Bàn về tiểu thuyết của Khái Hưng (Phần 2)

pdf 55 trang ngocly 90 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bàn về tiểu thuyết của Khái Hưng (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfban_ve_tieu_thuyet_cua_khai_hung_phan_2.pdf

Nội dung text: Bàn về tiểu thuyết của Khái Hưng (Phần 2)

  1. Chương IV NHỮNG CÁCH TÂN TRONG NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT CỦA KHẢI HƯNG I. SỰ VẬN ĐỘNG CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX. Tiểu thuyết là thể loại nảy sinh và được nuôi dưỡng bởi thời đại mới, nó thân thuộc sâu sắc với thời đại ấy. Một thời đại, mà những điều kiện vật chất như nghề in xuất hiện, và điều kiện tinh thần là tiền đề dân chủ xã hội bước đầu có sự giải phóng cá nhân, gắn liền với sự xuất hiện của giai cấp tư sản. Đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam đã có những tiền đề cơ bản để có thể xuất hiện thể loại tiểu thuyết. Có nhiều định nghĩa về thể loại tiểu thuyết. Một quan niệm khá gọn và rõ của Galaiev thì : “Tiểu thuyết là một hình thức tự sự lớn mô tả đời sống riêng của con người trong mối quan hệ rộng lớn của xã hội" [47, 224]. Theo Bakhtin: "Tiểu thuyết là loại văn chương duy nhất luôn luôn biến đổi, do đó nó phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn, nhạy bén hơn sự chuyển biến của bản thân hiện thực" [4,27]. Và “Tiểu thuyết là sản phẩm tinh thần tiêu biểu nhất cho thời đại mới của lịch sử loại người là thành quá rưc rỡ có giá trị như một bước ngoặt nhảy vọt thực sự vĩ đại của hàng ngàn năm văn chương thế giới” [4, 8]. Giáo sư Nguyễn Văn Trung trong Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết thì cho rằng: Không có một thẩm mỹ học tổng quát bao gồm những tiêu chuẩn phổ biến cho mọi công trình xây dựng tiểu thuyết, vì bất cứ một thẩm mỹ học nào về tiểu thuyết cũng chi là một trong nhiều quan niệm thẩm mỹ học khác. Chúng tôi quan niệm sự suy nghĩ về nhưng yếu tố xây dựng tiểu thuyết như một công trình mô tả hiện tượng luận [202 - 69]. Trong mối tương quan với các thể loại khác, tiểu thuyết nổi bật lên ở khả năng phản ánh một cách toàn vẹn và sinh động hiện thực đời sống. Nó vừa có khả năng tải hiện những bức tranh mang tính tổng thể của xã hội, vừa đi sâu khám phá số phận cá nhân. Nửa đầu thế kỷ thứ XX, trên cơ sở sự biến chuyển của hình thái kinh tế xã hội và sự giao lưu văn hóa, văn nghệ phương Tây, phương Đông và nhiều thế kỷ văn học dân tộc, tiểu thuyết Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể: từ thể loại truyền thống sang tiểu thuyết hiện đại. Trong đó những năm 32 - 45 đánh dấu một bước ngoặt, một sự đột biến. Chúng ta dã có cả một truyền thống văn xuôi tự sự được tích lũy qua nhiều thế kỷ văn học như các truyện dân gian, các truyện truyền kỳ, truyện thơ Nôm, truyện Trạng, tiểu thuyết diễm tình, tiểu thuyết chương hồi về đề tài lịch sử và các truyện chữ Hán 70
  2. nói chung về đề tài sinh hoạt xã hội Trong đó, có một bộ phận truyện mà ta thường gọi bằng thuật ngữ tiểu thuyết cổ điển, đã tạo thành một thứ truyền thống tu duy tự sự, tư duy tiểu thuyết và không ít tác phẩm đánh dấu những bước tiến rõ rệt, như Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia Văn phải Truyền kỳ mạn lục thể hiện nỗi bất mãn trước hiện thực đương thời và nhằm giáo dục, đề cao lòng yêu nước, đề cao phẩm chất trinh tiết của người phụ nữ. Hoàng Lê nhất thống chí đi sâu miêu tả những nhân vật có tính cách, có cá tính rõ nét, cũng như những hoàn cảnh điển hình thể hiện sự tàn lụi không gì cứu vãn nổi của chế độ phong kiến Việt Nam ở nửa cuối thế kỷ thứ XVIII. Năm 1887, ở Nam kỳ xuất hiện cuốn tiểu thuyết đầu tiên là Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản. Sau đó là hàng loạt tiểu thuyết của Trương Duy Toàn (Phan yên ngoại sử - 1910), của Nguyễn Chánh Sắt (Nghĩa hiệp hồng duyên - 1910), của Hồ biểu Chánh (Cay đắng mùi đời - 1923, Nhân tình ấm lạnh - 1925) Ở miền Bắc, những năm đầu thế kỷ XX, tiểu thuyết mới dần dần xuất hiện: Tiền bạc bạc tiền của Nguyễn Bá Học, Cành hoa điểm tuyết, Cuộc tang thương của Đặng Trần Phất, Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, Cậu bé nhà quê của Nguyễn Lân, Nho phong của Nhất Linh Đây là những tiền đề nội sinh, là cơ sở của quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam. Ba mươi năm đầu thế kỷ XX, tiểu thuyết Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Nó phá vỡ khuôn khổ, quy ước của các loại truyện trong văn học truyền thống. Tư duy nghệ thuật của nhà văn uyển chuyển, tự do hơn. Tiểu thuyết dần dần chối bỏ những đề tài trung hiếu tiết nghĩa, tài tử giai nhân hướng tới những chuyện đời thường, đời tư, thế sự. Cốt truyện giản dị, gần gũi, thân thuộc, ít ly kỳ, ngoắt ngoéo, phản ánh những xung đột có thật trong đời sống xã hội. Nhân vật được coi trọng. Con người bình thường và thế giới nội tâm trở thành đối tượng miêu tả chính của nhà văn. Thời gian, không gian được mở rộng, đa chiều, không nhất thiết tuân theo trình tự trước sau. Kết cấu mở, đa dạng. Ngôn ngữ gần với đời sống thường nhật. Điểm nhìn trần thuật linh hoạt hơn, người kể chuyện hoán vị ở các ngôi khác nhau chứ không độc quyền thống lĩnh như trước. Những năm 1932 - 1945 đánh dấu một bước ngoặt trong tiến trình hiện dại hóa tiểu thuyết Việt Nam. Những dấu hiệu đổi mới thật rõ nét, và khá triệt để: từ quan niệm văn học, công chúng văn học, đến loại hình nhà văn, hệ thống đề tài, chủ đề, hệ thống nhân vật và ngôn ngữ nghệ thuật Tiểu thuyết Việt Nam ở chặng đường này vận động từ truyền thống sang hướng hiện đại ngày một rõ rệt và có gia tốc lớn. Nó ly tâm với nghệ thuật tự sự truyền thống, nhanh chóng hội nhập với tiểu thuyết hiện đại thế giới. Tự lực văn đoàn là nhóm cải cách đầu tiên và có đóng góp một phần quan trọng mở ra một thời kỳ mới cho vănhọc ta bước vào giai đoạn hiện đại. Các nhà văn Tự lực đã góp phần đáng kể vào quá trình hiện đại tiểu thuyết Việt Nam trong nhũng năm 30 của thế kỷ XX. Đến Tự lực văn đoàn tiểu thuyết đã trở thành thể loại trung tâm của nền văn học mới. Người ta chia ra các tiểu loại của tiểu thuyết như tiểu thuyết ái tình, trinh 71
  3. thám, xã hội, lịch sử, phong tục, tâm lý Theo hướng đi sâu vào tâm lý và cuộc sống xã hội cùng với sự cách tân văn xuôi tiếng Việt, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn quả là chững chạc và có nghệ thuật đáng chú ý hơn so với tiểu thuyết của nhiều nhà văn đương thời. II NHỮNG CÁCH TÂN TRONG NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT CỦA KHÁI HƯNG Cùng với Nhất Linh, Khái Hưng là một nhà văn có công rất đáng kể vào quá trình hiện đại hóa của tiểu thuyết Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Trong từng chặng đường của khoảng mươi năm sáng tạo, tiểu thuyết của nhà văn cũng có những biến chuyển. Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại (1942) cho rằng: mới đầu ông chủ trọng vào lý tưởng, rồi dần dần viết những tiểu thuyết tả thực về phong tục và sau có khuynh hướng về tâm lý tiểu thuyết. Ở miền Nam trước đây, một số nhà nghiên cứu như Doãn Quốc Sĩ, Tràng Thiên, Nguyễn Văn Trung, Thanh Lãng phân chia lịch sử phát triển của tiểu thuyết làm ba giai đoạn: ban sơ, truyền thống, hiện đại và cho rằng tiểu thuyết thời tiền chiến cũng như tiểu thuyết của Khái Hưng và Tự lực văn đoàn đều thuộc loại tiểu thuyết truyền thống, tức là tương đồng với tiểu thuyết phương Tây thế kỷ thứ XIX. Chẳng hạn Thanh Lãng nhận xét: Một hiện tượng khác cũng đáng cho chúng ta chú ý là những văn sĩ mới của Pháp như Colette, Bernanos Duhamel, Mai.raux, Sartre, Saint-Exupepy, Camus, Giác không có ảnh hưởng gì đến tiểu thuyết Việt Nam của thế hệ 32 - 45. Thường nhưng tiểu thuyết gia để lại những ấn tượng đậm đà là những nhà văn của thế kỷ thứ XX ( ). Nói thế nghĩa là công nhận tiểu thuyết Việt Nam từ 1945 trở về trước còn là những kỹ thuật có điển. mi - 710]. Sau năm 1945, nhất là sau năm 1954, ở miền Bắc và thời kỳ đổi mới, các nhà nghiên cứu có xu hướng xếp tiểu thuyết của Khái Hưng và Tự lực văn đoàn vào khuynh hướng lãng mạn và cho rằng nó cũng không thuần nhất. Chúng tôi tán thành quan niệm: ở giai đoạn đầu (1932 - 1935) trong các tác phẩm: Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Tiêu sơn tráng sĩ, Trống mái, tiểu thuyết của Khái Hưng còn có phần đậm chất lãng mạn. Giai đoạn phong trào Mặt trận Dân chủ ( 1936 - 1939) các tác phẩm: Gia đình, Thừa tự, Thoát ly là những trang viết giàu chất hiện thực, và đến giai đoạn cuối (1939 - 1942) các tác phẩm: Hạnh, Đẹp, Băn khoăn lại mang nhiều màu sắc, khuynh hướng khác nhau của chủ nghĩa hiện đại phương Tây, thể hiện những tâm trạng Băn khoăn, day dứt của những người đang đi tìm lẽ sống và ý nghĩa của sáng tạo nghệ thuật. Tiếc rằng, con đường mà nhà văn Khái Hưng tìm tòi và lựa chọn đã không phù hợp với xu thế tất yếu của lịch sử nên cũng khó tránh khỏi những bi quan, bế tắc Tuy vậy, nhìn một cách bao quát trong suốt cả chặng đường sáng tạo của Khái Hưng, chúng ta thấy có nhiều tác phẩm, nhiều nhân vật trong tiểu thuyết của ông đã thể hiện rõ giá trị hiện thực, giá trị tiến bộ. Ở những tác phẩm, những trang văn thành công nhất, ngòi bút của nhà văn đã khai thác nhiều xung đột và chi tiết chân thực, khiến cho cốt truyện và nhân vật của ông được miêu tả khá sinh động, có sức sống. Nói tiểu thuyết của Khái Hưng có sự chuyển biến khuynh hướng sáng tạo như trên cũng là nói một cách tương đối, cũng là nói có 72
  4. sự chuyển biến về quan niệm con người và kỹ thuật diễn tả trong tiểu thuyết của ông. Đây là một vấn đề rất phức tạp. Tiểu thuyết là gây hứng thú cho độc giả, tiểu thuyết là phản ánh thể tại hay là suy tầm chân lý, là diễn tả những khắc khoải của tâm hồn? Cốt truyện là một truyện thuần lý đầu cuối ứng chiếu hay là một thứ phi lý, ngổn ngang, mâu thuẫn ? Ở đây, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát nhũng yếu tố. cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ trong tiểu tiểu thuyết của Khái Hưng, những yếu tố thể hiện rõ nhất những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết của nhà văn. 1. NHỮNG CÁCH TÂN TRONG CỐT TRUYỆN Tiểu thuyết là thể loại có cấu trúc mềm mại, uyển chuyển nhất. Thành phần cốt truyện của nó cũng chưa rắn lại. Theo ý nghĩa khái quát nhất, cốt truyện là những việc xảy ra, nhưng mỗi thời đại, mỗi xu hướng, mỗi nhà văn lại có cách lựa chọn và tổ chức cốt truyện theo một cách thể riêng. Có người lựa chọn, tổ chức, kết cấu câu truyện theo diễn biến thời gian tự nhiên có người tổ chức theo tâm lý, có người lại tổ chức "không có truyện nữa", chỉ gợi ra những sự kiện, biến cố, để độc giả tự sắp xếp, tự hiểu lấy Ở miền Nam trước đây, Doãn Quốc Sĩ trong Văn học và tiểu thuyết, đã đưa ra một cách hình dung về sự phát triển của cốt truyện trong lịch sử tiểu thuyết bao gồm bốn giai đoạn như sau: Vào thuở ban đầu, những truyện thần thoại, cổ tích (loại truyện truyền khẩu qua nhiều thời đại), cốt truyện gay cấn, hấp dẫn dàn trải lên bề mặt; những loại truyện giải trí phiêu lưu, trinh thám, kỳ tình về sau cũng vậy; sau đó cốt truyện chìm xuống thể nhập vào những nhân vật để giải thích chiều sâu những động cơ luân lý, xã hội, kể tiếp cốt truyện còn chìm xuống chiều sâu nữa để thể hiện con người suy tư đối diện với những vấn đề siêu hình. Cốt truyện, linh hồn của tiểu thuyết còn đó, chi biến thể đi thôi. Ai có thể quan niệm nổi một thứ tiểu thuyết không cốt truyện. Vậy mà việc đó đã xảy ra với trường phải tiểu thuyết Mới! [169, 248] Theo tác giả, cốt truyện trong tiểu thuyết của Khái Hưng và Tự lực văn đoàn thuộc loại "chìm xuống thể nhập vào nhân vật để giải thích những động cơ luân lý, xã hội'? Theo chúng tôi, Khái Hưng là nhà tiểu thuyết có nhiều sáng tạo và hiện đại hoá trong nghệ thuật xây dựng cốt truyện. Đó là một bước tổng hợp, cách tân nghệ thuật tự sự Việt Nam và phương Đông với nghệ thuật tiểu thuyết truyền thống và hiện đại của phương Tây mà trước hết là tiểu thuyết Pháp. Khảo sát cốt truyện trong những cuốn tiểu thuyết của nhà văn chúng tôi thấy nổi lên một số đặc điểm: 1.1. Cốt truyện được xây dựng theo lối mở Từ những năm 1932, 1933, trong những cuốn tiểu thuyết đầu tiên của mình và cũng là của Tự lực văn đoàn - Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân - Khái Hưng đã xây dựng cốt truyện theo lối mới. Ông dường như muốn chối bỏ những cốt truyện viết theo lối chương hồi, nệ cổ, vay mượn, khuôn sáo. Ông không lựa chọn những tình tiết ly kỳ, ngoắt ngoéo, những giải kết đột ngột, gay gắt, dồn dập. Truyện của tác giả giản dị, 73
  5. gần gũi, lấy từ cuộc đời thật, linh hoạt và có bố cục chặt chẽ, hợp lý. Đầu năm 1934, khi viết lời Tựa cho Vàng và máu của Thế Lữ, Khái Hưng đã phát biểu rõ quan niệm của mình. Ông cho rằng truyện phải "gần như thực", "trong truyện không sự gì đưa ra mà không hợp lý không một cái kết quả nào là không có nguyên nhân chắc chắn vững vàng”. Nhà văn không thể "dễ dãi quá", không thể "đem trí tưởng tượng ra mà bịa đặt cỏ khi không cần hợp lý chút nào" l75]. Và trong thực tế sáng tác, Khái Hưng đã nỗ lực xây dựng cốt truyện theo đúng tinh thần như vậy. Hồn bướm mơ tiên là truyện một cô gái vì trốn sự gả bán của gia đình mà đến nương nhờ cửa phật. Nhưng rồi cô lại yêu một cách say đắm giữa chốn từ bi. Dù vẫn mộ đạo phật, nhưng tâm trí cô vẫn lẩn sự đời Tiểu thuyết Nửa chừng xuân, Gia đình, Thừa tự, Thoát ly là truyện xung đột giữa phái trẻ và già trong các gia đình quyền thế. Thời thế đổi thay, các thế hệ bố mẹ, cha chú và con cháu không còn cùng chung một quan niệm sống nữa. Giữa họ, xung đột về tư tưởng, tình cảm, lối sống đã trở nên gay gắt, khó bề hàn gắn. Nửa chừng xuân là xung đột giữa cha mẹ và con cái, giữa trẻ và già về quan niệm hôn nhân và gia đình. Thoát ly và Thừa tự là xung đột giữa mẹ ghẻ và con chồng. Những người con chồng càng được thúc tỉnh về ý thức cá nhân, về quyền sống của con người thì mâu thuẫn ấy càng trở nên quyết liệt Gia đình là xung đột giữa tư tưởng sống tự do của lớp người mới với những định kiến, tập tục của lễ giáo và đại gia đình phong kiến. Như vậy, tiểu thuyết của Khái Hưng đúng là truyện và người của cuộc đời thật, là cảm nghĩ về cuộc đời thật, bình thường và giản dị, chứ không vay mượn, khuôn sáo, không ly kỳ, ngoắt ngoéo. 1.2. Cốt truyện đa tuyến, mở, không có hậu Cốt truyện trong tiểu thuyết của Khái Hưng đa tuyến, mở, không có hậu. Tác giả đã khéo xây dựng những tuyến phụ để vừa mở rộng dung lượng phản ánh hiện thực vừa thể hiện nhiều cách lý giải, cảm nhận cuộc sống. Trong Nửa chừng xuân, song song với truyện tình yêu giữa Lộc và Mai, nhà văn còn miêu tả cuộc tản tỉnh, gạ gẫm của Hàn Thanh, rồi tình yêu đơn phương của Minh và Bạch Hải đối với Mai , tất cả đã nói lên phẩm hạnh của người con gái này. Trong tiểu thuyết Gia đình, Khái Hưng đã miêu tả nhiều thế hệ, nhiều gia đình: có đại gia đình của ông án Báo, gia đình của bố mẹ Viết, gia đình bố mẹ Hạc, gia đình ông điều Vạn, có chú của An, có các gia đình của thế hệ con cháu, như gia đình của An - Nga, Phụng - Viết, Hạc - Bảo Trong đó, gia đình truyền thống đã rạn nứt, đã lỗi thời, không có hạnh phúc trọn vẹn, chỉ có gia đình mới, được xây dựng trên cơ sở tình yêu thương và sự làm việc mới có niềm vui và sự sung sướng. Trong Thoát ly bên cạnh xung đột, đấu tranh giữa Hồng với dì ghẻ (bà Phán Trinh), còn là xung đột giữa Luồng, Yến và bà Thông với dì ghẻ. Bên cạnh việc miêu tả thái độ đấu tranh tiêu cực, nhu nhược của Hồng nhà văn còn miêu tả thái độ đấu tranh kiên quyết, mạnh mẽ của vợ chồng bà Thông. Cốt truyện của Khái Hưng thường mở, không có hậu, không đem lại những kết thúc tốt đẹp hay trọn vẹn. Kết cục Hồn bướm mơ tiên không phải là Lan và Ngọc sẽ 74
  6. chung sống hạnh phúc bên nhau, Lan cũng không trốn lên miền thượng du, nàng say đạo phật hơn, nhưng tâm hồn vẫn vương vấn sự đời. Còn Ngọc, thì thề rằng sẽ không xàm xỡ mà "chân thành thờ ơ trong tâm trí, cái linh hồn dịu dàng của Lan" và " suốt đời ( ) không lấy ai, chi sống trong cái thế giới mộng áo của ái tình lý tưởng, của ái tình bất vong bất diệt" [1185, 59]. Trong Nửa chừng xuân, sau những ngày sai lầm, Lộc hối hận và đã tạ lỗi với Mai, nhưng nàng vẫn nhất định xa chàng, vì họ chọn "yêu nhau ở ngoài sự sum họp" [185, 2381]. Lộc đã nói với Mai: "Anh chỉ biết anh sẽ mãi mãi được sung sướng, vì anh tin rằng ngày ngày tháng tháng lúc nào em cũng âu yếm nghĩ đến anh, như thế cũng đã an ủi anh rồi Em ở xa anh nhưng tâm trí hai ta lúc nào cũng gần nhau, thì trọn đời hai ta vẫn gần nhau [1185, 241]. Các cuốn tiểu thuyết Tiêu sơn tráng sĩ, Trống mái, Gia đình, Thừa tự, Thoát ly, Hạnh, Đẹp, Băn khoăn, cũng đều có cốt truyện mở, không có hậu. 1.3. Cốt truyện chú trọng tâm lý Là nhà văn lấy miêu tả, khẳng định cái tôi cá nhân, cá thể làm cảm hứng chủ đạo, Khái Hưng thường xây dựng những cốt truyện chú trọng đến tâm lý. Tác giả không trú trọng tái hiện trực tiếp hiện thực đời sống, không trú trọng diễn tả những sự kiện, biến cố bên ngoài, không thuật kể theo thời gian tự nhiên mà theo diễn biến tâm lý. Câu truyện nhà văn trần thuật thương khơi sâu mạch cảm xúc trữ tình. Ông đi sâu miêu tả thế giới bên trong của nhân vật, thế giới cảm giác, cảm xúc phong phú của con người cá nhân trước thiên nhiên, cảnh vật, con người và với chính mình. Thuật kể những việc xảy ra, những cuộc đối thoại, nhà văn cũng thường nhấn mạnh đến những phản ứng bên trong của các nhân vật. Trong nhiều cuốn tiểu thuyết, xây dựng cốt truyện tác giả sử dụng kết cấu đi thẳng ngay vào những Băn khoăn, thắc mắc, gay cấn trong tâm lý của nhân vật, sau đó mới hồi cố, miêu tả quãng đời quá khứ của họ. Truyện của Khái Hưng thường mở đầu và kết thúc là những tâm trạng, cảm giác, cảm xúc diễn tiến câu truyện cũng là những tâm trạng, cảm giác, cảm xúc. Tác giả không kể trước sau tuần tự, không lan man thuật kể nhiều hành động, sự việc mà tập trung vào một vài sự kiện có tính cách tiêu biểu, nhờ thế cái nhìn của tác giả tập trung hơn, sâu sắc hơn. Ngay từ các cuốn tiểu thuyết ở thời kỳ đầu như Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Trống mái, Tiêu sơn tráng sĩ Gia đình, Thừa tự, Thoát ly đều là những cốt truyện chú trọng nhiều đến tâm lý. Đọc những truyện này của Khái Hưng ngày nay chúng ta không lấy làm lạ, nhưng ở thời đại của tác giả là cả một bước rẽ ngoặt so với truyện thơ Nôm thời trung đại và tiểu thuyết ba mươi năm đầu thế kỷ XX. Mở đầu Nửa chừng xuân là một chiều thứ bẩy, tảc cổng trường Bảo hộ, xuất hiện hình ảnh một thiếu nữ ngơ ngác, muốn vào trường nhưng còn "dùng dằng lo sợ", và thoáng trông đã thấy cô "có điều tư lự", sau đó tác giả mới hồi cố miêu tả cảnh ngộ mồ côi của chị em Mai. Tiếp thêm, nhà văn trần thuật dòng tâm tư của cô: Băn khoăn, lo lắng về cảnh ngộ, về cuộc đời, khi nhìn cảnh chiều xuân Tây hồ, khi tựa lan can xe lửa nhìn những con thuyền trên dòng sông Hồng; bẽn lẽn, sung sướng khi gặp Lộc và 75
  7. được Lộc giúp đỡ; lo lắng bế tắc khi không bán đặc nhà; vội vã theo Lộc ra Hà Nội; yêu mến, biết ơn, sẵn sàng lấy Lộc; cầu xin, van nài bà án để được chấp nhận kết duyên cùng Lộc; chung thủy, nhớ thương và tâm sự Băn khoăn không thể chung sống cùng Lộc. Truyện Trống mái cũng được thuật kể theo diễn biến tâm lý. Cùng mẹ vào Sầm Sơn nghỉ mát, cô Hiền, một gái mới, ham hoạt động, yêu thể thao, không có tư tưởng phân biệt đẳng cấp, đã rất buồn chán. Nhưng khi gặp Vọi, một chàng đánh cá có thân hình lực sĩ, Hiền thấy thích thú. Cô chú ý đến Vọi. Cô theo Vọi đi xem hòn Trống mái. Nhờ Vọi chở mảng đi tắm biển. Cô có những ý nghĩ, dự tưởng tảo bạo và lãng mạn về tình yêu và cuộc sống tự lập. Để tỏ ra là mình không có tư tưởng phân biệt đẳng cấp, Hiền đã mời Vọi đến dự tiệc trà, khiến Vọi trở thành trò chơi cho đám bạn bè của cô. Vọi tức giận bỏ về. Chàng buồn chán. Rồi sau khi Hiền trở về thành phố, Vọi tương tư và chết thảm hại, khiến cho Hiền ân hận, hối tiếc. Mở đầu tiểu thuyết Thừa tự là băn khoăn của Bình, Trình, Khoa về thái độ thay đổi đột ngột của bà Ba. Cuộc "chiến tranh" giữa hai phe: Bình, Trình, Khoa - con bà cả, bà hai và bà Ba tưởng chừng đã kết thúc hơn mười năm nay. Khi ông án Thân chết, các con đã trưởng thành. Bình con bà cả đã ra tri huyện. Trình, Khoa con bà hai cũng mỗi người có một cơ ngơi sống nhàn nhã, sung túc. Bà Ba sống riêng với con gái. Tưởng không ai làm phiền lụy đến nhau nữa. Nhưng nay bà Ba lại viết thư khẩn khoản mời Bình về quê có câu chuyện muốn bàn. Sau đó, tác phẩm mới đi sâu phanh phui âm mưu của bà Ba, và sự lục đục, bất hòa giữa hai gia đình Trình, Khoa. Đặc vợ chồng Bình phân tích phải trái, Trình, Khoa, Chuyên, Tính đã hòa giải và dứt khoát không nhận thừa tự. Tuy bà Ba cũng thực hiện được ý đồ là gả chồng cho cô Cúc, con gái bà, nhưng cô bị chồng và mẹ chồng hành hạ vì không đào được mỏ. Mấy cuốn tiểu thuyết tiếp sau là Hạnh, Đẹp, Băn khoăn tác giả không chỉ chú trọng mà dường như đã lấy diễn biến tâm lý nhân vật làm cốt truyện. Có thể coi đây là mấy cuốn tiểu thuyết tâm lý và đặc biệt có sự nới lỏng về cốt truyện. 1 4. Cốt truyện tâm lý được nới lỏng Ở giai đoạn cuối, quan niệm về cốt truyện của Khái Hưng có thay đổi rõ rệt. Cốt truyện của nhà văn vừa có xu hướng đi sâu vào tâm lý nhân vật, vừa có xu hướng nới lỏng. Ông quan niệm tiểu thuyết phải gần cuộc đời. Trước hết, theo tác giả, tiểu thuyết càng xếp đặt, bố trí khéo léo, chặt chẽ thì càng có nguy cơ xa rời cuộc sống. Qua nhân vật Nam trong tiểu thuyết Đẹp, nhà văn phát biểu rõ quan niệm của mình: Tôi định viết một quyển tiểu thuyết thực dày, dày ít ra là một nghìn trang chữ corps. Một quyển tiểu thuyết không có chuyện. Trong đó, tôi sẽ ném vào từng nắm việc thường xảy ra hàng ngày, và từng nắm tư tưởng lạt lẽo và đậm đà giả dối và thành thực, y như những việc làm, những lời nói ờ cửa hàng bán đồ nấu ( ). Còn chuyện, nếu có chuyện, thì tôi cho nó đi như nó đi, nghĩa là nó muốn đi thế nào mặc nó, quí hồ nó đến được chỗ kết cục [185, 899]. 76
  8. Xây dựng cốt truyện, nhà văn đi sâu vào trần thuật diễn biến tâm lý, đi sâu vào ý thức, những tác giả còn đi sâu vào cả thế giới tiềm thức, vô thức, những giấc mơ, ẩn ức những việc ngẫu nhiên. Cũng trong tiểu thuyết Đẹp, nhân vật Nam nói rõ ý định xây dựng một cốt truyện: Đại khái cốt truyện sẽ như thế này: một văn sĩ đương sống một đời bình thường, giản dị. Ấy là nói về bề ngoài. Còn bề trong thì chả đời một ai lại bình thường, giản dị hết. Có một tâm hồn phong phú, đáng lý văn sĩ tự cho là đủ. Nhưng văn sĩ vẫn Băn khoăn và luôn nghe có tiếng gọi xa xăm ở một cõi đời huyền ảo. Tiếng gọi một ngày một thêm thúc giục. Rồi một hôm văn sĩ choàng tỉnh: chàng thấy cái đời bình thường giản dị của chàng không đáng sống. Một đời thể chất đáng sống cho nghệ sĩ phải cân đối, phải xứng hợp với các tinh thần phong phú của mình. Nếu không cái phong phú bên trong sẽ bị ảnh hưởng của cái nghèo nàn bên ngoài mà có một ngày một trở nên tầm thường vô vị, rồi cũng nghèo nàn theo ( ). Vân sĩ của tôi sẽ tìm mới lạ trong sự biến đổi bề ngoài, sẽ tìm cảm hứng trong sự ngây ngất say sưa. Nhưng đi từ chán nản này đến chán nản khác, và thất vọng cứ ấn mãi chàng vào trong thất vọng. May mà chàng sẵn có một tâm hồn phong phú; và chính tâm hồn chàng trong một phút tự chủ đã cứu thoát chàng ra khôi cái đời hắc ám, cái đời nồng nực trong men rượu, và u mê trong khói thuốc phiện. [185, 931] Những cuốn tiểu thuyết, Hạnh, Đẹp, Băn khoăn, tác giả đã xây dựng cốt truyện theo đúng tinh thần như vậy. Cốt truyện tâm lý được nới lỏng hơn bao giờ hết. Truyện ở đây dường như không có chuyện. Sự việc thưa ít, hoạt động của nhân vật không nhiều. Tác giả dường như chỉ chú ý theo dõi, diễn tả mạch cảm xúc tuôn chảy trong tâm hồn các nhân vật, những cảm giác, suy nghĩ, liên tưởng, hồi ức, giấc mơ, ẩn ức Đấy là hành trình của thế giới bên trong phong phú, đa dạng, phức tạp khôn lường cứ kéo dài, cứ nới rộng ra. Nhân vật Hạnh (trong tiểu thuyết cùng tên), luôn có mặc cảm về sự bỏ rơi. Một lần bị tai nạn ngã xe đạp, ông bà chủ đồn điền Lâm đem chàng về nhà cứu chữa. Hạnh được sống trong căn nhà đẹp đẽ, ấm cúng, lại được bà chủ và cô em xinh đẹp chăm sóc, thuốc thang Sự việc chỉ đơn giản như vậy, nhưng trong lòng chàng đã mở ra bao nhiêu suy nghĩ, tưởng tượng, vấn vương, mơ tưởng Và cuối cùng, Hạnh lại phải đau đớn trở lại cuộc sống tẻ nhạt, bị bỏ rơi như khi xưa. Ở đây, truyện dường như bị nới lỏng ra bởi những diễn biến trong dòng tâm tư nhân vật mà tác giả thuật kể. Trong tiểu thuyết Đẹp, Khái Hưng kể chuyện của Nam, một họa sĩ yêu hội họa đến đam mê, nguyện hiến trọn cuộc đời cho nghệ thuật. Nhưng rồi chàng đã yêu và cưới Lan làm vợ. Đời sống gia đình đã đưa tình yêu nghệ thuật của chàng đi đến chỗ tiêu mòn và nếp sống phóng khoáng, tự do vào chỗ tù túng. Hành trình yêu, ghen, bực bội, chán nản của Nam và Lan đã độc diễn tả một cách rất tỷ mỹ, linh động. Băn khoăn thể hiện dòng tâm tư cùng những hành động nổi tiếp nhau của một người trí thức. Cảnh đang học hành chăm chỉ, giỏi giang, bỗng trong đầu chàng lởn 77
  9. vởn ý nghĩ: học cũng chẳng để làm gì, đỗ cũng chẳng để làm gì Thế là Cảnh cố ý thi trượt và lao vào cuộc sống ăn chơi hưởng lạc. Trong một kỳ đi nghỉ mát, Cảnh gặp Lan Hương. Chàng định dùng tiền tài, sự trẻ trung, lịch thiệp để chinh phục Lan Hương. Nhưng rút cuộc, Lan Hương lại chinh phục được chàng. Nhờ Lan Hương thuyết phục, nhờ đi thăm trại thanh niên, Cảnh đã phản tỉnh, và muốn làm một người có ích. Tuy vậy khi gặp Hảo, Cảnh lại sa vào cờ bạc, chơi bời, đến phải bán cả địa vị của cha cho và bị cha đuổi ra khỏi nhà. Ở đây, cốt truyện được nới lỏng mãi ra, chủ yếu theo những diễn biến tâm trạng của Cảnh. 1.5. Cốt truyện dung hợp Á - Âu Viết truyện Khái Hưng mong muốn "dung hợp được văn Thái Tây với văn á Đông", muốn gây một "lối văn viết theo óc khoa học mà vẫn giữ được vẻ thi vị “[73]. Ngay cả ở cốt truyện thì trong một số cuốn tiểu thuyết: Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Tiêu sơn tráng sĩ, Trống mái, Số đào hoa, Gia đình, Thừa tự, Thoát ly cũng có dáng dấp như vậy, tức là vừa giữ được vẻ thi vị của phương Đông, vừa viết theo lối khoa học của phương Tây, vừa giàu chất khái quát, tượng trung, vừa cụ thể, chân thục, gần gũi cuộc sống. Trong Hồn bướm mơ tiên tuy hoàn cảnh khác nhau, nhưng hình bóng của một người con gái đẹp nương nhờ nơi của Phật vừa khiến ta liên tưởng đến truyện Quan âm thị Kính, vừa là câu truyện cụ thể, chân thật, sinh động và lãng mạn về ái tình giữa đôi nam nữ thanh niên Lan và Ngọc ở chốn từ bi. Nửa chừng xuân vừa gợi ta nghĩ đến câu thơ "Nửa chừng xuân thoắt gẫy cành thiên hương", vừa thể hiện tình yêu của lớp người mới: trong sáng, nồng nàn, thi vị của Mai và Lộc đã đứt gánh giữa đường vì lễ giáo và đại gia đình phong kiến khe khắt, bảo thủ, lạc hậu. Trống mái vừa mang dáng dấp truyện Chử đồng tứ, Trương Chi, hay truyện "Công chúa yêu anh bán than”, nó mang lên ngàn cũng phải theo đi, vừa là truyện cô gái mới thành thị xinh đẹp, dễ tính, có lòng tốt đã khơi dậy những rung động âm thầm, nhớ nhung, tuồng tư và đưa đến cái chết thảm khốc cho anh chàng đánh cá ngây thơ, chất phác. Trong Thoát ly, sự tàn ác của người dì ghẻ làm ta liên tưởng đến truyện Tâm cám, đến câu ca: "Mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời dì ghé có thương con chồng”, nhưng cũng là câu chuyện chân thực, cảm động về cuộc đấu tranh giữa cô gái mới đã thức tỉnh quyền sống cá nhân, yêu thích cuộc sống tự do, tự lập chống lại sự áp chế, đầy đọa tàn ác của dì ghẻ. Phải chăng, nhờ tổng hợp truyền thống tự sự của dân tộc và phương Đông, với nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây đã làm cho tiểu thuyết của Khái Hưng trở nên gần gũi, quen thuộc, được đông đảo độc giả yêu mến và đón nhận. Như vậy, Khái Hưng đã có những cách tân đáng kể trong nghệ thuật xây dựng cốt truyện. Ông đã đoạn tuyệt với những cốt truyện viết theo lối chương hồi, khuôn sáo, vay mượn. Cốt truyện của ông cũng không ngoắt ngoéo, ly kỳ, không đặt trọng tâm ở tuyến sự kiện. Trái lại, trong tiểu thuyết của Khái Hưng, cốt truyện được xây dựng theo lối mới. Nó giản dị, gắn với cuộc đời thật, mở, đa tuyến, không có hậu, chú trọng 78
  10. đến nhân vật, dấn tâm lý nhân vật hơn là sự kiện, và đôi khi có sự dung hợp Á - âu. 2. NHỮNG CÁCH TÂN TRONG NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT. Nhân vật là một trong những thành tố, những yếu tố chính của tiểu thuyết. Nhưng cũng như các yếu tố khác, nó cũng rất mềm mại, uyển chuyển. Nó vẫn chưa "rắn lại". Mỗi nhà văn, nhất là các nhà văn lớn, thường có những cách xây dụng nhân vật riêng, mang nhưng nét độc đáo riêng. Theo chúng tôi, Khái Hưng cũng khá thành công trong xây dựng nhân vật. Tiểu thuyết của ông để lại nhiều hình tượng hấp dẫn và có sức sống. Cách xây dựng nhân vật của ông có những sáng tạo, mới mẻ, độc đáo, thể hiện một lối tư duy mới, khác biệt rõ rệt với nhân vật trong văn học thời trung đại. Nó không phải được miêu tả bằng những nét ước lệ, tượng trưng, bằng điển cố, điển tích, bằng khuôn mẫu, không chỉ chấm phá để cốt làm nổi thần thái nhân vật. Nó không độc phân thành tuyến rõ rệt: phản diện, chính diện. Những nhân vật chính diện thì tài sắc. Gái thì “hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh". Trai thì phong lưu anh tuấn hơn người, cầm kỳ thi họa, học vấn trác tuyệt, nếu phải ra trận thì bách chiến, bách thắng, sức dư muôn ngươi là nhưng trung thần thì ra tay lương đống, hay là những vị vua lúc đầu có thể sai sót nhưng kết thúc bao giờ cũng anh minh, sáng suốt. Hoặc là những nhân vật phản diện: gian ác, Hảo sắc, nham hiểm hại người, thông đồng với giặc, mưu lợi cầu vinh Nhân vật trong tiểu thuyết của Khái Hưng đã được xây dựng theo một kiểu tư duy nghệ thuật mới, thể hiện một cách cảm nhận mới và một lối diễn đạt mới. Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định vai trò mở đường và cách tân trong nghệ thuật tiểu thuyết của Khái Hưng và những người Tự lực. Chẳng hạn, Phạm Thế Ngũ nhận xét: "Đến đây (tiểu thuyết Tự lực văn đoàn - NVT) tiểu thuyết ta mới đạt tới những tính cách phân biệt một tiểu thuyết tân thức. "Các nhà văn trong Tự lực văn đoàn đã thành công trong kỹ thuật xây dựng nhân vật và có ý thức xem nhân vật là trung tâm của tác phẩm” [139, 447}. Đúng vậy, sáng tác của Khái Hưng ngay từ những cuốn truyện đầu tiên đã phân biệt rõ tính chất của một tiểu thuyết viết theo lối mới. Nhà văn đã không mượn chuyện, mượn người, mượn cảnh từ văn học Trung Hoa, đã chối bỏ lối tư duy khuôn sáo ước lệ Tiểu thuyết của tác giả đã đặt trọng tâm vào nhân vật chứ không phải cốt truyện. Nhân vật của Khái Hưng được mô tả trong mối liên hệ, tiếp xúc tối đa với đời sống hiện thực. Hình tượng nghệ thuật được diễn tả trong đời thường, đời tư, trong cuộc sống gia đình, nhưng vẫn giàu ý nghĩa xã hội. Nhìn một cách bao quát, trong suốt cả chặng đường sáng tạo của Khái Hưng, chúng ta thấy có nhiều nhân vật trong tiểu thuyết của ông đã thể hiện rõ giá trị hiện thực, giá trị tiến bộ. Ở những tác phẩm, những trang văn thành công nhất, ngòi bút của nhà văn đã khai thác nhiều cảnh ngộ, chi tiết chân thực, khiến cho nhân vật được miêu tả khá sinh động, có hồn, tạo được ấn tượng sâu đậm trong lòng độc giả. 2.1. Những quan niệm, những cách cảm nhận mới về con người Trước hết, tiểu thuyết của Khái Hưng đã thể hiện một quan niệm mới, một cách 79
  11. cảm nhận mới về con người. Nhà văn có những tìm tòi, khám phá, mô tả mô hình mới về con người. Nhân vật trong tiểu thuyết của tác giả đã mang một hệ thống giá trị nhân cách mới, rất đặc trưng cho tiểu thuyết của ông, và Tự lực văn đoàn. Không còn những ác lệ, công thức, không còn những nhân vật chức năng: trung, hiếu, tiết nghĩa Nhân vật của Khái Hưng có tư tưởng, tình cảm, cảm xúc, nếp sống và phẩm chất mới. Tác giả đã ý thức rất rõ nhiệm vụ của nhà tiểu thuyết “là chỉ tả ra những cảnh ngộ, những hình trạng, những tính tình của một xã hội, của một thời đại mà thôi" [185, 86]. Trong suốt hành trình sáng tạo, tác giả đã không ngừng tìm tòi, khám phá, miêu tả con người của thời đại ông. Là nhà văn trí thức tư sản Tây học những năm 30 của thế kỷ XX, tác giả có nhũng nhân vật của riêng mình với những sở trường và sở đoản. Sống dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, một số trí thức mới trong thời kỳ này đã nhận thấy sức mạnh của phương Tây. Họ thấy xã hội ta lạc hậu, Nho giáo suy tàn, dân ta cực khổ, lạc hậu, thất học, với quá nhiều mê tín dị đoan. Họ không bằng lòng với thực trạng xã hội. Họ nhận thấy muốn thoát khỏi cảnh lệ thuộc phải nâng cao dân trí, cải tạo xã hội. Nhưng họ không phủ nhận triệt để xã hội, không thấy cần thay đổi tận gốc rễ chế độ hiện thời. Họ muốn cải cách, cải tạo trong phạm vi pháp luật. Chính vì vậy, nhóm nhà văn thanh niên trí thức trong Tự lực văn đoàn đã dùng báo chí, văn chương, nghệ thuật và hoạt động xã hội để vận động cải cách xã hội trong khuôn khổ một nước thuộc địa. Các tác phẩm văn chương của họ đã đóng một vai trò không nhỏ trong tiến trình vận động cải cách xã hội. Họ mô tả cuộc đấu tranh mới cũ, tích cực cổ vũ quảng bá, nâng cao đời sống mới. Từ những quan niệm mới về con người, Khái Hưng cùng những nhà văn Tự lực không chấp nhận mô hình con người cũ, con người chức năng trong luân thường, con người sống với gia đình, họ hàng, làng xã, làm con hiếu, làm tôi trung. Đồng thời, thế vào đấy, nhà văn tập trung khám phá, mô tả, khẳng định mẫu hình nhân vật mới. Đó là những "nàng", những " chàng" trẻ tuổi, tân thời, học chữ Tây, hấp thụ văn minh châu âu, đòi tự do yêu đương, tự do kết hôn, cái đẹp trong cuộc sống âu hóa: cá nhân, tự do, hạnh phúc. Khái Hưng đã thành công khi xây dựng các nhân vật đại diện cho lễ giáo và đại gia đình phong kiến trong hàng loạt tác phẩm của ông. Với lập trường duy tân cấp tiến, với sự trải nghiệm cuộc sống trường giả, nhà văn đã khám phá, miêu tả được nhiều hình tượng khá tiêu biểu và linh động về con người cũ. Đó là nhũng hình tượng có giá trị hiện thực, giá trị phê phán khá sâu sắc, như nhân vật bà án trong Nửa chừng xuân, bà án trong Gia đình, bà Ba trong Thừa tự, bà Phán trong Thoát ly, v. v Tiểu thuyết của Khái Hưng cũng phê phán bọn cường hào, địa chủ, quan lại. Hàn Thanh là hình tượng một tên cường hào xuất hiện rất sớm trong tiểu thuyết của Khái Hưng và cũng tương đối sớm trong văn học. Hắn "giầu nhất trong hàng huyện và thứ nhì, thứ ba trong hàng tỉnh". Hắn chuyên hà hiếp người lương dân. Hắn là một con cáo già, không "bao giờ kém cạnh nước gì". Vì hiềm khích, hắn có thể sai đầy tớ đốt nhà người ta. Hắn vừa ngọt nhạt, vừa đe dọa Mai: "Nhà cô mà tôi đã không mua thì tôi đố đứa nào ở vùng này dám mua nổi. Không những thế, còn khốn khổ cực nhục với tôi 80
  12. nữa [185, 73]. Nhân vật Hàn Nghị trong Những ngày vui là một tên trọc phú vừa quê mùa vừa "có oai quyền, có thân thế”. Ông ta biết chắt bóp từng trinh, nhưng cũng biết tiêu phí hàng trăm, hàng nghìn. Ông ráo riết đối với bọn khốn khó đến nhà ông ta vay mượn, cầm cố, mua bán. Cũng như nghị Quế trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, mỗi vụ thuế là mùa hoa lợi mà Hàn Nghị gặt hái. "Thiên tai càng diễn ra, mùa màng càng kém, thì mùa cẩm bán của ông ta càng có nhiều lợi, gì ông ta càng dễ bóp chẹt kẻ túng bấn, trả rẻ bao nhiêu họ cũng phải để cho ông" [88, 35]. Vợ chồng Hàn Nghị cũng vừa đấm, vừa xoa để mua rẻ, cũng coi nó không bằng con vật (bà Hàn Nghị vừa dè bỉu, chê bai, vừa "vỗ vào cái bụng ông của con bé như người ta mua lợn ) [88, 391]. Ông nội của Cảnh trong Băn khoăn cũng là một cường hào, một trọc phú điển hình. Có thể nói, ông thuộc nòi cường hào cáo già như Bá Kiến của Nam Cao. Đối với ông ta câu tục ngữ "mật ngọt chết ruồi" rất phù hợp và “thường được công việc hàng ngày của ông” minh chứng. “Ông đã chiếm đoạt bao nhiêu ruộng đất của nông dân. Ông ta khôn ngoan lọc lõi, chính vì vậy mà ông ta lần lần đi tới địa bị lý trưởng, chánh tổng, rồi bá hộ, rồi hàn lâm, bà đã gây cái vốn hầu không có gì dần dần thành một tư bản hàng nghìn, hàng chục vạn. Không một việc gì có lợi mà ông ta không làm "dù công việc ấy bọn người chung quanh khinh là bần tiện, là nhơ nhớp" [185, 1065]. Trong tiểu thuyết Gia đình, Khái Hưng đã phê phán sâu sắc bọn quan lại dưới thời Pháp thuộc. Huyện Viết là một nhân vật tiêu biểu. Ngòi bút của nhà văn đã phơi bày bộ mặt xấu xa, tàn bạo của hắn: tham nhũng, hống hách, chạy chọt, cầu cạnh, nịnh nọt quan trên, xa hoa, trụy lạc Chính hắn đã tự thú nhận: Tàn ác lâu ngày đã thành thói quen. Buổi đầu khi nghe bọn thơ lại xúi giục chàng làm việc bất nhân thì chàng bứt rứt, áy náy, đắn đo, rụt rè, có lần hối hận suốt đêm không ngủ được. Nhưng dần dần chàng đã trở nên “can đảm” và giữ được “trơ như đá vững như đồng” khi đứng trước những Cảnh thương tâm, khi có những hành vi dã man, tàn ngược. Đến nỗi thấy bọn đồng nghiệp nào giữ gìn, hơi có lòng liêm sỉ thì chàng liệt ngay vào cái hạng giả đạo đức [185, 540}. Tuy ngòi bút của Khái Hưng không mạnh mẽ, sâu sắc bằng Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao, nhưng ôngviết sớm hơn và cũng có những đóng góp rất đáng ghi nhận. Chính vì những quan niệm, cảm nhận mới về con nợ, mà Khái Hưng đã xây dựng mẫu hình con người có khát vọng về quyền sống cá nhân, nếp sống âu hóa. Trước hết, đó là hình tượng những thanh niên trí thức, những người có quan niệm hôn nhân mới, những tình cảm và lối sông mới. Ngọc và Lan trong Hồn bướm mơ tiên là những người thanh niên mới, có tình yêu nồng nàn, trong sáng, thơ mộng và cao thượng. Mai Lộc trong Nửa chừng xuân, có quan niệm hôn nhân mới, tự do yêu đương, tự 81
  13. do kết hôn, bất chấp lễ giáo phong kiến hà khắc. Riêng Mai còn là một phụ nữ giàu nghị lực, biết làm chủ cuộc đời mình. Nhân vật Hiền trong Trống mái là một gái mới chán cuộc sống trường giả, đơn điệu, tù túng, khát khao vẻ đẹp khỏe khoắn và cuộc sống tự do, phóng khoáng, không phân biệt đẳng cấp. Hồng trong Thoát ly mơ tưởng cuộc sống tự lập, vợ chồng cùng nhau làm việc, yêu thương nhau, thoát khỏi ngục thất gia đình có người dì ghẻ giả dối, độc ác. An trong Gia đình vừa không hám danh, vừa yêu chuộng nếp sống tự do phóng khoáng. Chàng chẳng những thể hiện tình cảm với mẹ theo phong cách của người Tây, sắm sửa, bài trí nhà cửa cũng theo cách của người Tây, mà còn muốn thoát khỏi những ràng buộc của định kiến, tập tục nặng nề của cuộc sống đại gia đình. Làm quan đối với chàng không phải là danh giá, ước mơ, khát vọng, mà là khổ nhục, chán trường, vì phải tham nhũng, chạy chọt, luồn cúi Khái Hưng cũng chú ý miêu tả hình tượng người trí thế mới, những con nợ có sự cảm thông với nỗi khổ của dân quê và có ý thức và mộng tưởng cải thiện cuộc sống của họ. Cô Hiền trong Trống mái vừa không có tư tưởng phân chia đẳng cấp, vừa cảm phục tình hữu ái giai cấp của nhũng người dân chài. Cô cũng có tấm lòng cảm thông, giúp đỡ người nghèo, biết ân hận trước những việc làm không phải, gây hậu quả khôn lường của mình. Điển, Duy, Xuyến, Phương, Lan, Nga trong Những ngày vui cũng có thiện cảm với nỗi thống khổ của những người dân quê và có ý thức giúp đỡ họ. Trong tiểu thuyết Gia đình, Khái Hưng tập trung miêu tả cặp vợ chồng Hạc Bảo cùng một chí hướng đem hết súc lực, trí tuệ góp vào công cuộc cải thiện đời sống dân nghèo. Họ mong muốn làm sao để những người dân quê có công ăn việc làm, có đời sống vật chất và tinh thần khá hơn. Họ dùng tiền thu tô được vào việc mở đường, xây trường học, mở chợ phục vụ đời sống dân quê. Những ý tưởng, mộng ước, hành động cải tạo xã hội của các nhân vật địa chủ, trí thức của Khái Hưng tuy thể hiện rõ tư tưởng cải lương tư sản, không tưởng, ngày nay đọc lại không khỏi buồn cười, nhưng thái độ và dụng ý tốt của ông cũng cần được trân trọng. Không ít cuốn truyện của Khái Hưng đã thể hiện thái độ thi vị con người cá nhân, cá thể, nếp sống âu hóa. Nhưng cũng chính nhà văn trong tiểu thuyết của mình lại biểu thị nỗi băn khoăn, bế tắc trên hành trình tìm tòi mẫu hình con người lý tưởng của thời đại mình. Trong tiểu thuyết Hạnh, Đẹp, Băn khoăn tác giả miêu tả những con người không bị ràng buộc bởi lễ giao phong kiến và đại gia đình, được hoàn toàn tự do trong suy nghĩ, hành động, và lựa chọn cuộc sống của mình, nhưng cũng không có hạnh phúc. 2.2. Các khuynh hướng miêu tả nhân vật Khái Hưng quan niệm rất đúng là: trong tiểu thuyết "cái tầm thường, khó chịu 82
  14. không bao giờ ở cốt truyện. Nó chỉ ở tư tưởng, ở cách viết, ở nghệ thuật” [74]. Ông coi trọng "nhận xét sự thật mà tả ra" chứ không " tả theo sức tưởng tượng" [74] và "chỉ viết lên giấy những điều trông thấy, nghe thấy và những điều nảy ra trong thâm tâm" (75, 3). Tuy vậy, trong suốt chặng đường sáng tạo hơn mươi năm, nghệ thuật xây dựng nhân vật của Khái Hưng cũng có nhiều biến chuyển. Ở những mảng đề tài khác nhau, ở những thời điểm khác nhau, khuynh hướng, bút pháp của tác giả có những khác biệt rõ rệt. Khi miêu tả tình cảm yêu đương của tuổi trẻ, hay chương trình cải tạo xã hội, cải cách nông thôn của các trí thức Tây học, ngòi bút của Khái Hưng rất lãng mạn, thậm chí lãng mạn nhất Tự lực văn đoàn. Truyện của Khái Hưng “rất có vẻ tiểu thuyết”. Tư duy nghệ thuật của nhà văn thường tập trung khai thác những ác mơ, mộng tưởng, những tính cách khác thường, vượt lên trên cuộc sống hàng ngày. Ái tình của Lan và Ngọc cũng như của Mai và Lộc là ái tình thanh tao, lý tưởng, thơ mộng, nhưng cũng là ái tình không tưởng, chỉ có trong tưởng tượng của tác giả mà thôi. Những ý nghĩ của Ngọc về đại gia đình, về nhân loại và vũ trụ, và y nghĩ của Lộc đem hết nghị lực, tài trí ra làm việc cho đời, sẽ vì người khác mà sống, sẽ bỏ hết cái đời an nhàn, phú quí mà dấn thân vào cuộc đời gió bụi, hay niềm vui và những thành công dễ dãi trong cải tạo xã hội, cải tạo dân quê của vợ chồng Hạc Bảo, đều là không tưởng, nghe có vẻ kêu, những huênh hoang. Những, khi diễn tả những nhân vật đại diện cho lễ giáo phong kiến bảo thủ, lạc hậu, hay cuộc sống và tâm lý của tầng lớp tiểu tư sản trí thế thì ông lại rất hiện thực. Ngòi bút của nhà văn đã phản ánh cuộc sống khá sâu sắc, đúng đắn, với nhũng chi tiết, hình ảnh chân thực, thể hiện thái độ trung thực của nhà văn đối với cuộc sống. Có tác giả (Dương Thị Hương, trong luận án tiến sĩ, Nghệ thuật miêu tả tâm lý trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn) cho rằng: Nửa chừng xuân, Gia đình, Thừa tự, Thoát ly là những tiểu thuyết luận đề. Tính cách nhân vật trong những tác phẩm này là những quân cờ, những mô hình, công thổ chung của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn. Nó được xây dựng từ một chuỗi hành động thống nhất, một chuỗi hoạt động bên ngoài lặp lại một chuỗi chi tiết để làm sáng tỏ luận đề. Theo chúng tôi, thực ra không hoàn toàn như vậy. Tiểu thuyết của Khái Hưng không mang tính luận đề rõ nét như Đoạn tuyệt Lạnh lùng, Con đường sáng của Nhất Linh, Hoàng Đạo Trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan nhận xét: “Nửa chừng xuân còn có khuynh hướng về phong tục nữa”[136, 14], và ông xếp các cuốn Gia đình, Thừa tự, Thoát ly là tiểu thuyết phong tục. Thậm chí ông còn đánh giá: "Thừa tự vào số những tiểu thuyết phong tục có giá trị và rất hiếm trong lúc này" [136, 14]. Ở miền Nam trước đây, Dương Nghiễm Mậu cũng đánh giá: “Ở Cô Mai khác hẳn với cô Loan trong Đoạn tuyệt của Nhật Linh, khác với Duy trong Con đường sáng của Hoàng Đạo. Cô Mai của Khái Hưng người hơn, thực hơn, và chính vì thế nó gần gũi với con người”[185, 38]. Giáo sư Hà Minh Đúc cũng nhận định về Nửa chừng xuân: Trong nhiều trường hợp Khái Hưng miêu tả cảnh vật gần gũi tạo được không khí chân thực của đời sống với ngôn ngữ giản dị, cảm động ( ) tư tưởng chủ đề của tảc phẩm được triển khai trong một câu chuyện có nhiều Cảnh đời thực với những nhân 83
  15. vật có cá tính, bản sắc và số phận ( ). Khái Hưng đã miêu tả nhân vật bà án không sơ lược, đơn giản [1 85, 254]. Trong những lời giới thiệu khi tải bản các cuốn tiểu thuyết của Khái Hưng mới đây, các Giáo sư Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Nguyễn Hoành Khung còn khẳng định: Gia đình, Thừa tự, Thoát ly là những cuốn tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa. Thậm chí với Giáo sư Phan Cự Đệ, thì tiểu thuyết Đẹp cũng là như vậy. Ông viết: Mục đích của Khái Hưng trong tiểu thuyết Đẹp dường như không phải là lý tưởng hóa lớp nghệ sĩ lãng mạn. Tảc giả muốn làm sống lại một thế hệ những văn nghệ sĩ những năm bốn mươi, những "nhân vật thực trong xã hội hiện thời" với tất cả những mặt đẹp và mặt xấu, những nét đáng yêu và đáng ghét của họ, không bình luận, không phê phán [1185, 946]. Quả vậy, tính cách, tâm lý nhân vật trong những cuốn tiểu thuyết này đã được miêu tả chân thật, hợp lý. Là nhà văn Tây học, tiếp thu được văn hóa, văn học phương Tây, Khái Hưng đã coi trọng và biết quan sát. Hơn nữa, sinh ra trong một gia đình quan lại, Khái Hưng hiểu rõ mặt trái xấu xa và xung đột đầy bi kịch về tiền tài, quyền lực và nếp sống của những gia đình giầu có và quyền thế. Nhà văn đã khai thác nhiều chất liệu sống mà ông gần gũi, am tường ấy để xây dựng những câu truyện, những nhân vật nên nó sinh động, có hồn. Nhân vật của tác giả đặc miêu tả trong những mối quan hệ và xung đột có thật của đời sống. Tuy không giống như các nhà văn hiện thực, miêu tả nhân vật trong những quan hệ, những xung đột rộng lớn của hiện thực xã hội, Khái Hưng, cùng những nhà văn Tự lực văn đoàn thường chỉ miêu tả những bối cảnh gia đình, những mâu thuẫn trong phạm vi gia đình, nhưng do khéo khai thác những xung đột mang ý nghĩa xã hội của hiện trạng đương thời, nên tiểu thuyết của nhà văn cũng có giá trị hiện thực, giá trị tiến bộ đáng kể. Tác giả biết trình bày môi trường sống của nhân vật, biết trình bày cảnh ngộ bên trong của các gia đình đại phong kiến với những định kiến nặng nề, những tâm lý giai cấp thấm sâu vào máu thịt của mọi người, nên nhân vật của nhà văn cũng có ý nghĩa khái quát, ý nghĩa điển hình rõ nét. Tính cách nhân vật phát triển đúng theo chiều hướng chung của xã hội và hoàn cảnh sống của chúng. Tiểu thuyết của Khái Hưng đã diễn tả khá sinh động, linh hoạt nhiều loại nhân vật. Đó là những hình tượng đại diện cho tính chất lạc hậu, bảo thủ, của lễ giáo, đạo đức, tập quán phong kiến, đại diện cho bản chất tàn nhẫn, ích kỷ, xảo quyệt của bọn địa chủ, quan lại có tiền tài, quyền thế. Sở trường nhất của tác giả là diễn tả những nhân vật phụ nữ thuộc tầng lớp trên. Ngòi bút của nhà văn sắc sảo và tinh tế. Đó là những bà tuần, bà án, bà phán những con người mang nặng tư tưởng Nho giáo và tập tục lỗi thời. Họ nắm quyền hành trong các gia đình trường giả. Họ độc đoán, chuyên quyền, áp chế con, thậm chí cả chồng. Họ đày đọa, hành hạ con chồng. Họ nhỏ nhen, giả dối, hay ganh tỵ nhau, chèn ép nhau, nhưng lại muốn tỏ ra là hiền nhân, hiền mẫu Họ hám danh, hám tiền tài địa vị đến cạn hết tình thân, tình người. Những nhân vật: bà án trong Nửa chừng xuân, bà Phán trong Thoát ly, bà Ba trong Thừa tự, rồi bà án trong 84
  16. Gia đình, tuy hoàn cảnh, địa vị, hành động mỗi người một khác, nhưng đều là điển hình của giai cấp phong kiến và tiểu tư sản lớp trên. Khái Hưng đã khéo gợi được ở người đọc lòng công phẫn không những đối với một con người cụ thể mà còn đối với cả một nền luân lý, lễ giáo phong kiến hà khắc, bảo thủ, lạc hậu. Khái Hưng cũng rất thành công khi miêu tả lớp người mới, những nam nữ thanh niên trí thức - mẫu người đại diện cho trật tự xã hội tư sản. Họ là những ông tham, ông đốc, những sinh viên cao đẳng, những bác sĩ, nhà văn, họa sĩ, những thiếu nữ có học, trẻ trung xinh đẹp, duyên dáng, mỗi người một vẻ, nhưng đều có những quan niệm, những suy nghĩ mới, tình cảm mới, cảm xúc mới. Đặc biệt là nhà văn đã rất thành công trong miêu tả những thiếu nữ vừa mới lớn, những cô gái mới. Các thiếu nữ tân thời của Khái Hưng vừa có những tư tưởng mới: tôn trọng tự do yêu đương, tự do kết hôn, khao khát hạnh phúc gia đình một vợ, một chồng, có lý tưởng, có chí phấn đấu, vừa đẹp, thông minh, nhí nhảnh, dễ thương, lịch thiệp có thể trở thành những người vợ hiền, mẹ thảo Đến giai đoạn cuối của quá trình sáng tác, tiểu thuyết của Khái Hưng lại thể hiện rõ nét của khuynh hướng hiện đại. Ngòi bút của nhà văn hướng hẳn vào theo dõi nhân vật, miêu tả đời sống nội tâm, thể hiện những băn khoăn, thắc mắc, hoài nghi của con người cá nhân tảc cuộc đời đầy biến động, khai thác sâu vào những tầng ý thể vô thức, tiềm thức của nội tâm con người. Nó mới mẻ, phong phú hơn, song cũng phức tạp hơn. Những tác phẩm sau cùng của Khái Hưng (Hạnh, Đẹp, Băn khoăn) là những cuộc phiêu lưu của cái tôi cá nhân, của hưu thể vào thế giới thực của ái Linh hụt hẫng (chúng tôi sẽ phân tích kỹ hơn ở dưới đây). 2.3. Những vận động, biến đổi trong miêu tả tảm lý nhân vật Thành công nổi bật của Khái Hưng trong nghệ thuật tiểu thuyết, trong xây dựng nhân vật là miêu tả tâm lý. Độc giả, các nhà nghiên cứu, phê bình, nhiều thế hệ đã mến mộ và khen ngợi ông. Đương thời, từ rất sớm, Trần Thanh Mại đã đánh giá cao Hồn bướm mơ tiên ở một số phương diện, nhất là "cách phô diễn tâm lý của những vai chủ động" [120, 701]. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan, trong Nhà văn hiện đại cũng đề cao không tiếc lời: Hiện nay, nhà văn mà được nam nữ thanh niên yêu chuộng, được họ coi là người hiểu biết tâm hồn họ hơn cả, có lẽ chỉ có Khái Hưng". "Khái Hưng là nhà văn rất hiểu tâm lý phụ nữ. [36, 29] Các nhà nghiên cứu, phê bình: Nguyễn Văn Xung, Thanh Lãng, Phạm Thế Ngũ và Trường Chính, Bạch Năng Thi, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Nguyễn Hoành Khung cũng đều chú ý đến nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật của Khái Hưng. Đúng là, miêu tả thế giới nội tâm là thành công lớn, là bước tiến vượt bậc của thi pháp tiểu thuyết Khái Hưng. Tuy chưa đạt tới tầm cao của văn học hiện đại như một số nhà văn hiện thực tiêu biểu những năm sau đó (nội tâm nhân vật chưa thật có góc cạnh, có cá tính rõ nét, đôi khi theo tưởng tượng hơn là quan sát), song đây cũng góp phần vào sự mở đường, vào một bước tiến rất lớn của văn học đương thời. 85
  17. Qua từng thời điểm khác nhau, nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật của Khái Hưng cũng có những vận động, những biến đổi khá rõ. Nói chung, trong các cuốn tiểu thuyết ở thời kỳ đầu: Từ Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Tiêu sơn tráng sĩ, Trống mái, Số đào hoa, Những ngày vui cho đến Gia đình, Thừa tự, Thoát ly, tâm lý nhân vật được miêu tả chủ yếu vẫn hướng theo quan niệm cổ điển, truyền thống (chữ dùng của Giáo sư Thanh Lãng trong bảng lược đồ văn học). Tính cách, tâm lý nhân vật như là những gì đã được định hình sẵn, đang tồn tại. Đời sống nội tâm là thế giới bên trong thầm kín, nhưng có thể hiểu được. Nó là cái rõ ràng, hợp lý, có đầu, có đuôi Khái Hưng tin tưởng, tâm lý con người là hoàn toàn có thể hiểu được hiểu tường tận, rõ ràng. Chẳng hạn ông viết trong Nửa chừng xuân: "Người đàn bà, nhất là người yêu bao giờ cũng là một nhà tâm lý học trông rõ lòng người, như là trông vào trang giấy có chữ" [185, 201]. Khái Hưng quan niệm: nhân vật sống, hoạt động là nhân vật được xây dựng từ những chuyện giản dị, "những sự xảy ra hàng ngày, từ nhận xét sự thực mà tả ra, không cần những tình tiết ngoắt ngoéo, tối tăm, nhiều khi rất trẻ con"[75, 5]. Theo tác giả, muốn tả một cơn giận thì không những phải tả "hiện trạng của sự giận dữ", mà "muốn nó đầy đủ, ta phải hỏi lòng ta, ta phải hỏi ký ức ta xem khi ta tức giận thì ý nghĩ và tính tình ta ra sao, thì cảm giác ta ra sao, hơn thế, ta phải sống lại một cơn giận" [75, 6]. Chính vì quan niệm như vậy, mà Khái Hưng đã coi trọng việc quan sát, tìm hiểu, trải nghiệm. Ông miêu tả tâm lý nhân vật qua sự thấu hiểu những việc xảy ra, những suy nghĩ, cử chỉ, động tác, những lời đối thoại ở những thời điểm, hoàn cảnh khác nhau. Từ năm 1933, khi viết lời Tựa cho quyển Hồn bướm mơ tiên, Nhất Linh đã khen ngợi: "Tác giả không bàn luận lôi thôi: “ông khéo đem một vài nhận xét tinh vi, một vài việc xảy ra thích đáng để phô diễn tâm lý những nhân vật trong truyện [128, 10]. Trong Dưới mắt tôi nhà nghiên cứu Trương Chính cũng viết: Ông chú ý đến những ý nghĩ, cử chỉ, và sự biến đổi bên trong của nhân vật hơn là kình thức bề ngoài. Ông phân biệt rõ được các động cơ khác nhau, có khi mâu thuẫn nhau của một hành động, và làm cho ta thấy rõ được sự mâu thuẫn đó. Ông là một nhà văn quan sát kỹ và có một hiểu biết sâu sắc về tâm lý con người [136, 43]. Đúng vậy, trong Nửa chừng xuân, người đọc rất dễ nhận ra một nhân vật Mai trẻ trung, hồn nhiên, thơ ngây, trong sáng, nhân hậu ở đầu tác phẩm: "Mai ngước mắt nhìn lên, búp xuân non mơn man đầu cành. Cái cảm tưởng về xuân dịu dàng êm ái, khiến Mai họ cặp môi tươi thắm, mỉm cười với xuân, trong lòng chứa chan hy vọng [185, 84]. Nhưng khi nhìn con thuyền trôi mà "Mai thở dài lo sợ, vẩn vơ cho số phận chiếc thuyền con lại chạnh nghĩ vớ vẩn đến thân phận mình" [185, 91]. Rồi diễn biến tâm lý phúc tạp, tinh tế trong lòng người phụ nữ trẻ, lỡ dở tình duyên ở độ tuổi Nửa chừng xuân qua những cử chỉ, giọng nói, nụ cười thật rõ: Tay Mai cầm bức thư run lấy bẩy. Mặt Mai dần đỏ, rồi tái đi. Rồi cái giọng khàn khàn, ướt những nước mắt ( ) Mai gượng cười cúi xuống bế con lên hôn rất nồng nàn. Nàng có ngờ đâu rằng tình xưa còn ấm trong tình mẫu tử và cái hôn kia chi là 86
  18. hôn tiếc rẻ một quãng đời đã mất [185, 188 + 189]. Nhưng ở cuối chặng đường sáng tác, mà rõ nét nhất là ở các cuốn tiểu thuyết: Hạnh, Đẹp, Băn khoăn, tâm lý nhân vật lại được miêu tả như một quá trình, một diễn tiến đang hình thành, không ổn định. Nó không những là ý thức mà còn là tiềm thức, vô thức. Tâm lý nhân vật không những là cái có thể hiểu được, là cái có lý, hợp lẽ mà còn là những trạng thái mơ hồ, ngẫu nhiên, suy tư, ấn tượng, những giấc mơ, tưởng tượng, liên tưởng, ký ức chập chờn, khó hiểu, khó nắm bắt. Thực ra, ngay từ tiểu thuyết Tiêu sơn tráng sĩ, Trống mái, tính cách, tâm lý nhân vật đã được Khái Hưng miêu tả phần nào như một quá trình diễn tiến, biến đổi, khó lường trước. Trong tiểu thuyết Tiêu sơn tráng sĩ, các đảng viên chiến sĩ Tiêu sơn, vốn là con các cựu thần nhà Lê, họ tụ tập theo đuổi lý tưởng phò Lê, diệt Tây sơn, trả thù nhà. Ở đầu tác phẩm, họ là những tráng sĩ có chí khí, có khí phách, oanh liệt, tảo bạo Họ mang "tài lực của đảng anh hùng cố đoạt số mệnh bằng không thì chết [185, 354]. Nhưng ông vua bán nước lưu vong Lê Chiêu Thống cùng bọn tùy tùng đã chết thảm hại ở bên Tầu từ lâu. Bà hoàng phi họ Nguyễn buồn rầu, tuyệt vọng. Các cựu thần nhà Lê chỉ còn là một lũ mê tín, dị đoan, chán đời. Đảng Tiêu sơn bị đàn áp, tan rã, thất bại. Tửu lâu Bạch Phượng đã đóng cửa, các bạn đồng chí tan tác cả Trịnh Trực bị hành hình ở Kinh Bắc, Đào Phùng bị bắt giải về Phú Xuân, Lê Báo thành thật mộ đạo Phật như một nhà chân tu ở chùa Yên Tử, trấn Hải Dương Rất cuộc đảng trưởng Quang Ngọc cùng Nhị Nương, chán nản, kẻ xuôi, người ngược chờ thời. Còn Phạm Thái thì thành người bất đắc chí. Nhị Nương gặp lại người đồng chí của mình trên bờ sông Đáy chỉ thấy ông lớn tiếng: Ha ha! Chí lớn trong thiên hạ không đựng đầy một hồ rượu ( ).Ha ha hai chí lớn trong thiên hạ không đựng đầy hai con mắt mỹ nhân [185, 493]. Tâm lý, tính cách nhấn vật Vọi trong tiểu thuyết Trống mái cũng là một diễn tiến đột ngột, bất thường. Giáo sư Thanh Lãng nhận xét: "Vọi cái thời chưa gặp Hiền chỉ là một Vọi giả, che đậy, dồn ép, đang ngủ, giấu kín; Hiền đã đánh thức dậy cái Vọi đang ngủ và ghi nhận, qua cái mộc mạc, khô khan ấy, một cuộc bão tố đang nổi dậy"[III, 740]. Tâm trạng tương tư, ghen tuông của anh chàng đánh cá Vọi đã được nhà tiểu thuyết hiện đại Khái Hưng miêu tả khác rất xa anh chài Trương Chi trong truyện cổ. Tâm lý nhân vật chẳng những được miêu tả trên mặt phẳng, trên phương diện của ý thế mà với một sức tưởng tượng dồi dào, ngòi bút của nhà văn đã len lách vào tầng sâu của nội tâm con người. Ông miêu tả thật là cụ thể, sinh động những trạng thái ghen tuông, hụt hẫng, bâng khuâng, những ám ảnh, những liên tưởng Đến các cuốn: Hạnh, Đẹp, Bàn khoăn thì nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật của Khái Hưng dã chịu ảnh hưởng rõ nét của tiểu thuyết phương Tây hiện đại. Nó phong phú hơn, nhưng cũng phức tạp hơn. Tâm lý nhân vật đã trở thành đối tượng miêu tả trực tiếp của nhà văn. Ngòi bút của tác giả tập trung khám phá, mô tả, giải phẫu hành trình bên trong của cái tôi cá nhân chẳng những ở tầng ý thức mà còn len lách xuống tầng sâu của tiềm thức, vô thức, với rất nhiều biến thái tinh vi. Nhãn vật được miêu tả 87
  19. như một khơi gợi của giống ý thức, của thắc mắc, băn khoăn (như giống tâm tư của nhân vật Oanh trong Băn khoăn). Khi biến cố xảy ra trong gia đình (cả cha và anh đều yêu Hảo) thì Oanh cho rằng: "việc xảy ra ấy quá sức tưởng tượng của loài người. Oanh đã coi "Hảo như con yêu tinh hiện lên dương gian để phá hoại hạnh phúc của các gia đình đương sống bình tĩnh, đương sống yên vui ) [185, 1194]. Nhưng khi nghe tin Hảo vội vã lấy chồng thì nàng lại nghĩ : "Biết đâu rằng Hảo tốt", "em cư xử với chị Hảo thật khiếm lễ ( ), em phải xin lỗi mới được " [185, 1197]. Khái Hưng đã quan niệm: Sự thực thì lòng người ta không bao giờ giản dị, bằng phẳng được: nó lên xuống ngoắt ngoéo, quanh co đến nỗi chính mình cũng không theo nổi, không hiểu nổi ( ). Người đời toàn là nhân vật của Dostoievski cả. Có lúc người ta tốt, có lúc người ta xấu đã đành. Nhưng người ta khéo dàn xếp bề ngoài để trở nên một người nếu không tốt cũng bình thường sống trong khuôn khổ bình thường. Người ta sợ người đời chê cười và người ta sợ cả chính người ta, sợ lương tâm của chính mình, vì thế người ta không tự thú những tính tình quá táo bạo mà những người khác không dám có, không thổ lộ dù chỉ thầm kín với mình, những tư tưởng mà người đời cho là trái luân thường [185, 906]. Trong tiểu thuyết Hạnh, cái tính tình nhút nhát và mặc cảm bị bỏ rơi của nhân vật Hạnh được Khái Hưng miêu tả rất đúng và tuyệt hay. Hạnh là một người nhút nhát do hoàn cảnh gia đình và giáo dục tạo nên. Nhưng một biến cố đã làm xáo trộn tâm hồn chàng. Chàng ngã xe đạp và được ông bà chủ đồn điền Lâm hảo tâm đem về nhà cứu chữa. Được sống một buổi lạc vào cái sinh hoạt đầy đủ lịch sự, ấm cúng, trường giả của chủ ấp, sự chăm sóc của bà chủ và cô em đã khiến Hạnh xiết bao cảm động, sung sướng. Tâm chí chàng mê man bao nhiêu cảm giác, ám ảnh, bâng khuâng trước những lời nói, cử chỉ của họ. Từ biệt cái đồn điền và bà chủ đẹp, Hạnh vương vấn, tương tư, về cảnh và người thơ mộng đó. Chàng suy nghĩ vẩn vơ liệu những cử chỉ và ngôn ngữ của hai người ấy có ẩn giấu một tình cảm thầm kín với chàng chăng, và chàng đinh ninh có "nhiều cảm tình" lắm. Chàng mơ màng tưởng nhớ và đêm đêm, mỗi lần kẻo chăn lên cầm "Hạnh không sao không nhớ cái phòng ấm áp và hai người đàn bà xinh tươi ở nơi đồn điền. Rồi chàng nằm mơ mộng liên miên cho tới khuya mới ngủ được. Có khi trong giác chiêm bao, hai người đàn bà vẫn không rời chàng ra, đến tha thướt quanh quẩn bên chàng" [90, 711]. Một hôm, Hạnh trở lại đồn điền để tạ ơn. Nhưng qua cổng ấp, bà chủ không nhận ra chàng để mời vào. Bà ta đã quên rồi. Hạnh buồn rầu, chán nản, rồi “lại đi dạy học như thường" [90, 98]. 2.4. Các phương thức, biện pháp miêu tả tâm lý nhân vật Xây dựng nhân vật, miêu tả thế giới nội tâm, Khái Hưng thành công trong việc sử dụng những phương thức, những biện pháp diễn đạt mới. Tiến sĩ Lê Thị Dục Tú, trong luận án Quan niệm về con người trong tiểu thuyếtcủa Tự lực văn đoàn, qua ba tác giả 88
  20. Nhất Linh - Khái Hưng - Hoàng Đạo, đã nhận xét: Khảo sát tiểu thuyết Tự lực văn đoàn chúng tôi thấy nét độc đáo của họ trong việc thể hiện thế giới nội tâm là nêu lên hàng đầu thề giới. cảm giác của nhân vật. Thế giới cảm giác mới chính là nét khu biệt và là thành tựu nghệ thuật trong việc thể hiện nội tâm của nhà văn lãng mạn. Chính việc quan niệm thế giới nội tâm là thế giới cảm giác đã đổi thay thi pháp tiểu thuyết, thay đối điểm nhìn trần thuật của tảc phẩm [192, 64]. Giáo sư Nguyễn Văn Trung trong Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết cũng nêu lên đặc điểm nổi bật của các nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoạn trong kỹ thuật tiểu thuyết là trần thuật ở điểm nhìn gần. “Tức là nhà văn đứng ở ngoài mà nhìn nhân vật, nhưng là đứng gần, nghĩa là ở một vị trí ưu đãi của một người quen biết lâu dài thân thiết với nhân vật, do đó có thể hiểu sâu xa nhân vật hơn người ngoài, tuy nhiên vẫn là người khác, không phải đồng hóa vào chính nhân vật. Phần nhiều các nhà tiểu thuyết Việt Nam như nhóm Tự lực văn đoàn thường theo quan niệm này ( ). Tuy là một người đứng ở ngoài, các nhà văn ấy như là đứng đàng sau, bên cạnh tất cả các nhân vật đế hiểu một cách rõ ràng và tỷ mỉ những nguyên nhân, lý do, hành động và tất cả tư tưởng cùng ý nghĩ của nhân vật trong tác phẩm” [202, 150]. Khảo sát tiểu thuyết của Khái Hưng chúng tôi thấy trần thật ở điểm nhìn gần (như cách hiểu của Giáo sư Nguyễn Văn Trung) là đặc trung, là sở trường, là đóng góp lớn của nhà văn cho nghệ thuật tự sự và miêu tả nội tâm nhân vật. Miêu tả nhân vật và đời sống nội tâm, nhà văn sử dụng các phương thức, biện pháp rất phong phú, đa dạng. Ông miêu tả hành động, cử chỉ, suy nghĩ, diện mạo, ngôn ngữ đối thoại. Ông trình bày những trang tiểu sử, hoàn cảnh xã hội, gia đình và giáo dục. Ông miêu tả bản năng, huyết thống, nhưng đặc biệt nhất, là ông trần thuật ở điểm nhìn gần. Giáo sư Hà Minh Đức cũng đã nhận xét rất đúng về phương thức biểu hiện của các tác giả văn xuôi lãng mạn: Các tác giả văn xuôi lãng mạn thường vận dụng nhiều mạch cảm xúc trữ tình khác với miêu tả và tải hiện trực tiếp hiện thực cha đời sống. Theo dòng cảm xúc câu chuyện thường được tô điểm, nhân mạnh, thậm chí cường điệu để tạo nên nhiều khác biệt, nhiều tương phản gây ấn tượng rõ rệt với người đọc, dấu ấn của người biết với nhiều sắc thái khác nhau nhiều khi in đậm qua trang viết [3 7, 9]. Miêu tả nội tâm nhân vật trong tiểu thuyết của Khái Hưng có những lời nhận xét, giải thích trực tiếp rất đúng của nổi dẫn truyện, có miêu tả những việc xảy ra, những trang đối thoại sắc nét, nhưng đặc biệt nhất, nổi bật nhất và đặc trưng nhất là những mạch trần thuật ở điểm nhìn gần. Nhà văn như đứng rất gần, nhìn thấu nhân vật và kể lại. Ở đây, chỉ có một ít hiện thực đời sống, nhưng có bao nhiêu nghĩ ngợi, bâng khuâng. Đúng như nhận xét của tiến sĩ Lê Thị Dục Tú: có nhiều cảm giác, đặc trưng ở thế giới cảm giác. Nhưng theo chúng tôi, nhà tiểu thuyết Khái Hưng còn đi sâu miêu tả, trần thuật cả thế giới tiềm thức, vô thức, bản năng, huyết thống, những cái ngẫu nhiên, bất thường, rất khó nắm bắt của nhân vật nữa. Với lối trần thuật ở điểm nhìn gần, nhà văn đã tiến rất xa trong việc phanh phui đời sang bên trong của các nhân vật. 89
  21. Tác giả đã rất hứng thú nhìn, ngắm nhũng bí mật trong đời sống nội tâm con người. Nhìn sâu, nhìn kỹ và miêu tả một cách tỷ mỷ, tinh tế. Chẳng hạn, trong tiểu thuyết Trống mái, Khái Hưng đã miêu tả nỗi tương tư của Vọi rất linh động. Tác giả như biết hết tâm tư của nhân vật và thuật, kể lại. Thành phố biển cuối mùa nghỉ mát, vắng bóng cô Hiền, đã làm cho anh chàng đánh cá cảm thấy rất buồn: Rồi những người nghỉ mát lần lần rời Sầm sơn. Mới sang đầu tháng chín, bãi biển đã vắng ngắt. Năm nào, cảnh Sầm sơn cũng vậy, nào có chi lạ cho Vọi nhưng năm nay Vọi mới nhận thấy cái cảnh tiều tụy của thành phố hầu không người [89, 168j. Tuy vẫn đi biển cùng phương bạn, nhưng Vọi đã bị cô Hiền hút hết hồn: Nhưng cái lòng yêu nghề, cái vui sướng tung lưới ở ngoài biển rộng, cái ham thích mạo hiểm phiêu dạt lang thang mấy ngày trời trên làn sóng dữ, Vọi không còn nữa. Vui vẻ nhanh nhẹn, chàng trở nên buồn tẻ nặng nề. Trước kia chàng hay nói bông đùa với bạn nghề bao nhiêu, thì nay chàng lẩn thẩn ít lời bây nhiêu. Ai ai cũng nhận thấy rằng chàng đổi hắn tính nết [89, 168 + 169]. Chàng thơ thơ, thẩn thẩn trên bãi biển: Một buổi chiều Vọi thoái thác đau bụng, để hai em con nhà cậu lên máng đi thả lưới. Rồi khi máng đã ra xa, chàng lững thững đi từ đầu nọ đến đầu kia bãi Sầm Sơn'? Rồi "trong cái cảnh rực rỡ ánh sáng, Vọi ủ dũ như bông hoa tàn héo rũ bên hàng dậu [89, 169]. Một mảnh vỏ quả dừa khô trong hang đá cũng gợi lên trong trí nghĩ anh chàng đánh cá bao nhiêu kỷ niệm, hồi ức liên tưởng, êm đềm về một đoạn đời xưa. Hương vị nước dừa ngọt, dịu êm, thơm thơm như còn phảng phất đâu đây: Trong một kẽ đá, Vọi thấy có một mảnh quả dừa khô, liền cởi ra xem. Một Cảnh âu yếm êm đềm chợt về ra trước mắt Vọi: Hôm ấy cô Hiền bảo đưa đi coi dãy núi Đường Trèo. Khi trở về Hiền kêu khát nước. Tức thì Vọi chạy vào làng mua được một quả dừa đem đến. Không có cốc, có bát, Hiền phải cầm quá dừa dốc ngược nước vào miệng. Uống xong nàng cười ngất đưa cho còn lại cho Vọi. Trong đời Vọi thật không một lần nào Vọi được uống một thứ nước dừa ngọt và dịu nhu thế, phảng phất lẫn mùi thơm hơi thở và mùi phấn hồng bôi môi. Hiền toan cầm quả dừa hết nước ném xuống đồi. Nhưng Vọi ngăn lại, rồi lấy dao dựa bổ đôi ra, Hiền vui sướng Cầm một nửa gặm cùi ăn, còn nửa kia nàng đưa cho Vọi. Ăn xong Hiền giấu mảnh vỏ vào kẽ đá và bảo Vọi: " Để người nào lúc khát tìm thấy, thêm chảy nước miếng”. 90
  22. Vọi ngắm nghía mảnh vỏ dừa khô, trong lòng ngao ngán. Trời đã nhá nhem tối, chàng vẫn còn ngồi trên tảng đá như một pho tượng. Bỗng chẳng biết nghĩ gì Vọi bưng mặt khóc rưng rức [89, 175j. Một chiếc lá rơi vào trong lòng, cũng gợi lên bao nhiêu liên tưởng, xốn xang trong tâm thức Vọi: Một chiếc lá rơi vào lòng Vọi. Vọi cầm mân mê trong tay, tò mò ngắm nghía. Bỗng Vọi kinh hoàng kêu: Trời ơi ! Cô Hiề n ! Màu chiếc lá rụng đỏ như màu vỏ xò vừa nhắc chàng nhớ tới bộ áo tắm Hiền thường mặc. Tất cả cái thời kỳ tắm biển lại hiện ra rõ rệt, hiện ra với những cô thiếu nữ trắng trẻo, xinh tươi mà trong số đó, cô Hiền trắng trẻo xinh tươi nhất [89, 181] Và nhất là khi nghe tin cô Hiền lấy chồng: "Mặt Vọi tái đi thân thể Vọi run lẩy bẩy. " Vọi chậm chạp, lảo đảo, đi theo Phụng. Chàng cũng chẳng biết đi đâu. Tiếng phụng chàng nghe như trong giấc chiêm bao" [89, 187]. Nếu so sánh với anh chàng Trương Chi trong truyện cổ và nỗi tương tư của Vọi ở đây, chúng ta thấy tác giả đã nhìn sâu vào đời sống bên trong của nhân vật biết chừng nào, đã miêu tả cụ thể, sinh động biết chừng nào! Trong tiểu thuyết Hạnh, Khái Hưng cũng thuật kể cảm nhận của Hạnh về cảnh và người, khi tỉnh dậy trong nhà bà chủ đồn điền Lâm. Chàng thấy: "Người đàn bà nhỏ nhắn, vào trạc ba mươi tuổi. Da trắng hồng. Dưới đôi tay bán nguyệt, hai con mắt sáng ngời cười nhìn thắng vào mặt Hạnh, khiến mắt chàng lim dim lại. Và: " Hạnh nhớ cái cảm giác êm ấm lúc được bà chủ nâng đầu cho uống nước" [90, 33]. "Mùi nước hoa xức tóc đưa trí nhớ Hạnh tới một kỷ niệm gần hơn, âu yếm hơn: cái nâng đầu nhẹ nhàng trưa hôm trước của bàn tay mát trong làn không khí thơm tho" [90, 44]. Hay tâm trạng phức tạp, thầm kín của Lan và Nam sau ngày cưới cũng được Khái Hưng hiểu rất rõ và trần thuật lại: Nam làm gì thế? Lan hỏi và đi ra hiên, tay cầm chiếc áo pullover màu nâu tươi đương đan dở. Nam quay lại đáp: - Anh phơi nắng. Và chàng khôi hài nói tiếp: Anh phơi cho tư tưởng trong đầu anh khô , vì tư tưởng của anh ướt dề dề và lạnh ngắt". 91
  23. Lan mỉm cười âu yếm nhìn Nam. Nàng muốn bảo chồng: "Sao anh không sưởi nó ở trong lòng em?" Nhưng nàng không dám nói. Nàng thấy ý nghĩ ấy kiểu cách, tiểu thuyết chứ không phải nàng bẽn lẽn, thẹn thùng. Ở bên cạnh Nam nàng cảm thấy không một tư tưởng gì của nàng là táo bạo, là đáng ngượng ngùng. Nam cũng mỉm cười lặng lẽ nhìn vợ. Lan cho rằng hai người cùng có một ý nghĩ thân mật thầm kín. Nhưng lúc ấy Nam đương tự hỏi: nếu ta bảo Lan rằng Lan là cái nhà và ta là người thuê nhà đã ký một bán hợp đồng vĩnh viễn để ở cái nhà ấy, thì liệu Lan có giận, có cáu không?" Chàng ngắm nghía Lan và ví Lan với cái nhà còn mới nguyên, xây dựng do kiểu màu một kiến trúc sư thông minh. Cái nhà ấy chàng ở hết đời chắc cũng chưa một. Sự so sánh làm chàng nghĩ đến bạn lấy vợ từ thời trẻ tuổi. Hiện nay người chồng vẫn trẻ như xưa, tưởng chừng thời gian ngừng bước để chờ đợi chàng. Nhưng người vợ thì sau khi sinh luôn sáu bẩy bận chỉ còn da với xương, thịt đã tiêu tán hiện thành tương lai cả: Tương lai là lũ con. Nam cho đó là một cái nhà chóng nát, bởi thế bạn chàng thỉnh thoảng lại đi ngủ đêm ở những nơi khác. Ấm cúng hơn và mát mẻ hơn [185, 907]. Khái Hưng quả là đã biết khám phá nội tâm nhân vật, đưa ngòi bút di vào phanh phui, mổ xổ xẻ những khía cạnh tinh vi, sâu kín của đời sống tinh thần và đã biểu hiện độc một cách sinh động, rõ ràng, gợi cảm những tâm hồn lắt léo, phức tạp. Cũng cần phải nói thêm rằng: miêu tả đời sống nội tâm, tư duy nghệ thuật của Khái Hưng còn thể hiện một trình độ mới trong khả năng bao quát hiện thực. Nhà văn hay lựa chọn, miêu tả những nhân vật phụ, những nhân vật có khi tương đồng, có khi đối lập nhau để mở rộng phạm vi lý giải, đánh giá và phản ánh cuộc sống, để chủ đề tác phẩm, hay tính cách nhân vật chính được thể hiện sâu sắc tự nhiên hơn. Chẳng hạn, lòng chung thủy, tình yêu nồng nàn, lý tưởng của Mai trong tiểu thuyết Nửa chừng xuân được biểu hiện cụ thể, tinh tế nhờ các nhân vật Minh và Bạch Hải. Mỗi người có một kiểu yêu riêng: Minh thì cao thượng, không cố chấp. Bạch Hải thì vừa tài tử vừa ga lăng. Nhưng rút cuộc, cả hai đều không chinh phục được Mai, vì cô tôn thờ tình yêu lý tưởng: Em đã yêu anh Lộc thì suốt đời em không thể yêu ai được nữa. Trong tiểu thuyết Thừa tự, nhân vật bà mối (bà Hai) vừa đem đến cho tác phẩm một sen linh động, vừa góp phần bộc lộ tính cách keo cúi, bủn xỉn, nhưng biết cách sử dụng đồng tiền của bà Ba. Trong tiểu thuyết Gia đình, nhà văn miêu tả các cặp vợ chồng: bố mẹ Nga, bố mẹ Viết, bố mẹ Hạc rồi các gia đình An - Nga, Viết - Phụng, Hạc - Bảo để nhấn mạnh tính chất quyết liệt của cuộc đấu tranh mới - cũ, và sự tan rã, lỗi thời của mô hình gia đình cũ dựa trên nền tảng của tư tưởng Nho giáo. Trong tác phẩm Thoát ly, Khái Hưng cũng miêu tả các thái độ, cảm nhận khác nhau đối với âu hóa và " đời sống mới". Trong ngày hội sinh viên, có kẻ reo chơi ầm ỹ, có người vươn cổ thét gào. Có người cho là "hơn kém nhau chỉ ở chỗ trẻ trung và biết vui đùa”, có người cho là "thô bỉ quá", “lõa lồ đĩ thõa quá”, "người Bắc kỳ tiến, tiến đến chỗ suy đồi" mau chóng quá. Sự áp chế của dì ghẻ đối với con chồng cũng được tác giả miêu tả ở những thái độ khác nhau: có cách phản ứng cực đoan của Lương và Yến, có cách đấu tranh 92
  24. tiêu cực, đầu hàng dẫn đến cái chết thương tâm của Hồng, có cách chống đối quyết liệt của Hảo và bà Thông. Trong tiểu thuyết Băn khoăn, Khái Hưng cho thấy quan niệm sống của một lớp người mới trong một thực tại xã hội: cùng trong một bầu khí, một cảnh sinh hoạt, nhưng mỗi người một khác, dù họ cùng là thanh niên. Chẳng hạn, tư tưởng, nhân sinh quan của Cảnh, một thanh niên trí thứ tân học đã sa đọa, không có một căn bản vững chắc cho hành động, sống tự do buông thả hết sức Tây phương: Nhưng sang năm thứ ba một hôm như chợt lởn vởn trong đầu chàng câu hỏi: "Học để làm gì? Và đỗ để làm gì Rồi câu học trở nên ám ảnh ròng rã mấy tháng, ám ảnh kỳ cho khi nẩy ra câu trả lời mới thôi. Câu trả lời ấy là: "Học chẳng để làm gì ráo. Đỗ cũng chẳng lợi ích gì cho chàng". Rồi chẳng lý luận ẩm ỹ trong thâm tâm để tìm nguyên tắc, quan niệm, ý nghĩa của sự sống, của đời mình. Luận lý cho lúc đến một kết cục chán nản đau đớn, Sống không mục đích gì, đời là vô vị [185, l069]. Và kỳ cục hơn, chàng lấy làm sung sướng khi thi trượt: Cảnh tới trường cao đẳng trở về nhà, lòng hớn hở, trí thảnh thơi, chàng vừa đến xem bảng và không thấy có tên mình trong số người được vào vấn đáp kỳ thi tốt nghiệp trường luật. Chàng sung sướng nghĩ thầm: Nếu mình đỗ thì mình chẳng còn biết đời mình sẽ ra sao, sẽ xoay về ngã nào [185, 1064]. Đối với Cảnh "đời phải luôn luôn là một vườn thượng uyển đầy hoa và chim". Nhưng trong đám họ cũng có người tự nhìn rõ mình, tự vấn mình, và những người khác. Một giáo sư đã tự phán xét: Buồn rầu, Hoằng quay ra nghĩ đến mình. Chàng là người ghét chơi bời, nhất là ghét cờ bạc. Thế mà vì Hảo, chẳng một cuộc hội họp nào mà chàng không góp một chân. Đành rằng chàng chỉ đánh nhỏ và không cốt ăn thua như Hảo, nhưng cờ bạc bê tha thì vẫn là cờ bạc bê tha. Có lần ở trong lớp học chàng đã xấu hổ ngừng lại giữa một bài luân lý về cái hại cờ bạc! Chàng ướt mồ hôi, lạnh cả người như vừa phạm tội gian ác và được nghe tiếng dõng dạc tuyên án và chàng tự hứa, chàng quả quyết sẽ ngăn cản Hảo, không cho Hảo đi sâu vào con đường lầm lỗi ấy nữa. Nhưng lòng quả quyết, chí tới nhà, khi chàng gặp Hảo, là đã tan như ngói non" [185, 1140]. Nhưng cũng trong hoàn cảnh ấy, môi trường sinh sống ấy, có người chẳng những phê phán mà còn vạch ra một con đường. Đây là một đoạn đối thoại giữa Lan Hương và Cảnh. Anh Đoan em tệ quá, ai lại thân danh một ông thuộc trách nhiệm nặng nề trong tay mà chỉ nghĩ đến chơi bời thoả mãn, có thể cho thế là có tội với xã hội được. Cảnh kinh ngạc nhìn Lan Hương: Cô đạo đức lắm nhỉ! Không phải em đạo đức, nhưng thấy đám thanh niên sống không mục đích, hay cái 93
  25. mục đích độc nhất là sự chơi bời phóng đãng thì em ghê sợ cho họ quá, và tiếc cho họ nữa Những bực thanh niên trí thức như anh Đoan em mà chịu làm việc, làm việc với lòng tín ngưỡng thì hay biết bao, có ích cho đồng bào biết bao [185, 1103]. Khái Hưng còn miêu tả nhân vật, miêu tả nội tâm con người trong cái nhìn liên tục kểo dài tới mấy đời người. Đây là một cách miêu tả khá mới, lạ trong tiểu thuyết Việt Nam. Trong tác phẩm Gia đình, thái độ đối với lý tưởng của mẫu hình con người đại gia đình - học để ra làm quan được nhà văn miêu tả ở ba thế hệ: ông bà, cha mẹ, con cái Trong tiểu thuyết Băn khoăn, lối sống ồ ạt, mạnh mẽ, xa hoa, trụy lạc, phóng lãng của Cảnh được tác giả hình dung, giải thích có căn nguyên từ đời ông, đời cha."Cảnh xuất thân ở một gia đình đã hai đời cự phú. Ông nội chàng bắt đầu là một nông phu cần cù và thông minh, thứ thông minh khôn ngoan, lừa lọc của trời phú cho đám dân quê để họ có thể sống, hay, hơn thế, trở nên giàu có" [185, 1065]. Cha Cảnh là một người làm giầu và một người phóng lãng. Chính Cảnh đã tự giải phẫu bản năng của chàng như sau: Cảnh rùng mình tưởng tới các di sản tinh thần của nhà chàng. Ông chàng thuở xưa lấy tới sáu vợ và ngoài sáu mươi tuổi Còn say mê một cô gái quê mười tám. Cha chàng thì có một vợ thôi, và tuy góa lúc còn trẻ mà vẫn không tục huyền nhưng đó là chứng cớ của một đời sống khoái lạc. Không tục huyền không phải là không đi sâu vào con đường tình dục. Trái lại thế, vậy thì luồng máu phóng lãng đương cháy, đương bồng bột cháy trong huyết quản của mình. ngừng lại làm gì, và ngừng lại sao được? [185, 1109] Đó là cách hình dung về sự liên tục của cuộc đời trên cõi nhân gian, mà lại là sự liên tục của huyết thống, trong cách miêu tả nội tâm con người của Khái Hưng. Đây là một điều ít gặp trong văn chương, trong tiểu thuyết Việt Nam. 3. Những cách tân trong nghệ thuật ngôn ngữ Ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng của nghệ thuật tiểu thuyết, vì vậy khảo sát tiểu thuyết không thể bỏ qua những thành tựu về sử dụng ngôn ngữ của nó. Về phương diện này, Khái Hưng cũng có những thành công rõ rệt, có những đóng góp lớn cho tiến trình hiện đại hóa văn xuôi của thời đại. Tiểu thuyết của nhà văn vừa góp phần khẳng định một lối văn có tính cách An Nam, vừa góp phần đổi mới diễn ngôn tự sự của tiểu thuyết hiện đại. 3.1. Tình hình quốc văn thập niên cuối thế kỷ XIX thập niên cuối thế XX Vài thập niên cuối thế kỷ XIX và ba mươi năm đầu thế kỷ thứ XX, do sự biến chuyển của hình thái kinh tế,xã hội, văn hóa, văn học, ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ văn học nói riêng cũng có những biến chuyển, những cách tân và đánh dấu một bước ngoặt lớn. Đây là sự vận động vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính thời đại rõ rệt. Ra đời cùng với phong trào Duy tân của các nước Viễn Đông, nền văn học mới là do một tầng lớp trí thức mới đảm trách - trí thức đô thị - nó hướng đến một công chúng mới, đông đảo hơn, trước hết là ở đô thị rồi đến nông thôn. Để nền văn học mới, cũng 94
  26. như học thuật mới đến được với mọi người, nhu cầu khách quan của thời đại đòi hỏi phải đổi mới ngôn ngữ, mà yêu cầu trước hết là ngôn ngữ phải đại chúng, dễ hiểu. Vì vậy, ở Trung quốc, Nhật bản, Hàn quốc Việt Nam đều có phong trào, gọi theo kiểu Hán ngữ là "ngôn văn nhất trí" (tức là nói viết nhất trí với nhau - NVT), cũng có nghĩa là ngôn ngữ viết cũng giống ngôn ngữ nói, tất nhiên là có chọn lọc và nâng cao. Ở Nhật Bản, Níshi Amane, năm 1871, trong Bách học liên hoàn, cho rằng ngôn ngữ có hai loại: tử ngữ (Dead Language) và sinh ngữ (Living Language), văn học hiện nay phải là văn học viết bằng sinh ngữ, nghĩa là ngôn văn nhất trí như là ở phương Tây [45, 135]. Trung Quốc cũng có phong trào sử dụng bạch thoại trong sáng tác văn chương, cũng như báo chí, học thuật. Ở Việt Nam, năm 1866, với Trường Vĩnh Ký, tác phẩm văn xuôi Việt Nam bằng chữ quốc ngữ La tinh đầu tiên đã xuất hiện trên Gia Định báo - Chuyện đời xưa, lựa nhón lấy những chuyện hay và có ích. Trong tác phẩm này, nhà văn họ Trương đã có ý thức dùng "cách nói tiếng An Nam ròng, có nhiều tiếng, nhiều câu thưởng dùng lắm". Và cuốn sách đã được đón chào nồng nhiệt. Đương thời nó dã được tái bản đến 10 lần. Năm 1887, Nhuyễn Trọng Quản, một học trò và là con rể của Trương Vĩnh Ký, một Nguyễn Trường Tộ trên địa hạt văn chương, đã khai sinh ra cuốn truyện đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ La tinh, cuốn Truyện thần Lazaro Phiền. Trong Lời tựa ông đã nêu rõ chủ trương: Tôi có dụng ý lấy tiếng thường mọi người nói hàng ngày mà làm ra một truyện hầu cho kẻ sau coi mà bày đặt cùng in ra ít nhiều truyện hay ( ). Bởi đó tôi mới dám bày đặt một truyện đời này là sự thường có trước mắt ta luôn, như vậy thì sẽ có nhiều người sẽ lấy lòng vui mà đọc [141, 21 + 22]. Trung thành với quan niệm "lấy tiếng nói thường mọi người nói ra”, nên Thầy Lazara Phiền của Nguyễn Trọng Quản không hề có một câu văn biền ngẫu. Đến thời điểm văn học giao thời, 30 năm đầu thế kỷ XX, cuộc cách tân ngôn ngữ tiếp tục được đẩy mạnh. Tuy vậy, cũng có những khuynh hướng thái quá. Có lối văn xuôi chịu ảnh hưởng của Hán văn: "Phần nhiều là thuộc phái nho học hoặc đã thiệp liệp nho học ( ) chịu ảnh hưởng của Hán văn nhiều” [48, 415], nên chú trọng về âm điệu cốt câu văn đọc lên được êm đềm, ý nghĩa không cần sáng sủa rõ ràng lắm. Cách diễn ý thương theo phép tổng hợp, câu văn đặt ra chỉ vụ đạt được đại ý, chứ không phân ra ý chính, ý phụ, mệnh đề chính, mệnh đề phụ. Bởi vậy câu văn thường dài, không khúc chiết, không chấm câu phân minh. Lời văn thường dùng lối biền ngẫu, đăng đối, kiểu cách, cầu kỳ, không bình thường, không giản dị, thường nhiều chữ nho, đôi khi không cần thiết cũng dùng đến nó. Hoặc lối văn chịu ảnh hưởng nhiều của Pháp văn, bắt chước nhiều khi quá đáng cách đặt câu, diễn ý của Pháp văn. Câu đặt thường ngắn, cộc lốc, dùng nhiều liên từ hoặc từ ngữ bóng bẩy, ép uổng, sống sượng 95
  27. Hoàng Ngọc Phách, có thể coi là người thực sự có công trong việc khai mở nền tiểu thuyết mới, khai mạc trào lưu lãng mạn trong văn xuôi Việt Nam đã cố gắng để thoát khỏi ảnh hưởng của văn chương cổ, và bứt khỏi những hạn chế của thời đại. Ngôn ngữ trong Tố Tâm của ông đã tương đối trong sáng, chuẩn mực. Nhà văn hầu như không phạm phải lỗi cú pháp. Văn của tác giả thường ngắn gọn, giản dị, có chủ ngữ, có mệnh đề chính, phụ rõ rệt. Tuy vậy, văn của họ Hoàng vẫn chưa đoạn tuyệt hẳn với lối đăng đối biền ngẫu, vẫn còn những điển tích, điển cố. Phải đến thế hệ nhà văn 32 - 45, mà chủ yếu bắt đầu từ Tự lực văn đoàn, và bên cạnh đó là Nguyễn Công Hoan và trước nữa là Phạm Duy Tốn, ngôn ngữ văn học mới hoàn toàn đặc đổi mới. Trong đó, Khái Hưng là một trong số người mở đường và có đóng góp lớn. Tự lực văn đoàn dã có chủ trương rất rõ ràng: “đem phương pháp khoa học thái Tây ứng dụng vào văn chương Việt Nam”. "Dùng một cách An Nam" [139 - 437]. Lối văn này đã được Nhất Linh giải thích là: "Giản dị, rõ ràng, nói sao viết vậy, mà viết cho có đầu có đuôi, hay ở chỗ gọn gàng, lưu loát, nghĩa là lối văn An Nam" [118. 51]. Đề ra chủ trương đó, những người Tự lực muốn chống lại các nhà Hán học và Tây học trên văn đàn lực đó. Theo Nhất Linh, các nhà Hán học thì "dùng thật nhiều chữ nho để tỏ rằng mình học rộng, các nhà Tây học thì "tìm những câu lạ, những tiếng nói thật ngộ nghĩnh để tỏ ra là mình khác đời." Đây là những người “rỗng tư tưởng” nên "lấy những câu vănn rắc rối, những chữ nho, những tiếng lạ", cốt "để lòe những người dốt nát". Trên báo Phong hóa rồi Ngày nay, nhũng người Tự lực đã phê phán gay gắt các lối văn lệch lạc đăng trên các báo đương thời. Chính vị chủ tướng của Tự lực văn đoàn, trên 1 hong hoa, số 42, ngày 14 tháng 3 năm 1933, đã chỉ ra và giễu cợt các "lối văn Tây" và lối văn Tầu. Về lối văn Tầu như "Thì ta đi chơi, nào ai phòng ngự, nào ai cấm chỉ mà ty úy cụ, Ta chơi sơn lân chi nguyệt, thủy diện chi phong, hồ thượng chi thuyền, hoa trung chi tửu!'[118, 51]. Hay "văn lối Tây" như “Cảm tình ta nôn nao như xoáy tận đáy lòng, trí tưởng ta nẩy phăng ra ngoài óc, quả tim ta như hồi hộp muốn phá tan lồng ngực mở nhảy ra ngoài như con cóc ở trong hang nhẩy ra "[118, 53}. Tự lực văn đoàn đã kiên quyết loại trừ những câu văn “hán hóa" khuôn sáo, dài lê thê, nặng nề, kiểu cách, chất đầy điển tích, điển cố, đồng thời cũng không tán thành lối văn "Tây hóa" gióng một, cộc lốc, thô kệch của Hoàng Tích Chu. Văn chương Tự lực phỏng theo văn Pháp, nhưng vẫn giữ được lối diễn đạt mềm mại, duyên dáng, tinh tế của người Việt Nam. Và nhũng nhà văn, nhà báo trong Tự lực văn đoàn đã có những đóng góp không nhỏ trong tiến trình hiện đại hóa ngôn ngữ văn chương Việt Nam 3.2. Những đổi mới trong ngôn ngữ nghệ thuật của Khái Hưng Như trên đã nói, Khái Hưng rất coi trọng cách viết. Ông quan niệm: "Những cái tầm thường khó chịu không bao giờ ở cốt truyện. Nó 96
  28. chỉ ở tư tưởng, ở cách viết, ở nghệ thuật. Viết văn với Khái Hưng là "tìm lời ca tụng cái đẹp, cái tươi của vạn vật muôn năm không già Với ông, cái “thích nhất" của nhà văn là "cả ngày ngồi ( ) mà nghĩ, mà sửa soạn, gọt giũa cho những câu văn lạt lẽo trở nên đậm đà những câu giả dối trở nên thành thực " [185 - 899}. Ông vẫn hằng tự nhủ: "Tôi sung sướng mỗi khi được đọc một tác phẩm lọt ra ngoài vòng khuôn sáo. Cố nhiên tôi nói văn chương An Nam hiện thời. Thà dở. Nhưng đừng tầm thường, đừng sáo" [74]. Chính vì có ý thức trau dồi ngôn ngữ như vậy, vì lao động nghệ thuật cần mẫn mà văn chương Khái Hưng đạt đến sự phong phú, mẫu mực, gợi cảm, hiện đại. a. Tiểu thuyết của Khái Hưng đã góp phần quan trọng vào việc mở đường và khẳng định một lối văn mới có tính cách An Nam: giản dị, dễ hiểu, trong sáng, mềm mại, hiện đại. Khái Hưng cũng như các nhà văn trong Tự lực văn đoàn là những trí thức Tây học, am hiểu văn chương Pháp, có đầu óc khoa học nên cách viết văn của họ thay đổi hẳn. Ông đã có quan niệm mới về cú pháp. Trong cái chủ trương chung của văn đoàn dùng một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ Nho, có sức phổ cập trong tầng lớp trung lưu đông đảo, nhà văn thường viết những câu đơn, những câu bao gồm một mệnh đề chính và vài ba thênh đề phụ, theo kiến trúc câu văn Pháp, nhưng vẫn giữ được lối suy nghĩ và cách diễn đạt Việt Nam. Từ loại câu cơ sở này, tác giả tạo thành những câu mở rộng, câu cảm thán, nghi vấn, phủ định Theo Khái Hưng, đó là ảnh hưởng của lối văn thầy giáo. Nguyễn Vĩ đã kể lại lời của nhà văn: có lẽ ảnh hưởng lối văn thầy giáo viết cho học trò. Vì tôi dạy về luận văn, thường bảo học trò viết câu văn xuôi cho gọn gàng, giản dị. Ngay từ Hồn bướm mơ tiên và Nửa chừng xuân, thì so với những tiểu thuyết của Nguyễn Trọng Thuật, Hồ Biểu Chánh, Hoàng Ngọc Phách, ngôn ngữ trong các tác phẩm này đã có những tiến bộ vượt bực. Văn của tác giả đã sáng sủa, thanh thoát, nhẹ nhàng, ngôn từ chọn lọc, đối thoại linh động. Năng lực diễn tả của nó hơn hẳn những câu văn biền ngẫu, nhất là những đoạn tả cảnh. Như: Gió thổi dữ. Các tà áo Lan bay phất phới, mà trái tim kia như chịu sức mạnh của gió, cũng phập phồng trong ngực, như là sắp nhấp nhô tựa sóng. " Hoặc: "Mặt trời đã xế về tây Luồng gió lạnh thổi, Lan rùng mình ngơ ngác nhìn quanh như sợ có người đứng nghe trộm được những ý nghĩ bất chính của mình. Lan cố không tư tướng nữa muốn theo gương sư cụ ngồi tĩnh tọa để tìm chân lý [185, 55]. Và tả cảnh, tả tình như quyện với nhau: Ánh sáng trong vắt của vầng thái dương tháng chạp, chiếu qua rặng lim um tùm. Mấy cây chẩu chung quanh vườn sắn xơ xác cành khô. Luồng gió thoảng, lá vàng rơi lác đác Lan ngồi sưởi dưới ánh nắng, thì thầm đọc kinh, thinh thoảng lại đặt quyển sách xuống ngơ ngác nhìn. Tiếng lá rụng trên vườn sắn như có mãnh lực gì khiến Lan ôn 97
  29. lại quãng đời dĩ vãng. Lan nhắm mắt trong trí lại tưởng tượng ra cái cảnh lá rụng khi đi ngang qua chùa Long Vân, cái cảnh bên bờ suối mấy gốc thông già, chiều hưu hắt, lá thông khô theo dòng suối trôi đi Lá rụng! (185, 55]. Những câu văn không còn lổn nhổn sáo ngữ, chữ nho, điển tích, điển cố, từ cổ, đăng đối nặng nề, lê thê, những câu văn khúc triết, đơn giản, dễ hiểu như thế vừa có khả năng diễn tả cụ thể trạng thái khác nhau của sự vật, vừa đi sâu được vào biến thái tinh vi của tâm hồn con người, gây được ấn tượng mạnh mẽ, hấp dẫn, lôi cuốn người đọc. Điều đó chứng tỏ tiếng Việt với ngòi bút của Khái Hưng, đã rất thuần thục, nhuần nhuyễn. Nó đã thực sự trong sáng, hiện đại. Nếu đặt văn của Khái Hưng bên cạnh một số tác giả liền ngay trước đó, thì ta dễ dàng thấy đây là một bước nhảy vọt. Một cuộc "cách mạng” thật sự. Chẳng hạn trong Thề non nước văn của Tản Đà còn rất cổ, đầy sáo ngữ: "Nhạn én đổi thay, tháng ngày thấm thoát, kể từ độ đề tranh sơn thuỷ, tới nay gần đã ba đông”,” lận đận chân mây, bể trần chìm nổi thân thế dẫu mỗi người một khác, mà nghĩ cũng như nhau"(62, 91). Văn của Hoàng Ngọc Phách trong Tố Tăm cũng còn những câu biền ngẫu, những sáo ngữ: “Rồi đây Cảnh hồng bay bổng, tin nhạn vắng tanh là cuộc đời bắt buộc, chứ em còn sống ở cõi trần này còn tưởng đến anh xin anh đừng nghĩ gì mà khổ tâm em lắm đó Giấy ngắn tình dài khôn tả xiết, gửi mấy lời kính lại tình quân, xin tình quân soi xét cho người bạc mệnh"[62, 111). Chính vì thế mà Nhất Linh, vị chủ tướng của Tự lực văn đoàn đã nhiệt liệt đón nhận lối viết của Khái Hưng vì nó "có hai đặc sắc khác những lối viết truyện xưa nay, tác giả không tả cảnh rườm rà, không bàn luận lôi thôi "vì hai lẽ đó nên truyện Hồn bướm mơ tiên có vẻ hoạt động xem ham mê từ đầu chí cuối” [128, 10]. Nhà phê bình Trần Thanh Mai, ngay từ năm 1934, cũng khẳng định: Quan trọng nhất cái phần nhờ lấy đó mà sau này quyển Hồn bướm mơ tiên sẽ là một quyển sách bất hủ: cái văn thế, cách dàn Cảnh và cách phô diễn tâm lý của những vai chủ động ( ). Đó là những đoạn văn sau này ta sẽ chọn trích để cho con em luyện tập quốc văn, trong những sách giáo khoa gọi là "những mẫu văn trích lục". [120, 703] Đúng như nhà văn học sử Phạm Thế Ngũ đánh giá: “lối văn An Nam giản dị và gẫy gọn cần phải đạt tới ấy đại để chính là lối văn của Khái Hưng mà ông ( Nhất Linh) đã chào đón trong bài Tựa Nửa chừng xuân" [139, 440]. Tuy vậy, trên chặng đường phát triển, Khái Hưng vẫn không tránh khỏi những hạn chế. Nhà phê bình, nhà giáo, Lê Hữu Mục trong Khảo luận về Khái Hưng đã chỉ ra: văn trong Hồn bướm mơ tiên còn có chỗ sáo và cổ, hoặc cũng có chỗ dài dòng, trùng lặp. Trương Tửu cũng nhận xét là nhà văn có tài dùng lắm chữ rất đúng và hay, nhưng cũng còn những chỗ dở, như không đúng mẹo, chưa cẩn trọng Đó là những thiếu sót 98
  30. trong vài tác phẩm đầu tiên và cũng là dấu ấn của một thời kỳ phát triển mà Khái Hưng và không ít người rất khó tránh khỏi. Nhưng nhìn một cách tổng thể, ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Khái Hưng đã tiến bộ vuợt bực, đánh dấu một bước phát triển về chất so với ngôn ngữ văn chương thời trung đại và tiểu thuyết giai đoạn giao thời ba mươi năm đầu thế kỷ XX. Đúng như nhà văn học sử Phạm Thế Ngũ đánh giá: "Không tả cảnh rườm rà, không bàn luận lôi thôi, lời văn giản dị nhanh nhẹn, bấy nhiêu đức tính đủ làm một cuộc cách mạng cắt đứt với giai đoạn cũ, với quả dưa đỏ, Tố Tâm " [139, 103]. Một ngôn ngữ trí thức, đô thị: chau chuốt, bay bướm, giàu hình ảnh, âm hưởng, gợi cảm. Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra những nét đẹp trong văn của Khái Hưng: gợi cảm, bay bướm, trôi chảy, có nhịp điệu, có âm hưởng, mềm mại, ý nhị, rất có tính cách Việt Nam; hương vị buồn man mác, nói riêng, truyền cảm nói chung, thoáng như hoa thơm trong truyện tình ;"Ngôn ngữ Khái Hưng thường là ngôn ngữ mơ hồ, man mác, chỉ thích ứng với những cảm giác bảng lảng, những cảm tưởng phảng phất, những tình cảm mung lung, những ý nghĩ thoáng qua, hoặc một thứ ngôn ngữ đặc biệt của trí thức, một thứ ngôn ngữ kiểu cách của thính phòng” [62, 112]. Bấy nhiêu đặc điểm đều có phần đúng. Điều đó thật dễ hiểu. Bởi vì, cảm hứng trung tâm của tiểu thuyết Khái Hưng là khẳng định cái tôi cá nhân, nếp sống đô thị, âu hóa. Khái Hưng là nhà tiểu thuyết của ái tình tự do, là nhà tiểu thuyết tâm lý, là nhà văn lãng mạn nhất Tự lực văn đoàn. Ngôn ngữ trong tác phẩm của Khái Hưng xuất hiện dầy đặc các từ láy nhằm diễn đạt những cung bậc khác nhau của tình yêu như mơ màng, e ấp, mê man, ngượng ngừng, tha thiết, nồng nàn, lưu luyến, bâng khuâng , cũng như những biến thái tinh vi của nội tâm con người như đau đớn, rạo rực, thổn thức, mong mỏi, rã rời, trống rỗng, quằn quại, nơm nớp, phấp phỏng, chua chát, lo lắng, trằn trọc, chán trường, Băn khoăn, âm thầm, trống trải, lặng lẽ, khoan khoái, nghẹn ngào Những từ trên cùng với nhũng câu có định ngữ, có những thành phần cùng một kết cấu và cứ lặp đi, lặp lại, đã góp phần diễn tả cụ thể, linh động đời sống bên trong của tâm hồn con người. Chúng ta hãy nghe Ngọc than thở cùng Lan: Nếu Lan đi thì Ngọc sẽ chết khô, chết héo mất. Ngọc chẳng dám mơ màng chi, chỉ ao ước thính thoảng lên chùa nhìn thấy mặt Lan là đủ rồi. Vậy xin Lan cứ ở lại đây tu hành, rồi ngày Ngọc được nghỉ, cho phép Ngọc phóng xe đạp lên chùa thăm Lan. Lan có ưng thuận thế không? [185, 58} Lối văn tả cảnh của Khái Hưng rất trôi chảy, giàu hình ảnh, màu sắc, nhịp điệu: Phía tây, sau dãy đồi cỏ biếc, sắc trời đỏ ứng, lấp loáng qua các khe lá xanh đen. Mái chửa rêu phong đã lẫn màu cùng đất cùng cây cùng cỏ. Khoảnh khắc, mấy bức tường và mấy cái cột gạch quét vôi chỉ còn lờ mờ in hình trong cái cảnh nhuộm đồng một mầu tím tham [185, 12]. Có cả âm thanh: 99
  31. Trong làn không khí yên tĩnh êm đềm, tiếng chuông thong thả, ngân nga như đem mùi thiền làm tăng vẻ đẹp của thiên nhiên. Lá cây rung động, ngọn khói thướt tha, bông lúa sột soạt, như cảm tiếng gọi của Mầu Ni, muốn theo về hư không tịch mịch [185, 13] Những câu văn tả tình thật thiết tha, mạnh mẽ: U em quả thực là người đã dạy tôi yêu. Nếu có thể gọi được là ái tình, thì thực đó là ái tình thứ nhất của tôi, ái tình ngây thơ, thành thực. nồng nàn, đằm thắm. Chẳng thế mà khi tôi được ba năm, cha mẹ tôi cho vú em về, tôi lăn lóc, tôi khóc lóc, tôi kêu gào. Rồi tôi bỏ cơm đến hai bữa, mất ngủ đến hai đêm [87, 10}. Những câu văn như thế đã khác rất xa văn của các tác giả trước đó. Chẳng hạn, văn trong Duyên nợ phù sinh của Trần Tuấn Khai: Bấy giờ thân tuy là con gái nhà nghèo, mà vẫn rong chơi ở nơi đèn sách, một góc lầu cao, bạn cùng sách vở, bốn bể hoa cỏ, mình tựa bướm ong, sớm tuyết, trưa sương, văn chương lần lữa, rầy trưa mai tối. thỏ ác đi về, ngày xuân thấm thoắt chẳng là bao mà bấm đốt ngón tay đã đến tuần mười tám (139, 111). Chính vì vậy, văn của Khái Hưng đã được người đương thời nồng nhiệt đón nhận, tuy trước, một số nhà nghiên cứu chưa đánh giá đúng mức. Theo chúng tôi cần khẳng định và đánh giá cao Khái Hưng, nhà văn đã thành công trong tổng hợp (theo cách nói của giáo sư Phan Cự Đệ) văn chương Pháp và tiếng Việt. Theo PGS - TS Đặng Anh Đào thì "sự bảo tồn âm hưởng nghe rất trường tồn - một nét đặc biệt trong diễn ngôn tự sự Việt Nam ) [27, 14]. Khái Hưng đã kết hợp được câu văn Pháp sáng sủa, với tiếng Việt mềm mại, uyển chuyển, giàu âm điệu, với "sự bảo tồn âm hưởng nghe" của diễn ngôn tự sự Việt Nam, khiến cho người đọc dễ chấp nhận. Tuy vậy, ngày nay đọc lại, cũng dễ nhận thấy một số chỗ lối viết có phần chải chuốt, bay bướm, thi vị thái quá, thiếu cái sinh lực, cái gai góc khỏe khoắn của đời sống. Sau Hồn bướm mơ tiên. Nửa chừng xuân, Trống mái trong văn của tác giả, sự bay bướm bớt dần, ngòi bút của ông giản dị, gần gũi với đời sống hơn. Đúng như lời khen ngợi của nhà phê bình Vũ Ngọc Phan: văn của Khái Hưng "thật bình dị thật sáng suốt, rất thích hợp với những ý tưởng chín chắn của một tiểu thuyết gia có nhiều lịch duyệt" [139, 37). Ngôn ngữ tiểu thuyết của Khái Hưng còn gần gũi cuộc sống hàng ngày, nhưng sự gần gũi ở đây chủ yếu chỉ ở phần nên thơ, nên nhạc, nhẹ nhàng, mềm mại chứ chưa bao quát hết mọi cung bậc phong phú, phức tạp của đời sống. Có thể coi đây là những gì cao đạt nhất của trí thức Tây và thẩm thức thị thành. Bởi vì tiểu thuyết của nhà văn thuờng xoay quanh đề tài tình yêu tự do của những trí thức tiểu tư sản, hay những cô gái có học, nết na, thùy mỵ, hoặc đôi khi cũng mạnh dạn, táo bạo vì những sáng tác này thường hướng đến độc giả "không phải chị thợ máy diêm, anh tài vặn ô tô như vài nhà tiểu thuyết chủ trương ( ), độc giả của ông thuộc hẳn hạng thanh niên trí thức, mà trong số đó phần đông là bạn gái” [139, 9]. 100
  32. Văn (trong Số đào hoa) tâm sự. Tôi buồn rầu, thương nhớ người bạn hiền ở lại một mình. Nhưng hai tháng sau, tôi đã quên hẳn cái Tôm con. Được luôn luôn gần gũi những cô sạch sẽ, xinh đẹp, thơm tho trong các gia đình giàu có, nên khi tưởng nhớ đến người bạn xưa, tôi chỉ thấy hiện ra hình ảnh một kẻ nghèo nàn, rách rưới, ghê tởm. (87, 13]. Hay, đây là cảnh xuân về: Một mùa đông đã qua, một mùa đông rét sớm và ẩm và dai dẳng mãi như không bao giờ dứt. Rồi một mùa xuân đột ngột tới, như một người tình đi xa bỗng dưng một hôm về mà không báo tin trước: Một mùa xuân sáng sủa, ấm áp, đem nhựa non đến cho cây cỏ, đem tươi trẻ, ham muốn lại trong lòng người. "[85, 1176]. Những câu văn vừa nhịp nhàng, vừa trữ tình như thế, đọc lên dễ cảm thấy nao nao trong lòng. b. Những đổi mới của diễn ngôn tự sự trong tiểu thuyết của Khái Hưng Những đổi mới của Khái Hưng trong nghệ thuật ngôn ngữ không chỉ ở từng chữ, từng câu được lựa chọn và đặt đúng chỗ, phát huy đúng tính chất, hiệu quả diễn đạt của nó mà còn thể hiện ở những đổi mới của kiểu trần thuật của diễn ngôn tự sự, của lời kể. Ở đây, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát vào một số yếu tố thể hiện rõ nét nhất sự đổi mới của Khái Hưng là: lời trần thuật, lời bình luận của tác giả lời nói của nhân vật, ngôn ngữ miêu tả. Có ý kiến cho rằng: lời kể trong tiểu thuyết của Khái Hưng cũng như những người trong Tự lực là một giọng, một điểm nhìn. Ở đây, người trần thuật mang quan điểm tác giả - một nhà văn luôn luôn có ý đồ làm cho truyện của mình, nhân vật của mình trở thành một sự thuyết minh cho những luận đề xã hội: luận đề về chống lễ giáo phong kiến, luận đề về cải cách nông thôn, luận đề khẳng định chủ nghĩa cá nhân. Chúng tôi cho rằng không hoàn toàn như vậy. Khái Hưng và những người Tự lực đã có những cách tân đáng kể trong thi pháp trần thuật, nó không hoàn toàn là một giọng, một điểm nhìn. Lời kể trong tiểu thuyết của Khái Hưng tuy chưa đạt tới tầm cao của nghệ thuật tự sự, chưa đa thanh như truyện của Nam Cao sau này, nhưng so với những cuốn tiểu thuyết ở giai đoạn giao thời và nhất là những truyện thời trung đại thì nó đã có những bước tiến vượt bậc. Đương thời, Phạm Quỳnh trong Bàn về tiểu thuyết đã nhận xét về thực trạng kỹ thuật phô diễn trong văn ta và văn Tầu : Văn Tầu và văn ta là lối văn chép sử, việc gì cũng chép lần lượt từ đầu đến cuối, cứ theo thứ tự trước sau, không gián đoạn một khúc nào, không đảo ngược một phần nào, như nói về một người thì phải kể hết lai lịch người ấy, từ đời ông đến đời cha, từ thuở nhớ đến tuổi lớn, lần lượt như chép gia phả vậy [180, 37]. Nhưng đến Khái Hưng thì khác. Trong tiểu luận Tiểu thuyết đi về đâu, Tràng Thiên 101
  33. đã đánh giá: Tiểu thuyết ở nước ta, từ Phạm Duy Tốn về sau, cũng không còn như trước nữa. Trước, Phạm Quỳnh chê rằng ta chỉ có một lối tự sự, có một giọng kể truyện đều đều mà không chú ý đến các thế tả Cảnh, đối thoại v. v trong truyện. Văn tả cảnh, tả tình, tả người, tả vật của Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam, Tô Hoài v. v đã được trích vào sách học không thiếu gì, và đã tỏ ra rất tinh vi điêu luyện. Lắm khi "tả" lại thành một đam mê. Ở những trang cuối cùng của Hồn bướm mơ tiên, Lan nhắm mắt tương tượng chuyện xưa: lá rụng, Lan hớn hở vui mừng: lá rụng, Lan ngồi yên không nói: lá lại rụng, Lan rầu rầu: lá lại rụng nữa, rồi Lan bưng mặt khóc lá rụng thêm, Ngọc ngắm Lan: lá rụng, cuối cùng Lan nhìn theo bóng Ngọc ra đi: lá cũng lại rụng trong gió chiều hữu hưu. Nhất cử nhất động của nhân vật đều làm lá rụng [180, 37]. Đặng Phùng Quân (ở miền Nam trước đây), khi bàn về tiểu thuyết của Khái Hưng cũng đã phân biệt rõ đặc điểm lời kể. Tác giả viết: Tiểu thuyết tự bản chất không phải là để kể lại. Người ta không kể lại Nửa chừng xuân, người ta lại càng không thể kể lại Hồn bướm mơ tiên. Người ta có thể tóm tắt, nói đại khái cốt truyện. Hạnh là một trường hợp khác nữa, một đoản thiên tiểu thuyết không thể để kể lại, ngay cả tóm lược, bởi vì nếu kể lại được thì tính chất của tiểu thuyết biến mất. Tiểu thuyết của Khái Hưng là trường hợp điển hình loại có cốt truyện để minh chứng dẫu sao tiểu thuyết vẫn khác biệt với truyện kể (conte). Thế giới của truyện kể là thế giới của trẻ thơ, của lời nói: người kể chuyện chưa là một nhà văn, ông mới chỉ nói và trẻ em nghe không nhàm chán những câu chuyện được kể đi, kể lại nhiều lần, không thay đổi - truyện kể chính là một chân lý đã ở đó. Thế giới của tiểu thuyết là thế giới của người lớn [151, 71]. Thực ra, xây dựng tiểu thuyết, Khái Hưng đã sử dụng nhiều thể thức tự sự. Có cách trần thuật ở ngôi thứ ba với cái nhìn biết hết của người kể chuyện. Có cách trần thuật theo cái nhìn của một nhân vật. Có cách trần thuật đối thoại giữa nhiều ý thức. Có cách trần thuật theo điểm nhìn hạn chế của người kể chuyện hay nhân vật. Có cách trần thuật theo "trung tâm ý thức" Và ở thể thức nào nhà văn cũng có những thành công đáng kể. Nhà văn cũng sử dụng trần thuật ở ngôi thứ ba, người kể biết trước và biết hết mọi chuyện của nhân vật. Người kể là một vị chúa tể đúng vượt cao lên trên nhân vật và kể về chúng với giọng khách quan, cất thông báo về người, về việc Và Khái Hưng đã kể rất linh động, chẳng hạn: "Trên con đường Bắc Ninh - Đông Triều, chiếc xe ô tô hàng bon bon chạy. Bỗng một người hành khách bận âu phục thò đầu ra ngơ ngác nhìn rồi kêu: Cho tôi xuống đây. " [185, 9]. Cũng có cách trần thuật theo quan điểm của tác giả, như: "Vọi sinh trưởng trong đám dân quê, hơn nữa trong đám dân quê chài lưới, nghĩa là những người chỉ có đức tính giản dị, chất phác, thật thà [89, 32]. Ở đây, người kể chuyện đã nhìn xuống 102
  34. nhân vật của mình và nhận xét với thái độ của kẻ bề trên. Trong tiểu thuyết Số đào hoa, Khái Hưng lại chỉ trần thuật theo điểm nhìn của một nhân vật. Cả cuốn truyện chỉ là lời kể của Văn về cái nghịch cảnh số đào hoa của mình. Cứ theo tử vi thì số của Văn đào hoa lắm, chàng sẽ có ba vợ và sống rất hạnh phúc. Nhưng qua lời thuật kể của chàng thì cả ba cuộc tình chỉ là những tấn bi hài kịch. Nhưng hình thức tự sự Khái Hưng thường sử dụng nhất, và thành công nhất là trần thuật ở ngôi thứ ba với cái nhìn theo tiêu cự bên trong của nhân vật, hay như cách nói của giáo sư Nguyễn Văn Trung trong Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết là trần thuật ở điểm nhìn gần (về điểm này chúng tôi đã nói trong mục: các phương thức, biện pháp xây dựng tâm lý nhân vật). Người kể chuyện như đứng ở bên cạnh, đứng rất gần nhân vật, biết rõ mọi suy nghĩ, cảm nhận và kể lại theo điểm nhìn, giọng điệu của nó. Như, trong Thừa tự, hình ảnh bà mẹ ghẻ hiện lên thật là đáng ghét. Trong con mắt của Chuyên: Cái con người chưa đến bốn chục tuổit kia mà cũng đòi làm mẹ nàng ư! Mà cũng chảnh lỏn cũng tai ngược, hách dịch với nàng sao! Nàng là con quan, con một quan phu, con gái yêu một bậc mệnh phụ, chẳng lẽ lại cúi mình đi hầu hạ một người đàn bà ít tuổi và không biết " sản xuất" ở nơi tối tăm, hèn hạ nào ( ), me gì, me tây ấy à? [185, 970]. Còn trong con mắt của Trâm (vợ Bình) thì: "Tôi thiết tưởng hơn hết là cậu nói thẳng vào mặt cô ta rằng cô ta giàu thì mặc cô ta, cô ta đi đâu hống hách thì đi, không được về làng mà hống hách xằng" [185, 968]. Và đây là lời và giọng của bà Phán nói với Hồng: "Thế nào, chị đã sắm đủ các thứ rồi đấy chứ! Bà dùng cả đôi mắt cười nheo và cặp môi móng khít nhách ra hai mang tai để làm tăng cái nghĩa mỉa mai của câu nói mà bà cho là chua chát lắm” [185, 693}. Bà nhiếc móc: “có là đồ quạ mổ thì mới ăn quà trên xe hàng như thế, phải không chị Hồng! " hoặc: "Có đem mà gả cho voi! Cho voi nó giày! Tưởng hãy còn trinh tiết lắm đấy! Hãy còn sạch sẽ lắm đấy!" [185, 748]. Hay: "Người với ngợm! Tưởng thế nào! Trời ơi! Thế mà con tôi " [185, 749] Rõ ràng ở đây người kể chuyện đã bộc lộ cái nhìn xoáy sâu bóc trần bộ mặt của lớp người cũ bảo thủ, xấu xa, tàn ác Trái lại, với lớp người mới, thì nhà văn đi sâu miêu tả, khắc hoạ đời sống bên trong của nhân vật với sự khẳng định, trân trọng, nâng lưu. Ông kể về tâm trạng của Hồng khi nghĩ về tương lai: Cùng Thân lập gia đình, lập tiểu gia đình, riêng sống với nhau một giang sơn. Có thể thôi, giản dị biết bao! Nàng chưa yêu Thân, rồi thì nàng yêu, mà nàng chắc sẽ yêu. Sau này, khi nàng thoáng nghĩ đến ký vãng, thì còn sự hy sinh, sự nhẫn nhục gì mà nàng không chịu nhận lấy để gây hạnh phúc cho gia đình, cho những người sống chung quanh nàng! Và nàng nghĩ: "Thể nào mình cũng sung sướng hay ít ra cũng không khổ như trước [185, 689}. Trong tiểu thuyết Hạnh, phương thức kể chuyện của tác giả có phần mới lạ hơn. Có thể gọi là "phương thức kể chuyện trung tâm ý thức" như cách quan niệm của Phó 103