽ là 120 người /km2 . Các nhà khoa học cho rằng vận may cứu vớt nhân loại chỉ đến nếu con người biết giải quyết vấn đề gia tăng dân số, lối thoát duy nhất là tự nguyện hoặc cưỡng bức hạn chế sinh đẻ. Chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình đã trở thành quốc sách đối với nhiều nước đang phát triển. Con người đã nhận ra nguy cơ của việc tăng dân số. Tỉ lệ tăng dân số có chiều hướng đang giảm đi trên phạm vi thế giới. Nếu ở thập kỷ 60 là 2% thì cuối thập kỷ 70 chỉ còn là 1,7%, đầu thập kỷ 80 là 1,6% và đến cuối thế kỷ XX này là 1,5%. Tất nhiên đây là kết quả của chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình ở các nước đang phát triển. Song sự tăng giảm dân số không chỉ tuỳ thuộc vào chính sách kế hoạch hoá gia đình mà còn tuỳ thuộc vào nhiều mặt của kinh tế, văn hoá, giáo dục, đô thị hoá và đưa phụ nữ vào guồng máy sản suất. Nhiều nhà khoa học cũng cho rằng dân số thế giới 100 năm nữa sẽ ở mức 10-12 tỷ và tuổi thọ trung bình sẽ đạt 75 tuổi. Tất cả đều là dự đoán. Song câu nói “ngày mai bắt đầu từ ngày hôm nay” rất đúng với dân số và kế hoạch hoá gia đình. Bước 1: Tìm hiểu các văn bản gốc Văn bản Sự bùng nổ dân số và chiến l ược dân số Việt Nam đến năm 2000 gồm những ý chính sau: Ý 1: Sự bùng nổ dân số là một vấn đề toàn cầu Ý 2: Ảnh hưởng tiêu cực của sự gia tăng dân số đối với đời sống xã hội Ý 3: Biện pháp để chống bùng nổ dân số Văn bản Sự gia tăng dân số, một thảm hoạ lớn gồm những ý chính sau: Ý 1: Sự gia tăng dân số quá nhanh trên toàn thế giới Ý 2: Ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của sự gia tăng dân số đến xã hội Ý 3: Biện pháp để giải quyết vấn đề gia tăng dân số 85
  15. Bước 2: Tập hợp và phân loại các nội dung c ơ bản trong các văn bản gốc Hai văn bản trên đều có ba ý chính với nội dung gần giống nhau, chỉ khác nhau ở ý thứ hai: Văn bản Sự bùng nổ dân số và chiến l ược dân số Việt Nam đến năm 2000 chỉ đề cập đến những tác động tiêu cực của gia tăng dân số đối với đời sống xã hội còn văn bản Sự gia tăng dân số, một thảm hoạ lớn đề cập đến cả tác động tích cực. Bước 3: Viết tổng thuật Sự bùng nổ dân số là một vấn đề cấp thiết của thời đại. Bàn về vấn đề này, các bài viết đều đưa ra những con số cụ thể về sự gia tăng dân số quá nhanh trên toàn thế giới đặc biệt là ở những nước đang phát triển cùng với sự phân tích những tác động tiêu cực và tích cực của nó với đời sống xã hội. Các tác giả đều cho rằng biện pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề dân số là chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình. 86
  16. BÀI TẬP Bài 1. Tóm tắt văn bản hành chính sau theo hai cách BỘ NỘI VỤ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT CỤC VĂN THƯ VÀ NAM LƯU TRỮ NHÀ NƯỚC Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ––––––––––– ––––––––––––––––––––––– Số: 424/VTLTNN-VP V/v gửi hồ sơ khen thưởng các tập thể và cá Hà Nội, ngày 18 tháng 7 năm 2005 nhân trong đợt thi đua do Bộ trưởng Bộ Nội vụ phát động. Kính gửi: Các đơn vị thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước. Thực hiện Công văn số 2745/BNV-TĐKT ngày 27/12/2004 của Bộ Nội vụ về việc hướng dẫn một số nội dung về công tác thi đua hướng tới kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống ngành TCNN, Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước yêu cầu các đơn vị bình xét các tập thể và cá nhân đề nghị Bộ trưởng Bộ Nội vụ tặng Bằng khen trong đợt thi đua đặc biệt do Bộ trưởng Bộ Nội vụ phát động. Tiêu chuẩn đối với tập thể: 1. Là đơn vị thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác được giao năm 2004 và 6 tháng đầu năm 2005 (đạt danh hiệu Tập thể Lao động xuất sắc năm 2004); 2. Không có cán bộ, công chức, viên chức vi phạm luật, bị xử lí kỉ luật; 3. Tập thể có môi trường văn hoá lành mạnh, nơi làm việc xanh - sạch - đẹp; tổ chức tốt các hoạt động văn nghệ, thể dục, thể thao thu hút đông đảo cán bộ, công chức, viên chức tham gia. Tiêu chuẩn đối với cá nhân: 1. Là người tiêu biểu nhất của đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác năm 2004 và 6 tháng đấu năm 2005 (năm 2004 đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở); 87
  17. 2. Chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Nhà nước, quy định của cơ quan; 3. Tham gia nhiệt tình các phong trào văn nghệ, thể dục, thể thao do cơ quan phát động. Đề nghị các đơn vị gửi hồ sơ đề nghị khen thưởng về Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước trước ngày 19/7/2005. Hồ sơ đề nghị khen thưởng bao gồm: Văn bản đề nghị của đơn vị đề nghị khen thưởng các tập thể và cá nhân, biên bản họp xét thi đua của đơn vị/. Nơi nhận: CỤC TRƯỞNG - Như trên; - Lưu: VP, VT. Trần Hoàng Bài 2. Rút ngắn phần văn bản sau đây: Sau năm 1986, đời sống văn hoá ở Việt Nam đã chuyển biến mạnh mẽ sang cơ chế thị trường. Cùng với việc mở rộng cơ chế thị trường, một quá trình đô thị hoá đã diễn ra mau lẹ. Với Nghị quyết Trung ương lần thứ 7, khoá VIII, đất nước ta bước vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Với cơ chế thị trường, một chủ nghĩa bình quân trước kia đã từng có tác dụng duy trì nhiều giá trị văn hoá truyền thống trong nền sản xuất năng xuất thấp đang được các tiêu chuẩn thương mại và cạnh tranh thay đổi và có tác dụng giải phóng khả năng sáng tạo, phát huy tính tích cực, chủ động của mỗi cá nhân và bù đắp dần sự thiếu hụt các giá trị về văn hoá kinh doanh của nền văn hóa truyền thống. Song sự vận động mạnh mẽ của cơ chế thị trường, của quá trình đô thị hoá cũng là nguyên nhân làm phát triển méo mó nhân cách và các quan hệ văn hoá. Khi cá nhân được giải phóng năng lượng sáng tạo, các mối quan hệ cộng đồng, với truyền thống, với họ hàng và thân tộc có khuynh hướng lỏng lẻo dần. 88
  18. Bài 3: Hãy tổng thuật các bài viết chủ đề môi sinh, môi trường được cho dưới đây: 1. Bảo vệ tài nguyên, thiên nhiên môi trường Xung quanh chúng ta là thế giới vật chất. Tài nguyên và môi trường luôn luôn gắn liền với cuộc sống hàng ngày của mỗi người. Để bảo đảm cuộc sống, con người chẳng những dựa vào hoàn cảnh tự nhiên mà còn phải biết cải tạo tự nhiên đê phục vụ cho cuộc sống của mình, giữa thiên nhiên và con người có mối quan hệ khăng khít, hữu cơ không thể tách rời. Thế giới vật chất bao la vô cùng, vô tận, nh ưng hành tinh của chúng ta thì nhỏ bé và có hạn. Tài nguyên trong lòng đất cũng có hạn và đang ngày một cạn kiệt. Việc khai thác tài nguyên trong lòng đất không có kế hoạch hoặc chỉ vì lợi ích trước mắt, không tuân thủ qui luật tự nhiên đã gây ra nhiều hậu quả xấu. Nhiều vùng đất màu mỡ bị phá hoại, nhiều khu rừng đã bị đốt cháy trơ trụi. Nạn đốt rừng đầu nguồn đã gây ra lũ cho nhiều vùng, đặc biệt là các vùng ven sông và vùng đồng bằng. Việc săn bắn thú rừng ngày càng t ăng, những loài động vật hiếm quý bị con người tiêu diệt bất chấp lệnh cấm của nhà nước làm cho nhiều chủng loại ngày nay đã mất đi, chỉ còn rất ít như tê giác, khỉ hình người, cá voi, hải cẩu, vv Nếu con người không biết ngăn chặn những hành động phá hoại thiên nhiên và môi trường thì rất nguy hại. Đến một lúc nào đó con người không còn có thể khai thác từ thiên nhiên để lấy của cải vật chất nuôi sống chính bản thân mình. Môi trường sống của con người đang bị đe doạ: Chất thải công nghiệp làm vẩn đục các dòng sông, tai nạn của các con tàu chở dầu làm ô nhiễm hàng vạn cây số bờ biển các nước. Bầu khí quyển ngày càng bị các hợp chất của các - bon làm ô nhiễm, tầng ô - zôn bao bọc trái đất bị chọc thủng, các tia tử ngoại xâm nhập vào các dòng khí quyển xuống trái đất. Nhiệt độ khí quyển ngày càng t ăng, lượng nước biển sẽ dễ dâng lên do sự tan băng ở Bắc 89
  19. và Nam cực của trái đất. Tất cả những điều đó là nguyên nhân phá hoại cân bằng sinh thái và đang là sự đe doạ khủng khiếp cho sự sống trên hành tinh của chúng ta. Nhiều tổ chức quốc tế cùng với chính phủ nhiều nước đã có nhiều lời kêu gọi và việc làm thiết thực để bảo vệ, gìn giữ những nguồn tài nguyên, những loài động vật trên trái đất. Mặt khác nhiều quốc gia đã áp dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật vào việc khai thác hợp lí tài nguyên thiên nhên. Thế giới ngày nay đang bước vào việc tìm kiếm nguồn năng lượng nào ít chất thải nhất để giảm bớt sự ô nhiễm bầu khí quyển, giữ gìn sự trong lành của thiên nhiên. Như vậy vừa bảo đảm cho cuộc sống của con người vừa bảo vệ thiên nhiên lâu dài. (Dẫn theo Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp) 2. Bảo vệ môi sinh Môi sinh đang ở trong tình trạng báo động, nói một cách khẩn thiết: thiên nhiên đang kêu cứu. Thảm hoạ huỷ diệt đang đe doạ loài người. Nếu lương tri loài người đã thức tỉnh thì quả là đúng lúc. Chẳng thế mà tháng 10 năm 1992 một hội nghị cỡ nguyên thủ quốc gia đã họp ở Riô Đê Gianerô với chương ttình nghị sự chỉ bàn về boa vệ môi sinh. Và chúng ta gần như hàng tháng được nghe, đọc, nhìn từ các phương tiện thông tin đại chúng, nào là tầng ôzôn bị thủng, nào là thiên tai, lụt lội, núi nở, bão lốc Tựa như thiên nhiên đang nổỉ giận và hậu quả khốc liệt của việc đối xử tàn tệ với thiên nhiên đang diễn ra. Từ những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, sự gia tăng dân số, việc khai thác tài nguyên một cách vô tổ chức, việc tăng nhanh quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, hoá học hoá nông nghiệp, tác động to lớn của con người vào thiên nhiên từ nhiều mặt mang lại tính toàn cầu trong đó có vấn đề chất thải, đã ảnh hưởng sâu sắc đến sinh quyển, đụng chạm đến mọi quốc gia và quả đất là “ngôi nhà” chung của loài người. 90
  20. Riêng năm 1970, con người đã sản sinh ra 40 tỷ tấn chất thải trong quá trình sản xuất và sinh hoạt. Tính đến cuối thế kỷ XX này, khối lượng chất thải sẽ lên đến 100 tỷ tấn/năm. Sinh quyển khí quyển, nguồn nước, tóm lại toàn bộ môi sinh bị nhiễm bẩn do kim loại và các hợp chất bị thải loại, phân bón, chất độc hoá học, các chất thải phóng xạ, nước thải công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt. Những chất thải ở thể rắn, thể lỏng và thể khí không ngừng tăng lên. Riêng chất thải ở thể rắn mỗi năm có tới 10 - 12 tỷ tấn. Chỉ một công dân Mỹ sống ở thành phố mỗi năm thải 1 tấn rác. Mỗi năm lượng nước thải trên thế giới khoảng 1000k 3, để xử lí khối lượng nước bẩn này cần một lượng nước sạch gấp 20 lần. Như vậy là con người đã sử dụng một lượng đáng kể nước ngọt dự trữ thiên nhiên có trong các ao hồ (40.000 km3). Hàng năm gần 10 triệu tấn dầu và các sản phẩm dầu mỏ đổ thải ra đại dương. Do kết quả sử dụng nhiệt năng, mỗi năm khí quyển tiếp nhận 20 tỉ tấn khí cacbonic và các khí độc khác (đó là nguyên nhân chủ yếu gây nên các trận mưa bụi cacbonic). Hậu quả là nửa cuối thế kỷ XX, sinh quyển đã trở nên tồi tệ rõ rệt. Ở một số nước và một số vùng rộng lớn, tình trạng ô nhiễm đã thực sự là mối hiểm hoạ. Trách nhiệm này thuộc về các nước công nghiệp phát triển, các nước này đã gây ra 2/3 sự ô nhiễm bẩn (trong số đó Hoa Kỳ gây ra 30%, các nước Tây Âu gây ra 20%). Vấn đề bảo vệ sinh thái bao gồm nhiều mặt: bảo vệ sức khoẻ, kinh tế, giáo dục và nhiều vấn đề khác. - Hướng thứ nhất: Phát minh những thiết bị lọc, hạn chế sử dụng các nguyên liệu có chứa lưu huỳnh, tái sử dụng rác các loại. - Hướng thứ hai: Thay thế công nghệ sản xuất cổ truyền, bằng các “công nghệ sạch”, không có chất thải độc hại. 91
  21. - Hướng thứ ba: Kiểm soát và phân bổ hợp lí các ngành công nghiệp gây nhiễm bẩn nhất (luyện kim đen và màu, công nghiệp dầu và hoá dầu, công nghiệp giấy) đối với môi sinh. Vấn đề môi sinh cần được giải quyết ở những quy mô khác nhau, trên quy mô thế giới, quy mô từng nước, từng ngành. Vấn đề này mang tính toàn cầu. Các nhà bác học đã cho rằng nhiệt độ không khí đã tăng 3 đến 4 độ C khiến cho khí hậu toàn cầu thay đổi đáng kể. Tầng ozôn đã bị rách, thủng hàng nghìn km2. Các nhà du hành vũ trụ có dịp được quan sát Trái đất từ vũ trụ đã ví Trái đất như quả cầu bé nhỏ và mỏng manh. Bảo vệ sinh quyển tức là bảo vệ cuộc sống của mỗi chúng ta. (Dẫn theo Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp) 92
  22. Chương 4. NHỮNG YÊU CẦU CHUNG VỀ CHÍNH TẢ, DÙNG TỪ VÀ ĐẶT CÂU A. CHÍNH TẢ. I. Đặc điểm chính tả và nguyên tắc kết hợp chính tả tiếng Việt 1. Đặc điểm chính tả tiếng Việt 1.1 Tiếng Việt là ngôn ngữ phân tiết tính : các âm tiết được tách bạch rõ ràng trong dòng lời nói. Vì thế, khi viết, các âm tiết được viết rời, cách biệt nhau. Thí dụ: Tổ quốc Việt Nam gồm đất liền, vùng trời, vùng biển và các hải đảo (gồm 15 âm tiết). 1.2 Tiếng Việt là một ngôn ngữ không biến hình. Dù đứng độc lập hay là một yếu tố trong cấu tạo từ ghép hay đứng trong câu, trong văn bản thì hình thái của âm tiết không bao giờ thay đổi. 1.3 Mỗi âm tiết tiếng Việt đều mang một thanh điệu nhất định. Khi viết chữ, phải đánh dấu ghi thanh điệu lên âm chính (hoặc bộ phận chính, đối với âm chính là nguyên âm đôi) của âm tiết. - Cấu tạo âm tiết của tiếng Việt: rất chặt chẽ và ổn định. Ở dạng đầy đủ âm tiếng Việt có cấu tạo như sau: THANH ĐIỆU PHỤ ÂM VẦN ĐẦU ÂM ĐỆM ÂM CHÍNH ÂM CUỐI THANH ĐIỆU Trong đó, âm chính và thanh điệu là hai bộ phận không thể thiếu được trong cấu tạo của bất kỳ âm tiết nào. - Cách xác định ký hiệu ghi trong âm chính trong chữ: Muốn xác định được ký hiệu ghi âm chính trong chữ, ta đặt chữ vào khuôn âm tiết. Thí dụ: 93
  23. THANH ĐIỆU PHỤ ÂM VẦN ĐẦU ÂM ĐỆM ÂM CHÍNH ÂM CUỐI THANH ĐIỆU H U Ấ N T O À T TH U YỀ N B # ƯỚ C # O À # # # ÙA # TH U Ỷ # Khi xác định được ký hiệu ghi âm chính trong chữ, ta ghi dấu thanh điệu kên trên (hoặc dưới) kí hiệu đó: bàn, toàn, hóa, họ, thuế Trong trường hợp có hai ký hiệu biểu thị âm chính (âm chính là nguyên âm đôi): + ghi dấu thanh điệu lên ký hiệu có dấu phụ: tiến, chiến, quyển, yến, suối, chứa ; + ghi dấu thanh điệu lên ký hiệu đầu tiên (từ trái sang phải) khi cả hai ký hiệu không có dấu phụ: phía, của, múa ; +ghi dấu thanh điệu lên ký hiệu thứ hai (từ trái sang phải) khi cả hai ký hiệu đều có dấu phụ: nước, bưởi Mẹo ghi thanh điệu đúng: - Khi có một nguyên âm, dấu ghi thanh điệu bao giờ cũng đánh lên nguyên âm đó; - Khi phần vần có từ hai nguyên âm trở lên, nếu: + Vần đang xét, về nguyên tắc có thể kết hợp với (hoặc đã sẵn có) một trong các phụ âm (m, n, p, t, c, ng, nh, ch) làm âm cuối, ta đặt dấu ghi thanh 94
  24. điệu trên (hoặc dưới) ký hiệu nguyên âm cuối cùng bên phải: hoà(ng), quyế (t), quyể(n), giườ(ng) ; + Vần đang xét về nguyên tắc, không thể kết hợp được với một trong các phụ âm kể trên làm âm cuối, ta đặt dấu ghi thanh điệu trên (dưới) ký hiệu nguyên âm ngay bên trái ký hiệu nguyên âm cuối cùng: hoài, hỏi, hảo, mày, múa, phía, chứa 2. Nguyên tắc kết hợp chính tả tiếng Việt 2.1 Các chữ cái biểu thị các phần của âm tiết. - Tất cả các chữ cái ghi phụ âm đều có thể làm ký hiệu ghi âm đầu của âm tiết. - Tất cả các chữ cái ghi nguyên âm đều có thể làm ký hiệu âm chính của âm tiết. - Có hai chữ cái để ghi âm đệm là o và u (giữa chúng có sự phân bố vị trí rõ rệt. Xem mục b dưới đây). - Các ký hiệu: p, t, m, n, c (ch), ng (nh), i, (y), u (o) biểu thị các âm cuối. 2.2 Sự phân bố vị trí giữa các ký hiệu cùng biểu thị một âm. Tuy có những chỗ chưa hợp lí, song chữ quốc ngữ đã thiết lập được một bộ quy tắc kết hợp hiệu chỉnh cần thiết và đủ mạnh để loại bỏ khả năng tùy tiện, nước đôi khi viết. Các quy tắc bổ sung này đã được xã hội hóa và trở thành thói quen chính tả của người Việt. Nhờ chúng mà chính tả chữ quốc ngữ khắc phục được tính phức tạp, rắc rối phát nguyên từ những trường hợp vi phạm nguyên tắc ngữ âm học. Sau đây là các quy tắc bổ sung đó: *K, C, Q - K viết trước nguyên âm e, ê, i (y); hoặc nguyên âm đôi iê, ia: kiên , kia, kẻ, kĩ - C viết trước nguyên âm: a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư (ca, căn, cân, cô, cư ). - Q viết trước âm đệm: u (quả, quang, quân, quet ). 95
  25. (Riêng trường hợp ka- ki, Bắc Kạn, ka-li theo thói quen k vẫn được viết trước a) *G – GH; NG - NGH - G, NG viết trước các nguyên âm: a, ă, â, o, ơ, ô, u, ư (nga, ngăn, go, gô, ngơ, gù, ngưng ) - GH, NGH viết trước các nguyên âm e, ê, i (nghe, ghế, nghiên ) hoặc trước các nguyên âm đôi ia, iê (nghĩa, nghiên ) *IÊ, YÊ, IA, YA - IÊ viết sau âm đầu, trước âm cuối: chiến, tiên tiến - YÊ viết sau âm đêm, trước âm cuối: tuyên, quyên hoặc khi mở đầu âm tiết: yên, yết - IA viết sau đầu, không có âm cuối: chia, phía - YA viết sau âm đệm, không có âm cuối: khuya. *UA, UÔ - UA viết khi không có âm cuối: ủa, của, múa - UÔ viết trước âm cuối: suối, suốt, chuối *ƯA, ƯƠ - ƯA viết khi không có âm cuối: chưa, thừa - ƯƠ viết trước âm cuối: nước, thương *O, U làm âm đệm - Sau chữ cái ghi phụ âm Q chỉ viết U: quang, quân, quen, quyên - Sau các phụ âm khác hoặc mở đầu âm tiết: + Viết O trước các nguyên âm : a, ă, i (hoa, khoăn, toet ) + Viết U trước các nguyên âm : â, ê, y, ya, yê (huân, khuynh, khuya, nguyên, huê ) * I,Y làm âm chính (không có quy định thống nhất) Theo xu hướng hiện đại: - I, Y đều làm phần vần cho một âm tiết và dùng thay thế cho nhau. Thí dụ: kĩ thuật - kỹ thuật 96
  26. lí thuyết - lí thuyết thẩm mĩ - thẩm mỹ Tuy nhiên, xu hướng hiện nay những âm tiết này thường viết bằng I, chỉ trừ một vài trường hợp viết bằng Y. Đó là từ kỹ sư hay tên riêng Lê Thị Lí, nước Mỹ - I viết sau âm đầu: bi, phi, kĩ, mĩ, kinh, minh - Y viết sau âm đệm: quy, quynh - I, Y đều có khả năng độc lập tạo nên âm tiết: + I đối với các từ thuần Việt: ỉ eo, ầm ĩ, í ới + Y đối với từ Hán Việt: y tá, ý kiến, quân y, y lệnh, y phục II. Quy tắc viết hoa trong văn bản 1 Tình trạng viết hoa trong chính tả tiếng Việt Chữ hoa trong tiếng Việt có các chức năng cơ bản sau: - Đánh dấu sự bắt đầu một câu; - Ghi tên riêng của người: địa danh, tên cơ quan, tổ chức ; - Biểu thị sự tôn kính: Bác Hồ, Người, Tổng thống, Phu nhân Chức năng thứ nhất và thứ ba nhìn chung được thực hiện một cách nhất quán trong chính tả tiếng Việt. Duy có chức năng ghi tên riêng của người, địa danh, tên cơ quan, tổ chức là còn nhiều điểm chưa thống nhất trong sử dụng. Thí dụ: - Cùng một tên người, tồn tại những cách viết khác nhau: Phan vũ diễm Hằng, Phan vũ Diễm Hằng, Phan Vũ Diễm Hằng, Phan - vũ - diễm - Hằng v.v - Cùng một tên tồn tại những cách viết khác nhau: Hà Nội, Hà-nội, Hà nội v.v - Cùng một tên tổ chức cơ quan cũng tồn tại những cách viết khác nhau: Trường đại học bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học bách khoa Hà Nội v.v 97
  27. Để khắc phục tình trạng này, tiếng Việt đã có những quy định về việc viết hoa trong văn bản. 2 Những quy định thông thường về việc viết hoa Trên văn bản, viết hoa là một quy định bắt buộc. Theo đó có những quy định chính tả cho việc viết hoa. Không thể tùy tiện viết hoa các con chữ đầu âm tiết của từ. Nói cách khác, viết hoa thể hiện trình độ văn hóa của người viết. Những quy định thông thường về cách viết hoa như sau: 2.1. Viết hoa dùng để ngăn cách ý nghĩa (nội dung) của câu này với câu khác hay ngăn cách các đoạn văn trên văn bản . Vì thế, chữ cái đầu âm tiết của từ đứng đầu câu, đầu đoạn văn cần phải viết hoa. Thí dụ: Cục Bảo vệ thực vật là cơ quan trực thuộc Bộ Nông n ghiệp và Phát triển nông thôn, giúp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện chức năng quản lí Nhà nước về bảo vệ thực vật, kiểm dịch thực vật và thuốc bảo vệ thực vật trong phạm vi cả nước. Cục Bảo vệ thực vật có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, kinh phí hoạt động do ngân sách Nhà nước cấp, được mở tài khoản riêng. 2.2 Viết hoa con chữ đầu âm tiết của từ đầu tiên trong các lời đối thoại. Thí dụ: - Mời đồng chí tham dự họp triển khai kế hoạch công tác của phòng kinh doanh. - Được. Tôi sẽ đến ngay. 2.3 Viết hoa con chữ đầu âm tiết của một từ - sau dấu ngoặc kép - trong lời trích dẫn trực tiếp. Thí dụ: Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: " Không có gì quý hơn độc lập, tự do". 98
  28. 2.4. Trong văn bản thơ, con chữ đầu âm tiết của từ đầu dòng thơ, cần phải viết hoa. Thí dụ: Tre xanh Xanh tự bao giờ? Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh. 2.5 Viết hoa họ tên người, tên tự, tên hiệu. Họ của người Việt Nam có thể do một từ biểu thị (Đinh, Lê, Lí, Nguyễn ) mà cũng có thể do hai từ (họ ghép) biểu thị ( Trần Lê , Nguyễn Hoàng ). Tên người cũng vậy (Lan, Minh Khai ). Trước từ chỉ tên người có thể có từ "Văn" hay "Thị" để biểu thị giới tính (Hoàng Thị Hà, Lê Việt Tuấn ) hoặc sau họ và tên người có thể có tên tự, tên hiệu: ( Nguyễn Du, tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên). Quy định chung hiện nay là viết hoa con chữ đầu âm tiết của từ chỉ họ, chỉ tên, chỉ giới tính, chỉ tên tự, tên hiệu. Thí dụ: Tôn Thất Bách Nguyễn Thị Minh Khai 2.6 Viết hoa tên địa lí, tên các tổ chức chính trị -xã hội, hiệp hội Địa danh có thể là một từ do một âm tiết tạo thành (Huế, Vinh ) có thể hai hoặc nhiều hơn hai âm tiết tạo thành (Hà Nội, Điện Biên Phủ. ). Có những từ ghép chỉ địa danh liên kết (Cao - Bắc - Lạng, Thanh - Nghệ - Tĩnh, Thừa Thiên - Huế ) thì cần viết con chữ đầu của các âm tiết và giữa các tên địa lí có dấu gạch ngang. Tên các tổ chức hành chính, hiệp hội Thí dụ: Hội phật giáo. Hội cựu chiến binh. Ngân hàng thương mại Việt Nam. 99
  29. Nhưng, để thể hiện sự trang trọng, có thể viết hoa các con chữ đầu âm tiết của một từ ghép trong tên gọi của một tổ chức. Thí dụ: Hội Phật giáo. Hội Cựu chiến binh. Ngân hàng Thương mại Việt Nam. Hoặc viết hoa con chữ đầu` âm tiết của một từ thông dụng nhưng được dùng với nghĩa kính trọng. Thí dụ: Bàn tay con nắm tay Cha Bàn tay Bác ấm vào da vào lòng. Tổng thống nước Cộng hòa Pháp cùng Phu nhân sang thăm hữu nghị chính thức nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2.7. Viết hoa tên các ấn phẩm sách, báo, văn kiện, tạp chí Tên các ấn phẩm như tên sách, tên báo, tên tạp chí, văn kiện được in trên các bìa sách hoặc trang báo phụ thuộc vào kiểu con chữ, hoa văn màu sắc mà người trình bày tùy chọn không có những quy định bắt buộc. Thí dụ: -Tên báo: Nhân Dân, Hà nội mới, Quân đội nhân dân, phụ nữ Việt Nam -Tên tạp chí: Hoa Học trò, Quê hương, Tuổi trẻ Hạnh phúc -Tên sách: Tên sách cũng có cách trình bày tương tự như trên. Tên gọi văn kiện thường dùng con chữ in hoa chân phương: BÁO CÁO CHÍNH TRỊ CỦA BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TẠI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG LẦN THỨ VIII. Cần lưu ý: nếu trong văn bản viết tay, hoặc văn bản in có đề cập đến tên gọi các tác phẩm, sách, báo, văn kiện thì cách viết hoa (hoặc in hoa) như sau: - Tên người, địa danh, tên triều đại dùng làm tên gọi của các tác ph ẩm thì viết hoa tên người, địa danh, tên triều đại đó. 100
  30. Thí dụ: Hồ Chí Minh toàn tập Hậu Hán thư. Tam Quốc chí. Nghệ An kí. - Nếu trong câu đề cập đến tên tác phẩm, tác giả trong dấu ngoặc kép, thì chỉ viết hoa con chữ đầu của âm tiết tạo từ, hoặc cụm từ chỉ tên tác phẩm đó. Thí dụ: Trong tác phẩm "Dấu chân người lính", nhà văn Nguyễn Minh Châu đã khắc họa rõ nét những đức tính cao đẹp của anh bộ đội Cụ Hồ. 2.8 Viết hoa tên người, địa danh, tổ chức tiếng nước ngoài phiên âm ra tiếng Việt. Việc phiên âm tên người, địa danh, tên tổ chức nước ngoài ra tiếng Việt chủ yếu dựa vào cách phát âm và ghi lại cách phát âm đó bằng con chữ tiếng Việt. Người ta chỉ viết hoa con chữ đầu âm tiết của từ (giữa các âm tiết có thể dùng gạch nối). Thí dụ: Putin (hoặc Pu-tin) Italya (hoặc I - ta - li - a) V.I.Lênin (hoặc Lê-nin) Matxcơva (hoặc Mát - xcơ-va) Phơriđrich Ăngghen (hoặc Phơ - ri - đrích Ăng-ghen) Hiện nay việc phiên âm tiếng nước ngoài ra tiếng Việt và ghi lại bằng con chữ tiếng Việt đang là vấn đề chưa được giải quyết; chẳng hạn khi phiên âm có thể viết liền các âm tiết (Italia, Mianma ) mà cũng có thể ngăn cách các âm tiết bằng dấu gạch nối. Thí dụ: Chủ tịch Quốc hội tiếp đại sứ Mi - an - ma. 3. Văn bản của Văn phòng Chính phủ quy định về việc viết hoa trong văn bản hành chính (Xem phụ lục Tr.136) 101
  31. 4. Quy tắc phiên âm tiếng nước ngoài. Trong các văn bản khoa học chúng ta thường gặp các tên riêng nước ngoài và các thuật ngữ quốc tế. Có ba cách xử lí các từ ngữ này, phụ thuộc vào loại hình văn bản trong đó chúng xuật hiện: để nguyên dạng, chuyển tự hoặc phiên âm. 4.1 Cách viết nguyên dạng được dùng trong các sách báo, tạp chí chuyên môn, trong các tiểu luận, luận văn đại học và sau đại học. Chẳng hạn, theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong thư mục của luận văn sau đại học, chữ Nga, chữ Trung Quốc, chữ Thái đều phải để nguyên dạng, không dịch. 4.2. Cách chuyển tự (chuyển từ các chữ cái tiếng nước ngoài thành chữ cái Việt Nam) cũng được dùng trong các văn bản chuyên môn. Khi chuyển tự ta viết liền cả từ, không có gạch nối giữa các âm tiết và cũng không đánh dấu thanh. 4.3. Cách phiên âm được dùng trong các sách báo phổ cập. Khi phiên âm cần viết rời từng âm tiết, giữa các âm tiết trong cùng một bộ phận có gạch nối, các âm tiết không đánh dấu thanh. Thí dụ: Xanh Pê-tec-bua, Na-pô-lê-ông Bô-na-pac, Vla-đi-mia I-lich- Lê -nin Nếu chữ viết trong nguyên ngữ dùng thuộc hệ La -tinh thì giữ nguyên dạng như trong nguyên ngữ, có thể giản lược các dấu phụ nếu thấy cần thiết (như các dấu phụ trong õ, ẽ, .). Nếu chữ viết nguyên ngữ không thuộc hệ chữ La -tinh thì dùng lối chuyển tự được quy ước sang chữ cái la -tinh. Chú ý: - Tên sông, núi v.v không thuộc riêng một nước nào và tên các tổ chức quốc tế thì viết theo dạng chữ thống nhất và phổ bi ến nhất trên thế giới (kể cả tên viết tắt, nếu có), Thí dụ: Mekong, UNESCO, Himalaya Nhưng 102
  32. nếu là tên có ý nghĩa và thường được dịch nghĩa thì viết theo lối dịch nghĩa, Thí dụ: Biển Đen (hay Hắc Hải), Liên Hợp Quốc - Một số tên riêng, nhất là tên đất, t ên nhân vật lịch sử đã quen dùng từ lâu thì nói chung, giữ nguyên cách gọi cũ, Thí dụ: Pháp, Đức, Hy Lạp, Thích Ca - Trong các sách giáo khoa ở các lớp dưới, có thể áp dụng đồng thời hai cách tên riêng nước ngoài: viết nguyên dạng (hoặc chuyển tự) và phi ên âm - đặt trong ngoặc đơn, Thí dụ: Shakespeare (Sêch -xpia), Curie (Quy-ri), Tchaikovskiy (Chai-cốp-xki) . B. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG DÙNG TỪ I. Những yêu cầu chung của việc dùng từ trong văn bản Lựa chọn và sử dụng từ, ngữ trong văn bản cần phải dựa trên những cơ sở thống nhất, những cơ sở tạo điều kiện cho việc giao tiếp đạt hiệu quả. Cơ sở của việc lựa chọn đó chính là yêu cầu của việc dùng từ trong văn bản. Từ, ngữ sử dụng trong văn bản cần phải bảo đảm các yêu cầu cơ bản sau: 1. Dùng từ phải đúng về âm thanh và hình thức cấu tạo Từ là đơn vị hai mặt: nội dung và hình thức. Nói đến từ, trước hết phải nói tới mặt âm thanh và hình thức cấu tạo. Tiếng Việt là một ngôn ngữ không biến đổi hình thái. Vì vậy, hình thức của từ cũng mang tính cố định, bất biến ở mọi vị trí. Khi sử dụng từ ngữ, điều đầu tiên chúng ta phải đảm bảo là phải đúng về âm thanh và cấu tạo mà xã hội công nhận. Việc dùng từ không đúng về mặt hình thức sẽ làm cho người nghe, người đọc không hiểu hoặc hiểu sai nội dung thông tin cần truyền đạt Thí dụ: Không nói Cần nói Kìm chế Kiềm chế Bửn thỉu Bẩn thỉu Tiểu số Thiểu số 103
  33. Góa phụ Quả phụ Nhận chức Nhậm chức Cấu kết Câu kết Tiệt chủng Tuyệt chủng Mối liên hệ giữa hình thức và nội dung ý nghĩa của từ mang tính quy ước. Trong việc sử dụng từ ngữ, một mặt cần tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu sử dụng từ đúng âm thanh và hình thức cấu tạo, song lại tránh cách dùng cứng nhắc, máy móc. Hoàn toàn được phép sáng tạo, uyển chuyển trong dùng từ. Thí dụ: Tiếng Việt rất coi trọng phương thức trật tự từ, nhưng trong thực tế sử dụng vẫn cho phép đảo trật tự các thành tố cấu tạo từ mà nghĩa của từ lại không thay đổi, như cay đắng - đắng cay, đợi chờ - chờ đợi . Hoặc tách rời các hình vị để tạo ra những kết cấu mới, như ăn mặc sung sướng - ăn sung mặc sướng . Dùng từ đúng về âm thanh và hình thức cấu tạo còn được hiểu là khi nói cần phát âm chuẩn. 2. Dùng từ phải đúng về nghĩa Ý nghĩa của từ là một trong hai mặt của từ, được cộng đồng xã hội thừa nhận và sử dụng trong giao tiếp hàng ngày. Thông thường các ý nghĩa này được ghi lại trong các từ điển giải thích. Khi sử dụng từ ngữ, cần bảo đảm đúng các mặt sau: - Chỉ đúng hiện thực khách quan (sự việc, sự vật, hành động, tính chất) cần nói tới. - Biểu thị đúng khái niệm cần diễn đạt. - Phản ánh đúng thái độ, tình cảm của người viết, người nói đối với hiện thực khách quan, đối với người đọc văn bản. Nói cách khác, dùng từ phải đúng cả về nghĩa biểu vật và đúng cả về nghĩa biểu thái. Từ có nghĩa gốc và có cả nghĩa chuyển (còn gọi là nghĩa phái sinh). Sử dụng từ t heo nghĩa chuyển cần dựa trên nghĩa gốc của từ. 3. Dùng từ phải đúng quan hệ kết hợp. 104
  34. Từ là đơn vị tạo câu. Khi tham gia vào câu, từ không chỉ có hình thức và ý nghĩa mà còn có những đặc điểm ngữ pháp nữa. Đối với tiếng Việt, đặc điểm ngữ pháp của từ thể hiện rõ nhất ở khả năng kết hợp, chức năng ngữ pháp của từ trong câu. Khi cho các từ kết hợp với nhau, bố trí từ đảm nhận một chức năng ngữ pháp nào đó trong câu, cần phải tính toán và tuân theo các đặc điểm ngữ pháp của từ. Từ được coi là dùng đúng về q uan hệ kết hợp cần: - Phải phù hợp với những từ khác trong câu Thí dụ: Do lượng mưa năm nay kéo dài nên vụ mùa đã bị thiệt hại nặng nề. - Được sắp xếp đúng vị trí. Thí dụ: Những văn bản về việc phòng chống dịch bệnh mùa hè của Bộ Y tế đã được triển khai thực hiện đồng bộ trong cả nước là một câu sắp xếp từ ngữ không đúng về trật tự. Cần viết: Những văn bản của Bộ Y tế về việc phòng chống dịch bệnh mùa hè đã được triển khai thực hiện đồng bộ trong cả nước. - Dùng quan hệ từ đúng. Thí dụ: Quy chế làm việc Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội là một câu dùng thiếu quan hệ từ nên dẫn đến sai về quan hệ ngữ pháp. Cần viết: Quy chế làm việc của Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội 4. Dùng từ phải phù hợp với phong cách chức năng. Tiếng Việt có nhiều phong cách ngôn ngữ, mỗi phong cách thường có một yêu cầu khác nhau về sử dụng các phương tiện ngôn ngữ. Trong từ vựng, đại đa số các từ là từ đa phong cách (từ được sử dụng trong nhiều phong cách) nhưng có một số từ chuyên dụng cho một hoặc một số phong cách chức năn g nhất định. Trong văn bản hành chính thường có lớp từ ngữ hành chính với tính chính xác, khuôn mẫu và trang trọng. Thí dụ: nay ban hành, trân trọng đề nghị, nghiêm cấm, bãi bỏ, đình chỉ Văn bản khoa học lại có nhiều thuật ngữ khoa học tương ứng với các ngành khoa học nhất định. Thí dụ: giao thoa, điện trở, gen trội; âm tiết, ngữ cố định, trạng ngữ 105
  35. Việc dùng từ không đúng với phong cách chức năng của văn bản sẽ lảm giảm hiệu quả tác động của văn bản. Thí dụ: Trong phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc, nhờ tai mắt của quần chúng, các tội phạm buôn bán ma túy đã được quét sạch. II. Sử dụng từ Hán Việt 1. Khái niệm từ Hán Việt: - Theo cách hiểu thông thường: Từ Hán Việt là những từ gốc Hán, được phát âm theo âm Hán Việt, là sản phẩm Việt hóa các yếu tố gốc Hán. - Với tư cách là một thuật ngữ ngôn ngữ học: Từ Hán Việt là những từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán, đã nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt, còn gọi là từ Việt gố c Hán. 2. Lỗi thường gặp trong sử dụng từ Hán Việt. 2.1 Lỗi về cấu tạo từ Tiếng Việt là một ngôn ngữ không biến hình từ và từ Hán Việt cũng mang đặc điểm này. Trong quá trình sử dụng, phải lưu ý dùng đúng về mặt âm thanh và cấu tạo từ đã được cộng đồng quy ước. Để tránh lỗi về cấu tạo từ, cần tránh: - Tự cải biến cấu tạo của từ Các biện pháp Việt hóa từ ngữ gốc Hán đều tạo ra một số lượng hữu hạn từ Hán Việt và các từ Hán Việt rất ổn định về mặt cấu tạo. Việc tự ý thay đổi cấu trúc từ sẽ dẫn đến sự sai lệch cả về cấu trúc lẫn ngữ nghĩa. Thí dụ 1. Trên một tờ báo của ngành truyền thông đại chúng có một câu như sau: Đây là một sản phẩm gốm nung có các văn hoa sặc sỡ. Văn hoa xuất hiện ở câu này không đúng chỗ, vì văn hoa và hoa văn tuy đảo vị trí các âm tiết như chức viên với viên chức nhưng nghĩa của chúng lại hoàn toàn khác nhau. Hoa văn là hình trang trí có tính đặc thù của các dân tộc người, thường vẽ, dệt, khắc, chạm trên đồ vật: hoa văn trống đồng, hoa 106
  36. văn trên thổ cẩm của người Thái; còn văn hoa có nghĩa "văn vẻ, hoa mĩ", thí dụ như: lời lẽ văn hoa. Như vậy, trong câu trích dẫn trên kia, nên dùng hoa văn sẽ đúng hơn. Qua câu văn được trích dẫn, có thể đưa ra một vài nhận xét liên quan đến vấn đề Việt hóa từ ngữ Hán vay mượn và vấn đề dùng cho đúng từ Hán Việt như sau: Như chúng ta đều đã biết, một trong những biện pháp Việt hóa từ ngữ Hán được vay mượn là đảo vị trí các yếu tố tạo thành từ ghép song âm tiết, (nhưng vẫn giữ nguyên ý nghĩa) thí dụ như: lệ ngoại (H)/ ngoại lệ (V), động dao (H)/ dao động (V), cứu cấp (H)/ cấp cứu, chức viên (H)/ viên chức (V), nội hướng (H)/ hướng nội (V), ngoại hướng (H)/ hướng ngoại (V), cải hoán (H)/ hoán cải (V), trừ ngoại (H)/ ngoại trừ (V), khai triển (H)/ triển khai (V) v.v Nhưng, sự thay đổi này cũng có giới hạ n và cần lưu ý đến những trường hợp đảo vị trí sẽ dẫn đến những ý nghĩa khác, hoặc một từ khác, kiểu như: vãng lai khác lai vãng. - Tự tạo từ Hán Việt bằng cách lắp ghép Tạo ra từ mới là việc làm cần thiết để phát triển vốn từ. Tuy nhiên, từ mới phải được hình thành theo những quy tắc nhất định và phải được cộng đồng sử dụng ngôn ngữ chấp nhận. Thí dụ: Tác quyền là một từ mới được hình thành trên cơ sở kết hợp nghĩa của hai từ tác giả và quyền. Tác quyền có nghĩa là "quyền tác giả". hoặc vốn pháp định là một từ được hình thành trên cơ sở nghĩa của 3 từ: vốn, pháp luật, quy định. Trong thực tế, có nhiều tổ hợp từ được hình thành theo kiểu lắp ghép và kết quả là không được chấp nhận khi sử dụng. Thí dụ: Trong hệ thống từ Hán Việt, có nhiều từ được cấu tạo theo dạng Đa + x, Thí dụ như: đa tài, đa tình, đa sầu, đa cảm, đa thê, đa hệ với đa có nghĩa là "nhiều". Tuy nhiên, không phải bất cứ sự kết hợp nào của đa với một yếu tố khác cũng có thể chấp nhận được. Chẳng hạn có người viết Bà chủ quán là 107
  37. một người đa chồng thì đa chồng là một sự kết hợp sai, là một sự lắp ghép không được chấp nhận, nó là một sự lắp ghép không cần thiết, chỉ làm cho tiếng Việt thêm mù mờ, tối nghĩa. Trong trường hợp này chỉ có thể dùng cụm từ thuần Việt lắm chồng, nhiều chồng. Còn từ Hán Việt tương đương đa phu chỉ được dùng trong ngành Nhân loại học văn hóa, không được dùng trong trường hợp chỉ một người cụ thể. - Không nắm rõ hình thức vốn có của từ. Mỗi từ Hán Việt thường có một hình thức cấu tạo nhất định. Tuy nhiên, khi sử dụng có từ bị đọc nhầm âm. Thí dụ: Tham quan thường bị nhầm thành thăm quan. Tham quan là một từ Hán Việt đã được mượn từ lâu. Trong tiếng Hán, tham có hai nghĩa và được mượn vào tiếng Việt trong hai dãy từ phái sinh khác nhau. Với nghĩa "tham gia", tham có mặt trong các từ Hán Việt: tham chiến, tham chính, tham dự, tham gia, tham luận Với nghĩa "tham khảo", tham có mặt trong : tham bác, tham khảo, tham quan, tham vấn Trong tiếng Việt tham quan có nghĩa "xem nhìn tận nơi để thêm hiểu biết và học hỏi kinh nghiệm". Nghĩa đầy đủ của tham quan không được phản ánh trong thăm quan, vì thăm chỉ là "đến hỏi han, xem xét để biết tình hình". Dùng Thăm quan thay cho tham quan là sai. Và nếu nói: Tổ chức đi tham quan là đúng Tổ chức đi thăm quan là không đúng Hoặc các tổ hợp dưới đây cũng bị coi là sai về mặt hình thức cấu tạo: Liệt vị Đơn phương độc mã Bệnh mãn tính Sáng lạn, sán lạn Hoạch toán Trìu tượng Đảo ngũ 108
  38. - Nhầm lẫn các từ gần âm bàn hoàn - bàng hoàng bàng quang - bàng quan bao biện - ngụy biện 2.2 Lỗi về nghĩa Cũng như từ thuần Việt, nghĩa là một mặt rất quan trọng của từ Hán Việt. Nghĩa này được quy ước và được sử dụng thống nhất trong cộng đồng sử dụng ngôn ngữ. Tuy nhiên, đây là một lớp từ vay mượn bằng nhiều con đường, cách thức khác nhau nên việc hiểu đúng nghĩa của từ để sử dụng lại là một vấn đề còn nhiều khó khăn. Sự nhầm lẫn về nghĩa của từ dẫn đến sử dụng không đúng ngữ cảnh giao tiếp. Thí dụ: Từ cứu cánh có nghĩa là "mục đích", nhưng trên thực tế lại có rất nhiều người dùng với nghĩa " cứu giúp". Vì vậy, có cách dùng: Tập tài liệu này là cứu cánh cho các sinh viên trong kỳ thi. Và cách dùng đó là sai. Cam lai có nghĩa là "ngọt lại", nhưng có người hiểu nghĩa là "cam lai ghép". Chẳng hạn, thơ Bác có viết: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây Phải chăng khổ tận đến ngày cam lai”. thì cam lai ở đây được hiểu là cuộc sống hạnh phúc, sung sướng đã quay trở lại với con người. Hoặc có cách dùng từ bao biện với nghĩa là “dùng những lập luận có vẻ như hợp lí nhưng thật ra là sai lầm để tranh cãi trong một vấn đề” trong câu: Nói như thế là bao biện, sự thật không phải như vậy. Trong khi đó, nghĩa của từ bao biện là “Ôm đồm làm cả việc thuộc phận sự của người khác, khiến người có trách nhiệm không phát huy được sáng kiến”. Ở câu trên, phải dùng từ ngụy biện mới chính xác về nghĩa: “Nói như thế là nguỵ biện, sự thật không phải như vậy.” 109
  39. 2.3. Lỗi về phong cách Từ Hán Việt có tính chất tĩnh, ít gợi hình ảnh, ổn định về nghĩa và đặc biệt có tính trang trọng, nghiêm túc. Do đó, nó phù hợp với các phong cách ngôn ngữ gọt rũa như phong cách ngôn ngữ hành hính, phong cách ngôn ngữ chính luận Riêng đối với phong cách ngôn ngữ sinh hoạt hoặc ngôn ngữ văn chương nghệ thuật, tỉ lệ từ Hán Việt xuất hiện ít hơn vì hai phong cách ngôn ngữ này đòi hỏi từ ngữ cụ thể, sinh động, giàu hình ảnh. Khi sử dụng, nên lưu ý tới đặc điểm này để tránh lỗi. Thí dụ: Trong khẩu ngữ, không nên nói: Họ tương trợ nhau vượt qua khó khăn. Nên nói: Họ giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn Hoặc trong văn bản hành chính lại nên viết: Dự trù kinh phí tổ chức ngày Nhà giáo Việt Nam. mà không nên viết: Dự trù tiền tổ chức ngày Nhà giáo Việt Nam. 3. Một số lưu ý khi sử dụng từ Hán Việt - Dùng từ Hán Việt đúng âm, đúng nghĩa. - Dùng từ đúng phong cách ngôn ngữ. - Tránh lạm dụng từ Hán Việt. - Đối với các cặp từ Hán Việt và thuần Việt đồng nghĩa, cần thấy rằng bên cạnh sự giống nhau, giữa chúng vẫn có 3 điểm khác nhau: + Khác nhau về sắc thái ý nghĩa + Khác nhau về sắc thái biểu cảm + Khác nhau về màu sắc phong cách. - Cần phân biệt để tránh nhầm lẫn giữa các từ Hán Việt gần âm, đồng âm. - Với các từ Hán Việt bị biến nhiều âm đọc khác nhau, cần căn cứ vào từ điển để lựa chọn âm đọc đúng. - Dùng từ Hán Việt đúng hoàn cảnh, đối tượng, nội dung và đích giao tiếp. 110
  40. III. Dùng từ trong văn bản hành chính Xuất phát từ chức năng, vai trò của văn bản trong hoạt động quản lí nhà nước và pháp luật, văn phong của văn bản hành chính - công vụ đòi hỏi đảm bảo tính chính xác, rõ ràng. Nhìn chung, màu sắc trung tính của các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng chủ yếu trong văn bản này. Ngôn ngữ được lựa chọn làm sao để không bị hiểu thành đa nghĩa, đảm bảo tính khách quan, không diễn đạt theo lối biểu cảm; vừa mang tính khuôn mẫu vừa thể hiện sự nhã nhặn, lịch sự, trang trọng. Từ ngữ sử dụng trong văn bản hành chính - công vụ thường có sự quy định chặt chẽ, phổ thông, dễ hiểu và tuân thủ tính thứ bậc trong nền hành chính. Từ ngữ sử dụng trong văn bản hành chính - công vụ có hai dấu hiệu cơ bản, đó là màu sắc tu từ trung tính và tần số sử dụng các phương tiện khuôn mẫu (khuôn sáo hành chính), các thuật ngữ hanh chính rất cao. Đồng thời, các thuật ngữ của văn bản hành chính - công vụ cụ thể hơn, ít trừu tượng hơn so với phong cách khoa học. "Khuôn sáo hành chính" là đơn vị từ vựng hay đơn vị cú pháp luôn luôn được tái hiện, có tương quan với những hoàn cảnh được lặp đi lặp lại với những khái niệm phổ biến và làm cho chúng được biểu đạt dễ dàng. Còn theo tác giả Nguyễn Văn Thâm, những câu, những từ, những cấu trúc được dùng lặp đi, lặp lại rất đặc trưng cho văn bản hành chính được gọi là các "từ khóa". Khuôn sáo hành chính đối lập với phương tiện cá nhân tác giả. Đặc điểm của văn bản hành chính - công vụ là sự chiếm ưu thế của khuôn sáo hành chính, của các phương tiện khuôn mẫu và sự tối giảm các phương tiện ngôn ngữ cá nhân tác giả. Trong văn bản hành chính - công vụ, từ ngữ được lựa chọn một cách khắt khe, cẩn trọng bởi tính chính xác, nghiêm túc và hiệu lực pháp lí của văn bản hành chính quy định. 111
  41. Những từ ngữ diễn đạt khái niệm chung chung, mơ hồ, đa nghĩa, mang tính hình ảnh biểu tượng không được phép dùng. Đặc biệt sau văn bản hành chính - công vụ là phương tiện giao tiếp chính thức giữa các cơ quan nhà nước nên từ ngữ phải mang tính phổ thông chuẩn mực, trung tính thuộc văn viết. Không dùng từ thuộc phong cách khẩu ngữ, phong cách văn chương nghệ thuật; tránh sử dụng từ cổ, thận trọng với việc dùng từ mới; không dùng từ địa phương, tiếng lóng, từ tục tĩu vì chúng làm mất đi tính trang trọng, thể chế, pháp quy nghiêm túc của văn bản. Cần sử dụng đúng các thuật ngữ chuyên ngành. Những yêu cầu cụ thể: Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến; mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định; nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định; tất cả ứng với một kiểu nghĩa nhất định. Từ là đơn vị nhỏ nhất để tạo câu. Khi sử dụng từ trong tiếng Việt để hình thành ngôn ngữ văn bản hành chính cần chú ý: 1. Lựa chọn và sử dụng từ đúng ngữ nghĩa Nghĩa của từ là sự phản ánh trong từ một hiện tượng hay sự vật nhất định (đồ vật, tính chất, quan hệ, quá trình v.v.) Nghĩa của từ bao gồm nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp. Nghĩa từ vựng của từ là tương quan của từ với khái niệm tương ứng; là vị trí, sự tương quan ngữ nghĩa của từ đó trong hệ thống nghĩa từ vựng của ngôn ngữ. Nghĩa từ vựng có thể bao gồm nghĩa sự vật (chỉ sự vật, hiện tượng khách quan) và nghĩa biểu thái (biểu thị thái độ, tình cảm của con người). Nghĩa ngữ pháp là các thuộc tính ngữ pháp của từ (từ loại, khả năng kết hợp với các từ loại khác nhau v.v.) 1.1 Dùng đúng nghĩa từ vựng - Cần dùng từ đúng nghĩa từ vựng sao cho từ phải biểu hiện được tính chính xác nội dung cần thể hiện. 112
  42. Thí dụ: "Nhà nước khuyến mại và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân trong việc sử dụng và khai khẩn hợp lí thành phần môi trường" Trong câu này, thay vì "khuyến mại, khai khẩn" phải dùng "khuyến khích, khai thác". Thí dụ: Trong tiếng Việt, các từ phá hại, phá hoại, phá hủy, hủy hoại, hủy diệt v.v. đều có nghĩa là "làm cho hư hỏng, thiệt hại", nhưng ở các mức độ khác nhau. Phá hại là "làm cho hư hại (thường là hoa màu)". Phá hoại là "cố ý làm cho hỏng, cho bị thiệt hại nặng". Phá hủy là "làm cho bị hư hỏng nặng, không dùng được nữa hoặc không còn tồn tại". Hủy hoại là "làm cho hư hỏng, tan nát". Hủy diệt là "diệt hoàn toàn trong một phạm vi rộng lớn". Vì vậy, cần nắm bắt chính xác nghĩa của từ để sử dụng cho đúng với từng trường hợp cụ thể. - Ngôn ngữ thông dụng và dễ hiểu. Hiện nay, có rất nhiều từ đã trở thành từ cổ. Thay và đó là những từ mới vừa thông dụng, dễ hiểu đồng thời làm cho cách diễn đạt mang tính thời sự. Tránh dùng từ cổ trong văn bản hành chính. Thí dụ: Căn cứ Quyết định số Không dùng Chiểu theo Quyết định số Báo cáo quý I, không dùng Báo cáo Tam cá nguyệt thứ nhất - Không dùng từ làm phát sinh cách hiểu đa nghĩa Hiện tượng từ đa nghĩa rất phổ biến trong tiếng Việt. Nếu dùng từ đa nghĩa có thể làm mất tính chính xác của văn bản, tạo ra những cách hiểu không thống nhất đối với văn bản. Thí dụ: Đề nghị các gia đình có người ở đến Trụ sở Công an Phường đăng kí tạm trú. 113
  43. Cách dùng từ người ở dễ phát sinh cách hiểu khác là "người sống trong các gia đình". Cần dùng từ người giúp việc sẽ chính xác về thông tin. Hoặc "Phải xử phạt đối với những hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ những quy định về đăng ký hộ khẩu khi thay đổi nơi ăn ở". Trong câu này, từ "ăn ở" dùng không chính xác, dễ làm phát sinh các cách hiểu khác nhau, cần thay bằng từ "cư trú". - Không sử dụng từ ngữ mang sắc thái văn chương, gợi hình ảnh: Thí dụ: Chúng ta phải nhanh chóng nghiêng nước ra biển, cứu vãn mùa màng, sớm ổn định cuộc sống cho nhân dân. - Dùng từ đúng nghĩa biểu thái, phù hợp với phong cách hành chính: Thí dụ: Yêu cầu các đồng chí công an viên đến ngay xóm Trại trói gô cổ mấy thanh niên đang gây rối trật tự về Trụ sở UBND xã để giải quyết. Câu trên, dùng cụm từ trói gô cổ không đúng với tính nghiêm túc của văn bản hành chính. 1.2. Dùng đúng nghĩa ngữ pháp Khi sử dụng từ, cần xác định nó thuộc loại từ nào; với loại từ đó nó có nghĩa như thế nào và có thể phối hợp với những loại từ nào trong cùng một câu; vị trí của nó trong câu v.v. Nếu sử dụng không đúng nghĩa ngữ pháp của từ có thể làm cho câu bị tối nghĩa hoặc bị hiểu theo nội dung khác với ý đồ của người soạn thảo. Cần lưu ý: + Để tạo nên câu và những đơn vị của câu, các từ được sử dụng luôn quan hệ với nhau về nghĩa và ngữ pháp, tùy thuộc vào khả năng kết hợp của chúng. Khả năng kết hợp này do bản chất ngữ nghĩa, ngữ pháp của từ quy định. Cần nắm bắt điều đó để sử dụng từ cho đúng. Thí dụ: "Lượng mưa năm nay kéo dài nên úng lụt xảy ra ở nhiều địa phương". Trong câu này "lượng mưa" không thể kết hợp với "kéo dài", mà chỉ có thể kết hợp với "lớn", "nhỏ"; "kéo dài" không thể kết hợp với "lượng mưa" mà chỉ phù hợp với "mùa mưa". 114
  44. + Phải có từ quan hệ thích hợp trong câu Thí dụ: “Quy chế làm việc Trường ĐHSP Hà Nội” là một câu sai vì thiếu quan hệ từ “của”. Phải viết: “Quy chế làm việc của Trường ĐHSP Hà Nội.” Thí dụ: Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm thực hiện" là một câu thiếu quan hệ từ "cho" + Sắp xếp từ trong câu phải đúng trật tự Thí dụ: Thời gian qua, những văn bản về việc phòng chống tiêu cực trong thi cử của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã được các cơ sở đào tạo thực hiện nghiêm túc. Câu trên sắp xếp như vậy sẽ mơ hồ về nghĩa. Cần sắp xếp lại: Thời gian qua, những văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc phòng chống tiêu cực trong thi cử đã được các cơ sở đào tạo thực hiện nghiêm túc. + Một biểu hiện khác của việc dùng từ đúng ngữ pháp, đúng quan hệ kết hợp là không dùng lặp từ, thừa từ. Thí dụ: "Cải cách thủ tục hành chính là nhu cầu đòi hỏi cấp bách đang được thực tiễn đặt ra". Hay: "Những thiệt hại do nạn ô nhiễm môi trường gây ra là rất nghiêm trọng, không thể xác định cụ thể bằng các số liệu hay con số cụ thể". Là những câu dùng thừa từ. 2. Sử dụng từ đúng phong cách chức năng. (Sử dụng từ đúng văn phong hành chính công vụ) - Sử dụng đúng văn phong hành chính công vụ là lựa chọn, sử dụng từ đúng với kiểu thể loại văn phong hành chính, với hoàn cảnh giao tiếp có tính nghi thức. - Sử dụng các lớp từ trong văn bản hành chính: 2.1. Từ trong văn bản hành chính theo nguồn gốc + Trong văn bản hành chính, từ HánViệt được sử dụng phổ biến. 115
  45. Theo thống kê của tác giả bài viết "Tìm hiểu tính chính xác của ngôn ngữ luật pháp tiếng Việt" Nguyến Thế Truyền, tỷ lệ từ Hán - Việt trong văn bản pháp luật khoảng 85%. Sự ưu tiên sử dụng từ HánViệt so với các lớp từ khác do đặc điểm của lớp từ này. - Từ Hán - Việt có tính trang trọng hơn từ thuần Việt tương ứng. Thí dụ: Kết hôn - Lấy nhau Công vụ - Việc công Hành khất - Ăn mày Phụ nữ - Đàn bà - Tính trừu tượng, khái quát: từ Hán Việt biểu thị nhiều nội dung mà trong tiếng Việt tương ứng với một tổ hợp từ Thí dụ: Công chức - Cán bộ Nhà nước Nguyên đơn - Người khởi kiện Lưu ý khi sử dụng: - Không lạm dụng từ Hán Việt mà sử dụng trong trường hợp cần thiết khi không có từ tương ứng hoặc có nhưng tránh từ thông tục nhằm gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt. Thí dụ: Không dùng hỏa xa mà dùng xe lửa Không dùng cự ly mà dùng khoảng cách - Sử dụng từ đúng nghĩa, đúng âm: hiểu rõ nghĩa của nó. (Tra từ điển những từ chưa thật hiểu nghĩa). + Từ thuần Việt: Thông số không cao trong văn bản hành chính đặc biệt trong văn bản quy phạm pháp luật do đặc điểm của từ tiếng Việt có sắc thái biểu cảm trung hòa hoặc khiếm nhã; có màu sắc ý ng hĩa cụ thể; sinh động và dùng ở nhiều phong cách. 116
  46. Văn bản hành chính có thể sử dụng từ thuần Việt thay cho từ Hán Việt nếu từ đó dễ hiểu, đại chúng mà không ảnh hưởng đến tính nghiêm túc khách quan của văn bản hành chính. Thí dụ: “Dự án cải tạo sân bay quốc tế Nội Bài giai đoạn 1” là tên một văn bản hành chính có dùng từ thuần Việt sân bay mà không dùng từ phi trường, văn bản vẫn đảm bảo tính trang trọng, dễ hiểu. + Từ gốc Ấn - Âu . Những từ đã được Việt hóa, (có dấu thanh điệu: cà-phê, xăng .) có thể được sử dụng trong văn bản hành chính. Những từ gốc Ấn - Âu là những thuật ngữ chuyên ngành được sử dụng tương đối rộng rãi trên phạm vi quốc tế có thể sử dụng. Lưu ý: Phiên âm những từ gốc La tinh thì tôn trọng dạng chính tả có tính quốc tế (giữ nguyên dạng) Những từ gốc Ấn - Âu chưa thông dụng thì hạn chế sử dụng nếu cần dùng phải có sự giải thích Thí dụ: barem (biểu điểm) 2.2. Từ trong văn bản hành chính theo phạm vi sử dụng. - Từ toàn dân: Văn bản hành chính sử dụng từ toàn dân (từ phổ thông), nhằ m mục đích: tạo ra cách hiểu thống nhất để thực hiện thống nhất. - Từ địa phương là những từ được sử dụng hạn chế trong một vài địa phương mà không được sử dụng rộng rãi trong phạm vi cả nước. Văn bản hành chính hạn chế dùng từ địa phương vì từ địa phươ ng không phổ biến, có địa phương hiểu, có địa phương không hiểu. Tuy nhiên, văn bản hành chính vẫn phải sử dụng từ địa phương khi có sự thay đổi về phạm vi sử dụng hoặc không có từ toàn dân tương ứng. Sự vật chỉ có ở địa phương đó mà thôi. Thí dụ: Kế hoạch mở rộng rừng đước giai đoạn 1 117
  47. - Tiếng lóng: Là do một, một nhóm người tự đặt ra, tự quy ước với nhau nhằm biểu thị một sự vật, sự việc, hành động nào đó. Không sử dụng tiếng lóng trong văn bản hành chính vì làm mất đi tính nghiêm túc và tính dễ hiểu của văn bản hành chính. Thí dụ: Nghiêm cấm việc tàng trữ và sử dụng trái phép các chất ma túy. Không thể nói . nghiêm cấm tàng trữ và sử dụng cơm đen. - Thuật ngữ khoa học: Là những từ có nội dung là các khái niệm thuộc một lĩnh vực chuyên môn nhất định: khoa học, kĩ thuật, y tế Văn bản hành chính hạn chế sử dụng những thuật ngữ khoa học. Chỉ sử dụng những từ ngữ thông dụng. Nếu cần thiết phải dùng thuật ngữ thì cần có sự giải thích nghĩa một cách rõ ràng. Thí dụ: Văn bản viết hoa của Văn phòng Chính phủ sử dụng thuật ngữ của ngôn ngữ như: từ, âm tiết. 2.3. Từ trong văn bản hành chính theo mục đích sử dụng - Từ vựng tích cực: Từ đang được sử dụng với tần số cao trong một cộng đồng ngôn ngữ. Lớp từ này được văn bản hành chính sử dụng một cách rộng r ãi. Đáp ứng yêu cầu về tính phổ biến của văn bản đảm bảo phát huy hiệu lực của văn bản hành chính. Thí dụ: Nhà nước không kiểm duyệt tác phẩm trước khi xuất bản, trừ trường hợp cần thiết do thủ tướng chính phủ quyết định (Luật Xuất bản) . - Từ vựng tiêu cực: xuất hiện với tần số thấp trong cộng đồng ngôn ngữ nên ít xuất hiện. - Từ cổ: Từ được hình thành trong giai đoạn trước đây nhưng hiện tại đã có từ thay thế. Thí dụ: Chiểu - Căn cứ Ông chủ - Người sử dụng lao động 118
  48. Người làm thuê - Người lao động Văn bản hành chính không được sử dụng từ cổ. - Từ mới: Từ mới được tạo ra đề diễn đạt nội dung mới hoặc diễn đạt một nội dung không mới nhưng bằng cấu trúc khác. Tạo từ mới để diễn đạt những vấn đề mới, hoặc thay thế từ cổ. Thí dụ: "Vốn pháp định" (hình thành từ vốn, pháp luật, quy định) "Người có quyền và lợi ích liên quan " thay thế "người dự sự". - Văn bản hành chính chỉ sử dụng từ mới khi nó được định nghĩa, giải thích một cách rõ ràng (sử dụng trong từ điển tiếng Việt). Không sử dụng khi nghĩa chưa xác định. 2.4. Từ về mặt phong cách chức năng: Có nhiều phong cách ngôn ngữ trong tiếng Việt. + Từ trung hòa. Có những từ ngữ được dùng trong mọi phong cách được gọi là từ đa phong cách (từ trung hòa): Văn bản hành chính được sử dụng những từ nà y. Thí dụ: Hội thẩm có thể được miễn nhiệm vì lí do sức khỏe hoặc vì lí do khác. Hội thẩm bị bãi nhiêm khi có vi phạm về phẩm chất đạo đức, hành vi vi phạm pháp luật không còn xứng đáng làm hội thẩm. + Từ hội thoại. Tránh sử dụng từ hội thoại trong ngôn ngữ văn bản hành chính. (Từ hội thoại được sử dụng trong giao tiếp khẩu ngữ, có tính nôm na, giản dị đôi khi khiếm nhã). Thí dụ: Ăn ở = cư trú Giấy tờ = văn bản Chơi bạc = đánh bạc Lúc này = hiện nay + Từ khoa học: Dùng chủ yếu trong văn bản khoa học. Đối với văn bản hành chính, từ khoa học xuất hiện với một tần số thấp. 119
  49. + Từ báo chí: ít sử dụng (chỉ sử dụng khi đề cập đến những nội dung mang tính chuyên môn). Như Luật Báo chí sử dụng một số từ ngữ báo chí. + Từ hành chính: Văn bản hành chính sử d ụng với tần số cao từ hành chính. Đó là những từ chỉ người theo chức trách, tên cơ quan, tên gọi văn bản quản lí nhà nước; từ khuôn sáo hành chính ( mở đầu, kết thúc, chuyển tiếp) Hoặc từ được dùng một cách đặc biệt; từ chỉ cá nhân (người), pháp nhân (cơ quan, xí nghiệp hoặc tổ chức có quyền lợi và trách nhiêm), phía, bên (người, nhóm người, nhà nước, cơ quan trong quan hệ với người, nhóm người, cơ quan, nhà nước khác) Thí dụ: Cục phòng chống tệ nạn xã hội có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được cấp kinh phí sự nghiệp, được mở tài khoản tại kho bạc Nhà nước. Thí dụ: Trước khi công nhận và đăng kí, ủy ban nhân dân nhắc nhở cho hai bên rõ nghĩa vụ và quyền hạn của vợ chồng như đã quy định trong luật hôn nhân và gia đình. IV. Sử dụng từ viết tắt. Hiện nay có 2 cách viết tắt điển hình: viết các chữ cái đứng đầu các âm tiết trong từ tiếng Việt hoặc viết các chữ cái đứng đầu từ trong tiếng Anh sau khi đã dịch từ tiếng Việt ra tiếng Anh. Trong văn bản quản lí nhà nước, từ viết tắt thường được sử dụng trong một số trường hợp: - Để trình bày một số đề mục hình thức văn bản quản lí nhà nước, như: ký hiệu, chữ ký; - Để trình bày tên cơ quan, tổ chức hoặc một số thuật ngữ chuyên ngành. - Để thể hiện một đơn vị ngôn ngữ được sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần. Muốn sử dụng từ ngữ theo lối viết tắt, cần lưu ý: 120
  50. - Tên cơ quan, tổ chức hoặc tên loại văn bản: Theo hướng dẫn tại Quyết định số 09/1998/QĐ-VPCP ngày 22/11/1998 của Bộ trưởng chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ ban hành Quy định tạm thời về việc viết hoa trong văn bản của Chính phủ và Văn phòng Chính phủ (Phụ lục IV); Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 06/5/2005 của Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ (Phụ lục I) và theo cách viết tắt tị một số văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Thí dụ: ASEAN: Hiệp hội quốc gia các nước Đông Nam Á FAO: Tổ chức Lương thực thế giới và Nông nghiệp Liên hợp quốc. Lt: Luật TT: Thông tư CĐ: Công điện NQLT: Nghị quyết liên tịch - Trường hợp viết tắt các cụm từ được sử dụng nhiều trong văn bản, trước khi viết tắt phải viết đầy đủ cụm từ đó để tránh sự phỏng đoán nghĩa của người thực hiện văn bản. Thí dụ: Hội đồng nhân dân (sau đây xin được viết tắt là HĐND). Truyền hình từ vệ tinh (sau đây viết là TVRO) C. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG ĐẶT CÂU I. Những yêu cầu chung của việc đặt câu 1. Câu xét theo quan hệ hướng nội. - Câu phải được viết đúng quy tắc ngữ pháp tiếng Việt. - Câu phải đúng về nghĩa: + Phản ánh đúng hiên thực khách quan khách quan + Có các vế câu hợp lôgic ngữ nghĩa + Diễn đạt trong sáng + Có thông tin mới 121
  51. - Câu phải được điền dấu câu cho phù hợp với chính tả tiếng Việt và nội dung của câu. 2. Câu xét về quan hệ hướng ngoại. - Câu cần hướng tới chủ đề của văn bản. Đó là cơ sở để tạo tính trọn vẹn về nội dung. - Câu cần phải được hoàn chỉnh về mặt hình thức. - Câu cần được liên kết với nhau hài hòa bởi các phương thức sau đây: + Lặp từ ngữ: "Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1998. Những quy định trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ" + Lặp cấu trúc: "Căn cứ Nghị định số 38/ CP ngày 18-5-1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước; Căn cứ Nghị định số 38/CP ngày 04-6-1993 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Bộ Tư pháp;" + Phương thức thế: "Căn cứ vào quỹ đất đai, đặc điểm và nhu cầu của địa phương, HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định mỗi xã được để lại một quỹ đất không quá 5% đất nông nghiệp để phục vụ cho nhu cầu công ích của địa phương. Chính phủ quy định việc sử dụng đất này". + Phương thức liên tưởng: (+) Liên tưởng đồng loại: "Quốc hội thực hiện quyền quyết định, quyền giám sát tối cao đối với việc quản lí và sử dụng đất đai trong cả nước. Hội đồng nhân dân thực hiện quyền quyết định, quyền giám sát việc quản lí và sử dụng đất đai trong địa phương mình." (+) Liên tưởng bộ phận với toàn thể và ngược lại: 122
  52. "Nghiêm cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma túy khác. Nhà nước quy định chế độ bắt buộc cai nghiện và chữa các bệnh xã hội nguy hiểm". (+) Liên tưởng đối lập: "Nhà nước phát triển công tác thông tin, báo chí, phát thanh, truyền hình, điện ảnh, xuất bản, thư viện và các phương tiện thông tin đại chúng khác. Nghiêm cấm những hoạt động văn hóa, thông tin làm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam''. (+) Liên tưởng nhân quả: '' Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để tham ô, hối lộ hoặc cố ý làm trái pháp luật vì động cơ vụ lợi, gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, tập thể và cá nhân. Người có hành vi tham nhũng phải bị xử lí nghiêm minh theo quy định của pháp luật'' (+) Liên tưởng định vị: ''Tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với tất cả các nước. Ra sức tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong tổ chức ASEAN, không ngừng củng cố quan hệ với các nước bạn bè truyền thống , phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển. Nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Củng cố môi trường hòa bình và tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội". + Phương thức nối: (+) Nối bằng quan hệ từ: 123
  53. "Trong những năm qua, UBND thành phố đã triển khai thực hiện Nghị quyết 06/CP ngày 29-01-1993 của Chính phủ về phòng chống và kiểm soát ma túy. Các ngành, các cấp và các đoàn thể đã có nhiều biện pháp tích cực để ngăn chặn tệ nạn buôn bán, tàng trữ và sử dụng các chất này. Song, do tổ chức triển khai thực hiện chưa chặt chẽ, thiếu biện pháp cương quyết đồng bộ, chưa thống nhất nội dung, nhận thức, chưa có quy trình cai nghiện và chữa trị đúng, công tác tuyên truyền giáo dục chưa sâu rộng nên kết quả đạt được còn rất hạn chế". (+) Nối bằng các từ ngữ có tác dụng chuyển tiếp: "Thực hiện dán tem hàng nhập khẩu là biện pháp tích cực để chống nhập lậu và tiêu thụ hàng nhập lậu. Công tác này có liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân và có các loại hình kinh doanh, lại phải triển khai tr ong thời gian rất ngắn. Do đó, sẽ có nhiều khó khăn, phức tạp. Vì vậy, UBND thành phố yêu cầu các cấp, các ngành cần coi đây là một công tác trọng tâm đột xuất; phải tập chung chỉ đạo sát sao và thống nhất theo yêu cầu của Chỉ thị này và Thông tư số 30/1998/TTLT-BTC-BTM-BNV-TCHQ ngày 16-3-1998 của liên bộ Tài chính - Thương mại - Nội vụ - Tổng cục Hải quan". II. Các loại lỗi câu thường gặp 1. Lỗi về cấu tạo câu 1.1 Thiếu các thành phần nòng cốt của câu Thành phần nòng cốt của câu là thành phần nhất thiết phải có mặt để chuỗi từ ngữ kết hợp với nhau đủ điều kiện trở trành câu, nghĩa là chúng có thể độc lập về nội dung ngữ nghĩa và hoàn chỉnh về hình thức thể hiện. Thành phần nòng cốt của câu gồm: Chủ ngữ, vị ngữ và đôi khi là một số bổ ngữ xuất hiện có tính chất bắt buộc trong câu. Đối với phong cách ngôn ngữ văn chương nghệ thuật hoặc khẩu ngữ, do có sự hỗ trợ của ngữ cảnh và người nghe không cần căn cứ vào đầy đủ thành phần nòng cốt vẫn có thể lĩnh hội trọn vẹn nội dung ý nghĩa của phát ngôn (tức là sự xuất hiện câu tỉnh lược đặt trong một ngữ cảnh cụ thể vẫn có thể thực hiện được hoạt động giao tiếp). 124
  54. Có thể chia kiểu lỗi sai này thành các loại cụ thể như sau: + Câu thiếu chủ ngữ Thí dụ: Ngày càng đạt được nhiều thành tựu về khoa học và kĩ thuật. + Câu thiếu vị ngữ Thí dụ: Thành phố Hồ Chí Minh – Trung tâm kinh tế của cả nước. + Câu thiếu cả chủ ngữ lẫn vị ngữ. Thí dụ: Để đảm bảo trật tự, an toàn xã hội trong dịp Tết Nguyên Đán năm 2007. + Thiếu một vế của câu ghép Câu ghép là loại câu thường được sử dụng trong trường hợp cần trình bày những sự việc có tính độc lập tương đối nhưng lại có sự liên quan mật thiết với nhau. Thành phần của câu ghép ít nhất cũng gồm hai cụm chủ vị nòng cốt, được nối với nhau bằng dấu phẩy hoặc các quan hệ từ. Chính vì cấu tạo ngữ pháp của nó phức tạp như vậy nên người không nắm chắc quy tắc ngữ pháp mắc lỗi viết thiếu vế (thiếu cụm chủ vị nòng cốt) khi khai triển câu. Thí dụ: Mặc dù trong những năm qua Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều văn bản quy định về công tác soạn thảo văn bản hành chính nhằm đưa công tác này đi vào nề nếp. Muốn tránh lỗi người viết cần thận trọng khi sử dụng câu ghép. Nếu các vế câu có khả năng độc lập cao thì có thể bỏ quan hệ từ, tách ra thành các câu đơn; nếu nhất thiết phải dùng câu ghép thì không nên quá sa đà vào việc phát triển các ý phụ của một vế mà bỏ sót các vế khác. 1.2 Sắp xếp sai trật tự từ trong câu Tiếng Việt là một ngôn ngữ không biến hình từ, chức năng ngữ pháp của từ thường do vị trí của chúng trong câu quy định. Trật tự từ là một trong những phương thức ngữ pháp quan trọng của tiếng Việt. Sự thay đổi vị trí của từ trong câu thường kéo theo sự thay đổi về nghĩa của câu. Trong thực tế tạo lập văn bản, rất nhiều trường hợp do đặt sai vị trí 125
  55. của từ trong câu mà dẫn đến hậu quả câu không biểu hiện đúng ý đồ của người viết hoặc câu trở thành đa nghĩa hay tối nghĩa. Thí dụ: Phong trào bảo vệ thiên nhiên trong các nhà trường phổ thông đã dược phát động ngay từ đầu năm học. hoặc Năm 2006, những văn bản về phòng chống tệ nạn xã hội của Chính phủ đã được các Bộ, ngành, địa phương tích cực thực hiện. Đối với văn bản hành chính, văn bản khoa học thì càng phải cẩn trọng trong việc sắp xếp trật tự từ trong câu. 1.3 Dùng sai cặp từ quan hệ trong câu ghép Trong câu ghép, thường dùng một số cặp quan hệ từ tiêu biểu để biểu thị quan hệ ngữ nghĩa: + Quan hệ nguyên nhân - kết quả: Vì nên, do cho nên, chỉ vì thành thử. + Quan hệ tương ứng: Bao nhiêu bấy nhiêu, càng càng, sao vậy. + Quan hệ tương phản: Tuy nhưng, mặc dù vẫn, dù song. v.v. Trong khi viết câu, có nhiều người đã không sử dụng đúng các cặp từ quan hệ với những quan hệ ngữ nghĩa tương ứng kể trên. Thí dụ: Mặc dù đã được tỉnh đầu tư, hỗ trợ vốn, các doanh nghiệp đã hoàn thành vượt mức kế hoạch năm 2007. Những trường hợp viết câu như vậy khiến câu văn trở nên ngô nghê, gây ức chế cho người tiếp nhận và tất nhiên ảnh hưởng đến hiệu quả tác động của văn bản. 2. Sử dụng câu sai phong cách ngôn ngữ. Có nhiều phong cách chức năng của hoạt động lời nói: Mỗi phong cách ngôn ngữ có một yêu cầu riêng về cách sử dụng từ ngữ và đặt câu. Đa số các kiểu câu đều có thể được dùng để kiến tạo văn bản. Tuy nhiên có một số loại phong cách ngôn ngữ chỉ thích hợp với loại câu này mà không thích hợp với loại câu khác. 126
  56. Chẳng hạn, phong cách ngôn ngữ hành chính công vụ ưu tiên sử dụng câu tường thuật và câu cầu khiến; không sử dụng câu nghi vấn và rất hãn hữu sử dụng câu cảm thán. Thí dụ: Chúng ta phải nhanh chóng nghiêng nước ra biển, cứu vãn mùa màng, ổn định đời sống cho nhân dân. (Chỉ thị v/v phòng chống bão lụt) 3. Các lỗi về dấu câu. Tiếng Việt có 11 loại dấu câu với các chức năng khác nhau và ở các vị trí khác nhau. Lỗi về câu chính là những trường hợp sử dụng dấu câu không đúng vị trí và chức năng vốn có của nó. Thí dụ: Bộ đội ta tấn công vào đồn địch tổn thất nhiều. 4. Lỗi về nghĩa - Phản ánh sai hiện thực khách quan Thí dụ: Chính phủ là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. - Câu viết không hợp tư duy của người Việt Thí dụ: Báo cáo tổng kết năm đang được hoàn chỉnh bởi Phòng HCTC. - Câu không có thông tin mới Thí dụ: Văn phòng UBND xin thông báo hôm nay không có gì để thông báo. - Quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành phần không hợp lôgic. Thí dụ: Trong thanh niên nói chung, trong bóng đá nói riêng, chúng ta đã đạt được nhiều thành tích đáng kể. 127
  57. BÀI TẬP THỰC HÀNH Bài 1. Khi chép lại phần văn bản sau, đã có người nhầm lẫn về chính tả. Hãy sửa lại cho đúng. Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định, bãi bỏ hoặc đình trỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ Văn bản Quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân cấp Tỉnh trái hiến pháp, luật và các Văn bản Quy phạm pháp luật của Cơ quan nhà nước cấp trên; xem xét, quyết định đình trỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ Nghị quyết của hội đồng nhân dân cấp tỉnh trái hiến pháp, luật và các Văn bản Quy phạm pháp luật của Cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị ủy ban Thường vụ quốc hội bãi bỏ. Bài 2. Chữa lỗi sai về viết hoa trong phần văn bản sau đây cho đúng với nguyên bản. Các cơ quan, tổ chức dưới đây được dùng con dấu có quốc huy: - Chủ tịch Nước,Văn phòng Chủ tịch Nước. - Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chủ tịch Quốc hội, Hội đồng dân tộc của quốc hội, các ủy ban của Quốc hội, văn phòng Quốc hội. - Tòa án Nhân dân các Cấp và các tòa án khác; cơ quan thi hành án các cấp. - Viện kiểm sát nhân dân các cấp. - Chính phủ, các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan có chức năng quản lí nhà nước thuộc Chính phủ. - Hội đồng Nhân dân, ỦY ban Nhân dân các cấp. - Phòng công chứng nhà nước các Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung Ương. - Đoàn Đại biểu Quốc hội các Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. - Các cơ quan đại diện ngoại giao, các cơ quan lãnh sự, các cơ quan đại diện và các cơ quan đại diện khác của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài. 128
  58. - Các cơ quan thường xuyên làm công tác đối ngoại với nước ngoài thuộc Bộ ngoại giao, sở ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh. (Nghị định của Chính Phủ quy định về việc quản lí và sử dụng con dấu). Bài 3. Nhận xét về cách viết hoa trong phần văn bản sau, chỉ ra những trường hợp viết hoa không đúng theo quy định của Văn phòng Chính phủ. Điều 36: Thành phần hội đồng đánh giá hồ sơ, tài liệu lưu trữ quy định như sau: a/ Ở cơ quan trung ương gồm có: - Chánh văn phòng đại diện Bộ trưởng, thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc hội đồng Chính phủ hoặc thủ trưởng các đoàn thể nhân dân: Chủ tọa. - Đại diện của cơ quan có hồ sơ, tài liệu lưu trữ: ủy viên. Đối với các loại hồ sơ có tính chất đặc biệt quan trọng thì chủ tịch Hội đồng đánh giá phải thỉnh thị Phủ thủ tướng (nếu là cơ quan trung ương) hoặc ủy ban Hành chính Khu, Tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương (nếu là cơ quan địa phương)." Bài 4. Chữa lỗi viết hoa trong phần văn bản sau để đúng với nguyên bản. Hệ thống Văn bản Quy phạm pháp luật bao gồm: 1/ Văn bản do quốc hội ban hành: Hiến pháp, Luật, Nghị quyết. Văn bản do ủy ban Thường vụ quốc hội ban hành: Pháp lệnh, Nghị quyết. 2/ Văn bản do các Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác ở trung ương ban hành để thi hành Văn bản Quy phạm pháp luật của quốc hội, ủy ban thường vụ quốc hội: a) Lệnh, Quyết định của chủ tịch Nước; b) Nghị quyết, Nghị định của Chính Phủ; Quyết định, Chỉ thị của thủ tướng Chính phủ; 129
  59. c) Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ; d) Nghị quyết của hội đồng Thẩm phán tòa án Nhân dân tối cao; Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao . đ) Nghị quyết, Thông tư Liên tịch giữa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, giữa cơ quan Nhà nước với tổ chức chính trị - xã hội; 3/ Văn bản do hội đồng nhân dân ủy ban Nhân dân ban hành để thi hành Văn bản Quy phạm pháp luật của quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội và Văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên; văn bản do ủy ban nhân dân ban hành để thi hành Nghị quyết của hội đồng Nhân dân cùng cấp: a) Nghị quyết của hội đồng Nhân dân; b) Quyết định, Chỉ thị của ủy ban nhân dân. Bài 5. Những từ gạch chân sau đây dùng đúng hay sai? Chữa lại những từ dùng sai. 1. Doanh nghiệp nhà nước chịu trách nhiệm về tính xác thực và hơp lí của các hành động tài chính như quản lí vốn, tài sản 2. Người nào lợi dụng chức vụ, uy quyền trong hoạt động giao thông đường bộ để gây phiền hà, hoạch sách, nhận quà biếu thì tùy theo bản chất, mức độ vi phạm mà bị sử lí kỷ luật hoặc bị truy tố nhiệm vụ hình sự. 3. Chủ chương đổi mới của Nhà nước đã tạo ra những điều kiện thuận tiện cho các nhà doanh nhân nước ngoài đưa tiền vào Việt Nam. Bài 6. Điền từ thích hợp vào chỗ trống. 1. Công dân có tố cáo những hành chính của tổ chức, cá nhân và những của người có xử phạt hành chính với cơ quan nhà nước có Cho các từ sau: Quyền hành Phạm vi Quyền lợi Vi phạm Quyền hạn Trách nhiệm 130
  60. Thẩm quyền Quyền Quyết định Sai phạm 2. Người nào phát hiện đường bộ bị hư hỏng hoặc bị , hành lang an toàn bị phải kịp thời báo cho chính quyền địa phương, cơ quan đường bộ hoặc cơ quan công an nơi gần nhất để , trong trường hợp , có báo hiệu ngay cho người giao thông biết. Cho các từ sau: Giao thông Công trình Xâm lấn Cấp thiết Cần thiết Phương pháp Lấn chiếm Điều khiển Quản lí Xâm hại Điều hành Thường trực Biện pháp Xử lí Tín hiệu Giải quyết Tham gia Phụ trách Xử phạt Bài 7. Tìm những từ Hán Việt đồng nghĩa với những từ, cụm từ thuần Việt sau: Ép buộc Trưng bày Tiền Cách làm Giữ gìn Nhà ở của sinh viên Hàng ngày Xây dựng Mẹ vợ Ba tháng Ngả nghiêng Cha đẻ Bài 8. Những từ gạch chân sau đây dùng đúng hay sai: 1. Các cách áp dụng để tổ chức lại danh nghiệp bao gồm: Sát nhập vào doanh nghiệp nhà nước khác; chia tách danh nghiệp nhà nước cho hợp pháp với chức trách, nhiệm vụ và quy mô mới 2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền phạt cảnh cáo, tịch thu tang chứng, đồ dùng được sử dụng để vi phạm hành chính. 3. Công ti tài chính là danh nghiệp thành viên hoạch toán độc lập của tổng công ti. 131
  61. 4. Danh nghiệp nhà nước phải mở rộng phạm vi kinh doanh theo khả năng của danh nghiệp và yêu cầu của thị trường. Bài 9. Những kết hợp từ sau đây có đúng không? Tại sao? Trước tiên Tái tạo lại Nghĩa cử đẹp Đại quy mô lớn Ngày sinh nhật Tất cả mọi người ai nấy đều vui vẻ Tối ưu nhất Chưa vị thành niên Hoàn thành xong Cấm không được vi phạm các danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử. Tạm ngừng cấp điện trong 02 ngày để sửa chữa đường dây Tạm ngừng cắt điện trong 02 ngày đế sửa chữa đường dây Bài 10. Những từ gạch chân dưới đây dùng đúng hay sai chữa lại những trường hợp dùng từ sai. 1. Nhà thầu xây dựng chỉ được phép nhận thầu thi hành những công trình thực hiện đúng thủ tục đầu tư và xây dựng, phù hợp với năng lực của mình; thi hành đúng thiết kế được duyệt; ứng dụng đúng các tiêu chí kĩ thuật đã được quy định và chịu sự giám soát, kiểm soát thường xuyên về chất lượng công trình của chủ đầu tư, tổ chức thiết kế và cơ quan dám định Nhà nước theo phân cấp quản lí chất lượng công trình xây lắp. 2. Các dự án sản xuất kinh doanh của tư nhân, tổ chức kinh tế không thuộc doanh nghiệp Nhà nước, chủ đầu tư tự chịu trách nhiệm về hậu quả kinh doanh. Việc kinh doanh phải theo quy định của pháp luật. Nếu dự án có xây dựng, chủ đầu tư phải lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền để cấp giấy phép xây dựng theo quy định của Quy chế này. 132
  62. Bài 11. Đánh dấu (x) vào những từ đúng. (nghe) phong phanh tiền tuyến nghe) phong thanh tuyền tuyến (bệnh) mạn tính giám sát (bệnh) mãn tính giám soát đảo ngũ sáng lạn đào ngũ xán lạn nhậm chức danh nghiệp nhận chức doanh nghiệp khẳng định hoạch toán khảng định hạch toán trìu tượng quả phụ trừu tượng góa phụ tham quan (Viện) kiểm soát thăm quan (Viện) kiểm sát khúc chiết góa bụa khúc triết góa phụ sáp nhập liệt vị sát nhập việt vị vu oan giá họa tiệt chủng tiểu số tuyệt chủng thiểu số liên hợp quốc thỏa mái liên hiệp quốc thoải mái giả thiết kìm chế giả thuyết kiềm chế phản ánh kìm chế phản ảnh thành danh kìm chế thành doanh 133
  63. Bài 12. Chữa lỗi sai về đặt câu, dùng từ Hán Việt trong phần văn bản hành chính sau: Nhà nước đầu tư, phát huy và thống nhất quản lí việc bảo vệ sức khỏe của quân dân, huy động và tổ chức mọi lực lượng xây dựng và phát triển y học Việt Nam theo phương hướng dự phòng, kết hợp chữa bệnh với phòng bệnh, phát triển và kết hợp y dược cổ truyền với y học hiện đại, kết hợp y tế nhân dân với y tế nhà nước, thực thi bảo hiểm y tế, tạo mọi điều kiện để mọi người dân được chăm chút sức khỏe; nhà nước ưu tiên thực hiện chương trình chăm sóc sức khỏe đồng bào miền núi và dân tộc tiểu số; cấm tổ chức và cá nhân chữa bệnh, sản xuất, buôn lậu thuốc chữa bệnh trái phép gây tổn hại cho sức khỏe của quân dân. Bài 13. Điền dấu câu thích hợp, viết hoa đúng và trình bày văn bản sau đúng thể thức như nguyên bản. công văn của văn phòng chính phủ. số 1022vpcp ttbc ngày 22 tháng 03 năm 2000 về việc thi hành nghiêm các quyết định hành chính Kính gửi các đồng chí bộ trưởng thủ trưởng các cơ quan ngang bộ thủ trưởng các cơ quan trực thuộc chính phủ chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh thành phố trực thuộc tw quyết định 19 2000 qđ ttg ngày 3/2/2000 của thủ tướng chính phủ về việc bãi bỏ các loại giấy phép trái với quy định của luật doanh nghiệp đã được dư luận báo chí nhân dân biểu thị thái độ hoan nghênh và tích cực thực hiện tuy nhiên vẫn tồn tại một số đơn vị thực hiện thiếu nghiêm túc quyết định này thủ tướng chính phủ yêu cầu các đồng chí bộ trưởng thủ trưởng các cơ quan ngang bộ thủ trưởng các cơ quan trực thuộc chính phủ chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương thực hiện nghiêm quyết định 10 2000 qđttg và tất cả các nghị định quyết định hành chính đã được chính phủ ban hành trong khi triển khai thấy các vấn đề cần kiến nghị điều chỉnh thì báo cáo thủ tướng chính phủ không được tự ý làm trái thủ tướng chính phủ giao bộ kế hoạch và đầu tư ban đổi mới quản lí 134
  64. doanh nghiệp trung ương rà soát lại các văn bản có liên quan để tiếp tục hủy bỏ các giấy phép trái với luật doanh nghiệp và kiến nghị xử lí những vướng mắc khi thực hiện quyết định 19 2000qđttg của thủ tướng chính phủ và nghị định 02 2000nđcp nghị định 03 2000 nđcp của chính phủ ban hành ngày 3/2/2000. 135
  65. PHỤ LỤC VỀ VIỆC VIẾT HOA VIẾT HOA TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH (Kèm theo Thông tư số 01/2011/TT-BNV ngày 19 tháng 01 năm 2011 của Bộ Nội vụ) I. VIẾT HOA VÌ PHÉP ĐẶT CÂU 1. Viết hoa chữ cái đầu âm tiết thứ nhất của một câu hoàn chỉnh: Sau dấu chấm câu (.); sau dấu chấm hỏi (?); sau dấu chấm than (!); sau dấu chấm lửng ( ); sau dấu hai chấm (:); sau dấu hai chấm trong ngoặc kép (: “ ”) và khi xuống dòng. 2. Viết hoa chữ cái đầu âm tiết thứ nhất của mệnh đề sau dấu chấm phẩy (;) và dấu phẩu (,) khi xuống dòng. Ví dụ: Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001; Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, II. VIẾT HOA DANH TỪ RIÊNG CHỈ TÊN NGƯỜI 1. Tên người Việt Nam a) Tên thông thường: Viết hoa chữ cái đầu tất cả các âm tiết của danh từ riêng chỉ tên người. Ví dụ: - Nguyễn Ái Quốc, Trần Phú, Giàng A Pao, Kơ Pa Kơ Lơng b) Tên hiệu, tên gọi nhân vật lịch sử: Viết hoa chữ cái đầu tất cả các âm tiết. Ví dụ: Vua Hùng, Bà Triệu, Ông Gióng, Đinh Tiên Hoàng, Lý Thái Tổ, Bác Hồ, Cụ Hồ . 2. Tên người nước ngoài được phiên chuyển sang tiếng Việt a) Trường hợp phiên âm qua âm Hán – Việt: Viết theo quy tắc viết tên người Việt Nam. Ví dụ: Kim Nhật Thành, Mao Trạch Đông, Thành Cát Tư Hãn 136
  66. b) Trường hợp phiên âm không qua âm Hán – Việt (phiên âm trực tiếp sát cách đọc của nguyên ngữ): Viết hoa chữ cái đầu âm tiết thứ nhất trong mỗi thành tố. Ví dụ: Vla-đi-mia I-lích Lê-nin, Phri-đrích Ăng-ghen, Phi-đen Cat-xtơ- rô III. VIẾT HOA TÊN ĐỊA LÝ 1. Tên địa lý Việt Nam a) Tên đơn vị hành chính được cấu tạo g iữa danh từ chung (tỉnh, huyện, xã ) với tên riêng của đơn vị hành chính đó: Viết hoa chữ cái đầu của các âm tiết tạo thành tên riêng và không dùng gạch nối. Ví dụ: thành phố Thái Nguyên, tỉnh Nam Định, tỉnh Đắk Lắk ; quận Hải Châu, huyện Gia Lâm, huyện Ea H’leo, thị xã Sông Công, thị trấn Cầu Giát ; phường Nguyễn Trãi, xã Ia Yeng b) Trường hợp tên đơn vị hành chính được cấu tạo giữa danh từ chung kết hợp với chữ số, tên người, tên sự kiện lịch sử: Viết hoa cả danh từ chung chỉ đơn vị hành chính đó. Ví dụ: Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Phường Điện Biên Phủ c) Trường hợp viết hoa đặc biệt: Thủ đô Hà Nội. d) Tên địa lý được cấu tạo giữa danh từ chung chỉ địa hình (sông, núi, hồ, biển, cửa, bến, cầu, vũng, lạch, vàm v.v ) với danh từ riêng (có một âm tiết) trở thành tên riêng của địa danh đó: Viết hoa tất cả các chữ cái tạo nên địa danh. Ví dụ: Cửa Lò, Vũng Tàu, Lạch Trường, Vàm Cỏ, Cầu Giấy . Trường hợp danh từ chung chỉ địa hình đi liền với danh từ riêng: Không viết hoa danh từ chung mà chỉ viết hoa danh từ riêng. Ví dụ: biển Cửa Lò, chợ Bến Thành, sông Vàm Cỏ, vịnh Hạ Long đ) Tên địa lý chỉ một vùng, miền, khu vực nhất định được cấu tạo bằng từ chỉ phương hướng kết hợp với từ chỉ phương thức khác: Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết tạo thành tên gọi. Đối với tên địa lý chỉ vùng miền 137
  67. riêng được cấu tạo bằng từ chỉ phương hướng kết hợp với danh từ chỉ địa hình thì phải viết hoa các chữ cái đầu mỗi âm tiết. Ví dụ: Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Bộ, Nam Kỳ, Nam Trung Bộ 2. Tên địa lý nước ngoài được phiên chu yển sang tiếng Việt a) Tên địa lý đã được phiên âm sang âm Hán Việt: Viết theo quy tắc viết hoa tên địa lý Việt Nam. Ví dụ: Bắc Kinh, Bình Nhưỡng, Pháp, Anh, Mỹ, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha b) Tên địa lý phiên âm không qua âm Hán Việt (phiên âm trực tiếp sát cách đọc của nguyên ngữ): Viết hoa theo quy tắc viết hoa tên người nước ngoài quy định tại Điểm b, Khoản 2, Mục II. Ví dụ: Mát-xcơ-va, Men-bơn, Sing-ga-po, Cô-pen-ha-ghen, Béc-lin IV. VIẾT HOA TÊN CƠ QUAN, TỔ CHỨC 1. Tên cơ quan, tổ chức của Việt Nam Viết hoa chữ cái đầu của các từ, cụm từ chỉ loại hình cơ quan, tổ chức; chức năng, lĩnh vực hoạt động của cơ quan, tổ chức. Ví dụ: - Ban Chỉ đạo trung ương về Phòng chống tham nhũng; Ban Quản lý dự án Đê điều - Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội; Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Ủy ban về Các vấn đề xã hội của Quốc hội; Ủy ban Nhà nước về Người Việt Nam ở nước ngoài; - Văn phòng Chủ tịch nước; Văn phòng Quốc hội; Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định - Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Công thương; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Thông tin và Truyền thông - Tổng cục Thuế; Tổng cục Hải quan; Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục 138
  68. - Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam; Tổng công ty Hàng hải Việt Nam; Tổng công ty Hàng không Việt Nam - Tập đoàn Dầu khí Việt Nam; Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam; Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam; Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam; - Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La; Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh; Ủy ban nhân dân quận Ba Đình; Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản; - Sở Tài chính; Sở Tài nguyên và Môi trường; Sở Xây dựng; Sở Kế hoạch và Đầu tư; Sở Giáo dục và Đào tạo; - Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh; Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội; Trường Cao đẳng Nội vụ Hà Nội; Trường Đại học dân lập Văn Lang; Trường Trung học phổ thông Chu Văn An; Trường Trung học cơ sở Lê Quý Đôn; Trường Tiểu học Thà nh Công; - Viện Khoa học xã hội Việt Nam; Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Viện Ứng dụng công nghệ; - Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục dân tộc; Trung tâm Khoa học và Công nghệ văn thư, lưu trữ; Trung tâm Triển lãm văn hóa nghệ thuật Việt Nam; Trung tâm Tư vấn Giám sát chất lượng công trình; - Báo Thanh niên; Báo Diễn đàn doanh nghiệp; Tạp chí Tổ chức nhà nước; Tạp chí Phát triển giáo dục; Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; - Nhà Văn hóa huyện Gia Lâm; Nhà Xuất bản Hà Nội; Cổng Thông tin điện tử Chính phủ; - Nhà máy Đóng tàu Sông Cấm; Nhà máy Sản xuất phụ tùng và Lắp ráp xe máy; Xí nghiệp Chế biến thủy sản đông lạnh; Xí nghiệp Đảm bảo an toàn giao thông đường sông Hà Nội; Xí nghiệp Trắc địa Bản đồ 305; - Công ty Cổ phần Đầu tư Tư vấn và Thiết kế xây dựng; C ông ty Nhựa Tiền Phong; Công ty Trách nhiệm hữu hạn Du lịch và Vận tải Đông Nam Á; Công ty Đo đạc Địa chính và Công trình; 139