Xã hội học về truyền thông đại chúng (Phần 2)

pdf 90 trang ngocly 10
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Xã hội học về truyền thông đại chúng (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfxa_hoi_hoc_ve_truyen_thong_dai_chung_phan_2.pdf

Nội dung text: Xã hội học về truyền thông đại chúng (Phần 2)

  1. Bài 3 CÁC LÝ THUYẾT VỀ TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG Giới thiệu khái quát: Nội dung chương này trình bày một số trường phái lý thuyết lớn trong lĩnh vực nghiên cứu về truyền thông đại chúng, đặc biệt là trường phái chức năng luận, trường phái phê phán, trường phái quyết định luận kỹ thuật Mục tiêu của chương này: Hiểu những cách đặt vấn đề khác nhau của các trường phái lý thuyết khi họ nghiên cứu vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng, và ảnh hưởng của chúng đối với người dân trong xã hội hiện đại. Những công trình nghiên cứu về truyền thông đại chúng được bắt đầu tiến hành từ đầu thế kỷ XX, nhất là kể từ năm 1933 trở đi, khi mà Hitler lên nắm chính quyền ở Đức – sự kiện mà nhiều người cho là nhờ vào những chiến dịch tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông. 43
  2. Trong lịch sử nghiên cứu về truyền thông đại chúng trên thế giới, người ta thường phân biệt ba giai đoạn khác nhau sau đây [xem David Barrat, Media Sociology, London, Tavistock Publications, 1986, tr. 16-18.]. Giai đoạn thứ nhất, bắt đầu từ khoảng đầu thế kỷ XX cho tới cuối thập niên 1930, là giai đoạn mà giới học thuật quan niệm rằng các phương tiện truyền thông có một sức tác động to lớn lên trên lối ứng xử và suy nghĩ của người dân. Nhóm tác giả tiêu biểu trong thời kỳ này là nhóm “trường phái Frankfurt” ở Đức vốn bao gồm những nhà trí thức chống đối lại Hitler và do đó về sau bị chính quyền quốc xã tống khứ ra nước ngoài. Các học giả này cho rằng các phương tiện truyền thông đại chúng ở Đức đã đóng một vai trò then chốt để những người theo chủ nghĩa quốc xã lên nắm được chính quyền. Lúc đã định cư ở Mỹ, trường phái này tiếp tục cảnh cáo rằng các phương tiện truyền thông đại chúng cũng đang ở trong quá trình gây ra những tác động tương tự trong xã hội Mỹ, tuy không phải là theo chủ nghĩa quốc xã như ở Đức, mà là làm tha hóa người dân. Họ cho rằng các phương tiện truyền thông ở Mỹ đang biến các cá nhân thành “những khối đại chúng” (masses), tàn phá văn hóa, và trở thành một thứ ma túy làm cho mọi người chỉ biết làm theo người khác và không còn tư duy độc lập và óc phê phán. Người ta thường gọi quan điểm của các nhà nghiên cứu theo khuynh hướng này là quan điểm theo mô hình “mũi kim tiêm” (hypodermic-needle model). Các nhà xã hội học theo khuynh hướng này cho rằng quá trình công nghiệp hóa đã tiêu diệt những mối liên hệ giữa người và người vốn tồn tại trong những cộng đồng truyền thống, tiền công nghiệp. Điều này dẫn tới hậu quả là hình thành nên một thứ “xã hội đại chúng” trong đó các cá nhân sống rời rạc nhau, không còn một chỗ dựa đáng tin cậy của cộng đồng cũ nữa, và trong bối cảnh 44
  3. mất phương hướng đó, chỗ dựa mới duy nhất của họ là các phương tiện truyền thông đại chúng. Họ cho rằng xã hội đại chúng đã sản sinh ra những cá nhân không còn khả năng đề kháng trước sức thuyết phục của truyền thông đại chúng. Những thông điệp của các phương tiện truyền thông được “chích” vào cơ thể con người cũng dễ dàng như chích thuốc bằng một mũi kim tiêm vậy. Giai đoạn phát triển thứ hai trong quá trình nghiên cứu về truyền thông đại chúng là từ khoảng năm 1940 tới đầu những năm 1960. Đặc điểm của giai đoạn này là bắt đầu xuất hiện quan điểm đánh giá bớt bi quan hơn về vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng. Một số công trình điều tra ở Mỹ về ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông đối với việc bầu cử và đối với sự chọn lựa của người tiêu dùng đã chứng minh cho thấy truyền thông đại chúng ít có hoặc thậm chí không có tác động trực tiếp đối với thái độ và ứng xử của người dân. Trái ngược với lập luận của các nhà nghiên cứu trong giai đoạn đầu nói trên (vốn cho rằng truyền thông đại chúng có tác động trực tiếp giống như một mũi kim chích), lúc này, người ta chỉ nói tới những tác động gián tiếp, thông qua nhiều bước trung gian. Khi phân tích ảnh hưởng của truyền thông đại chúng, các nhà xã hội học thời kỳ này chú ý nhấn mạnh đến vai trò của các nhóm xã hội (như bạn bè, gia đình, hàng xóm, những người “hướng dẫn dư luận” – opinion leaders) : các thông điệp của các phương tiện truyền thông đại chúng thường được “lọc” qua những kênh đó rồi mới đi tới cá nhân. Người ta nhìn nhận rằng công chúng của các phương tiện truyền thông không phải là một khối “đại chúng” đồng dạng, không có hình thù ; trái lại, đấy là một tập hợp bao gồm nhiều giới và tầng lớp xã hội khác nhau. Giai đoạn thứ ba trong lịch sử nghiên cứu về truyền thông đại chúng bắt đầu từ khoảng thập niên 1960 trở đi, với đặc điểm là xuất hiện nhiều xu hướng quan điểm nghiên cứu khác nhau, và rất nhiều đề 45
  4. tài đa dạng. Chẳng hạn như ngoài việc nghiên cứu về công chúng và về tác động của truyền thông đại chúng, người ta còn nghiên cứu về nội dung các thông điệp của truyền thông đại chúng, về quá trình truyền thông đại chúng, quá trình sản xuất của các phương tiện truyền thông, nghiên cứu về đặc điểm của các nhà truyền thông và hoạt động của họ Chúng ta sẽ khảo sát trước hết hai hướng tiếp cận lớn, là hướng tiếp cận theo quan điểm chức năng luận, và hướng tiếp cận phê phán, sau đó tìm hiểu qua một vài hướng tiếp cận khác. HƯỚNG TIẾP CẬN THEO QUAN ĐIỂM CHỨC NĂNG LUẬN Theo lý thuyết chức năng luận (functionalism), xã hội được quan niệm như một tổng thể trong đó bao gồm nhiều thành tố có liên hệ với nhau, mỗi thành tố đều có chức năng riêng của mình. Trong số các thành tố đó, có các phương tiện truyền thông đại chúng. Quan điểm chức năng luận thường nhấn mạnh đặc biệt tới các “nhu cầu” của một xã hội. Truyền thông đại chúng được coi như một định chế xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu duy trì tính ổn định, tính liên tục của một xã hội, cũng như nhu cầu hội nhập và thích nghi của các cá nhân trong xã hội ấy. Theo Robert Merton, để hiểu được ảnh hưởng xã hội của các phương tiện truyền thông đại chúng, chúng ta không thể chỉ căn cứ trên những lời tuyên bố hay những ý định công khai của các tổ chức này. Merton luôn luôn nhấn mạnh rằng, đối với mỗi hoạt động xã hội, chúng ta cần phân biệt rõ giữa mục tiêu công khai nhắm đến, với hiệu quả thực sự xảy ra (tức là chức năng) – bởi lẽ hai cái này có thể không trùng nhau. Nói cách khác, các chức năng xã hội của các 46
  5. phương tiện truyền thông đại chúng không nhất thiết tương ứng với những mục tiêu công khai mà nhà truyền thông muốn nhắm tới. Một thí dụ: ngành y tế nhờ các phương tiện truyền thông mở một đợt vận động dân chúng đến khám sức khỏe tại các trạm y tế địa phương. Đó là mục đích công khai của chiến dịch tuyên truyền. Thế nhưng, trong quá trình tiến hành, chiến dịch này có thể dẫn đến những hậu quả bất ngờ, nằm ngoài ý định của các nhà y tế lẫn các nhà truyền thông. Quả vậy, cuộc điều tra về kết quả của chiến dịch vận động đã khám phá ra rằng hình ảnh nhân viên y tế địa phương trong con mắt của người dân đã được cải thiện rất nhiều so với trước: công việc vốn thầm lặng của nhân viên y tế nay bỗng nhiên được mọi người quan tâm chú ý và kính trọng hơn (nhờ tác động của các phương tiện truyền thông). Chính nhờ đó mà người dân tin cậy hơn vào các tổ chức y tế, và đồng thời, bản thân lĩnh vực quản lý ngành y tế cũng được củng cố và hoàn thiện thêm. Đây là một hiệu quả xã hội quan trọng, nhưng bất ngờ, của chiến dịch vận động tuyên truyền y tế này. Merton gọi những hiệu quả mà người ta muốn đạt được là những chức năng “công khai” (manifest), còn những hiệu quả xảy ra mà người ta không ngờ đến, là những chức năng “tiềm ẩn” (latent). Trong lý thuyết của mình, Merton còn phân biệt giữa “chức năng” (function) và “phản chức năng” (dysfunction). Chức năng là cái làm cho một hệ thống duy trì được sự tồn tại của mình và tiếp tục vận động trôi chảy. Còn phản chức năng là cái gì gây cản trở cho quá trình đó. Một hoạt động có thể vừa có những chức năng lẫn những phản chức năng. Chẳng hạn, chiến dịch vận động đi khám sức khỏe nói trên đây cũng có thể có tác dụng làm cho một số người đâm ra khiếp sợ hơn đối với ngành y tế (chẳng hạn khi thấy cảnh phòng mổ, xe cấp cứu ), và họ sẽ không dám đến phòng khám. Lasswell, một trong những tác giả tiên phong nghiên cứu về 47
  6. truyền thông đại chúng, đã nêu lên ba chức năng chính của truyền thông đại chúng, đó là: kiểm soát môi trường xã hội; liên kết các bộ phận của xã hội với nhau; truyền tải di sản xã hội từ thế hệ này sang thế hệ khác. Charles Wright còn bổ sung thêm một chức năng thứ tư : giải trí. Xét về tầm quan trọng của truyền thông đại chúng đối với cá nhân, người ta có thể liệt kê ra những chức năng như sau. Chức năng đầu tiên dễ thấy nhất là có thể nhanh chóng báo động cho mọi người dân về một mối hiểm nguy sắp xảy ra, thí dụ một trận bão lớn sắp đổ bộ vào đất liền, hay một cuộc chiến tranh chẳng hạn. Vì mọi người đều có thể tiếp nhận được thông tin qua các phương tiện truyền thông, nên người ta có thể tìm cách tránh được các tai họa đã loan báo. Chức năng thứ hai là đáp ứng những nhu cầu thực tế hàng ngày của người dân trong xã hội. Năm 1954, nhân dịp xảy ra một cuộc đình công của giới báo chí ở New York, Berelson đã tranh thủ cơ hội này để điều tra xem người dân thiếu những gì khi họ không nhận được tờ nhật báo như mọi bữa: đó trước hết là những thông tin liên quan đến cuộc sống thực tế của họ như các chương trình truyền hình, rađiô, lịch chiếu phim, những cửa tiệm bán hàng giảm giá, tin thời tiết, v.v Rõ ràng tờ báo là một công cụ có rất nhiều chức năng đa dạng trong cuộc sống hàng ngày. Chức năng quan trọng thứ ba của truyền thông đại chúng là nâng cao một hình ảnh xã hội nào đó, hay hợp thức hóa một vị trí xã hội nào đó. Chúng ta thường thấy là khi một ai đó được nêu tên trên báo (dĩ nhiên là theo hướng được biểu dương về một hành động tích cực nào đó, chứ không phải vì một chuyện tiêu cực), thì người này cảm thấy uy tín hay uy thế của mình được nâng cao, vì đơn giản là được nhiều người chú ý và biết đến mình. Đối với các tổ chức hay công ty cũng thế, do đó khi muốn quảng cáo cho đơn vị của mình, người ta 48
  7. thường sử dụng đến các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí hoặc ti-vi. Những người đang ra tranh cử vào một chức vụ nào đó cùng thường thích được xuất hiện trên báo chí bằng cách này hay cách khác (được chụp hình, được phỏng vấn ) để gián tiếp vận động cử tri dồn phiếu cho mình. Chức năng quan trọng thứ tư là củng cố sự kiểm soát của xã hội. Một vụ “bể hụi” chẳng hạn, chỉ là chuyện có liên quan tới mười mấy hai chục người, và chỉ có ít người biết; nhưng nếu sự kiện lừa đảo này được đăng lên báo, thì nó trở thành một sự kiện công khai, được nhiều người biết đến, bàn tán, và lên án. Từ đó hình thành một áp lực của dư luận xã hội lên trên những hành vi tương tự, và đồng thời áp lực này trở thành một thứ rào cản hữu hiệu đối với các cá nhân. Chính là nhờ quá trình này mà truyền thông đại chúng củng cố vai trò kiểm soát của xã hội lên trên cá nhân, góp phần hạn chế những hành vi tiêu cực (hay “lệch chiều” - deviant) trong xã hội. Xét về mặt xã hội học, thì truyền thông đại chúng là một trong những định chế góp phần vào quá trình xã hội hóa các cá nhân. Chính là thông qua các kênh thông tin này mà các giá trị xã hội, các qui tắc, luật lệ thành văn cũng như bất thành văn của xã hội được phổ biến và nhắc đi nhắc lại cho mọi người cùng biết, thuyết phục mọi người cùng đồng tình, và vận động mọi người cùng nhau tuân thủ. Truyền thông đại chúng là một phương tiện có khả năng làm cho xã hội trở nên đoàn kết, gắn bó với nhau, hội nhập cá nhân vào xã hội. Tuy nhiên, truyền thông đại chúng cũng có thể có những phản chức năng đối với xã hội. Cách thông tin của đài truyền hình CNN của Mỹ trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 hay của nhiều phương tiện truyền thông của Mỹ trong cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành ở Irak gần đây là những trường hợp điển hình về việc các giới chính trị và quân sự sử dụng và lèo lái các phương tiện truyền thông 49
  8. phục vụ cho mục đích của mình, và điều này đã bị nhiều tác giả nghiên cứu về truyền thông đại chúng phê phán gay gắt. Những thông tin loan truyền trên phương tiện truyền thông có thể làm gia tăng nỗi âu lo của các cá nhân, nhất là khi đăng tải những tin chém giết, nổi loạn, ly tán. cướp của Nếu phát đi một cách dồn dập những loại tin u ám này mà không có bình luận, không có giải thích, thì rất dễ gây ra tâm lý hoang mang nơi người dân. Qua các cuộc điều tra, người ta nhận thấy: tình trạng đưa quá nhiều thông tin cũng có thể gây nên hậu quả là làm cho cá nhân rút lui về thế giới riêng tư của mình. Bị tràn ngập bởi các thông tin mà họ không tự mình lý giải được, cá nhân cảm thấy bị mất phương hướng, nên nơi rút lui an toàn nhất đối với những người này là gia đình, hay các thú vui giải trí Điều này có thể dẫn đến chỗ làm cho họ trở nên “vô cảm” (apathy) trước những vấn đề chính trị và xã hội. Qua nhiều cuộc điều tra ở các nước phương Tây, người ta khám phá ra điều thoạt đầu tưởng chừng như nghịch lý, đó là những người coi tin tức nhiều giờ đồng hồ mỗi ngày không phải là những người tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội và chính trị. Có lẽ do bỏ ra quá nhiều thời gian để coi ti-vi, nên những người này không còn thời gian và sức lực để dấn thân vào các hoạt động xã hội. Người ta có thể nghiên cứu những chức năng và những phản chức năng của những thông tin do các phương tiện truyền thông phát đi đối với những tầng lớp xã hội cụ thể, thí dụ thiếu nhi, phụ nữ, công nhân, người già, một nhóm người dân tộc thiểu số để khảo sát vai trò của truyền thông đại chúng trong xã hội. Truyền thông đại chúng trong một quốc gia có thể có những tác động lên trên thái độ và ứng xử của người dân, có thể góp phần bảo tồn và phát triển nền văn hóa dân tộc, hoặc ngược lại. Truyền thông đại chúng từ nước ngoài truyền vào trong nước có thể làm phong phú 50
  9. thêm cho bản sắc văn hóa địa phương, nhưng đồng thời cũng có thể là hiểm họa của một cuộc “xâm lược” về văn hóa, dần dà làm mất đi những truyền thống và bản sắc văn hóa của địa phương. Chính là nhằm hạn chế những tính chất “phản chức năng” của thông tin đại chúng, người ta luôn luôn nhấn mạnh đến trách nhiệm (xét về mặt xã hội học thì đây là chức năng) hướng dẫn dư luận của các phương tiện truyền thông. Chức năng này được thực hiện thông qua việc chọn lọc những tin tức để đăng tải, cùng với việc cung cấp những lời giải thích và bình luận cần thiết kèm theo các sự kiện. Lẽ tất nhiên, chức năng này được thực hiện thế nào là còn tùy thuộc vào quan điểm chính trị-xã hội và quan điểm thông tin của ban biên tập mỗi tờ báo. Nhưng nói chung, đó chính là công việc hàng ngày mà các ban biên tập và tòa soạn của các tờ báo đều phải làm. Chúng ta thấy trên các tờ báo, người ta thường xếp loại tin tức, bài vở theo từng trang mục riêng biệt, chẳng hạn trang Tin tức trong nước, trang Kinh tế, trang Thể thao, trang Văn hóa, trang Thời sự quốc tế v.v để độc giả dễ theo dõi tùy theo nhu cầu quan tâm của mỗi người. Riêng ở trang nhất của một tờ nhật báo, người ta thường còn chọn lọc một tin tức quan trọng đáng chú ý nhất trong ngày làm “tin vơ-đét", cho in ở đầu trang, có nhiều cột, tít lớn, nhằm thu hút trọng tâm chú ý của người đọc. Ngoài ra, trong việc xử lý các tin tức, bài vở (tức là viết và biên tập), người ta còn thường bổ sung thêm vài dòng để nhắc lại bối cảnh của câu chuyện để bạn đọc tiện theo dõi và dễ nắm bắt được vấn đề hơn. Người ta thường ví công việc sắp xếp và biên tập âm thầm ấy của tòa soạn (âm thầm vì người làm công việc tòa soạn không xuất hiện tên tuổi trên mặt báo) như là công việc “bếp núc”. Tất cả những kỹ thuật “xào nấu” ấy của tòa soạn đều chỉ nhằm một mục tiêu là giúp bạn đọc có được một định hướng theo dòng thời sự hàng ngày, hiểu được tình hình thời sự của thế giới xung quanh, tránh cho người đọc 51
  10. một cảm giác tràn ngập và mất phương hướng trước một mớ tin tức hỗn độn nếu không được xử lý. Qua một cuộc điều tra nhân cuộc đình công của giới báo chí ở New York năm 1948, các nhà nghiên cứu đã ghi nhận được rằng cái mà người dân cảm thấy thiếu thốn không phải chỉ là thiếu thông tin (vì những ngày hôm đó không có báo đọc), mà còn là và nhất là thiếu những lời bình luận đi kèm theo các thông tin đó [xem Judith Lazar, sách đã dẫn, tr. 36]. Báo chí là công cụ không những chỉ giúp cho người đọc theo dõi được tin tức, thời sự, mà còn giúp họ hiểu được thời sự. Nói rộng ra hơn, đó là giúp cho họ định hướng được cuộc sống của chính họ trong dòng thời sự xã hội đó. Tuy nhiên, ngay điểm này cũng có mặt trái của nó: nếu tờ báo đưa ra quá nhiều bình luận và không dành một khoảng trống nào đó cho việc tự mình suy nghĩ và chọn lựa thái độ của chính người đọc, và nếu người đọc cũng hoàn toàn chỉ biết trông chờ vào ý kiến bình luận có sẵn trên tờ báo, nấu sẵn theo kiểu “mì ăn liền", thì người đọc sẽ không còn khả năng phân tích, bình luận, hay phê phán của chính mình nữa. Hướng tiếp cận về các phương tiện truyền thông đại chúng theo lý thuyết chức năng thường bị chỉ trích là nặng về quan điểm bảo thủ. Nó thường chỉ xem xét truyền thông đại chúng như là một phương tiện nhằm duy trì sự ổn định của xã hội, chứ không như là một nhân tố có thể làm thay đổi xã hội. Tuy nhiên, như Max Weber nói, nếu chúng ta sử dụng hướng tiếp cận nghiên cứu này như một công cụ trung gian để khảo sát thực tế thì cũng vẫn có thể bổ ích cho công cuộc nghiên cứu. 52
  11. CÁC LÝ THUYẾT PHÊ PHÁN Trong lĩnh vực nghiên cứu về truyền thông đại chúng, đối lập với quan điểm chức năng, là quan điểm của các nhà nghiên cứu theo các lý thuyết phê phán (critical theorists) (người ta còn gọi đây là các lý thuyết về xung đột xã hội - theories of social conflict). Các lý thuyết phê phán đều cách này hay cách khác bắt nguồn từ những tư tưởng và lập luận của lý thuyết mác-xít để phân tích vấn đề. Các nhà nghiên cứu theo khuynh hướng phê phán này cho rằng, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, truyền thông đại chúng là công cụ nhằm phục vụ cho việc củng cố và tái sản xuất hệ tư tưởng thống trị. Họ thường chỉ trích các tác giả theo quan điểm chức năng là quá nhấn mạnh tới bản thân quá trình truyền thông, mà xem nhẹ bối cảnh xã hội trong đó diễn ra quá trình truyền thông. Theo họ, chính nhân tố kinh tế hoặc nhân tố hệ tư tưởng (tùy theo trường phái) mới là nhân tố quyết định tính chất của hệ thống các phương tiện truyền thông. Tiêu biểu cho khuynh hướng này là trường phái Frankfurt, vốn được thành lập năm 1923 bởi Max Horkheimer, trong đó gồm có những nhà nghiên cứu tên tuổi như T. Adorno, L. Lowenthal, E. Fromm, H. Marcuse. Họ cho rằng sở dĩ quá trình chuyển biến cách mạng của xã hội tư bản chủ nghĩa không thành công được, đó là do kiến trúc thượng tầng của hệ thống tư bản chủ nghĩa, trong đó đặc biệt là các phương tiện truyền thông đại chúng đã đóng vai trò khuynh đảo và cản trở quá trình diễn biến cách mạng của xã hội. Theo họ, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, nền sản xuất hàng loạt (mass production), và đi kèm theo đó là nền “văn hóa đại chúng” (mass culture), là những cơ sở tạo nên huyền thoại về một xã hội không có giai cấp. Các tác giả theo trường phái phê phán này quan niệm rằng cần phải vạch trần cái sự thật bị che giấu bên dưới cái hệ thống thống trị 53
  12. đó. Chính vì thế mà họ đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc phân tích cái bối cảnh xã hội vốn bao trùm lên cả quá trình truyền thông, chứ không phải chỉ phân tích riêng lẻ quá trình truyền thông mà thôi. Họ gọi toàn bộ các hoạt động truyền thông đại chúng trong xã hội tư bản chủ nghĩa là một thứ “công nghiệp văn hóa” (cultural industry). Và theo họ, sở dĩ ngành công nghiệp này có thể phổ biến các sản phẩm của mình đến với mọi người, thì đó không phải là do bản thân tính chất “dân chủ” của chế độ, mà đơn giản chỉ là do sự mở rộng và phát triển của thị trường. Nếu mọi người đều có thể hưởng thụ các sản phẩm của ngành công nghiệp văn hóa này, thì chúng ta không thể coi đây là một điều kiện có khả năng tạo nên sự bình đẳng về văn hóa. Trái lại, theo các tác giả này, “văn hóa đại chúng” chỉ là một thứ sản phẩm dị dạng xuyên tạc nền dân chủ đúng nghĩa. Herbert Marcuse đã gọi xã hội tư bản chủ nghĩa này là xã hội mang tính chất “một chiều” (one-dimensional) vì nó vốn được tạo nên bởi thứ công nghiệp văn hóa đó, và ông ta coi các kỹ thuật truyền thông đại chúng chỉ là công cụ mê hoặc và điều khiển dân chúng, nhào nặn nên thái độ và suy nghĩ của người dân. Chính trong bối cảnh đó mà Marcuse nói đến tình trạng tha hóa của người dân. Nếu người dân thích xem các sản phẩm truyền thông đại chúng, thì chính là vì họ đã bị tha hóa, bị nô lệ vào dòng thác của thông tin đại chúng. Marcuse cho rằng chủ nghĩa tư bản đã xoa dịu những nỗi bất bình của tầng lớp bị trị bằng cách sử dụng các phương tiện truyền thông để kích thích những thị hiếu vật chất và tầm thường vốn dễ dàng được thoả mãn. Vì thế, theo Marcuse, các phương tiện truyền thông đại chúng chính là một trong những nhân tố quyết định trong việc thống trị dân chúng trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Khuynh hướng phê phán trong lĩnh vực nghiên cứu về truyền thông đại chúng hiện nay vẫn còn được tiếp nối với nhiều trường phái 54
  13. khác nhau. Chẳng hạn, lý thuyết kinh tế chính trị có quan điểm là luôn nhấn mạnh tới nhân tố kinh tế khi phân tích về truyền thông đại chúng. Lý thuyết này khẳng định rằng cơ sở kinh tế quyết định hệ tư tưởng, chứ không phải ngược lại. Các tác giả theo quan điểm này chú ý đặc biệt tới cơ cấu sở hữu của các phương tiện truyền thông. Họ quan niệm rằng cần coi các phương tiện truyền thông như là một bộ phận thuộc về hệ thống kinh tế, và qua đó cũng gắn liền với hệ thống chính trị. Do đó, họ coi truyền thông đại chúng như là một phương tiện được sử dụng để hợp thức hóa (legitimation) và duy trì sự phân tầng kinh tế-xã hội của xã hội tư bản chủ nghĩa. Các tác giả theo trường phái này cũng thường lưu ý tới hiện tượng tập trung nhiều phương tiện truyền thông đại chúng vào trong tay của một vài tập đoàn lớn. Quả thật là ngày nay, chúng ta thấy ngày càng có nhiều vụ liên kết hoặc sát nhập giữa các đài truyền hình, đài phát thanh, báo chí, và nhà xuất bản với nhau. Xu hướng này bộc lộ sự tập trung quyền lực ngay trong nội bộ giới truyền thông. Các tác giả cho rằng một trong hậu quả của hiện tượng tập trung này là hạn chế tính đa dạng trong cách thức thông tin cũng như trong các ý kiến bình luận về thời sự. Kế tục xu hướng của lý thuyết phê phán, cũng có một lối tiếp cận nữa từ góc độ văn hóa, thường được gọi là trào lưu “Cultural Studies” (“nghiên cứu văn hóa”). Đây là một trào lưu rất thịnh hành ở Anh và Mỹ trong những năm 1970-1990, ra đời từ đại học Birmingham (Anh) vào đầu thập niên 1960. Những người thường được coi là sáng lập ra trào lưu này là Richard Hoggart, Edward Thompson, Raymond Williams, và Stuart Hall. Xu hướng nghiên cứu này lúc đầu chịu ảnh hưởng phần nào của tư tưởng trường phái Frankfurt trong lối phân tích phê phán sự thống trị văn hóa trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Nhưng họ không chấp nhận quan điểm chỉ nhấn mạnh tới nền văn hóa “tinh 55
  14. hoa” (elitist) của trường phái Frankfurt, vì họ cho rằng suy nghĩ như vậy vô hình trung coi thường “văn hóa đại chúng” hay “văn hóa bình dân” và coi các tầng lớp lao động như không có khả năng sáng tạo ra một nền văn hóa thực thụ vì đã bị làm cho tha hóa bởi các phương tiện truyền thông đại chúng. Trào lưu này, ngược lại, nhấn mạnh tới khả năng đề kháng cũng như khả năng sáng tạo phong phú của công chúng, nhất là nơi các tầng lớp bình dân, trong việc sử dụng và tiếp nhận các thông điệp truyền thông đại chúng. Theo trào lưu “Cultural Studies”, văn hóa “bình dân” hay văn hóa “đại chúng” không phải chỉ là một sự phản ánh đơn thuần của sự thống trị, mà là sự biểu hiện một mối quan hệ đối thoại hay thương lượng (giữa văn hóa của các tầng lớp lao động với văn hóa của các tầng lớp thống trị), mặc dù kết quả của quá trình “thương lượng” (hay điều đình) này tất nhiên cuối cùng thường ngả về phía có lợi cho các tầng lớp thống trị. MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN KHÁC Một hướng tiếp cận khác không liên quan tới hai luồng tư tưởng chức năng và phê phán trên đây, đó là lý thuyết quyết định luận kỹ thuật (technological determinism) xuất phát từ trường phái Toronto. Cha đẻ của lý thuyết này là Harold Innis cho rằng chính kỹ thuật của các phương tiện truyền thông là yếu tố quyết định cách thức suy nghĩ và ứng xử của người dân. Ông phân tích về những ảnh hưởng của kỹ thuật truyền thông đối với lĩnh vực chính trị. Sở dĩ đế quốc La Mã có thể đứng vững một thời gian tương đối dài chính là vì lúc ấy đã tồn tại văn hóa chữ viết, nhờ đó mà người ta thiết lập được một bộ máy hành chánh, có khả năng quản lý được cả những vùng xa xôi. Nhưng kể từ khi kỹ thuật máy in ra đời, người ta bắt đầu có cơ sở để đương đầu lại 56
  15. với guồng máy hành chánh thống trị nói trên và hình thành nên ý thức quốc gia, và sau đó là phát triển ý thức cá nhân. Marshall McLuhan đã phát triển thêm những tư tưởng của Innis. McLuhan cho rằng kỹ thuật là sự nối dài của hệ thống thần kinh của con người, vì thế những thay đổi về kỹ thuật có thể dẫn tới những cách thức tri giác và nhận thức mới. Ông ta cho rằng các phương tiện truyền thông điện tử đã tạo nên một dạng ý thức trực tiếp mới, trong đó những phạm trù cũ về không gian và thời gian không còn phù hợp nữa. Mặc dù sau này, người ta đã bác bỏ những nhận định của McLuhan, nhất là những ý tưởng của ông liên quan đến những hậu quả của các phương tiện truyền thông thính thị, nhưng công trình nghiên cứu độc đáo của McLuhan vẫn được coi là nêu ra được những gợi ý bổ ích. Ngày nay, nhất là khi mà Internet đang ngày càng phát triển và xâm nhập vào nhiều lĩnh vực khác nhau, một số nhà nghiên cứu đang có xu hướng trở lại với luận điểm của Innis: họ cho rằng những đặc trưng kỹ thuật của một phương tiện truyền thông có thể là một trong những nhân tố quan trọng cần lưu tâm khi nghiên cứu về những chuyển biến xã hội. Lý thuyết văn hóa của G. Gerbner thì cho rằng truyền hình, vốn mạnh nhất trong các phương tiện truyền thông đại chúng, góp phần tạo nên quan niệm của công chúng về thực tại. Chính truyền hình đã củng cố và duy trì những lối ứng xử và suy nghĩ truyền thống của người dân, chứ không hề làm suy yếu chúng như một số tác giả quan niệm. Vì thế, truyền hình là công cụ bảo tồn hiện trạng xã hội. Chức năng văn hóa của truyền hình là phổ biến và duy trì những khuôn thước xã hội, chứ không phải là khuyến khích sự thay đổi. Truyền hình là một phương tiện xã hội hóa các vai trò trong xã hội, và do đó củng cố trật tự xã hội. Gerbner đã tiến hành phân tích nội dung đối với các chương trình 57
  16. được phát trên đài truyền hình, và đồng thời, ông ta khảo sát xem công chúng tiếp nhận và lý giải các thông điệp ấy như thế nào. Trái ngược với nhiều tác giả khác, Gerbner cho rằng truyền hình có một ảnh hưởng lâu dài đối với việc hình thành dư luận công chúng. Truyền hình không phải chỉ là phương tiện thông tin và giải trí, nó còn trình bày cho công chúng một “hình ảnh lý tưởng” của xã hội, nó góp phần lèo lái và nhào nặn nên những thái độ, thị hiếu, và sở thích của công chúng. Cái thế giới mà truyền hình chiếu cho chúng ta coi, theo Gerbner, chỉ là một thứ thế giới “ảo”, rất ít giống với thực tại xã hội mà chúng ta đang sống. Vì thế, người nghiên cứu không thể chỉ nghiên cứu một buổi phát hình là đủ, mà phải khảo sát tổng thể hàng loạt chương trình thì mới có thể tìm ra được những trục tư tưởng nằm tiềm ẩn bên dưới các thông điệp được truyền tải trên màn hình hàng ngày [xem Judith Lazar, sách đã dẫn, tr. 31-43]. Một số điểm cần lưu ý và ghi nhớ trong Chương 3: - Một số khái niệm và luận điểm chính thường được sử dụng trong trường phái chức năng luận như “chức năng”, “phản chức năng”, “chức năng công khai” và “chức năng tiềm ẩn” - Những đặc điểm chính của trường phái lý thuyết phê phán. - Lý thuyết quyết định luận kỹ thuật (technological determinism). Câu hỏi ôn tập: 1. Trong lịch sử nghiên cứu xã hội học về truyền thông đại chúng, người ta thường phân biệt ra mấy giai đoạn chính? Hãy nêu đặc điểm của mỗi giai đoạn. 58
  17. 2. Theo trường phái chức năng luận, các phương tiện truyền thông đại chúng có những chức năng xã hội nào? 3. Hãy nêu vắn tắt vài luận điểm của các trường phái theo khuynh hướng phê phán đối với truyền thông đại chúng. Câu hỏi thảo luận nhóm: (hoặc tự mình trả lời bằng suy nghĩ cá nhân) 1. Hãy thử tìm những chức năng xã hội của tờ báo Tuổi trẻ. 59
  18. Bài 4 NGHIÊN CỨU CÔNG CHÚNG Giới thiệu khái quát: Chương này trình bày những đặc điểm của công chúng, ứng xử truyền thông của công chúng, và cách sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng nơi các tầng lớp công chúng khác nhau. Một số lý thuyết xã hội học có liên quan tới lĩnh vực nghiên cứu về công chúng cũng được điểm qua trong chương này. Mục tiêu của chương này: Làm sao hiểu được những đặc trưng của khái niệm “công chúng” của các phương tiện truyền thông đại chúng, và nắm được một số nội dung thường được khảo sát trong lĩnh vực nghiên cứu về công chúng. Các phương tiện thông tin đại chúng luôn nhắm tới đông đảo mọi người trong công chúng mà không hề phân biệt hay hạn chế bất cứ ai. Ai muốn mua báo đọc cũng được; ai muốn mở rađiô nghe hay coi ti-vi lúc nào cũng được, không ai cấm mà cũng không ai bắt phải mở; và đọc, nghe hoặc xem càng đông càng tốt, dưới con mắt của nhà truyền thông. Công chúng của các phương tiện truyền thông đại chúng có những đặc trưng chính như sau: tính chất rộng lớn; tính chất dị biệt (bao gồm rất nhiều giới và tầng lớp khác nhau); và tính chất nặc danh (nhà truyền thông không thể biết đích xác công chúng của mình gồm 60
  19. những ai; và trong khối “công chúng” đó, cũng không ai biết ai). Do tính chất rộng lớn và mơ hồ đó, nên chúng ta không nên coi “công chúng” như một đối tượng nghiên cứu thuần nhất và đồng dạng. Ngược lại, cần hiểu rằng công chúng của một phương tiện truyền thông là một tập hợp xã hội rộng lớn, được cấu thành một cách phức tạp bởi nhiều giới, nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, và đang sống trong những mối quan hệ xã hội nhất định. Khi nghiên cứu về công chúng của một phương tiện thông tin đại chúng, chúng ta không thể tách những độc giả hay khán giả này ra khỏi môi trường sống của họ, mà ngược lại, phải tìm hiểu họ trong bối cảnh các điều kiện sống cũng như các mối quan hệ xã hội của họ. Như chúng ta đã biết, trong thời kỳ đầu nghiên cứu về ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đối với dư luận và ứng xử của công chúng, các nhà nghiên cứu đã quá nhấn mạnh tới tác dụng tiêu cực của các phương tiện thông tin đại chúng. Mô hình ảnh hưởng “vạn năng” của truyền thông đại chúng trong thời kỳ này thường được gọi là mô hình “mũi kim tiêm” hoặc “viên đạn thần kỳ”. Những công trình nghiên cứu về sau đã bác bỏ mô hình trên, vì nó quá giản lược. Nhiều nhà nghiên cứu nhấn mạnh nhiều hơn tới bối cảnh xã hội của cá nhân trong quá trình truyền thông. Họ cho rằng : mặc dù quả thực là công chúng phần lớn đều nặc danh trước mắt các nhà truyền thông, nhưng hiếm có trường hợp nào mà độc giả hay khán thính giả hoàn toàn cô lập và đơn độc một mình trước phương tiện thông tin. Khi coi ti-vi hay nghe rađiô (dù là để theo dõi một trận bóng đá, hay để theo dõi tin tức), thường thường người ta coi hoặc nghe cùng với một vài người khác trong gia đình hoặc bạn bè. Dù có đọc báo hay coi ti-vi một mình đi nữa, thì bên cạnh tư cách là độc giả của một tờ báo, hay khán giả của đài truyền hình, mỗi cá nhân chúng ta đều vẫn là thành viên của một gia đình, của một nhóm bạn bè, của một 61
  20. tổ chức nghề nghiệp hay một đoàn thể xã hội nào đó. Những nhóm xã hội này luôn luôn ảnh hưởng tới ý kiến, thái độ và cách ứng xử của mỗi cá nhân, và ảnh hưởng cả tới cách thức mà mỗi người tiếp nhận thông tin từ các phương tiện truyền thông. Các phương tiện truyền thông tác động đối với cá nhân phần lớn đều thông qua các nhóm xã hội ấy. Hai nhà nghiên cứu Matilda Riley và John Riley đã chứng minh được tầm quan trọng của những mối liên hệ liên cá nhân trong quá trình truyền thông đại chúng. Họ đã khám phá ra rằng: những đứa trẻ nào được nuôi dạy trong những gia đình đầm ấm (tức không bị ly tán), và hòa hợp được với bạn bè đồng trang lứa thì thường dành ít thời gian coi ti-vi hơn và ít muốn bắt chước những nhân vật trong phim hơn so với những đứa trẻ sống trong những gia đình “lục đục” (cha mẹ ly hôn chẳng hạn) và không hội nhập được với bạn bè cùng trang lứa. Ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông đại chúng đối với các cá nhân hiếm có khi nào diễn ra một cách trực tiếp giống như một “mũi kim tiêm", mà luôn luôn là gián tiếp, thông qua nhiều tầng nấc trung gian, nhất là thông qua ảnh hưởng của những người “hướng dẫn dư luận” trong các nhóm xã hội (xem lại chương 1). NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG CHÚNG Mục tiêu của xã hội học về công chúng là điều tra và khảo sát để hiểu công chúng là ai, thuộc những tầng lớp nào, họ theo dõi các phương tiện thông tin đại chúng nào nhiều nhất, đọc báo hoặc xem ti- vi có thường xuyên hay không, họ có phản ứng hoặc thái độ thế nào đối với báo chí, rađiô và ti-vi Nói chung, mục tiêu là tìm hiểu xem các giới công chúng khác nhau tiếp nhận và sử dụng các phương tiện 62
  21. truyền thông đại chúng như thế nào. Những dữ kiện đầu tiên mà người ta thường khảo sát khi tiến hành một cuộc điều tra về công chúng của một tờ báo chẳng hạn, là những con số thống kê về các đặc điểm nhân khẩu học như giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn, và các đặc điểm xã hội như nghề nghiệp, quan hệ gia đình, quan hệ xã hội của số công chúng này. Sau đó, người ta khảo sát những cách thức đọc báo của độc giả tờ báo, và những phản ứng, ý kiến và thái độ của họ đối với tờ báo nói chung, cũng như đối với từng trang mục cụ thể nói riêng. Đi sâu hơn nữa, người ta còn tìm cách phân tích và lý giải sự khác biệt giữa các giới và các tầng lớp xã hội khác nhau trong việc đọc báo và tiếp nhận nội dung của tờ báo. Trước đây, các nhà xã hội học thường chỉ chú ý khảo sát ứng xử của công chúng đối với một phương tiện truyền thông. Nhưng về sau, xu hướng phổ biến trong giới nghiên cứu xã hội học là tìm cách đi xa hơn: đó là cố gắng nối kết ứng xử đó với cơ cấu xã hội, hay nói cách khác, đặt ứng xử của công chúng đối với truyền thông đại chúng trong bối cảnh xã hội của họ (chẳng hạn, nghiên cứu về tập quán coi ti-vi nơi các tầng lớp xã hội khác nhau). Lối đặt vấn đề như vậy giúp chúng ta đo lường kỹ lưỡng hơn và lý giải sâu sắc hơn những xu hướng và chuyển biến trong ứng xử của công chúng. Lấy một thí dụ: những gia đình nào mà mọi thành viên đều đã học hết trung học thường có những tập quán và cách thức đọc báo khác với những gia đình mà cha mẹ chưa học hết bậc trung học. Hay một thí dụ khác: những cặp vợ chồng nào đều đã học xong đại học thường có thái độ đối với truyền hình khác với những cặp vợ chồng có trình độ học vấn thấp hơn, hoặc chỉ có một trong hai người là tốt nghiệp đại học. Các cuộc điều tra xã hội học thực nghiệm đã cho thấy là không phải chỉ có trình độ học vấn mới ảnh hưởng tới thái độ đối với truyền thông đại chúng, mà nhiều nhân tố xã hội khác cũng có thể tác động 63
  22. vào đây. Thí dụ ảnh hưởng của người bạn đời : nhiều cuộc điều tra ở Bắc Mỹ cho biết là những người có vợ học hết bậc trung học thường có tỷ lệ đọc báo và tạp chí đông hơn so với những người có vợ chưa học tới trung học. Nói chung, qua các cuộc điều tra, người ta cố gắng khám phá mối quan hệ giữa cách thức sử dụng truyền thông đại chúng với các đặc điểm nhân khẩu cũng như các đặc điểm xã hội của công chúng. Nhà xã hội học Wright, qua những kết quả điều tra ở Mỹ, nhận xét rằng những người nào có đọc báo đều đặn mỗi ngày (dù những người này có coi ti-vi nhiều hay ít) đều là những người theo dõi kịp thời về thời sự chính trị và thường sẵn sàng nói chuyện chính trị nhiều hơn so với những người chỉ theo dõi tin tức thời sự qua truyền hình và không đọc báo mà cũng không nghe rađiô. ỨNG XỬ TRUYỀN THÔNG CỦA CÔNG CHÚNG Ở nhiều nước công nghiệp phát triển, người ta đã tiến hành rất nhiều công trình nghiên cứu về ứng xử truyền thông của công chúng (chúng tôi dùng chữ “ứng xử truyền thông” để chỉ một cách ngắn gọn các cách thức và tập quán sử dụng truyền thông đại chúng nơi người dân, cũng như thái độ của họ đối với truyền thông đại chúng). Các đề tài nghiên cứu thực nghiệm thường khảo sát xem người dân thường chọn đọc báo nào, thích đọc những mục gì nhất, thường nghe hoặc xem chương trình gì trên rađiô và ti-vi, đọc báo hoặc coi ti-vi vào lúc nào, trong bao lâu, chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong ngân sách thời gian, chiếm vị trí nào trong thời gian rảnh rỗi của người dân, thái độ của họ đối với các chương trình, các đề mục Khi nghiên cứu về quá trình phát triển của các phương tiện thông 64
  23. tin đại chúng, Francis Balle đã nhận diện ra ba giai đoạn chính nơi tập quán và thái độ của công chúng mỗi khi có một phương tiện truyền thông mới ra đời. Đó là: giai đoạn mê mẩn, giai đoạn bão hòa, và giai đoạn trưởng thành. Ở giai đoạn đầu, khi một phương tiện truyền thông vừa chào đời, công chúng thường tỏ ra rất hào hứng, phấn khích, và dành ra rất nhiều thời gian và tâm trí để theo dõi. Nhưng sang giai đoạn kế tiếp, người ta bắt đầu cảm thấy chán vì đã theo dõi quá nhiều; lúc này, người ta cũng tỏ ra hoài nghi và bắt đầu đòi hỏi nhiều hơn đối với nội dung các trang mục hoặc chương trình. Và rồi cuối cùng chuyển sang giai đoạn thứ ba, khi mà việc theo dõi phương tiện truyền thông này đã đi vào tập quán trong nếp sống hàng ngày của họ: lúc này, người ta không còn bị mê hoặc dễ dàng như thời gian ban đầu nữa, họ bình tĩnh trở lại và sử dụng phương tiện này một cách hợp lý hơn; người ta biết phê bình nội dung chương trình này hay đề mục khác, biết chọn lọc những cái cần xem, và khôi phục lại những tập quán cũ đã có từ trước trong việc sử dụng ngân sách thời gian [xem Francis Balle, Médias et société, Paris, Montchrestien, 1980, tr. 548- 550.] Cuối thập niên 1920, khi phương tiện phát thanh bắt đầu được khai sinh tại Pháp, người ta cảm thấy rất hồ hởi và ai ai cũng nô nức mải mê nghe đài. Cứ buổi chiều, sau giờ tan sở, ai cũng vội vàng về nhà để kịp nghe các chương trình phát thanh, chứ không ghé qua những quán rượu làm vài ly như trước nữa. Đến mức mà năm 1927, ở miền Bắc nước Pháp, có lần nghiệp đoàn các nhà sản xuất rượu phải kiện lên chính quyền tỉnh và đề nghị dẹp bỏ các chương trình phát thanh, nhưng tất nhiên là không dẹp được. Tuy nhiên, đến sau năm 1945, khi nước Pháp vừa được giải phóng khỏi ách phát-xít Đức, rađiô bắt đầu bị lu mờ vì sự hồi sinh của báo chí trong thời kỳ sau chiến tranh. Nhưng sau đó vài năm, thì 65
  24. người ta lại dần dần nhận thức trở lại nhu cầu nghe rađiô trong sinh hoạt hàng ngày [xem Francis Balle, sách đã dẫn, trang 548.]. Ở Anh, W. A. Belson cũng phát hiện một quá trình tương tự khi theo dõi và khảo sát các ứng xử và thái độ của công chúng lúc mới có truyền hình. Trong vòng hai năm liên tiếp sau khi mua chiếc máy thu hình, người ta đã giảm đi rất nhiều thời gian đọc báo, đọc sách cũng ít hơn, đi xem kịch hoặc xem phim ngoài rạp cũng thưa thớt hẳn đi, thậm chí giảm hẳn cả mật độ giao du với bạn bè. Tuy nhiên, sau thời gian bị mê hoặc ban đầu này, công chúng truyền hình mới dần dần bắt đầu cảm thấy lo lắng trước một số hậu quả mà họ nghĩ là do truyền hình gây ra. Họ trách cứ ti-vi là hay đưa ra nhiều cảnh bạo lực cho trẻ con xem, họ chê bai những chương trình vô bổ, mất thì giờ, trong khi có thể dành thời gian làm những chuyện có ích hơn Và Belson nhận thấy phải mất 6 năm sau khi mua chiếc ti-vi thì công chúng mới khôi phục lại một cách bình thường những tập quán vốn có trước đây của họ, là lại tiếp tục đi xem kịch, đi xem phim, đến thăm bạn bè Nghĩa là đến giai đoạn này, công chúng truyền hình mới thực sự bước vào “tuổi trưởng thành”, coi ti-vi như một phương tiện truyền thông bình thường như các phương tiện truyền thông khác, và biết chọn lọc những gì mà mình cần coi [xem Francis Balle, sách đã dẫn, trang 549- 550.] Có một số công trình nghiên cứu chú trọng tới các lối ứng xử của cá nhân đối với truyền thông đại chúng, và đề xướng việc phân loại các kiểu ứng xử khác nhau. Một cuộc điều tra nơi tầng lớp trung lưu ở vùng ngoại ô nằm giữa Philadelphia và New York (Mỹ) đã cho thấy có bốn loại ứng xử chính như sau: - Những người tiêu thụ bất kể thứ phương tiện truyền thông đại chúng nào, xem “hổ lốn” đủ mọi thứ nội dung chương trình mà không hề chọn lựa; 66
  25. - Những người “chọn lọc nguồn”: số này chỉ chọn theo dõi một loại phương tiện truyền thông mà thôi; - Những người “chọn lọc đề tài”: số này chọn đề tài mà mình muốn xem và tìm trên các phương tiện truyền thông khác nhau (thí dụ: những người thích coi thể thao vừa trên truyền hình, vừa trên báo in); - Cuối cùng là những người tránh né mọi phương tiện truyền thông đại chúng; theo tác giả nghiên cứu này, thì số người thuộc loại này rất ít [xem Judith Lazar, Sociologie de la communication de masse, Paris, Armand Colin, 1991, trang 81.] CÁCH SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG NƠI CÁC TẦNG LỚP CÔNG CHÚNG Khi nghiên cứu về cách thức sử dụng hay hưởng thụ sản phẩm của các phương tiện truyền thông đại chúng, người ta thường khảo sát trước hết về ngân sách thời gian rảnh rỗi của người dân, để coi trong đó người dân dành ra bao nhiêu thời gian cho truyền thông đại chúng. Khảo sát một cách chi tiết, người ta nhận thấy số lượng thời gian dành cho các phương tiện truyền thông đại chúng nhiều hay ít còn phụ thuộc vào những giai đoạn khác nhau trong cuộc sống mỗi người. Những công trình điều tra ở Mỹ cho thấy mức độ coi ti-vi nơi trẻ con gia tăng dần cho tới lúc chúng bắt đầu vào tiểu học; thời gian coi ti-vi có giảm đi trong thời gian học tiểu học và trung học, sau đó, khi bắt đầu đi làm, lại tăng lên và kéo dài ở mức độ này cho đến khi về hưu; lúc tới tuổi hưu, thời gian coi ti-vi lại tăng lên thêm một chút nữa. Những người trên 65 tuổi thường ngồi coi ti-vi nhiều hơn là những người còn đang ở tuổi lao động. Ở Mỹ, người ta cũng nhận thấy là có một số thành phần xã hội coi ti-vi nhiều hơn các thành phần khác: đó 67
  26. là trẻ con, phụ nữ, những người da màu, nhất là da đen, và những người về hưu. Ngoài ra, thời gian xem ti-vi cũng còn phụ thuộc vào mùa nào trong năm, cũng như ngày nào trong tuần. Những cuộc điều tra ở Pháp đối với trẻ em 8-14 tuổi cho biết là chúng xem truyền hình vào mùa đông nhiều hơn là mùa hè, đơn giản là vì mùa hè có khí hậu ấm áp hơn nên chúng có thể ra sân hoặc ra vườn chơi. Trung bình chúng coi ti-vi 1 giờ 40 phút vào mùa hè, 2 giờ vào mùa Thu, và lên tới 3 giờ 20 phút vào kỳ nghỉ Giáng sinh (số liệu điều tra năm 1981). Trong năm học, chúng thường xem nhiều nhất vào các ngày thứ Tư (là ngày nghỉ học), và nhất là ngày thứ Bảy và Chủ nhật. Những cuộc điều tra ở Mỹ nơi người lớn cũng cho thấy xu hướng xem ti-vi nhiều hơn vào mùa đông. Và ngoài ra, còn có sự khác biệt về thời điểm coi ti-vi trong ngày: buổi sáng, chỉ có 9% người Mỹ coi truyền hình, nhưng đến đầu buổi tối, tỷ lệ này là 30 %, và lên tới 45 % trong khoảng thời gian từ 20g tới 23g, giờ “cao điểm” của truyền hình. Các nhà nghiên cứu còn quan tâm cả tới những loại hoạt động khác của người dân diễn ra song song với việc coi ti-vi: có khá nhiều người thường vừa coi ti-vi, vừa đồng thời làm những công việc khác trong nhà. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa truyền hình và công chúng ở Pháp năm 1974 và năm 1977, Michel Souchon đã đối chiếu giữa cơ cấu các chương trình do đài truyền hình phát sóng, với cơ cấu các chương trình mà công chúng xem trong thực tế. Qua đó, Souchon đã kết luận như sau: những thay đổi trong cách thiết kế các chương trình và trong cơ cấu các chương trình của đài truyền hình đã không có tác động đáng kể đối với cách thức mà công chúng sắp xếp các chương trình mà họ xem thường xuyên (xem bảng 3). 68
  27. Gần đây, người ta lại khám phá ra một kiểu coi ti-vi mới, mà người ta gọi là “zapping”: việc xuất hiện của cái “ri-mốt” (remote control, tức là bộ điều khiển từ xa) vào đầu những năm 1980, cộng với sự ra đời của nhiều đài truyền hình mới nhờ có kỹ thuật cáp và vệ tinh, đã làm nảy sinh một kiểu sử dụng truyền hình mới nơi công chúng, hay nói đúng hơn, là một thái độ mới đối với truyền hình. Có thể nói “zapping” là một thứ bệnh: cứ bấm đổi đài liên tục, coi đài này một hồi thấy không thích lại đổi đài khác, không dừng lại lâu ở một đài nào để coi một chương trình cho trọn vẹn, và cuối cùng thường chỉ còn sót lại trong đầu một mớ hình ảnh hỗn độn! Hai nhà nghiên cứu Ch.de Gournay và P.A.Mercier giải thích như sau: những người chuyên môn zapping thường là những người coi truyền hình quá nhiều, để thoát khỏi mặc cảm là mình bị nô lệ vào nó, họ zapping để chứng tỏ rằng mình có thể điều khiển được, “làm chủ” được cái ti-vi (bằng cái ri-mốt), tự mình có quyền chọn xem chương trình nào hay đài nào mà mình muốn, vào bất cứ lúc nào. Hậu quả của thứ ảo giác này là một kiểu tri giác lộn xộn, vỡ vụn. Hai nhà nghiên cứu trên kết luận: lối coi ti-vi zapping, vốn thường là lối coi của người cô đơn, thay vì tạo điều kiện thúc đẩy sự giao lưu xã hội ngược lại đã giam hãm người xem vào trong cái thế giới riêng của chính mình. Bảng 3. Cơ cấu các chương trình truyền hình được phát sóng, và các chương trình truyền hình được công chúng xem, điều tra năm 1974 và năm 1977 ở Pháp (đơn vị tính : %) Các chương trình Các chương trình được phát sóng được công chúng xem 1974 1977 1974 1977 1. Tin tức, thời sự 29,2 35,8 25,5 27,1 69
  28. 2. Văn hóa, nghệ thuật, và phổ biến 15,6 12,1 5,4 5,0 kiến thức 3. Phim, kịch, sân 29,3 23,8 44,7 40,6 khấu 4. Giải trí, trò chơi 9,8 14,9 15,3 20,6 5. Thể thao 8,5 5,2 6,8 4,0 6. Các chương trình dành cho tuổi trẻ 5,6 6,7 1,7 2,2 7. Các chương trình 2,0 1,5 0,6 0,4 tôn giáo Tổng cộng 100,0 100,0 100,0 100,0 Nguồn: Michel Souchon, Association française de Science politique, tháng 11-1978. Ghi chú: Michel Souchon đã tính toán như sau, lấy thí dụ mục “Tin tức, thời sự”: trong vòng 6 tháng đầu năm 1974, các chương trình tin tức và thời sự chiếm 1.000 giờ đồng hồ trong tổng số 3.424 giờ phát sóng, tức là chiếm tỷ lệ 29,2 %. Cũng trong khoảng thời gian này, khán giả truyền hình đã dành ra bình quân 110 giờ đồng hồ để theo dõi tin tức và thời sự trong tổng số 433 giờ mà họ dành ra để xem truyền hình, bằng 25,5 %, nghĩa là có tỷ lệ ít hơn so với tỷ lệ các chương trình tin tức và thời sự mà đài truyền hình đã phát ra. Trong số các trường phái nghiên cứu về truyền thông đại chúng, có một lý thuyết mà người ta thường gọi là lý thuyết “sử dụng và hài lòng” (usages and gratifications). Lý thuyết này quan niệm rằng các giới công chúng có thể có những mức độ hài lòng khác nhau đối với các phương tiện truyền thông đại chúng, tùy thuộc vào việc mỗi giới có những nhu cầu gì, và việc họ sử dụng các phương tiện truyền thông 70
  29. như thế nào. Mặc dù giới hạn của lý thuyết này là chỉ lý giải trên cơ sở các chức năng của truyền thông đại chúng và các nhu cầu của công chúng (chứ không chú ý tới bối cảnh xã hội), nhưng nó có mặt tích cực là đã vượt qua được lối đặt vấn đề cũ về ảnh hưởng của truyền thông đại chúng (truyền thông đại chúng tác động thế nào đối với người dân?), và nhấn mạnh hơn đến vai trò chủ động và khả năng chọn lựa của công chúng (người dân sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng như thế nào?). Một công trình nghiên cứu công bố năm 1972 của J. Sousselier về thái độ của công chúng Pháp đối với truyền hình đã đi theo xu hướng lý thuyết vừa nêu. Bằng cách đề nghị những người được hỏi cho điểm (từ 1 tới 6 điểm) đối với các chương trình được phát trên truyền hình, Sousselier xử lý kết quả điều tra và cuối cùng đã phác họa được bốn loại ứng xử chính như sau. (a) Những người tránh né (8 %): nhóm này chỉ xem một vài chương trình mà thôi (tỷ lệ của nhóm này tương đối cao hơn nơi những người sinh sống ở Paris, nơi lớp trẻ 15-24 tuổi, nơi sinh viên, những người có trình độ học vấn trung học, cán bộ trung cấp). (b) Những người thụ động (29%): thích coi những chương trình “bình dân” và ngán coi những chương trình quá “trí thức” như văn học, khoa học kỹ thuật, tài liệu (trong nhóm này, chiếm tỷ lệ đông là lớp thanh niên 15-24 tuổi, những người có trình độ học vấn tiểu học, công nhân và nông dân). (c) Những người chọn lọc (30 %): đặc biệt thích xem những chương trình giàu nội dung tri thức (nhóm này có tỷ lệ đông hơn nơi những người có trình độ trung học và đại học, nơi cư dân ở các thành phố vừa và lớn, và nơi cán bộ trung cấp và cao cấp). (d) Những người hài lòng (33%): thích coi hầu như tất cả mọi 71
  30. chương trình, mặc dù tỷ lệ thích coi các chương trình tri thức có kém hơn một chút so với các chương trình bình dân (đặc biệt là nơi những người sinh sống ở các thành phố nhỏ hoặc các thị trấn, nơi các nhân viên, giới về hưu, và những người có trình độ học vấn tiểu học) [xem Francis Balle, sách đã dẫn, trang 550-552]. Mặc dù cái hạn chế của lối phân tích theo lý thuyết “sử dụng và hài lòng” trên đây là không quan tâm đủ tới các nhân tố xã hội, nhưng chúng ta có thể sử dụng nó như một phương pháp ban đầu hữu ích để mô tả các thái độ và ứng xử của công chúng trước các phương tiện truyền thông đại chúng. Một số điểm cần lưu ý và ghi nhớ trong Chương 4: - Những đặc điểm của công chúng của các phương tiện truyền thông đại chúng. - Những nội dung cần khảo sát khi tiến hành nghiên cứu về công chúng. - Những tầng lớp xã hội khác nhau thường có những cách thức tiếp nhận và sử dụng khác nhau đối với các phương tiện truyền thông đại chúng. - Phân loại công chúng theo cách thức mà họ sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng (theo kết quả điều tra). Câu hỏi ôn tập: 1. Mỗi khi xuất hiện một phương tiện truyền thông đại chúng mới, thái độ của công chúng thường trải qua mấy giai đoạn, và đặc điểm của mỗi giai đoạn? 2. Tại sao một tờ báo (hay một đài truyền hình, một đài phát 72
  31. thanh) cần thường xuyên khảo sát và thăm dò công chúng của mình? 3. Cho biết đặc điểm của lối tiếp cận “sử dụng và hài lòng”. Câu hỏi thảo luận nhóm: (hoặc tự mình trả lời bằng suy nghĩ cá nhân) 1. Tại sao những tầng lớp công chúng khác nhau lại có thể có những cách hiểu và cách suy nghĩ khác nhau trước cùng một bộ phim truyền hình? 2. Khi so sánh giữa hai địa bàn nông thôn và đô thị, người ta thường nhận thấy cư dân nông thôn có tỷ lệ đọc báo ít hơn, nhưng lại thường có tỷ lệ nghe rađiô nhiều hơn so với cư dân đô thị. Anh/chị hãy thử lý giải nguyên nhân của sự khác biệt này. 3. Phụ nữ thường đọc báo nhiều hơn hay ít hơn so với nam giới ? Cho biết nguyên nhân và ý nghĩa xã hội của hiện tượng này. 4. Tại sao người dân có nhu cầu theo dõi thông tin thời sự hàng ngày trên các phương tiện truyền thông đại chúng? 73
  32. Bài 5 NGHIÊN CỨU CÁC NHÀ TRUYỀN THÔNG Giới thiệu khái quát: Nội dung chương này trình bày những đặc điểm của nghề làm báo, của lao động nhà báo, cũng như của bộ máy tòa soạn và quan hệ giữa các vai trò trong tổ chức truyền thông. Mục tiêu của chương này: Hiểu được một cách khái quát các đặc trưng của nghề làm báo và các hoạt động trong bộ máy tòa soạn. CÁC NHÀ TRUYỀN THÔNG Thuật ngữ “nhà truyền thông” (communicator) được dùng để chỉ những người làm việc chuyên nghiệp trong các tổ chức thông tin đại chúng. Tuy nhiên, đôi khi người ta cũng lẫn lộn giữa “nhà báo” và “nhà truyền thông”: thực ra, các nhà báo chỉ là một bộ phận trong giới các nhà truyền thông. Người ta thường phân biệt bốn nhóm người chính trong giới truyền thông: - Những người lãnh đạo (các nhà quản lý, điều hành), - Những người sáng tạo (bao gồm nhà văn, soạn giả, đạo diễn, diễn viên ), 74
  33. - Các nhà báo (bao gồm phóng viên, biên tập viên, thông tín viên ), - Các kỹ thuật viên (như họa sĩ, chuyên viên viđêô ). Trong số bốn nhóm người trên đây, thì nhóm thứ hai và nhóm thứ ba thường được coi là nòng cốt của hoạt động truyền thông đại chúng. Trong lịch sử nghiên cứu xã hội học về giới truyền thông, lúc đầu, người ta chỉ tập trung vào việc khảo sát về bản thân các nhà truyền thông, về những đặc điểm cá nhân cũng như đặc điểm xã hội của họ. Thế nhưng, về sau, khi mọi người đều nhận thức rõ rệt là công việc truyền thông đại chúng là một lao động chủ yếu mang tính chất tập thể, chứ không phải là lao động cá nhân, thì người ta bắt đầu chú ý nhiều hơn tới khía cạnh tổ chức của bộ máy truyền thông, và tới khía cạnh cơ cấu xã hội – vốn là những yếu tố bao trùm lên trên hoạt động của các nhà truyền thông. Có nhiều hướng tiếp cận khác nhau trong lĩnh vực nghiên cứu này, nhưng người ta thường phân biệt ba hướng chính như sau: a. Tập trung nghiên cứu về nguồn gốc xã hội cũng như những đặc điểm xã hội khác của các nhà truyền thông – vốn là được coi là những nhân tố có ảnh hưởng tới phương thức lao động và nội dung lao động của giới này. b. Vì sản phẩm của truyền thông đại chúng không phải là kết quả của lao động cá nhân, mà là của lao động tập thể, nên người ta cũng phải tiến hành phân tích các vai trò cụ thể trong tổ chức truyền thông. c. Nghiên cứu về tính chất lao động trong hoạt động truyền thông, và cơ cấu tổ chức của hoạt động này [Judith Lazar, Sociologie de la communication de masse, Paris, Armand Colin, 1991, trang 102]. Thực ra thì phần lớn các công trình điều tra thực nghiệm trong lĩnh vực này đều được tiến hành nơi giới nhà báo (kể cả báo in lẫn 75
  34. truyền hình và phát thanh), vì nhóm này chính là đội ngũ nòng cốt trong hoạt động thông tin đại chúng. NGHỀ LÀM BÁO Khi khảo sát quá trình ra đời và phát triển của báo chí, người ta có thể tự hỏi: vậy làm báo có phải là một “nghề” (profession) thực sự hay không ? ["Nghề” hiểu theo nghĩa là một hệ thống kỹ năng nghiệp vụ, và theo nghĩa là có một hệ thống qui tắc, tổ chức.] Xét về mặt định chế xã hội thì hiển nhiên ngày nay báo chí được coi là một nghề riêng biệt. Chúng ta thấy báo chí ở hầu hết các nước đều được thừa nhận và xác lập trong khuôn khổ luật pháp (có luật báo chí), có nghiệp đoàn hoặc hiệp hội nghề nghiệp, có các cơ quan báo chí, có lực lượng nhà báo chuyên nghiệp mà thu nhập chính là từ nghề báo. Tuy nhiên, so với nhiều nghề khác như bác sĩ hay kỹ sư chẳng hạn, thì nghề làm báo lại có một số điểm đặc thù, đặc biệt là không có một số tiêu chuẩn nghề nghiệp chặt chẽ như những nghề khác. Có thể nói không có nghề nào như nghề báo: cho đến nay, nghề này hầu như không đòi hỏi một loại bằng cấp gì cụ thể nhất định! Muốn ra làm bác sĩ, người ta phải học và tốt nghiệp đại học ngành y khoa; hay muốn làm kiến trúc sư chẳng hạn, thì phải lấy bằng ở trường đại học kiến trúc. Trong khi muốn vào nghề làm báo thì lại không nhất thiết phải tốt nghiệp từ một trường nào nhất định. Lẽ tất nhiên, với tình hình phát triển học vấn như hiện nay, phần lớn nhà báo đều có trình độ đại học, nhưng đa số lại xuất thân từ nhiều ngành học khác nhau, số tốt nghiệp từ trường báo chí chỉ chiếm một con số khá ít ỏi. Thậm chí có những tờ báo mà người ta cũng không nhất thiết yêu cầu phải có bằng đại học mới có thể trở thành nhà báo. Phần lớn kỹ 76
  35. năng làm báo được huấn luyện và truyền thụ ngay tại tòa soạn, nghĩa là trong thực tế công việc nhiều hơn là trên ghế nhà trường. Dưới con mắt của những người làm công tác quản lý và phân loại nghề nghiệp thì những tính chất đặc thù trong cách xác định tiêu chuẩn và năng lực của người làm báo như vừa nêu trên đây có thể làm cho người ta cảm thấy lúng túng. Thế nhưng trong cái nhìn của giới làm báo thì lại không như vậy. D. Ruellan gọi nghề làm báo là một “nghề giáp ranh” ("métier de frontière")- chữ ranh giới ở đây không phải hiểu theo nghĩa biên giới, mà là hiểu theo nghĩa của chữ “frontier” trong tiếng Anh, tức là một nghề không có những giới hạn cứng nhắc, máy móc, không có những lằn ranh rõ rệt. Hay nói cách khác, theo Ruellan, nghề này mang tính chất mở, tựa như đường chân trời càng đi tới càng thấy nó mở rộng ra [Erik Neveu, Sociologie du journalisme, Paris, La Découverte, 2001, tr. 20] Người ta có thể coi đặc điểm về tiêu chuẩn của nhà báo như nêu trên đây là một điều bất lợi về mặt tổ chức nghề nghiệp, vì nó mù mờ, không rạch ròi. Nhưng chúng ta cũng có thể coi đấy lại chính là một điểm mạnh, điểm thuận lợi. Chính vì ranh giới hay đường chân trời của nghề này không bị đóng kín, nên trong thế kỷ XX vừa qua, nó còn tiếp nhận và sát nhập với nhiều phương tiện truyền thông mới như phát thanh, truyền hình, và Internet – xu thế này làm cho báo chí ngày càng mạnh hơn. Và cũng chính vì không qui định phải tốt nghiệp bằng cấp gì nhất định mà nghề báo có thể thâu nạp rất nhiều người có những khả năng đa dạng và phong phú từ nhiều ngành chuyên môn khác nhau. Và đây cũng chính là sức mạnh của giới nhà báo. Khác với một vị giáo sư đại học hay một người kỹ sư, nhà báo có thể thành đạt hay thành danh không phải nhờ vào thời gian dùi mài kinh sử và thi cử để lấy bằng cấp, mà chủ yếu lại dựa vào những 77
  36. nguồn lực khác, từ khả năng diễn đạt, khả năng quan hệ xã hội, tiếp xúc với người khác, khả năng tiếp cận được những người có thế lực hay quyền hành (trong mọi lĩnh vực), cho đến một số phẩm chất cá nhân cần thiết cho nghề báo như tính trung thực, hay lòng gan dạ đối với phóng viên chiến trường chẳng hạn. Phần lớn những khả năng và phẩm chất này có được đều nhờ tự học là chính, tự rèn luyện và tích lũy qua thực tế và kinh nghiệm sống. LAO ĐỘNG CỦA NHÀ BÁO Trước đây, người ta thường ngộ nhận cho rằng nghề làm báo là một thứ “nghề tự do”. Ngày nay, khi nói về người làm báo, nói chung người ta không còn giữ một hình ảnh lãng mạn về nhà báo như một người hiểu biết nhiều và từng trải, dũng cảm và đơn độc trước trang giấy trắng hay cái máy đánh chữ như ngày xưa nữa. Bởi lẽ một trong những đặc trưng chủ yếu của hoạt động truyền thông đại chúng ngày nay là một thứ lao động tập thể và có tổ chức. Nhà truyền thông không lao động đơn độc một mình, nhưng luôn luôn làm việc cùng với nhiều người khác trong khuôn khổ của một bộ máy, một tổ chức, và của một xã hội nhất định. Thông tin được truyền đi không phải là một sản phẩm lao động cá nhân, mà thực ra là sản phẩm của một quá trình sản xuất của cả một bộ máy truyền thông, và nói rộng ra hơn, đó cũng là một sản phẩm tổng hợp của nhiều quá trình xã hội. Chính cái qui trình “sản xuất” như vậy, cộng với cưỡng chế về thời gian (mỗi bộ phận đều có deadline [giờ chót] riêng của mình, vì đến đúng giờ nào đó thì không thể không ra báo!), làm cho hoạt động của một tờ báo cũng mang tính chất tương tự như một xí nghiệp thực thụ. 78
  37. Chúng ta chỉ có thể thực sự hiểu được các kỹ năng và nghiệp vụ của nhà báo nếu đặt anh ta trong bộ máy tòa soạn của anh ta, trong bối cảnh các mối quan hệ tương thuộc (vừa phụ thuộc vừa tương tác) của anh ta với cấp trên, với đồng nghiệp, cũng như với các nguồn tin của mình. BỘ MÁY TÒA SOẠN Cũng giống như nhiều ngành nghề xã hội khác, nghề làm báo chính qui bây giờ đòi hỏi phải có một bộ máy với cơ cấu tổ chức rõ ràng, hoạt động theo một trình tự qui củ nhất định. Một tờ báo nói chung hay một tòa soạn nói riêng luôn luôn có một hệ thống quản lý, rạch ròi giữa cấp trên và cấp dưới, có kỷ luật lao động và kỷ luật thời gian chặt chẽ. Và một trong những yêu cầu là làm sao phối hợp được công việc một cách thật khít khao giữa nhiều chức danh và nhiều bộ phận chuyên môn khác nhau. Mỗi tờ báo có thể có một kiểu sơ đồ tổ chức riêng, tên gọi một số chức vụ trong tòa soạn cũng như sự phân công cho từng chức danh có thể không hoàn toàn giống nhau, nhưng tựu trung về nguyên tắc thì cách tổ chức một tờ báo vẫn có những nét chung căn bản. Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, vị trí then chốt đầu tiên là tổng biên tập (đối với báo in), hoặc tổng giám đốc hay giám đốc (đối với đài phát thanh, đài truyền hình). Người đứng đầu tổ chức truyền thông là người có nhiệm vụ “lãnh đạo và quản lý cơ quan báo chí về mọi mặt, bảo đảm thực hiện tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí và chịu trách nhiệm trước thủ trưởng cơ quan chủ quản và trước pháp luật về mọi hoạt động của cơ quan báo chí” [điều 13, chương IV, Luật báo chí năm 1989, sửa đổi, bổ sung năm 1999]. Thông thường bên cạnh tổng biên tập, còn có hai hoặc ba phó tổng biên tập, mỗi người 79
  38. được tổng biên tập ủy nhiệm phụ trách một ấn bản hoặc một lĩnh vực, chẳng hạn người thì lo tờ báo ra ngày thường, người lo tờ cuối tuần, và một vị phó phụ trách kinh doanh và trị sự. Trách nhiệm của tổng biên tập là làm sao xác lập đường hướng chủ trương của tờ báo, thể hiện thông qua quan điểm chọn lựa nội dung thông tin, cũng như phương pháp xử lý thông tin như thế nào. Đối với những biến cố thời sự lớn và quan trọng như vụ tấn công khủng bố ở New York năm 2001, những cuộc chiến tranh ở Afghanistan, ở Irak, hay vụ xử án băng Năm Cam chẳng hạn, tổng biên tập thường phải trực tiếp quyết định quan điểm đưa tin như thế nào, ưu tiên những góc độ nào căn cứ trên tôn chỉ mục đích của tờ báo và nhu cầu của độc giả, chẳng hạn chú trọng hướng điều tra tường thuật để đánh động vào cảm xúc của độc giả, hay đi theo hướng ưu tiên cho những phân tích và bình luận Nhân vật then chốt thứ hai trong tờ báo là thư ký tòa soạn. Người mang chức danh này chính là người trực tiếp quản lý các quá trình thực hiện nội dung theo chỉ đạo của tổng biên tập và ban biên tập, cũng như phải kịp thời xử lý tin tức theo dòng thời sự diễn ra liên tục trong ngày. Đây là người phải chọn lọc tin tức và sự kiện để thể hiện ý đồ nội dung xuất phát từ cuộc họp ban biên tập hoặc hội đồng biên tập. Thư ký tòa soạn phải theo dõi và đôn đốc việc nộp tin bài của phóng viên, phân bổ tin bài thế nào để lấp đầy diện tích các trang mục, kiểm soát và chăm sóc nội dung lẫn hình ảnh và cách trình bày từng trang báo cho đến tận các chi tiết, xử trí kịp thời với những tin tức giờ chót có khi làm đảo lộn cả trang nhất, cân nhắc coi có thể “gác lại” những tin nào vào những hôm có quá nhiều sự kiện, hay ngược lại có khi toát mồ hôi tìm cách lấp đầy một lỗ trống hoặc thay một tin quá dở bằng một bài nào đó chưa đăng Có thể nói vai thư ký tòa soạn thường là vai có cường độ lao động căng thẳng nhất trong một tòa 80
  39. soạn. Và các số báo hay hay dở phần lớn thường là do tài nghệ và bản lãnh của người thư ký tòa soạn, và đây thực sự là một nghề chuyên biệt. Tùy theo tính chất và qui mô của từng tờ báo, có tờ chỉ có một thư ký tòa soạn trực tiếp chỉ đạo toàn bộ đội ngũ phóng viên và biên tập viên, nhưng cũng có tờ có 2-3 thư ký và phó thư ký tòa soạn để luân phiên hoặc phân chia công việc. Ngoài chức danh thư ký tòa soạn, nhiều tờ báo như tờ Sài Gòn Giải phóng chẳng hạn còn có một nhân vật thứ ba trong tòa soạn, đó là các trưởng ban phụ trách các phóng viên từng lĩnh vực (như ban chính trị-xã hội, ban kinh tế, ban công nghiệp, ban văn hóa-văn nghệ, ban thể thao ). Ở tờ Tuổi trẻ, một số trưởng ban còn kiêm cả chức danh thư ký tòa soạn và tham gia vào công việc hàng ngày của ban thư ký tòa soạn, nhưng các trưởng ban này đều chịu sự chỉ đạo trực tiếp của một tổng thư ký tòa soạn. Hàng ngày, tại cuộc họp tòa soạn, các trưởng ban phải báo cáo về dự kiến tin tức và bài vở, diện tích cần có, và những tin đề nghị đưa lên trang nhất hoặc làm tin “vơ-đét” (tức là tin lớn quan trọng nhất nằm trên trang nhất).Ngoài ra cũng phải kể tới một nhân vật thứ tư tuy ít khi xuất hiện trong tòa soạn nhưng có thể ảnh hưởng hoặc chi phối ít nhiều nội dung bài vở, đó là người “chủ báo” trong trường hợp báo chí tư nhân ở các nước phương Tây; còn ở Việt Nam thì đó là cơ quan chủ quản của tờ báo. Như vậy, chúng ta có thể hình dung một bản tin sau khi được phóng viên nộp cho người trưởng ban sẽ còn phải đi một chặng đường khá dài, qua nhiều khâu đọc, biên tập và duyệt cho đăng. Và việc một bản tin bị “gác” hoặc bị trả lại cho phóng viên với nhiều lý do khác nhau là điều hoàn toàn bình thường trong hoạt động tòa soạn. Có khi bị ngay người trưởng ban từ chối vì viết không đạt, có khi bị thư ký tòa soạn trả lại vì bắt gặp một số thông tin quan trọng cần phối 81
  40. kiểm thêm, nhưng cũng đôi khi bị chính tổng biên tập quyết định “gác” vì bản tin dù viết tốt nhưng nội dung lại không phù hợp hoặc trái với chủ trương của tờ báo. Trách nhiệm của người phóng viên là hàng ngày phải “săn” cho ra tin mới, làm cho bằng được số tin đã được giao, tin nào làm không đạt hoặc nộp về trễ giờ thì bị phê bình hoặc quở trách. Trách nhiệm của người trưởng ban là vừa phải gợi ý đề tài cho phóng viên và đốc thúc họ đưa tin về sớm, vừa tìm cách thương lượng và thuyết phục người thư ký tòa soạn chấp thuận nội dung bài vở mà ban mình nộp lên. Còn người thư ký tòa soạn thì một mặt phải chịu gánh nặng quản lý hoạt động của các ban phóng viên, mặt khác là áp lực phải thực hiện các ý đồ chỉ đạo của tổng biên tập và ban biên tập, và ngoài ra còn là mảng trách nhiệm quản lý toàn bộ qui trình kỹ thuật tòa soạn (như biên tập chữ nghĩa, văn phong, sửa mo-rát, lập ma-két (tức là vẽ sơ đồ trình bầy từng trang báo), dựng trang trên máy vi tính ) trước khi chuyển sang khâu in ấn. Trên đây, chúng ta vừa mường tượng bộ máy tòa soạn bằng cách mô tả công việc của một số chức danh chính. Tuy nhiên cũng có một cách khác có thể giúp chúng ta dễ hình dung cụ thể hơn hoạt động của bộ máy này, đó là mô tả một ngày làm việc ở tòa soạn của một tờ nhật báo chẳng hạn. Đầu giờ sáng, người ta thường đọc lướt một vòng các tờ báo đối thủ cạnh tranh cũng như tham khảo qua các phương tiện truyền thông đại chúng khác để so sánh “mặt bằng” tin tức, chọn lựa sơ bộ các bản tin từ các hãng thông tấn và các thông cáo báo chí. Ở các ban phóng viên chuyên ngành, người ta bắt đầu thảo luận về kế hoạch đề tài cần làm, gợi ý cho phóng viên những góc độ tiếp cận tin tức và những khía cạnh cần khai thác, rồi cử phóng viên đi lấy tin. Giờ giấc nộp bài lẫn số chữ cho từng tin, từng bài thường được xác định một cách cụ 82
  41. thể và chặt chẽ. Cuối buổi sáng, cuộc họp tòa soạn đầu tiên giữa các thư ký tòa soạn và các trưởng ban sẽ đưa ra một danh sách dự kiến tin tức và bài vở cho số báo ngày hôm sau. Sau đó, trong suốt buổi chiều, các trưởng ban lần lượt nhận, đọc và biên tập sơ bộ các bản tin gởi về, phối kiểm lại một số chi tiết, điện thoại hỏi những phóng viên trễ hẹn, rồi bắt đầu giao lại bài vở của những trang nào đã làm xong cho thư ký tòa soạn. Thường thì từ khoảng 4-5 giờ chiều trở đi, khi một số phóng viên bắt đầu trở về, không khí tòa soạn lúc này mới thực sự trở nên tất bật và náo nhiệt. Hệ thống máy tính bây giờ làm giản tiện rất nhiều cho công việc viết bài, biên tập, và nộp bài, tuy nhiên, có lẽ do đặc điểm của nghề báo, sự tiện lợi này dường như vẫn không hề làm giảm bớt tần số đi lại và trao đổi ồn ào trong nội bộ tòa soạn! Vào cuộc họp thứ hai của tòa soạn diễn ra vào cuối giờ chiều, người ta xác định lại lần cuối cùng những tin tức và bài vở nào sẽ đăng, hoàn chỉnh nội dung và ma-két của trang nhất lẫn của tin “vơ- đét”. Mặc dù đến đây có thể nói nội dung tin tức trên số báo ngày hôm sau coi như đã gút xong, nhưng trong thực tế tòa soạn vẫn còn phải tiếp tục theo dõi cho đến tận 11-12 giờ đêm để “vớt” lấy những tin giờ chót, đôi khi cũng có những tin quan trọng đến mức phải thay đổi cả ma-két trang nhất. Chừng 12 giờ đêm hoặc trễ lắm là 1 giờ sáng, tòa soạn chuyển toàn bộ các trang hoàn chỉnh sang nhà in, để đến khoảng 3-4 giờ sáng là có báo cung cấp cho hệ thống phát hành, giao cho các đại lý và đưa ra các bến xe và sân bay để chở đi các tỉnh. NHỮNG ÁP LỰC TRONG NGHỀ NGHIỆP Mặc dù chỉ là một “người trung gian” (mediator) giữa các nguồn tin và công chúng, nhưng nhà truyền thông vẫn phải chịu đựng nhiều thứ áp lực khác nhau trong hoạt động của mình, chẳng hạn những áp 83
  42. lực cá nhân, áp lực nghề nghiệp và áp lực xã hội. Những loại áp lực khác nhau này tác động tới cách thức chọn lọc và xử lý tin tức, bài vở, cũng như cách thể hiện nội dung trên phương tiện truyền thông – nói chung là ảnh hưởng cách này hay cách khác tới quá trình sản xuất ra một sản phẩm truyền thông. Mỗi ngày, đứng trước khối lượng tin tức rất lớn thu nhận về từ các đặc phái viên và các hãng thông tấn, đơn giản là vì diện tích tờ báo có giới hạn, không thể đăng tải hết tất cả, nên người làm báo buộc phải làm công việc chọn lọc những tin nào đăng được và loại bỏ những tin nào. Chính điều này đã dẫn đến quan niệm cho rằng nhà báo thực chất là một “người gác cửa” (gate-keeper). Quả vậy, hàng ngày công chúng không thể “ngốn” hết tất cả mọi loại tin tức và sự kiện xảy ra trong xã hội. Do đó, nhiệm vụ của người làm báo là chọn lọc và sắp xếp lại tin tức sao cho có trật tự để người đọc dễ theo dõi. Tất nhiên người ta luôn cố gắng làm sao cho việc chọn lọc này được tiến hành một cách khách quan nhất. Tuy vậy, người ta vẫn khó mà tránh được một mức độ chủ quan nào đó trong việc chọn lọc tin tức để đăng tải trên mặt báo, nhất là khi mà trong thực tế công việc hàng ngày, người làm công tác truyền thông vẫn thường phải chịu những áp lực khác nhau. Bảng 4 cho thấy kết quả một cuộc điều tra tại một tờ báo địa phương ở một tiểu bang của Mỹ, tiến hành trong thời gian một tuần vào năm 1949, so sánh giữa số lượng các tin tức nhận được từ các hãng thông tấn, với số lượng các tin tức mà tờ báo này sử dụng trên mặt báo. Bảng 4. Số lượng tin tức nhận được từ các hãng thông tấn, và số lượng tin tức mà tờ báo sử dụng trong vòng một tuần (theo khảo sát của David White năm 1949) 84
  43. Trang mục Số tin nhận được Số tin sử dụng Cột-inch % Cột-inch % Phạm pháp 527 4,4 41 3,2 Thiên tai, thảm họa 405 3,4 44 3,4 Thời sự liên bang 565 4,7 88 6,8 Thời sự tiểu bang 1.722 14,5 205 15,8 Tin và bài mang tính nhân cảm (human 4.171 35,0 301 23,2 interest) Tin tức quốc tế Chính trị 1.804 15,1 176 13,6 Kinh tế 405 3,4 59 4,5 Chiến tranh 480 4,0 71 5,5 Lao động 650 5,5 71 5,5 Tin tức trong nước Nông nghiệp 301 2,5 78 6,0 Kinh tế 294 2,5 43 3,3 Giáo dục 381 3,2 56 4,3 Khoa học 205 1,7 63 4,9 Tổng cộng 11.910 100,0 1.297 100,0 Nguồn: David White, “The Gate-keeper– Le sélectionneur: étude sur la sélection des nouvelles” (1950), trong Francis Balle, Jean Padioleau (ed.), Sociologie de l'information,Paris, Nxb Larousse, 1973, tr.206-207. Ghi chú: “Cột-inch” (column-inch) là đơn vị đo lường phổ biến trong nghề làm báo ở các nước Anh và Mỹ, tương đương với khoảng 2,50 cm cột báo, tức là khoảng năm dòng chữ của một cột trên trang báo. 85
  44. Áp lực trực tiếp chi phối công việc của bất cứ người làm công tác truyền thông nào, đó là chủ trương, đường lối của tờ báo hoặc của đài truyền hình, đài phát thanh- nơi mà người đó đang làm việc. Điều này dễ hiểu, bởi lẽ bất cứ ai mới được tuyển vào một cơ quan báo chí cũng đều cố gắng tìm hiểu và thích ứng với môi trường làm việc mới của mình- hay nói cách khác là tự mình cố gắng “xã hội hóa” để trở thành thành viên đầy đủ của tổ chức này. Có nhiều cách để một phóng viên mới hiểu được đường lối của tờ báo, như: đọc bài vở của các đồng nghiệp để coi họ viết như thế nào, nếu đọc được bản thảo thì tốt hơn nữa vì lúc đó, sẽ thấy những chỗ nào được sửa chữa, điều chỉnh; trò chuyện, hỏi han các đồng nghiệp đã làm lâu năm; tham dự các cuộc họp trong tờ báo Michel de Coster cho rằng có ba thứ lô-gic hành động chi phối mối quan hệ giữa hai nhân vật là tác giả của bản tin (phóng viên) và người lãnh đạo phương tiện truyền thông. Đó là lô-gic phản ánh, lô- gic thương mại, và lô-gic chính trị. Lô-gic phản ánh (logique de la reproduction) đòi hỏi tác giả một bản tin hay một bài báo phải phản ánh chính xác sự kiện mà mình có nhiệm vụ tường thuật. Thông thường thì điều này không có vấn đề gì, nếu nội dung bài báo không có gì mâu thuẫn với chủ trương, đường lối của tờ báo (lô-gic chính trị) hoặc không gây tổn hại đến lợi ích của tờ báo (lô-gic thương mại). Thế nhưng, cũng có những trường hợp mà lô-gic phản ánh lại không ăn khớp với lô-gic thương mại hoặc lô-gic chính trị. Chẳng hạn, đôi khi người ta vẫn thấy có những tờ báo ngả theo xu hướng “câu khách” bằng cách ưu tiên đăng những mẩu tin hoặc những cốt truyện có nhiều tình tiết hấp dẫn, ly kỳ hay thậm chí rùng rợn. Giả sử phải cắt ngắn bớt một bài báo thông tin về một sự kiện khoa học nào đó, thì người ta cũng thường dễ cắt bỏ những đoạn tuy nghiêm túc nhưng dễ nhàm chán, và cố giữ lại những chi tiết tuy ngoài lề câu chuyện nhưng dễ 86
  45. hấp dẫn bạn đọc. Như vậy, nhìn chung, theo Michel de Coster, nội dung thông điệp được phát trên phương tiện truyền thông đại chúng thường thường là kết quả của một sự “thỏa hiệp” và đồng tình giữa tác giả (người viết tin, bài) và “nhà sản xuất” (hoặc người “chủ báo”). Có lúc “nhà sản xuất” tôn trọng tác giả của bài viết và đăng nguyên văn, nhưng cũng có lúc “nhà sản xuất” nhúng tay can thiệp vào nội dung bài viết. Đặc biệt trong trường hợp tờ báo thuộc sở hữu của một tập đoàn kinh doanh ở các nước tư bản, người ta thường phải tự hỏi xem có đúng nội dung một bài viết là của chính tác giả ban đầu hay không, hay thực ra là phản ánh quan điểm của tập đoàn này [xem Michel de Coster, Introduction à la sociologie, 3è édition, Bruxelles, De Boeck, 1992, tr. 168-170] Một số điểm cần lưu ý và ghi nhớ trong Chương 5: - Những đặc điểm chính của nghề làm báo. - Qui trình hoạt động trong một tòa soạn. - Những lô-gic chi phối hoạt động của người làm công tác truyền thông. Câu hỏi ôn tập: 1. Lao động làm báo chủ yếu mang tính chất cá nhân hay tính chất tập thể ? Tại sao ? 2. Liệt kê một số chức danh chính trong tòa soạn và nhiệm vụ của mỗi chức danh. 3. Nhà báo thường gặp những áp lực gì trong lao động nghề nghiệp của mình? 87
  46. Bài 6 NGHIÊN CỨU NỘI DUNG TRUYỀN THÔNG Giới thiệu khái quát: Nội dung chương này nhằm giới thiệu lĩnh vực nghiên cứu nội dung truyền thông trong bộ môn xã hội học truyền thông đại chúng. Sau khi tìm hiểu về văn phong báo chí, sẽ lần lượt tìm hiểu về phương pháp phân tích nội dung thực nghiệm và phương pháp phân tích nội dung tín hiệu học. Mục tiêu của chương này: Hiểu được một cách khái quát mục tiêu và các phương pháp phân tích nội dung trên các phương tiện truyền thông đại chúng. 88
  47. VĂN PHONG BÁO CHÍ Sự ra đời của báo chí và quá trình chuyên nghiệp hóa báo chí trên thế giới đã dần dà làm cho văn phong báo chí trở thành một loại văn phong riêng biệt chưa từng có trước kia, khác hẳn những loại văn phong khác như tiểu thuyết, văn chương, văn phong nghiên cứu, hay văn phong hành chính. Cho đến nay, ở Việt Nam nhiều người vẫn còn lẫn lộn giữa báo chí với văn học, cho rằng “hễ đã là nhà văn thì làm báo dễ như chơi, hễ cứ giỏi văn là làm báo sẽ giỏi”! [Văn Giá, “Nhà báo-nhà văn, viết văn-viết báo”, tạp chí Nghề báo, số 14, 6-2003, tr. 16]. Chúng tôi cho rằng sở dĩ có sự ngộ nhận này là do chưa nhận thức được những điểm khác biệt căn bản giữa lĩnh vực văn học và lĩnh vực báo chí. Trong khi lao động văn học thiên về tư duy hình tượng, thì lao động báo chí thiên về tư duy lô-gic. Nếu phương pháp tư duy của nhà văn chủ yếu dựa trên trực giác và cảm xúc nghệ thuật, dựa trên trí tưởng tượng và hư cấu, thì ngược lại, phương pháp tư duy của nhà báo lại phải đặt nền tảng chủ yếu trên lô-gic duy lý và phải làm việc với các sự kiện và các vấn đề thời sự đang xảy ra, chứ hoàn toàn không được phép hư cấu. Mục tiêu của văn học là hướng đến sự cảm thụ thẩm mỹ, còn báo chí thì trước hết hướng đến mục tiêu thông tin. Tư duy dựa trên sự kiện và tư duy thời sự là một trong những nét đặc trưng hàng đầu của tư duy làm báo. Chính những điều ấy làm cho báo chí mang một văn phong đặc thù, không thể lẫn lộn với văn phong văn học. Trên thế giới, văn phong báo chí được hình thành kể từ cuối thế kỷ XIX, chủ yếu thoát thai từ các nền báo chí của Anh và Mỹ. Truyền thống báo chí ở các nước này đã xác lập một số qui tắc và thể thức 89
  48. viết lách nhất định mà ngày nay hầu hết các sách giáo khoa dạy làm báo trên thế giới đều coi là nguyên tắc chung trong nghề nghiệp. Chẳng hạn đó là qui tắc 5W+1H (Who? What? When? Where? Why? How? Ai ? Cái gì ? Lúc nào ? Ở đâu ? Tại sao ? Thế nào ?) vốn thâu tóm những nội dung chủ yếu bắt buộc phải có trong bất kỳ bản tin hay bài phóng sự nào. Hay qui tắc “hình tháp ngược” qui định rằng nội dung cốt lõi của một bản tin phải được đưa lên ngay phần mở đầu (“lead” trong tiếng Anh), sau đó mới lần lượt đến các chi tiết, bối cảnh hay diễn giải. Đặc điểm của văn phong báo chí không phải chỉ do giới làm báo hay các trường báo chí qui định, mà quan trọng còn là do yêu cầu của chính phía công chúng độc giả hay khán thính giả : một khi đã quen đọc báo, nghe rađiô hay coi ti-vi, người ta thường mặc nhiên mong muốn và chờ đợi tin tức được tường thuật theo một khuôn khổ và trình tự nhất định (chẳng hạn như qui tắc 5W+1H nói trên). Ngoài đặc trưng quan trọng nhất của văn phong báo chí là tính chất khách quan, theo Erik Neveu, khi nói tới văn phong báo chí, chúng ta có thể phân biệt được ba nét đặc trưng sau đây. Trước hết là đặc trưng bám sát sự kiện. Văn báo chí luôn luôn ưu tiên nói tới sự kiện. Dù một bài báo có thể giải thích một sự kiện hoặc đôi khi bày tỏ chính kiến trước sự kiện đó, nhưng yêu cầu quan trọng trước hết là nó phải phản ánh chính xác sự kiện. Kế đến, văn phong báo chí phải mang tính chất sư phạm, nghĩa là phải trong sáng, chuẩn xác và mẫu mực. Khi đặt bút viết, nhà báo phải luôn luôn có phản xạ tự đặt mình vào vị thế của độc giả, để lường trước trình độ giải mã của độc giả, dự đoán cách thức mà họ tiếp nhận bản tin như thế nào, và phản ứng mà họ có thể có đối với bản tin. Vì thế, yêu cầu đầu tiên của lối hành văn báo chí là phải hết sức sáng sủa, dễ hiểu, từ ngữ sử dụng phải phù hợp với khả năng tiếp nhận và khả 90
  49. năng giải mã của đối tượng độc giả của mình. Đặc trưng thứ ba của văn phong báo chí là đặc trưng mà các nhà ngôn ngữ học thường gọi là chức năng “kiểm thông” (“phatic”, bắt nguồn từ chữ phatis trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa là lời nói) – tức là chức năng kiểm tra mạch truyền thông, và tìm cách thu hút sự chú ý của người nghe. Đây là chức năng của những từ hay những thủ pháp dùng để giữ liên lạc với người đối thoại (thí dụ những từ như “a-lô” khi nói chuyện qua điện thoại, hay “ờ ờ ”, “ờ thì ” để duy trì mạch trò chuyện với người đang nghe), để “giữ chân” người đọc, làm cho họ lưu tâm theo dõi và đừng bỏ rơi bản tin mà họ đang đọc. Trên báo in, bên cạnh cách hành văn, người ta thường thực hiện chức năng kiểm thông này bằng nhiều phương thức đa dạng như cách đặt tít lớn hay nhỏ, cho thêm các đoạn trích (đóng khung), sắp xếp vị trí của hình ảnh, hay cách dàn trang sao cho bắt mắt nhằm gây sự chú ý đến một “bài đinh” nào đó Còn trên truyền hình, đó có thể là cách bố cục các cảnh quay một thiên phóng sự theo thứ tự thế nào đó để dẫn dắt khán giả, phối hợp cường độ âm thanh và màu sắc nhằm thu hút sự quan tâm của khán giả vào những đoạn cần thiết [xem Erik Neveu, sách đã dẫn, tr. 63]. PHÂN TÍCH NỘI DUNG TRUYỀN THÔNG “Nội dung truyền thông” ở đây được hiểu như là tất cả những gì xuất hiện trên phương tiện truyền thông đại chúng, kể từ tin tức, bài báo hay hình ảnh trên báo in, cho tới những âm thanh và hình ảnh được phát sóng trên đài phát thanh hay đài truyền hình. Các nhà nghiên cứu cho rằng nghiên cứu về nội dung truyền thông là một cách thức bổ ích để tìm hiểu về một xã hội hoặc về một thời kỳ lịch 91
  50. sử nhất định của một xã hội – bởi lẽ những nội dung này thường phản ánh nhiều mặt rất đa dạng trong cuộc sống xã hội, và cho phép chúng ta tìm hiểu sâu vào những vấn đề xã hội mà chúng ta cần nghiên cứu. Việc nghiên cứu nội dung truyền thông được tiến hành bằng phương pháp phân tích nội dung (content analysis), theo hướng định lượng hay theo hướng định tính, hoặc kết hợp cả hai cách này. Người ta thường phân biệt hai phương pháp phân tích nội dung: (a) phương pháp phân tích nội dung thực nghiệm, và (b) phương pháp phân tích nội dung tín hiệu học. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH NỘI DUNG THỰC NGHIỆM Mục đích của công việc phân tích nội dung một văn bản nào đó là tìm hiểu sâu xa hơn vào những động cơ hoặc ý định của tác giả, những điều mà tác giả nhắm tới đằng sau bản văn một cách có ý thức hoặc không có ý thức (tương tự như là kỹ thuật “đọc giữa hai dòng chữ”, như chúng ta thường nói). Tuy nhiên, phương pháp này khác hẳn với phương pháp phân tích một bài thơ hay một cuốn tiểu thuyết như trong lĩnh vực văn học. Để cố gắng đạt tới mức độ khách quan cần thiết trong việc nghiên cứu, phương pháp phân tích nội dung tìm cách định lượng hóa các chỉ tiêu trong văn bản (hoặc là một văn bản in trên giấy, hoặc là những thước phim truyền hình, v.v ) để có thể xử lý chúng một cách có hệ thống. Để làm việc này đối với một văn bản chẳng hạn, người ta có thể áp dụng nhiều kỹ thuật khác nhau, như kỹ thuật đo lường tần số xuất hiện của những từ hoặc cụm từ then chốt, hoặc của những chủ đề then chốt đối với đề tài nghiên cứu, kỹ thuật tìm kiếm cấu trúc của văn bản. 92
  51. Việc phân tích phải được tiến hành một cách có hệ thống, nghĩa là phải khảo sát tất cả các dữ kiện trong đối tượng mà mình nghiên cứu. Chẳng hạn khi một nhà nghiên cứu muốn chứng minh rằng những người da màu thường bị phim ảnh truyền hình coi là những kẻ chuyên gây hấn người khác, thì chắc chắn anh ta sẽ tìm ra được những cuốn phim phản ánh điều này. Thế nhưng nếu một nhà nghiên cứu khác muốn chứng minh ngược lại, rằng những người da màu thường là nạn nhân của những sự gây hấn, thì chắc chắn cũng tìm được những cuốn phim để chứng minh. Cả hai trường hợp vừa nêu đều không phải là nghiên cứu theo phương pháp phân tích nội dung. Phương pháp này đòi hỏi nhà nghiên cứu trước hết phải vô tư, nghĩa là phải thoát ra khỏi các định kiến có sẵn. Và vì thế cần phải chọn tất cả những thước phim có liên quan tới mối quan hệ giữa người da màu và người da trắng bằng cách chọn mẫu đại diện trong số các bộ phim truyền hình được trình chiếu trong một khoảng thời gian nhất định [xem Judith Lazar, sách đã dẫn, tr. 128-129]. Việc phân tích trên đây cần được tiến hành theo những nguyên tắc thật chính xác, cũng như cần xác định những khái niệm thật rõ ràng, để đảm bảo làm sao những nhà nghiên cứu khác nhau nếu cùng phân tích một đề tài thì đều có thể tìm ra những kết luận giống nhau. Tất nhiên ở đây, cũng tương tự như bất kỳ công trình nghiên cứu nào, việc khó khăn nhất mà cũng chứa nhiều nguy cơ chủ quan nhất là ở chỗ lý giải ý nghĩa của những con số kết quả tìm được. Thật vậy, đôi khi người nghiên cứu sử dụng phương pháp này để biện hộ cho một giả thuyết có sẵn trong đầu trước khi nghiên cứu, chứ không phải để thực sự tìm ra những giả thuyết mới phát sinh từ bản thân kết quả nghiên cứu. Paisley đã tiến hành một cuộc nghiên cứu nhằm khảo sát một số từ ngữ chính trị được hai ứng cử viên tổng thống Mỹ là Kennedy và 93
  52. Nixon sử dụng trong bốn cuộc tranh luận trên truyền hình vào năm 1960. Sau khi phân tích tần số xuất hiện của những từ như “hiệp ước”, “tấn công”, “chiến tranh”, “đất nước”, “đô-la”, “Cuba”, v.v , ông ta đi đến kết luận rằng lời lẽ của Nixon tỏ ra hiếu chiến hơn hẳn so với Kennedy [Judith Lazar, sách đã dẫn, trang 129-130]. Phương pháp phân tích nội dung các hình ảnh trên truyền hình được áp dụng khá nhiều ở Mỹ vào những năm 1960 và 1970 trong việc nghiên cứu về vị trí của người phụ nữ và của những người da màu. Kết quả các cuộc nghiên cứu cho thấy: truyền hình thường đưa ra những hình ảnh thiên lệch và méo mó về nữ giới cũng như về người da màu. Điều này vừa phản ánh, vừa góp phần củng cố thêm các thành kiến và ấn tượng xấu về hai giới này trong xã hội. Seggar và Wheeler nghiên cứu về các hình tượng công ăn việc làm trên truyền hình Mỹ năm 1971 và nhận thấy phần lớn các hình tượng này đều do người da trắng và nam giới đảm nhận, còn người da đen và phụ nữ chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ, và nếu có thì cũng thường chỉ làm những công việc dịch vụ và có vị trí xã hội thấp kém mà thôi. Vào đầu thập niên 1970, Dominick và Rauch nghiên cứu về hình ảnh của người phụ nữ trong các chương trình quảng cáo trên truyền hình, và ghi nhận rằng nữ giới có một hình ảnh kém cỏi hơn rõ rệt so với đàn ông: phần lớn phụ nữ (56 %) đều là nội trợ, chỉ có 19 % có việc làm ngoài xã hội, nhưng đa số cũng chỉ làm những công việc “của phụ nữ” như thư ký, tiếp viên hàng không, người mẫu, ca sĩ. 94
  53. Bảng 5. So sánh cơ cấu nghề nghiệp được trình bày trên truyền hình với cơ cấu nghề nghiệp trong thực tế ở tiểu bang Indiana (Mỹ) (đơn vị tính : %) Loại nghề nghiệp Nghề nghiệp trên Nghề nghiệp trong truyền hình thực tế Nam Nữ Nam Nữ 1. Nghề tự do 29,8 37,2 8,9 11,8 2. Kinh doanh nông 0,5 0,0 6,5 0,1 nghiệp 3. Giám đốc, viên chức cao cấp, điền 33,1 7,1 9,1 3,4 chủ 4. Nhân viên 2,5 28,6 6,1 29,6 5. Buôn bán 1,1 0,0 6,0 8,6 6. Thợ thủ công, đốc 3,6 8,6 21,0 1,3 công 7. Công nhân 5,5 5,7 24,0 16,8 8. Làm mướn việc 4,9 11,4 0,1 6,0 nhà 9. Lao động dịch vụ 13,4 0,0 5,2 15,0 10. Làm nghề nông 0,0 0,0 1,8 0,1 11. Lao động chân 1,6 0,0 7,0 0,7 tay 12. Lao động khác 3,5 1,4 4,3 5,3 Nguồn: Melvin de Fleur, trích lại theo Judith Lazar, sách đã dẫn, tr. 132. Melvin de Fleur đã tiến hành nghiên cứu so sánh giữa cơ cấu nghề 95
  54. nghiệp thực tế với cơ cấu nghề nghiệp được phản ánh trên truyền hình vào đầu những năm 1960 ở tiểu bang Indiana. Ông ta chọn mẫu trong số các chương trình truyền hình được phát trong vòng 6 tháng, và ghi chép lại mỗi khi một nghề nghiệp xuất hiện trên màn hình ít nhất 3 phút. Kết quả cho biết tỷ lệ các nghề tự do (như bác sĩ, kỹ sư, giáo sư ) được phản ánh trên truyền hình nhiều hơn so với thực tế (các tỷ lệ tương ứng là 1/3 so với 1/10), và ngược lại những nghề vốn thường được coi là thấp kém hơn thì chỉ chiếm có 10 % trên màn ảnh truyền hình. Ông ta nhận định rằng, nhìn chung, thế giới lao động trên màn ảnh truyền hình là một thế giới của đàn ông: 83,9 % công việc làm đều do nam giới đảm trách, nữ giới chỉ đảm nhiệm có 16,1 %; trong khi đó, thống kê ở địa phương này cho biết nam giới chiếm 68,9% lao động xã hội, còn nữ giới chiếm 31,1 % (xem bảng 5). Người ta cũng sử dụng kỹ thuật phân tích nội dung thực nghiệm nói trên đối với các tin tức trên một tờ báo chẳng hạn, để tìm xem tiềm ẩn đằng sau nội dung các bản tin là những giá trị xã hội nào được đề cao hơn hết. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH NỘI DUNG TÍN HIỆU HỌC Bên cạnh phương pháp phân tích nội dung thực nghiệm nói trên, người ta còn có thể áp dụng phương pháp phân tích nội dung tín hiệu học (semiological content analysis). Đây là phương pháp chủ yếu mang tính chất định tính, nhằm khảo sát những mối quan hệ bên trong giữa các yếu tố trong một văn bản hay trong một hệ thống tín hiệu nào đó. Đối tượng của môn tín hiệu học (semiology), theo Roland Barthes, là “bất cứ hệ thống dấu hiệu nào (sign) ( ) ; các hình ảnh, 96
  55. các cử chỉ, các âm thanh giai điệu, các đồ vật và các nghi lễ, các nghi thức hoặc là các buổi trình diễn, tất cả nếu không phải là những ‘ngôn ngữ’ (languages) thì cũng ít nhất đều là những hệ thống ý nghĩa”. Chính Ferdinand de Saussure, nhà ngôn ngữ học người Thụy Sĩ, là người đầu tiên nói tới một ngành khoa học về các tín hiệu, hay tín hiệu học (semiology), vào đầu thế kỷ, trong đó ngôn ngữ học là một phân ngành. Theo Saussure thì một tín hiệu (hay dấu hiệu, sign) được cấu tạo bởi hai phần gắn bó khăng khít với nhau : cái biểu hiện (the signifier), và cái được biểu hiện (the signified). Cái biểu hiện là phần tồn tại vật lý của tín hiệu, còn cái được biểu hiện là cái khái niệm nằm trong đầu chúng ta [xem Ferdinand de Saussure, Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, Hà Nội, Nxb Khoa học Xã hội, 1973, tr. 119-122]. Sơ đồ 5. Các yếu tố của tín hiệu, theo quan niệm của Saussure Tín hieäu (sign) Caùi bieåu hieän Caùi ñöôïc bieåu hieän (the signifier ) (the signified) Chúng ta có thể kể ra vài thí dụ: thuật ngữ “cái cây”, một cái thiệp chúc Tết, hay cột đèn xanh đèn đỏ ở ngã tư – đấy đều là những tín hiệu. Chữ “cái cây”, cái thiệp, và cột đèn xanh đèn đỏ đều là những “cái biểu hiện”, tức là những bộ phận vật lý của tín hiệu, còn những “cái được biểu hiện” là những khái niệm (nằm trong đầu chúng ta) về 97
  56. cái cây, về lời chúc Tết, hay về chuyện phải dừng lại hay được phép đi tiếp khi chúng ta chạy xe tới một ngã tư nào đó. Có một điều mà người ta thường lầm tưởng, đó là nghĩ rằng nếu chúng ta so sánh các hệ thống ngôn ngữ của các xã hội khác nhau, thì chúng ta thấy chỉ khác nhau về “cái biểu hiện”, chứ không khác nhau về “cái được biểu hiện”. Thực ra không phải như thế. Lấy thí dụ về ngôn ngữ: một người mới học được một thứ tiếng nước ngoài, nhưng chưa chắc người này đã thực sự hiểu thấu ý nghĩa sâu xa của các từ ngữ và hình tượng trong ngôn ngữ của người dân nước này. Chẳng hạn chữ “con bò”, mặc dù chúng ta có thể biết người Ấn Độ dùng chữ gì để chỉ “con bò”, nhưng chắc chắn là hình tượng con bò trong tâm thức của người Ấn Độ hoàn toàn rất khác với hình tượng và quan niệm của người Việt Nam chúng ta về con bò. Như vậy, không phải chỉ tiếng nói (cái biểu hiện), mà cả ý nghĩa của tiếng nói (cái được biểu hiện) cũng là sản phẩm của văn hóa. Chúng ta cũng có thể liên tưởng tới nhiều thí dụ khác, như động tác gật đầu hay lắc đầu có thể mang ý nghĩa đồng ý hay không đồng ý đối với dân tộc này, nhưng lại ngược lại đối với một dân tộc khác; hay động tác vẫy tay để chia tay với ai, hoặc động tác ngoắc tay để gọi ai, cũng có thể có những ý nghĩa khác biệt tương tự. Nhà phê bình văn học Roland Barthes đã bổ sung cho quan niệm trên đây của Saussure. Barthes gọi mối quan hệ giữa hai yếu tố của tín hiệu là cái biểu hiện và cái được biểu hiện (mà Saussure đã phân biệt) là “ý nghĩa trực chỉ” (denotation) (tức là một sự mô tả trung tính, khách quan). Chúng ta có một tấm ảnh chụp một con đường: tấm ảnh này cho thấy một con đường cụ thể nào đó (ý nghĩa trực chỉ). Nhưng người ta có thể chụp tấm ảnh đó bằng nhiều cách khác nhau. Chẳng hạn, người ta có thể chụp bằng phim màu hoặc bằng phim đen trắng, hoặc chụp bằng ống kính lọc phủ màu xanh hay màu xám để tạo ra 98
  57. cảm giác rằng đây là một con đường tươi vui, hoặc ngược lại, đây là một con đường u ám, buồn bã Tuy hai bức ảnh này có cùng một ý nghĩa trực chỉ như nhau (đó là một con đường nào đó), nhưng Barthes cho rằng chúng có “ý nghĩa biểu cảm” khác nhau (connotation) (con đường tươi vui, hay con đường u ám, buồn bã) (hai tấm ảnh cho thấy có thêm yếu tố cảm nhận chủ quan của người chụp). Theo Barthes, trong quá trình tri giác một tín hiệu hay một thông điệp, con người thường nhận ra ý nghĩa biểu cảm bằng trực giác và cảm tính, hơn là bằng lý trí. Và điều này chủ yếu dựa trên kinh nghiệm chủ quan của chủ thể ; loại kinh nghiệm này thiên về cảm xúc trước những giá trị văn hóa hơn là do kỹ năng suy lý của trí tuệ. Như vậy, trong quá trình phân tích về tín hiệu, bên cạnh sự phân biệt giữa “cái biểu hiện” và “cái được biểu hiện” do Saussure đề xướng, Roland Barthes đã tiến xa hơn bằng cách phân biệt thêm một cấp độ nữa, đó là “ý nghĩa biểu cảm” (connotation) – ngoài “ý nghĩa trực chỉ” (denotation) theo cách phân biệt của Saussure. Phương pháp phân tích tín hiệu học giúp chúng ta đi tìm “ý nghĩa văn hóa” của nội dung truyền thông đại chúng, “giải mã” và khám phá ra những khía cạnh tiềm ẩn và những ý nghĩa sâu xa đằng sau bức thông điệp công khai mà nhà truyền thông cho đăng tải. Sở dĩ đây là một phương pháp hữu hiệu là vì chúng ta thường thấy “văn bản” của phần lớn các phương tiện truyền thông đều không chỉ có một hệ thống tín hiệu (ngôn ngữ), mà còn kết hợp đồng thời nhiều hệ thống tín hiệu khác nhau, như trong lĩnh vực các phương tiện thính-thị (truyền hình, phát thanh, điện ảnh ). Cuối thập niên 1960, một nhóm nghiên cứu thuộc Trường Truyền thông Annenberg (Annenberg School of Communication) (Mỹ) đã sử dụng phương pháp phân tích nội dung khi tiến hành một công trình điều tra khá qui mô về “thế giới truyền hình”. Họ cho rằng tác động 99
  58. của truyền hình đối với công chúng không phải chỉ thông qua một vài chương trình cụ thể, mà là thông qua toàn bộ các thể loại chương trình khác nhau, kể cả các chương trình thời sự lẫn các chương trình chiếu phim. Vì thế họ đã sử dụng kỹ thuật viđêô để thu lại trong vòng 13 năm (từ 1967 tới 1979) 1.491 chương trình để đưa vào phân tích. Kết luận của nhóm nghiên cứu này là các chương trình truyền hình đã đưa ra một cơ cấu nhân khẩu rất sai lạc so với cơ cấu thực tế của dân cư Mỹ. Trong thế giới của truyền hình, nam giới chiếm tỷ lệ đông hơn nữ giới (tỷ lệ 3 trên 1); những người lớn tuổi (trên 65 tuổi) và thanh thiếu niên dưới 20 tuổi chiếm tỷ lệ thấp hơn nhiều so với thực tế (xem biểu đồ 1); những người làm nghề tự do và các nhà kinh doanh xuất hiện nhiều hơn so với tầng lớp nhân viên và những người lao động chân tay. Biểu đồ 1. Tuổi tác của dân cư nước Mỹ, so sánh với tuổi tác của những nhân vật xuất hiện trên truyền hình vào giờ cao điểm Tyû leä phaàn traêm 20 Nhöõng nhaân vaät xuaát hieän treân truyeàn hình vaøo giôø cao ñieåm 15 10 Daân cö Myõ 5 0 5 10 15 20 25 30 35 40 45 50 55 60 65 70 75 80 Tuoåi Nguồn: Judith Lazar, sách đã dẫn, tr. 141. Nhóm nghiên cứu nói trên nhận định rằng thực ra màn ảnh vô 100
  59. tuyến truyền hình đã đưa ra cho công chúng một thế giới thần tiên, trong đó phần lớn những người xuất hiện trên màn ảnh đều là những người khỏe mạnh, xinh đẹp, tốt bụng Theo họ, thế giới truyền hình chỉ là một thế giới ảo, bị bóp méo, xa lạ với thực tại xã hội. Đặc điểm của công trình nghiên cứu này là làm cho người ta chú ý không phải chỉ về sự bất tương xứng giữa thế giới truyền hình với thế giới thực tại, mà còn về ý nghĩa sâu xa đằng sau sự bất tương xứng đó. Một số điểm cần lưu ý và ghi nhớ trong Chương 6: - Sự khác biệt giữa báo chí với văn học. - Mục đích của phương pháp phân tích nội dung. - Phương pháp phân tích nội dung thực nghiệm. - “Ý nghĩa trực chỉ” và “ý nghĩa biểu cảm” theo quan niệm của Roland Barthes. - Phương pháp phân tích nội dung tín hiệu học. Câu hỏi ôn tập: 1. Đâu là những khác biệt giữa báo chí với văn học? 2. Cho biết vài đặc điểm của văn phong báo chí. 3. Hãy trình bày vắn tắt phương pháp phân tích nội dung thực nghiệm. 4. Thế nào là một “tín hiệu” (sign) theo quan niệm của Saussure? 5. Hãy phân biệt giữa “ý nghĩa trực chỉ” (denotation) và “ý nghĩa biểu cảm” (connotation) theo quan niệm của Roland Barthes. 101
  60. Câu hỏi thảo luận nhóm: (hoặc tự mình trả lời bằng suy nghĩ cá nhân) 1. Hãy thử phân tích và so sánh hiệu quả của thông tin qua chữ viết (báo in) với thông tin qua hình ảnh và âm thanh (truyền hình). 2. (Chỉ xét riêng lĩnh vực tin tức và thời sự:) So sánh thông tin trên truyền hình với thông tin trên báo in, cái nào mang hàm lượng thông tin nhiều hơn ? Và cái nào khách quan hơn và gần với sự thật hơn? 102
  61. Bài 7 NHỮNG TÁC ĐỘNG XÃ HỘI CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG Giới thiệu khái quát: Chương này trình bày kết quả nghiên cứu của một số tác giả về hiệu quả và tác động của truyền thông đại chúng đối với xã hội, từ giả thuyết về “hố chênh lệch kiến thức” ngày càng lớn do truyền thông đại chúng gây ra, hay giả thuyết về chức năng “thiết lập chương trình nghị sự”, cho tới những luận điểm liên quan tới mối quan hệ giữa truyền thông và tình trạng bạo lực trong xã hội. Cuối cùng là vai trò của báo in trong bối cảnh phát triển ngày càng mạnh của các phương tiện truyền thông điện tử, nhất là Internet. 103
  62. Mục tiêu của chương này: Tìm hiểu những lối nhìn và lối giải thích khác nhau của nhiều trường phái lý thuyết đối với hiệu quả và tác động xã hội của các phương tiện truyền thông đại chúng. Từ xưa tới nay, giới nghiên cứu về truyền thông vẫn không ngừng tập trung sự chú ý tới chủ đề ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông đại chúng đối với người dân và đối với xã hội. Mặc dù về sau, người ta có chú trọng nhiều hơn tới những đề tài nghiên cứu về giới làm công tác truyền thông, hoặc về các tổ chức truyền thông, nhưng cho tới nay, mức độ tác động xã hội của truyền thông đại chúng vẫn luôn luôn là đề tài gây tranh cãi nhiều nhất. Tính chất phức tạp ở đây là người ta khó lòng mà đo lường được một cách chính xác là truyền thông đại chúng ảnh hưởng tới mức nào đối với dư luận hay tâm tư suy nghĩ của người dân, đối với ứng xử và tập quán của họ. Đơn giản là bởi vì trong thực tế, bất cứ một sự kiện xã hội nào cũng đều chịu tác động của nhiều nhân tố xã hội khác nhau, chứ không phải chỉ riêng của lĩnh vực truyền thông đại chúng. Bernard R. Berelson đã viết như sau khi nói về tác động của truyền thông đại chúng: “Nhiều loại truyền thông khác nhau về nhiều đề tài khác nhau, vốn được theo dõi bởi nhiều loại người dân khác nhau, trong bối cảnh của nhiều loại điều kiện khác nhau, đã có nhiều loại tác động khác nhau” [xem Alphons Silbermann, Communication de masse, Paris, Hachette, 1981, tr. 48]. Câu phát biểu này chứng tỏ một thái độ thận trọng của nhà nghiên cứu khi đứng trước vấn đề phức tạp này mà ông ta không dám quả quyết. Quả vậy, có rất nhiều nhân tố có thể ảnh hưởng tới việc tiếp nhận thông điệp truyền thông nơi người dân, như : khả năng tri giác chọn lọc, khả năng ghi nhớ chọn lọc, những nhân tố thuộc về các nhóm xã hội (các “nhóm qui chiếu” theo 104
  63. quan niệm của Robert Merton chẳng hạn) và các tầng lớp xã hội, vai trò của những người có uy tín ("hướng dẫn dư luận") Chính tính chất phức tạp này đã thu hút sự chú ý của các giới nghiên cứu nhằm đưa ra nhiều giả thuyết lý giải khác nhau. QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU Xét về chủ đề ảnh hưởng xã hội của truyền thông đại chúng, trong giới nghiên cứu ở phương Tây, người ta có thể phân biệt ba giai đoạn chính như sau trong lịch sử nghiên cứu. Giai đoạn thứ nhất bắt đầu từ thập niên 1910 cho tới Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, mang đặc điểm là hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng các phương tiện truyền thông đại chúng có một sức mạnh “vạn năng". Người ta đặc biệt chú trọng tới những tác động của các đài phát thanh và điện ảnh (lúc ấy chưa có truyền hình). Người ta cho rằng người dân bị tác động trực tiếp của truyền thông đại chúng, giống trong qui luật phản xạ có điều kiện. (Về sau, giới nghiên cứu thường gọi khuynh hướng này là lý thuyết “mũi kim chích", hoặc lý thuyết “viên đạn thần kỳ") Giai đoạn thứ hai là thời kỳ mà người ta nhận diện ra tính tương đối của sự tác động của truyền thông đại chúng, và bác bỏ ý tưởng cho rằng truyền thông đại chúng có thể ảnh hưởng trực tiếp lên trên suy nghĩ và ứng xử của người dân. Giai đoạn này kéo dài từ khoảng những năm 1930 cho tới thập niên 1960. Nhờ những công trình điều tra thực nghiệm và có hệ thống, người ta khám phá ra là thông tin đại chúng chỉ là một trong số nhiều nhân tố xã hội, kinh tế và văn hóa ảnh hưởng tới thái độ và ứng xử của người dân. Và lúc này, người ta chú trọng nhiều hơn vào bối cảnh xã hội, cũng như vai trò của các 105
  64. nhóm xã hội và các tầng lớp xã hội. Nhận định về đặc điểm của giai đoạn nghiên cứu này, Joseph Klapper viết như sau: “Nói chung, truyền thông đại chúng không phải là một nguyên nhân cần và đủ để gây ra những tác động vào công chúng; thực ra, nó ảnh hưởng thông qua sự kết hợp của nhiều nhân tố trung gian khác.” [xem Judith Lazar, sách đã dẫn, tr. 144] Thế nhưng sang giai đoạn thứ ba, bắt đầu từ giữa thập niên 1960 cho tới ngày nay, thì người ta lại có xu hướng đặt lại vấn đề và nghi ngờ rằng có lẽ ảnh hưởng của truyền thông đại chúng không phải là yếu ớt và ít ỏi như người ta vẫn nghĩ. Đặc biệt là với sự ra đời và phát triển của vô tuyến truyền hình, người ta nhận thấy phương tiện truyền thông này vừa có một sức hấp dẫn mãnh liệt hơn so với các phương tiện truyền thông có trước, vừa có những tác động rất đáng lưu tâm về mặt xã hội. Đây là giai đoạn diễn ra rất nhiều công trình nghiên cứu cụ thể và nảy sinh nhiều giả thuyết cũng như tranh luận khá gay gắt. PHỔ BIẾN THÔNG TIN VÀ KIẾN THỨC Chức năng đầu tiên, và cũng là tác dụng đầu tiên thường được nhắc tới của các phương tiện truyền thông đại chúng, đó là cung cấp thông tin và kiến thức cho người dân. Quả vậy, qua các cuộc điều tra, phần lớn người dân thường trả lời là mình biết tin tức, thời sự nhờ theo dõi các phương tiện truyền thông đại chúng. Trong các cuộc điều tra xã hội học, người ta thường dùng những chỉ tiêu sau đây để khảo sát về tính chất và mức độ theo dõi truyền thông đại chúng của công chúng: - Số người biết một tin tức cụ thể nào đó, - Tầm quan trọng của tin ấy đối với người dân (hay mức độ chú 106