Thủ đô Hà Nội – Trái tim Việt Nam

pdf 142 trang ngocly 26/05/2021 60
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Thủ đô Hà Nội – Trái tim Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfthu_do_ha_noi_trai_tim_viet_nam.pdf

Nội dung text: Thủ đô Hà Nội – Trái tim Việt Nam

  1. THỦ ĐÔ HÀ NỘI – TRÁI TIM VIỆT NAM Hà Nội, thủ đô nước Việt Nam gồm các quận huyện như quận Ba Đình, Cầu giấy, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Hoàng Mai, Long Biên, Tây Hồ, Thanh Xuân, huyện Đông Anh, Gia Lâm, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm. Vài dòng lịch sử: - Năm 208 trước công nguyên An Dương Vương Thục Phán của nước Âu lạc đóng đô ở Cổ Loa - Thế kỉ thứ 5 thời Bắc thuộc đây là trung tâm quận Tống Bình - Thế kỉ thứ 6, Lý Bí (Lý Nam Đế 544-548) nổi lên chống chế độ đô hộ phương Bắc, xây thành ở cửa sông Tô Lịch, dựng chùa Khai Quốc (ngôi chùa này về sau dời về Hồ Tây và đổi tên là Trấn Quốc) - Đời Đường, Tống Bình đổi tên là Đại La, trung tâm An Nam đô hộ phủ - Năm 983, Ngô Quyền dành lại độc lập, đặt kinh đô ở Cổ Loa - Năm 1010, Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) dời đô từ Hoa Lư về. Thấy rồng vàng bay lên vua đặt tên thành là Thăng Long. Văn Miếu, chùa Một Cột, chùa Hòe Nhai được xây dựng từ đời Lý - Đời Trần, Thăng Long bị quân Nguyên đánh 3 lần nhưng đều toàn thắng - Đời Hồ, Thăng Long đổi tên thành Đông Đô với một Tây Đô mới ở Thanh Hóa - Quân Minh chiếm nước ta, đổi Đông Đô thành Đông Quan. Lê Lợi thắng quân Minh, năm 1430 đổi tên là Đông Kinh với một Tây Kinh là Lam Sơn (Lam Kinh) cũng ở Thanh Hóa - Đời Lê Trung Hưng với vua Lê chúa Trịnh, kinh đô lại lấy tên là Thăng Long với 36 phố phường - Năm 1788 quân Thanh kéo vào Thăng Long. Mùng 5 tết Kỉ Dậu, vua Quang Trung đánh trận Đống Đa, Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy - Năm 1831, đời Minh Mạng, địa danh Hà Nội bắt đầu xuất hiện. Nhà Nguyễn phá tòa thành các triều trước để xây một tòa thành nhỏ hơn - Năm 1873, Francis Garnier dẪN QUÂN Pháp chiếm Hà Nội, tổng đốc Nguyễn Tri Phương tử trận. Năm 1882, quân Pháp do Henry Riviere đánh chiếm Hà Nội, tổng đốc Hoàng Diệuthua trận tự vẫn. Người Pháp san bằng thành lũy Hà Nội, xây những khu phố tây, chọn Hà Nội làm thủ đô Đông Dương - Năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình - Năm 1946, Pháp tái chiếm trở lại đến năm 1954 thua trận phải rút về nước (chiến thắng Điện Biên Phủ) - Từ 1966 đến 1973 Hà Nội bị giặc Mỹ ném bom nhiều lần. - 1975 thống nhất đất nước và phát triển mạnh mẽ cho đến nay.
  2. Khí hậu Khí hậu Hà Nội là khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, mưa ít. Nằm trong vùng nhiệt đới, Hà Nội quanh năm tiếp nhận được lượng bức xạ mặt trời dồi dào và có nhiệt độ cao. Do chịu ảnh hưởng của biển, Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn. • Trung bình hằng năm, nhiệt độ không khí 23,6oC, độ ẩm 79%, lượng mưa 1245 mm • Mỗi năm có khoảng 114 ngày mưa. Hà Nội có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Sự luân chuyển của các mùa làm cho khí hậu Hà Nội thêm phong phú, đa dạng và có những nét riêng. • Từ tháng 5 đến tháng 8 là mùa hè: nóng và thi thoảng có mưa rào. • Từ tháng 9 đến tháng 11 là mùa thu. Thời tiết khô ráo, trời cao, xanh ngắt, gió mát, nắng vàng. • Từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau là mùa đông: Thời tiết lạnh, khô ráo. • Từ tháng 2 đến tháng 4 là mùa xuân: Cây cối xanh tốt với hàng ngàn loài hoa khoe sắc, mùa của những lễ hội truyền thống độc đáo, mở đầu là Tết nguyên đán, lễ hội lớn và quan trọng nhất của người Việt Nam. Nếu đi du lịch bạn nên đi vào mùa thu vì mùa thu là mùa đẹp nhất trong năm, thời tiết mát dịu đôi khi hơi lành lạnh sẽ đem lại cho bạn một cảm giác không nơi nào có được.
  3. DANH LAM THẮNG CẢNH Văn miếu - quốc tử giám Văn Miếu - Quốc Tử Giám là trường học cổ của kinh thành Thăng Long và là trường đại học đầu tiên ở vùng Đông Nam Á. Văn Miếu không những là một di tích lịch sử - văn hoá cổ kính, mà còn là nơi tổ chức các hoạt động văn hoá, khoa học đậm đà bản sắc dân tộc của thủ đô Hà Nội. Văn Miếu được xây dựng tháng 8 năm Canh Tuất, tức tháng 10 năm 1070 (đời vua Lý Thánh Tông) là nơi thờ các thánh hiền đạo nho (Khổng Tử, Mạnh Tử ). Sáu năm sau (1076), Lý Nhân Tông lập thêm Quốc Tử Giám ở kề phía sau, ban đầu là nơi học của các hoàng tử, sau mở rộng thu nhận cả những học trò giỏi trong thiên hạ. Văn Miếu có tường bao quanh xây bằng gạch Bát Tràng. Bên trong có những lớp tường ngăn thành năm khu. Khu thứ nhất bắt đầu với cổng chính. Trên cổng có chữ Văn Miếu Môn, dưới cổng có đôi rồng đá mang phong cách thời Lê Sơ (thế kỷ XV). Lối đi ở giữa dẫn đến cổng Đại Trung Môn mở đầu cho khu thứ hai. Hai bên còn có hai cổng nhỏ có tên là Thành Đức và Thành Đạt. Vẫn lối đi ấy dẫn tới Khuê Văn Các (gác vẻ đẹp của sao khuê, sao chủ về văn học). Hai bên gác có hai cổng nhỏ có tên là Súc Văn và Bí Văn (Văn hàm súc và Văn sáng đẹp). Khu thứ ba từ gác Khuê Văn tới Đại Thành Môn. Ở giữa khu này có một hồ vuông gọi là Thiên Quang Tỉnh (Giếng trời trong sáng) có tường hoa bao quanh. Hai bên là khu nhà bia (nơi dựng bia ghi tên những người đỗ tiến sĩ). Hiện nay có 82 bia, xưa nhất là bia ghi khoa Đại Bảo thứ ba (năm 1442), muộn nhất là bia Cảnh Hưng thứ 40 (năm 1779). Đó là những di vật quý nhất của khu di tích này. Bước qua cửa Đại Thành là tới khu thứ tư. Một sân rộng, hai bên là hai dãy nhà tả vu, hữu vu, vốn dùng làm nơi thờ các danh nho. Cuối sân là nhà Đại Bái, kiến trúc đẹp và hoành tráng.
  4. Tại đây có một số hiện vật quý: bên trái có chuông Bích Ung đại chung (chuông lớn của nhà Giám) do Nguyễn Nghiễm đúc năm 1768; bên phải có một tấm khánh đá, mặt trong có hai chữ Thọ Xương, mặt ngoài khắc bài minh viết kiểu chữ lệ, nói về công dụng của loại nhạc khí này. Tiếp sau Đại Bái là Hậu Cung nơi đặt tượng Khổng Tử và bốn môn đệ là Nhan Tử, Tăng Tử, Mạnh Tử, Tử Tư. Sau khu Đại Bái vốn là trường Quốc Tử Giám thời Lê, khi nhà Nguyễn chuyển trường này vào Huế thì ở đây dựng đền Khải Thánh thờ cha mẹ Khổng Tử. Năm 1947, giặc Pháp đã đốt trụi khu này. Ngày nay, thành phố Hà Nội đã lập tại đây "Trung tâm hoạt động văn hoá - khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám" để phát huy tác dụng của di tích. Đặc biệt trong năm 1999, thành phố đã khởi công xây dựng lại nhà Thái Học, một trong những công trình lớn chào mừng 990 Thăng Long - Hà Nội. Đền Bạch Mã Đền xưa thuộc phường Hà Khẩu, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, nay là số 3 phố Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.Đền thờ thần Long Đỗ, hiệu Quảng Lợi Bạch Mã đại vương (Thần Long Đỗ tức thần núi Long Đỗ, cũng gọi là núi Nùng, nơi tiếp nhận khí thiêng của sông núi kinh thành Thăng Long). Đền đầu tiên được dựng ở trên đỉnh núi Nùng. Đến đời Lý, núi Nùng được chọn để dựng khu Hoàng thành nên đền được dời về Hàng Buồm. Đền đã được sửa chữa nhiều lần, cuối thế kỷ 17 được tôn thêm nền cũ và mở rộng thêm. Năm 1781, chúa Trịnh chuẩn y cho dân các giáp Mật Thái, Bắc Thượng, Bắc Hạ, và Hà Khẩu xung quanh đền Bạch Mã được "tạo lệ" (sắm lễ vật tế, không phải sưu sai, tạp dịch khác). Năm 1829, sửa chữa thêm tráng lệ. Năm 1839 dựng thêm văn chỉ ở bên trái đền, dựng Phương đình để làm nơi cúng lễ các tuần tiết. Trong đền hiện nay còn lưu giữ được khá nhiều các hiện vật có giá trị như 15 văn bia (nội dung các văn bia đề cập đến sự tích của đền, thần, nghi lễ cúng thần, các lần trùng tu tôn tạo), các đồ thờ gồm các vũ khí thời cổ như xích, đao, thương, câu liêm được sơn son thếp vàng, chạm khắc tinh xảo. Trong đền, ngoài các lư hương đồng, bình đồng, còn có cả tượng Phật và một đôi hạc, đôi phỗng trong tư thế đứng trang nghiêm. Lễ hội đền hằng năm vào tháng Hai âm lịch, trước đây có tổ chức lễ đánh trâu rước xuân.
  5. Đền Quán Thánh Đền được lập từ khi Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long (1010). Vua cho rước bài vị của thần về ở phía Tây Bắc thành, gọi là Huyền Thiên Trấn Vũ đại đế quán. Quán là nơi thờ tự của đạo Giáo, dân chúng quen gọi là đền Trấn Vũ hoặc đền Quán Thánh. Đền hiện ở ngã tư đường Thanh Niên và đường Quán Thánh, đời Lê thuộc đất phường Thụy Chương, huyện Vĩnh Thuận, phía Nam Hồ Tây. Sự tích đền cho biết: Huyền Thiên Trấn Vũ là thần cai quản phương Bắc, đã nhiều lần sang giúp nước Việt đánh đuổi ngoại xâm: Lần thứ nhất, vào đời Hùng Vương thứ VI đánh giặc từ vùng biển tràn vào, Lần thứ hai, vào đời Hùng Vương thứ VII đánh giặc Thạch Linh Chuyện Huyền Thiên Trấn Vũ còn thêm chi tiết giúp dân trừ tà ma, yêu quái phá hoại đời sống yên lành vùng xung quanh thành Thăng Long: trừ rùa thành tinh (đời Hùng Vương 14), trừ cáo chín đuôi ở Tây Hồ, giúp An Dương Vương trừ tinh gà trắng xây thành Cổ Loa, diệt Hồ ly tinh trên sông Hồng ời Lý Thánh Tông Đến thời nhà Lê, các vua cũng thường đến đây để cầu mưa mỗi khi có hạn hán, những lời khấn thần còn ghi trong "Thiên Nam Dư hạ tập". Ngôi đền hiện nay đã được sửa chữa nhiều lần. Năm Đinh Tỵ niên hiệu Vĩnh Trị II (1677), đời Lê Hy Tông, chúa Trịnh Tạc sai đình thần là Nguyễn Đình Luân trùng tu. Tượng Huyền Thiên Trấn Vũ được triều đình cho đúc lại bằng đồng đen (hun). Tượng cao 3,07m, chu vi 8m. Tượng mặt vuông, mắt nhìn thẳng, râu dài, tóc xoã không đội mũ, mặc áo đạo sĩ, ngồi trên bục đá, tay trái bắt quyết, tay phải chống gươm có rắn quấn và chống lên lưng một con rùa. Tượng Huyền Thiên Trấn Vũ là một công trình nghệ thuật độc đáo, đánh dấu kỹ thuật đúc đồng và tài nghệ của dân ta cách đây 3 thế kỷ. Tại nhà bái đường còn một pho tượng nữa, nhỏ hơn, cũng bằng đồng đen, nhiều người cho rằng đây là tượng ông Trùm Trọng, người thợ cả đã chỉ huy việc đúc pho tượng Trấn Vũ. Tượng này là do các học trò của ông đúc để ghi nhớ công ơn của thầy. Cùng đúc với tượng là quả chuông cao gần 1,5m treo ở gác tam quan. Văn bia tại đền do trạng nguyên Đặng Công Chất và tiến sĩ Hồ Sĩ Dương soạn. Thời Tây Sơn, đô đốc Lê Văn Ngữ, cùng nhiều người nữa đã quyên tiền đúc chiếc khánh bằng đồng (chiều 1,10 x 1,25m) vào năm Cảnh Thịnh thứ hai. Đến đời Nguyễn, vua Minh Mạng đến thăm đền, đã cấp tiền tu sửa. Năm 1923 cho đổi là Trấn Vũ quán. Năm 1856, bố chánh Sơn Tây là Phạm Xuân Quế, bố chánh Hà Nội là Tôn Thất Giáo, tri huyện Vĩnh Thuận là Phan Huy Khiêm đã tổ chức quyên góp trùng tu, sửa lại chính điện, đình thiêu hương, bái đường và gác chuông, làm thêm hai dãy hành lang bên phải và bên trái, đắp lại 4 pho tượng đại nguyên soái, tượng thần Đương Niên hành khiển, Văn Xương Đế Quân và dời xuống hậu đường phía sau. Năm 1842, vua Thiệu Trị đến thăm và dâng một đồng tiền vàng, cộng với số tiền vàng do các hoàng thân dâng, đúc lại thành vòng. Vòng dùng sợi dây bạc xâu để treo ở cổ tay tượng thần. Đằng sau đền lại đắp hòn núi non bộ trong một bể con và dựng một đền nhỏ gọi là Vũ Đương Sơn. Sửa chữa xong, có dựng bia do tiến sĩ Lê Hy Vĩnh soạn. Đền hiện nay có 6 bia, kiến trúc, trang trí của đền hiện nay mang phong cách đời Nguyễn.
  6. Đền Voi Phục Sở dĩ gọi là đền Voi Phục vì tại cửa đền có đắp 2 con voi quỳ ngay ở cổng đi vào. Đền còn có tên là đền Thủ Lệ; Linh Lang do thờ thần Linh Lang đại vương. Đền nằm phía Tây kinh thành Thăng Long cũ, nay thuộc phường Cầu Giấy, quận Ba Đình, Hà Nội. Đền là một trong "Thăng Long tứ trấn", được dựng năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 7 (1065) đời Lý Thánh Tông. Tương truyền Linh Lang là con trai thứ 4 của vua Lý Thánh Tông. Trải qua những biến thiên của lịch sử và nhiều lần trùng tu nay đền không còn hình dáng cũ: Đền chính là địa bàn trận phục kích quân Pháp của quân dân ta ngày 21- 12-1873 và ngày 18-5-1882 (ngày2 tên quan 5 giặc là Villers và Henri Rivière đã tử trận). Năm 1947, giặc Pháp mở rộng chiến tranh, đánh lên Sơn Tây, đã đốt trụi đền Voi Phục. Đến năm 1953, dân vùng này đã quyên góp tiền và xây dựng lại, song không được như cũ. Từ năm 1954 đến nay cũng đã có nhiều đợt tu sửa nhỏ. Trong đền có hai pho tượng đồng và hòn đá to có vết lõm, tương truyền là nơi Linh Lang nằm gối đầu lên rồi hoá thành con giao long và trườn xuống hồ. Đầu năm 1994, nhân dân Thủ Lệ đã quyên góp đúc lại quả chuông chiều cao 93cm, đường kính miệng 70cm, thân chia 4 múi, mỗi múi có 2 hàng chữ Hán đúc nổi: "Tây trấn thượng đẳng". Đường vào đền có nhiều cây cổ thụ, đền được xây cạnh hồ Thủ Lệ, có khuôn viên rộng rãi, cây cối xanh um tùm nên được coi là một cảnh đẹp của thủ đô Hà Nội. Đình Kim Liên Đình trước đây thuộc địa phận phường Kim Hoa, sau thuộc phường Đông Tác, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức nay là phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội. Đình thờ thần Cao Sơn. Tương truyền thần đã có công giúp Sơn Tinh chiến thắng Thuỷ Tinh và sau này lại giúp vua Lê Tương Dực dẹp loạn, khôi phục nhà Lê. Do đó vua Lê cho xây đền, dựng bia để hương khói phụng thờ. Chịu ảnh hưởng của thăng trầm lịch sử, đến nay đình không còn nguyên dạng (toàn bộ nhà bái đường đã bị tàn phá), chỉ còn lại nhà hậu đường 3 gian, tam quan, cổng gạch và hai dải vũ. Tam quan và đình xây trên gò đất cao, từ sân bước lên phải qua 9 bậc gạch, hai bên thềm là hai sấu đá niên đại thời Lê. Tam quan xây thành nhà hoàn chỉnh, kiểu tường hồi bít đốc. Bốn góc tường hồi có bốn cột trụ, bốn bộ vì đỡ mái làm theo kiểu “chồng giường, giá chiêng, cột trốn”. Các con giường chạm nổi hình mây cuốn, câu đầu và hai bẩy hai vì ngoài chạm bong kênh và chạm lộng nhiều lớp hình tứ linh. Trong đình vẫn còn long ngai thờ thần Cao Sơn và hai nữ thần phối hưởng: Thuỷ Tinh đệ Tam Tôn nữ và Huệ Minh phu nhân (không rõ sự tích). Ngoài ra đình còn giữ được 39 đạo sắc phong trong đó 26 đạo thời Lê Trung Hưng, 13 đạo thời Nguyễn ngoài ra là các câu đối, bia đá ghi lại công lao, sự tích của thần Đình Kim Liên được coi là một trấn ở phía Nam thành Thăng Long, cùng với các trấn phía Bắc (Trấn Vũ), phía Đông (Bạch Mã), phía Tây (Linh Lang) họp thành Thăng Long Tứ Trấn tạo nên ý nghĩa và tầm vóc của mảnh đất kinh kỳ.
  7. Chùa một cột Chùa Một Cột là một quần thể kiến trúc gồm ngôi chùa và toà đài giữa hồ, vốn có tên là chùa Diên Hựu và đài Liên Hoa. Đài này từ lâu quen gọi là chùa Một Cột. Chùa xưa nằm ở phía Tây thành Thăng Long, thuộc thôn Ngọc Thanh, Ngọc Hà, nay là địa điểm phía sau Lăng Bác. Chùa được dựng trên một hồ hình vuông, giữa hồ có một cột đá, cao chừng hai trượng, chu vi chín thước, đầu trụ đặt một toà chùa ngói nhỏ, hình như một đoá hoa sen dưới nước mọc lên vì thế chùa có tên là chùa Nhất Trụ hay chùa Một Cột. Chùa được xây dựng từ năm 1049, tức năm đầu niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo vua Thái Tông nhà Lý. Tục truyền khi ấy vua Thái Tông tuổi đã cao mà chưa có con trai nên thường đến cầu tự ở các chùa. Một đêm vua nằm chiêm bao thấy đức phật Quan Âm hiện trên đài hoa sen trong một cái hồ vuông ở phía Tây thành, tay bế một bé trai đưa cho nhà vua. Sau đó quả nhiên nhà vua sinh con trai. Thấy ứng nghiệm, vua liền sai lập chùa để thờ phật Quan Âm. Khi chùa làm xong vua triệu tập toàn bộ các tăng ni phật tử ở kinh thành đứng chầu xung quanh, tụng kinh suốt bảy ngày đêm và lập thêm một ngôi chùa lớn bên cạnh để thờ chư phật gọi là chùa Diên Hựu. Năm 1105, vua Lý Nhân Tông cho sửa lại chùa, dựng lên một cây tháp bằng đá trắng trước chùa Diên Hựu gọi là tháp Bạch Tuynh. Tháp cao 13 trượng. Từ tháp vào chùa Một Cột đi bằng một hành lang cầu vồng. Mỗi tháng hai ngày Rằm, mồng Một, nhà vua cùng các hậu, phi, cung tần và cận thần tới chùa lễ phật. Đặc biệt cứ đến ngày 8 tháng Tư âm lịch hàng năm là ngày Phật sinh, nhà vua lại ngự ra chùa trước một đêm, giữ mình chay tịnh để làm lễ tắm phật ngày hôm sau. Ngày này rất đông các tăng ni phật tử và nhân dân các nơi tới dự, làm nên ngày hội lớn ở kinh đô. Trong ngày này, tại chùa có lễ phóng sinh. Lễ phóng sinh bắt đầu ngay sau lễ tắm phật, nhà vua đứng trên đài cao, tay cầm một con chim thả cho bay đi, sau đó đến các tăng ni và các thiện nam tín nữ đua nhau mỗi người thả một con, bóng chim bay rợp trời. Sử cũ chép vào năm Long phù thứ tám (1108), nhà vua cho xuất kho một vạn hai ngàn cân đồng để đúc một quả chuông lớn gọi là Giác thế chung (chuông thức tỉnh người đời), để treo ở chùa Diên Hựu. Lại xây một toà Phương đình bằng đá xanh cao tám trượng, trên nóc đình đóng những gióng sắt to để treo chuông. Nhưng chuông đúc xong đánh lại không kêu nên đành bỏ ngoài ruộng. Lâu ngày bị lãng quên, chuông thành tổ của rùa, vì thế chuông có tên Quy điền. Năm 1922 trường Viễn đông Bác cổ có sửa chữa lại chùa và giữ đúng theo kiến trúc cũ. Đêm 11-9-1954, bọn tay sai thực dân Pháp trước khi giao trả Thủ đô cho Chính phủ và nhân dân ta đã cố tình đặt mìn phá hoại chùa. Sau ngày tiếp quản Thủ đô, Chính phủ đã cho chiếu theo đồ dạng cũ, sửa chữa lại. Tháng 4-1955, chùa Một Cột được dựng hoàn nguyên như cũ. Cho đến năm 1958, nhân dịp Hồ Chủ Tịch đi thăm ấn Độ, nhân dân ấn đã kính tặng người cây Bồ đề của đất Phật và đã được trồng tại sân chùa.
  8. Thành Cổ Hà Nội Thành cổ xưa nằm trong một khuôn viên khá rộng, phía tây giáp phường Hoàng Diệu, phía đông giáp đường Nguyễn Tri Phương, phía nam giáp đường Trần Phú, phía bắc giới hạn bởi phố Phan Đình Phùng, thuộc quận Ba Đình. Năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, toà thành được xây dựng và mở rộng ở các vương triều sau. Thành Thăng Long được qui hoạch kiểu "Tam trùng thành quách" với ba vòng thành lồng nhau. Cấm thành, hay Long Phượng thành thời Lý - Trần ở trong cùng, là khu vực hoàng cung. Hoàng thành ở giữa bọc lấy khu kinh tế thị dân ở phía đông. Ngoài cùng là dải La thành hay Đại La thành. Năm 1805, nhà Nguyễn xây thành Hà Nội đã giữ lại khu vực Cấm thành làm hành cung cho vua ở mỗi khi tuần du phía bắc. Thời Pháp, khi phá thành Hà Nội, nguời Pháp cũng giữ lại khu này làm chỉ huy sở của quân đội. Năm công trình kiến trúc cổ còn sót lại sau khi Pháp phá thành Hà nội, tính từ phía nam lên bắc gồm các hạng mục sau: Cột cờ, cửa Đoan Môn, nền điện Kính Thiên, Hậu Lâu và cửa chính Bắc Môn. Cửa Đoan Môn là toà duy nhất còn được giữ lại trong tổng thể, bao gồm một vọng lầu có hai tầng, lầu trên tám mái, dưới gồm một lối vào mở năm cửa lớn. Phía trên cổng chính, mặt nam còn hàng chữ "Đoan Môn". Hiện nay Đoan Môn còn tương đối nguyên vẹn. Điện Kính Thiên, điện bị phá năm 1886 để làm toà nhà ban chỉ huy pháo binh (quân đội Pháp). Hiện chỉ còn lại những bậc thềm đá với hai hàng lan can rồng đá ở giữa, hai hàng lan can đá chạm khắc hai bên ở phía nam, phía bắc cũng có một bậc thềm trang trí rồng đá. Tam cấp ở điện Kính Thiên ở mặt nam có tất cả 10 bậc, mặt bắc có bảy bậc do những viên đá lớn ghép lại. Hậu Lâu, còn gọi là Lầu công chúa, xây bằng gạch, phía dưới hình hộp, trên là công trình kiến trúc ba tầng. Lầu dưới có ba tầng mái, lầu trên là hai tầng mái. Bắc Môn, có dạng hình thang mà hai bên là hình tam giác, lòng hình vòm cuốn xây bằng gạch, mép cửa kè đá hình chữ nhật, diềm trên bằng đá trang trí nền cánh sen. Phía bắc cửa có tấm biển đá viết chữ Hán "Chính Bắc Môn". Bên cạnh phía phải cũng gắn một tấm biển đá khắc ngày 25-4-1882 và hai vết đạn đại bác - dấu vết của cuộc chiến tranh với Pháp. Cửa thành vẫn còn, Vọng Lâu ở trên nền cổng thành đã bÞ phá. Thành phố đã làm lại Vọng Lâu để khôi phục lại vẻ đường bệ, chững chạc vốn có của nó. Năm điểm di tích trên tuy quy mô kiến trúc không lớn, song cùng với những di tích còn nằm lại dưới lòng đất minh chứng về một trung tâm chính trị, kinh đô của đất nước suốt gần nghìn năm lịch sử. Ở phía nam thành cổ Hà Nội, còn lưu lại một phần kiến trúc của trường đại học đầu tiên ở Việt Nam: Văn Miếu - Quốc Tử Giám khởi dựng vào đầu thế kỉ XI dưới thời nhà Lý. Thành cổ Hà Nội nằm ở khoảng giữa của Hồ Tây và Hồ Hoàn Kiếm là khu thành cổ Hà Nội. Thành Hà Nội cổ được xây từ thế kỷ XI, đã nhiều lần bị phá huỷ, xây lại rồi lại bị tàn phá. Lần tàn phá cuối cùng là vào cuối thế kỷ XIX. Toàn bộ tường thành và các cung điện cổ đã bị
  9. phá huỷ chỉ còn lại một vài di tích. Trên phố Phan Đình Phùng còn cửa bắc của thành xây bằng đá tảng và gạch nung rất kiên cố. Trên bờ tường vẫn còn dấu vết của đạn đại bác khi Pháp tấn công. Cột cờ Thành Hà Nội xây năm 1812 hiện nằm trên đường Điện Biên Phủ, cao 40m gồm ba nền thềm rộng và tháp cổ hình lăng trụ, bên trong có cầu thang xoắn ốc dẫn lên kỳ đài. Trong Thành Cổ chỉ còn dấu tích của các nền cung điện. Ở phía nam Thành cổ Hà Nội, còn lưu lại một phần kiến trúc của trường đại học đầu tiên ở Việt Nam: Văn Miếu - Quốc Tử Giám, cũng được khởi dựng vào đầu thế kỷ XI dưới thời nhà Lý. Ô Quan Chưởng Đây là một trong 21 cửa ô còn sót lại của toà thành Thăng Long cũ xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749), đến năm Gia Long thứ ba được xây dựng lại và giữ nguyên kiểu cách đến ngày nay. Hiện cửa ô còn nguyên cửa chính và hai cửa con hai bên, trên tường cửa chính có gắn một tấm đá đặt năm 1882 ghi lệnh cấm người canh gác không được sách nhiễu nhân dân mỗi khi qua lại cửa ô. Bên trên cửa lớn có ba chữ Hán "Đông Hà Môn" tức là cửa ô Đông Hà, tên gọi một phường thời Lê bao gồm khu vực Hàng Chiếu, Thanh Hà, Đào Duy Từ. Cửa ô còn có tên gọi khác là Ô Quan Chưởng. Tương truyền, tên gọi này bắt nguồn từ sự kiện năm Tự Đức thứ 26, khi thực dân Pháp đánh thành Hà Nội (20-11-1873), chúng kéo quân từ dưới tàu chiến đậu ở bến sông lên, khi bắt đầu qua cửa ô Đông Hà thì vấp phải sức kháng cự quyết liệt của quân Hà Nội do một viên quan chưởng cơ chỉ huy và bị thiệt hại khá nặng. Về sau Pháp có thêm viện binh. Kết cục, viên chưởng cơ cùng toàn thể binh lính gồm một trăm người đều anh dũng hy sinh. Để tỏ lòng ngưỡng mộ người chưởng cơ anh dũng, nhân dân đổi gọi cửa ô là ô Quan Chưởng. Tuy nhiên, sự kiện năm 1873 cho đến nay vẫn chưa được xác minh. Vì vậy, tên ô Quan Chưởng vẫn còn đó như một tồn nghi của lịch sử. Khu di tich Hồ Hoàn Kiếm Đẹp như một lẵng hoa giữa lòng thành phố, hồ Hoàn Kiếm được bao quanh bởi các đường phố Đinh Tiên Hoàng, Lê Thái Tổ, Hàng Khay. Ba con phố này dài khoảng 1.800m. Mặt nước là tấm gương lớn soi bóng la đà những cây cổ thụ, những rặng liễu thướt tha tóc rủ, những mái đền, chùa cổ kính, tháp cũ rêu phong, các toà nhà mới cao tầng vươn lên trời xanh. Trước đây hồ có tên là Lục Thủy vì sắc nước bốn mùa xanh trong. Thế kỉ XV, hồ Lục Thủy đổi tên là hồ Hoàn Kiếm (trả gươm), gọi tắt là hồ Gươm. Cái tên Hoàn Kiếm gắn liền với câu chuyện trả gươm cho rùa vàng của vua Lê Thái Tổ.
  10. Rùa là một trong bốn vật linh (Long, ly, quy, phượng) trong tâm thức văn hoá dân gian. Giống rùa quý này vẫn còn sinh sống trong lòng hồ, hằng năm có đôi lần nhô lên mặt nước. Thật hạnh phúc cho du khách nào nhìn thấy rùa nổi trên mặt hồ. Trong hồ có hai đảo nổi. Đảo lớn là đảo Ngọc ở phía bắc hồ, gần bờ đông, có cầu Thê Húc sắc đỏ uốn cong nối ra đảo. Đảo Rùa nhỏ hơn, trên có ngọn tháp cổ ở phía nam hồ, giữa bốn bề lung linh bóng nước. Hồ Hoàn Kiếm là nơi hội tụ, điểm hẹn của du khách bốn mùa: Mùa xuân đậm đà lễ hội truyền thống và rực rỡ sắc hoa đào. Mùa hạ ùa ra từng cơn gió lồng lộng, quạt đi cái oi bức của phố phường râm ran tiếng ve. Mùa thu với màn sương huyền ảo, dáng liễu mơ hồ như thực, như hư. Mùa đông, lá vàng trải thảm, những giọt mưa phùn bay lất phất mang theo hơi lạnh. Hồ Hoàn Kiếm mãi mãi là dấu ấn vẻ vang thời giữ nước và khát vọng hoà bình của dân tộc Việt Nam. Đền Ngọc Sơn Đền được xây dựng trên đảo Ngọc, trong Hồ Hoàn Kiếm cùng với Tháp Bút, Đài Nghiên, cầu Thê Húc (cầu đậu nắng ban mai), lầu Đắc Nguyệt (lầu được trăng), đình Trấn Ba (đình chắn sóng) và đền chính hợp thành cụm di tích lịch sử kiến trúc - nghệ thuật và danh lam, thắng cảnh tiêu biểu của thủ đô. Đảo Ngọc Sơn xưa được gọi là Tượng Nhĩ (tai voi), vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long đặt tên là Ngọc Tượng, đến thời Trần đổi thành Ngọc Sơn. Truyền thuyết kể rằng, ở gò trong hồ đá, có các tiên nữ thường về đây múa hát. Thời vua Lê, Chúa Trịnh xây cung Khánh Thụy ở Ngọc Sơn làm nơi vui chơi. Cuối thời Lê, xây chùa Ngọc Sơn thờ Phật. Đến thời Nguyễn, chuyển thành đền thờ Văn Xương - Đế Quân, rồi lại phối thờ Lã Động Tân, Quan Đế (tức Quan Vân Trường), phật A Di Đà và đặc biệt là tướng quân Trần Hưng Đạo. Điều này thể hiện quan niệm Tam giáo đồng nguyên của người Việt. Năm Tự Đức thứ mười tám (1865), nhà nho Nguyễn Văn Siêu đứng ra tu bổ lại đền. Đền mới sửa đắp thêm đất và xây kè đá chung quanh, xây đình Trấn Ba, bắc một cầu từ bờ đông đi vào gọi là cầu Thê Húc. Trên núi Độc Tôn cũ, ông cho xây một tháp đá, đỉnh tháp hình ngọn bút lông, thân tháp có khắc ba chữ "Tả Thanh Thiên" (viết lên trời xanh), ngày nay thường gọi đó là Tháp Bút. Tiếp đến là một cửa cuốn gọi là Đài Nghiên, trên có đặt một cái nghiên mực bằng đá hình nửa quả đào bổ đôi theo chiều dọc, có hình ba con ếch đội. Trên nghiên có khắc một bài minh nói về công dụng của cái nghiên mực xét về phương diện triết học. Người đời sau ca ngợi là: Nhất đài Phương Đình bút. Từ cổng ngoài đi vào có hai bức tường hai bên, một bên là bảng rồng, một bên là bảng hổ, tượng trưng cho hai bảng cao quý nêu tên những người thi đỗ, khiến cho các sĩ tử đi qua càng gắng công học hành. Tên cầu Thê Húc nghĩa là giữ lại ánh sáng đẹp của mặt trời. Cầu Thê Húc dẫn đến cổng đền Ngọc Sơn, còn gọi là Đắc Nguyệt Lâu
  11. (lầu được trăng) dưới bóng cây đa cổ thụ, ở giữa một vùng cây cối um tùm, trông như từ dưới nước nhô lên. Đền chính gồm hai ngôi nối liền nhau, ngôi đền thứ nhất về phía bắc thờ Trần Hưng Đạo và Văn Xương. Tượng đặt ở hậu cung trên bệ đá cao khoảng 1m, hai bên có hai cầu thang bằng đá. Tượng Văn Xương đứng, tay cầm bút. Phía nam có đình Trấn Ba (đình chắn sóng - ngụ ý là cột trụ đứng vững giữa làn sóng không lành mạnh trong nền văn hoá đương thời). Đình hình vuông có tám mái, mái hai tầng có tám cột chống đỡ, bốn cột ngoài bằng đá, bốn cột trong bằng gỗ. Tuy là một ngôi đền kiến trúc mới, song đền Ngọc Sơn là một điển hình về không gian và tạo tác kiến trúc. Sự kết hợp giữa đền và hồ đã tạo thành một tổng thể kiến trúc Thiên - Nhân hợp nhất, tạo vẻ đẹp cổ kính, hài hoà, đăng đối cho đền và hồ, gợi nên những cảm giác chan hoà giữa con người và thiên nhiên. Đền và hồ đã trở thành những chứng tích gợi lại những hoài niệm về lịch sử dân tộc, thức tỉnh niềm tự hào chính đáng, lòng yêu nước, cũng như tâm linh, ý thức mỗi người Việt Nam trước sự trường tồn của dân tộc. Tháp Hòa Phong Tháp đứng trên vỉa hè bên phía hồ Hoàn Kiếm đối diện với Trung tâm Ngoại vụ Bưu điện Hà Nội qua trục đường Đinh Tiên Hoàng. Đây là di vật còn sót lại của chùa Báo Ân, còn gọi là chùa Quan Thượng, một quần thể kiến trúc Phật giáo nổi tiếng một thời. Nguyên là vào giữa thế kỷ XIX ở chỗ này và toàn thể khu vực trung tâm Bưu điện có một ngôi chùa lớn. Khuôn viên hình tám cạnh gồm hai chục nếp nhà, nhà thờ Phật, nhà thờ Mẫu, nhà in Kinh, nhà cho các sư ở, cả thảy trên một trăm gian, bên trong trang trí rất tráng lệ. Ngoài chùa là hồ sen. Trước cửa chùa là ngọn tháp Hoà Phong. Chùa được xây dựng vào năm 1846 theo sáng kiến của Quan Thượng (chức quan đứng đầu tỉnh Hà Nội) Nguyễn Đăng Giai. Năm 1898, cùng với đà mở mang xây dựng đường phố mới, chùa bị phá hủy, chỉ còn ngọn tháp Hòa Phong. Đây là một loại tháp hiếm có ở Hà Nội, thuộc loại tháp bốn cửa, biến dạng của Stupa (một loại hình tháp của Phật giáo Ấn Độ). Bốn mặt tầng hai có hình bát quái. Bát quái ban đầu là công cụ chỉ phương hướng, theo vũ trụ quan Trung Hoa. Tháp Hòa Phong là tổng hợp những quan niệm về vũ trụ của Phật giáo. Hồ Tây Hồ Tây, mặt gương của Hà Nội, lá phổi của chốn Long thành có diện tích rộng hơn 500 ha với một bề dày lịch sử mấy nghìn năm. Đường vòng quanh hồ dài tới 17km. Ngành địa lý lịch sử đã chứng minh rằng hồ là một đoạn sông Hồng cũ còn rớt lại sau khi sông đã đổi dòng Có thể do sông hồ biến đổi như vậy mà đã xuất hiện nhiều truyền thuyết về hồ và tên gọi của hồ.
  12. Ví như theo truyện "Hồ Tinh" thì có tên là hồ (hoặc đầm) Xác Cáo, vì truyện kể là có một con cáo chín đuôi ẩn nấp nơi đây làm hại dân. Long Quân mới dâng nước lên phá hang cáo, hang sập thành ra hồ. Theo truyện "Khổng lồ đúc chuông" thì hồ lại có tên là Trâu Vàng. Truyện kể rằng có ông khổng lồ có tài thu hết đồng đen của phương bắc đem đúc thành chuông. Khi thỉnh chuông, tiếng vang sang bên bắc. Vì đồng đen là mẹ vàng nên con trâu vàng phương Bắc nghe tiếng chuông liền vùng đi tìm mẹ. Tới đây nó quần mãi đất, khiến sụt thành hồ. Theo thư tịch thì thế kỷ XI, hồ này đi vào lịch sử với tên là Dâm Đàm (Đầm mù sương), tới thế kỷ XV thì đã gọi là Tây Hồ. Hồ còn có tên là Lãng Bạc, trùng với tên nơi diễn ra những trận đánh ác liệt giữa quân của Hai Bà Trưng và quân Hán ở vùng Tiên Sơn tỉnh Bắc Ninh Hồ Tây từ lâu lắm đã là thắng cảnh. Thời Lý - Trần, các vua chúa lập quanh hồ nhiều cung điện làm nơi nghỉ mát, giải trí, như cung Thúy Hoa thời Lý, điện Hàm Nguyên thời Trần nay là khu chùa Trấn Quốc, cung Từ Hoa thời Lý nay là khu chùa Kim Liên, điện Thuỵ Chương thời Lê nay là khu trường Chu Văn An Những ngày sóng yên gió lặng, chơi thuyền Hồ Tây là một thú tao nhã. Lướt trên sóng hồ nhiều thi sĩ đã có những vần thơ tuyệt tác như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến Nếu làm một cuộc đi dạo quanh hồ thì đồng thời cũng được thăm khá nhiều di tích và thắng cảnh. Làng Nghi Tàm, quê hương nhà thơ "Bà huyện Thanh Quan" với chùa Kim Liên có kiến trúc độc đáo; làng Nhật Tân nguồn hoa đào mỗi độ xuân về, tương truyền là nơi Lạc Thị đời Hồng Bàng sinh ra một bọc trứng nở thành bảy con rồng. Rồi làng Xuân Tảo với đền Sóc thờ Thánh Gióng, làng Trích Sài có chùa Thiên Niên thờ bà tổ nghề dệt lĩnh, sang làng Kẻ Bưởi có nghề làm giấy cổ truyền và đền Đồng Cổ nơi bách quan hội thề thời Lý, làng Thụy Khuê có chùa Bà Đanh nổi tiếng một thời Và đặc sắc nhất là đền Quán Thánh. Lại còn cả một số công trình nhà ở mới xây dựng bên hồ làm quang cảnh thêm đa dạng. Cùng với hồ Trúc Bạch, Hồ Tây làm giàu thêm chất thơ ở nội thành Hà Nội đồng thời cũng làm giàu cho Hà Nội về kinh tế, vì đó là những vựa cá đem lại nguồn thu lớn. Hồ Trúc Bạch Hồ Trúc Bạch cách Hồ Tây bởi con đường Thanh Niên. Đường Thanh Niên có từ năm 1957 - 1958 theo ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau khi hồ được thanh niên học sinh Hà Nội lao động trong những ngày thứ bảy cộng sản mở rộng như ngày nay. Trước gọi là đường Cổ Ngư, hình thành từ một con đê hẹp được đắp ngăn một góc Hồ Tây. Hồ Trúc Bạch có từ thế kỉ XVII khi dân hai làng Yên Hoa (nay là Yên Phụ) và Yên Quang (nay là phố Quán Thánh) đắp con đê ngăn góc đông nam Hồ Tây để nuôi bắt cá. Từ khi thành một hồ biệt lập, hồ đã đi vào thư tịch cổ. Sách "Tây Hồ chí" cho biết nguyên ở phía nam hồ có làng Trúc Yên, có nghề làm mành, do đó nhà nào cũng trồng trúc, trúc mọc như rừng. Thời chúa Trịnh Giang (1729 - 1740) xây ở
  13. đây một cung điện gọi là Viện Trúc Lâm. Về sau, viện trở thành nơi giam cầm những cung nữ có lỗi, phải dệt lụa để mưu sinh. Lụa đẹp, bóng bẩy, nổi tiếng khắp kinh thành, gọi là lụa làng Trúc. Ven hồ Trúc Bạch có nhiều di tích lịch sử và công trình kiến trúc đặc sắc như đền Quán Thánh ở ngay góc tây nam hồ. Phía đông có chùa Châu Long (phố Châu Long), tương truyền xây từ thời Trần, là nơi tu hành của công chúa con vua Trần Nhân Tông. Có đền An Trì, nơi thờ Uy Đô, một anh hùng chống quân Nguyên. Ba phía chung quanh hồ phố xá che khuất, chỉ có phía tây giáp đường Thanh Niên mới bày ra vẻ đẹp êm ả phẳng lặng của mặt hồ. Phía bắc hồ có một gò đất nhỏ, trên gò có đền thờ Cẩu Nhi gắn với chuyện Lý Công Uẩn dời đô. Lý Công Uẩn sinh năm Giáp Tuất (974), dời đô năm Canh Tuất (1010). Mà "Tuất" là "chó" - một trong 12 con vật theo lịch âm. Trong tín ngưỡng cổ truyền chó là con vật có khả năng xua đuổi tà ma, bảo vệ đất đai. Huyền thoại kể rằng trước ngày Lý Công Uẩn dời đô, có một con chó tới làm ổ đẻ con trên đỉnh núi Nùng, nơi này sau dựng "Chính điện đài" và lập bên điện ngôi đền thờ chó mẹ và chó con. Đến triều đại sau, đền thờ Cẩu Nhi được dời ra ngoài hoàng thành, dựng trên gò trong hồ Trúc. Hồ Trúc Bạch cùng với công viên Lý Tự Trọng và Hồ Tây tạo thành một tổng thể thiên nhiên hài hoà, làm thành một thắng cảnh đẹp của thủ đô Hà Nội. Khu di tích phủ Chủ tịch Phủ Chủ tịch là toà nhà bốn tầng nhìn ra đường Hùng Vương, được xây dựng năm 1901. Thời Pháp thuộc, đây là nơi ở và làm việc của Toàn quyền Pháp ở Đông Dương (có tên là Phủ Toàn quyền). Hiện nay, địa điểm này là nơi các vị đứng đầu Nhà nước ta tiếp đón các đoàn khách quan trọng nước ngoài và là nơi để các đại sứ các nước đến trình quốc thư. Tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì nhiều cuộc họp Hội đồng Chính phủ. Quảng trường Ba Đình Hà Nội là trái tim của nước Việt Nam, Quảng trường Ba Đình là trái tim của Hà Nội. Tại đây đã diễn ra những sự kiện trọng đại của thủ đô và cả nước. Ngày trước, đây vốn là khu vực cửa tây của thành Hà Nội cổ. Thực dân Pháp phá thành làm một vườn hoa nhỏ gọi là điểm tròn Pugininer. Năm 1945 mới có tên là vườn hoa Ba Đình. Chữ Ba Đình là để gợi nhớ dải đất Ba Đình ở tỉnh Thanh Hoá, nơi đã nổ ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp kéo dài từ tháng 9 -1886 đến tháng 1-1887.
  14. Quảng trường là nơi chứng kiến hàng trăm nghìn người về dự lễ Độc lập ngày 2-9-1945. Ngày 9-9- 1969, sáu ngày sau khi Hồ Chủ tịch qua đời, tại Quảng trường này, đồng bào thủ đô và các địa phương cùng 34 đoàn đại biểu quốc tế đã tới đây dự lễ truy điệu trọng thể vị Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hoá kiệt xuất. Ngày nay, mặt chính của quảng trường là Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trước lăng là khoảng không gian rộng lớn với 320m chiều dài và 100m chiều rộng, đủ chỗ cho 200 nghìn người dự mít tinh. Quảng trường có 168 ô cỏ bốn mùa xanh tươi. Chính giữa là cột cờ cao 30 mét. Quảng trường Ba Đình đã trở thành không gian thiêng liêng của thủ đô Hà Nội. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh Lăng là nơi giữ gìn thi hài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có mặt chính nhìn ra Quảng trường Ba Đình lịch sử. Đây là kết quả lao động sáng tạo của các nhà khoa học Nga và Việt Nam. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là nơi an nghỉ vĩnh hằng của người lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Lăng chính thức được khởi công ngày 2-9-1973, tại vị trí của lễ đài cũ giữa quảng trường Ba Đình, nơi Bác Hồ đã từng chủ tọa các cuộc mít tinh lớn. Lăng được khánh thành vào ngày 29-8-1975. Toàn bộ khu di tích lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh rộng 14 ha. Lăng cao 21,6m gồm ba lớp. Lớp dưới tạo dáng bậc thềm là lễ đài dành cho Đoàn Chủ tịch trong các cuộc mít tinh. Lớp giữa, phần trung tâm của lăng gồm phòng thi hài và những hành lang, cầu thang lên xuống. Quanh bốn mặt là những hàng cột vuông ốp đá hoa cương, nhìn từ bên ngoài, mặt nào cũng thấy năm khoảng đều nhau, gợi nhớ ngôi nhà năm gian truyền thống Việt Nam. Lớp trên cùng là mái lăng hình tam cấp bằng đá hồng ngọc mầu mận chín. Nhìn tổng thể lăng có hình bông hoa sen cách điệu. Trước mặt lăng có cột cờ cao 30m. Hàng tre ngà hai bên biểu tượng hình ảnh làng quê Việt Nam. Hai bên trái và phải ở mặt trước lăng được trồng 18 cây vạn tuế (mỗi bên chín cây). Vào gần hơn, hai bên cửa lăng là hai cây đại, tượng trưng cho sự trong sáng, thanh cao của Bác Hồ. Ở mặt chính lăng có dòng chữ Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng đá hồng ngọc màu mận chín. Hai bên lăng là vườn cây, hoa quả tiêu biểu của các vùng quê Việt Nam bốn mùa tươi tốt, quần tụ toả bóng mát và trổ hoa. Bước vào phòng ngoài, trước mặt trên tường đá hoa cương màu đỏ sẫm có hàng chữ vàng óng ánh "Không có gì quí hơn độc lập tự do", dưới đó là chữ ký quen thuộc của Bác. Lên hết cầu thang là tới phòng thi hài, nơi Bác an nghỉ. Phía đầu Bác nằm, trên nền tường ốp đá trắng gắn nổi hình cờ Đảng và cờ Tổ quốc. Hòm kính có thi hài Bác bên trong đặt trên đài hoa đước ghép bằng đá đen huyền lấp lánh muôn ngàn hạt sáng. Cách bố trí lối đi từ ba phía cho phép mọi người chiêm ngưỡng Bác được lâu hơn,
  15. lối đi rộng, nên nhiều người cùng lúc đều được nhìn thấy Bác. Qua lớp kính trong suốt, Bác như vừa ngả lưng chợp mắt. Vẫn bộ quần áo ka-ki bạc mầu, dưới chân Bác vẫn là đôi dép cao su giản dị. Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh là nơi an nghỉ vĩnh hằng của Người, là biểu tượng lòng tôn kính và biết ơn vô hạn của dân tộc Việt Nam đối với lãnh tụ của mình. Nhà sàn Bác Hồ Trong khu vườn rộng sau Phủ Chủ tịch, có một con đường hẹp trải sỏi, hai bên trồng xoài dẫn tới một ngôi nhà sàn nhỏ nhắn bình dị, nằm giữa những vòm cây. Hàng rào dâm bụt bao quanh nhà, cổng vào kết bằng cành cây đan xen nhau. Đó là ngôi nhà Bác Hồ ở và làm việc từ ngày 17-5-1958 cho tới khi Người qua đời. Tầng dưới nhà sàn là nơi Bác thường họp với Bộ Chính trị. Tầng trên là hai phòng nhỏ, nơi Bác làm việc và phòng ngủ với những vật dụng đơn sơ giản dị. Trước nhà là ao cá Bác nuôi, bên bờ ao là các loài hoa phong lan nở quanh năm. Nhân dân từ mọi miền đất nước cũng như du khách quốc tế đến thủ đô Hà Nội, ai cũng muốn đến viếng lăng, thăm nhà ở của Bác và đi dạo quanh Quảng trường Ba Đình lịch sử. Sau nhà là vườn quả với hàng trăm loài cây quý do các địa phương đưa về trồng, như cây vú sữa của đồng bào miền nam gửi biếu Bác năm 1954, bưởi Phúc Trạch, Biên Hòa, Mê Linh; cam Hải Hưng, Xuân Mai, Vân Du, Xã Đoài; quýt Hương Cần, Lý Nhân; táo Thiện Phiến, Ngọc Hồ; song mai Đông Mỹ; hồng Tiên Điền (quê hương nhà thơ Nguyễn Du). Trong vườn còn có cả những loại cây từ nước ngoài như ngàn hoa, cây bụt mọc quanh ao, cây cau vua gốc từ Caribê Khu phố cổ Ở Việt Nam, ngoài Hội An, chỉ có Hà Nội là còn giữ được một số ngôi nhà cổ. Do khí hậu, thời tiết, chất liệu, nguyên vật liệu xây dựng và do cả chiến tranh, diện mạo của khu phố cổ như hiện thấy chỉ có từ cuối thế kỷ XIX. Nhưng theo các nguồn sử liệu khác nhau thì khu phố này đích thực là nhân lõi của kinh đô Thăng Long từ khi mới thành lập, tức là đã có tới gần ngàn năm tuổi. Nói về địa giới không gian khu phố cổ thì có thể coi đó là một hình tam giác cân có đỉnh là phố Hàng Than, cạnh phía đông là đê sông Hồng, cạnh phía tây là phố Hàng Cót, Hàng Điếu, Hàng Da, còn là trục Hàng Bông - Hàng Gai - Cầu Gỗ. Trước khi người Pháp đến, các phố đều chung một dáng dấp, chi chít dọc ngang kiểu bàn cờ, phần lớn mang
  16. tên gọi của mặt hàng sản xuất hay kinh doanh tại những nơi đó: Hàng Đường, Hàng Bạc, Hàng Bồ Tất cả các ngôi nhà hai bên đường đều theo kiểu "nhà ống". Nhà như một cái ống, bề ngang hẹp, chiều dài sâu có khi thông ra một ngõ khác, phố khác. Bố cục cũng tương tự như sau: Gian ngoài là chỗ bán hàng hoặc làm hàng. Tiếp đó là một khoảng sân lộ thiên để lấy ánh sáng. Trên sân có bể cạn (trong có hòn non bộ, thả cá vàng), quanh sân là các cây cảnh, giàn hoa. Gian nhà trong mới là nơi ăn ở và nối vào đó là khu phụ. Phần lớn là nhà một tầng lợp bằng những viên ngói nhỏ nhắn, với nét đặc trưng là hai bức tường hồi vượt lên khỏi mái, xây dật cấp như những bậc thang và đầu nóc là hai trụ đấu ngộ nghĩnh. Cũng có một số nhà xây thêm tầng gác nhưng thấp và không mấy khi trổ cửa sổ, nếu có thì rất nhỏ (vì các triều đại cũ cấm dân không được nhìn mặt vua, nhất là nhìn từ trên cao, khi vua ngự giá trên đường). Nhà ống ở khu phố cổ Hà Nội bé nhỏ, bình dị, vừa là xưởng sản xuất thủ công, vừa là nơi sinh hoạt của gia đình. Người mua kẻ bán vào mọi thời điểm, đem lại cảnh tượng tấp nập và nhà cạnh nhà, liền mái, liền tường, sum vầy nâng đỡ nhau. Cái hấp dẫn của khu phố cổ Hà Nội chính là tổng thể do người xưa đã sắp xếp thành một cơ thể đầy sống động, khăng khít, gắn bó, kề tựa mà tồn tại, sinh sôi Bên cạnh các nhà ống còn phải kể tới các đình chùa, đền miếu rải rác trong nhiều đường phố. Những công trình này trước hết là các nơi thờ của các làng thôn phường cũ, như đình 38 Hàng Đường là của làng Đức Môn, một làng mà phố Hàng Đường chạy qua nay là chùa Huyền Thiên. 54 Hàng Khoai là chùa của làng cùng tên, nay là đất đai phố Hàng Khoai. Các công trình đó phản ánh gốc gác của cư dân kinh thành từ nhiều nơi khác về làm ăn, như đình Hoa Lộc 90 Hàng Đào là của phường nhuộm màu ở Đan Loan (Hải Hưng) lập ra, đình Tú Đình Thị 2A ngõ An Thái là nơi thờ tổ nghề thêu dân làng thêu Quất Động (Hà Tây) dựng nên Mặt khác, sự tồn tại của các đình miếu còn là bằng chứng về tâm linh người Hà Nội cũ. Bên cạnh sự hoà đồng với tự nhiên và cộng đồng xã hội, người Hà Nội luôn luôn tìm cách hoà đồng với một thế giới tâm linh, vì cùng với một không gian đô thị vật chất, vẫn tồn tại một không gian đô thị mang màu sắc huyền thoại, thiêng liêng, ở đó có thể giao hoà cùng với quá khứ chứa chất sức mạnh tiềm ẩn. Ngày nay, qua các biến động của lịch sử, qua sự thích ứng với đời sống xã hội, khu phố cổ có biến dạng, nơi ít nơi nhiều, song bóng dáng của thời xưa dù chỉ là của thế kỷ XIX song cũng đã là dư trăm tuổi vẫn còn lưu lại ở dăm căn nhà này, ở vài đoạn phố kia và đặc biệt ở cái không gian văn hoá vẫn đậm đà hương vị cổ. Cho nên, khu phố cổ với những ngôi nhà ống nhỏ nhắn xinh xắn, những con đường ăm ắp người đi, những đền chùa mái cong mềm mại, lại còn cả những không gian, cây xanh mượt mà và ngọt ngào hương tất cả đã làm nên một vẻ đẹp chỉ thành phố Hà Nội mới có. Từ cuối những năm 80 thế kỷ XX, khi có chính sách đổi mới, đời sống kinh tế được cải thiện, việc buôn bán phát triển, rất nhiều nhà trong khu phố cổ bị sửa chữa và xây lại với kết cấu cột sàn bê tông ba, bốn tầng làm mất dần vẻ đẹp kiến trúc cổ kính truyền thống. Khu phố cổ Hà Nội vẫn là một "kỷ niệm" mà người xưa gửi cho người ngày nay để rồi truyền lại cho đời sau. Chính quyền thành phố đang có những dự án để bảo vệ và tôn tạo quỹ đô thị quý hiếm này.
  17. Kiến trúc thời Pháp thuộc Cuối thế kỷ XIX, từ năm 1883, người Pháp chiếm Hà Nội. Đến năm 1886 đã có một quy hoạch cho một thành phố Hà Nội mới. Ban đầu tập trung cải tạo khu quanh hồ Hoàn Kiếm. Sau đó, lấp hồ ao, lấp cả sông Tô Lịch và rồi phá toà Thành Cổ (năm 1894 - 1896) và toà luỹ đất. Các phố cổ được uốn lại cho thẳng hàng và thêm các công trình hạ tầng. Tại đây một số nhà cổ được xây lại kiên cố hơn vẫn theo kiến trúc cổ. Một số xây theo kiểu "Tây" một, hai hoặc ba tầng, chịu ảnh hưởng của vật liệu xây dựng mới và hình thức trang trí Châu Âu. Lần lượt xuất hiện các "khu phố Tây", một ở quanh ngôi thành cũ vừa bị phá và một ở phía nam hồ Hoàn Kiếm. Cạnh đó là khu Nhượng địa đã quy hoạch từ ngày đầu chiếm đóng. Ba khu này quen gọi gộp lại là "khu phố cũ": Khu nhượng địa hình chữ nhật mà hai cạnh dài là đường Bạch Đằng và phố Lê Thánh Tông - phố Trần Nhân Tông, hai cạnh ngang là đoạn đầu phố Tràng Tiền và phố Nguyễn Huy Tự. Đây nguyên là đồn thuỷ quân của Hà Nội cổ, tháng 8-1875 bị buộc phải nhượng hẳn cho quân đội Pháp xây doanh trại, dinh thự và bệnh viện. Đây là những công trình kiến trúc mái lợp đá ngói đen, mặt có hàng lang chạy xung quanh, nhà cuốn hình cung. Dinh thự Tổng tham mưu trưởng quân Pháp (nay là Nhà khách Bộ Quốc Phòng) còn mang trên nóc hàng chữ số ghi năm xây dựng 1874-1877. Bệnh viện La-net-xăng (nay là Quân y Viện 108 và Bệnh viện Hữu Nghị) được khánh thành năm 1893. Khu thành cũ gồm các phố Phan Đình Phùng, Hùng Vương, Hoàng Diệu, Điện Biên Phủ, Lê Hồng Phong, Chu Văn An, Trần Phú. Việc giải phóng mặt bằng dễ dàng (đất trong thành cũ) nên việc xây dựng có nhiều thuận tiện. Đường phố rộng, dài, vỉa hè cũng rộng với hệ thống cây xanh phong phú. Phủ Toàn quyền cũ, nay là Phủ Chủ tịch, được xây dựng trong năm 1900-1902, bề thế, hài hoà. Đặc biệt các biệt thự ở đây thường theo kiến trúc miền bắc nước Pháp, mái dốc, các chi tiết trang trí ở cửa, ở nóc diêm dúa, tỉ mỉ. Khu nam hồ Hoàn Kiếm là một hình chữ nhật mà hai cạnh dài nay là phố Tràng Thi - phố Tràng Tiền và phố Trần Hưng Đạo, hai cạnh ngang là phố Phan Bội Châu và phố Phan Chu Trinh. Khu vực này được xây dựng đồng thời với khu thành cũ song quy trình quy hoạch có chậm hơn vì phải giải toả nhiều làng xóm. Nhà Hát Lớn xây năm 1902 - 1911 theo kiểu Ô-pê-ra ở Pari. Một số công sở có quy mô lớn như Công ty Hoả xa Vân Nam (nay là trụ sở Tổng Công đoàn ở ngã ba phố Trần Hưng Đạo - phố Quán Sứ) được xây xong năm 1902, trường đại học ở phố Lê Thánh Tông năm 1904, Phủ Thống sứ (nay là Nhà khách Chính phủ số 10 phố Ngô Quyền năm 1919). Ở khu này, phần lớn cũng là biệt thự nhưng mái không dốc, nhiều cửa, theo kiến trúc nam Pháp. Ở các khu trên, tới những năm 20 và 30 thế kỷ XX, xuất hiện các công trình kiến trúc theo xu hướng kết hợp phong cách Á Đông. Một số có giá trị thẩm mỹ cao như Viện Bảo tàng Finot (hay là Bảo tàng Lịch sử) 1928 - 1932, Sở Tài chính (nay là Bộ Ngoại giao, 1929 - 1931), Viện Pa-xtơ 1930, đại sảnh
  18. trường đại học ở phố Lê Thánh Tông 1928 Cả ba khu trên nay được gọi là khu phố cũ. Đây cũng là một quỹ đô thị rất đặc trưng, quý giá của Hà Nội. Có thể sơ bộ nêu lên một số giá trị sau đây của quỹ đô thị này: - Hệ thống quy hoạch phố xá, quy mô và tỷ lệ kiến trúc của các công trình ăn nhập với cơ thể đô thị Hà Nội vốn có. - Hầu hết các loại hình công trình được xây cất ở các đường phố này đều biểu hiện của những tìm tòi trong kiến trúc, theo hướng thích nghi của môi trường truyền thống và thiên nhiên của Hà Nội, hầu hết được thiết kế với lựa chọn cao về thẩm mỹ. - Các đường phố góp phần lớn trong việc tạo lập ra bản sắc kiến trúc đô thị của Hà Nội, một thành phố hài hoà, xinh đẹp, xanh tươi, một thành phố mang nhiều tính nhân văn, điều mà các đô thị trên thế giới đang bị mất dần Hà Nội hiện đại Vào những năm 60 - 70 thế kỷ XX, Nhà nước đã xây một loạt các khu nhà tập thể theo kiểu nhà lắp ghép với các căn hộ nhỏ, giống hệt nhau như khu Kim Liên, Trung Tự, Giảng Võ, Thành Công, Thanh Xuân Bắc Mười năm trở lại đây, thành phố mở rộng thêm các đường Giải Phóng, Nguyễn Văn Cừ, Láng Hạ, Ngọc Khánh, Thái Hà. Khu biệt thự ven Hồ Tây Các khối nhà lớn cao tầng của các cơ quan xen kẽ với các nhà của tư nhân mọc lên nhanh chóng. Hà Nội đang trong thời kỳ bùng nổ về xây dựng, bộ mặt kiến trúc thay đổi hằng ngày. Sau khi hoàn thành hàng mấy chục khối nhà cao tầng này đã và sẽ làm thay đổi hình ảnh của Hà Nội. Hà Nội đã và đang mở rộng nhiều dự án lớn như các khu nam cầu Thăng Long, bắc cầu Thăng Long, Du lịch Hồ Tây, Định Công, Bắc Linh Đàm với sự hợp tác và đầu tư của nước ngoài. Việc giải quyết các vấn đề của cơ sở hạ tầng kỹ thuật, bảo vệ cảnh quan môi trường, giữ gìn vẻ đẹp kiến trúc quý giá vốn có của Hà Nội là một nhiệm vụ rất quan trọng.
  19. Công viên Bách Thảo Công viên Bách Thảo nằm phía sau lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Phủ Chủ tịch, diện tích khoảng 20 ha nguyên là đất của phường Khán Xuân xưa. Có hai lối vào, một lối ở đầu phố Hoàng Hoa Thám, một lối ở giữa phố Ngọc Hà. Năm 1890, thực dân Pháp lập khu vườn trồng cây, nuôi muông thú và đặt tên là vườn thảo mộc nhưng nhân dân ta quen gọi là Trại hàng hoa hay vườn Bách thú. Đại chiến thế giới thứ hai (1939-1945) chim muông chết dần vì không được chăm sóc. Số thú còn lại được chuyển vào Sở thú Sài Gòn. Sau ngày giải phóng thủ đô, chính quyền ta sửa sang tu bổ và đổi tên là công viên Bách Thảo. Ở góc phía tây bắc công viên, có một gò cao, ngày trước trồng nhiều cây sa nên có tên gọi là núi Sa. Đỉnh núi có một ngôi miếu cổ, thờ Huyền Thiên Hắc Đế, một cậu bé tương truyền có công giúp Vua Lý đánh giặc ngoại xâm. Công viên Bách Thảo có nhiều rặng cây cổ thụ cành lá sum suê, tán rộng, bóng dài, nhiều bồn hoa đẹp mắt, những lối đi uốn lượn quanh co, hoa sen, hoa súng khoe mình trên mặt hồ. Công viên Chi Lăng Nằm gọn giữa ba đường Trần Phú, Hoàng Diệu và Điện Biên Phủ, công viên xinh xắn này mang tên trận thắng giặc Minh xâm lược ngày 10-10-1427 tại ải Chi Lăng (Lạng Sơn) đập tan đạo quân chi viện do Liễu Thăng chỉ huy, dẫn đến giải phóng Đông Đô. Công viên Chi Lăng nguyên là một cái hồ trong thành (đường Trần Phú là tường thành phía nam) dùng cho quân lính tắm nên gọi là hồ Voi. Từ 1894-1897, sau khi phá thành Hà Nội Pháp quy hoạch lại thành phố, lấp hồ Voi, lập công viên. Vì ở góc công viên phía đường Hoàng Diệu có một cụm tượng bốn mặt bệ là bốn tầng lớp dân bản xứ: sĩ, nông, công, thương, mặt trước là tượng người nông dân vác cày, dắt trâu nên cũng quen gọi là vườn hoa Canh Nông. Năm 1985, tại đây đã đặt bức tượng đồng Lê-nin cao 5,2 m, trên bệ đá hoa cương cao 2,7 m. Công viên Chí Linh (Inđira Ganđi) Nằm giữa bốn phố Đinh Tiên Hoàng, Lê Lai, Lê Thạch và Ngô Quyền, công viên này nguyên là phần đất của một ngôi chùa cổ - chùa Phổ Giác, tức chùa Tàu - của làng Hậu Lâu. Năm 1883, Pháp chuyển chùa tới viện Thái y, nay là phố Ngô Sĩ Liên để lấy chỗ xây dựng tòa đốc lý, kho bạc, bưu điện và một vườn hoa. Năm 1886, nhân tổng công sứ Pôn Be chết, Pháp lấy tên ông ta đặt cho vườn hoa này, năm sau dựng tượng Pôn Be tại đây, có thêm tòa nhà bát giác làm chỗ cho nhạc binh biểu diễn.
  20. Năm 1945, sau đảo chính Nhật, thị trưởng Trần Văn Lai cho hạ tượng. Cách mạng thành công, vườn hoa đổi tên là Chí Linh, địa danh vùng núi phía tây Thanh Hóa, căn cứ của nghĩa quân Lê Lợi (đầu thế kỷ XV). Năm 1984, thắt chặt tình hữu nghị Việt Nam - Ấn Độ, công viên mang tên Thủ tướng Ấn Độ Inđira Găng đi. Công viên Hồ Tây Công viên Hồ Tây - một tổ hợp, giải trí hiện đại và hấp dẫn, ở phía tây bắc Hồ Tây - 116 đường Lạc Long Quân, quận Tây Hồ. Nằm bên Hồ Tây lộng gió và thơ mộng, hai mặt tiếp giáp với hồ, công viên kết hợp khá hoàn hảo và tinh tế giữa thiên nhiên với những thành tựu trí tuệ của con người. Trên diện tích hơn 10 ha, Công viên Hồ Tây bao gồm công viên nước đạt tiêu chuẩn quốc tế, công viên Vầng Trăng với những trò chơi hấp dẫn và thú vị, câu lạc bộ thể thao văn hoá. Tổ hợp có trang thiết bị hiện đại, sang trọng. Khu dịch vụ đa năng tiện lợi, phong phú. Khu biểu diễn xiếc cá heo mới lạ. Công viên Hồ Tây còn là một địa chỉ văn hoá, tái hiện những truyền thuyết dân gian của Hà Nội và của Việt Nam Công viên Lê Nin Công viên Lê - nin nằm giữa bốn phố Trần Nhân Tông, Lê Duẩn, Đại Cồ Việt, Nguyễn Đình Chiểu, rộng khoảng 50 ha. Ngày 11-1-1960, Hồ Chí Minh đã tới trồng cây đa lưu niệm. Ngày ấy, đất nước còn bị chia cắt nên công viên đặt tên là Thống Nhất để gợi nhớ tình cảm bắc nam ruột thịt. Ngày 19- 4-1980 đổi tên vườn hoa là Công viên Lê nin đúng vào dịp kỷ niệm lần thứ 110 ngày sinh người thầy vĩ đại của phong trào vô sản và công nhân thế giới. Công viên có hai cửa lớn, mở ra phố Trần Nhân Tông và đường Lê Duẩn. Công viên có nhiều bồn hoa bốn mùa phô sắc, những dãy thùy liễu mượt mà, những rặng thông suốt năm xanh thẳm và những loài cây trái ngọt hoa thơm. Công viên Lê nin là nơi vui chơi, khá hấp dẫn của các tầng lớp nhân dân Hà Nội và du khách. Khu thiếu nhi có đu quay chạy điện, máy bay bay trên khung sắt và nhà gương dị dạng. Khắp các lối đi đều có hững dãy ghế đá nép mình bên vòm hoa, có một dải hồ để bơi thuyền, có "khu phong lan" với hàng trăm chủng loại, nhiều loài cây cảnh, cây thế và những bể lớn, bể nhỏ thả cá bạc, cá vàng . Đối với người già có khu "đảo Hoà Bình" ở giữa hồ yên tĩnh. Mấy năm gần đây công viên dành riêng một khu tổ chức hội hoa xuân, tụ hội mọi tài hoa bậc nhất của ngành cây xanh cả nước.
  21. Công viên Thủ Lệ Công viên Thủ Lệ chính thức được khởi công ngày 19-5-1975, và hai năm sau mở cửa đón khách. Công viên nằm phía tây nội thành Hà nội trên địa phận làng Thủ Lệ, một làng cổ có từ thời Lý (thế kỷ XI), sự tích làng gắn với sự tích thần Linh Lang thờ trong đền Voi Phục. Công viên dựa vào địa hình khá đẹp: khoảng 29 ha, hồ nước mênh mông có gờ đất chạy dài bao bọc như bầy rồng, rắn đuổi nhau; núi Bò, đền Voi Phục dưới bóng si rậm rạp. Công viên Thủ Lệ là vườn thú lớn có hơn 100 loài và hơn 600 cá thể, được chia thành nhiều khu: Khu bò sát nuôi trăn, rắn, kỳ đà Khu chim nuôi công, trĩ, hạc, cò, sếu và các loài chim hót hay như hoạ mi, yến, khướu. Khu thú gồm hổ, báo, gấu, sư tử hươu, nai, khỉ, vượn, chồn, cầy, voi. Công viên cũng có cây và rừng hoa, khu giải trí, quán trà, hiệu sách Bảo tàng Hồ Chí Minh Bảo tàng được xây dựng theo nguyện vọng của nhân dân Việt Nam nhằm tỏ lòng biết ơn và đời đời ghi nhớ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quyết tâm học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, hữu nghị và hoà bình với nhân dân thế giới. Bảo tàng được khánh thành ngày 19/5/1990, kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh "anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất", như Nghị quyết của Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên hiệp quốc (UNESCO) đã thừa nhận. Về nội dung, Bảo tàng thể hiện cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn với dân tộc và thời đại. Về giải pháp trưng bày, Bảo tàng kết hợp hài hoà nội dung với kiến trúc, mỹ thuật và kỹ thuật. Gian mở đầu phần trưng bày có tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng là nơi tổ chức các nghi lễ trọng thể. Phần trưng bày tiểu sử gồm hơn 2000 tài liệu, hiện vật, các phim tư liệu, các tác phẩm nghệ thuật được trình bày hệ thống giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm đường cứu dân cứu nước, lãnh đạo nhân dân Việt Nam phấn đấu vì độc lập, tự do, vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh và hoà bình hữu nghị giữa các dân tộc.
  22. Phía bên phải phần tiểu sử là các tổ hợp không gian hình tượng mô tả đất nước Việt Nam, những chặng đường đấu tranh và thắng lợi của nhân dân Việt Nam gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bên trái phần tiểu sử là các gian chuyên đề về một số sự kiện lịch sử thế giới từ cuối thế kỷ XIX đến nay, thông qua các tư liệu, các tác phẩm nghệ thuật và phương tiện kỹ thuật giới thiệu những biến cố của thời đại tác động tới cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và thắng lợi của nhân dân Việt Nam. Bảo tàng Hồ Chí Minh còn có tầng triển lãm các chuyên đề về Chủ tịch Hồ Chí Minh, về hình ảnh của đất nước Việt Nam và các chuyên đề khác. Bảo tàng có kho báu quản hiện vật, tư liệu, có thư viện, có các hội trường phục vụ thuận lợi các hội nghị khoa học và các hoạt động văn hoá khác. Địa chỉ: Số 3 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội Giờ mở cửa: Sáng từ 8h đến 11h 30. Chiều từ 13h 30 đến 16h Điện thoại: 8463757 – 8455435 Bảo tàng Lịch sử Nằm giữa Thủ đô Hà Nội, trên đường phố Tràng Tiền, có một toà nhà tọa lạc trong một khuôn viên rộng rãi mang đậm phong cách nghệ thuật kiến trúc phương Đông - ẩn mình dưới những tán cây đại thụ - Đó chính là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Bảo tàng Lịch sử Việt Nam khánh thành và chính thức mở cửa đón khách tham quan ngày 3-9-1958 trên cơ sở tiếp quản, thay đổi nội dung trưng bày từ Bảo tàng Louis Finot do người Pháp xây dựng năm 1926 và hoạt động vào năm 1932 Địa chỉ : Số 1- Tràng Tiền - Hà Nội Điện thoại : (84-4) 8242433; 8241384 Fax : (84-4) 8252853 Email : btlsvn@hn.vnn.vn
  23. Bảo tàng Cách mạng Bảo tàng Cách mạng được thành lập tháng 8/1959 được đặt tại ngôi nhà 2 tầng phố Tông Ðản nguyên là Sở thương chính cũ, nay được cải tạo thành 30 phòng trưng bày hơn 4 vạn hiện vật. - Phòng đầu giới thiệu chung về đất nước và con người Việt Nam. - Phòng cuối giới thiệu về tính đoàn kết của thế giới với Việt Nam. Các phòng còn lại giới thiệu về: • Các phong trào yêu nước của dân tộc Việt Nam chống Pháp xâm lược trước khi Ðảng Cộng sản Việt Nam thành lập (1858 - 1930). • Cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản (1930 - 1975) • Xây dựng và bảo vệ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1976 đến 1994). Ngoài ra kho tàng hiện lưu giữ gần 60.000 hiện vật, tài liệu các loại về lịch sử cận hiện đại của dân tộc Việt Nam. Ðịa chỉ: 5 Tông Ðản - Hà Nội Giờ mở cửa: Từ thứ hai đến chủ nhật (Sáng: 8.00 đến 11.30 | Chiều:1.30 đến 4.00)
  24. Bảo tàng Quân đội Bảo tàng quân đội nằm trên đường Ðiện Biên Phủ, nơi trước đây là trại lính của quân đội viễn chinh Pháp đã được sửa chữa lại trên diện tích 10.000m2 và diện tích trưng bày là 2.000m2 gồm 30 phòng, mở cửa vào ngày 22/12/1959. Bảo tàng Quân đội là nơi trưng bày những hiện vật và tài liệu giới thiệu quá trình ra đời và trưởng thành của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử. • Hiện vật về truyền thống đánh giặc giữ nước của các thời đại trước. • Thời kỳ thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, thời kỳ tiền khởi nghĩa với những vũ khí thô sơ. • Giai đoạn trưởng thành của Vệ quốc đoàn và Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ 1946-1954, với những vũ khí, trang bị, sa bàn, bản đồ của các trận đánh lớn, đặc biệt là những hiện vật về chiến dịch Ðiện Biên Phủ. • Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước đến năm 1975. Ðặc biệt có những bản đồ, những sa bàn về chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Những hiện vật quý về các trận đánh và những chiến sỹ anh hùng trong lực lượng vũ trang được trưng bày tại đây. Bên ngoài nhà trưng bày là những hiện vật lớn: những vũ khí nặng thu được của địch, những mảnh xác máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó có mảnh xác máy bay B52 Địa chỉ :30 Ðiện Biên Phủ - Hà Nội Bảo tàng Phụ nữ Bảo tàng phụ nữ Việt Nam nơi hội tụ lịch sử, văn hoá, nghệ thuật lớn nhất của phụ nữ Việt Nam. Bảo tàng phụ nữ được khánh thành nhân kỷ niệm lần thứ 65 ngày Phụ nữ Việt Nam 20-11-1995, là nơi ghi nhận những đóng góp và hy sinh to lớn của phụ nữ Việt Nam trong công cuộc dành độc lập và xây dựng đất nước. Bảo tàng có bốn nơi trưng bầy lớn giới thiệu về "Người mẹ Việt Nam" trong cộng đồng quốc gia, Phụ nữ Việt Nam trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước, Sự thành lập và phát triển của Hội Phụ nữ Việt Nam và các trang phục truyền thống đẹp của phụ nữ các dân tộc Việt Nam. Ngay đầu tiên là bức tượng "Mẹ Việt Nam" dát vàng, cao 3,6m, do nghệ sĩ Phú Cường thực hiện. Hình ảnh người mẹ khoẻ khoắn, tràn đầy sức sống, dịu dàng và nhân hậu. Bàn tay phải của bà mở rộng thể hiện sự vượt qua mọi thử thách khó khăn; tay trái nâng một em bé hai tay đang vươn về phía trước trên vai. Trên trần nhà được thiết kế những chùm đèn trắng thể hiện cho dòng sữa mẹ, một nguồn sống bất tận nuôi bao thế hệ. Bức tượng là biểu tượng cho sức mạnh, vẻ đẹp và khát vọng cuộc sống của phụ nữ Việt Nam Ðịa chỉ: 36 Lý Thường Kiệt Giờ mở cửa: Hàng ngày trừ thứ hai - Từ 8.00 sáng
  25. Bảo tàng Dân tộc học Bảo tàng nằm trên một khu đất rộng 3 ha thuộc quận Cầu Giấy, phía tây Hà Nội. Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được khai trương vào cuối năm 1997. Ngay từ khi ra đời, nơi đây đã thực sự thu hút sự quan tâm của nhiều khách du lịch và các nhà nghiên cứu văn hoá, dân tộc học trong nước và quốc tế. Bảo tàng Dân tộc học lưu giữ 10.000 hiện vật, 15.000 ảnh đen trắng, hàng trăm băng video, băng cát-set phản ánh mọi mặt đời sống, sinh hoạt, phong tục, tập quán của 54 dân tộc trên khắp đất nước Việt Nam. Du khách đến đây có thể hiểu rõ hơn sự đa dạng, đặc sắc văn hoá của từng dân tộc, từng vùng cũng như giá trị truyền thống chung của các dân tộc Việt Nam thông qua các hiện vật trưng bày mà chủ yếu là hiện vật gốc được bố trí một cách đơn giản không cầu kỳ để người xem có thể cảm thụ nhiều nhất cái hay, cái đẹp, cái tinh tế trong đời sống văn hoá của mỗi dân tộc Việt Nam. Nét độc đáo nhất của bảo tàng Dân tộc học là việc tái tạo thành công cảnh sinh hoạt hàng ngày cùng những nghi thức tôn giáo, lễ hội tiêu biểu của từng tộc người. Nội thất của bảo tàng Dân tộc học được thiết kế liên hoàn và bố trí hợp lý dẫn dắt người xem đến từng vùng đất nước mà mỗi nơi đều có nét văn hoá độc đáo, tinh tế riêng. Cùng nhà sàn mà nhà sàn người Mường, Tày khác nhà sàn người Thái, người Thượng. Cùng là thổ cẩm mà hoa văn, màu sắc mỗi vùng mỗi khác. Tất cả hoà quyện và bổ sung cho nhau tạo nên bức tranh nhiều màu đa dạng của văn hoá Việt Nam. Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam là một địa chỉ hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Ðịa chỉ: Ðường Nguyễn Văn Huyên - Hà Nội Giờ mở cửa: Thứ ba đến chủ nhật hàng tuần (Sáng: 8.30 đến 12.30 | Chiều:1.30 đến 4.30) Bảo tàng Mỹ thuật Ngôi nhà 66 Nguyễn Thái Học từ ngày 24/6/1966 chính thức trở thành viện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Với khoảng 1 vạn tác phẩm, hiện vật gốc, hiện vật phục chế, phiên bản, tranh ảnh, bảo tàng trưng bày tại 16 phòng với nội dung: + Mỹ thuật các dân tộc trong đại gia đình tổ quốc Việt Nam + Mỹ thuật Việt Nam thời đại nguyên thuỷ và cổ đại (thời đại đá mới, thời đại đồ đồng và sơ kỳ đồ sắt) + Mỹ thuật Việt Nam thời phong kiến (thế kỷ 11 - 18) + Nghệ thuật điêu khắc cổ Việt Nam (những tác phẩm tiêu biểu từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 19). + Tranh dân gian Việt Nam
  26. + Mỹ thuật ứng dụng và mỹ thuật trang trí dân gian Việt Nam + Mỹ thuật Công nghệ Việt Nam hiện đại + Mỹ thuật Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8/ 1945 + Mỹ thuật Việt Nam giai đoạn chống Pháp (1946 - 1954) + Mỹ thuật Việt Nam từ năm 1954 đến nay. Ngoài ra, Bảo tàng còn có những sưu tập từ các triển lãm mỹ thuật chuyên đề từ Trung ương đến địa phương như nghệ thuật điêu khắc đá cổ Việt Nam, nghệ thuật thời đại đồ đồng, nghệ thuật gốm cổ Việt Nam, tranh dân gian, tranh các dân tộc ít người, tranh sơn mài, sơn dầu, điêu khắc. Một số sưu tập nghệ thuật thế giới cổ đại và cận - hiện đại qua các phiên bản Viện Bảo tàng Mỹ thuật là một pho sử sống động về quá trình hình thành phát triển của mỹ thuật Việt Nam. Ðịa chỉ: 66 Nguyễn Thái Học - Hà Nội Giờ mở cửa: Từ thứ ba đến chủ nhật hàng tuần (Sáng: 8.30 đến 11.30 | Chiều: 1.30 đến 4.30 pm) Bảo tàng Hà Nội Bảo tàng Hà Nội đợc thành lập từ năm 1982 theo quyết định của Uỷ Ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Căn cứ vào tính chất của Bảo tàng và đặc điểm của Thủ đô, nộI dung nghiên cứu trưng bày của Bảo tàng Hà Nội đợc chia làm 3 phần như sau: Lịch sử thiên nhiên Hà Nội. Lịch sử Hà Nội từ khi dựng nước đến trước Cách mạng tháng Tám. Lịch sử Hà Nội từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay. Hiện nay, trong kho Bảo tàng Hà Nội đang lưu trữ khoảng 16000 hiện vật, trong đó riêng kho cổ vật quý hiếm đã chiếm tới hơn 7000 hiện vật với đủ loại hình và chất liệu khác nhau. Nếu chỉ tính riêng các sưu tập hiện vật văn hoá khảo cổ học đã chiếm tới hơn 2000 hiện vật, là những sưu tập hiện vật bảo tàng rất có giá trị về khoa học và lịch sử. Hà Nội là một trung tâm quần cư của người Việt cổ. Điềunày được thể hiện ở kết quả nghiên cứu các giai đoạn văn hoá khảo cổ được diễn biến và phát triển liên tục qua các cuộc khai quật khảo cổ ở các di chỉ như Đồng Vông, Xuân Kiều, Bãi Mèn, Tiên Hội, Đình Chàng, Đường Trong quá trình nghiên cứu và chỉnh lý hiện vật, Bảo tàng Hà Nội đã hình thành các sưu tập như: Sưu tập đồ đá, sưu tập đồ đồng, sưu tập gốm sứ các thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn, sưu tập gốm sứ của Trung Quốc, Nhật Bản Các bộ sưu tập này rất phong phú và đa dạng, có giá trị lớn về khoa học và lịch sử. Địa chỉ : Số 5B Hàm Long, Hà Nội Đ iện thoại : (84. 4) 9 432 960
  27. Di tích Nhà tù Hoả Lò Năm 1896, giữa trung tâm Hà Nội, thực dân Pháp xây nhà tù Hoả Lò lớn nhất Đông Nam Á nhằm đàn áp phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân Việt Nam. Từ ngày 5-8-1964 đến 31-3-1973, một phần nhà tù Hoả Lò được làm nơi giam giữ các phi công Mỹ bị bắn rơi trong cuộc chiến tranh phá hoại miền bắc Việt Nam. Từ năm 1993, để đáp ứng nhu cầu phát triển của thủ đô, Nhà nước Việt Nam quyết định: - Một phần của nhà tù Hoả Lò được phá đi xây dựng Tháp trung tâm dùng làm khách sạn và văn phòng. - Một phần (trông ra phố Hoả Lò) được giữ lại, tôn tạo, sửa chữa, trở thành di tích lịch sử Nhà tù Hoả Lò. Tại khu di tích này có Đài tưởng niệm, có mô hình tái tạo hình ảnh các chiến sĩ cách mạng trong lao tù, có chiếc máy chém mà các chiến sĩ cách mạng bị hành quyết. Di tích nhà tù Hoả Lò là minh chứng về sự hy sinh gian khổ chiến đấu của các chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Nhà lưu niệm 90 Thợ Nhuộm Nhà 90 phố Thợ Nhuộm thuộc quận Hoàn Kiếm, trước là nhà riêng của Đuy-ô, một công chức cao cấp của Sở Tài chính Đông Dương. Năm 1930, đồng chí Trần Phú từ Liên Xô về nước, được bí mật bố trí ở ngay tầng hầm cùng với bác bồi Tạ Văn Bân. Tại đây, đồng chí Trần Phú đã dự thảo bản Luận cương Chính trị của Đảng. Văn kiện này được thông qua tại Hội nghị trung ương lần thứ nhất tháng 10- 1930 và chính thức trở thành Luận cương Chính trị đầu tiên của Đảng ta. Tầng hầm hiện vẫn được sắp đặt như hồi đồng chí Trần Phú làm việc. Nhà lưu niệm 48 Hàng Ngang Ngôi nhà số 48 phố Hàng Ngang, phường Hàng Đào, nằm trong khu phố cổ Hà Nội, trước là biệt thự của ông Trịnh Văn Bô. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và đọc ở quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945. Ngôi nhà có hai tầng, trên tầng hai, Bác dùng một phòng nhỏ để tiếp các đại biểu trong nước và khách quốc tế, còn căn phòng nhỏ ở bên cạnh chính là nơi Bác đã viết bản Tuyên ngôn. Hiện nay, căn phòng nhỏ này vẫn được bài trí như ngày Bác Hồ ở và làm việc có tủ nhỏ, ghế đi-văng, bàn tròn và ghế bành.
  28. Chùa Bà Đá Chùa Bà Đá nằm trên khu đất của số 3 phố Nhà Thờ, phường Hàng Trống gần hồ Hoàn Kiếm. Chùa có tên chữ là: 'Linh Quang Tự", được xây dựng từ đời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) trong khu vực tháp Bảo Thiên, một ngôi tháp nổi tiếng của Thăng Long từ thời Lý. Truyền thuyết kể rằng: Khi đào đắp thành Thăng Long, người ta đã tìm thấy một pho tượng phụ nữ bằng đá nên đã lập đền thờ gọi là đền Bà Đá. Thế kỷ XVII - XVIII, khi dòng thiền Lâm Tế phát triển ở miền bắc thì đây trở thành chốn tổ đình của phái thiền này và gọi là chùa Bà Đá. Chùa có quy mô tương đối lớn với năm gian tiền đường, bốn gian thượng điện và khu nhà thờ tổ, thờ mẫu nằm gọn trong một khuôn viên khép kín. Trong chùa có nhiều tượng gỗ và một số hiện vật quí như hai quả chuông đồng đúc vào năm 1873 - 1881; khánh đồng đúc năm 1842. Chùa Bà Đá hiện nay là trụ sở của Thành hội Phật giáo Hà Nội. Chùa Hà Chùa có tên chữ là chùa Thánh Đức (Thánh Đức Tự) thuộc thôn Trung, xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, nay là phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Chùa dựng đời vua Lê Hy Tông (1675 -1705) và được trùng tu, sửa chữa nhiều lần ở những thế kỷ sau. Năm 1947, chùa bị huỷ hoại do chiến tranh. Về sau nhân dân địa phương dựng lại như hiện nay. Chùa có qui mô nhỏ, tam quan xây gạch, cửa chính có lầu cao làm gác chuông. Chùa chính hình chữ đinh, bên trong còn một số pho tượng cổ, 18 tấm bia đá. Hiện vật tiêu biểu nhất là quả chuông đồng lớn đúc thời Tây Sơn (1801). Chùa Hà còn là một di tích cách mạng tiêu biểu của Hà Nội, từng diễn ra những sự kiện quan trọng góp phần vào thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở thủ đô. Chùa Láng Chùa có tên chữ là "Chiêu Thiên Tự" thuộc phường Láng Hạ, quận Đống Đa, cách hồ Hoàn Kiếm khoảng 5 km về phía tây. Ngôi chùa được xây dựng từ đời vua Lý Anh Tông (1138 - 1175) để thờ Phật và Từ Đạo Hạnh, một thiền sư nổi tiếng thời Lý. Chùa có khuôn viên rộng rãi, thoáng mát trông ra sông Tô Lịch, gồm: Khu vườn rộng phía trước và quần thể kiến trúc lớn ở phía sau. Các bộ phận kiến trúc của chùa có ba lớp tam quan, đường gạch lớn, sân, nhà bát giác, hai dãy dải vũ, khu chùa chính (tiền đường, trung đường, thiêu hương, thượng điện), hai dãy hành lang, nhà chuông, nhà thờ tổ, thờ mẫu và khu vườn tháp nằm chếch phía sau chùa.
  29. Chùa chính có qui mô kiến trúc lớn với chín gian tiền đường, ba gian trung đường, hai gian thiêu hương và ba gian thượng điện. Ngoài các mảng trang trí độc đáo trên, kiến trúc chùa còn một khối lượng di vật đồ sộ, phong phú về chất liệu, loại hình, có giá trị lịch sử và nghệ thuật. Đó là 198 pho tượng lớn nhỏ, 11 đạo sắc phong thần, 13 tấm bia đá, hai bộ kiệu rước thế kỷ XVIII. Chùa Láng vốn nổi danh từ xa xưa. Đến nay, chùa vẫn là một thắng tích nổi tiếng của Hà Nội. Chùa Bộc Chùa có tên chữ là "Thiên Phúc Tự" nằm trên đường Chùa Bộc, quận Đống Đa, gần di tích lịch sử gò Đống Đa, nơi có trường thi Bác Cử (trường thi võ) của thời Lê Trung Hưng. Chùa được trùng tu, sửa chữa lần đầu năm 1676 đời vua Hy Tông triều Lê. Trong chiến trận Đống Đa lịch sử, chùa bị cháy và huỷ hoại. Năm Quang Trung thứ tư (1792), nhà sư Lê Đình Lương cùng với nhân dân địa phương dựng lại ngôi chùa trên khu nền cũ thêm Thanh Miếu thờ oan hồn quân Thanh chết trận tại Đống Đa. Chùa có qui mô lớn, gồm: nhà tiền đường bảy gian, thượng điện năm gian, nhà mẫu, tam quan. Trước chùa có "ao tắm tượng", sau chùa có núi Cây Cờ, Điện Thí, Loa Sơn (nơi tướng giặc Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử) và dấu tích của trường thi Bác Cử. Trong chùa có bảo lưu một số pho tượng cổ, hai tấm bia dựng năm Quang Trung thứ tư ghi công đức của một số đô đốc, quan tướng Tây Sơn quê ở Đàng Trong đã góp công sức, tiền của để dựng lại chùa sau chiến thắng Đống Đa. Hội chùa Bộc được tổ chức vào ngày giỗ trận Đống Đa, mùng 5 tháng giêng âm lịch. Hội là dịp kỷ niệm chiến công hào hùng thời Tây Sơn trong sự nghiệp bảo vệ độc lập tự do của đất nước. Chùa Cầu Đông Nằm tại số 38 B phố Hàng Đường phường Hàng Đào, trong khu vực phố cổ Hà Nội. Chùa có tên là "Đông Kiều Tự" bắc qua sông Tô ở phía đông hoàng Thành Thăng Long. Chùa Cầu Đông được xây dựng khoảng đầu thời Lê (thế kỷ XV). Năm Vĩnh Tộ thứ VI (1624), chùa được sửa chữa và mở rộng. Các năm 1639, 1712, 1817 chùa lại được trùng tu. Chùa hiện giữ được kiểu dáng kiến trúc cổ. Tam quan xây lầu cao làm gác chuông. Chùa chính hình chữ đinh, các mảng chạm hổ phù, rồng vờn mây, hoa lá mang phong cách nghệ thuật điêu khắc thế kỷ XVIII. Chùa có 60 pho tượng cổ, tiêu biểu nhất là các tượng Tuyết Sơn, Di Lạc và bộ Tam Thế. Các tấm bia niên hiệu Vĩnh Tổ thứ 6 (1624), Dương Hoà thứ 5 (1639), Vĩnh Thịnh thứ 8 (1712), Gia Long thứ 15 (1817) và quả chuông đồng đúc thời Tây Sơn (1800) là những cổ vật rất quí.
  30. Chùa Hoè Nhai Chùa Hoè Nhai có tên là "Hồng Phúc Tự" (chùa Hồng Phúc), ở số nhà 19 phố Hàng Than, phường Nguyễn Trung Trực, quận Ba Đình. Tên Hoè Nhai là gọi theo tên làng cũ. Tương truyền kể rằng: Thời Lý, có lệ các triều thần mỗi người phải trồng một cây hoè trên con đường từ hoàng thành thẳng làng đi ra chùa Hồng Phúc. Chùa được xây dựng từ khoảng 1010-1225. Vào thời Lê, năm Chính Hoà thứ tư (1703), chùa được xây dựng lại. Các năm 1812, 1889 thời Nguyễn, chùa được trùng tu và mở rộng. Chùa có kết cấu kiểu chữ công (I), toà thượng điện còn giữ được một số mảng chạm hình tứ linh: long, ly, qui, phượng và các bức cửa võng sơn son thếp vàng. Chùa có 68 pho tượng cổ và nhiều hiện vật quí như khánh đồng cao 100cm, rộng 150cm, đúc năm Giáp Dần niên hiệu Tự Đức thứ 17 (1864) và 28 tấm bia. Tiêu biểu nhất là tấm bia đá dựng năm Chính Hoà thứ 24 (1703) do Tiến sĩ Hà Đông Mục soạn bài ký. Nội dung bia cho biết chùa Hồng Phúc được xây dựng tại phường Hoè Nhai, ở Đông Bộ Đầu. Tư liệu này giúp cho các nhà sử học xác định được vị trí của chiến thắng Đông Bộ Đầu chống quân Nguyên năm 1258. Sân chùa có hai ngọn tháp ba tầng. Ở phía bắc cửa chùa có một ngọn tháp kỷ niệm Hoà thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu ở Sài Gòn phản đối sự đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Chùa là "chốn tổ" của phái Tào Động - một thiền phái Phật giáo lớn ở Việt Nam thế kỷ XVII. Chùa Kim Liên Chùa Kim Liên (Bông sen vàng) nằm trên một dải đất bằng phẳng, thuộc phường Quảng An, quận Tây Hồ. Chùa được xây dựng từ triều vua Lê Nhân Tông, trên nền cũ của cung Từ Hoa thời Lý và có tên gọi là chùa Đại Bi. Năm Cảnh Hưng thứ 32 (1771), chúa Trịnh Sâm đem gỗ từ chùa Bảo Lâm tới sửa chùa và đổi tên là Kim Liên. Năm Nhâm Tý, đời vua Quang Trung chùa được sửa chữa và mở rộng. Chùa Kim Liên có qui mô kiến trúc lớn, ba nếp nhà dựng sát nhau thành hình chữ tam, nếp nhà giữa cao hơn hai nếp trước và sau nó. Cả ba nếp nhà chính đều được xây kiểu chồng diêm. Tường xây gạch trần mà màu sắc của gạch kết hợp với việc trổ các cửa tròn hình "sắc sắc, không không" theo quan niệm Phật giáo cũng tạo cho ngôi chùa một vẻ đẹp mộc mạc, trang nhã. Hoa văn trang trí kiến trúc chùa chủ yếu là loại lá ba chẽ, có gân nổi. Các đề tài trang trí được bố cục giản đơn, cân đối và đường nét chạm uyển chuyển, nhưng sự nỗ lực vươn tới chân thực vẫn là mục tiêu chính trong tinh thần nghệ thuật của chùa. Chùa còn bảo tồn được nhiều pho tượng và hệ thống bia cổ quí của các thời Lê, Tây Sơn và Nguyễn.
  31. Chùa Kim Liên với những giá trị kiến trúc nghệ thuật độc đáo thời Tây Sơn - một thời đại hào hùng trong lịch sử dân tộc, đã góp phần làm đẹp thêm truyền thống văn hoá của thủ đô và cả nước. Chùa Liên Phái Chùa Liên Phái nằm trong ngõ Liên Phái, phố Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng. Chùa do Trịnh Thập là cháu Trịnh Tráng (1623 - 1657) bỏ tiền xây dựng, gọi tên là chùa Liên Tông. Sau khi tu ở chùa Yên Tử (Quảng Ninh), Trịnh Thập về tu ở đây tức là thượng sĩ Lân Giác, vị tổ thứ nhất của chùa. Đến đời Thiệu Trị (1841 - 1847), chùa gọi là Liên Phái. Liên Phái là một ngôi chùa lớn có bố cục mặt bằng gần vuông với kiến trúc chính nằm trên một trục nằm theo hướng đông - tây: Phía tây là toà tháp mười tầng, qua một khoảng sân đến một nhà bia hình chữ nhật, tiếp đến là kiến trúc tiền đường với tam bảo, qua một sân nhỏ là 11 gian nhà tổ, phía sau là vườn tháp. Hai bên trục kiến trúc chính là nhà hạ (tăng phòng), các toà pháp bảo, điện thờ mẫu, nhà trai và nhà khách. Theo bản vẽ của Lu-i-bê-đa-xi-ê, trước đây ở quanh chùa có 30 ngọn tháp, nay chỉ còn tập trung ở vườn tháp sau chùa. Đáng chú ý nhất là ngọn tháp cửu phẩm ở trước chùa, một kiến trúc đáng chú ý vào bậc nhất trong các ngôi chùa ở Hà Nội. Khu vườn tháp phía sau có chín tháp chia thành ba hàng. Hàng giữa có một ngọn tháp bằng đá xanh, hình tứ giác, có năm tầng, phía trước ghi ba chữ Hán "Cửu Sinh tháp". Qua trang trí cánh sen ở chân tháp cho thấy đây là ngôi tháp cổ nhất ở khu vực chùa (nghệ thuật chạm khắc ở thế kỷ thứ XVIII). Chùa Liên Phái đã qua nhiều lần trùng tu sửa chữa nhưng vẫn còn lưu giữ được nhiều tác phẩm kiến trúc, nghệ thuật đẹp từ thời hậu Lê đến thời Nguyễn. Khối lượng di vật đồ sộ ở chùa là nguồn tư liệu quí giá trong việc tìm hiểu lịch sử văn hoá nước nhà. Chùa Lý Quốc Sư Chùa Lý Quốc Sư nằm ở số 50 phố Lý Quốc Sư, cạnh hồ Hoàn Kiếm, trước đây là đất thôn Tiên Thị, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương. Di tích vốn được gọi là đền bởi nơi đây thờ thiền sư Nguyễn Minh Không - người đã chữa khỏi bệnh cho vua Lý Thần Tông năm 1138, được phong làm quốc sư và được triều đình phong ấp ở làng Tiên Thị. Khi ông mất, dân làng lập đền thờ gọi là "Lý Quốc Sư Từ". Năm 1932, thiền sư Nguyễn Văn Định trụ trì đã bài trí thêm tượng Phật nên đền được gọi là chùa từ đó. Chùa có qui hoạch tương đối gọn, gồm: Cổng tam quan, phương đình, hai dãy dải vũ và nhà thờ mẫu. Các kiến trúc này tuy mới được trùng tu vào năm 1954 nhưng vẫn giữ được tính cổ truyền trong phong cách kiến trúc và nghệ thuật. Chùa hiện nay lưu giữ nhiều di vật có giá trị, nhưng nổi bật nhất là trụ đá "Long Nữ thiên tài" có niên đại thế kỷ XVIII mang tính lịch sử, nghệ thuật cao. Chùa là một di tích có giá trị trong hệ thống các di tích quanh Hồ Hoàn Kiếm.
  32. Chùa Nành Có tên chữ là "Pháp Vân Tự" (chùa Pháp Vân) thuộc xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, cách trung tâm Hà Nội 20 km về phía bắc. Ninh Hiệp là một làng quê nổi tiếng, quê ngoại của công chúa Ngọc Hân, vợ người Anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ. Chùa Pháp Vân thờ Phật và thờ bà chúa Nành, một trong hệ thống "tứ pháp" của tín ngưỡng cổ Việt Nam. Chùa có qui mô kiến trúc lớn, kiểu "nội công, ngoại quốc", tổng cộng 104 gian. Trước chùa có ao vuông, trên xây nhà thuỷ đình. Tương truyền, nhà thuỷ đình do bà Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền, vợ vua Lê Cảnh Hưng xây dựng vào thế kỷ thứ XVIII làm nơi múa rối nước trong những ngày hội làng. Chùa chính nằm sau cửa ngũ môn gồm: tiền đường, thiêu hương và thượng điện. Chùa hiện bảo lưu được nhiều di vật cổ mang phong cách nghệ thuật của các thời Mạc, Lê Trung Hưng, Tây Sơn và Nguyễn. Tiêu biểu có tấm bia đá cao 110 cm, rộng 66 cm, niên hiệu Thịnh Đức Quý Tỵ (1653), tám tượng kim cương thời Tây Sơn. Bên cạnh nội dung lịch sử, chùa Nành là một di tích kiến trúc, một bảo tàng về mỹ thuật cổ Việt Nam Chùa Nga My Chùa Nga My nằm ở phía nam, cách hồ Hoàn Kiếm khoảng 3 km, thuộc phường Hoàng Văn Thụ, quận Hai Bà Trưng. Chùa Nga My là kiến trúc Phật giáo được xây dựng sớm ở nước ta. Tấm bia "Trùng tu Thanh Đàm huyện, Hoàng Mai xã, Nga My tự bi minh linh tự" do tiến sĩ Cẩn sử lang Quốc Tử Giám soạn vào năm Hồng Đức thứ 28 (1497) cho biết: " từ thời Lý, chùa đã ở hàng danh lam, lúc tàn phế, lúc hưng thịnh, không thể nêu lên từng việc được". Chùa còn lưu được 26 tấm bia đá ghi việc trùng tu, công đức, gửi hậu qua các triều đại. Bia cổ nhất dựng năm Hồng Đức 28 (1497), hai bia niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 6 (1624), hai bia Vĩnh Thịnh thứ 5 (1707), một bia Vĩnh Thịnh 16 (1720) cùng một số pho tượng có niên đại tạo tác dưới thời Lê. Là một kiến trúc bề thế và hoàn chỉnh, chùa gồm các công trình: chùa chính, gác chuông, nhà tổ, hai dãy dải vũ chạy song song nối tiền đường và tiền tế nhà tổ, cuối cùng là vườn tháp mộ. Các bộ phận này được đặt trên mặt bằng rộng lớn. Cùng với ngôi đình làng kề bên, chùa Nga My hợp thành một quần thể kiến trúc độc đáo ở phía nam kinh thành Thăng Long.
  33. Chùa Quán Sứ Chùa Quán Sứ nằm ở 73 phố Quán Sứ, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm. Trước đây, khu vực này thuộc thôn Yên Tập, huyện Thọ Xương, phủ Phụng Thiên. Từ thời Lê, nơi đây có một khu nhà gọi là Quán Sứ, dùng làm nơi ở cho các sứ thần Lào, Chiêm Thành khi đến Thăng Long. Bên cạnh Quán Sứ dựng một ngôi chùa nhỏ cho sứ thần theo đạo Phật lễ bái, vì vậy chùa có tên là Quán Sứ. Bài ký khắc trên tấm bia đá dựng năm 1855 do Tiến sĩ Lê Duy Trung soạn cho biết: Khoảng đầu đời Gia Long (1802-1819), chùa Quán Sứ nằm ở gần đồn Hậu Quân, năm 1822, chùa được sửa sang để làm chỗ lễ bái cho quan quân đồn này. Khi quan quân ở đồn rút đi, chùa được giao cho dân làng đúc chuông và tô lại tượng. Cùng với việc thờ Phật, chùa còn thờ vị quốc sư triều Lý là Nguyễn Minh Không. Năm 1934, Tổng hội Phật giáo Bắc Kỳ đặt trụ sở tại chùa Quán Sứ và chùa được xây mới như hiện nay. Người thiết kế chùa là hai kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Ngoạn và Nguyễn Xuân Tùng. Chùa có qui mô lớn. Tam quan kiểu ba tầng mái, chính giữa là lầu chuông. Qua tam quan đến một sân rộng lát gạch. Giữa sân xây toà chính điện cao, hình vuông, có hành lang bao quanh. Hai bên và đằng sau là dãy nhà dùng làm thư viện, giảng đường, nhà khách và tăng phòng. Chùa Quán Sứ hiện nay là trụ sở của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Phân viện Nghiên cứu Phật học thuộc Giáo hội cũng đặt tại đây. Chùa Thiên Niên Chùa có tên chữ là "Thiên Niên Cổ Tự", tên thường gọi là Trích Sài, thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ. Tương truyền ngôi chùa cổ này có từ thế kỷ thứ VI, dấu vết vật chất hiện còn có niên đại sớm là tấm bia đá niên hiệu Vĩnh Thịnh ngũ niên (1709), cho biết ngôi chùa đã có mặt dưới thời Lê Sơ. Theo bài ký trên bia thì quan Thái Bảo Đà quốc công Mạc Ngọc Liễn, là người đã đóng góp nhiều công đức, tiền của, cho việc sửa sang chùa cuối thế kỷ thứ XVI. Tuy không còn lưu lại được kiến trúc cũ, nhưng chùa hiện có qui mô kiến trúc lớn với các công trình bề thế gồm: Tam quan, sân, vườn, chùa chính, nhà mẫu, nhà tổ, tăng phòng và vườn tháp, vườn cây lưu niệm. Bên trong chùa là hệ thống di vật phong phú với hơn 30 pho tượng phật, bia đá, chuông đồng và nhiều hoành phi, câu đối ca ngợi cảnh đẹp của chùa, của thắng cảnh Hồ Tây. Chùa Thiên Niên thờ Phật và thờ bà chúa dệt lĩnh Phạm Thị Ngọc Đô - thứ phi của vua Lê Thánh Tông đã từng truyền nghề dệt lĩnh cho nhân dân trong vùng. Ở địa thế đẹp ven Hồ Tây, chùa Thiên Niên là điểm thu hút du khách và nhiều nhà nghiên cứu.
  34. Chùa Trấn Quốc Chùa đặt trên một đảo ven Hồ Tây, thuộc phường Yên Phụ, quận Tây Hồ. Tương truyền, chùa có từ đời vua Lý Nam Đế (544 - 548). Lúc đầu chùa dựng ở sát bờ sông Cái, trên bãi Yên Hoa và có tên là Khai Quốc (mở nước). Đến năm Đại Bảo, đời vua Lê Thái Tông (1440 - 1442), chùa đổi tên là An Quốc. Đến năm 1615, bãi sông bị lở sát vào chùa, dân làng Yên Hoa (nay là Yên Phụ) đã rời chùa vào đảo Kim Ngư (Cá Vàng), tức địa điểm hiện nay. Khi đê Cổ Ngư được đắp, đảo Cá Vàng được nối với con đê này. Năm 1639, chùa được trùng tu lớn. Theo bài ký trên tấm bia đá dựng năm 1639, thì lần tu sửa này "Trước hết dựng hậu đường, cổng có gác tiếp theo dựng hành lang tả hữu Qui mô lớn nhiều, so với trước gấp trăm lần, huy hoàng tượng Phật, sáng ngời rường chạm cột son, rực rỡ hoa hồng ánh chiếu khắp toà sen, cửa biếc". Khoảng niên hiệu Chính Hoà (1680 - 1705), chùa lại đổi tên là Trấn Quốc. Năm 1842, vua Thiệu Trị tuần du Bắc Hà, chùa được đổi tên là Trấn Bắc. Trấn Quốc là chốn tổ của phái thiền Tào Động lưu truyền ở Việt Nam do Tịnh Trí Giác thiền sư thời hậu Lê truyền dẫn. Hiện nay, chùa có qui mô bề thế bao gồm ba nếp nhà tiền đường, thiêu hương, thượng điện nối liền thành hình chữ công (I), hai dãy hành lang, gác chuông, nhà tổ và nhà che bia. Trong chùa hiện còn 14 tấm bia đá. Quan trọng nhất là tấm bia do Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính soạn năm 1639 và tấm bia năm 1815 do tiến sĩ - nhà văn Phạm Quý Thích soạn ghi việc xây dựng lại chùa sau một thời gian dài đổ nát. Ở sân chùa, còn có cây bồ đề do Tổng thống Ấn Độ mang từ gốc cây bồ đề Tổ Phật ở Tây Trúc sang tặng năm 1959. Chùa Vạn Niên Chùa Vạn Niên đặt trên đường Lạc Long Quân, quận Tây Hồ, trước có tên là chùa Vạn Tuế. Chùa thờ Phật và bà chúa Liễu Hạnh. Theo truyền thuyết dân gian thì chùa được xây dựng từ thời Lý. Bài ký trên chuông đồng "Vạn Niên Tự Chung" đúc vào đời Gia Long cho biết: "Chùa Vạn Niên là một di tích cổ có qui mô bề thế, một danh lam cổ tích lớn ở phía tây kinh đô Thăng Long". Từ đó về sau, ngôi chùa được trùng tu nhiều lần. Hiện nay chùa có phong cách kiến trúc thời Nguyễn. Mặt bằng chùa bao gồm: tam quan, chùa chính và điện mẫu, ẩn hiện dưới vòm cây cổ thụ và soi bóng xuống làn nước biếc Hồ Tây. Bộ di vật của chùa có số lượng lớn và mang giá trị lịch sử - văn hoá nghệ thuật. Đó là hơn 40 pho tượng tròn và mười đạo sắc phong thần của thời Lê, Tây Sơn.
  35. Chùa Vua Chùa Vua ở số 17 phố Thịnh Yên, phường Phố Huế, quận Hai Bà Trưng, cách trung tâm hồ Hoàn Kiếm khoảng 1 km về phía nam. Chùa có tên chữ Hán là "Hưng Khánh Tự", còn gọi là Đế Thích xây dựng từ rất sớm để thờ Đế Thích - vị thần của Ấn Độ giáo cai quản tầng trời. Ngoài cương vị trên, thần Đế Thích còn được truyền thuyết trong dân gian tôn là bậc đánh cờ giỏi nhất. Sự linh dị của thần được ghi trong sách "Công Dư Tiệp ký" qua câu chuyện "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" lưu truyền rộng rãi khắp cả nước. Chùa Vua có khuôn viên rộng trong khu vực dân cư sầm uất. Phần kiến trúc quan trọng nhất là chùa chính đã bị phá huỷ trong kháng chiến chống Pháp. Di tích còn lại hai cổng tam quan, điện thờ Đế Thích, khu nhà thờ mẫu và dãy hành lang. Chùa Vua còn có bàn cờ và nhà bia. Lễ hội truyền thống hằng năm hấp dẫn bởi cuộc thi cờ tổ chức từ mùng sáu đến mùng chín tháng giêng âm lịch. Người đoạt giải nhất ba năm liền được khắc tên trong bia đá đặt tại nhà bia. Phủ Tây Hồ Phủ Tây Hồ nằm ở phía tây bắc của thủ đô Hà Nội, thuộc địa phận phường Quảng An, quận Tây Hồ. Cùng với việc phụng thờ Liễu Hạnh công chúa, một "tứ bất tử" trong thần điện của người Việt, phủ Tây Hồ còn ghi dấu cuộc tao ngộ ly kỳ giữa Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (1528 - 1631) và Liễu Hạnh. Toàn bộ công trình vừa được trùng tu lớn năm 1999, nhưng vẫn giữ nguyên các bộ phận trước đây: tam quan; phủ chính ba nếp: phương đình, tiền tế hậu cung; nhà mẫu, sơn trang và khu nhà khách. Ngày xuân, du khách đổ về đây rất đông để lễ cầu may, thưởng ngoạn cảnh đẹp Tây Hồ, nhớ về "áo mây, xe gió" của Bà Chúa Liễu, về bài thơ nôm của tiến sĩ Lương Hữu Khánh triều Lê vịnh Hồ Tây. Góp phần tạo nên lịch sử và huyền thoại Hồ Tây, phủ Tây Hồ cùng chùa Kim Liên, chùa Trấn Quốc, đền Quán Thánh là những điểm du lịch hấp dẫn trong hệ thống di tích ven hồ. Đền Bà Kiệu Đền Bà Kiệu nằm bên thắng cảnh hồ Hoàn Kiếm, đối diện với đền Ngọc Sơn, nhìn qua Tháp Bút, qua cầu Thê Húc. Đền có tên là "Thiên Tiên Điện", được xây dựng từ thời Lê Trung Hưng để thờ ba vị nữ thần: Liễu Hạnh công chúa, Đệ nhị Ngọc nữ Quỳnh Hoa và Đệ tam Ngọc nữ Quế Nương. Những năm đầu thế kỷ, do qui hoạch mở đường nên đã tách kiến trúc đền làm hai phần. Tam quan nằm sát bên hồ Hoàn Kiếm và đền chính tọa lạc song song, cách đường phố Đinh Tiên Hoàng. Đền có qui mô kiến trúc hình chữ công (I) gồm: Nhà đại bái ba gian rộng, phương đình hai tầng bốn mái và ba gian hậu cung được qui hoạch tập trung tạo sự bề thế trang nghiêm.
  36. Bộ di vật văn hoá - lịch sử của đền Bà Kiệu rất phong phú, đa dạng gồm bia đá, chuông đồng, hệ thống 27 sắc phong thần thuộc các triều đại Lê, Tây Sơn, Nguyễn. Với hàng cột đá trong kiến trúc và hai cây đa lớn sát bên đền đã đưa lại sự cổ kính và vẻ đẹp độc đáo của kiến trúc Việt Nam. Đền Đồng Cổ Đền ở bên bờ sông Tô, giữa đường Hoàng Hoa Thám và đường Thụy Khê, thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ. Đền Đồng Cổ thờ thần Trống Đồng, một loại hình di vật văn hoá lịch sử tiêu biểu của thời dựng nước và giữ nước cách đây hơn 2000 năm. Thần Đồng Cổ vốn được thờ trên núi Khả Loa, xã Đan Nê, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá. Thời Lý, năm 1028, thần được triều đình phong tước và lập đền thờ ở phía tây bắc kinh thành. Tương truyền ngày xưa, các quan đến đây mỗi năm một lần đọc lời thề: "Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần linh giết chết". Ngày hội thề rất đông vui, trai gái thập phương về dự đứng chật đường đi. Lễ thề kéo dài tới thời Lê. Đền Đồng Cổ hiện nay vẫn được nhân dân làng Đông Xã, phường Yên Thái chăm lo gìn giữ. Trải qua gần chục thế kỷ, đền vẫn còn ít nhiều kỷ vật xưa. Đền Đồng Cổ là một trong tám cảnh đẹp của Tây Hồ. Đền Hai Bà Trước kia, đền Hai Bà ở làng Đồng Nhân, huyện Thanh Trì, nay ở phố Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng. Đền thờ vị anh hùng đầu tiên của lịch sử chống ngoại xâm nửa đầu thế kỷ I sau Công nguyên. Người cầm đầu cuộc khởi nghĩa lại là hai phụ nữ: Chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị mà nhân dân vẫn thành kính gọi là Hai Bà. Đền Hai Bà xây dựng từ triều Lý Anh Tông, năm Đại Đinh thứ ba (1142) ở bãi Đồng Nhân, trên bờ sông Hồng. Đất bãi bị lở, năm Gia Long thứ tám (1819), dân làng Đồng Nhân dời đền vào khu Võ Sở cũ của triều Lê ở thôn Hương Viên, tức địa điểm ngày nay. Trong chùa có hai pho tượng lớn của Hai Bà Trưng và tượng sáu nữ tướng dàn hai bên: Lê Chân, Hoàng Hoa, Thiên Nga, Nguyễn Đào Nương, Phùng Thị Chính, Bát Nạn công chúa, Phạm Thị Côn. Tượng làm bằng đất phủ sơn màu. Đôi voi gỗ sơn đen nhưng có đôi ngà thật. Đặc biệt là tấm bia ghi sự tích Hai Bà. Hằng năm, đền tổ chức lễ hội vào ngày sáu tháng hai âm lịch. Cũng như ngôi đền khác thờ Hai Bà Trưng, lễ và hội ở đây nhằm tưởng niệm những người có công với nước, với dân, từ đó khơi dậy tinh thần yêu nước, thắt chặt thêm tình cảm giữa những người chung một cộng đồng.
  37. Đền Lý Ông Trọng Đền Lý Ông Trọng còn được gọi là đình Chèm. Đình nằm trên một khu đất rộng ngoài đê sông Hồng, thuộc địa phận thôn Thụy Phương, huyện Từ Liêm, cách trung tâm Hà Nội 14 km về phía bắc. Đình làng thờ Lý Ông Trọng (Đức Thánh Chèm) - người làng Chèm, có sức khoẻ phi thường, và có công dưới thời Thục An Dương Vương. Trên các thượng lương trong đình, còn ghi lại các dòng chữ Hán cho biết di tích đã qua nhiều lần tu sửa lớn vào các năm Đức Long thứ ba (1631), Cảnh Hưng 34 (1773), Quang Trung thứ năm, Cảnh Thịnh thứ nhất (1793), Cảnh Thịnh thứ năm (1797), Hàm Nghi (1885), Duy Tân và Đồng Khánh. Quy mô hiện nay của di tích rất lớn. Các bộ phận kiến trúc phần lớn được trang trí, chạm khắc tỷ mỷ, công phu. Bên trong nhà còn lưu giữ được số lượng di vật khá phong phú. Đền Phù Đổng Đền Phù Đổng thuộc xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Từ trung tâm Hà Nội qua cầu Chương Dương theo quốc lộ số 1 tới cầu Đuống, vượt sang bên kia sông rồi rẽ phải đi thêm 5 km là xã Phù Đổng - quê hương của Thánh Gióng, vị thánh mới chỉ ba tuổi đã vươn mình lớn dậy, đánh đuổi giặc Ân, bảo vệ quê hương, đất nước. Đền Phù Đổng được vua Lý Thái Tổ cho lập từ khi dời đô ra Thăng Long (1010) và được trùng tu, sửa chữa nhiều lần. Ngôi đền hiện nay gồm: bái đường, hậu cung, nhà thuỷ đình múa rối nước ở ao trước đền. Trong đền, tượng Thánh Gióng khá lớn ngồi giữa, hai bên là tượng các quan hầu. Giá trị nhất là đôi rồng đá cách điệu đặt ở bậc thềm, đôi sư tử đá tạc vào thế kỷ XIX, cỗ ngai chạm trổ rất đẹp, tấm bia đá khắc năm 1660 và đôi choé sứ. Phù Đổng còn có các di tích đền Hạ thờ mẹ Thánh Gióng và miếu Ban, Cố Viên gắn với truyền thuyết Gióng chào đời, mẹ Gióng đến hái rau rồi ướm chân mình vào chân người khổng lồ; Giá Ngự và mộ Trần Đô Thống - vị tướng tiên phong trong đoàn quân phá giặc Ân; chùa Kiến Sơ, nơi Lý Công Uẩn được Thánh Gióng chúc mừng bằng bài thơ hiện lên thân cây, khi người đến thăm chùa. Hàng năm, tại đền Gióng, cứ vào ngày 9 tháng 4 âm lịch, dân làng Phù Đổng mở hội diễn lại sự tích Thánh Gióng đánh giặc Ân. Đền Sái Đền Sái ở trên một quả đồi thuộc xã Thuỵ Lâm, huyện Đông Anh, cách di tích Cổ Loa khoảng 5 km về phía bắc. Di tích gắn liền với việc xây thành Cổ Loa của An Dương Vương. Theo truyền thuyết, khi vua Thục đắp thành Cổ Loa, có bạch kê tinh ở Thất Diệu Sơn (núi Sái) quấy phá. Nhờ có thần Kim Quy giúp, thành ốc được xây xong. Để tưởng nhớ công tích đó, Thục An Dương Vương lập đền thờ Huyền Thiên trên núi Thất Diệu.
  38. Ngôi đền dựng trên toà núi đất nổi giữa cánh đồng. Các công trình kiến trúc kế tiếp nhau từ lưng chừng núi lên đỉnh. Dưới cùng là ngũ môn đồ sộ, tiếp đến gác chuông ba gian hai chái, sau đến đền kính thiên, tiền tế, bái đường và hậu cung. Các công trình kiến trúc có niên đại cuối Lê, đầu Nguyễn. Cổ nhất là hậu cung, nền nhà lát bằng nhiều viên gạch có trang trí nổi hình rồng, vật liệu kiến trúc tiêu biểu của thời Lê. Quanh đền còn có "Tiên Tỉnh", "Tiên Trì", "Mã Tích Tiên Đề", "Thạch Sùng". Hiện nay, đền Sái còn lưu giữ nhiều pho tượng cổ, sáu tấm bia đá, cây hương đá dựng từ đời Lê Chính Hoà. Hội đền Sái tổ chức vào ngày 12 tháng giêng âm lịch. Ngoài các lễ thức, trò chơi thượng võ truyền thống, còn có hội "Rước vua giả" diễn lại kỳ tích xây thành Cổ Loa. Đền Sóc Đền Sóc thuộc thôn Cảo Đỉnh, xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, cách trung tâm thành phố khoảng 12 km về phía tây bắc. Cùng với đền Phù Đổng ở Gia Lâm, đền Sóc ở Sóc Sơn và đền Sóc ở Cảo Đỉnh thờ Thánh Gióng (Phù Đổng Thiên Vương). Theo truyền thuyết ở địa phương, sau khi đánh tan giặc Ân, trên đường về núi Sóc (xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn), Gióng đã dừng chân nghỉ tại đây để xuống tắm ở Hồ Tây và ăn cơm với cà (cà Cảo). Khi lên đường, Gióng quên chiếc roi sắt đã bị gãy trong trận chiến, dân trong vùng bèn lập đền thờ. Dấu tích của đền nay còn lưu lại qua hệ thống chân tảng bằng đá có nghệ thuật thời Lê (thế kỷ XVII - XVIII), tấm bia trùng tu dựng năm Chính Hoà thứ bảy (1686), chuông đồng đúc năm Cảnh Thịnh thứ nhì ( 1794) và đặc biệt là pho tượng Thánh rất lớn: cao 4,5 m (cả bệ), ngang 1,6 m.Các vết tích còn lại cho biết ngôi đền trước đây có qui mô rất đồ sộ trên một mặt bằng rộng. Các hạng mục kiến trúc chính gồm nhà mộc dục, tam quan dẫn vào sân rộng, lên khu đền chính được bố cục theo chiều dọc với hậu cung cao 1,4 m so với tiền tế. Chung quanh là hệ thống cây lưu niên toả bóng. Hiện nay, Xuân Đỉnh vẫn còn đặc sản "cà Cảo", món ăn mà ông Gióng đã dùng khi xưa. Đền Bích Câu Nguyên tên là đền Bích Câu đạo quán, ở phường Bích Câu xưa, nay mang số nhà 12 phố Cát Linh quận Đống Đa, gần Văn Miếu. Đây vốn là nơi tu luyện của những người theo đạo Giáo, tức đạo Lão, học thuyết thần tiên. Đây cũng là nơi diễn ra câu chuyện tình của anh thư sin hnghèo Tú Uyên, có chiếc nhà tranh dựng trên gò Kim Quy cạnh hồ Phượng, với cô tiên nữ Giáng Kiều tình cờ gặp trọng hội chùa Ngọc Hồ. Truyện này đã được bà Đoàn Thị Điểm ghi lại trong tiểu thuyết Bích Câu kỳ ngộ (cuộc gặp kỳ lạ bên Ngòi Biếc). Tương tuyền đền dựng ngay trên nền nhà cũ của Tú Uyên từ năm Hồng Đức thứ 16 thời Lê (1485), đầu Nguyễn có tu bổ. Thời kỳ giặc Pháp tạm chiếm đã đốt phá đền, năm 1953 mới sửa lại như ngày nay.
  39. Gò Đống Đa Nằm bên đường phố Tây Sơn phường Quang Trung, quận Đống Đa. Khu vực này là nơi diễn ra trận chiến thắng oanh liệt của quân Tây Sơn với sự tham gia của nhân dân vùng Khương Thượng, do đô đốc Long (còn có tên là Đặng Tiến Đông) chỉ huy vào đêm 4 rạng ngày 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu (1789) diệt tan đồn Khương Thượng của giặc Thanh. Tướng giặc Sầm Nghi Đống phải treo cổ tự tử ở núi ốc (Loa Sơn) gần chùa Bộc bây giờ. Trận đánh đã mở đường cho đại quân ta từ Ngọc Hồi thừa thắng tiến vào giải phóng Thăng Long. Sau chiến thắng, vua Quang Trung cho thu nhặt xác quân giặc xếp vào 12 cái hố rộng, lấp đất chôn và đăp cao thành gò gọi là “kình nghê quán” (gò tô chôn xác kình ghê - 2 loài cá dữ ngoài biển) nhằm biểu dương chiến công của quân ta và cảnh cáo bọn nước lớn xâm lược. 12 gò này nằm giải rác từ làng Thịnh Quang đến làng Nam Đồng, trên các gò đã mọc um tùm nên thành tên Đống Đa. Năm 1851, do mở đường mở chợ, đào xẻ nhiều nơi thấy nhiều hài cốt giặc, lại cho thu vào một hố cao lên nối liền với núi Xưa, thành chiễ gò thứ 13, tức là gò còn lại hiện nay. Còn 12 gò khác đã bị phạt đi trong thời gian giặc Pháp mở rộng Hà Nội năm 1890. Chiến thắng Ngọc Hồi - Đầm Mực cùng với chiến thắng Đống Đa đã đập tan hoàn toàn 27 vạn quân Thanh, giải phóng thành Thăng Long, trong niềm hân hoan của dân chúng kinh thành. Mây tạnh, mù tan, trời lại sáng Đầy thành già trẻ mặt như hoa Chen vai khoác cánh cùng nhau nói “Cố đô vãn thuộc núi sông ta” (Đào Khê - Ngô Ngọc Du) Kỷ niệm 200 năm chiến thắng Đống Đa, khu tượng đài Quang Trung và công viên văn hóa Đống Đa đã được xây dựng tại khu đất bên cạnh gò lịch sử này, trông ra phố được mang tên Đặng Tiến Đông, người chỉ huy trận Đống Đa oanh liệt. Hội chiến thắng Đống Đa – Khương Thượng thường mở vào ngày mồng 5 tết hàng năm với tục rước rồng lửa đã thành lễ hội truyền thống tốt đẹp của người Hà Nội. Đền Trấn Vũ Đền còn có tên là Điện Trấn Vũ thuộc thôn Ngọc Trì, xã Thạch Bàn, huyện Gia Lâm, trên tuyến tham quan làng gốm cổ Bát Tràng, cách Hà Nội khoảng 8 km. Truyền thuyết kể rằng, vua Lê Thánh Tông trên đường đi đánh giặc Chiêm Thành, đã dừng chân tại đây. Đêm ấy, mộng thấy Thánh Tổ phù giúp vua. Sau này chiến thắng, vua Lê đã cho lập đền thờ, tạc tượng, đặt tên là Trấn Vũ đế quân. Trong đền còn có nhiều di vật cổ, độc đáo nhất là tượng Trấn Vũ ở chính giữa cung, hai bên tả hữu có 12 pho tượng đứng hầu. Tượng bằng đồng hun, được đúc trên tư thế ngồi trên bệ gạch cao 97 cm, rộng 130 cm, dài 290 cm, cao 380 cm, chu vi phần rộng nhất 590 cm, trọng lượng hơn 400 kg. Bài ký trên bia "Trấn Vũ điện bi ký" hiện còn trong đền cho biết, tượng Trấn Vũ được khởi dựng công đức từ năm 1788, đến tháng 8 năm 1802 thì hoàn thành. Pho tượng là kỷ vật đặc sắc của thời Tây Sơn, một đại khí của Thăng Long - Hà Nội.
  40. Đền và Chùa Bà Tấm Đền và chùa Bà Tấm thuộc xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, cạnh đường 5, cách trung tâm Hà Nội gần 20 km. Đền còn được gọi là đền Dương Xá, đền Ỷ Lan. Chùa có tên chữ Hán là "Linh Nhân Phúc Tự". Được xây dựng từ thời Lý, đền và chùa Bà Tấm là một trong những di tích lịch sử văn hoá cổ nhất nước ta. Chùa do Ỷ Lan Linh Nhân Hoàng Thái Hậu xây dựng năm 1115. Dấu tích hiện còn lưu lại là đôi sư tử đá, thành bậc chim phượng, chân tảng đá hoa sen, một số chim uyên ương bằng đất nung có niên đại thời Lý. Khi Ỷ Lan được hoá thân thành Thánh thì ngôi đền thờ Người cũng được lập. Thế kỷ XVII - XVIII, các vương phi, quận chúa họ Trịnh đã nhiều lần công đức tiền của cùng dân tu bổ ngôi chùa thể hiện qua hệ thống bia ở nhà thượng điện. Do vậy, di tích mang phong cách nghệ thuật của các thời Lý, Mạc, Lê, Nguyễn. Ỷ Lan là một nhân vật lịch sử lớn của vương triều Lý. Bà là người tài đức vẹn toàn và có nhiều công lao đóng góp cho sự phát triển của đất nước, hạnh phúc cho nhân dân. Bà được tôn vinh là Phật Bà Quan Âm - đồng nghĩa với cô Tấm, một mẫu hình văn hoá tiêu biểu của dân tộc. Một khu di tích lớn với gần một nghìn năm tồn tại và những hiện vật độc đáo hiện còn là một địa điểm khảo cổ học quan trọng trong việc tìm hiểu kiến trúc Phật giáo Việt Nam qua các thời đại. Các Di Tích Về Phù Đổng Thiên Vương Xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm nằm trên bờ bắc sông Đuống, cách ga Yên Viên 8km về phía Đông, còn có tên nôm là làng Gióng, quê hương của người anh hùng nổi tiếng trong truyền thuyết, lên ba tuổi đã cưỡi ngựa sắt, vung roi sắt đánh tan giặc Ân xâm lược vào thời vua Hùng thứ 6. Đền Gióng Tương truyền thời vua Lý Thái Tổ cho dựng trên nền nhà cũ của ông Gióng ngay từ khi nhà vua dời đô ra Thăng Long. Đền còn giữ được nhiều bộ phận kiến trúc của thời Lê Trung Hưng như chính diện, bái đường, nhà thiêu hương, nhà thủy đình để múa rối nước ở ao trước đền (1775). Tam quan được xây sau vào năm cuối thế kỷ 19. Tượng Thánh Gióng khá lớn đặt trong chính điện, ngồi giữa hai dãy tượng 6 quan văn, võ, 2 người hầu cận đứng, 2 phỗng quỳ và 4 viên cận, vệ binh. Hiện vật đáng chú ý ở Đền Thượng này là đôi rồng đá cách điệu làm bậc thềm, nét chạm khỏe và phóng khoáng; đôi sư tử đá tạc từ thời Lê Dụ Tông (1705), một số gạch trang trí rồng ở ven thềm đền; cỗ ngai thờ khá đẹp thời Lê, bia năm 1660; đôi chóe sứ cổ tương truyền là của bà Chúa Chè Đặng Thị Huệ cung tiến cuối thế kỷ 18. Đặc biệt có nhiều hoành phi câu đối, đáng quý la câu đối của Nguyễn Du: Thiên giáng thánh nhân bình Bắc địch Địa lưu thần tích trấn Nam bang. Dịch Người thánh vốn trời sinh, dẹp tan giặc Bắc Dấu thần lưu đất cũ, giữ vững nước Nam Và Cao Bá Quát đã viết Phá tặc thượng hiềm tam tuế vãn Đằng không do hận cửu thiên đê Dịch Đánh giặc lên ba hiềm vẫn muộn Vượt trời tầng chín giận chưa cao
  41. Đền Mẫu Còn gọi là đền Hạ, tên chữ là khánh Quang Điện, ở ngoài đê là nơi thờ bà mẹ Thánh Gióng. Đền được xây dựng năm 1693. Trước đền có ao hình bầu dục là nơi hàng năm tiến hành lấy nước rước về đền Thượng cúng. Cách đền Mộu nửa km về phía đông bắc là khu vườn cũ của mẹ Thánh Gióng, có bia đá đặt trong một nhà bia nhỏ và tảng đá in dấu chân người khổng lồ đã từng giẫm nát vườn rau này trong một đêm mưa, sau đó bà mẹ Gióng ướm thử chân vào đấy nên đã có mang sinh ra Gióng. Nơi này được gọi là Cố Viên (vườn cũ) Miếu đền còn dấu Cố Viên Sử xanh, bia đá lưu truyền từ xưa. Miếu Ban Cũng thờ mẹ Thánh Gióng, ở nơi sinh ra người anh hùng. Sau miếu, trên mô đất nổi giữa giếng tròn có đặt một bể đá, một liền đá để ghi lại sự tích ấy. Hội Gióng tổ chức vào ngày 09 tháng 4 Âm lịch là một cuộc diễn xướng tổng hợp ca múa nhạc, nhắc lại bản anh hùng ca của ông Gióng dẹp giặc Ân, một Hội trận truyền thống có quy mô lớn nhất vùng Hà Nội. Ca dao cổ còn nhắc: Ai ơi mồng chín tháng tư Không đi Hội Gióng cũng hư mất đời Cạnh đền Thượng, còn có ngôi chùa Kiến Sơ, một ngôi chùa rất cổ, tương truyền nhà sư Võ Ngôn Thông đời Đường đã sang tu ở đây và mở ra phái Thiền Tông trong đạo Phật ở nước ta. Trong chùa có tượng Lý Công Uốn, người mở mang đền Gióng rồi sau về tu tại chùa này, ngoài ra còn có tượng 18 vị La Hán, đông thập điện, chuông đồng, khánh đá, bia trụ Ngoài cụm di tích Phù Đổng, còn hai nơi khác ở Hà Nội thơ Thánh Gióng. Đền Sóc Xuân Tảo Đền Sóc nằm ở thôn Xuân Tảo, xã Xuân Đỉnh huyện Từ Liêm. Tương truyền sau khi đánh tan giặc Ân, phi ngựa sắt đến bến Bồ Đề, dừng lại cho ngựa uống nước sông Hồng, dấu hcân ngựa còn in lại trên một phiến đá lớn ở thôn Phú Viên, ông Gióng tiếp tục hành trình ruổi ngựa qua sông, đi ngược lên đến bờ Hồ Tây, ông buộc ngựa vào gốc cây, xuống tắm mát, giở cơm nắm ra ăn, rồi mới phi ngựa lên núi Sóc bay về trời, để quên chiếc roi sắt. Nhân dân lập đền thờ ở nơi ông nghỉ lại, trên gò con Phượng cạnh gốc đa. Trước đền có cổng tam quan, cột trụ này từng là điểm liên lạc của Đảng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa. Lầu bát giác có một phiến đá tượng trưng cho nơi ông Gióng ngồi ăn cơm. Đền có một câu đối rất hay: Ân tác tội dương tru, tam tuế nhung y trương nhất nộ Sóc Sơn linh bất tán, đằng không thiết mã hể trùng lai. Nghĩa là: Tội ác giặc Ân quyết không tha, mới ba tuổi thơ, áo nhung đã tung bay vì căm giận Khí thiêng núi Sóc còn nguyên vẹn, từ chín tầng thẳm, ngựa sắt hằng mong đợi thẩy quay về.
  42. Đền Gióng núi Sóc ở trên núi Sóc, còn gọi là núi Phù Mã, núi Vệ Linh, nay ở xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, cách Đa Phúc 4km về phía Tây. Tại đây có hai đền thờ Phù Đổng Thiên Vương. Đền Thượng làm từ thời Vua Hùng, nă m980, vua Lê Đại hành cho xây lại; Đền Hạ xây vào thế kỷ 19, năm 1898 đền bị cháy chỉ còn đôi ngựa gỗ là di tích cổ. Khu đền vừa được trùng tu lại khang trang, bên cạnh có chùa Đại Bi, Miếu Thánh Mẫu, nhà bia. Tương truyền ông Gióng đánh tan giặc, về tới đây, cởi áo treo ở đồi Mã rồi phi ngựa thẳng lên núi cưỡi mây bay về trời. Trên núi, nay còn một mô đá hình như cái gốc cây, gọi là “cây cởi áo”. Dưới chân núi, ở dốc Mã và làng Mã có rất nhiều ao chuôm, người ta bảo đó là dấu chân ngựa của Thánh Gióng, khi về đến đây ngài xoay ngựa khắp bốn phía. Ngựa hí vang trời rồi mới nhún mạnh bốn vó phóng lên trời. Nhân dân trong xã cho biết: trước kia đền quay về hướng đông, tới đời Lê mới xoay về hướng Bắc với lý do “giặc thường từ hướng đó đến”, biểu lộ ý thức cảnh giác cao của cha ông ta trong truyền thống đánh giặc giữ nước. Hội đền Sóc Sơn mở vào ngày mồng 6 tháng giêng âm lịch. Lời ca giao duyên xưa còn có câu: Sóc Sơn là ngọn núi nào Có ông Thánh Gióng bay vào trời xanh. Hội đền ngay ở gần quốc lộ 3, có núi cao, rừng thông, hồ rộng tạo nên cảnh quan du lịch hấp dẫn không chỉ với du khách trong nước mà thu hút sự quan tâm, thích thú của đông đảo khách nước ngoài. Từ trung tâm Thủ đô đến Đền Sóc chỉ hơn 40 km. Có thể đi băng 2 ngả đường Thăng Long – Nội Bài quặt xuống Phủ Lỗ rồi lên Sóc Sơn theo quốc lộ 3 hoặc đi qua cầu Gia Lâm, cầu Đuống rẽ lên Phủ Lỗ thẳng tới đền Sóc. Tháp Rùa Xây trên gò Rùa ở phía nam Hồ, từng là nơi câu cá giải trí của vua quan triều Lê Tầng dưới vốn là đình Tả Vọng, di tích cũ do Trịnh Giang xây từ thế kỳ 18. Năm 1884, một tên tay sai của giặc Pháp lấy cớ xây tháp lên trên để làm “gối đăng sau” cho chùa Báo Ân ở phía đông hồ, nhưng chính là âm mưu đưa thi hài cốt bố mẹ y ra táng ở Gò Rùa, một mảnh đất rất tốt theo thuật phong thủy. Nhưng nhân dân biết đã bí mât đào hai nắm xương tàn ấy quẳng xuống hồ mất tăm. Hồ Gươm im bóng Thap Rùa ánh đèn soi tỏ mái chùa Ngọc Sơn Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn Tháp Rùa gắn bó với Đền Ngọc Sơn trở thành một cảnh quan ngoạn mục tô điểm cho Hồ Gươm. Nhà thờ Cửa Bắc Nhà thờ ở 56 phố Phan Đình Phùng, quận Ba Đình, xây dựng ở Cửa Bắc thành Thăng Long vào năm 1931 - 1932, do một linh mục, kiến trúc sư người Pháp tên là Đô-pô-lit (tên Việt gọi đó là Cố Hương) thiết kế theo kiểu hình chữ nhật (kiến trúc Ba-xi-la-va), kết hợp phong cách Á - Âu, không tuân theo quy tắc đối xứng,