Giáo trình Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sư phạm

pdf 40 trang ngocly 50
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sư phạm", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_giao_duc_ban_sac_van_hoa_dan_toc_cho_sinh_vien_su.pdf

Nội dung text: Giáo trình Giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sư phạm

  1. Chương 2 NHIỆM VỤ GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC CHO SINH VIÊN TRONG CÁC TRƯỜNG SƯ PHẠM Với chức năng là các nhà giáo dục trong tương lai, những giáo sinh sư phạm có một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ - con em các dân tộc ở miền núi. Họ được Đảng và nhân dân tin tưởng giao cho trách nhiệm là chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hoá. Do vậy, việc nghiên cứu khảo sát các hoạt động giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên các trường sư phạm là một nhiệm vụ quan trọng. Mục tiêu khảo sát về vấn đề trên tại các trường sư phạm nhằm: Đánh giá nhận thức toàn diện của sinh viên về vấn đề bản sắc văn hoá dân tộc, giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc; đánh giá các mức độ thông hiểu và hành vi của sinh viên về vấn đề giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc mình; đánh giá kỹ năng ứng xử trước một số tình huống văn hoá cụ thể của sinh viên, lối sống văn hoá của sinh viên sư phạm. Đối tượng khảo sát gồm: sinh viên; cán bộ quản lý văn hoá, giáo dục tại các trường sư phạm. Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo các số liệu từ các công trình khác đã công bố để phân tích. 1. Tầm quan trọng của vấn đề giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên Trong tổng số sinh viên của các trường được điều tra, phần lớn sinh viên cho rằng: "Việc khôi phục, giữ gìn, phát triển bản sắc văn hoá dân tộc hiện nay có ý nghĩa, vai trò rất quan trọng đôi với nước ta hiện nay". Chỉ có tỷ lệ không đáng kể sinh viên không trả lời. Kết quả này cho thấy: nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của vấn đề trên là rất cao, thể hiện đặc trưng nhận thức của giới trí thức tương lai trước những vấn đề trọng đại của đất nước, một vấn đề quan trọng đang được Đảng, Nhà nước quan tâm. Về vấn đề: "Con đường cơ bản quyết định đến việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là thông qua giáo dục", các ý kiến tập trung vào những giải pháp sau: thông qua giáo dục nhà trường phát triển các loại hình văn hoá hiện có; đầu tư khôi phục các giá trị văn hoá vật chất; chọn lọc các giá trị văn hoá nước ngoài Trên thực tế, nhận thức về vai trò các con đường cơ bản quyết định đến việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc của các sinh viên các trường rất khác nhau, đánh giá thứ bậc các con đường cũng khác nhau đáng kể. Trong công tác giáo dục sinh viên, cả ba con đường đều quan trọng, quyết định đến việc giữ gìn, phát triển bản sắc văn hoá dân tộc, đòi hỏi phải tiến hành các biện pháp đồng thời. Tuy nhiên ở mỗi trường, sự lựa chọn khác nhau cơ bản, cụ thể: Đối với sinh viên trường đại học sư phạm, họ chọn con đường “Đầu tư khôi phục các giá trị văn hoá vật chất và tinh thần, đồng thời chọn lọc các giá trị văn hoá nước ngoài”. Đây là con đường cơ bản cùng với con đường giáo dục, thể hiện cách lựa chọn có nhiều suy nghĩ của sinh viên trước một vấn đề khó. Song đây là con đường phù hợp với định hướng đã được Đảng ta vạch ra: phát triển một nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Đối với sinh viên các trường cao đẳng sư phạm còn lại, phần lớn đã chọn con đường: 36
  2. "Phát triển thông qua con đường giáo dục nhà trường" và "Phát triển các loại hình văn hoá hiện có". Kết quả này phản ánh trình độ nhận thức của sinh viên rất đúng đắn, cố căn cứ khoa học. Các con đường trên là rất cơ bản, đã khẳng định việc hình thành và phát triển nhân cách phải coi trọng giáo dục nhà trường. Phải xem đây là con đường chủ đạo trong giáo dục. Như vậy, nhận thức của sinh viên giữa các trường có sự phân hoá rõ rệt. Có thể lý giải các nguyên nhân như sau: Có thể do sinh viên trường đại học sư phạm ở môi trường đô thị thành phố lớn, có sự giao lưu văn hoá rộng hơn nên chọn phương án có nội dung kết hợp phát triển văn hoá truyền thống và giao lưu hội nhập để tiếp thu và chuyển hoá những giá trị tốt đẹp của nền văn hoá các nước. Sinh viên các trường cao đẳng sư phạm chọn phương án phát triển các loại hình văn hoá hiện có với cách nghĩ rất thực tế là việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc với nhiệm vụ trước mắt là phải giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp đang có nguy cơ bị mai một. Cũng với cách nhìn nhận đánh giá khác nhau ở trên, việc sinh viên các trường chọn phương án coi trọng con đường giáo dục trong việc giữ gìn phát triển văn hoá đã thể hiện cách nhìn đúng đắn của sinh viên về nhiệm vụ giáo dục quan trọng này. So sánh các con đường mà sinh viên lựa chọn để phát triển văn hoá dân tộc đã cho thấy: sinh viên các trường đại học sư phạm có tỷ lệ lựa chọn tương đối đồng đều giữa các con đường. Việc sinh viên các trường còn lại tỏ ra thờ ơ với phương án trong đó có nội dung khôn lọc các giá trị văn hoá nước ngoài, đã cho thấy có thể một tỷ lệ đáng kể sinh viên miền núi còn có cảm nhận sự giao lưu, hội nhập, tiếp biến về văn hoá với các nước chỉ có mặt hạn chế, không nhìn thấy mặt tích cực. Do vậy các ý kiến chấp nhận con đường này là thấp. 2. Các lực tượng chính tham gia và phát triển các giá trị văn hoá dân tộc Kết quả nghiên cứu cho thấy các lực lượng: thanh niên, sinh viên; cán bộ công chức nhà nước; Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ; các cơ quan quản lý văn hoá; các nhà thơ, nhà văn, nhà hoạt động văn hoá là những lực lượng chính tham gia vào quá trình giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên. Mức độ ảnh hưởng của các lực lượng được xếp thứ bậc sau: 1- Thanh niên, sinh viên 2- Các cơ quan quản lý văn hoá 3- Các cán bộ, công chức nhà nước 4- Các nhà thơ, nhà văn, nhà hoạt động văn hoá 5- Các Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ Theo thứ bậc trên, quan niệm của sinh viên cho rằng hai lực lượng chính là: chính bản thân họ và các cơ quan quản lý văn hoá quyết định tới việc giữ gìn, phát triển các giá trị văn hoá dân tộc. Điều này đã phản ánh một cách nhìn nhận đúng đắn, chủ động, tự tin của tầng lớp trí thức tương lai. Tuy nhiên, ở mỗi trường, tỷ lệ lựa chọn lực lượng còn lại có khác nhau. Sinh viên trường Đại học sư phạm cho rằng vai trò của các nhà thơ, nhà văn, nhà hoạt động văn hoá là lực lượng quan trọng trong việc truyền bá phát triển văn hoá. Có thể vì nhiều năm qua, các trường có rất nhiều cuộc gặp gỡ, giao lưu giữa sinh viên với các nhà thơ lớn, 37
  3. nhà văn lớn, các nhà hoạt động xã hội do tính chất đặc thù giao lưu này, có thể tạo nên nhận định trên của sinh viên. Có thể ở các trường khác, mức độ giao lưu ít nên số sinh viên đánh giá vai trò của lực lượng này với tỷ lệ thấp. Hoặc do ở từng địa phương, mức độ hoạt động và ảnh hưởng của các lực lượng khác nhau, nên vai trò thể hiện cũng khác nhau. Chẳng hạn ở các tỉnh vùng cao (ví dụ như CĐSP Hà Giang), sinh viên cho rằng Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ có vai trò đáng kể trong việc phát triển các giá trị văn hoá dân tộc. So sánh giữa trường Đại học sư phạm với các trường còn lại về mức độ tự khẳng định vai trò chủ thể của sinh viên đã có sự chênh lệch nhau đáng kể. Trong khi sinh viên trường Đại học sư phạm khẳng định: thanh niên, sinh viên là lực lượng chủ yếu tham gia vào phát triển các giá trị văn hóa dân tộc, thì ở các trường còn lại, tỷ lệ này thấp hơn nhiều. Nhận xét chung của sinh viên về nhiệm vụ giáo dục giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong trường đại học và cao đẳng như sau: nhiệm vụ này trong các trường đã được quan tâm và thực hiện nhưng hiệu quả chưa cao, có nơi được quan tâm song cách làm không có hiệu quả vì thiếu các phương pháp thực hiện. Nhìn chung, các trường hiện nay đã thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ thị của Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành, Trung ương Đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội, do đó công tác giáo dục sinh viên được quan tâm đáng kể. Một trong những nội dung quan trọng của công tác giáo dục sinh viên là giáo dục lối sống văn hoá qua các hoạt động cụ thể. Tuy nhiên, cách thức làm của mỗi trường cũng khác nhau, chất lượng không đều, nhìn chung chưa thực sự đem lại hiệu quả thiết thực. Đặc biệt hiện nay, công tác giáo dục sinh viên nói chung đang gặp phải các khó khăn mà một trong các khó khăn là số lượng sinh viên quá lớn so với khả năng đáp ứng được của các trường. Kết quả khảo sát đã phản ánh một khía cạnh của thực trạng của công tác giáo dục sinh viên trong các trường là: Nhiệm vụ giáo dục giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong các trường tuy đã được quan tâm, song kết quả thu được chưa nhiều. Đây là một thực tế đáng chú ý ở các trường, mặc dầu các trường đều có kế hoạch (ví dụ như kế hoạch của các mảng công tác học sinh - sinh viên, công tác Đoàn, Hội sinh viên ) và đều có nội dung hoạt động (đặc biệt từ khi có Nghị quyết TW5 khoá VIII), song cách làm còn chiếu lệ, nặng về lý luận, tuyên truyền, hô hào. Hình thức giáo dục chủ yếu là thông qua các môn học lý luận chính trị, sinh hoạt tư tưởng chưa có các chủ đề ngoại khoá bổ ích để bổ sung, chưa có các chuyên đề sâu hoặc chưa có nhiều tọa đàm sinh động, bổ ích về vấn đề này Do vậy, có những vấn đề lớn đang đặt ra: Sinh viên chưa nhận thức rõ, cũng như chưa thể hiện trong hành vi lối sổng giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc mình; đồng thời, với trách nhiệm là nhà giáo dục trong tương lai, để hoàn thành nhiệm vụ của mình, từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, mỗi sinh viên sư phạm phải chuẩn bị những gì. Ở nhiều nơi, nhiệm vụ giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên còn nặng về bề nổi, chủ yếu là: hình thức trang phục dân tộc, tập luyện những bài hát, tiết mục "đặc sản" để biểu diễn khi có quay phim, chụp ảnh để có "màu sắc", có "hình ảnh" khác lạ, để nói lên vấn đề bản sắc dân tộc. Có thể những trang phục dân tộc, bài hát tiêu biểu cho một dân tộc là hình thức biểu hiện quan trọng của bản sắc văn hoá, song điều quan trọng và cần thiết hơn là giáo dục lối sống văn hoá, phát triển các giá trị tốt đẹp, các hành vi lối sống lành mạnh của các dân tộc anh em còn lưu giữ để phát triển, phổ biến rộng trong môi trường giáo dục. Có một số trường, với tỷ lệ sinh viên là người dân tộc thiểu số là 30% song khi có đoàn khách quốc tế đến thăm, phải đi thuê quần áo dân tộc cho sinh viên mặc để chụp ảnh. Những biểu 38
  4. hiện trên là những cách làm chưa có chiều sâu, thiếu hiệu quả, có phần nặng về hình thức sáo rỗng, do vậy có khi gây ra các tác động xấu, phản giáo dục. Mức độ quan tâm của sinh viên về nhiệm vụ giáo dục truyền thống văn hoá của dân tộc mình nói chung phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nhìn tổng thể, sinh viên quan tâm đến hoạt động này chiếm tỷ lệ rất cao, song đồng thời họ cũng cho rằng cần phải có các nội dung hoạt động gắn với chuyên môn. Trên thực tế, mức độ quan tâm vấn đề này phụ thuộc vào: Đặc thù môn học của sinh viên (ví dụ khi họ học ở ngành văn hoá, lịch sử, khoa học xã hội và nhân văn họ sẽ quan tâm nhiều hơn ngành khác). - Nội dung hấp dẫn hay không (chủ yếu qua các hình thức ngoại khoá, liên hoan văn hoá văn nghệ ) Phần lớn sinh viên quan tâm đến các hoạt động giáo dục truyền thống văn hoá dân tộc nói chung, văn hoá dân tộc mình nói riêng là dấu hiệu đáng mừng. Đồng thời với sự quan tâm là nỗi lo lắng, băn khoăn của họ và đây cũng là một vấn đề đặt ra cho chúng ta cùng suy nghĩ. 3. Quan niệm và hoạt động của sinh viên về bản sắc văn hoá dân tộc Nhận thức của sinh viên về vấn đề này cũng rất phong phú: có xu hướng tách bạch các tiêu chí hình thức ra khỏi yếu tố nội dung như: bản sắc văn hoá dân tộc là những đặc điểm chỉ có ở dân tộc này, không có ở dân tộc khác; bản sắc văn hoá dân tộc là sự khác biệt cơ bản về lối sống tâm lý, các loại hình văn hoá của các dân tộc; có xu hướng coi trọng yếu tố nội dung như: bản sắc văn hoá dân tộc là cái hay, cái tốt, cái đúng (lấy tiêu chí nhân văn làm chuẩn) của các dân tộc đã trở thành sự biểu hiện cái riêng, cái độc đáo của dân tộc đó mà dân tộc khác không có được. Quan niệm "bản sắc văn hoá dân tộc như đã trình bày ở Chương 1, là một vấn đề khó, phức tạp chưa được xác định đầy đủ và toàn diện. Để có khái niệm công cụ khi nghiên cứu và đánh giá quan niệm của sinh viên về vấn đề này, chúng tôi đưa ra các nội dung chính của quan niệm để trên cơ sở đó sinh viên lựa chọn. Nhìn chung, đa số sinh viên của các trường có ý kiến đồng ý rằng nội dung quan niệm về bản sắc văn hoá dân tộc cần rộng hơn. Số còn lại quan niệm đồng nhất "bản sắc văn hoá" với đặc điểm; hoặc đồng nhất với sự khác biệt. Quan niệm của sinh viên về "bản sắc văn hoá dân tộc" mặc dù tương đối đúng đắn, song vẫn có sự phân tán cao về phương diện nhận thức, điều đó chứng tỏ chưa có sự nhất trí cao về nội dung các tiêu chí. Xét về nội dung của quan niệm bản sắc văn hoá, thực chất có những điểm trùng nhau, bao quát lẫn nhau. Ở nội dung quan niệm rộng gồm có các tiêu chí sau cần chú ý: - Cái hay, cái đúng, cái tốt (tiêu chí nhân văn); - Sự biểu hiện riêng, độc đáo. Như vậy, trong phạm vi thuật ngữ "bản sắc văn hoá", hiểu chữ "bản sắc" trước hết là phải có một điểm chung - đó là tiêu chí nhân văn; đồng thời bản sắc là phải có cách biểu hiện riêng, độc đáo không thể lẫn nhau khi nhìn vào hình thức, phong cách thể hiện. Kết quả nghiên cứu cho thấy: sự thể hiện về bản sắc văn hoá dân tộc của sinh viên qua các dạng hoạt động ở các mức độ rất khác nhau, song xu thế chung là mờ nhạt. 39
  5. Đối với sinh viên trường Đại học sư phạm, các nội dung hoạt động sau đây còn thể hiện rõ nhất bản sắc văn hoá dân tộc: hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ mẹ đẻ; hoạt động sinh hoạt văn hoá văn nghệ. Đối với sinh viên các trường Cao đẳng sư phạm miền núi, các nội dung hoạt động trên đây thể hiện rõ nhất bản sắc văn hoá dân tộc tuy tần số xuất hiện các hoạt động có khác nhau. Sinh viên các trường Cao đẳng sư phạm và Trung học sư phạm cho rằng hình thức hoạt động văn hoá văn nghệ biểu hiện rõ nhất về bản sắc văn hoá dân tộc; còn sinh viên trường Đại học sư phạm cho rằng: hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ biểu hiện rõ nhất bản sắc văn hoá dân tộc; tuy nhiên phần lớn sinh viên đã khẳng định yếu tố quan trọng, cơ bản để biểu hiện bản sắc văn hoá dân tộc là ở lối sống. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sinh viên tìm hiểu về bản sắc văn hoá dân tộc qua hoạt động học tập là chủ yếu; qua nội dung các môn khoa học xã hội nhân văn; qua các sinh hoạt ngoại khoá, hoặc chủ yếu là tích lũy khi còn ở nhà tự đọc sách và tìm hiểu. Mức độ hiểu biết của sinh viên về văn hoá, bản sắc văn hoá các dân tộc có khác nhau, và điều này phụ thuộc vào sự ảnh hưởng của các hoạt động trong nhà trường. Kết quả nghiên cứu tại các trường cho thấy các hoạt động sau đây có tác dụng mạnh đến giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên: - Qua các môn khoa học xã hội và nhân văn; - Qua các sinh hoạt ngoại khoá; - Qua các hoạt động tự đọc sách báo, tự tìm hiểu; - Tích luỹ khi còn ở nhà. Vốn hiểu biết của sinh viên về văn hoá dân tộc khi còn ở nhà còn hạn chế, đặc biệt khả năng, ý thức tự tìm hiểu về văn hoá của dân tộc mình còn thấp. Vai trò chủ đạo của giáo dục nhà trường đối với nhiệm vụ giáo dục bản sắc văn hoá tỏ ra có hiệu quả. Sinh viên tiếp thu các nội dung về ban sắc văn hoá chủ yếu qua các môn học có lợi thế về giáo dục. Do vậy, xu hướng cơ bản là xây dựng, lồng ghép, tích hợp các nội dung trên qua các môn học thuộc khối xã hội nhân văn để giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên là hợp lý bên cạnh việc xây dựng các chuyên đề ngoại khoá cho họ thực hiện. Đối với sinh viên các trường sư phạm, cần chú trọng phát triển cả 4 dạng hoạt động trên, trong đó tập trung vào nhiệm vụ học tập lĩnh hội tri thức về bản sắc văn hoá dân tộc qua môn học chính khoá và ngoại khoá là có ưu thế hơn cả. Kết quả nghiên cừu trên các cán bộ quản lý giáo dục tại các trường hiện nay cho thấy một tình hình chung là: nhận thức của cán bộ quản lý về nhiệm vụ phát triển các giá trị văn hoá, tổ chức các hoạt động nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên là quan trọng, rất cần thiết song lựa chọn giải pháp nào thì còn lúng túng. Thông thường, biện pháp chủ yếu là: tăng cường, đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, giáo dục lý luận, ít chú ý đến việc tổ chức các biện pháp hoạt động. Thực tiễn giáo dục trong các trường đang đòi hỏi phải giáo dục sinh viên ý thức và hành vi giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, phải coi con đường học tập tri thức văn hoá là con đường chủ đạo, tổ chức các hoạt động lphải gắn liền với nhiệm vụ trọng tâm là học tập; đồng thời, phải xây dựng thành các chủ đề ngoại khoá với các quy trình thực hiện có nội dung 40
  6. thiết thực và phương pháp sinh động. Sinh viên tự đánh giá về mức độ am hiểu về văn hoá của dân tộc mình như sau: am hiểu (26,5%); hiểu chút ít (74,4%), chưa rõ (6,8%). Kết quả này phản ánh khả năng tự đánh giá mức độ hiểu biết của sinh viên về văn hoá của dân tộc mình là khá cao. Tuy nhiên, việc xem xét chất lượng của khả năng tự đánh giá đó chủ yếu thông qua hành vi, hoạt động của chính họ. Do vậy, sẽ có sự thống nhất hoặc không thống nhất giữa hành vi và nhận thức, hoặc giữa nhận thức, hành vi với thái độ nhiều khi chưa thống nhất. Chẳng hạn, tỷ lệ đáng kể sinh viên cho rằng: "Am hiểu về văn hoá dân tộc mình", song có đến 86,0% sinh viên khi được hỏi đã trả lời sai nơi cư trú của dân tộc mình. Do đó có thể nói: mức độ nhận thức của sinh viên về văn hoá dân tộc mình còn chung chung, mơ hồ, thiếu cụ thể. Mặt khác, có đến 60% sinh viên Tày, Nùng không biết nói tiếng mẹ đẻ cũng là một thông số phản ánh cho nhận định này. Kết quả khảo sát trên sinh viên của các trường cho thấy: mức độ sinh viên "am hiểu, hiểu chút ít" về bản sắc văn hoá dân tộc là khá cao, song kết quả khảo sát về mức độ hiểu biết về các nội dung cụ thể lại thấp. Tất nhiên, một vài khía cạnh trên đây chưa đủ cứ liệu để khẳng định mức độ nhận thức của sinh viên về văn hoá dân tộc mình là nông cạn hay sâu sắc. Còn một tỷ lệ không nhỏ sinh viên chưa chỉ ra được loại hình văn hoá nghệ thuật tiêu biểu đặc trưng cho dân tộc mình. Hoặc có những sự nhầm lẫn, chẳng hạn sinh viên cho rằng người Tày có bài hát tiêu biểu là Hát dặm; người H'mông có bài hát Sli Lượn; vùng Tây Nguyên có tác phẩm Đẻ đất đẻ nước Giữa tự đánh giá về mức độ am hiểu về văn hoá của dân tộc mình với hành vi lựa chọn các giá trị văn hoá của sinh viên còn có sự nhầm lẫn. Điều này đã phản ánh sự không thống nhất giữa nhận thức và hành động. Nói một cách khác, khi đi sâu vào tìm hiểu các giá trị cụ thể, sinh viên còn tỏ ra lúng túng. Điều này cũng đặt ra yêu cầu đối với các nhà giáo dục là: khi xây dựng nội dung giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên cần cụ thể hơn, thiết thực hơn, tránh cách làm đại khái, chung chung. 4. Hoạt động của các lực tượng tham gia giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên Kết quả điều tra cho thấy, các lực lượng sau đây có vai trò chủ chốt trong nhiệm vụ giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc: hoạt động của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; hoạt động dạy và học các môn khoa học xã hội và nhân văn; hoạt động học tập của chính sinh viên; các yếu tố khác. Phân tích thực trạng về vấn đề này đã cho thấy: Cần xây dựng các môn học có ưu thế (ví dụ như khoa học xã hội và nhân văn) để giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên; đồng thời phải đổi mới nội dung hoạt động của Đoàn, làm cho hoạt động này hỗ trợ đắc lực cho hoạt động giáo dục, làm cho chất lượng sinh hoạt Đoàn phải do chính sinh viên quyết định. Nhận thức về vai trò của bản thân sinh viên được coi là yếu tố bên trong, yếu tố quyết định còn thấp (xếp thứ 3), thứ bậc này phản ánh một thực tế là khi lựa chọn các yếu tố tác động và ảnh hưởng, sinh viên có xu hướng tìm đến các yếu tố ngoại lực chứ chưa chú ý đến yếu tố bên trong. Về vấn đề: Thái độ của sinh viên đối với trang phục dân tộc - một hình thức phản ánh quan trọng về bản sắc văn hoá dân tộc, có các ý kiến sau: mặc trang phục của dân tộc mình 41
  7. mọi nơi, mọi lúc; chỉ mặc trong các dịp lễ hội quan trọng (ví dụ như sinh nhật); không nên mặc vì cần hoà nhập với môi trường đại học; sửa chữa trang phục, cách tân cho thích hợp để sử dụng. Kết quả trên cho thấy xu hướng sinh viên không thích mặc trang phục của dân tộc mình lúc đi học, sinh hoạt. Điều đó có thể giải thích hiện tượng ở nhiều trường có tới 20 - 30% sinh viên là người dân tộc thiểu số, song hầu như không thấy sắc màu trang phục của các dân tộc. Ngay cả sinh viên cử tuyển (100% là sinh viên là người dân tộc thiểu số) tại trường đại học sư phạm miền núi cũng không thấy mặc trang phục của dân tộc mình trong khi đi học. Phần lớn sinh viên đồng ý nên mặc trong các lễ hội, sinh nhật. Ý kiến của sinh viên về việc "sửa chữa trang phục, cách tân cho thích hợp để sử dụng" là ý kiến quan trọng đáng để các nhà giáo dục, các nhà văn hoá, các nhà thiết kế trang phục, thẩm mỹ quan tâm. Lý do không mặc thường xuyên trang phục dân tộc mình còn nhiều ý kiến khác nhau, song nhìn chung sinh viên đã nhận thức được việc giữ gìn bản sắc văn hoá phải bắt đầu từ những hành vi cụ thể. Tuy nhiên, chính họ cũng đang tỏ ra lúng túng trước những những tình huống đã nêu ở trên. Khả năng ứng xử của sinh viên miền núi trước các tình huống giao tiếp để thể hiện bản sắc văn hoá còn thiếu linh hoạt. Trong thực tế đời sống, mức độ hiểu biết, sự biểu hiện thái độ, hành vi của con người trong quan hệ giao tiếp là sự phản ánh bộ mặt của nhân cách. Nhân cách được hình thành thông qua hoạt động và giao lưu, lối sống là mặt biểu hiện sinh động nhất của bộ mặt nhân cách. Do đó, một hành vi ứng xử trước một tình huống thực tế phần nào phản ánh giá trị của nhân cách. Về văn hoá giao tiếp, sinh viên có điểm chung với đặc trưng giao tiếp cơ bản của người Việt Nam như: thích giao tiếp, thích thăm viếng, hiếu khách song hay rụt rè, trong quan hệ lấy tình cảm là nguyên tắc, trọng danh dự song hay dẫn đến bệnh sĩ diện, cách giao tiếp ưa tế nhị song hay nói vòng vo, thói quen cân nhắc kĩ lưỡng dẫn đến thiêu tính quyết đoán Kết quả khảo sát cũng cho thấy khả năng linh hoạt, nhạy bén của sinh viên khá cao trong giao tiếp ứng xử. Phần lớn sinh viên đã xử lý các tình huống dựa vào nguyên tắc: hoà nhập, tôn trọng, giữ được nét riêng trong quan hệ với cộng đồng. Tuy nhiên, trong các kỳ thi nghiệp vụ sư phạm (một hoạt động nghiệp vụ được tổ chức thường xuyên trong các trường sư phạm) thì trước các tình huống ứng xử giả định, sinh viên còn tỏ ra lúng túng, và chủ yếu là mắc các lỗi thuộc về các kỹ năng cơ bản, rất phổ thông như: nghe - nói - đọc - viết Chương trình giáo dục chính khoá khó có đủ thời gian để bù lấp lỗ hổng này, do đó đòi hỏi phải có cách làm sáng tạo, có hiệu quả hơn. 5. Một số thay đổi trong nhận thức về lối sống có văn hoá của sinh viên Đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá dân tộc, trong đó có nhiều công trình khảo sát nghiên cứu về giá trị và định hướng giá trị trong thanh niên và sinh viên. Năm 1997, đề tài KX. 07.02 đã khảo sát về ảnh hưởng của các giá trị truyền thống đối với cuộc sống hiện tại (do GS. Phan Huy Lê, PGS. Chung Á chủ trì)1. Dựa vào mẫu phiếu khảo sát của đề tài KX.07.02, chọn một số giá trị để khảo sát trên sinh viên và những đối tượng khác giữa các địa phương miền núi phía Bắc Việt Nam, chúng tôi 1. Các kết quả đã công bố trong tài liệu: các giá trị truyền thống với con người Việt Nam hiện nay tập 3, H. 1997. 42
  8. thu được kết quả như sau: Các giá trị cơ bản: yêu nước, chống giặc ngoại xâm; văn hiến lâu đời; hiếu thảo; đoàn kết; cần cù lao động, tôn sư trọng đạo; nhân ái sau 5 năm có nhiều thay đổi, song về cơ bản, nhận thức về các giá trị cơ bản, cốt lõi của thế hệ trẻ với ý kiến chung có sự phù hợp tương đối cao. Tỷ lệ chênh lệch giữa giới trẻ với ý kiến chung không đáng kể. Nếu năm 1997, số ý kiến về các giá trị cơ bản, cốt lõi tập trung tỷ lệ cao, thì ở thời điểm 2001, sự phân tán các ý kiến có xu hướng rải đều cho 7 giá trị đưa ra (ví dụ tỷ lệ cao: 41,1 tỷ lệ thấp: 26,6). Trong khi năm 1997 thời điểm khảo sát của KX.07.02 thì tỷ lệ cao: 74,8, thấp: 11,5 (chênh lệch nhau: 6,5 lần). Số liệu trên cho thấy: các giá trí truyền thống có thể có sự phân tán ở lớp trẻ, sự phân bố thứ bậc các giá trị đó có khác trước. Cụ thể (đối với đối tượng khảo sát trên sinh viên năm 2001): (1) yêu nước, chống giặc ngoại xâm; (2) đoàn kết; (3) tôn sư trọng đạo; (4) cần cù lao động; (5) hiếu thảo; (6) nhân ái; (7) văn hiến lâu đời. Trong khi với kết quả khảo sát năm 1997 đối với giới trẻ thì giá trị "văn hiến lâu đời" xếp thứ 2 chỉ sau "yêu nước, chống giặc ngoại xâm". Dĩ nhiên kết quả trên khi so sánh chỉ để tham khảo, chưa có nhiều thông tin để kết luận đầy đủ về vấn đề này. Nhu cầu hưởng thụ văn hoá của sinh viên cũng có sự thay đổi về đối tượng. So sánh năm 1997 với năm 2001 kết quả cho thấy ở các loại hình: phim Việt Nam, nhạc hiện đại, phim nước ngoài, cải lương, kịch nói, xiếc, dân ca, nhạc cổ, chèo, múa rối nước, múa ballet, tuồng có hiện tượng sau: - Năm 1997, nhu cầu của giới trẻ so với nhu cầu chung không có sự chênh lệch lớn. Điều đó có thể nói lên sự phù hợp về nhu cầu hưởng thụ văn hoá chung. - Năm 2001, nhu cầu hưởng thụ văn hoá (thể hiện qua các loại hình nghệ thuật) có thay đổi lớn so với "ý kiến chung". Thứ bậc các loại hình nghệ thuật cũng thay đổi có thể do thị hiếu, do nội dung nghệ thuật, do nhiều yếu tố khác Trong 3 loại hình "đầu bảng" từ 1997 đến nay, có thể thấy ý kiến sinh viên có phần trội hơn (35,0%) về phim Việt Nam so với ý kiến chung, các loại hình còn lại, thấy nổi lên: xiếc múa rối nước; kịch nói; múa ballet. Có thể do đây cũng là các loại hình nghệ thuật có chất trí tuệ - nghệ thuật hơn, phù hợp hơn đối với giới sinh viên, do đó được ưa chuộng hơn. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy nổi lên loại hình: xiếc, múa rối (được xếp thứ bậc 3, 4), có thể do đặc thù giải trí cao của các loại hình này đã cuốn hút giới sinh viên (ở thời điểm năm 1997 thì 2 loại hình này xếp thứ 6 và 9). Có thể nhận định chung: nhu cầu hưởng thụ các loại hình văn hoá đối với sinh viên là rất đa dạng, song vẫn tập trung vào một số loại hình có chất lượng, được giới trí thức quan tâm. Đáng chú ý là 3 loại hình nghệ thuật truyền thống: chèo tuồng, dân ca nhạc cổ lại chỉ xếp hạng cuối bảng (xếp theo sở thích của sinh viên hiện nay). * * * 43
  9. Lối sống có văn hoá của sinh viên thể hiện chủ yếu trong hoạt động học tập. Các biểu hiện sau đây được đánh giá là tiêu biểu cho lối sống có văn hoá của sinh viên (tỷ lệ từ 70 % đến 81%): đi học đúng giờ, thường xuyên, chăm chỉ, chịu khó, có ý thức vươn lên trong học tập, tích cực suy nghĩ các vấn đề mà giáo viên đặt ra, chủ động nêu các thắc mắc và cô gắng giải quyết, hợp tác với bạn, nhóm bạn cùng học tập, khiêm tôn học hỏi bạn, lễ độ với giáo viên; không sử dụng tài liệu hoặc trao đổi bài khi thi. Các biểu hiện sau được đánh giá là "chưa đúng" như: chỉ có mặt lên lớp để đủ điều kiện, miễn là thi đỗ, lắng nghe chỉ là một phần, chủ yên tự học ở nhà. Nhận thức về giá trị văn hoá trong quan hệ giao tiếp ứng xử, trong nếp sống sinh hoạt của sinh viên về cơ bản là phù hợp. - Các nội dung sau chiếm tỷ lệ cao: quan tâm đoàn kết bạn bè trong quan hệ; tôn trọng, khiêm tốn, lễ độ trong quan hệ; trung thực trong quan hệ; cư xử trong quan hệ; rộng lượng, vị tha, thân tình, tế nhị. - Các nội dung sau chiếm tỷ lệ thấp: tuỳ quan hệ mà có thái độ phù hợp; tuỳ quan hệ mà nên trung thực hay không. - Các nội dung sau chiếm tỷ lệ khá cao: theo các nguyên tắc về nề nếp sinh hoạt; chia sẻ giúp đỡ bạn bè tham gia tích cực các hoạt động, thờ cúng và thói quen tín ngưỡng thể hiện lòng thành kính, biết ơn. - Các nội dung sau chiếm tỷ lệ thấp: sinh hoạt vật chất sinh hoạt tuỳ điều kiện là phù hợp; tuỳ theo mức độ thân thiết mà giúp hay không; thẳng thắn “có sao nói vậy”. Thái độ của sinh viên đối với các biểu hiện thiếu văn hoá trong nếp sống: - Các biểu hiện sau đây ở mức "biểu hiện rõ": tự do, tuỳ tiện, đua đòi lãng phí thời gian; thiếu trung thực trong học tập và trong quan hệ; kết bạn tràn lan, dễ dãi trong quan hệ tình yêu; thiếu khiêm tốn, lễ độ trong quan hệ; cờ bạc, rượu chè, mê tín dị đoan. - Các biểu hiện sau đây "không có": chỉ lo cho bản thân, ít quan tâm đến mọi người; thiếu khiêm tốn học hỏi; không có tinh thần tập thể, không nhiệt tình tham gia các hoạt động. Nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng trên: Do sinh viên nhận thức sai hoặc thiếu đầy đủ, ý thức tự tu dưỡng của sinh viên kém; do ảnh hưởng tác động xấu ngoài xã hội; do nhà trường quản lý lỏng lẻo. Như vậy, bản thân sinh viên cũng đã tự thừa nhận các nguyên nhân do chính họ về trình độ nhận thức, về ý thức tự tu dưỡng, đồng thời họ cũng cho rằng có nguyên nhân do tác động xấu từ xã hội, điều này cũng nói lên thực trạng "sức đề kháng" của sinh viên cũng còn thấp. Một số nguyên nhân khác như: do đua đòi, thiếu bản lĩnh, thiếu kinh nghiệm sống được coi là không cơ bản. Kiến nghị của sinh viên về việc xây dựng lối sống văn hoá trong môi trường sư phạm: Sinh viên cho rằng cần tăng cường các biện pháp sau: Giáo dục nhận thức đúng đắn về các nội dung, các giá trị văn hoá (bản sắc văn hoá dân tộc); các giá trị truyền thống; các xu hướng văn hoá tiến bộ, văn minh trên thế giới. Các biện pháp cụ thể phải nêu rõ các yêu cầu: được làm mẫu theo các chủ đề xây dựng 44
  10. chuẩn; phổ biến rộng rãi đến sinh viên; quản lý nghiêm túc; đồng thời phải xây dựng các điều kiện đảm bảo như: kinh phí cho hoạt động; tăng cường sách báo, tài liệu; dành thời gian cho sinh viên hoạt động. Một số thông tin về đặc điểm cách nghĩ, lối sống của thanh niên Việt Nam so với thanh niên nước ngoài. Bằng các số liệu về thanh niên Hàn Quốc, chúng tôi so sánh với kết quả điều tra trên sinh viên Việt Nam về nhận định của họ qua các vấn đề: Hài lòng với cuộc cải cách? Các việc quan tâm chính hiện nay? Cái gì quyết định triển vọng của cá nhân? Nền tảng hạnh phúc là gì? Khi gặp khó khăn rắc rối, thường làm gì? Phẩm chất đạo đức nào quan trọng nhất? Khi rỗi bạn làm gì”? Như đã nói ở trên, việc so sánh các thông tin trên rất khó xác định do hoàn cảnh, lối sống, bối cảnh văn hoá khác nhau. Thanh niên Hàn Quốc quan tâm nhất đến các việc trực tiếp, hàng ngày như: nhà ở, cải cách vật giá, y tế, hưu trí còn sinh viên Việt Nam quan tâm đến cải cách giáo dục (do đặc trưng nghề nghiệp). Xếp theo thứ tự ưu tiên, cả hai đối tượng đều coi trọng "khả năng cá nhân". Sinh viên Việt Nam coi trọng “nền tảng gia đình” xếp thứ 2, trước cả "cơ hội thuận lợi". Thanh niên Hàn Quốc quan niệm hạnh phúc và nghĩa vụ là hai việc riêng biệt. Họ cho rằng nền tảng "hạnh phúc" là: gia đình êm ấm, sức khoẻ tốt, thành công (tỷ lệ cao); cống hiến cho xã hội, được kích trọng (tỷ lệ thấp). Trong khi sinh viên Việt Nam, ngoài 3 yếu tố trên (tỷ lệ cao), còn coi trọng "cống hiến cho xã hội được kính trọng" (tỷ lệ khá cao). Chứng tỏ với sinh viên Việt Nam, nền tảng hạnh phúc còn phải được đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng, hạnh phúc và nghĩa vụ hoà quyện với nhau. Cả hai đối tượng đều không coi "tự do thoải mái", "giàu có" là tiêu chí cơ bản của nền tảng hạnh phúc. Đặc biệt, sinh viên Việt Nam không coi “có bạn thân” là nền tảng của hạnh phúc, trong khi thanh niên Hàn Quốc coi yếu tố này xếp thứ 4. Do đó, khi gặp khó khăn, thanh niên Hàn Quốc coi bạn bè là đối tượng chính để thổ lộ, trong khi đối với sinh viên Việt Nam, đối tượng chính là cha mẹ". Điều này là hoàn toàn hợp lý khi trong thực tế gần 100% sinh viên Việt Nam sống phụ thuộc vào gia đình về mọi mặt. Thanh niên Hàn Quốc coi các phẩm chất đạo đức sau đây là quan trọng: trung thực, tự tin, có tham vọng, tự trọng. Trong khi sinh viên Việt Nam coi phẩm chất khiêm tốn (xếp thứ 2), có tham vọng xếp hạng cuối. Tự tin chỉ xếp thứ 5 trong khi thanh niên Hàn Quốc xếp thứ 2. Khi sử dụng thời gian rỗi, thanh niên Hàn Quốc kết bạn và làm thêm, nghe nhạc, khiêu vũ, riêng hành vi đến thăm nhau họ không thích. Trong khi đó đến thăm nhau lại là hành động phổ biến của sinh viên Việt Nam (43,6%), đi làm thêm, nghe nhạc chiếm tỷ lệ thấp so với thanh niên Hàn Quốc. Đối với thanh niên Hàn Quốc, họ coi trọng các giá trị linh hoạt phù hợp với cạnh tranh thị trường như: trung thực, tự tin, tham vọng, tự trọng. Các giá trị đạo đức truyền thống kìm hãm sở thích cá nhân và hạn chế tự do cá nhân thì họ không ưa thích. Những thông số trên đây phần nào đã phản ánh sự tương đồng hoặc khác biệt giữa sở thích, lối sống của thanh niên hai nước có điều kiện sống khác nhau. Tuy nhiên chúng ta cũng thấy có những điểm chung mang tính quy luật, đó là sự ảnh hưởng mạnh của điều kiện kinh tế xã hội đến lối sống cá nhân, nó chi phối mạnh các đặc điểm của lối sống. 6. Ý kiến của các nhà quản lý và văn hoá giáo dục về vấn đề giáo dục bản sắc văn hoá cho sinh viên 45
  11. Các vấn đề sau đây được nêu lên để tham khảo ý kiến các nhà quản lý. Vấn đề 1: "Có nhận định cho rằng hiện nay sinh viên ít quan tâm đến việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc chúng tôi tổng hợp được các ý kiến sau: Không có gì đáng lo ngại hãy tin vào thế hệ trẻ (46,7%); rất đáng lo ngại (28,9%); hiện chưa có ý kiến gì về còn phải đánh giá cụ thể hơn (24,4%). Nhìn vào tỷ lệ % các ý kiến trả lời thì vấn đề đặt ra không có gì đáng lo ngại. Tuy nhiên ý kiến các nhà quản lý cho rằng "rất lo ngại", " hiện chưa có ý kiến gì", chiếm tỷ lệ không nhỏ đã phản ánh ý thức trách nhiệm của họ trước một vấn đề quan trọng. Tâm trạng chung của thế hệ đi trước lo lắng cho thế hệ trẻ cũng là một vấn đề đang trở thành mối quan tâm thường trực của toàn xã hội. Các nhà quản lý văn hoá - xã hội, các nhà quản lý giáo dục rất cân nhắc và thận trọng khi đánh giá thế hệ trẻ trong vấn đề giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc, điều này đã thể hiện thái độ, ý kiến đáng trân trọng và với cách nhìn khoa học, biện chứng đối với thế hệ trẻ. Các nhà quản lý có ý kiến như sau: - 42,0% ý kiến cho rằng sinh viên hiện nay đang có xu hướng xa rời cội nguồn (1). - 28,6% ý kiến cho rằng sinh viên đang có xu hướng chỉ quan tâm khôi phục các giá trị cũ (2). - 20,8% ý kiến cho rằng sinh viên đang có xu hướng “gạn đục khơi trong” (3). - 4,8% ý kiến cho rằng sinh viên đang "hoang mang vì chưa có sự lựa chọn các giá trị" (4). Về phương diện quản lý, các ý kiến tập trung chủ yếu vào các vấn đề nổi cộm, đáng lo ngại cho thế hệ trẻ. Đây là một nhận định thường xuất hiện khi chúng ta khảo sát về thanh niên, sinh viên. Song việc các nhà quản lý đã nhìn nhận đánh giá theo quan điểm phát triển đòi hỏi chúng ta cần nghiên cứu nghiêm túc những ý kiến đánh giá ở trên. Giữa các địa phương, ý kiến đánh giá sinh viên đối với việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc có sự khác nhau. Ví dụ: Xu hướng (1): "Sinh viên đang có xu hướng xa rời cội nguồn" giữa địa phương Bắc Kim, Hà Giang và Lạng Sơn có tỷ lệ ý kiến chênh nhau 3 lần, xu hướng (3): "Sinh viên đang có xu hướng gạn đục khơi trong" giữa các địa phương Hà Giang (0%) với Bắc Kim, Lạng Sơn chênh nhau lớn (46%). Những ý kiến khác nhau trên đây đã chứng tỏ việc đánh giá, bình xét, khái quát chung về thế hệ sinh viên trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc là một việc thống nhất các ý kiến không rõ ràng, còn nhiều ý kiến tranh luận. Vấn đề 2: "Hiện nay ở một số nơi có xu hướng nệ cổ, tìm hiểu về cái cũ lạc hậu, lấy tiêu chí thời gian xa xưa để chứng tỏ có ý thức giữ gìn phát huy bản sắc văn hoá dân tộc". Các ý kiến được hỏi đều đồng tình với việc đánh giá là có biểu hiện trên. Một số ý kiến lưu ý: "Việc khôi phục các giá trị truyền thống cần có định hướng, có gạn đục khơi trong, cần có lựa chọn, tránh làm theo phong trào, khoa trương để tránh sa vào mê tín". 7. Các con đường cơ bản để giáo dục sinh viên trong các trường sư phạm Có nhiều con đường thực hiện nhiệm vụ giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên, song trong phạm vi nhà trường, có thể nêu lên các con đường cơ bản như sau: thông qua các 46
  12. đợt sinh hoạt chính trị của Đoàn, Hội sinh viên thông qua các hình thức hoạt động ngoại khoá theo chuyên đề thông qua các nội dung học được lồng ghép, tích hợp vào các môn học như: ngũ văn lịch sử, giáo dục. Như vậy, theo ý kiến của các cán bộ quản lý thì thông qua các chủ đề ngoại khoá và học các môn có thể lồng ghép, tích hợp để giáo dục sinh viên hướng vào việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc là con đường có hiệu quả nhất. Đây là định hướng lựa chọn đúng đắn, cơ bản vì nếu quan mềm giá trị bản sắc dân tộc, văn hoá dân tộc là một giá trị cơ bản, cốt lõi thì việc đưa vào giáo dục nhà trường lại càng cấp bách và phải có cách làm đúng. Ở khía cạnh thực tiễn, khi sinh viên nêu vấn đề bản sắc văn hoá dân tộc là gì và nếu nó quan trọng thì tại sao lại không đưa vào chương trình giáo dục sinh viên? Sự xuất hiện môn học Cơ sở văn hoá Việt Nam trong các trường đại học là một trong các hình thức dạy học đề nâng cao hiểu biết và nhận thức của sinh viên về vấn đề này. Do đó, cách làm có hiệu quả là khai thác các nội dung có sẵn trong chương trình các môn học có ưu thế để nâng cao nhận thức và hành vi về bản sắc vàn hoá dân tộc như cách tiếp cận vấn đề dân số, môi trường, giới tính đã từng được thực hiện trong các trường học. Kết quả khảo sát trên các cán bộ quản lý cho thấy tuyệt đại đa số ý kiến cho rằng: việc giáo dục giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên là rất cần thiết và cấp bách, có ý kiến nhấn mạnh rằng "càng chậm ngày nào thì càng có nguy cơ lớn khó lòng cứu vãn được". * * * Tóm lại, nghiên cứu các hoạt động thực hiện nhiệm vụ giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc ở một số trường đại học, cao đẳng sư phạm khu vực miền núi phía Bắc đã cho thấy có mấy vấn đề sau đây cần quan tâm: Sinh viên có nhận thức đúng đắn về vai trò và tầm quan trọng của vấn đề giáo dục giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; khăng định con đường cơ bản là giáo dục nhà trường; lực lượng quyết định chính là sinh viên và cơ quan quản lý văn hoá giáo dục. Thực trạng nhiệm vụ giáo dục sinh viên giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong các trường chuyên nghiệp chưa có hiệu quả cao, còn thiếu nội dung hoạt động phong phú, hấp dẫn và chủ yếu nặng về tuyên truyền hình thức. Quan niệm của sinh viên về bản sắc văn hoá dân tộc có khác nhau, song đã thống nhất được một số điểm như: tiêu chí nhân văn, cái hay, cái tốt đẹp có ở mọi dân tộc song có phong cách biểu hiện đa dạng ở ngôn ngữ, giao tiếp, văn hoá văn nghệ Môi trường để sinh viên nhận thức, tìm hiểu về bản sắc văn hoá dân tộc chủ yếu ở các môn học; hoạt động ngoại khoá; tích luỹ từ ở nhà; tự đọc tự tìm hiểu chiếm tỷ lệ đáng kể. Giữa sự hiểu biết và hành vi của sinh viên về vấn đề giữ gìn phát huy bản sắc văn hoá dân tộc còn mâu thuẫn; khả năng biểu hiện bản sắc văn hoá dân tộc của sinh viên qua trang phục, ngôn ngữ còn mờ nhạt, có xu hướng xa rời các biểu hiện hình thức bên ngoài; kỹ năng ứng xử trước các tình huống của họ còn chậm. So với thời điểm 5 năm trước đây, nhận thức về giá trị của sinh viên có nhiều thay đổi; nhu cầu hưởng thụ văn hoá của họ có thay đổi lớn, các loại hình văn hoá dân tộc ít hấp dẫn hơn. 47
  13. Đánh giá của các cán bộ quản lý văn hoá giáo dục đối với sinh viên còn nhiều mâu thuẫn phản ánh tính chất phức tạp, khó khăn của công tác này. Tuy nhiên, những nhận định khách quan, khoa học đang đòi hỏi các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp phải nghiên cứu và thực hiện một cách nghiêm túc. 48
  14. Chương 3 GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC CHO SINH VIÊN - ĐỊNH HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP Nghiên cứu thực trạng nhận thức của sinh viên, của các cán bộ quản lý giáo dục về vấn đề giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên một số trường đại học sư phạm và cao đẳng sư phạm trên cơ sở phân tích những vấn đề bức xúc của thực trạng, chúng ta thấy cần thiết phải xây dựng các hoạt động có hiệu quả với các biện pháp giáo dục cụ thể. Một trong những căn cứ để xây dựng các giải pháp, biện pháp giáo dục sinh viên hiện nay là cần quán triệt các quan điểm phương pháp luận cơ bản trong nghiên cứu về giáo dục, văn hoá, nghiên cứu con người. Từ đó, việc đề xuất các giải pháp xã hội, giải pháp nhà trường sẽ có căn cứ khoa học, tính khả thi và có giá trị thực tiễn. Cơ sở phương pháp luận của việc định hướng giáo dục bản sắc văn hoá cho sinh viên trong các trường có sinh viên là người dân tộc thiểu số hiện nay trước hết là định hướng của Đảng về phát triển giáo dục, phát triển văn hoá. Đảng ta đã xác định văn hoá là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội, là động lực và mục tiêu của phát triển. Do đó, cần phải có một chiến lược văn hoá, tiền đề cho chiến lược này là tinh thần nghị quyết TW 5 khoá 8 của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ các quan điểm chỉ đạo, cơ bản, Nghị quyết đã xây dựng những phương hướng chỉ đạo các nhiệm vụ cụ thể sau đây: - Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới; - Xây dựng môi trường văn hoá; - Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật, - Bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá; - Phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học- công nghệ; - Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng - Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số - Chính sách văn hoá đối với tôn giáo, - Mở rộng hợp tác quốc tế về văn hoá; - Củng cố xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hoá 1 Chúng ta đều biết rằng, bốn thành tố cơ bản cấu thành văn hoá, đó là: lao động sản xuất; tri thức và học vấn; tiềm lực sáng tạo; lối sống. Như vậy, mục tiêu lâu dài, căn bản là nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, xây dựng được một lối sống văn minh, có văn hoá. Mục tiêu trước mắt là giải quyết các vấn đề trong giáo dục, lối sống, đạo đức mà nhà trường là nơi định hướng cơ bản cho xã hội. Giải quyết vấn đề cấp bách về: kinh tế, văn hoá, giáo 1. Đảng CSVN - Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 BCH TW khoá VIII; Nxb Chính trị Quốc gia, tr. 58- 68. 49
  15. dục, y tế của đất nước suy cho cùng là giải quyết vấn đề chất lượng con người. Do đó, mục tiêu giáo dục lối sống có văn hoá cho sinh viên là khâu đột phá vào chiến lược giáo dục, văn hoá hiện nay. 1. Phát triển môi trường văn hoá - giáo dục ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam Muốn thực hiện các biện pháp giáo dục có hiệu quả, việc cần thiết là phải hiểu môi trường sống và hoạt động của đối tượng. Trong công tác giáo dục sinh viên, việc tìm hiểu ảnh hưởng của môi trường hình thành và phát triển nhân cách là một việc làm quan trọng. Trong hàng loạt yếu tố đó phải kể đến yếu tố môi trường sống được đặc trưng bởi yếu tố xã hội, văn hoá. Nghiên cứu đặc điểm xã hội trên một phạm vi không gian rộng lớn, phức tạp về nhiều mặt, có nhiều biến đổi trong tiến trình lịch sử là một vấn đề khó. Theo quan điểm lịch sử, đặc điểm xã hội miền núi phía Bắc Việt Nam được nghiên cứu ở các giai đoạn sau: - Trước cách mạng tháng Tám: Đặc điểm của xã hội Việt Nam nói chung và miền núi phía Bắc Việt Nam nói riêng là bị chi phối bởi quan hệ thực dân - nửa phong kiến, đồng thời chịu sự chi phối quan hệ nội tại của từng dân tộc. Điều kiện kinh tế thời kỳ này cực kỳ khó khăn, bị hạn chế về nhiều mặt, do đó xã hội còn mang đậm dấu ấn lịch sử của một thời kỳ lạc hậu. Có thể nói. thời kỳ này xã hội còn chưa định hình rõ những đặc điểm vùng, miền và từng dân tộc. Theo tiêu chí phát triển, có thể chia ra làm hai vùng có sự phát triển tương đối chênh lệch nhau về các mặt: Vùng l: vùng thị trấn, ven quốc lộ có trình độ phát triển tương đối như vùng xuôi; chủ yếu là người Tày, Nùng, Hoa, Cao Lan cư trú vùng trung du, núi thấp. Vùng 2: vùng khó khăn, nơi cư trú của đồng bào các dân tộc Thái, Mường, H’Mông; đây là vùng núi cao còn tồn tại chế độ thổ ti, lang đạo, chúa đất. Đặc điểm xã hội vùng 1 và vùng 2 thường không có sự thống nhất, trong khu vực có nhiều thành phần cư trú. Sự chi phối của dân tộc chủ thể đối với các dân tộc khác là hiện tượng tất yếu. - Quá trình phát triển cách mạng: phần lớn miền núi phía Bắc Việt Nam là địa bàn của hai cuộc kháng chiến, nơi chứng kiến các chiến thắng vĩ đại của cách mạng như chiến khu Việt Bắc, chiến thắng Điện Biên Phủ một số nơi là căn cứ địa cách mạng, cơ quan đầu não của Đảng. Trong hơn 30 năm, trải qua các cuộc kháng chiến, nơi này đã có vai trò quyết định đến thắng lợi của của cách mạng Việt Nam. Nhờ vào sự che chở, đùm bọc, cống hiến sức người sức của của các dân tộc anh em, cuộc kháng chiến chống Pháp đã thắng lợi hoàn toàn. Sau 1954, cùng với cả nước, miền núi phía Bắc Việt Nam và miền xuôi là hậu phương lớn cho miền Nam. Miền núi phía Bắc Việt Nam là cửa ngõ giao tế với Liên Xô, Trung Quốc, là nơi hậu thuẫn cho các cơ quan, nhà máy, trường học sơ tán suốt cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc. Cho đến nay, về phương diện tâm lý - xã hội, các dân tộc anh em đã kết tụ các giá trị quý báu. Có thể kể đến các phẩm chất: yêu nước nồng nàn; đoàn kết yêu thương đùm bọc nhau; trung thực, dũng cảm; có niềm tin sắt đá. Những tên gọi đậm đà chất "miền núi" rất đỗi thân thương đã in đậm vào tâm trí nhiều thế hệ, như Việt Bắc, Tây Bắc, Trung du, Chiến khu Nhiều hình ảnh đã được khắc hoạ sâu đậm và trở thành hình tượng tiêu biểu cho văn học nghệ thuật giai đoạn kháng chiến, phản ánh những giá trị tinh thần quý báu của đồng bào các dân tộc dành cho cách mạng: "Bát cơm sẻ nửa, chăn sùi đắp cùng" (Tố Hữu). Những giá trị này được biểu hiện trong lối sống văn hoá, trong giao lưu, trong đời sống 50
  16. tinh thần của các dân tộc và điều quan trọng là nó đã trở thành tự nhiên, như sự vốn có, đã in đậm vào lối sông, đời sống tình cảm và được xem như là cốt cách của các dân tộc miền núi, là giá trị vĩnh cửu của cộng đồng các dân tộc thiểu số. Mỗi dân tộc, mỗi vùng đều gắn với điều kiện tự nhiên và có đặc trưng sản xuất riêng. Người Kinh cư trú chủ yếu ở đồng bằng, vùng núi thấp, gắn với nền sản xuất lúa nước. Người Tày, Nùng, Thái cư trú chủ yếu vùng núi trung du, ven đường cái quan hoặc quần cư theo cụm làng - xã. Mặc dầu xen kẽ vùng núi trung du vẫn có chuyên canh lúa nước, song phương thức trồng lúa nước của đồng bào cũng khác người Kinh. Người Cao Lan, Sán Chí, Mường cũng cư trú rải rác khắp vùng Đông Bắc và Tây Bắc xen kẽ vùng núi - trung du - đồng bằng; người Dao, người H’Mông, Lô Lô chủ yếu ở vùng núi cao với phương thức quảng canh trên nương rẫy là chủ yếu. Mặc dầu với các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, chương trình 135 của Chính phủ, chương trình dành cho các xã đặc biệt khó khăn, đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số miền Bắc Việt Nam đã được cải thiện, song nhìn chung, năng suất lao động còn thấp do lối suy nghĩ, cách sống và sản xuất gắn bó mật thiết với tự nhiên, với thiên nhiên phần nào ảnh hưởng đến phương thức canh tác của đồng bào, chủ yếu là lao động giản đơn, công cụ lao động còn lạc hậu. Hiện tại, ở nhiều vùng sâu khó khăn, dân trí chưa được nâng cao, tỷ lệ mù chữ và tái mù chữ còn cao, trẻ em thất học còn nhiều ở miền núi đã và đang là một trong các vấn đề bức xúc của giáo dục miền núi hiện nay. Theo cách phân loại phân vùng văn hoá trong lãnh thổ Việt Nam hiện tại, Giáo sư Trần Quốc Vượng phân thành 6 vùng: Vùng văn hoá Tây Bắc; Việt Bắc; Bắc Bộ; Trung Bộ; Tây Nguyên; Nam Bộ. Ở mỗi vùng có những tộc người tiêu biểu, có biểu tượng văn hoá riêng, có các loại hình nghệ thuật tiêu biểu, ngôn ngữ riêng, và đặc biệt là vai trò trong lịch sử phát triển văn hoá dân tộc cũng khác nhau 1. Từ khía cạnh giáo dục học, vấn đề chúng ta quan tâm đến là: Liệu mỗi dân tộc ít người ở miền núi phía Bắc Việt nam có còn giữ được bản sắc văn hoá của dân tộc mình hay không Nếu còn lưu giữ được thì những nội dung nào cần phát triển, cần đưa vào giáo dục cho thế hệ trẻ. 2. Những khó khăn về kinh tế, xã hội, văn hoá ở miền núi hiện nay Trong quá trình phát triển, bên cạnh những thuận lợi và kết quả tốt đẹp cũng xuất hiện những mâu thuẫn và những khó khăn. Ví dụ: sự phát triển và ảnh hưởng mạnh của kinh tế thị trường có tính chất đòi hỏi nhanh rõ ràng mâu thuẫn với sự chậm chạp trong phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi. Tác động mạnh và hết sức năng động của nền văn hoá đa dạng (do kinh tế thị trường đem lại, do hội nhập, giao lưu) đã mâu thuẫn với sự ổn định có tính chất tương đối về văn hoá - xã hội miền núi, làm thay đổi theo hướng tích cực, đồng thời xuất hiện các tệ nạn xã hội. Sự di chuyển cơ học của con người cùng với lối sống ở hai vùng: từ vùng chậm phát triển đến vùng phát triển đã làm tăng cơ hội giao lưu, song cũng xuất hiện những đan xen phức tạp. Việc mở cửa biên giới hơn 10 năm qua đã làm thay đổi tích cực đời sống nhân dân, góp 1. Trần Quốc Vượng (chủ biên) - Cơ sở văn hoá Việt Nam. Nxb Giáo dục, H, 1999. 51
  17. phần làm tăng trưởng kinh tế địa phương, song cũng xuất hiện các tệ nạn như: buôn lậu, ma tuý, kéo theo đó là hiện tượng thương trường hoá đời sống văn hoá thông tin trong khi phần lớn dân cư chưa có sự chuẩn bị tiếp nhận. Đặc biệt là hiện tượng bùng nổ các mỏ đào đãi vàng, đá quý, quặng hiếm với cách khai thác tài nguyên bừa bãi, kết quả là một bộ phận dân cư có thu nhập rất cao, một bộ phận thương lái và dịch vụ đi kèm với món lợi nhuận lớn ảnh hưởng không nhỏ đối với đời sống khó khăn của đồng bào các dân tộc. Sống trong bối cảnh phức tạp, có nhiều mâu thuẫn ở trên, thanh niên miền núi chịu tác động mạnh. Đặc biệt, ngay từ khi còn nhỏ, học sinh dân tộc chủ yếu sống ở quê hương, về cơ bản là họ sinh sống ở các vùng chậm phát triển, đến khi học tập ở vùng phát triển hơn thì ít nhiều gặp những khó khăn nhất định. Trong đó phải kể đến sự thay đổi đột ngột các giá trị, mức sống, điều kiện sống và học tập cũng như các loại hình văn hoá nghệ thuật. a. Phát triển mạnh mẽ kinh tế, xã hội ở miền núi hiện nay là tiền đề căn bản để phát triển văn hoá, giáo dục Mối quan hệ giữa kinh tế và giáo dục là mối quan hệ tương hỗ, đặc biệt ở miền núi thì vai trò của phát triển kinh tế trong đó mục tiêu cơ bản là làm sao để chất lượng cuộc sống của đồng bào phải được nâng lên đáng kể cùng với sự phát triển giáo dục và văn hoá. Theo các nhà nghiên cứu, nơi nào còn chậm phát triển thì càng phải đẩy nhanh tốc độ phát triển giáo dục, và chỉ nhờ vào yếu tố này mới có hy vọng đưa nền kinh tế thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu. Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế miền núi, bên cạnh những thuận lợi, còn phải chịu sự tác động tiêu cực của mặt trái do kinh tế thị trường đem lại. Những tác động này làm thay đổi các giá trị xã hội. Có thể kể đến các yếu tố sau đây đang tồn tại trong xã hội: - Lối sống thực dụng, quay lưng với quá khứ, vọng ngoại; Mưu cầu lợi ích riêng, chà đạp lên chuẩn mực xã hội; - Sùng bái đồng tiền, tự ti, mặc cảm, tiếp thu thiếu chọn lọc; - Tính tự phát trong trở về cái cũ, khôi phục tập tục xấu. - Tồn tại các loại hình phản văn hoá. b. Phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chiến lược này là tiền đề quyết định cho phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá. Sau hơn nửa thế kỷ phát triển giáo dục, giáo dục miền núi đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần tăng trưởng kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước. Song hiện nay giáo dục miền núi còn gặp rất nhiều khó khăn. Có thể phác qua vài con số. + Có hai dân tộc có 90% dân số mù chữ; + Có 41 dân tộc có 50 - 90% dân số mù chữ + Có 10 dân tộc có 17 - 50 % dân số mù chữ; + Nhiều dân tộc chưa có người đạt trình độ cao đẳng, đại học; + Có 25 dân tộc có 0,01 - 0,09% người có trình độ cao đẳng, đại học; + Có 18 dân tộc có 0,09 - 0,1% người có trình độ cao đẳng, đại học; 52
  18. + Nạn mù chữ, bỏ học với tỷ lệ cao1. Chất lượng học tập của học sinh miền núi còn thấp, tỷ lệ ra lớp thấp; điều kiện học tập của các em còn khó khăn Giáo dục miền núi còn nhiều vấn đề phải giải quyết đòi hỏi các giải pháp phải được tiến hành đồng bộ. c. Kinh tế miền núi chậm phát triển, sự phân hoá giàu nghèo có xu hướng gia tăng Chúng ta nghiên cứu các số liệu qua 5 tỉnh được điều tra: “Chênh lệch giàu nghèo chênh 6,82 lần; các hộ nghèo, có đời sống khó khăn ở các vùng nông thôn, miền núi chiếm 45 - 50%; tỉ lệ đầu tư của nước ngoài ở khu vực miền núi chiếm tỷ lệ thấp nhất so với toàn quốc; thu nhập bình quân đầu người thấp nhất cả nước"2. (Đến thời điểm này, các con số trên có thể đã giảm, song tốc độ chậm, chưa có sự chuyển biến căn bản). Những con số trên phản ánh chất lượng cuộc sống của đồng bào các dân tộc còn thấp, nhiều dân tộc còn gặp khó khăn. Phần lớn sinh viên miền núi đã sống trong hoàn cảnh đó và chịu nhiều thiệt thòi. Mặc dù Nhà nước có nhiều chính sách quan tâm đến đời sống kinh tế, văn hoá, giáo dục cho miền núi, song do điều kiện kinh tế quá thấp, tiền cho vay để phát triển kinh tế chủ yếu lại chi dùng cho tiền ăn, chỉ tiêu đi học chủ yếu dành cho người miền xuôi lên công tác ở miền núi, mọi sự ưu đãi chưa trở thành động lực để phát triển. Với những đặc điểm kinh tế, xã hội và văn hoá ở miền núi vốn đã có những khó khăn song lại phải tính đến các vấn đề bức xúc sau đây của giáo dục nước nhà, những vấn đề đang len lỏi vào giáo dục ở khu vực miền núi: - Hiệu quả giáo dục đạo đức trong nhà trường giảm sút, nhất là lý tưởng của học sinh. "Một bộ phận đáng kể học sinh yêu kém về nhận thức chính trị, đạo đức, lối sông"3. Dường như có một khoảng cách đáng kể giữa trình độ học vấn và lối sống có văn hoá, đáng chú ý là ngay trong giới trẻ có học thức. - Sự thiếu định hướng trong lý tưởng của một bộ phận thanh niên sinh viên, sự mơ hồ về nhận thức bản sắc văn hoá dân tộc trong điều kiện hiện nay. - Sự biến đổi trong giá trị nghề nghiệp theo xu hướng thực dụng, trước mắt, trong khi công tác giáo dục hướng nghiệp ở phổ thông ít được chú ý. - Xuất hiện mâu thuẫn giữa nhu cầu vượt ra khỏi các quan niệm giá trị truyền thống của sinh viên với yêu cầu giữ gìn phát huy ban sắc văn hoá dân tộc. d. Một số vấn đề cần quan tâm trong giáo dục sinh viên theo định hướng giáo dục lối sống có văn hoá Chúng ta đều biết rằng, giáo dục là một hệ thống định hướng theo mục tiêu, do đó nhiệm vụ giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên cần đảm bảo các nguyên tắc sau: - Đảm bảo hướng vào mục tiêu đào tạo toàn diện con người. 1 . Theo số liệu của tác giả Trần Bình - Báo Nhân Dân, 1999. 2. Theo Đỗ Nguyên Phương - Thực trạng và xu thế phát triển cơ cấu xã hội nước ta trong giai đoạn hiện nay - Tài tiêu đề tài KX 07.05, H. 1995. 3. Nghị quyết Hội nghị BCH TW lần 4 khoá VII. 53
  19. - Đảm bảo phát huy dược vai trò chủ thể của nhân cách sinh viên, đồng thời là đối tượng của giáo dục. - Đảm bảo tính nguyên tắc trong tổ chức các hoạt động phải bám sát hoạt động chủ đạo là hoạt động học tập - nghiên cứu của sinh viên. Các biện pháp phải tác động đồng thời lên nhận thức, thái độ, hành vi của sinh viên. Trong đó, phải coi trọng việc tố chức các hoạt động cho sinh viên. Các biện pháp đề xuất trong điều kiện khả thi, có thể kiểm soát được, có thể đánh giá được. Một trong những mâu thuẫn cơ bản trong quá trình dạy học, giáo dục hiện nay ở các trường đại học và cao đẳng là khối lượng kiến thức phải tiếp thu, lĩnh hội quá lớn trong khi thời gian có hạn, sự quá tải chỉ có thể giải quyết triệt để khi cách dạy ở đại học chủ yếu là dạy cách học và cách học tốt nhất đối với sinh viên là tự học. Hiện nay trong các trường đại học và cao đẳng, nhiều nội dung mới, cần thiết đã và đang được đưa vào như: giới tính, dân số, môi trường đó là những vấn đề cấp thiết và quan trọng. Song không thể đưa thêm vào khuôn khổ thời lượng quy đinh trong chương trình đào tạo một cách tuỳ tiện. Do đó, cách làm có hiệu quả là xây dựng chiến lược tích hợp, lồng ghép các nội dung trên, chủ yếu là huấn luyện đào tạo giáo viên biết cách khai thác trong chương trình các môn học để giáo dục các nội dung trên. Ví dụ, có thể xây dựng các môđun để khai thác các nội dung giáo dục môi trường, dân số qua các môn: sinh học, địa lý hoá học, đạo đức, văn học Từ cách làm có hiệu quả trên, chúng ta thấy không thể có thêm một nội dung chương trình đào tạo để giáo dục về văn hoá, bản sắc văn hoá trong các trường sư phạm. Trên cơ sở xác định và lựa chọn mục tiêu giáo dục, có thể chọn một số môn như: Văn học, Lịch sử, Tâm lý - Giáo dục, để khai thác các nội dung giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên. Làm được như vậy sẽ đảm bảo tính thực tiễn của quá trình đào tạo, có thể tích hợp vào các môn học xã hội và nhân văn có ưu thế để hỗ trợ môn học Cơ sở văn hoá Việt Nam hiện đang được giảng dạy trong các trường. 3. Những định hướng giáo dục cơ bản trong các trường sư phạm Giáo dục lối sống văn hoá cho sinh viên hướng vào mục tiêu giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc bao gồm các định hướng cơ bản sau đây: a. Lựa chọn các giá trị trên cơ sở nghiên cứu, luận giải, phân tích để tìm ra các giá trị cần bảo tồn, phát triển và các giá trị hhông phù hợp để điều tiết Trong sự phát triển chung của xã hội, thang giá trị, định hướng giá trị có nhiều biến đổi. Một mặt, các yếu tố cốt lõi, cơ bản trong hệ thống giá trị được củng cố, được phong phú thêm và mang ý nghĩa ổn định. Mặt khác, do sự phát triển, hội nhập, giao lưu đã xuất hiện một thực tế là một số giá trị không còn phù hợp với bối cảnh thời đại. Vì vậy, việc lựa chọn và điều tiết là hai nhiệm vụ phải làm song song trong việc giáo dục giá trị cho sinh viên. Bởi lẽ, tư tưởng, thế giới quan của con người chịu ảnh hưởng sâu sắc của thang giá trị, nó luôn được coi là một hệ thống mở. Lựa chọn các giá trị đúng sẽ làm thay đổi căn bản lối sống, hành vi của con người, ngược lại, lựa chọn sai sẽ làm biến dạng các định hướng trong hoạt động cua cá nhân. Giáo dục giá trị chính là hình thành cho con người lý 54
  20. tưởng, niềm tin, ý chí và những phẩm chất nhân cách theo định hướng mục tiêu giáo dục. Để có tầm nhìn đúng, sâu sắc và khoa học về vấn đề này, giáo dục nhà trường phải đặt ra nhiệm vụ cụ thể trong nghiên cứu, giảng dạy và giáo dục sinh viên. Trong giáo dục lối sống cho sinh viên hiện nay, điều cần chú ý là sự thay đổi có chiều hướng "đột biến" của thang giá trị và chính điều này đã làm thay đổi căn bản lối sống của họ. Chẳng hạn, tiêu chí đầu tiên của thanh niên đối với việc lựa chọn giá trị nghề nghiệp chính là: "Nghề có thu nhập cao". Có thể do sống trong điều kiện vật chất thiếu thốn một thời gian dài đã hình thành ở thanh niên một quan niệm sống thực dụng hơn. Song đối với giáo dục, điều đáng quan tâm ở đây là phải điều chỉnh bước "nhảy vọt" từ thang giá trị: "coi nhẹ vật chất, xem trọng tinh thần" (trước 1986 - mốc của công cuộc đổi mới) với "coi trọng vật chất" một cách thực dụng từ sau 1986 đến nay: Ví dụ, đối với một số sinh viên khi xác định động cơ học tập mang ý nghĩa vụ lợi, thực dụng thì sẽ xuất hiện các hành vi thiếu trung thực trong thi cử, sẽ xuất hiện hiện tượng mua bằng bán điểm. Vấn đề giá trị đã chi phối mạnh mẽ động cơ và chi phối bản chất hoạt động của mỗi cá nhân. Điều này sẽ giúp chúng ta giải thích một thực tế là trong chiến tranh, hoặc ở thời kỳ khó khăn bao cấp. Chất lượng giáo dục nhân cách nhiều nơi vẫn được giữ vững, được nâng cao. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, chất lượng giáo dục nhân cách con người ở những giai đoạn khó khăn của đất nước có phần tốt hơn. Trong giai đoạn hiện nay, có thể chất lượng về học vấn, trình độ nhận thức, sự thông minh của lớp trẻ được đánh giá cao, song chưa thể khẳng định chắc chắn về chất lượng giáo dục nhân cách. Từ những căn cứ trên, chúng ta thấy các giá trị sau đó cần được giáo dục cho sinh viên một cách chắc chắn, lấy đó làm cơ sở để giáo dục lý tưởng: - Yêu nước chống giặc ngoại xâm: - Văn hiến lâu đời. - Hiếu thảo; - Đoàn kết: - Cần cù lao động; - Nhân ái; - Tôn sư trọng đạo Tuy nhiên. phương pháp giáo dục giá trị không hơn đã có cách làm giống như tuyên truyền, giáo dục chính trị. Các giá trị được cá nhân lựa chọn không chỉ dừng ở nhận thức mà chủ yếu là được xem xét ở khía cạnh hành vi, lối sống của họ. Chính lối sống của cá nhân quyết định chất lượng của sự lựa chọn giá trị. Đồng thời với sự lựa chọn là phải phát triển các giá trị làm cho nó sinh động và phong phú hơn. Ví dụ, ở thời kỳ đổi mới, giá trị "yêu nước" cần phải hiểu rộng ra và sâu thêm. Trong kháng chiến chống Mỹ, thanh niên, sinh viên đi đầu trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc một cách tự nguyện: "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai" (Tố Hữu). Song ở thời bình, "yêu nước" là thế nào? Chúng ta đánh giá thế nào trước một thực tế là: 15 năm qua, ở thời kỳ đổi mới, các trường đại học Việt Nam gửi sinh viên giỏi đi du học ở nước ngoài, cho đến nay số sinh viên đó trở về nước rất ít ỏi. Hoặc số ít trở về lại không làm đúng nghề mình được đào tạo. Hiện nay trong đề án đào 55
  21. tạo Thạc sĩ và Tiến sĩ ở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước đã đòi hỏi người học phải có cam kết, có bồi hoàn kinh phí nếu không trở về nước, hoặc không trở lại cơ quan cũ theo sự phân công của Nhà nước. Điều này khác với sinh viên ở một số nước quanh ta như Trung Quốc và Nhật Bản: khi họ du học ở nước ngoài, họ luôn hướng về Tổ quốc. Hiếm thấy có một nền văn hoá nào có thể thay đổi cốt cách, phẩm chất của người Hoa kiều, người Nhật Bản. Cho dù ở các phương trời khác nhau, ta đều bắt gặp họ với cốt cách ấy, từ ăn mặc, cách ứng xử đến kinh doanh và đặc biệt là tấm lòng hướng về Tổ quốc của họ rất đáng phục. Từ đó, nếu so sánh người Việt Nam ta du học ở nước ngoài, sẽ thấy có sự rất khác nhau. Không nói đâu xa, khi các em học sinh ở vùng sâu, vùng xa về các trường phổ thông dân tộc nội trú để học tập, dần dần xuất hiện tâm lý ngại về quê mình khi ra trường (thể hiện ở việc lựa chọn nghề). Hoặc số sinh viên -là người dân tộc thiểu số khi học ở các trường đại học và trung học chuyên nghiệp hiện nay, theo đánh giá của các cán bộ quản lí là "đang có nguy cơ xa rời cội nguồn, xa rời bản sắc". Họ học xong, cố xin bằng được chỗ làm ở thành phố, thị xã mặc dù có bằng cử nhân nhưng làm văn thư đánh máy cũng chấp nhận. Hiện trạng thiếu giáo viên, thiếu bác sĩ hiện nay ở nhiều vùng khó khăn phần lón là do nhiều người không chấp nhận sự phân công công tác. Theo một tài liệu về giáo dục Trung Quốc thì sinh viên ra trường cũng tự tìm việc làm, nếu không tìm được thì chấp nhận sự phân công cua Nhà nước, và đặc biệt là đến nay chưa có sinh viên nào lại chống lại sự phân công đó. Các hiện tượng nêu ở trên phải chăng đang báo hiệu một sự "chệch choạc" trong giá trị "yêu nước" của thế hệ thanh niên, sinh viên hiện nay. Lối tính toán, suy nghĩ thực dụng của thanh niên sinh viên là một thực tế phải quan tâm. Tuy nhiên, lịch sử đã chứng minh rằng, nếu chỉ tính toán cho riêng mình mà không có sự hi sinh cho dân tộc, cho đất nước thì làm gì có độc lập tự do, làm gì có chủ nghĩa xã hội. Theo tâm lý học hoạt động, hệ thống giá trị có được thanh niên, sinh viên chấp nhận hay không sẽ biểu hiện một cách rõ nét và chắc chắn qua lối sống có văn hoá của chính họ. Do vậy, giáo dục nhà trường cần phải giúp họ định hướng qua các dạng hoạt động sau: - Tổ chức một lối sống lành mạnh; - Phát triển các phong tục, tập quán tốt đẹp của cộng đồng; - Thúc đẩy các hình thức biểu hiện đa dạng về văn hoá, - Tăng cường các hoạt động nghệ thuật, âm nhạc, hội họa; - Khôi phục các giá trị đang có nguy cơ mất đi. Trong nhiệm vụ giáo dục sinh viên, đặc biệt là giáo dục giá trị, giáo dục lối sống phải làm cho sinh viên hiểu và làm theo phương châm sống: "mình vì mọi người, mọi người vì mình". b. Nâng cao nhận thức của sinh viên về các giá trị văn hoá trong nếp sống, phát triển nhân cách văn hoá cho sinh viên Nghiên cứu thực trạng về vấn đề này chúng ta dễ dàng nhận thấy: nhận thức của sinh viên còn chưa sâu, chưa hiểu bản chất của các giá trị văn hoá trong nếp sống. Giữa nhận thức và hành động còn có nhiều mâu thuẫn. Do đó mức độ hiểu về vấn đề trên chưa sâu sắc nên chưa trở thành niềm tin vừng chắc trong lý tưởng cửa họ. Có thể nói mục tiêu giáo dục toàn diện 56
  22. con người mà hệ thống giáo dục đang phấn đấu chưa đạt được kết quả như mong muốn. Xã hội đang đòi hỏi nhà trường phải là nơi đảm bảo các chuẩn mực cho xã hội; nhân cách sinh viên - lực lượng trí thức trong tương lai phải có những phẩm chất trí tuệ và đạo đức vượt lên trên thời đại. Từ những yêu cầu trên, chúng ta thấy nhiệm vụ giáo dục lối Sống Có Văn hoá cho sinh viên phải được coi là cấp bách hiện nay với các yêu cầu rất cao về các chuẩn mực mà xã hội đang đòi hỏi. Đặc biệt là đối với sinh viên sư phạm, chức năng giáo dục trong tương lai đã đòi hỏi họ phải đạt được tính chất mẫu mực trong lối sống, bởi sự ảnh hưởng của họ đối với thế hệ trẻ là tác động giáo dục, mọi hành vi, lời nói của họ là tấm gương cho thế hệ trẻ. 4. Những biện pháp nhằm tăng cường nhận thức của sinh viên về các giá trị văn hoá Biện pháp 1: Mời các nhà văn hoá, các chuyên gia giáo dục báo cáo theo chủ đề tập trung vào lối sống văn hoá, bản sắc văn hoá với các biểu hiện đa dạng của nó ở mọi lĩnh vực. Thông qua hoạt động này giúp sinh viên hiểu về các chủ đề, các phạm trù, khái niệm, các biểu hiện về văn hoá, bản sắc văn hoá, đồng thời khơi dậy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình. Hoạt động này phải đảm bảo các yêu cầu sau: nội dung ngắn, súc tích, chủ đề phải hấp dẫn, sinh động, phù hợp với đặc điểm vùng miền, với lứa tuổi sinh viên, gắn với các chủ đề mà sinh viên đang quan tâm hiện nay. Biện pháp 2: Khuyến khích sinh viên tổ chức các diễn đàn thảo luận theo chủ đề, văn hoá, nếp sống có văn hoá của sinh viên sư phạm. Thông qua hoạt động này, sinh viên được tự do tranh luận, tự đưa ra các tiêu chí sống đẹp của sinh viên sư phạm. Trên cơ sở đó hình thành các hiểu tượng về lối sống có Văn hoá, ý nghĩa của việc rèn luyện lối sống có văn hoá của sinh viên sư phạm. Sự rèn luyện này đảm bảo cho quá trình tiếp nhận những tri thức về văn hoá cũng như việc chấp nhận các chuẩn mực đối với sính viên là hoàn toàn tự giác, không có sự áp đặt giáo điều. Đồng thời, xây dựng tiêu chí để đánh giá về: chuẩn mực lối sống, nếp sống có văn hoá của sinh viên sư phạm. Biện pháp này phải đảm bảo các yêu cầu sau đây: các chủ đề được thảo luận trước khi thực hiện, có thể tham khảo trên số đông sinh viên; lựa chọn các chủ đề đang tranh luận trên các phương tiện thông tin: truyền hình, báo chí để đưa vào diễn đàn; nhân các ngày lễ để tổ chức các chuyên đề cho phù hợp; căn cứ vào nội dung môn học để thiết kế các diễn đàn để gắn nội dung học với chủ đề ngoại khoá. Biện pháp 3: Tổ chức các hình thức thi theo các khối lớp về nếp sống văn hoá qua hình thức: học tập, sinh hoạt ký túc xá văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao. Thông qua hoạt động này, sinh viên được củng cố về các giá trị văn hoá trong học tập, trong sinh hoạt và các hoạt động khác. Phát huy và tôn trọng các đề xuất của họ về các hình thức tổ chức hoạt động, cách tổ chức thi phù hợp với lứa tuổi, nghề nghiệp. Nội dung các vấn đề đưa ra để thi phải thực sự đem lại hiểu biết cho sinh viên, thông quá đó họ còn được luyện tập kỹ năng giáo dục, kỹ năng nghề nghiệp. Các yêu cầu khi tổ chức thực hiện: đảm bảo tính khả thi trong các hoạt động; đảm bảo xuất phát từ nhu cầu chính đáng của sinh viên. (Chẳng hạn qua thăm dò, có nhiều ý kiến sinh viên đề nghị nên hạn chế các loại hình biểu diễn văn nghệ do thuê mướn vì tốn thời gian và kinh phí, vì chỉ ít người được tham gia). Như vậy, sinh viên đã có nhu cầu tự thể hiện mình. Tất cả các loại hình tổ chức cho sinh viên hoạt động phải phân biệt rõ: loại hình hoạt động 57
  23. hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động nào trong công tác đào tạo, giáo dục sinh viên; hoặc loại hình hoạt động chỉ nhằm mục đích để thưởng thức, giải trí phục vụ cho đời sống tinh thần cho sinh viên. Tóm lại, thực hiện các biện pháp giáo dục nhân cách văn hoá cho sinh viên thông qua các hoạt động cần đảm bảo các yêu cầu có tính nguyên tắc sau đây: + Đảm bảo tính mục tiêu trong quá trình đào tạo; + Đảm bảo phát triển nhân cách công dân hiện đại và con người đậm đà bản sắc dân tộc; + Đảm bảo phát triển toàn diện con người, từ nhận thức đến hành vi, đến các mặt hoạt động của nhân cách; + Đảm bảo tính đặc thù nghề nghiệp trong giáo dục nhân cách văn hoá sinh viên. Thực hiện những yêu cầu có tính nguyên tắc trên đây sẽ đảm bảo cho các hoạt động diễn ra theo đúng hướng và đạt được mục tiêu đề ra. Trong quá trình giáo dục nhằm tăng cường nhận thức của sinh viên về các giá trị văn hoá, điều quan trọng là hình thành cho sinh viên ý thức sẵn sàng tiếp thu, lựa chọn tinh hoa từ nền văn hoá khác của dân tộc khác để làm phong phú thêm bản sắc văn hoá của dân tộc mình. * * * Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã có những bước thay đổi lớn về phát triển văn hoá. Sau hàng nghìn năm Bắc thuộc, người Việt đã chuyển hoá thành công các nội dung văn hoá Trung Hoa (với ý đồ là áp đặt, đô hộ về văn hoá) thành của riêng mình. Đây là một quá trình lâu dài, thể hiện rõ bản lĩnh Việt Nam, khí phách Việt Nam, trí tuệ Việt Nam. Thời kỳ Pháp thuộc, chúng ta cũng đã nhanh chóng tiếp thu nền văn minh châu Âu với các giá trị cơ bản: "Tự do - bình đẳng - bác ái" mà chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công tìm tòi, phát hiện, phát triển, chuyển hoá vào Việt Nam. Nền văn minh mới đã được các nhà cách mạng duy tân báo hiệu, khởi xướng, các nhà cách mạng Việt Nam định hướng tiếp thu, dẫn đường cho cả dân tộc đi theo. Cái khó nhất ở thời kỳ này là: Tiếp thu văn minh châu Âu đồng thời chống lại ách thực dân, bảo vệ độc lập; phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp dân tộc, đồng thời loại bỏ các thủ tục lạc hậu, mê tín, trì trệ, cản trở cách mạng. Điểm mấu chốt từ hai cuộc cách mạng lớn trong lịch sử là sự tiếp thu, chuyển hoá, lựa chọn các giá trị từ các nền văn minh Trung Hoa, Pháp đều thông qua đội ngũ trí thức yêu nước, trí thức cách mạng. Ở thời kỳ phong kiến, đó là các nhà tư tưởng, nhà văn hoá lớn của dân tộc như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Trần Tế Xương, Nguyễn Công Trứ Trong thời kỳ chống thực dân - phong kiến; họ chính là các chiến sĩ cách mạng, các trí thức yêu nước, các chiến sĩ cộng sản, đứng đầu là Hồ Chí Minh. Cuộc đời của Người là sự hiện thân của cách mạng, của người chiến sĩ cộng sản, danh nhân văn hoá thế giới. Trong công tác giáo dục thế hệ trẻ, đặc biệt là giáo dục sinh viên trong các trường sư phạm nói chung và sinh viên là người dân tộc thiểu số nói riêng, việc xây dựng và thực hiện các biện pháp giáo dục làm tăng nhận thức và hành động để góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc cần phải hiểu một cách biện chứng và cách mạng. 58
  24. Biện chứng ở chỗ bản sắc không phải là cái độc nhất vô nhị, mà là cái có giá trị cộng đồng cao, được mọi dân tộc tiến bộ chấp nhận bởi giá trị nhân văn, nhân bản, nhân ái. Do đó, giữ gìn bản sắc văn hoá chính là tiếp thu cái tiến bộ, làm phong phú thêm, phát triển các giá trị mới. Đồng thời với việc tự sửa mình, đánh giá lại mình thường xuyên, không nên quan niệm những yếu tố văn hoá của dân tộc mình là mẫu mực, là chuẩn mực nhất để các dân tộc khác phải noi theo. Cách mạng ở chỗ về nhận thức cũng như hành động phải là một quá trình thống nhất, tuân theo các quy luật khách quan. Phải sẵn sàng gạt bỏ cái dở, các lạc hậu của mình, của dân tộc mình để tiếp thu cái mới, cái tốt, cái văn minh. Không tự sửa mình thì khó có thể làm được việc gì tốt đẹp cho người khác. Trong quá trình phát triển đã hàm chứa yếu tố cách mạng, và sinh viên phải là lực lượng đi đầu trong lĩnh vực này. Trong quá trình đào tạo ở các trường, để nâng cao trình độ nhận thức cho sinh viên về bản sắc văn hoá dân tộc, trong công tác giáo dục tư tưởng, trong việc thực hiện các nhiệm vụ giáo dục, phải hướng cho sinh viên suy nghĩ một cách khoa học về vấn đề cơ bản sau đây: Quá trình giao lưu văn hoá giữa người Việt với các dân tộc thiểu số khác diễn ra như thế nào? Sự ảnh hưởng, tác động qua lại đã diễn ra theo quy luật nào? Quy luật của quá trình giao lưu văn hoá Việt Nam với khu vực và thế giới trong lịch sử và hiện nay? Giải quyết tốt các quan hệ trên đây trước hết là phải tránh xu hướng áp đặt văn hoá dựa trên số đông mà ta gọi là xu hướng: "Kinh hoá" trong mối quan hệ văn hoá cộng đồng các dân tộc Việt Nam và xu hướng "hoà tan" trong quan hệ văn hoá Việt Nam với thế giới. Hiện tượng thứ nhất xảy ra trong nội bộ cộng đồng các dân tộc Việt Nam, ảnh hướng đó cũng có xu hưởng tích cực, tuy nhiên cũng cần cảnh báo về nguy cơ mất gốc, xa rời bản sắc văn hoá của từng dân tộc, từ biểu hiện về ngôn ngữ, trang phục đến lối sống Hiện tượng thứ hai xảy ra trong xu hướng đổi mới, hoà nhập toàn cầu hoá đang diễn ra. Một số nhà cách mạng đã dự báo sẽ có một cuộc chiến tranh văn hoá như là một nguy cơ đối với tất cả các nước và cách phòng chống tốt nhất là tự kháng thể trước xu hướng toàn cầu hoá hơn là sự co cụm, đóng cửa. Mở mang, giao lưu để giữ được bản sắc trong xu hướng chọn lọc, tiếp thu cái hay của mọi nền văn minh. Đây là bài toán khó, song bất cứ quốc gia nào cũng phải đối mặt với thời cơ và thách thức này. Quá trình tiếp thu và lựa chọn tinh hoa từ các nền văn hoá khác phải căn cứ vào nguyên tắc sau: - Nguyên tắc đảm bảo định hướng của Đảng trong phát triển văn hoá; - Nguyên tắc đảm bảo sự phát triển các giá trị văn hoá dân tộc; - Nguyên tắc đảm bảo nổi bật tiêu chí nhân văn; - Nguyên tắc đảm bảo hình thức phải phong phú hơn; - Nguyên tắc được mọi người thừa nhận; - Nguyên tắc tôn trọng các giá trị lịch sử. Các vấn đề có tính nguyên tắc trên đây phải được thể hiện trong việc xây dựng các nội 59
  25. dung hoạt động, hình thức tổ chức hoạt động, trong việc lựa chọn các giá trị cần bảo tồn và phát triển. Phạm vi thực hiện phải được thống nhất trên tất cả các lĩnh vực, các loại hình hoạt động, thấm nhuần vào các mục tiêu hoạt động của các đoàn thể, các lực lượng xã hội, từ gia đình, nhà trường, xã hội trong đó giáo dục nhà trường là nòng cốt, chủ đạo. 5. Một số biện pháp tổ chức giáo dục trong các trường Để có thể đạt được mục tiêu giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên các trường sư phạm, phải thực hiện đồng bộ các biện pháp sau đây: a. Xây dựng nội dung chương trình, giáo trình đưa vào dạy học chính khoá và ngoại khoá có chứa đựng nội dung giáo dục bản sắc văn hoá các dân tộc Đây là con đường, biện pháp cơ bản vì nó giải quyết vấn đề mấu chốt, bức xúc hiện nay là giáo dục nhà trường phải có nhiệm vụ chính trong việc ngăn chặn xu hướng suy thoái về lối sống, đạo đức, sự mờ nhạt của bản sắc văn hoá dân tộc trong nhận thức và hành vi của thế hệ trẻ. Đồng thời để giáo dục sinh viên, phải tăng cường giáo dục nhận thức đúng đắn, tạo lập hành vi tốt đẹp, hình thành lối sống có văn hoá cho sinh viên, trong đó cần coi giáo dục nhà trường là biện pháp chủ đạo. Biện pháp giáo dục thông qua các môn học được xem là con đường cơ bản nhất bên cạnh các con đường khác. Hiện nay, trong các trường đại học, môn học được coi là cơ bản là môn "Cơ sở văn hoá Việt Nam" đã được đưa vào trong chương trình giảng dạy. Do vậy, việc xây dựng chương trình tích hợp, lồng ghép để giúp cho sinh viên học tốt hơn, làm phong phú thêm nội dung kiến thức từ môn học trên là một việc làm có ý nghĩa lớn. Nguyên tắc là không gia tăng nội dung, chủ yếu là khai thác các nội dung có trong tài liệu, trong nội dung các môn học đang giảng dạy ở các trường, các nội dung này có thể khai thác để giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên. Chương trình tích hợp, lồng ghép được xây dựng với các hình thức lồng ghép tích hợp qua các môn khoa học xã hội và nhân văn như: Ngữ văn, Lịch sử, Giáo dục, Ngôn ngữ đồng thời xây dựng các chủ đề ngoại khoá thực hiện trong chương trình giáo dục sinh viên. Để thực hiện được các việc trên đây, cần giải quyết các vấn đề sau: tăng cường nhận thức của lãnh đạo về tầm quan trọng của công việc; tập huấn giáo viên có kỹ năng xây dựng và thực hiện chương trình; biên soạn tài liệu tham khảo; kiểm tra, đánh giá có hiệu quả. b. Hình thành và phát triển kỹ năng tìm hiểu, phát hiện các giá trị văn hoá truyền thống, những đặc trưng văn hoá, bản sắc văn hoá dân tộc qua các hoạt động cụ thể Trong công tác giáo dục sinh viên, việc hình thành các kỹ năng hoạt động là một mục tiêu cơ bản cần đạt được. Kỹ năng chỉ được hình thành thông qua các hoạt động, qua luyện tập, nhờ đó hình thành năng lực nhận thức và hành động cho nhân cách. Trong các trường đại học và cao đẳng có thể tổ chức các hoạt động cụ thể như sau: - Thống kê sưu tầm về văn hoá, bản sắc văn hoá các dân tộc qua các đợt điền dã dân gian, các cuộc tìm hiểu lịch sử văn hoá ở các khoa xã hội; - Sưu tầm qua sách báo, thông tin hàng ngày; - Tìm hiểu các nội dung trên qua các cuộc thi sáng tác: thơ, văn, kịch, nhạc, vẽ biểu 60
  26. tượng - Khảo sát, thống kê tư liệu về các nội dung bản sắc văn hoá các dân tộc từ nội dung các môn học: Ngữ văn, Lịch sử, Giáo dục, Văn hoá. Ví dụ: có thể đưa ra một chuyện thơ: "Tiễn dặn người yêu", yêu cầu sinh viên thống kê các biểu hiện sau trong tác phẩm theo các nội dung: Sinh hoạt gia đình biểu hiện ở: văn hoá ăn; văn hoá ở; trang phục. Văn hoá âm nhạc biểu hiện ở: các nhạc cụ, các bài hát, lời hát. Phong tục tập quán: tục nhuộm răng, tục trong hôn lễ. Vấn đề tín ngưỡng: quan niệm về mệnh, quan niệm về vía; quan niệm về bói toán1. Từ những thao tác trên, sinh viên có được kỹ năng tìm hiểu về bản sắc văn hoá dân tộc mình hoặc dân tộc khác, có được ý thức tìm tòi phát hiện, sưu tầm, hệ thống hoá những tri thức về văn hoá, bản sắc văn hoá ngay ở trong nội dung các môn học, trên cơ sở đó, có thái độ đúng với các giá trị đó. Việc làm tuy nhỏ song có ý nghĩa lớn, ít nhất là một trong những việc có thể thực hiện được ngay mà không phải tính đến sự đầu tư về kinh phí và tốn nhiều công sức. Trên thực tế, nhiều giáo viên trong các trường đại học và cao đẳng và các giáo viên bậc trung học (ở các môn giảng dạy thuộc lĩnh vực khoa học xã hội) đã thực hiện những thao tác trên trong quá trình giảng dạy. Theo cách tiếp cận này, có thế xây dựng quy trình thực hành như sau cho sinh viên: 1- Chọn tư liệu; 2- Thống kê các dạng biểu hiện; 3- Phân loại theo tiêu chí: đặc trưng tiêu biểu cho văn hoá dân tộc nào, tiểu biểu cho các vùng miền nào; 4- Những nhận xét rút ra; 5- Thảo luận nhóm, 6- Nêu các ưu điểm, hạn chế về phong cách biểu hiện của các loại hình văn hoá vừa thống kê. Từ quy trình trên, có thể khai thác các chủ đề gợi ý theo các môn học như sau: Môn Ngữ văn: các học phần sau đây có thế khai thác nội dung giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc: - Các tác phẩm văn học dân gian như: + Truyện cổ tích chủ yếu khai thác các nội dung về quan hệ ứng xử, giá trị nhân đạo, phong cách ứng xử văn hoá, quan niệm về thiện - ác, nhân - quả, nhũng bài học về đạo lý làm người. Chẳng hạn như truyện Trầu Cau, Cây khế + Các bài ca dao, tục ngữ chủ yếu khai thác hình ảnh, hình tượng về nông thôn Việt Nam, cảnh sinh hoạt, lao động sản xuất hay sinh hoạt gia đình, quan hệ ứng xử, quan hệ tình bạn tình yêu. phong tục nếp sống của cộng đồng người việt, tình cảm yêu quê hương đất 1. Ví dụ được đưa ra theo bài nghiên cứu của sinh viên Cầm Thị Hồng Mến K23. Ngữ văn - ĐHSP II Hà Nội. 61
  27. nước, con người Chỉ qua việc khảo sát vẻ đẹp của ngôn ngữ trong ca dao, tục ngữ đã thấy lấp lánh những viên ngọc phản ánh tâm hồn, tính cách con người Việt Nam với giá trị biểu trưng cao thể hiện ở xu hướng khái quát hoá, ước lệ hoá với những cấu trúc cân đối, hài hoà. - Các tác phẩm thơ. ví dụ như thơ Nguyễn Bính trong bài Chân quê; thơ Hoàng Cầm trong bài Bên kia sông Đuống; thơ Tố Hữu bài Việt Bắc Chẳng hạn, có thể khai thác các hình ảnh, phong tục, tập quán tốt đẹp cũng như tình cảm sâu đậm của người Việt Bắc (người Tày, người Nùng) đối với cách mạng qua các hình ảnh: "áo chàm chia buổi phân li; Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay" (Bài thơ Việt Bắc); hoặc sự luyến tiếc vẻ đẹp thôn quê của Nguyễn Bính: "Còn đâu cái áo lụa sồi, cái khăn mỏ quạ cái quần nái đen". (Bài thơ Chân quê); hoặc khai thác các nét đặc trưng văn hoá vùng Kinh Bắc qua bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm. - Các tác phẩm truyện ngắn: truyện ngắn Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân; truyện Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc; truyện Rừng Xà Nu của Nguyễn Trung Thành; truyện Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài. Trong các tác phẩm đó có thể khai thác các hình tượng nhân vật tiêu biểu cho văn hoá các dân tộc miền núi. Ví dụ hình tượng người Mèo đi theo cách mạng qua tác phẩm Vợ chồng A Phủ. Qua tác phẩm này, cũng như có thể thống kê hàng loạt các hình ảnh tiêu biểu cho lối sống phong tục tập quán của người Mèo, cũng như các nét văn hoá đặc sắc trong cộng đồng người dân tộc thiểu số. Hình ảnh ông Già Mết (trong Rừng Xà nu), hình ảnh anh hùng Núp (trong Đất nước đứng lên) là biểu tượng cho núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược. Đồng thời qua tác phẩm cũng hiện lên hình ảnh những con người Tây Nguyên với các nét phẩm chất đẹp đẽ như: lòng quả cảm đáng kính trọng cùng với những phong tục tập quán, những giá trị văn hoá lâu đời đã được gìn giữ, đã được phát triển và đã góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại cho dân tộc. Có thể nói, không có công trình khảo cứu nào toàn diện hơn và sinh động hơn về bản lĩnh người Tây Nguyên, bản sắc văn hoá các dân tộc Tây Nguyên trong kháng chiến chống Pháp bằng việc đọc các tác phẩm: Đất nước đứng lên và Rừng Xà nu. Đây là các tác phẩm văn học sống động nhất miêu tả cuộc sống và công cuộc đấu tranh cách mạng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. - Ở mảng Văn học các dân tộc thiểu số, qua các sáng tác của các nhà văn, nhà thơ là người dân tộc thiểu số như: Vi Hồng, Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn hoặc các nhà văn nhà thơ viết về miền núi như: Ma Văn Kháng, Nguyễn Tuân, Tố Hữu có thể khai thác những giá trị văn hoá đặc sắc, tiêu biểu của từng dân tộc. Mục tiêu của việc khảo sát, phân loại, thống kê và tổng hợp trên các văn bản nghệ thuật như đã nêu ở trên chủ yếu là luyện tập cho sinh viên có được kỹ năng phát hiện, xử lý và hệ thống hoá tri thức về văn hoá dân tộc, bản sắc văn hoá của từng dân tộc thông qua các hình tượng nghệ thuật. Trên thực tế ở các giờ giảng văn, giáo viên đã ít nhiều đề cập đến những nội dung về bản sắc văn hoá, song đi vào thực hiện theo cách tiếp cận khai thác để đạt mục tiêu như đã nêu ở trên thì hầu như chưa chú ý nhiều. Do đó, việc xây dựng và hình thành cho sinh viên có được một quy trình thực hiện ngay khi đang học trong các trường sư phạm là việc làm cần thiết và có ý nghĩa lâu dài. Chỉ khi các giáo sinh biết đánh giá đúng đắn các giá trị văn hoá các dân tộc, biết nâng niu và giữ gìn thì họ mới có thể giáo dục, hướng dẫn thế hệ đi sau tiếp nối, phát triển. 62
  28. Phương thức khai thác những nội dung về bản sắc văn hoá các dân tộc thông qua các tác phẩm nghệ thuật (trong nội dung các môn học) để giáo dục cho sinh viên đòi hỏi phải có cách làm phù hợp với đặc trưng các loại hình nghệ thuật. Ví dụ, ở các bài ca dao, tục ngữ chủ yếu là khai thác giá trị ngôn ngữ cô đọng, khúc chiết, hình ảnh tiêu biểu, xu hướng ước lệ, tính biểu trưng cao, nội dung phản ánh được coi như những nguyên tắc sống để giáo huấn con người, như: "công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra" hoặc: "đi một ngày đàng học một sàng khôn". Hoặc khi khai thác các tác phẩm tự sự (truyện ngắn) chủ yếu khai thác tính cách nhân vật biểu hiện ở: dáng vẻ, ngôn ngữ, tâm trạng, quan hệ ứng xử, hành vi giao tiếp xã hội để làm rõ các nội dung có chứa đựng những nét tiêu biểu về bản sắc văn hoá dân tộc. Đồng thời có sự so sánh tương quan để làm rõ nét đặc trưng nhân vật tiêu biểu cho hình tượng nhân vật nào và đại diện cho dân tộc nào trong sáng tác của nhà văn. Với cách tiếp cận vấn đề như trên, có thể áp dụng vào các môn học có ưu thế để giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên các trường sư phạm, có thể kể đến các môn học sau: Môn Lịch sử: Thông qua nghiên cứu Lịch sử việt Nam, Lịch sử cách mạng Việt Nam để thấy rõ được quá trình đấu tranh cách mạng, lịch sử đấu tranh giành độc lập của đồng bào các dân tộc thiểu số. Các sự kiện lịch sử với những con người cụ thể, ở mỗi thời điểm nhất định sẽ đại diện cho tầng lớp các dân tộc, họ hiện lên một cách sinh động, từ thời Bà Trưng, Bà Triệu đến thời kỳ lịch sử hiện đại. Lịch sử thế giới cũng đem lại cho sinh viên những tri thức về văn hoá, lịch sử các nước từ xa xưa đến hiện tại. Môn Giáo dục học: Đây là môn đặc trưng trong các trường sư phạm. Nội dung môn học này đề cập đến hệ thống tri thức về khoa học giáo dục con người, về quá trình hình thành và phát triển nhân cách, về lịch sử giáo dục. Về quá trình giáo dục. Thông qua quá trình giảng dạy, cần lựa chọn các phương pháp giáo dục tiêu biểu của người Việt và các dân tộc thiểu số về giáo dục gia đình, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật; tập trung nghiên cứu quá trình giáo dục con người của cha ông ta, quá trình giáo dục thế hệ trẻ, nuôi dưỡng và phát triển các thế hệ kế tiếp của cộng đồng các dân tộc thiểu số để trả lời cho câu hỏi: điều gì đã giúp các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam trải qua nghìn năm bị đô hộ, qua các cuộc chiến tranh, trong điều kiện "sáng chắn bão dông, chiều ngăn nắng lửa", vẫn giữ được nét riêng, giữ được cốt cách, khí phách của dân tộc mình, như nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã viết: "Nước Việt Nam từ máu lửa, Rũ bùn đứng dậy sáng loà". Môn Tâm lý học: Vận dụng tri thức tâm lý học để nghiên cứu các nét tiêu biểu về tâm lý các dân tộc thiểu số (tâm lý tộc người) với những đặc điểm về tính cách, khí chất, nhu cầu, tình cảm, lối sống, thói quen, nhận thức có những đặc trưng riêng là một yêu cầu quan trọng khi dạy môn này trong các trường sư phạm ở miền núi, một mặt, để hiểu rõ hơn về tâm lý con người, hiểu rõ hơn về đời sống văn hoá tinh thần các dân tộc Việt Nam, mặt khác đối với giáo sinh sư phạm, đây còn là một nhiệm vụ, yêu cầu sư phạm cần thiết trong công tác dạy học, giáo dục sau này. Trên thực tế, các giáo sinh sư phạm đang học tại các trường đại học và cao đẳng sư phạm ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam còn thiếu nhiều kỹ năng tiếp cận và hiểu biết về văn hoá các dân tộc Chỉ riêng "rào cản" ngôn ngữ giữa giáo viên và học sinh dân tộc đã là một trở ngại lớn cho công tác giáo dục và dạy học ở miền núi. Đây là một sự thiếu hụt lớn cần khắc phục, vì như nhà giáo dục học Makarencô đã nhấn mạnh: muôn giáo dục con 63
  29. người toàn diện trước hết phai hiểu toàn diện về con người. Sự thiếu hụt các kỹ năng của các giáo sinh sư phạm nhu đã nêu ở trên đã đặt ra vấn đề: phải chăng việc học một khối lượng kiến thức đồ sộ về: tâm lý học lứa tuổi, tâm lý học xã hội, tâm lý học giao tiếp, ứng xử, tâm lý học nhân cách trong các trường sư phạm ở miền núi là không có ý nghĩa? Vấn đề cơ bản là từ những kiến thức sách vở, sinh viên phải biết vận dụng để nghiên cứu, tìm hiểu đối tượng giáo dục. Đây là điều kiện quan trọng để tri thức tâm lý học trở nên sống động và có ý nghĩa khi được ứng dụng vào thực tiễn. Môn Giáo dục công dân có nhiệm vụ trang bị kiến thức cho sinh viên hệ thống tri thức về luật pháp, về đạo đức. Hệ thống tri thức này cùng với năng lực sư phạm sẽ giúp cho sinh viên có thể đảm nhận được nhiệm vụ dạy học ở trường phổ thông. Trong các trường sư phạm, chương trình đào tạo giáo viên môn Giáo dục công dân có thế mạnh để lồng ghép, tích hợp các nội dung giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc. Việc thiết kế các tình huống giáo dục làm tăng tính hấp dẫn các chủ đề giáo dục, rèn luyện cho sinh viên các kỹ năng ứng xử trước các tình huống giả định nhưng gần gũi với cuộc sống; đồng thời trang bị cho họ các phương pháp sư phạm để giảng dạy ở phổ thông có hiệu quả. Mục tiêu giáo dục đạo đức và giáo dục pháp luật ở phổ thông là cần tập trung vào việc hình thành năng lực thực hành. Do vậy, từ trong nhà trường sư phạm, cần tạo lập cho sinh viên thói quen có hành vi ứng xử tốt trong các quan hệ xã hội, đặc biệt là giúp sinh viên sau khi ra trường có được năng lực hoạt động sư phạm ở thực tiễn trường phổ thông. Hiện nay hiện tượng phần lớn học sinh, sinh viên có điểm số cao trong các môn học về đạo đức, về pháp luật song lại vi phạm các quy định về pháp luật như: vi phạm quy chế học tập, vi phạm luật giao thông đã nói lên phần nào nhiệm vụ giáo dục công dân trong trường học còn tách rời cuộc sống, giáo dục còn nặng về điểm số. Một trong những ưu điểm dễ thấy của cách tiếp cận vấn đề theo hướng lồng ghép và tích hợp là làm cho giờ học hấp dẫn hơn. Nội dung đã được khai thác một cách hợp lý, ý đồ của nhà giáo dục không lộ liễu và khiên cưỡng. Các nội dung về bản sắc văn hoá dân tộc như tự thấm sâu vào nhận thức, tình cảm và đến với người học một cách tự nhiên. Đặc biệt là người học không chỉ hiểu các khái niệm và định nghĩa, mà điều quan trọng là họ biết cách làm, biết cách ứng xử và được thực hành thông qua môn học. Đây chính là mục tiêu cơ bản cần đạt tới của nhiệm vụ giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên. Đối với sinh viên sư phạm, mục tiêu trên càng quan trọng vì các giáo sinh sau khi ra trường (ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam) sẽ làm việc ở tỉnh miền núi, nơi có nhiều thành phần các dân tộc thiểu số đang sống, các giáo sinh sẽ đảm nhận sứ mạng lớn lao là phát triển văn hoá cho thế hệ trẻ. Chính họ sẽ đảm nhận vai trò là các nhà văn hoá, trí thức địa phương, có trách nhiệm truyền bá tư tưởng tiến bộ của thời đại, phát huy truyền thống văn hoá các dân tộc) thực hiện đường lối văn hoá của Đảng, chính sách văn hoá của Nhà nước. c. Thiết kế mẫu một số môđun về giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên Theo lý luận dạy học, một môđun là một đơn vị độc lập tương đối, thiết kế chi tiết các việc làm nhằm khai thác kiến thức (khái niệm) vốn có của tài liệu giáo khoa để đạt được mục đích đề ra1 . 1 . Bộ GD & ĐT - Thiết kế mẫu một số môđun giáo dục môi trường ở trường phổ thông, H, 2001 (Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) và DANIDA. 64
  30. Tiếp cận vấn đề giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc bằng cách xây dựng các môđun dạy học từ nội dung các môn học đang dạy trong các trường sư phạm là hướng đi đúng đắn để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên các trường sư phạm. Song điều quan trọng hơn là thông qua hoạt động này, sinh viên sư phạm được làm quen với phương thức khai thác các kiến thức theo hướng lồng ghép vào nội dung môn học để giáo dục học sinh. Bởi vì trong quá trình hoạt động ở thực tiễn phổ thông sau này, họ sẽ phải đảm nhận nhiều nội dung giáo dục theo hướng tích hợp, lồng ghép nhà giáo dục giới tính, dân số, môi trường Một môđun giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc gồm 4 yếu tố cơ bản: - Nêu được khái niệm có sẵn trong giáo trình (với tình huống cụ thể có liên quan), - Nêu rõ mục tiêu giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc, khai thác từ khái niệm trên; - Nêu rõ từng việc làm của thầy và trò sao cho có thể kiểm tra được; - Có tính mềm dẻo, thích ứng với nhiều tình huống khác nhau, nhưng đều đạt mục tiêu giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc Loại môđun khai thác phần giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên từ các môn học trong trường đại học gồm: mục đích, nội dung và phương pháp, nguồn tài liệu tham khảo, và các bảng liệt kê nội dung. Ví dụ: Khả năng khai thác các nội dung giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc trong sách ở các môn học có ưu thế. M Môn M Nội dung giáo dục bản Môn ôn Tâm lý - ôn sắc văn hoá dân tộc Ngữ văn Lịch Giáo dục học sử khác 1. Các khái niệm cơ bản mà giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc có thể khai thác 2. Các việc làm hình thành kỹ năng 3. Các việc làm rõ giá trị và các việc làm ra ế Trên cơ sở các nội dung có thể khai thác theo chủ đề, xây dựng các mẫu bài giảng cụ thể, các mẫu này có thể bàn giao cho giáo viên tương lai thực hiện ở phổ thông. Trước hết có thể luyện tập cho sinh viên sư phạm trong quá hình kiến tập hoặc thực hành sư phạm. Đồng thời với việc thiết kế loại hình môđun ở trên là tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Ví dụ: Mẫu xây dựng kế hoạch và chương trình hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên sư phạm. 65
  31. Lớp Lớp Kế hoạch Học kỳ I Học kỳ II Cả năm Học kỳ I Học kỳ II Cả năm Hoạt động ngoài giờ lên lớp Các hoạt động khác Trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên, phải hình thành cho họ 7 kỹ năng thực hành sau đây: kỹ năng nhận biết các vấn đề giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc, kỹ năng xác định các vấn đề, kỹ năng thu thập thông tin; kỹ năng tổ chức thông tin; kỹ năng phân tích thông tin, kỹ năng đề xuất các giải pháp; kỹ năng phát triển kế hoạch hành động; kỹ năng thục hiện kế hoạch hành động. Tóm lại, việc thiết kế các môđun trên đảm bảo hiệu suất cao của quá trình giáo dục, dạy học, đồng thời đảm bảo tính khả thi, đảm bảo các nguyên tắc: không gia tăng nội dung dạy học, giáo dục; đảm bảo khối lượng công việc trong quỹ thời gian quy định; đảm bảo cho người giáo viên dạy các môn học có thê thiết kế được các nội dung và các hình thức giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên. d. Xây dựng môi trường văn hoá, môi trường giáo dục mang đậm tính chất, bản sắc dân tộc vùng miền Môi trường văn hoá được hiểu là tổng thể các ảnh hưởng về điều kiện tự nhiên và xã hội đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người, trong đó môi trường xã hội được coi là quyết định. Môi trường văn hoá, môi trường giáo dục được xem là yếu tố quyết định tới sự hình thành và phát triển nhân cách con người, nó được coi như nước cho cá, là không khí cho muôn loài, nó không thể thiếu được đối với con người, và nhờ nó, con người được "sinh thành", bản chất xã hội của con người chỉ được hình thành trong và bằng môi trường xã hội. Nhân cách được hình thành và phát triển trong một môi trường xã hội, đó là môi trường văn hoá. Do đó, muốn phát triển năng lực phẩm chất nhân cách theo mục tiêu đào tạo, bên cạnh quá trình tổ chức giáo dục, cần quan tâm đến yếu tố điều kiện - môi trường văn hoá. Trong việc xây dựng môi trường văn hoá, trước hết quan tâm đến môi trường nhà trường (một phạm vi tuy hẹp hơn môi trường xã hội, song hết sức quan trọng). Các công việc sau đây khi triển khai thiết kế, xây dựng môi trường văn hoá trường học cần chú ý đặc điểm tính chất văn hoá vùng miền: trong xây dựng, cải tạo cảnh quan môi trường nhà trường; trong cách bài trí nơi ở, nơi học tập cho sinh viên; trong trang phục của sinh viên; trong chương trình văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao; trong các đợt sinh hoạt chính trị - tư tưởng. Trong các hoạt động ở trên, yếu tố con người là quyết định. Vai trò của sinh viên là chủ thể của các hoạt động văn hóa, đồng thời là đối tượng giáo dục. Chính họ là chủ thê xây dựng nên yếu tố môi trường văn hoá đồng thời là đối tượng chịu sự ảnh hưởng ấy. Do vậy, các hành vi hoạt động của sinh viên trong môi trường giáo dục có thể vừa là nguyên nhân vừa là kết quả. Đối với các nhà 66
  32. quản lý, phải tạo ra các điều kiện để có được một môi trường có đủ các điều kiện tối thiểu, đồng thời là tổ chức chỉ đạo các hoạt động làm tăng vai trò chủ thể của sinh viên, không ai có thể làm thay sinh viên trong việc xây dựng môi trường văn hóa - giáo dục. Theo thống kê ở một số trường, tỷ lệ các tiết mục văn hoá văn nghệ trong chương trình hoạt động tại các trường sư phạm (trong phạm vi khảo sát) có liên quan đến văn hoá các dân tộc thiểu số còn rất ít. Môi trường sư phạm - giáo dục nếu chỉ quan sát bề ngoài với cách thiết kế nhà trường, lớp học đã cho thấy mô hình giống nhau ở mọi nơi, chưa có sự cải tiến cho phù hợp với môi trường cảnh quan vùng miền. Trang phục của sinh viên các dân tộc thiểu số nhìn chung là hòa lẫn với các dân tộc khác. Môi trường văn hoá giáo dục hiện nay đang bị "ô nhiễm" với các mức độ khác nhau đang đòi hỏi các nhà quản lý giáo dục cần quan tâm xây dựng, phát triển. Theo các chuyên gia giáo dục, một trường đại học muốn đảm bảo quản lý có chất lượng trước hết phải đảm bảo điều kiện tối thiểu về ký túc xá, thư viện, giảng đường. Hiện nay ở các trường đại học Việt Nam, đảm bảo chỗ ở nội trú trong ký túc xá cho sinh viên đang là một vấn đề khó khăn. Ở các trường sư phạm miền núi phía Bắc, nhờ vào sự quan tâm của Đảng và Nhà nước (chương trình 4) nên bộ mặt các trường đã khang trang hơn. Tuy vậy, với một tỷ lệ nhỏ sinh viên được ở ký túc xá đã xuất hiện hàng loạt các vấn đề như: ma tuý, cờ bạc, mất an toàn làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng công tác giáo dục đạo đức sinh viên. Vấn đề giáo dục sinh viên trong môi trường sư phạm, trong điều kiện khó khăn về ngân sách giáo dục, trong khi quy mô giáo dục đại học ngày càng tăng, đang trở thành một thách thức đối với giáo dục đại học nước ta, trong đó có hệ thống các trường đại học, cao đẳng ở miền núi phía Bắc Việt Nam. e. Thảo luận rộng rãi với nhiều hình thức sinh hoạt văn hoá để nhận thức đúng về các yếu tố tiến bộ cần phát triển, loại bỏ dần các yếu tố bảo thủ lạc hậu Sinh viên là lực lượng tiến bộ, luôn đi đầu trong mặt trận tư tưởng - văn hoá khi họ được định hướng đúng. Sự thừa nhận hay không thừa nhận các giá trị văn hoá cần phải có quá trình nhận thức, trải nghiệm để sàng lọc. Quá trình học tập của sinh viên đã tiếp cận đến phương pháp nhận thức của nhà khoa học, tức là nhận thức có phê phán, có chọn lọc và sự thừa nhận hay không phụ thuộc vào sự kiểm chứng của khoa học, do đó đối với những nội dung nhạy cảm cần để họ tự thảo luận một cách dân chủ và rộng rãi. Đối với sinh viên, cần tổ chức các hình thức hoạt động sau đây: - Thảo luận, trao đổi, sinh hoạt chuyên đề về các chủ đề: + Trang phục dân tộc trong sinh viên; + Vấn đề sử dụng tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt và học tập; + Việc làm sau khi ra trường của sinh viên vùng sâu; + Chất lượng học tập của sinh viên cử tuyển; + Thói quen và nếp sống sinh viên sư phạm miền núi( ). - Thảo luận đánh giá về những hiện tượng đang tồn tại ở một số nơi hiện đang được xã hội quan tâm: + Tục nối dây ở một số dân tộc; 67
  33. + Tục làm ma khô; + Nạn tảo hôn; + Tục cúng bái tràn lan ở một số dân tộc; + Thói quen phá rừng làm rẫy; + Thói quen, tác phong chậm đổi mới trong xã hội công nghiệp, + Thói quen, phong tục lạc hậu khác ( ). Những vấn đề được đưa ra thảo luận không phải chỉ để phê phán, mà quan trọng hơn là thông qua thảo luận, tranh luận rộng rãi, với tinh thần khoa học, các sinh viên được tự mình đánh giá, nhận thức đúng đắn hơn về các vấn đề mà bản thân mình và xã hội đang quan tâm. g. Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hoá qua các tình huống giáo dục Kỹ năng ứng xử sư phạm là một năng lực quan trọng của người giáo viên tương lai. Đối với sinh viên sư phạm, việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên đã được xác định rõ trong chương trình đào tạo chính khoá. Nội dung chương trình rèn luyện nghiệp vụ thường xuyên rất phong phú, trong đó phải kể đến việc rèn luyện kỹ năng dạy học và kỹ năng giáo dục. Đây là quá trình chuẩn bị cực kỳ quan trọng cho các giáo sinh trong quá trình đào tạo, để họ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình trong hoạt động thực tiễn sau này ở phổ thông. Hiện nay, trong các trường sư phạm, nhiệm vụ rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên đã được thực hiện tốt, được đổi mới để nâng cao chất lượng của hoạt động này. Việc xây dựng và thiết lập các tình huống giáo dục và đưa vào dạy học, giáo dục đã làm tăng tính thực tiễn trong giáo dục và giúp cho sinh viên làm quen với các khả năng có thể xảy ra, rèn luyện khả năng ứng phó trước các vấn đề phức tạp của cuộc sống. Do đó, một trong các nhiệm vụ có thể thực hiện tốt là xây dựng, thiết kế và đưa vào các nội dung hoạt động để giáo dục bản sắc văn hoá cho sinh viên bằng hình thức nêu tình huống giáo dục. Nội dung các tình huống rất phong phú và đa dạng, nó có thể xuất hiện do nội dung dạy học đem lại, chẳng hạn trong khi học các môn khoa học xã hội và nhân văn, giáo dục, lịch sử, địa lý nếu giáo viên biết nêu vấn đề khéo léo và hướng người học vào giải quyết các tình huống xuất hiện thì sẽ có tác dụng tốt trong việc giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc. Trong giao tiếp và ứng xử ở nhà trường sư phạm cũng như trong hoạt động xã hội của sinh viên có nhiều tình huống nảy sinh đòi hỏi phải có cách ứng xử thông minh và có ý nghĩa giáo dục cao. Đặc biệt là đối với sinh viên sư phạm, khả năng ứng xử có văn hoá còn phải được coi là năng lực bắt buộc vì chính họ sẽ là chủ thể giáo dục, là người đi giáo dục, do đó phải đảm bảo được tính giáo dục cao trong các tình huống ứng xử. Trong khi đưa ra các tình huống giáo dục với mục tiêu đạt được là giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên, còn phải đảm bảo các yêu cầu chung như: đem lại kiến thức kỹ năng, thái độ đúng đắn cho mọi người. Trong khi giải quyết các tình huống, phải tôn trọng người học và tạo lập các mối quan hệ tốt đẹp với người học. Đối với các trường sư phạm ở miền núi, việc xây dựng các tình huống giáo dục (mục đích giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc để đưa vào giáo dục sinh viên là quan trọng và cần thiết. Đặc biệt là việc xây dựng các tiêu chí của hành vi ứng xử có văn hoá cần được thống nhất cao 68
  34. để làm cơ sở cho đánh giá. Trong các đợt kiến tập sư phạm, thực tập sư phạm, đặc biệt là trong các đợt thực tế chuyên môn như: điền dã dân gian, thực tế về lịch sử, văn học, địa lý phần lớn sinh viên khi tiếp xúc với nhân dân các dân tộc miền núi có các kĩ năng giao tiếp còn hạn chế. Đối với phần lớn sinh viên, sự hiểu biết về các phong tục tập quán, lối sống của đồng bào các dân tộc thiểu số còn ít. Do đó, việc rèn luyện các kỹ năng để các em làm quen với môi trường, con người, xã hội miền núi, đặc biệt là khả năng ứng xử trước các tình huống giao tiếp đòi hỏi họ phải được rèn luyện kỹ lưỡng và phải am hiểu sâu sắc về văn hoá các dân tộc miền núi. h. Tiếp tục phát triển các giá trị giáo dục gia đình trong giáo dục nhân cách sinh viên Giáo dục gia đình là chiếc nôi đầu tiên với những lời ru, điệu hát thổi vào tâm hồn con người các giá trị nhân văn - những giá trị này là nền móng quan trọng cho cuộc đời con người. Nếu thiếu đi cái gốc ấy, tâm hồn tình cảm con người dễ bị cằn cỗi, dẫn đến các hành vi phản văn hoá. Nếu mô hình giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường, giáo dục xã hội phải được gắn kết theo yêu cầu của Luật giáo dục thì giáo dục gia đình phải là nền móng căn bản, là mở đầu cho quá trình giáo dục con người, là môi trường giáo dục suốt đời cho con người. Khó có thể nói một con người được phát triển toàn diện và hài hoà lại bị thiếu hụt giáo dục gia đình. Sinh viên hiện nay chưa phát huy mạnh mẽ các giá trị văn hoá gia đình tốt đẹp, có xu hướng "thoát ly" toàn diện về lối sống khi họ sống trong môi trường tự lập - môi trường mới. Mâu thuẫn giữa các thế hệ thường bắt nguồn từ những khoảng cách trong cách đánh giá các giá trị trong cuộc sống. Một bộ phận thanh niên sinh viên đã có ý thức giữ gìn truyền thống văn hoá gia đình, coi gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên quan trọng, là nơi bản thân tích luỹ được tri thức về văn hoá dân tộc, song không ít người không có ý thức phát triển những giá trị đó, hoặc phủ nhận giá trị thực tiễn của nó, hoặc có xu thế co cụm, khép kín. Trong bối cảnh hiện nay, cần khuyến khích sinh viên gắn bó mật thiết hơn với truyền thống gia đình, phát huy ảnh hưởng từ gia đình đến sinh viên về văn hóa, giáo dục, lối sống. Phần lớn sinh viên cho rằng trong gia đình, mức độ thể hiện bản sắc văn hoá dân tộc thể hiện rõ nét nhất ở quan hệ ứng xử và giao tiếp, nó được in dấu đậm nét vào tính cách con người. Nói cách khác, cần xem xét mối quan hệ giữa sinh viên với gia đình tuý theo mức độ gắn kết ở từng giai đoạn trưởng thành để đánh giá sự trưởng thành của cá nhân họ. Đặc điểm nổi bật trong lối sống sinh viên Việt Nam nói chung và sinh viên miền núi nói riêng là tỷ lệ lớn các em (70 - 80%) phụ thuộc vào gia đình về kinh tế trong quá trình học tập ở các trường đại học và cao đẳng. Chính yếu tố này cũng làm hạn chế tính năng động, khả năng tự lập của sinh viên Việt Nam (so với phần lớn sinh viên các nước vừa đi học vừa kiếm việc làm phục vụ cho học tập). Vì thế, cần giáo dục tính tự lập cho sinh viên, đồng thời tận dụng và phát huy sự ảnh hưởng của giáo dục gia đình với họ, coi đây là một thế mạnh trong công tác giáo dục. Đối với học sinh, sinh viên miền núi, nhiều khi ảnh hưởng của gia đình mạnh đến mức họ có thể làm theo mọi yêu cầu từ phía gia đình (thậm chí sẵn sàng bỏ học để về quê lấy vợ hoặc lấy chồng). Người phương Tây khi đến Việt Nam đã có nhận xét: "Tinh thần gia đình là đặc tính cơ 69