Dạy học ca dao trong mối quan hệ với văn hóa dân gian

pdf 7 trang ngocly 30 Free
Bạn đang xem tài liệu "Dạy học ca dao trong mối quan hệ với văn hóa dân gian", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfday_hoc_ca_dao_trong_moi_quan_he_voi_van_hoa_dan_gian.pdf

Nội dung text: Dạy học ca dao trong mối quan hệ với văn hóa dân gian

  1. 70 Diễn đàn trao đổi DẠY HỌC CA DAO TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI VĂN HÓA DÂN GIAN FOLK VERSES TEACHING IN RELATION TO FOLKLORE Võ Thị Ngọc Kiều1 Tóm tắt Abstract Bài viết đề cập đến nội dung chương trình, The paper refers to the cirriculum’s content, cách thức tổ chức dạy học ca dao ở nhà trường how to teach folk verses at school in relation to trong mối quan hệ với văn hóa dân gian. Tích hợp folklore. Integrated folklore in teaching folk văn hóa dân gian trong dạy học ca dao là dùng verses are used the cultural knowledge has been những tri thức văn hóa đã được “mã hóa” trong “encoded” in each verse to explain and define the từng tác phẩm để lí giải, cắt nghĩa các tác phẩm. work itself. From there, find and affirm the cultural Từ đó tìm ra và khẳng định những nét đẹp văn hóa beauty of the ethnic through each the folk verse. của dân tộc qua từng tác phẩm ca dao. Keywords: Folklore teaching, Folklore, folk Từ khóa: Dạy học văn học dân gian, văn hóa verse, pupil, teacher. dân gian, ca dao, học sinh, giáo viên. 1. Đặt vấn đề1 mã văn hóa trong tác phẩm, học sinh sẽ hiểu được Với tư cách là một loại hình nghệ thuật nguyên tác phẩm, nhận ra những giá trị văn hóa, lịch sử hợp, văn học dân gian là một bộ phận của văn hóa trong tác phẩm và có thể vận dụng những tri thức dân gian và là một ngữ liệu quan trọng để nghiên đó vào trong đời sống thực tiễn. Từ đó có thể thấy, cứu văn hóa dân gian. Sinh ra trên cơ sở của một việc dạy học các tác phẩm văn học dân gian ở nhà nền văn hóa nhất định, văn học dân gian không chỉ trường hiện nay không nên dừng lại ở góc độ phân là một loại nghệ thuật ngôn từ (ngôn ngữ nói), mà tích ngôn từ mà giáo viên cần trang bị cho học sinh còn chứa đựng trong đó những dấu ấn văn hóa, những tri thức về văn hóa dân gian. những quan niệm văn hóa – nghệ thuật, những tín Ngoài ra, các bài ca dao khi trở thành đối tượng ngưỡng, tôn giáo, những phong tục, tập quán của tiếp nhận, cảm thụ của giáo viên và học sinh, chứ cộng đồng. Những giá trị văn hóa đó làm nên chiều không chỉ là đối tượng cảm thụ của độc giả nói sâu, giá trị của văn học dân gian. chung, thì nó đã có một đời sống khác, có những Tuy nhiên, chúng ta cần xác định, văn học dân điểm khu biệt với việc thưởng thức các bài ca dao gian dù có quan hệ hữu cơ với văn hóa dân gian thì ngoài nhà trường. Điều này là do mối quan hệ giữa vẫn không hòa tan hoàn toàn bản chất nghệ thuật tác phẩm văn chương với thực tiễn nhà trường. Khi của nó vào các yếu tố văn hóa dân gian. Nên khi được chọn đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn, các tìm hiểu văn học dân gian, chúng ta cũng cần chú ý bài ca dao bị quy định bởi hàng loạt các điều kiện đến quy trình ngược lại. Đó là quá trình các yếu tố sư phạm cụ thể. Tác phẩm đã trở thành công cụ văn hóa dân gian khác đã “khúc xạ”, “biến dạng” giáo dục đặc biệt, nhằm thỏa mãn những nhu cầu thành các yếu tố nghệ thuật trong các tác phẩm văn của xã hội đặt ra cho nó. Đối với học sinh, việc học dân gian. Các yếu tố đó tạo thành những “mã học các bài ca dao là một yêu cầu bắt buộc, có văn hóa” mà mỗi khi tìm hiểu, khám phá một tác sự hướng dẫn; học sinh học tác phẩm trong môi phẩm văn học dân gian, chúng ta cần giải mã để có trường tập thể, mà sự tương tác qua lại giữa giáo thể hiểu một cách sâu sắc, thấu đáo các giá trị tiềm viên và các học sinh khác cũng tạo nên những tác ẩn trong đó. Và đây cũng chính là điểm hấp dẫn của động không nhỏ đến cách tiếp nhận của họ. Từ yêu các tác phẩm văn học dân gian, trong đó có các bài cầu trên, trong quá trình dạy học ca dao, giáo viên ca dao. cũng cần lựa chọn, vận dụng những phương pháp dạy học thích hợp. Thực tế cho thấy dùng văn hóa để giải thích các yếu tố, chi tiết trong tác phẩm ca dao vừa đúng với Thực tế trên đặt ra cho việc dạy học các bài ca đặc trưng của đối tượng giảng dạy, nghiên cứu, vừa dao yêu cầu vừa đảm bảo mục tiêu sư phạm vừa tạo được sự hứng thú cho học sinh. Từ việc giải các đảm bảo đặc trưng thể loại. Trong đó, theo chúng tôi, chú ý thích đáng đến đặc trưng thể loại sẽ giải 1 Thạc sĩ, Trung tâm Giáo dục Thường xuyên - Hướng nghiệp dạy nghề Thành phố Trà Vinh quyết được thấu đáo những vấn đề cơ bản về quan Số 21, tháng 3/2016 70
  2. Diễn đàn trao đổi 71 niệm dạy học cũng như thực tiễn dạy học những mảng đề tài. tác phẩm ca dao cụ thể trong nhà trường. Trong đó, Tuy nhiên, có thể thấy, trong chương trình Ngữ việc tạo ra bầu không khí văn hóa trong giờ dạy ca văn hiện nay, số tiết được phân phối để dạy các dao là điều cần thiết, có ý nghĩa quyết định. bài ca dao chưa phù hợp. Ở chương trình Ngữ văn 2. Nội dung 10 (nâng cao), với thời lượng 2 tiết, giáo viên vừa 2.1. Khái quát chương trình dạy học ca dao bậc dạy phần Ca dao than thân, Ca dao hài hước vừa trung học phải hướng dẫn học sinh đọc thêm. Từ đó, giáo viên và học sinh ít có thời gian, điều kiện tổ chức Là một trong hai bộ phận cấu thành nền văn tìm hiểu sâu về mảng văn học đặc biệt thú vị của học của một dân tộc, văn học dân gian đã được dân tộc này. Và tất yếu, những khám phá về văn đưa vào giảng dạy trong nhà trường Việt Nam các hóa dân gian của các em học sinh qua ca dao còn cấp. Cùng với mục tiêu hình thành và phát triển nhiều hạn chế. các năng lực ngữ văn như: năng lực sử dụng tiếng Việt; năng lực tiếp nhận văn học, cảm thụ thẩm Ngoài ra, chương trình ca dao giữa hai bậc học mĩ; với các yêu cầu được nâng cao theo từng cấp Trung học Cơ sở và Trung học Phổ thông đang có học, dạy học các tác phẩm văn học dân gian nói sự chồng chéo về nội dung, chưa thể hiện được chung, ca dao nói riêng còn giúp giáo viên truyền tính phát triển, toàn diện trong việc tìm hiểu thể thụ những kiến thức văn hóa dân gian đến cho học loại văn học dân gian này. sinh một cách hiệu quả nhất. Với tầm quan trọng Bên cạnh đó, chúng tôi nhận thấy cần phải trao như thế, chương trình ca dao trong sách giáo khoa đổi thêm về một số nội dung trong sách giáo khoa Ngữ văn các cấp học qua những lần cải cách đã có và sách giáo viên của chương trình Ngữ văn hiện những thay đổi tích cực. hành. Trong sách Ngữ văn 7, tập I, ca dao được Ở bậc Trung học Cơ sở, phần ca dao được dạy định nghĩa như sau: “Ca dao, dân ca là những ở chương trình Ngữ văn 7 (sách giáo khoa Ngữ văn khái niệm tương đương, chỉ các thể loại trữ tình 7 tập I, II, tái bản lần thứ nhất, Nhà xuất bản Giáo dân gian, kết hợp lời và nhạc, diễn tả đời sống nội dục, 2004). Trong đó, số tiết được phân bố là 04 tâm của con người ” (Bộ GD&ĐT 2014, tr. 35). tiết, gồm: Những câu hát về tình cảm gia đình (1 Trong định nghĩa trên, người biên soạn đã nhập tiết – dạy bài 1, bài 4); Những câu hát về tình yêu các khái niệm ca dao, dân ca làm một. Nên chăng, quê hương, đất nước, con người (1 tiết – dạy bài 1, chúng ta tách hai khái niệm này ra, rồi sau đó chỉ bài 4); Những câu hát than thân (1 tiết – dạy bài 2, ra mối quan hệ giữa hai thể loại này. bài 3); Những câu hát châm biếm (1 tiết – dạy bài Cũng trong sách Ngữ văn 7, tập I, lời ca dao 1, bài 3). “Công cha như núi ngất trời. Nghĩa mẹ như nước Ở bậc Trung học Phổ thông, phần ca dao được ở ngoài biển Đông” có chỗ cũng cần phải trao đổi dạy ở chương trình Ngữ văn 10. Trong chương trình lại. Lời ca dao trên được xây dựng trong sự tương Ngữ văn 10, Tập I cơ bản (tái bản lần thứ 3, Nhà ứng nghĩa giữa câu lục và câu bát nhằm khẳng xuất bản Giáo dục, 2009), phần văn học dân gian định công cha, nghĩa mẹ đều lớn lao như nhau. được dạy 13 tiết với 7 thể loại. Trong đó thể loại ca Chính vì vậy ở cả hai dòng đều lặp lại cấu trúc so dao được phân phối 04 tiết với 2 nhóm: Ca dao than sánh: Công cha như ; Nghĩa mẹ như Với cấu thân, yêu thương tình nghĩa và Ca dao hài hước. trúc đó, sau “như ” đối tượng so sánh phải cùng Còn chương trình Ngữ văn 10 nâng cao (tái bản lần từ loại, ở đây là núi và nước (đều là danh từ), và dĩ 3, NXB Giáo dục, 2009), phần văn học dân gian nhiên nếu có định ngữ đi kèm thì cả cụm từ (danh có 20 tiết với 8 thể loại. Riêng phần ca dao được từ + định ngữ) cũng phải cùng từ loại. Trong khi chia thành 3 nhóm: Ca dao than thân; Ca dao yêu đó, ở lời ca dao trên, trong dòng lục: núi + ngất thương tình nghĩa và Ca dao hài hước, châm biếm. trời là danh từ + tính từ, còn ở dòng bát lại là nước + ở ngoài là danh từ + trạng từ. Tính từ ngất trời Như vậy, các bài ca dao trong chương trình sách để chỉ tính chất, trong khi trạng từ ở ngoài lại chỉ giáo khoa Ngữ văn ở các bậc học khi được chọn lựa địa điểm. Như vậy tính chất đối xứng để tạo nên đã cơ bản đảm bảo tính tích hợp theo định hướng sự tương ứng nghĩa không còn hoặc ít ra là không đổi mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Và phần ca hoàn chỉnh. dao giữa chương trình lớp Ngữ văn 10 nâng cao và chương trình lớp Ngữ văn 7 có sự thống nhất về các Ngoài ra, trong Ngữ văn 7, tập I, ca dao còn Số 21, tháng 3/2016 71
  3. 72 Diễn đàn trao đổi được xem là một thể thơ: “Ca dao còn được dùng Vì vậy, từ sớm nước ta đã có nền văn hóa nông để chỉ (cũng là) một thể thơ dân gian – thể ca dao” nghiệp gắn với cây lúa. Cũng từ đó, hình ảnh của (Bộ GD&ĐT 2014, tr. 35). Thế nhưng, trong sách cây lúa, của các loại cây trồng, con vật, hiện tượng, giáo viên, khi nói về các thể thơ của ca dao, các tác vật thể tự nhiên, gắn với nền nông nghiệp lúa giả lại cho rằng ca dao có nhiều thể thơ như: thể nước cũng trở thành những mã văn hóa độc đáo năm chữ, thể bảy chữ, thể lục bát, thể song thất lục của dân tộc: bát, Trong trường hợp này, các tác giả đã đánh - Trâu ơi ta bảo trâu này đồng khái niệm thể loại với thể thơ. Khái niệm thể Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta thơ phải được xác định dựa trên số chữ trong mỗi dòng thơ, trái lại thể loại là khái niệm chỉ những Cấy cày vốn nghiệp nông gia tác phẩm có cùng đặc trưng thi pháp. Ta đây trâu đấy ai mà quản công Ở sách Ngữ văn 10, tập I của cả hai bộ (cơ bản Bao giờ ngọn lúa còn bông và nâng cao) đều chọn cùng một văn bản lời ca dao Mắt thương nhớ ai. Cả hai sách đều chú thích dẫn Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn. nguồn từ Tục ngữ, ca dao dân ca của Vũ Ngọc - Từ ngày ăn phải miếng trầu Phan, in lần thứ 8, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Miệng ăn môi đỏ dạ sầu tương tư. Tuy nhiên trong cuốn sách trên, dòng cuối của bài Ngoài ra, để bảo vệ cây lúa, hoa màu, người ca dao là “Lo vì một nỗi chưa yên mọi bề”. Với dân tiến hành làm thủy lợi. Cũng từ đó tín ngưỡng bản này, hàm ý của lời ca dao là cô gái rất nhớ tôn sùng nước, tôn sùng mặt trời được truyền bá nguời yêu nhưng còn lo chưa yên bề cha mẹ, họ trong dân gian. Ngoài ra, lối sống cộng đồng, làm hàng. Trong khi, tuy dẫn nguồn từ đây nhưng sách chung, ăn cùng cũng trở thành lối sống phổ biến lại ghi là “Lo vì một nỗi không yên một bề”. Sự của các dân tộc trồng lúa nước, trong đó có Việt khác nhau ở các chữ không, một không chỉ là sự Nam. Và cũng do trồng lúa nước nên các nghi lễ, lễ sai lệch với nguồn mà còn làm người học có thể hội, tôn giáo hay lịch sử của cộng đồng đều nương nghĩ sai lệch về nội dung của văn bản. theo mùa vụ để tồn tại. Có thể nói, nhu cầu cộng Như vậy, có thể thấy, phần ca dao trong Sách đồng, cộng cảm của nghề trồng lúa nước đã chi giáo khoa Ngữ văn hiện hành bên cạnh những mặt phối, ảnh hưởng ít nhiều đến quan niệm sống, quan ưu điểm cần được đánh giá cao, duy trì vẫn còn niệm ứng xử trong cộng đồng. Như đã nói, do xuất những mặt hạn chế cần được điều chỉnh cho hợp thân từ một nước nông nghiệp, người Việt Nam lí hơn. sống dựa vào nhau và rất coi trọng việc giữ gìn 2.2. Dạy học tác phẩm ca dao trong mối quan hệ các mối quan hệ tốt đẹp giữa các thành viên trong với văn hóa dân gian cộng đồng. Chính tính cộng đồng là nguyên nhân 2.2.1. Các góc độ văn hóa dân gian trong ca dao khiến người Việt Nam đặc biệt coi trọng việc giao tiếp. Trong giao tiếp, người Việt Nam đồng thời Văn hóa dân gian là một chỉnh thể gồm nhiều coi trọng cả sự thẳng thắn, bộc trực và cả sự tế nhị, bộ phận, cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. ý tứ và trọng sự hòa thuận để giữ gìn, củng cố tình Các loại hình văn hóa này gắn bó và có mối quan thân, phát triển mối quan hệ: hệ qua lại với nhau, góp phần tạo nên nền văn hóa - Vàng thì thử lửa, thử than, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong đó có thể kể đến một vài loại hình văn hóa tiêu biểu: văn hóa nông Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời. nghiệp, văn hóa ứng xử, tôn giáo – tín ngưỡng, - Một thương tóc bỏ đuôi gà, Văn học dân gian có mối quan hệ hữu cơ, tự nhiên, Hai thương ăn nói mặn mà có duyên vốn có với các thành phần khác của văn hóa dân gian. Mối quan hệ đó biểu hiện ra thành mối quan - Yêu nhau yêu cả đường đi hệ giữa văn học dân gian với nghi lễ, hội hè, phong Ghét nhau, ghét cả tông ti họ hàng. tục tập quán sinh hoạt trong gia đình và sinh hoạt xã hội. Những yếu tố này, dù ở mức độ ít-nhiều, đậm- Yêu nhau cau sáu bổ ba, nhạt khác nhau, đã tồn tại trong ca dao, đã mang Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười. đến những sắc màu văn hóa cho các bài ca dao. Yêu nhau mọi việc chẳng nề, Việt Nam có nền nông nghiệp lúa nước lâu đời. Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng. Số 21, tháng 3/2016 72
  4. Diễn đàn trao đổi 73 Đến với ca dao, ta thường bắt gặp những nét của quần chúng nhân dân. Ngôn ngữ ca dao là thứ sinh hoạt, những cảnh vật quen thuộc trong đời ngôn ngữ giản dị, đẹp đẽ, trong sáng, được chắt lọc sống hàng ngày của nhân dân lao động. Đây sẽ là qua nhiều thế hệ. Các cung bậc tình cảm trong ca một kho tài liệu phong phú về phong tục tập quán ở dao vì thế được diễn tả một cách chân thành, mộc nông thôn xưa. Ca dao cho chúng ta biết khá nhiều mạc, nhiều lúc “thẳng băng” nhưng không kém và khá chi tiết về các phong tục tập quán trong các phần sinh động và giàu sức biểu cảm. Điều đó làm lĩnh vực sinh hoạt vật chất và sinh hoạt tinh thần cho không ít câu ca dao đã vươn tới sự mẫu mực, của nhân dân lao động. Đó là cảnh làm ăn vất vả, có câu còn mang dấu ấn của văn chương bác học: cực nhọc của một nước nhiệt đới mà sản xuất nông Chàng đi thiếp cũng theo cùng nghiệp còn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thời tiết. Đó là những sinh hoạt, hội hè mang đậm bản sắc Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam dân gian, Qua đó, người đọc sẽ có dịp cảm nhận Ví dầu tình có dở dang được lối sống, lối nghĩ và những phẩm chất quý báu của con người Việt Nam. Thì cho thiếp gọi đò ngang thiếp về Văn học dân gian nói chung, ca dao nói riêng Trong ca dao, các đại từ nhân xưng và đại từ đều có ý thức hoặc vô thức thể hiện phong tục tập phiếm chỉ được sử dụng với mật độ cao. Điều đó quán của cộng đồng mà nó sản sinh. Sự lựa chọn làm rõ thêm sắc thái dân gian riêng biệt trong ca và phản ánh phong tục tập quán trong ca dao cũng dao. Ngôn ngữ ca dao không giống như ngôn ngữ như trong đời sống hoàn toàn mang tính chủ quan, trong văn học viết, nó vừa mang sắc thái dân gian không có quy luật chung cho mọi cộng đồng, chỉ gắn với cách cảm, cách nghĩ của cộng đồng, vừa phụ thuộc vào điều kiện sống và quan niệm tín gắn với những cảm xúc cá nhân trong các tình ngưỡng của họ: huống cụ thể. Cái tôi trữ tình dân gian là cái tôi phiếm chỉ, cái tôi phổ biến. - Dù ai buôn đâu bán đâu, Nhưng khi dạy học ca dao, chúng ta không nên Mùng chín tháng tám chọi trâu thì về. cố gắng phân tích chi tiết mà nên đặt trong sự khảo - Dù ai đi ngược về xuôi, sát, so sánh giữa hiện thực và lịch sử, với những biểu tượng tương đồng để tìm ra giá trị văn hóa và Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba giá trị thẩm mĩ của văn bản ca dao. Như vậy, với việc là sản phẩm, là tiếng nói của Mặt khác, hầu hết ca dao là những câu hát ru, nhân dân sản sinh ra trong một hoàn cảnh nhất hò đối, lý, nên hình thức diễn xướng là hình thức định, nên để hiểu một bài ca dao, chúng ta cần đặt đặc trưng. Như vậy, trong ca dao, yếu tố giai điệu nó vào đời sống thực của nó. Đó là môi trường văn cũng được xem là yếu tố quan trọng. Nó vừa cho hóa dân gian. Trong môi trường đó, chúng ta sẽ có thấy điểm khác nhau cơ bản giữa ca dao và thơ vừa thêm cơ sở để soi sáng văn bản ngôn từ và khám lí giải vì sao ca dao dân ca nếu được hát sẽ hấp dẫn phá ra vẻ đẹp độc đáo của ca dao. và thể hiện nội dung chính xác hơn. Vì vậy, khi tìm 2.2.2. Đặc trưng thể loại của ca dao với việc tổ hiểu về đặc điểm và phân loại ca dao Việt Nam cần chức dạy học ca dao trong mối quan hệ với văn chú ý tới những yếu tố: lời ca, giai điệu và hình hóa dân gian thức sinh hoạt. Nói một cách khác, khi tìm hiểu, đánh giá một câu hát hoặc một bài hát dân gian với Có thể nói, dạy ca dao là dạy thơ dân gian. Dạy tư cách là một sáng tác ngôn ngữ cần phải chú ý tới thơ cần khái quát, khai thác các yếu tố nội dung và mối quan hệ hữu cơ giữa nó với một giai điệu hay nghệ thuật. Riêng đối với ca dao, về bản chất, nó một giọng hát nhất định với một hệ thống câu hát có những yếu tố khác với văn học viết. Vì vậy, khi hoặc bài hát nhất định. dạy ca dao cần phát hiện ra những yếu tố khác biệt để thấy được cái hay, độc đáo chỉ có ở ca dao. Theo Về mặt kết cấu, tuy lối đối đáp là đặc điểm dễ đó, khi dạy học ca dao, chúng ta không thể bỏ qua nhận thấy trong ca dao nhưng không hẳn mọi bài các đặc trưng về mặt thể loại. ca dao đều chia ra rõ ràng lời của hai nhân vật trữ tình cùng tham gia đối đáp. Có những bài ca dao Một đặc trưng quan trọng của ca dao phải kể chỉ kết cấu theo một vế. Lối đối đáp trong ca dao đến đó là hệ đề tài, chức năng và thi pháp. Hệ đề cho thấy nhân vật trữ tình muốn được bộc lộ, giãi tài là phần lời của những câu hát dân gian. Về mặt bày tâm trạng, cảm xúc. Chẳng hạn: này, ca dao kết tinh từ lời ăn tiếng nói hàng ngày Số 21, tháng 3/2016 73
  5. 74 Diễn đàn trao đổi - Chàng ơi phụ thiếp làm chi bộ phận của văn hóa dân gian, thao tác nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích các tác phẩm văn học dân Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng. gian cũng được đặt trong mối quan hệ đó. Khi tìm - Dầu mà không lấy được em hiểu văn học dân gian như là một bộ phận của văn Anh về đóng cửa cài rèm đi tu hóa dân gian, các nhà nghiên cứu cho rằng cần tập trung vào việc giải mã các “mã văn hóa” có trong Tu mô cho em tu cùng tác phẩm. Bởi đó chính là sự thể hiện tập trung các May ra thành phật thờ chung một chùa. đặc điểm và bản chất văn hóa mỗi cộng đồng. Việc giảng dạy văn học dân gian nói chung, ca dao nói Một đặc điểm khá quan trọng trong kết cấu của riêng trong mối quan hệ với văn hóa dân gian cũng ca dao là việc sử dụng lặp lại mô típ dân gian. Các không nằm ngoài xu hướng đó. công thức mở đầu có tính khuôn mẫu như: trèo lên, thân em, ước gì, chiều chiều, tạo ra vô hạn Dạy học ca dao là dạy một loại hình nghệ thuật các dị bản. Có đặt các văn bản ca dao vào hệ thống đặc thù: vừa là nghệ thuật ngôn từ như văn học viết, mô típ đó mới hết cái độc đáo, đặc sắc của ca dao lại mang bản sắc chung của một sáng tác folklore dân gian. với những nét riêng về thi pháp. Bất cứ một bài ca dao nào – dù chỉ bao gồm một cặp lục bát – cũng là Ngoài ra, bản chất của ca dao là tính trữ tình. sự tổng hòa của cả ba mặt: nghệ thuật ngôn từ, bản Hình tượng nhân vật trong ca dao là nhân vật tâm sắc folklore và đặc trưng thi pháp. Bởi vậy, trong trạng, cảm xúc chứ không phải là con người tự sự. quá trình hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh một tác Cho nên, giảng dạy ca dao cần chú ý đến bản chất phẩm ca dao, phải đảm bảo sự thống nhất hài hòa trữ tình được bộc lộ trực tiếp như thế nào và điều giữa ba mặt đó. Khi dạy ca dao, giáo viên cần chú gì đã khiến ca dao dân gian có thể đi vào trái tim ý đến việc tái hiện môi trường diễn xướng, hoàn hàng triệu con người của biết bao thế hệ. cảnh văn hóa của nó, tạo điều kiện cho các em hòa Như đã nói, ca dao là thơ dân gian. Vì vậy, dạy nhập vào không khí ca dao. Có như thế, việc tiếp học ca dao theo đặc trưng thi pháp chủ yếu là để thu, lĩnh hội các giá trị nội dung và nghệ thuật của phát hiện những yếu tố hình thức chứa đựng giá trị tác phẩm sẽ đạt hiệu quả cao hơn. nội dung rõ nhất, sâu sắc nhất. Tuy nhiên, ca dao Từ đó, chúng tôi xác định quy trình các bước dạy không chỉ hàm chứa chất thơ dân dã và nhịp điệu học một tác phẩm ca dao trong nhà trường như sau: ruộng đồng mà còn phản chiếu nội dung văn hóa dân gian và nghệ thuật diễn xướng dân gian với Thứ nhất, cần định hướng cho học sinh trong những dấu ấn nguyên hợp và folklore. Do đó, nếu quá trình chiếm lĩnh một tác phẩm ca dao. Lưu ý chỉ tiếp cận ca dao theo hướng thi pháp, tuy là cần học sinh xác định mối quan hệ đúng đắn giữa ba thiết nhưng vẫn chưa đủ để có thể khám phá các mặt nghệ thuật của một tác phẩm ca dao khi tiếp bình diện nội dung và ý nghĩa khác trong ca dao. cận. Trong ba mặt này thì nghệ thuật ngôn từ là cái Hơn nữa, ca dao là sáng tác tập thể được lưu truyền bao quát chung, sắc thái folklore là điều quan trọng trong đời sống sinh hoạt của người bình dân để đáp phải lưu ý (để phân biệt ca dao là sáng tác dân gian ứng nhu cầu bộc lộ và giao lưu tình cảm. Vì thế, ca với những sáng tác của văn học viết), nhưng yếu dao không có những sáng tạo hình thức nghệ thuật tố quyết định nhất vẫn là thi pháp ca dao. Vì đây độc đáo có ý nghĩa quyết định toàn bộ giá trị bài ca mới là căn cứ để tìm ra vẻ đẹp đích thực và riêng dao. Nếu quá tập trung vào tiếp cận thi pháp và phân biệt của ca dao. Hướng học sinh tìm ra những điểm tích thi pháp ca dao thì sẽ không tránh được suy hội tụ ba mặt nghệ thuật ấy để tìm hiểu, phân tích, diễn, khiên cưỡng, cứng nhắc, phiến diện khi dạy nhằm nêu lên vẻ đẹp bài ca dao và bộc lộ chủ đề học ca dao. Nói cách khác, ngoài hướng tiếp cận của tác phẩm. Điểm hội tụ ấy thường nằm trong thi pháp, còn cần đảm bảo hướng tiếp cận đồng bộ những chi tiết quan trọng của tác phẩm. Giáo viên như tiếp cận văn hóa, tiếp cận folklore, tiếp cận hệ phải hướng dẫn học sinh lựa chọn đúng những chi thống chủ đề và cấu trúc thì việc dạy học ca dao mới tiết quan trọng để khai thác, phân tích, bằng cách thu nhận được hiệu quả và chất lượng mong muốn. gợi mở trí tưởng tượng, óc liên tưởng của học sinh để các em cảm nhận được các mặt nghệ thuật đó. 2.2.3. Tổ chức dạy học ca dao trong mối quan hệ Như việc giáo viên hướng dân học sinh từng bước với văn hóa dân gian khám phá chi tiết nghệ thuật: “chiếc cầu dãi yếm”, Với quan niệm xem văn học dân gian là một “tấm lụa đào”, trong các bài ca dao. Số 21, tháng 3/2016 74
  6. Diễn đàn trao đổi 75 Thứ hai, cần hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh nhận folklore để các em cảm nhận tốt tác phẩm). từng bài ca dao trong hệ thống chuỗi của nó. Cũng Tìm những yếu tố nằm ngoài văn bản bài ca dao và như những thể loại khác của văn học dân gian, về lựa chọn những yếu tố phù hợp nhất, có mối quan bản chất, ca dao là loại tác phẩm chuỗi (vì văn học hệ biện chứng, tương hỗ, thống nhất với văn bản dân gian là sáng tác tập thể của người bình dân bài ca dao. Có thể hướng dẫn học sinh khai thác hệ mang tư duy cộng đồng và cảm hứng dân gian). thống dị bản, hệ thống các mô típ, các làn điệu dân Vì vậy, khi dạy ca dao không thể chỉ dạy một cách ca, môi trường, cách thức diễn xướng, người diễn cô lập trên văn bản ngôn từ, trên bản thân bài ca xướng, phương thức tồn tại, sự vận động trong đời dao mà phải dạy ca dao trên quan điểm hệ thống, sống dân gian, các chức năng sinh hoạt, thực hành bằng phương pháp hệ thống. Có như vậy, tác phẩm xã hội, của ca dao. Có gắn kết như vậy, chúng ta mới được soi sáng, lý giải một cách toàn diện, mới cảm nhận được môi trường diễn xướng, người sâu sắc hơn. Khi dạy ca dao theo phương pháp diễn xướng, nếp sinh hoạt văn hoá dân gian mà hệ thống, cần đặt nó vào những hệ thống sau: hệ trong đó ẩn chứa như: thân phận bé nhỏ của người thống dị bản, hệ thống mô típ, hệ thống văn hóa con gái trước xã hội – cuộc đời, sự lo âu trăn trở dân gian. Như khi dạy các bài Ca dao than thân; trước tình duyên; những câu hát giao duyên bộc lộ Ca dao yêu thương tình nghĩa; giáo viên yêu cầu sự than thân, trách phận chất chứa tâm trạng, Để học sinh chuẩn bị bài trước ở nhà: “Sưu tầm một thực hiện việc này, giáo viên có thể cung cấp cho số bài ca dao có mô thức mở đầu bằng: Thân em học sinh những hiểu biết về thế giới làng quê xưa như ; Trèo lên ; sưu tầm những bài ca dao có trong ca dao cổ truyền về các mặt: phong cảnh, hình ảnh chiếc cầu, Hoặc giáo viên có thể yêu cách cảm, cách nghĩ, tâm lý, ngôn ngữ, phong cầu học sinh thực hiện những bài nghiên cứu tìm tục tập quán, của người bình dân. Bên cạnh đó, hiểu những biểu trưng về tình yêu, về thân phận ngoài giờ học, giáo viên có thể tổ chức cho các người phụ nữ, em tham gia sinh hoạt hội hè dân gian, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian như: nghe hát dân ca, Thứ ba, tìm và giải mã các các yếu tố văn hóa dự các cuộc hát đối nam nữ, xem phim ảnh, băng trong văn học dân gian. Các yếu tố này được xem hình về các làn điệu dân ca .để các em hiểu thêm là các yếu tố ngoài văn bản, góp phần rất lớn cho về đời sống thực của ca dao. Giáo viên có thể yêu việc định hướng cách hiểu, cảm thụ một bài ca dao. cầu học sinh sưu tầm băng hình phục vụ cho bài Như khi dạy bài “Ước gì sông rộng một gang ”, học: cảnh hát đối đáp, không gian làng quê xưa, ; giáo viên nên đặt hình ảnh chiếc cầu dải yếm của cô hoặc trực tiếp diễn xướng, tái hiện không khí diễn gái trong sự so sánh với hệ thống hình ảnh những xướng ca dao; cây cầu khác trong ca dao (cành trầm, cành hồng, ngọn mồng tơi, ). Để từ đó đi đến kết luận về sự Bên cạnh đó, để tổ chức các bước dạy học ca tinh tế, độc đáo của dân gian trong việc lựa chọn dao trên, giáo viên nên sử dụng các phương pháp hình ảnh chiếc cầu dãi yếm. Đặc biệt hơn bởi vì dạy học tích cực, phù hợp với đặc trưng thể loại nó không phải là cái bên ngoài đi mượn mà là vật ca dao như: phương pháp dạy học nêu vấn đề, dạy thân thiết gần gũi nhất của cô gái. Chiếc cầu – dải học theo nhóm, sưu tầm, để xác định hoàn cảnh yếm là chiếc cầu tình yêu mà cô gái chủ động bắc ra đời, thể loại, tái hiện không gian diễn xướng, cho người mình yêu cho thấy thái độ muốn vượt của các bài ca dao; phương pháp dạy học nêu vấn lên trên sự ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong đề, tổ chức cho học sinh thảo luận, thực hiện những kiến ngày xưa. Nó thể hiện sự táo bạo nhưng cũng bài nghiên cứu nhỏ, để khai thác các giá trị nội rất trữ tình, ý nhị, kín đáo của cô gái. Thông qua dung, giá trị nghệ thuật, giá trị văn hóa ứng xử, các hình ảnh chiếc cầu – dải yếm độc đáo, bài ca dao biểu tượng văn hóa dân gian, trong khi dạy các đã giãi bày một ước muốn khá táo bạo và tha thiết bài ca dao cụ thể. của người con gái trong tình yêu: đón người yêu Trên đây chúng tôi vừa đề xuất các bước cơ bản bằng dải yếm mềm mại mang hơi ấm của cơ thể khi phân tích, giảng dạy một bài ca dao. Với xu và nhịp đập của trái tim mình. Đây là một cách thể hướng đổi mới phương pháp dạy và học hiện nay, hiện bình dị, mãnh liệt nhưng cũng hết sức tế nhị, mô hình tiếp cận tìm hiểu, phân tích một bài ca dao duyên dáng. trong mối quan hệ với văn hóa dân gian ở trên chỉ Thứ tư, hướng dẫn học sinh khai thác mặt văn mang tính chất như “một cái khung” để chúng ta bản ngôn từ và các yếu tố ngoài văn bản (chú ý tái hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh bài ca dao. Trong hiện không khí đồng quê, khơi gợi tâm thức tiếp quá trình giảng dạy, tùy từng bài ca dao, giáo viên Số 21, tháng 3/2016 75
  7. 76 Diễn đàn trao đổi có thể linh hoạt thay đổi, bỏ qua một số bước để dao nói riêng trong mối quan hệ với văn hóa dân phù hợp với không gian lớp học, với trình độ của gian sẽ giúp chúng ta khám phá, khẳng định được học sinh, trình độ của giáo viên; vào quỹ thời gian những giá trị văn hóa được bảo lưu trong từng tác chuẩn bị và giảng dạy trên lớp, phẩm. Từ đó góp phần hình thành ở mỗi con người Việt Nam, đặc biệt là ở giới trẻ tinh thần dân tộc và 3. Kết luận tinh thần yêu nước. Việc tìm hiểu văn học dân gian nói chung và ca Tài liệu tham khảo Bộ Giáo dục & Đào tạo. 2014. Ngữ văn 7. Tập I. NXB Giáo dục. Bộ Giáo dục & Đào tạo. 2014. Ngữ văn 7. Tập II. NXB Giáo dục. Bộ Giáo dục & Đào tạo. 2014. Ngữ văn 10. Tập I. NXB Giáo dục. Nguyễn, Nghĩa Dân. 2013. Văn hóa giao tiếp, ứng xử trong tục ngữ - ca dao Việt Nam. NXB Văn hóa Thông tin. Chu, Xuân Diên. 2008. Nghiên cứu văn hóa dân gian. NXB Giáo dục. Nguyễn, Xuân Đức và Nguyễn, Xuân Lạc. 2012. Văn học dân gian trong nhà trường. NXB Văn hóa Dân tộc. Nguyễn, Thị Bích Hà. 2013. Nghiên cứu Văn học dân gian từ mã văn hóa dân gian. Hà Nội: NXB Văn hóa thông tin. Vũ, Ngọc Phan. 2010. Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam. Hà Nội: NXB Văn học. Trần, Ngọc Thêm. 1996. Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam. NXB TP.HCM. Hoàng, Tiến Tựu. 1993. Mấy vấn đề phương pháp giảng dạy – nghiên cứu văn học dân gian. NXB Giáo dục. Số 21, tháng 3/2016 76