Đề cương bài giảng Phong cách học tiếng Việt hiện đại (Phần 1)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề cương bài giảng Phong cách học tiếng Việt hiện đại (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
de_cuong_bai_giang_phong_cach_hoc_tieng_viet_hien_dai_phan_1.pdf
Nội dung text: Đề cương bài giảng Phong cách học tiếng Việt hiện đại (Phần 1)
- NGUYỄN THẾ TRUYỀN ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG PHONG CÁCH HỌC TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 02/2013 0
- MỤC LỤC MỤC LỤC 1 PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 10 I. PHONG CÁCH VÀ PHONG CÁCH HỌC 10 1. PHONG CÁCH (STYLE) 10 2. PHONG CÁCH HỌC (STYLISTICS) 10 II. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHONG CÁCH HỌC 11 1. LỊCH SỬ PHONG CÁCH HỌC TRÊN THẾ GIỚI 11 2. LỊCH SỬ PHONG CÁCH HỌC Ở VIỆT NAM 15 III. ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA PHONG CÁCH HỌC 18 1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 18 2. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 20 IV. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA PHONG CÁCH HỌC 25 1. MÀU SẮC TU TỪ (STYLISTIC COLOUR) 25 2. PHONG CÁCH CHỨC NĂNG (FUNCTIONAL STYLES) 29 3. PHÉP TU TỪ (figure of speech; rhetorical figure of speech) 31 V. CÁC LOẠI PHONG CÁCH HỌC 32 1. Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu 32 2. Căn cứ vào bình diện nghiên cứu 32 3. Căn cứ vào hướng nghiên cứu 32 4. Căn cứ vào tính chất lý thuyết hay thực hành 32 VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA PHONG CÁCH HỌC 33 1. PHƯƠNG PHÁP SO SÁNH – ĐỐI CHIẾU 33 2. PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ 34 PHẦN II CÁC PHONG CÁCH CHỨC NĂNG CỦA TIẾNG VIỆT 38 CHƯƠNG I PHONG CÁCH KHẨU NGỮ 38 1. KHÁI NIỆM 38 1.1. Tên gọi 38 1.2. Định nghĩa 38 1.3. Các nhân tố giao tiếp chi phối đặc điểm phong cách 39 1.4. Dạng thức ngôn ngữ 39 2. CHỨC NĂNG 39 3. ĐẶC TRƯNG 40 3.1. Tính tự nhiên 40 3.2. Tính cảm xúc 40 3.3. Tính cụ thể 40 3.4. Tính cá thể 40 4. ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ 41 4.1. Ngữ âm 41 4.2. Từ ngữ 41 4.3. Ngữ pháp 41 1
- 4.4. Tu từ 41 4.5. Kết cấu diễn ngôn 42 CHƯƠNG II PHONG CÁCH HÀNH CHÍNH (ADMINISTRATIVE STYLE)44 1. KHÁI NIỆM 44 1.1. Tên gọi 44 1.2. Định nghĩa 44 1.3. Các nhân tố giao tiếp chi phối đặc điểm phong cách 44 1.4. Dạng thức ngôn ngữ 45 2. CHỨC NĂNG 45 3. ĐẶC TRƯNG 45 3.1. Tính nghiêm túc – khách quan 45 3.2. Tính chính xác – minh bạch 46 3.3. Tính khuôn mẫu 46 4. ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ 47 4.1. Ngữ âm, chữ viết, hình thức trình bày 47 4.2. Từ ngữ 48 4.3. Ngữ pháp 48 4.4. Tu từ 48 4.5. Kết cấu văn bản 49 5. CÁC THỂ LOẠI TIÊU BIẺU 50 5.1. Văn bản hành chính – pháp luật 50 5.2. Văn bản hành chính – ngoại giao 50 5.3. Văn bản hành chính quân sự 51 5.4. Văn bản văn thư (đơn từ, biên bản, hợp đồng, báo cáo, thông tư, công văn, quyết định, . . .) 51 CHƯƠNG III PHONG CÁCH KHOA HỌC (SCIENTIFIC STYLE) 52 1. KHÁI NIỆM 52 1.1. Tên gọi 52 1.2. Định nghĩa 52 1.3. Các nhân tố giao tiếp chi phối đặc điểm phong cách 52 1.4. Dạng thức ngôn ngữ 52 2. CHỨC NĂNG 53 3. ĐẶC TRƯNG 53 3.1. Tính trừu tượng – khái quát 53 3.2. Tính chính xác 53 3.3. Tính khách quan 53 4. ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ 54 4.1. Ngữ âm, chữ viết 54 4.2. Từ ngữ 54 4.3. Ngữ pháp 54 4.4. Tu từ 54 4.5. Kết cấu văn bản 55 5. CÁC THỂ LOẠI TIÊU BIỂU 55 5.1. Báo cáo khoa học 55 2
- 5.2. Tiểu luận 55 5.3. Luận văn 55 5.4. Sách giáo khoa 55 5.4. Chuyên luận 55 CHƯƠNG IV PHONG CÁCH BÁO CHÍ 56 1. KHÁI NIỆM 56 1.1. Tên gọi 56 1.2. Định nghĩa 56 1.3. Các nhân tố giao tiếp chi phối phong cách 56 1.4. Dạng thức ngôn ngữ 57 2. CHỨC NĂNG 57 3. ĐẶC TRƯNG 58 3.1. Tính thời sự 58 3.2. Tính hấp dẫn 58 3.3. Tính đại chúng 58 3.4. Tính ngắn gọn 58 3.5. Tính cụ thể, xác thực 59 4. ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ 59 4.1. Ngữ âm 59 4.2. Từ ngữ 59 4.3. Ngữ pháp 59 4.4. Tu từ 59 4.5. Kết cấu văn bản 59 5. CÁC THỂ LOẠI TIÊU BIỂU 59 5.1. Bản tin 59 5.2. Phóng sự 60 5.3. Phỏng vấn 61 5.3. Tiểu phẩm 61 5.4. Quảng cáo 61 CHƯƠNG V PHONG CÁCH CHÍNH LUẬN (SOCIAL–POLITICAL STYLE) 68 1. KHÁI NIỆM 68 1.1. Tên gọi 68 1.2. Định nghĩa 68 1.3. Các nhân tố giao tiếp chi phối đặc điểm phong cách 68 1.4. Dạng thức ngôn ngữ 69 2. CHỨC NĂNG 69 3. ĐẶC TRƯNG 69 3.1. Tính truyền cảm 69 3.3. Tính hùng biện 70 3.1. Tính đại chúng 70 4. ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ 70 4.1. Ngữ âm 70 4.2. Từ ngữ 71 3
- 4.3. Ngữ pháp 71 4.4. Tu từ 71 4.5. Kết cấu văn bản 71 5. CÁC THỂ LOẠI TIÊU BIỂU 72 5.1. Diễn văn 72 5.2. Điếu văn 72 5.3. Hịch 72 5.4. Cáo 72 5.5. Chiếu 72 5.6. Tuyên ngôn 72 5.7. Lời kêu gọi 72 5.8. Bài phát biểu 72 5.9. Xã luận 72 5.10. Bài phê bình 72 CHƯƠNG VI PHONG CÁCH VĂN CHƯƠNG (BELLETRISTIC STYLE) 75 1. KHÁI NIỆM 75 1.1. Tên gọi 75 1.2. Những quan điểm khác nhau về ngôn ngữ văn chương 75 1.3. Định nghĩa 75 1.4. Những nhân tố giao tiếp chi phối đặc điểm phong cách 76 2. CHỨC NĂNG 76 2.1. Thông báo 76 2.2. Thẩm mỹ 76 2.3. Trao đổi tư tưởng tình cảm (giao tiếp) 77 3. ĐẶC TRƯNG 77 3.1. Tính hình tượng 77 3.2. Tính truyền cảm 77 3.3. Tính cá thể hóa (phong cách ngôn ngữ cá nhân) 78 3.4. Tính tổng hợp 78 4. ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ 78 4.1. Ngữ âm 78 4.2. Từ ngữ 78 4.3. Ngữ pháp 80 4.4. Tu từ 80 4.5. Kết cấu văn bản 80 5. CÁC THỂ LOẠI TIÊU BIỂU 80 5.1. Truyện ngắn 80 5.2. Tiểu thuyết 81 5.3. Bút ký 81 5.4. Tuỳ bút 81 5.5. Thơ 81 5.6. Kịch 81 PHẦN III GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA CÁC PHƯƠNG TIỆN NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT 87 4
- CHƯƠNG I GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA CÁC PHƯƠNG TIỆN NGỮ ÂM TIẾNG VIỆT 87 I. MỐI QUAN HỆ GIỮA MẶT NGỮ ÂM VÀ Ý NGHĨA CỦA MỘT TÍN HIỆU NGÔN NGỮ 87 1. Nguyên lý về tính võ đoán của ngôn ngữ 87 2. Tính tương đối của nguyên lý võ đoán 87 II. GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA CÁC PHƯƠNG TIỆN NGỮ ÂM TIẾNG VIỆT 88 1. ÂM TIẾT (SYLLABLE) 88 2. THANH ĐIỆU (TONALITY, TONE) 89 3. NGUYÊN ÂM (VOWEL) 92 4. PHỤ ÂM (CONSONANT) 93 5. CÁC KHUÔN BIỂU TRƯNG NGỮ ÂM (SOUND SYMBOLISM) 95 CHƯƠNG II GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA CÁC PHƯƠNG TIỆN TỪ VỰNG TIẾNG VIỆT 97 I. MỘT SỐ LỚP TỪ PHÂN LOẠI THEO MÀU SẮC PHONG CÁCH 97 1. TỪ ĐA PHONG CÁCH (POLYSTYLISTIC WORD) 98 2. TỪ ĐƠN PHONG CÁCH (MONOSTYLISTIC WORD) 99 II. MỘT SỐ LỚP TỪ PHÂN LOẠI THEO SẮC THÁI TU TỪ 112 1.TỪ NGỮ TRANG TRỌNG 112 2.TỪ NGỮ KIỂU CÁCH 114 3. TỪ NGỮ THÔNG TỤC 115 III. MỘT SỐ LỚP TỪ (THEO CÁCH PHÂN LOẠI CỦA TỪ VỰNG HỌC) CÓ MÀU SẮC TU TỪ ĐẶC BIỆT 115 1. TỪ XƯNG HÔ 115 2. TỪ HÁN VIỆT 118 3. TỪ LÁY 120 4. THÀNH NGỮ 122 5. TỪ ĐỊA PHƯƠNG (DIALECT WORD) 124 I. CÁC KIỂU CÂU PHÂN LOẠI THEO MÀU SẮC PHONG CÁCH 126 1. KIỂU CÂU ĐA PHONG CÁCH (POLYSTYLISTIC SENTENCE) 126 2. KIỂU CÂU ĐƠN PHONG CÁCH (MONOSTYLISTIC SENTENCE) 126 II. MỘT SỐ LOẠI CÂU (THEO CÁCH PHÂN LOẠI CỦA NGỮ PHÁP HỌC) CÓ MÀU SẮC TU TỪ ĐẶC BIỆT 130 1. CÂU TỈNH LƯỢC (ELLIPTICAL SENTENCE) 130 2. CÂU ĐẶC BIỆT (SPECIAL SENTENCE) 131 3. CÂU CHUYỂN ĐỔI TÌNH THÁI 132 4. CÂU ĐẲNG THỨC 134 III. GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA CÂU XÉT THEO ĐỘ DÀI 134 1. CÂU NGẮN 135 2. CÂU DÀI 135 PHẦN IV CÁC PHÉP TU TỪ CỦA TIẾNG VIỆT 136 CHƯƠNG I CÁC PHÉP TU TỪ NGỮ ÂM 136 5
- I. TƯỢNG THANH (ONAMATOPOEIA) 136 1. Khái niệm 136 2. Phân loại 136 II. ĐIỆP THANH 138 1. Khái niệm 138 2. Phân loại 138 III. ĐIỆP PHỤ ÂM ĐẦU 138 1. Khái niệm 138 2. Phân loại 139 IV. ĐIỆP VẦN 139 1. Khái niệm 139 2. Phân loại 139 V. HÀI ÂM (EUPHONY) 140 CHƯƠNG II CÁC PHÉP TU TỪ TỪ VỰNG – NGỮ PHÁP 142 A. NHÓM LIÊN TƯỞNG TƯƠNG ĐỒNG 143 I. SO SÁNH (SIMILE) 143 1. Khái niệm 143 2. Cấu tạo 143 3. Phân loại 143 4. Tác dụng 145 5. Lưu ý 145 II. ẨN DỤ (METAPHOR) 148 1. Khái niệm 148 2. Cấu tạo 148 3. Phân loại 148 4. Tác dụng 149 5. Lưu ý 150 III. ẨN DỤ BỔ SUNG (Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác) 151 1. Khái niệm 151 2. Tác dụng 152 3. Lưu ý 152 IV. NHÂN HOÁ (PERSONIFICATION) 152 1. Khái niệm 152 2. Phân loại 152 3. Tác dụng 153 V. VẬT HOÁ (REIFICATION) 156 1. Khái niệm 156 2. Phân loại 156 3. Tác dụng 156 VI. PHÚNG DỤ (ALLEGORY) 157 1. Khái niệm 157 2. Cấu tạo 157 3. Tác dụng 157 VII. ĐỊNH NGỮ NGHỆ THUẬT (ÉPITHÈTE ARTISTIQUE) 158 6
- 1. Khái niệm 158 2. Phân loại 159 3. Tác dụng 159 B. NHÓM LIÊN TƯỞNG TƯƠNG CẬN 160 I. HOÁN DỤ (METONYMY) 160 1. Khái niệm 160 2. Cấu tạo 160 3. Phân loại 160 4. Tác dụng 162 5. Lưu ý 162 II. CẢI DUNG (SYNECDOCHE) 163 III. CẢI DANH 163 IV. CẢI SỐ 163 I. TƯỢNG TRƯNG (SYMBOLISM) 164 1. Khái niệm 164 2. Phân loại 164 II. KHOA TRƯƠNG (HYPERBOLE) 164 1. Khái niệm 164 2. Cấu tạo 165 3. Phân loại 165 4. Tác dụng 165 III. NÓI GIẢM (LITOTES, MEIOSIS) 166 1. Khái niệm 166 2. Cấu tạo 167 3. Phân loại 167 IV. UYỂN NGỮ (EUPHEMISM, DYSPHEMISM) 168 1. Khái niệm 168 2. Cấu tạo 168 3. Phân loại 168 4. Tác dụng 168 5. Lưu ý 168 V. NHÃ NGỮ 169 1. Khái niệm 169 2. Cấu tạo 169 3. Phân loại 169 4. Lưu ý 169 D. NHÓM QUY CHIẾU VỀ DIỄN NGÔN NGUỒN 170 I. CHƠI CHỮ (PUN) 171 1. Khái niệm 171 2. Cấu tạo 171 3. Phân loại 171 II. NÓI LÁI (SPOONERISM) 175 1. Khái niệm 175 2. Cấu tạo 175 7
- 3. Phân loại 175 4. Tác dụng 176 III. DẪN NGỮ 177 1. Khái niệm 177 2. Phân loại 177 3. Tác dụng 178 IV. NHẠI (PARODY) 179 1. Khái niệm 179 2. Phân loại 179 V. TẬP KIỀU 181 1. Khái niệm 181 2. Phân loại 181 3. Tác dụng 183 E. NHÓM TRẬT TỰ CẤU TRÚC KHÁC THƯỜNG 184 I. ĐIỆP NGỮ (REPETITION) 184 1. Khái niệm 184 2. Phân loại 184 3. Tác dụng 186 II. ĐIỆP HƯ TỪ 189 1. Khái niệm 189 2. Phân loại 189 3. Tác dụng 190 III. ĐIỆP CÚ PHÁP 190 1. Khái niệm 190 2. Phân loại 191 3. Tác dụng 192 IV. SÓNG ĐÔI CÚ PHÁP (PARALLELISM) 192 1. Khái niệm 192 2. Lịch sử hình thành và phát triển 193 3. Tác dụng 194 V. ĐẢO NGỮ (INVERSION) 195 1. Khái niệm 195 2. Phân loại 195 3. Tác dụng 196 VI. TƯƠNG PHẢN (ANTITHESIS) 197 1. Khái niệm 197 2. Cấu tạo 197 3. Phân loại 197 4. Tác dụng 197 VII. ĐẢO ĐỐI 198 1. Khái niệm 198 2. Tác dụng 198 VIII. NGHỊCH NGỮ 199 1. Khái niệm 199 8
- 2. Cấu tạo 199 3. Phân loại 199 4. Tác dụng 200 IX. ĐỒNG NGHĨA KÉP 202 1. Khái niệm 202 2. Tác dụng 202 X. LIỆT KÊ (ENUMERATION) 203 1. Khái niệm 203 2. Phân loại 203 3. Tác dụng 203 XI. TĂNG CẤP 204 1. Khái niệm 204 2. Cấu tạo 204 3. Phân loại 205 4. Tác dụng 205 XII. ĐỘT GIÁNG 206 1. Khái niệm 206 2. Tác dụng 207 XIII. IM LẶNG (ELLIPSIS) 207 1. Khái niệm 207 2. Phân loại 208 3. Tác dụng 208 XIV. TÁCH BIỆT CÚ PHÁP 210 1. Khái niệm 210 2. Phân loại 211 3. Tác dụng 211 XV. CÂU TUẦN HOÀN (PERIOD, PERIODIC SENTENCE) 212 1. Khái niệm 212 2. Tác dụng 212 F. NHÓM CHUYỂN NGHĨA CẤU TRÚC 213 I. CÂU HỎI TU TỪ (RHETICAL QUESTION) 213 1. Khái niệm 213 2. Phân loại 213 3. Tác dụng 214 4. Lưu ý 215 II. NÓI MỈA (IRONY) 216 1. Khái niệm 216 2. Cấu tạo 216 3. Tác dụng 216 TÀI LIỆU THAM KHẢO 220 9
- PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG I. PHONG CÁCH VÀ PHONG CÁCH HỌC 1. PHONG CÁCH (STYLE) “Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học (Hoàng Phê chủ biên) định nghĩa từ phong cách: “Phong cách d. 1. Những lối, những cung cách sinh hoạt, làm việc, hoạt động, xử sự tạo nên cái riêng của một người hay một loại người nào đó (nói tổng quát). Phong cách lao động mới. Phong cách lãnh đạo. Phong cách quan nhân. Phong cách sống giản dị. 2. Những đặc điểm có tính chất hệ thống về tư tưởng và nghệ thuật, biểu hiện trong sáng tác của một nghệ sĩ hay trong sáng tác nói chung thuộc cùng một thể loại (nói tổng quát). Phong cách của một nhà văn. Phong cách văn học nghệ thuật. 3. Dạng của ngôn ngữ sử dụng trong những yêu cầu chức năng điển hình nào đó, khác với những dạng khác về từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm. Phong cách ngôn ngữ khoa học, Phong cách chính luận. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.” [Hoàng Phê chủ biên 2006, 782] Quan điểm của giáo trình: Phong cách: là nét riêng của một đối tượng, có tính ổn định, lặp đi lặp lại, tạo thành đặc trưng riêng, bản sắc riêng của đối tượng đó. Phong cách ngôn ngữ: là nét riêng về sử dụng ngôn ngữ của một chủ thể (một cá nhân, một tầng lớp, một dân tộc, một thời đại, ) hoặc của một lĩnh vực giao tiếp (hành chính, báo chí, khoa học, ). Định nghĩa của Phan Ngọc về phong cách: “Phong cách là sự lặp đi lặp lại của một chùm nét khu biệt” [Phan Ngọc 1985, 9] “Phong cách là một cấu trúc hữu cơ của tất cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu, hình thành một cách lịch sử, và chứa đựng một giá trị lịch sử, có thể cho phép ta nhận diện một thời đại, một thể loại hay một tác giả.” [Phan Ngọc 1985, 22] 2. PHONG CÁCH HỌC (STYLISTICS) Phong cách học: “là một bộ phận của ngôn ngữ học nghiên cứu các nguyên tắc và quy luật lựa chọn và hiệu quả lựa chọn. sử dụng toàn bộ các phương tiện ngôn ngữ nhằm biểu hiện một nội dung tư tưởng và tình cảm nhất định trong những phong cách chức năng ngôn ngữ nhất định” [Cù Đình Tú 2001, 21-22] Đây là khoa học nghiên cứu về sử dụng ngôn ngữ một cách nghệ thuật, nói khác đi đó là “khoa học nghiên cứu các quy luật nói viết có hiệu lực” [Cù Đình Tú 2001, 17]. 10
- Đinh Trọng Lạc: “Trên những nét chung nhất, phong cách học được hiểu là khoa học về các quy luật nói và viết có hiệu lức cao.” [Đinh Trọng Lạc 1999, 3] Nguyễn Nguyên Trứ: Phong cách là “một khoa học về khả năng và hiệu lực của ngôn ngữ trong hoạt động biểu đạt.” [Nguyễn Nguyên Trứ 1988, 6] Phan Ngọc: “Phong cách học là khoa học khảo sát các kiểu lựa chọn và tính biểu cảm của các lựa chọn ấy” [Phan Ngọc 1985, 15] Xét theo nhiệm vụ nghiên cứu, có thể định nghĩa: Phong cách học là bộ môn của ngôn ngữ học, nghiên cứu về các phong cách ngôn ngữ, giá trị biểu đạt của các phương tiện ngôn ngữ và những cách thức diễn đạt có hiệu quả cao. Định nghĩa rộng nhất về Phong cách học: Khoa học về nghệ thuật diễn đạt. Sự khác biệt giữa phong cách học với các bộ mộn ngôn ngữ khác có thể hình dung qua sơ đố sau: Bảng 1: Sự khác biệt giữa Phong cách học với các bộ môn ngôn ngữ học khác về góc độ nghiên cứu CẤU TRÚC – HỆ THỐNG CÁCH THỨC SỬ DỤNG Ngữ âm học Từ vựng học Ngữ pháp học Phong cách học “Phong cách học khảo sát các kiểu thay thế, nhằm đưa ra những phán đoán giá trị (jugements de va leur), trong lúc đó các bộ môn khác của ngôn ngữ học đưa ra những phán đoán hiện thực (jugements de réalité)” [Phan Ngọc 1985, 17] Về tên gọi bộ môn: Trước đây: Tu từ học (Rhetoric). Thuật ngữ Tu từ học thường bị hiểu quá hẹp trong phạm vi tu sức ngôn từ (sửa chữa lời nói, câu văn cho đẹp, cho hấp dẫn). Hiện nay: Phong cách học (Stylistics). Tuy vậy nhiều người vẫn gọi là Tu từ học hoặc Phong cách học và Tu từ học (!). II. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHONG CÁCH HỌC 1. LỊCH SỬ PHONG CÁCH HỌC TRÊN THẾ GIỚI 1.1. Tu từ học cổ điển (Classical Rhetoric) Phong cách học đã có cách đây 2.500 năm, khởi nguồn từ Tu từ học (Rhetoric, còn gọi là Mỹ từ pháp). Nghĩa của hai chữ “Tu từ” là “trau đồi, sửa chữa lời nói”. “Ở phương Đông, từ xưa hai tiếng “Tu từ” đã là từ ngữ quen dùng. Câu ‘Tu từ lập kỳ thành” trong Kinh dịch được nhiều người biết đến. Những quan niệm như “Thuyết lý chi từ bất khả bất tu” đã trở thành câu nói cửa miệng của các nhà nho. Song mãi đến đời Nguyên (Trung Quốc), “Tu từ” mới thực sự là một chuyên thư. Đó là cuốn “Tu từ giám hoành” của Vương Cấu. Ở Trung Quốc, sau cuộc vận động Ngũ tứ [1919], thuật ngữ “Tu từ học” được dùng để dịch thuật ngữ Rê-tô-rich” (tiếng Pháp La rhétorique). Và sau đó còn được dùng để dịch thuật ngữ “Sty-lis-tich” (tiếng Pháp : La stylistique).” 11
- [Nguyễn Nguyên Trứ 1988, 5] Ghi chú: (1). Tu từ lập kỳ thành (修 辭 立 其 誠). Nguyên văn là: Tu từ lập kỳ thành (修 辭 立 其 誠), sở dã cử nghiệp dã. Nghĩa là: Sửa lời nói, dựng điều thành thực là có thể tích súc công danh sự nghiệp. (Kinh Dịch: Quẻ Kiền, Văn ngôn, hào Cửu tam) (2). Thuyết lý chi từ bất khả bất tu (說理之詞, 不可不修): Lời lẽ biện luận, thuyết giải không thể không trau chuốt, gọt giũa. Ở phương Tây, lịch sử nghiên cứu tu từ đã có cách đây 2.500 năm, từ thời Aristote (A- ri-xtốt, Hy Lạp) với khoa Tu từ học (Rhetoric, Rhétorique, Mỹ từ pháp). Aristote (384-322 TCN) là người đã từng viết một quyển sách rất nổi tiếng là Tu từ học. Kế tục các nhà Tu từ học Hy Lạp, các nhà hùng biện, học giả nồi tiếng của La Mã như Cicéron (Xi-xê-rông, 106-43 tr.CN), Quinitilien (30-100 s. CN) và các nhà thơ như Horace (Hô-ra-xơ, 65-8 tr. CN), Virgile (Viếc-gin, 70-19 tr.CN) đã đóng góp những thành tựu mới cho Tu từ học. Thời Trung cổ ở châu Âu, Tu từ học trở thành môn bắt buộc trong tam khoa (Trivium) ở nhà trường: biện chứng pháp (lôgic học), ngữ pháp, mỹ từ pháp. Thời Phục hưng, các nhá thơ nhà văn nổi tiếng tiếp tục đóng góp thêm cho sự phát triển cho Tu từ học thực hành và lý thuyết như Dante (Đan-tê, 1265-1321), Shakespeare (Sếch-xpia, 1564-1616), Fénelon (1651- 1715), Boileau (Boa-lô, 1636-1711), Hugo (Huy-gô, 1806-1885), Tu từ học cổ điển có vị trí vẻ vang trong nhiều thế kỷ, đóng vai trò người thầy hướng dẫn cho thuật hùng biện, cho sáng tác và phê bình văn học. 1.2. Thành tựu của Tu từ học cổ điển Gồm 4 phương diện: + Nghệ thuật diễn đạt ngôn ngữ + Sự phân chia các thể loại văn học + Danh mục các phương thức tu từ + Phân loại các phong cách ngôn ngữ 1.2.1. Nghệ thuật diễn đạt ngôn ngữ Tu từ (Rhétorique) là một nghệ thuật, một khoa học diễn đạt, nâng ngôn ngữ tự nhiên phuc vụ đời sống hằng ngày thành một phương pháp trình bày tư tưởng một cách có hệ thống trên một quy mô lớn với một phạm vi rộng (buổi diễn thuyết trước công chúng; cuộc tranh luận về tư tưởng, học thuật; tranh cãi pháp lý trước toà án; tranh luận trong nghị viện). Theo tu từ học cổ điển, nghệ thuật trình bày tư tưởng (nói hay viết) đòi hỏi người phát ngôn phải tuân theo 4 bước sau đây: (1) Cấu tứ (Invention) Tìm ra những luận cứ, luận điểm và luận chứng xung quanh một vấn đề trình bày. (Phát minh ý tưởng) (2) Bố cục (Disposition) Sắp xếp ý tứ, luận điểm thành một hệ thống có trật tự trước sau. Có 2 loại trật tự: + trật tự lôgic (văn nghị luận) 12
- + trật tự cảm xúc (thơ trữ tình) (3) Diễn ngôn (Elocution) Là cách diễn đạt bằng lời nói trước cử toạ sao cho rõ ràng, hấp dẫn, thuyết phục. (4) Hành vi (Action) Gồm ngữ điệu (mạnh yếu, lên giọng, xuống giọng, ) cử chỉ, điệu bộ, vẻ mặt, sao cho phù hợp với nội dung và thể hiện được tình cảm của người trình bày. Cơ cấu của bài văn: Tu từ học cổ điển yêu cầu một bài văn đầy đủ phải có 5 phần: + Nhập đề + Phân tích + Khẳng định + Phản bác + Kết luận 1.2.2. Sự phân chia các thể loại văn học Lý thuyết phân chia thể loại dựa vào mẫu mực trong cuốn Tu từ học của Aristote và Nghệ thuật thơ ca của Horace. Kết quả phân loại: + Thơ (5 thể loại): thơ trữ tình, anh hùng ca, kịch thơ, giáo huấn ca, thơ mục đồng (thơ đồng quê) + Văn xuôi (4 thể loại): thể hùng biện (diễn văn, điếu văn), thể lịch sử (biên niên sử, hồi ký, dã sử), thể giáo huấn văn xuôi (văn triết học, văn phê bình, ), thể lãng mạn (truyện phiêu lưu, truyện hoang đường, truyện phong tục, ) 1.2.3. Danh mục các phương thức tu từ Tu từ học cổ điển để lại một kho tàng phong phú về các phương thức tu từ (figures) với hàng trăm phương thức mà tên gọi rối rắm, lẫn lộn thuật ngữ Hy Lạp với Latinh. Phương thức tu từ Phương thức tu từ Phương thức tu từ Phương thức tu từ ngữ âm từ vựng ngữ pháp tư duy (tập trung vào phép (figures de pensée) chuyển nghĩa Tropes) đảo âm, thêm từ vĩ, a/ nhóm ẩn dụ: ẩn dụ, đảo trí (đảo ngữ), ẩn nghi vấn tu từ, cảm lược âm, phiên âm, phúng dụ, nhân hoá, ngữ, trùng cú, liên thám, thông báo, dự hợp âm, đoạn vĩ, lược hoạt dụ, hoán trạng, tục, chiếu ứng, đối báo, cầu khiến, xuyết, đoản súc, cú, phân nghĩa giới nhượng bộ, liệt kê, b/ nhóm hoán dụ: từ, tăng cấp, phép treo, hoán dụ, cải danh, cải nói lửng, ngắt câu, dung, cải số nói ngoa, nói giảm, nói vòng (uyển ngữ), *) điệp ngữ, đảo ngữ, nhược hoá, ẩn ý, cảm phản ngữ, phản cú hoán ngữ, đối ngẫu, 13
- 1.2.4. Phân loại các phong cách ngôn ngữ Người La Mã không tách rời hai khái niệm phong cách (style) và giọng cơ bản (tone). Các nhà tu từ học cổ điển căn cứ vào các tác phẩm của Virgile phân chia ngôn ngữ thành 3 phong cách: + phong cách giản dị (simple) + phong cách trung bình (tempéré) + phong cách cao quý (noble) Mô hình phân chia phong cách (“bánh xe Virgile - Wheel of Virgil”): Sơ đồ 1: Bánh xe phong cách Virgil Gravis Stylus (Phong cách cao quý) Himilus Stylus (Phong cách vừa) Mediocrus Stylus (phong cách trung bình) Gravis Stylus: Ngôn từ dùng trong anh hùng ca để ca ngợi các tướng soái. Mediocrus Stylus: Ngôn từ dùng trong miêu tả nông nghiệp. Humilus Stylus: Ngôn từ dùng trong đời sống hằng ngày. 1.3. Phong cách học hiện đại Phong cách học hiện đại được bắt đầu với nhà ngôn ngữ học người Pháp, Charles Bally (Sác-lơ Ba-ly), đầu thế kỷ XX, với quyền “Dẫn luận Phong cách học tiếng Pháp” (1909). Charles Bally tập trung nghiên cứu tính biểu cảm của ngôn ngữ, và ông cho đó là vấn đề nền tảng của việc nghiên cứu phong cách học. Thời kỳ Hiện đại được đánh dấu với những thành tựu rực rỡ của trường phái Phong cách học chức năng của các nhà ngôn ngữ học Nga Xô viết, một trường phái có nguồn gốc từ trường phái Ngôn ngữ học chức năng Praha (Tiệp Khắc). Những đại diện tiêu biểu của trường phái Phong cách học chức năng Nga Xô viết là Secba (Séc-ba), Vinogradov (Vi-nô-gra-đốp), Rozental (Rô-den-tô), Xtepanov (Xtê-pa-nốp), . . . Trong khoảng vài chục năm lại đây, Phong cách học gần như được thay thế bởi một phân ngành ngôn ngữ học mới là Ngữ dụng học (Pragmatics). Ngữ dụng học cũng nghiên cứu các vấn đề sử dụng, nhưng tập trung vào việc sử dụng ngôn ngữ như thế nào cho đúng, cho chính xác. Còn Phong cách học, đặc biệt là Phong cách học truyền thống, chủ yếu nghiên cứu sử dụng ngôn ngữ như thế nào cho hay, cho biểu cảm. 14
- Nhìn chung, Phong cách học và Ngữ dụng học rất gần gũi với nhau và chúng bổ sung cho nhau, giúp cho việc sử dụng ngôn ngữ của con người được tốt hơn. Theo Nguyễn Thái Hoà: “Vị trí của phong cách học cũng không cần thiết phải đặt ra vì trong tương lai không xa nó sẽ quy tụ trong ngôi nhà ngữ dụng học” [Nguyễn Thái Hoà 1997, 128] Như vậy cho đến nay, Phong cách học đã trải qua chặng đường 25 thế kỷ, trong đó: + Tu từ học cổ điển (Classical Rhetoric) là 24 thế kỷ, + Phong cách học hiện đại (Modern Stylistics) là 1 thế kỷ. 2. LỊCH SỬ PHONG CÁCH HỌC Ở VIỆT NAM 2.1. Trước 1957 Ở Việt Nam, trước Cách mạng tháng Tám thực sự chưa có môn tu từ học cổ điển (Classical Rhetoric) đúng nghĩa, chỉ có một vài cuốn sách: Bàn về phép làm thơ, viết văn, luyện văn, luyện câu, luyện chữ và sách ghi lại luật thơ như: + Vân đài loại ngữ, Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn (XVIII) + Hoàng Đức Lương (thế kỷ XV) + Phùng Khắc Khoan (thế kỷ XVI) + Lê Hữu Kiều (thế kỷ XVIII). + Việt Hán văn khảo của Phan Kế Bính, 1918. + Văn đàn bảo giám, Trần Trung Viên sưu tập, 3 tập, xuất bản từ 1926 - 1938. + Việt Nam văn phạm, Trần Trọng Kim, bản in lần 1, NXB Lê Thăng 1940. Chương Mỹ từ pháp, 14 phép hành văn lam cho lời văn hoa mỹ: Dùng điển Tỉ lệ Ám tỉ Hoán dụ Tá âm Miêu tả Hội ý Hợp loại Ngoa ngữ Thậm xưng Tiểu đối Đảo ngữ Ngụ ngữ Điệp ngữ + Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, 1941. (Quyển sách biên soạn đầy đủ, công phu nhất về lĩnh vực này là cuốn “Thi ca Việt Nam – Hình thức và thể loại” của Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức, 1971) + Luyện văn I (1953); Luyện văn II và III (1957), Nguyễn Hiến Lê, NXB Phạm Văn Tươi. Những chương liên quan trực tiếp tới Phong cách học như: 15
- Thứ tự trong câu Điệp tự Văn khí Giá trị của thanh âm Vài lối hành văn v.v. Tuy từ thời cận đại về trước, Việt Nam chưa có tác giả nào nghiên cứu về Phong cách học (Tu từ học), nhưng chúng ta đã có những thành tựu rất đáng trân trọng về “Mỹ từ pháp thực hành” [Cù Đình Tú 2001, 15] thể hiện trong ca dao, dân ca, tục ngữ, . . . Cho đến ngày nay, những cách nói thuần nhị, tinh tế, nghệ thuật của các thế hệ người Việt để lại trong kho tàng văn chương dân gian vẫn là bài học quý giá cho những nghiên cứu và ứng dụng của Phong cách học. 2.2. Sau 1957 Những nghiên cứu lý thuyết chính thức về Phong cách ngôn ngữ học ở Việt Nam bắt đầu có từ khoảng những năm 60 của thế kỷ XX, dưới sự ảnh hưởng của trường phái Phong cách học chức năng Nga Xô viết và những di sản truyền thống về Tu từ học phương Đông. Phong cách học tiếng Việt (Tên gọi lúc đó: Tu từ học tiếng Việt) được bắt đầu dạy từ năm 1957 ở Khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp và Đại học Sư phạm. Một số tác giả đặt nền móng cho ngành Phong cách ngôn ngữ học ở Việt Nam: + Đinh Trọng Lạc (Giáo trình Việt ngữ tập III – Tu từ học, 1964); “Phong cách ngôn ngữ học tiếng Việt, 1994 (Soạn chung với Nguyễn Thái Hoà)” , “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt”, 1995) + Cù Đình Tú (Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, 1983) + Nguyễn Nguyên Trứ (Đề cương bài giảng về Phong cách học, 1988) + Nguyễn Thái Hoà (Dẫn luận Phong cách học, 1997; Từ điển Tu từ – Thi pháp và Phong cách học, 2004). 2.3. Những công trình Phong cách học đánh dấu những chặng đường nghiên cứu + Giáo trình Việt ngữ tập III – Tu từ học, Đinh Trọng Lạc, 1964 Tuy mang tên gọi Tu từ học nhưng nó không phải là Tu từ học cổ điển (Classical Rhetoric) nữa. Tác phẩm này đặt nền tảng lý thuyết cho bộ môn Phong cách học như: đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu (phương pháp đối lập), các khái niệm cơ bản (màu sắc tu từ, phong cách, phong cách chức năng). Phần đáng quý nhất của giáo trình: phần miêu tả, phân tích giá trị biểu đạt của các phương tiện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp tiếng Việt với tư liệu dồi dào, phong phú. Giáo trình là tài liệu giảng dạy quan trọng về phong cách học ở miền Bắc và có tiếng vang (“vượt tuyến”) cả ở các trường đại học miền Nam Việt Nam. + Các giáo trình, sách lưu hành nội bộ ở các trường Đại học: Giáo trình phong cách học tiếng Việt hiện đại, Cù Đình Tú – Lê Anh Hiền – Nguyên Nguyên Trứ, ĐHSP Việt Bắc; Mấy bài giảng về Phong cách học, Nguyễn Thái Hoà, ĐHSP Vinh, Tư liệu Phong cách học, Đinh Xuân Hiền, ĐHSP Vinh; Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Hoàng Trọng Phiến, ĐHTH Hà Nội; 16
- + Phong cách học tiếng Việt, Cù Đình Tú – Lê Anh Hiền – Võ Bình – Nguyễn Thái Hoà, Nxb Giáo dục 1982 Giáo trình bổ sung những vấn đề về phong cách chức năng, phân loại phong cách chức năng. Những phần khác chủ yếu dựa vào các cuốn giáo trình cũ, có hiệu đính. Giáo trình tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu Nga Xô viết như Viktor Vinogradov, Rozental, sử dụng tiêu chí chức năng xã hội để phân loại các phong cách chức năng tiếng Việt. Bộ tiêu chí phân loại: + tiêu chí chính: chức năng xã hội của ngôn ngữ (trong phạm vi giao tiếp đặc thù) + tiêu chí bổ sung (tiêu chí phụ): tiêu chí đặc trưng. Nhược điểm: Nhiều người viết nên giữa Dẫn luận và nội dung chính không khớp nhau, thuật ngữ nhiều chỗ không thống nhất. + Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Cù Đình Tú, Nxb ĐH&THCN, 1983 Giáo trình được biên soạn hết sức công phu, tư liệu minh hoạ phong phú. Xác định rõ ràng đối tượng nghiên cứu của phong cách học: “là một bộ phận của ngôn ngữ học nghiên cứu các nguyên tắc và quy luật lựa chọn và hiệu quả lựa chọn, sử dụng toàn bộ các phương tiện ngôn ngữ nhằm biểu hiện một nội dung tư tưởng và tình cảm nhất định trong những phong cách chức năng ngôn ngữ nhất định” [Cù Đình Tú 2001, 21-22] Giáo trình phân biệt các lớp từ vựng chuyên dùng (đơn phong cách – monostylistic word) trong các phong cách khác nhau, đối lập với lớp từ đa phong cách (trung hoà về phong cách – polystylistic word). Miêu tả khá công phu các phương tiện diễn đạt của tiếng Việt. Nhược diểm: tiêu chí phân loại phong cách chức năng không triệt để; thuật ngữ muốn dân tộc hoá nhưng lại mắc lỗi lôgic (khẩu ngữ tự nhiên, ngôn ngữ chính thức, ngôn ngữ không chính thức, phong cách gọt giũa). + Phong cách học tiếng Việt, Đinh Trọng Lạc (chủ biên) – Nguyễn Thái Hoà, Nxb Giáo dục 1994. Những điểm mới: Vận dụng lý thuyết giao tiếp bổ sung vào lý thuyết phpng cách học. Phân biệt “phương tiện tu từ” và “biện pháp tu từ”. Đưa phần các phương tiện tu từ và biện pháp tu từ văn bản vào giáo trình. Nhược điểm: Khái niệm “phương tiện tu từ” không chuẩn xác. Phân biệt rối rắm giữa “phương tiện tu từ” và “biện pháp tu từ” + 99 phương tiện tu từ và biện pháp tu từ tiếng Việt, Đinh Trọng Lạc, Nxb Giáo dục 1995. Sách được tái bản nhiều lần, là tư liệu quý về tu từ cho giáo viên PTTH. Nhược: tư liệu thiếu chọn lọc; phân loại “phương tiện tu từ” và “biện pháp tu từ” nhập nhằng. + Những công trình Phong cách học dạng sách chuyên đề: Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật, Đào Thản, Nxb KHXH, 1988; Thơ và bình thơ, Nguyễn Nguyên Trứ, Nxb Giáo dục, 1991; Ngôn ngữ thơ, Nguyễn Phan Cảnh, Nxb ĐH&THCN, 1987; Phong cách 17
- học văn bản, Đinh Trọng Lạc, Nxb Giáo dục, 1994; Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Hữu Đạt, Nxb Giáo dục 1996. 2.4. Thành tựu của ngành Phong cách học tiếng Việt Cho đến nay, qua gần nửa thế kỷ nghiên cứu, ngành phong cách học Việt Nam đã giải quyết được 3 nhiệm vụ: + phân loại và miêu tả các phong cách chức năng ngôn ngữ (ở dạng khái quát) + Khảo sát giá trị, tiềm năng biểu đạt của các phương tiên ngôn ngữ tiếng Việt (chưa sâu, còn chồng chéo với ngữ âm học, từ vựng học, ngữ pháp học) + phân loại và miêu tả các phép tu từ (ở dạng bước đầu chi tiết) Bàng 2: Số liệu so sánh bảng phân loại các phép tu từ của các tác giả Việt Nam với các tác giả Trung Quốc và Anh Mỹ Tác giả, tác phẩm Tổng số các phép tu từ có trong bảng phân loại Cù Đình Tú 2001 17 Đinh Trọng Lạc 1995 62 Nguyễn Nguyên Trứ 1988 35 Nguyễn Thái Hoà 2004 53 Hoàng Kiến Lâm 1995 162 “The Garden of Eloquence” (1577) 184 2.5. Hướng nghiên cứu hiện nay của phong cách học tiếng Việt Hiện nay, ngành Phong cách học Việt Nam đang chuyển qua giai đoạn thứ hai với các mục tiêu sau: (a) Về phong cách ngôn ngữ, tập trung nghiên cứu các vấn đề: + Phong cách học thể loại (tin, quảng cáo, phóng sự, tiểu luận, tiểu thuyết, tuỳ bút, ) + Phong cách học tâm lý – xã hội: phong cách giới tính, phong cách lứa tuổi, phong cách vùng miền, phong cách nghề nghiệp, phong cách thời đại, + Phong cách học lời nói (phong cách ngôn ngữ cá nhân): phong cách ngôn ngữ của nhà văn, nhà thơ, danh nhân văn hoá, nhà hoạt động chính trị – xã hội, (b) Vê tu từ, tập trung nghiên cứu các vấn đề sau đây: + Hệ thống hoá một cách đầy đủ bảng phân loại các phép tu từ tiếng Việt + Phân tích, khảo sát một cách chuyên sâu các phép tu từ theo hướng liên ngành (Ngữ văn học), hoặc theo hướng nhìn nhận lại từ quan điểm của Ngữ dụng học (Pragmatics), Ngôn ngữ học tri nhận (Cognitive Linguistics) + So sánh – đối chiếu các phép tu từ của tiếng Việt với phép tu từ của các ngôn ngữ khác. III. ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA PHONG CÁCH HỌC 1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Phong cách học với tư cách là một khoa học về những quy luật biểu đạt của ngôn ngữ đang có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí loại trừ nhau, về các vấn đề cơ bản: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu. “Đã có người ví đối tượng của phong cách học giống như 18
- chiếc phao bập bềnh, ở đấy nhà nghiên cứu vừa cố ghìm lại thì đã lập tức bị làn sóng cuốn trôi đi.” [Nguyễn Nguyên Trứ 1988, 9] 1.1. Cách hiểu Đối tượng nghiên cứu của phong cách học là tính biểu cảm của ngôn ngữ Đây là cách hiểu về Phong cách học của Sác-lơ Ba-ly (Charles Bally). “Trong cuốn “Khảo luận về phong cách” xuất bản vào năm 1902 và sau đó chẳng bao lâu, trong cuốn “Giản yếu về phong cách”, Sác-lơ Ba-ly – nhà phong cách nổi tiếng người Thụy Sĩ, người có công lao đáng trân trọng trong việc đặt nền móng cho khoa phong cách học hiện đại, đã xác định đối tượng của phong cách học như sau: “Phong cách nghiên cứu những sự kiện biểu đạt của hoạt động ngôn ngữ (tiếng Pháp: Le langage) theo quan điểm của nội dung biểu cảm của chúng; nghĩa là sự biểu đạt những sự kiện của cảm xúc bằng hoạt động ngôn ngữ và tác động của những sự kiện của hoạt động ngôn ngữ đối với sự cảm xúc”. Trong giới hạn ấy, S. Ba-ly đã trình bày lập luận của mình một cách hấp dẫn, cứng rắn và chặt chẽ. Ông cho rằng trong hoạt động ngôn ngữ mọi ý tưởng được thể hiện trong môi trường biểu cảm dưới một dáng vẻ nhất định. Chẳng hạn, khi đưa ra một câu cầu khiến, ta có thể nói “Làm cái này” (Tiếng Pháp Faites cela !) không mang chút gì ngữ điệu đặc biệt, hoàn toàn đứng trên bình diện thông báo thuần túy. Song cũng có thể nói: “Này! Làm cái này” (T.P : Oh, faites cela !), “Ồ ! Giá mà anh làm cái này !” (T.P: Ah ! sivous vouliez faire cela) “Ừ ! làm được đấy !” (Oh ! oui, faites le) để biểu thị lòng mong muốn, niềm hy vọng hoặc nỗi sốt ruột của ta. Cuối cùng, hình thức của câu còn có khả năng mang dấu ấn những quan hệ xã hội giữa người phát ngôn và người tiếp nhận. Chẳng hạn “Làm cái này” (T.P: Faites cela), “Anh vui lòng làm cho cái này!” (T.P : Voudries – vous faire cela), “Này! Làm cho tao cái này !” (T.P : Alles faites – moi cela) v.v. . . Chính cái nội dung xã hội – biểu cảm được nhìn nhận trong mối quan hệ biện chứng với hoạt động ngôn ngữ đã trở thành đối tượng nghiên cứu của phong cách học S. Ba-ly. Nhưng đáng lưu ý là cái nội dung xã hội – biểu cảm ấy lại chỉ được khảo sát trong hoạt động ngôn ngữ nói tự do (khẩu ngữ) mà thôi. Hãy theo dõi cách làm việc của ông qua một ví dụ tiêu biểu: “Bô này! Bô cầm cương như thế nào cái thằng trời đánh thánh vật kia? Bô có luôn luôn nổi khùng với thứ chàng rể rá thủng của bô không?” (Chàng rể của ngài Poa-ri-ê). S. Ba-ly trước hết, đồng nhất (tiếng Pháp: identifier) thành ngữ “rá thủng” (TP: Panièr percé) với nghĩa cơ bản là “tiêu xài hoang phí” – cái tạo thành giá trị thông báo của thành ngữ. Sau đó, trên bình diện phong cách học, ông nhận xét : a) Đó là một ẩn dụ có nội dung cụ thể, dễ cảm và sinh động b) Về bản chất, ẩn dụ này tạo nên một ấn tượng khôi hài. c) Cách nói này thuộc về hoạt động ngôn ngữ thân mật và phản ánh một quan hệ xã hội nhất định giữa hai người đối thoại. S. Ba-ly chỉ dừng ở đấy. Ông từ chối việc trả lời nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ mà tác giả đã sáng tạo, từ chối việc đánh giá xem cách nói ấy có phù hợp với tính cách nhân vật hay có thích hợp tình thế và màu sắc của phiến đoạn hay không? Những điều này S. Ba-ly nhìn 19
- nhận như những vấn đề của mỹ học, của phong cách (tiếng Pháp: Le style) chứ không phải của phong cách học (T.P : La stylistique) theo thuật ngữ của ông. Thật khó mà tìm ra một kiến giải độc đáo hơn! Nếu dựa vào nhận định của C. Mác “Con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội” và dựa vào tính phức tạp của thái độ tình cảm của con người chúng ta có thể hình dung tính phong phú và hấp dẫn của phong cách học S. Ba-ly. Song việc giới hạn nghiên cứu những biện pháp biểu cảm trong khẩu ngữ đã chứng tỏ phong cách học mà ông quan niệm có nhiều hạn chế. Những hạn chế ấy đã bộc lộ thái độ cực đoan và cách nhìn phiến diện của ông. [ ] Trên bình diện phong cách, S. Ba-ly nhấn mạnh mặt nội dung biểu cảm. Điều này mang ý nghĩa phát hiện quan trọng. Song, từ đấy nhà nghiên cứu đã tỏ ra cực đoan khi gạt ra khỏi khoa phong cách của mình tất cả phần nội dung không biểu cảm. Hoạt động biểu cảm của con người vô cùng đa dạng. Có trường hợp phần cảm xúc được đẩy lên tới mức tối đa; lại có trường hợp phần cảm xúc được rút xuống mức tối thiểu. Là khoa học về sự biểu đạt tư tưởng bằng ngôn ngữ, phong cách không thể chỉ thu mình trong việc nghiên cứu phần nội dung ngoài – khái niệm Vả lại, phần nội dung ngoài – khái niệm (nội dung biểu cảm) này chỉ có thể được nghiên cứu đầy đủ trong thế đối lập phong cách học đối với phần nội dung khái niệm của hiện tượng biểu đạt. [ ] Việc coi trọng miêu tả những khả năng biểu đạt của khẩu ngữ là đúng. Song việc khước từ nghiên cứu những khả năng biểu đạt trong ngôn ngữ văn chương và trong các phong cách ngôn ngữ văn hóa khác là không thể chấp nhận được. [ ] Trong cấu trúc ngôn ngữ, những khả năng biểu đạt đang nói tồn tại như những tiềm năng. Những tiềm năng này chỉ đem lại hiệu quả thực tế qua quá trình phát đi và tiếp nhận thông báo (trong mô hình giao tiếp). Vì thế, phong cách học không thể bỏ qua sự nghiên cứu ngôn từ, nghiên cứu những lời nói, bài viết cá nhân. [Nguyễn Nguyên Trứ 1988, 11-13] 1.2. Cách hiểu Đối tượng nghiên cứu của phong cách học là các phong cách chức năng ngôn ngữ Quan điểm của các nhà ngôn ngữ học Tiệp Khắc: B. Havranek, A. Jedlicka, J. Dolezel. “Phong cách học là khoa học về các phong cách chức năng ngôn ngữ” [Rozental] 1.3. Cách hiểu Đối tượng nghiên cứu của phong cách học là quy luật lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ Quan điểm của J. Marouzeau (Pháp), M.K. Moren, R.G. Piotrovxki (Nga), Cù Đình Tú (Việt). “Phong cách học là một ngành ngữ văn độc lập nghiên cứu những nguyên tắc lựa chọn và sử dụng các phương tiện ngôn ngữ nhằm biểu đạt một nội dung nhất định trong những điều kiện giao tiếp nhất định” [R.G. Piotrovxki] Giáo trình này theo quan điểm thứ 3. 2. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Cho đến nay, các nhà phong cách học Việt Nam đã tương đối thống nhất về 3 nội dung nghiên cứu của Phong cách học tiếng Việt như sau: (1). Nghiên cứu hệ thống các phong cách ngôn ngữ 20
- (2). Nghiên cứu giá trị biểu đạt của các phương tiện ngôn ngữ (phương tiện ngữ âm, phương tiện từ vựng, phương tiện ngữ pháp) (3). Nghiên cứu giá trị biểu đạt của các cách thức tu từ (các biện pháp tu từ, phép tu từ). 2.1. Nghiên cứu hệ thống các phong cách ngôn ngữ Đây là một nội dung hết sức quan trọng mà phong cách học cần phải đi sâu. Phong cách thường được nhận diện trước hết trên những yếu tố hình thức và những yếu tố này, sở dĩ được lựa chọn và kết hợp như vậy đều do sự chi phối của các nhân tố nội dung. Từ cách hiểu chung nhất về phong cách chúng ta nhận thức phong cách ngôn ngữ chính là những dạng vẻ riêng biệt của ngôn ngữ toàn dân. Nói một cách khác, đó là những biến thể của ngôn ngữ toàn dân. Những dạng vẻ riêng biệt này được nhận diện trước hết, ở sự lựa chọn và kết hợp các phương tiện biểu đạt của ngôn ngữ được quan niệm như những yếu tố hình thức. Và sở dĩ những yếu tố trên được sử dụng theo quy luật như vậy là do sự quy định của những nhân tố mang tính nội dung nằm bên ngoài ngôn ngữ. Những nhân tố mang tính nội dung đang nói có thể quy về hai loại lớn Một là những nhân tố thuộc về bản chất tâm sinh lý và bản chất xã hội của người dùng. Hai là những nhân tố thuộc về chức năng xã hội của ngôn ngữ. Từ những nhân tố thứ nhất, sẽ hình thành các phong cách ngôn ngữ lứa tuổi, phong cách ngôn ngữ giới tính, phong cách ngôn ngữ cá tính, phong cách ngôn ngữ xã hội, v.v. Từ những nhân tố thứ hai, sẽ hình thành các phong cách chức năng ngôn ngữ. Ngành phong cách học tiếng Việt hiện nay mới tự hạn chế trong việc nghiên cứu các phong cách chức năng ngôn ngữ. 2.2. Nghiên cứu giá trị biểu đạt của các phương tiện ngôn ngữ Phương tiện ngôn ngữ bao gồm các phương tiện ngữ âm, phương tiện từ vựng, phương tiện ngữ pháp. Trong cấu trúc của những phương tiện trên, chứa đựng những tiềm năng biểu đạt. Những tiềm năng ấy sẽ bộc lộ thành những khả năng khi đặt trong hoạt động ngôn ngữ, và nếu được lựa chọn, kết hợp tốt trong ngôn từ, tiềm năng ấy sẽ đạt được hiệu quả thực tế cao. Trong các sách phong cách học, phần nội dung đang nói thường được viết thành 3 chương lớn : – Phong cách học ngữ âm – Phong cách học từ ngữ – Phong cách học ngữ pháp 2.2.1. Phong cách học ngữ âm Phong cách học ngữ âm còn được mang một cách gọi hình ảnh: phong cách học âm vang Phong cách học ngữ âm có nhiệm vụ miêu tả những tiềm năng, những giá trị biểu đạt về phương diện ngữ âm của hệ thống một ngôn ngữ nhất định. 21
- Nội dung miêu tả như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào bản thân cấu trúc ngữ âm của ngôn ngữ ấy. Đương nhiên có những vấn đế chung cho mọi ngôn ngữ như: + những giá trị biểu cảm của hình tượng ngữ âm, + những biến thể đơn phong cách và đa phong cách của các phương tiện ngữ âm, + những nét khác nhau giữa mặt âm thanh trong thơ và trong văn xuôi nghệ thuật. Song quan trọng hơn vẫn là sự thể hiện cụ thể của những vấn đế thực tế được nảy sinh từ cấu trúc ngữ âm của ngôn ngữ nghiên cứu. Phong cách học ngữ âm luôn luôn là một lĩnh vực hấp dẫn và bổ ích đối với các nhà hùng biện, nhà thơ, nhà văn, nhà giáo. . . đối với các diễn viên, phát thanh viên. . . Phong cách học ngữ âm đang được nghiên cứu ngày càng sâu sắc và triệt để nhờ sự hỗ trợ của những phương tiện kỹ thuật hiện đại. 2.2.2. Phong cách học từ vựng Phong cách học từ vựng có nhiệm vụ miêu tả những tiềm năng, những giá trị biểu đạt của các phương tiện từ ngữ (bao gồm từ và thành ngữ) của hệ thống một ngôn ngữ nhất định. Nội dung miêu tả như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào bản thân cấu trúc từ vựng của ngôn ngữ ấy. Đương nhiên có những vấn đề chung cho mọi ngôn ngữ như: + những giá trị biểu cảm của từ ngữ, + những biến thể đơn phong cách và đa phong cách của các phương tiện từ ngữ, + nhưng lớp từ ngữ mang chức năng đặc biệt . . . Song quan trọng hơn vẫn là sự thể hiện cụ thể của những vấn đề thực tế nảy sinh từ cấu trúc từ vựng của ngôn ngữ nghiên cứu. Phong cách học từ ngữ đã có một lịch sử lâu đời và có nhiều thành tựu. Trong các sách về phong cách học, chương nghiên cứu này thường được viết rất dài. Mặc dù vậy những lĩnh vực mà phong cách học từ ngữ cần đi sâu phát hiện không phải là không có. Đó là các vấn đề riêng biệt về mặt từ ngữ của từng dân tộc. Đó là những vấn đề riêng biệt về mặt từ ngữ trong các phong cách ngôn ngữ bộc lộ bản chất tâm sinh lý và bản chất xã hội của người dùng. Những công trình có giá trị của phong cách học từ ngữ đáp ứng tích cực sự đòi hỏi của những người sáng tác, những nhà phê bình, những người làm công tác giáo dục. . . 2.2.3. Phong cách học ngữ pháp Phong cách học ngữ pháp có nhiệm vụ miêu tả những tiềm năng, những giá trị biểu đạt về phương diện ngữ pháp của hệ thống một ngôn ngữ nhất định. Ngữ pháp bao gồm hai bộ phận: Hình thái và cú pháp Đối với những ngôn ngữ biến hoá hình thái, phong cách học ngữ pháp sẽ được nghiên cứu thành hai phần: phong cách học hình thái và phong cách học cú pháp. Đối với những ngôn ngữ không có biến hòa hình thái, phong cách học ngữ pháp tập trung vào những vấn đề cú pháp. 22
- Trong lĩnh vực phong cách học cú pháp tồn tại những vấn đề chung cho mọi ngôn ngữ như: + giá trị biểu cảm của các kiểu câu và các loại câu, + những biến thể đơn phong cách và đa phong cách của các phương tiện cú pháp, + sự khác nhau giữa cú pháp thi ca và cú pháp văn xuôi. Song trong từng thứ tiếng, những vấn đề trên lại có những nét thể hiện riêng biệt. Phong cách học cú pháp là một lĩnh vực rất khó. Phong cách học chưa đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực này. Có không ít điểm nhà phong cách học đã làm công việc của nhà ngữ pháp học. Điều này có thể được giải thích bằng tính trừu tượng cao của cấu trúc ngữ pháp. 2.3. Nghiên cứu giá trị biểu đạt của các phép tu từ Các phép tu từ được xem là các phương tiện biểu đạt bổ sung của ngôn ngữ. Phép tu từ (tiếng La-tinh: Figura) còn được gọi là cách tu từ, phương thức tu từ, biện pháp tu từ, phép mỹ từ,. . . Có thể hiểu theo cách giải thích của mỹ từ pháp cổ đại. Đó là những hình thức diễn đạt bóng bẩy, gợi cảm, có sức hấp dẫn trong khi trình bày. Cũng có thể hiểu theo cách giải thích của phong cách học hiên đại: Đó là những phương tiện biểu đạt bổ sung nhằm tăng cường năng lực và hiệu quả biểu đạt của các phương tiện biểu đạt ngữ âm, từ ngữ, ngữ pháp. Thông qua các phép tu từ, những phương tiện hữu hạn của ngôn ngữ bỗng trở thành vô hạn. Là một ngành khoa học lấy phong cách ngôn ngữ làm đối tượng chủ yếu, phong cách học hiện đại không thể xem xét chức năng phong cách của các phép tu từ. Các phép tu từ có cơ cở ở những quy luật tâm lý và được thực hiện trong một ngôn ngữ nhất định vào những thời kỳ nhất định. Do dựa trên cơ sở những quy luật tâm lý chung nên đã xuất hiện những phép tu từ chung cho mọi ngôn ngữ (thí dụ: Phép tu từ điệp ngữ mà tất cả các ngôn ngữ đều sử dụng dựa trên quy luật tâm lý về tác dụng lưu ý của vật kích thích được xuất hiện nhiều lần). Do được thực hiện trong một ngôn ngữ nhất định nên tồn tại những phép tu từ quen dùng đối với ngôn ngữ này nhưng lại có phần xa lạ đối với ngôn ngữ khác. (Thí dụ: Phép đối rất dễ thực hiện trong tiếng Việt, tiếng Hán, . . . nhưng lại rất khó áp dụng trong tiếng Pháp, tiếng Nga, ) Tính dân tộc của các biên pháp tu từ cần được quan tâm đúng mức. Cũng cần lưu ý thêm rằng : Ngay trong một ngôn ngữ, các phép tu từ cũng có thể được biến đổi theo thời gian. Sự nghiên cứu các phép tu từ đã được tiến hành từ thời cổ đại. Song cho đến nay, khó có thể tìm thấy một cách phân loại được mọi người chấp nhận Có thể kể ra những cách phân loại tiêu biểu sau đây. + Sự phân loại chọn chất liệu ngôn ngữ làm căn cứ. Từ đó, chia ra: – Các phép tu từ ngữ âm – Các phép tu từ từ vựng 23
- – Các phép tu từ ngữ pháp + Sự phân loại chọn hiệu quả ngữ nghĩa làm căn cứ. Từ đó, chia ra : – Các phép tu từ chuyển nghĩa – Các phép tu từ phối hợp nghĩa – Các phép tu từ biến hóa nghĩa + Sự phân loại chọn các quan hệ cơ bản xảy ra trong các đơn vị ngôn ngữ làm căn cứ – Các phép tu từ cấu tạo theo quan hệ liên tưởng (quan hệ theo trục dọc trong ngôn ngữ) – Các phép tu từ cấu tạo theo quan hệ tổ hợp (theo tuyến ngang trên dòng ngôn từ) Đây là những quan hệ đặc biệt quan trọng đã được khẳng định trong ngôn ngữ học đại cương. Vì vậy cách phân loại đang nói có chiều sâu về phương diện lý thuyết. Các phép tu từ thường được sử dụng trong phong cách khẩu ngữ, phong cách ngôn ngữ chính luận, phong cách ngôn ngữ báo chí và đặc biệt trong phong cách ngôn ngữ văn chương. Người ta thường nhấn mạnh tới chức năng biểu cảm bên cạnh chức năng nhận thức của các phép tu từ. Phong cách học ngữ âm, phong cách học từ ngữ, phong cách học ngữ pháp và các phép tu từ là những vấn đề cụ thể. Bao trùm lên tất cả là những nét quan trọng thuộc về đặc điểm dân tộc của ngôn ngữ được nhìn nhận theo quan điểm biểu đạt. Đặc điểm dân tộc của ngôn ngữ có mối liên hệ sâu xa với những nét thuộc về tính dân tộc. Các đặc điểm dân tộc của ngôn ngữ là một dấu hiệu đáng lưu ý của dân tộc tiêu biểu cho chủ thể cộng đồng ngôn ngữ, trạng thái tâm lý đời sống vật chất và truyền thống văn hóa trong những điều kiện xã hội và tự nhiên nhất định. Về điểm này, Stê-pa-nốp trong cuốn “Phong cách học tiếng Pháp” (Nxb Trường Cao đẳng, M. 1965) đã tập hợp được nhiều tài liệu bổ ích. Ông đã dẫn ra nhiều nhận định nổi tiếng về đặc điểm dân tộc ở trong ngôn ngữ và trong trạng thái tình cảm. Ví như Lô-mô-nô-xốp nhận xét: “Các-lơ thứ 5, vua La Mã thường nói người ta nên dùng tiếng Tây Ban Nha để nói với thần linh, dùng tiếng Đức để nói với quân thù, dùng tiếng Pháp để nói với bạn, dùng tiếng Ý để nói với đàn bà và dùng tiếng Nga để nói với tất cả”. Trong “Những linh hồn chết”, Gô-gôn cũng nêu lên: “Nhân dân Nga nói năng mạnh mẽ quá và nếu như người ta khen ngợi ai bằng những lời lẽ thì phải khen ngợi cả tổ tiên họ và hậu duệ của họ, . . .”. Người đương thời với Pút-skin là Vi-a-jem-xki phát biểu: “Sự sắc sảo của người Pháp bông đùa bằng những lời nói và nổi bật bằng sự lựa chọn những từ thích đáng. Sự sắc sảo của người Nga biểu hiện bằng cách dẫn thú vị những khái niệm trái ngược nhau. Người Pháp bông đùa để cho lỗ tai nghe; người Nga bông đùa để cho con mắt thấy. Ta có thể chuyển hầu hết những lời bông đùa của người Nga thành tranh biếm họa. Những lời bông đùa của chúng ta đều thành những con người”. Và có lẽ tiêu biểu nhất là ý kiến của Pút-skin “Có những hình tượng của tư duy và của cảm xúc, có những điều mập mờ của những tập quán, những tín ngưỡng và những thói quen 24
- dành riêng cho một dân tộc nào đó” (Công trình viết chưa xong “Về tính dân tộc trong văn học”). Sẽ có cái nhìn bao quát hơn nếu đi vào những đặc trưng dân tộc trong âm nhạc, hội họa, kiến trúc, . . . Quả là các dân tộc có những cách diễn đạt văn chương, nghệ thuật khác nhau. Một sự khảo sát nghiêm túc có thể tìm thấy những nét thống nhất trong các lĩnh vực dạng nói của từng dân tộc. Song điều quan tâm đặc biệt của phong cách học vẫn là đặc điểm dân tộc của ngôn ngữ. Trong cuốn “Ngôn ngữ học đại cương và những vấn đề của tiếng Pháp”, S. Ba-ly viết “Ví như nếu tiếng Pháp thích sự sáng rõ thì tiếng Đức thiên về sự chính xác hóa những chi tiết. Một cái đi thẳng tới mục đích còn một cái bất kỳ ở đâu cũng đặt dấu chấm trên những chữ I” Những nhận xét tương tự như vậy khá nhiều. Song tồn tại không ít những nhận định chủ quan, máy móc và khiên cưỡng. Ấy là chưa kể tới những nhận xét của một số học giả tư sản, chứa nọc độc của chủ nghĩa Sô-vanh nhằm chứng minh cho sự ngự trị của một ngôn ngữ “thượng đẳng” bên trên những ngôn ngữ mà họ cho là “hạ đẳng”. Ghi chú: Mục 3.2. và 3.3. ở trên chủ yếu soạn dựa theo [Nguyễn Nguyên Trứ 1988]. IV. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA PHONG CÁCH HỌC Muốn đi sâu vào tìm hiểu những vấn đề của Phong cách học, người nghiên cứu phải nắm vững các khái niệm cơ bản sau đây: (1) Màu sắc tu từ (stylistic colour(ing)) Theo Cù Đình Tú: có 2 thành tố (a) Sắc thái biểu cảm (b) Màu sắc phong cách Theo Đinh Trọng Lạc: có 4 thành tố (a) Màu sắc biểu cảm – hình tượng (b) Màu sắc cảm xúc Màu sắc tu từ thật sự (c) Màu sắc bình giá (d) Màu sắc phong cách chức năng (2) Phong cách chức năng (functional styles) (3) Phép tu từ (figure of speech; rhetorical figure of speech) 1. MÀU SẮC TU TỪ (STYLISTIC COLOUR) Tên gọi khác : sắc thái tu từ, đặc điểm tu từ, giá trị tu từ. Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) định nghĩa : + Màu sắc : Tính chất đặc thù. Nghệ thuật đượm màu sắc dân tộc. Màu sắc tôn giáo. Màu sắc thời đại. + Sắc thái : Nét tinh tế làm phân biệt những sự vật về cơ bản giống nhau. Sắc thái nghĩa của từ đồng nghĩa. 25
- 1.1. Quan niệm của Cù Đình Tú 1.1.1. Màu sắc tu từ (đặc điểm tu từ) Cù Đình Tú : “Đặc điểm tu từ là phần tin riêng mang tính chất bổ sung của hình thức biểu đạt cùng nghĩa, phần tin này một mặt chỉ rõ thái độ đánh giá tình cảm với đối tượng được nói đến, một mặt chỉ rõ giá trị sử dụng trong phong cách ngôn ngữ chức năng ngôn ngữ của hình thức biểu đạt cùng nghĩa.” [Cù Đình Tú 2001, 25] Phương tiện biểu đạt (hình thức biểu đạt): + Phần tin cơ sở (ý nghĩa chỉ xuất, ý nghĩa lôgic – sự vật) + Phần tin bổ sung (ý nghĩa hàm chỉ) Ví dụ: So sánh: bà xã – vợ – phu nhân Phần tin cơ sở: Người phụ nữ đã kết hôn với một người đàn ông là chồng người ấy. Phần tin bổ sung: + vợ: sắc thái biểu cảm bình thường; dùng cho mọi phong cách ngôn ngữ. + bà xã: sắc thái biểu cảm thân mật, bình dân; dùng trong phong cách khẩu ngữ. + phu nhân: sắc thái biểu cảm kính trọng, trang trọng, tôn xưng; dùng trong phong cách ngôn ngữ văn hoá mang tính chất nghi thức, xã giao; chỉ dùng cho vợ của những nhân vật quan trọng, Nói chung đặc điểm tu từ phần nội dung rất nhỏ bé, tinh tế của phương tiện ngôn ngữ trong sự đối chiếu, so sánh với các hình thức cùng nghĩa. Phần nội dung này biểu thị ý nghĩa, tác dụng tu từ của phương tiện ngôn ngữ trong nói năng, giao tiếp. Khái niệm đặc điểm tu từ gồm hai phương diện là sắc thái biểu cảm và màu sắc phong cách ngôn ngữ. Hai phương diện này luôn có liên hệ chặt chẽ với nhau trong một tín hiệu ngôn ngữ; sắc thái biểu cảm của một tín hiệu ngôn ngữ thường quyết định màu sắc phong cách của nó. Tuy nhiên, chúng ta hoàn toàn có thể tách chúng ra hai mặt để xem xét, phân tích. 1.1.2. Sắc thái biểu cảm Sắc thái biểu cảm là khái niệm phong cách học thể hiện thái độ, tình cảm, cách đánh giá, cách quan niệm của người nói, người viết về đối tượng trong một hình thức biểu đạt. Tác giả Cù Đình Tú chia sắc thái biểu cảm của một hình thức biểu đạt làm 3 mức độ: sắc thái biểu cảm dương tính, sắc thái biểu cảm trung hòa, sắc thái âm tính. Sắc thái biểu cảm dương tính Sắc thái biểu cảm trung hòa Sắc thái biểu cảm âm tính 26
- Các cung bậc khác nhau về sắc thái biểu cảm: * Sắc thái biểu cảm dương tính: trân trọng, khâm phục, tôn xưng, tán dương, ca ngợi, thông cảm, trìu mến, âu yếm, hài lòng Đây là những sắc thái biểu cảm tích cực. * Sắc thái biểu cảm trung hòa: Không khinh, không trọng, không thân mật, không xa cách, không châm biếm, không ca ngợi . . . Đây là những sắc thái biểu cảm bình thường, trung tính. * Sắc thái biểu cảm âm tính: tức giận, bực mình, phẫn nộ, uất ức, trách móc, châm biếm, đả kích, chê bai, khinh bỉ, cười cợt, . . . Đây là những sắc thái biểu cảm tiêu cực. Ví dụ: Sắc thái biểu cảm Sắc thái biểu cảm Sắc thái biểu cảm âm tính trung tính dương tính bà bô, chị Cả mẹ má, u, bầm, mẫu thân, hiền mẫu nó, hắn, gã, thị, thằng ấy, y, nghỉ, người ấy cô ấy, chú ấy, cậu ấy, chị ấy, con ấy, thằng cha ấy, con ông ấy, bà ấy mụ ấy, lão ấy thí, thí bỏ, cúng cho tặng, biếu, kỷ niệm, lưu niệm Màu sắc phong cách Màu sắc phong cách là khái niệm phong cách học chỉ rõ phạm vi sử dụng của tín hiệu ngôn ngữ, tức giá trị phong cách chức năng của tín hiệu ngôn ngữ đó. Các phương tiện ngôn ngữ, xét theo màu sắc phong cách ngôn ngữ, chia làm 2 nhóm: + Phương tiện ngôn ngữ có màu sắc đa phong cách (trung hoà về phong cách – stylistic neutralization) + Phương tiện ngôn ngữ có màu sắc đơn phong cách (chuyên phong cách) (1). Phương tiện ngôn ngữ đa phong cách ngôn ngữ : Là phương tiện ngôn ngữ dùng chung cho mọi phong cách ngôn ngữ, không mang đặc trưng, sắc thái của một phong cách ngôn ngữ nào. Đây là phương tiện ngôn ngữ trung tính, không đánh dấu (unmarked). Ví dụ: nhà, người, vợ, chồng, xe đạp, ô-tô, ăn, uống, suy nghĩ, thức dậy, đẹp, xấu, (2). Phương tiện ngôn ngữ đơn phong cách: Là phương tiện ngôn ngữ chỉ được sử dụng hạn chế trong một phong cách ngôn ngữ nhất định, mang rõ dấu ấn, đặc trưng của phong cách ngôn ngữ đó. Đây là phương tiện ngôn ngữ được đánh dấu (marked) về màu sắc phong cách. Ví dụ : + Màu sắc khẩu ngữ: mày, tao, dễ sợ, quá trời, ngon ơ, cà khịa, te tua, xẩu hoắc, tối hù, . . . + Màu sắc văn chương: thiếp, chàng, thi nhân, văn sĩ, ngọc thỏ, kim ô, lá thắm, chỉ hồng, . . . + Màu sắc khoa học: nhiễm sắc thể, axit nucleic, proton, notron, lượng tử, tích phân, vi phân, 27
- 1.2. Quan niệm của Đinh Trọng Lạc 1.2.1. Màu sắc tu từ “Màu sắc tu từ là khái niệm phong cách học chỉ phần thông tin có tính chất bổ sung bên cạnh phần thông tin cơ bản của một thực từ. Đa số các từ ngữ trong ngôn ngữ chỉ có phần thông tin cơ bản (còn gọi là ý nghĩa chỉ xuất) như: bàn, ghế, tốt, đẹp, đi lại, rất, Nhưng trong ngôn ngữ cũng có nhiều từ, ngoài phần thông tin cơ bản ra còn có phần thông tin bổ sung (còn gọi là ý nghĩa hàm chỉ) như: lẻn, chuồn, sáng dạ, nguyệt, lệ, phu nhân, ” [Đinh Trong Lạc 1999, 22] Nhận xét về định nghĩa: bó hẹp khái niệm màu sắc tu từ cho từ ngữ. Đúng ra phải cho tất cả các loại phương tiện biểu đạt. + lẻn: đi một cách kín đáo không để cho người khác biết, thường với ý xấu, hàm ý chê. TTCB TTBS (MSTT) + chuồn: rời bỏ đi nơi khác một cách kín đáo, lặng lẽ, hàm ý chê, khẩu ngữ TTCB TTBS (MSTT) + nguyệt: trăng, cũ, văn chương TTCB TTBS (MSTT) + lệ: nước mắt, cũ, văn chương TTCB TTBS (MSTT) + phu nhân: vợ của người có địa vị cao, trang trọng TTCB TTBS (MSTT) Tác giả Đinh Trọng Lạc phân loại màu sắc tu từ thành bốn thành tố: + màu sắc biểu cảm – hình tượng: hình tượng mang tính biểu cảm do từ ngữ mang lại Họ truyền giọng điệu cho con mình tập nói Họ gánh theo tên xã tên làng trong mỗi chuyến di dân. (Nguyễn Khoa Điềm, Đất nước) + màu sắc cảm xúc: thể hiện tình cảm, cảm xúc của người nói (viết) về đối tượng tặng (thân mật), biếu (kính trọng), xơi (trang trọng), chén (vui đùa), bét (khinh bỉ), lẻn (khinh miệt) + màu sắc bình giá: thể hiện thái độ đánh giá về đối tượng: tán thành/không tán thành, xấu/ tốt, tích cực / tiêu cực, tình báo (tốt) – gián điệp (xấu); khởi nghĩa (tốt, tán thành) – nổi loạn (xấu, không tán thành); lãnh tụ (tốt, tích cực) – đầu sỏ (xấu, tiêu cực); kiên cường (tốt, đáng ca ngợi) – ngoan cố (xấu, chê bai); bạn chiến hữu (tốt, tán thành) – đồng bọn (xấu, phản đối); + màu sắc phong cách: sắc thái gợi ra về đặc trưng phong cách mà từ ngữ đó chuyên sử dụng. nguyệt, lệ (màu sắc thơ ca cổ), phu nhân, đáp từ (màu sắc ngoại giao, trang trọng) 1.3. Quan điểm của giáo trình Giáo trình này theo cách phân loại của tác giả Đinh Trọng Lạc nhưng mở rộng phạm vi của khái niệm cho tất cả các loại hình thức biểu đạt (từ ngữ, ngữ pháp, ngữ âm, phép tu từ). 28
- “Màu sắc tu từ là khái niệm chỉ phần thông tin có tính chất bổ sung (ý nghĩa hàm chỉ) bên cạnh phần thông tin cơ bản (ý nghĩa chỉ xuất, ý nghĩa lôgic – sự vật) của một hình thức biểu đạt, và phần thông tin bổ sung này gồm có 4 thành tố: + màu sắc biểu cảm – hình tượng (hình tượng do HTBĐ gợi ra) + màu sắc cảm xúc (tình cảm, cảm xúc của người nói, viết) + màu sắc bình giá (thái độ đánh giá về đối tượng) + màu sắc phong cách (đặc trưng phong cách mà HTBĐ đó chuyên sử dụng).” MÀU SẮC TU TỪ (STYLISTIC COLOUR) Màu sắc biểu Màu sắc cảm Màu sắc bình Màu sắc cảm – hình tượng xúc giá phong cách Sơ đồ 1. Các thành tố của màu sắc tu từ Thông tin lôgic – ngữ nghĩa (TTCB) ↔ Thông tin cảm xúc – thẩm mỹ (TTBS) 2. PHONG CÁCH CHỨC NĂNG (FUNCTIONAL STYLES) 2.1. Quan niệm về phong cách chức năng Phong cách chức năng là khái niệm chỉ sự phân loại ngôn ngữ thành các phong cách khác nhau dựa vào chức năng xã hội mà chúng thực hiện trong phạm vi giao tiếp đó. Có 3 quan niệm khác nhau về phong cách chức năng. 2.1.1. Phong cách chức năng là biến thể của ngôn ngữ dân tộc Cù Đình Tú, Nguyễn Nguyên Trứ. “Phong cách chức năng ngôn ngữ là dạng tồn tại của ngôn ngữ dân tộc, biểu thị quy luật lựa chọn, sử dụng các phương tiện ngôn ngữ tùy thuộc vào tổng hợp các nhân tố ngoài ngôn ngữ như hoàn cảnh giao tiếp, đề tài và mục đích giao tiếp, đối tượng tham dự giao tiếp.” [Cù Đình Tú 2001, 32] Nguyễn Nguyên Trứ: “phong cách chức năng là những dạng vẻ riêng biệt của ngôn ngữ toàn dân được nhìn nhận về mặt chức năng xã hội” [Nguyễn Nguyễn Trứ 1988, 18] 2.1.2. Phong cách chức năng là khuôn mẫu xây dựng lớp văn bản (hay phát ngôn) Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà. 2.1.2. Phong cách chức năng là kiểu diễn đạt Một số tác giả khác. Bảng: Sự khác nhau trong quan niệm về phong cách chức năng xét theo quan điểm ba bình diện các sự kiện ngôn ngữ NGÔN NGỮ HOẠT ĐỘNG NGÔN NGỮ LỜI NÓI (LỜI NÓI) Phong cách chức Phong cách chức năng là khuôn năng là biến thể của ngôn mẫu xây dựng lớp văn bản (hay phát ngữ dân tộc ngôn) Phong cách chức năng là kiểu diễn đạt 29
- Quan điểm của giáo trình: Phong cách chức năng thuộc bình diện hoạt động lời nói, đó là kiểu diễn đạt đặc thù trong một lĩnh vực giao tiếp chuyên biệt. 2.2. Phân loại các phong cách chức năng tiếng Việt: Cho đến nay vẫn chưa có quan điểm thống nhất. Có hai cách phân chia cơ bản: Cách phân chia 2 bậc và cách phân chia 1 bậc. Võ Bình – Lê Anh Hiền: (Như cách phân loại của D. E. Rozental) Các phong cách chức năng phong cách sách vở phong cách khẩu ngữ phong cách khoa học phong cách hành chính phong cách chính luận phong cách văn học [Võ Bình – Lê Anh Hiền 1983, 15] Cù Đình Tú: TIẾNG VIỆT TOÀN DÂN Phong cách khẩu Phong cách ngôn ngữ gọt giũa ngữ tự nhiên Phong cách khoa Phong cách Phong cách hành Phong cách học chính luận chính ngôn ngữ văn chương [Cù Đình Tú 2001, 61] Đinh Trọng Lạc: TIẾNG VIÊT PC PC PC PC PC SHHN hành chính khoa học chính luận báo chí Xem [Đinh Trọng Lạc 1999, 10] Hai cách phân chia trên đây không những khác nhau về số bậc phân loại mà còn khác nhau về kết quả phân loại. Trong bảng phân loại của tác giả Cù Đình Tú, không có phong cách ngôn ngữ báo chí. Tác giả Cù Đình Tú coi ngôn ngữ báo chí chỉ là một phần của phong cách ngôn ngữ chính luận. Còn trong bảng phân loại của tác giả Đinh Trọng Lạc, không có phong cách ngôn ngữ văn chương. Tác giả Đinh Trọng Lạc theo quan điểm của nhà Phong cách ngôn ngữ học 30
- người Nga Budagov, chỉ coi ngôn ngữ văn chương là một loại hình ngôn ngữ (xét về mặt sử dụng), tức là một cái gì đó rộng hơn, lớn hơn phong cách ngôn ngữ (siêu phong cách). Quan điểm của Giáo trình: T ư duy hình tượng Ngôn ngữ siêu nghi thức (Superformal language) PHONG CÁCH VĂN CHƯƠNG PC PC PC PC PC KHẨU NGỮ HÀNH CHÍNH KHOA HỌC BÁO CHÍ CHÍNH LUẬN Ngôn ngữ phi nghi thức Ngôn ngữ nghi thức (Informal language) (Formal language) Tư duy trực giác Tư duy lôgic Tư duy lôgic – hình tượng Sơ đồ 2: Các phong cách chức năng của tiếng Việt hiện đại 3. PHÉP TU TỪ (figure of speech; rhetorical figure of speech) – Là những cách thức sử dụng các phương tiện ngôn ngữ một cách nghệ thuật, có giá trị biểu cảm, hình tượng và hấp dẫn hơn bình thường. Khái niệm phép tu từ còn được gọi là cách thức tu từ, phép tu từ. – Phân loại phép tu từ : Thường được chia làm 3 nhóm (dựa vào loại phương tiện ngôn ngữ làm chất liệu tu từ) : (a) Nhóm 1: Các phép tu từ ngữ âm: điệp thanh, điệm âm, điệp vần, tượng thanh, hài thanh. . . 31
- (b) Nhóm 2: Các phép tu từ từ vựng – ngữ nghĩa: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, thậm xưng, nhã ngữ, tăng cấp, đột giáng, . . (c) Nhóm 3: Các phép tu từ cú pháp: điệp ngữ, đảo ngữ, câu hỏi tu từ, im lặng, . . . Chú ý : Ranh giới giữa nhóm 2 và nhóm 3 không tuyệt đối. V. CÁC LOẠI PHONG CÁCH HỌC 1. Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu Charles Bally chia phong cách học làm 3 loại: 1.1. Phong cách học đại cương: nghiên cứu những vấn đề chung về phong cách của mọi ngôn ngữ (Lý thuyết chung về phong cách học). 1.2. Phong cách học dân tộc: nghiên cứu những vấn đề phong cách học của một ngôn ngữ cụ thể. Ví dụ: Phong cách học tiếng Việt, Phong cách học tiếng Nga, Phong cách học tiếng Pháp, . . . 1.3. Phong cách học lời nói cá nhân: khảo sát đặc điểm phong cách cá nhân. 2. Căn cứ vào bình diện nghiên cứu Viktor Vinogradov chia phong cách học làm 3 loại 2.1. Phong cách học ngôn ngữ: khảo sát các phong cách chức năng và các phương tiện biểu cảm của ngôn ngữ. Còn gọi: phong cách học kết cấu hoặc phong cách học chức năng. 2.2. Phong cách học lời nói: khảo sát phong cách của các thể loại nói hoặc viết như bài phát biểu, xã luận, điện mừng, cáo phó, 2.3. Phong cách học ngôn ngữ nghệ thuật: khảo sát phong cách nhà văn, phong cách tác phẩm, phong cách trường phái văn học, 3. Căn cứ vào hướng nghiên cứu Phong cách học được chia làm làm 3 loại : 3.1. Phong cách học miêu tả 3.2. Phong cách học tạo lời (phong cách học lập mã) 3.3. Phong cách học phê bình (phong cách học giải mã) 4. Căn cứ vào tính chất lý thuyết hay thực hành Phong cách học được chia làm làm 2 loại : 32
- 4.1. Phong cách ngôn ngữ học lý thuyết: nghiên cứu những vấn đề có tính chất lý luận về phong cách học như đối tượng, mục đích, phương pháp nghiên cứu, những vấn đề cơ bản của phong cách học, . . 4.2. Phong cách học thực hành: Chú trọng những vấn đề ứng dụng thành tựu nghiên cứu vào thực tiễn nói viết và thực tiễn phân tích, giảng dạy ngữ văn, làm văn. VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA PHONG CÁCH HỌC Hai phương pháp thường được sử dụng: + Phương pháp so sánh – đối chiếu (Cù Đình Tú: liên hội – so sánh; Charles Bally: đẳng nhất hoá; M.K. Moren: so sánh; A.M. Peskovxki, L.V. Sherba: thực nghiệm phong cách học) Tác dụng: xác định về chất (định tính) + Phương pháp thống kê Tác dụng: xác định về lượng (định lượng – sự biểu hiện ra bên ngoài các dấu hiệu hình thức của phong cách) 1. PHƯƠNG PHÁP SO SÁNH – ĐỐI CHIẾU 1.1. Yêu cầu của phương pháp So sánh, đối chiếu hình thức biểu đạt đã được sử dụng với những cách diễn đạt tương đương để được thấy hiệu lực, giá trị biểu đạt của hình thức đó. Xa cách (Nguyễn Bính) Nhà em cách bốn quả đồi Cách ba ngọn suối, cách đôi cánh rừng; Nhà em xa cách quá chừng. Em van anh đấy, anh đừng yêu em! thương xa quên gần bỏ Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi Hổn hển như lời của nước mây Thẫm thĩ với ai ngồi dưới trúc Nghe ra ý vị và thơ ngây. (Hàn Mặc Tử, Mùa xuân chín) Thử nghiệm thay thế: + “vắt vẻo” thay bằng “văng vẳng”, “thánh thót” ¦ từ “vắt vẻo” vang xa, dùng hình ảnh nói về âm thanh. Ông muốn hình tượng hóa, nhân hóa tiếng ca ¦ cách dùng từ sáng tạo. + “hổn hển” thay bằng “náo nức” nhưng âm thanh hình ảnh tươi vui, rộn rã. Nhưng từ “hổn hển” là lời mệt mỏi. Một cảm nhận rất Hàn Mặc Tử. + “thẫm thĩ” thay bằng “thầm thì” nhỏ nhẹ nhưng có gì đó rất truyền cảm. 33
- Cơ sở thực hiện phương pháp: đi ngược lại quá trình chọn lựa của người lập mã để tìm ra lý do lựa chọn. 1.2. Các thao tác + Xác định nội dung cơ sở của sự biểu đạt + Tìm các cách diễn đạt tương đương + So sánh, đối chiếu các hình thức diễn đạt + Kết luận về hiệu lực, giá trị biểu đạt (hay hoặc dở) Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà đạo đức làm thơ, Nguyễn Trãi chính cống là một tâm hồn thi sĩ. (Xuân Diệu, Các nhà thơ cổ điển VN, tập I, tr. 14) [đích thực] 1.3. Hướng liên tưởng so sánh Có 2 hướng, liên tưởng hướng nội (các khả năng diễn đạt trong cùng một ngữ cảnh), và liên tưởng hướng ngoại (cách diễn đạt của các tác giả khác với cùng ngữ cảnh tương đương). Ví dụ: (liên tưởng hường ngoại): Cánh cò trong thơ Xuân Diệu Cánh cò trong thơ Vương Bột Mây biếc về đâu bay gấp gấp, Lạc hà dữ cô vụ tề phi, Con cò trên ruộng cánh phân vân, Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc. Chim nghe trời rộng dang thêm cánh, (Ráng chiều với chiếc cò cô độc đang bay Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần. Làn nước thu với bầu trời mênh mông một màu) (Thơ duyên) (Đằng Vương các) Bình: “Từ con cò của Vương Bột lặng lẽ bay với ráng chiều đến con cò của Xuân Diệu không bay mà cánh phân vân, có sự cách biệt của hơn một ngàn năm và của hai thế giới” (Hoài Thanh, Thi nhân Việt Nam). 2. PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ 2.1. Yêu cầu của phương pháp Tính toán tỷ lệ xuất hiện của một hình thức biểu đạt trên một độ dài văn bản (diễn ngôn) nhất định để khẳng định về đặc trưng phong cách của một đối tượng nào đó. Theo Phan Ngọc: Người Việt đọc thơ Đường rất dễ hiểu. Thơ Đường dùng đi dùng lại có 800 chữ Hán. Chủ yếu là thực từ, rất ít hư từ. Đặc trưng của thơ Đường dùng từ rất khái quát (theo thống kê của ông). Lấy khoảng 30 bài thơ (trong số hơn 50) được coi là đáng tin cậy hơn cả của Hồ Xuân Hương, rồi tiến hành thống kê tần số sử dụng các từ loại của nữ sĩ, tôi nhận thấy: thơ Hồ Xuân Hương sử dụng rất nhiều động từ chỉ hành động như xiên ngang, đâm toạc, tung hê, sương gieo, gió thốc ; những hình dung từ, chủ yếu là tính từ chỉ phẩm chất và trạng từ chỉ mức độ như cầu trắng phau phau, nước trong leo lẻo, cửa son đỏ loét, lún phún mọc, le te lách ; những từ vận mà gợi nghĩa như lênh, đênh, ghềnh, bềnh, tênh với vần ÊNH gợi lên sự bất ổn, dễ vỡ, mòm, lòm, khòm, khom, dòm với vần OM gợi tình trạng gò bó, bức bối (Nguyễn Văn Trung, Lược khảo Văn học, tập I) 34
- Cơ sở thực hiện phương pháp: sự lặp đi lặp lại có tính ổn định của một phong cách. Có thể thực hiện thống kê về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, cấu trúc, phép tu từ. Thống kê ngữ âm: các loại phụ âm, nguyên âm, âm tiết xuất hiện nhiều, các loại vần, cách gieo vần, nhịp điệu (trong thơ), Thống kê từ vựng: khuynh hướng sử dụng từ ngữ, từ ngữ thích được lặp đi lặp lại, Thống kê ngữ pháp: câu ngắn hay dài, đơn giản hay phức tạp, thích dùng dạng cấu trúc Việt Nam hay theo lối văn Tây, lối văn bình dân hay bác học. Thống kê tu từ: thích dùng phép tu từ gì, mang tính chất cổ điển, dân gian hay sáng tạo mới, 2.2. Phân loại Thống kê thủ công và thống kê toán học (thường được thực hiện tự động bằng các chương trình vi tính) 2.3. Các thao tác + chọn văn bản/ diễn ngôn khảo sát (tiêu biểu, điển hình, ) + định độ dài khảo sát và cách thống kê (ngẫu nhiên hay có định hướng, ) + thu thập kết quả + xử lý kết quả + kết luận về đặc trưng phong cách + lý giải BÀI TẬP 1. So sánh hai cách diễn đạt sau đây về màu sắc tu từ: a/ Chúng tôi lấy làm đau đớn báo tin mẹ của chúng tôi chẳng may mắc bệnh đã mất vào ngày 15 tháng Giêng năm Quý Dậu. b/ Chúng tôi lấy làm đau đớn báo tin mẫu thân của chúng tôi chẳng may thụ bệnh đã tạ thế vào ngày 15 tháng Giêng năm Quý Dậu. 2. Từ nào tạo ra sắc thái biểu cảm trong các cách diễn đạt sau đây? Vì sao? a/ cải lương tư sản b/ lãng mạn suy đồi c/ chủ nghĩa cá nhân cực đoan d/ Kính tặng anh N. Đ. M. quý mến với lòng biết ơn chân thành. (Thanh Tịnh, Lời đề tặng tập thơ) 3. Cho biết chất giọng (tone; trữ trình, triết lý, châm biếm, ) của những đoạn trích sau và phân tích các từ ngữ cần thiết để chứng minh ý kiến của anh (chị): a/ tình yêu vốn dĩ không có thật chỉ có tình thương mà thôi tình thương là nguồn gốc của tình nghĩa và ngược lại có tình thương thì sẽ có trách nhiệm b/ Cơn gió mùa hạ lướt qua vừng sen trên hồ, nhuần thấm cái hương thơm của lá, như báo trước mùa về của một thức quà thanh nhã và tinh khiết. Các bạn có ngửi thấy, khi di qua những cánh đồng xanh, mà hạt thóc nếp đầu tiên làm trĩu thân lúa còn tươi, ngửi thấy cái mùi thơm mát của bông lúa non không? Trong cái vỏ xanh kia, có một giọt sữa trắng thơm, phảng phất hương vị ngàn hoa cỏ. 35
- Dưới ánh nắng, giọt sữa dần dần đông lại, bông lúa càng ngày càng cong xuống, nặng vì cái chất quý trong sạch của Trời. c/ Trong xã hội hiên đại, báo chí được mệnh danh là lực lượng quyền lực thứ tư, sau quyền về lập pháp, hành pháp và tư pháp. Là một trong bốn cột trụ tứ quyền của xã hội công nghệ và trí thức, báo chí ngày càng phát huy sứ mệnh lớn lao của mình đối với sự tiến bộ của đời sống chính trị – xã hội. Báo chí cung cấp thông tin về các sự việc giúp chúng ta nắm rõ hơn diện mạo và thực chất của những vấn đề đang xảy ra chung quanh chúng ta. Báo chí có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tính minh bạch của xã hội và ý thức phản biện của người dân. Báo chí cũng là một động lực phát triển kinh tế. Các nhà đầu tư thường hướng tới các quốc gia có thông tin đầy đủ từ báo chí để họ có thể tiếp cận các nguồn tin đáng tin cậy, từ đó đưa ra các quyết sách đúng đắn. 4. Thông kê tỷ lê âm tiết bằng trắc trong bài thơ sau và rút ra kết luận về âm điệu, nhạc điệu của bài thơ: Chiều Hôm nay, trời nhẹ lên cao, Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn Lá hồng rơi lặng ngõ thuôn, Sương trình rơi kín từ nguồn yêu thương. Phất phơ hồn của bông hường, Trong hơi phiêu bạt còn vương máu hồng. Nghe chừng gió nhớ qua sông, E bên lau lách thuyền không vắng bờ. Không gian như có dây tơ, Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu. Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều, Lòng không sao cả, hiu hiu khẽ buồn (Xuân Diệu) 5. Các cách diễn đạt sau đây khác nhau như thế nào về màu sắc bình giá (thái độ đánh giá): a1/ Ngày 19 tháng 8, Việt Minh cướp chính quyền từ tay người Pháp. a2/ Ngày 19 tháng 8, Việt Minh giành chính quyền từ tay thực dân Pháp. b1/ Lúc giải phóng Sài Gòn (30/04/1975), tôi mới chỉ là cậu bé học lớp 8. b2/ Lúc tiếp thu Sài Gòn (30/04/1975), tôi mới chỉ là cậu bé học lớp 8. c/ NGỒI, MỜI NGỒI, XIN MỜI NGỒI LÊN TRÊN Tô Đông Pha (nhà thơ, nhà văn nổi tiếng của Trung Quốc) rất thích đi xem cảnh đẹp non nước. Một hôm, ông đến một ngôi miếu nọ, viên chủ sự (người chủ quản công việc) của miếu thấy Tô Đông Pha ăn mặc giản dị, liền lạnh nhạt : – Ngồi ! Và bảo đạo đồng (đứa trẻ theo học đạo) : – Nước ! Hai người nói chuyện một lúc, chủ sự thấy khách không phải người bình thường, liền nói : – Mời ngồi ! Rồi ông ta dặn dò đạo đồng : – Dâng trà ! Hai người nói chuyện một lúc thì biết khách là Tô Đông Pha, ông liền vội vàng : – Xin mời ngồi lên trên ! Và nhắc đạo đồng : – Dâng trà hương nhé ! Lúc từ biệt, chủ sự xin Tô Đông Pha đề từ (viết chữ ghi lại cảm tưởng), Tô Đông Pha từ chối không được, liền hạ bút hài hước như sau : 36
- Ngồi, mời ngồi, mời ngồi lên trên Trà, dâng trà, kính dâng trà hương. (Theo Nguyễn Sơn Liên (biên dịch)) 6. Gạch dưới những từ ngữ màng màu sắc diễn đạt đặc trưng của Phật giáo: Bồ-tát Di Lặc có nụ cười thoải mái. Đó là nụ cười tươi tắn, lạc quan, thoát tục và không có bóng dáng của phiền não, khổ đau. Thân tướng của Ngài biểu hiện sung mãn, tri túc, không buồn phiền giận hờn thế nhân gì cả. Người thế gian mãi tôn xưng và quý trọng Ngài. Vào ngày Tết, người Phật tử nghe nhắc đến Ngài thì hết thảy trong lòng đều rất vui. Bồ-tát Di Lặc có bốn đức từ, bi, hỷ, xả. Năm mới, chúng ta đảnh lễ Ngài là đảnh lễ bốn đức này, bốn đức này chúng ta đều có thể thực hiện được. Nếu như chúng ta nhìn thấy Bồ-tát Di Lặc thì chúng ta phải nhớ bốn đức từ, bi, hỷ, xả nơi Ngài để thực hiện tu tập ở chính bản thân mình. Đó là ý nghĩa ngày vía Di Lặc đầu năm. Nếu chúng ta có lòng từ bi, chúng ta tùy hỷ và buông xả, không chứa chấp trong lòng bất cứ điều gì thì chính chúng ta là hiện thân của Bồ-tát Di Lặc rồi. 37
- PHẦN II CÁC PHONG CÁCH CHỨC NĂNG CỦA TIẾNG VIỆT CHƯƠNG I PHONG CÁCH KHẨU NGỮ 1. KHÁI NIỆM 1.1. Tên gọi + Phong cách khẩu ngữ + Phong cách khẩu ngữ tự nhiên (Cù Đình Tú), phong cách khẩu ngữ tự do (Nguyên Nguyên Trứ) + Phong cách sinh hoạt hằng ngày (Đinh Trọng Lạc). + Phong cách hội thoại (Một số tác giả khác) Khẩu ngữ: ngôn ngữ cửa miệng, văn nói > < bút ngữ (văn viết) “Khẩu ngữ d. Ngôn ngữ nói thông thường, dùng trong cuộc sống hằng ngày, có đặc điểm đối lập với phong cách viết.” [Hoàng Phê chủ biên 2006, 496] Tiếng Anh: oral speech (lời nói miệng). Có 2 biến thể phong cách khẩu ngữ: + Phong cách khẩu ngữ tự nhiên + Phong cách khẩu ngữ văn hoá 1.2. Định nghĩa Phong cách khẩu ngữ là phong cách ngôn ngữ dùng trong lĩnh vực giao tiếp sinh hoạt hằng ngày của cá nhân, có tính chất tự nhiên, tự phát, không chuẩn bị trước. Chẳng hạn ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình, bạn bè, hàng xóm, láng giềng, nói về những đề tài thường ngày của cuộc sống. Ví dụ: + Một đoạn hội thoại của sinh viên: – Lan: Ê tụi mày! Nghe nói ngày mai được nghỉ. – Hoa: Thiệt hông mày? Nói xạo tao cho đi Tây Thiên đó cưng. – Lan: Tao xạo mày làm gì? Để được hưởng bổng lộc nhà nước hả? (cười lớn). Mai nghỉ, đi kara xả xì trét đi tụi bây! – Hùng: Biết nghỉ hay không mà rủ nhau chí chóe vậy. Mất công mấy bữa được “miễn thi” cả lũ chứ chơi à. 38
- – Hoa: Mai mà không nghỉ, mấy đứa mình đè đầu con này (Lan) ra, xử đẹp nó luôn, cho hai hàng tiền đạo của nó đi công tác chơi. Hi! – Hùng: Mà mai mấy bà có tính rủ nhỏ Mai đi không? Dạo này tui thấy bả kì kì sao ấy nha. – Lan: Nhỏ đó hả. Từ ngày đạt giải nhất cái cuộc thi hát hò gì đó, cái mặt cứ vênh vênh váo váo, chảnh chọe phát gớm, đi bộ mà tránh máy bay [vểnh mặt lên trời] mới ghê chứ. – Tân: Thôi đi mấy ông mấy bà. Buôn dưa lê bán dưa chuột hoài. Người ta giỏi, người ta đẹp, người ta có quyền. Có giỏi thì làm được như người ta đi. – Lan: Cái ông này hay, nãy giờ ngồi im như thầy tu niệm Phật vậy mà giờ cũng dám chen ngang mấy phu nhân hả? – Tân: Ngồi im cho chắc. Làm cái thùng rác cho mấy người xả còn hơn. Mất công xen vào, cái miệng bà Hoa cứ oang oác thế kia, lỡ bả nuốt tui mất tiêu rồi sao? – Hoa: Ê! Thằng kia! Miệng tao oang oác có ảnh hưởng gì đến hòa bình thế giới không? Có ảnh hưởng đến kinh tế nhà ông khô ô .ông? – Tân: Đó, đó! Thấy hiệu ứng liền he he – Lan: Mà ông Tân nè. Tui cũng thấy ông mấy bữa nay lạ lắm à nha. Tương xờ tư em nào rồi nên cứ lơ ngơ như bò đeo nơ vậy phỏng? – Tân: Ba láp ba xàm à. Tui á là tui đang chuyên tâm tu dưỡng bản thân, làm con ngoan trò giỏi thui. – Hoa: Thôi thôi cha ơi! Cha cho con xin. Cha mà là con ngoan trò giỏi thì con cũng ứng cử làm cháu ngoan Bác Hồ. – Hùng: Thôi. Tao xin. Nãy giờ chuyện trên trời dưới đất gì mấy người cũng tám được hết trơn á. Túm lại, mai có đi không? – Hoa: Có chớ. Đứa nào không đi, tao cắt tiết. OK? – Cả nhóm: OK! Quyết định vậy đi. – Tân: Good bye see you mất tiêu! (Tư liệu của Đoàn Thị Ánh Hồng, SV Khoá 35, Khoa Ngữ văn, ĐHSP TP Hồ Chí Minh) 1.3. Các nhân tố giao tiếp chi phối đặc điểm phong cách 1.3.1. Vai giao tiếp Vai giao tiếp cá nhân. 1.3.2. Nội dung giao tiếp Những vấn đề thông thường trong cuộc sống hằng ngày (một mẩu tâm sự, một câu thăm hỏi, một lời đàm tiếu, một thái độ phản ứng tức thì, ). 1.3.3. Mục đích giao tiếp Tiếp xúc, tạo lập quan hệ cá nhân, thông tin về cuộc sống hằng ngày. 1.3.4. Hoàn cảnh giao tiếp Đối thoại trực tiếp (hoặc bán trực tiếp qua điện thoại, qua internet như yahoo messenger, facebook, skype), thân mật, không mang tính chất chính thức xã hội. 1.4. Dạng thức ngôn ngữ Dạng thức ngôn ngữ nói (đàm thoại hằng ngày) là chủ yếu. Có thể bằng hình thức ngôn ngữ viết: thư cá nhân, nhật ký cá nhân. 2. CHỨC NĂNG Trao đổi tư tưởng tình cảm (chức năng giao tiếp hiểu theo nghĩa hẹp). 39
- 3. ĐẶC TRƯNG Có 3 đặc trưng: + Tính tự nhiên (phi nghi thức) + Tính cảm xúc + Tính cụ thể + Tính cá thể 3.1. Tính tự nhiên Ngôn ngữ trong phong cách khẩu ngữ là ngôn ngữ tự nhiên, tự phát của một người cụ thể, gắn chặt với một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Đó là loại ngôn ngữ không có “tính chuẩn bị trước”, không gọt giũa, trau chuốt, không hướng về chuẩn mực. 3.2. Tính cảm xúc Ngôn ngữ khẩu ngữ luôn có sắc thái biểu cảm rõ ràng, thể hiện một thái độ, một cách đánh giá, một cách quan niệm về đối tượng được nói đến. Ngôn ngữ khẩu ngữ tiếng Việt thường có khuynh hướng sắc thái biểu cảm âm tính. 3.3. Tính cụ thể Lời nói của phong cách ngôn ngữ khẩu ngữ bao giờ cũng cụ thể, hình ảnh, điều đó phù hợp với hình thức giao tiếp trực tiếp, tức thời. 3.4. Tính cá thể Trong nói năng hằng ngày, mỗi người ít nhiều đều có phong cách, sắc thái riêng. Sắc thái riêng đó có thể là về cách phát âm hoặc cách dùng từ, đặt câu, cách sử dụng phép tu từ, hoặc là cách trình bày, lập luận, diễn đạt, Để hiểu đúng ý tưởng của ngôn ngữ khẩu ngữ, nhiều khi phải nắm được sắc thái, thần thái riêng này của người nói, vì nó làm khúc xạ khá nhiều nội dung đang được trình bảy. Sau đây là nhận xét của nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan nói về kinh nghiệm dịch thuật ngôn ngữ khẩu ngữ: Mỗi người có một đặc tính riêng. Nếu không nắm được phong cách và cách nói của người ta sẽ rất lúng túng. Thí dụ trước đây mình có dịch cho ông Ung Văn Khiêm [Thứ trưởng Bộ Ngoại giao], lúc bấy giờ coi như Thứ trưởng Thường trực của Bộ vì Bộ trưởng Phạm Văn Đồng có mấy khi đến Bộ đâu. Ông ấy hay nói dây cà ra dây muống, dài dòng. Trong trường hợp ấy, phải nắm ý chính rồi dịch theo ý chứ đừng câu nệ chữ. Hay là dịch cho ông Lê Duẩn chẳng hạn. Ông ấy có đặc điểm là tư duy rất sâu, thường rất trừu tượng; tư duy thường đi trước cả ngôn ngữ, có khi ngôn ngữ chỉ thể hiện một nửa hoặc một phần ba cái suy nghĩ của ông ấy mà thôi. Nhưng người phiên dịch không thể nói với ông Brê-giê-nhép [Tổng Bí thư Đảng CS Liên Xô] là ông Duẩn chỉ nói một phần ba ý được. Ông phải nói đủ để ông Brê-giê-nhép hiểu là ông Duẩn muốn nói gì. Ông Phạm Văn Đồng có lối nói chuẩn xác nhưng đôi khi bóng bẩy, câu chữ của ông ấy dùng rất cân nhắc, hàm ý rất sâu sắc, nếu không chọn được từ đúng với phong cách của ông thì không dịch được. 40
- Hay ông Trường Chinh nói rất đơn giản nhưng tính chuẩn xác rất cao, dùng từ phải rất chuẩn, kể cả tiếng Việt. Khi dịch xuôi sang tiếng Việt mà dùng những từ Hán-Việt không chuẩn là ông ấy nhắc ngay. Thí dụ ông dùng chữ “vinh quang” là không được, phải “quang vinh” mới đúng, hoặc “đảm bảo” là không được, phải “bảo đảm” mới đúng. Còn Bác Hồ nói cũng rõ ràng, đơn giản nhưng ông Cụ đôi khi hay ví von, rất khó dịch, thường phải "đánh vòng", dịch nghĩa vậy. Mình nhớ có lần khi đề cập tới sự viện trợ của nước anh em, ông Cụ nói: "Cho trâu thì phải cho cả chão [dây thừng]”, mình bí quá đành giải thích vòng vo để bạn hiểu. (Thang Sắc, Ông Vũ Khoan nói về nghề “thông ngôn”, Vietnam.net, 26/5/2011) 4. ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ 4.1. Ngữ âm Không mang tính chuẩn mực, không theo chuẩn mực. Giọng điệu, cách phát âm mang màu sắc riêng của cá nhân, gắn liền với một địa phương, một tầng lớp người hoặc một nghề nghiệp nhất định. Thường sử dụng các hình thức lược âm, biến âm. hăm ba ← hai mươi ba; phỏng ← phải không; hợp ← hợp tác xã; thanh ← thanh tra (/thanh toán); Hay sử dụng các yếu tố ngữ điệu như kéo dài, nhấn giọng, ngắt giọng, để tạo sự chú ý, tăng sức biểu cảm. Mày mà không về đây thì bà g . . i . .ế . . t mày đi! Lấy vợ mà đẻ ra con thì ai chẳng lấy được, lấy vợ mà ĐẺ ra tiền mới khó con ơ . . i ! 4.2. Từ ngữ Phong cách khẩu ngữ có một lớp từ ngữ riêng, rất phong phú, đa dạng. Đó là lớp từ ngữ khẩu ngữ, một lớp từ chuyên dùng cho giao tiếp thường ngày, vừa đóng vai trò rất quan trọng cho việc tái hiện ngôn ngữ nhân vật trong sáng tác văn chương. mày, tao, cậu em, dễ sợ, hiền khô, tối hù, cạn ngắc, ba láp ba đế, đi guốc trong bụng, rán sành ra mỡ, . . . Từ ngữ khẩu ngữ mang tính chất cụ thể, hình ảnh, biểu cảm: Mới sáng mồng một, vừa mở mắt đã quàng quạc cái mồm như con quạ khoang. Đứa nào láo, cứ đánh sặc tiết nó ra, tội vạ đâu ông chịu. 4.3. Ngữ pháp Thường dùng loại câu rút gọn, câu đặc biệt, câu không đầy đủ cấu trúc. Câu văn khẩu ngữ thường lược bớt các quan hệ từ, thêm nhiều từ ngữ chêm xen, đưa đẩy, nhiều trợ từ, thán từ. Câu văn bị giãn ra, nhiều từ ngữ bị dư, lượng thông tin ý niệm thấp. Độ dài câu văn thường ngắn (thường khoảng 5 – 25 âm tiết). Cấu trúc nói chung là đơn giản, thiên về cấu trúc đề – thuyết. 4.4. Tu từ Dùng rất nhiều phép tu từ khác nhau, sinh động, đặc sắc. 41
- Những phép tu từ mà phong cách ngôn ngữ khẩu ngữ hay sử dụng: ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, vật hóa, thậm xưng, nhã ngữ, chơi chữ, . . . Chú mày phải nói năng cẩn thận, coi chừng có ngày mất chỗ đội nón! (Hoán dụ) Có chuyện gì nó cũng lên hót lại với cô giáo chủ nhiệm (Vật hóa). Cậu em không biết mình đây là dân mặc áo chuyên gia, đi xe cố vấn à? (Chơi chữ) 4.5. Kết cấu diễn ngôn Các phát ngôn không tập hợp thành một diễn ngôn chặt chẽ, thống nhất về đề tài, chủ đề, lôgic. Liên kết phát ngôn hội thoại mang tính liên tưởng tự do (ngẫu hứng, chuyện nọ xo chuyên kia). BÀI TẬP 1. Phân tích đặc điểm của phong cách khẩu ngữ thể hiện trong những lời đối thoại của đoạn văn sau: Giọng Hai Cờ Ðỏ nói sang sảng: – Ðố các cha, vậy chớ rừng này hồi đời xưa có vua Gia Long đi ngang qua không? Có tiếng cãi lại: – Túng tiền thì lại đây, tôi cho mượn đỡ vài cắc, chớ đừng nói dóc. Nói phải có sách, mách phải có chứng – Dân ở Cờ Ðỏ không bao giờ nói dóc. Ðể tôi nói lại. Số là xưa kia Gia Long bị Tây Sơn rượt, ngài phải dùng ghe biển mà chạy từ Cà Mau ra Phú Quốc. Chiếc ghe của ngài gọi là long thuyền Ngài đứng trước mũi ghe, ngóng vào bờ mến tiếc lắm, vì ngài muốn làm vua ở đất liền chớ nào có mộng làm chúa ở cù lao Ai nấy nhốn nháo lên: – Nghe lòng vòng quá. Nói cho lẹ thử coi Muỗi cắn gần chết đây nè? Bà con nào cho tôi mượn bếp un, quạt khói lên dùm (Sơn Nam, Nhứt phá sơn lâm) 2. Gạch dưới những từ ngữ dùng không hợp phong cách ngôn ngữ và chữa lại: Em có yêu cầu gì thì đề đạt với bố. Trong trường hợp bố không nhất trí, tán thành, không chuẩn y thì vẫn phải chấp hành, tuân thủ triệt để, chứ không được có thái độ phản ứng lại mà làm cho bầu không khí trong gia đình trở nên không lành mạnh. (Theo Đỗ Việt Hùng, Sổ tay kiến thức tiếng Việt Trung học phổ thông) 3. Viết một đoạn đối thoại thể hiện rõ các đặc điểm ngôn ngữ của phong cách khẩu ngữ. Phân tích những chỗ thể hiện nổi bật các đặc điểm khẩu ngữ trong đoạn đối thoại vừa viết. 4. Những đoạn nhật ký sau đây viết theo phong cách khẩu ngữ hay phong cách ngôn ngữ gì? Phân tích và chứng minh quan điểm của anh (chị): Nhật ký Đặng Thùy Trâm 13.4.68 Một ngày mệt nhọc vô cùng. Ba ca thương nặng vào một lúc. Suốt một ngày đứng bên bàn mổ đầu óc căng thẳng vì những vết thương, vì tiếng khóc xé ruột xé lòng của chú Công (cha Đường) và vì những tin buồn dồn dập. Đường đã bị bắt sống trên đường công tác. Cậu bé sôi nổi nhiệt tình ấy không hiểu có chịu nổi những 42
- đòn tra tấn của quân thù hay không. Thương Đường vô tận. Lá thư viết gửi Đường vậy là chưa đến nơi. Người cầm thư đã chết còn người nhận thư thì bị bắt! 20.5.68 Tiễn chân những bệnh nhân lên đường trở về đội ngũ chiến đấu, lẽ ra chỉ là niềm vui, vậy mà cả người đi lẫn người ở đều buồn thấm thía. Hơn một tháng nằm lại bệnh xá, những bệnh nhân ấy đã gắn bó với mình không phải chỉ là tình thương giữa người thầy thuốc với bệnh nhân mà trong tình cảm ấy có cả nỗi cảm thông sâu sắc giữa những người bạn. Hôm nay họ đi rồi, người ra đi còn nhớ chăng những đêm dài trò chuyện những đêm mình đi trực. Nhớ chăng những buổi cả cơ quan đi cõng gạo họ đã cùng mình xử trí một ca thương, họ làm như những nhân viên thực thụ, đêm đến trong ánh đèn dầu họ ngồi hí hoáy lau dụng cụ những ngày ấy vui sao! Bao giờ gặp lại nhau và có còn được gặp nhau không hở những người bạn mến thương? 20.7.68 Những ngày bận rộn công tác dồn dập, thương binh nặng, người ít, mọi người trong bệnh xá đều hết sức vất vả. Riêng mình trách nhiệm càng nặng nề hơn bao giờ hết, mỗi ngày làm việc từ sáng tinh mơ cho đến đêm khuya. Khối lượng công việc quá lớn mà người không có nên một mình mình vừa phụ trách bệnh xá, vừa lo điều trị, vừa giảng dạy. 43
- CHƯƠNG II PHONG CÁCH HÀNH CHÍNH (ADMINISTRATIVE STYLE) 1. KHÁI NIỆM 1.1. Tên gọi + Phong cách hành chính, phong cách ngôn ngữ hành chính + Phong cách hành chính – công vụ (Cù Đình Tú – Lê Anh Hiền – Nguyễn Thái Hoà, Võ Bình 1982), phong cách văn phòng (Lê Đức Trọng 1993), phong cách hành chính sự vụ (Một số tác giả khác). 1.2. Định nghĩa Phong cách hành chính là phong cách ngôn ngữ dùng trong lĩnh vực giao tiếp của việc quản lý, điều hành, tổ chức hành chính giữa các cơ quan, tổ chức, đoàn thể, hoặc giữa các cá nhân với các cơ quan, tổ chức, đoàn thể. Ví dụ ngôn ngữ trong: + một cuộc họp cơ quan, công ty, xí nghiệp + quyết định bổ nhiệm cán bộ + giấy triệu tập + luật, sắc lệnh, 1.3. Các nhân tố giao tiếp chi phối đặc điểm phong cách 1.3.1. Vai giao tiếp Vai giao tiếp của người giao tiếp trong phong cách hành chính là vai giao tiếp xã hội: + giữa các tổ chức hành chính + giữa thành viên trong một tổ chức hành chính + giữa người dân, công dân với một tổ chức hành chính. Xét về vị thế, vai giao tiếp trong phong cách hành chính có thể là: + ngang cấp + khác cấp * trên cấp * dưới cấp Vị thế giao tiếp ảnh hưởng rất nhiều đến ngữ khí của văn bản hành chính, nhất là hệ thống các từ ngữ yêu cầu phải thực thi những nội dung truyền đạt trong văn bản, như: yêu cầu, đề nghị, bắt buộc phải, cần, nên, cấm, tuyệt đối cấm, 1.3.2. Nội dung giao tiếp Những vấn đề thuộc công tác hành chính (quản lý, điều hành bộ máy tổ chức nhà nước, quản lý xã hội, ) mang tính pháp lý. 44
- 1.3.3. Mục đích giao tiếp Thông báo để nhận thức và thực hiện. 1.3.4. Hoàn cảnh giao tiếp Mang tính chính thức, nghi thức. 1.4. Dạng thức ngôn ngữ 1.4.1. Hình thức ngôn ngữ viết (tiêu biểu, phổ biến) Các loại văn bản được viết theo phong cách ngôn ngữ ngôn ngữ hành chính: + Văn bản hành chính – pháp luật: hiến pháp, luật, sắc lệnh, pháp lệnh, nghị định, điều lệ, quy chế, nội quy, quy định, . . . + Văn bản hành chính – ngoại giao: hiệp định, hiệp ước, thông cáo, quốc thư, công hàm (công văn ngoại giao của nước này gửi cho nước khác), giác thư (thư ngoại giao của chính phủ nước này gửi cho chính phủ nước khác), bị vong lục (văn bản ngoại giao do chính phủ hoặc bộ ngoại giao công bố), . . . + Văn bản hành chính quân sự: lệnh, điều lệnh, chỉ thị, + Văn bản văn thư: đơn từ, biên bản, hợp đồng, báo cáo, thông tư, công văn, quyết định, . . . 1.4.2. Hình thức ngôn ngữ nói + Lời phát biểu, trình bày của các thành viên của một tổ chức hành chính trong một cuộc họp, một hội nghị, trong buổi xử án, + Lời đối thoại giữa một cá nhân với đại diện của một cơ quan tổ chức trong một buổi làm việc có tính chất hành chính, 2. CHỨC NĂNG Thông báo – cầu khiến (yêu cầu phải thực hiện). Một số tài liệu khác: thông báo – ý nguyện (hiệu lệnh, sai khiến). Mỗi văn bản hành chính đều có chức năng thông báo một điều gì đó về công tác hành chính – nhà nước, và đòi hỏi người có trách nhiệm phải thực hiện một việc gì đó trong một giới hạn thời gian nhất định. Văn bản hành chính luôn có một giá trị pháp lý và một hiệu lực pháp lý nhất định. 3. ĐẶC TRƯNG Có 3 đặc trưng cơ bản: + Tính nghiêm túc – khách quan + Tính chính xác – minh bạch + Tính khuôn mẫu 3.1. Tính nghiêm túc – khách quan Giao tiếp trong phong cách hành chính là dạng điển hình nhất của hình thức giao tiếp chính thức, nghi thức. Phong cách giao tiếp: nghiêm túc, trịnh trọng, trang trọng. 45
- Cách nhìn nhận vấn đề, giải quyết vấn đề trong ngôn ngữ hành chính phải xuất phát từ cách nhìn nhận chung của cả một tập thể, một tổ chức. Ngôn ngữ hành chính nói chung phải trung hòa về sắc thái biểu cảm, không tỏ ra khinh hay trọng, tán dương hay chê ghét, ngoại trừ những văn bản có tính chất hành chính ngoại giao, hoặc những lời nói hành chính có tính chất công thức lễ tân. 3.2. Tính chính xác – minh bạch Ngôn ngữ hành chính luôn yêu cầu có tính chính xác, chặt chẽ ở mức độ cao nhất. Vì điều này liên quan đến hiệu lực pháp lý của văn bản hành chính. Từ ngữ trong văn bản hành chính phải đơn nghĩa. Câu văn cũng phải đơn nghĩa. Các cách thức hạn định để làm cho từ ngữ, hoặc câu văn của ngôn ngữ hành chính được chính xác luôn được đề cao. Ví dụ: Nhà xuất bản không được xuất bản, tái bản tác phẩm nếu không được sự đồng ý của tác giả hoặc người được thừa kế hợp pháp theo quy định của pháp luật về quyến tác giả (Luật xuất bản (1993), điều 8). Thẩm phán ra quyết định đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp và phải đăng báo địa phương và báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp về quyết định này (Luật phá sản doanh nghiệp (1993), điều 35) (Dùng định ngữ mở rộng để hạn định khái niệm) Báo chí nói trong Luật này là báo chí Việt Nam, bao gồm: báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn), báo nói (chương trình phát thanh), báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe – nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau), báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, tiếng nước ngoài. (Luật xuất bản, 1999, điều 3) (Dùng thành phần giải thích, chú thích để xác định khái niệm) Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội; là diễn đàn của nhân dân. (Luật báo chí (1999), điều 1) (Dùng dấu chấm phẩy để chính xác hóa cấu trúc) Nói chung, về nguyên tắc, ngôn ngữ hành chính phải hướng tới đại chúng là những người tiếp cận và thực hiện nó. Vì vậy ngôn ngữ hành chính phải rõ ràng, minh bạch để đại đa số quần chúng đọc và hiểu được. Để làm được như vậy, từ ngữ và cách đặt câu của ngôn ngữ hành chính phải tương đối giản dị, dễ hiểu. Các thuật ngữ khó hiểu phải được giải thích, định nghĩa một cách rõ ràng. Từ Hán Việt phải dùng hạn chế, nếu có thể thì thay hoặc bổ sung bằng từ ngữ thuần Việt tương đương. Ví dụ : Quản chế là buộc người bị kết án phạt tù phải cư trú, làm ăn, sinh sống và cải tạo ở một địa phương nhất định, có sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương. (Bộ luật hình sự (1999), điều 38) 3.3. Tính khuôn mẫu Cách trình bày, diễn đạt của ngôn ngữ hành chính phải tuân theo những quy định nhất định mang tính chất thể thức hành chính. Cách đặt câu của ngôn ngữ hành chính phải theo những khuôn mẫu câu hành chính. 46
- Văn bản hành chính thường xây dựng theo những kiểu cấu trúc có sẵn, với hai dạng : (1) dạng mẫu có sẵn, người viết chỉ cần điền vào; (2) dạng theo mẫu hướng dẫn chung. 4. ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ 4.1. Ngữ âm, chữ viết, hình thức trình bày Phải tuân theo những quy định có tính chất chuẩn mực chính thức. – Ngữ âm: Phải phát âm theo chuẩn, hướng theo chuẩn, tránh cách phát âm địa phương và những lỗi phát âm. – Chữ viết: Phải theo những quy định chính tả của cơ quan có thẩm quyền (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ, Quốc hội). – Hình thức trình bày: Phải tuân theo những quy định về thể thức trình bày do các cơ quan nhà nước quy định. Ví dụ văn bản thông báo tuyển dụng: 47
- 4.2. Từ ngữ – Phong cách ngôn ngữ hành chính có một lớp từ ngữ riêng gọi là lớp từ ngữ hành chính. Đây là lớp từ ngữ tương đối phong phú, đơn nghĩa, trung hòa về sắc thái biểu cảm. Ví dụ : theo đề nghị, căn cứ vào, nay ban hành, chịu trách nhiệm, vấn đề thứ nhất là, vấn đề thứ hai là, . . ., Uỷ ban nhân dân, Viện Kiểm sát, Chánh thanh tra, Giám đốc, Vụ trưởng, – Từ ngữ hành chính chủ yếu là lớp từ Hán – Việt, chiếm tỷ lệ khoảng 75% đến 85%, vì lớp từ này đảm bảo tính chính xác, chặt chẽ, nghiêm túc. – Từ ngữ trong phong cách hành chính phải được sử dụng tuyệt đối chính xác; không (hoặc hạn chế tối đa) sử dụng từ ngữ địa phương, những cách nói mang tính chất khẩu ngữ. – Xuất hiện nhiều từ ngữ mang tính chất cầu khiến (sai khiến, cấm đoán) do đòi hỏi yêu cầu phải thực hiện (hoặc không được thực hiện), như: đề nghị, yêu cầu, phải, cần, nên, thi hành, thực hiện, Ví dụ ngôn ngữ trong một văn bản luật: Không được tuyên truyền chống pháp luật của nhà nước. Không được cổ động nhân dân không thi hành hoặc chống lại những luật lệ và những đường lối, chính sách của nhà nước. Không được viết bài có tính chất chống lại chế độ dân chủ nhân dân, chia rẽ nhân dân và chính quyền, nhân dân và bộ đội. Không được gây ra những dư luận hoặc những hành động có hại cho an ninh trật tự của xã hội. [ ] Không được tiết lộ bí mật quốc gia như: những bí mật quốc phòng, những hội nghị cơ mật chưa có công bố chính thức của cơ quan có trách nhiệm, những vụ án đang điều tra chưa xét xử, những bản án mà tòa án không cho phép công bố, những tài liệu, số liệu và những cơ sở kiến thiết về kinh tế tài chính mà ủy ban kế hoạch nhà nước hoặc các cơ quan có thẩm quyền chưa công bố. (Sắc lệnh về chế độ báo chí. Ban hành 14/12/1956) 4.3. Ngữ pháp – Phong cách ngôn ngữ hành chính thích dùng loại câu đầy đủ về cấu trúc, chặt chẽ, chính xác, đơn nghĩa. – Độ dài của câu văn hành chính tương đối lớn, cấu trúc thường có nhiều tầng bậc. – Sử dụng nhiều quan hệ từ, nhiều từ ngữ liên kết, nhiều loại dấu câu để nâng cao tính chính xác. – Sử dụng nhiều loại câu theo khuôn mẫu định sẵn (“khuôn câu hành chính”). – Trong văn bản hành chính thường xuất hiện những cách xuống dòng đặc biệt. Câu văn thường trải rộng, có khi hầu như bao quát cả văn bản (toàn văn bản thực chất chỉ có một câu văn). 4.4. Tu từ Phong cách ngôn ngữ hành chính không sử dụng các phép tu từ vì phong cách ngôn ngữ này không có nhu cầu diễn đạt hình ảnh, biểu cảm. Phong cách hành chính đối lập với cách diễn đạt của phép tu từ. 48
- 4.5. Kết cấu văn bản Cấu trúc văn bản hành chính phải mang tính chính xác, chặt chẽ, chuẩn mực và thống nhất toàn quốc. Văn bản hành chính có kết cấu khuôn mẫu, bắt buộc phải tuân theo, không cho phép sự sáng tạo cá nhân (đối lập với phong cách văn chương). Ví dụ: Quyết định bổ nhiệm 49
- 5. CÁC THỂ LOẠI TIÊU BIẺU 5.1. Văn bản hành chính – pháp luật 5.1.1. Hiến pháp 5.1.2. Luật 5.1.3. Sắc lệnh 5.1.4. Pháp lệnh 5.1.5. Nghị định 5.1.6. Điều lệ 5.17. Quy chế 5.2. Văn bản hành chính – ngoại giao 5.2.1. Hiệp định 5.2.2. Hiệp ước 5.2.3. Thông cáo 5.2.4. Quốc thư 5.2.5. Công hàm 5.2.6. Giác thư 5.2.7. Bị vong lục 50
- 5.3. Văn bản hành chính quân sự 5.3.1. Lệnh 5.3.2. Điều lệnh 5.3.4. Chỉ thị 5.4. Văn bản văn thư (đơn từ, biên bản, hợp đồng, báo cáo, thông tư, công văn, quyết định, . . .) BÀI TẬP 1. Một chỉ thị của cấp trên gửi cho cấp dưới mà ở phần ký tên, người ký tên chỉ ghi bí danh và không ghi chức vụ thì chỉ thị đó có hợp thức hay không? Vì sao? 2. Gạch dưới những từ ngữ không giống với cách diễn đạt hiện nay và chữa lại: “Điều thứ 5 Công dân Việt Nam có nghĩa vụ phải đi lính. Điều thứ 6 Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá. Điều thứ 7 Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình. Điều thứ 8 Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung. Điều thứ 9 Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện.” (HIẾN PHÁP NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ, 1946) 3. Anh (chị) có nhận xét gì về phong cách diễn đạt của Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ công hoà, 1946, qua đoạn trích nêu ở bài tập 2? 51
- CHƯƠNG III PHONG CÁCH KHOA HỌC (SCIENTIFIC STYLE) 1. KHÁI NIỆM 1.1. Tên gọi Phong cách khoa học, phong cách ngôn ngữ khoa học. 1.2. Định nghĩa Phong cách khoa học là phong cách ngôn ngữ dùng trong lĩnh vực giao tiếp khoa học của những người nghiên cứu, giảng dạy, phổ biến khoa học. Phong cách khoa học là một phong cách ngôn ngữ tiêu biểu cho những thành tựu phát triển của tiếng Việt hiện đại và rất cần thiết cho nhu cầu giao tiếp, thông tin của con người trong xã hội công nghệ, kỹ thuật. Đây là phong cách tiêu biểu của ngôn ngữ nghi thức, được xây dựng trên cơ sở tư duy lôgic và có sự đối lập rõ rệt với phong cách văn chương (tư duy hình tượng). Phong cách ngôn ngữ khoa học của tiếng Việt ra đời muộn (đầu thế kỷ XX). Sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật ở nước ta thúc đẩy quá trình hoàn thiện phong cách khoa học. 1.3. Các nhân tố giao tiếp chi phối đặc điểm phong cách 1.3.1. Vai giao tiếp + Nhà khoa học ↔ nhà khoa học + Nhà khoa học ↔ độc giả, sinh viên (học sinh) + Nhà giáo ↔ sinh viên (học sinh) + Người phổ biến tri thức khoa học ↔ độc giả + Sinh viên, độc giả khoa học ↔ sinh viên, độc giả khoa học 1.3.2. Nội dung giao tiếp Những tri thức khoa học (quy luật, bản chất của tự nhiên và xã hội) 1.3.3. Mục đích giao tiếp Nhận thức, truyền bá các tri thức khoa học, thay đổi nhận thức độc giả về lý trí. 1.3.4. Hoàn cảnh giao tiếp Diễn ra trong môi trường của những người hoạt động khoa học, quan tâm tới khoa học; nghiêm túc, khách quan, tuân thủ theo những nguyên tắc và tiền đề khoa học. 1.4. Dạng thức ngôn ngữ 1.4.1. Dạng viết + Văn bản khoa học chuyên sâu: công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, báo cáo khoa học, bài báo khoa học, . . . 52
- + Văn bản khoa học giáo khoa: giáo trình, tài liệu tham khảo, sách giáo khoa, giáo án, bài thi, bài kiểm tra, . . . + Văn bản khoa học phổ cập: sách phổ biến khoa học, tài liệu tuyên truyền, phổ biến khoa học, 1.4.2. Hình thức lời nói miệng + Lời giảng bài của giáo viên, giảng viên + Lời thuyết trình, lời phát biểu trong hội thảo, hội nghị khoa học, + Lời nhận xét, lời hỏi đáp, lời tranh luận về khoa học, . . . 2. CHỨC NĂNG Thông báo – chứng minh. Ngôn ngữ trong phong cách ngôn ngữ khoa học không phải thực hiện chức năng thông báo thuần túy mà còn chứng minh, xác nhận các vấn đề đưa ra trình bày, thảo luận từ góc độ khoa học nhằm đi tới chân lý khoa học. 3. ĐẶC TRƯNG + Tính trừu tượng – khái quát. + Tính chính xác + Tính khách quan 3.1. Tính trừu tượng – khái quát Phong cách khoa học tiếp cận và trình bày vấn đề từ góc độ khái quát và trừu tượng nhằm chỉ ra các quy luật và đặc điểm bản chất của đối tượng nhận thức (khác với cách tiếp cận cụ thể và cảm tính của khẩu ngữ và ngôn ngữ văn chương). Ví dụ: (ngôn ngữ không hợp với phong cách khoa học) Cho một đường tròn tâm O nhỏ xíu và kẻ một cát tuyến thẳng băng cắt ngang qua đường tròn tại hai điểm A và B. Đối với phong cách ngôn ngữ khoa học mang tính chuyên sâu, chỉ những người trong lĩnh vực chuyên môn mới hiểu một cách tường tận thông tin của văn bản (diễn ngôn). 3.2. Tính chính xác Phong cách khoa học đòi hỏi tính chính xác ở mức độ cao. Thông tin đưa ra trong văn bản khoa học phải được khảo cứu, phân tích, chứng minh một cách cẩn trọng, nghiêm túc và phải được kiểm chứng bởi những nhà khoa học khác. Phong cách khoa học không chấp nhận (trừ một số trường hợp đặc biệt) những cách diễn đạt không chắc chắn, xác định như: có lẽ, có thể, hình như, phỏng chừng, Tuy nhiên vì chân lý khoa học mang tính tương đối theo hướng tiếp cận gần nhất với chân lý, nên trong một số trường hợp, cùng một vấn đề, giữa các nhà khoa học có thể chấp nhận những quan niệm khác nhau, cách giải quyết khác nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học xã hội – nhân văn. 3.3. Tính khách quan Phong cách khoa học hạn chế đến mức tối đa sự chủ quan cá nhân trong cách miêu tả, giải thích, trình bày vấn đề. 53
- Mọi tri thức đưa ra trong văn bản (diễn ngôn) khoa học phải xuất phát từ những nguyên tắc khoa học, có bằng cứ, lý lẽ khẳng định một cách khách quan, thuyết phục, tránh sự suy đoán chủ quan, hàm hồ, thiên kiến, hoặc theo định hướng bên ngoài khoa học. 4. ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ 4.1. Ngữ âm, chữ viết + Tuân theo hình thức ngữ âm, chính tả chuẩn mực. + Có thể sử dụng những cách phát âm xa lạ với hệ thống ngữ âm dân tộc (thuật ngữ nước ngoài, từ ngữ quốc tế). + Ngoài kênh chữ viết, còn sử dụng những hệ thống ký hiệu, sơ đồ, bảng biểu, công thức, theo yêu cầu của từng ngành khoa học. 4.2. Từ ngữ + Có một hệ thống thuật ngữ riêng, chuyên dùng trong từng lĩnh vực chuyên môn sâu. + Từ ngữ mang tính chất trừu tượng, khái quát ở mức độ cao. + Từ ngữ đơn nghĩa, chỉ dùng với nghĩa đen, trung hòa về sắc thái biểu cảm. 4.3. Ngữ pháp + Thường sử dụng các hình thức câu hoàn chỉnh, kết cấu chặt chẽ, rõ ràng để đảm bảo tính chính xác, rõ ràng, mạch lạc về tư duy lôgic (cú pháp tiêu chuẩn – standard syntax) + Sử dụng nhiều loại câu ghép, câu phức để diễn đạt đầy đủ, súc tích các vấn đề cần bàn luận, phân tích. + Hay sử dụng các loại câu khuyết chủ ngữ và chủ ngữ không xác định (phiếm chỉ). Tác dụng: giúp cho việc trình bày được mang tính khái quát hoặc tính khách quan. + Sử dụng nhiều các hình thức liên kết giữa các thành phần câu, giữa các câu, các đoạn để đảm bảo tính chặt chẽ, chính xác. 4.4. Tu từ Phong cách ngôn ngữ khoa học, nói chung, không dùng phép tu từ vì không có nhu cầu diễn đạt hình ảnh, bóng bẩy, biểu cảm như phong cách văn chương hay phong cách chính luận. Tuy nhiên có sự khác biệt giữa các biến thể của phong cách khoa học về việc dùng phép tu từ. Trong các văn bản khoa học xã hội nhân văn và trong các thể loại văn bản phổ biến khoa học, người ta có thể sử dụng các phép tu từ theo những mức độ khác nhau nhằm làm cho sự diễn đạt hấp dẫn, sinh động, gần gũi với đối tượng độc giả. “Tôi nghĩ tuỳ theo trường hợp, nghệ thuật có thể làm cho khoa học dễ hiểu hơn. Lấy ví dụ về truyền đạt thông tin nguy cơ những biến cố hiếm như động đất, thay vì đưa ra những con số xác suất khó hiểu và vô hồn, thì người ta có thể dùng hình ảnh (đẹp) để mô tả nguy cơ. Tôi mới đọc một bài viết trên tạp chí Science (Mỹ) về những cách thức thể hiện thông tin rủi ro qua hình ảnh rất tuyệt vời. Cách thức này cũng có thể ứng dụng trong y khoa, chính trị, xã hội. Tâm lý chúng ta nói chung thích hình ảnh hơn là con số, hình ảnh càng hấp dẫn thì càng dễ cảm nhận. 54



