Triết lý nhân sinh của Thiền Đại thừa thời Lý - Trần
Bạn đang xem tài liệu "Triết lý nhân sinh của Thiền Đại thừa thời Lý - Trần", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
triet_ly_nhan_sinh_cua_thien_dai_thua_thoi_ly_tran.pdf
Nội dung text: Triết lý nhân sinh của Thiền Đại thừa thời Lý - Trần
- TRIẾT - LUẬT - TÂM LÝ - XÃTriết HỘI lý nhân HỌC sinh của Thiền Đại thừa Triết lý nhân sinh của Thiền Đại thừa thời Lý - Trần Nguyễn Lan Anh * Tóm tắt: Trong tiến trình phát triển lịch sử dân tộc Việt Nam, Phật giáo là một trong những hệ tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Ảnh hưởng này đặc biệt rõ nét ở thời Lý - Trần. Phật giáo đầu thời Lý - Trần cũng xuất hiện nhiều trường phái, nhưng sau chỉ còn lại Thiền (cụ thể là Thiền Đại thừa), phát triển thành tông phái độc lập. Triết lý nhân sinh của Thiền Đại thừa ngày càng được ưa chuộng trong triều đình, rồi dần lan tỏa trong dân gian và có ảnh hưởng mạnh mẽ trong xã hội thời kỳ này, đồng thời trở thành ngọn nguồn cho những thắng lợi trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng và có tác động lớn tạo nên sức mạnh quân sự - nền tảng quan trọng nhất cho những chiến công vẻ vang thời đại Lý - Trần. Bài viết tìm hiểu về triết lý nhân sinh của Phật giáo Đại thừa với sức mạnh của thời Lý - Trần. Từ khóa: Phật giáo; nhân sinh quan; Thiền Đại thừa; thời Lý - Trần. 1. Khái lược Thiền Phật giáo Việt Trung Hoa. Lúc này, Phật giáo Trung Hoa Nam từ khởi nguyên đến thời Lý - Trần đã dần chiếm ưu thế, hình thành thượng Phật giáo Ấn Độ theo đường biển truyền tầng Phật giáo Việt - Trung hay đúng hơn là vào nước ta từ những năm đầu Công Việt - Ấn - Trung. Từ Trung Hoa, có ba nguyên. Ngay ở thời kỳ này, Phật giáo đã tông phái Phật giáo truyền vào nước ta là: có hệ thống kinh điển Đại thừa mang tính Thiền tông, Tịnh Độ tông và Mật tông. thiền học, “khuynh hướng Thiền - hay đúng Thiền tông được truyền bá vào thời điểm hơn là tiền Thiền - đã xuất hiện ở Việt Nam này là tông phái Phật giáo do nhà sư Ấn Độ từ thế kỷ III, với Khương Tăng Hội, làm cơ Bồ Đề Đạt Ma sáng lập ở Trung Quốc, chủ sở cho sự tiếp nhận và phát triển Thiền tông trương tập trung trí tuệ để tự mình tìm ra về sau”(1). Đến thế kỷ IV, V tại Giao Châu, chân lý. “Thiền là một phương thức cố gắng Thiền Đại thừa cũng đã được phát triển với giải quyết vấn đề thực tại Tuyệt đối (giải các bậc danh Tăng như Huệ Thắng, Đạo thoát) ngay trong cõi hiện thực (nhân gian) Thiền Các vị này còn truyền bá Thiền Đại và Thiền đã thiết kế được niềm tin giải thừa sang Trung Quốc, trước khi Tổ Bồ Đề thoát”(2). Thiền tông chủ trương: không lập Đạt Ma sang, trước cả khi Tỳ Ni Đa Lưu văn tự, truyền pháp không qua giáo lý, chỉ Chi từ Trung Quốc xuống Việt Nam truyền dòng Thiền đầu tiên. Có thể khẳng định ở thời kỳ đầu, Phật giáo truyền vào nước ta (*) Thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội. ĐT: 0983304197. Email: [email protected]. chủ yếu là Phật giáo Đại thừa với khuynh (1) Viện Triết học (1986), Mấy vấn đề về Phật giáo và hướng Thiền. lịch sử tư tưởng Việt Nam, Hà Nội, tr.82. (2) Sang thế kỷ VI, Phật giáo Việt Nam tiếp Hoàng Thị Thơ (2005), Lịch sử tư tưởng Thiền từ Vêđa Ấn Độ tới Thiền tông Trung Quốc, Nxb Khoa nhận thêm những đoàn truyền giáo từ học xã hội, Hà Nội, tr.202. 41
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 8(93) - 2015 thẳng vào tâm, kiến tính thành Phật. Tu thành giác ngộ. Thiền cũng chủ trương thực theo Thiền tông đòi hỏi nhiều công phu và hành tu luyện để giải thoát ngay tại nhân khả năng trí tuệ, do vậy phổ biến chủ yếu ở gian, kết hợp với tư tưởng của Phật giáo giới trí thức có học vấn cao. Tịnh Độ tông Đại thừa với tinh thần “khế lý, khế cơ”, linh chủ trương dựa chủ yếu vào sự giúp đỡ từ động, khoan dung, không cố chấp vào kinh bên ngoài để cứu giúp chúng sinh. Đi chùa điển hay việc thực hành giới luật, luôn có lễ Phật, thường xuyên tụng niệm và làm chủ trương nhập thế, phổ độ chúng sinh, theo lời dạy của Phật A Di Đà là có thể đến làm cho chúng sinh cùng giác ngộ như Tây Phương cực lạc sau khi chết. Có thể mình. Chính vì vậy, Thiền Đại thừa dễ dàng nói, Tịnh Độ tông là con đường đơn giản thẩm thấu trong đời sống của người dân Đại nhất để lên cõi Niết Bàn, vì vậy phái này Việt - nơi vừa trải qua thời gian dài sống phổ biến ở giới bình dân ít học. Mật tông là dưới ách áp bức, chiến tranh, loạn lạc, đang phái chủ trương sử dụng những phép thuật mong mỏi sự yên bình, hạnh phúc dù chỉ huyền bí như linh phù, mật chú, ấn quyết trong tâm tưởng. Có ý kiến cho rằng, trong để đạt đến giác ngộ và giải thoát. Sang Việt thời Lý - Trần: “Thiền tông, đặc biệt là giai Nam, nó không tồn tại độc lập như một đoạn Nam tông, đã phát triển ở miền Nam tông phái riêng, mà hòa vào dòng tôn giáo Trung Quốc nên ảnh hưởng đến Việt Nam dân gian với những truyền thống cầu đồng, dễ hơn các tông phái khác”(5). Và trong lịch pháp thuật, bùa chú sử “cũng đã có những dòng Phật giáo Tiểu Đầu thời Lý, Phật giáo vẫn tồn tại cả ba thừa du nhập vào Việt Nam từ Ấn Độ hay tông phái: Thiền, Tịnh Độ, Mật. “Đối với Trung Quốc, nhưng một phần do tâm lý và tầng lớp bình dân, Phật giáo có Tịnh, Mật; tính văn hóa đặc trưng của người Việt nên còn đối với tầng lớp trí thức, Phật giáo có cuối cùng các dòng Thiền Đại thừa ngày Thiền”(3). Tuy nhiên, Thiền vẫn phát triển càng thắng thế”(6). hơn cả và trở thành tông phái độc lập, 2. Triết lý nhân sinh của Thiền Đại “trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, trước thừa với nền chính trị thời Lý - Trần sau chỉ có các phái Thiền tông là tồn tại với Để song hành với dân tộc và duy trì tư cách là các phái độc lập Tịnh Độ tông được ảnh hưởng của mình trong xã hội Lý - và Mật tông ở Việt Nam không hề trở thành Trần, và dễ dàng hòa mình vào thực tiễn các tông phái riêng biệt, độc lập với Thiền đấu tranh của đất nước, nhân sinh quan Phật tông mà chỉ là các yếu tố được Thiền tông giáo luôn bổ sung cho mình những tư tưởng tiếp nhận”(4). Thiền tông chủ trương không lập văn tự, chỉ trú trọng đến mặt thực hành (3) Nguyễn Hùng Hậu (1997), Lược khảo tư tưởng nên nó phù hợp với những người dân Việt ít Thiền Trúc Lâm Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà có điều kiện học hành, không biết chữ, nếu Nội, tr.28. (4) Viện Triết học (1986), Mấy vấn đề về Phật giáo có chủ yếu là biết chữ Hán, rất ít người đọc và lịch sử tư tưởng Việt Nam, Hà Nội, tr.85. được kinh điển bằng chữ Pali, Sanskrit. (5) Viện Triết học (1986), Sđd, tr.84 - 85. (6) Thiền thời kỳ này giản dị về nghi thức tu Hoàng Thị Thơ (2014), “Triết lý nhập thế của Phật giáo và “Cư trần lạc đạo”của Trần Nhân Tông”, hành, chỉ dùng cách tọa thiền trực giác mà Tạp chí Triết học, số 3. 42
- Triết lý nhân sinh của Thiền Đại thừa phù hợp với đời sống tín ngưỡng của cư Và khi giác ngộ là khi con người có thể dân Việt. Vì vậy, trên cơ sở kế thừa triết lý “sống thực với mình”, an nhiên, tự tại trở nhân sinh của Phật giáo nói chung như: vô về với cái bản thể chân như của chính ngã, vị tha, từ bi, hỷ xả, bình đẳng, Thiền mình, theo tinh thần Cư trần lạc đạo của Đại thừa thời Lý - Trần đã phát triển và đưa Trần Nhân Tông: Ở trần vui đạo hãy tùy ra những quan điểm riêng, khác biệt với duyên/ Đói đến thì ăn, nhọc ngủ liền/ những quốc gia có Phật giáo. Đó là quan Trong nhà có báu thôi tìm kiếm/ Đối cảnh, điểm hay kiến giải sâu sắc về giải thoát với không tâm hỏi chi thiền(9). triết lý “Phật tại Tâm”, từ đó đưa đến khả Quan niệm “Phật tại Tâm” nghĩa là: Phật năng nhập thế tích cực của các thiền sư, ở trong tâm ta không cần phải tìm kiếm đâu Phật tử thời kỳ này. xa, Tâm chính là Phật, Phật chính là tâm, Chính nhờ tinh thần nhập thế tích cực muốn cầu giải thoát thì phải trở lại với nên ở thời Lý - Trần, các nhà sư thường là chính cái bản thể chân như ở trong lòng ta, người có trí thức cao, được dùng như cố chứ không thể vin vào hình thức trì giới hay vấn chính trị, đồng thời là vị thầy tâm linh, nhờ vào các thế lực siêu nhiên bên ngoài có trách nhiệm giáo hóa đạo đức cho triều như Phật, Bồ Tát Tu Phật nhằm mục đích đại. Các vị vua, quan trong triều cũng đi tu cuối cùng là giải thoát - đạt đạo, nhưng và đều là những Phật tử thuần thành. Trách không đối lập với cuộc sống thế tục. Chính nhiệm của triều đình đối với người dân vì vậy, triết lý “Phật tại Tâm” đã mở ra khả được coi là nghiệp thiện. Vua được dân tôn năng nhập thế tích cực của Phật giáo thời làm Phật, Bồ Tát cứu độ chúng sinh. Quan Lý - Trần. lại, trí thức yêu dân, thương dân được tôn Tinh thần nhập thế ở thiền Phật giáo đã làm Phật, Tổ, Thượng sỹ Quan điểm nhân có ảnh hưởng lớn trong mọi tư tưởng và sinh cơ bản của Phật giáo thời này là “Phật trong hoạt động chính trị ở thời kỳ này. Các tại Tâm”. Triết lý này chi phối trong cả vị thiền sư được coi là đạt đạo, nhưng cũng quan niệm về ý nghĩa cuộc sống của con có những đóng góp tích cực vào công cuộc người; về chuẩn mực đạo đức; về con dựng nước và giữ nước. Thời Lý, các vua đường, cách thức tu hành Quan niệm này rất coi trọng ý kiến đóng góp của các vị cao được thể hiện rõ trong bài kệ của sư Diệu tăng và thường mời họ vào triều. Các vị sư Nhân (1041 - 1113): Mê, phải cầu Phật/ Vạn Hạnh, Đa Bảo, Viên Thông đều rất tích Hoặc, phải cầu Thiền/ Chẳng cầu Thiền, cực tham chính. Tuy nhiên, họ không sa Phật/ Mím miệng ngồi yên(7). vào vòng danh lợi, xong việc thì lui về Tuệ Trung - nhà thiền học sáng nhất thời Trần cũng cho rằng tất cả các giáo lý cao (7) Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Văn học siêu sẽ trở thành hình thức xơ cứng và vô (1977), Thơ văn Lý - Trần, t.1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.340. nghĩa nếu không biết vận dụng chúng vào (8) Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Văn học đời sống thực tiễn nhằm đáp ứng nhu cầu (1988), Thơ văn Lý - Trần, t.2, Sđd, tr.283. (9) đất nước: “Thanh Văn ngồi thiền, ta không Trương Văn Chung (1998), Tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần, Nxb Khoa học (8) ngồi. Bồ Tát thuyết pháp, ta nói thực” . xã hội, Hà Nội, tr.155. 43
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 8(93) - 2015 chùa. Triết lý này đã được Thiền sư Vạn Thượng Sỹ: “Đi cũng thiền! Ngồi cũng Hạnh thể hiện rất rõ: “Làm thì làm, nhưng thiền! Trong lò lửa đỏ một bông sen”(12). không mắc kẹt vào công việc, không nương Các thiền sư cho rằng đừng có tìm chân tựa vào hữu vi”(10). Các thiền sư tham gia lý ở ngoài cuộc đời và trong sách vở. Phật là chính sự bởi họ là người có học thức, có ý tâm, nên lấy nó tự tìm hiểu nó. Bởi, để giác thức trách nhiệm với quốc gia, muốn đóng ngộ không được chấp vào bất cứ điều gì, vì góp sức mình cho đất nước. Hơn ai hết họ vậy, không thể vin vào hình thức bên ngoài hiểu rằng: muốn thành Phật thì ngoài việc mà cầu mong giải thoát. Con người đã ngộ phải có đủ tuệ mẫn, còn phải phát nguyện đạo, không cần khư khư giữ giới. Chỉ cần tâm từ bi để phổ độ chúng sinh mới đạt tới thân tâm trong sáng, thái độ sống tích cực, giải thoát. không nhất nhất phải tuân thủ nghiêm túc Kế thừa và phát huy truyền thống nhập những giới luật. Theo các thiền sư: Ăn thịt thế “đạo Phật không rời cuộc sống” của và ăn cỏ/ Chúng sinh từng loài đó/ Xuân về thời Lý, các vị vua quan, thiền sư thời Trần cây cỏ sinh/ Họa phúc nào đâu có(13). cũng “đem đạo đi vào cuộc đời” một cách Đạt đạo nghĩa là phải hòa mình vào cuộc tích cực. Dù là Phật tử thuần thành, hay cư sống bình thường, không chấp vào danh - sĩ tại gia, khi đất nước bị xâm lăng họ sẵn lợi, luôn hành động và suy nghĩ vì lợi ích sàng “cởi áo cà sa, khoác chiến bào”. chung. Thiền sư Quang Nghiêm viết: Thoát Phong cách của các nhà sư nhập thế thời tịch diệt xong, bàn tịch diệt/ Sau vô sinh, hãy Trần là sống “hòa quan đồng trần” tức là nói vô sinh/Làm trai lập chí xông trời sống hòa lẫn trong thế tục. Đây cũng là lời thẳm/Theo gót Như Lai luống nhọc mình(14). khuyên của Quốc sư Trúc Lâm, khi vua Tư tưởng này đã cổ vũ cho tinh thần: tu Trần Thái Tông muốn lên núi tu Phật: thiền phải gắn với đời sống thực tiễn; lý “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở luận phải gắn với hành động. Chính tư ngay trong lòng. Lòng lặng lẽ mà hiểu đó tưởng tu Phật nhưng lại không câu nệ vào là chân Phật. Nay bệ hạ giác ngộ điều đó hình thức này đã mang lại một tư duy tích thì lập tức thành Phật, không phải khổ cực cho các thiền sư, Phật tử, khích lệ tinh công tìm kiếm bên ngoài”(11). Chính vì thần xuất thế. Bởi tu thiền không chỉ dừng vậy, khi tổ quốc bị đe dọa bởi họa xâm lại ở việc trì giới, niệm Phật mà còn ở lăng, các thiền sư đều xung phong ra trận những hành động, lý tưởng cao cả nhằm và không phải khi đất nước yên bình họ trở giúp đời, giúp nước. Tư tưởng “Phật tại lại chiếu thiền, mà thiền ngay trong cuộc sống hằng ngày. Tuệ Trung Thượng Sỹ (10) Nguyễn Duy Hinh (1999), Tuệ trung, nhân sĩ, cũng cho rằng: tất cả các giáo lý cao siêu thượng sĩ, thi sĩ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, sẽ trở thành hình thức xơ cứng và vô nghĩa tr.21. (11) Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Văn nếu không biết vận dụng chúng vào đời học (1988), Thơ văn Lý - Trần, t. 2, Sđd, tr.27. sống thực tiễn nhằm đáp ứng nhu cầu đất (12) Sđd, tr.277. (13) Sđd, tr.291. nước. Triết lý này được thể hiện rõ trong (14) Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Văn tư tưởng và hành động của Tuệ Trung học (1977), Thơ văn Lý - Trần, t.1, Sđd, tr.522. 44
- Triết lý nhân sinh của Thiền Đại thừa Tâm” chính là nguyên nhân đem lại cho đời Trung Hoa không còn ưa dùng Phật giáo, sống chính trị thời Lý - Trần sự “thuần từ”, nhà Tống (960 - 1278) trọng Khổng giáo, hạnh phúc, mối quan hệ giữa vua và quan, nhà Nguyên - Mông (1280 - 1341) lại đề tầng lớp thống trị và nhân dân đều dựa trên cao Lạt Ma giáo. Thêm nữa, người dân Đại quan hệ bình đẳng, bác ái, vô ngã, vị tha. Việt vừa trải qua kiếp lầm than của 1000 Đường lối chính trị thời Lý - Trần do năm đô hộ, nếu triều đình đề cao Khổng chịu ảnh hưởng nhất định bởi nhân sinh của giáo thì nhân dân sẽ không ủng hộ vì Thiền Đại thừa nên mang đậm dấu ấn của Khổng giáo mang lại cảm giác như “bị đô đường lối đức trị. Đường lối đức trị này hộ một lần nữa”. Việc lựa chọn Phật giáo mang màu sắc từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha làm hệ tư tưởng chủ đạo là cần thiết và phù của Phật giáo; khác với “đức trị” trong hợp với tình cảm người dân Đại Việt. Và Khổng giáo. Bởi “đạo lý của Nho gia nhằm trong thực tế chính trị thời Tiền Lý, Ngô, giữ vững quyền thống trị của thế lực vua Đinh, Tiền Lê đã chứng minh, Phật giáo đã quan phong kiến”(15), chứ chưa tạo được hoàn thành tốt sứ mệnh của mình trong vai ảnh hưởng đáng kể trong đời sống tâm linh, trò cố vấn chính trị. Sang thời Lý - Trần, tình cảm của người Việt. Thuyết chính Phật giáo lại tiếp tục phát huy những ảnh danh, thiên tử, tu thân, tề gia, trị quốc, trung hưởng tích cực đó. Phật giáo được sử dụng quân của Khổng giáo ít nhiều đã có ảnh như là phương tiện để giai cấp thống trị hưởng đến đời sống chính trị, nhưng chủ củng cố chế độ và duy trì quyền hạn tối yếu chỉ ảnh hưởng ở mô hình nhà nước và thượng của nhà vua, nhưng phương tiện ấy thiết chế bộ máy quan lại phong kiến tập rất nhân văn làm cho nền chính trị mang quyền hoặc trong tư tưởng của một số nhà đậm tính văn hóa.(15) Nho trong triều đình. Tuy Khổng giáo là 3. Triết lý nhân sinh của Thiền Đại học thuyết bàn nhiều đến chính trị và các thừa với công cuộc dựng nước, giữ nước quan hệ trong thiết chế chính trị, được giai thời Lý - Trần cấp thống trị sử dụng để xây dựng nhà nước Với những giá trị nhân văn, nhân đạo và bộ máy thống trị của mình, nhưng thiện trong triết lý nhân sinh quan, Phật giáo dễ cảm của người dân dành cho Phật giáo vẫn dàng dung hợp cho mọi nền văn hóa, thích rất lớn, khiến việc sử dụng Khổng giáo vẫn hợp với nhiều đối tượng. Cũng nhờ đó mà bị hạn chế, “chính quyền nhà Lý là một Phật giáo vượt qua cả Khổng giáo, Đạo giáo chính quyền sùng Phật và thân dân”(16). để có tác động lớn hơn cả đến thực tiễn xã Trên phương diện tư tưởng, nhiều vị vua hội và tư tưởng chính trị trong nhà nước vẫn chịu ảnh hưởng rất lớn bởi triết lý nhân phong kiến giai đoạn Lý - Trần. Qua sự sinh của thiền Phật giáo. Các vị vua đó vẫn thẩm thấu trong đời sống tinh thần của mỗi chủ trương xây dựng và hoàn thiện một hệ tư tưởng Phật giáo riêng biệt, mang đậm (15) Lê Văn Quán (2008), Lịch sử tư tưởng chính trị - bản sắc dân tộc, nhằm khẳng định nền độc xã hội Việt Nam từ Bắc thuộc đến thời kỳ Lý - Trần, lập và tạo ra nét khác biệt về văn hóa so với Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.242. (16) Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biên) (2003), Tiến phong kiến Phương Bắc. Thời kỳ này, trình lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.71. 45
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 8(93) - 2015 người dân Đại Việt, Phật giáo dần có ảnh áp bức, bóc lột. Tinh thần này kết hợp với hưởng đến đời sống, tư tưởng chính trị của lòng yêu nước - vốn là truyền thống của dân đất nước, góp phần không nhỏ cho những tộc ta, tạo nên khí thế “cả nước góp sức” thành tựu trên mọi lĩnh vực ở thời Lý - Trần. đánh giặc. Đó chính là thành quả được dày Chủ trương tự giải thoát của Thiền Đại công vun đắp của các vua quan, Phật tử thời thừa đã góp phần khích lệ và đề cao khả Lý - Trần từ những năm tháng hòa bình. năng của bản thân trong việc giải phóng Khi giặc ngoại xâm đến, tinh thần ấy có mình khỏi cuộc sống lầm than, đã ảnh điều kiện phát huy và ngày càng dâng cao. hưởng tích cực đến tinh thần, khí phách của Chính vì vậy, dù là các vị thiền sư hay Phật quân dân Đại Việt. Vì vậy, khi quân giặc tử thuần thành đến khi chiến tranh xảy ra, kéo sang, toàn dân đã đứng lên đánh giặc, tất cả đều hăng hái lên đường diệt giặc. Đặc tạo ra sức mạnh khó kẻ thù nào địch nổi. biệt, vua Trần Nhân Tông, người đã từ bỏ Tinh thần “quyết không chịu khuất phục” ngôi vua để xuất gia tu Phật, cũng là người trước bất cứ kẻ thù nào đã tạo nên chiến sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, thắng đối với kẻ thù mạnh hơn gấp nhiều chính là người hai lần lãnh đạo cuộc kháng lần. Thời Lý, nhân dân tham gia chống chiến chống giặc Nguyên - Mông. Ông đã quân Tống đông đảo đến mức Tể tướng lệnh cho quân sĩ xăm hai chữ “Sát Thát” để Vương An Thạch phải thừa nhận: “Cả nước khuyến khích họ giết được nhiều giặc. Điều Giao Chỉ, nhà có 6 người thì 5 người tòng này nhân sinh quan Phật giáo nguyên thủy quân, còn một người không đi được nên không thể chấp nhận, vì phạm giới luật: cấm phải ở lại”(17). Sang thời Trần, với sự lãnh sát sinh. Nhưng trong hoàn cảnh quân giặc đạo của các vị Vua - Phật và tướng lĩnh tài tràn sang cướp phá, sát hại con dân Đại Việt, ba, nhân dân cũng hết lòng ủng hộ và nếu cứ nệ luật, để mặc nhiên cho đồng bào hưởng ứng lời kêu gọi của triều đình: “Tất và non sông chìm trong biển máu sẽ là trái cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc đạo; chỉ cầu giải thoát cho mình mà vô tình ngoài đến đều phải liều chết mà đánh”, nếu với đồng loại thì thành Phật cũng chẳng có ý không đánh lại được thì tránh, quyết không nghĩa gì. Vậy nên, lúc này “giới luật” của hàng giặc. Những nơi có giặc đi qua, nhân Phật giáo được vận dụng một cách sáng tạo dân đều thực hiện mưu kế: cất giấu lương trong điều kiện chiến tranh: giết kẻ thù xâm thực, vườn không nhà trống. Vì vậy, “trong lược để cứu dân tộc là “từ bi”, đánh kẻ xâm cả ba lần chiến tranh, quân Nguyên - Mông phạm bờ cõi mới là “đạt đạo”.(17) đều khốn đốn vì thiếu lương ăn, không Triết lý nhân sinh Phật tại Tâm vẫn những bị quân nhà Trần đánh tan mà còn vì nhằm mục đích là giác ngộ, nhưng giác ngộ chúng không tài nào cướp được lương thực trong nhân dân”(18). (17) Hoàng Xuân Hãn (1941), Lý Thường Kiệt - Lịch Tư tưởng bình đẳng, dân chủ được đề sử ngoại giao và tông giáo triều Lý, Nxb Chính trị cập nhiều trong triết lý nhân sinh của Phật quốc gia, Hà Nội, tr.275. (18) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1994), Kế sách giáo Đại thừa đã giúp con người tự vươn giữ nước thời Lý - Trần, Nxb Chính trị quốc gia, Hà lên, đấu tranh để thoát khỏi nỗi khổ của sự Nội, tr.192 - 193. 46
- Triết lý nhân sinh của Thiền Đại thừa không phải để thoát khỏi vòng sinh - tử, mà ta nghĩ đến ta không phải ta như người bộ để giải thoát ngay tại cõi trần. Bởi, Phật ở hành sau bao thuở lang thang trên khắp nẻo ngay chính trong tâm mỗi người, giải thoát đường hoang vắng để tìm lại ta tự ngã cho là phải sống hòa mình với cuộc sống, sống lòng thanh thản, siêu thoát, từ tự giác đi vào không khác mọi người, sống có ích. Vì vậy, tha giác”(21). Chính vì tu thiền nên ông đã tinh thần nhập thế tích cực giúp các tăng ni, trang bị cho bản thân một thể lực dẻo dai và Phật tử luôn được hòa mình cùng với công trí tuệ minh mẫn, tạo ra bản lĩnh của một vị cuộc dựng nước và giữ nước của nhân dân tướng tài ba trên chiến trận, luôn bình tĩnh, Đại Việt. “Cứu khổ, cứu nạn” nghĩa là phải linh hoạt trước mọi biến cố. Ông đã sáng hòa mình vào cuộc đấu tranh của nhân dân; suốt tuyển chọn được nhiều tướng tài, đóng giải phóng họ khỏi nỗi đau khổ của cảnh góp tích cực vào thắng lợi của cuộc kháng mất nước; bảo vệ quyền sống, quyền tự do chiến. Với Phạm Ngũ Lão, khi thấy ông bị và quyền mưu cầu hạnh phúc của mỗi quân lính đâm giáo vào đùi vì ngồi chắn người. Nên việc tu luyện để đạt đạo hay giữa đường đi, nhưng vẫn thản nhiên không quan tâm kiến tính thành Phật sẽ được thực lay động, Trần Hưng Đạo liền mời nhập đội hiện ngay trên trần gian, trong cuộc sống quân và giao nhiều trọng trách, bởi ông biết thường nhật của mỗi người. “Phạm Ngũ Lão tu luyện thiền tới trình độ Thiền tông khuyên con người phải làm cao, và ở thời ấy, một người như vậy cũng chủ suy nghĩ và hành động của mình, để rất có khả năng là võ thuật vô cùng cao thấy được cái chân tâm tự tính nơi bản thân siêu”(22). mình để giác ngộ thành Phật. Vậy phải tu Phương pháp tu luyện công phu của luyện nghiêm túc mới chứng ngộ được thiền đã giúp rèn luyện thân thể và tâm tính “Chân tâm” ấy. Chính sự tu tập công phu, của cả vua quan, tướng lĩnh, làm cho mối nhiều thiền sư đã tạo nên những kỳ tích hai quan hệ giữa tướng lĩnh và quân lính như lần chiến thắng giặc Tống ở thời Lý. Lý “là thầy giáo, là giáo sĩ, giáo chủ”(23). Chính Thường Kiệt cũng là người rất mộ đạo. vì tập hợp và xây dựng được một đội quân Tinh thần yêu nước đã được kết hợp với tinh nhuệ, lại có sự gắn bó chặt chẽ “đội lòng mộ đạo đã tạo ra một nhân cách lớn: quân cha con”(24), cộng thêm sự ủng hộ, “Thái úy tuy thân vướng việc đời mà lòng giúp sức của toàn dân, nên dù lực lượng vẫn luôn hướng về Tam thừa (chỉ tiểu thừa, trung thừa, đại thừa, tức là Phật giáo nói (19) Nguyễn Khắc Thuần (2007), Lần theo dấu xưa, chung) không ngừng hộ trì Phật pháp”(19). Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.5. (20) Viện Khoa học xã hội Việt Nam, (1993), Tuệ Vị tướng quân kiệt suất Trần Hưng Đạo Trung Thượng Sỹ với Thiền tông Việt Nam, (Kỷ yếu cũng là một người tu thiền: “Tiết chế đã đến hội thảo khoa học), Tp. Hồ Chí Minh, tr.126. chùa Vĩnh Nghiêm tọa thiền, không phải tự (21) Viện Khoa học xã hội Việt Nam (1993), Tuệ Trung Thượng Sỹ với Thiền tông Việt Nam, Sđd, tr.228. giác giải thoát cho mình, như thế chưa đủ (22) Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2012), Đạo pháp - dân trước thế giặc mạnh, mà phải cưu mang tộc - chủ nghĩa xã hội, Nxb Tổng hợp, Hà Nội, tr.350. (23) chúng sinh”(20). Trong Hịch tướng sĩ, tư Sđd, tr.351. (24) Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Văn tưởng thiền được thể hiện rõ: “Đã một lần học (1988), Sđd, tr.397. 47
- Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 8(93) - 2015 không nhiều, phương tiện chiến đấu còn của đất nước cũng có ảnh hưởng nhất định hạn chế nhưng quân dân Đại Việt đều lập và góp phần không nhỏ tạo nên sức mạnh nên chiến thắng vẻ vang trước những kẻ thù trên mặt trận quân sự - ngoại giao của Việt hùng mạnh. Hồ Quý Ly sau này cũng rất Nam. Đó là lý do nên tìm hiểu, tái hiện ảnh muốn tiếp nối tinh thần ấy nhưng đã không hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với làm được, quân đội của ông “trăm vạn quân sức mạnh chính trị, tư tưởng, quân sự thời như trăm vạn lòng”(25) nên đã nhanh chóng Lý - Trần, để học hỏi, để kế thừa và đồng thất bại và tan rã khi đối đầu với quân xâm thời cũng để loại bỏ những yếu tố không lược nhà Minh. Chính được rèn luyện bởi còn phù hợp.(25) tinh thần thiền định, đội quân nhà Trần mới có được sự đoàn kết, ý chí và lòng quả cảm Tài liệu tham khảo tạo nên sức mạnh quân sự. 1. Nguyễn Duy Hinh (1999), Tuệ trung, nhân sĩ, Như vậy, do chịu ảnh hưởng của nhân thượng sĩ, thi sĩ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. sinh quan Phật giáo mà vua, quan lại và 2. Nguyễn Hùng Hậu (1997), Lược khảo tư nhân dân thời Lý - Trần phần đông đều tưởng Thiền Trúc Lâm Việt Nam, Nxb Khoa học xã sống theo tinh thần nhân văn, nhân đạo của hội, Hà Nội. Phật giáo: hướng thiện bằng việc phục vụ 3. Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biên) (2003), Tiến nhân sinh, xã hội mà không màng đến danh trình lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội. lợi, địa vị cho bản thân. Vì vậy, triều đình 4. Lê Văn Quán (2008), Lịch sử tư tưởng chính đã tạo được: “Một cuộc chiến toàn diện, trị - xã hội Việt Nam từ Bắc thuộc đến thời kỳ Lý - toàn dân đánh giặc dưới sự lãnh đạo tài tình Trần, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. của một bộ tham mưu thống nhất, nhiều 5. Nguyễn Đăng Thục (1997), Thiền học Việt mưu lược”(26). Cũng bởi, xuyên suốt trong Nam, Nxb Thuận Hóa, Long An. phong thái hành đạo và hoạt động chính trị 6. Viện Khoa học xã hội Việt Nam, (1993), Tuệ của các thiền sư là thái độ “vô ngã, vị tha”, Trung Thượng Sĩ với Thiền tông Việt Nam (Kỷ yếu nên dù ảnh hưởng lớn đến chính trị, nhưng hội thảo khoa học), Tp. Hồ Chí Minh. Phật giáo không chủ trương xây dựng giáo 7. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1994), Kế quyền áp đặt lên trên quyền lực chính trị. sách giữ nước thời Lý - Trần, Nxb Chính trị quốc Ngay cả khi các thế lực Phật giáo đủ quyền gia, Hà Nội. uy có thể lật đổ ngai vàng nhưng đại diện 8. Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Văn của Phật giáo luôn giữ quan hệ hợp tác, học (1977 - 1988), Thơ văn Lý - Trần, t.1, 2, Nxb giúp đỡ triều đình tối đa, mà không có tham Khoa học xã hội, Hà Nội. vọng tranh giành quyền lực, nêu cao gương 9. Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1986), sáng về đạo đức, trí tuệ xuất thế, và họ Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt được cả triều đình và người dân kính trọng. Nam, Viện Triết học, Hà Nội. Ngày nay, ảnh hưởng của Phật giáo trên lĩnh vực tư tưởng vẫn còn khá rõ nét. Đồng (25) (1976), Nguyễn Trãi Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.130. thời lối ứng xử vị tha, nhân văn, từ bi của (26) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1994), Kế sách nhân dân trước những diễn biến chính trị giữ nước thời Lý - Trần, Sđd, tr.196. 48
- Triết lý nhân sinh của Thiền Đại thừa 49



