Giáo trình Tiếng Việt II (Phần 2)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Tiếng Việt II (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
giao_trinh_tieng_viet_ii_phan_2.pdf
Nội dung text: Giáo trình Tiếng Việt II (Phần 2)
- Phần hai: Cú PHáP TIếNG VIệT CÂU Là Gì 1. Khái niệm 1.1. Câu là phạm vi lớn nhất của những quan hệ ngữ pháp (quan hệ đẳng lập, quan hệ chính phụ, quan hệ chủ vị) chính danh, nói cách khác, tất cả các quan hệ ngữ pháp chỉ có thể có đ−ợc đầy đủ trong phạm vi câu. Trong phạm vi ngôn bản hoặc cụm câu, giữa câu này với câu kia, đoạn này với đoạn kia chỉ có quan hệ về đề tài, về chủ đề mà không có quan hệ ngữ pháp (xem Cao Xuân Hạo, 1991). Chẳng hạn, so sánh các ví dụ: a. học, tìm, và, cùng, binh lính, gà qué, học sinh, giáo viên b. hôm nay; Tính và Hiền cùng đi học. c. Hôm nay, Tính và Hiền cùng đi học. d. Trong đầm gì đẹp bằng sen Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. (Ca dao) ta thấy: đ Ví dụ (a) gồm các từ đơn, từ phức. Trong đó có thể thấy quan hệ chính phụ ở các từ học sinh, giáo viên , quan hệ đẳng lập ở các từ binh lính, gà qué ; các tr−ờng hợp còn lại không có quan hệ ngữ pháp nào. Có thể biểu diễn các quan hệ vừa nêu bằng các l−ợc đồ sau: a. binh lính gà qué học sinh giáo viên đ Ví dụ (b) bao gồm các cụm từ, giữa các thành tố trong cụm có thể có quan hệ chính phụ (hôm và nay ; cùng với đi học ; đi với học ), quan hệ đẳng lập giữa Tính và Hiền . Có thể biểu diễn mối quan hệ vừa nêu qua các l−ợc đồ d−ới đây: b. hôm nay Tính và Hiền cùng đi học đ Ví dụ (c) là một câu, ta có thể tìm thấy quan hệ chính phụ giữa hôm nay (thành phần phụ trạng ngữ) với Tính và Hiền cùng đi học (thành phần chính); quan hệ chủ - vị giữa Tính và Hiền (chủ ngữ) với cùng đi học (vị ngữ), quan hệ đẳng lập giữa Tính và Hiền (bộ phận đồng chức - cùng làm chủ ngữ). Có thể biểu diễn các quan hệ vừa nêu qua l−ợc đồ sau: c. Hôm nay, Tính và Hiền cùng đi học 70
- đ Còn ví dụ (d) là một ngôn bản có 4 câu. Các câu này liên quan với nhau về chủ đề - cùng nói về vẻ đẹp của cây sen, hoa sen. Trong hệ thống tôn ti của các đơn vị lời nói làm thành ngôn bản, câu là đơn vị trung tâm, đơn vị bản lề. Bởi lẽ câu là đơn vị lời nói nhỏ nhất có chức năng thông báo. Câu là đơn vị tạo nên những đơn vị thông báo lớn hơn nh− đoạn văn, văn bản. Ngôn bản có thể gồm nhiều câu, nhiều đoạn, nhiều phần nh−ng cũng có những ngôn bản chỉ do một câu tạo thành (ca dao, tục ngữ). Đoạn và phần có thể gồm nhiều câu, nh−ng cũng có những đoạn hoặc phần chỉ có một câu. Chẳng hạn, xét các ví dụ: a. Nhất n−ớc, nhì phân, tam cần, tứ giống. (Tục ngữ) b. Tiếng suối trong nh− tiếng hát xa. Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa. Cảnh khuya nh− vẽ ng−ời ch−a ngủ Ch−a ngủ vì lo nỗi n−ớc nhà. (Hồ Chí Minh, Cảnh khuya ) c. Tuổi thơ của tôi đ−ợc nâng lên từ những cánh diều. Chiều chiều trên bãi thả, đám trẻ mục đồng chúng tôi hò hét nhau thả diều thi. Cánh diều mềm mại nh− cánh b−ớm. Chúng tôi vui s−ớng đến phát dại khi nhìn lên trời. Sáo lông ngỗng vi vu trầm bổng. Sáo đơn rồi sáo kép, sáo bè nh− gọi thấp xuống những vì sao sớm. Ban đêm, trên bãi thả diều thật không còn gì huyền ảo hơn. Có cảm giác diều đang trôi trên dải Ngân Hà. Bầu trời tự do đẹp nh− một tấm thảm nhung khổng lồ. Có cái gì cứ cháy lên, cháy mãi trong tâm hồn chúng tôi. Sau này tôi mới hiểu đấy là khát vọng [ ]. (Tiếng Việt 4, tập một) Ta thấy ở (a), ngôn bản là một câu. ở (b), ngôn bản gồm nhiều câu. ở (c) là một phần trích từ một ngôn bản gồm nhiều phần, đoạn; trong đó đoạn thứ nhất đồng thời là phần mở đầu chỉ do một câu tạo thành. 1.2. Câu là “sự thể hiện ngôn ngữ học của nội dung mệnh đề”, là đơn vị của ngôn ngữ dùng để biểu hiện một nhận định gồm một chủ đề đ−ợc kết hợp với điều nói về chủ đề đó. Ví dụ: a. Trời thu xanh ngắt mấy từng cao. (Nguyễn Khuyến) b. Trăm cây trong v−ờn đều sinh ra từ đất. (Trần Mạnh Hảo) c. Tre giữ làng, giữ n−ớc, giữ mái nhà tranh, giữ cánh đồng lúa chín. (Thép Mới) d. Những học sinh này rất thông minh. 71
- 1.3. Vấn đề định nghĩa câu là một vấn đề nan giải chẳng khác gì định nghĩa về từ mặc dù ng−ời ta vẫn cảm nhận đ−ợc sự hiện hữu của nó. Nhìn chung khi định nghĩa về câu, các tác giả th−ờng nêu bốn yếu tố sau: 1 Yếu tố hình thức: Câu có cấu tạo ngữ pháp nhất định, có tính chất tự lập, có ngữ điệu kết thúc (1) . 2 Yếu tố nội dung: Câu biểu thị một nội dung sự tình nhất định, và có thể kèm theo thái độ của ng−ời nói hoặc nội dung của câu là thái độ, tình cảm của ng−ời nói. 3 Yếu tố chức năng: Câu là đơn vị thông báo nhỏ nhất. Nó có chức năng hình thành, biểu hiện, truyền đạt t− t−ởng, tình cảm. 4 Lĩnh vực nghiên cứu: Câu là đối t−ợng nghiên cứu của ngữ pháp học. Có thể định nghĩa: Câu là đơn vị lời nói có cấu tạo ngữ pháp nhất định, mang một ý nghĩa t−ơng đối trọn vẹn, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt t− t−ởng, tình cảm. Câu đồng thời là đơn vị lời nói nhỏ nhất có chức năng thông báo. 2. Một vài đặc tr−ng của câu 2.1. Câu có cái ấn t−ợng trọn vẹn mà ng−ời bản ngữ thể nghiệm Nhận định này đ−ợc xuất phát từ cơ sở: Câu biểu hiện trọn vẹn một mệnh đề (một nhận định), biên giới của câu cũng là biên giới của mọi quan hệ ngữ pháp. Nói cách khác, nó có tính độc lập về ngữ pháp và có thể dùng một mình. Tính độc lập là hệ quả của tính trọn vẹn và cũng là nguyên do của ấn t−ợng trọn vẹn. 2.2. Câu có tính độc lập về ngữ pháp Tính độc lập về ngữ pháp (tự lập về ngữ pháp) đ−ợc biểu hiện ở khả năng mang nội dung thông báo, khả năng độc lập tạo đoạn tối giản. Nếu ở giai đoạn của chủ nghĩa cấu trúc luận, ngữ học tập trung chú ý đối với cấu trúc hình thức của câu thì hiện nay, ngữ học hiện đại đ rẽ sang một b−ớc ngặt quan trọng. Câu không chỉ đ−ợc xem xét d−ới bình diện cấu trúc hình thức thuần tuý mà câu còn đ−ợc xem xét, đ−ợc khảo sát về các ph−ơng diện ngữ nghĩa, ph−ơng diện sử dụng. 3. Câu và phát ngôn Hiện có hai quan niệm về phát ngôn: - Phát ngôn là một lời phát biểu ra một hơi liên tục kể từ lúc bắt đầu cho đến khi im lặng dứt khoát. - Phát ngôn là câu hoạt động hành chức “mỗi lần nói ra t−ơng đ−ơng với câu ta có đ−ợc phát ngôn”. (1) Thực ra vấn đề ngữ diệu kết thúc của câu cũng nh− vấn đề câu là đơn vị của ngôn ngữ hay là đơn vị của lời nói còn rất nhiều điều cần phải bàn (xem Cao Xuân Hạo, Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004). 72
- Quan niệm thứ hai th−ờng đ−ợc sử dụng nhiều hơn vì nó chỉ đ−ợc ranh giới, cấu tạo của phát ngôn và tiện cho việc nghiên cứu. Ngữ học truyền thống gạt phát ngôn ra khỏi đối t−ợng nghiên cứu vì quan niệm phát ngôn thuộc lời nói mà lời nói thì không phải là đối t−ợng của ngôn ngữ học. Ngữ học hiện đại, đặc biệt trong những năm gần đây, xem câu và phát ngôn đều là đối t−ợng của ngôn ngữ học. Trong đó, câu là đối t−ợng nghiên cứu của ngôn ngữ học thuộc bình diện kết học (ngữ pháp học), còn phát ngôn cũng là đối t−ợng nghiên cứu của ngôn ngữ học nh−ng thuộc bình diện dụng học (ngữ dụng học). Câu đ−ợc xét ở dạng tĩnh, thoát li khỏi hoàn cảnh nói năng. Phát ngôn đ−ợc xét ở dạng động, gắn chặt với tình huống (tình huống điển hình). 4. CáC BìNH DIệN NGHIÊN CứU CÂU Ngữ học truyền thống xem xét câu d−ới dạng hằng thể, chỉ chú ý đến bình diện cú pháp và tập trung vào cấu trúc hình thức, ch−a chú ý đến bình diện nghĩa và dụng pháp của câu. Hiện nay, nhất là từ những năm 80 của thế kỉ XX đến nay, câu và những vấn đề quan trọng của nó đều đ−ợc xem xét d−ới ba bình diện: nghĩa, cú pháp và dụng pháp. 4.1. Nghiên cứu câu d−ới bình diện nghĩa học Câu thực hiện chức năng t− duy, chức năng công cụ giao tiếp thông qua nghĩa của nó. Nghiên cứu câu d−ới bình diện nghĩa học là nghiên cứu nội dung ngữ nghĩa mà câu biểu thị. Nghĩa của câu là một phức thể và không đơn giản là phép cộng nghĩa của các từ ngữ trong câu. Chẳng hạn, xét ví dụ: a. Bây giờ là mấy giờ? b. Chị đi dạy về à? ta thấy: ví dụ (a) có thể có nhiều nghĩa khác nhau: hỏi giờ thuần tuý, lời nhắc khéo đã trễ giờ, ; ví dụ (b) có thể không phải là câu hỏi mà là lời chào, là sự khẳng định quan hệ giữa ng−ời nói và ng−ời nghe. Nghĩa của câu có thể đ−ợc nhận biết qua cấu trúc bề mặt của nó nh−ng không hiếm khi để hiểu nghĩa của nó, ng−ời nghe cần tìm đến tầng sâu ẩn chứa đằng sau bề mặt của câu chữ. Chẳng hạn: a. Hôm nay, trời rất đẹp. b. Từ lúc tôi mặc cái áo mới này đến giờ chẳng thấy con lợi nào chạy qua đây cả. (Truyện dân gian Việt Nam) c1. - Ơ kìa, sao các bác không xơi đi? c2. - Thôi, mời anh xơi nốt để nó khỏi lạc đàn. (Truyện dân gian Việt Nam) 73
- d. Con phải luôn khắc ghi câu “uống n−ớc nhớ nguồn ”. Cái hàm nghĩa khoe khoang tôi có áo mới của (b); cũng nh− hàm ý diễu cợt kẻ tham ăn tục uống của (c); hoặc hàm nghĩa phải biết ơn ng−ời giúp đỡ, dạy dỗ, tạo dựng, cho mình của (d) - cái l−ợng nghĩa mà ng−ời nói gửi gắm và muốn chuyển tải đ−ợc cho ng−ời nghe - không hiện diện trên bề mặt của các từ ngữ trong câu mà ẩn giấu đằng sau nội dung của câu chữ. Muốn hiểu đ−ợc nghĩa này, ng−ời nghe phải suy ý . Tóm lại, bình diện nghĩa học nghiên cứu về nghĩa của câu tức nội dung sự tình mà câu biểu thị và cách thức tổ chức cấu trúc ngữ nghĩa. 4.2. Nghiên cứu câu d−ới bình diện kết học Bình diện kết học là bình diện nghiên cứu về mối quan hệ giữa kí hiệu này với kí hiệu khác trong một thông điệp. Trong ngôn ngữ học nó th−ờng đ−ợc hiểu là bình diện cú pháp. Đây là bình diện nghiên cứu truyền thống, đã đạt đ−ợc những thành tựu to lớn. D−ới bình diện kết học, câu đ−ợc xem xét về các mặt hình thức, chức năng cú pháp nh− chủ ngữ, vị ngữ, thành phần phụ. Những chức năng này đ−ợc đánh dấu bằng những tác tử cú pháp, sự phù ứng về ngôi, số, mối quan hệ giữa các yếu tố cú pháp trên trục ngữ đoạn 4.3. Nghiên cứu câu d−ới bình diện dụng học Theo nhiều nhà ngữ học, nghiên cứu câu d−ới góc độ của bình diện dụng học là nghiên cứu về cấu trúc thông báo của câu, tiêu điểm thông báo, thông tin cũ, thông tin mới của câu, các giá trị ngôn chung và lực ngôn chung, các quy tắc sử dụng ngôn từ, v.v Thuộc bình diện dụng pháp là cấu trúc đề - thuyết (cấu trúc nêu - báo) của câu, cấu trúc thông báo của câu và các quy tắc sử dụng ngôn từ, v.v Chẳng hạn, xét phát ngôn Nó viết th− , nhiều nhà ngữ học cho rằng nếu phân tích nó trên mỗi bình diện thì kết quả nh− sau: Bình diện Nó viết th− Cú pháp S V O Ngữ nghĩa Ag Ac Ob Thông tin T R Những năm 60 của thế kỉ XX, bình diện thứ ba đ−ợc hiểu nhiều cách khác nhau: “ngữ cảnh ”, “giao tiếp thông tin ”, “phân đoạn thực tại ”, “lôgic - ngữ pháp ”. Sang những năm 80 của thế kỉ XX, nó đ−ợc gọi là bình diện “siêu ngữ pháp ”. Hiện nay, nó đ−ợc gọi là bình diện “ngữ dụng ”. đ Khi phân tích theo bình diện cú pháp thì ta hiểu đó là các thành phần câu S (Subject) chủ ngữ, V (Verb) vị ngữ, O (Object) bổ ngữ. 74
- đ Khi phân tích theo bình diện nghĩa, ta có: Ag ng−ời hành động (Agent = Actor = Subject), Ac (Action) hành động và Ob (Object) đối t−ợng tác động của hành động đó. Đây chính là trật tự của các thành tố ngữ nghĩa của câu. đ Khi phân tích theo bình diện thứ ba (ngôn ngữ học truyền thống gọi là thông tin , là ngữ cảnh của văn bản, hiện nay th−ờng gọi là bình diện ngữ dụng), ta có kết quả: T (Theme) và R (Rhme). Bình diện thứ nhất - bình diện trật tự cú pháp - chịu ảnh h−ởng của trật tự ngữ nghĩa và trật tự thông báo (T - R) của câu. Nh−ng trong thực tế, không phải bao giờ cũng có sự trùng hợp nh− trên. Chẳng hạn, xét ví dụ: Bài này, tôi đọc rồi. O Ob Theme ta thấy, cùng một yếu tố Bài này nh−ng xét d−ới góc độ cú pháp, nó đ−ợc xem là một thứ bổ ngữ đ−ợc đảo vị trí (có tác giả xem là phần đề); xét d−ới góc độ chữ nghĩa, nó là đối t−ợng mà hành động h−ớng tới; xét d−ới góc độ ngữ dụng, nó lại là phần mang thông tin cũ (phần Rhme = phần đề). Có thể nói mỗi bình diện nghiên cứu về câu cho ta thâm một góc nhìn, một cách nhìn về sự kiện ngôn ngữ - câu - một cách toàn diện hơn, đầy đủ hơn để tiếp cận với nó một cách sát thực hơn. &&& 1. CáC MÔ HìNH Lí THUYếT Về BA BìNH DIệN TRONG NGÔN NGữ HọC HIệN ĐạI 1.1. Lí thuyết kí hiệu học của Ch. W. Morris Trong “Foundations of the Theory of Sígn ” (International Encyclopedia of Unifed Science, voi. l, no. 2. Chicago: University of Chicago Press. 1938), Morris cho rằng: Ngôn ngữ là một loại hệ thống kí hiệu tín hiệu đặc biệt, ngôn ngữ học là một bộ phận của kí hiệu học. Ngữ học hiện đại tiếp thụ không ít những thành tựu của kí hiệu học, đặc biệt là ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học của kí hiệu học hiện đại. Trong mọi hệ thống kí hiệu, Ch. Morris cho rằng cần phân biệt ba lĩnh vực: - Một, là bình diện kết pháp (Syntacetics) (trong lĩnh vực ngôn ngữ, bình diện này đ−ợc gọi là cú pháp). Đây là bình có nhiệm vụ nghiên cứu các kí hiệu trong mối quan hệ với kí hiệu khác. Bình diện cú pháp là bình diện của những khái niệm đ−ợc xác định bằng những tiêu chuẩn hình thức thuần tuý. Các chức năng cú pháp nh− chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ trực tiếp, bổ ngữ gián tiếp, định ngữ đ−ợc xác định bằng mối quan hệ giữa các yếu tố trên trục ngữ đoạn. Chẳng hạn mối quan hệ giữa danh từ làm chủ ngữ với động từ, tính từ làm vị ngữ, mối quan hệ giữ phụ từ và thực từ làm trung tâm trong ngữ đoạn - Hai, là bình diện nghĩa học (Semantics) nghiên cứu các kí hiệu trong mối quan hệ với các sự vật ở bên ngoài hệ thống kí hiệu. Bình diện nghĩa học là bình diện của sự tình đ−ợc biểu thị và những tham tố tham gia biểu thị sự tình ấy. Các tham tố tham gia biểu thị sự tình đều xoay quanh một vị từ làm cốt lõi của nội dung sự tình. 75
- - Ba, là bình diện dụng pháp (Pragmatics) (trong ngôn ngữ học đ−ợc gọi là bình diện ngữ dụng) có nhiệm vụ nghiên cứu các kí hiệu trong mối quan hệ với ng−ời sử dụng nó. Trong ngôn ngữ học thì đây là bình diện của việc sử dụng ngôn từ trong các tình huống cụ thể, trong những cuộc đối thoại cụ thể, trong những văn cảnh cụ thể nhằm vào những mục đích cụ thể. 1.2. Mô hình của tr−ờng ngôn ngữ học chức năng Praha phân biệt 1 Cấp độ của cấu trúc ngữ pháp của câu; 2 Cấp độ của cấu trúc ngữ nghĩa của câu; 3 Cấp độ của cách tổ chức phát ngôn. Nội dung của các cấp độ tổ chức phát ngôn theo quan niệm này t−ơng tự nh− bình diện dụng pháp của các nhà ngữ học ph−ơng Tây. 1.3. Mô hình tam phân của M.A. Halliday Theo Halliday, câu là sản phẩm của ba quá trình biểu diễn nghĩa diễn ra đồng thời. Nó bao gồm: 1 Thành phần nghĩa biểu niệm: thành phần nghĩa biểu niệm của câu biểu thị những đặc tính nội dung của sự tình đ−ợc phản ánh trong câu. 2 Thành phần nghĩa liên nhân: thành phần nghĩa có hình thức nh− một sự tác động, ng−ời nói hay ng−ời viết dùng ngôn ngữ để tác động nh− thế nào đó vào ng−ời đọc, ng−ời nghe. Thành phần nghĩa này thực hiện chức năng liên nhân của câu. Và chức năng liên nhân luân phiên thay đổi vai trò trong những tác động bằng ngôn từ. 3 Thành phần nghĩa văn bản: là thành phần nghĩa biểu thị tính quan yếu đối với ngôn cảnh tức đối với ngôn bản đi tr−ớc hoặc đi sau phát ngôn đang đ−ợc xét và đối với tình huống phát ngôn. 1.4. Lí thuyết ba quan điểm của C. Hagège C. Hagège cho rằng khi nghiên cứu về câu cần phải xem xét nó trong sự thống nhất của ba quan điểm: 1 Quan điểm một: xem xét về cú pháp và hình thái. 2 Quan điểm hai: xem xét về nghĩa học và sở chỉ. 3 Quan điêm ba: xem xét về tôn ti và phát ngôn. Lí thuyết ba quan điểm của C. Hagège t−ơng ứng với ba bình điện của tổ chức câu. Đó là: 1 hình thái cú pháp; 2 nghĩa học sở chỉ; 3 tôn ti phát ngôn. 1.5. Mô hình tam phân của V.G. Gak Câu đ−ợc V.G. Gak phân tích làm ba bình diện. Cụ thể là: 1 Bình diện nghĩa học: phản ảnh cấu trúc của mảng sự tình đ−ợc nói đến trong câu (phát ngôn). Nó bao gồm hai thành tố sau: • Chủ thể nghĩa học: chỉ ng−ời, vật thực hiện hành động, trạng thái, tính chất đ−ợc biểu thị ở nội dung sự tình của câu. 76
- • Vị ngữ nghĩa: thể hiện hành động, trạng thái, tính chất của chủ htể nghĩa học. 2 Bình diện lôgic thông báo: phản ánh nội dung thông báo của câu. 3 Bình diện cú pháp: phản ánh bề ngoài của cấu trúc câu. Nghĩa là qua bình diện này, ta thấy đ−ợc câu có cấu tạo nh− thế nào. 1.6. Mô hình ba bình diện của ngữ pháp chức năng 1 Bình diện nghĩa học đ−ợc hiểu là bình diện của sự tình đ−ợc biểu thị trong câu và những tham tố tham gia biểu diễn sự tình ấy. 2 Bình diện cú pháp là bình diện của những khái niệm đ−ợc xác định bằng những tiêu chuẩn hình thức thuần tuý (chẳng hạn: chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, hô ngữ, chuyển tiếp ngữ, bổ ngữ, định ngữ, ). 3 Bình diện dụng pháp là bình diện của việc sử dụng ngôn từ trong những tình huống cụ thể, trong những cuộc đối thoại cụ thể. 2. Sơ l−ợc về cấu trúc đề - thuyết trong ngôn ngữ học hiện đại 2.1. Hai h−ớng quan niệm về cấu trúc đề - thuyết 2.1.1. H−ớng quan niệm chung Phần lớn các nhà ngữ học hiện nay xếp cấu trúc đề - thuyết vào bình diện thông báo. Theo quan niệm này thì: - Phần đề là phần thông báo cũ. - Phần thuyết là phần thông tin mới. Chẳng hạn, tr−ớc một câu nh−: Hôm qua em đi chùa H−ơng. Nếu xét theo quan niệm này thì nó sẽ đ−ợc phân tích thành phần đề - thuyết theo sáu khả năng sau: (1) Hôm qua là đề, em đi chùa H−ơng là thuyết (nếu xảy ra trong ngữ cảnh Hôm qua nhà mình có chuyện gì không?) (2) Hôm qua em là đề còn đi chùa H−ơng là thuyết (nếu xảy ra trong ngữ cảnh Hôm qua em làm gì?) (3) Hôm qua và đi chùa H−ơng là đề còn em là thuyết (nếu xảy ra trong ngữ cảnh Hôm qua ai đi chùa H−ơng?) (4) Em đi chùa H−ơng là đề còn Hôm qua là thuyết (nếu xảy ra trong ngữ cảnh Em đi chùa H−ơng khi nào?) (5) Hôm qua em đi chùa là đề còn H−ơng là thuyết (nếu xảy ra trong ngữ cảnh Hôm qua em đi chùa nào?) (6) Toàn bộ phát ngôn Hôm qua em đi chùa H−ơng , sẽ là phần thuyết (nếu nó xảy ra trong ngữ cảnh Có chuyện gì mà vui thế?). 77
- 2.1.2. H−ớng quan niệm của ngữ pháp chức năng Ngữ pháp chức năng quan niệm cấu trúc đề - thuyết thuộc tổ chức cú pháp của câu, cấu trúc nêu báo thuộc tổ chức thông báo của câu. Và vì vậy, cấu trúc đề - thuyết có tính ổn định không lệ thuộc ngữ cảnh, còn cấu trúc nêu báo có tính không ổn định vì hoàn toàn lệ thuộc vào cảnh hoặc tình huống phát ngôn. Theo quan niệm này, câu Hôm qua em đi chùa H−ơng sẽ đ−ợc phân tích nh− sau: Và nh− vậy nó thuộc bình diện ngữ pháp chứ không thuộc bình diện dụng pháp. (Xem Cao Xuân Hạo, 2004, sđd) 3. VấN Đề DụNG HọC Về CÂU 3.1. Nội dung của vấn đề dụng học về câu Theo quan niệm của phần lớn các nhà ngữ học hiện nay, thuộc bình diện dụng pháp là cấu trúc thông báo của câu, các quy tắc sử dụng ngôn từ do phong tục dân tộc quyết định, v.v 3.2. Cấu trúc nêu báo - cấu trúc thông báo của câu Câu, đơn vị lời nói nhỏ nhất có chức năng thông báo, nên cấu trúc nêu báo là cấu trúc thông báo của câu. Trong đó, phần nêu là phần mang thông tin của phần dễ nhận biết, còn phần báo là phần mang thông tin mới (dùng để báo về cái ch−a biết). Căn cứ để xác định phần nêu và phần báo (theo cấu trúc thông báo hay nói một cách khác, xét câu trong hoạt động hành chức, trong mối quan hệ với tình huống, câu ở dạng động, tức phát ngôn) là văn cảnh hoặt tình huống giao tiếp. Có thể dựa vào năm dấu hiệu hình thức sau để hỗ trợ cho việc phân tích thành phần cấu trúc câu trong hoạt động hành chức: 1 Dựa vào trọng âm: phần báo th−ờng đ−ợc phát âm nhấn mạnh hơn so với phần nêu. 2 Dựa vào sự có mặt của h− từ: phần báo th−ờng đ−ợc đánh dấu bằng một số h− từ nhất định. Chẳng hạn, trong tiếng Việt, những h− từ sau th−ờng báo hiệu sự bắt đầu của phần báo: đ Những trợ từ có tác dụng nhấn mạnh nh− ngay, chính, đích thị (là), cả, ngay cả, chỉ, chỉ có, mới, a. Nó ăn cả bèo tây. b. Thằng này đích thị là thằng ăn cắp. c. Chỉ có Chí Phèo mới yêu Thị Nở. 78
- d. Chính nó cũng yêu th−ơng ng−ời ấy tha thiết. đ Những phụ từ chỉ thời gian hoặc chỉ sự tiếp diễn, sự đồng nhất nh− đã, sẽ, đang, cũng, vẫn, cứ, (trừ tr−ờng hợp chúng đứng sau trợ từ để nhấn mạnh hoặc trọng âm rơi vào bộ phận khác trong phát ngôn) th−ờng báo hiệu sự bắt đầu của phần báo, ví dụ: a. Hôm qua, họ đã lên đ−ờng ra Thủ đô. b. Nó rất thích xem truyện, tôi cũng nh− vậy. c. Nó vừa mới đến tìm anh. đ Từ là (trừ tr−ờng hợp từ là đứng sau trợ từ nhấn mạnh kiểu nh− Chỉ Bắc là yêu Nam) cũng báo hiệu sự mở đầu của phần báo, ví dụ: a. Nó sợ nhất là sự dối trá. b. Nhân dân là bể , văn nghệ là thuyền . (Tố Hữu) c. Quân đội kị nhất là sự hèn nhát, vô kỉ luật. 3 Dựa vào khả năng l−ợc bỏ: phần báo là phần không thể l−ợc bỏ, còn phần nêu là phần có thể l−ợc bỏ. Chẳng hạn, để trả lời câu hỏi: “Anh làm bài ch−a?”, ta có thể nói một cách đầy đủ là Tôi làm bài rồi hoặc phần đề Làm rồi , chỉ nói vắn tắt Rồi ! 4 Dựa vào sự trùng lặp hoặc t−ơng liên về ý nghĩa sở chỉ với một thành phần của câu đứng tr−ớc thì phần nêu là phần th−ờng biểu thị những sự vật, hiện t−ợng, tình huống đã đ−ợc nhắc tới hoặc có thể suy ra từ phát ngôn tr−ớc đó bằng cách lặp lại tên gọi hoặc thay thế bằng từ ngữ đồng nghĩa hay đồng sở chỉ, hay gần nghĩa hoặc cùng tr−ờng nghĩa (tr−ờng nghĩa dọc) Chẳng hạn, xét ví dụ (phần báo đ−ợc in đậm): V−ờn nhà Loan không rộng lắm. Nó chỉ bằng cái sân nhỏ nh−ng có bao nhiêu là cây. Mỗi cây có một đời sống riêng, một tiếng nói riêng. Cây lan, cây huệ, cây hồng nói chuyện bằng h−ơng, bằng hoa. 5 Dựa vào kiểu cấu trúc cú pháp đặc biệt : một số kiểu cấu trúc cú pháp không bình th−ờng cũng có thể giúp nhận diện ranh giới phần nêu và phần báo. Chẳng hạn trong tiếng Việt, những câu có chủ ngữ đứng sau vị ngữ là động từ nội động là những phát ngôn chỉ có phần báo mà không có phần phần nêu, ví dụ: Từ đằng cuối bãi tiến lại là hai chú bé. Dụng học về câu nói riêng và ngữ dụng học nói chung, hiện là vấn đề thời sự của ngôn ngữ học hiện đại, chúng còn nhiều vấn đề bỏ ngỏ, và nhiều vấn đề đang đ−ợc bàn luận. (Xem Đỗ Hữu Châu - Bùi Minh Toán, Đại c−ơng ngôn ngữ học, tập hai , NXB Giáo dục, Hà Nội, 1993) 79
- CấU TRúC Cú PHáP CủA CÂU D−ới bình diện kết học, câu đ−ợc xem xét từ góc độ mối quan hệ giữa các đơn vị cú pháp trong câu. Cụ thể là câu đ−ợc xem xét về cấu trúc hình thức nh− các thành phần câu (chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, khởi ngữ, giải thích ngữ, ) và mối quan hệ giữa các thành phần câu. 1. VấN Đề THàNH PHầN CÂU Trong việc kiến giải về cấu trúc câu, lối phân tích câu theo thành phần là lí thuyết có sớm nhất, phổ biến nhất. Theo ngữ pháp cổ điển, mỗi thực từ trong câu đều là một thành phần câu. Để quy thực từ nào đấy vào thành phần câu nào thì căn cứ vào hình thái của thực từ ấy. Thành thử, xác định thành phần câu thực chất là phân loại các từ có trong câu dựa theo hình thái của chúng. Lí thuyết ngữ pháp cổ điển phân thành phần câu thành hai loại là thành phần chính và thành phần phụ. Thành phần chính gồm chủ ngữ và vị ngữ. Còn thành phần phụ là trạng ngữ, bổ ngữ, định ngữ. Về sau, do sự hiểu biết thêm nhiều ngôn ngữ mới ngoài các ngôn ngữ châu Âu, do thành tựu của ngôn ngữ học, ngữ pháp học và của những khoa học liên ngành, lí thuyết thành phần câu luôn đ−ợc điều chỉnh. Theo lí thuyết cụm từ, nhiều tác giả ngữ học hiện đại cho rằng thành phần câu có thể là cả một cụm từ và phân biệt thành phần câu với thành phần cụm từ. Do đó, theo lí thuyết này, bổ ngữ, định ngữ là thành phần phụ của cụm từ chính phụ chứ không phải là thành phần câu Chẳng hạn, câu Hôm qua em gái tôi đi chùa H−ơng sẽ đ−ợc lí thuyết thành phần câu cổ điển phân tích: Hôm qua, em gái tôi đi chùa H−ơng. TN ĐN CN ĐN ĐN VN BN ĐN (TN: trạng ngữ, ĐN: định ngữ, CN: chủ ngữ, VN: vị ngữ, BN bổ ngữ) Còn lí thuyết thành phần câu của ngữ học hiện đại phân tích: Hôm qua , em gái tôi // đi chùa H−ơng. CN VN TN (Giáo trình này theo h−ớng quan niệm của ngữ pháp hiện đại: xem bổ ngữ, định ngữ là thành phần của cụm từ, không phải là thành phần câu). Những cứ liệu mới về những ngôn ngữ mới cũng dẫn đến quan niệm cấu trúc cú pháp của câu ở các ngôn ngữ không hoàn toàn nh− nhau. Có những ngôn ngữ thiên về cấu trúc chủ - vị, chẳng hạn tiếng Nga, Tiệp, Ba Lan, Đức; có những ngôn ngữ thiên về cấu trúc đề - thuyết, chẳng hạn các tiếng Việt, Hán, Nhật, v.v 80
- 2. THàNH PHầN NòNG CốT (thành phần chính) 2.1. Khái niệm Thành phần nòng cốt là bộ khung ngữ pháp của câu đảm bảo cho câu độc lập về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức. Đặc điểm độc lập về nội dung của câu đ−ợc thể hiện ở chỗ câu có thể đ−ợc hiểu đúng mà không cần dựa vào chu cảnh (các câu tr−ớc và sau nó) hay tình huống nói năng. Đặc điểm hoàn chỉnh về hình thức đ−ợc thể hiện ở chỗ không thể chỉ ra các thành phần cú pháp bị l−ợc bỏ và khôi phục chúng một cách có căn cứ. Chẳng hạn, xét các ví dụ: a. Có lẽ nào anh lại mê em. (Phạm Tiến Duật) b. Mùa xuân, dòng xanh ngọc bích chứ n−ớc sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô. (Nguyễn Tuân) c. Cô bé nhà bên (có ai ngờ) cũng vào du kích. (Giang Nam) ta thấy không thể l−ợc bỏ các tổ hợp: anh lại mê em; dòng xanh ngọc bích, n−ớc sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô; cô bé nhà bên cũng vào du kích; cũng nh− ta không thể l−ợc bỏ anh hoặc mê em (ví dụ a); dòng, n−ớc sông Đà hoặc xanh ngọc bích, xanh màu xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô (ví dụ b), cô bé nhà bên hoặc cũng vào du kích, vì nếu l−ợc bỏ các yếu tố vừa nêu thì ta không thể tiếp nhận nội dung thông tin. Muốn hiểu anh nh− thế nào hoặc ai mê em, hay Sông Đà nh− thế nào hoặc cái gì xanh ngọc bích, thì phải dựa vào chu cảnh hoặc tình huống phát ngôn. Nh−ng trái lại, ta hoàn toàn có thể l−ợc bỏ các tổ hợp: có lẽ nào (ví dụ a), mùa xuân (ví dụ b), có ai ngờ (ví dụ c) mà câu vẫn hoàn chỉnh về nội dung và hình thức. Nội dung thông tin của câu đều tập trung trong bộ phận chính - bộ phận không thể l−ợc bỏ (anh lại mê em; dòng sông xanh ngọc bích, n−ớc sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô; Cô bé nhà bên cũng vào du kích). Tuy nhiên, có những tr−ờng hợp câu chỉ gồm một hoặc hai yếu tố kiểu nh− A!. Mẹ ơi!, Chao ôi!, Những tr−ờng hợp này đ−ợc xem là những nòng cốt đặc biệt. 2.2. Các kiểu nòng cốt câu 2.2.1. Có những câu có nòng cốt đơn thuần: chỉ do một yếu tố tạo thành. a. M−a! Gió! Não nùng! (Nguyễn Công Hoan) b. Cháy; Ôi chao!; Vâng c. ùng oàng . ( Tiếng đại bác từ miệt Trà Vinh thỉnh thoảng lại vọng lên.) (Sách) d. Hà Nội, ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945. (Sách) 81
- ta thấy trong nòng cốt đơn phần, có những tr−ờng hợp là nòng cốt đơn phần đơn , tức chỉ có một ngữ đoạn, nh− (a, b); lại có những tr−ờng hợp là nòng cốt đơn phần kép , tức có hai hoặc hơn hai ngữ đoạn (có quan hệ đẳng lập, giữa chúng có thể có hoặc không có kết từ), nh− (c, d). 2.2.2. Có những câu có nòng cốt câu song phần: do hai yếu tố tạo thành. Chẳng hạn, xét các nhóm ví dụ: a. Chim hót.; Gió thổi.; Họ đang xây nhà. b. (Hôm ấy), chúng tôi đã cùng nhau về thăm tr−ờng cũ. c. Vì cơn gió thổi hoa c−ời với tr−ờng.; Nếu trời m−a thì tôi ở nhà. d. Dù cho bão táp m−a sa, Nghệ An Xô viết vẫn là Nghệ An. ta thấy các câu có nòng cốt song phần đều có chủ ngữ và vị ngữ. Trong đó có những tr−ờng hợp là nòng cốt song phần đơn giản, chỉ có một tổ hợp chủ vị (a, b); và có những tr−ờng hợp là nòng cốt câu song phần phức hợp - mỗi nòng cốt câu là một kết cấu chủ - vị (c, d). Có thể tổng hợp lại các kiểu nòng cốt câu qua l−ợc đồ sau: Chỉ có một ngữ đoạn Đơn Đơn M−a!, Cháy!, Vâng., Chao ôi. thuần Có hai hoặc hơn hai ngữ đoạn Kép Tùng, tùng, tùng (Một hồi trống vang lên) Nòng Chỉ có một tổ hợp chủ - vị cốt Đơn Đàn bò đang thung thăng gặm cỏ. Song Có hai hoặc hơn hai tổ hợp chủ - vị phần Kép Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi s−ơng. 2.3. Các bộ phận của thành phần nòng cốt câu 2.3.1. Chủ ngữ 2.3.1.1. Định nghĩa Trong các tài liệu ngữ pháp tiếng Việt, khái niệm Chủ ngữ th−ờng đ−ợc định nghĩa là thành phần chính của câu biểu thị đối t−ợng mà hành động, tính chất, trạng thái của nó độc lập với các thành phần khác của câu và đ−ợc xác định bởi vị ngữ. a. Những chú nghé nhảy cẫng lên. b. Sầu riêng là loại trái quý, trái hiếm của miền Nam. (Mai Văn Tạo) c. Viết tiểu thuyết đã trở thành một nghề riêng. (Nguyễn Đình Thi) 2.3.1.2. Cấu tạo 82
- * Xét về ph−ơng diện tổ chức cấu trúc, chủ ngữ có cấu tạo khá đa dạng, nó có thể là một từ, một (những) cụm từ, một (những) tiểu cú. đ Chủ ngữ là một từ a. Thời cơ đã đến. b. Cụ đã ra. c. Này chồng, này mẹ, này cha. (Nguyễn Du) đ Chủ ngữ là một cụm từ (cụm từ đẳng lập hoặc cụm từ chính phụ) a. Hiếu động, c−ơng th−ờng, quả cảm là thói th−ờng của những kẻ mới lớn và sung s−ớng. (Nam Cao) (Chủ ngữ là cụm từ đẳng lập) b. Ba và mẹ đều đi làm vắng. (Chủ ngữ là cụm từ đẳng lập) c. Xấu đều hơn tốt lỏi. (Tục ngữ) (Chủ ngữ là cụm từ chính phụ) d. Nơi đây, đời đời yên nghỉ những liệt sĩ vô danh. (Chủ ngữ là cụm từ chính phụ) e. Chẳng ai nói một lời. (Chủ ngữ là cụm từ chính phụ) Chủ ngữ có thể là cụm từ tự do (xem các ví dụ vừa nêu) hoặc cụm từ cố định, chẳng hạn: g. Chỉ tay năm ngón là thái độ không tốt. h. Cõng rắn cắn gà nhà bị xử trảm là đáng. đ Chủ ngữ là một tiểu cú a. Cách mạng tháng Tám thành công đã mang lại độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho dân tộc. b. Con gà trống choai cất tiếng gáy khiến bé sửng sốt. c. Gió thổi tắt đèn. * Xét về ph−ơng diện từ loại, chủ ngữ th−ờng là danh từ (/cụm danh từ) hoặc đại từ. Ngoài ra, cũng có thể có chủ ngữ là một động từ (/cụm động từ), tính từ (/cụm tính từ) hoặc một kết cấu giới từ. Thậm chí chủ ngữ là một số từ (dạng này gặp ở những cách diễn đạt có tính mệnh đề của toán học). (Cũng gặp các kiểu cấu trúc “danh - là - danh” hoặc các kiểu mô hình phái sinh, nh− “động từ/tính từ - (/kết cấu chủ - vị) - là - danh”, “danh từ - là - động từ/tính từ (/kết cấu chủ - vị)”), “giới ngữ - là - danh”). Chẳng hạn: a. N−ớc quật vào mặt, trào qua đầu hàng rào sống. (Chu Văn) (Chủ ngữ là danh từ) 83
- b. Ng−ời bản tôi nhìn lên cái ô xanh treo lơ lửng l−ng trời ấy mà biết đ−ợc sức gió. (Vi Hồng - Hoàng Thuỷ Giang) (Chủ ngữ là cụm danh từ) c. Đó là một buổi chiều mùa hạ có mây trắng xô đuổi nhau trên cao. (Chủ ngữ là đại từ) d. Nói chuyện với Hồng rất thú vị. (Chủ ngữ là cụm động từ) e. Dịu dàng là phẩm chất đáng yêu của phụ nữ. (Chủ ngữ là tính từ) g. Ngoài bờ đê là chỗ mát nhất. (Chủ ngữ là cụm giới từ) h. Chín là số lớn nhất trong dãy số tự nhiên. (Chủ ngữ là số từ) 2.3.1.3. Vị trí Chủ ngữ th−ờng đứng tr−ớc vị ngữ (các ví dụ trên). Đây là vị trí thuận của nó. Khi cần nhấn mạnh vào nội dung thông báo, có thể đảo vị ngữ đứng tr−ớc chủ ngữ. Tuy nhiên, do trong tiếng Việt, trật tự từ là một ph−ơng thức ngữ pháp quan trọng nên việc đảo vị ngữ lên tr−ớc chủ ngữ đòi hỏi những điều kiện nhất định (xem 2.2.3. Vị trí vị ngữ). &&& Chủ ngữ lôgic là phần câu ứng với cái đ−ợc đề cập đến, đ−ợc nói đến trong một phát ngôn. Ví dụ: a. Quyển sách mà anh tặng em rất hay. b. Tr−ờng này sân rất rộng . c. Những con bò béo mập b−ớc đi đủng đỉnh. Chủ ngữ ngữ pháp là loại chủ ngữ liên quan đến cấu trúc cú pháp của câu. Nó th−ờng có hình thái t−ơng ứng với vị ngữ. Theo nhiều nhà Việt ngữ học, do đặc điểm của loại hình ngôn ngữ đơn lập - từ không biến đổi hình thái trong hoạt động hành chức -, tiếng Việt không có chủ ngữ ngữ pháp. Hay nói cách khác, thành phần câu tiếng Việt không thể phân tích theo kiểu cấu trúc chủ - vị mà phải phân tích theo cấu trúc khác, cấu trúc đề - thuyết. (Xem mục 3. Cấu trúc đề - thuyết của câu tiếng Việt; Cao Xuân Hạo, 2004, sđd). 2.3.2. Vị ngữ 2.3.2.1. Định nghĩa Vị ngữ là thuật ngữ của lôgic học biểu thị một thành phần kết cấu của phán đoán, tức là cái nói về chủ thể. Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ vị ngữ th−ơng đ−ợc dùng để biểu thị thành phần chính của câu, t−ơng ứng với cái đ−ợc thông báo. Hay nói cách khác, nó là thành phần biểu thị hành động, tính chất, trạng thái, quá trình hoặc quan hệ của sự vật (chủ thể) đ−ợc thể hiện qua chủ ngữ. 84
- 2.3.2.2. Cấu tạo * Xét về ph−ơng diện tổ chức cấu trúc, nh− chủ ngữ, cấu tạo của vị ngữ có thể là từ hoặc một (những) cụm từ hoặc một (những) tiểu cú. đ Vị ngữ là từ a. Mặt trời mọc. b. Nó hát. c. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. (Hồ Chí Minh) đ Vị ngữ là một (những) cụm từ (cụm từ tự do, xem ví dụ (a, b) hoặc cụm từ cố định, xem cố định, xem bí dụ (c)) a. Cái màu trắng của điệp cũng là một sự sáng tạo góp phần vào kho tàng màu sắc của dân tộc trong hội họa. (Nguyễn Tuân) b. Anh nhẹ nhàng cạy đáy hộp thuốc, rút ra một mảnh giấy nhỏ, thay vào đó th− báo cáo của mình, rồi thả hộp thuốc về chỗ cũ. (Hữu Mai) c. Lão ấy ba voi không đ−ợc bát n−ớc xáo. đ Vị ngữ là một tiểu cú a. Tr−ờng này sân rất rộng. b. Vải này khổ rất hẹp. * Xét về ph−ơng diện bản chất từ loại, vị ngữ th−ờng do động từ, tính từ, cụm động từ, cụm tính từ đảm nhận (ví dụ a, b, c). Ngoài ra, vị ngữ có thể là cụm danh từ, cụm giới từ (ví dụ d, e). Thậm chí có thể gặp vị ngữ là đại từ (ví dụ g). Chẳng hạn: a. Gió thổi. Mây bay. b. Hoa b−ởi nồng nàn. Hoa nhãn ngọt. (Nguyễn Kiên) c. Cái cối xinh xinh xuất hiện nh− một giấc mộng, ngồi chễm chệ giữa gian nhà trống. (Duy Khán) d. Xoài cát Hoà Lộc ba m−ơi ngàn đồng. e. Sách này của th− viện tr−ờng tôi. g. Chúng nó thì vậy. (Anh chớ có băn khăn làm gì mệt ng−ời) 2.3.2.3. Vị trí Vị ngữ th−ờng đứng sau chủ ngữ (xem các ví dụ đ dẫn ở trên), trừ các tr−ờng hợp cần nhấn mạnh vào nội dung thông báo thì có thể đảo vị ngữ lên tr−ớc chủ ngữ. Tuy nhiên, ở những tr−ờng hợp này, việc đảo trật tự phải thoả m n những điều kiện nhất định và nội dung và hình thức tổ chức cấu trúc. Đó là: vị ngữ hạt nhân là động từ nội động, nh− ngồi, chạy, đứng, nổi, cháy, ; tính từ chỉ l−ợng, nh− nhiều, ít, đông, đầy, vắng, th−a ; và tính từ có tính t−ợng hình - t−ợng thanh, 85
- nh− lững thững, sừng sững, lênh khênh, ầm ầm, ra rả, róc rách, ; (2) vị ngữ đ−ợc đảo lên tr−ớc chủ ngữ để biểu thị sự xuất hiện, tồn tại, tiêu biến của sự vật; (3) trừ những tr−ờng hợp đặc biệt, câu có trật tự vị ngữ đứng tr−ớc chủ ngữ cần đ−ợc mở đầu bằng trạng ngữ; vị ngữ và chủ ngữ của nó th−ờng có thành tố phụ đi kèm (bổ ngữ hoặc định ngữ bổ sung cho thành tố trung tâm của cụm chính phụ làm chủ ngữ và /hoặc vị ngữ). Ví dụ: a. D−ới bóng tre của ngàn x−a, thấp thoáng những mái chùa cổ kính. (Thép Mới) b. Trong cái hang tăm tối bẩn thỉu ấy, sống một đời khốn nạn những ng−ời gầy gò, rách r−ới. (Thạch Lam) c. Đó đây, từ những gốc rạ đang mục nát, lấp lánh những đốm sáng li ti, biêng biếc, lạnh lẽo của những con sâu đất. (Đặng V−ơng H−ng) &&& Vị ngữ lôgic (vị ngữ ý), tức thông báo chứa đựng trong câu, đối lập lại vị ngữ ngữ pháp, vị ngữ tâm lí. Ví dụ: Quyển sách ấy bìa màu xanh thẫm., bìa màu xanh thẫm là thông báo về đối t−ợng đã đ−ợc đề cập ở chủ ngữ (lôgic) của câu - quyển sách ấy. Vị ngữ ngữ pháp là vị ngữ đích thực, khác với vị ngữ lôgic, vị ngữ tâm lí. Ví dụ: Những ng−ời thợ ấy vừa xây song ngôi biệt thự này. Khác với vị ngữ lôgic vừa dẫn ở trên, vừa xây xong ngôi biệt thự này đóng vai trò trung tâm cú pháp của câu và có những dấu hiệu ngữ pháp biểu thị điều này (chẳng hạn phụ từ vừa ). Mặt khác, nó cũng t−ơng ứng với chủ ngữ ngữ pháp những ng−ời thợ ấy đã đ−ợc nêu ở bộ phận chính thứ nhất. Vị ngữ tâm lí là biểu t−ợng (quan niệm) thứ hai theo trình tự xuất hiện trong nhận thức và giá trị tâm lí, không lệ thuộc vào hình thái ngữ pháp của nó. Chẳng hạn, trong câu Cả lớp im lặng., vị ngữ tâm lí là im lặng vì nó t−ơng quan với biểu t−ợng (cách quan niệm) cả lớp xuất hiện ở tr−ớc nó. (Xem Nguyễn Thiện Giáp (Chủ biên). Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1993) 3. THàNH PHầN PHụ CủA CÂU 3.1. Khái niệm Hiểu theo nghĩa hẹp: Thành phần phụ của câu là thành phần ngữ pháp phụ thuộc vào toàn bộ nòng cốt câu và có tác dụng mở rộng nòng cốt câu để bổ sung những chi tiết cần thiết cho nòng cốt câu hoặc bổ sung cho câu một chức năng, một ý nghĩa tình thái nào đó. Hiểu theo nghĩa rộng: Thành phần phụ của câu là những bộ phận nằm ngoài nòng cốt câu nói chung. Nó có thể có tác dụng mở rộng nòng cốt câu để bổ sung cho nòng cốt câu những chi tiết cần thiết nào đó. Nó cũng có thể không liên quan với nòng cốt câu, mà chỉ liên quan tới một chức năng, một chi tiết nào đó của câu. (Giáo trình này sử dụng khái niệm thành phần phụ theo nghĩa hẹp). a. Nhà, bà có hàng dãy ở phố. (Nguyễn Công Hoan) 86
- b. Hôm qua, em đi chùa H−ơng. (Nguyễn Nh−ợc Pháp) c. Hình nh− chúng nó đều tin t−ởng một cách tuyệt đối. d. Tay ôm chồng sách, chị b−ớc vào phòng. 3.2. Các thành phần phụ của câu 3.2.1. Trạng ngữ 3.2.1.1. Đặc tr−ng * Về chức năng Trạng ngữ bổ sung các ý nghĩa về địa điểm, thời gian, cách thức, ph−ơng tiện, ph−ơng diện, tình hình, nguyên nhân, mục đích, cho sự tình đ−ợc đề cập đến trong câu. Ví dụ: a. Có lần, nhà văn Bớc-na Sô nhận đ−ợc tập bản thảo truyện ngắn của một ng−ời đang tập viết văn, kèm theo một bức th− ngắn. (Tiếng Việt 5 ) b. Giữa mùa hè nóng nực, cháu bé nằm trong chiếc thuyền nhỏ hẹp, ng−ời đầy mụn mủ. (Trần Ph−ơng Hạnh) c. Đêm ấy ngủ, trong giấc mơ, Chấm lại khóc mất bao nhiêu n−ớc mắt. (Đào Vũ) * Về cấu tạo Trạng ngữ th−ờng có cấu tạo là một (những) cụm giới từ (ví dụ a), cụm danh từ (ví dụ b), cụm tính từ (ví dụ c), cụm động từ (ví dụ d), hoặc trạng ngữ cũng có thể là một từ (ví dụ e) hay một tiểu cú (ví dụ g): a. Trong miêu tả, ng−ời ta th−ờng hay so sánh. (Phạm Hổ) b. Ngày mai, các em có quyền mơ t−ởng một cuộc sống t−ơi đẹp vô cùng. (Thép Mới) c. Nhanh nh− một con sóc, nó vụt biến mất. d. Đứng ở đây, nhìn ra xa, phong cảnh thật là đẹp. (Đoàn Minh Tuấn) e. Thỉnh thoảng, câu ru em lại cất lên một đoạn ạ ời (Băng Sơn) g. Tay xách chiếc nón, chị rụt rè b−ớc lên thềm. (Ngô Tất Tố) * Về vị trí Trạng ngữ có vị trí khá linh hoạt, nó có thể đứng đầu, hoặc cuối hoặc giữa câu, th−ờng gặp nhất là tr−ờng hợp trạng từ đứng đầu câu. Chẳng hạn: 87
- a. Hai bên bờ sông, lần l−ợt diễu qua những đồng ruộng và cả những khóm tre, những làng mạc xo ro. (Nam Cao) b. Hồ Chủ tịch, bằng thiên tài trí tuệ và sự hoạt động cách mạng của mình, đã kịp thời đáp ứng nhu cầu bức thiết của lịch sử. (Sách) c. Chị sẽ rời xa anh, dù đau khổ đến mấy . Trong các loại thành phần phụ, trạng ngữ là loại thành phần phụ quan trong nhất do chức năng, tác dụng của nó đối với sự tình đ−ợc diễn đạt trong câu và do khả năng cải biến của nó. Chẳng hạn, ta có thể quan sát khả năng cải biến của trạng ngữ qua ví dụ sau: Ngoài v−ờn, những bông hoa đang nở rộ. (ngoài v−ờn là trạng ngữ). → Những bông hoa đang nở rộ ngoài v−ờn. (ngoài v−ờn thành một bộ phận của vị ngữ). → Những bông hoa ngoài v−ờn đang mở rộ. (ngoài v−ờn thành một bộ phận của chủ ngữ). 3.2.1.2. Các loại trạng ngữ * Trạng ngữ chỉ không gian và thời gian th−ờng có kết cấu là một cụm danh từ hoặc một cụm giới từ. Nó có chức năng biểu thị thời gian hoặc không gian của sự tình đ−ợc đề cập ở thành phần nòng cốt. Ví dụ: a. Giữa những đám mây xám đục, vòm trời hiện ra nh− những khoảng vực xanh vòi vọi. (L−u Quang Vũ) b. Mấy năm ở Sài Gòn, y đã cố tạo cho y một cá tính khác hẳn cá tính của y. (Nam Cao) c. Ngày nay, khách vào thăm Văn Miếu Quốc Tử Giám còn thấy bên giếng Thiên Quang, d−ới những hàng muỗm già cổ kính, 82 tấm bia khắc tên tuổi của 1306 vị tiến sĩ từ khoa thi năm 1442 đến khoa thi năm 1779 nh− chứng tích về một nền văn hiến lâu đời. (Mai Hồng & HB) * Trạng ngữ chỉ tình hình bao gồm trạng ngữ chỉ tình huống và trạng ngữ chỉ cách thức - ph−ơng tiện. đ Trạng ngữ tình huống th−ờng có cấu trúc là một cụm động từ hoặc cụm giới từ hoặc cụm tính từ. Nó có chức năng bổ sung cho sự tình đ−ợc diễn đạt ở nòng cốt câu ý nghĩa về tình huống. Ví dụ: a. Tới cổng tr−ờng cũ, chị tần ngần dừng lại hồi lâu. b. Trong điều kiện hiện nay, ai cũng phải nỗ lực nhiều hơn. c. Trông từ xa, cây cầu nh− một dải lụa bạc vắt qua dòng sông xanh. 88
- ♦ Trạng ngữ chỉ cách thức - ph−ơng tiện th−ờng có cấu trúc là một cụm giới từ mở đầu bằng các giới từ nh− nhờ, với, bằng, qua, Nó có chức năng bổ sung ý nghĩa về cách thức thực hiện sự tình hoặc ph−ơng thức thực hiện sự tình đ đ−ợc đề cập ở nòng cốt câu. Ví dụ: a. Nhờ cái thần thế ấy, hắn mới chửi to, thét mắng khắp cho oai. (Ngô Tất Tố) b. Nguyễn Du, bằng ngòi bút thiên tài, đã dựng nên một kiệt tác bất hủ - “Đoạn tr−ờng tân thanh ”. c. Với trí thông minh và lòng say mê tìm tòi những điều mới lạ, nó đã chiếm giải nhất của cuộc thi “Sáng tạo Trẻ ”. * Trạng từ chỉ nguyên nhân th−ờng là một cụm giới từ, dẫn nhập bằng giới từ chỉ nguyên nhân nh− vì, do, bởi, bởi vì, tại vì. Nó có chức năng bổ sung ý nghĩa nguyên nhân của sự tình đ−ợc biểu hiện ở nòng cốt câu. Nó th−ờng đứng đầu hoặc cuối câu, hiếm khi đứng giữa câu. Ví dụ: a. Vì tình nên phải đi đêm, Vấp năm bảy cái vẫn êm hơn gi−ờng. (Ca dao) b. Vì mây cho núi lên trời, Vì cơn gió thổi hoa c−ời với trăng. (Ca dao) c. Ông ấy đã đi tối qua mà không thể chờ anh, vì quá vội. * Trạng ngữ chỉ mục đích có chức năng bổ sung ý nghĩa mục đích của sự tình đ−ợc biểu đạt ở nòng cốt câu. Nó th−ờng có cấu trúc là một giới từ chỉ mục đích nh− để, nhằm, để cho, Nó th−ờng đứng đầu hoặc cuối câu. Ví dụ: a. Để học hỏi kinh nghiệm, họ đã không quản ngại đ−ờng xa. b. Để giữ vững nền độc lập tự do cho Tổ quốc, những ng−ời chiến sĩ ấy đã anh dũng hi sinh. c. Nó chăm chỉ học tập, để giành kết quả cao trong kì thi tới. * Trạng ngữ chỉ điều kiện/giả thiết có chức năng bổ sung ý nghĩa về điều kiện và giả thiết của sự tình đ−ợc miêu tả ở nòng cốt câu. Nó th−ờng có cấu tạo là một cụm động từ hoặc cụm danh từ có các kết từ nếu, nếu nh−, giá, giá nh− dẫn nhập. Vị trí đầu câu là vị trí chủ yếu của loại trạng ngữ này. Ví dụ: a. Nếu hát nhanh thì bài hát này sẽ tuyệt. b. Nếu khóc đ−ợc, thì nó sẽ đỡ đau đớn hơn một phần, c. Giá nh− có tiền tỉ nó sẽ chẳng ở đây. * Trạng từ chỉ ý nh−ợng bộ th−ờng có cấu trúc là một ngữ đoạn động từ hoặc ngữ đoạn tính từ đ−ợc dẫn nhập bằng các kết từ chỉ ý nh−ợng bộ tuy, dù, mặc dù, dầu, dù rằng, a. Tuy nghèo nh−ng cô ấy rất tốt bụng. b. Dù m−a bão, chúng tôi vẫn lên đ−ờng theo kế hoạch đã định. 89
- c. Mặc dù đau khổ, chị vẫn quyết chia tay với anh. 3.2.2. Khởi ngữ (đề ngữ) Là loại thành phần phụ đứng tr−ớc nòng cốt câu dùng để nêu lên một vật, một đối t−ợng, một nội dung cần bàn bạc với t− cách là chủ đề của câu chứa nó. Ví dụ: a. Quan, ng−ời ta sợ cái uy của quyền thế. Nghị Lại, ng−ời ta sợ cái uy của đồng tiền. (Nguyễn Công Hoan) b. Sống, chúng ta mong đ−ợc sống làm ng−ời. (Sóng Hồng) c. Còn với các ông tân học khác thì lắm khi tôi không muốn nghe nữa. (Vũ Trọng Phụng) d. Nhà, bà ấy có hàng dãy ở khắp các phố. (Nguyễn Công Hoan) Phân biệt khởi ngữ với chủ ngữ đ Chủ ngữ và khởi ngữ đều là bộ phận đứng tr−ớc vị ngữ dùng để nêu lên đối t−ợng, nội dung đ−ợc đề cập với t− cách là chủ đề. Ví dụ so sánh: a. Ngọn Chômôlungma đ−ợc xem là nóc nhà của thế giới. b. Thị trấn Cát Bà xinh nh− một bức tranh thuỷ mặc. c. Quân địch chết hai sĩ quan và một trung đội thiện chiến. d. Tôi thì tôi xin chịu. (Nam Cao) ta thấy, chủ ngữ ở ví dụ (a), (b) và khởi ngữ ở ví dụ (c), (d) đều dùng để nêu lên đối t−ợng, nội dung đ−ợc đề cập với t− cách là chủ đề. đ Điểm khác biệt chủ yếu là chủ ngữ có quan hệ ngữ pháp và ý nghĩa trực tiếp với vị ngữ, còn khởi ngữ thì có quan hệ ngữ pháp với toàn bộ nòng cốt câu mà không có quan hệ ngữ pháp lẫn ngữ nghĩa với thành phần đứng sau nó. Giữa khởi ngữ và nòng cốt câu không có quan hệ chỉnh thể - bộ phận nh− (một kiểu) quan hệ giữa chủ ngữ và vị ngữ, ví dụ: Nhà này // trần rất đẹp., Cây này // trái rất ngon., nh−ng nó có thể có quan hệ tập hợp - thành viên , ví dụ: Quân địch chết hai sĩ quan., Học trò còn hai đứa. 3.2.3. Phụ ngữ tình thái Phụ ngữ là loại thành phần phụ dùng để nêu các ý nghĩa về quan hệ có liên quan với nội dung phần câu còn lại. Loại thành phần phụ này th−ờng biểu thị ý nghĩa tình thái chủ quan (loại ý nghĩa biểu thị sự đánh giá của ng−ời nói đối với sự tình đ−ợc nói đến trong câu hoặc biểu thị mối quan hệ giữa ng−ời nói và ng−ời nghe) và đ−ợc đánh dấu bằng các ph−ơng tiện từ vựng lẫn ph−ơng tiện ngữ pháp nhất định. Nó có thể là cụm động từ, cụm tính từ hoặc từ (tổ hợp) thán từ, tiểu từ tình thái. Ví dụ: a. Cháu quả là chàng gác rừng dũng cảm. 90
- (Nguyễn Thị Cẩm Châu) b. Th−a thầy, em là Khánh, đứa học trò năm nào trèo cửa sổ lớp bị thầy phạt đấy ạ. (Phong Thu) Nhìn chung, phụ ngữ không có vị trí xác định trong câu. Phụ ngữ có thể biểu thị quan hệ của hiện thực khách quan với nội dung của câu. Nó có thể có nghĩa khẳng định hoặc phủ định. Nó th−ờng có cấu tạo là cụm động từ, cụm tính từ và kèm với trợ từ. Chẳng hạn: a. Đúng là nó học giỏi nhất khoa. b. Không phải (là) nó m−ợn sách của tôi. Phụ ngữ có thể biểu thị quan hệ của ng−ời nói với nội dung câu nói (tin t−ởng, hoặc không tin t−ởng, tán thành hoặc không tán thành, với sự tình đ−ợc đề cập trong câu - tình thái đánh giá) hoặc biểu thị quan hệ của con ng−ời nói với ng−ời nghe (tình thái liên cá nhân). Ví dụ: a. Có thể nào anh lại mê em. (Một cô gái ch−a nhìn rõ mặt) (Phạm Tiến Duật) b. Hình nh− em nói anh nghe. Hình nh− có tiếng bạn bè đâu đây. (Đặng V−ơng H−ng) c. Kém nh− nó thì rớt là cái chắc. d. Làm nh− thế, theo ý tôi, là đúng h−ớng rồi. e. Cháu chào bác ạ! (Cũng cần nói thêm là, không phải mọi yếu tố biểu thị tình thái đánh giá đều là thành phần phụ của câu biểu thị ý nghĩa tình thái. Chỉ xem là phụ ngữ tình thái khi sự kiện ngôn ngữ đó có chức năng bổ sung ý nghĩa tình thái cho nòng cốt câu (nh− những tr−ờng hợp đ nêu trên). Nếu sự kiện ngôn ngữ đ−ợc xét chỉ bổ sung ý nghĩa tình thái cho ngữ đoạn nào đó trong câu thì không xem là phụ ngữ tình thái - một loại thành phần phụ của câu. Chẳng hạn: Nó ăn những hai bát đầy., Ngay trong chiều nay, họ sẽ ra Hà Nội.; Chỉ còn có nửa lít thôi.). 4. THàNH PHầN BIệT LậP 4.1. Khái niệm Thành phần biệt lập (thành phần xen) là loại thành phần câu có tính độc lập với nòng cốt câu, có tác dụng giải thích, chú thích cho một chi tiết nào đó trong câu. Nh− những loại thành phần câu khác, thành phần biệt lập có vị trí linh hoạt. Nó có thể đứng đầu, cuối hoặc giữa câu. Về cấu tạo, nó có thể là từ, cụm từ hoặc tiểu cú. Về ph−ơng diện từ loại, nó có thể là ngữ đoạn danh từ, ngữ đoạn động từ, ngữ đoạn tính từ, ngữ đoạn giới từ, liên từ. Ví dụ: a. (Lễ kén chồng kéo dài nhiều đợt). Nh−ng nàng vẫn ch−a −ng ý một ng−ời nào. (Sách) 91
- b. Ngoài ra, chúng ta cần chú hơn về vấn đề vệ sinh môi tr−ờng. c. Chị c−ời, cái c−ời của một ng−ời quen chịu đựng chỉ hé một nửa. (Sách) 4.2. Phân loại 4.2.1. Giải thích, chú thích ngữ là loại thành phần phụ có tác dụng bổ sung các chi tiết, bình phẩm việc đ−ợc nói đến trong câu, làm rõ thái độ, cách thức, thứ tự, làm rõ xuất xứ, v.v cho một chi tiết nào đó trong câu. Nó th−ờng đứng ngay sau yếu tố đ−ợc nó giải thích, chú thích. Nó có thể là từ hoặc cụm từ hoặc tiểu cú. Nó th−ờng đ−ợc ngăn cách với (các) phần câu còn lại bằng dấu phẩy, dấu ngoặc đơn, dấu gạch ngang hoặc dấu hai chấm: a. Phía bên trái là dãy Ba Vì cao vòi vọi, nơi Ngọc Hoa công chúa - con vua Hùng thứ 18 - theo chồng là Tản Viên về trấn giữ. (Đoàn Minh Tuấn) b. Bởi vì bởi vì (San cúi mặt và bỏ tiếng Nam dùng tiếng Pháp) ng−ời ta lừa dối anh. (Nam Cao) c. Thế rồi bỗng một hôm, chắc rằng hai cậu bàn nhau mãi, hai cậu chợt nghĩ kế rủ Oanh chung tiền mở cái tr−ờng. (Nam Cao) d. Cô bé nhà bên (Có ai ngờ) Cùng vào du kích. (Giang Nam) e. Đ−ợc thôi - Th−ợng đế trả lời - những hãy đợi ta một giây! (Tiếng Việt 5 ) g. Mở thúng câu ra là cả một thế giới d−ới n−ớc: cà cuồng, niềng niễng đực, niềng niễng cái bò nhộn nhạo. (Duy Khán) h. Việc đồng nhất hoá đề với “thông báo cũ ” (hay “cái cho sẵn ” - given) và thuyết với “thông báo mới ” cũng x−a cũ nh− việc sử dụng hai thuật ngữ này: nó đã có từ khi tr−ờng Praha bắt đầu xây dựng lí thuyết “phân đoạn thực tại của câu ” vào những năm 30 của thế kỉ (Mathesius 1939). (Cao Xuân Hạo) 4.2.2. Chuyển tiếp ngữ (liên ngữ) là loại thành phần có chức năng đặc thù là liên kết câu/đoạn. Vị trí của chuyển tiếp ngữ là đứng đầu câu. Nó th−ờng có cấu tạo là tổ hợp quan hệ từ, quan hệ từ hoặc những tổ hợp có tác dụng chuyển tiếp (nh− vì vậy, bởi thế, tuy nhiên, và, nh−ng, 92
- song, ngoài ra, mặt khác, thành thử, thêm vào đó, đồng thời, hơn nữa, nhìn chung là, nói tóm lại, ). Cũng có khi ta gặp phụ từ ở chức năng này. Ví dụ: a. Con chó của anh ch−a phải nhịn một bữa nào. Nh−ng xác ng−ời chết đói thì ngập phố ph−ờng. (Nam Cao) b. Ngoài ra, bạn cần đọc thêm những cuốn này. c. Mặt khác, ta cần xem xét nó d−ới ph−ơng tiện nghĩa. d. Còn chị, dạo này công việc thế nào, vẫn ổn chứ? 4.2.3. Hô ngữ là loại thành phần biệt lập biểu thị lời gọi - đáp, đ−a đẩy. Nó có thể trực tiếp hoặc gián tiếp biểu thị quan hệ giữa ng−ời nói và ng−ời nghe. Nó th−ờng đứng đầu hoặc cuối câu. Ví dụ: a. Con đã về đây, ơi mẹ Tơm. (Tố Hữu) b. Vâng, con ra ngay đây. c. Con ơi, về ăn cơm. Hô ngữ có tính biệt lập cao, phần lớn có khả năng tách thành câu đặc biệt một cách dễ dàng (không đòi hỏi điều kiện kèm theo). Chẳng hạn, xét các tr−ờng hợp: a. Thanh ơi, lại đây chơi với bọn mình đi. → Thanh ơi! Lại đây chơi với bọn mình đi. b. ừ, Anh nhớ rồi, mai anh sẽ gửi cho em. → ừ. Anh nhớ rồi, mai anh sẽ gửi cho em. c. Vâng, con ra ngay đây ạ. → Vâng. Con ra ngay đây ạ. &&& Cấu trúc đề - thuyết của câu tiếng Việt Phân tích cấu trúc câu tiếng Việt theo cấu trúc chủ - vị sẽ dẫn đến hiện t−ợng, nh− chúng ta đã thấy ở những phần vừa trình bày, thiếu sự nhất quán trong xử lí: Có những tr−ờng hợp không phải là chủ thể của hành động, trạng thái, đặc tr−ng, quá trình đ−ợc nêu ở vị ngữ mà chỉ là nơi chốn, địa điểm xảy ra sự tình hoặc đối t−ợng tác động của động từ trung tâm nh−ng vẫn đ−ợc xem là chủ ngữ, và cũng chính những tr−ờng hợp ấy ở những cấu trúc khác lại đ−ợc xem là trạng ngữ hoặc bổ ngữ. Chẳng hạn, Trong nhà có khách., Ngày x−a có một ông vua., Nhà này vừa mới xây xong., thì trong nhà, ngày x−a, nhà này đ−ợc xem là chủ ngữ. Còn ở những câu nh− Trong nhà, mọi ng−ời đang chăm chú lắng nghe ông ấy nói., Ngày x−a, nơi đây còn là một bãi hoang., Họ vừa mới xây xong ngôi nhà này., thì trong nhà, ngày x−a đ−ợc xem là trạng ngữ, nhà này đ−ợc xem là bổ ngữ. 93
- Theo ngữ pháp chức năng, do đặc điểm của ngôn ngữ đơn lập nên câu trong tiếng Việt có kiểu tổ chức khác với câu trong ngôn ngữ biến hình. Cấu trúc cú pháp cơ bản của câu tiếng Việt t−ơng ứng với cấu trúc của mệnh đề. Nó bao gồm phần đề (sở đề) nêu lên đối t−ợng đ−ợc đề cập và phần thuyết (sở thuyết) nêu nội dung về đối t−ợng đã đ−ợc đề cập ở phần đề. Theo quan niệm này, cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt đ−ợc phân tích nh− sau: 1. Cấu trúc cơ bản làm nên bộ khung của câu, chuyển tải nội dung thông báo của câu. Nó bao gồm thành phần chính là phần đề, phần thuyết và phần phụ là trạng ngữ. 1.1. Phần đề là thành phần trực tiếp của câu có chức năng nêu đối t−ợng hoặc phạm vi của sự tình đ−ợc đề cập đến trong câu. Đề có cấu tạo khá đa dạng. Nó có thể là từ hoặc cụm từ (cụm đẳng lập, cụm chính phụ hoặc một tiểu cú). Về bản chất từ loại, phần đề th−ờng là danh từ, cụm danh từ hoặc đại từ. Cũng có khi phần đề là động từ, tính từ hoặc cụm động từ, cụm tính từ hoặc cụm giới từ. Ví dụ: a. Biển luôn thay đổi màu tuỳ theo sắc mây trời. (Vũ Tú Nam) b. Những xóm làng trên cù lao sông Tiền có từ bao đời nay không hề biến động. (Vũ Đình Minh) c. Trong rừng có nhiều cây to. d. Nếu trời m−a thì tôi không đi. Phần đề th−ờng đứng tr−ớc phần thuyết. Điều này hoàn toàn phù hợp với đặc điểm của quá trình giao tiếp: khi nói, ng−ời ta nêu ra cái đối t−ợng hoặc cái phạm vi rồi mới thông báo về nội dung của đối t−ợng hoặc nội dung sự tình xảy ra trong cái phạm vi ấy. Trong những điều kiện nhất định, đề có thể đứng sau phần thuyết. Tuy nhiên, những tr−ờng hợp này đều có tính “đánh dấu” rất rõ. Đó là các tr−ờng hợp: 1 Câu cảm thán có hình thức của câu trần thuật a. Đẹp biết bao những lời chân thực ấy. b. Còn đâu những đêm vàng bên bờ suối. (Thế Lữ) c. Đau đớn thay phận đàn bà. (Nguyễn Du) 2 Câu có nhắc lại để nhận định về điều mà ng−ời tiếp chuyện hoặc ng−ời khác đã làm. a. No gì mà no (trong mo ngoài đất). (Truyện cổ Việt Nam) b. Hay gì quyển ấy mà hay. Tuỳ theo nội dung mà để biểu thị, ng−ời ta phân chia đề thành hai loại: - Chủ đề là loại đề nêu đối t−ợng (ng−ời, vật, việc, sự việc) đ−ợc đề cập đến trong câu. Ví dụ: a. Những chiếc vảy của nó bắn ra tung toé thành những tia lửa sáng rực. 94
- (Nguyên Ngọc) b. Nh−ng phải nhìn Hạng A Cháng cày mới thấy hết vẻ đẹp của anh. (Ma Văn Kháng) c. Bầy ong bay đến trọn đời tìm hoa. (Nguyễn Đức Mậu) d. Lom khom d−ới núi tiều vài chú. (Bà huyện Thanh Quan) - Khung đề là loại đề nêu phạm vi mà sự tình xảy ra. Phạm vi có thể là thời gian, không gian xác định: có thể là điều kiện của sự tình. Chúng làm thành cái khung cảnh huống (xác định) để trong phạm vi đó phần thuyết có hiệu lực. a. Nửa tháng sau, cụ ún khỏi bệnh. (Nguyễn Lăng) b. Trong miêu tả, ng−ời ta có thể nhân hoá theo nhiều cách khác nhau. (Phạm Hổ) c. Tới chỗ đông ng−ời, sau một lúc chuyện trò, tất cả lại cùng nhảy múa. (Nguyễn Khắc Tr−ờng) d. Nếu không có nhân dân thì không có lực l−ợng. Nếu không có Chính phủ thì không có ai đ−a đ−ờng. (Hồ Chí Minh) e. Tham thì thâm. Chó treo, mèo đậy. (Tục ngữ) Nh− đ trình bày, chủ đề có thể đứng sau phần thuyết trong những điều kiện nhất định. Còn khung đề không có khả năng này. Nó chỉ có một vị trí, đó là đứng tr−ớc phần thuyết. Nếu đảo ra cuối câu, nó không còn là khung đề nữa (mà là trạng ngữ). Ví dụ so sánh: a. ở ngoài đồng, bà con nông dân đang hăng hái hặt lúa. ( ở ngoài đồng là khung đề chỉ nơi chốn) → Bà con nông dân đang hăng hái gặt lúa, ở ngoài đồng. (ở ngoài đồng là trạng ngữ chỉ nơi chốn) c. Lúc 7 giờ sáng, lớp học sẽ bắt đầu. (Lúc 7 giờ sáng là khung đề chỉ thời gian) → Lớp học sẽ bắt đầu, lúc 7 giờ sáng. (lúc 7 giờ sáng là trạng ngữ chỉ thời gian) c. Nếu gặp khó khăn thì con hãy mở túi này ra. (gặp khó khăn là khung đề chỉ điều kiện) → Con hãy mở túi này ra, nếu gặp khó khăn. (gặp khó khăn là trạng ngữ chỉ điều kiện) Xét các tr−ờng hợp đ−ợc in đậm sau: a. Tôi thì tôi xin chịu. (Nam Cao) b. Ông Hùng í mà, ổng ra Hà Nội rồi. c. Em út, bồ bịch − , anh ấy không có tính ấy đâu. 95
- d. Chị đã đọc cuốn ấy ch−a, cuốn sách của ông Nam ấy. Ta thấy, chúng đề cập đến đối t−ợng đ−ợc nói đến trong câu. Nh−ng khác với chủ đề (và cả khung đề) đã xét ở trên, chúng không phụ thuộc cấu trúc cơ bản cú pháp của câu, nói cách khác, chúng nằm ngoài cấu trúc cơ bản của câu. Mối quan hệ của chúng với phần câu còn lại rất lỏng lẻo, ta có thể l−ợc bỏ mà không ảnh h−ởng gì tới nội dung thông báo cũng nh− cấu trúc cú pháp của câu (khác với khung đề và chủ đề có quan hệ chặt chẽ với phần thuyết, ta không thể l−ợc bỏ mà không ảnh h−ởng tới nội dung thông báo cũng nh− cấu trúc cú pháp của câu). Có những tr−ờng hợp loại đề này có thể tách thành một câu riêng. Chẳng hạn: a. Em út, bồ bịch −, anh ấy không có tính ấy đâu! → Em út, bồ bịch −? Anh ấy không có tính ấy đâu! b. Chị đã đọc cuốn ấy ch−a, cuốn sách của ông Nam ấy? → Chị đã đọc cuốn ấy ch−a? Cuốn sách của ông Nam ấy. c. Ông Hùng hả, ông ấy ra Hà Nội rồi. → Ông Hùng hả? Ông ấy ra Hà Nội rồi. Do vậy, nhóm này đ−ợc gọi là ngoại đề, tức loại đề nằm ngoài cấu trúc cú pháp cơ bản của câu. Đối lập với ngoại đề là nội đề, gồm khung đề và chủ đề là loại đề thuộc cấu trúc cú pháp cơ bản của câu. 1.2. Phần thuyết là thành phần trực tiếp của câu có chức năng nêu nội dung về đối t−ợng hoặc sự tình đã đ−ợc đề cập đến ở phần đề. Ví dụ: a. Có công mài sắt có ngày nên kim. (Tục ngữ) b. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. (Ca dao) c. Mặt trăng đã nhỏ lại, sáng vằng vặc ở trên không và du du nh− sáo diều. (Thạch Lam) Phần thuyết có cấu tạo khá đơn giản. Nó có thể là từ hoặc cụm từ (cụm đẳng lập, cụm chính phụ hoặc là một tiểu cú). Về bản chất từ loại, phần thuyết th−ờng là động từ, tính từ, cụm động từ, cụm tính từ. Ngoài ra, phần thuyết cũng có thể là danh từ, cụm danh từ, đại từ. Chẳng hạn: a. Cành đào nở hoa cho sắc xuân thêm rực rỡ, ngày xuân thêm t−ng bừng. (Tô Hoài) b. Trên trời mây trắng nh− bông. (Ngô Văn Phú) c. Dừa vẫn đứng hiên ngang cao vút. Lá vẫn xanh rất mực dịu dàng. (Lê Anh Xuân) d. Rau nào sâu ấy. (Tục ngữ) 96
- e. Nó thì vậy còn anh thì sao? Do có chức năng nêu rõ nội dung về đối t−ợng hoặc về phạm vi đã đ−ợc đề cập ở phần đề nên phần thuyết th−ờng đứng sau phần đề. Đây là trật tự thuận chiều của câu tiếng Việt (xem mục 1.1. và các ví dụ đã nêu trên). Giữa đề và thuyết có những dấu hiệu giúp ta nhận định chúng. - Các tác tử thì là mà. Trong đó, thì, là là các tác tử cú pháp đánh dấu ranh giới đề - thuyết bậc câu. Còn mà là tác tử phân giới đề - thuyết bậc tiểu cú (bộ phận câu có cấu trúc nh− một câu). Ví dụ: a. Có làm thì mới có ăn. Không làm (thì) chết đói nhăn răng, đáng đời. (Tục ngữ) b. Hà Nội là thủ đô n−ớc Việt Nam. c. Ng−ời ta là hoa đất. (Tục ngữ) d. Ng−ời mà đến thế thì thôi. (Nguyễn Du) e. Bây giờ mà đi thì chẳng kịp nữa đâu. - Các yếu tố sóng đôi nào (ai) nấy (/ấy), bao nhiêu bấy nhiêu, đâu đấy, bao giờ bấy giờ cũng là những dấu hiệu giúp nhận diện phần đề và phần thuyết. Trong đó yếu tố thứ nhất gắn với phần đề, yếu tố thứ hai gắn với phần thuyết. Ví dụ: a. Giỏ nhà ai quai nhà ấy. (Tục ngữ) b. Rau nào sâu ấy. (Tục ngữ) c. Đình bao nhiêu ngói th−ơng mình bấy nhiêu. (Ca dao) d. Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. (Tục ngữ) e. Bao giờ đỗ trạng bấy giờ c−ới nhau. (Ca dao) - Các phụ từ dùng sóng đôi ch−a đã, mới đã, đã lại, càng càng, mỗi một, cũng là những dấu hiệu nhận định đề - thuyết. Trong đó, yếu tố thứ nhất gắn với phần đề (mở đầu phần đề), yếu tố thứ hai gắn với phần thuyết (mở đầu phần thuyết). Ví dụ: a. Ch−a đỗ ông nghè đã đe hàng tổng. (Tục ngữ) b. Mới 5 giờ mà đã dậy. 97
- c. Đã giàu lại giàu thêm, đã khó lại khó cả đêm lẫn ngày. (Tục ngữ) d. Càng yêu ng−ời bao nhiêu, càng yêu nghề bấy nhiên. (Lời bài hát) e. Mỗi ng−ời một việc. - Các phụ từ phụ tr−ớc cho động từ, tính từ, nh− cũng, sẽ, đã, hãy, đừng, chớ, không, ch−a, chẳng, cũng là yếu tố phân giới đề - thuyết. Chúng gắn với phần thuyết (mở đầu phần thuyết). Ví dụ: a. Anh ấy viết gì cũng đ−ợc. b. Tôi sẽ ra Hà Nội vào ngày mai. c. Các em hãy giải bài tập này trong 5 phút. - Các động từ tình thái bèn, toan, định, muốn, đánh dấu phần thuyết. Chẳng hạn: a. Ông bèn lên ngôi và đặt tên n−ớc là Đại Cồ Việt. b. Họ muốn có kết quả ngay trong ngày hôm nay. c. Nó định đi nh−ng vì th−ơng em nên lại thôi. - Câu có phần đề có dáng dấp câu hỏi giả định. Ví dụ: a. Ghét của nào trời trao của ấy. b. Lúc ra đi nh− thế nào, lúc về vẫn vậy. 1.3. Trạng ngữ là thành phần trực tiếp của câu, có chức năng biểu thị các ý nghĩa về nguyên nhân, mục đích, cách thức, trạng thái, ph−ơng thức, ph−ơng tiện, thời gian và không gian không xác định. Trạng ngữ có thể đứng đầu, giữa hoặc cuối câu. (Giữa trạng ngữ và cấu trúc đề - thuyết không thể thêm thì ). 2. Các thành phần ngoài cấu trúc cú pháp cơ bản gồm vế câu than gọi, vế câu phụ chú, ngoại đề. (Xem Cao Xuân Hạo, 2004, sđd) 5. PHâN LOạI THEO CấU TRúC Cú PHáP Vấn đề phân loại câu cũng t−ơng tự những vấn đề khác của ngữ pháp. Hiện nay có bốn h−ớng phân loại chính: 1 phân thành câu đơn và câu ghép; 2 phân thành câu đơn, câu ghép và câu đặc biệt; 3 phân thành câu đơn, câu ghép và câu d−ới bậc; 4 phân thành câu đơn, câu phức, câu ghép (giáo trình đi theo h−ớng này). 5.1. Câu đơn 5.1.1. Khái niệm Câu đơn là câu chỉ có một nòng cốt câu và không chứa hơn một kết cấu chủ - vị. Ví dụ: a. N hiều thế hệ ng−ời Việt Nam đã đặt chân lên đây, khi tìm báu vật, khi trồng cây xanh để xanh t−ơi cho mãi tới hôm nay. 98
- (Hà Đình Cẩn) b. Hôm nay, gió ngoài sông Hậu vẫn thổi vào lồng lộng. (Nguyễn Thi) c. Bà cụ không biết bao nhiêu tuổi giời, không biết bao nhiêu tuổi lao động, bán quán đ−ợc bao nhiêu năm. (Nguyễn Tuân) d. ở đây, nhiều muỗi quá. 5.1.2. Phân loại 5.1.2.1. Câu đơn bình th−ờng là câu đơn có đủ cả chủ ngữ và vị ngữ. (Nó có thể có hoặc không có thành phần phụ). Ví dụ: a. ở phía bờ Đông Bắc, mặt hồ phẳng lặng nh− g−ơng. (Thiên L−ơng) b. N−ớc trong ao hồ, trong đồng ruộng của mùa m−a hoà lẫn với n−ớc dòng sông Cửu Long. (Nguyễn Quang Sáng) c. Ngày kia, đến bờ sông, chúng tôi ghép ba bốn lá bèo sen lại, làm một chiếc bè. (Tô Hoài) 5.1.2.2. Câu một phần là câu đơn chỉ có bộ phận vị ngữ và có thể có hoặc không có thành phần phụ đi kèm. Ví dụ: a. Trong rừng th−ờng có nhiều cây to. b. Trên t−ờng treo hai bức sơn mài. c. Nhiều sao quá. 5.1.2.3. Câu đặc biệt vẫn th−ờng đ−ợc hiểu theo nội hàm và ngoại diên là câu không phân định thành phần. Thế nh−ng xung quanh khái niệm “câu đặc biệt” không phải đều đạt đ−ợc sự thống nhất triệt để, hiện có h−ớng xử lí: (1) coi là câu đặc biệt những tr−ờng hợp gồm cả câu ngữ cảnh (Bông. Băng. Cồn), câu thán từ, hô ngữ, ứng ngữ, (ối!, á; Dạ.; v.v.). (2) Nhất quán với quan niệm “không phân định thành phần” không xem câu ngữ cảnh là câu đặc biệt (xem Cao Xuân Hạo, 2004, sđd). Những câu nh−: a. Bông! Băng! b. Còi! c. Nhiều muỗi quá! xét cho cùng là câu tỉnh l−ợc, ví dụ (a) là kiểu câu xuất hiện trong ngữ cảnh bác sĩ phẫu thuật nói với phụ tá phẫu thuật, ta hoàn toàn khôi phục dạng đầy đủ của nó: “Anh (cô) hãy đ−a cho tôi bông thấm n−ớc! ”, Anh (cô) hãy đ−a cho tôi băng gạc! ”. Ví dụ (b) là yêu cầu của ng−ời lái tàu đối với ng−ời giúp việc “Anh kéo còi hộ tôi! ”. Ví dụ (c) không khác gì câu chỉ có vị ngữ trên bề mặt kiểu Trong rừng th−ờng có nhiều cây to, tuỳ ngữ cảnh mà nó sẽ đ−ợc hiểu là ở đây nhiều muỗi quá hay là Đêm nay nhiều muỗi quá. Những tr−ờng hợp nh− M−a!, Cháy!, Máy bay!, Bom!, cũng t−ơng tự. 99
- Các loại câu đặc biệt * Câu đặc biệt thán từ a. - ối giời ơi! (Sao lại làm thế này?) b. - A! (Mẹ đã về). c. - Chao ôi! (Cảnh biệt li sao mà buồn thế vậy) * Câu đặc biệt hô ngữ và ứng ngữ a. - Anh này! (Lại đây em bảo.) b. - Thanh ơi! - Dạ! * Câu đặc biệt t−ợng thanh a. ò ò (Đàn bò reo lên). b. ùng! Oàng. (Từ miệt Trà Vinh vọng lên tiếng đại bác). (Sách) * Câu tiêu đề Ngoài ba loại trên, Cao Xuân Hạo còn đề cập đến loại câu đặc biệt - câu tiêu đề (tên cơ quan, tác phẩm, cửa hiệu, ). Tên cơ quan, tác phẩm trừ những tr−ờng hợp có cấu tạo là câu bình th−ờng nh− Ng−ời đi tìm hình của n−ớc, Bạn đọc viết, Quang Trung đại phá quân Thanh, Mã Giám Sinh mua Kiều, Thuý Kiều báo ân báo oán, còn những tiêu đề nh− Viện Ngôn ngữ học, Công ti xuất khẩu, Bão biển, Mẫn và tôi, Còn lại một mình, V−ợt Côn Đảo, khó có thể xác định đ−ợc đó là chủ ngữ hay vị ngữ, nó khác câu tỉnh l−ợc (không thể thêm yếu tố nào khác) và ng−ời đọc có cảm nhận đối với nó khác với câu tỉnh l−ợc: cảm nhận đó là một cái tên gọi trọn vẹn - câu tiêu đề -, cảm nhận là một thông tin bị l−ợc bỏ những phần d− (nhờ ngữ cảnh, qua ngữ cảnh) - câu ngữ cảnh. (xem Cao Xuân Hạo 2004, sđd). 5.2. Câu phức là câu có một nòng cốt câu nh−ng có hai hoặc hơn hai kết cấu chủ - vị. Trong đó chỉ có một kết cấu chủ - vị làm nòng cốt câu, (các) kết cấu chủ - vị còn lại không làm thành một nòng cốt riêng mà chỉ là một thành phần của câu (chủ ngữ (ví dụ a), vị ngữ (ví dụ b), trạng ngữ (ví dụ c), giải thích ngữ (ví dụ d) hoặc một thành tố của cụm từ chính phụ (bổ ngữ (ví dụ e), định ngữ (ví dụ g)): a. Gió // thổi tắt đèn. b. Hồi ấy, nhà này sân // rất rộng. c. Tay // cắp chiếc tráp, ông đồ b−ớc vào phòng. (Ngô Tất Tố) d. Mở hòm dụng cụ ra là một thế giới mặt đất: con xập cành, con muỗm // to xù, mốc thếch, ngó ngoáy. (Duy Khán) e. Nam đ−ợc nhà tr−ờng // tặng giải nhất cuộc thi hùng biện. g. Quyển sách mà anh // tặng em rất hay. 100
- Tuỳ thuộc vào tiểu cú (kết cấu chủ - vị) giữ chức năng gì (chủ ngữ hay vị ngữ, trạng ngữ hay giải thích ngữ, bổ ngữ hay định ngữ) mà nó sẽ đ−ợc gọi tên theo chức năng ấy. Ví dụ: a. D−ới tầng đáy rừng, tựa nh− đột ngột bỗng rực lên những chùm hoa thảo quả // đỏ chon chót, bóng bẩy nh− chứa lửa, chứa nắng. (Ma Văn Kháng) (Câu phức có kết cấu chủ - vị (kết cấu C - V) làm chủ ngữ) b. Những quyển sách này bìa // rất đẹp. (Câu phức có kết cấu C - V làm vị ngữ) c. Tay // ôm chồng sách, Nam b−ớc vào phòng. (Câu phức có kết cấu C - V làm trạng ngữ) d. Mở thùng câu ra là cả thế giới d−ới n−ớc: cà cuống, niềng niễng đực, niềng niễng cái // bò nhộn nhạo. (Duy Khán) (Câu phức có kết cấu C - V làm thành phần giải thích) e. Nh−ng trong trí thơ ngây của chú còn mãi sáng ngời hình ảnh một cành hoa mận trắng // biết nở cuối đông để báo tr−ớc mùa xuân tới. (Nguyễn Kiên) (Câu phức có kết cấu C - V làm định ngữ) g. Nam đ−ợc cô khen. (Câu phức có kết cấu C - V làm bổ ngữ) 5.3. Câu ghép là câu có hai nòng cốt câu trở lên. Dựa vào hình thức và ph−ơng tiện liên kết các vế câu, có thể phân chia thành câu ghép có quan hệ từ và không có quan hệ từ liên kết các vế câu. 5.3.1. Câu ghép có quan hệ từ (/phụ từ) là kiểu câu ghép mà giữa các vế câu đ−ợc liên kết với nhau bằng quan hệ từ hoặc phụ từ. Có thể dựa vào mối quan hệ ngữ nghĩa - ngữ pháp và loại quan hệ liên kết các vế trong kiểu câu ghép này để phần thành câu ghép đẳng lập, câu ghép chính phụ, câu ghép qua lại. * Câu ghép đẳng lập là câu ghép có các vế câu có quan hệ ngang hàng bình đẳng, không lệ thuộc nhau; các vế câu đ−ợc liên kết bằng quan hệ đẳng lập. Mối quan hệ giữa các vế câu th−ờng lỏng lẻo nên có thể tách mỗi vế câu thành một câu độc lập. Ví dụ: a. Tháng Chín là tháng cuối cùng của mùa thu, nh−ng bây giờ ngồi nhớ lại những ngày tháng Chín đã qua ở Bắc, tôi thấy rằng tháng Chín không hẳn là thế, mà còn ấp ủ một cái đẹp hơn thế, đa tình hơn thế: ấy là lúc đôi mùa thu, đông gặp nhau, mở hội giao hoan tr−ớc khi đ−a tiễn nhau trên bến sông cỏ bạc đầy, có gió lạnh mới về chạy xạc xào trong lau lách. (Vũ Bằng) 101
- → (1) Tháng Chín là tháng cuối cùng của mùa thu. (2) Nh−ng bây giờ ngồi nhớ lại những ngày tháng Chín đã qua ở Bắc, tôi thấy rằng tháng Chín không hẳn là thế, mà còn ấp ủ một cái đẹp hơn thế, đa tình hơn thế: ấy là lúc đôi mùa thu, đông gặp nhau, mở hội giao hoan tr−ớc khi đ−a tiễn nhau trên bến sông cỏ bạc đầy, có gió lạnh mới về chạy xạc xào trong lau lách. b. Phu nhân chỉ thấy loa loá một lá cờ đỏ và phu nhân cố chạy theo bà con đến gần lá cờ mà xem cho rõ. (Nguyễn Huy T−ởng) → (1) Phu nhân chỉ thấy loa loá một lá cờ đỏ. (2) Và phu nhân cố chạy theo bà con đến gần lá cờ mà xem cho rõ. c. (Chiều nay hoặc chậm lắm là mai sẽ biết). Anh ở lại hoặc tôi sẽ ở lại. → Anh ở lại. Hoặc tôi sẽ ở lại. Dựa vào mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các vế câu, có thể tách câu ghép đẳng lập thành các tiểu nhóm nh− sau: đđđ Câu ghép có quan hệ liệt kê: mỗi vế câu biểu thị hai (những) sự vật, hiện t−ợng, quá trình, tính chất cùng loại. Các vế câu đ−ợc liên kết với nhau bằng quan hệ từ biểu thị quan hệ liên hợp - quan hệ từ và: a. Một ng−ời đàn và một ng−ời hát. b. Đồng Tháp có nhiều lúa và Đồng Tháp còn có rất nhiều cá. c. M−a to và gió lớn. đđđ Câu ghép có quan hệ tuyển lựa: Mỗi vế câu biểu thị một khả năng của sự tình. Các vế câu đ−ợc liên kết với nhau bằng quan hệ biểu thị quan hệ lựa chọn giữa nhiều (th−ờng là hai) khả năng nh− nhau, không khả năng này thì khả năng kia, ít nhất có một khả năng đ−ợc thực hiện - quan hệ từ hay, hoặc. Ví dụ: a. Mình đọc hay tôi đọc. (Nam Cao) b. Anh đi hoặc tôi đi. c. Anh đi hay nó đi cũng đ−ợc. d. Tôi đi, anh đi hay cả nó đi cũng đ−ợc. đđđ Câu ghép có quan hệ tiếp nối: Các vế câu biểu thị các sự tình tiếp nối theo trật tự tuyến tính, chúng đ−ợc liên kết với nhau bằng quan hệ từ có ý nghĩa liệt kê - quan hệ từ và. Ví dụ: a. Chiếc xe ấy dừng lại và chiếc khác lại đỗ ngay bên cạnh. b. Phát súng nổ và con chim rơi xuống. đđđ Câu ghép có quan hệ đối chiếu: Các vế câu biểu thị các sự tình t−ơng phản, đối ứng nhau. Chúng đ−ợc liên kết với nhau bằng quan hệ biểu thị quan hệ đối chiếu, t−ơng phản - quan hệ từ mà, nh−ng, song. Ví dụ: a. Vợ anh không kêu mà bà trùm cũng không giục rặn nữa. 102
- (Nguyễn Công Hoan) b. Lễ kén chồng kéo dài nhiều đợt nh−ng nàng vẫn ch−a −ng ý một ng−ời nào. (Sách) c. Tôi nói mãi rồi song nó có chịu nghe đâu. Tuy chức năng và ý nghĩa khái quát chung là vật nh−ng ba từ mà, nh−ng, song có những khác biệt kinh tế: từ mà dùng để biểu thị điều sắp nêu ra là mặt khác, đối chiếu, bổ sung cho điều vừa nói đến (ví dụ a), nh−ng lại có ý nghĩa biểu thị điều sắp nêu ra ng−ợc với ý do điều vừa nói có thể gợi ra (ví dụ b), từ song t−ơng tự với từ nh−ng tuy nhiên mức độ nhấn mạnh song nhiều hơn. So sánh: Vợ anh không kêu mà (nh−ng/song) bà trùm cũng không giục rặn nữa. * Câu ghép chính phụ: giữa các vế câu có quan hệ phụ thuộc và đ−ợc liên kết với nhau bằng quan hệ từ chính phụ. Vì vậy, mối quan hệ giữa các vế câu trong câu ghép chính phụ th−ờng chặt chẽ, khó có thể tách mỗi câu thành câu độc lập (nh− đối với câu ghép đẳng lập hoặc câu ghép chuỗi). Dựa vào quan hệ ngữ nghĩa giữa các vế trong câu ghép chính phụ mà ng−ời ta th−ờng tách nó thành các tiểu nhóm: đđđ Câu ghép có quan hệ nhân quả: Các vế câu đ−ợc liên kết với nhau bằng (cặp) quan hệ từ chỉ nguyên nhân và hệ quả, vì nên, bởi nên, bởi vì cho nên, tại nên, Vế câu chỉ nguyên nhân có thể đứng tr−ớc hoặc sau vế câu chỉ hệ quả. Ví dụ: a. Lụt ch−a rút nên n−ớc vẫn mênh mông. → N−ớc vẫn mênh mông vì lụt ch−a rút. b. Vì trời m−a nên đ−ờng lầy lội. → Đ−ờng lầy lội vì trời m−a. đđđ Câu ghép có quan hệ điều kiện/giả thiết - hệ quả Vế chỉ hệ quả có thể đứng tr−ớc hoặc sau vế chỉ điều kiện/giả thiết. Các vế câu đ−ợc liên kết với nhau bằng quan hệ từ chỉ điều kiện/giả thiết - hệ quả, nếu thì, giá thì, Ví dụ: a. Nếu trời m−a thì tôi xin đến trễ m−ơi phút. b. Giá ngày ấy anh cất đ−ợc lời nh− biển ta đâu xa cách đến giờ. (Ngân Vịnh) c. Còn hơn một đồng nữa chúng con biết chạy vào đâu đ−ợc nếu cụ chỉ cho một đồng. (Ngô Tất Tố) d. Ngủ trọ phải hai xu một tối nếu chị không ăn cơm, ăn quà. (Ngô Tất Tố) đđđ Câu ghép có quan hệ nh−ợng bộ - tăng tiến Trật tự vế câu trong loại này không bắt buộc - vế câu biểu thị ý nh−ợng bộ có thể đứng tr−ớc hoặc sau vế câu biểu thị quan hệ tăng tiến. Các vế câu đ−ợc liên kết với nhau bằng (cặp) quan hệ từ biểu thị ý nh−ợng bộ - tăng tiến, tuy nh−ng, mặc dù nh−ng . Ví dụ: 103
- a. Mặc dù giặc Tây hung tàn chúng quyết không ngăn trở chúng ta kháng chiến thành công. (Hồ Chí Minh) b. Tuy rét vẫn kéo dài nh−ng mùa xuân đã đến bên bờ sông L−ơng. (Nguyễn Đình Thi) đđđ Câu ghép có quan hệ mục đích - sự kiện: Vế câu chỉ mục đích có thể đứng tr−ớc hoặc sau vế câu chỉ sự kiện. Vế câu chỉ mục đích đ−ợc dẫn nhập bằng quan hệ từ chỉ mục đích, nh− để, nhằm, để cho, cho. Ví dụ: a. Cháu có công ấp ủ mầm sống, để xuân về cây cối đâm chồi nảy lộc. (Từ Nguyên Tĩnh) b. Để Tổ quốc đ−ợc độc lập, họ đã hi sinh cả tuổi thanh xuân. * Câu ghép qua lại (câu ghép có phụ từ liên kết) a. Càng yêu ng−ời bao nhiêu càng yêu nghề bấy nhiêu. (Lời bài hát) b. Xe vừa dừng mà họ đã chạy xô tới vây chặt tứ phía. (Sách) c. Cô ấy không chỉ xinh đẹp (mà) cô ấy còn rất dịu dàng. * Câu ghép nhiều bậc là những câu trong đó mỗi vế tự nó lại là một cấu tạo có dạng câu ghép. Th−ờng gặp câu ghép hai bậc. Xét ví dụ: (a) Tuy tôi đã nói nhiều lần (b) nh−ng nó đâu có nghe (c) thành thử đến giờ việc vẫn ch−a xong. Ta thấy: bậc 1: (a) chỉ ý nh−ợng bộ, (b), (c) chỉ ý tăng tiến; bậc 2: (b) là vế chỉ nguyên nhân, (c) là vế chỉ hệ quả. Xét tiếp ví dụ: (a) Cách mạng là ở đó, (b) vĩ đại là ở đó, (c) khúc ca hùng tráng là ở đó (d) và giáo dục cũng chính là ở đó. (Sách) ở ví dụ này, bậc 1: (a), (b), (c) bình đẳng với (d) qua kết từ và; bậc 2: (a) - (b) - (c) theo kiểu ghép chuỗi. 5.3.2. Câu ghép không có kết từ (câu ghép chuỗi) là loại câu ghép không có kết từ liên kết giữa các vế câu, các vế câu đ−ợc ngăn cách bằng dấu phẩy hoặc dấu chấm phẩy. Mối quan hệ giữa các vế câu lỏng lẻo, có thể tách mỗi vế câu thành câu đơn. Ví dụ: a. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. (Hồ Chí Minh) b. Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi s−ơng. (Vũ Tú Nam) 104
- (Tách câu ghép không có kết từ thành một nhóm riêng không chỉ vì dấu hiệu có hay không kết từ mà còn vì mối quan hệ ngữ pháp giữa các vế trong kiểu câu ghép này th−ờng phụ thuộc ngữ cảnh. Chẳng hạn, xét câu: Trời âm u mây m−a, biển xám xịt, nặng nề. (Vũ Tú Nam), có thể là câu ghép chính phụ nếu nó có quan hệ nhân quả Vì trời âm u mây m−a nên biển xám xịt nặng nền hoặc có thể có quan hệ điều kiện - nhân quả Nếu trời âm u mây m−a thì biển xám xịt nặng nề. Nó cũng có thể là câu ghép đẳng lập nếu xuất hiện trong ngữ cảnh liệt kê, ví dụ: Trời âm u mây m−a, biển xám xịt nặng nề, những con thuyền nằm lặng lẽ trên bãi., v.v Trong ch−ơng trình, sách giáo khoa Tiểu học, tiểu nhóm này đ−ợc xem là câu ghép đẳng lập.) Phân biệt câu đơn, câu phức, câu ghép Để tiện lợi về mặt giảng dạy, có thể nêu một số quy −ớc có tính chất hình thức để phân biệt câu đơn, câu phức, câu ghép. Cụ thể là: đđđ Xem là câu ghép khi câu đ−ợc xét có: - Cả hai hoặc hơn hai vế câu đều là cụm chủ - vị. a. Vì nó bị bệnh nên nó không làm đ−ợc. b. Nó trúng tuyển vì nó không chỉ giỏi chuyên môn mà còn giỏi ngoại ngữ. c. Nó vì con bị bệnh nên không đi làm đ−ợc. - Khi vế phụ là cụm chủ - vị còn vế chính là một động/tính từ hoặc cụm động/tính từ. Chẳng hạn (vế chính đ−ợc in đậm): a. Vì anh thận trọng nên đã thành công. b. Vì nó ôm nên không đi làm đ−ợc. c. Tôi vì quá bận nên không đến đ−ợc. - Khi cả hai vế, mỗi vế đều chỉ có một động từ, tính từ hay cụm động từ, cụm tính từ, cụm danh từ, ví dụ: a. Tham thì thâm. (Tục ngữ) b. Ch−a đỗ ông nghè đã đe hàng tổng. (Tục ngữ) c. Rau nào sâu ấy. (Tục ngữ) đđđ Xem là thành phần phụ của câu (trạng ngữ) khi bộ phận đó là một cụm từ và không phải là cụm chủ vị, không kể vị trí của bộ phận phụ đó đứng tr−ớc hay sau hay giữa bộ phận chính, ví dụ: a. Nhờ học giỏi, nó trúng tuyển. b. Nó trúng tuyển, nhờ học giỏi. c. Nó vì bị bệnh nên không đi làm đ−ợc. 105
- d. Nó vì anh tôi mà bị đánh. 6. PHâN LOạI CÂU THEO MụC ĐíCH PHáT NGÔN Xét theo mục đích giao tiếp, câu còn có thể phân chia thành câu trần thuật, câu cầu kiến, câu nghi vấn, câu cảm thán. Tuy nhiên, mục đích giao tiếp, nội dung thông báo của câu không tách rời với hình thức tổ chức diễn đạt của câu. 6.1. Câu trần thuật (câu kể, câu t−ờng thuật) Câu trần thuật là câu dùng để miêu tả về sự tình hoặc để nêu nhận định, phán đoán, nhằm thông báo về những sự vật hiện t−ợng, hoạt động, trạng thái, đặc tr−ng, tính chất trong hiện thực khách quan, hoặc để thể hiện những nhận định, đánh giá của ng−ời nói về một sự vật, hiện t−ợng nào đó. Do đó, câu t−ờng thuật không chứa đựng điều ng−ời nói muốn hỏi, hay muốn ng−ời nghe hành động và không yêu cầu ng−ời nghe phải trả lời hay hành động theo ý muốn của ng−ời nói. Ví dụ: a. Non sông Việt Nam có trở nên t−ơi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có b−ớc tới đài vinh quang để sánh vai với các c−ờng quốc năm châu đ−ợc hay không, chính là nhờ một phần lớn công học tập của các em. (Hồ Chí Minh) b. Những thân cây trám vỏ trắng v−ơn lên trời, chẳng khác gì những cây nến khổng lồ, đầu lá rủ phất phơ. (Đoàn Giỏi) c. Một trăm ng−ời con của Lạc Long Quân và Âu Cơ sau này trở thành tổ tiên của ng−ời Việt Nam ta. (Nguyễn Đổng Chi) Về mặt hình thức cấu tạo, câu trần thuật không chứa các yếu tố nghi vấn (đại từ nghi vấn, ngữ điệu nghi vấn), các yếu tố cảm thán (phụ từ cầu khiến, ngữ điệu cầu khiến) và các yếu tố cảm thán (thán từ, ngữ điệu cảm thán). Câu trần thuật không chứa đựng dấu hiệu hình thức riêng trong cấu tạo (nh− câu nghi vấn, cầu khiến, cảm thán). Khi viết, cuối câu trần thuật th−ờng dùng dấu chấm (có những tr−ờng hợp do mục đích tu từ, tác giả có thể dùng dấu chấm cảm thay cho dấu chấm). Ví dụ: a. Dãy Tam Đảo nh− bức t−ờng xanh sừng sững chắn ngang bên phải đỡ lấy mây trời cuồn cuộn. (Đoàn Minh Tuấn) b. Tôi th−ờng đọc Vị Tế bằng nỗi xúc động thật sự nh− đọc một bài thơ cuộc đời; bởi nó phát đi một dự báo đầy lo âu về cuộc hành trình mà con ng−ời phải v−ợt qua suốt cõi nhân sinh: rằng, có một dòng sông đang ở phía tr−ớc, và đừng quên rằng anh là một ng−ời ch−a qua sông. (Hoàng Phủ Ngọc T−ờng) c. Cái ví bật khoá! [ ] Tôi ở d−ới vực sâu kêu lên Chúa tôi! [ ]. Bỏ bảy hào vào túi, Dâng cứ ríu cả tay! Một trinh tiền cắc với hai cái kẹo bột cho thằng cu thế là vì sự vụng tính và không cả quyết của Dâng mà bị mất! [ ]. Mẹ đã đội hết cả mấy quả núi than Hòn Gan, Đông Triều! [ ]. Thoạt kì thuỷ chỉ có mấy gian nhà lợp gỗ lá làm nh− kiểu nhà sàn trên Thổ, trên Mán! (Nguyên Hồng) 106
- (ở (c), cả sáu câu đ−ợc trích dẫn từ tác phẩn Sóng gầm đều là câu trần thuật, nh−ng Nguyên Hồng không dùng dấu chấm để kết thúc câu mà đã dùng dấu chấm cảm - một cách dùng “chệch chuẩn” với dụng ý tu từ rõ rệt: nhấn mạnh sự khẳng định đối với sự kiện đ−ợc miêu tả). Câu trần thuật đ−ợc xem là kiểu câu cơ bản. Vì nhìn chung, từ đó, nếu thêm các yếu tố nghi vấn, ta có thể chuyển đổi thành câu nghi vấn; nếu thêm các yếu tố cảm thán, ta có thể chuyển đổi thành câu cảm thán; nếu thêm các yếu tố cầu khiến, ta sẽ có thể chuyển đổi thành câu cầu khiến và ng−ợc lại. Ví dụ: a. Nam đọc sách. (câu trần thuật) → Nam đọc sách −? (câu nghi vấn) → Nam đọc sách đi! (câu cầu khiến) → Trời, Nam đọc sách kìa! (câu cảm thán) b. Thứ ớt này cay lắm phải không? (câu nghi vấn) → Thứ ớt này cay lắm / không cay lắm. (câu trần thuật) c. Nam, hãy đóng cửa sổ lại cho đỡ lạnh! (câu cầu khiến) → Nam đóng cửa sổ lại cho đỡ lạnh. (câu trần thuật) d. Trời đất ơi, mẹ đã dặn rồi mà con không chịu nghe! (câu cảm thán) → Mẹ đã dặn rồi mà con không chịu nghe. (câu trần thuật) 6.1.2. Phân loại 6.1.2.1. Câu khẳng định là câu xác nhận hoạt động, trạng thái, tính chất, quan hệ, của một đối t−ợng, Về hình thức, phần nhiều câu khẳng định không chứa đựng các từ phủ định ( không, ch−a, chẳng) . Ví dụ: a. Màu lúa chín d−ới đồng vàng xuộm lại. (Tô Hoài) b. Huế thức dậy trong một nhịp chuyển mới, đi vào cuộc sống ban đầu của nó. (Hoàng Phủ Ngọc T−ờng) c. Tôi cố căng mắt nhìn xuyên qua màn đêm thăm thẳm với hi vọng tìm thấy một đốm lửa báo hiệu có một bản làng bình yên phía xa đang chờ đón. (Tiếng Việt 5, tập một) d. Ông hi sinh, nh−ng tấm lòng trung với n−ớc của ông còn sáng mãi. (Sách) Tuy nhiên, những câu có nội dung khẳng định nh−ng có chứa yếu tố phủ định cũng không hiếm. Có thể kể các dạng chủ yếu nh− sau: * Câu khẳng định có thể chứa từ phủ định nh−ng d−ới hình thức “phủ định của phủ định”, trong dạng thức này yếu tố phủ định đi thành cặp (sóng đôi); và mục đích của câu vẫn để khẳng định nh−ng ở mức độ cao hơn. Ví dụ: 107
- a. ớt nào là ớt chẳng cay. (Ca dao) → Mọi thứ ớt đều cay. b. Không ai không tin điều nó nói. → Mọi ng−ời đều tin điều nó nói. c. Bài này ai mà chẳng làm đ−ợc. → Bài nay, mọi ng−ời đều làm đ−ợc. * Có những câu khẳng định có dạng “không / chẳng - vị ngữ - là gì ” hoặc “không / chẳng (phải) - vị ngữ - sao / −”. Ví dụ: a. Dấu vết chẳng rành rành ra đó là gì? → Dấu vết còn rành rành ra đó. b. Đ−ợc ông ấy chiếu cố chẳng phải là vinh dự lắm sao? → Đ−ợc ông ấy chiếu cố là vinh dự lắm đó. c. Viết nh− vậy chẳng phải là hay hơn nhiều −? → Viết nh− vậy rõ ràng là hay hơn nhiều. * Một biểu hiện khác về hình thức của câu khẳng định là dùng chứ là kết nối liền vế câu trần thuật có tình thái hiện thực và vế câu phủ định cái sự tình ng−ợc lại mà ng−ời ta nói muốn bác bỏ. Ví dụ: a. Đây là sử chứ không phải văn. b. Anh th−ơng em chứ không hề ghét bỏ em. c. Tôi hoàn toàn bênh vực anh chứ không mảy may hại anh. * Câu khẳng định còn có hình thức là câu kết thúc bằng chứ ai, chứ còn gì nữa (đâu), chứ gì, chứ không à, chứ sao. Chẳng hạn: a. Chính bà định đánh nó chứ ai. b. Hết cả rồi chứ còn gì nữa (đâu). c. Bà định lấy mảnh đất này chứ gì. d. Nó phải cứu bồ nó chứ sao. 6.1.2.2. Câu phủ định là câu có chức năng xác nhận sự vắng mặt (không có) của sự vật, hiện t−ợng, hoạt động, trạng thái, tính chất, quan hệ, nêu trong câu; nói cách khác, nó nhằm phủ nhận những nội dung đó. Về hình thức, câu phủ định chứa từ ngữ, kết cấu phủ định, nh− không, ch−a, chẳng, không phải (là), ch−a phải (là), chẳng phải (là), đâu phải, đâu có phải, có phải đâu, có phải X đâu, Từ ngữ phủ định th−ờng đ−ợc đặt tr−ớc thành phần chứa nội dung bị phủ định. Chẳng hạn: a. Không bao giờ tôi quên dòng màu chảy trong cánh tay này là của họ Lê. (Hà Văn Cầu - Vũ Đình Phòng) b. Dạ, cháu kêu bằng ba, chứ hổng phải tía. 108
- (Nguyễn Văn Xe) c. Có điều Thu ch−a vui: cái Hằng ở nhà d−ới cứ bảo ban công nhà Thu không phải là v−ờn. (Vân Long) d. Có phải nó làm đâu (mà anh cứ mắng nó nh− thế). Căn cứ vào phạm vi phủ định, có thể phân biệt câu phủ định toàn bộ và câu phủ định bộ phận. * Câu phủ định toàn bộ là câu có l−ợng nghĩa phủ định bao trùm lên toàn bộ nội dung của câu. Trong kiểu câu này, từ ngữ phủ định th−ờng đứng tr−ớc nòng cốt câu hoặc đứng tr−ớc vế câu chính. Ví dụ: a. Không có ai ở đây cả. b. Không có chuyện chó sói chung sống với cừu non. (Ngạn ngữ) c. Ch−a bao giờ chúng tôi đặt chân lên vùng đất ấy. d. Bài khó thế này ai mà làm đ−ợc. e. Thứ thiết bị này ai mà kiếm ra cho đ−ợc. * Câu phủ định bộ phận có l−ợng nghĩa phủ định chỉ liên quan đến một bộ phận trong nội dung của câu mà thôi. Trong kiểu câu này, từ ngữ phủ định đứng tr−ớc bộ phận mà nó phủ định (tr−ớc vị ngữ hoặc trạng ngữ, hoặc bổ ngữ, ). Ví dụ: a. Những con chim non mãi mãi chẳng ra đời. (Nguyễn Quang Thiều) b. Chị dỗ dành mãi nh−ng nó vẫn chẳng chịu ăn, c. Ông là con ng−ời không bao giờ chịu đựng d−ợc sự chung chung, đại khái, từ nội dung đến hình thức. (Đỗ Ngọc Thống) Câu ngôn hành là loại câu trần thuật tự biểu thị hành động nói năng (khi nói ra, ng−ời nói đồng thời thực hiện chính cái hành động do cụm động từ đ−ợc dùng trong câu biểu thị). Loại câu này có đặc điểm: (1) nội dung sự tình biểu thị hành động nói năng (phải có động từ có khả năng biểu thị hành động ngôn hành, nh− cám ơn, xin lỗi, cấm, chúc mừng, khuyên, tố cáo, chào, hứa, v.v.); (2) chủ thể của hành động nói năng là ngôi thứ nhất; (3) đối thể mà hành động nói năng h−ớng tới là ngôi thứ hai; (4) thì biểu thị hành động nói năng là thì hiện tại, Ví dụ: a. Cám ơn anh. (Bao giờ phải trình diện?) (Hà Văn Cầu - Vũ Đình Phòng) b. Cháu chào bác. (Cháu là Hoa, bạn thân của Oanh.) (Tiếng Việt 2, tập một) c. ( Th−a cô, không ạ). Chúng em xin lỗi cô. (Tiếng Việt 2, tập một) 109
- Bốn đặc điểm trên là bốn yêu cầu cần và đủ đối với câu ngôn hành. Thiếu đi một trong bốn yêu cầu trên thì câu đó không còn là câu ngôn hành. Chẳng hạn, so sánh: a. Cháu chào bác ạ. (Câu ngôn hành) b. Chào bác đi con! (Câu cầu khiến) c. Cháu chào bác rồi mà. (Câu trần thuật) d. Cháu đang chào bác ấy thì bác ấy bảo [ ] (Câu trần thuật) ta thấy: ở (a), cháu chủ thể hành động chào là ngôi thứ nhất, bác đối thể của hành động chào là ngôi thứ hai, chào là động từ biểu thị hành động nói năng thì hiện tại; nh− vậy, câu nói này chứa đủ 4 yêu cầu đã nêu nên nó là câu ngôn hành. ở (b), chủ thể của hành động chào là ngôi thứ hai: con, đối thể mà hành động chào h−ớng tới là ngôi thứ ba: bác , hành động chào ấy ch−a diễn ra nên câu Chào bác đi con không phải là câu ngôn hành. ở (c), tuy chủ thể và đối thể của hành động chào là ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai nh−ng nó không thoả mãn điều kiện về thì (hành động chào ở đây đã đ−ợc thực hiện). Còn ở (d), đối t−ợng của hành động chào không phải là ngôi thứ hai và thì của động từ cũng không phải là thì hiện tại nên nó cũng không thể là câu ngôn hành. Câu ngôn hành có động từ xin , ngoài giá trị ngôn hành còn có giá trị dụng pháp đáng l−u ý: nó làm cho câu nói trở nên nhã nhặn, lịch sự, khiêm tốn hơn. Ví dụ so sánh: a. Em cảm ơn anh. a′. Em xin cảm ơn anh. b. Tôi đề nghị bạn nên nghỉ vài hôm. b′. Tôi xin đề nghị bạn nên nghỉ vài hôm. c. Tôi thông báo với các bạn chiều nay chúng ta nghỉ học. c′. Tôi xin thông báo với các bạn chiều nay chúng ta nghỉ học. Ta thấy, (a ′) lịch sự hơn (a); (b ′) nhẹ nhàng hơn (b); (c ′) nhã nhặn hơn (c). Chính động từ ngôn hành xin đã biến tất cả nội dung tiếp theo của câu thành một lời đề nghị khiêm tốn, lịch sự. Về hình thức, câu ngôn hành có cấu trúc của kiểu câu trần thuật. Nh−ng đặc tr−ng của ngôn hành khác với những câu trần thuật khác ở chỗ nó vừa thuật lại sự việc vừa thực hiện ngay cái việc đ−ợc thuật ấy, và do đó không bao giờ sai sự thật (tuy cái việc đ−ợc thực hiện ấy có thể không “thành thực”; chẳng hạn sau khi phạm lỗi ng−ời phạm lỗi có thể không ân hận về hình vi của mình, nh−ng sau khi ng−ời ấy nói Tôi xin lỗi anh, thì ng−ời bị xúc phạm không thể nói ng−ời kia không thèm xin lỗi mình). (Trong nội dung dạy học tiếng Việt cho học sinh Tiểu học theo ch−ơng trình và sách giáo khoa mới, nội dung luyện nói, viết câu ngôn hành theo yêu cầu lịch sự, khiêm tốn trong giao tiếp đ−ợc quan tâm chú ý trong suốt bậc học (từ lớp 1 đến lớp 5), và đ−ợc trình bày d−ới dạng bài tập thực hành. Lên bậc Trung học cơ sở, học sinh đ−ợc tiếp tục học về nội dung này d−ới dạng lí thuyết và thực hành). Câu hô đáp là loại câu khá đặc biệt. Chẳng hạn, xét các ví dụ: a. - Hằng ơi! - Dạ. 110
- b. (- Nhớ lời mẹ dặn con nhé!) - Vâng ạ. ta thấy: + Về hình thức, câu hô đáp (hô gọi và đáp lời hô gọi) có khá nhiều điểm giống với câu trần thật: không chứa các yếu tố cảm thán, nghi vấn, cầu khiến. Ngoài ra, câu hô đáp cũng có cấu tạo đặc biệt, giống câu cảm thán (dạng điển hình): câu để hô gọi, gồm “danh từ/cụm danh từ + ơi / hỡi“ (ơi / hỡi) cũng có thể đứng tr−ớc danh từ/cụm danh từ; câu để đáp, th−ờng có cấu tạo là từ/tổ hợp tiểu từ tình thái. + Về chức năng, có thể nói câu để hô gọi có điểm giống với câu hỏi. Chẳng hạn, khi nói “Hằng ơi”, về mục đích, ng−ời nói muốn hỏi “Hằng có đây/đấy không?”. + Còn câu để đáp lời lại có điểm giống về chức năng với câu trần thuật. Khi đáp “Dạ”, “Vâng ạ.”, thì ng−ời nói thực hiện hành động xác nhận “Tôi có ở đây”., “Tôi sẽ thực hiện theo đề nghị vừa nêu”, Loại câu này chỉ xuất hiện trong đối thoại. 6.2. Câu nghi vấn (câu hỏi) 6.2.1. Đặc tr−ng Câu nghi vấn là câu có nội dung nêu lên điều ch−a biết hay còn hoài nghi mà ng−ời nói muốn ng−ời nghe trả lời, hoặc giải thích cho rõ thêm. Tuy nhiên, nhiều khi câu nghi vấn dùng để biểu thị ý nghĩa cầu khiến, khẳng định, phủ định, đe doạ, thách thức, tranh luận, mỉa mai, phỏng đoán, ngờ vực, v.v và không yêu cầu ng−ời đối thoại trả lời. Về hình thức cấu tạo, câu nghi vấn là câu có từ ngữ nghi vấn và ngữ điệu nghi vấn. Khi viết, câu nghi vấn đ−ợc kết thúc bằng dấu chấm hỏi. Có thể chia tách các nhóm từ ngữ để biểu thị nội dung nghi vấn nh− sau: đđđ Dùng các đại từ (hoặc tổ hợp đại từ) biểu thị ý nghĩa nghi vấn: gì, ai, nào, (nh−) thế nào, sao, (tại) sao, (ở) đâu, bao giờ, : a. Bà ơi, bát nào đựng t−ơng, bát nào đựng mắm? (Truyện c−ời dân gian Việt Nam) b. Thỏi sắt to nh− thế, làm sao bà mài thành kim đ−ợc? (Truyện ngụ ngôn) c. Ng−ời đâu gặp gỡ làm chi? (Nguyễn Du) d. Nhà có gà vịt gì không, chị Hai? (Nguyễn Văn Xe) đđđ Dùng các tiểu từ tình thái à, −, hứ, hả, chứ, nhé, đặt ở cuối câu để chuyển đổi câu đó thành câu nghi vấn: a. (Con chào bố.) Con chuyển máy cho mẹ nhé? (Tiếng Việt 2, tập một) 111
- b. Cháu đã về đấy −? (Thạch Lam) c. Cậu không thấy đạn réo à? (Tiếng Việt 4, tập hai) đđđ Dùng các phụ từ chỉ ý khẳng định, phủ định ( có, không, ch−a, đã, ) phối hợp với nhau thành một khuôn nghi vấn; giữa chúng có thể có từ hay: có (hay) không?, có phải (hay) không? đã (hay) ch−a? rồi (hay) ch−a?, Ví dụ: a. (Cùng máu đỏ da vàng với nhau.) Nh−ng anh có khi nào nghĩ đến đồng bào không? (Hà Văn Cầu - Vũ Đình Phòng) b. Có đau không chú mình? (Tiếng Việt 4, tập hai) c. Cháu đã ăn cơm ch−a? (Thạch Lam) đđđ Dùng từ hay đặt giữa hai vế câu để biểu hiện sự nghi vấn lựa chọn. Chẳng hạn: a. Mình đọc hay tôi đọc? (Nam Cao) b. Mình th−ơng ta thật hay th−ơng chơi? (Ca dao) c. Anh về hẳn hay còn đi nữa? (Nguyễn Thị Ngọc Tú) (L−u ý: Các từ gì, ai, đâu, nào, vừa có thể tồn tại với t− cách là đại từ nghi vấn và với những t− cách khác nh− đại từ phiếm chỉ, phụ từ phủ định. Chẳng hạn xét từ đâu : Anh đi đâu? (đại từ nghi vấn); Tôi thì đi đâu cũng đ−ợc., (đại từ phiếm chỉ); Tôi đâu có đi., (phụ từ phủ định). Hoặc xét từ hay: Anh cần báo hay tạp chí? , (đại từ nghi vấn biểu thị sự nghi vấn lựa chọn); Báo hay tạp chí đều đ−ợc., (liên từ biểu thị quan hệ tuyển lựa) Vì vậy, khi xem xét và xác định chúng cần phải gắn với ngữ cảnh, nói cách khác, việc xem xét về loại câu phải căn cứ vào cả hai yếu tố nội dung, mục đích phát ngôn và hình thức thể hiện). 6.2.2. Phân loại 6.2.2.1. Câu nghi vấn chính danh (câu nghi vấn trực tiếp) là câu hỏi để yêu cầu một lời giải đáp (hỏi ng−ời đối thoại để yêu cầu trả lời hoặc hỏi chính mình để tự giải đáp). ý nghĩa của câu hỏi có thể đ−ợc xác định thông qua ý nghĩa của sự t−ơng ứng giữa câu hỏi và câu đáp. Một câu hỏi nh− Nam dự thi học sinh giỏi toán hay văn? Câu đáp phải là Nam thi (học sinh giỏi) toán hoặc Nam thi (học sinh giỏi) văn hoặc Nam thi cả toán lẫn văn. Những câu đáp nh− Nam đâu có học gì đâu, Nam học kém lắm thi thế nào đ−ợc., không đáp ứng đ−ợc yêu cầu của ng−ời hỏi. Sự t−ơng ứng nghĩa giữa câu hỏi và câu đáp là điều bắt buộc (không tính đến những tr−ờng hợp sử dụng câu đáp với mục đích tu từ). 112
- Biến tố X (yếu tố chứa nội dung nghi vấn) có thể có bất cứ kích th−ớc nào và khả năng gì trong cấu trúc logic ngôn từ của câu hay trong những cấu trúc ngữ pháp nội bộ của ngữ đoạn. Xét trên bình diện thông báo, biến tố X làm thành tiêu điểm của câu hỏi và câu trả lời, nó là cái “mới” cần thông báo. Ví dụ: a. Mấy giờ rồi em? (Bây giờ là 8 giờ 30 anh ạ.) b. Bao giờ thì mẹ về? (Nhanh thì mai con ạ.) c. Cuốn sách này của ai? (Th−a thầy, sách của em ạ.) d. Bạn đang ở đâu đấy? (Mình đang ở Vinh. ) e. Em đã viết xong ch−a? (Th−a thầy, em viết rồi ạ.) Ph−ơng tiện chỉ biến tố X có thể là những đại từ bất định ai, gì, đâu (ở đâu, từ đâu), sao (vì sao, tại sao), nào (thế nào), bao (nhiêu), mấy hoặc là những danh từ có định tố bất định, nh− cái gì, việc gì, ng−ời nào, thứ mấy, lúc nào, v.v Có thể hỏi về toàn bộ sự tình Nam có làm bài không? hoặc chỉ hỏi về một tham số nào đó của sự tình Khi nào thì Nam làm bài?/ Nam làm bài gì thế?/ Nam hay ai đang làm bài? Mỗi loại nội dung hỏi đ−ợc hình thức hoá bằng một kiểu cấu trúc nhất định. Có thể phân loại câu nghi vấn chính danh thành các tiểu loại sau: * Câu nghi vấn tổng quát (câu hỏi “có/không”): có nội dung hỏi về toàn bộ nội dung sự tình. Hình thức hỏi tổng quát đ−ợc ngữ đoạn hoá thành một hình thức riêng. Loại câu hỏi này th−ờng có kiểu cấu trúc có không, đã ch−a; không / ch−a luôn đ−ợc đặt ở vị trí kết thúc câu (không tính tr−ờng hợp có bộ phận chêm xen nh− Chị có đi không ạ? ). Nội dung câu nghi vấn tổng quát là những yêu cầu cho biết về tính đúng sai (chân/ngụy) của cả một mệnh đề nên những yếu tố nghi vấn (và những yếu tố dùng để trả lời) chính là những động từ tình thái làm trung tâm vị ngữ, kết hợp với một yếu tố tình thái đặt ở cuối câu hỏi. Trả lời các loại câu hỏi này là có / không hoặc rồi / ch−a. a. Con có ăn không? (có/không ạ) b. Con đã làm bài ch−a? (rồi/ch−a ạ) c. Con có yêu nó không? (có/không ạ) d. Cháu đã ra riêng ch−a? (rồi/ch−a ạ) * Câu nghi vấn chuyên biệt là loại câu hỏi có nội dung hỏi về một tham tố của sự tình. Tham tố đó có thể là chủ thể hoặc đối thể của hành động, trạng thái đặc tr−ng hoặc có thể là nguyên nhân, mục đích, cách thức, ph−ơng tiện của sự tình hoặc chủ thể sự tình. Câu nghi vấn chuyên biệt đ−ợc cấu tạo nh− một câu trần thuật với một yếu tố nghi vấn (vốn do một đại từ bất định làm nòng cốt) biểu thị biến tố không xác định X đặt ở vị trí do chức năng cú pháp của nó quy định. Những từ ngữ dùng để hỏi nguyên nhân nh− sao, tại sao, vì sao bao giờ cũng đ−ợc đặt tr−ớc nòng cốt câu, trừ khi nó đ−ợc xử lí nh− một vị ngữ (có là mở đầu) hoặc đ−ợc tách ra khỏi mệnh đề tiền −ớc thành một bộ phận ghép. Chẳng hạn so sánh: a. Vì sao hôm qua em không đi học? 113
- b. Hôm qua, vì sao em không đi học? c. Hôm qua, em không đi học là vì sao? Những tr−ờng hợp có yếu tố nghi vấn t−ơng đối phức hợp nh− vì (những) lí do gì, do (những) nguyên nhân nào có thể đặt ở tr−ớc hay sau mệnh đề tiền −ớc. * Câu nghi vấn hạn định (câu hỏi song tuyển): Ng−ời hỏi hạn định giá trị của biến tố ch−a xác định trong một phạm vi nhất định. Khi hỏi: a. Bạn thi vào khoa Toán hay khoa Lí? b. Bạn thi vào khoa nào, toán hay Lí? c. Bạn thi vào khoa Toán à? d. Bạn thi vào khoa nào, Toán à? Ng−ời hỏi đã hạn định nội dung hỏi - đáp trong một phạm vi của hai khả năng (xem ví dụ a, b)) hoặc n khả năng (xem ví dụ c, d). Thuộc loại câu nghi vấn chính danh, ngoài ba loại câu nghi vấn có tính chất “cổ điển” nh− vừa nêu, còn phải kể đến ba kiểu sau: 1 Câu hỏi mở đầu bằng có phải và kết thúc bằng không, ở giữa là một mệnh đề trọn vẹn. Ví dụ: a. Có phải anh vừa gửi bài cho em không? b. Có phải anh không gửi bài cho em không? c. Có phải anh sẽ chuyển tr−ờng không? Để trả lời câu nghi vấn kiểu này phải dùng phải và không (phải) , mà không dùng có và không nh− đối với câu nghi vấn tổng quát. Nghĩa của loại câu nghi vấn này khác với nghĩa của câu nghi vấn “Có/không” ở chỗ nó tiền giả định cái mệnh đề đ−ợc đ−a ra hỏi (coi nh− đã có ng−ời nào nói nh− thế hoặc nghĩ nh− thế), trong khi câu nghi vấn “Có/không” không có một tiền giả định nh− vậy. 2 Một biến thể của kiểu câu hỏi 1 là kiểu câu hỏi đ−ợc cấu tạo bằng cách ghép ngữ đoạn phải không, chứ, đúng không, có không, sau mệnh đề đ−ợc đ−a ra hỏi, nhiều khi với một chỗ ng−ng ngắn giữa hai ngữ đoạn. Ví dụ: a. Em đã đọc rồi phải không/đúng không? b. Mày thách tạo phải không/phỏng? (phỏng biến âm của phải không ) c. Em không giận tôi chứ? d. Mắt xanh chẳng để ai vào có không? (Nguyễn Du) Cũng nh− kiểu câu hỏi 1, mệnh đề đ−ợc đ−a ra hỏi có thể là khẳng định hay phủ định, đ−ợc tiền giả định. Nh−ng khác với kiểu câu hỏi 1, kiểu câu hỏi 2 thiên về tính chân xác của mệnh đề đ−ợc tiền giả định nhiều hơn: “Tôi biết rằng P, nh−ng muốn anh xác nhận thêm (tuy cũng có thể anh sẽ phủ nhận)”. 3 Thứ ba là tr−ờng hợp của các câu hỏi có sử dụng tiểu từ tình thái ở cuối câu. Mỗi nhóm tiểu từ tình thái sử dụng cuối câu có khả năng biểu thị những khác biệt tinh tế về tình thái đối với mệnh đề đ−ợc hỏi. Chẳng hạn: 114
- + Với à, hả cũng có thể cấu tạo những câu hỏi có ý nghĩa t−ơng tự loại câu hỏi 2: Em đã quên rồi à/hả?; Bài dễ thế mà em không hiểu − /hả? + Với −, sao cũng vậy, những nghĩa lại ít thiên về tính chân xác của mệnh đề đi tr−ớc hơn, và có thêm sắc thái ngạc nhiên về mệnh đề ấy. Ví dụ: Nó ch−a về sao −? Chuyện ầm ĩ cả lên thế mà anh không biết sao / −? + Với nhỉ đặt ở cuối câu có nội dung mệnh đề nh− một nhận xét, đánh giá, tiêu liệu, phỏng đoán, báo hiệu yêu cầu đ−ợc ng−ời nghe biểu thị sự đồng tình, chia sẻ ý kiến, ví dụ: Cái áo này đẹp nhỉ? Con bé xinh nhỉ? + T−ơng tự, câu có tiểu từ tình thái nhé , có thể có giá trị báo hiệu một yêu cầu mà ng−ời nói muốn đ−ợc ng−ời nghe tán thành; ví dụ: Đừng quên anh, em nhé?; Cháu cho bác gửi cái này nhé?; Anh về nhé?; v.v &&& “Các câu nghi vấn (câu hỏi) của tiếng Việt, cũng nh− rất nhiều thứ tiếng khác, ngoài cái giá trị hỏi (cần thông báo) là giá trị ngôn trung trực tiếp của nó còn có thể có một (những) giá trị ngôn trung phái sinh (phủ định, tỏ ý ngờ vực, thách thức, tranh luận, v.v.) và trong nhiều tr−ờng hợp, cái giá trị ngôn trung “phát sinh” này lại là công dụng và mục đích duy nhất của câu nói, trong khi tính nghi vấn vẫn chỉ còn là một hình thức thuần tuý, may mà chỉ góp một sắc thái tu từ (hùng biện) nào đó cho câu nói. Riêng trong tiếng Việt, có những hình thức nghi vấn chỉ dùng để phủ định: công dụng của những câu nh− “Tôi có nói gì đâu? ” hay “Nó có bao giờ trốn học ” không bao giờ là “hỏi”, mặc dầu về hình thức đó là những câu hỏi mang ngữ điệu nghi vấn và đ−ợc ng−ời nghe cảm giác nh− những câu hỏi (nh−ng lại hiểu nh− những lời phủ nhận, chối bỏ). Nhìn từ góc độ nghĩa và dụng pháp, đó là những câu phủ định mang một màu sắc, một giọng điệu riêng (giọng điệu này không nhất thiết là “sự bác bỏ” ( ). Tiếng Việt có cả một âm giai gồm rất nhiều cung bậc chuyển từ ý hỏi thực sự, thuần tuý qua nhiều sắc độ gợi ý ngờ vực, hoài nghi, đến chỗ gần nh− phủ định hay khẳng định, rồi đến chỗ phủ định hay khẳng định quyết liệt, với những sắc thái cảm xúc khác nhau. Trên bình diện liên nhân cũng vậy, từ cách hỏi thẳng thừng cho đến chỗ chỉ gợi lên một ý nghĩa mơ hồ cũng có cả một âm giai phong phú. Điều này cũng thấy có trong câu trần thuật khẳng định hay phủ định”. (Xem Cao Xuân Hạo, 2004, sđd). 6.2.2.2. Câu nghi vấn không chính danh (câu nghi vấn gián tiếp) Trong thực tế giao tiếp, có những câu có hình thức câu hỏi nh−ng không có yêu cầu cung cấp một thông báo nào t−ơng ứng với nội dung câu hỏi. Những câu nh−: Mày có muốn ăn đòn không?; Trời ơi, thế có khổ không?; Ng−ời đâu gặp gỡ làm chi, Trăm năm biết có duyên gì hay không? (Nguyễn Du) là lời yêu cầu, lời cảm thán, nỗi băn khoăn, đ−ợc thể hiện d−ới hình thức của một câu hỏi. Có thể phân loại câu nghi vấn gián tiếp thành các tiểu loại sau: 115
- * Câu nghi vấn có giá trị cầu khiến Về hình thức, có những câu có cấu tạo giống nh− câu hỏi nh−ng lại có nội dung sai khiến. Có những câu có hình thức giống nh− câu nói tổng quát (“có không?” / X không). Cấu trúc hỏi nh−ng mục đích sai khiến trong hầu hết mọi tr−ờng hợp đã làm cho màu sắc “sai khiến, mệnh lệnh” giảm bớt đi. Chẳng hạn so sánh: a. Bác trông giùm cháu cái xe đ−ợc không ạ? → Bác hãy trông xe hộ cháu. b. Bác cho phép cháu đ−ợc th−a chuyện với bác độ vài phút đ−ợc không ạ? → Bác hãy nói chuyện với cháu độ vài phút. c. Anh ngồi lui ra một chút d−ợc không? → Anh hãy ngồi lui ra một chút. d. Mày có im đi không? → Mày hãy im đi. * Câu nghi vấn có giá trị phỏng đoán hay ngờ vực, ngần ngại Những câu nghi vấn mở đầu bằng phải chăng, hay là không biết, biết hoặc kết thúc bằng chăng, không biết, nhỉ, đây, bây giờ, có nội dung và mục đích bày tỏ một thái độ phân vân, không quả quyết, ngờ vực, ngần ngại đối với tính chân xác của mệnh đề đ−ợc biểu thị trong câu. a. Ng−ời đâu gặp gỡ làm chi Trăm năm biết có duyên gì hay không? (Nguyễn Du) b. Biết làm sao đêm nay? (Nguyên Hồng) c. Biết đi đâu bây giờ? Về thì đâm đầu vào đâu? (Ngô Tất Tố) d. Không biết có kịp về nhà tr−ớc khi trời tối không? So với câu nói chính danh và những câu nghi vấn có giá trị ngôn trung gián tiếp, kiểu câu hỏi này có thể dùng trong độc thoại hay trong đối thoại, có thể đ−ợc trả lời trực tiếp ( vào đề ) hay không trực tiếp, hoặc không cần đ−ợc trả lời. Nó th−ờng nhằm biểu hiện một cảm xúc, khêu gợi những suy t−ởng ở ng−ời đọc. Ví dụ: a. Tiếng gì xa vắng thế? (Tiếng võng kẽo kẹt kêu buồn buồn từ nhà ai vọng lại. Thỉnh thoảng câu ru em lại cất lên từng đoạn ạ ời Hình nh− chị ru em). (Băng Sơn) b. (Rừng cây im lặng quá. Một chiếc lá vàng rơi lúc này cũng có thể khiến ng−ời ta giật mình. Lạ quá, chim chóc chẳng nghe con nào kêu). Hay vừa có tiếng chim ở một nơi xa lắm, vì không chú ý mà tôi không nghe đ−ợc chăng? (Đoàn Giỏi) 116
- c. Có khi nào bạn nghĩ rằng bầu trời thu xanh ngắt đến nao lòng của thi sĩ Yên Đổ kia lại đ−ợc tạo nên bởi toàn là bụi? (Hoàng Phủ Ngọc T−ờng) * Câu nghi vấn có giá trị cảm thán Có kiểu câu sử dụng hình thức nghi vấn nh−ng lại mang ngữ điệu có sắc thái cảm thán và không yêu cầu trả lời. Hình thức nghi vấn chỉ lộ ra ở một số từ ngữ nghi vấn hay bất định biết mấy, biết bao, bao nhiêu, chừng nào, nh−ờng nào, sao, đâu, (đã ch−a), gì (mà) và ở cách cấu trúc câu mà các từ ngữ này yêu cầu. Ví dụ: a. Đẹp biết bao những lời chân thực ấy! b. Trời ơi, thế có khổ không? c. Ăn gì to lớn đẫy đà làm sao? (Nguyễn Du) d. Đã xấu mặt ch−a? 6.3. Câu cầu khiến Câu cầu khiến là câu nhằm mục đích yêu cầu ng−ời nghe (cũng có thể cả ng−ời nói) thực hiện nội dung đ−ợc nêu trong câu. Nó chứa đựng ý muốn, nguyện vọng hay mệnh lệnh của ng−ời nói đối với ng−ời nghe. Ví dụ: a. (Càng sớm càng tốt). Nh−ng đêm nay anh hãy nghĩ kĩ đi đã. (Hà Văn Cầu - Vũ Đình Phòng) b. Nào chúng ta đi thôi kẻo trễ mất!! 6.3.1. Câu cầu khiến có những từ ngữ cầu khiến nh− hãy, đừng, chớ, đi, thôi, nào, và ngữ điệu cầu khiến; có chủ ngữ bao giờ cũng chỉ ng−ời đối thoại hoặc một nhóm ng−ời, trong đó có ng−ời đối thoại và th−ờng bị tỉnh l−ợc. Khi viết, câu cầu khiến th−ờng kết thúc bằng dấu chấm cảm. Ví dụ: Đừng hung tợn thế! Em van mình! Đừng hung tợn thế! [ ] Em lạy mình đấy! Th−ơng em chứ! [ ] Em lạy mình! Đừng hung tợn thế! Em van mình! Mình th−ơng em! (Nguyên Hồng) (Trong những tr−ờng hợp muốn giảm nhẹ màu sắc mệnh lệnh, ng−ời viết có thể dùng dấu chấm kết thúc câu thay cho dấu chấm cảm: Hãy nghe tôi nói đã.). Câu cầu khiến có thể cấu tạo một cách đơn giản: dùng một từ hay một cụm từ (chính phụ, đẳng lập, chủ - vị) với một ngữ điệu cầu khiến thích hợp. Chẳng hạn: a. Trật tự! b. Chào cờ chào! c. Tất cả nhìn lên bảng! Đa số câu cầu khiến đ−ợc cấu tạo bằng cách: 117
- Dùng các phụ từ mệnh lệnh, nh− hãy, đừng, chớ, nên, không đ−ợc, đặt tr−ớc bộ phận vị ngữ của câu hoặc dùng các phụ từ chỉ mệnh lệnh, nh− đi, nào, nhé, thôi, đặt ở cuối câu. Chẳng hạn: a. Đừng uống n−ớc lã! Chớ ăn quả xanh! b. Nuôi đi em cho đến lớn đến già (Mầm hận ấy trong lồng x−ơng ống máu) (Tố Hữu) c. Đứa nhỏ thôi! (Nặng lắm rồi. - Một thuỷ thủ nói). (Tiếng Việt 5, tập hai) d. Cầm đỡ chừng ấy nhé! 6.3.2. Câu cầu khiến có thể đ−ợc dùng để biểu thị những ph−ơng diện sau đây: đđđ Thể hiện một mệnh lệnh hoặc một điều ngăn cấm thúc giục ng−ời nghe hành động. Để thể hiện nội dung này, trong câu không chỉ sử dụng ngữ điệu cầu khiến mà còn có phụ từ chỉ mệnh lệnh. Ví dụ: a. Cấm hút thuốc lá! b. Hừm. Thằng nhỏ, lại đây. (Nguyễn Văn Xe) c. Nào, chúng ta lên đ−ờng! đđđ Bày tỏ lời yêu cầu, lời mời hoặc một nguyện vọng: a. Xin mời vào! b. Cho phép tôi đ−ợc trình bày ý kiến riêng! c. Lá ơi, hãy kể cuộc đời bạn cho tôi nghe đi! (Trần Hoài D−ơng) d. Chị chị là chị gái của em nhé! (Thuỳ Linh) đđđ Bày tỏ lời khuyên răn, dỗ dành: a. Anh nên th−ơng cô ấy, đừng nên c−ới ng−ời ta ít ngày, bây giờ bỏ mặc ng−ời ta dang dở. (Trần Đình Văn) b. Đừng buồn, ở nhà ngoan nhé. đđđ Thể hiệu lời chúc, điều mong mỏi: a. Chúc anh lên đ−ờng may mắn! b. Chúc em hạnh phúc, An-t−-nai nhé! (Tiếng Việt 5, tập hai) c. Mong anh thông cảm cho! 6.4. Câu cảm thán (câu cảm, câu than gọi) dùng để trực tiếp bộc lộ cảm xúc của ng−ời nói, ng−ời viết; xuất hiện chủ yếu trong khẩu ngữ hay lời thoại trong các tác phẩm văn ch−ơng. 118



