Từ bạo lực gia đình đến bạo lực giới tại Việt Nam: Mối liên hệ giữa các hình thức bạo lực
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Từ bạo lực gia đình đến bạo lực giới tại Việt Nam: Mối liên hệ giữa các hình thức bạo lực", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
tu_bao_luc_gia_dinh_den_bao_luc_gioi_tai_viet_nam_moi_lien_h.pdf
Nội dung text: Từ bạo lực gia đình đến bạo lực giới tại Việt Nam: Mối liên hệ giữa các hình thức bạo lực
- UNITED NATIONS VIET NAM VIET TỪ BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐẾN BẠO LỰC GIỚI TẠI VIỆT NAM: MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC HÌNH THỨC BẠO LỰC Tài liệu thảo luận của Liên Hợp Quốc Hà Nộ i, năm 2014
- ĐỒNG TÂM, HỢP LỰC Bả n quyề n® Liên hợ p quố c tạ i Việ t Nam Giấ y phé p xuấ t bả n: Số 238-2014/CXB/146-01/TN Ả nh: Liên hợ p quố c tạ i Việ t Nam/2010/Aidan Dockery Thiế t kế : Công ty Cổ phầ n La Bà n In tạ i Việ t Nam
- UNITED NATIONS VIET NAM VIET Từ Bạo lực gia đình đến Bạo lực giới tại Việt Nam: Mối liên hệ giữa các hình thức bạo lực Tài liệu thảo luận của Liên Hợ p Quố c Hà Nộ ị, năm 2014
- MỤC LỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i LỜI CẢM ƠN ii LỜI NÓI ĐẦU 3 TỔNG QUAN 5 PHẦN I: TÌM HIỂU VỀ BẠO LỰC GIỚI 9 Tìm hiểu các định nghĩa Bạo lực giới trong các tài liệu quốc tế: từ “Bạo lực đối với phụ nữ” đến “Bạo lực trên cơ sở giới” 11 Những yếu tố dẫn đến Bạo lực giới: Vòng xoáy Bạo lực giới 13 Liên hệ giữa các hình thức Bạo lực giới 14 Đánh giá thực trạng hiểu biết về Bạo lực giới tại Việt Nam hiện nay 17 Các hậu quả của Bạo lực giới 21 PHẦN II: BỐI CẢNH LUẬT PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIỚI TẠI VIỆT NAM 2010-2013 28 Luật pháp 35 Bối cảnh chính sách 36 PHẦN III: KIỆN TOÀN KIẾN THỨC VÀ THỰC TIỄN 38 Khoảng trống trong kiến thức và công tác nghiên cứu 40 Khoảng trống trong luật pháp và chính sách 40 Khoảng trống trong công tác thu thập và quản lý dữ liệu 41 PHẦN IV: KHUYẾN NGHỊ 42 KẾT LUẬN 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
- CÁC TỪ VIẾT TẮT CEDAW Công ước về Xóa bỏ mọi Hình thức Phân biệt đối xử đối với Phụ nữ CEOPC Trung tâm Trực tuyến Phòng chống bóc lột trẻ em CCIHP Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số CSAGA Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng khoa học về Giới-Gia đình-Phụ nữ và Vị thành niên DEVAW Tuyên bố về Xóa bỏ Bạo lực đối với Phụ nữ EEOC Ủy ban Bình đẳng về Cơ hội Việc làm (Hoa Kỳ) GSO Tổng cục Thống kê Việt Nam (TCTK) ICRW Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế về phụ nữ ILO Tổ chức Lao động Quốc tế IOM Tổ chức Di dân Quốc tế IPV Bạo lực do bạn tình gây ra MOCST Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Bộ VHTTDL) MOH Bộ Y tế MOJ Bộ Tư pháp MOLISA Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTBXH) RaFH Viện Sức khỏe Sinh sản và Gia đình MPS Bộ Công An SRB Tỷ số giới tính khi sinh UN Liên hợp quốc UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liêp hợp quốc UN GBV Working Group Nhóm công tác về BLG của Liên hợp quốc UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc UNODC Cơ quan Phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên hợp quốc UNFPA Quỹ Dân số Liên hợp quốc UNGA Đại hội đồng Liên hợp quốc UNHCR Cao ủy Liên hợp quốc về Người tị nạn UN Women Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ VAW Bạo lực đối với Phụ nữ (BLPN) VND Đồng Việt Nam WHO Tổ chức Y tế Thế giới Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG i
- LỜI CẢM ƠN húng tôi xin chân thành cảm ơn Quỹ về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ CDân số Liên hợp quốc tại Việt Nam nữ tại Việt Nam (UN Women), bà Estefania (UNFPA Việt Nam) đã hỗ trợ thực hiện tài Guallar, chuyên gia giới của UN Women, liệu thảo luận này. Chúng tôi xin cảm ơn Bà Belissa Guerrero Rivas, Chuyên gia Nhóm điều phối Chương trình Chung về giới của Cơ quan Phòng chống Ma túy và Giới, đặc biệt là Nhóm công tác chuyên Tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC) môn về Bạo lực Giới của LHQ đã đóng về những phản hồi và góp ý cho tài liệu góp các ý kiến quý báu cho tài liệu này. nghiên cứu này, cũ ng như ông Simon Chúng tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân Drought, Biên tập viên của nhóm Truyền thành tới ông Arthur Erken, Trưở ng Đại thông LHQ đã giúp hiệu đính. Những quan diện của Quỹ Dân Số Liên Hợp Quốc tại điểm thể hiện trong tài liệu này không phản Việt Nam và bà Phan Thị Thu Hiền, chuyên ánh quan điểm chính thức của LHQ. Mọi gia Giới của UNFPA, về những hỗ trợ và thiếu sót, nếu có, thuộc về trách nhiệm của đóng góp ý kiến kịp thời trong toàn bộ quá các tác giả. trình biên soạn tài liệu. Chúng tôi cũng xin gửi lời cả m ơn tới bà Shoko Ishikawa, Nata Duvvury - Stacey Scriver Trưởng Đại diện Cơ quan Liên hợp quốc Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG ii
- LỜI NÓI ĐẦU ạo lực dựa trên cơ sở giới (hay Bạo đối với phụ nữ tại Việt Nam đã đánh dấu Blực Giới-BLG) là một vấn đề phức tạp bước tiến lớn trong việc cung cấp những bắt nguồn từ những tư tưởng và thực hành thông tin đối với vấn đề này và phản ánh nỗ trọng nam, khinh nữ đã ăn sâu bám rễ lực của Chính phủ nhằm chấm dứt BLGĐ. hàng ngàn đời nay trong nền văn hóa và vì Hiện nay, chính phủ Việt Nam đã chủ động thế không dễ dàng thay đổi. BLG có phạm hơn trong giải quyết BLGĐ, khung pháp vi rộng hơn so với bạo lực gia đình (BLGĐ) lý và chính sách để giải quyết vấn đề này và thể hiện ở nhiều hình thức, như bạo lực đang được củng cố và ngày càng có thêm tình dục, cưỡng hiếp, buôn bán phụ nữ, nhiều chương trình can thiệp. Tuy nhiên, quấy rối tình dục tại trường học và nơi làm BLG không chỉ xảy ra trong gia đình mà việc, hay tư tưởng trọng nam khinh nữ thể còn ở nơi công cộng và các môi trường hiện qua các thực hành phá thai nhằm lự a khác. Vì vậy, cần có cách nhìn tổng thể chọn giới tính thai nhi. Mặc dù cả nam giới hơn về BLG để nhận dạng được các hình và trẻ em trai cũng bị ảnh hưởng, nhưng thức của BLG và những bất cập trong việc phụ nữ và trẻ em gái thường phải chịu tác thực hiện chính sách và pháp luật để có động nặng nề hơn do BLG gây ra. Nguyên thể giải quyết được vấn đề này rộng hơn nhân cơ bản của BLG là bất bình đẳng bạo lực gia đình. Có nhiều việc cần được giới, cùng với các thái độ và tư tưởng cho thực hiện , bao gồm nâng cao nhận thức rằng phụ nữ có thân phận thấp kém hơn chung và tăng cường phối kết hợp giữa so với nam giới, thiếu tôn trọng quyền của các đơn vị, cơ quan tổ chức trong công tác phụ nữ và tư tưởng luôn muốn kiểm soát phòng chống BLG. cuộc sống của họ. Phòng chống BLG là trách nhiệm chung Nghiên cứu Quốc gia về Bạo lực Gia đình của tất cả các ban ngành đoàn thể, không đối với Phụ nữ tại Việt Nam do Tổng cục chỉ là trách nhiệm riêng một đơn vị nào, Thống kê (TCTK) và Liên hợp quốc tại và đòi hỏi sự cam kết mạnh mẽ, sự tham Việt Nam công bố vào năm 2010 cho thấy gia của tất cả lãnh đạo cũng như những mức độ trầm trọng của vấn đề. Có tới 58% người thực hiện một cách đồng bộ dưới phụ nữ từng kết hôn cho biết đã trải qua ít một khung làm việc chung, đó là Kế hoạch nhất một hình thức bạo lực về thể xác, tình Hành động Quốc gia về Phòng chống Bạo dục hay tinh thần. Tác động của BLG tại lực Giới. Phòng chống BLG đòi hỏi trách Việt Nam không chỉ giới hạn ở cấp độ cá nhiệm giải trình của mọi ngành trong việc nhân và gia đình mà còn ảnh hưởng tiêu thực hiện đầy đủ các cam kết. Chỉ có như cực tới sự phát triển kinh tế của đất nước. vậy, chúng ta mới mong nhìn thấy tiến triển Tổng chi phí thiệt hại đối với cá nhân do thực sự trong việc đấu tranh với BLG nhằm BLG, bao gồm chi phí trực tiếp từ tiền túi, giảm đi những ảnh hưởng nặng nề của nó mất thu nhập và giá trị của công việc nhà đối với phụ nữ và trẻ em gái tại Việt Nam. chiếm 1,41% tổng GDP năm 2010. Hơn thế nữa, nghiên cứu còn chỉ ra rằng phụ Tiến bộ thực sự chỉ có thể đạt được nếu nữ từng bị bạo lực có thu nhập thấp hơn chúng ta không chỉ nhìn vào riêng vấn đề 35% so với phụ nữ không bị bạo lực. Điều BLGĐ, mà cần nhìn rộng hơn tới tất cả các này cũng góp phần làm giảm đáng kể thu hình thức khác của BLG. Cần tập trung nhập của cả nước. Ước tính tổng thiệt hại nhiều hơn nữa vào việc lôi cuốn sự tham về năng suất lao động đối với toàn thể nền gia của nam giới và trẻ em trai, giúp họ xác kinh tế do BLG gây ra khoảng 1,78% GDP định vai trò của mình trong phòng chống năm 2010 (LHQ, 2012). Công bố kết quả bạo lực cũng như bảo vệ và tôn trọng phụ nghiên cứu quốc gia năm 2010 về BLGĐ nữ. Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG 3
- Liên hợp quốc tại Việt Nam cam kết phối Tài liệu thảo luận này do LHQ chủ trì thực hợp với Chính phủ, các đối tác trong xã hội hiện vào năm 2013 nhằm rà soát các vấn dân sự cùng với các cơ quan phát triển, đề liên quan đến BLG trên phạm vi quốc tế trong việc phòng chống và can thiệp BLG. và tại Việt Nam. Đây là cuốn tài liệu nhằm Cần tiếp tụ c vận động sự tham gia của xã cập nhật kiến thức, phục vụ thảo luận về hội dân sự và khối tư nhân chung tay chấm chính sách và xây dựng chương trình về dứt bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái, BLG tại Việt Nam. Chúng tôi hy vọng cuốn hỗ trợ nâng cao năng lực cho nạn nhân tài liệu đạt được mục tiêu trên, giúp nâng của bạo lực, đảm bảo các giải pháp can cao hiểu biết về BLG và tăng cường các thiệp có tính đến những nỗi đau mà phụ nữ can thiệp giải quyết BLG của Chính phủ và bé gái bị bạo lực đã từng trải qua, đặc Việt Nam và các đối tác trong lĩnh vực phát biệt cần quan tâm đến hỗ trợ nhóm phụ nữ triển. và trẻ em dễ bị tổn thương, những người đã và đang chịu nhiều hình thức bạo lực khác nhau. Trong Kế hoạch chung của LHQ 2012-2016, Arthur Erken LHQ ưu tiên giải quyết vấn đề BLG vì BLG Trưở ng đại diện UNFPA tại Việt Nam là một chỉ số quan trọng trong việc theo Trưởng Nhóm công tác của LHQ về Bạo dõi việc thực hiện Công ước xóa bỏ mọi lực giới Hình thức Phân biệt đối xử đối với Phụ nữ. 4 Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG
- TỔNG QUAN Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG 5
- Mục đích: Tài liệu này do Văn phòng khoa học đánh giá quá trình thực hiện Luật UNFPA tại VIệt Nam chủ trì thực hiện vào sau 6 năm ban hành. Hy vọng cuốn tài liệu tháng 7 năm 2013 với sự đóng góp kỹ này sẽ hỗ trợ đắc lực cho Chính phủ Việt thuật của Nhóm Công tác chuyên môn về Nam trong việc xác định những khó khăn, BLG của LHQ1, nhằm cập nhật kiến thức, thách thức trong quá trình thực hiện nhằm phục vụ thảo luận chính sách và xây dựng tăng cường tính hiệu lực của Luật Phòng chương trình về phòng chống BLG tại Việt chống Bạo lực Gia đình. Nam. Dựa trên Tài liệu nghiên cứu về BLG trong khuôn khổ Chương trình Chung của Phương pháp tiếp cận: Tài liệu này do các cơ quan LHQ (Gardsbane, 2010), tài nhóm chuyên gia quốc tế thực hiện thông liệu này xem xét vấn đề BLG trên phạm vi qua rà soát các nghiên cứu, chương trình rộng tại Việt Nam với nhiều hình thức khác và văn bản pháp qui hiện tại cũng như các nhau, đối với phụ nữ và trẻ em gái, nam tài liệu nghiên cứu khoa học được xuất giới và trẻ em trai cũng như người chuyển bản từ năm 2010 đến nay. Bản thảo được giới và bất kỳ ai bị tổn thương bởi BLG - hệ gửi đến các thành viên Nhóm Công tác quả của bất bình đẳng giới. chuyên môn về BLG và Nhóm Chương trình Chung về Giới của Liên hợp quốc để Tài liệu này đóng góp như thế nào lấy ý kiến đóng góp và sau đó được chỉnh cho quá trình lập kế hoạch chiến sửa. Vì đây là nghiên cứu hoàn toàn dựa lược: trên các tài liệu hiện có, và bằng tiếng Anh, nên phạm vi nghiên cứu có những hạn chế Tháng 12/2010, Liên hợp quốc tại Việt và có thể chưa đánh giá và phân tích được Nam đã biên soạn Báo cáo chuyên đề về một cách toàn diện các chương trình và Bạo lực trên cơ sở giới (Gardsbane, 2010) hoạt động can thiệp về BLG tại Việt Nam. với những khuyến nghị cho quá trình xây dựng chính sách và thiết kế chương trình. Tại sao BLG là một vấn đề quan Một số khuyến nghị đã được Chính phủ trọng: BLG là một vấn đề toàn cầu, phổ Việt Nam và các đối tác phát triển chấp biến và gây ra hệ quả nặng nề đối với phụ thuận và được thể hiện trong các chương nữ, cộng đồng và toàn xã hội. Mặc dù BLG trình can thiệp liên quan đến BLG giai đoạn chủ yếu ảnh hưởng tới phụ nữ và trẻ em 2012-2016. Từ năm 2010 đến nay, những gái, nhưng cũng có thể tác động đối với nghiên cứu mới về BLG tại Việt Nam đã nam giới, trẻ em trai, các nhóm thiểu số cung cấp thêm các bằng chứng cho đối và nhóm có hoàn cảnh đặc biệt như người thoại chính sách, thiết kế và thực hiện chuyển giới. Các nghiên cứu quốc tế đã chương trình nhằm giải quyết các khía chứng minh mối liên hệ giữa bạo lực đối cạnh và loại hình BLG khác nhau. Dựa với sức khỏe thể chất và tinh thần, với trên các nghiên cứu này, tài liệu thảo luận chi phí do bạo lực gia đình và bạo lực mang đến cái nhìn tổng quan mới nhất gây ra bởi bạn tình ở cấp độ gia đình và về BLG tại Việt Nam trong đó đề cập đến cộng đồng tại các các nước công nghiệp những khoảng trống và nhu cầu cần giải hóa và các nước đang phát triển (ICRW, quyết. Đây sẽ là nguồn tham khảo hữu ích 2005; Duvvury, 2004). Nhiều nghiên cứu cho các rà soát sắp tới về việc thực hiện khác cũng chứng minh tác động tiêu cực Luật Phòng chống Bạo lực Gia đình 2007 của BLG đến quá trình hướng tới Mục tiêu (Luật BLGĐ) vì cần có những nghiên cứu Phát triển Thiên niên kỷ (Duvvury, 2009). 1 Nhóm công tác chuyên môn về BLG của LHQ gồm đại diện các tổ chức LHQ tại Việt Nam, trong đó có ILO, IOM, UNESCO, UNICEF, UNFPA, UNODC, UN Women và WHO. 6 Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG
- Việt Nam, cũng như nhiều nước khác, đang cáo chuyên đề này được thực hiện trước phải đối mặt với mức độ nghiêm trọng và khi TCTK công bố Nghiên cứu quốc gia phổ biến của BLG trong toàn xã hội. Báo về BLGĐ đối với phụ nữ tại Việt Nam năm cáo chuyên đề về BLG của Gardsbane năm 2010. Kể từ năm 2011 tới nay, các nghiên 2010 tóm tắt và cập nhật thông tin về các cứu mới về BLG, gồm cả một nghiên cứu hình thức bạo lực (đặc biệt thể xác, tình về những tổn hại về mặt chi phí của BLGĐ dục, tinh thần/tâm lý và kinh tế cũng như (Duvvury và cộng sự, 2012), đã mở rộng nạn buôn bán phụ nữ), bối cảnh kinh tế-xã thêm hiểu biết về các hình thức, mức độ hội tạo điều kiện cho BLG và khung pháp phổ biến và hậu quả của BLG, cũng như lý cho việc phòng chống BLG tại Việt Nam. các khoảng trống trong chính sách và Một số khuyến nghị của nghiên cứu đã chương trình. Tài liệu thảo luận này của được Chính phủ Việt Nam đưa vào khung LHQ nhằm tiếp tục củng cố kiến thức và đề chính sách, các chương trình và hoạt động xuất những giải pháp phù hợp để giải quyết can thiệp. Các sáng kiến này được đề cập những khoảng trống trong kiến thức và trong các kế hoạch hành động quốc gia thực hiện chương trình về BLG. Đặc biệt, liên quan, như Kế hoạch Hành động Quốc cuốn tài liệu sẽ cập nhật kiến thức chung gia phòng chống BLGĐ và Kế hoạch chung về mức độ phổ biến, các nguyên nhân và của Chính phủ Việt Nam và Liên hợp quốc hậu quả của các hình thức BLG, đồng thời giai đoạn 2012-2016. Báo cáo chuyên đề đánh giá khung luật pháp và chính sách về BLG được xuất bản năm 2010, đúng phòng chống BLG hiện hành cũng như đề vào thời điểm chính phủ Việ t Nam và LHQ xuất “những việc cần làm trong thời gian đang chuẩn bị xây dựng các chương trình tới” nhằm giải quyết một cách hiệu quả vấn cho giai đoạn 2012-2016. Tuy nhiên, Báo đề BLG tại Việt Nam. Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG 7
- PHẦN I: TÌM HIỂU VỀ BẠO LỰC GIỚI
- TÌM HIỂU VỀ BẠO LỰC GIỚI ạo lực giới là một hiện tượng phổ biến Khái niệm BLG đã trải qua nhiều giai đoạn Bvà phức tạp, thể hiện dưới nhiều hình kể từ khi bắt đầu các nghiên cứu và phân thức, từ BLGĐ đến quấy rối tình dục. Mặc tích về bạo lực dựa trên khái niệm bất bình dù BLG bao gồm cả BLGĐ nhưng BLG đẳ ng giới và bạo lực đối với phụ nữ. Năm không chỉ giới hạn ở BLGĐ hay bạo lực 1992, Ủy ban CEDAW, trong Khuyến nghị đối với phụ nữ (BLPN) mà là mọi hình thức chung thứ 19, giới thiệu một trong những bạo lực nhằm vào một cá nhân vì giới của định nghĩa đầu tiên về BLG được quốc tế người đó và xuất phát từ sự bất bình đẳng công nhận như sau: giới (UNHCR, 2003). BLG duy trì sự bất Bạo lực trên cơ sở giới là một hình bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ và là thức phân biệt đối xử; bạo lực nhằm động lực duy trì, tăng cường các vai trò giới vào một phụ nữ vì người đó là phụ nữ truyền thống. Do các hệ thống xã hội mang hoặc gây ra sự mất công bằng đối với tính phụ hệ vẫn chiếm ưu thế trên toàn phụ nữ. BLG bao gồm các hành động thế giới làm hạ thấp tiếng nói của phụ nữ gây đau đớn về thể xác, tinh thần hay trong gia đình, trong các môi trường kinh tình dục, bao gồm cả sự đe dọa thực tế, chính sách và công cộng khác, nên phụ hiện những hành động này, sự cưỡng nữ và trẻ em gái thường là nạn nhân của bức hay tước đoạt tự do dưới các hình BLG. Trong mọi hình thức BLG, phần lớn thức khác nhau (CEDAW, 1992). nạn nhân là phụ nữ và trẻ em gái nhưng họ lại ít được tiếp cận và nhận được dịch Định nghĩa này có ý nghĩa quan trọng vì vụ hỗ trợ pháp lý. BLG cũng có thể xảy ra đã chỉ ra rằng BLG bao gồm cả bạo lực về với nam giới và trẻ em trai, người chuyển tâm lý, tình dục và thể xác và gây ra dưới giới, người khuyết tật, ngườ i dân tộc thiểu nhiều hình thức khác nhau. số và những người có hoàn cảnh khó khăn (như đã nói ở trên). Hơn thế nữa, BLG Trên cơ sở khuyến nghị này của CEDAW, không chỉ xảy ra ở riêng một độ tuổi nào, Tuyên bố về Xóa bỏ Bạo lực đối với Phụ mà có thể xảy ra trong suốt cuộc đời một nữ 1993 (DEVAW) nêu rõ bạo lực dựa trên con người, từ khi chưa được sinh ra (dưới cơ sở giới là: hình thức nạo phá thai lựa chọn giới tính) Bất kỳ một hành động bạo lực nào cho tới khi chết (ví như trường hợp bị giết dựa trên cơ sở giới mà gây tổn hại hại để chiếm đoạt của hồi môn hay để bồi hoặc đau đớn cho phụ nữ về mặt về thường danh dự). BLG cũng có thể xảy ra thân thể, tình dục hoặc tâm lý, kể cả ở trong mọi bối cảnh, như trong gia đình, việc đe dọa thực hiện những hành tạ i nơi làm việc hoặc nơi công cộng, hay động như vậy, sự ép buộc hay tước trong xã hội. BLG có thể gây ra bởi bạn đoạt sự tự do, cho dù xảy ra ở nơi tình, các thành viên trong gia đình, người công cộng hay cuộc sống riêng tư quen, người xa lạ, đồng nghiệp, người có (Đại hội đồng LHQ, 1993). quyền lự c cũng như bởi cộng đồng hay cơ quan Nhà nước (UNFPA, 2005). Vì thế, để Như vậy DEVAW tiếp tục khẳng định BLG hiểu được BLG cần có định nghĩa bao quát có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức khác trên các bối cảnh cụ thể để có thể nhận nhau và làm sáng tỏ một điểm quan trọng diện được các hình thức và sự thể hiện là BLG có thể xảy ra trong cuộc sống xã hội của BLG. hay cuộc sống riêng tư, và vì thế , đòi hỏi trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà Tìm hiểu các định nghĩa Bạo lực trên nước trong việc phòng ngừa mọi hình thức cơ sở giới trong các tài liệu quốc bạo lực xảy ra trong khuôn khổ gia đình tế: từ “Bạo lực đối với phụ nữ” đến hay cuộc sống riêng tư, trong bối cảnh tổ “Bạo lực trên cơ sở giới” chức cũng như xã hội. Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG 11
- TÌM HIỂU VỀ BẠO LỰC GIỚI Các định nghĩa này đóng vai trò hết sức Cao ủy LHQ về Người Tị nạn (UNHCR) và quan trọng trong việc làm rõ nội dung và các đối tác sử dụng một “định nghĩa mở đối tượng chịu tác động của BLG tại Việt rộng về bạo lực tình dục và bạo lực dựa Nam và các nước khác. Trong khuôn khổ trên cơ sở giới”2 , theo đó BLG được định các cơ chế nhân quyền quốc tế, khái niệm nghĩa như sau: Bạo lực dựa trên cơ sở giới (BLG) và Bạo Bạo lực trên cơ sở giới là bạo lực lực đối với Phụ nữ (BLPN) thường được nhằm vào một người trên cơ sở sử dụng thay thế cho nhau nhưng đều đối xử phân biệt giới hoặc giới nhấn mạnh vào bạo lực đối với phụ nữ gây tính. Nó bao gồm các hành động ra bởi các cá nhân, tổ chức Chính phủ và gây tác hại hoặc gây đau đớn về thể xác, tinh thần hay tình dục, gồm cả phi Chính phủ. sự đe dọa thực hiện những hành vi Từ “Bạo lực đối với Phụ nữ”’ đến này, sự cưỡng bức và tước đoạt tự “Bạo lực dựa trên cơ sở Giới” do dưới các hình thức khác nhau. Mặc dù phụ nữ, nam giới, trẻ em trai Nhờ việc triển khai ngày càng nhiều các và trẻ em gái đều có thể trở thành nghiên cứu về BLPN và BLGĐ, sự hiểu biết nạn nhân của BLG, phụ nữ và trẻ theo cả chiều rộng và chiều sâu về các hình em gái thường là nạn nhân chủ yếu. thức bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái BLG phải được hiểu là bao gồm, ngày càng tăng. Các bằng chứng nghiên nhưng không giới hạn ở những hình cứu hướng đến nguyên nhân gốc rễ của thức sau: BLG chính là những biến động về quyền a) Bạo lực thể xác, tình dục và tâm lý lực giới (gendered power dynamics). Từ xảy ra trong gia đình, gồm cả hành đó, người ta nhận ra rằng bất bình đẳng về vi đánh đập, bóc lột tình dục, lạm quyền lực châm ngòi cho bạo lực đối với dụng tình dục trẻ em trong gia đình, phụ nữ, đồng thời cũng châm ngòi cho các bạo lực liên quan đến của hồi môn, cưỡng hiếp trong hôn nhân, cắt bỏ bộ hình thức bạo lực nhằm vào những nhóm phận sinh dục nữ và các hủ tục khác đối tượng khác như trẻ em trai, người gây hại đến phụ nữ, bạo lực không chuyển giới và những người nam có quan phải do bạn tình gây ra và bạo lực hệ tình dục với nam. Chẳng hạn, Thông liên quan đến bóc lột; điệp của Tổng Thư ký LHQ gửi Phiên họp b) Bạo lực thể xác, tình dục và tâm lý của Hội đồng Nhân quyền về vấn đề Bạo xảy ra trong cộng đồng, bao gồm: lực và Phân biệt đối xử dựa trên Xu hướng cưỡng hiếp, lạm dụng tình dục, quấy tình dục hoặc Nhân dạng Giới (2012) đã rối và sàm sỡ tình dục tại nơi làm hối thúc các quốc gia thành viên “thực hiện việc, trong các cơ sở giáo dục hoặc các biện pháp cần thiết để bảo vệ công dân bất kỳ đâu; buôn bán phụ nữ và mại của mình không bị bạo lực và phân biệt đối dâm cưỡng bức; xử trên cơ sở xu hướng tình dục và nhân c) Bạo lực thể xác, tình dục và tâm dạng giới”. Nhận thức toàn diện hơn về lý được gây ra hoặc được bỏ qua bởi BLG này đang ngày càng được phản ánh Nhà nước và các tổ chức hoặc 3 rõ nét trong các tài liệu nghiên cứu quốc tế. cho dù xảy ra ở bất cứ đâu . 2 Căn cứ theo Điều 1 và 2 Tuyên bố của Đại hội đồng LHQ về xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ (1993) và Khuyến nghị 19, Đoạn 6, phiên họp thứ 11 của Ủy ban CEDAW; Báo cáo Bạo lực tình dục và bạo lực giới đối với người tị nạn nước ngoài, người hồi hương và người tị nạn trong nước, Văn phòng Cao ủy LHQ về người tị nạn, Geneva, 2003. 3 UNHCR. Xem tại: 12 Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG
- TÌM HIỂU VỀ BẠO LỰC GIỚI Định nghĩa cập nhật và hiện được sử dụng một số nước châu Á dẫn đến hành vi nạo phổ biến đã mở rộng phạm vi đối tượng bị phá thai và giết hại trẻ sơ sinh nhằm lựa tác động bởi BLG ra các nhóm chưa được chọn giới tính đã gây ra hậu quả mất cân đề cập trong các định nghĩa trước đây về bằng tỷ số giới tính khi sinh. BLPN. Tuy nhiên, định nghĩa mở rộng vẫn Mối liên hệ giữa các chuẩn mực giới và gia giữ nguyên những nguyên nhân căn bản đình này, những nguy cơ của BLG và thái gây ra BLG mà CEDAW đã xác định - đó độ bình thường hóa BLG tạo ra một vòng là những mối quan hệ bất bình đẳng giới xoáy làm tăng nguy cơ xảy ra BLG và làm thể hiện qua những chuẩn mực, thái độ và giảm khả năng áp dụng chặt chẽ các chế hành vi xã hội. tài, cũng như ảnh hưởng đến hiệu quả thực Những yếu tố dẫn đến BLG: Vòng thi các chế tài đó đối với các đối tượng gây xoáy BLG ra BLG. Vòng xoáy, như được minh họa ở Hình 1, thể hiện cách thức mà BLG bị tạo Các định nghĩa về BLG đều xác định ra và duy trì bởi các chuẩn mực, thái độ và nguyên nhân gỗc rễ của BLG là quan hệ hành vi bất bình đẳng liên quan đến vai trò quyền lực bất bình đẳng và thái độ cá giới, cấu trúc và trách nhiệm gia đình, sự nhân chấp nhận bạo lực cả trong gia đình phát triển và áp dụng luật pháp không bình và ngoài xã hội (UNHCR, 2003; UNGA, đẳng, dẫn đến hệ quả là bạo lực bị bình 2006). Các hình thức thể hiện của bạo lực thường hóa, thậm chí là tồn tại vĩnh viễn. trong một xã hội phụ thuộc vào bối cảnh Những nguyên nhân này liên quan đến tất kinh tế-văn hóa, các chuẩn mực và giá trị cả các hình thức BLG. giới. Chẳng hạn, tâm lý chuộng con trai ở Hình 1: Vòng xoáy BLG Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG 13
- TÌM HIỂU VỀ BẠO LỰC GIỚI • Các chuẩn mực và thái độ đối xử phân nguy cơ bị các hình thức BLG khác nhau. biệt giới, như các chuẩn mực về nam Điều này có thể đồng thời xảy ra, chẳng tính, nữ tính, các mong đợi của xã hội về hạn phụ nữ bị bạo lực gia đình có nhiều vai trò giới cũng như tâm lý chuộng con khả năng bị quấy rối tình dục hơn, hoặc trai tạo nên bối cảnh nền tảng của BLG. xảy ra tiếp với họ, chẳng hạn những người đã từng chứng kiến BLGĐ khi còn nhỏ thì • Các chuẩn mực và thái độ bất bình đẳng khả năng bị bạo lực, tảo hôn, mại dâm giới đã hạ thấp giá trị của phụ nữ và trẻ cưỡng bức và/hoặc bị buôn bán sau này em gái, ảnh hưởng đến cơ hội được cũng cao hơn. Đối với nhiều nạn nhân của học tập và phát triển sự nghiệp, khả BLG, hệ quả mà họ phải gánh chịu là tình năng thương thuyết quyền lực trong trạng yếu thế tích tụ do mức độ dễ bị bạo gia đình cũng như việc công nhận năng lực ngày càng tăng và họ dễ gặp phải các lực của phụ nữ . Các chuẩn mực và thái hình thức bạo lực khác cùng với những độ bất bình đẳng này cũng đồng thời bạo lực trước đây họ từng gánh chịu. Để hạ thấp giá trị của người chuyển giới và thực hiện các chính sách phòng chống những nam giới không tuân theo quan BLG một cách hiệu quả, cần hiểu rõ hơn niệm về nam giới bá quyền và thay về những biến đổi giữa các hình thức BLG. vào đó, trao quyền cho người thể hiện Chẳng hạn, tâm lý chuộng con trai dẫn đến được đặc tính nam giới bá quyền này. hành vi phá thai lựa chọn giới tính, dẫn tới • Có vị thế vầ quyền lực thấp trong cuộc hệ quả là mất cân bằng tỷ số giới tính khi sống riêng tư và ngoài xã hội làm tăng sinh - một trong những nguyên nhân của nguy cơ bị BLG do có ít lựa chọn hơn và nạn buôn bán người, tảo hôn và mại dâm không có hoặc không tiếp cận được sự cưỡng bức. Các hình thức bạo lực này dù bảo vệ, và vì thế hạn chế hoặc không là riêng rẽ hay kết hợp thì đều duy trì lâu sử dụng được các quyền và nguồn lực dài các thái độ bất bình đẳng tạo ra vòng kinh tế, chính trị hay xã hội. xoáy BLG. • Khi mà đối xử bất bình đẳng giới và sự xem thường giá trị của trẻ em gái và Liên hệ giữa các hình thức BLG phụ nữ vẫn còn tồn tại, thì BLG sẽ bị xem như là “bình thường”. Sự thiếu hụt Do mối liên hệ sâu sắc giữa các hình thức quyền lực của phụ nữ trong gia đình và và nguyên nhân BLG, phương pháp tiếp ngoài xã hội dẫn đến tình trạng các nhà cận toàn diện và hiệu quả để giải quyết chức trách/cơ quan chứ c năng làm ngơ vấn đề này đòi hỏi một sự hiểu biết thấu và không hành động. đáo về mối liên hệ giữa các hình thức bạo lực. Mặc dù các chuẩn mực và thái độ có • Các chuẩn mực giới, trong đó nam tính ý nghĩa quan trọng, vai trò của hành vi được cho là phải hung hăng và làm xã hội không thể bị bỏ qua do tồn tại một chủ, còn nữ tính thì phải thụ động và mối quan hệ biện chứng giữa thái độ và phụ thuộc đã làm cho việc bình thường hành vi, tức là khi hành vi thay đổi thì thái hóa bạo lực được duy trì lâu dài hơn. độ cũng thay đổi do cá nhân sẽ cố gắng để đạt được sự thống nhất về nhận thức Những yếu tố trong vòng xoáy như mô tả giữa hành vi và thái độ (ví dụ nếu hành vi ở Hình 1 không những có thể làm tăng khả thay đổi thì thái độ cũng có xu hướng thay năng bị BLG, mà còn kết nối các hình thức đổi để phù hợp với hành vi hoặc ngược BLG với nhau và có xu hướng làm tăng lại) (Festinger , 1956; Kilmartin, 2003). 14 Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG
- TÌM HIỂU VỀ BẠO LỰC GIỚI Do tất cả các hình thức BLG đều có chung tỏa đòi hỏi phải có hiểu biết sâu hơn về nguyên nhân gốc rễ, việc điều chỉnh các chuỗi kết nối giữa các hình thức bạo lực thái độ, chuẩn mực và/hoặc hành vi xã hội khác nhau. Hiện nay vẫn có nhiều khoảng bất bình đẳng sẽ có khả năng thay đổi nhiều trống kiến thức trong lĩnh vực này vì phần hình thức BLG. Do đó, nếu các chính sách lớn các nghiên cứu về bạo lực thường chỉ và chương trình can thiệp được thiết kế tốt xem xét riêng rẽ từng hình thức bạo lực với sự hiểu biết thấu đáo về mối liên hệ mặc dù vẫn có thừa nhận rằng chúng đều giữa các hình thức BLG, thì sẽ có khả năng do các nguyên nhân chung mang tính cấu tác động tích cực đến các dạng BLG khác trúc gây ra. nhau. Tuy nhiên, quá trình tạo tác động lan Dưới đây là hai ví dụ đề cập trong các tài liệu nghiên cứu quốc tế về BLG minh họa những mối liên kết giữa các hình thức bạo lực. Ví dụ 1: Liên hệ giữa hành vi gây bạo lực với trải nghiệm bạo lực thời thơ ấu Nhiều nghiên cứu đã cùng chứng minh rằng có sự liên hệ giữa trải nghiệm BLGĐ của trẻ em trai, hoặc là nạn nhân trực tiếp của bạo lực do cha mẹ hay các thành viên khác trong gia đình gây ra hoặc là người chứng kiến BLGĐ đối với người mẹ, với hành vị gây bạo lực sau này khi lớn lên (Whitfield , 2003; Duvvury và các tác giả khác 2012:58; Priya và các tác giả khác 2012:8). Nghiên cứu của Fulu và cộng sự với sự tham gia của 10.000 nam giới tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương cho thấy trải nghiệm bạo lực thời thơ ấu có liên quan đến hành vi bạo lực nói chung, gồm cả việc tham gia vào các băng nhóm tội phạm và ẩu đả có sử dụng vũ khí, đến việc gây bạo lực tình dục đối với người không phải bạn tình, bạo lực với bạn tình và mua dâm (2013:15-16). Những phát hiện này là bằng chứng quan trọng cho thấy tính chất vòng xoáy của bạo lực, bạo lực được gây ra bởi quan niệm đề cao nam tính và quyền lực, áp đặt lên những người ít có quyền lực nhất, cụ thể trong trường hợp này là phụ nữ và trẻ em và rằng các hình thức BLG đều có liên hệ với nhau. Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG 15
- TÌM HIỂU VỀ BẠO LỰC GIỚI Ví dụ 2: Liên hệ giữa nạn buôn bán phụ nữ với BLGĐ và mại dâm cưỡng bức Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng phụ nữ bị buôn bán thường đã trải qua các hình thức BLG khác nhau trước đó. Đặc biệt, mối liên hệ giữa BLGĐ, mại dâm cưỡng bức và buôn bán phụ nữ rất rõ nét, như tác giả Leidholdt mô tả: “Mại dâm và BLGĐ có mối liên hệ rõ rệt song mối liên hệ đó hiếm khi được biết đến. Trong các xã hội mà người vợ bị coi là tài sản của người chồng và gia đình chồng thì những phụ nữ khi chạy trốn khỏi BLGĐ thường rơi vào những hoàn cảnh tương tự như những thiếu nữ khi trốn chạy khỏi một cuộc hôn nhân cận huyết thống trong các xã hội công nghiệp và hậu công nghiệp - vô gia cư, dễ bị mắc bẫy của những kẻ môi giới và kiếm lợi từ nghề mại dâm.” (2005: 173) Theo các cuộc phỏng vấn với các phụ nữ mại dâm ở Bangladesh và Mali, Leidholdt giải thích rằng, phụ nữ thường bị bạo hành do chồng gây ra và khi bỏ nhà ra đi, họ trở thành vô gia cư và đó chính là yếu tố đưa họ đến nghề mại dâm. Các nghiên cứu khác tại Nam Á cũng nhận định tương tự rằng ly dị, bị bỏ rơi và nghèo đói là những lý do đẩy phụ nữ tới chỗ phải hành nghề mại dâm (ví dụ, Miller, 2002: 1053). Thêm vào đó, những kẻ môi giới và điều hành các cơ sở mại dâm có khi chính là chồng hay tình nhân của người phụ nữ và dùng bạo lực để kiểm soát họ (nguồn tài liệu tương tự, tr 174). Các nghiên cứu khác cũng xác định có mối liên hệ giữa BLGĐ và nghề mại dâm (ví dụ, Miller, 2002; Harding và Hamilton, 2009). Khi đã hành nghề mại dâm, dù là do lựa chọn hay bị cưỡng bức, phụ nữ có nguy cơ bị mua bán vào bất cứ lúc nào. Nạn buôn bán phụ nữ có thể xảy ra trong nước, khi những kẻ kiểm soát phụ nữ di chuyển họ đến các địa bàn khác, hoặc xuyên quốc gia khi phụ nữ bị đem đi buôn bán ngoài biên giới của một nước. Chẳng hạn, một nghiên cứu của Vocks và Nijboer tại Hà Lan cho thấy một số lượng lớn phụ nữ bị mua bán đã từng hành nghề mại dâm trước đó (2000: 383). Các nghiên cứu này đều chỉ ra các hình thức liên hệ giữa BLGĐ với nạn buôn bán phụ nữ, chẳng hạn trong ví dụ này, là thông qua mại dâm cưỡng bức. Điều này gợi ý rằng việc giải quyết nạn buôn bán phụ nữ đòi hỏi phải có sự quan tâm đến vấn đề bất bình đẳng giới thể hiện qua bạo lực trong gia đình. Các hình thức BLG khác nhau có liên hệ bạo lực tâm lý hay tình dục nếu các chuẩn chặt chẽ với nhau do có chung nguồn gốc mực về giới, gia đình và tâm lý chuộng con là bất bình đẳ ng giới. Nếu chỉ tập trung trai không được thay đổi. Tương tự như xử lý các hình thức thể hiện sự bất bình vậy, việc chỉ tập trung vào một hay một số đẳng, như BLGĐ chẳng hạn, sẽ khó thay hình thức BLG sẽ không giải quyết triệt để đổi được nguyên nhân cơ bản của nó. Hơn được vấn đề nếu không tác động vào cả nữa, điều này có thể dẫn đến sự biến đổi từ các hình thức BLG khác. Cần có cách tiếp hình thái bất bình đẳng này sang một hình cận toàn diện và đồng bộ cùng với sự hiểu thái khác. Ví dụ, các can thiệp nhằm vào biết về mối liên hệ giữa các hình thức BLG hành vi BLGĐ có thể làm giảm bạo lực thể mới có thể giải quyết được vấn đề BLG xác trong gia đình, song lại có thể làm tăng vốn tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau. 16 Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG
- TÌM HIỂU VỀ BẠO LỰC GIỚI Đánh giá thực trạng hiểu biết về BLG giới nghiên cứu đã quan tâm đến vấn đề tại Việt Nam hiện nay này và chuyển tải thông tin tốt hơn đến các nhà lập chính sách và toàn xã hội về BLG. Mặc dù định nghĩa mở rộng về BLG được Tuy nhiên, cần có nhiều nỗ lực hơn nữa sử dụng trong các tài liệu của LHQ, đa để hiểu biết đầy đủ về sự liên hệ giữa các số các nhà hoạch định chính sách, các hình thức BLG tại Việt Nam. cán bộ phát triển và các nhà nghiên cứu đều giả định rằng BLG đồng nghĩa với Kết quả xem xét những báo cáo mới xuất BLGĐ. Tại Việt Nam, mức độ và các hình bản cho thấy các hình thức BLG tồn tại thức BLG đã từng bước được nhận thức, ở Việt Nam gồm BLGĐ, nạo phá thai lựa chẳng hạn thông qua việc ban hành luật về chọn giới tính, tảo hôn, buôn bán người/ phòng chống buôn bán người và quấy rối di cư cưỡng bức, mại dâm cưỡng bức và tình dục tại nơi làm việc. Tuy nhiên, như quấy rối tình dục. Các hình thức BLG này Gardsbane và cộng sự đã lưu ý, “nhiều có nguyên nhân từ những chuẩn mực giới, hình thức BLG mới chỉ bắt đầu được thảo như chuẩn mực về nam tính và các quan luận tại Việt Nam và hầu như người ta ít niệm về vai trò giới, cũng như các chuẩn biết đến tỉ lệ của từng hình thức bạo lực mực gia đình. Tài liệu thảo luận này mô tả hay sự giao thoa giữa các hình thức bạo hiện trạng kiến thức và sự hiểu biết chung lực này” (2010:16). Từ năm 2010 đến nay, về các hình thức BLG tại Việt Nam. BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ Nghiên cứu Quốc gia về BLGĐ đối với Phụ nữ năm 2010 cho thấy khá rõ về tình trạng BLGĐ của phụ nữ tại Việt Nam4 . Nghiên cứu chỉ ra: % trong số phụ % trong số phụ nữ Hình thức bạo lực nữ từng lập gia từng lập gia đình/ đình/có bạn tình, có bạn tình, trong trong cuộc đời 12 tháng vừa qua Đã từng chịu ít nhất một hình thức bạo lực: thể 58 27 xác, tình dục hoặc tinh thần Đã từng chịu bạo lực thể xác 32 6 Đã từng chịu bạo lực tình dục104 Đã từng chịu bạo lực thể xác và/hoặc tình dục349 Đã từng bị lạm dụng tinh thần5425 Nghiên cứu cũng phát hiện thấy trong khi chồng (TCTK, 2010). Kết quả phân tích nạn bạo hành xảy ra đối với phụ nữ ở tất cả số liệu sâu hơn chỉ ra rằng phụ nữ có xác các nhóm dân số xã hội khác nhau, thì tỷ lệ suất bị BLGĐ nhiều hơn 2,8 lần nếu họ đã bạo lực thể xác, tình dục và tâm lý cao hơn từng bị bạo lực tình dục khi còn nhỏ và có tại các vùng nông thôn và ở những phụ xác suất bị BLGĐ nhiều hơn 5,8 lần nếu họ nữ có trình độ văn hóa thấp hơn (TCTK, đã từng bị bạo lực tình dục do một người 2010). Nghiên cứu còn cho thấy gần 3% không phải là bạn tình gây ra khi lớn lên số phụ nữ được hỏi cho biết đã bạo hành (từ 15 tuổi trở lên) (TCTK, 2013). 4 Nghiên cứu được dựa trên mẫu đại diện cho toàn quốc gồm 4.838 phụ nữ trong độ tuổi từ 18 đến 60 ở các vùng nông thôn và thành thị của Việt Nam. Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG 17
- TÌM HIỂU VỀ BẠO LỰC GIỚI NẠO PHÁ THAI LỰA CHỌN GIỚI TÍNH nhau giữa các quốc gia, khái niệm tảo hôn nhằm nói lên rằng, cho dù một người có tư Mất cân bằng giới tính khi sinh (MCBGTKS) cách pháp nhân dưới 18 tuổi hay không, là một chỉ số rõ ràng về tình trạng nạo phá thì tảo hôn vẫn mang đến những yếu tố thai để lựa chọn giới tính, tức là việc thai nguy cơ. Đặc biệt là trẻ em gái thường nhi nữ bị loại bỏ do tâm lý chuộng con trai. chịu tác động tiêu cực của nạn tảo hôn: Dữ liệu năm 2010 cho thấy tỷ số giớ i tính kết hôn trước 18 tuổi đi đôi với việc bỏ khi sinh của Việt Nam hiện đang mất cân học sớm, nguy cơ tử vong bà mẹ và trẻ sơ bằng đáng kể, ở mức 111,2 bé trai so với sinh và BLGĐ cùng những nguy cơ khác 100 bé gái được sinh tại thời điểm năm (UNICEF, 2009). Theo quan điểm của 2010 (TCTK, 2010). Tác giả Guilmoto UNICEF “Việc kết hôn với trẻ em gái dưới nhận thấy có sự chênh lệch về MCBGTKS 18 tuổi có gốc rễ từ sự kỳ thị giới, khuyến giữa các nhóm dân tộc, trong đó dân tộc khích sinh đẻ sớm và liên tục và chỉ chú Kinh có MCBGTKS cao nhất (2012:33) và MCBGTKS cao hơn ở những phụ nữ trọng đến giáo dục trẻ em trai và được coi có học vấn cao hơn, ở mức 113 bé trai là một chuẩn mực xã hội tại một số khu so với 100 bé gái trong số phụ nữ đã học vực” (UNICEF: 2012), thì đó rõ ràng là một hết lớp 10 trở lên trong khi hầu như không hình thức BLG. có MCBGTKS trong số phụ nữ không biết Không giống như một số nước Đông Nam chữ (đồng tác giả. 2012:33). Cũng có sự Á khác nơi mà tuổi kết hôn lần đâu đã tăng chênh lệch giữa các khu vực, trong đó khu đáng kể trong những năm gần đây, Việt vực Đồng bằng Bắc bộ có MCBGTKS cao Nam có mức tăng tuổi kết hôn khiêm tốn nhất (đồng tác giả). nhất, chỉ 0,4 tuổi mỗi năm trong khoảng từ MCBGTKS thể hiện vai trò của công nghệ 1997 đến 2005 (Lung, 2009:8). Trong khi sinh sản và nạo phá thai trong việc hỗ đó, mức tăng trung bình là 1,5 tuổi tại các trợ các cặp vợ chồng sinh con trai theo nước châu Á khác (đồng tác giả. 5). Trong ý muốn. Tran và cộng sự cho biết tại Việt nhóm dân tộc thiểu số H’Mong [tại Việt Nam trung bình một phụ nữ ở thành thị Nam], tỉ lệ tảo hôn ước tính cao gấp đôi so thực hiện 6 lần siêu âm và phụ nữ ở nông với nhóm dân tộc Kinh (Jones và các tác thôn thực hiện 3,5 lần siêu âm trong một giả khác 2013). Mặc dù luật pháp qui định thai kỳ (2011). Nhu cầu thực hiện siêu tuổi tối thiểu được phép kết hôn tại Việt âm của các cặp vợ chồng dẫn đến việc Nam là 18 đối với nữ và 20 đối với nam, tư nhân hóa dịch vụ này, và khá nhiều cơ các nghiên cứu cho thấy một tỉ lệ đáng kể sở y tế tư nhân cung cấp dịch vụ siêu âm phụ nữ Việt Nam kết hôn ở tuổi vị thành ở các mức giá khác nhau (UNFPA, 2011: niên, tức là sớm hơn độ tuổi theo luật định. 46). Mặc dù nạo phá thai lựa chọn giới Xấp xỉ 14,5% số phụ nữ được chọn làm tính và dùng siêu âm cho mục đích này mẫu nghiên cứu năm 2005 (n=16.381) là bất hợp pháp tại Việt Nam, nhiều bằng đã từng kết hôn trước 18 tuổi (Vu, 2009: chứng cho thấy cán bộ cung cấp dịch vụ 8), trong khi một nghiên cứu của Duvvury siêu âm thường cho các cặp vợ chồng biết vào năm 2012 cho thấy 24% số phụ nữ trước giới tính của thai nhi và trong một số đã kết hôn tại khu vực nông thôn tham gia trường hợp, kết quả này được dùng cho mẫu và 8,6% số phụ nữ đã có gia đình mục đích lựa chọn giới tính (đồng tác giả). tại khu vực thành thị đã kết hôn trước 18 tuổi, tương ứng với tỉ lệ tảo hôn chung tại Việt Nam là xấp xỉ 16% (2012:41). Một số TẢO HÔN quan sát cho thấy tảo hôn là hiện tượng Tảo hôn được UNICEF định nghĩa là phổ biến trong các nhóm dân tộc thiểu số kết hôn trước tuổi 18. Mặc dù tuổi chính nhưng chưa có sự hiểu biết đầy đủ về mối thức được coi là người trưởng thành, có liên hệ giữa tảo hôn và các nhóm dân tộc tư cách pháp nhân, được qui định khác thiểu số tại Việt Nam. 18 Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG
- TÌM HIỂU VỀ BẠO LỰC GIỚI BUÔN BÁ N NGƯỜI/DI CƯ CƯỠNG BỨC vào nghề mại dâm làm cho phụ nữ đứng trước nguy cơ bị mua bán làm gái mại Dữ liệu về mua bán người hiện rất hiếm vì dâm tại các địa bàn khác của Việt Nam hầu như không có các nghiên cứu trên qui hay tại các nước khác. Phụ nữ bị mua bán mô lớn trong khi các nguồn dữ liệu của để làm vợ cũng có nguy cơ bị BLGĐ vì họ Chính phủ khá tản mạn. Trong khoảng thời sống xa gia đình và không có các nguồn gian từ 2005 đến 2009, gần 6.000 phụ nữ hỗ trợ khác, có thể phải đối mặt với những và trẻ em được xác định là nạn nhân của khó khăn trong giao tiếp khi cần tìm kiếm nạn mua bán người tại Việt Nam (CEOP, sự giúp đỡ và rất hạn chế hoặc không có 2011:4). Tuy nhiên, buôn bán nam giới sự độc lập về kinh tế. Bất bình đẳng giới phần lớn vẫn còn là một ẩn số. Khó ước làm duy trì cả “nhân tố đẩy” (nhu cầu kinh tính mức độ phổ biến của nạn buôn bán tế, tâm lý chuộng con trai và bạo lực tình người tại Việt Nam do không có số liệu dục) và “nhân tố kéo” (MCBGTKS, quyền các trường hợp nạn nhân tự báo cáo và lực của nam giới, quyền lực kinh tế), gây tự trốn thoát (đồng tác giả). Ban chỉ đạo ra nạn buôn bán người tại Việt Nam (xem Quốc gia Phòng chống Buôn bán người Hang và Koehler, 2012: 12; Bộ Công an, của Việt Nam cho biết có 430 nạn nhân 2010; UNICEF, 2009; OHCHR và các tác được chính quyền phát hiện, 250 nạn giả khác, 2011). nhân được các tổ chức nước ngoài hoặc tổ chức phi chính phủ giúp hồi hương và có 120 nạn nhân tự báo cáo trong năm MẠI DÂM CƯỠNG BỨC 2011. Từ năm 2012 đến quý I năm 2013, Ước tính Việt Nam hiện có xấp xỉ 300.000 có 550 vụ buôn bán người, trong đó có 5 950 kẻ phạm tội và tổng số 1.080 nam giới, gái mại dâm , trong đó 80.000 người đang phụ nữ và trẻ em gái được phát hiện (theo sống và hành nghề tại Tp. Hồ Chí Minh một báo cáo chưa công bố của Bộ Công (Le và các tác giả khác 2010:39). Liên an, 2013) tuy nhiên không rõ số lượng cụ quan đến nam giới hành nghề mại dâm, thể phân tách theo giới tính. Năm 2012, một nghiên cứu thực hiện vào năm 2012 Tòa án Nhân dân Tối cao cho biết đã truy cho thấy khoảng 2% dân số của Tp. Hồ tố 490 kẻ phạm tội có liên quan đến buôn Chí Minh là nam giới có quan hệ tình dục bán người (Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, 2013). với nam giới và 20%-40% đã từng mua Những thống kê này cung cấp một bức dâm (Hiep, 2012). Những con số ước tính tranh về mức độ phổ biến của nạn buôn về người hành nghề mại dâm không cho bán người tại Việt Nam song cũng chỉ đại biết tỉ lệ bị cưỡng bức làm nghề này, mặc diện cho một số lượng nhỏ các vụ án bởi dù đa số có thể tham gia hành nghề do phần lớn các vụ mua bán người không không có lựa chọn nào khác do nghèo được chính quyền phát hiện. đói, hoàn cảnh gia đình khó khăn hoặc do bản dạng giới. Dữ liệu về trẻ em bị Tâm lý chuộng con trai dẫn đến số lượng bóc lột tình dục vì mục đích thương mại nam giới nhiều hơn so với nữ giới và làm cũng rất hạn chế. Một nghiên cứu năm tăng “nhân tố kéo” nhu cầ u cung cấp phụ 2005 ước tính rằng có khoảng 2.000 đến nữ để làm vợ, làm mại dâm, và nhu cầ u 20.000 trẻ em dưới 18 tuổi bị bóc lột tình trẻ em trai để làm con. Trung Quốc, nơi dục vì mục đích thương mại tại Việt Nam có sự mất cân bằng giới tính khi sinh do (Rubenson và các tác giả khác 2005:392). tâm lý chuộng con trai gây ra, là một trong Cho dù hành nghề do bị cưỡng ép, lôi những thị trường phổ biến nhất cho nạn kéo hay tự nguyện, những người hành buôn bán phụ nữ từ Việt Nam để kết hôn nghề mại dâm phải đối mặt với nguy hoặc làm gái mại dâm và trẻ em trai để cơ bị bạo lực do sự kỳ thị, tính không làm con. Bạo lực tình dục và sự xô đẩy chính thống và phi pháp của nghề này. 5 Con số này có thể vẫn thấp hơn thực tế do tính nhạy cảm của việc tự công nhận bản thân làm công việc này. Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG 19
- TÌM HIỂU VỀ BẠO LỰC GIỚI Một cuộc điều tra xuyên quốc gia cho thấy việc (ILO/MOLISA, 2013:24). Tuy nhiên, 73% số người hành nghề mại dâm được bất bình đẳng giới dẫn đến việc phụ nữ hỏi tại Nam Phi, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, chiếm đa số trong những công việc có vị Hoa Kỳ và Zambia đã từng bị lạm dụng trí thấp hơn nam giới và vì thế có nguy cơ thể xác và 62% bị cưỡng hiếp (Farley và bị quấy rối tình dục bởi những người có các tác giả khác 2003). Các nghiên cứu vị trí cao hơn mình. Phụ nữ trẻ đặc biệt gần đây cũng phát hiện tỉ lệ tương tự những người hành nghề mại dâm từng bị có nguy cơ bị quấy rối tình dục tại nơi làm bạo hành (Shannon và các tác giả khác việc (ILO/MOLISA, 2013:23). Mặc dù đã có 2009; Decker và các tác giả khác 2010.) bằng chứng định tính về sự phổ biến và sự bình thường hóa các lời nói, cử chỉ, hành QUẤY RỐI TÌNH DỤC vi sàm sỡ tại nơi công cộng tại Việt Nam, hiện không có bằng chứng định lượng nào Quấy rối tình dục có thể xảy ra tại trường cho biết mức độ phổ biến hay bản chất của học, nơi làm việc, các tổ chức và địa điểm hình thức quấy rối tình dục này. Quấy rối công cộng. Một nghiên cứu nhỏ do Trung tình dục, trong những trường hợp xấu nhất, tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Khoa học bao gồm cưỡng bức tình dục và hiếp dâm6. về Giới- Gia đình- Phụ nữ và Vị thành niên Nghiên cứu quốc gia về BLGĐ đối với phụ (CSAGA) thực hiện và được trích dẫn trong nữ tại Việt Nam cho thấy hiểu biết về lạm nghiên cứu của Gardsbane và các tác giả dụng hay bạo lực tình dục tại Việt Nam vẫn khác (2010:16-17) cho thấy 15,6% trong số còn rất hạn chế. Những người được hỏi 314 học sinh được khảo sát từng bị vuốt ve cho rằng bạo lực tình dục chỉ xảy ra đối bởi người khác, 4,3% từng bị ép buộc phải với trẻ em gái vị thành niên và do người vuốt ve người khác và 4,3% bị cưỡng ép lạ, say rượu hay nghiện hút gây ra (TCTK, quan hệ tình dục trong 12 tháng vừa qua. Trẻ em gái là đối tượng chủ yếu bị bạn trai 2010: 70). Điều này thể hiện sự chấp nhận hoặc thầy giáo quấy rối tình dục (Hong, các khuôn mẫu về nạn nhân bị cưỡng hiếp 2004). Một nghiên cứu gần đây về thanh và những kẻ tội phạm và vì thế, gây bất lợi niên đồng tính, song tính và chuyển giới cho nạn nhân của bạo lực tình dục. Mặc cho thấy 41% số người được hỏi đã từng dù các định nghĩa hiện có về quấy rối tình bị phân biệt đối xử và bạo lực, bao gồm dục đưa ra hàng loạt các trường hợp, từ cả bạo lực tình dục tại trường phổ thông lời nói xúc phạm đến cưỡng bức tình dục hoặc trường đại học (CCHIP, 2012). Giáo và hiếp dâm bởi đồng nghiệp (ILO, 2012), viên cũng có thể đe dọa hạ điểm đối với vẫn cần xây dựng thêm các định nghĩa cụ học trò để cưỡng bức họ (ILO, 2008: 24). thể về “quấy rối tình dục” và phân tách các loại tội phạm tình dục nghiêm trọng hơn Cả nam giới và phụ nữ đều có nguy cơ là như cưỡng hiếp khỏi những hành vi “quấy nạn nhân của quấy rối tình dục tại nơi làm rối” đồng thời vẫn xác định được sự liên hệ việc vì đã có bằng chứng cho thấy nam giữa các hình thức xâm hại tình dục này. giới cũng bị quấy rối tình dục tại nơi làm 6 Ủy ban Cơ hội Bình đẳng Việc làm (EEOC) tại Mỹ hiện nay định nghĩa “quấy rối tình dục” là “sự tấn công nhằm mục đích tình dục ngoài ý muốn, yêu cầu được chiều chuộng về tình dục và các hành vi, cử chỉ hoặc lời nói dục tính khi được nêu ra một cách rõ ràng hoặc ẩn ý như là một điều kiện khi tuyển dụng lao động, hoặc thái độ chấp thuận hay phản đối những hành vi, cử chỉ đó của người lao động được dùng làm căn cứ để quyết định tuyển dụng, hoặc những hành vi, cử chỉ đó nhằm mục đích hay gây ảnh hưởng một cách vô lý, can thiệp vào hiệu quả làm việc của người lao động hoặc tạo ra một môi trường làm việc căng thẳng, thù địch, xúc phạm lẫn nhau’. Hành vi xâm hại có thể bao gồm cả cưỡng hiếp hoặc có ý định cưỡng hiếp (UN. ORG). Mặc dù định nghĩa này của EEOC chỉ tập trung vào vấn đề xâm hại tình dục tại nơi làm việc, hiện nay xâm hại tình dục được ghi nhận ngày càng tăng trong môi trường giáo dục và các bối cảnh xã hội khác. 20 Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG
- TÌM HIỂU VỀ BẠO LỰC GIỚI LẠM DỤNG TÌNH DỤC TRẺ EM Các hậu quả của BLG Mỗi năm có khoảng 1.000 trường hợp lạm BLG gây ra hậu quả nặng nề đối với nạn dụng tình dục trẻ em được báo cáo tại Việt nhân, gia đình và cộng đồng, bao gồm suy Nam (theo tờ Bưu điện Jakarta, 2012), song con số này có thể thấp hơn rất nhiều yếu sức khỏe, tổn thất về tài chính/kinh tế, so với thực tế. Trong một nghiên cứu năm xã hội và sự phát triển của cá nhân và tăng 2006 của tác giả Nguyễn H.T, gần 20% số nguy cơ gặp phải các loại hình bạo lực trẻ em tham gia cho biết đã từng bị lạm khác. Điều quan trọng là những hậu quả dụng tình dục (Nguyen, 2006:113). Trong này kéo dài trong suốt cuộc đời của người các trường hợp trẻ em bị lạm dụng tình dục bị tác động và có thể duy trì sang cả các được xác định rõ danh tính, độ tuổi của các em từ 2 đến 17, nhưng phổ biến nhất là 12 thế hệ tương lai. tuổi (UNICEF, 2005). Do thiếu các nghiên Người bị BLG phải gánh chịu hậu quả về cứu trong lĩnh vực này, nên bản chất của lạm dụng tình dục trẻ em hoặc mối quan hệ sức khỏe ở nhiều mặt khác nhau. Các giữa nạn nhân và kẻ phạm tội chưa được nghiên cứu cho thấy rõ các con số về hiểu biết rõ ràng. Tuy nhiên, các nghiên cứu thương tật, kể cả tử vong gây ra bởi BLGĐ, quốc tế cho thấy tỷ lệ lạm dụng tình dục quấy rối tình dục, buôn bán phụ nữ, mại trẻ em dưới 13 tuổi do cha mẹ và người dâm cưỡng bức và nạo phá thai cưỡng ép thân gây ra khá cao (Whealin, 2007; Harris, (Hoa, 2012: 52; TCTK, 2010; Duvvury và 2013; Scriver và cộng sự 2013). Tình trạng tương tự dường như cũng xuất hiện tại Việt cộng sự 2012), tuy nhiên hậu quả về sức Nam. Tuy nhiên, cần có các nghiên cứu để khỏe tâm thần mà BLG gây ra thường bị hiểu rõ phạm vi và bản chất của hình thức bỏ qua. Những hậu quả liên quan đến sức bạo lực này, đặc biệt nó để lại những hậu khỏe gắn liền với các hình thức BLG được quả nặng nề trong việc duy trì bạo lực giữa thể hiện ở bảng trang sau: các thế hệ trong gia đình, như được đề cập trong phân tích số liệu điều tra quốc gia về BLGĐ đối với phụ nữ của TCTK (2010). Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG 21
- TÌM HIỂU VỀ BẠO LỰC GIỚI Hậu quả về sức khỏe do BLG gây ra tại Việt Nam Loại sức khỏe Tác động Bằng chứng Sức khỏe thể Tất cả các mức độ Được báo cáo trong tài liệu của tác giả Hoa, 2012: chất thương tật, kể cả 52; TCTK, 2010; tử vong Duvvury và các tác giả khác 2012 Rối loại sức Ý muốn tự sát 37% phụ nữ đã từng bị BLGĐ trong 12 tháng vừa khỏe tâm thần qua (Duvvury và các tác giả khác 2012) và nghiện ngập Tỷ lệ trên cao hơn gấp 3 lần ở những phụ nữ từng bị bạo lực thể xác hoặc tình dục (TCTK, 2010:83). Đã có hành động 6% nạn nhân của BLGĐ trong 12 tháng vừa qua tự sát Tỷ lệ trên cao hơn gấp 3 lần ở những phụ nữ từng bị bạo lực thể xác hoặc tình dục (TCTK, 2010:83). Trầm cảm và các Nguy cơ bị trầm cảm tăng lên ở những nạn nhân vấn đề sức khỏe BLGĐ (TCTK, 2010), xâm hại tình dục (ILO/ tâm thần khác (ví MOLISA, 2013:32), tảo hôn (IPPF, 2006:11), buôn dụ rối loạn căng bán người (Hoa, 2012:52) và mại dâm (MOLISA/ thẳng sau sang UNICEF, 2011:15). chấn, căng thẳng, trầm cảm) Nghiện ngập Nguy cơ nghiện rượu và ma túy tăng lên đối với nạn nhân của tất cả các hình thức BLGĐ (Hoa, 2012:52). Sức khỏe Sảy thai, Nguy cơ tăng đối với nạn nhân BLGĐ, tảo hôn sinh sản và (TCTK, 2010:21), (IPPF, 2006:11), quấy rối tình sức khỏe tình thai chết lưu, dục dưới hình thức cưỡng bức tình dục và cưỡng dục nạo phá thai, hiếp, mại dâm và mua bán người (ILO/MOLISA, 2013:32; IOM 2012:45; MOLISA/UNICEF, 2011:14; các biến chứng Hoa, 2012:52). sản khoa, sinh con nhiều lần, HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác, mang thai ngoài ý muốn. 22 Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG
- TÌM HIỂU VỀ BẠO LỰC GIỚI Con cái của các nạn nhân BLG cũng phải làm việc do ốm đau và 7% mất tự tin gánh chịu các hậu quả tiêu cực về sức do hậu quả của BLGĐ (TCTK, 2010). khỏe. Chẳng hạn, trẻ có xu hướng gặp phải Duvvury và cộng sự cho biết phụ nữ các vấn đề về hành vi (TCTK, 2010:21-22). từng bị bạo hành trung bình bị thiệt Hơn 25% phụ nữ đã từng bị chồ ng bạo lực hại gần 20% thu nhập tiềm năng hàng cho biết con cái họ thường xuyên gặp ác tháng (2012:60). Ước tính ở cấp vĩ mô mộng và rất rụt rè hoặc dễ bị kích động so về tổn thất do BLGĐ gây ra chiếm đến với gần 15% phụ nữ không bị chồ ng bạo 1,41% tổng thu nhập quốc nội (GDP) lực. Hơn nữa, dường như phụ nữ từng của Việt Nam. Tác động của BLGĐ đến bị chồng bạo hành cho biết con cái họ có năng suất lao động suy giảm chiếm tới xu hướng bỏ học hoặc lưu ban cao hơn 1,78% GDP và gần 38% ngân sách (TCTK 2010:84). Trẻ em cũng phải gánh chính phủ cần chi cho y tế vào năm chịu các hậu quả của bạo lực xảy ra giữa 2011 (đồng tác giả). cha mẹ, theo lời kể của một nạn nhân được dẫn chiếu trong nghiên cứu quốc gia: • Học vấn và các cơ hội khác trong cuộc sống trở nên hạn chế đối với “Khi tôi đến thăm cháu [con trai][ở các nạn nhân: Tảo hôn (Vu, 2009), mại nhà trẻ] tôi nhận ra điều đó [sự cô dâm cưỡng bức (MOLISA/UNICEF, độc]. Cháu ngồi lặng yên một chỗ. 2011:14), mua bán người (MOLISA/ Cháu không chơi với những đứa trẻ UNICEF, 2011:14) và xâm hại tình dục khác. Thật tội nghiệp. Trong trường (ILO, 2013) gắn liền với việc trẻ em bỏ hợp này, cháu chính là nạn nhân” học và học vấn thấp (UNICEF, 2009). (2010:85). Việc không được học hành tử tế sẽ hạn chế các cơ hội phát triển cá nhân và Trẻ em phải chứng kiến hay bị bạo hành nghề nghiệp và gây ra các tác động lâu tại gia đình có nguy cơ cao hơn sẽ tiếp tục dài về khả năng tài chính, từ đó có thể bị bạo hành hoặc gây ra bạo hành khi lớn tác động tiêu cực đến con cái của các lên. Hơn nửa số phụ nữ đã từng bị BLGĐ nạn nhân BLG. trong nghiên cứu của TCTK cho biết con cái của họ đã phải chứng kiến bạo lực ít • Tác động của xâm hại tình dục đối nhất một lần. Thêm vào đó, một phần tư số với năng suất lao động của nạn phụ nữ từng bị bạo hành cho biết con cái nhân và các ngành sản xuất: Nạn họ cũng đã từng bị bạo hành bởi cùng một nhân bị quấy rối tình dục cũng phải đối đối tượng (TCTK, 2010:87). mặt với những hậu quả tiêu cực về kinh tế do khó tập trung cho công việc hoặc Ngoài các hậu quả về sức khỏe, BLG có mất năng suất lao động. Trong một số tác động tiêu cực đến tình trạng tài chính trường hợp, nạn nhân bị ép buộc phải và kinh tế của mỗi cá nhân, gia đình và cả tự rời bỏ công việc hoặc bị sa thải nếu quốc gia. Mặc dù các nghiên cứu mới chỉ từ chối các yêu cầu liên quan đến tình bắt đầu đánh giá tổn thất về kinh tế do BLG dục (ILO/MOLISA, 2013:32). Các yếu tố gây ra tại Việt Nam, một số nghiên cứu gần này cản trở sự tiến bộ trong sự nghiệp, đây đã phác họa một số nét về những hậu hạn chế khả năng kinh tế trong tương quả kinh tế tiềm ẩn. lai của phụ nữ (đồng tác giả.32-33). Các doanh nghiệp và các tổ chức cũng • Tác động của BLGĐ đối với tình phải gánh chịu hậu quả gây ra bởi nạn trạng kinh tế của cá nhân, gia đình quấy rối tình dục trong cơ quan tổ chức và quốc gia: Điều tra của TCTK cho mình, bao gồm: năng suất lao động và thấy gần 1/3 phụ nữ bị lạm dụng cho lợi nhuận giảm, mất uy tín và quan hệ biết công việc của họ bị gián đoạn bởi kinh doanh, mất lao động lành nghề và người chồng, 16% không thể tập trung tăng chi phí (ILO/MOLISA, 2013:33). vào công việc, 6,6% không có khả năng Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG 23
- TÌM HIỂU VỀ BẠO LỰC GIỚI Các mối quan hệ xã hội của nạn nhân BLG LIÊN HỆ GIỮA CÁC HÌNH THỨC BẠO và cuộc sống của họ nói chung cũng bị ảnh LỰC GIỚI hưởng do sự kỳ thị, rối loạn căng thẳng sau Tại Việt Nam và khắp nơi trên thế giới, các sang chấn, bị cô lập, sợ bị người khác biết mối quan hệ quyền lực bất bình đẳng và và mất tự tin. Hậu quả là sự tham gia của quan niệm của cá nhân cũng như xã hội họ vào cuộc sống xã hội, một trong những chấp nhận BLPN tại gia đình và cả nơi công điều kiện cần thiết để đảm bảo sự đại cộng đã cho phép BLG tiếp diễn (UNHCR, diện bình đẳng trong chính trị, bị hạn chế. 2003; UNGA, 2006). Ở Việt Nam, các quan Nussbaum viết: “Bạo lực và đe dọa bạo lực niệm này cũng bị ảnh hưởng bởi tư tưởng làm ảnh hưởng đến khả năng phụ nữ tham Khổng giáo đặt các vai trò giới ở hai thái gia tích cực vào các mối quan hệ xã hội và cực. Nam tính luôn được gắn với chủ động chính trị, nói lên tiếng nói của mình, được về tình dục, sức mạnh, uy lực và “nóng tính” và gắn với việc uống rượu và nóng công nhận phẩm giá bình đẳng với những giận, trong khi nữ tính lại được gắn với sự người khác” (2005:173). Các nghiên cứu bị động về tình dục, sự phục tùng đối với gần đây đã đưa ra một số ví dụ minh họa nam giới, vai trò chăm sóc gia đình và “mát BLG hạn chế sự tham gia của phụ nữ vào tính” để giữ gìn hòa thuận trong gia đình cuộc sống xã hội và công cộng: (Gardsbane và các tác giả khác, 2010: 22- 24). Những quan niệm như thế về hành vi • Thái độ kỳ thị đối với nạn nhân bị giới dẫn đến thái độ bình thường hóa bạo xâm hại tình dục làm cho họ e ngại lực mà nam giới gây ra cho phụ nữ, tức là không dám tố cáo hay tìm kiếm sự coi việc nam giới tức giận và ra uy đối với giúp đỡ. Các quan niệm xã hội về vai vợ là “việc tự nhiên”, còn việc không duy trì trò giới tác động tiêu cực đến nạn nhân được hòa khí trong gia đình và không chấp nhận uy quyền của chồng lại bị coi là lỗi của bị quấy rối tình dục vì họ thường bị đổ người phụ nữ. Thêm vào đó, những chuẩn lỗi và kỳ thị vì điều này (ILO/MOLISA, mực này cũng làm cho người ta e ngại, 2013:32). Hậu quả là sự im lặng trước không dám tố cáo hành vi BLG do phụ nữ những hành vi quấy rối tình dục. gây ra hoặc các hành vi BLG mà nam giới và người chuyển giới là nạn nhân, chỉ vì • Các chuẩn mực giới gắn phụ nữ với những hành vi này không nằm trong quan sự bị động, phục tùng và trinh trắng niệm truyền thống về vai trò giới. trước hôn nhân luôn đổ lỗi cho nạn Các chuẩn mực gia đình cũng có liên hệ nhân. Huong (2009) giải thích các thái với BLG. Sự chấp nhận BLG có liên hệ với độ đối với bạo lực tình dục gây ra cho các chuẩn mực xã hội được thể chế hóa và phụ nữ như sau: “Người phụ nữ đức chủ trương của Nhà nước là xây dựng “Gia hạnh không vượt quá các giới hạn về đình hạnh phúc”, tạo áp lực đối với cả nam đạo đức và xã hội về cách ứng xử đúng giới và phụ nữ trong việc phải cố duy trì sự đắn với phụ nữ, sẽ luôn an toàn; phụ nữ hòa thuận để giữ thể diện với mọi người đáng tôn trọng là người phải dùng hết xung quanh (Gardsbane, 2010b). Một báo sức lực của mình để phản kháng lại kẻ cáo về quan niệm nam tính tại Việt Nam tấn công để bảo vệ danh dự của mình; cho biết, nam giới thổ lộ rằng họ cảm thấy hiếp dâm cũng như các dạng tội phạm xấu hổ nếu để mọi người xung quanh biết về bạo lực xảy ra trong gia đình họ (Duc tình dục khác chỉ xảy ra ở các tầng lớp và các tác giả khác 2012). Phụ nữ cũng thấp và tầng lớp dân lao động” (Huong có xu hướng giấu diếm do áp lực phải dàn 2009). Vì thế, phụ nữ khi bị xâm hại hòa với chồng để tránh bị cộng đồng phê tình dục hay cưỡng hiếp thường ít khi phán vì đã không hoàn thành được thiên tìm kiếm sự giúp đỡ - điều này càng chức gìn giữ hòa khí trong gia đình. Chính làm cho quá trình hồi phục của họ trở điều này đã đẩy phụ nữ tới chỗ giữ im lặng nên khó khăn hơn. trước hành vi BLGĐ. 24 Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG
- TÌM HIỂU VỀ BẠO LỰC GIỚI Các chuẩn mực và quan niệm này dẫn đến đây thể hiện một số hình thức BLG phổ sự tồn tại của tất cả các hình thức BLG biến nhất tại Việt Nam. Dưới đây là hai ví tại Việt Nam. Vì có chung nguồn gốc, nên dụ minh họa mối liên hệ qua lại giữa các các hình thức BLG khác nhau có liên quan hình thức BLG. Các ví dụ này chỉ mang đến nhau, vì khi đã gặp phải một hình tính minh họa vì Hình 2 cho thấy tất cả các thức BLG thì nguy cơ gặp phải các hình hình thức BLG khác nhau đều có liên hệ thức BLG khác cũng tăng lên. Hình 2 dưới với nhau một cách sâu sắc. Hình 2. Mối liên hệ giữa các hình thức BLG tại Việt Nam 1ҥRSKiWKDL OӵDFKӑQ JLӟLWtQK %X{QEiQ %ҥRKjQKYj YjGLFѭ EӓUѫLWUҿHP FѭӥQJEӭF &iFFKXҭQ PӵF*LӟL %ҥROӵF 7ҧRK{Q 4Xҩ\UӕL eSK{Q 7uQKGөF %ҥROӵF *LDÿuQK Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG 25
- TÌM HIỂU VỀ BẠO LỰC GIỚI Ví dụ 3: Mại dâm cưỡng bức Là phụ nữ và đã từng bị bạo hành là hai yếu tố cùng có liên hệ chặt chẽ với việc hành nghề mại dâm. Ngoài ra, một số yếu tố khác cũng được xác định là làm tăng nguy cơ phụ nữ bị đưa đẩy hoặc ép buộc hành nghề mại dâm tại Việt Nam, đó là: áp lực kinh tế, gánh nặng gia đình và trải nghiệm bạo hành trong quá khứ. Những người hành nghề mại dâm thường giải thích rằng họ bước vào nghề này là do khó khăn kinh tế (NGO, 2007; Hien, 2012; Phuong và các tác giả khác, 2012). Khi đã làm nghề, nhiều người bắt đầu rơi vào cảnh mắc nợ chủ chứa, kẻ môi giới hoặc những người khác (Rubenson, và các tác giả khác 2005: 407). Những khoản nợ nần này không cho phép họ bỏ nghề hoặc tìm kiếm những nơi có điều kiện làm việc tốt hơn và làm cho họ phải đối mặt với nguy cơ tiếp tục bị bạo hành cao hơn. Trách nhiệm phụ giúp gia đình mà con cái phải đảm nhiệm gây áp lực, buộc họ phải tìm cách hỗ trợ tài chính cho cha mẹ và những người thân khác trong gia đình. Trong khi gần như không có mấy lựa chọn về công việc, mại dâm có thể là cơ hội kiếm tiền để gửi về gia đình và làm tròn bổn phận với gia đình (Rushing, 2006). Các nghiên cứu cho biết người hành nghề mại dâm ở mọi lứa tuổi, cả nam và nữ, đều nhắc đến trách nhiệm hỗ trợ gia đình là một trong những áp lực đẩy họ tới chỗ phải hành nghề mại dâm và đeo đẳng với nghề này (IOM, 2012:26). “Tất cả những gì tôi muốn làm là giúp đỡ mẹ tôi và làm tròn chữ hiếu với bố tôi bằng cách kiếm đủ tiền để xây mộ cho bố tôi” (nam, 16 tuổi, hành nghề mại dâm) (Huong và Dodds). Việc đã từng bị bạo lực gia đình và/hoặc bạo lực tình dục có xu hướng dẫn đến khả năng tham gia hành nghề mại dâm cao hơn, vì nó có thể được coi là một cứu cánh để tránh tiếp tục bị bạo lực tình dục hay bạo lực gia đình hoặc xem như là lựa chọn duy nhất sau khi đã bị “bẽ bàng” bởi bạo lực tình dục. Tâm sự dưới đây của hai cô gái trẻ sẽ chứng minh điều này: “Tôi có bà cô ở Hải Phòng, tôi làm giúp việc cho nhà cô ấy. Nhưng chú dượng lại sàm sỡ tôi. Một lần tôi đi xích lô chơi quanh thành phố. Anh đạp xích lô chở tôi tới đây (quán bar) và chủ quán trả anh ta 500.000đ. Chủ quán nói tôi phải tiếp khách vì ông ta đã trả 500.000 tiền xích lô cho tôi. Cô tôi không muốn tôi đi đâu và chú dượng tôi cũng muốn tôi ở lại vì những lý do riêng của ông ấy. Tôi không nói với ai về chuyện chú dượng, tôi không muốn bố mẹ tôi lo lắng về điều đó. Cô tôi không cũng biết chuyện gì cả.” (Hiền, Phố Thiên Lợi) (Rushing, 2007:8). “Tôi vô cùng hoảng sợ nhưng không dám hét lên vì tôi sợ mọi người sẽ biết chuyện của tôi. Thế là tôi để cho anh ta hãm hiếp tôi. Tôi không dám nói cho bố mẹ biết về việc này, vì tôi sợ bố tôi sẽ đánh tôi thậm chí còn tệ hại hơn cả trước đây. Sau đó, bạn trai có quan hệ với tôi thêm vài lần, rồi sau đó anh ta ép tôi phải tiếp khách nữa”. (Rubensen và các tác giả khác 2005:18). 26 Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG
- TÌM HIỂU VỀ BẠO LỰC GIỚI Một hậu quả của việc hành nghề mại dâm ở Việt Nam, cho dù vì lý do bị xô đẩy hay cưỡng bức, chính là nguy cơ bị bạo hành. Gần 30% gái mại dâm tại Việt Nam cho biết họ đã từng bị bạo lực tình dục và 22% bị cưỡng bức phải quan hệ với khách hàng (IOM, 2012:45). Phụ nữ hành nghề mại dâm cũng có nguy cơ bị bạo lực thể xác cao hơn so với nam giới làm nghề này (20% so với 12%) (đồng tác giả). Những khác biệt này có thể được giải thích bởi sự khác biệt về quyền lực giới giữa phụ nữ phải cung cấp dịch vụ cho khách hàng nam với nam giới cung cấp dịch vụ cho khách hàng nam khác. Trong trường hợp này, phụ nữ hành nghề mại dâm có nguy cơ gặp phải các hình thức bạo lực khác cao hơn. Những ví dụ được thảo luận trong tài liệu nạn nhân của BLG do bất bình đẳng giới này cung cấp bằng chứng về mối liên hệ gây ra, BLG cũng tác động đến nam giới, giữa các hình thức BLG tại Việt Nam và trẻ em trai, người chuyển giới và các đối nêu bật cách thức mà các yếu tố mang tính tượng khác không chấp nhận các quan quan niệm về chuẩn mực đã tiếp sức cho niệm truyền thống về vai trò của nam giới. bạo lực và duy trì BLPN như thế nào. Các Ở Việt Nam, quan niệm này cho rằng nam yếu tố này cần được hiểu trong bối cảnh giới thì tính khí hung hăng, hay lấn át và vòng xoáy bạo lực đã trình bày ở trên. Bất “nóng tính”, còn ngược lại, phụ nữ thì thụ bình đẳng giới trong mối liên hệ với đói động, phục tùng và cam chịu. Báo cáo tóm nghèo, cơ hội học hành, việc đã từng bị tắt của TCTK nêu rõ mối liên hệ giữa những bạo lực hay chứng kiến bạo lực, các quan hành vi gắn với “các hình thức thể hiện niệm như chuộng con trai và chấp nhận nam tính tiêu cực” như uống rượu và đánh BLG, cùng các chuẩn mực về gia đình và lộn với những người cùng giới khác và giới đều liên quan đến tất cả các hình thức hành vi gây BLGĐ (2013:8). Những quan BLG. Hậu quả cuối cùng là quyền lực của niệm này về hành vi giới “bình thường” phụ nữ bị hạ thấp cả trong gia đình, tại nơi không chỉ tác động đến nguy cơ gây bạo làm việc và ngoài xã hội. Đối với nhiều nạn hành hoặc bị bạo hành mà còn ảnh hưởng nhân, việc đã từng bị BLG dẫn đến bất lợi đến việc xây dựng luật pháp và chính sách tích tụ do khả năng dễ bị bạo lực tăng lên giải quyết BLG tại Việt Nam. Trong phần và họ lại gặp phải các hình thức bạo lực dưới đây, các chức năng của luật pháp và khác bên cạnh những bạo lực ban đầu. chính sách phòng chống BLG tại Việt Nam sẽ được đánh giá trong mối liên quan với Các ví dụ này cho thấy mặc dù phụ nữ và vòng xoáy BLG. trẻ em gái có nguy cơ cao nhất trở thành Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG 27
- PHẦN II: BỐI CẢNH LUẬT PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH PHÒNG CHỐNG BLG TẠI VIỆT NAM, 2010-2013
- BỐI CẢNH LUẬT PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH PHÒNG CHỐNG BLG TẠI VIỆT NAM, 2010-2013 ai luật quan trọng nhất trong khung bạo lực thể xác. Nghị định số 8 và Thông tư Hpháp lý phòng chống BLG tại Việt Nam số 16 (Bộ Y tế) và số 2 (Bộ VHTTDL) được là Luật Bình đẳng giới (2006) và Luật Phòng ban hành nhằm hướng dẫn thực hiện Luật chống Bạo lực Gia đình (2007). Luật Bình PCBLGĐ, thủ tục tư vấn và chăm sóc y đẳng Giới nghiêm cấm các hành vi bạo lực tế cho nạn nhân. Việc xây dựng luật pháp vì lý do giới và đề ra các biện pháp đảm đủ mạnh với qui trình thực hiện rõ ràng và bảo BĐG nhằm vào một số nguyên nhân hiệu quả là hết sức cần thiết để đảm bảo mang tính cấu trúc (CPVN, 2006). Luật BLGĐ không bị bình thường hóa và coi là PCBLGĐ tập trung vào vấn đề BLGĐ do chuyện nội bộ gia đình mà là phải được coi các thành viên trong gia đình gây ra trong là một vấn đề xã hội, đòi hỏi giải pháp khắc khuôn khổ gia đình. phục mạnh mẽ và toàn diện. Mặc dù Luật PCBLGĐ coi tất cả các hình Các chương trình nhằm mục đích nâng thức BLGĐ (thể xác, tình dục, kinh tế và cao nhận thức và giảm tỉ lệ BLG tại Việt tâm lý) là phi pháp, song chỉ những trường Nam đã được thực hiện trong khoảng hợp bạo lực thể xác nghiêm trọng được năm năm vừa qua, trong đó đáng lưu ý là cho là gây tỉ lệ thương tật từ 31% trở lên, Chương trình Chung của CPVN và LHQ về có xác nhận của bác sỹ mới được xử lý Bình Đẳng Giới (2009). Các biện pháp can theo thủ tục tố tụng hình sự do cơ quan thiệp được triển khai thông qua chương Nhà nước khởi tố, còn các hình thức bạo trình này bao gồm các chiến dịch nâng cao lực khác chủ yếu được xử lý theo thủ tục tố nhận thức của cộng đồng, các nhà lãnh tụng dân sự và xử lý hành chính hoặc theo đạo và hoạch định chính sách địa phương thủ tục tố tụng hình sự theo đơn khởi kiện cũng như soạn thảo các tài liệu giáo dục của phụ nữ bị hại (UNODC, 2011, UNODC/ và truyền thông. Nam giới và trẻ em trai UN Women, 2013). cũng là đối tượng tiếp cận của các sáng kiến này, chẳng hạn như cuộc vận động Trong các tình huống BLGĐ, phụ n ữ thường trên toàn quốc mang tên “Tôi là đàn ông, khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ chữa tôi phản đối bạo lực” hay “Phong trào Công trị y tế, do bị chồng cấm không cho ra khỏi bằng Giới trong trường học” tại Đà Nẵng nhà hoặc do nhà cách xa bệnh viện và trạm (ICRW, 2012) và các câu lạc bộ nhằm vào y tế, vì thế, lấy xác nhận thương tật của những người gây bạo lực hay nam giới bác sỹ để dùng cho khởi tố hình sự dường nói chung, chẳng hạn câu lạc bộ “Người như là điều không thể thực hiện được. Các chồng và Người cha”, “Câu lạc bộ Đàn thủ tục tố tụng dân sự thay thế cho tố tụng ông” do Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và hình sự và tư tưởng “Gia đình hạnh phúc” Dân số (CCIPH) thành lập và các khóa đào đều tập trung khuyến khích hòa giải trong tạo phòng chống bạo lực dành cho nam gia đình, chỉ trong trường hợp hành vi bạo giới gây bạo lực (Bộ VHTTDL, 2013). lực lặp đi lặp lại nhiều lần thì mới được xử lý bằng các biện pháp mạnh hơn. Các thủ Mặc dù CPVN đã cam kết giảm BLG, tục tố tụng dân sự khác chỉ bao gồm tư Gardsbane và các tác giả khác (2010) đã vấn giáo dục cho người phạm tội ở cấp cơ xác định một số thách thức trong quá trình sở và "góp ý, phê bình" với những người thực hiện các chính sách BLG. Ngân sách tái phạm (Bộ VHTTDL, 2013:6). Thêm vào hạn chế, các chuẩn mực và thái độ trong hệ đó, kiến thức của các cán bộ và công chức thống tư pháp, sự thiếu phối hợp và trách về Luật PCBLGĐ rất hạn chế, nhiều người nhiệm giải trình về pháp luật phòng chống thậm chí vẫn cho rằng BLGĐ là chuyện BLG cũng như thiếu hệ thống thu thập dữ riêng của mỗi gia đình. liệu và báo cáo thống nhất về BLG là những rào cản cho việc thực hiện các điều luật mới Những điểm yếu trong quá trình thực hiện về phòng chống BLG như Luật Bình đẳng Luật PCBLGĐ đã được xác định, bao gồm: giới, Luật Phòng chống Bạo lực Gia đình và thiếu nhận thức về luật; chế tài không đủ Luật phòng chống Buôn bán người. Tài liệu mạnh, chỉ mang tính chất cảnh cáo, khuyên thảo luận của Gardsbane cung cấp một số nhủ và giáo dục; và việc không thể khởi tố khuyến nghị nhằm tăng cường chính sách, các hình thức bạo lực khác không phải là 30 Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG
- BỐI CẢNH LUẬT PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH PHÒNG CHỐNG BLG TẠI VIỆT NAM, 2010-2013 chẳng hạn như việc xây dựng Luật phòng cường pháp luật trong đó qui định hành vi chống Buôn bán người và tham gia ký Nghị kỳ thị và phân biệt đối xử là phi pháp, đã định thư Palermo. Cả hai khuyến nghị này được các cơ quan LHQ đề xuất và CPVN đã được Việt Nam thực hiện vào năm 2011 chấp thuận, như thể hiện trong Kế hoạch (đồng tác giả.2010). Một số khuyến nghị chung giữa CPVN và LHQ cho giai đoạn quan trọng khác như xây dựng khung theo 2012-2016. Mặc dù Việt Nam đã bắt đầu dõi, đánh giá, các chỉ số và yêu cầu báo quá trình xây dựng một môi trường chính cáo áp dụng cho tất cả các luật và chính sách toàn diện nhằm giải quyết vấn đề sách, xây dựng cơ chế phối hợp về Bình BLG, vẫn còn tồn tại nhiều thách thức cần đẳng Giới và phòng chống BLG và tăng khắc phục. Luật pháp Chính sách Văn bản chiến lược Bình đẳng Hiến pháp Việt Nam Nghị định số 70/2008/NĐ- Chiến lược quốc giới 1992, điều 52, 63 CP, 2008 (hướng dẫn thực gia vì sự tiến bộ hiện Luật BĐG) của phụ nữ đến Bộ luật Dân sự 1995, năm 2010 Điều 5 Nghị định số 48/2009/NĐ- CP, 2009 (qui định các biện Các kế hoạch hành pháp đảm bảo BĐG) động quốc gia vì Luật Hôn nhân và Gia sự tiến bộ của phụ đình 2000, Điều 2 Nghị định số 55/2009/NĐ- nữ đến năm 2005, CP, 2009 (qui định hình 2006-2010 Bộ luật Hình sự 1999, phạt áp dụng đối với các vi Chiến lược Gia Điều 3 phạm hành chính) đình quốc gia 2005- 2010 Nghị quyết số 57/2009/NQ- Bộ luật Hình sự, Điều CP, (thực hiện Nghị quyết Chiến lược Phát 5, 2003 số 11/2007/NQ/TW của Bộ triển kinh tế-xã hội Chính trị về công tác phụ 2001-2010 Bộ luật Tố tụng Dân nữ trong thời kỳ đẩy mạnh Chiến lược Phát sự, công nghiệp hóa và hiện triển kinh tế-xã hội, Điều 8, 2004 đại hóa đất nước). 2011-2020 Chiến lược toàn Luật Bình đẳng Giới, diện về tăng trưởng 2006 và xóa đói giảm nghèo (Hà Nội 2003) Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới (2011-2020) và Chương trình quốc gia về bình đẳng giới (2011-2016). Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG 31
- BỐI CẢNH LUẬT PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH PHÒNG CHỐNG BLG TẠI VIỆT NAM, 2010-2013 Luật pháp Chính sách Văn bản chiên lược Bạo lực gia Hiến pháp Việt Nam, Chỉ thị về việc thực hiện Kế hoạch hành đình 1992 Luật Phòng chống bạo lực động phòng chống bạo lực gia đình gia đình Số 16/2008/CT- Bộ luật Dân sự, 1995 của Bộ Văn hóa, TTG (hướng dẫn phối hợp Thể thao và Du lịch, Luật Hôn nhân và gia giữa các bộ có trách nhiệm 2008-2015 đình, 2000 đối với việc thực hiện Luật Chương trình hành Bộ luật Hình sự, 2003 PCBLGĐ). động quốc gia phòng chống bạo Bộ luật Tố tụng dân Nghị định số 08/2009/NĐ- lực gia đình, 2014- sự, 2004 2020 CP về việc (hướng dẫn Luật Bình đẳng giới, thực hiện một số điều của Chiến lược gia đình 2006 Luật PCBLGĐ). quốc gia 2005- 2010. Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Thông tư hướng dẫn thực 2007 hiện Luật PCBLGĐ số 16/2009/TT-BYT-của Bộ Pháp lệnh Dân Y tế (hướng dẫn việc tiếp số 03/2003/PL- UBTVH11 nhận, chăm sóc y tế và báo cáo về các bệnh nhân tại các cơ sở y tế là nạn nhân của BLGĐ). Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật PCBLGĐ số 02/2010/TTBVHTTDL-2010 (qui định chi tiết về các thủ tục liên quan đến các cơ sở tư vấn, dịch vụ và nhân viên tư vấn). Thông tư Số 23/2011/TT- BVHTTDL: quy định thu thập, xử lý thông tin về gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình. 32 Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG
- BỐI CẢNH LUẬT PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH PHÒNG CHỐNG BLG TẠI VIỆT NAM, 2010-2013 Luật pháp Chính sách Văn bản chiến lược Thông tư số 24/2011/TT- BVHTTDL: Quy định về tiêu chuẩn, điều kiện khen thưởng cá nhân, tập thể tham gia phòng, chống bạo lực gia đình; đối tượng, điều kiện, cơ quan hoàn trả thiệt hại về giá trị tài sản cho người trực tiếp tham gia phòng, chống bạo lực gia đình Thông tư của Bộ Tư pháp số 07/2011/TT-BTP: Thông tư này hướng dẫn bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức cán bộ và hoạt động trợ giúp pháp lý. Thông tư xác định phụ nữ là nạn nhân của bạo lực là nhóm đối tượng cần được các tổ chức trợ giúp pháp lý ưu tiên hỗ trợ và qui định nhiệm vụ của các cán bộ và các tổ chức trợ giúp pháp lý (trong việc xác định nạn nhân, tư vấn pháp lý và đại diện pháp lý). (UNODC, 2011:12). Thông tư liên tịch số 143/2011/TTLT/BTC- BVHTTDL: quy định chế độ quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ các cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình, cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình và các địa chỉ tin cậy tại cộng đồng (Bộ VHTTDL, 2013). Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG 33
- BỐI CẢNH LUẬT PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH PHÒNG CHỐNG BLG TẠI VIỆT NAM, 2010-2013 Luật pháp Chính sách Văn bản chiến lược Mua bán Luật Phổ cập Giáo Chỉ thị Số 766/1997/TTg Chương trình hành phụ nữ và dục tiểu học, 1991 động quốc gia Nghị quyết 09/1998/NQ-CP trẻ em gái Luật Bảo vệ, chăm phòng chống mua sóc và giáo dục trẻ Nghị định 62, tháng bán phụ nữ và trẻ em,2004 10/2012 (xác định nạn nhân em 2004-2010 bị mua bán). Hiến pháp, Điều 65, Chương trình hành động quốc gia vì trẻ 1992 em 2001-2010 Bộ luật Hình sự, các điều 119, 120, 1999 Chương trình hành động quốc gia Bộ luật Lao động, phòng chống mua 1995 bán người (2011- Luật Phòng chống 2015). Buôn bán người, 2012. Tỷ số giới Dự thảo Luật Dân Luật Hôn nhân và Gia đình tính khi số (qui định các điều (đang được sửa đổi). sinh kiện nạo phá thai hợp pháp). Quấy rối Quấy rối tình dục tại Quấy rối tình dục tại các cơ tình dục trường học: Điều 75.1 sở y tế: Điều 27.2 của Nghị Luật Giáo dục. định số 45/2005/NĐ-CP ngày 6-4-2005 của Chính Quấy rối tình dục phủ về xử lý vi phạm hành tại nơi làm việc: các chính trong lĩnh vực y tế. điều 8, 37, 182, 183 của Bộ luật Lao động được sửa đổi và bổ sung năm 2012, song vẫn thiếu một định nghĩa rõ ràng. Sửa đổi các điềus 8, 37, 182, 183 của Bộ luật Lao động, 2012. Mại dâm Bộ luật Hình sự, 1999 Nghị định của Bộ Công Luật Bảo vệ, Chăm an về xử phạt hành chính sóc và Giáo dục trẻ trong lĩnh vực tệ nạn xã hội. em, 2004 Pháp lệnh Phòng chống Mại dâm, 2003. 34 Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG
- BỐI CẢNH LUẬT PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH PHÒNG CHỐNG BLG TẠI VIỆT NAM, 2010-2013 Luật pháp Những tiến bộ kể trên đã đóng góp quan trọng cho việc hoàn thiện khuôn khổ luật Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực cam kết thực pháp và nâng cao nhận thức về sự cần hiện các nghĩa vụ thông qua ký kết nhiều thiết phải tìm cách giải quyết các hình thức hiệp ước và công ước quốc tế về nhân BLG, tuy nhiên vẫn tồn tại một số quan quyền, liên quan đến bình đẳng giới và ngại. Chẳng hạn, Luật phòng chống Buôn BLG, đặc biệt là BLGĐ, bao gồm: CEDAW, bán người mới ban hành không đưa ra định nghĩa cụ thể về “buôn bán người”. Bản Công ước Quốc tế về Quyền Kinh tế, Xã tiếng Việt của luật sử dụng thuật ngữ “mua hội và Văn hóa và Công ước về Quyền Trẻ và bán“ - thuật ngữ này không mô tả đầy đủ em cũng như các cam kết khác, như cam các tình huống được coi là buôn bán người kết được đưa ra tại Phiên họp thứ 57 của theo định nghĩa của Nghị định thư Palermo Ủy ban về Địa vị của phụ nữ năm 2013. (UNODC/UN Women 2013:16). Sự khác Năm 2011, Việt Nam là nước ký kết Công nhau trong cách xác định nạn nhân và diễn ước của LHQ về Phòng chống Tội phạm giải luật của các cơ quan khác nhau dẫn có Tổ chức Xuyên Quốc gia và Nghị định đến sự không nhất quán trong thực hiện thư bổ sung về Phòng chống và Trừng luật. Luật cũng không qui định rõ ràng việc phạt nạn Buôn bán người (Nghị định thư bảo vệ nạn nhân và vì thế không khuyến Palermo Protocol). khích được nạn nhân tố cáo kẻ phạm tội, đặc biệt là nạn nhân bị buôn bán vì mục Cùng với những cam kết quốc tế, Chính đích tình dục. Hơn nữa, luật này dẫn chiếu phủ Việt Nam đã ban hành Luật Bình đẳng đến qui định của Bộ luật Hình sự, thường Giới (2006), sau đó là Luật Phòng chống gặp nhất là Điều 119 (buôn bán người) và Bạo lực Gia đình vào năm 2007 - đánh Điều 120 (mua bán, đánh tráo hoặc chiếm dấu những bước tiến đáng kể trong việc đoạt trẻ em) (đồng tác giả). Tuy nhiên, Bộ xây dựng khung pháp lý giải quyết vấn đề luật Hình sự lại không thể hiện được hết BLG tại Việt Nam. Trong hai năm vừa qua, các hành vi bị cấm bởi Luật Phòng chống CPVN đã nỗ lực thực hiện các cam kết Buôn bán Người, dẫn đến sự bất cập giữa luật và việc thực thi luật. thông qua việc giới thiệu các luật mới. Luật Phòng chống Buôn bán Người có hiệu lực Cuối cùng, luật đòi hỏi sự hậu thuẫn của ngày 1/1/2012 và đưa ra định hướng cho cơ chế hỗ trợ và qui trình cụ thể. Nạn nhân việc tiếp nhận, tái hòa nhập và hỗ trợ nạn bị buôn bán phải đối mặt với nhiều vấn đề nhân bị mua bán và qui định chi tiết các như khả năng mắc bệnh mãn tính (như cơ quan có trách nhiệm thực hiện luật. nhiễm HIV), không có giấy tờ tùy thân, bị Bộ luật Lao động cũng được sửa đổi năm kỳ thị khi trở về cộng đồng và rối loạn tâm 2010 nhằm điều chỉnh vấn đề quấy rối tình lý liên quan đến sang chấn, đồng thời cũng cần có nơi ở và được chăm sóc y tế, hỗ trợ dục tại nơi làm việc, cụ thể tại Điều 8 (cấm về tài chính, giấy tờ đi lại và tư vấn pháp lý quấy rối tình dục), Điều 37 (người lao động (Hoa, 2012: 53-54). Do vấn đề hồi hương có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và tái hòa nhập của nạn nhân bị buôn bán lao động), Điều 183 (cấm ngược đãi), và rất phức tạp, liên quan đến nhiều cơ quan, đặc biệt là nghĩa vụ báo cáo cho cơ quan ban ngành và qui trình, thủ tục kéo dài, có thẩm quyền (Điều 182). Thêm vào đó, nên rất cần sự phối hợp và giám sát hiệu Luật Dân số đang được dự thảo để thay quả của một cơ quan đầu mối thống nhất thế Pháp lệnh Dân số, sẽ kiểm soát chặt để đảm bảo luật được thực hiện một cách chẽ hơn tình trạng nạo phá thai để phòng nhất quán và nạn nhân nhận được sự hỗ tránh vấn đề nạo phá thai lựa chọn giới tính. trợ đầy đủ của pháp luật. Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG 35
- BỐI CẢNH LUẬT PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH PHÒNG CHỐNG BLG TẠI VIỆT NAM, 2010-2013 Bộ luật Lao động có vai trò quan trọng Bối cảnh chính sách trong việc phân biệt những người có nguy Các chính sách tại Việt Nam từ năm 2010 cơ trở thành tội phạm hay nạn nhân, chẳng đến nay luôn tập trung vào giải quyết các hạn như bệnh nhân, sinh viên hay khách khía cạnh của BLG thông qua hỗ trợ thực hàng (ILO/MOLISA, 2013:37). Tuy nhiên hiện và giải thích về các luật hiện hành, bộ luật sửa đổi lại có nhược điểm là không như Luật PCBLGĐ, Luật BĐG và Luật vừa qui định rõ trách nhiệm của người chủ mới ban hành về Phòng chống buôn bán lao động trong việc phòng ngừa và báo người. cáo hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc mà lại giao trách nhiệm tố cáo hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới vi quấy rối tình dục cho người lao động, (2011-2020) và như vậy, vô hình chung đã tạo thêm Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng Giới gánh nặng cho họ, những người vốn đã giai đoạn 2011-2020 được ban hành năm có nguy cơ bị quấy rối. Hơn nữa, không 2011, tạo cơ sở cho việc điều phối công có cơ chế cưỡng chế hay thủ tục tố cáo rõ tác về các vấn đề liên quan đến bình đẳng ràng, một phần do chưa rành mạch về định giới, qui định chi tiết trách nhiệm thực hiện nghĩa “quấy rối tình dục” và chính sách thì các chương trình và đề ra các mục tiêu và lại được qui định trong Bộ luật Lao động chỉ tiêu cụ thể. Chiến lược cũng đề cập chi mà không được nêu trong Bộ luật Hình sự. tiết về vấn đề BLGĐ và buôn bán người Chính điều đó làm giảm nhận thức về tầm (mục tiêu 6) cũng như nạo phá thai và mất quan trọng của vấn đề quấy rối tình dục. cân bằng giới tính khi sinh (mục tiêu 4), phản ánh hiểu biết rộng hơn về các tác Liên quan đến Luật Dân số, các ý kiến thảo động tiêu cực của BLG và nguyên nhân luận ban đầu cho rằng luật này sẽ qui định sâu xa - bất bình đẳng giới. Các nỗ lực của về điều kiện nạo phá thai, bao gồm nạo phá Chính phủ Việt Nam là rất trân trọng. Tuy thai do bị cưỡng hiếp, nạo phá thai để cứu nhiên, vẫn còn một số nhược điểm trong sống người mẹ, loại bỏ thai nhi có dị tật chiến lược, như trách nhiệm thực hiện các bẩm sinh hoặc khi người mẹ quá trẻ hoặc hợp phần khác nhau rất dàn trải, không rõ không có đủ khả năng tài chính để nuôi ràng về cơ quan đầu mối hay bộ chủ quản con (Viet Nambridge, 23/06/2013). Mặc dù cũng như hạn hẹp về ngân sách. cần có các giải pháp để giảm tỉ lệ nạo phá thai và nạo phá thai vì mục đích lựa chọn Chính sách phòng chống bạo lực gia đình giới tính, cần thận trọng khi thông qua một Để bổ sung và hỗ trợ thực hiện Luật PCBLGĐ đạo luật có thể làm hạn chế quyền của phụ (2007), ngoài các Thông tư số 2 và 16 và nữ do hạn chế quyền lựa chọn sinh sản Nghị định số 8 (xem bảng mô tả ở trên), sáu của họ. Hơn thế nữa, qui trình chứng minh thông tư khác đã được ban hành vào năm một phụ nữ mang thai do bị cưỡng hiếp lại 2011 nhằm hỗ trợ thực hiện Luật PCBLGĐ không được qui định rõ ràng và điều này với mục tiêu chuyên môn hóa vai trò và trách có thể tạo thêm áp lực đối với các nạn nhiệm của những người cung cấp dịch vụ nhân bị bạo lực tình dục. Các can thiệp về phòng chống BLGĐ. Đây là những văn bản bình đẳng giới sẽ hiệu quả hơn mà không pháp qui quan trọng nhằm nâng cao vị trí và làm mất đi quyền lựa chọn khi nào và trong giá trị của những người làm công tác phòng hoàn cảnh nào thì mang thai và sinh con chống BLGĐ. Hơn thế nữa, các thông tư đã của phụ nữ nếu tập trung vào các nguyên tạo ra một khuôn khổ toàn diện hơn cho việc nhân gốc rễ, đặc biệt là các chuẩn mực và thực hiện Luật PCBLGĐ thông qua Chương quan niệm xã hội như tâm lý chuộng con trình Hành động Quốc gia Phòng chống trai. BLGĐ. 36 Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG
- BỐI CẢNH LUẬT PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH PHÒNG CHỐNG BLG TẠI VIỆT NAM, 2010-2013 Chương trình hành động quốc gia phòng Chính sách phòng chống buôn bán người chống BLGĐ tới năm 2020 Chương trình Hành động Quốc gia phòng Trên cơ sở đánh giá những thành công và chống Buôn bán Người (2011-2015) đặt hạn chế của Luật PCBLGĐ, Chương trình ra các mục tiêu và các biện pháp cụ thể nhằm tăng cường nhận thức và thực Hành động Quốc PCBLGĐ đến năm 2020 hiện Luật Phòng chống Buôn bán Người được thông qua nhằm bổ sung, hỗ trợ và (2012). Trong số các mục tiêu này có mục khắc phục những hạn chế đó thông qua tiêu tăng cường nhận thức về pháp luật biên soạn các văn bản hướng dẫn thực phòng chống mua bán người và cải thiện hiện, phối hợp liên ngành cũng như thu các cách thức đấu tranh với nạn mua bán thập và quản lý số liệu định kỳ. Chương người thông qua các hoạt động giáo dục, trình đặt ra các mục tiêu, chỉ số và biện nâng cao hiệu quả của công tác điều tra pháp can thiệp đặc biệt chú trọng đến tăng và truy tố các vụ mua bán người, cải thiện cường trách nhiệm của gia đình và cộng việc hệ thống hóa các văn bản pháp luật và thực thi luật cũng như tăng cường hợp đồng trong phòng chống BLGĐ. Mục tiêu tác quốc tế (Dung và cộng sự 2011). này tiếp tục được triển khai thông qua xây dựng và nhân rộng các mô hình can thiệp Ngoài Chương trình Hành động Quốc gia, và xây dựng các chiến lược sáng tạo để Nghị định 62 được Bộ Công an ban hành phát hiện sớm, hỗ trợ và áp dụng nghiêm tháng 10/2012 hướng dẫn việc xác định nạn chế tài xử phạt. nhân bị buôn bán. Trước đây, chính quyền yêu cầu phải xác định danh tính hoặc phải Chương trình hành động có khả năng đem bắt được kẻ mua bán người trước khi một lại tác động lớn trong nâng cao kiến thức người có thể được công nhận là nạn nhân và thực hiện Luật PCBLGĐ. Tuy nhiên, của nạn mua bán người và được nhận sự hỗ trợ. Nghị định 62 qui định việc xác định hạn chế về kinh phí có thể sẽ cản trở việc nạn nhân “dựa trên một số yếu tố bao gồm thực hiện chương trình một cách trọn vẹn. các tài liệu và bằng chứng từ cơ quan chịu Thêm vào đó, hiệu lực thi hành của Luật trách nhiệm thực hiện các thủ tục; thông PCBLGĐ có thể bị cản trở do sự bất bình tin và các tài liệu do nạn nhân được giải đẳng về quyền lực, quan niệm xã hội và thoát hoặc các văn phòng đại diện của Việt các chuẩn mực giới khuyến khích xây Nam ở nước ngoài và đối tác nước ngoài dựng “Gia đình hạnh phúc“ cũng như sự cung cấp; lời khai của nạn nhân và người kỳ thị đối với phụ nữ dám tố cáo bạo lực làm chứng” (Hoa, 2012). Mặc dù đã loại bỏ trong gia đình và sự chấp nhận, dung túng yêu cầu phải xác định danh tính kẻ mua bán người, Nghị định này vẫn bị phê phán cho bạo lực mà người chồng gây ra. Mục là qui định quá hẹp và thiếu danh sách các tiêu của chương trình không đề cập đến chỉ số chi tiết có thể sử dụng bởi các cơ các biện pháp can thiệp cụ thể nhằm giải quan có thẩm quyền để chứng thực nạn quyết các quan niệm này trong xã hội hoặc nhân (đồng tác giả). trong các cơ quan và chính quyền. Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG 37
- PHẦN III: KIỆN TOÀN KIẾN THỨC VÀ THỰC TIỄN
- KIỆN TOÀN KIẾN THỨC VÀ THỰC TIỄN hính phủ Việt Nam đã có nhiều bước • Thiếu sự quan tâm giải quyết các Ctiến trong việc xây dựng khung pháp lý chuẩn mực và quan niệm nền tảng và chính sách phòng chống BLG, bảo vệ vốn bình thường hóa BLG, làm cho việc tố cáo, thực thi pháp luật, báo cáo và nạn nhân và trừng phạt các hành vi BLG, truy tố tội phạm trở nên khó khăn hơn. đặc biệt tập trung vào vấn đề BLGĐ, buôn bán người và quấy rối tình dục tại nơi làm • Thiếu kiến thức và/hoặc hiểu biết về việc. Chính phủ Việt Nam cũng đã xây các mối liên kết giữa các hình thức dựng các chiến lược và chính sách hỗ trợ BLG làm tăng nguy cơ gặp phải các hình thức bạo lực khác. Sự hiểu biết kỹ việc thực hiện khung pháp lý này dựa trên lưỡng về cách thức mà các hình thức công tác nghiên cứu và đánh giá. Các biện BLG làm tăng nguy cơ gặp phải bạo pháp can thiệp, các chương trình, chính lực khác sẽ giúp xác định trọng tâm của sách và pháp luật là minh chứng cho sự các điều luật, chính sách và chương cam kết của Chính phủ Việt Nam nhằm giải trình nhằm làm giảm BLG. quyết toàn diện vấn đề BLG và từ đó mở Một trong những thiếu sót ảnh hưởng đến rộng hiểu biết về tính phức tạp và tế nhị hiểu biết về BLG là các nghiên cứu thường của BLG tại Việt Nam7 . Tuy nhiên, khoảng được thực hiện tách biệt, tức là các hình trống kiến thức về BLG trong nhóm các thức BLG được xem xét một cách riêng rẽ. nhà hoạch định chính sách và các cơ quan Vì thế, thiếu hụt đáng kể về kiến thức liên chịu trách nhiệm trong việc tạo sự thống quan đến BLG đã hạn chế tính hiệu quả của luật pháp, chính sách và chương trình nhất giữa các luật, chính sách và chương kể cả khi có mục tiêu đúng đắn. trình cũng như điều phối liên ngành để có đối sách hiệu quả với vấn đề BLG đã được Khoảng trống trong luật pháp và xác định. Sự thiếu vắng cách tiếp cận đa chính sách ngành và điều phối tập trung trong việc giải Báo cáo này và các nghiên cứu khác cho quyết đa hình thức BLG cũng đã được đề thấy những khoảng trống trong khung luật cập. pháp và chính sách. Một trong những vấn Khoảng trống trong kiến thức và đề quan trọng và mang tính xuyên suốt nhất là xu hướng bỏ qua mối liên hệ giữa công tác nghiên cứu các hình thức BLG và xem xét từng hình Tài liệu nghiên cứu về các hình thức BLG thức này một cách độc lập, trong đó các chương trình và can thiệp chỉ tập trung khác nhau tại Việt Nam này chỉ ra một số giải quyết một hình thức bạo lực nào đó khoảng trống trong các nghiên cứu và kiến và các bộ, ngành khác nhau được giao thức hiện có về các hình thức cụ thể của nhiệm vụ giải quyết các hình thức bạo lực BLG đã được xác định, bao gồm: khác nhau. Hậu quả là các hình thức BLG được xem xét và xử lý một cách tách biệt, • Hiểu biết hạn chế về BLG đã chỉ tập làm hạn chế phương pháp tiếp cận toàn trung vào BLGĐ mà bỏ qua nạn nhân/kẻ diện và tính hiệu quả của các hoạt động phạm tội không mang tính truyền thống can thiệp được đề cập trong các chính và bỏ qua các hình thức BLG, như mại sách và chương trình. Chẳng hạn, vấn đề dâm cưỡng bức. Hơn nữa, mặc dù một BLGĐ thuộc trách nhiệm của Bộ Văn hóa, số hình thức BLG khác đã được xem xét Thể thao và Du lịch (Bộ VHTTDL), buôn bán người thuộc trách nhiệm của Bộ Công nhưng chỉ thông qua những lăng kính an, tảo hôn thuộc trách nhiệm của Tổng hẹp, như chỉ tập trung vào quấy rối tình cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình, dục nơi công sở hoặc bạo lực do nam cò n bình đẳng giới hay các hành vi bạo giới gây ra cho vợ hoặc bạn tình. lực giới thuộc trách nhiệm Bộ LĐTBXH. 7 Xem tài liệu Ministry of Culture, Sports and Tourism 2013 (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 2013) đề cập các biện pháp can thiệp do các tổ chức xã hội dân sự thực hiện. 40 Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG
- KIỆN TOÀN KIẾN THỨC VÀ THỰC TIỄN Vì thế dẫn đến mối liên hệ giữa các hình Việc thiếu các nghiên cứu nhằm đánh giá thức BLG mặc dù rõ ràng nhưng vẫn bị hiệu quả của các hoạt động can thiệp hiện bỏ qua và vấn đề BLG không được xem làm cho những khoảng trống kiến thức xét một cách toàn diện. Hơn nữa, sự phối về BLG tiếp diễn tại Việt Nam. Nghiên hợp không hiệu quả giữa các bộ, ngành, cứu Quốc gia về BLGĐ đối với phụ nữ do TCTK thực hiện đã khuyến nghị phải xây cơ quan và tổ chức phi chính phủ hoạt dựng khung theo dõi và đánh giá để có thể động trên nhiều lĩnh vực khác nhau của nhân rộng các hoạt động can thiệp dựa BLG dẫn đến không kết nối được mối liên trên bằng chứng (2010). Sự chậm trễ trong hệ giữa các loại hình BLG và hạn chế khả xây dựng khung theo dõi và đánh giá để đo năng giải quyết vấn đề BLG một cách toàn lường mức độ hiệu quả và thành công của diện của Chính phủ. Đẩy mạnh phối hợp các hoạt động can thiệp lớn đã hạn chế liên ngành sẽ tăng cường được tác động khả năng đánh giá chất lượng và tác động cộng hưởng các nỗ lực của các bộ, ngành của các hoạt động này. khác nhau nhằm giải quyết các hình thức Báo cáo này đã đề cập đến sự hiểu biết khác nhau BLG. chưa đầy đủ về mối liên hệ giữa các hình thức BLG đã tác động đến công tác lập Khoảng trống trong công tác thu chính sách và xây dựng chương trình, thể thập và quản lý dữ liệu hiện ở cách tiếp cận rời rạc theo từng hình thức bạo lực riêng lẻ hơn là tiếp cận một Các nghiên cứu mới đây đều đề cập đến cách toàn diện. Thêm vào đó, thiếu phối tình trạng thiếu dữ liệu tin cậy, chất lượng hợp giữa các bộ, ngành dẫn đến thiếu sự và định kỳ để có thể theo dõi được tiến nhất quán giữa pháp luật và chính sách độ thực hiện các can thiệp phòng chống cũng như giữa các chương trình và can BLG cũng như để hiểu rõ sự biến đổi của thiệp. Đối sách hiệu quả về BLG đòi hỏi BLG khi có sự thay đổi của xã hội và kinh sự hiểu biết sâu sắc về BLG trong bối tế. Nghiên cứu về thiệt hại tài chính cho cảnh các quan niệm truyền thống và biến thấy các cơ sở cung cấp dịch vụ không ghi động xã hội, các hình thức và mối liên hệ chép một cách có hệ thống các trường hợp giữa các hình thức BLG. Kiến thức này là bạo lực mà phụ nữ đến với cơ sở (Duvvury nền tảng cho tăng cường sự nhất quán về chính sách và phối hợp giữa các nhà và cộng sự 2012). Ở những cơ sở có ghi lập chính sách và các bên liên quan trong chép thì dữ liệu cũng được nhập vào hệ nỗ lực giải quyết vấn đề BLG. Kết hợp các thống dữ liệu theo từng ngành cụ thể. Hiện yếu tố then chốt này với nhau, như được tại không có cơ chế quốc gia cho phép tích mô tả ở Hình 3, sẽ tạo điều kiện thực hiện hợp các dữ liệu ngành thành cơ sở dữ liệu chính sách phòng chống BLG tại Việt Nam thống kê toàn diện về BLG. một cách hiệu quả. Hình 3: Đáp ứng hiệu quả phòng chống BLG .LӃQWKӭF 7KӵFKLӋQ 7ăQJFѭӡQJKLӇX ELӃWYӅ%/*WURQJ 7KӕQJQKҩWYӅ EӕLFҧQKFiFTXDQ +LӇXELӃWYӅFiF 3KӕLKӧSJLӳD FKtQKViFKYj QLӋPWUX\ӅQWKӕQJ PӕLTXDQKӋ FiFEӝQJjQK YjELӃQÿӝQJ[m OXұWSKiS KӝL9'EҩWEuQK ÿҷQJJLӟL ĈiSӭQJ &KtQKViFKÿiSӭQJ KLӋXTXҧ%/* Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG 41
- KIỆN TOÀN KIẾN THỨC VÀ THỰC TIỄN 42 Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG
- KIỆN TOÀN KIẾN THỨC VÀ THỰC TIỄN PHẦN IV: KHUYẾN NGHỊ Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG 43
- KHUYẾN NGHỊ I. Tăng cường tính chặt chẽ, nhất 2. Rà soát các văn bản pháp luật liên quán và điều phối xuyên suốt giữa quan hiện có (luật, bộ luật, nghị định, luật pháp, chính sách và các can thiệp kế hoạch hay quy chế) để xác định thông qua việc giao cho một cơ quan các bất cập và đảm bảo luật pháp đầu mối chịu trách nhiệm giải quyết vấn về phòng chống BLG rõ ràng, đề BLG và bất bình đẳng giới và đảm chặt chẽ, nhất quán và khả thi. bảo trách nhiệm giải trình. 3. Tăng cường trang bị kiến thức pháp • Cần có sự chặt chẽ, nhất quán và điều luật cho các bên liên quan, nâng cao phối giữa luật pháp, chính sách và can thiệp nhằm thực thi hiệu quả đối sách khả năng thực hiện theo cách tiếp mang tính đa ngành để đồng thời giải cận nhạy cảm giới, hướng trọng tâm quyết tất cả các hình thức BLG, với vào nạn nhân và mang tính đáp ứng đầy đủ nguồn lực và thẩm quyền giám cao đối vấn đề BLG, đồng thời giảm sát nhằm đảm bảo trách nhiệm giải các trường hợp miễn hình phạt. . trình của các biên liên quan ở cấp địa phương, cấp tỉnh và cấp trung ương. • Một thách thức lớn vẫn tồn tại là sự thiếu hiểu biết về luật pháp và tồn tại • BLG tác động đến phụ nữ, nam giới, trẻ các quan niệm định kiến giới của các em, gia đình và cộng đồng ở mọi cấp độ bên liên quan (bao gồm cán bộ tư kinh tế-xã hội tại tất cả các tỉnh, thành pháp, công an, quân đội, giáo dục, y của Việt Nam. Do đó, điều quan trọng là Chính phủ Việt Nam cần huy động tế, phúc lợi xã hội, quốc phòng và lao sự tham gia của các lãnh đạo cộng động nhập cư) và của người dân nói đồng, cán bộ y tế và hệ thống tư pháp chung đã vô hình chung cho phép bạo để thực hiện một đối sách toàn diện và lực tiếp diễn đối với phụ nữ và trẻ em phối hợp chặt chẽ đa ngành, tạo điều gái. Tại phiên họp thứ 57 vào tháng Ba kiện cho công tác phòng chống BLG. năm 2013, Ủy ban về Địa vị của Phụ • BLG có mối liên hệ sâu sắc với các nữ đã hối thúc chính phủ các nước xây chuẩn mực giới bất bình đẳng và vì dựng năng lực cho cán bộ công chức thế, giải quyết vấn đề BLG là một phần để đảm bảo rằng phụ nữ và trẻ em gái không thể tách rời của việc thúc đẩy là nạn nhân của bạo lực khi cần đến sự bình đẳng giới. Mặc dù cơ quan chịu trợ giúp của chính quyền sẽ được tiếp trách nhiệm đối với việc thực hiện Luật xúc với các cán bộ nhà nước có thái độ Bình đẳng giới là Bộ LĐTBXH, có rất nhạy cảm với những nhu cầu của họ và nhiều bộ ngành tham gia vào việc thực hiểu được những tổn thương mà bạo hiện các luật khác nhau liên quan đến lực gây ra cho họ. Cán bộ nhà nước BLG. Nỗ lực của các bộ đều đáng hoan cũng phải chịu trách nhiệm giải trình nghênh song vẫn tiếp tục tồn tại một bất cập được nêu rõ trong nhiều báo cáo nếu không tuân thủ pháp luật và các khác nhau và trong tài liệu thảo luận của qui định liên quan đến phòng chống bạo Gardsbane và các tác giả khác (2010), lực đối với phụ nữ và phải ngăn ngừa đó chính là vấn đề thiếu sự phối hợp cũng như xử lý bạo lực theo cách thức liên ngành và không có một cơ quan nhạy cảm giới, đồng thời chấm dứt việc đầu mối trung ương chịu trách nhiệm về miễn hình phạt đối với người phạm tội. BLG. Giao trách nhiệm cụ thể cho một cơ quan đầu mối sẽ tạo điều kiện phối 4. Tiếp tục mở r ộng các hoạt động can thiệp hợp các sáng kiến phòng chống BLG với sự tham gia của nam giới và trẻ em trai 44 Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG
- KHUYẾN NGHỊ • Các quan niệm xã hội trọng nam khinh việc làm cũng như hỗ trợ thành lập các nữ, gắn nam tính với uy quyền, thái độ tổ nhóm tương trợ trên khắp đất nước, hung hăng, lấn át đối lập với nữ tính chất lượng dịch vụ và sự tiếp cận các tổ gắn với sự thụ động, trách nhiệm giữ nhóm và hoạt động đó không đồng đều gìn hòa khí gia đình và phục tùng nam giữa các nơi. Việc điều phối tập trung giới, đã tạo điều kiện cho BLG tiếp diễn đối với các dịch vụ, bao gồm cả đào tạo dưới nhiều hình thức tại Việt Nam. Các cho nạn nhân và hỗ trợ thành lập các hoạt động can thiệp có sự tham gia tổ nhóm tương trợ, là yêu cầu cần thiết của nam giới và trẻ em trai thể hiện sự nhằm đảm bảo sự tiếp cận bình đẳng chuyển biến về thái độ, chuẩn mực và và chất lượng dịch vụ tối thiểu. Hỗ trợ giá trị và rằng nam giới và trẻ em trai có tài chính của Nhà nước vẫn còn hạn thể trở thành đối tác tích cực trong việc chế và cần được đánh giá lại để đảm giảm các hành vi BLG. Những hoạt bảo nạn nhân được hỗ trợ, đặc biệt liên động can thiệp này cần bao gồm trang quan đến vấn đề chi phí chăm sóc y tế bị kiến thức cho nam giới và trẻ em trai và thủ tục pháp lý. không chỉ với tư cách là người gây bạo 6. Tiếp tục tập trung cho công tác nâng cao lực hay có khả năng gây bạo lực mà nhận thức và thay đổi quan niệm nhằm còn với tư cách là nạn nhân, những thúc đẩy bình đẳng giới và chấm dứt BLG, người sống sót và các tác nhân tạo ra bao gồm việc xây dựng chiến lược truyền sự thay đổi nhằm ngăn ngừa bạo lực. thông quốc gia thay đổi hành vi. Tăng cường huy động sự tham gia của nam giới và trẻ em trai cần trở thành • Mặc dù chiến dịch truyền thông đã một thành tố quan trọng trong chiến được triển khai tại một số địa phương, lược tổng thể giải quyết các hình thức các chiến dịch này vẫn thiếu sự phối khác nhau của BLG hợp. Chính phủ Việt Nam cần xây dựng một chiến lược truyền thông quốc gia 5. Nhân rộng và cải thiện chất lượng về BLG và bình đẳng giới để đảm bảo các sáng kiến nâng cao quyền năng thống nhất các thông điệp truyền thông kinh tế cho phụ nữ nhằm giải quyết trên toàn quốc và có nguồn ngân sách bạo lực trong cuộc sống của họ thông riêng cho việc thực hiện chiến lược và qua đào tạo kỹ năng sống, các tổ nhóm điều phối các chiến dịch. tương trợ, giáo dục, đào tạo nghề, trợ giúp pháp lý và tài chính. 7. Đẩy mạnh chương trình nghiên cứu để mở rộng cơ sở bằng chứng • Thực hiện các hoạt động can phục vụ công tác xây dựng chương thiệp tập trung vào nâng cao giá trình nhằm giải quyết các hình thức trị của trẻ em gái và phụ nữ thông BLG tại Việt Nam, thiết lập và tăng qua việc tăng cường quyền năng cường hệ thống thu thập dữ liệu chính trị, kinh tế và xã hội của họ. thống nhất và khung lập kế hoạch, • Mặc dù đã có một số hoạt động can theo dõi và đánh giá cũng như đảm thiệp giúp đào tạo kỹ năng sống cho nạn bảo các dữ liệu phân tách theo giới nhân BLGĐ, tạo điều kiện giáo dục và và tuổi cho tất cả các hình thức BLG. Tài liệu thảo luận của LHQ về BLG 45
- KHUYẾN NGHỊ • Trong những năm gần đây, công tác • Một bất cập lớn được xác định trong các nghiên cứu về BLG tại Việt Nam đã tài liệu tóm lược chính sách gần đây8 là được đẩy mạnh, đặc biệt là về vấn đề việc thiếu các dữ liệu tin cậy để theo dõi BLGĐ và mua bán người. Vấn đề quấy tiến độ thực hiện các đối sách phòng rối tình dục tại nơi làm việc cũng ngày chống BLG cũng như để hiểu rõ sự biến đổi của BLG khi xã hội thay đổi cùng với càng được quan tâm trong các chương tiến bộ kinh tế. Chưa xây dựng được trình nghiên cứu. Tuy nhiên, các khía một hệ thống thu thập dữ liệu thống cạnh khác của BLG vẫn cần được nhất về tất cả các hình thức BLG. Việc chú ý nhiều hơn, đặc biệt là tình trạng thu thập số liệu thống kê định kỳ bởi các nạo phá thai lựa chọn giới tính, quấy cơ quan hành pháp, tư pháp và y tế là rối tình dục ngoài nơi làm việc và mại bước khởi đầu hết sức quan trọng nhằm dâm cưỡng bức. Hơn nữa, nghiên cứu xây dựng một cơ sở dữ liệu BLG toàn về tất cả các nội dung của BLG phải diện. Cần tiến hành nghiên cứu để xây được thực hiện một cách sâu rộng để dựng các hệ thống và qui trình thu thập bao trùm cả đối tượng nạn nhân và dữ liệu thích hợp cho mỗi ngành và tích hợp vào hệ thống dữ liệu quốc gia. người phạm tội phi truyền thống, đồng • Một nhiệm vụ không kém phần quan thời đánh giá được các yếu tố xã hội và trọng là tiến hành nghiên cứu đánh giá tâm lý xã hội tác động đến BLG. Vấn đề các hoạt động can thiệp hiện có, để khắc cuối cùng cần lưu ý là mối liên kết giữa phục các khoảng trống kiến thức về BLG các hình thức BLG vẫn chưa được xem tại Việt Nam. Theo khuyến nghị từ Nghiên xét đầy đủ và gần như chưa được đưa cứu Quốc gia về BLGĐ đối với phụ nữ do vào chương trình nghiên cứu trong khi TCTK thực hiện, cần xây dựng khung theo nghiên cứu về nội dung này có vai trò dõi-đánh giá để đảm bảo việc triển khai thiết yếu trong việc tìm hiểu và xử lý nhân rộng các hoạt động can thiệp được vấn đề BLG tại Việt Nam. thực hiện trên cơ sở bằng chứng (2010). 8 Xem Policy Kit on Gender-based Violence (Bộ tài liệu chính sách về bạo lực giới) (2013) bao gồm bốn tài liệu tóm lược chính sách giới thiệu tóm tắt các nghiên cứu gần đây về BLG tại Việt Nam. 4646 UNTàiTài liDiscussionệu tthhảo luluậ Papern của LLHQonHQ GBV về BBLGLLG



