Giấc mơ hóa Rồng - Kinh tế Việt Nam trong 25 năm mở cửa và đổi mới (Phần 1)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giấc mơ hóa Rồng - Kinh tế Việt Nam trong 25 năm mở cửa và đổi mới (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
giac_mo_hoa_rong_kinh_te_viet_nam_trong_25_nam_mo_cua_va_doi.pdf
Nội dung text: Giấc mơ hóa Rồng - Kinh tế Việt Nam trong 25 năm mở cửa và đổi mới (Phần 1)
- Mục lục Lời giới thiệu Những lời khen tăṇ g CHƯƠNG I: CHIẾN LƯỢC THỜI MỞ CỬA Chiến lược thời mở cửa Kinh tế Việt Nam và chữ “mở” kỳ diệu Chuẩn bị để thành rồng Muốn phát triển phải có ý chí phát triển Tiết kiệm cho một tương lai thịnh vượng Khai thông huyệt đạo cho nền kinh tế Cần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế Thu hút ngoại lực, phát huy nội lực Thực hiện giấc mơ dân giàu nước mạnh Tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức Thành phố Hồ Chí Minh: Tăng tốc cho đầu tàu kinh tế Tạo đột phá trên con đường làm giàu Tăng trưởng kinh tế: Lượng và chất Bay lên đi, con Rồng phương Nam Định hướng rồng bay Xây dựng tấm lưới an toàn cho phát triển Vượt qua khủng hoảng Nắm bắt cơ hội từ khủng hoảng
- Từ năm 2012 nhìn về xa hơn Đầu tư trong nước - Nguồn nội lực đang suy yếu Tương lai chúng ta là biển Đông Biến thách thức thành cơ hội lịch sử Hai mươi năm mơ chuyện hóa rồng CHƯƠNG II: XÂY DỰNG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG Cơ chế thị trường và quản lý nhà nước Thành quả từ cơ chế thị trường Cạnh tranh: Động lực phát triển kinh tế Tăng giá do độc quyền - những điều đáng lo Chấm dứt độc quyền để tăng cường năng lực cạnh tranh Vai trò kinh tế của thị trường vốn tại Việt Nam Thị trường chứng khoán Việt Nam: nhìn từ góc độ quản lý vĩ mô Thị trường chứng khoán và vấn đề truyền thông Kiểm soát dòng vốn vào thị trường chứng khoán Ăn trứng hay phát triển đàn gà? Thị trường vốn: Động lực của tăng trưởng Thị trường chứng khoán: Hãy đề phòng nguy cơ bong bóng vỡ Một giải pháp cho hai vấn đề Trợ giá gạo: Một vấn đề chiến lược Chính sách giá cho nông nghiệp Nông dân Việt Nam: Những trở ngại trên con đường làm giàu Phát triển nông thôn: Nỗ lực lâu dài của một dân tộc
- Phát triển nông nghiệp - câu chuyện cũ mà mới Các thành thị cần mở rộng cửa Ly nông tất ly hương Bài học từ bão Chan Chu Nông dân Việt Nam thời hội nhập Công nghiệp Việt Nam: thách thức của thế kỷ XXI Công nghiệp nội địa: cần phải hành động nhanh Giải quyết bài toán nợ của xí nghiệp quốc doanh Tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước Nợ công và hiệu quả đầu tư công Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam - những vấn đề còn trăn trở Khu vực tư doanh: Liệu có thể tự cứu? Doanh nghiệp tư doanh: Những bài học đắt giá CHƯƠNG III: HỘI NHẬP KINH TẾ Chiến lược phát triển hướng về xuất khẩu: Sự chọn lựa dũng cảm và đúng đắn Chuẩn bị tiếp thu ngoại lực Nhìn về thị trường vốn châu Á Trên con đường hội nhập Việt Nam gia nhập ASEAN Tăng cường khả năng tiếp thu ngoại lực Doanh nghiệp Việt Nam cạnh tranh trên biển lớn Thanh toán nội vùng ASEAN: một bài toán khó Chiến thắng trong toàn cầu hóa
- Phát triển ngoại thương và vấn đề kiểm soát lạm phát Doanh nhân Việt Nam trước thềm hội nhập Nông nghiệp Việt Nam trên con đường hội nhập (1) Nông nghiệp Việt Nam trên con đường hội nhập (2) Thị trường tài chính Việt Nam trước ngọn sóng WTO Tham gia cuộc đua kinh tế toàn cầu Kinh tế Việt Nam - một năm sau WTO Cạnh tranh quốc gia trong toàn cầu hóa Việt Nam tham gia TPP: một bước đi chiến lược CHƯƠNG IV: VAI TRÒ CỦA NHỮNG YẾU TỐ PHI KINH TẾ Con người: Lợi thế quyết định Giáo dục và cơ chế thị trường Cần chữa khỏi bệnh thành tích Tự trị Đại học (1) Tự trị Đại học (2) Tri và Hành Trọng dụng nhân tài Văn hóa tiến cử Nghĩ về sự kiện Ngô Bảo Châu Những người đắp đê ngăn lũ Khí phách doanh nhân Chữ tín trong kinh doanh Về một ngày doanh nhân
- Buôn bán với người - nhìn lại mình Đạo đức kinh doanh xây dựng một truyền thống mới Tín dụng và vai trò của doanh nhân Về tinh thần hợp tác làm ăn của người Việt Cải cách nền hành chính quốc gia để phát triển kinh tế Những nguyên tắc định hướng cho việc cải cách nền hành chính quốc gia Mục tiêu cải cách nền hành chính quốc gia Biến bộ máy hành chính thành lực đẩy Hãy nhen lên chất lửa trong bộ máy hành chính Bộ máy hành chính - chân ga của nền kinh tế Xã hội hóa dịch vụ công Chia sẽ ebook : Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : Cộng đồng Google :
- Lời giới thiệu Tôi quen biết anh Huỳnh Bửu Sơn từ lâu. Ít gặp nhau nhưng người Bắc kẻ Nam luôn giữ trong nhau những tình cảm tốt đẹp. Thỉnh thoảng gặp nhau trong những bữa ăn sáng hay ly café thật ấm áp và chân thành. Tôi biết anh đã cống hiến và đóng góp nhiều cho đất nước như một chuyên gia kinh tế. Tôi quý anh như một con người có tâm, thẳng thắn và tư duy tích cực. Tôi theo dõi những việc làm rất cụ thể của anh và quả thật là học được rất nhiều. Đùng một cái, tôi nhận được bản thảo cuốn sách Giấc mơ hóa Rồng - Kinh tế Việt Nam trong 25 năm đổi mới và mở cửa. Tôi đọc một mạch thâu đêm. Giật mình. Tôi gửi ngay bản thảo cho các đồng nghiệp tại Thái Hà Books. Ai cũng phấn khởi và rất mong muốn xuất bản cuốn sách này. Vui thay. Đọc xong cuốn sách, tin vui lớn bất ngờ đến: TPP đã hoàn tất. Như vậy là 3 mốc lớn trong 30 năm liên tục đã làm thay đổi đất nước Việt Nam: gia nhập ASEAN, tham gia WTO và bây giờ là TPP. Khéo thay, cứ đúng 10 năm là một mốc lớn của dân tộc. Quý vị vẫn nghĩ rằng Huỳnh Bửu Sơn là chuyên gia tài chính ngân hàng. Quý vị không sai. Tuy nhiên, trong Giấc mơ hóa Rồng - Kinh tế Việt Nam trong 25 năm mở cửa và đổi mới chúng ta sẽ thấy anh viết nhiều về nông nghiệp. Tôi chợt nhận ra, hình như anh trăn trở về nông nghiệp nhiều nhất. Điều này thật có lý, bởi nền kinh tế Việt Nam rất nông nghiệp và nông nghiệp là thế mạnh của Việt Nam. Tuy nhiên, trong khi đọc bản thảo tôi lại tìm ra mấu chốt vấn đề mà chuyên gia Huỳnh Bửu Sơn muốn gửi gắm đến bạn đọc lại là giáo dục. Giáo dục là căn bản và cần thể hiện trên cả 3 góc độ: kiến thức, đạo đức và văn hóa. Giáo dục nên và cần thay đổi căn bản, toàn diện và chính giáo dục sẽ làm thay đổi nền kinh tế. Sáng nay chúng tôi ngồi với nhau và chủ đề chính được bàn bạc lại vẫn là kinh tế và hội nhập, là TPP với kinh tế, là giáo dục và kinh tế. Tôi muốn cuốn sách được xuất bản sớm nhất và nhất định phải được ra mắt bạn đọc nhân kỷ niệm 30 năm đổi mới. Những thành tựu 30 năm qua đáng được nhìn nhận như những chiến công lớn, như những đổi thay bước ngoặt. Cuốn sách Giấc mơ hóa Rồng chắc chắn làm cho quý vị suy nghĩ về tương lai của dân tộc, và của chính chúng ta trong 30 năm tới. Tôi yêu kính anh Huỳnh Bửu Sơn nhiều về cách nhìn thông thoáng, về tư duy tích cực. Tôi tin vào nhìn nhận của anh cũng như những dự đoán cho tương lai. Tôi biết rằng Việt Nam đang chuyển hóa và Giấc mơ hóa Rồng đang thành hiện thực. Nếu mỗi chúng ta cùng hết mình cố gắng, cống hiến hết trí tuệ và sức lực của mình thì đây không còn là giấc mơ nữa mà là rồng thật.
- Chúng tôi kính mong nhận được đóng góp và phản hồi của quý vị. Chúng tôi mong rằng những bài học của quá khứ sẽ là những bước đệm để chúng ta vững bước vào tương lai. Xin thành tâm biết ơn và chúc mừng tác giả và bạn đọc. Tiến sỹ Nguyễn Mạnh Hùng Chủ tịch Hội đồng Quản trị, kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Sách Thái Hà
- Những lời khen tặng Có thể nói ngay là tôi thấy rất đồng cảm với với tâm tình của anh Huỳnh Bửu Sơn và tâm đắc với những phân tích của anh trong cuốn sách này. Phải là người có tấm lòng yêu mến quê hương sâu sắc, và có sự hiểu biết sâu rộng về kinh tế, xã hội và thế giới mới thao thức về thời cuộc Việt Nam, và khi đất nước hội tụ những điều kiện thuận lợi cả trong và ngoài nước, thì thao thức chuyển sang giấc ngủ mơ thấy đất nước hóa rồng. Đầu thập niên 1990, Huỳnh Bửu Sơn nằm mơ thấy Việt Nam hóa rồng và suốt nhiều năm sau đó chính anh đã góp phần thúc đẩy để giấc mơ trở thành hiện thực qua những bài viết dễ hiểu nhưng sắc sảo, đầy tính thuyết phục, về các vấn đề từ công nghiệp, dịch vụ đến nông nghiệp, nông thôn, từ chính sách mở của đến các cải cách về tiền tệ ngân hàng, về doanh nghiệp, về xây dựng nguồn nhân lực, v.v Tôi rất vui vì những bài viết đó được tập hợp thành cuốn sách này. Qua cuốn sách này ta thấy được bức tranh sống động về những vấn đề của kinh tế Việt Nam trong hơn 20 năm qua, được vẽ ra bởi một chứng nhân có trình độ cao về chuyên môn. Nhiều người trong chúng ta chắc cũng mơ thấy đất nước hóa rồng. Nhưng rất tiếc là cho đến nay giấc mơ đó chưa thành hiện thực. Tác giả cuốn sách này chắc cũng chưa vui vì nhiều ý kiến về chiến lược, chính sách của các chuyên gia tâm huyết, trong đó có anh, đã không được thực hiện. Nhưng Huỳnh Bửu Sơn không bỏ cuộc, anh vẫn còn hy vọng, còn tin tưởng là con cá chép Việt Nam sẽ vượt vũ môn trong một tương lai không xa. Và anh kêu gọi chúng ta đừng nản chí. “Mọi thứ đều có thể bắt đầu lại từ sự bắt đầu. Và sự khởi đầu quan trọng nhất chính là sự khởi động ý chí thành rồng. Con cá chép không bao giờ trở thành rồng nếu nó không muốn hóa rồng”. (Tokyo, Thu 2015) Trần Văn Thọ Giáo sư kinh tế tại trường Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản. Giấc mơ hóa Rồng là chặng đường 10 năm mà tác giả Huỳnh Bửu Sơn - chuyên gia kinh tế - với tư cách người cầm bút đã trải qua và ghi lại, chứa đựng những trải nghiệm sống động và biết bao trăn trở của một trí thức từ ngày đất nước đổi mới. Là một chuyên gia ngân hàng từ năm 1967, ông không chỉ được biết đến là người giữ chìa khóa của kho vàng 16 tấn do chính quyền cũ để lại, mà còn vì sau năm 1975 đến nay, ông đã liên tục hoạt động trong lĩnh vực này với nhiều vị trí khác nhau. Từ những hiểu biết và kinh nghiệm thực tiễn của mình, ông đã tham gia vào đời sống báo chí với hàng trăm bài bình luận và phân tích tình hình kinh tế sâu sắc.
- Các bài viết của ông với ngôn từ duyên dáng nhưng lập luận chặt chẽ, văn phong bay bướm nhưng tính thuyết phục cao, trình bày những vấn đề gai góc bằng tất cả tâm tình, đã lôi cuốn một số lớn độc giả của các báo mà ông từng cộng tác như Tuổi Trẻ, Lao Động, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần Là một thành viên tích cực của Nhóm chuyên viên kinh tế “Thứ Sáu”, ông từng chủ trì nhiều công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn như “Giá-Lương-Tiền” năm 1986, hay “Đổi mới Hệ thống Ngân hàng” năm 1989 làm tiền đề cho sự ra đời sau đó của Pháp lệnh Ngân hàng mà ông góp phần lớn trong quá trình soạn thảo. Cùng với ba chuyên viên khác trong Nhóm “Thứ Sáu”, ông cũng được mời tham gia vào Tổ tư vấn của chính phủ thời Thủ tướng Võ Văn Kiệt, người mà như ông từng bộc bạch: “Tôi bị ông thu hút bởi đức độ, một trái tim bao dung nhân hậu, lòng yêu nước yêu dân sâu đậm và một sự minh triết đáng kinh ngạc”. Cuốn sách này ra đời từ gợi ý của một số thân hữu, là một tập hợp những bài viết đề xuất các giải pháp cho nhiều sự kiện và vấn đề theo dòng thời sự kinh tế - xã hội gần một phần tư thế kỷ qua mà tác giả vừa là người trong cuộc vừa là chứng nhân. Giấc mơ hóa Rồng là tập hợp những trăn trở và mong ước không chỉ của tác giả mà còn là của bất cứ ai trông chờ vào những giải pháp đúng đắn nhằm đưa đất nước ra khỏi vòng xoáy của nghèo nàn lạc hậu, mà trong chừng mực cứ như đang nằm ngoài tầm với của chúng ta. Đó là những thách thức của chiến lược thời mở cửa, những giải pháp “khai thông huyệt đạo” để đi đến một tương lai thịnh vượng, cũng như đâu là những bước ngoặc trên con đường làm giàu, đưa nền kinh tế đất nước vượt vũ môn. Trải qua một thời tuổi trẻ đầy biến động, thân phận gắn liền với một giai đoạn đặc biệt của lịch sử nhưng tác giả luôn giữ sự thanh liêm của người trí thức độc lập trong nhận thức, mạnh dạn nói đúng những điều mình nghĩ, viết đúng những điều còn băn khoăn chỉ nhằm đóng góp hiểu biết khiêm tốn của mình cho sự phát triển của đất nước, cho một xã hội hôm nay tốt hơn hôm qua và ngày mai tốt hơn hôm nay. Với ông, làm được phần nhỏ đìều mình mong muốn cho cái chung đã là rất hạnh phúc rồi. Suy nghĩ đó chúng ta có thể nhìn thấy xuyên suốt qua các bài viết trong tập sách này. Trần Trọng Thức Nhà báo Cuốn sách là tập hợp các bài viết của tác giả trong 25 năm qua, với những trăn trở và ước mơ đối với đất nước Việt Nam. Sau khi lãnh đạo Đảng và Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới tư duy, từng bước thoát khỏi nền kinh kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, nước ta từng bước phục hồi nền kinh tế thị trường, đa thành phần sở hữu và một cơ chế quản lý nhà nước thông thoáng hướng tới một nhà nước pháp quyền. Về đối ngoại, từng bước đi vào xu thế hội nhập toàn cầu với những bước đi thận trọng qua các chính sách mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài, tham gia các tổ chức quốc tế
- và khu vực, từ đó tạo đà phát triển kinh tế xã hội cũng như tạo được vị thế của nước Việt Nam như ngày hôm nay. Tuy nhiên, đối với tác giả, thành quả đạt được trong hai mươi lăm năm qua tuy rất to lớn nhưng nếu so với các nước trong khu vực, Việt Nam vẫn chưa thay đổi được vị thế tương quan, thậm chí còn có phần tụt hậu hơn! Ước mơ hóa rồng như xa dần nhưng tác giả không tuyệt vọng. Điều này nói lên ý chí bền bỉ của một trí thức Việt Nam, một Huỳnh Bửu Sơn như nhiều người biết đến trong hàng ngũ những trí thức tham gia công cuộc đổi mới suốt 25 năm qua. Cuốn sách ghi lại các sự kiện kinh tế chính trị xã hội diễn ra theo thời gian một cách trung thực suốt 25 năm qua và qua mỗi sự kiện đều có góc nhìn riêng cũng như ý kiến đóng góp của tác giả đối với công cuộc đổi mới trong từng thời điểm. Cuốn sách xứng đáng là nguồn tham khảo cho các nhà nghiên cứu, giảng viên, sinh viên. Phan Chánh Dưỡng Chuyên gia kinh tế, giảng viên trường Fulbright
- Chương I CHIẾN LƯỢC THỜI MỞ CỬA TỪ CHIẾN TRƯỜNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG MỘT TƯƠNG LAI HÒA BÌNH VÀ HỢP TÁC Những ngọn gió xuân vào đầu năm 1992 đang thổi qua khu vực Đông Nam Á mang theo niềm hy vọng về một tương lai ổn định và hợp tác, khi mặt trời hòa bình đã ló dạng tại Campuchia và các cuộc mua bán hàng hóa ngang qua biên giới Việt Trung ngày càng trở nên rộn rịp, sầm uất hơn. Đối với Việt Nam, cánh cửa về phương Nam đang mở rộng cho những cơ hội mới cùng với những thử thách mới. Kỷ nguyên hợp tác để phát triển đã bắt đầu, tiếng mặc cả rộn rịp của các phiên chợ giữa các thương nhân trong vùng rồi đây sẽ thay thế tiếng khua gươm giáo loảng xoảng của các chiến sĩ. Nhưng những thử thách mới cũng sẽ không kém phần gay gắt. Chúng ta đang bước vào lĩnh vực chưa từng là sở trường của mình. Ta sẽ phải làm ăn với những quốc gia đã có nhiều kinh nghiệm và thành tích chói sáng về phát triển kinh tế, với những doanh nhân của họ được vũ trang đến tận răng bằng kiến thức, kỹ năng và vốn liếng. Dựa trên những tiêu chuẩn kinh tế như mức thu nhập bình quân đầu người, tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm, trình độ công nghiệp hóa , họ hơn hẳn ta. Điều đáng quan ngại hơn là chính họ cũng chưa vừa lòng với thành tích kinh tế đáng ghen tị của mình. Thí dụ Singapore. Với mức thu nhập bình quân đầu người hiện nay là 10.000 đô la, gấp 50 lần Việt Nam, họ đang xây dựng kế hoạch vĩ đại 25 năm mà mục tiêu là đạt mức thu nhập bình quân ngang bằng với Mỹ vào năm 2015, khoảng 40.000 đô la(*). Tham vọng và quyết tâm phát triển của các nước trong khu vực chính là thử thách lớn nhất đối với ý chí, nghị lực của dân tộc Việt về tương lai cường thịnh của đất nước mình. Rõ ràng là trong cuộc chạy đua trên đường băng phát triển kinh tế, thách thức đối với chúng ta hết sức to lớn trong khi hành trang của chúng ta lại rất khiêm tốn. Đây phải là mối ưu tư hàng đầu của cộng đồng dân tộc Việt, bây giờ và nhiều năm sau nữa. Phải ý thức đầy đủ thách thức khó khăn này, chúng ta mới thấy hết được sự cần thiết phải có những chuẩn bị hoàn hảo - như các nước bạn láng giềng - cho những bước chạy của chúng ta tiến vào thế kỷ XXI. Một sự thất bại, nếu xảy ra, sẽ không dẫn đến điều gì khác ngoài mất tự chủ về kinh tế. Để vượt qua thử thách, chúng ta không được ỷ lại, bám víu vào huyền thoại về sự phong phú của tài nguyên đất nước, về sự dồi dào của nhân lực, về giá lao động rẻ Tài nguyên đất nước hãy còn nằm trong lòng đất, sự giàu có mà chúng ta đáng được hưởng vẫn còn là tiềm năng. Và tiềm năng sẽ mãi mãi chỉ là tiềm năng nếu chúng ta không thể vận dụng trí tuệ để tìm ra phương sách tối ưu khai thác chúng, sử dụng chúng có ích và không hoang phí, biến
- chúng thành sự cường thịnh của đất nước, dân tộc. Thời kỳ phát triển có những vấn đề của nó và chỉ có giải quyết tốt những vấn đề đó mới tạo được cơ may cho phát triển kinh tế. ƯU TIÊN PHÁT TRIỂN KINH TẾ Từ lâu, hầu như chúng ta chỉ quan tâm nhiều đến việc xây dựng cơ cấu kinh tế, các mối quan hệ giữa chúng và phương cách quản lý theo một mô hình đã vạch sẵn mà xem nhẹ việc xác lập mục tiêu kinh tế ưu tiên dựa trên nguyên tắc hiệu quả. Chẳng hạn, chúng ta thường tranh luận nhiều về cách làm thế nào để đảm bảo vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh mà không quan tâm đến vấn đề là sự chủ đạo đó có đóng góp tốt hơn hay không cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế, tăng sản lượng, tăng thu nhập quốc dân và nâng cao mức nhân dụng Chúng ta dễ dàng hài lòng với các kết quả hợp tác hóa nông nghiệp, cải tạo công nghiệp mà quên tính đến những biến động về năng suất, về sản lượng trong quá trình cải tạo và hợp tác đó sẽ ảnh hưởng ra sao đến tốc độ tăng trưởng và tình trạng nhân dụng của nền kinh tế đất nước. Trong bối cảnh cạnh tranh kinh tế mãnh liệt trên thế giới hiện nay, việc xác lập mục tiêu kinh tế thích hợp là công việc hàng đầu và mang tính quyết định đối với sự thành công của chiến lược phát triển quốc gia. Đó là công việc khó khăn phức tạp vì các mục tiêu thường không tương hợp. Việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng thường dẫn đến tình trạng lạm phát, còn việc kìm chế giá cả lại dẫn tới sự giảm sút số lượng công ăn việc làm. Xác lập, chọn lựa ưu tiên các mục tiêu kinh tế, tập hợp, phối hợp các biện pháp đúng để hoàn thành tốt các mục tiêu, đó chính là vai trò vĩ mô đích thực của kế hoạch trong cơ chế thị trường. XÂY DỰNG MỘT XÃ HỘI PHÁP QUYỀN Luật pháp là điều kiện không thể thiếu, là nhạc trưởng điều động dàn nhạc kinh tế trong cơ chế thị trường hòa âm một cách chính xác, đồng bộ, hiệu quả, nhằm thúc đẩy xã hội tiến bộ một cách trật tự về phía trước. Luật pháp làm giảm bớt sự cọ xát vô ích và có hại giữa các hoạt động kinh tế, giữa các đơn vị kinh tế, nhờ đó làm giảm hao phí xã hội. Một nền tảng luật pháp hoàn chỉnh và công bằng còn là cơ sở của niềm tin vào hệ thống xã hội, là động lực khuyến khích mọi người dân tham gia vào hoạt động kinh tế. Sự bình đẳng trước luật pháp là điều kiện thiết yếu để cạnh tranh kinh tế trở nên lành mạnh hơn, và cũng chính trên cơ sở luật pháp, sẽ hình thành sự sáng tạo kinh doanh. Nhưng điều quan trọng không chỉ là xây dựng nên những bộ luật hoàn chỉnh mà còn phải nâng cao ý thức thượng tôn luật pháp. Luật pháp thể hiện sự thống nhất quốc gia, theo đó lợi ích quốc gia phải được đặt lên trên hết, trên mọi quyền lợi địa phương, cục bộ, phe nhóm, cá nhân. Điều đó là vô cùng hệ trọng cho việc thiết lập nền móng bền vững của đất nước, trên đó chúng ta sẽ xây dựng tòa nhà tương lai của sự cường thịnh.
- THỰC HIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ Nỗ lực để phát triển sẽ chỉ là không tưởng nếu chúng ta không huy động được một cách hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, vốn liếng, lao động, công nghệ của đất nước vào mục tiêu phát triển. Hội nhập kinh tế chính là điều kiện để thực hiện sự động viên toàn lực này. Trong một nền kinh tế mở, thông thoáng bên trong, hội nhập với bên ngoài, sẽ không có chỗ đứng cho khái niệm biệt lập, khái niệm địa phương tự cấp tự túc, khái niệm mỗi ngành kinh tế là một mô hình khép kín, hoạt động tổng hợp từ A đến Z. Sự biệt lập khiến hiệu quả của phân công lao động và hiệu ứng liên kết (linkage effects) không còn nữa. Hãy tưởng tượng, một cơ thể sẽ như thế nào nếu mỗi bộ phận của nó đột nhiên có thêm một bộ não riêng, một hệ thống tiêu hóa riêng và tay chân riêng. Không những dị dạng, đó còn là một cơ thể vô năng, không hoạt động được. Trên con đường hội nhập, phải phá vỡ những tắc nghẽn kinh tế. Như chất vữa bám ở thành động mạch, đó là những nút chặn ngăn không cho đồng vốn, hàng hóa, lao động chuyên môn, công nghệ lưu thông từ địa phương này sang địa phương khác, từ nơi thừa sang nơi thiếu, từ khu vực tiết kiệm sang khu vực đầu tư. Với những tắc nghẽn này, chúng ta sẽ không lợi dụng được những hiệu quả liên kết kinh tế, không tạo được những ngoại giảm phí (external economies) cần thiết. Hậu quả là, để đạt được kết quả một, chúng ta phải tiêu tốn đến năm, sáu lần. Sự lãng phí khủng khiếp này, không một nền kinh tế nào có thể chịu đựng nổi. Trong kỷ nguyên hợp tác, việc mở cửa với khu vực và thế giới là không thể tránh và hơn nữa, rất cần thiết. Tuy nhiên, việc hợp tác chỉ có thể bình đẳng giữa những người đồng đẳng. Không nên quên rằng, trong mối quan hệ kinh tế giữa các nước, lý thuyết về sự khống chế kinh tế của Francois Perroux vẫn còn giữ nguyên giá trị. Trong hợp tác cần phải biết bảo vệ nền kinh tế còn non yếu, doanh nghiệp còn non yếu của mình. Sẽ là một điều không thể tha thứ, xét về mặt kinh tế lẫn đạo lý, nếu để cho hàng tiêu dùng ngoại nhập đủ loại mặc sức tràn vào và giết chết sản xuất trong nước. Hợp tác kinh tế sẽ mang đến nhiều điều lợi, nhưng cần cân nhắc lợi trước mắt, lợi lâu dài. Chúng ta cần ngoại tệ, nhưng cũng cần phải biết ngoảnh mặt đối với những khoản vay nóng, lãi suất cao cho những dự án đầu tư lãng phí, không hiệu quả. Chạy theo cái lợi trước mắt mà quên đi cái hại lâu dài sẽ là vô trách nhiệm, chuyển gánh nặng nợ nần cho thế hệ kế tiếp và phá hỏng tương lai của con em chúng ta. TẠO NGUỒN LỰC CHO PHÁT TRIỂN Muốn phát triển kinh tế, tức là muốn làm giàu, phải trông cậy vào sức mình. Nguồn lực để phát triển có sẵn trong đất nước, trong mỗi con người chúng ta. Có chính sách bồi dưỡng đúng mức, sẽ có ngày khai phóng được năng lực vĩ đại này.
- Nông nghiệp là cội rễ của nền kinh tế nước nhà, gốc rễ bền chắc thì tán lá sum suê, cây sẽ đơm bông, kết trái tốt tươi. Cần cải thiện, công nhận và đảm bảo về pháp lý mối quan hệ sở hữu đầy đủ giữa người nông dân và ruộng đồng của họ, xem đó là một động lực kích thích sản xuất nông nghiệp. Thuế nông nghiệp phải có tính chất khuyến khích sản xuất, đi kèm với các chính sách trợ giá nông phẩm, chính sách tín dụng nông nghiệp tất cả nhằm mục tiêu nâng cao thu nhập của nông dân. Nông dân giàu lên, có tích lũy sẽ giúp thị trường nội địa phát triển vững chắc, tạo sự lớn mạnh cho sản xuất công nghiệp trong nước. Đối với công nghiệp, bên cạnh vai trò cho đến nay vẫn được xem là chủ đạo của kinh tế quốc doanh, cần phát triển mạnh mẽ khu vực tư doanh trên cơ sở thừa nhận sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất. Cần chấm dứt những sự phân biệt đối xử đối với khu vực tư doanh về thuế, tín dụng ngân hàng, quan hệ ngoại thương. Tư doanh và quốc doanh là đôi cánh đại bàng cùng góp sức cho nền kinh tế cất cánh vào giai đoạn phát triển tự duy. Tất nhiên, một nền kinh tế muốn cất cánh cần phải có đủ nguồn năng lượng tài chính. Không thể không đề cập đến vai trò có tính chất quyết định của hệ thống ngân hàng. Một hệ thống ngân hàng đúng nghĩa sẽ là nguồn tạo ra và cung cấp vốn liếng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh trong nước mà không phải trông cậy quá nhiều và vô vọng vào nguồn tài trợ từ bên ngoài. Nhưng hệ thống này chỉ có thể hoạt động hữu hiệu, lành mạnh với sự hỗ trợ đắc lực của một ngân hàng trung ương hùng mạnh, với một chính sách tiền tệ tích cực, năng động. Trong điều kiện hiện nay của nước ta, không thực thi một chính sách tiền tệ mở nhằm khai phóng các nguồn lực, sẽ không thể nói đến phát triển kinh tế. CON NGƯỜI - NGUỒN LỰC QUYẾT ĐỊNH Đào tạo và trọng dụng nhân tài là quốc sách muôn đời của một nước. Lực lượng ưu tú, ở bất cứ giai đoạn lịch sử nào, cũng luôn là yếu tố quyết định sự sinh tồn và phát triển của cộng đồng dân tộc. Đầu tư cho giáo dục, trong những năm tới, sẽ phải là đầu tư quan trọng nhất của chúng ta, bởi đó là động lực lớn nhất và quyết định nhất của phát triển. Thời đại xây dựng kinh tế cần có những con người biết làm kinh tế. Không chỉ là những người vạch ra chính sách, điều hành kinh tế ở cấp vĩ mô, mà còn là những doanh nhân. Đây là những chiến sĩ trên mặt trận kinh tế, những người sẽ đối mặt với doanh nhân các nước, giành từng tấc đất trên thương trường, chắt chiu từng đồng vốn, cạnh tranh từng mặt hàng, táo bạo, mưu trí để mang nguồn lợi về cho đất nước. Họ là những con ong bay hàng dặm đường để hút từng chút nhuỵ hoa làm nên mật ngọt của sự thịnh vượng, là những người thợ đổ mồ hôi và cả nước mắt - để xây dựng từng viên gạch cho tòa nhà phát triển. Cần có chính sách xây dựng lực lượng doanh nhân, khuyến khích họ, ưu đãi họ và giúp họ trang bị đầy đủ bằng cách mở cửa tiếp thu tinh hoa văn hóa, kiến thức, công nghệ, kinh nghiệm của các nước phát triển. Nhưng không nên quên rằng sự tiếp thu này chỉ có thể thành công trên cơ sở một tinh thần chân thành, thực sự cầu thị và nhất là thật sự khiêm tốn.
- Cách đây mấy trăm năm, sau khi quét sạch quân Minh, nhà chiến lược xuất sắc Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo đã đúc kết nhận định của mình về tiềm năng nhân lực vĩ đại của dân tộc Việt Nam qua hai câu thơ đầy tự hào: Dẫu mạnh yếu có lúc khác nhau Song hào kiệt đời nào cũng có. Quả vậy, khi đất nước còn sản sinh ra hào kiệt thì dù có lúc bị ngoại nhân xâm lấn cũng có ngày giành được độc lập, dù có lúc nghèo khổ, chậm tiến cũng có ngày giàu có, phát triển. Xin hãy coi đó như là điều mong ước của tất cả chúng ta, nhân mùa Xuân này, cho tương lai cường thịnh của dân tộc Việt. Tháng 1/1992
- Chiến lược thời mở cửa BÀI HỌC LỊCH SỬ Mùa thu 1858. Những phát súng thần công của hạm đội Pháp làm vỡ tung bờ lũy quân đội Việt Nam ở Sơn Trà, Đà Nẵng và làm vua Tự Đức hốt hoảng. Ông sợ hãi vì thấy được sức mạnh kỹ thuật khủng khiếp của phương Tây và vì không biết những tên bạch qủy đó thực sự muốn gì đằng sau đòi hỏi buôn bán. Sự sợ hãi theo bản năng thúc đẩy nhà vua đóng chặt cửa lại. Ông muốn bảo vệ di sản được thừa hưởng. Ông đang hài lòng với nó và không muốn thứ gì khác. Cánh cửa bị phá vỡ, sau đó là 80 năm thuộc địa, 30 năm đất nước chia cắt, một thế kỷ chỉ để lo mỗi một việc giành độc lập với những cuộc kháng chiến gian khổ nhiều máu và nước mắt để bước vào thập niên cuối cùng của thế kỷ XX với mức thu nhập bình quân đầu người ở mức thấp nhất thế giới. Cách Việt Nam vài ngàn dặm về phía Bắc có một đảo quốc với diện tích, dân số, trình độ phát triển kinh tế và ảnh hưởng văn hóa tương tự nước ta. Mùa xuân năm 1854, trước đó bốn năm, cửa khẩu Giang Hộ của đảo quốc đó bị bắn phá bởi chiến thuyền phương Tây. Cả nước Nhật sợ hãi. Nhưng có một người Nhật trẻ tuổi không sợ. Nhật hoàng Minh Trị chỉ thán phục sức mạnh kỹ thuật của phương Tây và thèm muốn được giống như họ. Ông nghĩ rằng muốn hùng mạnh như họ phải học cách của họ để tham gia vào trò chơi của họ. Ông mở cửa. Chưa đầy bốn mươi năm sau, hạm đội hùng mạnh của nước ông đánh tan tác hạm đội của Nga hoàng. Nhật trở thành thành viên tích cực của trò chơi đế quốc. Vào giữa thế kỷ XX, nó là cường quốc quân sự ở Á Châu và mơ giấc mơ Đại Đông Á. Giấc mơ đó trở thành ác mộng. Trên đống tro tàn của thất trận, con phượng hoàng lại trỗi dậy và trở thành siêu cường kinh tế trước khi kết thúc thế kỷ. Bây giờ nó có quyền mơ lại giấc mơ. Điều gì, sau hơn một trăm năm, làm nên sự khác biệt trời vực giữa hai nước có điểm xuất phát bằng nhau? Có thể có rất nhiều điều. Nhưng khác biệt lớn nhất và quyết định nhất là sự sợ hãi, thiển cận của Tự Đức đối với sự thức thời sáng suốt của Minh Trị, là sự tự mãn về cái cũ của Tự Đức và niềm khao khát cái mới của Minh Trị. Tự Đức đã làm Việt Nam mất một cơ hội cường thịnh, một cơ hội có cái giá một thế kỷ. CHIẾN TRANH KINH TẾ Cuộc chinh phục thị trường bằng pháo hạm, trò chơi của những tay thực dân thế kỷ XIX đã nhường chỗ cho cuộc chinh phục thị trường bằng hàng hóa, trò chơi của những nhà đầu tư thế kỷ XX. Vào đầu thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, chiến tranh lạnh chấm dứt, thay vào đó là điều mà bà Edith Cresson, Thủ tướng Pháp, gọi là “đang xảy ra một cuộc chiến
- tranh thế giới về kinh tế”. Ba cường quốc kinh tế hiện nay của thế giới là Mỹ, Tây Âu và Nhật đang thực sự tuyên chiến với nhau. Một phúc trình của Công ty chứng khoán Nomura đã mô tả “những cuộc cạnh tranh trên thị trường sẽ trở nên cực kỳ quyết liệt”. Một bà thủ tướng Anh bị mất chức vì theo đuổi chính sách không hợp thời có thể dẫn đến vị trí đơn độc dễ bị tổn thương của nước Anh. Một ông tổng thống Mỹ dù thắng trận giòn giã về quân sự nhưng thất trận về kinh tế đã thất cử. Cuộc chiến kinh tế diễn ra không có súng nổ đạn bay, không có máu đổ. Bị chiếm lĩnh về kinh tế sẽ rất êm ái, ít gây ra xúc động hận thù như bị chiếm đóng về quân sự. Nhưng đó là một cuộc chiến của sự mất còn. Người thắng có thể được tất cả và người thua có thể mất tất cả. Đó còn là một cuộc chiến toàn cầu. Không ai có thể đứng ngoài cuộc. Một trong những điểm nóng của nó là vùng Châu Á Thái Bình Dương. Và chúng ta ở giữa điểm nóng đó. MỞ CỬA Điều may mắn là chúng ta không đi vào vết xe cũ. Chúng ta mở cửa. Chúng ta đã chứng kiến sức mạnh kinh tế đáng sợ của các siêu cường kinh tế. Thử thách đối với chúng ta vẫn y nguyên như hơn một trăm năm trước. Nhưng câu trả lời đã có. Muốn bằng họ phải học cách làm, luật chơi của họ để giành thắng lợi ngay trong trò chơi kinh tế của họ. Đó không phải là điều dễ dàng cho bất cứ ai, nhất là đối với Việt Nam, một nước có thu nhập thấp hơn họ từ 50 đến 100 lần, hạ tầng cơ sở kém hơn họ 50 năm, công nghệ đi sau họ vài thập kỷ, con người chưa quen, chưa được đào tạo đủ để am hiểu và tham gia trò chơi khắc nghiệt của kinh tế thị trường. Đó là trò chơi có nhiều bài toán hóc búa nhưng rất quyến rũ. Làm sao có sản phẩm tốt nhất? Làm sao nâng mức sống lên nhanh nhất? Làm sao có lực lượng lao động có trình độ học vấn và tay nghề cao nhất? Làm sao tổ chức sản xuất tốt nhất? Làm sao có các định chế công quyền và doanh nghiệp hoạt động hiệu quả nhất? Làm sao có lực lượng khoa học giỏi nhất để thực hiện các công trình nghiên cứu phát triển trên mọi lĩnh vực? Không có đáp số nhanh chóng cho những bài toán đó và không đủ ý chí để thực hiện các giải pháp đúng có nghĩa là thua cuộc, là mất tất cả. Nhưng mở cửa là bắt buộc. Không thể tìm sự tồn tại ở phía sau cánh cửa, mà phải tìm sự tồn tại ở giữa đấu trường. Chính sự mở cửa, tự nó, cũng là một tài sản. Chưa đầy một năm qua đã có những cơn mưa vàng rơi trên những mảnh đất trước đây chỉ là bãi cỏ hoang hay thửa ruộng xấu. Điều gì là chất men tạo ra cơn mưa vàng đó? Chất men đó chính là mở cửa. THU HÚT NGOẠI LỰC ĐỂ BỒI DƯỠNG NỘI LỰC Mở cửa tạo điều kiện tiếp thu ngoại lực, biến ưu điểm của người thành ưu điểm của mình. Đất nước chúng ta hiện nay phải giải quyết cùng lúc hai bài toán khó, một bài toán chiến lược là đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và một bài toán kỹ thuật là chuyển nền kinh tế từ bao cấp sang cơ chế thị trường. Ngoại lực lúc này là điều kiện cần thiết để giải đáp các bài
- toán nói trên. Nhưng ngoại lực - những cơn mưa vàng, đô la - không luôn luôn là tài sản có. Chúng sẽ trở thành các gánh nợ nếu chúng ta không biết cách vận dụng hiệu quả. Đầu tư nước ngoài có thể lấn chiếm những lĩnh vực sinh lời nhiều và đẩy đầu tư trong nước vào những lĩnh vực sinh lời ít. Trong kinh tế thị trường, điều đó có nghĩa là bị loại khỏi cuộc chơi. Máy móc hiện đại của nước ngoài có thể làm giảm khả năng thu dụng số lao động đông đảo cần việc làm của nền kinh tế. Những doanh nhân tài ba của nước ngoài cuối cùng sẽ có thể thay chúng ta quyết định những vấn đề mà đáng lẽ chúng ta phải tự mình quyết định. Đó sẽ là bị chấn thương bởi ngoại lực, không phải thu hút hiệu quả ngoại lực. Để tránh bị chấn thương, nền kinh tế - dù là kinh tế thị trường - cần có bàn tay điều hành hiệu quả của nhà nước. Chỉ có chính phủ, với các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp với lợi ích toàn cục của nền kinh tế đất nước, mới có thể vận dụng ngoại lực để nuôi dưỡng nội lực. Nhà nước là người duy nhất biết rằng muốn tiếp thu tốt ngoại lực, phải lo củng cố nội lực và là tổ chức duy nhất có thể tổ chức tốt điều đó. Nội lực là sức mạnh của các yếu tố sản xuất trong nước: con người, kỹ thuật, đất đai, tài nguyên, vốn liếng. Củng cố nội lực là phải biết cách sung dụng, phối hợp hợp lý và hiệu quả các yếu tố này để đạt hiệu suất cao nhất. Nội lực được củng cố bằng cách gia tăng hiệu năng mà thể hiện rõ nét nhất là năng suất lao động. Nông nghiệp là nguồn nội lực căn bản của nước ta, nhưng đồng thời là điểm yếu vì quá đông lao động tập trung ở đó. Phát triển nông nghiệp là phải nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp qua đầu tư cơ giới hóa đồng thời có kế hoạch đào tạo và cung ứng nguồn lao động dư thừa ở nông thôn cho công nghiệp đang cần phát triển. Tăng sản lượng nông nghiệp không chỉ dựa vào gia tăng diện tích canh tác. Tính như thế, ta sẽ dễ dàng thỏa mãn với cái đạt được mà quên không làm điều phải làm để cải thiện năng suất lao động nông nghiệp, giảm lực lượng nông dân để tăng thu nhập bình quân cho họ. Muốn tăng năng suất nông nghiệp phải đầu tư cơ giới hóa, thâm canh, tăng vụ và tăng cường sử dụng các sản phẩm hỗ trợ cây trồng vật nuôi. Muốn đầu tư phải có tích lũy. Tích lũy trước hết là của chính nông dân. Trợ giá nông phẩm là vũ khí chiến lược của nhà nước để đạt mục tiêu này. Chúng ta phải nhanh chóng sử dụng vũ khí đó trong chừng nào còn được sự nhắm mắt làm ngơ của những kẻ chơi trò chơi tự do mậu dịch để giúp nhà nông Việt Nam có tích lũy ngay từ bây giờ. Một vũ khí chiến lược khác là đầu tư của nhà nước cho việc xây dựng mới, nâng cấp hạ tầng nông nghiệp và mở rộng hệ thống tín dụng nông thôn cho nông dân với lãi suất thấp. Trong công nghiệp, để sử dụng hiệu quả đồng vốn, nhà nước cần tập trung đầu tư vào các ngành then chốt, sử dụng nhiều vốn, công nghệ cao như công nghiệp nặng, năng lượng, viễn thông, kỹ thuật sinh học, chế tạo máy Không đủ vốn, không thể dàn mỏng đồng vốn, vì hiệu quả sẽ thấp và không đủ sức để phát triển công nghệ cao. Đầu tư tư nhân trong nước cần được khuyến khích vào các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, công nghiệp phụ trợ, sản xuất hàng tiêu dùng trong nước và gia công xuất khẩu. Với cấu trúc mới, hệ thống các thị trường vốn sẽ có cơ sở để hình thành. Hệ thống ngân
- hàng phải hoàn thiện. Cần có luật bảo vệ tiết kiệm, bảo vệ đầu tư trong nước. Tiết kiệm cần được bảo vệ mới khuyến khích được tiết kiệm. Đầu tư cần được bảo vệ mới khuyến khích được đầu tư. Nhờ đó, những đồng tiết kiệm quý giá trong nước sẽ được vận chuyển qua hệ thống các con kênh lành mạnh để đến tay những người trong nước biết sử dụng chúng hiệu quả. Ngoại lực (vốn, kỹ năng quản lý, công nghệ) có khuynh hướng đi vào các ngành công nghiệp sử dụng nhiều vốn, công nghệ cao. Nó giúp thực hiện sự chuyển nhượng kỹ thuật và đào tạo tay nghề. Điều này, tự nó, cũng đã mang lại một môi trường cạnh tranh hào hứng trong nước. Để giảm bớt sức ép cạnh tranh không cần thiết đối với công nghiệp nội địa, cần hướng ngoại lực vào cạnh tranh trên thị trường quốc tế, sử dụng những ưu thế có được tại chỗ như lao động rẻ, nguồn nguyên liệu dồi dào. Như vậy, ngoại lực nên được khuyến khích vào lĩnh vực xuất khẩu và xây dựng hạ tầng. Xây dựng cơ sở hạ tầng cần nhiều vốn và vốn dài hạn. Các khoản vay từ các định chế tài chính quốc tế như IMF, World Bank, ADB và các khoản vay ODA cần thiết cho các chương trình cải thiện hạ tầng. Nhưng người dân trong nước cũng có trách nhiệm xây dựng ngôi nhà chung của mình. Với sự thiết lập các thị trường vốn thứ cấp, các công trái dài hạn nhằm xây dựng đất nước sẽ được sự ủng hộ rộng rãi của người dân nhờ vào chính động cơ kinh tế của chúng (lãi suất cao, an toàn, tính thanh khoản cao). Cuối cùng, ngoại lực sẽ có thể được hấp thụ tốt hơn nếu được quân bình. Mỗi nguồn ngoại lực mạnh cần có đối trọng là một nguồn ngoại lực mạnh khác. Nội lực nhờ đó sẽ được bảo vệ để vượt qua thời kỳ non yếu của mình, trở nên dồi dào, mạnh mẽ hơn để đóng vai trò là nguồn sinh lực chính cho sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Nhưng mở cửa không phải chỉ để mời khách vào nhà. Chúng ta cần phải chuẩn bị để bước ra ngoài. Không bước được ra ngoài cũng có nghĩa là thua cuộc. Trong điều kiện sản xuất hiện nay, muốn bước ra ngoài phải có sự hỗ trợ tích cực và triệt để của nhà nước. Các nhà xuất khẩu Việt Nam cần được trợ giá trên mỗi đồng ngoại tệ kiếm được. Trợ giá xuất khẩu là vũ khí cạnh tranh lợi hại mà các nước xung quanh đang sử dụng, gây khó khăn không ít cho sản phẩm xuất khẩu của ta. Điều đáng ngạc nhiên và đáng tiếc là lâu nay ta không sử dụng tới nó. Mặt khác, còn cần kiểm soát nhập khẩu. Kiểm soát nhập khẩu không chỉ là tiết kiệm ngoại tệ. Nó chính là lá chắn bảo vệ công ăn việc làm trong nước. Khi bỏ tiền để mua một mặt hàng nhập - bằng đường chính thức hay đường buôn lậu - mà trong nước có sản xuất, chúng ta đang bỏ phiếu cho việc đẩy ra đường phố một công nhân hoặc ngăn chặn đường vào xí nghiệp của một sinh viên vừa ra trường. Điều mỉa mai là anh công nhân hay cô sinh viên đó có thể là chính chúng ta, hay con em của chúng ta. Đối với chúng ta, bảo hộ mậu dịch là bảo vệ tiềm lực kinh tế, trước hết là bảo vệ lực lượng lao động. Hiện nay, chúng ta có thể làm điều này mà không sợ phản ứng của những kẻ hô hào tự do mậu dịch vì chúng ta là một nước nghèo. Những phản ứng như thế giữa các siêu cường kinh tế thường rất quyết liệt. Chào mừng Tổng thống Mỹ đắc cử Bill Clinton,
- Thủ tướng Nhật Mizayawa nhắc nhở: “Hy vọng chính quyền mới của Mỹ sẽ có một thái độ dứt khoát chống lại chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch để duy trì hệ thống tự do mậu dịch của thế giới”. Nhưng đó là lời khuyến dụ của những kẻ đang thắng thế trên mặt trận mậu dịch. Hiện nay, chưa có tự do mậu dịch trên phạm vi toàn cầu. Nếu có, sẽ không có chiến tranh kinh tế, như kiểu chiến tranh trợ giá nông phẩm vừa xảy ra giữa Mỹ và Tây Âu. Các siêu cường kinh tế không ngừng tấn công lẫn nhau và tấn công các nước đang phát triển trong khi phòng thủ mậu dịch rất chặt chẽ. Các khối mậu dịch đang hình thành khắp nơi trên thế giới với đặc điểm là mậu dịch giữa các nước trong khối là tự do còn mậu dịch giữa các khối sẽ bị kiểm soát. Tây Âu đang trên tiến trình xây dựng Ngôi Nhà Chung Châu Âu, một khối mậu dịch hùng mạnh nhất thế giới từ trước tới nay. Mỹ đang củng cố khối mậu dịch tự do Bắc Mỹ NAFTA (North American Free Trade Area). Trước những diễn biến đó, vào tháng 10 năm 1992 các nước ASEAN đã thành lập khu mậu dịch tự do AFTA (Asean Free Trade Area), bắt đầu có hiệu lực kể từ đầu năm 1993. Bảo hộ mậu dịch trong điều kiện mở cửa buộc chúng ta phải tính đến việc gia nhập khối mậu dịch để nhờ vào những ưu thế của nó. Nhưng cũng không thể không lợi dụng các mối quan hệ song phương sẵn có, nhất là mối quan hệ với Đông Âu và Liên Xô cũ, và tích cực tham gia vào các hiệp ước mậu dịch quốc tế, xem đó như những cửa ngõ khác để đưa sản phẩm của ta thâm nhập thị trường quốc tế một cách đường hoàng chính thức. TẠO RA LỢI THẾ QUYẾT ĐỊNH Muốn bước ra ngoài, phải xây dựng được lợi thế so sánh cho mình. Trong thế kỷ XXI, lợi thế so sánh sẽ do con người tạo ra. Sức mạnh trí tuệ là yếu tố có tính chất quyết định chiến thắng trong cuộc chiến tranh kinh tế. Nhà nghiên cứu chiến lược kinh tế người Mỹ Lester Thurow nhận định “lao động có kỹ năng sẽ trở thành lợi thế so sánh trong trường kỳ”, và khẳng định “kỹ năng của lực lượng lao động là vũ khí cạnh tranh quyết định trong thế kỷ XXI”. Tiềm lực kinh tế lớn nhất của chúng ta chính là nhân lực. Với nó, chúng ta sẽ làm ra sản phẩm tốt nhất với giá thấp nhất. Đó chính là ưu thế tự nhiên của chúng ta. Trong mười năm tới, chúng ta phải biến sự thông minh thiên phú của dân tộc thành kiến thức và công nghệ mới nhất của thời đại. Xây dựng được một đội ngũ có kiến thức, có tay nghề chuyên môn cao là lợi thế quyết định giúp chúng ta bắt kịp thế giới. Chúng ta không hy vọng thắng trong cuộc chạy đua nước rút 100 mét, nhưng chúng ta phải thắng trong cuộc chạy đua marathon. Sự bền bỉ và ý chí quyết thắng trong cuộc chạy đua marathon đồng nghĩa với lao động cật lực và quyết tâm phát triển trong cuộc chạy đua kinh tế. Làm việc, làm việc hết sức mình cho sự nghiệp phát triển kinh tế, đó là nhật lệnh của dân tộc Việt ngày hôm nay và nhiều năm sau nữa. Năm 1992
- Kinh tế Việt Nam và chữ “mở” kỳ diệu Có những điều có thể gọi là kỳ diệu mà chúng ta được chứng kiến trong cuộc đời. Một trong những điều kỳ diệu đó là sự thay da đổi thịt của nền kinh tế Việt Nam trong 25 năm qua. Thật ra, những thành tích mà nền kinh tế Việt Nam đã đạt được trên tiến trình tăng trưởng gần ba thập niên (1986-2010) còn khá khiêm tốn, và ở một góc nhìn nào đó, không thể so sánh được với sự thần kỳ của kinh tế Nhật Bản trong những năm 1960, sự trỗi dậy kinh tế đầy ngoạn mục của Hàn Quốc trong những năm 1970-1980 và sự tăng trưởng kinh tế vũ bão của Trung Quốc vào những thập niên cuối thế kỷ XX. Nhưng đối với những người sống ở Việt Nam trong những năm đầy khó khăn của thời kỳ bao cấp vào đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, và được chứng kiến những thay đổi đến ngày hôm nay, điều kỳ diệu là có thật. 30 năm trước đây là thời kỳ ai ai cũng phải xếp hàng mua nhu yếu phẩm theo hạn mức phân phối, nông dân phải mang lúa đổi vải, còn người công nhân thành thị phải ăn gạo độn mì; thời kỳ mà một xứ nông nghiệp từng nổi danh trù phú như Việt Nam phải nhập khẩu hàng triệu tấn gạo trong gần 10 năm, còn các thành phố phải kiệt lực phát triển công nghiệp nặng trong điều kiện liên tục thiếu điện, thiếu xăng dầu, thiếu vốn đầu tư, thiếu nguồn nhân lực; thời kỳ mà cả nền kinh tế chia cắt nghiêm trọng, bị ngăn sông cấm chợ từ bên trong và cách biệt với bên ngoài, thời kỳ mà mặt trời hòa bình vừa mới ló dạng đã bị che phủ và các chiến binh của chúng ta còn phải chiến đấu gian lao vất vả ở Campuchia Có ai vào lúc đó có thể tưởng tượng rằng giờ đây Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, mỗi năm xuất khẩu vài triệu tấn gạo, thị trường nội địa hàng hóa ê hề và người tiêu dùng lên ngôi vua, đường sá mở rộng và các loại ôtô đời mới sang trọng đắt tiền nối đuôi nhau trên đường, nước sông Đà miền Bắc đã có thể thắp sáng ánh đèn để cho các trẻ em nghèo của nông thôn miền Nam được học bài vào ban đêm, hai bên bờ sông Tiền sông Hậu được nối với nhau bằng những cây cầu treo hiện đại, dự trữ quốc gia có vài chục tỷ Đô la, Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO và đang là Chủ tịch của một ASEAN hữu nghị, chung sức chung lòng hướng về mục tiêu hòa bình và thịnh vượng kinh tế chung Điều kỳ diệu là có thật, tuy rằng đó là một điều kỳ diệu mà chúng ta còn có thể làm tốt hơn. VƯỢT QUA BAO GIAN KHÓ Con đường phát triển của nền kinh tế Việt Nam không bằng phẳng. Nó trải qua nhiều thời kỳ khó khăn với những sai lầm, những vấp váp, nhưng điều đáng ngạc nhiên là cứ mỗi lần đứng dậy sau vấp ngã, nền kinh tế Việt Nam lại lớn hơn và mạnh hơn trước. Cuộc cải cách Giá - Lương - Tiền năm 1985 mà đỉnh điểm là cuộc đổi tiền đã làm nền kinh tế kiệt quệ, nhưng việc bãi bỏ ngăn sông cấm chợ, cho phép kinh tế tư nhân mở rộng sản xuất và
- xây dựng kênh huy động vốn đã bơm một liều thuốc hồi sinh cho các hoạt động kinh tế. Đến cuối năm 1988, hậu quả của tình trạng mất cân đối kinh tế vĩ mô mãn tính khiến nền kinh tế lại lâm vào một thời kỳ lạm phát suy thoái tồi tệ, đồng tiền bị mất giá nghiêm trọng, lãi suất cho vay ngân hàng có lúc lên đến 144%/năm khiến các doanh nghiệp lao đao, dẫn đến tình trạng đổ bể tín dụng đồng loạt vào những năm 1990-1991. Nhưng những chủ trương vĩ mô đúng đắn như cải tổ hệ thống ngân hàng và mở rộng cánh cửa đầu tư nước ngoài đã vực nền kinh tế đứng dậy. Từ năm 1993-1996 nền kinh tế Việt Nam phục hồi và thực hiện các tốc độ tăng trưởng ngoạn mục trên 8%/năm trong suốt bốn năm liền, Việt Nam trở thành một thị trường mới nổi đáng chú ý và là điểm đến chọn lựa của các nhà đầu tư nước ngoài. Năm 1997, ảnh hưởng của cơn khủng hoảng tiền tệ khu vực đã làm chậm lại tiến trình Đổi mới kinh tế ở Việt Nam, dẫn đến một tình trạng suy thoái kinh tế khá nghiêm trọng trong hai năm 1999-2000. Nhưng cánh cửa hội nhập đã mở, Việt Nam đã vào AFTA và chuẩn bị trở thành thành viên chính thức của WTO vào đầu thiên niên kỷ mới. Từ năm 2002, kinh tế Việt Nam tăng trưởng trở lại với tốc độ trung bình 7%/năm, kéo dài cho đến năm 2007. Trong thời gian đó, sự gia tăng đầu tư trực tiếp và gián tiếp của nước ngoài (FDI và FII) phối hợp với sự gia tăng đầu tư mạnh mẽ trong nước, đặc biệt là đầu tư tư nhân đã tạo nên lực đẩy quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Khủng hoảng toàn cầu năm 2008- 2009 như một cơn bão lớn làm lung lay các cấu trúc tài chính của các nền kinh tế Bắc Mỹ, Tây Âu và các quốc gia công nghiệp phát triển khác khiến Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng suy thoái kinh tế phần nào. Nhưng vào thời điểm này của năm 2010, chúng ta đã có thể nói đến kế hoạch phát triển kinh tế trong thời kỳ hậu khủng hoảng. Trong vòng 25 năm, GDP của Việt Nam từ mức dưới 20 tỷ đô la đã lên đến 85 tỷ đô la, kim ngạch xuất khẩu từ 1 hoặc 2 tỷ đô la lên đến 64 tỷ đô la, đầu tư nước ngoài từ chỗ không có gì lên đến con số khó tưởng tượng là 98 tỷ đô la, trong đó thực hiện trên 40 tỷ đô la. MỘT CHỮ “MỞ” LÀM NÊN SỰ KỲ DIỆU Nếu có thể tổng kết điều gì đã làm nên sự kỳ diệu của nền kinh tế Việt Nam chỉ bằng một chữ thôi, bạn sẽ chọn chữ nào? Riêng đối với tôi, đó là chữ “Mở”. Giống như chữ “Hỏa” mà Gia Cát Lượng và Chu Du đã chọn lựa làm phương sách tấn công Tào Tháo để tạo nên chiến tích lịch sử Xích Bích, mở đường cho thế tam phân thiên hạ thời Tam Quốc ở Trung Quốc, chữ “Mở” ở Việt Nam là một phương lược kinh tế đúng đắn giúp giải phóng nguồn nội lực tiềm tàng và dẻo dai của đất nước, đưa nền kinh tế quốc dân vượt qua thời điểm bị suy kiệt gần như chạm đáy vào cuối năm 1985 để chuyển mình đi lên. Có những lĩnh vực kinh tế mà chữ Mở đã tạo nên điều kỳ diệu như một chiếc đũa thần. Cuộc cải tổ hệ thống ngân hàng vào năm 1989-1990, như nhận định của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, là bước đột phá quan trọng nhất làm thay đổi sâu sắc cục diện kinh tế đất nước, mở đường cho những cánh cửa mở và những thành tựu lớn hơn trên những lĩnh vực kinh tế khác và điều quan trọng là đã thúc đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường. Kể từ ngày ban hành hai Pháp lệnh ngân hàng năm 1990, hệ thống
- ngân hàng mới đã không ngừng phát triển cả về lượng lẫn về chất. Nó đã giúp nền kinh tế vượt qua cơn khủng hoảng tài chính của những năm 1990, 1991 và sau đó, chính hệ thống ngân hàng đổi mới đã góp phần đáng kể trong việc cả nước thực hiện kỳ tích đẩy tốc độ phát triển GDP trong ba năm liền lên trên 8%/năm, gấp đôi tốc độ tăng trưởng những năm trước đó. Cánh cửa mở của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã mở rộng cho khu vực kinh tế tư nhân. Sau những trục trặc của hệ thống hợp tác xã tín dụng non trẻ và thiếu kinh nghiệm của những năm 1988-1990, các ngân hàng thương mại cổ phần được thành lập sau Pháp lệnh có cơ cấu tổ chức vững chắc hơn, nguồn vốn lớn hơn, nhân sự giỏi hơn và được quản lý tốt hơn đã trở thành luồng gió lớn nâng cánh diều kinh tế tư doanh bay lên. Nhờ chính sách Mở của Nhà nước và sự phát triển của các ngân hàng thương mại, từ năm 1993, kinh tế tư nhân đã phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Trong giai đoạn từ năm 2000- 2009, số lượng doanh nghiệp tư nhân tăng bình quân 22%/năm. Tỷ trọng thu ngân sách nhà nước từ khu vực kinh tế tư nhân đã tăng từ 6% (năm 2002) lên trên 11% (năm 2008). Riêng năm 2008, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đóng góp vào GDP gần 47%, trong đó có phần đóng góp quan trọng của kinh tế tư nhân; ở một số địa phương tỷ lệ này còn cao hơn như TP. Hồ Chí Minh là 51,4%, Cần Thơ là gần 73%. Trong thời gian này, khu vực kinh tế tư nhân đã tạo công ăn việc làm cho trên 5 triệu lao động mới (chưa tính khu vực nông nghiệp), bình quân 800 ngàn lao động /năm, chiếm tỷ lệ 50% số lao động tăng thêm của cả nước. Số lượng doanh nghiệp tư nhân đã gia tăng mạnh mẽ, ước tính đến hết năm 2009 là 460.000 doanh nghiệp, tăng 15 lần trong vòng chín năm, tuy nhiên phần lớn ở quy mô vừa và nhỏ, số doanh nghiệp tư nhân lớn còn khá khiêm tốn. Một hệ thống ngân hàng có giao dịch toàn cầu cũng đẩy mạnh phát triển đầu tư nước ngoài, thúc đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế giữa Việt Nam và phần còn lại của thế giới. Cho đến nay, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đã có 9.500 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn 98 tỷ đô la vào Việt Nam. Trong đó, vốn thực hiện đạt khoảng 40 tỷ đô la từ 82 quốc gia và vùng lãnh thổ. Gần 100 trong tổng số 500 tập đoàn tài chính và công nghiệp lớn của thế giới đã đầu tư vào Việt Nam. Riêng năm 2007, đóng góp của khu vực đầu tư nước ngoài vào ngân sách lên tới 1,5 tỷ đô la, tạo việc làm cho 1,2 triệu lao động trực tiếp và nhiều triệu lao động gián tiếp. Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam thật sự là một nền kinh tế mở, có độ hội nhập khá sâu vào nền kinh tế thế giới, khi tổng giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu (2009) đã lên đến 150% tổng giá trị GDP. Hoạt động ngoại thương và đầu tư nước ngoài có một vị trí quan trọng ngày càng lớn trong tiến trình và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam. Nhưng hội nhập kinh tế đòi hỏi nâng cao năng lực cạnh tranh. Khi điều kỳ diệu đã qua đi, chúng ta phải đương đầu với những khó khăn mới. Ngoại thương tuy phát triển mạnh, nhưng vấn nạn nhập siêu kéo dài đang là một bài toán khó trong nỗ lực phục hồi các cân đối vĩ mô. Sự chọn lựa giữa lạm phát và tăng trưởng vẫn đang là một sự chọn lựa đầy khó khăn, và mục tiêu tăng trưởng trong ổn định vẫn còn là sứ mệnh bất khả thi của chính sách tài chính tiền tệ quốc gia. Tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vừa mới bắt đầu đã chạm mức giới hạn của nguồn nhân lực nội địa. Và trên hết, hiệu quả đầu tư và năng lực
- cạnh tranh của nền kinh tế có vẻ đang kiệt sức, khi chi phí vận hành nền kinh tế tăng nhanh và chỉ số ICOR, từ con số 2,5 của 20 năm trước đây đã lên đến con số khó tin là 8,5 (2009) theo ước lượng của các nhà phân tích kinh tế. Trong quá khứ, chữ Mở đã tạo nên điều kỳ diệu cho nền kinh tế, phải chăng nó vẫn còn năng lực đó khi hướng về tương lai?
- Chuẩn bị để thành Rồng Chỉ còn bảy năm nữa, hành tinh xanh sẽ ăn mừng sự kiện kết thúc vinh quang của một thế kỷ đầy biến động và vĩ đại nhất của thiên niên kỷ thứ hai sau công nguyên để rộn rịp bước vào thiên niên kỷ thứ ba, một thiên niên kỷ mà theo các nhà chiêm tinh sẽ là thời kỳ thịnh vượng và hòa bình lâu dài, bởi vì trái đất đã ra khỏi phạm vi ảnh hưởng của sao Hỏa để bước vào vòng ảnh hưởng của Thổ tinh. Lời tiên tri của họ nói rằng mật ngọt và rượu nho sẽ chảy tràn trên hành tinh xanh trong suốt một ngàn năm. Điều đó có thể mãi mãi chỉ là niềm mơ ước của con người. Hành tinh này sẽ không thể có những con sông mật ngọt và suối rượu nho cho tất cả mọi người nếu nhân loại không nỗ lực làm một điều gì đó khác ngoài dấn thân vào những cuộc chiến tranh đẫm máu nhằm tranh giành tài nguyên của nhau. May mắn là càng về cuối thế kỷ XX, càng có nhiều người ý thức được rằng dùng súng đạn để tranh cướp tài nguyên là trò chơi có kết số âm: kẻ thắng cuộc chỉ được hưởng những lợi lộc ít hơn so với sự mất mát lớn lao của người thua cuộc. Nếu tình trạng xuẩn ngốc đó kéo dài, hành tinh này sẽ ngày càng nghèo đi. Vì lợi ích của chính mình, loài người sẽ phải thôi không chơi trò chiến tranh, tuy rằng sẽ phải mất nhiều năm nữa họ mới đủ khôn ngoan để nhận thức rằng chiến tranh là hủy diệt và thực sự chán ngấy nó. Tuy nhiên, vì bản chất của con người là hám đua tranh, họ đang lao vào một cuộc chiến mới, một cuộc chơi mới. Một trò chơi mà may mắn thay, kết số của nó có thể là dương, một trò chơi win - win trong đó những người cùng chơi có thể cùng thắng. Trong cuộc chiến kinh tế, người thắng cuộc có thể hưởng lợi bằng hoặc nhiều hơn những mất mát của người thua cuộc. Trò chơi này, về lâu dài, sẽ giúp thế giới giàu có hơn. Khi người ta biết dừng các cuộc chiến đẫm máu nhằm giành giật, phân phối lại của cải đang có để đua tranh tạo ra của cải mới, của cải sẽ được tạo ra nhiều hơn. Tuy nhiên, điều đó hoàn toàn không có nghĩa là các quốc gia, các cộng đồng dân tộc đều có khả năng ngang nhau trong việc tạo ra của cải và có mức hưởng thụ ngang nhau. Các nước giàu có sẽ có khả năng tạo ra của cải nhiều hơn, có thu nhập cao hơn và mức sống cao hơn. Các nước nghèo sẽ tạo ra của cải ít hơn, có thu nhập và mức sống thấp hơn. Chiến tranh kinh tế là một cuộc chiến thường trực và mang tính chất toàn cầu khi các nước giàu tranh nhau ở vị trí hàng đầu - tạo ra của cải nhiều nhất, tốt nhất và hiệu quả nhất để duy trì mức sống cao nhất - và các nước nghèo phải nỗ lực để giảm bớt cách biệt về khả năng tạo ra của cải, về thu nhập và về mức sống với các nước giàu. Nhưng tạo ra nhiều của cải là điều kiện cần nhưng chưa đủ, cần phải bán được chúng cho những ai muốn mua trên khắp hành tinh để có thể đổi lấy thêm các hàng hóa của cải khác mà mình cần. Không bán được sản phẩm do mình làm ra có nghĩa là không nuôi được lao động trong nước, không tạo ra được công việc cho những người đang cần việc làm, không có tích lũy để củng cố và phát triển bộ máy sản xuất trong nước, kết quả là thu nhập giảm đi và mức sống sẽ giảm theo. Cuộc chiến kinh tế vì vậy không chỉ là một cuộc cạnh tranh thu
- mua tài nguyên mà còn là một cuộc cạnh tranh nhằm chiếm lĩnh thị trường để bán những sản phẩm do mình làm ra, với mức lợi nhuận cao hơn. Đó là một vấn đề sinh tử, một vấn đề có tính chất quyết định ai sẽ thắng. Vì mức sống của hành tinh ngày càng cao hơn, người ta có khuynh hướng tiêu thụ các sản phẩm ngày càng tốt hơn, dù người đó sống tại nước giàu hay nước nghèo. Nếu một nước nghèo không thể làm ra sản phẩm tốt hơn, người dân nước đó sẽ mua sản phẩm tốt từ những nước giàu bằng tiền bán rẻ tài nguyên thiên nhiên của nước họ. Tiếp theo, những người nước giàu sẽ thuê lao động ở nước nghèo với giá rẻ để khai thác tài nguyên tại chỗ với giá rẻ hơn, làm ra của cải tốt hơn để bán cho những người ở đó với giá cao hơn và chuyển lợi nhuận về nước. Đó là số phận của những nước sẽ thua cuộc. Họ thua cuộc vì không nhận thức được việc nâng cao năng lực sử dụng hiệu quả tài nguyên quốc gia (năng lực cạnh tranh quốc gia) là vấn đề sinh tử và không có giải pháp để giải quyết. Họ thua cuộc vì không biết kết hợp quyền lợi của mỗi người, mỗi nhóm với quyền lợi chung của cộng đồng, không biết hy sinh quyền lợi của cá nhân và phe nhóm trong hiện tại cho quyền lợi của cộng đồng dân tộc trong tương lai. Nhưng họ cũng không thể đứng ngoài cuộc chơi. Với sự phát triển nhanh chóng ngoài sức tưởng tượng của các phương tiện truyền thông hiện đại, cuộc cách mạng thông tin đã bùng nổ, hành tinh xanh trở nên nhỏ hẹp hơn, các quốc gia gần gũi nhau hơn. Không có khoảng cách giữa các không gian sinh tồn để một cộng đồng dân tộc có thể sống cách biệt với phần còn lại của thế giới với ảo tưởng an toàn hơn. Ngày nay, các quốc gia phải biết sống, tồn tại và phát triển trong các không gian sinh tồn của nhau. Để tồn tại và phát triển, mọi người phải biết hợp tác trong cạnh tranh và cạnh tranh trong hợp tác. Khẩu hiệu của thế giới giờ đây có vẻ văn minh hơn, người ta sẽ không nói “live and let die” mà là “live and let live”, sống và để người khác cùng sống. Nhưng điều đó tuyệt nhiên không có nghĩa là “giàu và để người khác cùng giàu”. Trong bối cảnh đó, chính sách mở cửa của nước ta có ý nghĩa chiến lược rất tích cực và quyết định. Tích cực vì mở cửa sẽ chấm dứt quá trình “bế môn” từ lâu nay, buộc chúng ta nhìn ra ngoài và chuẩn bị bước ra ngoài. Quyết định vì nó sẽ đưa lịch sử Việt Nam bước vào một chặng đường mới, tuy nhiều thử thách cam go nhưng cũng đầy triển vọng: ta chấp nhận hội nhập thị trường thế giới, có nghĩa là chấp nhận đương đầu với những thách thức của cuộc chiến kinh tế, chấp nhận phải nỗ lực vượt bậc để cuối cùng trở thành người thắng cuộc. Trước hết, đó là nỗ lực bắt kịp. Mục tiêu của chúng ta trong vài thập niên tới là chen chân vào hàng ngũ những nước có thu nhập khá trong số các nước thuộc thế giới thứ ba, thế giới của những nước nghèo. Mục tiêu tuy khiêm tốn, nhưng không phải dễ đạt được. Lấy thí dụ, mục tiêu của chúng ta là bắt kịp Thái Lan. Mức thu nhập bình quân đầu người của Thái Lan hiện vào khoảng 1000 đô la, tức hơn ta gấp năm lần. Mức tăng trưởng bình quân hàng năm của Thái Lan là khoảng 8%. Với mức đó cứ sau mỗi chín năm, tổng sản lượng quốc gia sẽ tăng gấp đôi. Nếu chúng ta cũng tăng trưởng như Thái Lan, nghĩa là 8% năm, chúng ta vĩnh viễn không bắt kịp họ. Muốn bắt kịp Thái Lan, chúng ta phải có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn họ. Giả thiết nếu chúng ta thực hiện được tốc độ tăng trưởng bình quân gấp rưỡi họ, nghĩa là 12%/năm và duy trì được tốc độ này trong nhiều thập niên, thì phải cần đến 45 năm sau chúng ta mới bắt kịp họ, với điều kiện mức tăng trưởng của dân số hai nước như nhau. Duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân 12%/năm trong suốt nửa thế kỷ
- là một chuyện phi thường, một phép lạ kinh tế đối với bất kỳ nước nào. Nhưng không phải muốn tăng trưởng là có tăng trưởng. Phải có vốn và biết cách sử dụng đồng vốn với hiệu quả cao nhất. Để có được đồng vốn, chỉ có hai sự chọn lựa: tiết kiệm hoặc vay nợ. Nếu tiết kiệm ít thì phải vay nợ nhiều. Vay nợ là một giải pháp dễ dàng mà phần lớn các nước nghèo đều ưa chuộng. Vay nợ có nhiều hình thức: tiếp nhận đầu tư, vay các định chế tài chính quốc tế, vay các chính phủ, vay các ngân hàng lớn. Viện trợ cũng là một hình thức vay nợ nhưng không phải hoàn lại. Kinh nghiệm cho thấy vay tiền càng dễ dàng, việc sử dụng đồng tiền càng không hiệu quả. Đồng tiền viện trợ là một thí dụ điển hình. Ngay cả đối với cái gọi là viện trợ kinh tế, kẻ cho chỉ quan tâm đến lợi ích của họ thay vì lợi ích của người nhận, còn người nhận do ỷ lại vào việc không phải trả nợ nên dễ dàng tiêu phí vào những khoản chi không hiệu quả, thậm chí viện trợ còn là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng sinh sôi. Nhưng đi vay nhiều hôm nay có nghĩa là buộc thế hệ tương lai phải tiết kiệm nhiều để trả nợ. Con cháu chúng ta sẽ nghĩ sao về cha ông của chúng nếu chúng ta buộc chúng phải tiết kiệm nhiều để trả nợ trong khi chính chúng ta lại không tiết kiệm? Một dân tộc muốn phát triển, phải có ý chí phát triển. Tiết kiệm là hành động thể hiện ý chí đó. Hơn nữa, một dân tộc biết tiết kiệm, biết trân trọng từng đồng tiết kiệm sẽ biết trân trọng và sử dụng hiệu quả đồng tiền đi vay vì ý thức được trách nhiệm phải trả nợ. Muốn tiết kiệm phải tự giác hạn chế tiêu thụ ngày hôm nay để dành dụm đồng tiền đầu tư cho ngày mai. Cần có cơ chế hiệu quả thu hút từng đồng tiền tiết kiệm từ mọi ngõ ngách trong nền kinh tế để chuyển sang kênh đầu tư. Sẽ không có kết quả nếu sự tự chế tiêu thụ chỉ là ý thức của một ít người. Một nước chỉ có thể thành công khi sự chấp hành kỷ luật tiết kiệm là hành động dũng cảm nhất quán của cả một cộng đồng dân tộc. Một nước thực hành tiết kiệm cũng có nghĩa là người dân nước đó phải chấp nhận tiêu dùng hàng nội địa, dù là phải mua với giá cao hơn và với chất lượng xấu hơn hàng nước ngoài. Công nghiệp và cả nông nghiệp của chúng ta sẽ không thể đứng vững nếu không có sự nâng đỡ, đùm bọc của thị trường nội địa. Nhật Bản, Hàn Quốc sẽ không phát triển như ngày hôm nay nếu người dân Nhật, Hàn Quốc thuộc các thế hệ trước được tự do mua sắm các mặt hàng tốt và rẻ hơn của phương Tây. Thành phố Tokyo sẽ đông dân hơn, nhiều người thất nghiệp hơn, điều kiện sống tồi tệ hơn nếu người dân Tokyo từ chối ăn gạo do nông dân Nhật sản xuất với giá cao gấp năm lần giá gạo nhập khẩu, và nếu Chính phủ Nhật không tiếp tục tài trợ nông phẩm cho nông dân Nhật đến ngày hôm nay. Nếu nhu cầu của thế hệ hôm nay được thỏa mãn ít hơn một cách tự nguyện, nhu cầu của thế hệ tương lai sẽ được thỏa mãn nhiều hơn. Nếu thế hệ hôm nay sẵn sàng nằm gai nếm mật để giành thắng lợi trong cuộc chiến kinh tế đang diễn ra, con cháu chúng ta chắc chắn sẽ có một tương lai tốt đẹp hơn. Sự khôn ngoan đòi hỏi những người tiết kiệm hôm nay sẽ phải chấp nhận một lãi suất thấp hơn để các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có điều kiện phát triển nhanh hơn trong tương lai. Những người chủ của các xí nghiệp, những cổ đông của các công ty cổ phần hôm nay sẽ phải chấp nhận một mức chia lợi nhuận thấp hơn để xí nghiệp có tiền xây dựng nhà máy mới, mua thiết bị mới, tuyển thêm lao động mới. Những người tiêu dùng phải chấp nhận trả một mức thuế cao để cho những người sản xuất được hưởng một mức thuế
- thấp. Nhập khẩu phải trả thuế nhiều hơn để xuất khẩu không phải trả thuế. Thuế quan là rào chắn sự xâm chiếm thị trường nội địa của hàng nước ngoài, không phải là rào chắn sự tham gia thị trường quốc tế của hàng trong nước. Hàng xuất khẩu của nước ta sẽ không thể có mặt trên thị trường quốc tế nếu nó phải vượt qua không phải một mà là hai rào chắn của thuế, một hàng rào do chính chúng ta tạo ra và một hàng rào do những nước khác tạo ra. Người Nhật sẽ không có được ngày hôm nay nếu họ không làm khác hơn. Giờ đây, khi đã trở thành một nước xuất khẩu hùng mạnh nhất thế giới, hàng xuất khẩu của Nhật ở thị trường quốc tế vẫn rẻ hơn là chính nó được bày bán trên thị trường nội địa. Một nước thực hành tiết kiệm là phải dành mọi sự ưu đãi cho công nông nghiệp của nó, những ưu đãi về thuế, về lãi suất, về tín dụng ngân hàng, về những dịch vụ tốt hơn, nhanh hơn được cung cấp từ bộ máy hành chính của nước đó. Cuộc diễn tập vừa qua của đạo quân buôn lậu đã cho thấy tất cả sự yếu kém của công nghiệp nội địa khi phải đương đầu với những ngành công nghiệp tương tự của nước ngoài chưa chắc đã có chất lượng cao hơn nhưng chắc chắn được bảo hộ tốt hơn. Không thể làm ngơ khi nhìn thấy những ngành công nghiệp xương sống của nền kinh tế nước ta bị đánh gãy bởi các ngành công nghiệp dũng mãnh hơn, năng động hơn và nhất là được hỗ trợ tốt hơn của các nước khác. Cần phải có chính sách bảo hộ thông minh, hợp lý, bảo hộ nhưng không phải là nuông chiều. Những ngành công nghiệp của ta muốn tồn tại và phát triển phải có tính chiến đấu cao, có khả năng cạnh tranh lớn, không phải là những ngành yếu đuối kinh niên. Đó là một sự bảo hộ có chọn lọc. Để có thể giành thắng lợi thiên nan vạn nan trên vũ đài kinh tế quốc tế, chúng ta phải chuẩn bị tham gia bằng tất cả sức mạnh của mình. Chúng ta phải chiến đấu với cả hai cánh tay, không phải với một cánh tay bị trói. Quốc doanh và tư doanh đều là những đạo quân kinh tế chủ lực bảo vệ chủ quyền kinh tế của đất nước, phải được đối xử công bằng ngang nhau. Chúng ta không thể ưu đãi quốc doanh và bạc đãi tư doanh. Chúng ta cần cả hai đạo quân đều hùng mạnh, đều tinh nhuệ. Hai đạo quân đó không được hủy diệt nhau mà phải thi đua với nhau, hỗ trợ cho nhau để tự hoàn thiện, nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia, tăng cường khả năng hợp đồng tác chiến, tiếp ứng lẫn nhau để đương đầu với sức mạnh công nghiệp vượt trội của nước ngoài. Cả hai đều cần thiết vì cả hai cùng làm ra của cải, cùng tạo ra công ăn việc làm và cùng giúp nâng cao thu nhập, nâng cao mức sống của cộng đồng dân tộc. Là một đạo quân được trang bị tốt hơn, được nhà nước hỗ trợ nhiều hơn, công nghiệp quốc doanh phải đóng vai trò người bảo vệ cho nền công nghiệp trong nước, kích thích sự phát triển của kinh tế tư doanh. Các tập đoàn kinh tế nhà nước nên tập trung sức mạnh vào những ngành then chốt, sử dụng vốn lớn, công nghệ tiên tiến, kỹ năng quản trị hiện đại. Người Nhật không có quá nhiều tập đoàn công nghiệp lớn, nhưng những tập đoàn đó, được sự hỗ trợ của hệ thống tài chính ngân hàng và chính phủ, đã kiểm soát toàn bộ các ngành công nghiệp then chốt của nước Nhật. Điều quan trọng hơn là những tập đoàn đó hoạt động rất hiệu quả và thúc đẩy sự tăng trưởng mạnh mẽ sinh động của hàng chục vạn xí nghiệp vệ tinh vừa và nhỏ. Bằng sức mạnh tổng hợp từ sự liên kết gắn bó mang tính đồng đội giữa các tập đoàn công nghiệp khổng lồ và các xí nghiệp vệ tinh kiểu gia đình, nền công nghiệp Nhật đã lớn mạnh và chiếm lĩnh thị trường thế giới. Cần phải học tập kinh nghiệm của mô hình liên kết đó để áp dụng cho mối quan hệ giữa quốc doanh và tư doanh
- Việt Nam. Đạo quân tư doanh Việt Nam, trong điều kiện vốn ít như hiện nay, cần được tham gia các ngành công nghiệp vừa và nhỏ, công nghiệp phụ trợ, sử dụng nhiều lao động, công nghệ trung bình nhưng phát huy ưu điểm khéo léo, sáng tạo, linh hoạt để nâng cao chất lượng sản phẩm và tận dụng lợi thế mức lương thấp nhằm giảm giá thành. Đạo quân đó cũng cần được sự hỗ trợ về mọi mặt của nhà nước để lớn mạnh. Mối liên kết giữa tư doanh và quốc doanh sẽ được thắt chặt thông qua những hợp đồng cung ứng sản phẩm và dịch vụ, những hợp đồng này cần nhận được sự tài trợ của hệ thống ngân hàng để thực hiện. Sự liên kết chặt chẽ đó không những sẽ tăng cường nội lực để bảo vệ độc lập kinh tế, mà còn là động cơ mạnh mẽ cho sự cất cánh của nền kinh tế đất nước. Cuối cùng, để bảo vệ quyền lợi của cộng đồng dân tộc, nhà nước sẽ tham gia vào hoạt động kinh tế, không chỉ với vai trò điều tiết, định hướng, mà với tư cách viên tư lệnh chiến trường. Đó là một người chỉ huy sẵn sàng đồng cam cộng khổ với các binh sĩ của ông ta, biết cách khiến họ chiến đấu giỏi hơn và dũng cảm hơn, nhằm chiếm được các mục tiêu đã vạch sẵn. Bộ máy hành chính sẽ phải được hoàn thiện để đảm nhận trọng trách là lực lượng hậu cần có khả năng tiếp ứng, hỗ trợ, tăng cường sức mạnh cho các đạo quân, có khả năng cung ứng tất cả những gì họ cần ở bất cứ đâu và vào bất cứ lúc nào. Với hai đạo quân kinh tế vững mạnh, có động cơ chiến đấu và sẵn sàng hợp đồng tác chiến và một lực lượng hậu cần năng động, chúng ta có các điều kiện cần thiết để giành thắng lợi trong cuộc chiến kinh tế. Xu thế của thế giới hiện nay là vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, cùng chấp nhận nhau để cùng tồn tại. Nhưng cùng tồn tại không có nghĩa là các cộng đồng dân tộc sẽ được giàu có như nhau. Để đạt mức sống cao hơn, mỗi cộng đồng dân tộc phải nỗ lực nhiều hơn nhằm giành lấy thành quả kinh tế nhiều hơn cho mình và cho các thành viên của mình. Trong môi trường cạnh tranh kinh tế quyết liệt đó, không nước nào có đủ khả năng và thật lòng muốn lo cho nước khác. Mỗi cộng đồng dân tộc phải tự lo cho vận mệnh của chính mình và nếu muốn vận mệnh được sáng sủa hơn, những thành viên thuộc thế hệ hôm nay phải biết lo cho thành viên của thế hệ ngày mai. Giờ đây, thế hệ hôm nay của Việt Nam phải nhận lấy trách nhiệm do lịch sử giao phó: chấp nhận gian khổ, vượt qua ngọn thác vũ môn kinh tế cho con cháu họ ngày sau thực sự hóa Rồng. Năm 1994
- Muốn phát triển phải có ý chí phát triển Sống giữa những nước nghèo không phải là điều thích thú, nhưng sống giữa những nước đang làm giàu nhanh chóng cũng gây ra sức ép tâm lý rất khó chịu và căng thẳng. Nó buộc ta phải luôn luôn gắng sức nếu không muốn ngày càng tụt hậu xa hơn. So với các nước xung quanh - những con rồng và những con cá sắp sửa hóa rồng - Việt Nam đang bị tụt hậu hàng mấy thập kỷ. Để có thể bắt kịp họ, người dân Việt phải chấp nhận sống cần kiệm trong một thời gian dài đồng thời nỗ lực hết sức để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong nhiều năm, chúng ta không thể tự cho phép bị sa vào cái bẫy mãn nguyện, cái khoảnh khắc thở phào nhẹ nhõm khi trở về nhà vào chiều thứ Bảy với đồng lương trên tay sau một tuần lao động vất vả, muốn đi nhậu thật say để quên đi cả tuần lễ dài cực nhọc đang chờ ta phía trước. Nhiều thế hệ Việt Nam - bây giờ và sắp tới - sẽ không được quyền có cái “thở phào nhẹ nhỏm” và “đi nhậu thật say” đó. Nhiều thế hệ sẽ phải cố gắng liên tục. Trong nhiều năm, tất cả mọi người đều phải sống hướng về tương lai và tự giác quên đi những hưởng thụ của hiện tại. Đó là điều mà các nhà kinh tế gọi là “ý chí phát triển”. Ý chí phát triển chính là thách thức lớn nhất và khó khăn nhất cho cộng đồng dân tộc Việt trên con đường đi đến cường thịnh. Nó đòi hỏi ta phải sống dè sẻn hơn trong khi ta cảm thấy ngày càng giàu hơn. Cả một cộng đồng dân tộc, trong rất nhiều năm, sẽ phải được giáo dục và làm gương để sống dè sẻn. Nhưng không phải dễ dàng sống dè sẻn khi mọi người cảm thấy giàu lên, và cảm thấy cần được hưởng thụ nhiều hơn. Sống dè sẻn trước hết phải là một kỷ luật cộng đồng - được biến thành luật pháp - sau đó mới có thể trở thành thái độ tự giác của mỗi người. Trong xã hội ngày càng giàu, bắt buộc sống dè sẻn là một nghịch lý nhưng là nghịch lý cần thiết, vì nếu không dè sẻn để tích lũy cho đầu tư mới, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ chậm dần và nguy cơ tụt hậu là không tránh khỏi. Trong nhiều năm, chúng ta phải cố gắng duy trì một tỷ lệ tích lũy và đầu tư trên 30% tổng sản lượng quốc gia, trong đó chủ yếu là từ nguồn lực trong nước. Chúng ta chỉ có thể thành rồng khi có thể tự bay trên đôi cánh của chính mình, không phải với đôi cánh của người khác. Theo ước tính của các chuyên gia đại học Harvard, Việt Nam chỉ có thể cất cánh theo hướng rồng bay với điều kiện tích lũy nội địa chiếm từ 16% đến 23% GDP, đầu tư nội địa chiếm từ 20% đến 25% GDP (trong suốt hai thập kỷ từ 1990 đến 2010) và ICOR (tỷ suất vốn đầu tư tăng thêm/sản lượng tăng thêm) là 2,5. Trong điều kiện đó, mức tăng trưởng của GDP sẽ lần lượt là 8% (từ 1990 đến 2000) và 6,5% (từ 2000-2010). Nhưng ngay cả khi chúng ta đạt được mức tăng trưởng như vậy, mức thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam cũng sẽ thấp hơn một phần năm của mức thu nhập ở Thái Lan vào năm 2000 và bằng một phần tư vào năm 2010. Điều này cho thấy nỗ lực bắt kịp là khó khăn biết nhường nào và đòi hỏi một sự gắng sức gần như vô giới hạn của mỗi người trong cộng đồng dân tộc.
- Tạo ra nguồn tích lũy và đầu tư nội địa từ 25% đến 30% của GDP và duy trì một chỉ số ICOR bằng 2,5 chỉ có thể là kết quả của các biện pháp hành động tổng hợp của cả nước, trên mọi lĩnh vực, trong việc bảo vệ, huy động các nguồn lực (tài nguyên, vốn, nhân lực) trong nước và sử dụng chúng với hiệu quả cao, không lãng phí. Tất cả mọi nỗ lực đều phải hướng về một mục tiêu: đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế. 1. Trước hết, cần phải có chính sách đúng đắn đối với nguồn ngoại tệ tích lũy được của đất nước. Nguồn dự trữ này cần được củng cố và tăng cường bằng các chính sách khuyến khích, hỗ trợ các hoạt động sản xuất cho xuất khẩu như cho vay với lãi suất ưu đãi, áp dụng một mức thuế suất bằng 0 và một tỷ giá hối đoái phù hợp. Kinh nghiệm cho thấy chiến lược tăng trưởng kinh tế dựa vào đẩy mạnh xuất khẩu không những nâng cao hiệu quả và tính cạnh tranh của nền kinh tế, gia tăng khối dự trữ ngoại tệ mà còn thúc đẩy hội nhập kinh tế, đẩy nhanh tiến trình chuyển giao kiến thức và công nghệ hiện đại cần thiết cho công cuộc công nghiệp hóa đất nước. Hơn nữa, nó còn gián tiếp thu hút được đầu tư của nước ngoài. Nhưng điều cần lưu ý là nguồn dự trữ ngoại tệ quốc gia phải được trân trọng và sử dụng cho lợi ích kinh tế chung vì đó là nguồn tích lũy chung của toàn thể cộng đồng dân tộc, không phải của riêng cá nhân hay đơn vị kinh tế nào. Và thái độ dè sẻn hay phí phạm trước hết được thể hiện ở cách thức chúng ta sử dụng nguồn tiết kiệm đó. Nếu chúng ta muốn sử dụng chúng cho sự hưởng thụ của thế hệ hiện tại, cách tốt nhất là cho phép mọi người đều có thể dùng số ngoại tệ này mua bất cứ thứ gì họ cần từ nước ngoài, bởi hàng nhập khẩu chắc chắn tốt hơn cái ta đang làm ra, thậm chí rẻ hơn. Hơn thế nữa, điều này giúp kéo giảm chỉ số lạm phát, tạo ra tình trạng giá cả ổn định nhất thời trên thị trường và giúp chúng ta cảm thấy được trấn an - như sau khi uống một liều thuốc an thần. Điều đáng buồn cho sự hào phóng thiển cận này là chúng ta đã sử dụng phần dành dụm của người công nhân và nông dân nước mình - một nước nghèo - để tạo ra công ăn việc làm cho các nước khác giàu hơn. Còn nếu chúng ta muốn sử dụng chúng cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong tương lai, chúng ta phải dành đồng ngoại tệ này cho các nhà sản xuất - nông nghiệp cũng như công nghiệp - mua sắm máy móc, thiết bị, vật tư nguyên liệu, công nghệ mới để phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm và tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao động trong nước. Cách thức sử dụng nguồn tích lũy này sẽ cho thấy chúng ta đang hưởng thụ hay đang dè sẻn, chỉ biết sống hiện tại hay đang hướng tới tương lai. Nó cũng cho phép tiên đoán là liệu chúng ta sẽ có thể bắt kịp hàng ngũ các nước đã hóa rồng hay không và trong bao lâu chúng ta sẽ bắt kịp. Một báo cáo gần đây của Sở Công nghiệp Thành phố cho thấy trong suốt 19 năm (từ 1975 đến 1994), các doanh nghiệp quốc doanh thuộc Sở Công nghiệp chỉ mới sử dụng được khoảng trên 16 triệu đô la để đổi mới thiết bị máy móc, hậu quả là phần lớn các thiết bị máy móc của các doanh nghiệp này hiện nay được đánh giá là chỉ đạt trình độ trung bình và lạc hậu so với các nước trong khu vực. Chỉ có một điểm lạc quan trong tình hình này là riêng năm 1993 đã sử dụng được 5 triệu đô la (bằng gần 30% của 18 năm trước) để nhập máy móc thiết bị mới. Nếu chúng ta không thay đổi cách thức và mục tiêu sử dụng dự trữ ngoại tệ, khả năng bắt kịp là điều rất xa vời. 2. Khi nền kinh tế đang trên đà tăng trưởng, các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ cũng tăng theo và nhu cầu vốn thanh toán dành cho các hoạt động này cũng ngày một lớn. Nhà sản xuất cần vốn mua vật tư, nguyên liệu, trả lương công nhân, đóng thuế,
- nhà buôn cần vốn để mua hàng hóa của nhà sản xuất, người tiêu dùng cần tiền để thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ của mình. Các khoản chi tiêu cho việc mua sắm hàng hóa được sản xuất trong nước là sự dè sẻn có ý nghĩa nhất trong mọi sự dè sẻn. Tuy nhiên, không phải cùng lúc mà mọi người, từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng đều thực hiện các hoạt động thanh toán này. Có những khoảng cách thời gian giữa các hoạt động thanh toán trong đó một phần nguồn vốn thanh toán trong nền kinh tế chưa được sử dụng, tạm thời nhàn rỗi. Nếu chúng ta không có một hệ thống ngân hàng tốt và một hệ thống thanh toán tốt, nền kinh tế sẽ lâm vào tình trạng nghịch lý là người cần tiền thanh toán thì không có tiền, người chưa cần thanh toán ngay lại giữ trong tay một số tiền lớn bất động. Hiện nay các nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế rất lớn, trong khi đó do thiếu nguồn vốn thanh toán, tình trạng hàng tồn kho ứ đọng không bán được của doanh nghiệp rất nghiêm trọng. Tình trạng này kéo dài sẽ làm giảm sản xuất, làm mất công ăn việc làm và làm chậm tốc độ tăng trưởng kinh tế. Hơn nữa, do thiếu thị trường tiền tệ, các ngân hàng phải duy trì một tỷ lệ thanh khoản cao và tổng số nguồn vốn bất động vào bất cứ thời điểm nào trong toàn hệ thống ngân hàng đều lên đến hàng ngàn tỷ đồng. Điều này càng làm căng thẳng hơn tình trạng thiếu vốn thanh toán trong nền kinh tế, dẫn tới hậu quả đáng lo ngại là làm cho lãi suất tiền đồng lên cao quá mức. Trong điều kiện chỉ số lạm phát là 5,2%/năm (1993) và 8%/năm (1994), lãi suất cho vay tiền đồng của hệ thống ngân hàng cho các doanh nghiệp từ 25% đến hơn 30%/năm đã khiến mức lãi suất thực (real interest rate) trong nền kinh tế Việt Nam cao đến mức 20-22%/năm, mức này là không chịu đựng nổi đối với bất cứ ngành sản xuất kinh doanh nào. (Tại các nước phát triển như Mỹ, Nhật, mức lãi suất thực chỉ dao động trong khoảng 3-4%/năm hoặc thấp hơn). Như vậy, việc cải thiện hệ thống thanh toán, tạo ra các định chế và xây dựng các chính sách nhằm huy động và sử dụng tối đa các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi không những giúp nền kinh tế có ngay lập tức một khối lượng vốn thanh toán hàng ngàn tỷ đồng - chưa kể khả năng nhân vốn của hệ thống ngân hàng - mà còn tạo điều kiện thực hiện sự điều chỉnh lãi suất theo tín hiệu của thị trường tiền tệ ngắn hạn. Hơn nữa, sự phát triển nguồn vốn thanh toán sẽ đẩy mạnh các hoạt động kinh tế, tạo ra tích lũy cho đầu tư tạo lập tư bản (capital formation) cần thiết cho tăng trưởng kinh tế. 3. Sự phát triển thị trường vốn ngắn hạn (thị trường tiền tệ) sẽ là tiền đề cho sự phát triển thị trường vốn dài hạn (thị trường chứng khoán). Nếu mức lãi suất vốn ngắn hạn được đưa xuống thấp do nguồn cung cấp vốn ngắn hạn gia tăng, mức lãi suất cho các nguồn vốn dài hạn sẽ được hình thành thỏa đáng, phù hợp với yêu cầu tăng trưởng kinh tế, có nghĩa là cao hơn so với lãi suất ngắn hạn, đủ để hấp dẫn các khoản tiết kiệm dài hạn của công chúng và thúc đẩy việc đầu tư chứng khoán (mua cổ phần, trái phiếu dài hạn do xí nghiệp và Chính phủ phát hành) nhưng đồng thời cũng vừa phải, đủ để khuyến khích các xí nghiệp vay vốn trung và dài hạn nhằm phát triển sản xuất và không tạo gánh nặng quá lớn cho ngân sách nhà nước trong tương lai đối với các khoản xây dựng hạ tầng hôm nay. 4. Nguồn tích lũy của khu vực hộ gia đình hiện nay được ước lượng vài chục ngàn tỷ đồng (tương đương vài tỷ đô la) nhưng chỉ có khoảng một phần tư số đó (độ 8 ngàn tỷ đồng) được gửi vào hệ thống ngân hàng. Rõ ràng, mức lãi suất cao như hiện nay không phải là yếu tố then chốt để thu hút số tiết kiệm này. Ngoài việc cần phải củng cố niềm tin vào hệ
- thống ngân hàng, vào sự an toàn và hiệu quả phục vụ của nó, còn phải tạo ra nhiều loại sản phẩm, công cụ tài chính mới nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của người có tiền tiết kiệm, đồng thời thiết lập các thị trường tài chính để giúp người sở hữu các sản phẩm tài chính khi cần tiền có thể bán ngay các sản phẩm đó trên thị trường. Như vậy, nền kinh tế mới có thể huy động được đồng vốn từ mọi ngõ ngách của nó, và sẽ không có đồng tiền nằm bất động, vô ích. Hoặc nó ở dưới hình thức các công cụ tài chính sinh lợi cho người chủ sở hữu và cung cấp nguồn vốn cho các nhà đầu tư trong nước, hoặc nó trở thành các nguồn thanh khoản, thông qua hoạt động của các thị trường tài chính, để cung ứng vốn thanh toán cho các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ đang trên đà phát triển, nảy nở sinh sôi. Chúng ta cũng cần nghĩ đến việc xây dựng và phát triển các định chế thực hiện việc tiết kiệm vừa tự nguyện vừa cưỡng bách cho toàn xã hội: các quỹ hưu bổng, quỹ an sinh xã hội, bảo hiểm y tế, quỹ phòng chống thiên tai, quỹ bảo hiểm các loại. Đó sẽ là một nguồn tích lũy đáng kể của xã hội và nếu chúng ta có thể gắn liền các định chế này với hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính, chúng ta sẽ tạo được một nguồn vốn trung và dài hạn khá lớn, góp phần vào tiến trình tạo lập tư bản vì lợi ích của nền kinh tế quốc dân. Chính sách thuế cũng cần đổi mới, tích cực hơn, hướng vào việc bồi dưỡng các nguồn thu, tăng cường tích lũy cho tăng trưởng kinh tế và dựa trên nguyên tắc khả năng đài thọ (ability-to-pay principle). Các kế hoạch tăng cường tích lũy và phát triển đầu tư mới của xí nghiệp cần được hỗ trợ tích cực hơn về mặt thuế. Có thể giảm hoặc miễn hoàn toàn thuế suất đánh trên phần tích lũy tái đầu tư của xí nghiệp đồng thời cho phép xí nghiệp rút ngắn thời gian khấu hao máy móc thiết bị. Ngược lại, thuế lợi tức, thuế thu nhập cần được nâng cao cùng với các khoản thuế đánh trên việc tiêu thụ các mặt hàng xa xỉ và hàng nhập khẩu. Nói chung là một chính sách thuế hướng về tương lai, nhằm vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế sẽ phải buộc người tiêu dùng trả thuế nhiều hơn để cho người sản xuất được đóng thuế ít hơn và kết quả đạt được là toàn nền kinh tế có thể tích lũy cho đầu tư mới nhiều hơn. 5. Tuy nhiên, các chính sách và biện pháp kể trên cũng chỉ dừng ở mức vận dụng tiềm lực vốn hiện có của nền kinh tế để giúp nó có thể tự tài trợ từ bên trong. Điều này có nghĩa là trước hết, nền kinh tế phải cố gắng tiến về phía trước bằng chính sức lực của nó. Nhưng nền kinh tế sẽ có thể tiến nhanh hơn nếu có các sức đẩy phụ. Bên cạnh các nguồn xung lực từ bên ngoài rất cần thiết (các nguồn tài trợ và đầu tư nước ngoài), chính phủ có thể tiếp sức cho nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn bằng các chính sách tiền tài trợ có chọn lọc. Hiện nay, có các ngành, các khu vực kinh tế có sẵn nguồn nguyên liệu, lao động, máy móc thiết bị nhưng không hoạt động được vì thiếu vốn để kết hợp các yếu tố sản xuất nói trên nhằm tạo ra sản phẩm. Chúng ta có thể thực hiện chính sách tiền tài trợ ở các ngành, các khu vực kinh tế đó để tạo ra sản phẩm, dịch vụ, không để cho bất cứ một yếu tố sản xuất khả dụng nào bị bất động. Khi nền kinh tế đang muốn tiến nhanh về phía trước, nó phải biết dùng mọi cách để sử dụng mọi yếu tố sản xuất khả dụng sẵn có, còn để mặc chúng nằm yên là một sự lãng phí có tội. 6. Cuối cùng, chúng ta có một nguồn vốn quan trọng nhất: con người. Trong cuộc chạy đua marathon nhằm bắt kịp và đứng vào hàng ngũ các con rồng, chính con người Việt Nam chứ không phải ai khác, là yếu tố duy nhất quyết định sự phát triển và phồn vinh của cộng đồng dân tộc chúng ta. Chúng ta cần xây dựng lực lượng doanh nhân, các nhà quản trị, các
- nhà kỹ trị ưu tú, có kiến thức, có bản lĩnh để vừa đương đầu, vừa đối thoại hợp tác với các đồng nghiệp của họ ở các nước và có khả năng bảo vệ quyền lợi của đất nước. Đầu tư xây dựng con người là phương cách tiết kiệm quan trọng nhất và cần thiết nhất. Chúng ta không bao giờ lãng phí, dù có bỏ ra bao nhiêu tiền của, nếu số tiền của đó được đầu tư vào việc đào tạo, xây dựng những thế hệ thanh niên Việt Nam có kiến thức, có kỹ năng, nguồn nhân lực qúy giá cho sự nghiệp công nghiệp hóa và phát triển kinh tế đất nước. Đó chính là nỗ lực của mọi nỗ lực hướng về tương lai. Nhưng ngay bây giờ, chúng ta vẫn có thể có chính sách tài trợ cho chất xám Việt Nam đóng góp hữu ích vào sự tăng trưởng kinh tế. Hiện nay, đất nước không thiếu những doanh nhân trẻ, tài ba, có óc sáng tạo nhưng lại không có tài sản. Vì không có tài sản, họ không thể nào nhận được nguồn vốn từ hệ thống ngân hàng để thực hiện các dự án rất tốt của họ do các quy định cứng nhắc về cho vay hiện hành đòi hỏi phải có tài sản thế chấp mới được vay. Đến chừng nào thì những doanh nhân giàu năng lực nhưng nghèo tài sản có thể nhận được sự tài trợ của một hệ thống ngân hàng Việt Nam năng động hơn nhằm thực hiện được ước mơ làm giàu cho họ và cho xã hội, đất nước? Huy động mọi nguồn lực trong nước cho tăng trưởng kinh tế là vấn đề có tính chất sinh tử đối với tương lai kinh tế của quốc gia. Vấn đề này lại phụ thuộc rất nhiều vào quyết tâm hiện nay của chúng ta trong việc cải thiện nền tiền tệ trong nước. Các thị trường tài chính chỉ có thể phát triển khi nền kinh tế được thực sự tiền tệ hóa. Các chính sách tiền tệ vĩ mô như tỷ giá, lãi suất chỉ có thể đạt được kết quả phục vụ tăng trưởng kinh tế khi đồng tiền Việt Nam được ổn định, lành mạnh và hùng mạnh, giữ vai trò chủ yếu trong việc thúc đẩy các hoạt động sản xuất, tiêu thụ, tiết kiệm, đầu tư. Năm 1994
- Tiết kiệm cho một tương lai thịnh vượng Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế là một mục tiêu đang cuốn hút các nước trong vùng châu Á - Thái Bình Dương vào một cuộc chạy đua quyết liệt. Các nước có thu nhập bình quân thấp như Trung Quốc, Việt Nam, buộc phải tiến nhanh hơn, trong khi những nước mới và đang trên đường công nghiệp hóa (những con rồng hiện tại và những con rồng tương lai) cố gắng duy trì nhịp độ tăng trưởng cao của mình. Tăng trưởng GDP bình quân trong khu vực lên đến 8%/năm và đã có trường hợp tốc độ tăng trưởng trên 10% (Trung Quốc chẳng hạn). Có tăng trưởng kinh tế, công nông nghiệp mới phát triển, nền kinh tế mới tạo được nhiều công ăn việc làm, năng suất và thu nhập lao động mới được nâng cao. Đó là những vấn đề sống còn của một nước. Trong cuộc chạy đua này, cũng như trong bất cứ cuộc chạy đua nào, chạy chậm là thua cuộc. Nhưng muốn tăng trưởng kinh tế phải có đầu tư và muốn đầu tư phải có vốn. Để có vốn, chúng ta có nhiều chọn lựa. Hoặc vay nợ, nhận viện trợ phải hoàn lại, tiếp nhận đầu tư nước ngoài, hoặc tự mình giảm chi tiêu để có tích lũy cho đầu tư. Vay nợ, tiếp nhận đầu tư nước ngoài là buộc thế hệ tương lai phải tiết kiệm để trả món nợ mà chúng ta vay từ hôm nay. Tự mình tích lũy thì phải tiết kiệm ngay từ hôm nay. Đạo lý thông thường đòi hỏi thế hệ hiện tại phải hy sinh cho thế hệ tương lai. Nếu thế hệ hiện tại tiết kiệm nhiều hơn một chút, thế hệ tương lai sẽ giảm nhẹ gánh nặng nợ nần đi một chút. Đây là điều kiện quyết định thành công trong phát triển kinh tế, nó biểu lộ ý chí mạnh mẽ của thế hệ hiện tại sẵn sàng nhận lấy trách nhiệm xây dựng đất nước cường thịnh. Kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan minh chứng rằng nếu một cộng đồng dân tộc muốn thực sự phát triển, nó phải có quốc sách tiết kiệm và thực hiện thành công quốc sách đó. Gọi là quốc sách vì việc thực hành tiết kiệm của một cộng đồng dân tộc đụng chạm đến mọi mặt hoạt động của cộng đồng đó. Muốn tiết kiệm, mỗi cá nhân và cộng đồng phải chấp nhận tiêu xài ít hơn làm ra với một ý chí kiên định chấp nhận giảm bớt hưởng thụ ngày hôm nay để dành cho sự nghiệp phát triển ngày mai. Cần phải xây dựng những công cụ, kênh mương vững chắc đưa dòng chảy tiết kiệm lưu thông thông suốt sang cỗ máy đầu tư và biến chúng thành năng lượng cho phát triển. Tuy nhiên, cách thức, ý nghĩa và tính chất của tiết kiệm xã hội có nhiều điểm khác với tiết kiệm cá nhân, thậm chí mâu thuẫn và cần có giải pháp đúng đắn giải quyết mâu thuẫn đó vì lợi ích chung của nền kinh tế. Một người có thể hài lòng rằng mình đã tiết kiệm khi dành dụm được một số tiền bỏ vào tủ sắt khóa lại hay mua vàng cất giữ. Nhưng xã hội không thể hài lòng với cách tiết kiệm đó. Nếu mỗi thành viên của xã hội đều làm như thế, xã hội đó không có tiết kiệm theo nghĩa kinh tế, mà chỉ có tích trữ. Kinh nghiệm cho thấy ở các nước nông nghiệp chậm phát triển, đa số dân cư, nhất là nông dân đều có thói quen tích trữ vàng. Các nước này, do vậy, bị lâm vào hoàn cảnh nghịch lý khó chịu: thiếu vốn
- đầu tư, nhưng số vốn tích lũy ít ỏi lại hầu như bị bất động hóa, không sử dụng được. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này: tâm lý ưa chuộng vàng, lạm phát triền miên khiến đồng tiền mất giá, trình độ dân trí thấp, nhưng nổi bật nhất là sự vắng mặt của một hệ thống ngân hàng và một thị trường vốn lành mạnh hoạt động hiệu quả. Như vậy một nước muốn đẩy mạnh tiết kiệm trước hết phải có một hệ thống ngân hàng rộng lớn và năng động, hệ thống này phải tiếp cận được với từng con người (không phải chỉ đối với doanh nghiệp), tạo sự tín nhiệm ở họ và cung ứng được các dịch vụ ngân hàng phục vụ cho nhu cầu đa dạng của họ. Xây dựng một thị trường vốn hoạt động tốt và lành mạnh cũng là một điều kiện không thể thiếu. Đó chính là những kênh mương tối cần thiết, không có chúng, xã hội không thể chuyển được nguồn vốn đã tích lũy được cho đầu tư. Đối với cá nhân, tiết kiệm là chi tiêu trong tương lai, còn đối với cộng đồng, tiết kiệm là chi tiêu cho tương lai. Đối với cộng đồng, tiết kiệm là chi tiêu cho sự hình thành vốn liếng và cơ sở vật chất, máy móc thiết bị, cho sự gia tăng năng suất lao động, cho sự tạo lập công ăn việc làm cho người trong nước. Một bà nội trợ trong việc mua sắm hằng ngày có thể nhận thức rằng mình đã thực hành tiết kiệm khi mua được một xấp vải tốt với giá rẻ. Nhưng một cộng đồng tiết kiệm sẽ phải có một cái nhìn khác: điều quan tâm số một của nó không phải là chất lượng hay giá cả (có thể đó là điều quan tâm số hai hay số ba), mà phải là xấp vải đó được sản xuất từ đâu. Nếu xấp vải đó là hàng nội địa, bà nội trợ đó đã thực sự tiết kiệm trong khuôn khổ tiết kiệm của cộng đồng, vì số tiền của bà chi ra sẽ giúp công nghiệp trong nước tích lũy được một phần vốn, công nhân trong nước hưởng được một phần lương. Phần vốn tích lũy của công nghiệp sẽ có thể giúp công nghiệp trang bị máy móc mới, nâng cao năng suất của công nhân, tuyển dụng thêm công nhân mới. Nếu xấp vải đó là hàng ngoại nhập, cộng đồng không có tiết kiệm, nó đã tiêu xài một phần ngoại tệ dự trữ. Có thể đôi lúc sự xa xỉ ấy cũng cần thiết để “giải nhiệt” cơn sốt lạm phát tại những điểm nóng - các thành thị - của nền kinh tế. Nhưng dùng ngoại tệ để mua hàng tiêu dùng, đối với một cộng đồng đang cần tăng trưởng kinh tế, luôn luôn là một hành động xa xỉ. Bởi vì nền kinh tế đang cần đồng ngoại tệ đó để mua những thứ cần thiết hơn cho sự tăng trưởng của chính nó: công nghệ cao, máy móc thiết bị hiện đại, cơ sở hạ tầng mới Xuất khẩu là hành động tiết kiệm tích cực và hiệu quả nhất của cộng đồng. Hầu hết các con rồng châu Á hiện nay đều đã đi qua cánh cửa tiết kiệm này. Nhưng vượt qua vũ môn xuất khẩu để thành rồng không phải là điều đơn giản. Người dân trong nước phải sẵn sàng hoặc nhịn tiêu thụ hoặc phải trả giá cao cho những mặt hàng mang đi xuất khẩu để những mặt hàng đó có thể được bán trên thị trường nước ngoài với giá rẻ. Họ phải đóng thuế cho những khoản trợ giá xuất khẩu, họ phải chịu thiệt vì tỷ giá đồng tiền trong nước được phá giá một cách cố ý và hơn thế nữa họ phải trả thuế nhiều hơn để những nhà xuất khẩu không phải đóng thuế. Nhưng đó là cái giá phải trả để đất nước một ngày nào đó sẽ hóa rồng. Nhà nước cũng phải thực hành tiết kiệm phù hợp với mục tiêu tăng trưởng kinh tế của cộng đồng dân tộc. Chúng ta đều biết thuế là một công cụ tiết kiệm mạnh mẽ nhất của nhà nước và như vậy cần phải có chiến lược sử dụng chúng với hiệu quả tối đa vào mục tiêu phát triển đất nước. Các khoản chi tiêu không có hiệu quả kinh tế xã hội phải được giảm bớt để
- dành cho các khoản chi tiêu có hiệu quả. Các khoản thuế có nguy cơ làm giảm khả năng tích lũy tái sản xuất mở rộng của các doanh nghiệp cần được miễn giảm. Nếu một đồng thuế thu trên thu nhập doanh nghiệp dẫn đến việc làm giảm đi một đồng đầu tư mới của doanh nghiệp, đồng thuế đó không mang ý nghĩa tiết kiệm của cộng đồng, do đó phải được loại bỏ. Nhưng nếu nhà nước biết tự chế, các ông chủ doanh nghiệp, các cổ đông cũng phải biết tự chế. Công nghiệp của chúng ta đang đi sau các nước trong vùng ít nhất là hai thập kỷ và chúng ta chỉ có thể bắt kịp họ nếu biết dành dụm để mua công nghệ mới. Các doanh nghiệp cần phải biết dành lại một phần lớn số lãi của mình để phát triển công nghệ. Mức lãi chia cho cổ tức bắt buộc phải giảm và đó chính là hành động tiết kiệm có ý nghĩa nhất của các ông chủ doanh nghiệp. Để thực hiện điều này, chính sách thuế thu nhập phải thay đổi. Không thể chỉ đánh một cách tổng quát trên số thu nhập gộp mà cần có thêm những chính sách ưu đãi đặc biệt. Phần lãi của doanh nghiệp được dùng để tái đầu tư phải được miễn trừ, phần cổ tức chia cho các cổ đông phải chịu một mức thuế suất lũy tiến, nghĩa là tỷ lệ phân chia cổ tức trên lãi ròng càng cao, mức thuế suất càng cao. Về phía doanh nghiệp, họ cũng phải thực hành tiết kiệm. Sự hào phóng mà người dân dành cho công nghiệp nội địa qua việc chấp nhận tiêu thụ hàng xấu của họ với giá cao có giới hạn hợp lý của nó là những yếu điểm khách quan hiện tại của công nghiệp như máy móc đang lạc hậu, công nghệ sử dụng thấp, không thể rộng lượng bao gồm cả những khuyết điểm chủ quan của họ như quản lý kém, tiêu cực, tham nhũng. Công nghiệp nội địa không thể tiếp tục lãng phí tài nguyên bằng cách cứ tiếp tục làm ra những sản phẩm tồi và bán cho người tiêu dùng trong nước với giá cao nhờ cơ chế độc quyền. Sử dụng hiệu quả tài nguyên đất nước - tạo ra những sản phẩm có chất lượng ngày càng cao với giá thành ngày càng hạ - chính là hành động tiết kiệm có trách nhiệm của ngành công nghiệp Việt Nam đối với toàn thể cộng đồng dân tộc. Quốc sách tiết kiệm chỉ có thể thành công nếu được sự đồng tình ủng hộ và sự phối hợp hành động của toàn thể thành viên trong cộng đồng: Nhà nước, các chủ doanh nghiệp, các cổ đông, các nhà quản lý, các bà nội trợ Sự đồng lòng đó sẽ có được với lòng yêu nước, với ý thức tự giác của mọi người dân và trong nhiều trường hợp, nó phải đạt được bằng kỷ luật của cộng đồng. Cuộc cạnh tranh kinh tế hiện nay là hết sức quyết liệt và để bảo vệ sự sinh tồn và phát triển của cộng đồng dân tộc, chúng ta phải có hành động quyết liệt. Năm 1995
- Khai thông huyệt đạo cho nền kinh tế Trong phúc trình về tình hình kinh tế Việt Nam trước áp lực của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực đang có nguy cơ lan rộng, Ngân hàng Thế giới (World Bank) đã khuyến cáo rằng Việt Nam không nên trông cậy vào nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài sẽ bị giảm đáng kể trong năm 1999 và chưa biết khi nào phục hồi mà nên quan tâm khơi dậy đồng vốn trong nước. Một giáo sư kinh tế Nhật Bản trong chuyến thăm Việt Nam vừa qua cũng lưu ý đến tình trạng có không dưới 4 tỷ đô la đang nằm ngoài hệ thống ngân hàng Việt Nam và một số lượng vàng với trị giá không kém nằm bất động trong các két sắt hay cất giữ đâu đó trong nhân dân. Ngay từ nhiều tháng trước, chủ trương phát huy nội lực đã được đưa vào nghị quyết của Trung ương và trở thành quốc sách. Gần đây nhất, trong cuộc họp thượng đỉnh với các nhà lãnh đạo các nước trong khối ASEAN, Thủ tướng Phan Văn Khải cũng nhấn mạnh về “mối quan hệ gắn bó giữa nhu cầu phát huy nội lực và hợp tác quốc tế” trong nỗ lực đương đầu với cơn bão tài chính tiền tệ, duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế. Nội lực kinh tế của một nước bao gồm nhiều yếu tố: lao động, tài nguyên, đất đai, kỹ thuật, công nghệ và đồng vốn, trong đó đồng vốn có vai trò rất quan trọng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế được quyết định bởi khối lượng đồng vốn được tích lũy của nền kinh tế và được đưa vào đầu tư. Tuy nhiên, như một võ sư muốn phát huy nội lực phải khai thông các huyệt đạo, nền kinh tế muốn huy động đồng vốn từ bên trong cần phải phá vỡ những tắc nghẽn đang là nguyên nhân khiến nó bị bất động, không sinh sôi nảy nở và không được đưa vào dòng chảy của đầu tư. Điều bất ngờ là trở ngại đầu tiên cho việc khai thông nguồn vốn trong nước nằm ở chỗ cách thức mà người dân trong nước thực hành tiết kiệm. Hành động tiết kiệm là tốt cho nền kinh tế, điều này thấy rõ nét nhất ở Nhật Bản và Hàn Quốc, nhưng nếu tiết kiệm được thực hiện dưới hình thức tàng trữ (hoarding) như cất giữ tiền, vàng trong két sắt hay chôn giấu dưới nền nhà, thì lại cực kỳ nguy hiểm và có tác hại to lớn đến nền kinh tế. Tiết kiệm theo kiểu đó còn tệ hại hơn cả việc tiêu xài hoang phí, vì đồng tiền tiêu xài có thể tạo công ăn việc làm, tạo thu nhập cho người khác, còn đồng tiền cất giữ dưới nệm chỉ mang lại hiệu quả âm đối với nền kinh tế. Tại một nước nông nghiệp, tâm lý trữ vàng là phổ biến. Phá vỡ tắc nghẽn này không hề dễ dàng, nó cần nhiều biện pháp phối hợp thực hiện đồng bộ trong thời gian lâu dài. Giáo dục, tiến trình hội nhập nông thôn thành thị, một hệ thống ngân hàng rộng rãi có mạng lưới đến tận thôn xã, cung ứng các dịch vụ ngân hàng tốt, có uy tín cùng với một chính sách lãi suất hấp dẫn, một nền tảng pháp lý với những cơ chế được thiết lập để bảo vệ an toàn
- tiền gửi của người dân, một đồng bạc được ổn định trong mối tương quan với vàng và ngoại tệ là những biện pháp thiết yếu phải được áp dụng nhằm khắc phục tâm lý trữ vàng và đô la. Muốn đưa những đồng tiền tạm thời nhàn rỗi vào ngân hàng, kể cả đồng đô la, phải có một hệ thống thanh toán tốt. Một số lượng lớn tiền mặt và đô la lưu hành ngoài hệ thống ngân hàng có vai trò kinh tế của nó: đảm bảo nhu cầu thanh toán cho một nền kinh tế mà giá trị giao dịch bằng tiền mặt chiếm gần một nửa tổng giá trị giao dịch. Nhưng đó lại là một lãng phí ghê gớm và gây tắc nghẽn cho việc phát huy nội lực. Mỗi ngày, có đến hàng chục ngàn tỷ đồng nằm bất động chờ đến phiên mình thực hiện chức năng thanh toán. Thử tưởng tượng nếu chúng ta có thể đưa được phân nửa số đó vào hệ thống ngân hàng, nguồn vốn có sẵn để phục vụ cho sự vận hành thường nhật của nền kinh tế sẽ gia tăng bội phần. Và nếu nguồn vốn này được huy động ngày càng lớn với một giá phí thấp, điều này sẽ rất thuận lợi cho việc giảm lãi suất ngân hàng với kết quả mang lại là giúp tăng trưởng tín dụng và đầu tư trong nước. Nhưng hệ thống ngân hàng cũng phải xây dựng một mạng lưới thanh toán không dùng tiền mặt rộng rãi, với những công cụ thanh toán thuận lợi cho người gửi tiền, đặc biệt cho các cá nhân, khả năng phá vỡ tắc nghẽn nói trên mới có thể thành hiện thực. Cho đến nay, điều đáng buồn là chúng ta chưa phổ biến được việc dùng séc đến mọi người dân, kể cả với người thành thị đã từng quen với việc này. Nhu cầu vốn đầu tư cho các doanh nghiệp Việt Nam là một nhu cầu bức xúc. Không thể nói phát huy nội lực nếu các doanh nghiệp trong nước muốn phát triển sản xuất lại không nhận được những nguồn tài trợ trung và dài hạn cho các dự án của mình. Nhưng trong điều kiện hiện nay, các ngân hàng Việt Nam khó có thể đảm đương vai trò tài trợ dự án, một phần vì vốn tự có quá ít ỏi, phần khác vì nguồn vốn huy động của dân đều là ngắn hạn. Huy động được các nguồn vốn trung và dài hạn để có thể thực hiện việc tài trợ trung và dài hạn chính là mơ ước của các ngân hàng Việt Nam, nhưng mơ ước này sẽ không bao giờ thành hiện thực nếu chúng ta không thay đổi cách làm. Không một người dân giàu có trong một nền kinh tế giàu có nào có thể kham nổi việc đồng tiền tiết kiệm của mình sẽ bị bất động trong thời gian dài khi gửi vào ngân hàng hay các định chế tài chính khác. Nhưng tại sao họ lại sẵn sàng mua các loại chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu có thời hạn 3 năm, 5 năm, 10 năm hay thậm chí vô thời hạn, được phát hành bởi các ngân hàng hay các kho bạc tại nước họ? Đơn giản là vì bất cứ lúc nào họ cũng có thể mang bán các công cụ tài chính, các công cụ nợ đó để lấy tiền mặt ngay. Chính nhờ khả năng chuyển nhượng mang tính thanh khoản cần thiết cho các công cụ tài chính mà nền kinh tế các nước công nghiệp phát triển có thể huy động đến tận đồng bạc cuối cùng tích lũy được tại nước họ (thậm chí cả ở nước ngoài). Trong khi đó, trong hệ thống ngân hàng của ta, các công cụ tài chính rất hiếm hoi và hầu hết không chuyển nhượng được. Chúng ta không có thị trường tiền tệ, không có những sản phẩm, công cụ tài chính, công cụ nợ có thể được trao đổi trên thị trường, nên chúng ta không thể huy động được các đồng vốn trung và dài hạn.
- Thực ra không có cái gọi là đồng vốn trung và dài hạn mà chỉ có những sản phẩm tài chính trung và dài hạn mang theo chúng các đồng tiền có bản chất ngắn hạn vì phải đáp ứng nhu cầu thanh khoản của nền kinh tế. Mỗi ngày, mỗi ngân hàng đều phải chấp nhận bị đóng băng một khoản tiền mặt khá lớn để duy trì một mức thanh khoản an toàn. Con số này lên đến hàng ngàn tỷ đồng. Nếu có một thị trường tiền tệ liên ngân hàng, các khoản tiền này sẽ dễ dàng được đưa vào thị trường và tuy các khoản vay mượn trên thị trường tiền tệ có tính chất ngắn hạn, một thị trường tiền tệ liên ngân hàng sẽ giúp các ngân hàng gia tăng nguồn cung ứng tín dụng ngắn hạn và dài hạn cho các doanh nghiệp. Mặc khác, yêu cầu phát huy nội lực còn có một đòi hỏi rất cấp bách là làm tan băng các khoản nợ tín dụng quá hạn và khó đòi. Trong cơn sốt đầu tư phát triển sản xuất (xây dựng nhà xưởng, mua máy móc thiết bị) và đặc biệt là đầu tư bất động sản (mua đất, xây nhà để kinh doanh) kéo dài gần 5 năm qua, hàng vạn tỷ đồng tín dụng của các ngân hàng Việt Nam đã bị chết cứng trong hàng ngàn căn nhà, kho tàng, xưởng máy, hàng triệu mét vuông đất. Những khoản nợ này cần được làm sống dậy, bằng cách tạo cho chúng tính lưu động cần thiết qua việc phát hành những công cụ nợ. Các ngân hàng cần được cho phép phát hành các loại trái phiếu bất động sản có thể chuyển nhượng được dựa trên giá trị tài sản mà chúng đại diện. Nhưng trước hết và quan trọng hơn hết là các biện pháp kích thích sự luân chuyển các tài sản đó: thị trường bất động sản cần được xây dựng dựa trên hiến pháp và luật pháp cùng với một cơ chế thủ tục pháp lý linh hoạt giúp cho việc chuyển nhượng bất động sản dễ dàng hơn. Cũng cần xây dựng sớm một kênh mới nhằm đưa dòng vốn trực tiếp từ người dân đến các doanh nghiệp. Từ lâu chúng ta đã ráo riết chuẩn bị việc thiết lập thị trường chứng khoán, tuy nhiên có lẽ do ảnh hưởng của cơn bão tài chính tiền tệ khu vực, việc ra đời của thị trường chứng khoán bị chậm lại. Thời gian đình hoãn này là dịp thuận tiện để củng cố các cơ sở pháp lý đảm bảo an toàn cho các hoạt động trên thị trường, tăng cường huấn luyện nhân sự và đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp, không phải chỉ doanh nghiệp Nhà nước mà cả doanh nghiệp tư nhân. Vạn vật có vận động mới tăng trưởng. Kinh Dịch nói: “Do biến hóa không ngừng nên đức mới thịnh”. Điều này không những đúng trong các định luật vật lý mà còn đúng với các quy luật xã hội, như trong kinh tế học. Nền kinh tế chỉ có thể tăng trưởng nhanh khi nào các hoạt động kinh tế vận hành thông suốt, không trở ngại. Giá trị của các loại tài sản, hàng hóa trong nền kinh tế được gia tăng chính là nhờ sự vận động (tức là khả năng trao đổi, chuyển nhượng) của các loại tài sản, hàng hóa đó. Do vậy, muốn phát huy nội lực kinh tế đất nước, trước hết cần phải khai thông dòng chảy cho các yếu tố của nội lực. Ngày 11/2/1999
- Cần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế Kích cầu là một chủ trương lớn của Chính phủ nhằm tháo gỡ khó khăn của nền kinh tế nước ta do các nguyên nhân nội tại và ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực. Sau hai tháng thực hiện chủ trương này với nhiều biện pháp khác nhau, sức mua xã hội vẫn thấp, áp lực giảm phát vẫn còn đè nặng, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/1999 chỉ tăng ở mức 0,4%. Có hai nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng tốc độ tăng trưởng kinh tế bị chậm lại. Nguyên nhân thứ nhất là việc thắt chặt chính sách tiền tệ với mục tiêu kiềm chế lạm phát. Nguyên nhân thứ hai là sự sút giảm khối lượng đầu tư và hiệu suất đầu tư, dẫn đến tình trạng giảm số lượng lao động thu dụng trong nền kinh tế, giảm thu nhập bình quân đầu người và hậu quả là giảm chi tiêu cả đầu tư lẫn tiêu dùng. Sự sút giảm đầu tư và hiệu quả đầu tư bắt đầu từ khu vực kinh tế Nhà nước và lan truyền sang các khu vực khác bởi hiệu ứng dây chuyền. Mặt khác, hội nhập kinh tế khu vực đang khiến nước ta nhập khẩu một cách bất đắc dĩ các tác động suy thoái từ các nước láng giềng. Tốc độ tăng trưởng GDP của nước ta bị chững lại trong hai năm 1998 và 1999 có thể là hậu quả tổng hợp của các nguyên nhân nói trên. Trước hết và quan trọng hơn hết là tình trạng sút giảm đầu tư trong nước và nước ngoài, đặc biệt là đầu tư nước ngoài mà các dấu hiệu rõ nét có thể thấy được từ đầu năm 1998. Năm 1998, vốn cam kết đầu tư nước ngoài chỉ còn 1,7 tỷ đô la so với 4,4 tỷ đô la năm 1997 và 7,7 tỷ đô la năm 1996. Trong khi đó, vốn đầu tư nước ngoài thực hiện năm 1998 chỉ là 800 triệu đô la so với 2 tỷ đô la năm 1997 và 1,9 tỷ đô la năm 1996. Đầu tư mới để cải tiến thiết bị, máy móc của các doanh nghiệp trong nước cũng sụt giảm, hậu quả của tình trạng lỗ lã kéo dài và nợ đóng băng tại các xí nghiệp quốc doanh lẫn tư doanh. Theo một báo cáo mới đây của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) về tình hình kinh tế Việt Nam, có đến 60% các doanh nghiệp quốc doanh bị lỗ, trong đó có 16% thua lỗ triền miên. Tình trạng các xí nghiệp tư doanh cũng không khá hơn. Trong năm 1998 và sáu tháng đầu năm 1999, đã có hàng ngàn xí nghiệp vừa và nhỏ thua lỗ phải đóng cửa, trả giấy phép, nhiều xí nghiệp tư doanh lớn phải giảm số lượng công nhân, hoạt động cầm chừng. Trong khu vực nông nghiệp, mặc dù năng suất, sản lượng có tăng nhưng giá nông phẩm lại rất bấp bênh khiến thu nhập bình quân của nông dân năm 1998 tính theo đô la Mỹ không tăng so với năm 1997. Mặc khác, tiến trình cơ giới hóa nông nghiệp đã làm tăng số lao động dư thừa ở nông thôn và việc chậm thực hiện các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng cùng với tình hình giảm sút đầu tư trong công nghiệp đã làm mất đi cơ hội có được công ăn việc làm của số người đến tuổi lao động tại các thành thị.



