Câu chuyện Do Thái - Lịch sử thăng trầm của một dân tộc (Phần 2)

pdf 88 trang ngocly 20
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Câu chuyện Do Thái - Lịch sử thăng trầm của một dân tộc (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfcau_chuyen_do_thai_lich_su_thang_tram_cua_mot_dan_toc_phan_2.pdf

Nội dung text: Câu chuyện Do Thái - Lịch sử thăng trầm của một dân tộc (Phần 2)

  1. CHƯƠNG IV CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ “Bom thả, nhưng nền kinh tế của Israel vẫn phát triển” - The Financial Times ó những quốc gia chỉ giỏi chiến tranh nhưng không biết làm kinh tế. Có quốc gia giỏi làm kinh tế nhưng lại không đủ bản lĩnh khi phải đương đầu với súng đạn. Có quốc gia vừa chiến đấu giỏi lại vừa làm kinh tế giỏi. Số quốc gia thuộc về tuy Cnhiên, loại thứ ba này, chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Trong số này Israel đứng đầu danh sách. Trong hơn 60 năm từ ngày lập quốc 1948 đến nay, Israel chịu bảy cuộc tấn công từ các nước láng giềng thù địch. Xung đột xảy ra hàng ngày. Nhưng cũng trong hơn 60 năm này, kinh tế Israel tăng trưởng 50 lần. Báo The Financial Times nói rằng “Bom thả, nhưng nền kinh tế của Israel vẫn phát triển”. Một câu chuyện rất hấp dẫn liên quan đến sản xuất chip máy tính của hãng Intel tại Israel. Năm 1974 Intel bắt đầu xây dựng trung tâm Nghiên cứu và Phát triển (Research & Development) tại Haifa với năm kỹ sư. Đây là trung tâm Nghiên cứu và Phát triển đầu tiên của
  2. Intel ở nước ngoài. Đến năm 1978, trung tâm này đã phát triển thành 5.400 nhân viên. Năm 1985 Intel phát minh chip 386 và giao phần lớn trách nhiệm việc sản xuất chip 386 cho cơ sở tại Israel. Gánh nặng rơi vào nhà máy sản xuất chip ở Haifa, sản xuất khoảng ¾ sản lượng toàn cầu của Intel. Nhà máy bắt đầu chế độ hai ca/ngày và mỗi ca 12 tiếng, bảy ngày một tuần. Năm 1990, Iraq xâm lược Kuwait. Saddam Hussein tuyên bố nếu Mỹ can thiệp vào Kuwait thì ông ta sẽ trả đũa bằng cách bắn tên lửa sang Israel. Lời cảnh báo của Sadam không thể xem thường. Sản xuất của nhà máy bị đe dọa. Người dân Israel trong lực lượng dự bị có thể bị triệu tập vài ngày hay vài tháng vài năm cho đến khi nào chính quyền cảm thấy đủ. Nhiều doanh nghiệp Israel đã phá sản trong thời gian chiến tranh vì không đảm bảo được nguồn nhân lực. Việc sản xuất chip 386 của nhà máy tại Haifa ở trong tình trạng nguy kịch. Nếu nhà máy không tiến hành đúng như dự kiến thì niềm tin của Intel cũng như của các công ty nước ngoài khác vào Israel sẽ sụp đổ. Điều này ảnh hưởng đến sự tồn vong của ngành kinh tế công nghệ cao còn rất non yếu của Israel vào lúc này. Kết quả cuối cùng: trong khi tên lửa của Saddam rơi ngay gần trung tâm Nghiên cứu và Phát triển ở Haifa, 75% số nhân viên của nhà máy vẫn có mặt làm việc. Sản lượng tại trung tâm Nghiên cứu và Phát triển ở Haifa vẫn tăng mạnh. Các cuộc tấn công bằng tên lửa của Saddam vào Israel càng khốc liệt bao nhiêu, sản lượng càng lớn bấy nhiêu. Ban lãnh đạo Intel tại trụ sở Santa Clara bên Mỹ đi hết từ bất ngờ này sang bất ngờ khác. Người Israel có một thuật ngữ áp dụng cho hoàn cảnh này: “davka” có nghĩa là “bất chấp”, kèm theo một chút chế nhạo đối thủ bằng động tác “ngoáy mũi”. Giống như nói rằng: “chúng mày càng tấn công tao bao nhiêu, tao sẽ càng thành công bấy nhiêu.” Người Israel đã chứng minh rằng họ có khả năng vươn lên giữa mọi nghịch cảnh. Chính cái nghịch cảnh ấy là chất xúc tác tạo nên tư duy và tính cách đặc sắc người Do Thái, tạo nên kỹ năng để sinh tồn đến hoàn hảo: trí tuệ, dũng cảm, quyết đoán, linh hoạt, ứng biến, “bất chấp” và “ngoan cố”. Ở đây chúng ta dùng từ “ngoan cố” thay cho từ “ngoan cường”. Từ “ngoan cố” đúng hơn với tính cách của người Do Thái. Đúng hơn và đẹp hơn! Dựa trên nền tảng tư duy đặc sắc này, trong suốt hơn 60 năm từ ngày lập quốc, kinh tế Israel đã bước những bước đột phá mà không một quốc gia nào có thể làm nổi.
  3. Trong chương này, chúng ta sẽ thảo luận về quá trình phát triển kinh tế ngoạn mục của Israel, những thăng trầm, sự dịch chuyển quyết đoán của chính phủ Israel từ nền kinh tế tập trung do chính phủ kiểm soát sang kinh tế thị trường, những thành tựu cũng như những thách thức, những điểm nhấn, những nét đặc sắc, chính sách khởi nghiệp của chính phủ. Tất cả những thành tựu kinh tế này đã và đang xảy ra giữa khói lửa của chiến tranh và xung đột. Người Israel đã vượt qua những nghịch cảnh này và vươn lên đỉnh cao như thế nào? Dựa vào trí tuệ? Vào sự kiên cường và “ngoan cố”? Hay đơn thuần dựa vào may mắn? TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ ISRAEL Tháng Năm năm 2006, Berkshire Hathaway đóng trụ sở tại Mỹ của Warren Bufet đã mua 80% cổ phần của công ty kim loại ISCAR Metalworking Companies của Israel với giá bốn tỷ USD. Trong lịch sử Wall Street, đây là vụ mua lại đầu tiên một công ty bên ngoài nước Mỹ của một công ty Mỹ. Một thời gian sau khi mua lại, Bufet nói trong một cuộc phỏng vấn rằng “ISCAR là một giao dịch trong mơ. Nó đã vượt qua tất cả sự mong đợi tôi đã có khi mua công ty và mong đợi của tôi là rất cao”. Một câu chuyện khác. Isaac Tshuva là một doanh nhân người Israel bắt đầu sự nghiệp của mình là một doanh nghiệp bất động sản nhỏ địa phương. Ngày nay Tshuva có quyền kiểm soát một số đầu tư và các công ty cổ phần xuyên quốc gia. Năm 2004, Tshuva mua lại Hotel Plaza nằm trên đại lộ Fifth Avenue của New York với giá 675 triệu USD. Hai giao dịch này, mặc dù giá trị của nó nghiêng về phía có lợi cho Israel, chỉ là hai trong rất nhiều những ví dụ về sự tham gia ngày càng tăng của các doanh nhân và các công ty Israel trong nền kinh tế toàn cầu ở một mức độ có thể coi là không thể tưởng tượng hoặc không thể có cách đây 20 năm. Cho đến hôm nay, nền kinh tế Israel được xem là một mô hình kinh tế thị trường mở đa dạng rất thành công. Là một quốc gia tương đối trẻ trong thời kỳ hiện đại, Israel được công nhận là một thị trường phát triển(1) dựa trên nhiều chỉ số chính. Năm 2011, Israel có số lượng lớn nhất của các công ty niêm yết trên NASDAQ sau Hoa Kỳ và Trung Quốc, và hơn 60 công ty của Israel được giao dịch trên sàn
  4. giao dịch châu Âu. Tính đến năm 2012, Israel đứng thứ 16 trong số 187 quốc gia về Chỉ số Phát triển Con người(2) của Liên Hợp Quốc, đặt Israel trong tầng lớp “Phát triển Rất Cao(3)”. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế(4), tính đến tháng Bốn năm 2012, GDP (Gross Domestic Product – Tổng Sản phẩm Quốc nội) bình quân đầu người theo sức mua tương đương(5) của năm 2011 là \$31.514, đứng thứ 27 trong số 180 quốc gia trên thế giới. Nền kinh tế Israel cho thấy khả năng chịu đựng và phục hồi rất lớn trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu gần đây nhất (2008). Israel có thể lèo lái để vượt qua các cuộc khủng hoảng kinh tế là nhờ có một hệ thống ngân hàng ổn định, độ đàn hồi của thị trường lao động, bộ máy quản lý thị trường vốn(6) không quá phức tạp, tính năng động và phản ứng kịp thời của các nhà hoạch định chính sách. Trong năm 2010-2011, Israel đã được xếp đầu trong Chỉ số Khả năng phục hồi của nền Kinh tế(7), như một phần của Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Toàn cầu(8) của WEF (World Economic Forum). Từ Xã hội Chủ nghĩa sang Thị trường Mở - nền kinh tế của Israel đã có những biến chuyển mang tính chất cách mạng trong những thập niên sau khi Nhà nước Israel ra đời năm 1948. Trong gốc rễ của nó, phong trào Zion và các cộng đồng Do Thái tiên phong ban đầu mang nặng ý thức hệ xã hội chủ nghĩa. Nhưng cũng từ khi đó, với lợi ích dân tộc được đặt lên hàng đầu, Ben-Gurion và những người kế nhiệm đã hướng nền kinh tế Israel theo con đường trở thành một nền kinh tế tự do và mở cửa, mang đặc điểm linh hoạt và tính đa dạng của kinh tế tư bản chủ nghĩa, trong khi vẫn giữ một số khía cạnh của an sinh xã hội. Tư nhân hóa đã được bắt đầu thực hiện từ những năm 1980 và mở rộng trong thập niên 1990. Israel đã hái quả ngọt của nền kinh tế thị trường sau trên 20 năm quyết liệt thay đổi. Tăng trưởng GDP - nền kinh tế Israel tăng trưởng mạnh cho đến năm 1973, trung bình 8,9% mỗi năm, và tăng trưởng trung bình 3,8% mỗi năm kể từ năm 1973. Nhìn vào nhật ký GDP (nơi góc dốc đại diện cho tốc độ tăng trưởng), có thể thấy lịch sử tăng trưởng GDP của Israel rất ấn tượng (xem biểu đồ).
  5. Tăng trưởng GDP bình quân đầu người - tăng trưởng kinh tế ấn tượng của Israel vẫn đứng vững ngay cả khi tính đến sự tăng trưởng của dân số. Cũng như vậy, Israel đạt tốc độ tăng trưởng bình quân đầu người khá mạnh 4,9% mỗi năm cho đến năm 1973. Sau đó, tốc độ tăng trưởng bình quân đầu người của Israel xấp xỉ mức của thế giới, với con số trung bình 1,6% mỗi năm. Nhật ký GDP bình quân đầu người cho thấy lịch sử tăng trưởng GDP bình quân đầu người của Israel cũng khá ấn tượng (xem biểu đồ).
  6. Ngày nay các ngành công nghiệp chủ yếu của Israel bao gồm các sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm kim loại, thiết bị điện tử và y sinh học, các sản phẩm nông nghiệp, thực phẩm chế biến, hóa chất và thiết bị vận tải. Ngành công nghiệp kim cương của Israel là một trong
  7. những trung tâm của thế giới trong công đoạn cắt và đánh bóng. Tương đối nghèo về tài nguyên thiên nhiên, Israel phụ thuộc vào nhập khẩu xăng dầu, nguyên liệu thô, lúa mì, xe có động cơ, kim cương chưa cắt và đầu vào sản xuất, mặc dù sự phụ thuộc gần như hoàn toàn của Israel vào nhập khẩu năng lượng có thể thay đổi với những khám phá gần đây về trữ lượng khí đốt tự nhiên lớn ngoài khơi bờ biển. Israel đang hoạt động mạnh trong công nghiệp phát triển phần mềm, viễn thông và chất bán dẫn. Việc tập trung cao vào các ngành công nghệ cao tại Israel, được hỗ trợ bởi một ngành công nghiệp đầu tư mạo hiểm mạnh mẽ, cho nó biệt danh là “Silicon Wadi”, được coi là đứng thứ hai về tầm quan trọng chỉ sau “Silicon Valley” (Thung lũng Điện tử) của California, Hoa Kỳ. Nhiều công ty Israel đã được các tập đoàn toàn cầu mua lại do chất lượng sản phẩm cũng như hàng ngũ nhân viên tài năng và tin cậy. Đất nước này là điểm đầu tư đầu tiên bên ngoài nước Mỹ khi Berkshire Hathaway mua ISCAR Metalworking. Intel, Microsoft và Apple cũng đã mở các trung tâm Nghiên cứu và Phát triển đầu tiên bên ngoài nước Mỹ ở Israel. Các nhà kinh doanh và đầu tư hàng đầu của Mỹ như Bill Gates, Warren Bufett và Donald Trump đã từng không tiếc lời ca ngợi nền kinh tế của Israel và mỗi doanh nhân này đã đầu tư rất nhiều trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau của Israel bao gồm bất động sản, công nghệ cao, và các ngành sản xuất ngoài các hoạt động kinh doanh truyền thống của họ tại Hoa Kỳ. Israel cũng là một điểm đến du lịch lớn, với 3.54 triệu khách du lịch nước ngoài đến thăm vào năm 2013. Nhìn chung, trong những năm qua, ngành công nghiệp của Israel đã phát triển khởi đầu từ những cơ sở nhỏ tham gia chủ yếu trong chế biến nông sản và quần áo, sang một nền công nghiệp công nghệ cao sử dụng các phương pháp hiện đại và các công nghệ sản xuất tiên tiến. Nhìn vào khu vực xuất khẩu các mặt hàng sản xuất chế tạo trong 20 năm qua, người ta có thể nhận thấy rằng ngành công nghiệp công nghệ thấp vẫn không biến mất, nhưng ngành công nghiệp công nghệ cao đã ngày càng mở rộng và chiếm lĩnh phần lớn thị phần.
  8. Vào tháng Chín năm 2010, Israel đã được mời tham gia OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế – (The Organisation for Economic
  9. Co-operation and Development). OECD đánh giá cao những tiến bộ khoa học – công nghệ của Israel và mô tả Israel là quốc gia đã “sản xuất những sản phẩm xuất sắc trên phạm vi thế giới”. Israel cũng đã ký hiệp định thương mại tự do với Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ, Hiệp hội Thương mại Tự do châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ, Mexico, Canada, Jordan, Ai Cập, và vào ngày 18 tháng Mười Hai năm 2007, trở thành quốc gia không nằm trong châu Mỹ Latin đầu tiên ký hiệp định thương mại tự do với khối thương mại Mercosur (của một số các quốc gia châu Mỹ Latin). Tăng trưởng dân số Trước và sau khi lập quốc, Ben-Gurion luôn xem nhập cư là một trong những ưu tiên hàng đầu của quốc gia. Ông tin rằng người nhập cư Do Thái không chốn dung thân trên mọi vùng đất của thế giới cần được trợ giúp trong hành trình quay về với Nhà nước Israel non trẻ. Hơn nữa, quan trọng hơn cả, Nhà nước Israel cần chuẩn bị một nguồn nhân lực dồi dào cho tương lai để khai khẩn đất đai, để chiến đấu bảo vệ đất nước mới ra đời, và để thổi sinh khí vào nền kinh tế Israel còn yếu kém. Một số thành viên của nội các lo ngại rằng dòng dân nhập cư không kiểm soát được có thể dẫn đến sự sụp đổ của nhà nước. Về lý thì như vậy. Làm thế nào mà đất nước chỉ vẻn vẹn với 700.000 dân có thể thu nhận và hấp thụ một lượng dân nhập cư lên đến hàng trăm ngàn người mỗi năm? Tuy vậy, Ben-Gurion vẫn khăng khăng phải thực hiện bằng được mục tiêu ông đã đặt ra. Đến nay, suy nghĩ của Ben-Gurion vẫn đúng. Người Do Thái Diaspora bị xua đuổi khắp nơi trên thế giới, cho nên quay về sống trên Vùng đất Israel luôn luôn là một ước mơ và cảm hứng. Tuy nhiên con đường quay trở về thật nhiều gian truân: tù đày, cướp bóc, rừng rậm và thú dữ, và nhất là với một túi tiền rỗng tuếch. Năm 1984, trong một nỗ lực bí mật của chính phủ Israel, Chiến dịch không vận Moses đã mang hơn tám ngàn người Do Thái Ethiopia trẻ tuổi về Israel. Độ tuổi trung bình của những người này là 14. Ngay sau khi đặt chân lên Israel, tất cả đều có quyền công dân. Chuyến bay chỉ kéo dài bốn giờ, nhưng đối với họ, dường như là một khoảng cách của 400 năm. Bảy năm sau Chiến dịch Moses là Chiến dịch Solomon, trong đó 14,500 người Do Thái Ethiopia một lần nữa đã được đưa trở về Israel bằng máy bay. Nỗ lực này dùng tới 34 máy bay vận tải của không quân Israel và của hãng El Al. Nhiều người
  10. bước lên máy bay với đôi chân trần và không có hành lý. Vào năm 1948, dân số của Israel chỉ vẻn vẹn có 700.000. Sau 1948, làn sóng những người Do Thái nhập cư vào Israel tăng lên cuồn cuộn: năm 1949 là 239.576 người; năm 1950 là 170.249 người; năm 1951 là 175.095 người. Trong vòng bốn năm, 686.748 di dân đã hồi hương, và, cùng với mức tăng tự nhiên, họ giúp đẩy mạnh dân số lên 120%. Chỉ tiêu Ben- Gurion đặt ra đã hoàn thành vượt mức. Người dân nhập cư đóng một vai trò quan trọng tạo ra phép màu kinh tế Israel. Lúc mới lập quốc năm 1948, dân số Israel là 700 nghìn người. Ngày nay, con số này là 8.180.000 (thống kê năm 2014) người, tăng hơn 11 lần trong 66 năm. Dân số tăng gấp hai lần chỉ trong vòng ba năm đầu tiên. Trong bảy năm sau đó con số này tăng thêm 1/3. Cứ ba người Israel thì có hai người mới di cư đến. Hiện nay chín trong 10 người Do Thái là dân nhập cư hoặc là con cháu thế hệ thứ nhất hay thứ hai của dân nhập cư. Israel giờ là nhà của hơn 70 quốc tịch và các nền văn hóa khác nhau. Dân số Israel tăng trưởng mạnh trong những năm qua có tác động rất lớn đến lực lượng lao động.
  11. Nhìn vào tốc độ thay đổi dân số của Israel, người ta có thể nhận thấy hai đỉnh điểm đại diện cho những làn sóng nhập cư lớn, chủ yếu là vào đầu những năm 1950 từ làn sóng nhập cư của nhiều người Do Thái trên toàn thế giới sau khi Nhà nước Israel thành lập, và vào đầu những năm 1990, chủ yếu là người Do Thái từ Liên Xô cũ sau khi Liên bang Xô Viết sụp đổ.
  12. Tăng trưởng nguồn nhân lực: Giáo dục Israel phát triển mạnh mẽ nguồn nhân lực, kiến thức và công nghệ để bù đắp lại cho việc thiếu tài nguyên thiên nhiên và các yếu tố chính trị bất ổn trong khu vực. Israel đạt một tỷ lệ dân số với giáo dục đại học cao hơn mức trung bình của OECD, với con số trên 40% dân
  13. số. GIAI ĐOẠN PHÔI THAI CỦA NỀN
  14. KINH TẾ (từ cuối thế kỷ 19 cho đến năm 1948) Lịch sử của Israel hiện đại bắt đầu vào những năm 1880, khi những người nhập cư Do Thái Zionist đầu tiên quay trở về đất tổ Palestine, lúc đó dưới quyền cai trị của Đế quốc Ottoman. Họ đến đây để tham gia cộng đồng nhỏ người Do Thái hiện có ở đó, xây dựng các khu định cư nông nghiệp và một số ngành công nghiệp, khôi phục lại tiếng Hebrew là ngôn ngữ quốc gia nói, và lập ra các tổ chức kinh tế và xã hội. Sự tàn phá của Thế Chiến I làm giảm dân số Do Thái một phần ba, 56.000, đó là con số vào đầu thế kỷ 20. Như một kết quả của chiến tranh, Palestine nằm dưới quyền kiểm soát của Vương quốc Anh, và Tuyên bố Balfour của nước Anh đã kêu gọi cho một “Ngôi nhà Dân tộc Do Thái” tại Palestine. Kiểm soát của Anh được chính thức hóa vào năm 1920, khi Anh được Hội Quốc Liên trao quyền ủy trị Palestine. Trong giai đoạn ủy trị, kéo dài cho đến tận tháng Năm năm 1948, cơ cấu xã hội, chính trị và kinh tế cho nhà nước tương lai của Israel đã được hình thành. Mặc dù chính phủ Palestine có một chính sách kinh tế duy nhất, các nền kinh tế của người Do Thái và Ả Rập vẫn phát triển riêng biệt, ít kết nối. Cuộc khảo sát đầu tiên về Biển Chết (Dead Sea) vào năm 1911 của kỹ sư Nga gốc Do Thái Moshe Novomeysky đã dẫn đến việc thành lập công ty Palestine Potash Ltd vào năm 1930, sau đó đổi tên thành Dead Sea Works. Năm 1923, Pinhas Rutenberg đã được cấp nhượng quyền độc quyền sản xuất và phân phối điện. Ông thành lập Công ty Điện lực Palestine (Palestine Electric Company), sau này là Tổng công ty Điện Israel (Israel Electric Corporation). Giữa năm 1920 và năm 1924, một số các nhà máy lớn nhất nước đã được thành lập, trong đó có Shemen Oil Company, Societe des Grand Moulins, Palestine Silicate Company và Palestine Salt Company. Năm 1937, Israel đã có 86 nhà máy kéo sợi và dệt trong nước, sử dụng một lực lượng lao động 1.500 nhân công, với vốn và chuyên môn kỹ thuật được trợ giúp bởi các chuyên gia người Do Thái từ châu Âu trợ giúp. Nhà máy dệt Ata tại Kiryat được thành lập vào năm 1934 đã trở thành một biểu tượng của ngành công nghiệp dệt may của Israel. Ngành công nghiệp này đã phát triển nhanh chóng trong Thế Chiến II, khi nguồn cung cấp từ châu Âu bị cắt đứt và các nhà sản xuất địa phương đã được ủy quyền cho các nhu cầu quân đội. Đến năm 1943, số lượng các nhà
  15. máy dệt may đã tăng lên đến 250, với một lực lượng lao động là 5.630, và sản lượng tăng gấp 10 lần. Có hai nhân tố quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế của khu vực Do Thái trong giai đoạn này: nhập cư và dòng vốn. Dân số Do Thái tăng chủ yếu thông qua nhập cư; vào cuối năm 1947 đã đạt 630.000, chiếm khoảng 35% dân số. Làn sóng nhập cư tràn về Palestine, đặc biệ t trong những năm 1920 và 1930. Họ bao gồm các nhà Zionist mang lý tưởng phục quốc và những người tị nạn (kinh tế và chính trị) từ Trung và Đông Âu. Dòng vốn đầu tư bao gồm các quỹ công cộng, thu thập bởi các tổ chức Zion, nhưng phần lớn là các quỹ tư nhân. Sản phẩm quốc gia phát triển nhanh chóng trong thời gian nhập cư lớn, nhưng những làn sóng nhập cư lớn được theo sau bởi suy thoái kinh tế, tiếp theo là những giai đoạn điều chỉnh và củng cố. Trong giai đoạn 1922-1947, NDP (Net Domestic Product – Sản phẩm Quốc nội Ròng) của khu vực Do Thái tăng trưởng với tốc độ trung bình 13,2% và đến năm 1947 chiế m 54% NDP của cả hai khu vực kinh tế người Do Thái và Ả Rập gộp lại. NDP bình quân đầu người ở khu vực Do Thái tăng ở mức 4,8%; vào cuối của giai đoạn này lớn hơn 8,5 lần so với năm 1922, và 2,5 lần lớn hơn so với khu vực Ả Rập. Mặc dù phát triển nông nghiệp - một mục tiêu ý thức hệ - là đáng kể, khu vực này không bao giờ chiếm hơn 15% tổng sản phẩm quốc nội ròng của nền kinh tế của người Do Thái. Sản xuất chế tạo tăng trưởng chậm trong suốt giai đoạn, nhưng rất nhanh chóng phát triển trong Thế Chiến II, khi Palestine cắt đứt khỏi sự cạnh tranh của nước ngoài và là nhà cung cấp chính cho các lực lượng vũ trang Anh tại Trung Đông. Đến cuối giai đoạn này, sản xuất chế tạo chiếm một phần tư NDP. Xây dựng nhà ở, mặc dù là một phần nhỏ của NDP, là lĩnh vực biến động nhất và góp phần vào những chuyển động chu kỳ kinh doanh sắc nét. Một đặc điểm nổi bật của nền kinh tế của người Do Thái trong giai đoạn ủy trị và trong thời gian sau đó, là kích thước ưu thế của khu vực dịch vụ - hơn một nửa tổng NDP. Con số này bao gồm khu vực giáo dục và sức khỏe khá hiện đại, các lĩnh vực tài chính và kinh doanh hiệu quả, và các tổ chức Do Thái bán chính phủ. Các tổ chức bán chính phủ này được hình thành với mục đích chuẩn bị đảm đương các nhiệm vụ của chính phủ khi Nhà nước Israel thành lập vào năm 1948. Từ năm 1924, các hội chợ thương mại được tổ chức tại Tel Aviv.
  16. Hội chợ Phương Đông đã được khánh thành vào năm 1932. GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH CỦA NỀN KINH TẾ (1948-1965) Nhà nước Israel ra đời, vào trung tuần tháng Năm năm 1948, ngay giữa một cuộc chiến tranh khốc liệt với các nước láng giềng Ả Rập. Các vấn đề kinh tế cấp bách chồng chất trước mắt: tiền cho chiến tranh, đẩy mạnh nhập cư người tị nạn để chuẩn bị nguồn lực cho tương lai (ưu tiên cho những người tị nạn đang bị câu giữ trong các trại ở châu Âu và Cyprus), cung cấp nhu yếu phẩm cơ bản cho người dân cũ và mới, và hình thành một bộ máy chính phủ để đối phó với tất cả những thách thức này. Việc lập chính phủ diễn ra khá thuận lợi, và các tổ chức bán chính phủ của người Do Thái vốn đã phát triển trong giai đoạn ủy trị bây giờ đã trở thành các cơ quan chính phủ. Thỏa thuận ngừng bắn được ký kết trong năm 1949. Israel phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Vừa phải phục hồi từ những tác động tàn phá của chiến tranh Ả Rập- Israel 1948, Israel cũng vừa phải hấp thụ hàng trăm ngàn người tị nạn Do Thái từ châu Âu và các quốc gia Ả Rập. Israel tràn ngập gánh nặng về tài chính và phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, dẫn đến chính sách thắt lưng buộc bụng từ năm 1949 đến năm 1959. Tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao, dự trữ ngoại tệ khan hiếm, sản phẩm tiêu dùng thiếu hụt trầm trọng. Nhà nước Israel buộc phải thực hiện nghiêm ngặt một chính sách kiểm soát giá cả và phân phối các mặt hàng cơ bản (giống như Việt Nam thời bao cấp). Các vấn đề về cung cấp nhà ở và việc làm cho người dân mới nhập cư được giải quyết dần dần theo từng bước. “Chính sách Kinh tế Mới” đã được áp dụng vào đầu năm 1952, bao gồm giảm tỷ giá hối đoái, nới lỏng dần kiểm soát giá cả và phân phối, và ngăn chặn việc mở rộng tiền tệ, chủ yếu bằng cách hạn chế về ngân sách. Các hoạt động nhập cư được cắt giảm để chờ đợi sự hấp thụ của các làn sóng nhập cư trước đó. Từ năm 1950-1965, Israel rất may mắn nhận được những nguồn vốn lớn. Thứ nhất, năm 1952, Israel và Tây Đức đã ký một thỏa thuận quy định rằng Tây Đức phải đền bù Israel do việc tàn sát người Do
  17. Thái của Đức Quốc xã trong Thế Chiến II, và bồi thường tài sản của người Do Thái bị Đức Quốc xã cướp đoạt. Trong 14 năm sau đó, Tây Đức đã trả Israel ba tỷ mark (tiền Tây Đức). Các bồi thường trở thành một phần thu nhập quan trọng của Israel, chiếm tới 87,5% thu nhập của Israel trong năm 1956. Tiếp theo, vào năm 1960, cuộc gặp gỡ của Ben-Gurion với Thủ tướng Tây Đức lúc bấy giờ là Adenauer tại New York đã được coi là dấu mốc “lịch sử”, vì nó đánh dấu sự chấp nhận khoan dung của người Do Thái với “nước Đức mới” của Adenauer. Cuộc gặp gỡ cũng đã đem lại cho Israel một khoản vay nửa tỷ đô-la Mỹ trong 10 năm, để phát triển công nghiệp và nông nghiệp, chủ yếu cho vùng sa mạc Negev. Nguồn vốn thứ hai đến vào năm 1950, chính phủ Israel đã phát hành Trái phiếu Israel cho người Do Thái Mỹ và Canada. Năm 1951, kết quả cuối cùng của chương trình trái phiếu vượt quá 52 triệu USD. Ngoài ra, nhiều người Do Thái Mỹ đã đóng góp cho Israel, trong đó năm 1956 được cho là lên tới 100 triệu USD. Năm 1957, doanh số bán trái phiếu lên tới 35% ngân sách phát triển đặc biệt của Israel. Cuối cùng là sự hỗ trợ tài chính từ Hoa Kỳ trong các hình thức chuyển nhượng đơn phương và các khoản cho vay. Trong những năm cuối thế kỷ 20, với vai trò là một thành trì của phương Tây tại Trung Đông trong ý đồ cân bằng với ảnh hưởng của nước Nga Xô Viết, viện trợ kinh tế cũng như sự hỗ trợ chính trị cho Israel từ Hoa Kỳ càng được đẩy mạnh. Các nguồn vốn này ban đầu đã được chuyển giao cho các tổ chức nhà nước, chủ yếu là cho các Cơ quan Do Thái chịu trách nhiệm về công tác hấp thụ nhập cư và định cư nông nghiệp. Israel đã có nguồn lực sẵn có để sử dụng trong nước – cho việc tiêu thụ, đầu tư công cộng và tư nhân – 25% nhiều hơn so với GNP (Gross National Product - Tổng Sản phẩm Quốc gia) của riêng mình. Điều này giúp cho các chương trình đầu tư lớn trở nên khả thi, chủ yếu là tài trợ thông qua một ngân sách nhà nước đặc biệt. Nên biết rằng Thủ tướng đầu tiên của Israel – Ben-Gurion – đã từng là một người mang ý thức hệ xã hội chủ nghĩa. Giai đoạn 1919-1923 là “giai đoạn đỏ” trong sự phát triển ý thức hệ của ông. Nhà nước Israel được thành lập vào năm 1948 cũng vì thế mang nặng màu sắc của chủ nghĩa xã hội. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến phương thức nhà nước Israel quản lý xã hội và kinh tế trong thời gian đầu. Trong giai đoạn này, tầm cỡ của những nhu cầu cũng như triết lý xã hội chủ nghĩa của đảng chính trị chính trong liên minh chính phủ dẫn tới sự can thiệp sâu rộng của
  18. chính phủ trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Với nguồn vốn nhận được, các dự án mới phát triển công nghiệp và nông nghiệp đã cho phép Israel trở thành nền kinh tế tự cung tự cấp. Trong số các dự án được thực hiện bằng sự trợ giúp này có nhà máy điện Hadera, Dead Sea Works, Nhà cung cấp nước quốc gia, phát triển cảng Haifa, Ashdod, và Eilat, nhà máy khử muối, và các dự án cơ sở hạ tầng quốc gia. Sau khi trở thành Nhà nước, ưu tiên đã được dành cho việc triển khai các ngành công nghiệp ở các khu vực dự kiến phát triển trong tương lai, trong đó có Lachish, Ashkelon, Negev và Galilee. Ngân sách của chính phủ và các biện pháp bảo hộ mạnh mẽ nhằm thúc đẩy thay thế nhập khẩu đã kích hoạt sự phát triển của các ngành công nghiệp mới trong nước, chủ yếu là hàng dệt may. Trợ cấp đã được nhà nước đưa ra để trợ giúp cho sự phát triển của các mặt hàng xuất khẩu mới và bổ sung cho các mặt hàng xuất khẩu truyền thống. Việc mở rộng của ngành công nghiệp dệt may của Israel là hệ quả của sự phát triển trồng bông như một nhánh nông nghiệp có lợi nhuận. Vào cuối những năm 1960, dệt may là một trong những ngành công nghiệp lớn nhất ở Israel, chỉ đứng sau ngành công nghiệp thực phẩm, chiếm khoảng 12% xuất khẩu công nghiệp và trở thành ngành xuất khẩu lớn thứ hai sau kim cương được đánh bóng. Từ năm 1950 đến năm 1965, cam kết phát triển mạnh mẽ của Israel dẫn đến một tỷ lệ tăng trưởng cao: GNP tăng trưởng với tốc độ trung bình hàng năm trên 11%, và GNP theo đầu người lớn hơn 6%. Mức sống trung bình tăng mạnh, với chi tiêu của gia đình thu nhập trung bình thực tế tăng 97% từ năm 1950 đến năm 1963. GIAI ĐOẠN TỪ 1966 ĐẾN NAY Trong bốn thập niên từ giữa những năm 1960 đến nay, nền kinh tế của Israel và chính sách kinh tế của Nhà nước đã trải qua nhiều thăng trầm và có những thay đổi đột phá, cả về mặt ý thức hệ. Một yếu tố chính ảnh hưởng đến sự phát triển này là xung đột Ả Rập-Israel. Trong phần này, chúng ta trước tiên sẽ thảo luận ảnh hưởng của những xung đột này tới phát triển kinh tế, tiếp theo sẽ bàn về sự tăng trưởng và biến động kinh tế, cuối cùng là sự tiến triển của chính sách
  19. kinh tế cũng như những thách thức trước mắt. a. Xung đột Ả rập - Israel Sự kiện ấn tượng nhất của những năm 1960 là Cuộc chiến Sáu ngày năm 1967. Sau sáu ngày giao chiến với liên quân Ai Cập, Jordan, Syria và Iraq, Israel đã giành chiến thắng tuyệt đối và mở rộng quyền kiểm soát sang Bờ Tây (vùng đất rộng lớn của Palestine bị Jordan kiểm soát từ năm 1949) dải Gaza, (nằm dưới quyền kiểm soát của Ai Cập cho tới thời điểm trước cuộc chiến) và Cao nguyên Golan (ở phía Bắc). Như hệ quả của việc chiếm đóng những vùng lãnh thổ này, Israel phải gánh thêm trách nhiệm về kinh tế cũng như đời sống chính trị của các vùng đất nói trên. Các khu vực Ả Rập ở Jerusalem được hợp nhất với khu vực Do Thái. Các khu định cư Do Thái được xây dựng thêm. Khi sự thù địch giữa người Do Thái và người Ả Rập trở nên căng thẳng, đầu tư cho các cơ sở hạ tầng đã được thực hiện để bảo vệ những người định cư Do Thái. Việc phân bổ các nguồn lực cho các khu định cư Do Thái tại các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng đã trở thành một vấn đề chính trị và kinh tế đầy bức xúc cho đến tận ngày nay. Nền kinh tế của Israel và các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng như Gaza và Bờ Tây sau đó đã một phần nào được tích hợp. Thương mại hàng hóa và dịch vụ phát triển, với những hạn chế được áp đặt lên việc xuất khẩu sang Israel những sản phẩm được coi là quá cạnh tranh, và công nhân Palestine được sử dụng ở Israel chủ yếu chỉ trong lĩnh vực xây dựng và nông nghiệp. Lúc cao điểm, vào năm 1996, công ăn việc làm của người Palestine ở Israel đạt mức 115.000 đến 120.000, khoảng 40% của lực lượng lao động Palestine, nhưng không bao giờ vượt hơn 6,5% tổng số việc làm của Israel. Vì vậy, trong khi việc làm ở Israel là một đóng góp lớn cho nền kinh tế của người Palestine, ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế Israel, trừ các lĩnh vực xây dựng và nông nghiệp, lại không lớn. Kinh tế của người Palestine phát triển nhanh chóng - thu nhập quốc dân bình quân đầu người tăng trưởng với tốc độ hàng năm gần 20% trong giai đoạn 1969-1972, 5% trong giai đoạn 1973-1980 - nhưng dao động thất thường sau đó, và thực sự đi xuống trong những thời gian xung đột. Thu nhập bình quân đầu người Palestine tương đương với 10,2% thu nhập bình quân đầu người Israel vào năm 1968,
  20. 22,8% trong năm 1986, và giảm xuống còn 9,7% năm 1998. Trong tiến trình hòa bình giữa Israel và Palestine bắt đầu vào những năm 1990, sau Hiệp định Oslo vào năm 1993, một thỏa thuận kinh tế đã được ký kết giữa các bên năm 1994, có hiệu lực chuyển đổi những gì thực chất là một thỏa thuận hải quan một chiều (trong đó cho Israel hoàn toàn có quyền tự do xuất khẩu sang các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng, nhưng áp đặt hạn chế xuất khẩu hàng hóa từ Palestine vào Israel) sang một liên minh thuế quan bình đẳng hơn - một chính sách ngoại thương thống nhất nghiêng về phía Israel, nhưng người Palestine đã được trao chủ quyền hạn chế trong việc nhập khẩu một số mặt hàng nhất định. Cuộc nổi dậy Palestine lần thứ nhất (Intifada I), trong những năm 1980, và đặc biệt là Intifada II bạo lực hơn bắt đầu vào năm 2000 và tiếp tục cho đến năm 2005, đã dẫn đến việc Israel áp đặt những hạn chế nghiêm ngặt trong sự tương tác giữa hai nền kinh tế Israel và Palestine, đặc biệt là công ăn việc làm của người Palestine ở Israel, và thậm chí tái chiếm quân sự một số khu vực nhất định trước đây dành cho người Palestine kiểm soát. Những biện pháp này đã kéo lùi nền kinh tế của người Palestine ngược trở lại nhiều năm trước, xóa đi gần hết thu nhập của người Palestine đã đạt được từ năm 1967: GNP theo đầu người của Palestine năm 2004 là \$932, so với khoảng \$1500 trong năm 1999. Công nhân Palestine tại Israel được thay thế bằng lao động nước ngoài. Một hệ quả kinh tế quan trọng của cuộc xung đột Ả Rập- Israel là Israel phải phân bổ một phần lớn ngân sách cho quốc phòng. Quỹ của ngân sách quốc phòng thay đổi, tăng lên trong thời gian chiến tranh và xung đột vũ trang. Tổng gánh nặng quốc phòng (kể cả chi phí không có trong ngân sách) đạt mức tối đa trong và sau Chiến tranh Yom Kippur năm 1973, chiếm gần 30% GNP trong giai đoạn 1974- 1978. Trong giai đoạn 2000-2004, ngân sách quốc phòng một mình chiếm khoảng 22% đến 25% GDP. Tuy nhiên Israel rất may mắn được hỗ trợ bởi các khoản viện trợ hào phóng của Mỹ. Cho đến năm 1972, hầu hết các khoản viện trợ này đến dưới hình thức các khoản tài trợ và cho vay, chủ yếu thông qua việc mua các nông sản dư thừa của Mỹ. Nhưng từ năm 1973 viện trợ của Mỹ đã được kết nối chặt chẽ với nhu cầu quốc phòng của Israel. Trong giai đoạn 1973-1982 các khoản vay và trợ cấp hàng năm trung bình đạt 1,9 tỷ USD, đáp ứng khoảng 60% tổng nhập khẩu quốc phòng. Nhưng ngay cả trong thời kỳ yên tĩnh
  21. hơn, gánh nặng quốc phòng của Israel, duy chỉ viện trợ của Mỹ, thường lớn hơn nhiều so với mức bình thường ở các nước công nghiệp trong thời gian hòa bình. b. Tăng trưởng và các biến động kinh tế Tỷ lệ tăng trưởng cao về thu nhập và thu nhập bình quân đầu người là đặc trưng của Israel cho đến năm 1973, nhưng đã không giữ được sau đó. Thập niên sau Chiến tranh Yom Kippur năm 1973 gọi là “thập niên mất mát” của Israel. Tăng trưởng bị đình trệ, lạm phát phi mã, và chi tiêu chính phủ tăng vượt trội. Đáng đề cập đến là cuộc khủng hoảng chứng khoán Ngân hàng năm 1983, cổ phiếu của bốn ngân hàng lớn nhất ở Israel sụp đổ, buộc nhà nước phải quốc hữu hóa cả bốn ngân hàng này. Đến năm 1984, tình hình kinh tế đã trở thành gần như thảm kịch với lạm phát đạt tốc độ hàng năm gần 400% và dự kiến lên tới 1000% vào cuối năm 1985. Tuy nhiên, “Chương trình Ổn định Kinh tế” được chính phủ Israel thực hiện thành công vào năm 1985 và tiếp tục nhiều năm sau đó, nhằm giảm lạm phát, cân bằng cán cân thanh toán và ổn định nền kinh tế, đã cứu vãn tình hình. Chương trình này bao gồm việc cắt giảm ngân sách, cấm in tiền, ổn định mức giá, thiết lập một tỷ giá hối đoái cố định và nhiều hạng mục khác. Tiếp theo, chương trình cải cách về cơ cấu định hướng thị trường đã hồi sinh nền kinh tế và mở đường cho sự phát triển nhanh chóng của Israel trong thập niên 1990 và trở thành một mô hình kiểu mẫu làm bài học cho các nước đang phải đối mặt với khủng hoảng kinh tế tương tự. Chương trình Ổn định Kinh tế 1985 của Israel được biết đến như một cột mốc chính trong sự chuyển hướng dần dần của Israel từ một thị trường xã hội-dân chủ sang một thị trường tự do-tư bản. Nó đã căn bản thay đổi những nền tảng kinh tế vĩ mô của nền kinh tế Israel. Trong số những thay đổi này, thị trường tiền tệ(9), thị trường vốn(10), thị trường ngoại tệ, quỹ hưu trí, hệ thống ngân hàng và hệ thống thuế đã trải qua nhiều cải cách. Dựa trên kinh nghiệm quốc tế, các cuộc cải cách đã được thực hiện dần dần từng bước, nhằm giúp Israel hòa nhập khéo léo vào kinh tế toàn cầu trong khi hạn chế tối thiểu những cú sốc đối với nền tài chính quốc gia. Quá trình hội nhập cũng đã được hỗ trợ bởi sự quan tâm ngày càng tăng của các nhà đầu tư trong các nền kinh tế đang lên. Tăng trưởng GDP lên xuống trồi sụt trong suốt giai đoạn từ năm
  22. 1966, thường từ 2% đến 5%, vươn cao tới 7,5% trong năm 2000, nhưng giảm xuống dưới số không trong những năm suy thoái kinh tế từ năm 2001 đến giữa năm 2003. Cuối thế kỷ 20, thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng \$20.000, mức xấp xỉ như nhiều trong số các nước công nghiệp phát triển. Hai sự kiện đã giúp thay đổi diện mạo nền kinh tế của Israel kể từ đầu những năm 1990. Đầu tiên là làn sóng nhập cư của người Do Thái từ khắp nơi trên thế giới quay trở về Israel, chủ yếu từ các nước thuộc Liên bang Xô viết cũ. Làm sao có thể sử dụng nguồn nhân lực đồ sộ này, với những rào cản rất lớn về ngôn ngữ và văn hóa. Lúc này, nhà nước Do Thái cùng lúc phải đối mặt với hai thử thách tưởng chừng không thể vượt qua: bảo vệ nền độc lập trong sự thù địch thường xuyên của các láng giềng Ả-rập; và chăm sóc ăn ở, công ăn việc làm cho những người mới đến. Rất nhiều khó khăn, rất nhiều thách thức. Thông thường một làn sóng nhập cư lớn đột ngột làm tăng dân số đòi hỏi một giai đoạn điều chỉnh cho đến khi nó được hấp thụ một cách hiệu quả, với những đầu tư về việc làm và nhà ở nhằm kích thích hoạt động kinh tế. Nhập cư về sau này không bao giờ đạt đến kích thước của những năm đầu tiên sau khi Israel mới trở thành Nhà nước độc lập, nhưng một lần nữa trở thành đỉnh điểm với việc nới lỏng các hạn chế về nhập cư từ Liên Xô. Tổng số người nhập cư trong giai đoạn 1972-1982 là 325.000, và sau sự sụp đổ của Liên Xô, nhập cư đạt 1.050.000 trong giai đoạn 1990-1999, chủ yếu là từ Liên Xô cũ. Không giống như các giai đoạn trước, những người nhập cư đã dần dần được hấp thụ khá thuận lợi trong lao động sản xuất. Đến cuối thế kỷ dân số Israel đã vượt qua mốc 6.300.000, với người Do Thái chiếm 78% tổng số. Dân nhập cư từ Liên Xô cũ chiếm khoảng 1/5 dân số Do Thái, phần lớn là khoa học gia, kỹ sư, chuyên viên có học thức cao và là một nguồn bổ sung nhân lực đáng kể và quan trọng cho lực lượng lao động ở các khu vực công nghệ cao. Có thể nói những cư dân mới này, đặc biệt là những cư dân đến từ Nga, đã làm thay đổi diện mạo của Israel. Bởi vì, giữa lúc đầy khó khăn như thế này, một may mắn đã đến. Sự bùng nổ công nghệ cao trên thế giới bắt đầu tăng tốc vào giữa năm 1990, và những tài năng từ những cư dân mới nhập cư học vấn cao này có đã đất dụng võ. Chính sách của nhà nước Israel lúc này là đầu tư mạo hiểm vào công nghệ cao hoàn toàn thích hợp. Khối doanh nghiệp công nghệ tư nhân của Israel bắt đầu thiếu kỹ sư. Và chỉ trong vòng 15-20 năm sau đó, các quyết sách thích hợp của Nhà nước Israel đã nâng Israel lên một tầng cao mới và trở thành một cường quốc công nghệ cao thuộc hàng đầu của thế giới.
  23. Sự phát triển thứ hai mang lại lợi ích cho nền kinh tế Israel là tiến trình hòa bình bắt đầu từ hội nghị Madrid tháng Mười năm 1991, dẫn đến việc ký kết các hiệp định và sau đó là hiệp ước hòa bình giữa Israel và Jordan ký vào năm 1994. Mặc dù phong trào Intifada đầy bạo lực lần thứ hai, trong đó hàng tỷ USD thiệt hại về mặt kinh tế, Israel vẫn có thể mở ra các thị trường mới xa hơn để xuất khẩu, chẳng hạn như tại các quốc gia đang phát triển nhanh chóng của khu vực Đông Á. Cơ cấu sản phẩm cũng thay đổi cùng với sự thay đổi của nền kinh tế. Mặc dù các khu vực dịch vụ vẫn còn tương đối lớn - thương mại và dịch vụ đóng góp 46% của sản phẩm thuộc lĩnh vực kinh doanh - nông nghiệp không còn đóng vai trò quan trọng như trước kia, và công nghiệp chiếm hơn 1/4 tổng số. Cơ cấu của sản xuất chế tạo cũng đã thay đổi cả trong tổng sản lượng và xuất khẩu: các ngành công nghiệp truyền thống và công nghệ thấp (low-tech) giảm xuống, các sản phẩm công nghệ cao (high-tech) và tinh vi, đặc biệt là các sản phẩm điện tử, đã vươn lên đóng vai trò quyết định. Biến động về sản lượng đã được đánh dấu bởi các thời kỳ lạm phát và các thời kỳ thất nghiệp. Sau khi Israel thay đổi chính sách tỷ giá trong cuối những năm 1970 (sẽ thảo luận dưới đây), xoắn ốc lạm phát như được thả cương. Tỷ lệ siêu lạm phát bùng nổ trong những năm đầu thập niên 1980, lên tới 400% vào năm 1985. Chính thời điểm chính phủ Israel quyết định khởi động Chương trình Ổn định Kinh tế. Ổn định tỷ giá, kiềm chế ngân sách và tiền tệ, đóng băng tiền lương và giá cả đã giúp giảm mạnh tỷ lệ lạm phát xuống dưới 20%, và sau đó giữ ở mức 16% vào cuối những năm 1980. Chính sách tiền tệ rất quyết liệt, từ cuối những năm 1990, cuối cùng đã giúp lạm phát giảm xuống 0% vào năm 2005, tức là 20 năm sau khi khởi động Chương trình Ổn định Kinh tế 1985. Tuy nhiên, chính sách này, kết hợp với các yếu tố bên ngoài như sự bùng nổ của bong bóng công nghệ cao, suy thoái kinh tế trên thế giới, và bất ổn định trong nước do hậu quả của các phong trào Intifada, dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp lên tới trên 10% vào đầu thế kỷ 21. Những cải thiện kinh tế từ nửa cuối năm 2003 vẫn chưa giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp (tính đến tháng Hai năm 2005).
  24. Trong thập niên 1990, lao động giá rẻ ở Đông Á đã làm giảm lợi nhuận của khu vực sản xuất dệt may. Phần lớn công việc đã được ký hợp đồng phụ với 400 cửa hàng may Ả Rập Israel. Khi những cửa
  25. hàng này đóng cửa, các công ty của Israel, trong đó có Delta, Polgat, Argeman và Kitan, chuyển hướng công việc may của họ sang Jordan và Ai Cập, thường là dưới thỏa thuận QIZ (Qualifying Industrial Zones) là nhóm các nhà sản xuất Jordan và Ai Cập. Đầu những năm 2000, các công ty Israel đã có 30 nhà máy ở Jordan. Xuất khẩu Israel đạt 370 triệu USD một năm, cung cấp cho các nhà bán lẻ và nhà thiết kế lớn như Marks & Spencer, The Gap, Victoria ‘s Secret, Wal-Mart, Sears, Ralph Lauren, Calvin Klein, và Donna Karan. Trong vài năm qua đã có một làn sóng đầu tư nước ngoài chưa từng có ở Israel. Những công ty trước đây từng xa lánh thị trường Israel bây giờ nhìn thấy tiềm năng đóng góp của Israel cho chiến lược toàn cầu của họ. Năm 2006, đầu tư nước ngoài tại Israel theo Hiệp hội Các nhà sản xuất Israel đạt 13 tỷ USD. Hơn nữa, trong khi tổng nợ nước ngoài(11) của Israel là 95 tỷ USD, tương đương khoảng 41,6% GDP, từ năm 2001 Israel đã trở thành một quốc gia cho vay ròng (net lender nation) đối với nợ nước ngoài ròng(12) (tổng nợ nước ngoài trừ đi số cho nước ngoài vay), trong đó tính đến tháng Sáu năm 2012 là ở mức thặng dư 60 tỷ USD. Israel cũng duy trì thặng dư tài khoản vãng lai(13) trong một số tiền tương đương với khoảng 3% GDP trong năm 2010. Nền kinh tế của Israel vượt qua suy thoái kinh tế cuối những năm 2000, đạt được tăng trưởng GDP dương trong năm 2009, và kết thúc thập niên với một tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn so với nhiều quốc gia phương Tây. Có nhiều lý do đằng sau sức phục hồi của kinh tế này, ví dụ, như đã nêu ở trên, đó là thực tế rằng Israel là người cho vay ròng chứ không phải là một quốc gia đi vay và các chính sách kinh tế vĩ mô nói chung là bảo thủ và rất thận trọng của chính phủ và Ngân hàng Israel. Hai chính sách cụ thể có thể được trích dẫn, một là sự cương quyết từ chối của chính phủ chống chọi lại áp lực của các ngân hàng khi họ đòi hỏi những khoản tiền lớn từ ngân khố của nhà nước để hỗ trợ họ trong những ngày đầu của cuộc khủng hoảng, và do đó đã hạn chế những hành vi nguy hiểm của các ngân hàng. Thứ hai là việc thực hiện các khuyến nghị của Ủy ban Bachar(14) từ đầu đến giữa những năm 2000 trong đó khuyến nghị tách riêng hoạt động lưu ký(15) của các ngân hàng ra khỏi hoạt động ngân hàng đầu tư(16). Khuyến nghị này trái ngược với xu hướng lúc đó, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, là xu hướng nới lỏng những ràng buộc, và chính sự nới lỏng này đã gây tác dụng khuyến khích nhiều rủi ro trong hệ thống tài chính của các quốc gia
  26. này. c. Những thay đổi về chính sách Giai đoạn 1966-1984: những hạn chế về tài chính và sự trì trệ của nền kinh tế Nhà nước Israel được thành lập vào năm 1948 căn bản là một nhà nước mang nặng ý thức hệ chủ nghĩa xã hội. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến phương thức nhà nước Israel quản lý xã hội và kinh tế trong những năm đầu qua cách thức can thiệp sâu rộng của chính phủ trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Theo dòng thời gian, kinh tế Israel từng bước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường khá tự do (mặc dù vẫn chưa hoàn toàn như vậy). Quá trình này bắt đầu vào những năm 1960 khi các nhà hoạch định chính sách nhận thức ra rằng sự can thiệp của chính phủ Israel trong nền kinh tế là quá nhiều, và thêm vào đó là những thách thức đặt ra do sự hình thành liên minh thuế quan của châu Âu (mà dần dần tiến triển thành Liên minh châu Âu EU hiện tại). Để đáp ứng lại những thách thức này, Israel đã bắt tay vào một quá trình nhằm tự do hóa nền kinh tế từ từ theo từng bước. Điều này xuất hiện đầu tiên trong lĩnh vực ngoại thương qua quyết định thay thế chính sách hạn chế số lượng nhập khẩu bằng chính sách bảo hộ thuế quan (điều này được thu hẹp một cách chậm chạp), và rồi cả hai chính sách thay thế nhập khẩu cũng như xuất khẩu được khuyến khích bởi việc áp dụng tỷ giá hối đoái thực tế hơn là bảo hộ và trợ cấp. Một số hiệp định thương mại một phần với Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC - European Economic Community), bắt đầu vào năm 1964, lên đến đỉnh điểm trong một thỏa thuận khu vực thương mại tự do (FTA - Free Trade Area) về hàng hóa công nghiệp vào năm 1975, và một thỏa thuận FTA với Hoa Kỳ có hiệu lực vào năm 1985. Vào cuối năm 1977 tự do hóa thương mại đã được thực hiện ở một mức độ đáng kể. Trong tháng Mười năm đó, Israel đã chuyển từ hệ thống tỷ giá hối đoái cố định sang hệ thống tỷ giá thả nổi, và những hạn chế về di chuyển vốn được tự do hóa rộng rãi hơn. Tuy nhiên, tiếp sau đó một vòng xoáy lạm phát tồi tệ đã kìm hãm quá trình tự do hóa vốn. Kết quả là các dòng vốn không được tự do hóa hoàn toàn mãi cho đến tận đầu thế kỷ 21. Trong “thập niên mất mát” sau Cuộc chiến Yom Kippur 1973, nền
  27. kinh tế Israel được đặc trưng bởi sự độc quyền tài chính của chính phủ. Chính sách tiền tệ tùy tiện, chi phối chủ yếu bởi những cân nhắc tài chính và chính trị của chính phủ, đã không để lại một khoảng trống dư thừa nào cho các hoạt động có tính quyết định của ngân hàng trung ương. Ngoài ra, do sự can thiệp của chính phủ vào thị trường tài chính và do sự phân biệt đối xử trong việc phân bổ tín dụng và sự can thiệp vào thị trường tiền tệ, phạm vi ảnh hưởng của chính sách tiền tệ là rất hẹp. Tiền tệ không bị “neo” lại và chính phủ phản ứng với thâm hụt bằng cách liên tục phá giá đồng tiền, tăng giá các sản phẩm và cắt trợ cấp. Ngân hàng Trung ương Israel đã thỏa mãn nhu cầu tín dụng của chính phủ bằng cách in tiền, và trong thời gian lạm phát lớn, Ngân hàng Trung ương chủ yếu là tập trung vào việc ổn định lạm phát bằng cách vô hiệu hóa thâm hụt cán cân thanh toán chỉ nhờ vào các dòng vốn chảy vào. Quá trình lạm phát cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố toàn cầu cũng như cuộc khủng hoảng năng lượng trong thập niên 1970. Phản ứng của Israel là tiến hành chỉ số hóa sâu rộng giá cả và tiền lương để kiềm chế ảnh hưởng thực sự của lạm phát. Chính phủ đã không điều chỉnh chương trình nghị sự của mình cho thích hợp với những thay đổi của các điều kiện kinh tế nội địa và toàn cầu - như sự gia tăng chi tiêu quốc phòng, sự suy giảm trong tăng trưởng kinh tế và nhân khẩu học, sự trì trệ toàn cầu, và sự trầm trọng của cuộc khủng hoảng kinh tế. Sự can thiệp của chính phủ Israel tại các thị trường bao gồm các hạn chế về hành chính, tỷ số thanh khoản đặc biệt, hạn ngạch tín dụng và miễn trừ, hạn chế dòng vốn quốc tế, thuế phân biệt đối xử (discriminatory tax) và lãi suất. Chính phủ đối xử phân biệt vay mượn của các công ty tư nhân bằng cách đánh thuế và kiểm soát việc phát hành trái phiếu tư nhân. Ví dụ, các nhà đầu tư - như các quỹ lương hưu và các quỹ tín thác - đã phải đầu tư 95% tổng lượng vốn ròng hàng năm (total annual net inflow of sources) của họ trong các trái phiếu chính phủ phi thương mại (non-tradable government bonds); 60% tín dụng ngắn hạn (short-term credit) và 65% các khoản vay cho nhà ở (housing loans) được điều khiển bởi chính phủ. Một loạt các quy định cấm và miễn trừ, khoảng cách rộng của lãi suất và các biện pháp của chính phủ để đảm bảo kiểm soát các thị trường tài chính đã làm cho cấu trúc thị trường trở nên phức tạp, giảm hiệu quả của nó, và làm tăng chi phí của các trung gian tài chính
  28. và quản lý. Điều này được thể hiện qua con số chi phí trung bình khá cao về tài chính. Ví dụ, lãi suất tín dụng nước ngoài vào năm 1985 dao động từ 8,3% cho các nhóm ưu tiên đến 33,8% cho các khoản vay chịu giới hạn hành chính. Đến giữa năm 1985, tình hình trở nên khó khăn hơn khiến chính phủ không thể tiếp tục tăng nợ đã quá cao để tài trợ cho thâm hụt công cộng, và nền kinh tế Israel gần như đạt đến giai đoạn thoái thác nợ (debt repudiation) có nghĩa là không thể trả được nợ. Thâm hụt ngân sách lớn đã đặc biệt trở thành vấn đề nghiêm trọng có tính hệ thống của quốc gia do những khó khăn ngày càng tăng trong việc bán trái phiếu chính phủ, kết quả là chính phủ đã phải bù đắp thâm hụt ngân sách bằng cách rút tiền từ dự trữ ngoại hối. Thêm vào đó, thâm hụt tài khoản vãng lai tiếp tục tương đối lớn buộc chính phủ phải tiếp tục phá giá và in thêm tiền khiến cho vòng xoắn ốc lạm phát lại càng trở nên nguy kịch. Tình trạng nguy hiểm này đòi hỏi cần phải có một chương trình phối hợp nghiêm túc có sự cam kết của cả chính phủ và ngân hàng trung ương trong một cách thức mới. Trong bối cảnh như thế, câu hỏi đặt ra là phải làm gì để hàn gắn và nâng hiệu quả của hệ thống tài chính quốc gia đang quá yếu kém và hồi sinh tăng trưởng? Chương trình Ổn định Kinh tế 1985 (The Economic Stabilisation Programme) Để đáp lại cho câu hỏi trên, trong suốt những năm 1980 và tiếp tục sang những năm 1990, chính phủ Israel đã thực hiện quyết liệt “Chương trình Ổn định Kinh tế” đã được đề xuất vào năm 1985, nhằm giảm lạm phát, cân bằng cán cân thanh toán và ổn định nền kinh tế. Các chính sách bình ổn được thực hiện với sự hỗ trợ của các chuyên gia từ các học viện, chính phủ Mỹ, Bộ Tài chính và Ngân hàng Israel. Chương trình này được dựa trên một số nguyên tắc bao gồm việc cắt giảm ngân sách, cấm in tiền, ổn định mức giá, thiết lập một tỷ giá hối đoái cố định và nhiều hạng mục khác. Trong khuôn khổ của chương trình, một “neo danh nghĩa(17)” để kiềm chế việc tăng giá cả đã được áp dụng và cam kết về một định chế tài chính mới nhằm giảm tỷ lệ nợ/ GDP (dept/GDP ratio) đã được thực hiện. Theo đó, thâm hụt ngân sách đã được xử lý triệt để để ngăn chặn việc in tiền và
  29. tỷ giá hối đoái đã được chọn lựa như một “neo danh nghĩa” khác để kiềm chế lạm phát; đầu tiên được chốt vào đồng đô la Mỹ, và sau đó vào một rổ tiền tệ(18). Để tránh khỏi sự gia tăng mạnh mẽ trong tiền lương thực tế có thể tiếp tục làm xấu thêm xoắn ốc lạm phát, chính phủ đã ký kết thỏa thuận tạm thời đóng băng tiền lương với các công đoàn lao động. Các công đoàn này về phía mình đã ký một thỏa thuận tạm thời đóng băng giá cả với Hiệp hội các nhà sản xuất. Tiếp theo, chính phủ Israel đã bổ sung thêm một số các biện pháp tự do hóa khác trong chính sách tiền tệ, thị trường vốn trong nước, và áp dụng các công cụ khác nhau để hỗ trợ cho sự điều hành của chính phủ trong các hoạt động kinh tế trong khi vẫn tránh được sự can thiệp thô bạo trong các hoạt động kinh tế. Vai trò của chính phủ trong nền kinh tế đã giảm xuống đáng kể. Một mục tiêu quan trọng của chương trình bình ổn là hạn chế khả năng của chính phủ trong việc tài trợ cho thâm hụt ngân sách bằng cách độc quyền chỉ đạo các hoạt động trong thị trường tài chính và can thiệp trực tiếp vào việc quản lý chính sách tiền tệ, đồng thời tạo ra một cơ chế minh bạch giúp cho các ngân hàng trung ương độc lập hơn trong việc quản lý chính sách tiền tệ. Theo đó, Luật Không-In (No-Print Law) đã được ban hành nhằm ngăn chặn các ngân hàng trung ương trong việc tùy tiện cung cấp tín dụng cho chính phủ để tài trợ cho thâm hụt ngân sách. Tín dụng trực tiếp(19) đã dần dần được loại bỏ. Ngân hàng Trung ương Israel cũng đã được giải phóng khỏi việc hỗ trợ giá trái phiếu chính phủ, nhờ vậy, Ngân hàng Trung ương đã có một cơ sở rộng lớn hơn để tạo ra ảnh hưởng trong việc bình ổn giá cả và cuối cùng có thể chủ động quản lý chính sách lãi suất một cách độc lập. Giai đoạn cải cách từ 1987 cho đến nay Chiến lược Ổn định Kinh tế 1985 đã thành công vượt mong muốn trong việc hỗ trợ quá trình giảm lạm phát và cải thiện các nguyên tắc cơ bản của kinh tế vĩ mô. Uy tín của nền kinh tế Israel được nâng cao. Các điều kiện kinh tế mới đòi hỏi một sự cải cách sâu rộng hơn nữa về tài chính và cơ cấu, và tự do hóa hoàn toàn thị trường ngoại hối. Những cải cách này đã được thực hiện thông qua việc giảm dần sự can thiệp của chính phủ vào thị trường tài chính và tiền tệ trong nước. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều việc cần phải làm để tăng tính cạnh
  30. tranh trong thị trường tài chính và lĩnh vực ngân hàng, và cũng để đưa vào áp dụng các công cụ tài chính hiện đại. Hai mươi năm chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đã được tiến hành song song cùng một loạt các kênh khác nhau đã góp phần: (1) thiết lập nên một bộ khung kinh tế vĩ mô mạnh mẽ để củng cố lòng tin của các nhà đầu tư đối với nền kinh tế (và cũng là điều kiện cho sự phát triển của thị trường tài chính và cải cách); (2) tăng cường sự ổn định của hệ thống ngân hàng nội địa; và (3) phát triển các công cụ tài chính để quản lý rủi ro ngoại hối và tăng cường hoạt động của nền kinh tế trong nước. Chính phủ giảm dần sự tham gia của mình trong thị trường tiền tệ và thị trường vốn trong nước, xóa bỏ các hạn chế đối với dòng vốn quốc tế và đặt nền móng cho việc đẩy mạnh cạnh tranh giữa các trung gian tài chính. Sự chuyển dịch này bao gồm nhiều biện pháp như cải cách trong việc trao đổi tiền tệ, trao đổi ngoại hối và thị trường vốn, và nhiều thay đổi về thành phần của ngân sách, đạt được nhờ quá trình tư nhân hóa và những thay đổi cơ cấu khác. Việc lập kế hoạch và thực hiện các cải cách tài chính tiếp theo trong thị trường tài chính Israel vẫn đang tiếp tục. Các nhóm làm việc hiện tại và các hội đồng liên bộ đang làm việc để đào sâu hơn nữa trong thị trường tài chính, nâng cao sức cạnh tranh của nó và giúp nó hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư. Trong số các vấn đề hiện đang được thúc đẩy là sự phát triển của thị trường repo(20) và thị trường chứng khoán và đẩy sâu cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng. Những cải cách này cũng góp phần giúp cho sự hội nhập của thị trường tài chính Israel vào nền kinh tế toàn cầu và khả năng phục hồi tài chính của nền kinh tế. Các giao dịch tài khoản vãng lai đã gần như hoàn toàn miễn phí khi tự do hóa tài khoản tài chính(21) bắt đầu. Quá trình đưa đến tự do hóa hoàn toàn thị trường ngoại hối của Israel đã diễn ra trong quãng thời gian 1987-2003, với mục tiêu xoá bỏ việc nhà nước quản lý ngoại hối và đạt tới khả năng chuyển đổi hoàn toàn của đồng shekel (tiền Israel) mới. Quá trình này là một phần của chiến lược nhằm tăng sự cởi mở của nền kinh tế, bởi lẽ nhà nước đã nhận thức được rằng những lợi ích từ tự do hóa sẽ đền bù cho những chi phí của nó – phát sinh chủ yếu từ công tác chuẩn bị về cơ cấu và thể chế cần thiết cho sự phát triển của thị trường vốn, và từ sự tăng rủi ro ổn định tài chính.
  31. Quá trình tự do hóa đã đưa nền kinh tế Israel từ một tình trạng chính phủ kiểm soát gần như hoàn toàn các dòng vốn và hoạt động ngoại hối sang một nền kinh tế có khả năng sử dụng những lợi thế sẵn có, di chuyển vốn tự do và tạo ra các thị trường vốn có khả năng cạnh tranh và hiệu quả hơn rất nhiều. Tự do hóa thị trường ngoại hối được hoàn thành vào năm 2003, khi tất cả các hạn chế đối với các giao dịch vốn đã được loại bỏ. Con đường dẫn tới tự do hóa hoàn toàn có một vài điểm mốc đáng chú ý. Năm 1993, chương trình bảo hiểm xuất khẩu và phụ phí chung về nhập khẩu đã được bãi bỏ, và sau đó không còn bất kỳ hạn chế về các giao dịch tài khoản vãng lai. Năm 1998 đã có một bước ngoặt quan trọng, khi danh sách gần như đầy đủ các hạn chế đã được thay thế bởi một danh sách chỉ bao gồm một vài thành phần vẫn bị cấm – và từ đó về sau các giao dịch trong tài khoản vãng lai và tài khoản vốn(22) đã được phép, trừ phi có tên trong danh sách. Trong năm 2000, những hạn chế còn lại chỉ áp dụng cho các hoạt động của tổ chức đầu tư, những người chỉ được phép đầu tư 20% tài sản của họ ở nước ngoài. Năm 2003 tất cả các hạn chế đã được tháo gỡ và chế độ ngoại hối của Israel hoàn toàn tự do. Mặt khác, một số chức năng kinh tế của chính phủ đã tăng lên: một hệ thống bảo hiểm y tế quốc gia đã ra đời, mặc dù các nhà cung cấp y tế tư nhân tiếp tục cung cấp dịch vụ y tế trong hệ thống quốc gia. Các khoản thanh toán phúc lợi xã hội, chẳng hạn như trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp trẻ em, hưu trí, hỗ trợ thu nhập tối thiểu, được mở rộng liên tục và trở thành một khoản chi tiêu ngân sách rất lớn. Cho đến năm 2003, 15% ngân sách của chính phủ dành cho dịch vụ y tế, 15% cho giáo dục, và 20% thêm nữa là các khoản thanh toán chuyển giao qua Cơ quan Bảo hiểm Quốc gia. Bắt đầu từ năm 2003, Bộ Tài chính Israel đã bắt tay vào một nỗ lực lớn để giảm các khoản thanh toán phúc lợi, tạo thêm công ăn việc làm và đẩy mạnh lực lượng lao động, tư nhân hóa các doanh nghiệp vẫn còn thuộc sở hữu của chính phủ, và giảm kích thước tương đối của thâm hụt ngân sách chính phủ cũng như bản thân khu vực chính phủ. Những hoạt động này là kết quả của một sự chấp nhận về mặt ý thức hệ của các nhà hoạch định chính sách Israel hiện tại trong suy nghĩ rằng Israel cần xây dựng một nền kinh tế thị trường tự do thực sự để thích ứng và cạnh tranh hiệu quả trong thế giới hiện đại của toàn cầu hóa.
  32. NHỮNG THÁCH THỨC PHÍA TRƯỚC Bước vào thế kỷ mới, nền kinh tế Israel đã chứng minh được sự thịnh vượng, trong khi liên tục đưa ra và áp dụng những đổi mới kinh tế và tỏ ra có khả năng đương đầu với mọi biến động. Tuy nhiên, nền kinh tế Israel phải đối mặt với một số thách thức nghiêm trọng. Một số trong những thách thức này tương tự như những gì mà hầu hết các nền kinh tế công nghiệp đã và đang phải đối mặt: làm thế nào để dung hòa sự đổi mới, làm thế nào để chuyển dịch từ những hoạt động truyền thống không còn tính cạnh tranh, sang các sản phẩm tinh vi hơn và đòi hỏi kỹ năng chuyên sâu hơn, với sự xáo trộn liên quan đến lao động và tình trạng thu nhập bất bình đẳng ngày càng nghiêm trọng. Giống như các nền kinh tế nhỏ khác, Israel phải xem xét làm thế nào để hội nhập suôn sẻ với nền kinh tế toàn cầu mới, được đánh dấu bởi hai thị trường chính của EU và Mỹ, cùng với sự nổi lên của Trung Quốc như là một yếu tố kinh tế lớn. Một thách thức khác, về ngắn hạn, là Israel đã rất thành công trong việc phát triển ngành công nghiệp viễn thông tuy nhiên lại không có khả năng lặp lại thành công đó trong các ngành công nghiệp đang phát triển khác và việc này đã cản trở viễn cảnh kinh tế của Israel. Cũng thế, việc không có khả năng nuôi dưỡng các công ty đa quốc gia lớn trong thập niên qua cũng đặt ra trước Israel câu hỏi về khả năng sử dụng một nguồn nhân lực lớn trong các ngành công nghiệp tiên tiến. Về lâu dài, Israel đang đối mặt với những thách thức của sự phụ thuộc cao số lượng ngày càng tăng của những người Do Thái Haredi (hay còn gọi là Ultra-Orthodox Jews là thành phần bảo thủ nhất của Do Thái Giáo) là những người chiếm một tỷ lệ thấp trong lực lượng lao động chính thức, và tình trạng này có thể dẫn đến một tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ phụ thuộc cao trong tương lai. Thống đốc Ngân hàng Trung ương Israel, Stanley Fischer, nói rằng sự nghèo đói ngày càng tăng giữa những người Do thái Haredi đang làm xấu đi nền kinh tế của Israel. Theo số liệu được công bố bởi Ian Fursman, 60% các hộ gia đình nghèo ở Israel thuộc vào người Do Thái Haredi và người Ả Rập. Cả hai nhóm này đại diện cho 25-28% dân số Israel. Trong đối ngoại, Israel đã và đang phải đối mặt với những thách thức đến từ quan hệ khá nhạy cảm của của Israel với các nước láng giềng Ả Rập. Đầu tiên là những tác động đến tài chính của sự thù địch
  33. và các mối đe dọa quân sự dường như không bao giờ có điểm kết. Rõ ràng, nếu hoà bình có thể đến với khu vực, các nguồn tài nguyên có thể được sử dụng hiệu quả hơn trong những hình thức khác thay vì sử dụng cho chiến tranh. Hơn nữa, đầu tư nước ngoài, rất quan trọng cho sự tăng trưởng trong tương lai của Israel, rất nhạy cảm với an ninh chính trị. Các vấn đề khác phụ thuộc vào loại quan hệ đã được thiết lập: sẽ có sự lưu thông tự do hàng hóa và công nhân giữa Israel và một nhà nước Palestine? Quan hệ kinh tế tương đối tự do với các nước Ả Rập khác sẽ dẫn đến một sự hội nhập sâu hơn của Israel trong khu vực ngay lập tức, hoặc, như có nhiều khả năng, định hướng thương mại của Israel sẽ tiếp tục hướng chủ yếu tới các nước công nghiệp lớn hiện nay? Nếu khả năng thứ hai chứng minh là thực thì Israel sẽ buộc phải đi dây một cách cẩn thận giữa hai gã khổng lồ: Mỹ và EU. KẾT LUẬN Các sự kiện kinh tế trong 30 năm qua của Israel đã đưa ra ví dụ về một nền kinh tế dịch chuyển ngoạn mục từ tình trạng chính phủ kiểm soát gần như hoàn toàn thị trường tài chính, với các tổ chức kinh tế chỉ phục vụ nhu cầu tài chính của chính phủ, sang một nền kinh tế thị trường với một định chế tài chính nghiêm ngặt, một chính sách tiền tệ độc lập và các thị trường tài chính mở và tự do. Việc dịch chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Israel đã mở rộng nguồn lực kinh tế và gia tăng tiềm năng tăng trưởng của Israel. Kể từ khi thực hiện Chương trình Bình ổn Kinh tế năm 1985, Israel đã duy trì được một định chế tài chính nghiêm ngặt mặc dù trải qua nhiều thay đổi về cơ cấu chính phủ và rủi ro cao về quốc phòng, cũng như quá trình thực hiện liên tục các cải cách kinh tế. Bằng chứng về sự cải thiện về lòng tin của nền kinh tế và sự tuân thủ của Israel đối với chính sách kinh tế ổn định là thông báo của Standard & Poor về quyết định tăng mức xếp hạng tín dụng quốc gia(23) về ngoại tệ của Israel từ A- lên A vào cuối tháng Mười Một năm 2007. Rất nhiều việc cần được thực hiện trong tương lai để đảm bảo thị trường vốn của Israel tương thích với tiêu chuẩn quốc tế. Không ngừng cải cách kinh tế bắt đầu từ 20 năm trước đây là điều cần thiết để đạt được tới mục tiêu tăng hiệu quả và sự ổn định của thị trường
  34. vốn. Tuy nhiên, những điều này có thể đạt được chỉ khi nền kinh tế Israel tiếp tục tuân thủ các quy định tài chính nghiêm ngặt và cùng với một chính sách tiền tệ có trách nhiệm sẽ giúp nâng cao uy tín của mình, đóng góp cho sự phát triển và khả năng ch ống lại những rủi ro tài chính. Trên tất cả, những chính sách và cải cách kinh tế của Israel đã được thực hiện trên một nền tảng tuyệt đối minh bạch – nền tảng tâm linh và đạo đức được xây dựng dựa trên những lề luật rất khoa học của Do Thái giáo. PHỤ LỤC 1 - NHỮNG CẢI CÁCH KINH TẾ CỦA ISRAEL Lĩnh Các thông số Năm thực hiện vực Xóa bỏ các hạn chế hành chính với tiền gửi (deposit) và tín dụng (credit) Từ 1987 Giảm tín dụng phân biệt đối xử trực 1982–90 Thị tiếp Hóa đơn danh ngha Makam: trường Sử dụng các công cụ quản lý chính từ 1987. Bán đấu giá đối với tiền tệ sách tiền tệ mới tiền gửi ngân hàng thương Giảm bớt tỷ lệ thanh khoản (liquidity mại: từ 1995 rate) và tránh sử dụng chúng như một Từ 1987 công cụ tiền tệ Giảm yêu cầu đối với các tổ chức đầu tư vào trái phiếu chính phủ Thị Loại bỏ các hạn chế về việc phát hành Từ 1987 trường trái phiếu tư nhân Từ 1987 vốn Loại bỏ từng bước việc phát hành trái 1987–2003 phiếu chính phủ không thể giao dịch (non-tradable government bonds) Thị trường Tự do hóa thị trường ngoại hối 1987–2003 ngoại Hủy bỏ thuế đối với các dòng vốn 2003–04 hối Từ 1987 (loại bỏ phân biệt đối Hệ xử về thuế và trợ cấp đối với Xóa bỏ phân biệt đối xử về thuế thống các yếu tố sản xuất và hàng Đánh thuế thu nhập tài chính thuế hóa)
  35. Từ 2003 Chương trình để đạt được sự cân bằng tính toán bảo hiểm trong các quỹ hưu Quỹ Từ 1995 trí tài trợ bởi chính phủ, người chủ và hưu trí 2004 thợ Tăng tuổi nghỉ hưu Chia tách các tập đoàn phi-ngân hàng và các khoản trợ cấp Hệ Tách việc quản lý các quỹ tiết kiệm và Từ những năm 1990 thống quỹ tương hỗ (mutual funds) ra khỏi 2005 ngân ngân hàng (Bachar Reform) hàng Tách rời hoạt động bảo lãnh phát hành và tư vấn khỏi các ngân hàng PHỤ LỤC 2 KIBBUTZ: MÔ HÌNH LÀNG CỘNG ĐỒNG CỦA ISRAEL Gần một thế kỷ nay, nhiều học giả trên thế giới đã để tâm đến việc nghiên cứu tính khả thi của một mô hình xã hội trong đó mỗi thành viên được “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”. Thực tế, mô hình này đã tồn tại từ những năm đầu thế kỷ 20 trong các cộng đồng người Do Thái, trên vùng đất lúc đó gọi là Palestine. Mô hình xã hội này được thể hiện thu nhỏ trong hình thức làng cộng đồng có tên là “Kibbutz” theo tiếng Do Thái. Kibbutz là một cộng đồng nông thôn độc nhất vô nhị trên thế giới hiện vẫn còn tồn tại ở Israel, một hệ thống kinh tế xã hội dựa trên nguyên tắc sở hữu chung tài sản, bình đẳng và hợp tác trong mọi mặt của đời sống; thực hiện lý tưởng một xã hội công bằng. Tại Hội nghị Phục quốc Do Thái lần thứ nhất [29/8/1897 - 31/8/1897] do Theodor Herzl triệu tập và chủ trì tại Basel (Thụy Sĩ), các nhà lãnh đạo của Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái đã kêu gọi người Do Thái quay về mảnh đất Palestine và khôi phục đời sống của dân tộc trên quê hương của cha ông. Ben-Gurion là một người rất thực tế. Ông cho rằng công việc trước tiên cần phải làm của Chủ nghĩa Zion là phải có một khu đất định cư ngay trên mảnh đất Palestine. Giữa bao lý thuyết về lập quốc, Ben-Gurion cho rằng hàng ngàn bài diễn văn, hàng trăm đại hội bàn về các cách phục hưng đất nước cũng không
  36. bằng lập được một làng cộng đồng Kibbutz ngay trên mảnh đất Palestine của cha ông, làm tiền đề cho Chủ nghĩa Phục quốc. Những đợt hồi hương đã manh nha từ cuối thế kỷ thứ 19, nhưng phải sang đến những năm đầu của thế kỷ 20, được khích lệ bởi lý tưởng của Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái và tư tưởng Xã hội Chủ nghĩa, hàng ngàn người Do Thái trẻ tuổi trong đó có cả Ben-Gurion đã quay trở về Palestine, khi đó còn ít người sinh sống và là một bộ phận bị lãng quên của Đế chế Ottoman. Những người tiên phong đã chinh phục đầm lầy, cải tạo đất hoang, phủ xanh đồi trọc, thành lập các ngành công nghiệp và xây dựng các đô thị, làng mạc. Kibbutz sơ khai là những nông trại cộng đồng, nghĩa là các nông dân cùng làm việc và phân chia tài sản thu được theo nguyên tắc bình quân. Tài sản như đất đai, nhà cửa và trang thiết bị, nhà máy và các công cụ đều thuộc sở hữu của Kibbutz, tức là thuộc sở hữu chung của cả cộng đồng. Kh ông có tài sản tư nhân vì khi gia nhập Kibbutz các thành viên chuyển tất cả tài sản của họ cho cộng đồng. Các Kibbutz đáp ứng tất cả các nhu cầu của các thành viên và gia đình của họ thông qua việc tổ chức một mạng lưới các dịch vụ như các nhà ăn cộng đồng, các tổ giặt ủi chuyên trách, các dịch vụ và cơ sở vật chất khác. Toàn bộ lương của các thành viên đều được nộp tất cả cho Kibbutz để góp cho các hoạt động chung. Mỗi thành viên của Kibbutz đều được chăm sóc tất cả mọi mặt từ khi ra đời. Kibbutz sẽ lo hết cho các nhu cầu của cộng đồng, từ ăn ở, đi lại, học hành cho con trẻ. Khi Israel bước vào công nghiệp hóa đất nước vào những năm 1950-1960, các nông trại này đã bắt nhịp với sự phát triển công nghiệp đi liền với nông nghiệp. Một lượng lớn các sản phẩm nông nghiệp của Israel sản xuất tại các Kibbutz, song công nghiệp mới là thế mạnh của các Kibbutz. Sản phẩm từ các Kibbutz thời kỳ này chiếm tới 80% sản lượng công nghiệp (chủ yếu là công nghệ thực phẩm và máy móc thiết bị) và chiếm khoảng 20% sản lượng nông nghiệp toàn quốc. Trên thực tế, mức sống ở các Kibbutz cao hơn rất nhiều so với mức sống trung bình của người dân Israel trong nhiều năm. Về đi lại, ai cần đi xa có thể lấy ô-tô của Kibbutz, đổ xăng miễn phí rồi tùy ý sử dụng. Các xã viên Kibbutz không cần phải mua xe ô-tô riêng. Mỗi Kibbutz có khoảng 60 ô-tô con các loại để tại bãi xe có người quản lý. Nếu xã viên nào cần dùng xe, chỉ việc vào website của Kibbutz tìm chọn những xe nào còn sẵn rồi tới bãi xe lấy chìa khoá ô-
  37. tô. Xăng xe, phí sửa chữa và các chi phí khác cho xe do Kibbutz chịu trách nhiệm. Về ăn uống, nhà ăn tập thể cung cấp ngày hai bữa sáng và trưa cho tất cả các thành viên. Riêng bữa tối, các gia đình tổ chức ăn ở nhà để gắn bó tình cảm giữa các thành viên trong gia đình mình. Nhà ăn được tổ chức hiện đại và sang trọng với đầy đủ các món ăn, bao gồm cả các món ăn cao cấp, không khác mấy so với các phòng ăn ở khách sạn hạng sang. Về nhà cửa, Kibbutz xây dựng và cấp miễn phí nhà ở cho các gia đình xã viên. Khi cần xây dựng mở rộng và cải tạo nhà theo ý mình, chủ nhà trao đổi với ban quản trị, sẽ có đội xây dựng đến thực hiện theo yêu cầu của chủ nhà, Kibbutz thanh toán chi phí. Kibbutz cấp miễn phí hoặc trả toàn bộ tiền điện, nước, gas cho các gia đình xã viên. Mỗi căn nhà giống như một biệt thự cao cấp, đầy đủ tiện nghi theo nhu cầu của chủ nhà. Về giáo dục, trong thời kỳ đầu khi Kibbutz mới thành lập, trẻ em của các hộ gia đình được tập trung lại để giáo dục theo lối giáo dục sớm của người Do Thái. Chúng có thể về với cha mẹ vào những buổi chiều hay những ngày cuối tuần. Sau này, trong nỗ lực xây dựng mối quan hệ tình cảm gia đình bền chặt, nhiều Kibbutz đã để trẻ nhỏ ngủ tại nhà với cha mẹ cho tới tuổi đi học. Ở mẫu giáo, trẻ em được các bảo mẫu chăm sóc và giáo dục chu đáo tại nhà trẻ tập trung. Khi đến cấp học cao hơn, các trẻ được chỉ định làm việc phù hợp với khả năng: nhỏ làm những việc đơn giản, vừa sức; lớn hơn phải làm một số việc trong Kibbutz và ở cấp trung học, mỗi tuần chúng phải dành một ngày làm một công việc trong một ngành nào đó của nền kinh tế Kibbutz. Ngoài ra, Kibbutz còn có sự hỗ trợ nhất định cho những trẻ em có tài năng nổi trội cần một môi tr ường đặc biệt để phát triển. Kibbutz có một vị trí đặc biệt trong việc xây dựng và phát triển Nhà nước Israel. Các Kibbutz đóng vai trò chủ đạo trong các quyết định mang tính quốc gia, thậm chí là cả trước khi nhà nước Israel ra đời trong các lĩnh vực như: định hướng tư tưởng cho thanh niên, hỗ trợ những người mới nhập cư mới. Đáng chú ý nhất là việc một số lượng lớn những người dân Kibbutz đã và đang phục vụ trong các ngành khác nhau trong lực lượng quốc phòng Israel kể từ khi thành lập Nhà nước với một tỷ lệ phần trăm lính tình nguyện cao, phục vụ trong các đơn vị quân sự có uy tín. Các Kibbutz cũng đã rất xuất sắc
  38. trong sáng tạo, đổi mới, kết hợp văn hóa truyền thống của người Do Thái với những yếu tố mới giúp thăng hoa những điểm đặc sắc của đất nước Israel. Kibbutz cũng đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong bộ máy quốc phòng Israel. Trong thập niên 1950, rất nhiều các Kibbutz được các lực lượng quốc phòng có tên là Nahal thành lập. Không ít trong số đó nằm trong vùng biên giới còn chưa ổn định của quốc gia. Trong Cuộc chiến Sáu Ngày, khi Israel thiệt hại 800 quân nhân thì 200 trong số đó là các thành viên của Kibbutz. Những đặc ân đặc lợi mà các thành viên Kibbutz được hưởng trong thập niên 1960 phản ánh rõ trong thành phần cơ cấu Quốc hội Israel (The Knesset). Khi đó, chỉ 4% dân số Israel là người thuộc các Kibbutz nhưng có tới 15% số ghế Quốc hội thuộc về họ. Một số mô hình tổ chức nông nghiệp như Nông trang tập thể của Liên Xô cũ, Công xã nhân dân của Trung Quốc hay Hợp tác xã của Việt Nam vào những năm 1950-1960 cũng đã được xây dựng với tiêu chí tương tự như Kibbutz. Tuy nhiên trong khi hầu hết những mô hình này đã thất bại và bị “khai tử” thì Kibbutz vẫn sống khỏe và đang chuyển mình rất mạnh từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang mô hình quản lý hiện đại, có các trung tâm nghiên cứu, sản xuất các mặt hàng công nghệ cao, thiết bị quốc phòng Trong buổi đầu sơ khai của Kibbutz, nông nghiệp được coi là nền kinh tế chủ lực. Ngày nay, các Kibbutz đã đa dạng hóa các ngành sản xuất của mình, mở rộng cơ sở sang các ngành công nghiệp và dịch vụ khác nhau. Tính đến năm 2013, có khoảng 273 Kibbutz nằm rải rác khắp đất nước Israel với số dân lên tới gần 152,9 ngàn dân. Doanh thu từ các Kibbutz vượt quá 32 tỷ Shekel, với hơn 70% là từ sản lượng của 350 nhà máy sản xuất và các tập đoàn công nghiệp, xuất khẩu vượt 12 tỷ. Mặc dù chỉ với số dân chiếm hơn 2% dân số Israel (trong 273 Kibbutz) nhưng đóng góp của người dân Kibbutz cho nền sản xuất trong nước lại vượt xa tỉ lệ này bởi vì họ đã tạo ra khoảng 38% sản phẩm nông nghiệp và sản xuất khoảng 8,4% sản lượng công nghiệp (không kể đến kim cương). Các cơ sở du lịch, các kho tàng nhà máy, các nơi giao dịch bán hàng gần đây trở thành một phần quan trọng của nền kinh tế Kibbutz cũng như nền kinh tế quốc gia. Các cơ quan dịch vụ dành cho cộng đồng được thiết lập. Ngôn ngữ Hebrew, trước kia chỉ được dùng hạn chế trong nghi lễ tôn giáo
  39. và văn học nay đã được hồi sinh, được coi là ngôn ngữ của cuộc sống thường nhật. Tác giả gốc Mỹ Ellis Shuman, đã đánh giá, Kibbutz chính “là ví dụ thành công nhất thế giới về lối sống theo mô hình xã hội chủ nghĩa, một điều gần như không tưởng của nền dân chủ và chủ nghĩa quân bình”. Hơn một thế kỷ đã qua, Kibbutz vẫn tiếp tục tồn tại sau những thăng trầm của lịch sử. Tuy nhiên, người dân Kibbutz cũng như những người ngoài Kibbutz đã đặt ra nhiều câu hỏi về tương lai của mô hình xã hội có một không hai trên thế giới này, đặc biệt là từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng vào những năm 1980 và những thay đổi sâu rộng về mặt thế chế vào những năm 1990. Hiện Kibbutz cũng đang tìm cách đối mặt với những thách thức của cuộc sống hiện đại trong thời đại công nghệ, đồng thời vẫn đang cố duy trì cơ chế bình đẳng ban đầu của mình. Các hoạt động truyền thống của Kibbutz trước đây thể hiện ở nguyên tắc quân bình còn duy trì ở một số ít các Kibbutz. Thành viên của Kibbutz có nhu cầu kết nối nhiều hơn với thế giới bên ngoài cũng như có nhiều nhu cầu hơn về tư hữu tài sản. Vì thế, mọi điều chỉnh lúc này đều cần đến những cải cách to lớn. Một số người lo ngại rằng những thay đổi đó đang khiến Kibbutz đi quá xa so với các nguyên tắc và giá trị ban đầu; trong khi đó một số khác tin rằng khả năng thích nghi và thỏa hiệp chính là chìa khóa cho sự tồn tại của Kibbutz. Dù có cải tổ thế nào thì Kibbutz cũng cần giải quyết được hai vấn đề lớn đang gặp phải về mặt kinh tế và phương thức hoạt động. Nói rõ hơn, cần phải có một sự bứt phá để có được một nền kinh tế phát triển ổn định, thịnh vượng và một thể chế chặt chẽ với các nguyên tắc hoạt động thống nhất, đồng thuận với lòng dân. Nguồn: 1. Trần Thị Thu Hương, 2013, Đ.H FPT, “KIBBUTZ – mô hình làng cộng đồng trong sự nghiệp kiến quốc của Israel”.
  40. CHƯƠNG V QUỐC GIA KHỞI NGHIỆP “Đây là một quốc gia khởi nghiệp, về cả xã hội và văn hóa. Đó là di sản của chúng tôi, đặc tính của chúng tôi Đất nước đang không ngừng đổi mới bản thân ” - Doanh nhân Yossi Vardi CÂU CHUYỆN KHỞI NGHIỆP Để có những bước đi đột phá, sáng tạo, tầm nhìn và sự “liều lĩnh” phải thay thế cho kinh nghiệm. Đó chính là tư duy xuyên suốt trong quá trình “khởi nghiệp” của Israel. Từ “khởi nghiệp”, trong tiếng Anh là “start-up”, thường dùng để chỉ các công ty nhỏ mới bắt đầu lập nghiệp, đặc biệt trong giai đoạn bùng nổ thời Dot-com những năm 1990. Những công ty này được khởi đầu với chỉ một - hai thành viên cùng có giấc mơ biến một ý tưởng công nghệ độc đáo nào đó thành hiện thực. Và thú vị hơn nữa, nhiều giấc mơ “khởi nghiệp” như vậy đã thành hiện thực ngay trong garage ô tô vì nhiều người thường lấy garare ô tô của nhà riêng làm nơi làm việc khởi nghiệp của họ. Đó là câu chuyện của Silicon Valley nước Mỹ thời Dot-com những năm 1990. Còn cụm từ “Quốc gia Khởi nghiệp” (Start-up Nation), được dùng lần đầu tiên làm tiêu đề của
  41. cuốn sách nói về quá trình đổi mới của Israel của hai tác giả Dan Senor and Saul Singer (xuất bản năm 2009), cũng bao hàm ý “khởi nghiệp” nhưng ở một qui mô lớn hơn, qui mô của một quốc gia. Quốc gia đó là Israel. Đó là khung cảnh của Israel vào cuối những năm 1980, khi vòng xoáy lạm phát dường như không thể ghìm cương với con số khủng khiếp 400% vào năm 1985, và kinh tế Israel đang trên bờ vực thẳm. Vực dậy nền kinh tế và tìm lại động lực để tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu sống còn của chính phủ Israel trong Chương trình Bình ổn Kinh tế năm 1985. Ngay trong hoàn cảnh đó có hai yếu tố mới xuất hiện: thứ nhất là làn sóng nhập cư khá lớn bắt đầu từ cuối những năm 1980 kéo dài sang những năm 1990 với gần một triệu dân Do Thái từ Liên bang Xô viết cũ (trong đó có nhiều người có trình độ học vấn cao); và yếu tố thứ hai là sự bùng nổ công nghệ Dot-com trên thế giới vào những năm 1990. Một quyết định chiến lược có tính bước ngoặt của chính phủ Israel vào thời điểm này là phát động đổi mới (innovation) thông qua tăng cường đầu tư vào khoa học, công nghệ, nghiên cứu và phát triển (Research & Development – R&D). Nguồn nhân lực học vấn cao từ Liên bang Xô viết cũ đã có đất sử dụng và được đổ vào khu vực công nghệ cao để đáp ứng cho nhu cầu Dot- com đang tăng tốc vào giữa những năm 1990. Quốc gia khởi nghiệp Israel ra đời trong hoàn cảnh như thế. Trong vòng 15- 20 năm sau đó, vào những năm cuối 2010, Israel trở thành một trong những cường quốc công nghệ cao trên thế giới. Trong giai đoạn đó và kéo dài cho đến ngày nay, những công ty công nghệ và giới đầu tư toàn cầu đã tìm đường đến Israel và ở đây, họ tìm thấy sự kết hợp độc đáo giữa óc sáng tạo, sự táo bạo và những con người quả cảm đầy trí tuệ. Trong quá trình khởi nghiệp và đổi mới, Israel đã dành được rất nhiều những vòng nguyệt quế: tính đến 2010, Israel đứng đầu thế giới về chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển tính theo tỷ lệ phần trăm của nền kinh tế, đó là hàng đầu cả về số lượng các công ty khởi nghiệp và kỹ sư tính theo tỷ lệ dân số (với gần 4.000 công ty khởi nghiệp đang hoạt động - nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác bên ngoài nước Mỹ), và đứng đầu trong vốn đầu tư mạo hiểm trên bình quân đầu người. Số lượng các công ty Israel có tên trên sàn chứng khoán NASDAQ nhiều hơn tất cả các công ty của châu Âu cộng lại - Israel là quốc gia có mật độ các doanh nghiệp mới thành lập nhiều nhất thế giới. Sàn chứng khoán New York không chỉ là đối tượng duy nhất bị Israel thu hút trong việc giao dịch cổ phiếu, mà còn đóng một vai trò
  42. quan trọng khác quyết định đối với tương lai khởi nghiệp của Israel: đó là đầu tư mạo hiểm (Venture Capital). Năm 2008, vốn đầu tư mạo hiểm bình quân đầu người ở Israel nhiều gấp 2,5 lần Mỹ, 30 lần so với châu Âu, 80 lần so với Trung Quốc và 350 lần so với Ấn Độ. Xuất khẩu công nghệ cao năm 2010 của Israel có giá trị khoảng 18,4 tỷ USD một năm, chiếm hơn 45% kim ngạch xuất khẩu của Israel, theo Cục Thống kê Trung ương Israel. CEO kiêm Chủ tịch Google, Eric Schmidt nói rằng Mỹ là điểm đến số một cho các doanh nghiệp, nhưng “sau Mỹ, Israel là nơi tốt nhất”. Cựu CEO của Microsoft, Steve Ballmer đã gọi Microsoft là một “doanh nghiệp Israel”, vì số lượng và vai trò quan trọng của đội ngũ nhân viên người Do Thái trong công ty này. Không tồi đối với một đất nước chỉ có khoảng tám triệu người. Một câu hỏi thường hay được nhắc đến: làm thế nào mà Israel - một quốc gia của khoảng tám triệu người, chỉ có sáu mươi năm tuổi, thù địch bao quanh, trong một nhà nước liên tục chiến tranh kể từ khi thành lập đến nay, không có tài nguyên thiên nhiên – lại có thể sản sinh số lượng các công ty khởi nghiệp nhiều hơn so với các quốc gia lớn, hòa bình và ổn định như Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Canada và Anh Quốc. Kinh nghiệm gì của Israel, một thành viên mới của OECD và một Quốc gia Khởi nghiệp như tên gọi trong cuốn sách của Dan Senor và Saul Singer, có thể đem ra cho chúng ta thảo luận và học hỏi? Tại sao là Israel mà không phải một nơi nào khác? Có những ý kiến cho rằng “nghịch cản h” là nguyên nhân chính giải thích cho “hiện tượng Israel”. Vì trong nghịch cảnh, người ta mới bị “ép” phải phát huy tối đa khả năng sáng tạo, nhất là khi nghịch cảnh ấy lại mang ý nghĩa sống còn. Nhiều người khác nghĩ rằng yếu tố Do Thái đã góp phần không nhỏ. Khái niệm cho rằng dân Do Thái rất thông minh đã ăn sâu vào tiềm thức phương Tây. “Tại sao Israel lại thành công đến vậy nhỉ? Đơn giản thôi, vì người Do Thái rất thông minh”. Thành công của Israel bị mặc định bằng một định kiến rất mơ hồ hơn là thực tế. Rõ ràng rằng bí quyết thành công của Israel không chỉ phụ thuộc vào tài năng của từng cá nhân. Ở nhiều quốc gia, cũng có những doanh nghiệp đơn lẻ thành công, nhưng sự thành công đó vẫn chỉ
  43. quẩn quanh trong cái “ao làng” chật hẹp. Israel lại hoàn toàn khác. Những doanh nghiệp khởi nghiệp của Israel thành công và đứng vững không chỉ trong thị trường nội địa mà còn có khả năng thay đổi cục diện của các ngành công nghệ cao toàn cầu. Doanh nhân nổi tiếng Yossi Vardi của Israel nói rằng có một sự pha trộn toàn bộ các yếu tố để biến Israel thành một phép lạ khởi nghiệp. Bản thân ông đã đầu tư vào hơn 80 công ty công nghệ cao của Israel trong đó có dịch vụ nhắn tin trên mạng đầu tiên mà ai cũng biết là ICQ. Ông đã bán rất nhiều trong số đó cho các gã khổng lồ công nghệ như AOL, Microsoft, Yahoo và Cisco. “Nếu bạn nhìn vào cách đất nước này được tạo ra, nó thực sự là một đất nước khởi nghiệp trên quy mô lớn”, Vardi nói. Ông là người được mệnh danh là cha đỡ đầu của ngành công nghiệp công nghệ cao của Israel. Trong thập niên 1980, nền kinh tế của Israel vẫn còn đi theo cách tiếp cận kiểu nghiệp đoàn do chính phủ Israel độc quyền kiểm soát, với quyền sở hữu công cộng khá phổ biến và thương mại vô cùng hạn chế [tham khảo Chương IV: Chính sách Phát triển Kinh tế]. Cái gọi là “thập niên mất mát” sau Cuộc chiến Yom Kippur năm 1973 đã dẫn đến nợ công tăng gần 300% GDP. Israel khập khiễng trên đôi chân của mình cho đến năm 1985, khi mà Chương trình Ổn định Kinh tế năm 1985 được khởi động và dần dần kiểm soát được tình trạng lạm phát phi mã và nợ công gia tăng như không thể ghìm cương được. Qua những năm 1990, với chương trình đổi mới của chính phủ Israel, sự xuất hiện của ngành công nghệ cao dựa trên xuất khẩu đã thực sự đưa nền kinh tế của đất nước đi đúng hướng, với tốc độ tăng trưởng GDP ít nhất là 4% một năm. Trong vòng 20 năm tiếp theo, các công ty khởi nghiệp Israel đã phát triển những công nghệ đột phá trong các lĩnh vực như máy tính, công nghệ sạch và khoa học đời sống, nâng khu vực công nghệ cao của Israel lên nhóm hàng đầu trên thế giới. Ổ đĩa fash, ống đỡ động mạch tim, trò chuyện trực tuyến (tin nhắn tức khắc) và shopping.com chỉ là một vài trong số hàng nghìn những sáng tạo mà Israel đã đạt được trong hai thập niên qua. Các ngành công nghiệp công nghệ cao chiếm gần 50% tổng xuất khẩu công nghiệp ngày nay, theo số liệu của OECD năm 2011. Từ năm 1995 đến năm 2004, Israel đã tăng chi tiêu cho R&D, tính theo phần trăm GDP, từ 2,7% đến 4,6%, một tỷ lệ cao hơn so với bất kỳ quốc gia OECD nào.
  44. LÝ DO DẪN ĐẾN THÀNH CÔNG Trong khi công nhận rằng có một sự pha trộn rất nhiều các yếu tố để biến Israel thành một phép lạ khởi nghiệp, hai tác giả Senor và Singer của cuốn sách “Quốc gia Khởi nghiệp”, trong nỗ lực để giải thích về sự thành công của Israel trong lĩnh vực này, đã loại bỏ những lý do ngoại lệ về dân tộc hay tôn giáo, cũng không đề cập đến “tính Do thái nhất thể” hay thậm chí tài năng cá nhân là lý do chính dẫn đến sự thành công về công nghệ cao của Israel. Theo hai tác giả thì có hai yếu tố chính đã đóng góp nhiều nhất vào tăng trưởng kinh tế của Israel. Đó là nhập cư và nghĩa vụ quân sự bắt buộc. Cũng như Senor và Singer, nhiều học giả Do Thái cho rằng người nhập cư đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra phép màu kinh tế Israel. Gidi Grinstein, chủ tịch và là người sáng lập Reut Institute trụ sở tại Israel, đã nói rằng: “Người nhập cư không sợ bắt tay lại từ đầu. Họ được định nghĩa là những con người thích mạo hiểm. Quốc gia của người nhập cư là quốc gia của những tay chơi khởi nghiệp”. Từ những người sống sót của Holocaust cho đến những người Do Thái từ chối luật lệ của Liên bang Xô viết rồi đến người Do Thái Ethiopia, Nhà nước Israel luôn là vùng đất của người nhập cư: 9 trong 10 người Do Thái ngày nay là dân nhập cư hoặc là con cháu thế hệ thứ nhất hay thứ hai của dân nhập cư. Israel giờ là nhà của hơn 70 quốc tịch và các nền văn hóa khác nhau. Đặc điểm về nhân khẩu học này, gây ra sự phân đoạn của cộng đồng Do Thái tiếp diễn cho đến ngày nay, luôn là một động lực tuyệt vời để họ thử vận may, chấp nhận rủi ro. Và nói cho cùng thì người nhập cư không có gì để mất. Hai tác giả cũng cho rằng một yếu tố quan trọng khác cho sự tăng trưởng kinh tế của Israel có thể tìm thấy trong nền văn hóa của Lực lượng Phòng vệ Israel (Israel Defense Forces– IDF), trong đó nghĩa vụ quân sự là bắt buộc đối với giới trẻ Israel. Đối với học sinh tốt nghiệp trung học, ngoài các trường Đại học hàng đầu của Israel thì những cơ sở đào tạo quốc gia được xem là ngang hàng với Harvard, Princeton và Yale chính là các đơn vị tinh nhuệ của quân đội. Đó là những đơn vị công nghệ cao như đơn vị tình báo tinh hoa 8200, sư đoàn hệ thống máy tính Mamram, Talpiot – đơn vị kết hợp công nghệ với những hoạt động biệt kích hàng đầu. Học viên ở đây phải giỏi toán, lý, được tiếp cận với những công nghệ hiện đại nhất và thường xuyên được nhắc nhở đưa ra những ý tưởng sáng tạo trong lĩnh vực
  45. như an ninh máy tính, mật mã, thông tin liên lạc và chiến tranh điện tử. Đây là tinh hoa của những tinh hoa trong quân đội Israel. Rất nhiều học viên ở đây, sau khi ra khỏi quân đội, đã trở thành những học giả, doanh nhân thành đạt hàng đầu của Israel như những ông chủ của NICE Systems, Compugen Giáo sư Niron Hashai của Trường Quản trị Kinh doanh Jerusalem tại Đại học Hebrew nói: “Quân sự cho phép những người trẻ tuổi trong các đơn vị đặc nhiệm rèn luyện các kỹ năng công nghệ, điều hành các dự án công nghệ lớn ở độ tuổi rất trẻ, nơi họ cần phải ứng biến để có được giải pháp một cách nhanh chóng”. Mô hình thử nghiệm là mô hình được áp dụng khá phổ biến trong quân đội cũng như doanh nghiệp Israel. Trong các đơn vị tinh nhuệ của Israel, mỗi ngày là một “thử nghiệm”, mỗi trận đánh là một “thử nghiệm”. Việc chú trọng vào những bài học hữu ích, có tính ứng dụng thay vì những học thuyết máy móc giáo điều là đặc trưng trong quân đội Israel. Truyền thống từ trước đến nay của quân đội Israel là “không có truyền thống”. Giới chỉ huy và binh lính không quá gắn bó với bất kỳ ý tưởng hoặc giải pháp nào chỉ vì chúng từng hữu dụng trong quá khứ. Quân đội Israel luôn củng cố đặc tính “khởi nghiệp”, tính sáng tạo, và hạn chế phân cấp cổ điển. Qua huấn luyện trong quân đội bắt buộc cho tất cả người dân, ở cùng lứa tuổi, người Israel đã ở một tầng tư duy cao hơn rất nhiều so với dân tộc các nước khác trên thế giới, kể cả người Mỹ. Với một “văn hóa khởi nghiệp” đặc sắc như vậy được áp dụng ngay trong quân đội, nghĩa vụ quân sự IDF đã tạo ra các doanh nhân tiềm năng với những cơ hội để phát triển hàng loạt các kỹ năng khác nhau và kết nối trong xã hội. Nghĩa vụ quân sự IDF cũng đã cung cấp những trải nghiệm giúp người lính phát huy trách nhiệm trong một môi trường tương đối chưa phân cấp, nơi mà sự sáng tạo và trí thông minh được đặt lên hàng đầu. Những người lính IDF được hướng dẫn rất ít từ cấp trên, và được kỳ vọng có khả năng ứng biến, thậm chí nếu điều này có nghĩa là phá vỡ một số quy tắc được gọi là truyền thống trong quân đội các nước phương Tây. CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ
  46. Không thể không nhắc đến vai trò của chính phủ Israel trong cuộc cách mạng đổi mới. Tiến sĩ Orna Berry, chuyên gia đầu tư mạo hiểm Israel, trong khi đề cập đến vai trò của chính phủ Israel, khẳng định rằng không nghi ngờ gì khi nói rằng những chính sách thông minh và sự quyết đoán của chính phủ Israel đã đóng một vai trò có tính chất quyết định trong việc thúc đẩy sự đổi mới. bà Berry nói: “Chính phủ Israel đã thực hiện một quyết định chiến lược quan trọng để khởi động khu vực công nghệ cao bằng cách cung cấp hỗ trợ tài chính cho hoạt động R&D, rất hợp lúc và hợp thời”. “Chính sách này đã hóa giải những thất bại về thị trường và hạn chế rủi ro cao trong việc điều hành một thị trường địa lý cô lập như Israel.” Berry rất hiểu hệ thống này. Bà đã nhìn thấu nó qua cả hai khu vực tư nhân và khu vực công cộng. Ngoài sự nghiệp 25 năm trong các ngành khoa học và công nghệ, Berry là Khoa học gia Trưởng (Chief Scientist) trong giai đoạn 1996-2000, với trọng trách áp dụng phương pháp tiếp cận thực hành của chính phủ Israel vào đổi mới. Văn phòng của Khoa học gia Trưởng (Ofce of the Chief Scientist - OCS) được thành lập vào năm 1969 trực thuộc Bộ Công nghiệp, Thương mại và Lao động, cuối cùng đã trở thành một nhân tố quan trọng trong cuộc bùng nổ công nghệ cao của Israel. Hai chương trình mà chính phủ Israel đã có những quyết sách rất đúng đắn và mang đầy tính chiến lược trong công cuộc đổi mới: đó là Ngành đầu tư mạo hiểm và Chương trình vườn ươm công nghệ. Tên gọi “đầu tư mạo hiểm” tại Israel hàm ý đầu tư tài chính cho các công ty khởi nghiệp của Israel trong giai đoạn đầu, có tiềm năng lớn nhưng rủi ro cao. Mạo hiểm có nghĩa là có thể mất. Phải có lòng tin, và ngoài ra phải có máu “liều lĩnh” khi khởi động một chương trình như thế, ở cấp quốc gia. Kết quả là Ngành Đầu tư Mạo hiểm và Chương trình Vườn ươm Công nghệ của Israel đã thành công rực rỡ và đóng một vai trò quan trọng trong lĩnh vực công nghệ cao đang bùng nổ mang biệt danh “Silicon Wadi”, đứng thứ hai trên thế giới trong tầm quan trọng sau đối tác “Silicon Valley” của mình ở California, USA. Vườn ươm công nghệ Israel may mắn có một nguồn nhân lực vào cuối những năm 1980 sang đầu những năm 1990 để cấp nhiên liệu cho sự bùng nổ: đó là làn sóng nhập cư của gần một triệu dân Do Thái từ Liên bang Xô viết cũ với khoảng 82.000 khoa học gia, bác sĩ, kỹ sư đào tạo tại Nga. Số tài năng này đã được hòa nhập vào thị trường lao động nội địa, mang
  47. theo các kỹ năng khoa học và công nghệ thông tin rất hữu dụng. Cộng đồng Do Thái Diaspora ở các quốc gia khác cũng cung cấp một số lớn các nhà nghiên cứu tài năng. “Chính sách của chính phủ Israel lúc này nhắm vào mục tiêu là giải phóng tiềm năng ẩn dấu của nguồn nhân lực dồi dào này”, bà Berry nói. Chương trình Vườn ươm Công nghệ (The Technological Incubator Programme) được chính phủ Israel thành lập vào năm 1991, nhằm tài trợ một phần chi phí đầu tư cho những người nhập cư tài năng đến từ Liên Xô và giúp họ bí quyết để trở thành những doanh nhân thành đạt. Chương trình được OCS điều hành với mục đích lựa chọn những doanh nghiệp có tiềm năng cho những vườn ươm công nghệ này. Sáu vườn ươm công nghệ đầu tiên đã được thiết kế để tạo giống và phát triển công nghệ trong giai đoạn khởi đầu. Ngày nay có 24 vườn ươm như vậy trên khắp Israel, cùng với 65% các dự án được nghiên cứu và phát triển liên quan đến khoa học. Kể từ khi những công ty hạt giống đầu tiên ra đời từ Chương trình Vườn ươm Công nghệ vào năm 1993, 61% được đảm bảo tài trợ tiếp theo và 40% vẫn đang hoạt động cho đến ngày nay. Trong năm 2007, các công ty hạt giống từ những vườn ươm công nghệ huy động được 435 triệu USD trong các quỹ tư nhân, tăng 74% so với năm 2006. Theo OECD, khu vực tư nhân từ đó đến nay đã đầu tư trên 2,5 tỷ USD cho các công ty hạt giống từ những vườn ươm công nghệ. Hiện tại, OCS phân bổ khoảng 1 tỷ USD mỗi năm cho các vườn ươm và các chương trình khác nhằm khuyến khích phát triển công nghệ. Cốt lõi của Chương trình Vườn ươm Công nghệ của Israel là qui trình tài trợ rất chọn lọc của Khoa học gia Trưởng. Thông qua sáng kiến này, các công ty khởi nghiệp trình Đề xuất R&D (R&D Proposal) lên Khoa học gia Trưởng, và tài trợ được trao trên cơ sở cạnh tranh, bảo đảm cung cấp từ 66% đến 90% chi phí nghiên cứu. “Chúng tôi xem xét các đề xuất theo tính khả thi kỹ thuật và thương mại, khả năng rủi ro và tiềm năng của các dự án ”, bà Berry nói. Các khoản tài trợ thực sự là các khoản cho vay với rủi ro cao – và các dự án thành công phải hoàn trả lại cho Văn phòng của Khoa học gia Trưởng thông qua việc khấu trừ một phần nhỏ trong doanh thu hàng năm. Yozma và ngành đầu tư mạo hiểm Ngành đầu tư mạo hiểm (venture capital industry) của Israel được khai sinh vào năm 1985, khi quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tiên của
  48. Israel, Athena Venture Partners, được thành lập bởi Thiếu tướng Dan Tolkowsky, cựu Tham mưu trưởng Lực lượng Không quân Israel; Tiến sĩ Gideon Tolkowsky; và Frederick R. Adler, một trụ cột của ngành công nghiệp đầu tư mạo hiểm Hoa Kỳ - người đã ý thức được tầm quan trọng của việc đưa các công ty công nghệ cao của Israel lên sàn chứng khoán NASDAQ. Tiếp đó, vào năm 1990, Gideon Tolkowsky và Yadin Kaufmann thành lập công ty đầu tư mạo hiểm thứ hai của Israel, “Veritas Venture Capital Management”, có chủ đầu tư là Tổng công ty Anglo American của Nam Phi và De Beers. Sự thành công của ngành đầu tư mạo hiểm tại Israel tiếp tục với Chương trình Yozma (tiếng Hebrew có nghĩa là “sáng kiến”), một sáng kiến của chính phủ vào năm 1993 với lời mời chào các ưu đãi thuế hấp dẫn cho các đầu tư mạo hiểm vốn nước ngoài tại Israel và hứa hẹn sẽ tăng gấp đôi bất kỳ đầu tư nào với kinh phí từ chính phủ. Mục đích của Chương trình Yozma là làm sao có thể hấp dẫn các quỹ đầu tư mạo hiểm phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ, vào đầu tư tại Israel. Yigal Erlich, cha đẻ của ngành đầu tư mạo hiểm Israel, nhận thấy rằng, trước Yozma, người Do Thái có thể đã thành công trong nghiên cứu và phát triển công nghệ của mình, nhưng họ không thật sự thành công trong việc thương mại hóa sản phẩm và phát triển công ty của mình. Ông dần dần bị thuyết phục rằng việc thiết lập nên một ngành đầu tư mạo hiểm tư nhân là liều thuốc giải duy nhất. Tuy nhiên để thành công, ngành đầu tư mạo hiểm Israel cần phải xây dựng được mối quan hệ chặt chẽ với các thị trường tài chính nước ngoài. Vấn đề không chỉ là tiền mà là nghệ thuật kinh doanh, cái mà Israel còn thiếu. Có cả ngàn quỹ đầu tư mạo hiểm tại Hoa Kỳ đã đóng góp cho sự thành công của Silicon Valley và Erlich muốn tìm cách hấp dẫn họ đến Israel. Chương trình Yozma bắt đầu vào năm 1993 thông qua quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tiên của mình, Yozma I. Xuất phát từ một ý tưởng của chính phủ nhằm thúc đẩy đầu tư mạo hiểm tại Israel, Yozma I đã làm biến đổi cảnh quan trong nước của các đầu tư cổ phần tư nhân. Được thành lập với ngân sách ban đầu là 100 triệu USD vào năm 1993, Yozma I đã thành lập 10 quỹ đầu tư mạo hiểm (venture capital fund), đóng góp lên đến 40% của tổng vốn đầu tư. Phần còn lại được cung cấp bởi các nhà đầu tư nước ngoài bị hấp dẫn bởi bảo hiểm rủi ro. Còn có một quỹ 20 triệu USD để dành riêng đầu tư trực tiếp cho các công ty công nghệ. Như đã nói ở trên, điểm sáng trong Chương trình Yozma là nhằm
  49. thu hút các nhà đầu tư nước ngoài qua việc “mời chào” các loại ưu đãi thuế hấp dẫn đối với bất kỳ khoản đầu tư mạo hiểm của nước ngoài ở Israel và hứa hẹn tăng gấp đôi bất kỳ đầu tư nào bằng các quỹ của chính phủ. Theo đề xuất của Chương trình Yozma, nếu các hãng đầu tư mạo hiểm huy động được 16 triệu USD thì sẽ nhận được tám triệu USD của chính phủ. Tuy nhiên, độ hấp dẫn thực sự của Chương trình Yozma đối với các quỹ đầu tư mạo hiểm nước ngoài là cơ hội tăng giá được tích hợp trong chương trình. Cụ thể là chính phủ sẽ giữ 40% cổ phiếu của quỹ, nhưng sau 5 năm nếu quỹ thành công, thì đối tác được quyền mua lại số cổ phiếu đó với giá rẻ cộng thêm lãi xuất hàng năm. Đây là một phần thưởng kép: thứ nhất là chính phủ chịu chia sẻ rủi ro nếu dự án thất bại, và thứ hai là nếu dự án thành công thì nhà đầu tư lại được nhận thêm phần thưởng như đã nói trên. Với một cơ hội đầu tư nhiều ưu đãi như thế, các nhà đầu tư mạo hiểm nước ngoài đã không còn gì phải đắn đo. Chín trong số 15 công ty được Yozma I đầu tư đã ra IPO (Initial Public Ofering – Phát hành lần đầu ra công chúng) hoặc đã được mua lại. “Năm 1997, chính phủ đã nhận lại đầu tư ban đầu với lãi suất 50% và các quỹ đầu tiên đã được tư nhân hóa,” bà Berry nhớ lại. 10 quỹ Yozma I được tạo ra trong khoảng thời gian từ năm 1992 đến 1997 huy động được hơn 200 triệu USD với sự giúp đỡ từ quỹ của chính phủ. Những quỹ này đã được mua lại hoặc tư nhân hóa trong vòng năm năm, và ngày nay chúng quản lý gần ba tỷ USD tiền vốn và hỗ trợ hàng trăm công ty khởi nghiệp Israel. Yozma I như một que diêm nhỏ đã làm thổi bùng lên một ngọn lửa lớn. Một báo cáo gần đây của OECD về đổi mới đã gọi Yozma là “chương trình thành công và độc đáo nhất trong lịch sử dài hơi của Israel về chính sách đổi mới.” Với sự ủng hộ của các nhà đầu tư nổi tiếng của Mỹ, châu Âu và Israel, Chương trình Yozma đã cho ra đời quỹ thứ hai, Yozma II, bắt đầu hoạt động vào tháng Chín năm 1998 và quỹ thứ ba, Yozma III vào năm 2002. Yozma II & III tiếp tục chiến lược thành công của Chương trình Yozma trong việc đầu tư trực tiếp vào các công ty công nghệ và đóng một vai trò quan trọng như là một nhà đầu tư giá trị gia tăng bằng cách tuyển dụng các nhà quản lý cấp cao, xây dựng các chiến lược kinh doanh, huy động các dòng vốn bổ sung và thu hút các nhà đầu tư chiến lược và tài chính cho các công ty đầu tư của mình. Yozma quan tâm đầu tư vào những công ty công nghệ trong những lĩnh vực mà Israel đã chứng minh là đứng đầu thế giới.
  50. Chương trình nhắm vào các công ty tăng trưởng cao trong các lĩnh vực truyền thông, công nghệ thông tin và khoa học đời sống. Với thành công của Chương trình Yozma, từ năm 1991 đến năm 2000, các kinh phí đầu tư mạo hiểm hàng năm của Israel, hầu hết là tư nhân, tăng gần 60 lần, từ 58 triệu USD lên đến 3,3 tỷ USD. Số công ty ra đời nhờ vốn huy động từ các quỹ đầu tư mạo hiểm Israel tăng từ 100 lên 800. Doanh thu công nghệ thông tin của Israel tăng từ 1,6 tỷ USD lên 12,5 tỷ USD. Vào năm 1999, Israel đứng thứ hai chỉ sau Hoa Kỳ trong vốn cổ phần tư nhân trong tỷ lệ phần trăm của GDP. Israel cũng dẫn đầu thế giới về sự đóng góp của đầu tư mạo hiểm công nghệ cao đối với tăng trưởng với con số không ngờ là 70%. Theo OECD, Israel cũng được xếp hạng đầu trên thế giới trong chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển (R&D) theo tỷ lệ phần trăm của GDP. Ngành đầu tư mạo hiểm của Israel đã đóng một vai trò quan trọng trong giai đoạn bùng nổ công nghệ vào những năm 1990. Nhưng vào năm 2000 ngành công nghệ Israel bị đe dọa từ nhiều phía: bong bóng công nghệ toàn cầu vỡ, Tiến trình Hòa bình Oslo chấm dứt với sự thất bại của Hội nghị Thượng đỉnh Trại David năm 2000, sự bùng nổ của Intifada thứ hai với một làn sóng đánh bom tự sát ở các thành phố Israel tạm thời xóa sổ ngành du lịch. Từ năm 1996 đến 2000, xuất khẩu công nghệ của Israel đã tăng hơn gấp đôi, từ 5,5 tỷ USD đến 13 tỷ USD. Khi bong bóng công nghệ vỡ, kim ngạch xuất khẩu giảm nhẹ xuống gần 11 tỷ vào năm 2002 và 2003, nhưng rồi tăng vọt lên 18 tỷ USD vào năm 2008. Cũng trong năm 2008, đầu tư mạo hiểm của Israel đứng ở mức 1,9 tỷ USD – tăng 19% so với năm trước đó. Có thể nói rằng cỗ máy công nghệ cao của Israel chậm lại không đáng kể dù bị tác động bởi nhiều yếu tố tiêu cực trong giai đoạn 2000 đến năm 2004. Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2010 cũng ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng sẵn có của vốn đầu tư mạo hiểm nội địa. Trong năm 2009, có 63 vụ sáp nhập và mua lại trong thị trường Israel với tổng trị giá 2,54 tỷ USD; thấp hơn 7% so với mức năm 2008 (2,74 tỷ USD), khi 82 công ty Israel đã được sáp nhập hoặc mua lại; và thấp hơn 33% doanh thu của năm 2007 (3,79 tỷ USD) khi 87 công ty Israel đã được sáp nhập hoặc mua lại. Năm 2009 và 2010 là hai năm mà khủng hoảng tài chính toàn cầu đang trong tình trạng đen tối nhất. Theo số liệu của Trung tâm Nghiên cứu IVC (Israel Venture Capital Research Center), các quỹ đầu tư mạo hiểm của Israel huy
  51. động được 796 triệu USD trong năm 2011, sau khi không huy động được gì trong năm 2010, và chỉ 256 triệu USD trong năm 2009, ít hơn 76% so với năm 2008. Con số “0” trong năm 2010 chính là đỉnh điểm của khủng hoảng tài chính thế giới 2007-2010. Các số liệu thống kê gần đây nhất cho thấy các quỹ đầu tư mạo hiểm Israel huy động được 607 triệu USD trong năm 2012. Những số liệu trên đây cho thấy năm 2011 là năm Israel đã thoát ra khỏi khủng hoảng. Các quỹ đầu tư mạo hiểm của Israel đã đầu tư 525 triệu USD vào các công ty của Israel trong năm 2011, tăng 42% so với năm 2010, và tăng 28% so với năm 2009; đóng góp 25% trong tổng vốn đầu tư của Israel, thấp nhất trong thập niên qua, khi tỷ lệ trung bình là 40%. Trong năm 2011, 546 công ty công nghệ cao của Israel đã thu hút 2,14 tỷ USD, tăng 70% so với 1,26 tỷ USD trong năm 2010, và tăng 91% so với 1,2 tỷ USD trong năm 2009. Khu vực Internet đã thu hút phần lớn nhất của những đầu tư lần đầu trong thập niên qua, với 482 triệu USD hoặc 23% tổng vốn huy động, tiếp theo là khu vực truyền thông với 432 triệu USD hoặc 20%, và khu vực phần mềm với 415 triệu USD hoặc 19% tổng vốn huy động. Các ngành khoa học đời sống cũng thu hút sự chú ý của nhà đầu tư với 13% vốn huy động trong năm 2011 hay 75 triệu USD. Trong lịch sử, sự phát triển của ngành đầu tư mạo hiểm của Israel đã trải qua sáu chu kỳ dựa trên quỹ huy động theo những năm vintage(1) bắt đầu vào năm 1992 và đạt đỉnh điểm vào năm 2000, khi trên 2,8 tỷ USD đã được huy động. Trong chu kỳ thứ sáu hiện tại bắt đầu vào năm 2011, cùng với ba chu kỳ trước đó (từ năm 2000), các quỹ đầu tư mạo hiểm của Israel đã thu hút được 10,7 tỷ USD, gần 73% của 14,7 tỷ USD đã được phân bổ riêng cho các khoản đầu tư vào công nghệ cao của Israel giữa những năm 1992 và 2011. Trong 10 năm (2003-2012), các quỹ đầu tư mạo hiểm của Israel tổng cộng đã thu hút 6,77 tỷ USD. Vốn có sẵn cho đầu tư của các quỹ đầu tư mạo hiểm Israel vào đầu năm 2013 đạt xấp xỉ 2,1 tỷ USD. Trong số này, 484 triệu USD (23%) được dành riêng cho các khoản đầu tư ban đầu và phần còn lại dành cho các đầu tư tiếp theo. Trong vài năm qua, ngành công nghiệp công nghệ cao của Israel
  52. đã trở nên toàn cầu hơn về đầu tư với dòng vốn đáng kể được thu hút từ các công ty đầu tư mạo hiểm nước ngoài. Đầu tư cao kỷ lục vào các công ty Israel trong năm 2011 cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài đang tiếp tục tìm thấy sự hấp dẫn của thị trường Israel, một xu hướng hy vọng sẽ tiếp tục trong các năm tiếp theo. Theo khảo sát mới nhất của IVC, trong năm 2011 các công ty của Israel đã thu hút đầu tư được 2,14 tỷ USD, 25% trong số đó đến từ các quỹ đầu tư mạo hiểm của Israel. Phần còn lại đến từ các nhà đầu tư Israel và nước ngoài khác. Ngành đầu tư mạo hiểm của Israel hiện có khoảng 70 quỹ đầu tư mạo hiểm đang hoạt động, trong đó có 14 nhà đầu tư mạo hiểm quốc tế có trụ sở văn phòng tại Israel. Ngoài ra, có khoảng 220 quỹ quốc tế, bao gồm cả Polaris Venture Partners, Accel Partners và Greylock Partners, không có chi nhánh tại Israel, nhưng vẫn tích cực đầu tư vào Israel thông qua các chuyên gia trong nước. Ngày hôm nay, các quỹ khởi nguồn từ Yozma đã tạo thành xương sống vững chắc của thị trường đầu tư mạo hiểm Israel. SILICON WADI Silicon Wadi (“Thung lũng Silicon”) là một khu vực có mật độ cao các ngành công nghiệp công nghệ cao nằm trên vùng đồng bằng ven biển Israel, tương tự như Silicon Valley ở California của Hoa Kỳ. Silicon Wadi được coi là đứng thứ hai về tầm quan trọng trên thế giới chỉ sau đối tác Silicon Valley ở California. Khu vực này bao phủ phần lớn diện tích của Israel, nhưng đặc biệt tập trung trong các vùng xung quanh Tel Aviv bao gồm các cụm nhỏ xung quanh các thành phố Ra’anana, Petah Tikva, Herzliya, Netanya, thành phố hàn lâm của Rehovot và láng giềng Rishon Le Zion. Ngoài ra, các cụm công nghệ cao có thể được tìm thấy ở Haifa và Caesarea, và gần đây ở Jerusalem và các thị trấn lân cận gần Tel Aviv. Silicon Wadi của Israel là một cách nói chơi chữ dựa theo tên gọi Silicon Valley của California, ở một khía cạnh nào đó cũng giống như một lời thách thức với người bạn đối tác Hoa Kỳ, xem ai sẽ thắng ai trong cuộc chạy đua công nghệ toàn cầu. “Wadi” trong tiếng Ả Rập có nghĩa là một thung lũng hoặc lòng sông khô, cũng thường được sử