Giáo trình Lịch sử Việt Nam 1945-1960 (Phần 2)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Lịch sử Việt Nam 1945-1960 (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
giao_trinh_lich_su_viet_nam_1945_1960.pdf
Nội dung text: Giáo trình Lịch sử Việt Nam 1945-1960 (Phần 2)
- Ch−ơng III Việt Nam từ 1954 đến 1960 I. Tình hình Việt Nam từ sau Hiệp định Giơnevơ 1954 và nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới 1. Tình hình Việt Nam sau Hiệp định Giơnevơ 1954 Ngày 21/7/1954, Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông D−ơng đ−ợc ký kết. Cách mạng Việt Nam b−ớc sang giai đoạn mới với nhiệm vụ to lớn là củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất đất n−ớc, hoàn thành độc lập và dân chủ. Để thực hiện hoà bình, quân đội hai bên phải ngừng bắn. B−ớc đầu tiên là phải tách quân đội hai bên ra hai vùng khác nhau. Theo quy định của Hiệp định, việc ngừng bắn, tập kết chuyển quân và chuyển giao khu vực sẽ đ−ợc thực thi trong thời gian 300 ngày kể từ 21/7/1954 đến ngày 19/5/1955. Chúng ta đã thực hiện nghiêm chỉnh những điều khoản trên. Nh−ng ngay từ những ngày đầu, đế quốc Mỹ, bọn phản động Pháp và chính quyền tay sai tìm mọi cách gây khó khăn và phá hoại việc thi hành các điều khoản của Hiệp định. Chúng cố tình khiêu khích, trì hoãn việc ngừng bắn trên chiến tr−ờng, tiến hành dụ dỗ và c−ỡng bức gần 1 triệu đồng bào công giáo di c− vào Nam. Chúng tháo gỡ, mang đi hoặc phá hoại máy móc, dụng cụ, tài sản công cộng, nhằm làm tê liệt và gây rối loạn trong việc tiếp quản các vùng mới giải phóng. Nh−ng do thái độ nghiêm chỉnh và tinh thần đấu tranh kiến quyết của Chính phủ và nhân dân ta nên các điều khoản trên đ−ợc thực hiện. Ngày 10/10/1954, quân Pháp rút khỏi Hà Nội, ta tiếp quản Thủ đô. Hà Nội rợp bóng cờ hoa, biểu ngữ và tiếng hoan hô vang dậy của đồng bào đón mừng đoàn quân chiến thắng trở về. Ngày 1/1/1955, một cuộc mít tinh lớn đ−ợc tổ chức tại quảng tr−ờng Ba Đình lịch sử để chào mừng Trung −ơng Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Thủ đô. Sự kiện lịch sử này gây ấn t−ợng sâu sắc và có ý nghĩa chính trị to lớn. Ngày 16/5/1955, toàn bộ khu vực Hải Phòng đ−ợc giải phóng. Tên lính viễn chinh cuối cùng của quân đội Pháp đã rút khỏi miền Bắc. Nửa n−ớc ta hoàn toàn đ−ợc giải phóng. Đó là thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam. 61
- Trong khi đó, ở miền Nam, theo quy định của Hiệp định Giơnevơ, lực l−ợng Liên hiệp Pháp tạm thời nắm quyền kiểm soát trong hai năm chờ hiệp th−ơng tổng tuyển cử. Trong thời gian đó thực dân Pháp cũng có những hành động phá hoại Hiệp định mới đ−ợc ký kết. Ngày 14/5/1956 Chính phủ Pháp gửi cho hai chủ tịch Hội nghị Giơnevơ 1954 về Đông D−ơng bản Thông điệp thông báo về việc quân viễn chinh Pháp rút hết về n−ớc. Quân đội Pháp rút khỏi miền Nam Việt Nam trong khi còn nhiều điều khoản của Hiệp định có liên quan đến trách nhiệm của họ ch−a đ−ợc thi hành, nh− điều khoản về việc tổ chức hiệp th−ơng tổng tuyển cử hai miền Nam - Bắc. Cũng trong quá trình đó, đế quốc Mỹ tìm mọi cách phá hoại Hiệp định, Mỹ đã gạt dần Pháp, độc chiếm miền Nam với âm m−u chia cắt đất n−ớc Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự. Đế quốc Mỹ xây dựng chính quyền Ngô Đình Diệm để thực hiện âm m−u nói trên. Ngày 25/6/1954, một tháng tr−ớc khi Hiệp định Giơnevơ chính thức ký kết, Mỹ ép Pháp đ−a Ngô Đình Diệm thay Bửu Lộc làm thủ t−ớng chính phủ bù nhìn miền Nam Việt Nam. Ngày 23/7/1954, Ngoại tr−ởng Mỹ Đalét tuyên bố không cho chủ nghĩa cộng sản lan tràn ở Đông Nam á và Tây Nam Thái Bình D−ơng. Tháng 9/1954, Mỹ lôi kéo một số n−ớc thành lập khối quân sự Đông Nam á (SEATO) và ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam d−ới sự bảo trợ của khối này. Đ−ợc sự giúp đỡ và chỉ đạo của Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm trở thành căn cứ đắc lực trong việc phá hoại Hiệp định Giơnevơ, từ chối tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam. Diệm tuyên bố không có Hiệp th−ơng tổng tuyển cử, bày trò “Tr−ng cầu dân ý”, tự suy tôn làm tổng thống, tổ chức bầu cử riêng rẽ, lập quốc hội lập hiến, ban hành hiến pháp của cái gọi là Việt Nam Cộng hoà Để biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự, đế quốc Mỹ đã ký một loạt hiệp nghị quân sự với chính quyền Ngô Đình Diệm, trong đó có 3 hiệp nghị đáng chú ý: - Hiệp nghị “Hợp tác kinh tế”, ký d−ới hình thức trao đổi văn th− ngày 21/2/1955 và ngày 7/3/1955. - Hiệp nghị “Hợp tác kinh tế”, ký d−ới hình thức trao văn th− ngày 22, 23/4/1955 và 24, 25/6/1955. - Hiệp nghị “Thu hồi vũ khí trang bị của viện trợ quân sự Mỹ”, ký d−ới hình thức trao đổi văn th− ngầy 1/3 và ngày 15/5/1955. 62
- Dựa trên cơ sở “pháp lý” mới đó, đế quốc Mỹ không ngừng đ−a nhân viên, cố vấn quân sự vào miền Nam Việt Nam. Ngoài phái đoàn viện trợ quân sự MAAG thành lập tr−ớc đó, còn có phái đoàn “Tổ chức - huấn luyện - kiểm tra” (TRIM), phái đoàn “Huấn luyện tác chiến” (CATO). Các loại vũ khí, ph−ơng tiện chiến tranh do Mỹ đ−a vào miền Nam mỗi ngày một nhiều. Từ chỗ hầu nh− không có gì, đến năm 1960 chính quyền Ngô Đình Diệm có khoảng 250 máy bay các loại, 250 tàu chiến có trọng tải cỡ lớn, 600 xe bọc thép, 100 xe tăng Đế quốc Mỹ còn giúp cho chính quyền Ngô Đình Diệm xây dựng lực l−ợng vũ trang có đủ các quân chủng, binh chủng với tổng số quân là 470.000 ng−ời. Chính quyền Mỹ - Diệm sử dụng đội quân này nhằm tiến tới “lấp sông Bến Hải”, thực hiện kế hoạch “Bắc tiến”. Đội quân này đ−ợc khoác vỏ nguỵ trang, gọi là “Quân lực Việt Nam cộng hoà”, thực chất là công cụ của Mỹ do Mỹ trả l−ơng, tổ chức, huấn luyện, trang bị và chỉ huy để thực hiện âm m−u phản cách mạng. Hàng loạt căn cứ không quân đ−ợc xây dựng khắp miền Nam. Đế quốc Mỹ còn xây dựng một hệ thống viễn thông để điều khiển các hoạt động của không quân Mỹ giữa miền Nam Việt Nam, Philippin và Thái Lan. D−ới chính quyền Mỹ - Diệm, miền Nam Việt Nam còn trở thành thuộc địa để Mỹ bóc lột về kinh tế. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã ký với Mỹ các hiệp nghị nhằm −u tiên cho Mỹ và đồng minh của Mỹ xuất khẩu t− bản và hàng hoá vào miền Nam Việt Nam, đ−ợc miễn thuế quan và mọi khoản thuế nội địa. Mỹ - Diệm còn tách đồng tiền miền Nam khỏi đồng Phơrăng để phụ thuộc vào đồng đôla Mỹ. Quy định này đã tạo điều kiện cho hàng hoá của Mỹ tràn vào miền Nam để dễ dàng cạnh tranh với hàng hoá của Pháp và đến năm 1959 Mỹ chiếm hàng đầu tỉ lệ 26% tổng số hàng hoá nhập khẩu ở miền Nam. Mặt khác, chính quyền Ngô Đình Diệm còn thi hành một loạt chính sách và biện pháp nhằm kìm hãm và bóp nghẹt sự phát triển các ngành kinh tế dân tộc. Trong nông nghiệp, chính quyền Diệm thực hiện ch−ơng trình cải cách điền địa. Thực chất của ch−ơng trình này là nhằm t−ớc đoạt ruộng đất mà chính quyền cách mạng đã mang lại cho nông dân, khôi phục, duy trì, bảo vệ quyền chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ. Chính quyền Diệm còn lập “khu trù mật”, “khu dinh điền”, “ấp chiến l−ợc”. Hình thức này vừa là tổ chức kinh tế bóc lột nông dân, vừa là tổ chức chính trị để kìm kẹp, khống chế nông dân. Đối với các ngành công th−ơng nghiệp, chính quyền Ngô Đình Diệm đảm bảo cho Mỹ và phe Mỹ tiêu thụ đ−ợc nhiều hàng hoá ứ đọng d−ới chiêu bài “viện trợ”. Tất cả những việc làm của Mỹ - Diệm đều trái với các điều khoản quy định của Hiệp định Giơnevơ năm 1954 và không ngoài mục đích tách hẳn một phần lãnh thổ của Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào thành một quốc gia riêng biệt, đối lập với miền Bắc Việt Nam, 63
- không loại trừ là một phần lãnh thổ của Mỹ. Tháng 5/1957, Ngô Đình Diệm tuyên bố tại Oasinhtơn “Biên giới Hoa Kỳ kéo dài tới vĩ tuyến 17”. 2. Nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới Xuất phát từ đặc điểm tình hình trên (đất n−ớc bị chia cắt làm hai miền d−ới hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, miền Nam còn tạm bị các thế lực phản động đế quốc bên ngoài cấu kết với bọn phản cách mạng trong n−ớc thống trị), cách mạng Việt Nam tiến hành đồng thời hai chiến l−ợc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. ở miền Bắc, sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân căn bản hoàn thành. Quyền lãnh đạo cách mạng của giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong của nó là Đảng Lao động Việt Nam - ngày nay là Đảng Cộng sản Việt Nam - ngày càng vững chắc, khối liên minh công nông đ−ợc tăng c−ờng, chính quyền dân chủ nhân dân đ−ợc củng cố. Từ tình hình cụ thể trên, Đảng chủ tr−ơng đ−a miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Chủ tr−ơng này vừa đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân cả n−ớc, vừa phù hợp với quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam và với xu thế phát triển của thời đại. Trong điều kiện lịch sử cụ thể của cách mạng Việt Nam, khi giai cấp công nhân và nông dân đóng vai trò quyết định, Đảng Cộng sản độc quyền lãnh đạo, thì “sự kết thúc thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng có nghĩa là sự mở đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa” (5. 69). Tr−ớc khi thực hiện những nhiệm vụ đặc tr−ng của cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Bắc phải trải qua thời kỳ hoàn thành cải cách ruộng đất, hàn gắn vết th−ơng chiến tranh, khôi phục kinh tế. Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, có thời kỳ đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại, nên miền Bắc vừa chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ để bảo vệ miền Bắc, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng miền Bắc trở thành căn cứ địa cách mạng của cả n−ớc và hậu ph−ơng lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu n−ớc của dân tộc. ở miền Nam, vẫn còn d−ới ách thống trị của đế quốc và tay sai, sự nghiệp giải phóng dân tộc do đó ch−a hoàn thành. Trong điều kiện đó, nhân dân miền Nam có nhiệm vụ tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đẩy mạnh đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả n−ớc tiến tới hoà bình thống nhất đất n−ớc. Nh− vậy, từ năm 1954 ở mỗi miền thực hiện những nhiệm vụ cách mạng khác nhau nhằm giải quyết những yêu cầu cụ thể cấp bách tr−ớc mắt. Những nhiệm vụ của cách 64
- mạng hai miền nhằm thực hiện những mục tiêu chung của cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai, thực hiện một n−ớc Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, tích cực góp phần vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Vì vậy, nhiệm vụ chiến l−ợc cách mạng của hai miền có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển. Cách mạng xã hội chủ nghĩa miền Bắc không chỉ mang lại đời sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân, mà còn làm nhiệm vụ giải phóng miền Nam, chuẩn bị cho nhiệm vụ xây dựng đất n−ớc sau chiến tranh. Miền Bắc là hậu ph−ơng lớn, có vai trò quyết định nhất đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của cả n−ớc. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam vừa có nhiệm vụ trực tiếp giải phóng miền Nam vừa có nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc. Miền Nam là tiền tuyến lớn, có vai trò quyết định trực tiếp trong việc đánh đổ ách thống trị của đế quốc và tay sai, thống nhất đất n−ớc. Hậu ph−ơng miền Bắc và tiền tuyến miền Nam là hai bộ phận của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu n−ớc, và cũng do cùng thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ chung, nên cách mạng giữa hai miền có quan hệ với nhau. Đó là quan hệ giữa hậu ph−ơng và tiền tuyến, giữa hai chiến l−ợc cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Thắng lợi giành đ−ợc ở mỗi miền là thắng lợi chung của sự nghiệp chống Mỹ cứu n−ớc của cả dân tộc. Những nhiệm vụ cách mạng của nhân dân Việt Nam từ sau ngày hoà bình lập lại là hết sức nặng nề. Chính trong hoàn cảnh lịch sử đó, bằng những thắng lợi giành đ−ợc trong lao động sản xuất và trong chiến đấu đã chứng minh sự đúng đắn về đ−ờng lối, sự sáng tạo trong nghệ thuật lãnh đạo của Đảng cũng nh− tính cần cù trong lao động, anh dũng trong chiến đấu đ−ợc thể hiện đậm nét hơn bao giờ hết. II. Miền Bắc củng cố, hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, cải tạo quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa 1. Thực trạng kinh tế - xã hội miền Bắc sau 1954: Đặc điểm lớn của tình hình miền Bắc sau 1954 là miền Bắc đã hoàn toàn đ−ợc giải phóng khỏi ách đế quốc và phong kiến, chuyển từ thời chiến sang thời bình, có thêm những điều kiện chính trị - xã hội thuận lợi để thực hiện những nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng mới. Nh−ng miền Bắc vẫn gặp không ít khó khăn to lớn, nhất là trong lĩnh vực kinh tế - xã hội do hậu quả của chiến tranh và tàn d− của chế độ thực dân phong kiến để lại. ở các vùng mới giải phóng, hậu quả những cuộc càn quét của địch theo chính sách “tam quang” (đốt sạch, phá sạch, giết sạch) để lại hết sức nặng nền. Nhiều thôn xóm tiêu điều, xơ xác, chính sách dồn dân lập vành đai trắng để lại hàng vạn mẫu ruộng đất bị bỏ hoang, đê đập bị phá hoại, trâu bò bị giết hại. Tình trạng chung ở nông thôn là nhân 65
- công, nông cụ và trâu bò - sức kéo chủ yếu trong nông nghiệp - đều thiếu thốn nghiêm trọng, kỹ thuật canh tác hết sức lạc hậu, đời sống nhân dân thấp kém. Trong các thành thị mang tính chất phồn vinh giả tạo, hàng ngoại tràn ngập thị tr−ờng, làm cho công nghiệp dân tộc vốn ít ỏi, nhỏ bé, chiếm vị trí thứ yếu không thể phát triển đ−ợc. Tiểu thủ công nghiệp bị chèn ép, sa sút hoặc phá sản. Tại các cơ sở công nghiệp lớn do thực dân Pháp nắm giữ tr−ớc đây, nh− mỏ than Hòn Gai, nhà máy xi măng Hải Phòng, dệt Nam Định, điện Hà Nội bị địch tháo gỡ hoặc phá hoại tr−ớc khi giao lại cho ta. Vì thế, nhiều cơ sở công nghiệp không thể hoạt động ngay đ−ợc. Tình hình đó làm cho nhiều công nhân thất nghiệp, đời sống gặp nhiều khó khăn. Tại các vùng tự do cũ của ta trong kháng chiến, tuy nông nghiệp, công nghiệp đ−ợc chú ý phát triển, nh−ng quy mô nhỏ bé, kỹ thuật lạc hậu. Do vậy, năng suất thấp, không đáp ứng đ−ợc nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân trong thời bình. Trong khi đó, cải cách ruộng đất mới bắt đầu thực hiện cuối năm 1953 ở một số địa ph−ơng thuộc vùng tự do, chế độ chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ phong kiến vẫn còn, nông dân vẫn bị địa chủ bóc lột, sức sản xuất ở nông thôn ch−a đ−ợc giải phóng hoàn toàn. Điều đó ảnh h−ởng đến phát triển sản xuất. Những khó khăn trên cần phải đ−ợc giải quyết nhanh chóng. Giải quyết những khó khăn đó, không chỉ do đòi hỏi cấp bách của việc khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh, mà còn có một ý nghĩa chính trị sâu sắc, nhất là trong điều kiện đất n−ớc còn tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Trong tình hình đó, Đảng và Nhà n−ớc chủ tr−ơng đẩy mạnh cuộc vận động cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế nhằm củng cố miền Bắc, đ−a miền Bắc sang giai đoạn cách mạng mới. 2. Hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế (1954 - 1957) a. Hoàn thành cải cách ruộng đất Cải cách ruộng đất là chủ tr−ơng lớn của Đảng và Nhà n−ớc ta trong kháng chiến chống Pháp, nhằm thực hiện triệt để khẩu hiệu “ng−ời cày có ruộng” (một trong hai khẩu hiệu chiến l−ợc của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân). Cuộc vận động cải cách ruộng đất bắt đầu từ cuối năm 1953, nh−ng chỉ mới thực hiện đợt 1 tại một số vùng tự do miền Bắc (Việt Bắc, Thanh - Nghệ - Tĩnh) thì hoà bình lập lại (1954). Sau khi chiến tranh chấm dứt, đồng thời với nhiệm vụ khôi phục kinh tế, miền Bắc tiếp tục thực hiện cải cách ruộng đất, hoàn thành nhiệm vụ phản phong. Việc thực hiện cải cách ruộng đất là nhằm thoả mãn quyền lợi về kinh tế và chính trị của nông dân, củng cố khối công nông liên minh, mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất. 66
- Căn cứ vào thực tế, Uỷ ban cải cách ruộng đất Trung −ơng đề ra nghị quyết: “Đẩy mạnh phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất”. Thực hiện nghị quyết đó, đợt hai cải cách ruộng đất và là đợt đầu tiên tiến hành trong hoà bình. Từ đó cuộc cải cách ruộng đất bắt đầu lan rộng các vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ. Trong hơn hai năm (1954-1956), miền Bắc đã tiến hành 4 đợt cải cách ruộng đất, thực hiện trên tổng số 3.653 xã. Toàn bộ công cuộc cải cách ruộng đất đã giành đ−ợc thắng lợi có tính chất chiến l−ợc: đánh đổ toàn bộ giai cấp địa chủ phong kiến, xoá bỏ quyền chiếm hữu ruộng đất của chúng, đem 810.000 hécta ruộng đất, 10 vạn trâu bò, 2 triệu nông cụ chia cho nông dân nghèo, thực hiện triệt để khẩu hiệu “ng−ời cày có ruộng”, đ−a nông dân lên vị trí ng−ời chủ ở nông thôn. Trong quá trình thực hiện cải cách ruộng đất, chúng ta phạm những sai lầm nghiêm trọng thuộc “tả khuynh”. Đó là không nắm vững tình hình đặc điểm nông thôn miền Bắc, các vùng mới giải phóng, nên có những nhận định đánh giá sai lầm về tổ chức của ta ở nông thôn, về giai cấp địa chủ, không phân biệt những địa chủ đã từng tham gia, ủng hộ kháng chiến, ấn định tỉ lệ phần trăm địa chủ ở nông thôn, sai lầm trong phân định giai cấp ở nông thôn, xử lý không đúng đối với cán bộ, đảng viên có công với cách mạng, dùng ph−ơng pháp đấu tố tràn lan, thô bạo, gây tình hình căng thẳng ở nông thôn. Những sai lầm đó gây ra nhiều tổn thất, gây tình hình mất ổn định ở nông thôn, ảnh h−ởng xấu cho chính sách đoàn kết của Đảng và Mặt trận. Đó là những sai lầm thuộc về một số vấn đề có tính nguyên tắc sách l−ợc, chủ tr−ơng, biện pháp thực hiện. Chẳng những sai lầm, mà ở n−ớc ta, những chủ tr−ơng và biện pháp cải cách ruộng đất nh− đã làm thậm chí không cần thiết. Qua một thời gian thực hiện cải cách ruộng đất, phát hiện đ−ợc sai lầm, Đảng và Nhà n−ớc tiến hành kiểm điểm công khai sai lầm, có chủ tr−ơng và biện pháp kiên quyết sửa sai, và đã dành cả năm 1957 để sửa sai. Việc kiên quyết sửa sai và kết quả đạt đ−ợc đã làm cho tình hình nông thôn dần dần trở lại ổn định. Nh−ng điều quan trọng là việc làm công khai của Đảng và Nhà n−ớc đã lấy lại lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà n−ớc. Tuy có những sai lầm nói trên, nh−ng thắng lợi của cải cách ruộng đất là thắng lợi to lớn, có tính chất chiến l−ợc, làm thay đổi hẳn bộ mặt nông thôn miền Bắc. Thắng lợi đó đã đem lại niềm phấn khởi cho nông dân. Họ đ−ợc làm chủ nông thôn cả về kinh tế và chính trị, khối công nông liên minh đ−ợc củng cố thêm một b−ớc. Nó có tác dụng to lớn trong việc đẩy mạnh sản xuất, khôi phục kinh tế, hàn gắn vết th−ơng chiến tranh. b. Khôi phục kinh tế, hàn gắn vết th−ơng chiến tranh 67
- Khôi phục kinh tế là nhiệm vụ tất yếu trong thời kỳ đầu sau chiến tranh. Tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá I (tháng 9/1955), Quốc hội đã đề ra nhiệm vụ trong thời kỳ khôi phục kinh tế, gồm 3 mặt: - Khôi phục nền sản xuất bị phá hoại trong chiến tranh. - ổn định tình hình kinh tế - tài chính. - Củng cố và phát triển kinh tế quốc doanh và xây dựng bộ phận kinh tế hợp tác xã. Đây là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ này, đã đ−ợc toàn dân tích cực tham gia h−ởng ứng và triển khai trong tất cả các ngành. Yêu cầu của nhiệm vụ này là sau hai năm, về cơ bản phải đạt đ−ợc mức sản xuất tr−ớc chiến tranh, nhằm giảm bớt khó khăn và nâng cao một b−ớc đời sống nhân dân. • Khôi phục kinh tế nông nghiệp Đối với nền kinh tế n−ớc ta, nông nghiệp có vị trí quan trọng, vì nó cung cấp nguyên liệu, l−ơng thực và tiêu thụ sản phẩm công nghiệp, đặc biệt là sản xuất l−ơng thực. Đối với miền Bắc n−ớc ta, nói đến khôi phục kinh tế, tr−ớc hết là chủ yếu là khôi phục kinh tế nông nghiệp. Phải khôi phục sản xuất nông nghiệp mới giải quyết đ−ợc vấn đề l−ơng thực, làm cơ sở cho việc khôi phục và phát triển các ngành kinh tế khác. Khôi phục sản xuất nông nghiệp để nâng cao mức sống cho nhân dân, do đó, sẽ củng cố đ−ợc khối công nông liên minh vững chắc. Do đó Đảng và Nhà n−ớc chủ tr−ơng lấy khôi phục nông nghiệp làm chủ yếu, trên cơ sở khôi phục nông nghiệp mà khôi phục toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Giai cấp nông dân miền Bắc vừa mới đ−ợc giải phóng hoàn toàn khỏi ách bóc lột của đế quốc, phong kiến và đ−ợc chia ruộng đất, hết sức phấn khởi, càng hăng say b−ớc vào khôi phục và phát triển sản xuất. Với đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, nông dân miền Bắc đã hăng hái khai khẩn đất hoang, bảo đảm cày cấy hết diện tích ruộng đất của đồng bào bị c−ỡng ép di c− vào Nam, tăng thêm đàn trâu bò, sắm thêm nhiều nông cụ. Nhiều đập n−ớc (nh− đập Bái Th−ợng, Đô L−ơng, Thác Huống ), nhiều đoạn đê bị địch phá hoại trong kháng chiến, nay đ−ợc sửa chữa. Cùng với việc khôi phục, sửa chữa, ta còn xây dựng thêm những công trình thuỷ nông mới có tác dụng mở rộng diện tích t−ới, tiêu n−ớc. Với sự nỗ lực phi th−ờng trên, sản xuất nông nghiệp đã tăng nhanh sản l−ợng l−ơng thực. Đến cuối năm 1957, tổng sản l−ợng l−ơng thực đạt 4.000.000 tấn, v−ợt xa mức tr−ớc chiến tranh (1939: 2.407.000 tấn). Sản l−ợng hoa màu quy ra thóc đạt bình quân hàng năm là 680.000 tấn, gấp ba lần tr−ớc chiến tranh. Các loại cây công nghiệp chính tăng 65,4% so với năm 1939. Kết quả của việc khôi phục sản xuất nông nghiệp đã đẩy lùi nạn đói có tính chất kinh niên ở miền Bắc, đời sống của nhân dân lao động đ−ợc ổn 68
- định. Đồng thời với việc nâng cao đời sống nhân dân lao động, việc khôi phục nhanh chóng sản xuất nông nghiệp đã tạo cơ sở thuận lợi để khôi phục các ngành kinh tế khác. • Khôi phục sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp Nền công nghiệp miền Bắc bị chính sách thuộc địa của thực dân Pháp kìm hãm, nên rất nhỏ bé. Cơ sở công nghiệp nặng hầu nh− không có. Cuối năm 1954 giá trị sản l−ợng công nghiệp chỉ chiếm 1,5% tổng giá trị sản l−ợng công - nông nghiệp. Công nghiệp nhẹ nhỏ bé lại bị chiến tranh tàn phá, kỹ thuật lạc hậu. Vì vậy việc khôi phục và phát triển công nghiệp phải tiến hành từng b−ớc và có thời gian chuẩn bị điều kiện. Từ thực tế đó, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà quyết định tập trung khôi phục và phát triển công nghiệp nhẹ tr−ớc, đồng thời củng cố và phát triển các cơ sở công nghiệp nặng trong phạm vi cần thiết và khả năng vốn có của mình. Thực hiện chủ tr−ơng trên, giai cấp công nhân với tinh thần dựa vào sức mình là chính, kết hợp với việc sử dụng có hiệu quả viện trợ của các n−ớc anh em, đã khôi phục và mở rộng hầu hết các cơ sở công nghiệp, các nhà máy, xí nghiệp quan trọng, nh− mỏ than Hòn Gai, các nhà máy dệt Nam Định, xi măng Hải Phòng, điện Hà Nội. Chúng ta còn xây dựng thêm một số nhà máy mới, nh− cơ khí Hà Nội, diêm Thống Nhất, gỗ Cầu Đuống, thuốc lá Thăng Long, cá hộp Hải Phòng, chè Phú Thọ Trong đó việc xây dựng nhà máy cơ khí Hà Nội là sự kiện quan trọng trong lịch sử phát triển công nghiệp ở Việt Nam. Đây là cơ sở đầu tiên của ngành chế tạo máy n−ớc ta. Đến cuối năm 1957, toàn bộ miền Bắc có tất cả 97 nhà máy, xí nghiệp do Nhà n−ớc quản lý. Trong ba năm khôi phục, công nghiệp miền Bắc không những tăng lên về số l−ợng, mà chất l−ợng cũng có nhiều thay đổi. Ngoài việc xuất hiện cơ sở chế tạo máy móc đầu tiên, kỹ thuật chế biến sản phẩm ở nhiều xí nghiệp có tiến bộ. Nhiều mặt hàng tr−ớc kia phải nhập của n−ớc ngoài nay đã bắt đầu sản xuất đ−ợc trong n−ớc. Cùng với việc khôi phục và phát triển công nghiệp, các ngành thủ công nghiệp miền Bắc cũng đ−ợc khôi phục nhanh chóng. Đến năm 1957, số thợ thủ công tăng lên gần 460.000 ng−ời (gấp 2 lần số thợ thủ công năm 1941, là năm thủ công nghiệp phát triển cao nhất tr−ớc cách mạng tháng Tám). Ngành thủ công nghiệp đã cung cấp 58,8% số hàng hoá công nghiệp trong n−ớc. Các ngành nh− sản xuất vật liệu xây dựng, nông cụ, dệt, may mặc, làm muối, mắm đều v−ợt mức tr−ớc năm 1941. Nhìn chung trong ba năm khôi phục kinh tế, giá trị tổng sản l−ợng công nghiệp và thủ công nghiệp hàng năm tăng khá nhanh, góp phần hàn gắn vết th−ơng chiến tranh, ổn định đời sống nhân dân. • Khôi phục và phát triển th−ơng nghiệp 69
- Sau khi hoà bình lập lại, ngành th−ơng nghiệp của miền Bắc có nhiều khó khăn. Thị tr−ờng miền Bắc gần nh− ngừng hoạt động do sự lũng đoạn của t− bản Pháp Một khó khăn không nhỏ nữa là nhu cầu cung cấp tăng lên trong khi sản xuất công, nông nghiệp bị tàn phá nặng nề, không đủ sức cung cấp cho thị tr−ờng khối l−ợng hàng hoá cần thiết. Bên cạnh nền th−ơng nghiệp ở các vùng tự do, là nền th−ơng nghiệp ở các vùng mới giải phóng, có những điểm khác biệt. Một bên mang tính chất độc lập tự chủ, phục vụ sản xuất, phục vụ dân sinh, còn một bên phụ thuộc vào nền kinh tế đế quốc, phần lớn hàng hoá giao l−u trên thị tr−ờng nằm trong tay t− nhân. Th−ơng nghiệp xã hội chủ nghĩa còn nhỏ bé. Vì vậy trên lĩnh vực thị tr−ờng cuộc đấu tranh diễn ra rất gay go, phức tạp. Dựa trên tình hình cụ thể đó, Chính phủ chủ tr−ơng “chuyển th−ơng nghiệp phục vụ đế quốc, phục vụ chiến tranh xâm l−ợc thành th−ơng nghiệp phục vụ sản xuất, phục vụ nhân dân thành thị và nông thôn, h−ớng dẫn một số th−ơng gia tr−ớc đây buôn bán hàng không cần thiết cho nhân dân chuyển sang kinh doanh công nghiệp, bình ổn vật giá. Khôi phục và phát triển th−ơng nghiệp phục vụ nhân dân trên cơ sở tăng c−ờng mậu dịch tốt đối với đời sống nhân dân và đối với sản xuất”. Trong 3 năm khôi phục, nền th−ơng nghiệp miền Bắc đã đạt nhiều thành tích: nâng tổng mức bán lẻ lên 70,6% so với năm 1955; doanh số th−ơng nghiệp tăng gấp 2 lần so với năm 1955, giá cả đ−ợc thống nhất và ổn định, góp phần đáng kể vào việc ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Hệ thống mậu dịch quốc doanh và hợp tác xã mua bán đ−ợc mở rộng và cung cấp ngày càng nhiều mặt hàng cho nhân dân ở thành thị và nông thôn. Việc giao l−u kinh tế giữa các địa ph−ơng trong miền Bắc đ−ợc mở rộng, giảm bớt sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn. Hoạt động ngoại th−ơng từng b−ớc tập trung vào nhà n−ớc, quan hệ buôn bán với n−ớc ngoài càng mở rộng. Tính đến năm 1957, miền Bắc n−ớc ta đã đặt quan hệ buôn bán với 27 n−ớc trên thế giới. • Khôi phục và phát triển giao thông vận tải Hệ thống giao thông vận tải ở miền Bắc d−ới thời thuộc Pháp rất kém, lại bị tàn phá, h− hỏng trong thời kỳ chiến tranh, tr−ớc khi rút khỏi miền Bắc, thực dân Pháp tiếp tục phá hoại. Trong tình hình ấy, với nhiệm vụ khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng, Nhà n−ớc chủ tr−ơng khôi phục nhanh chóng hệ thống giao thông vận tải, nh− đ−ờng sắt, đ−ờng bộ, đ−ờng thuỷ, b−u điện Việc khôi phục và phát triển hệ thống giao thông vận tải là việc làm có ý nghĩa quan trọng, là điều không thể thiếu trong phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế, văn hoá. Cuối năm 1957, miền Bắc đã khôi phục đ−ợc gần 700 kilômét đ−ờng sắt, quan trọng nhất là tuyến đ−ờng sắt Hà Nội - Lạng Sơn. Khôi phục và làm thêm 10.607 kilômét đ−ờng ôtô. Xây dựng và mở rộng thêm nhiều bến cảng, cửa sông, nh− Hải Phòng, Hòn 70
- Gai, Cẩm Phả, Bến Thuỷ góp phần quan trọng trong việc phát triển giao l−u hàng hoá trong n−ớc và thế giới, phục hồi kinh tế. Đ−ờng hàng không dân dụng quốc tế đ−ợc khai thông. Cơ cấu kinh tế cũng nh− quan hệ sản xuất ở miền Bắc b−ớc đầu có sự thay đổi. Thành phần kinh tế quốc doanh chiếm 58% giá trị sản l−ợng trong công nghiệp; 100% trong các ngành xây dựng cơ bản, b−u điện, đ−ờng sắt; 61% trong các ngành buôn bán; 97% trong ngành ngoại th−ơng và 100% trong ngành ngân hàng. Nh− vậy, kinh tế quốc doanh đã giữ vai trò lãnh đạo nền kinh tế quốc dân. Hoàn thành cải cách ruộng đất và khôi phục kinh tế, hàn gắn vết th−ơng chiến tranh là những nhiệm vụ kinh tế - xã hội đ−ợc tiến hành trong thời gian 1954 - 1957 có tác dụng hỗ trợ cho nhau, góp phần vào những nhiệm vụ chính trị, quân sự, nhằm củng cố miền Bắc, xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa cách mạng của cả n−ớc, là hậu ph−ơng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu n−ớc của dân tộc. 3. Cải tạo quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, b−ớc đầu phát triển kinh tế - văn hoá (1958 - 1960) a. Cải tạo quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Sau 3 năm hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, nền kinh tế miền Bắc có nhiều thay đổi; thành phần kinh tế thực dân phong kiến bị xoá bỏ, thành phần kinh tế quốc doanh chiếm −u thế và giữ vai trò lãnh đạo. Tuy vậy, nền kinh tế miền Bắc lúc này căn bản vẫn là kinh tế nông nghiệp phân tán, lạc hậu, lao động thủ công với năng suất thấp, các thành phần kinh tế dựa trên chế độ chiếm hữu t− nhân về t− liệu sản xuất. Kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công, tiểu th−ơng, tiểu chủ chiếm rất lớn. Thành phần kinh tế công th−ơng nghiệp t− bản t− doanh còn tồn tại. Trong tình hình đó, Nhà n−ớc Việt Nam dân chủ cộng hoà chủ tr−ơng cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế cá thể. Cải tạo quan hệ sản xuất là một trong những nhiệm vụ đặc tr−ng của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đó là chủ tr−ơng lớn của Đảng và Nhà n−ớc ta trong b−ớc đầu của thời kỳ miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhằm xoá bỏ các thành phần kinh tế không phải xã hội chủ nghĩa. Tháng 12/1958, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá I đã thông qua kế hoạch 3 năm cải tạo và phát triển kinh tế - văn hoá (1958 - 1960), bao gồm những nhiệm vụ sau đây: - Cải tạo nông nghiệp, thủ công nghiệp và công th−ơng nghiệp t− bản t− doanh theo h−ớng xã hội chủ nghĩa, khâu chính là hợp tác hoá nông nghiệp, đồng thời tích cực phát triển và củng cố thành phần kinh tế quốc doanh. 71
- - Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, lấy sản xuất nông nghiệp làm khâu chính, chủ yếu nhằm giải quyết vấn đề l−ơng thực, chú trong phát triển công nghiệp, tăng thêm các t− liệu sản xuất và giải quyết phần lớn hàng tiêu dùng. Trên cơ sở đó, nâng cao một b−ớc đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, nhất là nhân dân lao động và tăng c−ờng củng cố quốc phòng. Mặc dù có những tiến bộ sau 3 năm khôi phục kinh tế, nh−ng nông nghiệp miền Bắc vẫn mang nặng tính chất tiểu nông, phân tán, lạc hậu, không thể áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất. Muốn tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, một nhiệm vụ cấp bách đặt ra là phải cải tạo quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, tức phải tiến hành hợp tác hoá nông nghiệp, tạo tiền đề đi lên sản xuất lớn. Cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp ở miền Bắc tiến hành trong điều kiện ch−a cơ giới hoá nông nghiệp. Do đó cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp, đòi hỏi cải tạo quan hệ sản xuất kết hợp với cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động, và giáo dục t− t−ởng xã hội chủ nghĩa cho nông dân. Muốn phong trào hợp tác hoá thắng lợi phải dựa vào bần nông và trung nông lớp d−ới, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, hạn chế và đi đến xoá bỏ bóc lột của phú nông, cải tạo t− t−ởng phú nông, ngăn ngừa địa chủ ngóc đầu dậy, tiếp tục mở đ−ờng cho địa chủ lao động cải tạo, đ−a nông dân vào con đ−ờng hợp tác hoá nông nghiệp. Trong quá trình vận động, tổ chức nông dân đi vào con đ−ờng làm ăn tập thể, phải đảm bảo ba nguyên tắc: tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ. Cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp miền Bắc phải đi từ thấp đến cao, trải qua ba b−ớc: Tổ đổi công - Hợp tác xã bậc thấp - Hợp tác xã bậc cao; từ hợp tác xã quy mô nhỏ đến hợp tác xã quy mô lớn, làm cho nông dân quen dần với lối làm ăn tập thể và phù hợp với tình hình quản lý của cán bộ hợp tác xã. Để cho cuộc vận động có kết quả, đầu năm 1958, Nhà n−ớc mở nhiều lớp huấn luyện cho cán bộ hợp tác xã; năm 1959, tổ chức cho nông dân học tập chính sách hợp tác hoá nông nghiệp, tranh luận rộng rãi về con đ−ờng xã hội chủ nghĩa và t− bản chủ nghĩa. Từ đó cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp trở thành phong trào rộng khắp. Nhà n−ớc cũng đã hỗ trợ tích cực cho phong trào hợp tác hoá nông nghiệp, nh− đầu t− vốn, cho nông dân vay vốn, cung cấp phân bón, sức kéo, nông cụ Nhờ đó, đến cuối năm 1960, việc cải tạo nông nghiệp theo hình thức hợp tác xã bậc thấp căn bản hoàn thành, có 85% số nông hộ vào hợp tác xã với 68,08% diện tích ruộng đất. Tại miền núi, do có những đặc điểm riêng, Đảng và Nhà n−ớc chủ tr−ơng tiến hành cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp, phát triển sản xuất kết hợp với hoàn thành cải cách dân chủ. Chúng ta đã thực hiện cuộc vận động đó ở 2.000 xã với 3 triệu dân. Tính 72
- đến tháng 6/1961, toàn miền núi có 357.000 hộ nông dân vào hợp tác xã, chiếm 75,64% tổng số hộ nông dân. Cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp đến cuối năm 1960 căn bản hoàn thành. Nó xoá bỏ cơ bản nguồn gốc chế độ ng−ời bóc lột ng−ời ở nông thôn, cùng với cải cách ruộng đất đã xoá bỏ cơ bản giai cấp bóc lột ở miền Bắc n−ớc ta. Bên cạnh thắng lợi đó, thành phần kinh tế quốc doanh trong nông nghiệp cũng đ−ợc mở rộng. 56 nông tr−ờng quốc doanh với diện tích 10 vạn hécta đ−ợc xây dựng. Trên cơ sở hợp tác nông nghiệp, phong trào thi đua tăng năng suất, áp dụng những biện pháp kỹ thuật cũng đ−ợc đẩy mạnh. Nhờ đó sản l−ợng l−ơng thực đ−ợc tăng lên. 1959 và 1960 là những năm có sản l−ợng l−ơng thực đạt ở mức cao ch−a từng có. Hoàn thành căn bản công cuộc cải tạo nông nghiệp có tác dụng đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp. Thắng lợi này còn tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc cải tạo các thành phần kinh tế khác. Sau ba năm khôi phục kinh tế, ngành thủ công nghiệp miền Bắc trong chiến tranh sản xuất giảm sút nay đã có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, giải quyết đ−ợc phần lớn các mặt hàng tiêu dùng cho nhân dân, cung cấp một số mặt hàng xuất khẩu và t− liệu sản xuất cho các ngành khác. Nh−ng do lối kinh doanh phân tán, thợ thủ công không phát huy đ−ợc mặt tích cực. Vì vậy cải tạo thủ công nghiệp theo h−ớng xã hội chủ nghĩa để tạo điều kiện cho ngành thủ công nghiệp và thợ thủ công xoá bỏ mặt lạc hậu, góp phần cùng các ngành kinh tế khác xây dựng nền kinh tế quốc dân tiên tiến, hiện đại. Để đi đến mục tiêu đó, cải tạo thủ công nghiệp thông qua hình thức hợp tác xã sản xuất thủ công nghiệp, kết hợp chặt chẽ việc cải tạo quan hệ sản xuất với cải tiến kỹ thuật. Đ−ợc sự giúp đỡ của Đảng và Nhà n−ớc, trong thời kỳ cải tạo, thợ thủ công miền Bắc đã h−ởng ứng chủ tr−ơng trên. Đến cuối năm 1960, có 87,9% thợ thủ công đ−ợc cải tạo, đã tham gia các hình thức hợp tác xã. Đối với th−ơng nghiệp, sau ba năm khôi phục, th−ơng nghiệp miền Bắc vẫn còn nhỏ bé, ch−a đáp ứng đ−ợc nhu cầu trong n−ớc và trên thế giới. Tuy nhiên, những ng−ời buôn bán nhỏ đóng vai trò quan trọng trong việc trao đổi và l−u thông hàng hoá giữa các miền của đất n−ớc, đ−a hàng đến tay ng−ời tiêu dùng. Nhà n−ớc chủ tr−ơng cải tạo th−ơng nghiệp d−ới hình thức hợp tác xã mua bán và hợp tác xã vừa mua bán vừa sản xuất, nhằm chuyển dần một bộ phận những ng−ời mua bán nhỏ sang sản xuất. Đến cuối năm 1960, ở miền Bắc có 10,5 vạn ng−ời buôn bán nhỏ tham gia các hình thức hợp tác xã, chiếm 45,1% tổng số ng−ời buôn bán nhỏ trong diện cải tạo, có 5 vạn ng−ời chuyển sang sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp. 73
- Đối với công th−ơng nghiệp t− bản t− doanh và giai cấp t− sản dân tộc, khi chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa, việc cải tạo công th−ơng nghiệp t− bản t− doanh và giai cấp t− sản là một chủ tr−ơng của Đảng và Nhà n−ớc. Việc cải tạo thành phần kinh tế công th−ơng nghiệp t− bản t− doanh và giai cấp t− sản đ−ợc tiến hành trong điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi n−ớc. ở miền Bắc n−ớc ta, việc làm đó tiến hành trong điều kiện lịch sử là: Nhà n−ớc dân chủ nhân dân của ta vững mạnh dựa trên nền tảng công nông liên minh; thành phần kinh tế quốc doanh giữ vai trò lãnh đạo; giai cấp t− sản miền Bắc nhỏ bé, lại từng là bạn đồng minh trong cách mạng dân tộc dân chủ, tán thành c−ơng lĩnh của Mặt trận Tổ quốc, có khả năng tiếp thu cải tạo; đất n−ớc ta bị chia cắt làm hai miền. Do đó, việc cải tạo giai cấp t− sản miền Bắc phải nhằm bảo đảm sự đoàn kết mọi lực l−ợng trong cả n−ớc để chống đế quốc Mỹ và tay sai. Từ điều kiện lịch sử cụ thể đó, Đảng và Nhà n−ớc chủ tr−ơng cải tạo đối với công th−ơng nghiệp t− bản t− doanh bằng ph−ơng pháp hoà bình. Chính sách của nhà n−ớc đối với giai cấp t− sản dân tộc là sử dụng mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của họ. Với ph−ơng pháp cải tạo hoà bình, về kinh tế, Nhà n−ớc không tịch thu t− liệu sản xuất của nhà t− sản, mà dùng chính sách chuộc lại và trả dần. Về chính trị, vẫn coi giai cấp t− sản dân tộc là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chứ không phải là đối t−ợng của cách mạng. Trong quá trình thực hiện cải tạo, Nhà n−ớc chú trọng kết hợp các biện pháp kinh tế - hành chính - giáo dục, kết hợp cải tạo kinh tế với cải tạo t− t−ởng, để biến ng−ời t− sản trở thành ng−ời lao động trong chế độ mới, xoá bỏ quan hệ sản xuất t− bản. Đây là quá trình đấu tranh giai cấp, nên nó diễn ra gay go và phức tạp. Giai cấp t− sản dân tộc đã có sự chống lại. Để đảm bảo cuộc cải tạo đạt kết quả phải dựa vào quần chúng công nhân, đoàn kết chặt chẽ với nhân dân lao động, giáo dục nhà t− sản. Đối với những phần tử ngoan cố, ta kiến quyết đấu tranh. Cùng với chính sách chuộc lại t− liệu sản xuất, Nhà n−ớc ta chú ý sắp xếp việc làm cho ng−ời t− sản trong các xí nghiệp, tạo điều kiện cho họ đi vào con đ−ờng lao động. Đến cuối năm 1960, cuộc vận động cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế trên, căn bản đã hoàn thành. Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa b−ớc đầu đ−ợc xác lập và về cơ bản đã xoá bỏ chế độ ng−ời bóc lột ng−ời trên miền Bắc, đ−a đ−ợc đại bộ phận (trên 85%) ng−ời lao động làm ăn cá thể vào làm ăn tập thể trong các hình thức hợp tác xã, và chính hợp tác xã đã đảm bảo những điều kiện vật chất, tinh thần, chính trị cho bộ phận tham gia chiến đấu, xây dựng đ−ợc những cơ sở vật chất đầu tiên của chủ nghĩa xã hội. 74
- Trong quá trình thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế không phải xã hội chủ nghĩa, ta đã phạm những sai lầm, thiếu sót, nh− đã đồng nhất “cải tạo” với “xoá bỏ” nhằm xoá bỏ các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa và coi “xóa bỏ” là mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ. Trong khi thực hiện nhiệm vụ cải tạo các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, ta đã thể hiện t− t−ởng chủ quan, nóng vội, duy ý chí, mong muốn thực hiện nhanh chóng, dứt điểm theo kiểu “chiến dịch” (cơ bản hoàn thành trong ba năm 1958 - 1960). Do chỉ đạo cải tạo mắc phải t− t−ởng chủ quan, nóng vội, duy ý chí, nên đã dẫn đến sai phạm “nguyên tắc tự nguyện” trong vận động xây dựng hợp tác xã, đã không phát huy đầy đủ tính chủ động sáng tạo của quần chúng, không tạo ra đ−ợc động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển năng động của nền kinh tế. Nguyên nhân chủ yếu của những sai phạm trên là do không nắm vững các quy luật kinh tế của thời kỳ quá độ. Quá độ từ một xã hội tiền t− bản lên chủ nghĩa xã hội, tất yếu tồn tại thành phần kinh tế cá thể, kinh tế t− bản t− nhân trong nền kinh tế nhiều thành phần, cần phát huy vai trò tích cực của các thành phần kinh tế cá thể, t− bản t− nhân trong việc làm sống động nền kinh tế, phát triển lực l−ợng sản xuất. Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) đã khẳng định trên thực tế n−ớc ta tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và phải coi trọng những thành phần kinh tế đó. Điều đó chứng tỏ rằng, chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến l−ợc lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội. b. B−ớc đầu phát triển kinh tế - văn hoá Đồng thời với nhiệm vụ cải tạo là nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế - văn hoá. • Phát triển kinh tế Trong phát triển kinh tế, trọng tâm là phát triển thành phần kinh tế quốc doanh, công nghiệp quốc doanh là cơ sở chủ yếu của nền công nghiệp xã hội chủ nghĩa. Vì vậy trong kế hoạch ba năm (1958 - 1960), Đảng và Nhà n−ớc chủ tr−ơng ra sức phát triển công nghiệp sản xuất các t− liệu sản xuất, tiếp tục đẩy mạnh phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng. Đi đôi với việc phát triển công nghiệp quốc doanh trung −ơng, Nhà n−ớc chú trọng phát triển thủ công nghiệp và bắt đầu xây dựng các xí nghiệp quốc doanh địa ph−ơng. Nhà n−ớc đã đầu t− phần lớn vốn cho xây dựng cơ bản trong công nghiệp (chiếm 46,52% gấp ba lần so với kế hoạch ba năm khôi phục). Với số vốn đầu t− trên, Nhà n−ớc đã xây dựng nhiều công trình lớn nhỏ. Từ chỗ có 97 xí nghiệp công nghiệp quốc doanh năm 1957, đến năm 1960 đã có 172 xí nghiệp do trung −ơng quản lý và trên 500 cơ sở do địa ph−ơng quản lý. Một hệ thống các nhà máy, xí nghiệp thuộc các ngành: điện lực, khai khoáng, luyện kim, chế tạo nông cụ, chế tạo cơ 75
- khí, hoá chất, phân bón, vật liệu xây dựng đ−ợc hình thành. Khu gang thép Thái Nguyên, một cơ sở luyện kim đầu tiên của Việt Nam đ−ợc xây dựng trong thời kỳ này. Ngành công nghiệp tiêu dùng đ−ợc phát triển và đạt kết quả lớn. Năm 1959, tổng số hàng tiêu dùng đ−ợc sản xuất trong n−ớc tăng 283,7% so với năm 1955, sức mua của nhân dân cũng tăng lên so với tr−ớc, đảm bảo cung cấp đ−ợc 90% hàng tiêu dùng cần thiết cho đời sống nhân dân. Số l−ợng xí nghiệp tăng, nên giá trị tổng sản l−ợng công nghiệp tăng. Giá trị sản l−ợng công nghiệp quốc doanh chiếm tỉ lệ cao: năm 1957 là 26,9%, đến năm 1960 là 52,4%. Sự phát triển nhanh chóng công nghiệp miền Bắc trong ba năm 1958 -1960 đã có tác dụng thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, bức tranh kinh tế của miền Bắc khởi sắc. Với sự phát triển của công nghiệp, giai cấp công nhân Việt Nam phát triển về số l−ợng và chất l−ợng, tạo điều kiện cho nó phát huy vai trò lãnh đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa. Ngành th−ơng nghiệp xã hội chủ nghĩa cũng phát triển mạnh mẽ. Từ một sở mậu dịch quốc doanh trong kháng chiến, đến năm 1959, mậu dịch quốc doanh đã có 12 tổng công ty chuyên nghiệp, bao gồm 1.400 cửa hàng. Sự phát triển th−ơng nghiệp xã hội chủ nghĩa đã có tác dụng giữ vững vai trò chủ đạo và ổn định thị tr−ờng, góp phần quan trọng trong việc cải thiện đời sống vật chất cũng nh− tinh thần của nhân dân lao động. • Phát triển văn hoá - giáo dục - y tế Những tiến bộ về mặt kinh tế đã tạo điều kiện cho sự nghiệp văn hoá - giáo dục - y tế phát triển. Nhiệm vụ của công tác văn hoá là động viên và tổ chức mọi lực l−ợng văn hoá, khoa học, giáo dục, nghệ thuật, nhằm giáo dục t− t−ởng xã hội chủ nghĩa cho nhân dân, cổ vũ mọi ng−ời thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất n−ớc nhà. Thành tích của văn hoá là động viên những ng−ời làm văn hoá, nghệ thuật, điện ảnh, báo chí phục vụ cho công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trên mặt trận giáo dục, Nhà n−ớc đẩy mạnh công tác xoá nạn mù chữ. Đến cuối năm 1960, miền Bắc đã căn bản xoá xong nạn mù chữ ở miền xuôi cho những ng−ời d−ới 50 tuổi. Hơn 10 triệu ng−ời biết đọc biết viết. Công tác bổ túc văn hoá cũng phát triển tiến tới thực hiện phổ cập cấp 1 cho toàn dân. 76
- Hệ thống giáo dục phổ thông đ−ợc hoàn chỉnh và mở rộng với số học sinh tăng 80% so với năm 1957. ở các địa ph−ơng miền núi, tr−ờng phổ thông các cấp cũng phát triển. Các dân tộc ít ng−ời đ−ợc Nhà n−ớc giúp đỡ đã cải tiến và xây dựng chữ viết của mình. Các tr−ờng đại học và trung học chuyên nghiệp thu hút con em lao động vào học và cung cấp cán bộ khoa học kỹ thuật cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đến năm 1960, miền Bắc có 9 tr−ờng đại học với 11.070 sinh viên (gấp 2 lần so với năm 1957). Công tác y tế có nhiều tiến bộ, đạt đ−ợc những thành tựu mới trong lĩnh vực nghiên cứu y học chữa bệnh đau mắt, phòng chống và chữa bệnh lao. Cơ sở y tế bao gồm các bệnh viện, bệnh xá, trạm y tế, đ−ợc xây dựng để phục vụ nhân dân. Việc kết hợp giữa Đông y và Tây y đã tăng c−ờng khả năng chữa bệnh cho nhân dân. Miền Bắc đạt đ−ợc những thành tự đáng kể trên đã làm thay đổi căn bản bộ mặt xã hội miền Bắc. 4. Củng cố miền Bắc - “chiếu cố miền Nam” (1954 - 1960) Thắng lợi trong khôi phục kinh tế đã có tác dụng củng cố chính quyền dân chủ nhân dân vững mạnh. Trong thời kỳ này, Nhà n−ớc dân chủ nhân dân ở miền Bắc chuyển sang làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản, lãnh đạo nhân dân miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sự ủng hộ của nhân dân đối với Nhà n−ớc, sự tham gia của nhân dân vào công việc quản lý Nhà n−ớc đã tăng thêm sức mạnh của Nhà n−ớc trong giai đoạn cách mạng mới. Ngày 14/9/1957, kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá I đã thông qua dự thảo Luật Công đoàn. Đây là một biện pháp nhằm phát huy vai trò của giai cấp công nhân trong quản lý kinh tế và quản lý nhà n−ớc. Cuối năm 1957, cuộc bầu cử hội đồng nhân dân và uỷ ban hành chính ở các địa ph−ơng đ−ợc tiến hành. Cùng với việc thực hiện quyền dân chủ, chức năng chuyên chính của nhà n−ớc cũng đ−ợc tăng c−ờng. Đối với các hoạt động tình báo, gián điệp, phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của kẻ thù, Nhà n−ớc ta kiên quyết trấn áp. Ngày 15/6/1956, Chính phủ ban hành sắc lệnh trừng trị những hành động phá hoại tài sản của nhà n−ớc và nhân dân, cản trở việc thực hiện các chính sách kinh tế. Tháng 7/1956, Cục Cảnh sát nhân dân đ−ợc thành lập. Việc trấn áp bọn phản cách mạng tiến hành kịp thời, Nhà n−ớc dân chủ nhân dân đ−ợc củng cố. Tháng 3/1957, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 (mở rộng) của Trung −ơng Đảng vạch rõ sự cần thiết phải tăng c−ờng lực l−ợng quốc phòng, tích cực xây dựng quân đội nhân dân từng b−ớc tiến lên chính quy, hiện đại, vừa bảo vệ công cuộc lao động xây dựng của nhân dân ta ở miền Bắc, vừa ủng hộ cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai của nhân dân ta ở miền Nam. 77
- Ngày 5/9/1955, Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc họp tại Hà Nội, thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và bầu ra Uỷ ban Trung −ơng Mặt trận do Tôn Đức Thắng làm chủ tịch. C−ơng lĩnh của Mặt trận đã tập hợp, cổ vũ toàn dân ra sức củng cố miền Bắc về mọi mặt, cổ vũ lòng yêu n−ớc và niềm tin của đồng bào miền Nam nhằm tranh thủ thực hiện thống nhất n−ớc nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ. Hiến pháp 1946 đã hoàn thành sứ mạng lịch sử của nó. Việc ban hành hiến pháp mới, phù hợp với tình hình mới là cần thiết. Ngày 31/12/1959, Quốc hội khoá I chính thức thông qua bản Hiến pháp mới. Ngày 1/1/1960 Chủ tịch n−ớc Việt Nam dân chủ cộng hoà đã công bố bản Hiến pháp mới với toàn thể nhân dân Việt Nam và thế giới. Hiến pháp 1960 là đạo luật cơ bản của Nhà n−ớc. Bản Hiến pháp xác nhận địa vị làm chủ đất n−ớc của nhân dân, quy định quyền lợi và nghĩa vụ của công dân và nhấn mạnh Nhà n−ớc đảm bảo cho mọi công dân đ−ợc h−ởng quyền lợi của mình. Hiến pháp 1960 khẳng định ý chí và nguyện vọng của nhân dân lao động và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất n−ớc nhà, nhằm xây dựng một n−ớc Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Hiến pháp 1960 còn đặt cơ sở cho việc xây dựng pháp chế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Hiến pháp này còn có tác dụng cổ vũ nhân dân miền Nam trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai. N−ớc Việt Nam dân chủ cộng hoà không ngừng mở rộng hoạt động ngoại giao nhằm góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì những mục tiêu hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đã nhiều lần công bố chính sách ngoại giao dựa trên nguyên tắc hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc. Ngày 20/3/1955 tại kỳ họp thứ 4 - Quốc hội khoá I, Chính phủ ta đã tuyên bố chính sách ngoại giao của mình là tăng c−ờng quan hệ hữu nghị với các n−ớc bạn, với Liên Xô và các n−ớc dân chủ nhân dân khác. Từ 1954 Việt Nam dân chủ cộng hoà và các n−ớc xã hội chủ nghĩa đã có nhiều cuộc thăm viếng hữu nghị, trao đổi những vấn đề lớn về tình hình thế giới. Năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng và Nhà n−ớc đi thăm các n−ớc xã hội chủ nghĩa để cảm ơn sự giúp đỡ của các n−ớc đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm l−ợc và tranh thủ sự giúp đỡ của các n−ớc trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Năm 1958, đoàn đại biểu Quốc hội do Chủ tịch Tôn Đức Thắng dẫn đầu đi thăm hữu nghị một số n−ớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Châu á. Việt Nam cũng không ngừng phát triển quan hệ hữu nghị với các n−ớc dân tộc chủ nghĩa á - Phi - Mỹ Latinh trên cơ sở “5 nguyên tắc chung sống hoà bình”. Đặc biệt khối đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba n−ớc Việt Nam - Campuchia - Lào càng bền chặt. 78
- Những thắng lợi trong hoạt động ngoại giao của Việt Nam dân chủ cộng hoà trong những năm từ 1954 trở đi cho tác dụng nâng cao uy tín và địa vị của ta lên tr−ờng quốc tế, tranh thủ đ−ợc sự đồng tình, ủng hộ của các n−ớc xã hội chủ nghĩa, nhân dân tiến bộ trên thế giới trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống Mỹ và tay sai ở miền Nam. III. Miền Nam đấu tranh chống chế độ Mỹ - Diệm giữ gìn hoà bình tiến tới đồng khởi (1954 - 1960) 1. Chế độ Mỹ - Diệm ở miền Nam Việt Nam Sau khi không thực hiện đ−ợc ý đồ đối với Việt Nam nói riêng và Đông D−ơng nói chung trong cuộc chiến tranh xâm l−ợc do Pháp tiến hành (1945 - 1954), chịu để cho Pháp ký hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông D−ơng, rút hết quân viễn chinh về n−ớc (5/1956), đế quốc Mỹ chuyển sang ý đồ tr−ớc tiên đối với miền Nam Việt Nam là biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, sau đó đối với cả n−ớc Việt Nam. ý đồ đó đ−ợc thể hiện trong kế hoạch 6 điểm do t−ớng Côlin - đại sứ Mỹ đầu tiên ở miền Nam - thực thi. Ngày 7/11/1954 Côlin đến miền Nam Việt Nam và mang theo kế hoạch đó: - ủng hộ chính quyền Diệm và viện trợ thẳng cho Diệm không qua tay Pháp. - Xây dựng cho Diệm một quân đội do Mỹ huấn luyện và trang bị. - Lập quốc hội miền Nam để hợp pháp hoá chế độ Diệm. - Thi hành cải cách điền địa và thực hiện định c− cho số ng−ời miền Bắc di c− vào Nam. - Thay đổi các thứ thuế, −u tiên cho hàng hoá và t− bản Mỹ tràn vào thị tr−ờng miền Nam. - Đào tạo cán bộ hành chính cho Diệm. Đây là kế hoạch đầu tiên của Mỹ nhằm nắm chặt nguỵ quyền Ngô Đình Diệm, hất cẳng Pháp để chiếm miền Nam Việt Nam. Tr−ớc sức ép của Mỹ, Pháp buộc phải rút hết quân viễn chinh về n−ớc. Ngày 30/5/1956 đơn vị cuối cùng của quân Pháp đã rời khỏi miền Nam Việt Nam. Cuộc rút quân này là sự chấm dứt chế độ thực dân cũ của Pháp và thay thế bằng sự thống trị của chủ nghĩa thực dân mới Mỹ - một hình thức thống trị tinh vi, xảo quyệt và tàn bạo không kém. Thông qua chính quyền và quân đội tay sai, đế quốc Mỹ thực hiện ý đồ biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự, rồi dùng miền Nam làm bàn đạp tiến công miền Bắc, ngăn chặn làn sóng cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Châu á. 79
- Đối với chính quyền Diệm, vừa lên nắm chính quyền đã tiến hành thanh toán các thế lực thân Pháp, thiết lập chính quyền độc tài, phát xít, gia đình trị, thân Mỹ, đối lập với nhân dân, chống lại cách mạng. Ngô Đình Diệm còn lập ra các tổ chức chính trị phản động làm vây cánh. Giữa 1954, Đảng “Cần lao Nhân vị” ra đời do Ngô Đình Nhu đứng đầu, làm nòng cốt trong mọi cơ quan quan trọng. Cuối 1954, thành lập tổ chức “Phong trào cách mạng quốc gia” do Trần Chánh Thành cầm đầu. Tổ chức này nêu “Ch−ơng trình cách mạng” nhằm “chống cộng” “đả thực”, “bài phong”. “Chống cộng” thực chất là chống các lực l−ợng yêu n−ớc, cách mạng, “đả thực” thực chất là gạt pháp để Mỹ độc chiếm miền Nam, “bài phong” thực chất là phế truất Bảo Đại để Diệm thâu tóm quyền lực ở miền Nam. Là sản phẩm của chủ nghĩa thực dân mới, lại ra đời trong thế thất bại, cho nên chế độ Ngô Đình Diệm theo đuổi chính sách đàn áp khủng bố. Từ giữa năm 1955, khi đã đứng đ−ợc ở miền Nam, thấy rõ cộng sản là “hiểm hoạ” đối với chúng, và đ−ợc lệnh của Mỹ, tập đoàn Ngô Đình Diệm tiến hành khủng bố, đàn áp những ng−ời yêu n−ớc một cách có tổ chức, với quy mô rộng khắp miền Nam. Chúng coi “chống cộng” là “quốc sách”. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã kiện toàn bộ máy đàn áp. Tháng 3/1955, Tổng uỷ “Công dân vụ” đ−ợc thành lập và ngày càng tăng c−ờng, chuyên lo việc đàn áp chính trị. “Hội đồng nhân dân chỉ đạo tố cộng” thành lập ở Sài Gòn nhằm chỉ đạo thực hiện chính sách khủng bố. Trong mỗi bộ, các nha, các sở ở các tỉnh đều lập ra “Hội đồng tố cộng”. Các cố vấn Mỹ đến miền Nam giúp Diệm xây dựng bộ máy cảnh sát, đào tạo cán bộ, phổ biến kỹ thuật điều tra, tra tấn. Mỹ còn cung cấp cho Diệm tiền, vũ khí, dụng cụ tra tấn và các ph−ơng tiện khác. Để tạo ra cơ sở pháp lý cho chính sách chống cộng, chính quyền Diệm ban hành các đạo luật phát xít: Đạo dụ số 6 (ngày 11/1/1956) về việc lập các trại tập trung, Đạo dụ số 13 (20/2/1956) bóp nghẹt quyền tự do báo chí, đặc biệt luật phát xít tháng 10/1959 (tháng 5/1959) về việc lập toà án quân sự đặc biệt ở Sài Gòn, Buôn Ma Thuột, Huế và đ−a máy chém về các địa ph−ơng để thi hành ngay tại chỗ các bản án tử hình. Chúng tiến hành hàng loạt các cuộc vây bắt, tàn sát, bỏ tù những ng−ời kháng chiến cũ, những ng−ời yêu n−ớc, không ủng hộ Diệm. Với ph−ơng châm “Thà giết nhầm còn hơn bỏ sót”, “Tiêu diệt cộng sản không th−ơng tiếc”, Mỹ - Diệm đã gây ra các vụ tàn sát với những hình thức giết ng−ời man rợ thời trung cổ, kết hợp với những ph−ơng pháp cực hình hiện đại hòng làm nhụt ý chí đấu tranh của nhân dân ta ở miền Nam. Bản chất của chính quyền Mỹ - Diệm thể hiện trong một loạt vụ tàn sát, nh− ở chợ Đ−ợc (Quảng Nam) ngày 4/9/1954, vụ trả thù những ng−ời kháng chiến cũ ở Vĩnh Trinh (huyện Duy Xuyên - Quảng Nam) ngày 21/1/1955, vụ triệt hạ ở H−ớng Điền (Quảng Trị) 80
- tháng 7/1955, và lớn nhất là vụ đầu độc một lúc 6.000 ng−ời yêu n−ớc ở trại giam Phú Lợi (Thủ Dầu Một) ngày 1/12/1958 giết hại hàng ngàn ng−ời. Mỹ - Diệm còn tổ chức các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng”: Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng càn quét các tỉnh Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá, Hà Tiên. Chiến dịch Hoàng Diệu càn quét vùng Rừng Sác thuộc tỉnh Bà Rịa; chiến dịch Tr−ơng Tấn Bửu càn quét các tỉnh Đông Nam bộ Bằng những chiến dịch càn quét đó, trên thực tế Mỹ - Diệm đã gây cuộc “Chiến tranh một phía”. “Chiến tranh một phía” là chiến tranh thực dân mới đầu tiên của Mỹ ở miền Nam đ−ợc thực hiện bằng thủ đoạn bạo lực của cuộc chiến tranh xâm l−ợc thực dân mới của chúng. Những hành động tội ác của Mỹ - Diệm đã khiến cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta ở miền Nam gặp vô vàn khó khăn, gian khổ, vì phải chống lại kẻ thù lớn, mạnh, hết sức tàn bạo trong khi lực l−ợng cách mạng nhỏ yếu (phần lớn lực l−ợng bộ đội, cán bộ tập kết ra Bắc theo Hiệp định Giơnevơ). Đây là thời kỳ đen tối nhất của cách mạng miền Nam. Nh−ng nhân dân ta ở miền Nam vẫn bền bỉ đấu tranh giữ gìn lực l−ợng để chuẩn bị cho những b−ớc nhảy vọt. 2. Đấu tranh chống chế độ Mỹ - Diệm giữ gìn hoà bình (1954 -1959) Với ý đồ biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự, dùng miền Nam làm bàn đạp tiến công miền Bắc, đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản, ngăn chặn làn sóng cách mạng ở Đông D−ơng và Đông Nam á, đế quốc Mỹ can thiệp ngày càng sâu, cản trở việc thi hành hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông D−ơng. Kẻ thù cụ thể tr−ớc mắt của nhân dân miền Nam là đế quốc Mỹ cùng tập đoàn tay sai Ngô Đình Diệm và phái thực dân Pháp phản động - kẻ phá hoại Hiệp định Giơnevơ. Nhiệm vụ cụ thể tr−ớc mắt của nhân dân miền Nam là “thực hiện Hiệp định đình chiến, củng cố hoà bình, thực hiện tự do dân chủ cải thiện dân sinh, thực hiện thống nhất và tranh thủ độc lập”. Nh−ng trong điều kiện ở miền Nam, lực l−ợng vũ trang đã tập kết ra Bắc và không còn chính quyền cách mạng, đế quốc Mỹ lại đang tiến hành “Chiến tranh một phía” để thiết lập nền thống trị của chủ nghĩa thực dân mới, do vậy, phải có một hình thức đấu tranh thích hợp, là đấu tranh chính trị, triệt để lợi dụng khả năng công khai hợp pháp để đấu tranh, kết hợp với đấu tranh bí mật bất hợp pháp, vận dụng khẩu hiệu và sách l−ợc linh hoạt để tập hợp rộng rãi mọi lực l−ợng đấu tranh có hiệu quả. Bảo vệ hoà bình vừa giành đ−ợc để thực hiện thống nhất n−ớc nhà là nguyện vọng tha thiết của nhân dân miền Nam và cũng phù hợp với những điều khoản của Hiệp định Giơnevơ về Đông D−ơng. Những hành động phá hoại hoà bình, ngăn cản hiệp th−ơng 81
- tổng tuyển cử tự do để thống nhất hai miền Nam - Bắc Việt Nam của Mỹ - Diệm, đã gây làn sóng công phẫn trong nhân dân ta ở miền Nam, dẫn đến phong trào đấu tranh của nhân dân chống chế độ Mỹ - Diệm. Mở đầu là “Phong trào hoà bình” ở Sài Gòn - Chợ Lớn vào tháng 8/1954 của trí thức và các tầng lớp nhân dân. Sau khi công bố bản hiệu triệu của mình để ủng hộ hiệp định Giơnevơ, ủng hộ hiệp th−ơng tổng tuyển cử, phong trào đ−ợc các tầng lớp nhân dân h−ởng ứng. ở khắp nơi, tại Sài Gòn - Chợ Lớn, những “Uỷ ban bảo vệ hoà bình” đ−ợc thành lập và hoạt động công khai. Phong trào còn đạt đ−ợc mối quan hệ với Uỷ ban quốc tế giám sát và kiểm soát việc thi hành Hiệp định Giơnevơ 1954 ở Việt Nam. Tháng 11/1954 Mỹ - Diệm tiến hành khủng bố, dập tắt phong trào. Chúng cho tay sai lùng bắt các nhà lãnh đạo phong trào. Nh−ng phong trào đấu tranh và mục tiêu hoà bình của các tầng lớp nhân dân tiếp tục dân cao, lan rộng tới các vùng nông thôn và các vùng thành phố lớn nh− Huế, Đà Nẵng Giữa năm 1955, tuy về danh nghĩa “Phong trào hoà bình” ở Sài Gòn - Chợ Lớn không còn, nh−ng các uỷ ban ở cơ sở vẫn tiếp tục hoạt động d−ới hình thức là những “uỷ ban cứu tế” nạn nhân bị hoả hoạn. Khi thấy phong trào tiếp tục lan rộng, Mỹ - Diệm tìm cách ngăn cấm, không cho nhân dân tiếp xúc với “uỷ ban cứu tế”, rào những khu bị cháy, khủng bố những ng−ời tham gia uỷ ban vẫn tiếp tục hoạt động và biến thành những “Ban đề phòng nạn cháy”. Giữa năm 1955, càng gần tới ngày hiệp th−ơng tổng tuyển cử, phong trào đấu tranh càng sôi động. Khắp nơi ở miền Nam tổ chức mít tinh, biểu tình, bãi công, bãi chợ, rải truyền đơn, đ−a kiến nghị đòi Mỹ - Diệm thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ. Tháng 7/1955, Mặt trận Liên Việt - Nam bộ, kêu gọi nhân dân đấu tranh đòi mở hội nghị hiệp th−ơng. Ngày 10/7/1955, dân chúng Sài Gòn - Chợ Lớn tổ chức đình công, bãi thị, h−ởng ứng lời kêu gọi, biểu thị ý chí thống nhất đất n−ớc của toàn dân. ở Trung bộ, phong trào đấu tranh trên cơ sở pháp lý Hiệp định Giơnevơ phát triển mạnh. Đến tháng 7/1956, phong trào đấu tranh của nhân dân đòi thi hành Hiệp định tiếp tục phát triển mặc dù Mỹ - Diệm tiến hành những chiến dịch “tố cộng” “diệt cộng” gắt gao. Những phong trào trên lôi cuốn hàng triệu ng−ời tham gia từ Quảng Trị đến Cà Mau, bao gồm tất cả các tầng lớp nhân dân, các giáo phái, các dân tộc ít ng−ời hình thành một mặt trận tự nhiên chống Mỹ - Diệm, tranh thủ đ−ợc d− luận thế giới. Phong trào đấu tranh đòi cải thiện đời sống cũng phát triển trong các tầng lớp lao động ở miền Nam vì giá cả sinh hoạt đắt đỏ, chính sách thuế khoá nặng nề. Giai cấp công nhân miền Nam đã đi đầu trong phong trào này. 82
- Ngày 1/8/1954, công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn đấu tranh đòi tự do dân chủ. Từ ngày 2 đến 4/8/1954, công nhân cao su ở Lộc An bãi công đòi tăng 4% l−ơng và hoan nghênh Hiệp định Giơnevơ. Sang năm 1955, phong trào bãi công dồn dập diễn ra, đòi tăng l−ơng, cải thiện đời sống. Những cuộc bãi công này có sự kết hợp với cuộc đấu tranh của nhân dân các khu phố đòi cung cấp n−ớc, chống đuổi nhà, phạt vạ Nhìn lại trong những năm đầu sau hoà bình lập lại, nhân dân miền Nam đã dựa vào chính nghĩa và pháp lý Hiệp định Giơnevơ để đấu tranh chính trị. Cuộc đấu tranh này đã thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia d−ới nhiều hình thức phong phú. Đồng bào miền Nam đã nêu cao tinh thần yêu n−ớc, đoàn kết đấu tranh của dân tộc, liên tục tiến công kẻ địch. Trong khi đó, chính quyền Ngô Đình Diệm càng lộ rõ mặt phản dân, hại n−ớc. D−ới ách thống trị của Mỹ - Diệm, nhân dân miền Nam hàng ngày phải chịu cảnh bóc lột, tù đày, chém giết Sự áp bức bóc lột ấy đã đẩy nhân dân miền Nam đến đ−ờng cùng phải dùng đến bạo lực để cứu n−ớc cứu nhà. Muốn vậy, nhân dân miền Nam phải đẩy mạnh xây dựng, củng cố lực l−ợng vũ trang và bán vũ trang, xây dựng căn cứ làm chỗ dựa. Bản “Đề c−ơng về đ−ờng lối cách mạng miền Nam” (8/1956) của Đảng ghi rõ: đấu tranh chính trị là chủ yếu, nh−ng trong hoàn cảnh nhất định phải sử dụng vũ trang tự vệ. “Đề c−ơng ” nhấn mạnh: cách mạng là con đ−ờng duy nhất đúng của nhân dân miền Nam tiến tới lật đổ chính quyền Mỹ - Diệm, thành lập chính quyền cách mạng. Đ−ợc sự lãnh đạo kịp thời, nhân dân miền Nam đ−a phong trào cách mạng tiến lên b−ớc phát triển mới: Phong trào đấu tranh chính trị sôi nổi với số l−ợt ng−ời tham gia ngày càng đông. 1957 có 2 triệu l−ợt ng−ời tham gia, 1958 có 3,7 triệu l−ợt ng−ời tham gia, 1959 có tới 6 triệu l−ợt ng−ời tham gia. Những cuộc đấu tranh chống khủng bố, trả thù những ng−ời tham gia kháng chiến, chống “tố cộng”, “diệt cộng” diễn ra gay gắt. Tại các vùng nông thôn, nông dân tiếp tục chống c−ớp đất, chống tô thuế cao, xoá bỏ luật 10/1959. Tại các đô thị, cuộc đấu tranh của công nhân vẫn liên tục diễn ra và lôi cuốn đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, với quy mô ngày càng lớn và có sự liên kết với nhau. Năm 1958 công nhân Cantếch đình công trong 16 ngày phản đối chủ Mỹ sa thải thợ. Cuộc đình công này đ−ợc công nhân hãng dầu Sen của Anh, công nhân hoả xa và công nhân nhà máy đèn Chợ Quán ủng hộ. Điển hình nhất là cuộc biểu tình ngày 1/5/1958 ở Sài Gòn. Cuộc biểu tình đã thu hút 50 vạn ng−ời tham gia, gồm đủ các giới công nhân, học sinh, sinh viên, t− sản dân tộc, những ng−ời lao động nghèo, đòi hiệp th−ơng tổng tuyển cử. Nh− vậy, trong những năm 1958 - 1959 phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam đ−ợc mở rộng và hình thức đấu tranh có thay đổi phù hợp với tình hình mới do Mỹ - 83
- Diệm gây ra. Đấu tranh giữ gìn lực l−ợng kết hợp với xây dựng và phát triển lực l−ợng cách mạng, đấu tranh chính trị hoà bình chuyển sang vũ trang tự vệ. Tại Nam bộ đã xây dựng đ−ợc 37 đại đội vũ trang. Lực l−ợng vũ trang hoạt động bí mật và đã tổ chức một số cuộc tiến công với quy mô thích hợp. Tại chiến khu Đ, một đơn vị tập trung cỡ tiểu đoàn của miền Đông Nam bộ đ−ợc thành lập. Tháng 4/1958, Bác ái - một huyện ở phía Bắc tỉnh Ninh Thuận, đồng bào đã kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang tự vệ, bảo vệ buôn rẫy, chống dồn dân. Những hoạt động vũ trang tự vệ có tác dụng lớn, thúc đẩy phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam lên cao. 3. Phong trào “Đồng khởi” ở miền Nam Việt Nam (1959-1960) • Nguyên nhân phong trào Trải qua bốn năm từ 1954 đến đầu 1959, Mỹ - Diệm thi hành những biện pháp quân sự - chính trị thâm độc, nh−ng không ngăn cản đ−ợc phong trào yêu n−ớc của nhân dân ta ở miền Nam. Những chính sách “tố cộng”, “diệt cộng”, tăng c−ờng khủng bố đàn áp, đặt cộng sản ngoài vòng pháp luật, lê máy chém khắp miền Nam, là biểu hiện sự suy yếu và thất bại của chính quyền Mỹ - Diệm, một chính quyền không hợp lòng dân. Chính sách đàn áp của chính quyền Mỹ - Diệm đã làm cho các tầng lớp nhân dân ta hết sức công phẫn, từ đó hình thành nên một mặt trận chống Mỹ - Diệm. Hàng ngũ nguỵ quân nguỵ quyền cũng đã nảy sinh những mâu thuẫn gay gắt tr−ớc sự sụp đổ của một số chính quyền tay sai thân Mỹ trên thế giới, nh− ở Nam Triều Tiên, Cu Ba Một số bảo an, dân vệ đi tìm đoàn thể cách mạng để thanh minh cho hành động của mình. Tình hình đó càng làm cho nội bộ chính quyền Mỹ - Diệm thêm rối loạn, đ−a đến những cuộc thanh trừng lẫn nhau. Những biểu hiện trên đây cho thấy sự khủng hoảng của chế độ Mỹ - Diệm, tạo ra những điều kiện chín muồi cho quần chúng nổi dậy phá ách kìm kẹp của địch ở nông thôn - khâu yếu nhất trong hệ thống cai trị của chúng. Giữa lúc đó, Hội nghị lần thứ 15 (1/1959) của Ban Chấp hành Trung −ơng Đảng Lao động Việt Nam quyết định phát động quần chúng nông dân khởi nghĩa từng phần, dùng đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, đập tan chính quyền địch, giành chính quyền về tay nhân dân. • Diễn biến phong trào Ngày 28/8/1859, ở Trà Bồng, một huyện thuộc miền núi phía Tây tỉnh Quảng Ngãi, quần chúng nổi dậy đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang đã phá vỡ 16 cơ 84
- sở nguỵ quân nguỵ quyền cấp xã, bức rút 7 đồn địch, diệt hàng trăm tên ác ôn, lập chính quyền cách mạng ở thôn xã d−ới hình thức những “Uỷ ban nhân dân tự quản”. Từ Trà Bồng, khởi nghĩa lan ra 4 huyện giành thắng lợi. Thắng lợi này đã cổ vũ nhân dân ta đấu tranh, đồng thời chứng minh Nghị quyết 15 của Trung −ơng Đảng phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, đáp ứng yêu cầu cách mạng miền Nam. Tại Nam Bộ, quần chúng nổi dậy vũ trang diệt ác ôn, phá ách kìm kẹp của địch, làm tan rã từng mảng hệ thống nguỵ quyền cơ sở của chúng. Tiêu biểu là cuộc nổi dậy ở Bến Tre. Từ 17/1 đến 25/1/1960, d−ới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ Bến Tre, nhân dân huyện Mỏ Cày nổi dậy, mở đầu phong trào toàn tỉnh. Nhân dân nổi dậy với vũ khí thô sơ, giáo mác, gậy gộc, súng đủ loại, đã đồng loạt đánh vào đồn bốt, diệt ác ôn, giải tán chính quyền, tạo thế uy hiếp địch. Từ Mỏ Cày, phong trào đồng khởi lan sang các huyện khác: Định Thuỷ, Ph−ớc Hiệp, Bình Khánh, Thạnh Phú, Minh Tân Chỉ trong một tuần lễ, nhân dân Bến Tre đã tiêu diệt, bức hàng, bức rút 20 đồn bốt, thu hàng trăm súng. Các thôn xã sau khi phá thế kìm kẹp của địch, mở đại hội mừng thắng lợi chia ruộng đất cho nông dân, mở phiên toà xét xử bọn ác ôn. Từ trong phong trào đồng khởi, một đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên của tỉnh Bến Tre đ−ợc thành lập. Tại các huyện trong tỉnh, quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ, thành lập những đội vũ trang tuyên truyền. Chính quyền Diệm huy động lực l−ợng quân đội đàn áp phong trào, trọng điểm là huyện Mỏ Cày. Ngày 22/2/1960, chúng huy động 10.000 quân chủ lực từ thị xã Bến Tre, Mỹ Tho, Trà Vinh và Sài Gòn tấn công vào ba xã Định Thuỷ, Bình Khánh và Ph−ớc Hiệp. Chúng còn phối hợp với tàu chiến, máy bay, đại bác chia nhiều h−ớng để dập tắt phong trào. Tr−ớc hình thành đó, lực l−ợng vũ trang chặn đánh địch và sau đó đ−ợc lệnh rút khỏi vòng vây. Đồng thời, Ban chỉ đạo đồng khởi đã phát động đấu tranh chính trị, tấn công vào huyện lỵ Mỏ Cày, chống khủng bố, đòi địch rút quân. Hàng ngàn quần chúng, đa phần là phụ nữ kéo về thị trấn Mỏ Cày đấu tranh chống địch càn quét. Cuộc phản kích của địch vào huyện Mỏ Cày bị thất bại. Từ phong trào đồng khởi ở Bến Tre, rút ra kinh nghiệm về ph−ơng pháp cách mạng, về việc sử dụng hai lực l−ợng chính trị và quân sự, tiến công địch bằng ba mũi giáp công chính trị, quân sự và binh vận. Từ Bến Tre, phong trào đồng khởi lan nhanh các tỉnh Nam bộ, Tây Nguyên và một số tỉnh Trung Trung bộ. Các lực l−ợng vũ trang lớn mạnh nhanh chóng và tổ chức những trận đánh lớn, nh− trận Tua Hai (Tây Ninh) ngày 26/1/1960. • Kết quả, ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi 85
- Phong trào đồng khởi của nhân dân miền Nam diễn ra từ đầu năm 1959. Tính đến cuối 1960, có 2/3 chính quyền địch ở cơ sở tan rã. Cục Tình báo trung −ơng Mỹ thú nhận: một thời kỳ hết sức nghiêm trọng đối với Tổng thống Ngô Đình Diệm và Việt Nam cộng hoà Trên một nửa toàn bộ vùng nông thôn nằm ở phía Nam và Tây Nam Sài Gòn, cũng nh− một số vùng ở phía Bắc đã nằm d−ới sự kiểm soát của cộng sản d−ới chính quyền cách mạng. 2/3 ruộng đất bị Mỹ - Diệm c−ớp đoạt đã về tay nhân dân, các quyền tự do dân chủ đ−ợc thực hiện. Đó là những vấn đề rất cơ bản của cách mạng dân tộc dân chủ đ−ợc giải quyết tuy ch−a trọn vẹn. Trong phong trào đồng khởi, lực l−ợng cách mạng phát triển nhanh chóng, bao gồm cả lực l−ợng chính trị, trong đó đội “quân tóc dài” đã làm cho quân địch khiếp sợ: ở tỉnh, huyện các đơn vị vũ trang tập trung lần l−ợt ra đời; ở các tôn xã đều có lực l−ợng dân quân du kích. Phong trào đồng khởi của nhân dân miền Nam (1959 - 1960) là đòn giáng mạnh và bất ngờ vào tập đoàn thống trị Mỹ - Diệm, làm cho chúng hoang mang, lo sợ. Hiện t−ợng đào ngũ, rã ngũ trong nguỵ quân càng phát triển. Mâu thuẫn giữa Mỹ - Diệm cũng nh− mâu thuẫn nội bộ chính quyền Diệm gay gắt, dẫn đến đảo chính Diệm 11/11/1960. Cuộc đảo chính không thành, Diệm thẳng tay đàn áp, trả thù (30.000 ng−ời bị bắt). Đây là sự kiện lịch sử quan trọng của cách mạng miền Nam trong thời kỳ 1954 - 1960. Nó giáng đòn nặng nề vào chiến l−ợc Aixenhao, làm thất bại hoàn toàn chiến l−ợc “Chiến tranh một phía” của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải chuyển sang chiến l−ợc chiến tranh khác. Đối với cách mạng miền Nam, đồng khởi là cái mốc đánh dấu b−ớc nhảy vọt quan trọng, chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực l−ợng sang thế tiến công mạnh mẽ, phát triển lên cao trào ở khắp miền, kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, tạo điều kiện cho nhân dân miền Nam đánh thắng các chiến l−ợc tiếp sau của đế quốc Mỹ. Thắng lợi của phong trào đồng khởi góp phần đập tan kế hoạch “Bắc tiến”, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của phong trào đồng khởi (1959 - 1960) có ý nghĩa về mặt chiến l−ợc đầu tiên của cách mạng miền Nam, làm thay đổi cục diện chiến tranh. Với thắng lợi trên của nhân dân miền Nam, ngày 20/12/1960 tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, đại biểu các dân tộc, các giới, các giai cấp, các đảng phái, tôn giáo toàn miền Nam, họp Đại hội thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Mặt trận đã tuyên bố Ch−ơng trình 10 điểm nhằm tập hợp lực l−ợng đánh đổ chế độ thống trị Mỹ - Diệm, xây dựng một n−ớc Việt Nam độc lập, dân chủ, hoà bình và trung lập, tiến tới thống nhất n−ớc nhà. Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời đáp ứng đ−ợc yêu cầu cách mạng và nguyện vọng của quần chúng nhân dân miền 86
- Nam. Mặt trận đã trở thành ngọn cờ đoàn kết toàn dân, tạo thành sức mạnh to lớn đập tan mọi âm m−u của đế quốc và tay sai. Thắng lợi của phong trào đồng khởi là nhờ tinh thần yêu n−ớc, truyền thống đấu tranh kiên c−ờng bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc. Từ trong khủng bố man rợ của kẻ thù, cách mạng bị tổn thất nặng nề, t−ởng chừng khó có thể v−ợt qua, nhân dân ta trên khắp miền vẫn nổi dậy đập tan ách kìm kẹp của Mỹ - Diệm giành quyền làm chủ. Thắng lợi của phong trào đồng khởi (1959 - 1960) là nhờ sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng, thể hiện trong Nghị quyết 15 về đ−ờng lối và ph−ơng pháp cách mạng. Phong trào đồng khởi nổ ra đúng lúc thời cơ đã chín muồi. H−ớng dẫn học tập Nội dung ch−ơng III bao quát thời kỳ lịch sử từ sau ngày 21/7/1954 (sau Hiệp định Giơnevơ về lập lại hoà bình ở Đông D−ơng) đến năm 1960 (năm kết thúc kế hoạch cải tạo quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, chuẩn bị chuyển sang thực hiện kế hoạch nhà n−ớc 5 năm lần thứ nhất ở miền Bắc từ năm 1961; năm khởi nghĩa từng phần từ phong trào đồng khởi phát triển lên chiến tranh cách mạng chống cuộc chiến tranh xâm l−ợc từ cuộc chiến tranh đặc biệt của Mỹ ở miền Nam), đ−ợc thực hiện trong khung thời gian 13 tiết lý thuyết. Cần nắm vững những vấn đề về nội dung của ch−ơng: • Đặc điểm tình hình n−ớc ta sau Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam là n−ớc ta bị Mỹ và bọn tay sai của Mỹ chia cắt làm hai miền d−ới hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau; đ−ờng lối đúng đắn, sáng tạo, ch−a có tiền lệ trong lịch sử của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là tiến hành đồng thời ở hai miền Bắc - Nam hai chiến l−ợc cách mạng (cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam) và mối quan hệ giữa cách mạng hai miền trong việc thực hiện những nhiệm vụ và mục tiêu chung của cách mạng cả n−ớc là “Chống Mỹ cứu n−ớc”. • Cách mạng miền Bắc thực hiện những nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa (trong thời kỳ đầu từ 1954 đến 1960 là cải tạo quan hệ sản xuất theo h−ớng xã hội chủ nghĩa), đồng thời tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ch−a hoàn thành trong chiến tranh (chống Pháp) là hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, hàn gắn vết th−ơng chiến tranh, và nhiệm vụ củng cố bộ máy nhà n−ớc, các tổ chức chính trị - xã hội, tăng c−ờng khả năng phòng thủ đất n−ớc, nhằm củng cố miền Bắc, “chiếu cố miền Nam”. • Cách mạng miền Nam tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tức là tiếp tục cuộc cách mạng đ−ợc bắt đầu từ năm 1930, nh−ng 87
- đ−ợc tiếp tục sau Cách mạng tháng Tám 1945 và kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954, do đó chống Mỹ và tay sai giành độc lập dân tộc (giải phóng miền Nam) còn bảo vệ độc lập dân tộc (bảo vệ miền Bắc), thống nhất đất n−ớc. Tr−ớc mắt trong thời kỳ từ 1954 đến 1960, nhân dân ta ở miền Nam tiến hành đấu tranh hợp pháp theo pháp lý Hiệp định Giơnevơ 1954 về Việt Nam để thực hiện Hiệp định, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang tự vệ, chống khủng bố, đòi tự do, hoà bình, thống nhất đất n−ớc (1954 - 1959), tiến lên cuộc “Đồng khởi” (1959 - 1960) tiến hành đấu tranh bạo lực, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Khi học ch−ơng này, cần có liên hệ với các tri thức cũ để thấy điểm mới hiện nay trong một số nhận định đánh giá khách quan về cải cách ruộng đất và cải tạo quan hệ sản xuất theo h−ớng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, về phong trào đấu tranh chống Mỹ - nguỵ ở miền Nam, từ đấu tranh chính trị, hoà bình lên đấu tranh vũ trang bạo lực, làm cuộc “Đồng khởi” (1959 - 1960). • Cải cách ruộng đất là cuộc cách mạng của nông dân ở nông thôn do giai cấp công nhân (Đảng Cộng sản) lãnh đạo, nhằm đánh đổ chế độ chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ phong kiến, thực hiện khẩu hiệu “ng−ời cày có ruộng”. Cải cách ruộng đất bắt đầu từ cuối 1953 khi cuộc kháng chiến chống Pháp sắp kết thúc, tiến hành trong hơn 3 năm (1953 - 1956), chia l−ơng ra 5 đợt: đợt đầu tiến hành trong thời chiến ở một số xã vùng tự do miền Bắc (Việt Bắc, Thanh - Nghệ - Tĩnh ), bốn đợt tiếp tiến hành trong thời bình ở các vùng tự do còn lại và các vùng mới giải phóng miền Bắc. Cải cách ruộng đất, bên cạnh thành tích to lớn là đã đem lại ruộng đất cho nông dân không có ruộng hoặc ít ruộng, giành lại cho họ quyền làm chủ nông thôn cả về kinh tế và chính trị, còn phạm không ít sai lầm nghiêm trọng, kéo dài, mang tính chất “tả khuynh” trên một số vấn đề có tính nguyên tắc sách l−ợc, chủ tr−ơng biện pháp thực hiện. Sai lầm của cải cách ruộng đất, tuy đ−ợc phát hiện chậm, nh−ng khi đã phát hiện, Đảng và Nhà n−ớc kiên quyết và kịp thời sửa chữa. Công việc sửa sai bắt đầu từ cuối 1956 sang năm 1957. Nhờ sửa sai có kết quả mà hậu quả của sai lầm đ−ợc hạn chế nhiều và ý nghĩa của cải cách ruộng đất vẫn hết sức to lớn. Chẳng những sai lầm, mà ở n−ớc ta, những chủ tr−ơng và biện pháp cải cách ruộng đất nh− đã làm thậm chí không cần. • Cải cách xã hội chủ nghĩa là sự thực hiện nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa về quan hệ sản xuất. Nhận thức về cải tạo tr−ớc và nay có sự thay đổi. Tr−ớc quan niệm cải tạo nhằm “xoá bỏ” các thành phần kinh tế cá thể và t− nhân dựa trên sở hữu t− nhân về t− liệu sản xuất, chỉ để lại chủ yếu hai thành phần kinh tế quốc doanh và hợp tác xã dựa trên hai hình thức sở hữu nhà n−ớc và tập thể về t− liệu sản xuất. Nh−ng hiện 88
- nay (trong thời kỳ đổi mới), quan niệm cải tạo không phải nhằm “xoá bỏ” mà “sử dụng” có hiệu quả, để “tồn tại” lâu dài tất cả các thành phần kinh tế (không phân biệt hình thức sở hữu về t− liệu sản xuất) còn có tác dụng thúc đẩy sản xuất phát triển. Cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc (chủ tr−ơng thực hiện tập trung trong một kế hoạch 3 năm 1958 - 1960) đã đạt đ−ợc những thành tích quan trọng và trên nhiều mặt có tác dụng thúc đẩy sản xuất phát triển, nhất là trong điều kiện chiến tranh, nhờ hợp tác xã mà một bộ phận thoát ly sản xuất tham gia bộ đội, dân công phục vụ nhiệm vụ chiến đấu ở tiền tuyến yên tâm với đời sống gia đình ở hậu ph−ơng. Cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc cũng đã phạm một số sai lầm nghiêm trọng thuộc sai lầm “tả khuynh”, chủ quan, nóng vội, duy ý chí, là mong muốn thực hiện nhanh, dứt điểm theo kiểu “chiến dịch”, đ−a đến những sai phạm khác, nh− thực hiện không đầy đủ các nguyên tắc vận động xây dựng hợp tác xã: tự nguyện, cùng có lợi, quản lý dân chủ. Nh−ng khác với sai lầm trong cải cách ruộng đất, sai lầm trong cải tạo xã hội chủ nghĩa chậm đ−ợc phát hiện. Hậu quả của sai lầm đó càng nghiêm trọng trong thời bình. Câu hỏi ôn tập ch−ơng 3 1. Cách mạng từng miền Bắc - Nam có yêu cầu và thực hiện những nhiệm vụ gì? 2. Tại sao Đảng chủ tr−ơng tiến hành đồng thời ở hai miền Bắc - Nam hai chiến l−ợc cách mạng khác nhau trong thời kỳ 1954 - 1960? Nội dung và ý nghĩa của chủ tr−ơng đó nh− thế nào? 3. Hoàn thành cải cách ruộng đất ở miền Bắc (1953 - 1957): Chủ tr−ơng, thành tích, hạn chế, ý nghĩa. 4. Cải tạo quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc (1958 - 1960): Chủ tr−ơng, thành tích hạn chế, ý nghĩa. 5. Sau khi thực hiện hai kế hoạch 3 năm (1954 - 1957) và (1958 - 1960), tình hình mọi mặt của miền Bắc (chính trị, kinh tế - xã hội, văn hoá - giáo dục - y tế) có những thay đổi nh− thế nào? 6. Mỹ - Pháp và tay sai đã thực hiện âm m−u gì đối với n−ớc ta sau Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam có hiệu lực đến năm 1960? 7. Phong trào đấu tranh chống chế độ Mỹ - Diệm của nhân dân ta ở miền Nam trong những năm đầu của Hiệp định Giơnevơ 1954 về Việt Nam đã diễn ra nh− thế nào? 8 Phong trào “Đồng khởi” ở miền Nam (1959 - 1960) đã diễn ra trong điều kiện lịch sử nh− thế nào? Chủ tr−ơng, diễn biến, kết quả, ý nghĩa lịch sử của cuộc “Đồng khởi”? 89
- Tài liệu tham khảo 1. Hồ Chí Minh - Tuyển tập Nxb Sự thật, Hà Nội 1960 2. Hồ Chí Minh - Tuyển tập (tập I) Nxb Sự thật, Hà Nội 1980 3. Hồ Chí Minh - Tuyển tập (tập 4) Nxb Sự thật, Hà Nội 1984 4. Văn kiện Đảng (từ 25/12/1945 đến 31/12/1947), Nxb Sự thật, Hà Nội 1969 5. Lê Duẩn: D−ới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành những thắng lợi mới - Nxb Sự thật, Hà Nội 1970 6. Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ - Nxb QĐND, Hà Nội 1964 7. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự: Sự nghiệp và t− t−ởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Nxb QĐND, Hà Nội 1990 8. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) (từ tập 1 đến tập 5) - Nxb Sự Thật, Hà Nội (từ 1985 đến 1992) 9. Chiến thắng Điện Biên Phủ - Sức mạnh dân tộc và tầm vóc thời đại Nxb QĐND, Hà Nội 1994. 10. Điện Biên Phủ - Mốc vàng lịch sử Nxb QĐND, Hà Nội 1994. 11. Trần Thục Nga (chủ biên), Bạch Ngọc Anh, Trần Bá Đệ, Nguyễn Xuân Minh: Lịch sử Việt Nam - Nxb Giáo dục, Hà nội 1987 12. Cao Văn L−ợng: 90
- Lịch sử cách mạng miền Nam Việt Nam (giai đoạn 1954 - 1960) - Nxb KHXH, Hà Nội 1991 13. Trần Bá Đệ (chủ biên), Nguyễn Ngọc Cơ, Nguyễn Quốc Hùng: Lịch sử 11 (Ban KHTN và ban KHTN - KT), Nxb Giáo dục, 1994 (tài liệu giáo khoa thực nghiệm) Trần Bá Đệ (chủ biên) Lịch sử 11, Nxb Giáo dục, 1995 (tài liệu giáo viên thực nghiệm) 14. Lê Mậu Hãn (chủ biên), Trần Bá Đệ, Hồ Sĩ Khoách, Nguyễn Đình Lễ, Nguyễn Văn Th−: Lịch sử 12 - tập 2 (Ban khoa học xã hội) - Nxb Giáo dục, 1995 (tài liệu giáo khoa thục nghiệm) Trần Bá Đệ (chủ biên) Lịch sử 12 Nxb Giáo dục, 1995 (tài liệu giáo viên thực nghiệm) 15. Nava: Đông D−ơng hấp hối - Nxb Plông, Pari 1958 (bản tiếng Việt) 91
- Chịu trách nhiệm nội dung: Ts. Nguyễn văn hòa Biên tập: Tổ công nghệ thông tin Phòng khảo thí - đảm bảo chất l−ợng giáo dục 92



