Tài liệu Bồi dưỡng về phòng, chống tham nhũng (Phần 2)

pdf 99 trang ngocly 60
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Bồi dưỡng về phòng, chống tham nhũng (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdftai_lieu_boi_duong_ve_phong_chong_tham_nhung_phan_2.pdf

Nội dung text: Tài liệu Bồi dưỡng về phòng, chống tham nhũng (Phần 2)

  1. sản của vợ hoặc chồng và con chƣa thành niên. Đối tƣợng tài sản phải kê khai đƣợc mở rộng hơn so với Pháp lệnh chống tham nhũng năm 1998. - Việc xác minh tài sản đƣợc tiến hành trong một số trƣờng hợp nhất định. Đây là một điểm mới so với Pháp lệnh chống tham nhũng năm 1998. Khi xem xét đề bạt, bổ nhiệm, bầu cử hoặc có hành vi tham nhũng thì thủ trƣởng cơ quan tổ chức việc xác minh tài sản để xem cán bộ, công chức có kê khai trung thực hay không. - Bản kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản đƣợc công khai trong một số trƣờng hợp nhất định theo yêu cầu và trên cơ sở quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. - Ngƣời có nghĩa vụ kê khai tài sản sẽ phải chịu trách nhiệm kỷ luật nếu kê khai không trung thực, nếu là ngƣời ứng cử thì sẽ bị loại khỏi danh sách bầu cử, ngƣời đƣợc dự kiến bổ nhiệm, phê chuẩn thì sẽ không đƣợc bổ nhiệm, phê chuẩn vào chức vụ dự kiến. So với Pháp lệnh chống tham nhũng năm 1998, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 đƣa ra một số nội dung mới: Một là, không chỉ kê khai tài sản của cá nhân cán bộ, công chức mà kê khai tài sản của cả vợ và con chƣa thành niên để ngăn chặn việc phân tán tài sản tham nhũng, tránh sự phát hiện của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền. Hai là, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định việc xác minh tài sản trong những trƣờng hợp nhất định khi có quyết định của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền. Ba là, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định về việc công khai kết luận về tính minh bạch trong kê khai tài 116
  2. sản. Với tinh thần đó, việc minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức đã khác với trƣớc kia chỉ quy định về kê khai tài sản thu nhập của cán bộ, công chức, nay mục tiêu là tiến tới minh bạch tài sản cán bộ, công chức. Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 không đặt vấn đề công khai bản kê khai tài sản mà chỉ quy định công khai kết luận về tính minh bạch, trung thực của việc kê khai sau khi đã tiến hành xác minh theo các hình thức và ở những địa điểm thích hợp. a) Về đối tượng có nghĩa vụ phải kê khai: Theo quy định tại Điều 44 của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005, không phải mọi cán bộ, công chức đều phải có nghĩa vụ kê khai tài sản, mà chỉ cán bộ có chức vụ từ phó trƣởng phòng của cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên hoặc tƣơng đƣơng trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cán bộ, công chức làm tại một số vị trí nhất định (sẽ do Chính phủ quy định). Cụ thể, những ngƣời sau đây phải kê khai tài sản: - Cán bộ từ phó trƣởng phòng của uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên và tƣơng đƣơng trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị; - Một số cán bộ, công chức tại xã, phƣờng, thị trấn; ngƣời làm công tác quản lý ngân sách, tài sản của Nhà nƣớc hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân; - Ngƣời ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân. 117
  3. Để cụ thể hoá quy định này, tại Điều 6 Nghị định số số 37/2007/NĐ-CP ngày 09-3-2007 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập đã quy định cụ thể ngƣời có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập bao gồm: - Đại biểu Quốc hội chuyên trách, đại biểu hội đồng nhân dân chuyên trách, ngƣời ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân. - Cán bộ, công chức từ phó trƣởng phòng của ủy ban nhân dân cấp huyện trở lên và ngƣời đƣợc hƣởng phụ cấp chức vụ tƣơng đƣơng phó trƣởng phòng của ủy ban nhân dân cấp huyện trở lên trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. - Sĩ quan giữ cƣơng vị chỉ huy từ cấp phó tiểu đoàn trƣởng, phó chỉ huy, trƣởng ban chỉ huy quân sự cấp huyện trở lên trong Quân đội nhân dân; sĩ quan giữ cƣơng vị chỉ huy từ cấp phó tiểu đoàn trƣởng, phó trƣởng công an phƣờng, thị trấn, phó đội trƣởng trở lên trong Công an nhân dân. - Giám đốc, phó giám đốc, viện trƣởng, phó viện trƣởng, kế toán trƣởng, trƣởng phòng, phó trƣởng phòng, trƣởng khoa, phó trƣởng khoa, bác sĩ chính tại các bệnh viện, viện nghiên cứu của Nhà nƣớc. - Tổng biên tập, phó tổng biên tập, kế toán trƣởng, trƣởng phòng, phó trƣởng phòng, trƣởng ban, phó trƣởng ban báo, tạp chí có sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nƣớc. - Hiệu trƣởng, phó hiệu trƣởng, kế toán trƣởng trƣờng mầm non, tiểu học của Nhà nƣớc tại quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; hiệu trƣởng, phó hiệu trƣởng, kế toán trƣởng trƣờng trung học cơ sở, trung học phổ thông, trƣờng trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề, trung tâm giáo dục thƣờng xuyên của Nhà 118
  4. nƣớc; hiệu trƣởng, phó hiệu trƣởng, kế toán trƣởng, trƣởng phòng, phó trƣởng phòng, trƣởng khoa, phó trƣởng khoa, giảng viên chính trƣờng đại học, cao đẳng của Nhà nƣớc. - Giám đốc, phó giám đốc, kế toán trƣởng, trƣởng phòng, phó trƣởng phòng, trƣởng ban, phó trƣởng ban tại ban quản lý dự án đầu tƣ xây dựng có sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nƣớc; giám đốc, phó giám đốc, kế toán trƣởng ban quản lý dự án sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). - Tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, giám đốc, phó giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị, phó chủ tịch hội đồng quản trị, thành viên hội đồng quản trị, trƣởng ban kiểm soát, phó trƣởng ban kiểm soát, thành viên ban kiểm soát, kế toán trƣởng, trƣởng phòng, phó trƣởng phòng, trƣởng ban, phó trƣởng ban các phòng, ban nghiệp vụ trong công ty nhà nƣớc; ngƣời đƣợc Nhà nƣớc cử giữ chức vụ kể trên trong doanh nghiệp có vốn đầu tƣ của Nhà nƣớc. - Bí thƣ, phó bí thƣ đảng ủy; chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân; chủ tịch, phó chủ tịch, uỷ viên ủy ban nhân dân xã, phƣờng, thị trấn; trƣởng công an, chỉ huy trƣởng quân sự xã; cán bộ địa chính - xây dựng, tài chính - kế toán của ủy ban nhân dân xã, phƣờng, thị trấn. - Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, thƣ ký toà án, kiểm toán viên nhà nƣớc, thanh tra viên, chấp hành viên, công chứng viên nhà nƣớc. - Bộ trƣởng Bộ Nội vụ, sau khi thống nhất với bộ trƣởng, thủ trƣởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trƣởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nƣớc, Chánh Văn phòng Trung ƣơng Đảng, trƣởng các 119
  5. ban của Trung ƣơng Đảng, ngƣời đứng đầu cơ quan trung ƣơng của tổ chức chính trị - xã hội, trình Thủ tƣớng Chính phủ ban hành danh sách đối với ngƣời có nghĩa vụ phải kê khai tài sản, thu nhập là: ngƣời làm công tác quản lý ngân sách, tài sản của Nhà nƣớc hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong cơ quan hành chính nhà nƣớc các cấp, cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội, văn phòng Quốc hội, Văn phòng hội đồng nhân dân, Văn phòng Chủ tịch nƣớc. Ngày 03-07-2008, Thủ tƣớng Chính phủ đã ký Quyết định 85/2008/QĐ-TTg ban hành danh mục người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập hiện đang làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước, lực lượng vũ trang. Thông tƣ số 2442/2007/TT-TTCP ngày 13-11-2007 của Thanh tra Chính phủ hƣớng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 37/2007/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Thông tƣ số 2442/2007/TT-TTCP) đã cụ thể hóa thêm một bƣớc nữa về vấn đề này, bổ sung thêm nhóm đối tƣợng thứ hai là các cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến hoạt động minh bạch tài sản, thu nhập, bao gồm: cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi ngƣời có nghĩa vụ kê khai công tác; cơ quan, tổ chức có thẩm quyền yêu cầu xác minh; cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền ra quyết định xác minh; cơ quan, tổ chức, đơn vị tiến hành xác minh và cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan. Ngày 22-1-2010, Thanh tra Chính phủ đã ban hành Thông tƣ 01/2010/TT-TTCP sửa đổi, bổ sung một số quy định tại Thông tƣ số 2442 (sau đây gọi tắt là Thông tƣ số 01/2010/TT- 120
  6. TTCP). Theo đó, những đối tƣợng sau đây có nghĩa vụ phải kê khai: - Ngƣời có nghĩa vụ kê khai tại khoản 2, Điều 6, Nghị định số 37/2007/NĐ-CP là những ngƣời có chức vụ từ phó trƣởng phòng ủy ban nhân dân cấp huyện và tƣơng đƣơng trở lên, bao gồm: + Cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan và đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ƣơng, cấp tỉnh và cấp huyện; trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân không phải là hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp; + Những ngƣời đƣợc Đảng, Nhà nƣớc điều động, phân công và những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm theo chỉ tiêu biên chế đƣợc giao làm việc trong tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp. - Ngƣời có nghĩa vụ kê khai tại khoản 8, Điều 6, Nghị định số 37/2007/NĐ-CP: đối với tập đoàn kinh tế, tổng công ty, công ty nhà nƣớc, công ty cổ phần có vốn góp của nhà nƣớc thì đối tƣợng có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập đáp ứng đủ hai điều kiện sau: + Giữ một trong các chức danh tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, giám đốc, phó giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị, phó chủ tịch hội đồng quản trị, thành viên hội đồng quản trị, trƣởng ban kiểm soát, phó trƣởng ban kiểm soát, thành viên ban kiểm soát, kế toán trƣởng, trƣởng ban, phó trƣởng ban, trƣởng phòng, phó trƣởng phòng trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty, công ty nhà 121
  7. nƣớc, công ty cổ phần có vốn góp của nhà nƣớc; + Các chức danh trên do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền cử giữ, bổ nhiệm; hoặc do hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị của công ty cổ phần bầu, bổ nhiệm và là ngƣời đại diện phần vốn góp của nhà nƣớc tại công ty đó. b) Quyền và nghĩa vụ của người kê khai tài sản Theo quy định của pháp luật, ngƣời có nghĩa vụ kê khai tài sản phải kê khai tài sản, mọi biến động về tài sản thuộc sở hữu của mình và tài sản thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng và con chƣa thành niên. Ngƣời có nghĩa vụ kê khai tài sản phải kê khai trung thực và chịu trách nhiệm về việc kê khai. Khi kê khai, ngƣời có nghĩa vụ kê khai phải ghi rõ những thay đổi về tài sản so với lần kê khai trƣớc. Cụ thể hoá nội dung về quyền và nghĩa vụ của ngƣời kê khai tài sản, Điều 7 Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 09-3- 2007 của Chính phủ (sau đây gọi tắt là Nghị định số 37/2007/NĐ-CP) quy định: - Ngƣời có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập có các quyền sau: + Đƣợc bảo đảm bí mật nội dung của bản kê khai tài sản, thu nhập theo quy định của pháp luật; + Khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập tại Luật phòng, chống tham nhũng và Nghị định số 37/2007/NĐ-CP; + Đƣợc khôi phục danh dự, uy tín, đƣợc bồi thƣờng thiệt hại do hành vi vi phạm các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập 122
  8. gây ra. - Ngƣời có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập có các nghĩa vụ sau: + Kê khai trung thực, đầy đủ, đúng thời hạn về số lƣợng tài sản, thu nhập phải kê khai và những thay đổi so với lần kê khai gần nhất trƣớc đó; + Giải trình trung thực, đầy đủ, kịp thời về các nội dung liên quan đến việc kê khai tài sản, thu nhập khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền; + Thực hiện đầy đủ các yêu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền phục vụ cho việc xác minh tài sản, thu nhập. Ngƣời có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập là thành viên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thì ngoài việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ đƣợc quy định nói trên còn phải thực hiện các nghĩa vụ về kê khai tài sản, thu nhập do tổ chức đó quy định. Tại mục IV, Phần 1 Thông tƣ số 2442/2007/TT-TTCP quy định: ngƣời có nghĩa vụ kê khai theo quy định tại khoản 1, Điều 44, Luật phòng, chống tham nhũng và Điều 6 Nghị định số 37/2007/NĐ-CP phải thực hiện việc kê khai hằng năm và kê khai phục vụ việc bổ nhiệm. Ngƣời có nghĩa vụ kê khai phải tự kê khai và tự chịu trách nhiệm về nội dung và sự trung thực của việc kê khai. Việc kê khai hằng năm được tiến hành theo trình tự sau: Để đảm bảo công tác kê khai đúng quy định và thời hạn, tháng 11 hằng năm, căn cứ quy định tại Điều 9 và Điều 10, Nghị định số 37/2007/NĐ-CP, đơn vị phụ trách công tác tổ chức, cán bộ của cơ quan, tổ chức, đơn vị lập danh sách ngƣời 123
  9. có nghĩa vụ kê khai trình ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phê duyệt. Việc phê duyệt hoàn thành chậm nhất là ngày 30 tháng 11 hằng năm. Sau khi danh sách ngƣời có nghĩa vụ kê khai đƣợc phê duyệt, đơn vị phụ trách công tác tổ chức, cán bộ phát mẫu bản kê khai và hƣớng dẫn kê khai: - Nếu kê khai lần đầu thì ngƣời kê khai phải ký, ghi rõ họ tên, ngày, tháng, năm kê khai vào bản kê khai và không phải điền các thông tin tại phần chỉ tiêu tăng, giảm tài sản, thu nhập (phần thông tin về biến động tài sản) theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Nghị định số 37/2007/NĐ-CP. - Nếu kê khai bổ sung thì kê khai theo Mẫu số 01A ban hành kèm theo Thông tƣ số 01/2010/TT-TTCP thay cho Mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tƣ số 2442/2007/TT-TTCP (Mẫu số 01A là Mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tƣ số 2442/2007/TT-TTCP đƣợc sửa đổi, bổ sung thêm ô đánh dấu biến động tăng, biến động giảm; bỏ ô có biến động tài sản, thu nhập phải kê khai). Ngƣời có nghĩa vụ kê khai thực hiện việc kê khai và nộp bản kê khai cho đơn vị phụ trách công tác tổ chức, cán bộ trong thời hạn mƣời ngày, kể từ ngày nhận đƣợc Mẫu bản kê khai. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản kê khai, đơn vị phụ trách công tác tổ chức, cán bộ phải kiểm tra lại bản kê khai; nếu thấy việc kê khai chƣa đúng mẫu quy định thì yêu cầu kê khai lại; thời hạn kê khai lại là năm ngày, kể từ ngày nhận đƣợc yêu cầu. Khi tiếp nhận bản kê khai, ngƣời tiếp nhận phải làm Giấy 124
  10. giao nhận theo Mẫu ban hành kèm theo Nghị định số 37/2007/NĐ-CP và ký nhận. Việc kê khai và nộp bản kê khai có thể chậm hơn các thời hạn nói trên nếu ngƣời có nghĩa vụ kê khai có lý do chính đáng (ốm, đi công tác vắng, ). Việc lƣu giữ bản kê khai thực hiện nhƣ sau: - Nếu ngƣời kê khai không thuộc diện cấp ủy quản lý theo quy định về phân cấp quản lý cán bộ thì bản kê khai đƣợc lƣu cùng hồ sơ cán bộ của ngƣời đó tại đơn vị phụ trách công tác tổ chức, cán bộ; ngƣời kê khai có trách nhiệm lƣu giữ bản sao bản kê khai của mình. - Nếu ngƣời kê khai thuộc diện cấp ủy quản lý theo quy định về phân cấp quản lý cán bộ thì đơn vị phụ trách công tác tổ chức, cán bộ sao y 02 bản; nộp bản gốc cho ban tổ chức cấp ủy cùng cấp; lƣu 01 bản sao tại đơn vị mình; gửi 01 bản sao cho ủy ban kiểm tra cấp ủy cùng cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ (để phục vụ công tác giám sát và xác minh theo quy định). Đối với bản kê khai của ngƣời kê khai thuộc diện cấp ủy quản lý mà trƣớc đây đã sao y 3 bản (gửi 1 bản cho ủy ban kiểm tra cấp ủy cùng cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ; gửi 1 bản cho cơ quan thanh tra nhà nƣớc cùng cấp; lƣu 1 bản tại đơn vị phụ trách công tác tổ chức, cán bộ) thì cơ quan, đơn vị này thực hiện quản lý bản kê khai theo quy định về quản lý hồ sơ cán bộ. Tất cả các hoạt động trên phải hoàn thành chậm nhất vào ngày 31 tháng 12 của năm kê khai. Việc kê khai phục vụ công tác bổ nhiệm được thực hiện theo trình tự dưới đây: 125
  11. - Khi có kế hoạch, dự kiến bổ nhiệm thì ngƣời có thẩm quyền bổ nhiệm yêu cầu ngƣời dự kiến đƣợc bổ nhiệm thực hiện việc kê khai. Nếu ngƣời dự kiến đƣợc bổ nhiệm chƣa kê khai lần đầu thì phát Mẫu ban hành kèm theo Nghị định số 37/2007/NĐ-CP; nếu đã kê khai lần đầu thì phát Mẫu số 1 ban hành kèm theo Thông tƣ số 2442/2007/TT-TTCP. - Thời hạn kê khai, nộp bản kê khai do ngƣời có thẩm quyền bổ nhiệm ấn định để bảo đảm việc bổ nhiệm đƣợc thực hiện theo đúng quy trình, nhƣng phải hoàn thành trƣớc thời điểm lấy phiếu tín nhiệm và đảm bảo đủ thời gian 10 ngày cho ngƣời kê khai thực hiện việc kê khai. c) Về tài sản phải kê khai So với quy định trƣớc kia thì vấn đề tài sản phải kê khai đƣợc quy định đầy đủ hơn, bao gồm: - Nhà, quyền sử dụng đất; - Kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá trị và các loại tài sản khác mà giá trị của mỗi loại từ năm mƣơi triệu đồng trở lên; - Tài sản, tài khoản ở nƣớc ngoài; - Thu nhập phải chịu thuế theo quy định của pháp luật. Điều 8, Nghị định số 37/2007/NĐ-CP đã cụ thể hoá tài sản phải kê khai bao gồm: - Các loại nhà, công trình xây dựng sau: + Nhà, công trình xây dựng khác đang thuê hoặc đang sử dụng thuộc sở hữu của Nhà nƣớc; + Nhà, công trình xây dựng khác thuộc sở hữu của bản thân, vợ hoặc chồng và con chƣa thành niên đã đƣợc cấp giấy chứng 126
  12. nhận quyền sở hữu; + Nhà, công trình xây dựng khác thuộc sở hữu của bản thân, vợ hoặc chồng và con chƣa thành niên nhƣng chƣa đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu đứng tên ngƣời khác. - Các quyền sử dụng đất sau: + Quyền sử dụng đất của bản thân, vợ hoặc chồng và con chƣa thành niên đã đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng; + Quyền sử dụng đất của bản thân, vợ hoặc chồng và con chƣa thành niên nhƣng chƣa đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên ngƣời khác. - Tài sản, tài khoản ở nƣớc ngoài của bản thân, vợ hoặc chồng và con chƣa thành niên. - Thu nhập từ mức phải chịu thuế thu nhập cá nhân trở lên theo quy định của pháp luật. - Kim khí quý, đá quý, tiền, sổ tiết kiệm, cổ phiếu, trái phiếu, séc, các công cụ chuyển nhƣợng khác, mô tô, ôtô, tàu, thuyền và các loại tài sản khác mà giá trị của mỗi loại từ năm mƣơi triệu đồng trở lên. Thủ tục kê khai tài sản đƣợc thực hiện tƣơng tự nhƣ trƣớc: Việc kê khai tài sản đƣợc thực hiện hằng năm tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi ngƣời có nghĩa vụ kê khai làm việc và đƣợc hoàn thành chậm nhất vào ngày 31 tháng 12. Bản kê khai tài sản đƣợc nộp cho cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý ngƣời có nghĩa vụ kê khai tài sản. d) Về xác minh tài sản thu nhập và xử lý vi phạm 127
  13. Xác minh tài sản là một quy định mới của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 so với Pháp lệnh chống tham nhũng năm 1998. Mục đích của việc xác minh tài sản là để đánh giá về tính trung thực của việc kê khai, góp phần đánh giá cán bộ, công chức hoặc ngƣời tham gia ứng cử vào các cơ quan quyền lực để bảo đảm bộ máy nhà nƣớc có một đội ngũ cán bộ trung thực, liêm chính, không tham nhũng. Tuy nhiên, quyền sở hữu về tài sản là một trong những quyền cơ bản của công dân cần đƣợc tôn trọng và bảo vệ. Vì vậy, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định vấn đề này rất chặt chẽ, việc xác minh chỉ đƣợc tiến hành trong trƣờng hợp có đủ hai điều kiện: - Phải có quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý ngƣời có nghĩa vụ kê khai tài sản. - Chỉ đƣợc thực hiện trong các trƣờng hợp Luật định. Cụ thể, Điều 47, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định nhƣ sau: - Việc xác minh tài sản chỉ đƣợc thực hiện khi có quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý ngƣời có nghĩa vụ kê khai tài sản. - Việc xác minh tài sản đƣợc thực hiện trong các trƣờng hợp sau đây: + Phục vụ cho việc bầu cử, bổ nhiệm, cách chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc kỷ luật đối với ngƣời có nghĩa vụ kê khai tài sản khi xét thấy cần thiết; + Theo yêu cầu của hội đồng bầu cử hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; + Có hành vi tham nhũng Trên thực tế, việc xác minh tài sản là vấn đề cực kỳ phức 128
  14. tạp vì liên quan đến việc phân cấp quản lý cán bộ, công chức, trong đó có vai trò của các cơ quan Đảng bởi vì nhiều cán bộ, công chức là đảng viên thuộc diện cấp uỷ quản lý. Thông tƣ số 2442/2007/TT-TTCP đã chia thành các nhóm đối tƣợng khác nhau, nội dung, trình tự xác minh cũng nhƣ việc công khai kết luận xác minh và việc xử lý đối với những ngƣời kê khai không trung thực. Qua xác minh, nếu ngƣời bị kết luận là không trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập thì tuỳ theo tính chất, mức độ bị xử lý bằng một trong các hình thức kỷ luật sau: - Khiển trách; - Cảnh cáo; - Hạ bậc lƣơng; - Hạ ngạch. Đối với ngƣời kê khai tài sản, thu nhập không trung thực là ngƣời ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân, ngƣời dự kiến đƣợc bầu, phê chuẩn tại Quốc hội, hội đồng nhân dân, đại hội của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, ngƣời dự kiến đƣợc phê chuẩn, bổ nhiệm thì bị xử lý nhƣ sau: - Ngƣời ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân mà bị kết luận là kê khai tài sản, thu nhập không trung thực thì bị xoá tên khỏi danh sách ngƣời ứng cử trong thời hạn một nhiệm kỳ. - Ngƣời dự kiến đƣợc bầu, phê chuẩn tại Quốc hội, hội đồng nhân dân, đại hội của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, ngƣời dự kiến đƣợc phê chuẩn, bổ nhiệm mà bị kết luận là kê khai tài sản, thu nhập không trung thực thì không đƣợc bầu, phê chuẩn, bổ nhiệm trong thời hạn một năm, kể từ ngày bị kết 129
  15. luận là kê khai không trung thực. - Ngƣời ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân, ngƣời dự kiến đƣợc bầu, phê chuẩn, bổ nhiệm bị kết luận là kê khai tài sản, thu nhập không trung thực mà ngƣời đó là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân ngoài việc bị xử lý theo quy định trên thì còn bị xử lý kỷ luật. Tiếp tục thực hiện việc minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, Chiến lƣợc quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 yêu cầu: sửa đổi, bổ sung các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập theo hƣớng từng bƣớc công khai và quy định trách nhiệm giải trình nguồn gốc tài sản, thu nhập; thực hiện việc chi trả qua tài khoản đối với tất cả các khoản chi từ ngân sách nhà nƣớc cho cán bộ, công chức; Tăng cƣờng thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về công vụ, công chức, nhất là việc minh bạch tài sản, thu nhập, việc thực thi công vụ ở những vị trí trực tiếp giải quyết yêu cầu của công dân, tổ chức, doanh nghiệp. 5. Chế độ trách nhiệm của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng Đề cao trách nhiệm ngƣời đứng đầu là một yếu tố quan trọng trong quản lý nhà nƣớc và chống tham nhũng nói riêng. Luật phòng, chống tham nhũng quy định một cách chi tiết về vấn đề này, bao gồm những nội dung chính sau: - Phân định trách nhiệm của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức với cấp phó đƣợc giao phụ trách các lĩnh vực; theo đó, 130
  16. ngƣời đứng đầu chịu trách nhiệm chung và chịu trách nhiệm trực tiếp đối với lĩnh vực do mình quản lý, cấp phó chịu trách nhiệm trực tiếp đối với lĩnh vực đƣợc giao phụ trách. - Phân cấp trách nhiệm rõ ràng cho ngƣời đứng đầu đơn vị, phải chịu trách nhiệm trực tiếp khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong đơn vị mình. Để tạo cơ sở xử lý trách nhiệm ngƣời đứng đầu, trong kết luận thanh tra, kiểm toán, điều tra phải có kết luận về trách nhiệm của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi xảy ra tham nhũng là yếu kém trong quản lý, buông lỏng quản lý hay bao che cho hành vi tham nhũng. Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 đã khẳng định lại nguyên tắc: Ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. Trên cơ sở nguyên tắc chung nhƣ trên, Luật cũng quy định tuỳ từng trƣờng hợp cụ thể mà xác định mức độ trách nhiệm khác nhau của ngƣời đứng đầu và cấp phó của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, có trƣờng hợp họ phải chịu trách nhiệm trực tiếp, có trƣờng hợp thì liên đới chịu trách nhiệm. Ở mọi cơ quan, tổ chức đều có sự phân công trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo điều hành giữa ngƣời đứng đầu và các cấp phó của họ, theo đó, cấp phó có thể đƣợc giao phụ trách từng mảng công việc hay lĩnh vực công tác nhất định hoặc trực tiếp phụ trách một hoặc một số đơn vị trong cơ quan tổ chức. Trong trƣờng hợp này, ngƣời đƣợc phân công phụ trách phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong đơn vị mà họ phụ trách, còn ngƣời đứng đầu thì vẫn phải 131
  17. chịu trách nhiệm liên đới. Khoản 2, Điều 54, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định cấp phó của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị do mình trực tiếp phụ trách. Ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm liên đới về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị do cấp phó của mình trực tiếp phụ trách. Ngƣời đứng đầu đơn vị trực thuộc cơ quan, tổ chức phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong đơn vị do mình quản lý. Mặc dù đề cao trách nhiệm của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị đối với việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do họ phụ trách nhƣng do tính chất phức tạp của tệ nạn tham nhũng nên Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 cũng quy định việc loại trừ trách nhiệm của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong những trƣờng hợp bất khả kháng, những hành vi tham nhũng vƣợt ra ngoài khả năng kiểm soát của ngƣời lãnh đạo quản lý, trƣờng hợp họ không thể biết đƣợc hoặc đã áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn hành vi tham nhũng. Ngoài ra, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 cũng quy định nguyên tắc về việc xử lý đối với ngƣời đứng đầu và cá nhân có trách nhiệm trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức khác có sử dụng ngân sách nhà nƣớc để xảy ra hành vi tham nhũng thì đƣợc thực hiện theo quy định của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 này và điều lệ, quy chế của tổ chức đó. 132
  18. Cùng với việc xác định trách nhiệm của ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng, khoản 1 và 2, Điều 55, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định cụ thể về hình thức xử lý áp dụng đối với họ tuỳ theo mức độ trách nhiệm. Nếu ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách thì bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi phải chịu trách nhiệm liên đới về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách thì bị xử lý kỷ luật. Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 cũng quy định việc xem xét miễn giảm trách nhiệm pháp lý nếu họ đã thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng; xử lý nghiêm minh, báo cáo kịp thời với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về hành vi tham nhũng. Để tạo điều kiện cho việc xử lý ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức đơn vị khi để xảy ra hành vi tham nhũng, Luật quy định trong kết luận thanh tra, kết luận kiểm toán, kết luận điều tra vụ việc, vụ án tham nhũng phải nêu rõ trách nhiệm của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi tham nhũng theo các mức độ sau đây: - Yếu kém về năng lực quản lý; - Thiếu trách nhiệm trong quản lý; - Bao che cho ngƣời có hành vi tham nhũng. 133
  19. Kết luận phải đƣợc gửi cho Ban Chỉ đạo Trung ƣơng về phòng, chống tham nhũng, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Cụ thể những quy định trên của Luật phòng, chống tham nhũng, ngày 22-9-2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 107/2006/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định số 107/2006/NĐ-CP) quy định xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. Nghị định số 107/2006/NĐ-CP quy định mức độ của vụ, việc tham nhũng làm căn cứ để xác định trách nhiệm của ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị. Theo quy định tại Điều 4, Nghị định số 107/2006/NĐ-CP, vụ, việc tham nhũng đƣợc chia theo các mức độ sau đây: - Tham nhũng ít nghiêm trọng là vụ, việc mà trong đó ngƣời có hành vi tham nhũng chƣa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự và bị xử phạt bằng hình thức cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù đến 3 năm; - Tham nhũng nghiêm trọng là vụ, việc mà trong đó ngƣời có hành vi tham nhũng bị phạt tù từ 3 năm đến 7 năm; - Tham nhũng rất nghiêm trọng là vụ, việc mà trong đó ngƣời có hành vi tham nhũng bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm; - Tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng là vụ, việc mà trong đó ngƣời có hành vi tham nhũng bị phạt tù từ 15 năm trở lên, tù chung thân hoặc tử hình. Về nguyên tắc xử lý trách nhiệm ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, Điều 4, Nghị định 134
  20. số 107/2006/NĐ-CP có quy định: - Ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nếu phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách thì bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Nghị định này hoặc nếu có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. - Ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nếu phải chịu trách nhiệm liên đới về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách thì bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Nghị định này. - Trƣờng hợp vụ, việc tham nhũng xảy ra liên quan đến nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị thì ngoài cơ quan, tổ chức, đơn vị xảy ra vụ, việc tham nhũng, ngƣời đứng đầu hoặc cấp phó của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan có ngƣời vi phạm cũng phải chịu trách nhiệm liên đới theo quy định tại Nghị định này. Việc xử lý kỷ luật ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣơì đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách và ngƣời đứng đầu hoặc cấp phó của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan quy định tại khoản 3, Điều 4, Nghị định số 107/2006/NĐ-CP, ngoài việc thực hiện theo các nguyên tắc xem xét xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức quy định tại Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày 17-3-2005 của Chính phủ về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, còn thực hiện theo các nguyên tắc sau: 135
  21. - Căn cứ vào sự phân công, phân cấp quản lý trong cơ quan, tổ chức, đơn vị để xác định mức độ chịu trách nhiệm trực tiếp hoặc trách nhiệm liên đới. - Căn cứ vào mối quan hệ công tác giữa trách nhiệm quản lý của ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣời đứng đầu với hành vi tham nhũng của ngƣời dƣới quyền. Về các hình thức xử lý kỷ luật áp dụng đối với ngƣời đứng đầu và cấp phó của ngƣời đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng, Điều 7, Nghị định số 107/2006/NĐ-CP quy định nhƣ sau: Ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, nếu để xảy ra vụ, việc tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách thì tuỳ theo tính chất, mức độ của vụ, việc sẽ xử lý kỷ luật nhƣ sau: - Ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị là cán bộ, công chức quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và h khoản 1, Điều 1, Pháp lệnh cán bộ, công chức (đã đƣợc Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung ngày 29-4- 2003, sau đây gọi chung là Pháp lệnh cán bộ, công chức)1 và viên chức quản lý doanh nghiệp nhà nƣớc thì bị xử lý kỷ luật bằng một trong những hình thức sau: + Khiển trách; + Cảnh cáo; + Cách chức. - Ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị là cán bộ, công chức quy định tại điểm a và g khoản 1, Điều 1, Pháp lệnh cán bộ, công chức thì bị xử lý kỷ luật theo 1. Nay là Luật cán bộ, công chức năm 2010 (BT). 136
  22. quy định của pháp luật và điều lệ của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. - Ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội thì bị xử lý kỷ luật theo quy định tại điều lệ của tổ chức đó. - Ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣời đứng đầu cơ quan, đơn vị là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong Quân đội nhân dân và Công an nhân dân thì bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật đối với sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Về việc xác định các hình thức kỷ luật cụ thể: - Hình thức khiển trách đƣợc áp dụng trong trƣờng hợp ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ, việc tham nhũng nghiêm trọng hoặc nhiều vụ, việc tham nhũng ít nghiêm trọng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. - Hình thức cảnh cáo đƣợc áp dụng trong trƣờng hợp ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ, việc tham nhũng rất nghiêm trọng hoặc nhiều vụ, việc tham nhũng nghiêm trọng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. - Hình thức cách chức đƣợc áp dụng trong trƣờng hợp ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ, việc tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng hoặc nhiều vụ, việc tham nhũng rất nghiêm trọng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. 137
  23. Điều 11, Nghị định số 107/2006/NĐ-CP cũng quy định các trƣờng hợp loại trừ trách nhiệm, miễn, giảm nhẹ hoặc tăng nặng hình thức kỷ luật nhƣ sau: - Ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị đƣợc loại trừ trách nhiệm trong trƣờng hợp họ không thể biết hoặc đã áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn hành vi tham nhũng. - Ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách và bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách, nếu trƣớc đó đã tự nguyện xin từ chức và đã đƣợc cấp có thẩm quyền chấp thuận thì đƣợc miễn xử lý kỷ luật. - Ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách đƣợc giảm nhẹ một mức kỷ luật nếu thuộc một trong các trƣờng hợp sau: + Đã có đơn xin từ chức và đã đƣợc cấp có thẩm quyền chấp thuận; + Đã thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng; đã xử lý nghiêm minh, báo cáo kịp thời với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về hành vi tham nhũng. - Ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách, nếu không thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng hoặc nếu phát hiện hành vi tham nhũng mà không xử lý nghiêm minh, không báo cáo kịp thời với cơ 138
  24. quan, tổ chức có thẩm quyền thì phải tăng nặng một mức kỷ luật. Ngoài việc quy định xử lý ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý thì Nghị định số 107/2006/NĐ-CP cũng có quy định về xử lý trách nhiệm đối với ngƣời đứng đầu ngành, lĩnh vực và ngƣời đứng đầu địa phƣơng đã để xảy ra tình trạng tham nhũng nghiêm trọng và gây ảnh hƣởng xấu, cụ thể là (Điều 12), bộ trƣởng, thủ trƣởng cơ quan ngang bộ, thủ trƣởng cơ quan thuộc Chính phủ và tƣơng đƣơng; chủ tịch hội đồng nhân dân, chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng nếu để xảy ra vụ, việc tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng, gây ảnh hƣởng xấu về chính trị, kinh tế - xã hội thuộc phạm vi quản lý của bộ, ngành, địa phƣơng mình thì phải chịu trách nhiệm và bị xử lý các hình thức kỷ luật theo quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2, Điều 7, Nghị định này. Vấn đề xử lý trách nhiệm ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng rất phức tạp, liên quan đến phân cấp quản lý cán bộ và việc lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ. Về nguyên tắc, cán bộ lãnh đạo, quản lý phải chịu trách nhiệm về việc làm của cấp dƣới thuộc quyền. Nhƣng nguyên tắc này chỉ hợp lý và chỉ có thể thực hiện đƣợc khi ngƣời đứng đầu đƣợc quyền lựa chọn cấp dƣới của mình. Chính vì vậy, Nghị quyết Hội nghị Trung ƣơng ba khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã chỉ rõ cần sửa đổi, bổ sung quy định về bổ nhiệm, phân cấp quản lý cán bộ theo hƣớng tăng quyền hạn 139
  25. cho ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức gắn với trách nhiệm cá nhân trong việc lựa chọn, bổ nhiệm, khen thƣởng, kỷ luật cấp phó và cán bộ cấp dƣới trực tiếp trên cơ sở thảo luận dân chủ trong tập thể lãnh đạo. Nghiên cứu cơ chế thủ trƣởng cơ quan hành chính cấp trên bổ nhiệm thủ trƣởng cơ quan hành chính cấp dƣới. Chiến lƣợc quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 cũng nhấn mạnh vấn đề trách nhiệm của ngƣời đứng đầu thể hiện ở giải pháp: thực hiện phân công, phân cấp rõ ràng; quy định cụ thể, rành mạch chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cấp quản lý, khắc phục tình trạng chồng chéo, bỏ trống trong hoạt động quản lý. Quy định chức trách của từng vị trí công tác, nhất là trách nhiệm của ngƣời đứng đầu trong cơ quan, tổ chức, đơn vị và căn cứ vào kết quả thực hiện chức trách đó để đánh giá cán bộ, công chức. 6. Cải cách hành chính, đổi mới công nghệ quản lý và phƣơng thức thanh toán nhằm phòng ngừa tham nhũng Quản lý là phƣơng diện hoạt động quan trọng của bộ máy nhà nƣớc, diễn ra trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và ảnh hƣởng đến quyền lợi của mọi ngƣời dân. Đây cũng là nơi tình trạng tham nhũng xảy ra nhiều nhất. Đó là lý do mà cải cách hành chính luôn là mối quan tâm thƣờng xuyên của Đảng và Nhà nƣớc ta trong quá trình cải cách bộ máy nhà nƣớc, xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân nhƣ đã đƣợc ghi nhận tại Hiến pháp năm 1992; sửa đổi, bổ sung năm 2001. Cải cách hành chính là 140
  26. công việc có tính chất thƣờng xuyên, lâu dài, liên tục với mục tiêu xây dựng một nền hành chính trong sạch, hiện đại, hoạt động có hiệu quả, hiệu lực và thể hiện tính phục vụ. Cải cách hành chính bao gồm rất nhiều nội dung phong phú và toàn diện, từ cải cách thể chế, tổ chức bộ máy, quản lý và sử dụng cán bộ, công chức, quản lý tài chính công Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 có một số quy định về cải cách hành chính để góp phần phòng ngừa tham nhũng. Trong đó có nội dung: Nhà nƣớc thực hiện cải cách hành chính nhằm tăng cƣờng tính độc lập và tự chịu trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị; đẩy mạnh việc phân cấp quản lý nhà nƣớc giữa Trung ƣơng và địa phƣơng, giữa các cấp chính quyền địa phƣơng; phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan nhà nƣớc; công khai, đơn giản hoá và hoàn thiện thủ tục hành chính; quy định cụ thể trách nhiệm của từng chức danh trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Thực hiện quy định này, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 53/2007/NQ-CP ngày 07-1-2007 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước đặt ra yêu cầu các bộ, ngành, địa phƣơng đã đẩy mạnh công tác rà soát thủ tục hành chính để sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ những quy định không còn phù hợp; công khai các thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông” trong việc giải quyết công việc của ngƣời dân và doanh nghiệp đến cấp xã, áp dụng tiêu chuẩn ISO 9001:2000 141
  27. vào quản lý hành chính. Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 cũng quy định có tính chất định hƣớng cho các cơ quan nhà nƣớc áp dụng khoa học - công nghệ trong quản lý nhằm giảm bớt cơ hội và nguy cơ xảy ra tham nhũng, nhất là việc tiếp xúc trực tiếp giữa ngƣời quản lý và ngƣời bị quản lý trong những trƣờng hợp không cần thiết. Theo đó, cơ quan, tổ chức, đơn vị thƣờng xuyên cải tiến công tác, tăng cƣờng áp dụng khoa học - công nghệ trong hoạt động của mình, tạo thuận lợi để công dân, cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm hƣớng dẫn trình tự, thủ tục giải quyết công việc để cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân chủ động thực hiện mà không phải trực tiếp tiếp xúc với cán bộ, công chức, viên chức. Một giải pháp phòng ngừa tham nhũng quan trọng nữa mà Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 có quy định đó là vấn đề đổi mới phƣơng thức thanh toán. Hiện nay, về cơ bản nền kinh tế của chúng ta vẫn là nền kinh tế tiền mặt, các giao dịch chủ yếu bằng tiền mặt, rất khó kiểm soát, kể cả các khoản thu nhập của cán bộ, công chức từ ngân sách nhà nƣớc. Vì vậy, cùng với việc áp dụng khoa học - công nghệ trong quản lý, cần phải đổi mới phƣơng thức thanh toán để kiểm soát chặt chẽ hơn các giao dịch, nhất là những khoản chi có sử dụng ngân sách nhà nƣớc và các khoản chi liên quan đến cán bộ, công chức, viên chức để bảo đảm sự minh bạch trong các nguồn thu nhập của họ. Cụ thể là: - Nhà nƣớc áp dụng các biện pháp quản lý để thực hiện việc 142
  28. thanh toán thông qua tài khoản tại ngân hàng, kho bạc nhà nƣớc. Cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm thực hiện các quy định về thanh toán bằng chuyển khoản. - Chính phủ áp dụng các giải pháp tài chính, công nghệ, tiến tới thực hiện mọi khoản chi đối với ngƣời có chức vụ, quyền hạn và các giao dịch khác có sử dụng ngân sách nhà nƣớc phải thông qua tài khoản. Đến nay, việc trả lƣơng qua tài khoản cho cán bộ công chức, viên chức đã từng bƣớc đƣợc thực hiện theo Chỉ thị số 20/2007/CT-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ. Vấn đề cải cách hành chính cũng đƣợc đề cập rất cụ thể trong Chiến lƣợc quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020, đặc biệt là trong nhóm giải pháp về tăng cƣờng tính công khai, minh bạch trong hoạch định chính sách, xây dựng và thực hiện pháp luật và giải pháp về hoàn thiện chế độ công vụ, công chức, nâng cao chất lƣợng thực thi công vụ. Chiến lƣợc yêu cầu: - Minh bạch hóa quá trình soạn thảo, trình, ban hành chính sách, pháp luật; quá trình chuẩn bị, trình, ban hành quyết định, văn bản hành chính gắn liền với việc cải cách thủ tục hành chính. - Thực hiện phân công, phân cấp rõ ràng; quy định cụ thể, rành mạch chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cấp quản lý, khắc phục tình trạng chồng chéo, bỏ trống trong hoạt động quản lý. - Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các quy định về tuyển dụng, tiếp nhận, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, điều động nhằm nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức; xử lý kiên quyết, kịp thời các vi phạm trong quản lý và sử dụng cán bộ, công chức; 143
  29. - Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện cơ chế về trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý; cơ chế miễn nhiệm, bãi nhiệm, cho từ chức, tạm đình chỉ chức vụ của ngƣời đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách; - Cải cách cơ bản chế độ tiền lƣơng, phụ cấp, bảo đảm để cán bộ, công chức có mức thu nhập tƣơng đƣơng mức thu nhập khá trong xã hội; thực hiện chính sách tiền lƣơng hợp lý trong một số lĩnh vực đặc thù; nghiên cứu bổ sung chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức v.v II- CÁC GIẢI PHÁP PHÁT HIỆN THAM NHŨNG Phát hiện tham nhũng là việc tìm ra vụ việc tham nhũng và có biện pháp kịp thời để hạn chế thiệt hại xảy ra, đồng thời xác định mức độ trách nhiệm của ngƣời có hành vi vi phạm, có hình thức xử lý thích đáng và nghiêm minh. Việc phát hiện tham nhũng đòi hỏi sự nỗ lực của mọi cơ quan, tổ chức, đặc biệt là các cơ quan có chức năng thanh tra, điều tra, giám sát, kiểm sát cũng nhƣ sự tham gia tích cực của công dân. Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định việc phát hiện tham nhũng thông qua ba hoạt động chủ yếu: - Công tác kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nƣớc; - Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm toán; - Tố cáo của công dân. 1. Phát hiện tham nhũng thông qua công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nƣớc 144
  30. Kiểm tra là một hoạt động không thể thiếu trong quản lý nhà nƣớc. Các hành vi tham nhũng có thể diễn ra trong mọi lĩnh vực quản lý. Vì vậy, công tác kiểm tra của các cơ quan quản lý có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát hiện các vụ việc tham nhũng. Trên thực tế, việc xác định tính chất và mức độ của vụ việc tham nhũng cũng nhƣ trách nhiệm của những ngƣời vi phạm đòi hỏi có nhiều thời gian và công sức, thƣờng thuộc trách nhiệm của các cơ quan thanh tra, điều tra nhƣng những dấu hiệu ban đầu của các các vi phạm, những dấu hiệu không bình thƣờng trong hoạt động quản lý lại thƣờng do các cơ quan quản lý phát hiện. Vì vậy, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 nhấn mạnh trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong việc thƣờng xuyên tiến hành kiểm tra việc chấp hành pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý của cơ quan mình. Tuỳ từng vụ việc cụ thể, căn cứ vào tính chất và mức độ của nó mà có thể xử lý theo thẩm quyền hoặc thông báo cho các cơ quan chức năng xử lý. Điều 59, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định về công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nƣớc nhƣ sau: - Thủ trƣởng cơ quan quản lý nhà nƣớc có trách nhiệm thƣờng xuyên tổ chức kiểm tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của mình nhằm kịp thời phát hiện hành vi tham nhũng. - Khi phát hiện có hành vi tham nhũng, thủ trƣởng cơ quan quản lý nhà nƣớc phải kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc thông báo cho cơ quan thanh tra, điều tra hoặc viện kiểm sát có 145
  31. thẩm quyền. Ngoài ra, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 cũng quy định trách nhiệm của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc tự kiểm tra nội bộ cơ quan, tổ chức, đơn vị mình, kiểm tra việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức do mình quản lý để phát hiện tham nhũng. Điều 60, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định: - Ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm chủ động tổ chức kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức thƣờng xuyên, trực tiếp giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân và cán bộ, công chức, viên chức khác do mình quản lý nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi tham nhũng. - Ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm thƣờng xuyên đôn đốc ngƣời đứng đầu đơn vị trực thuộc kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức do mình quản lý. - Khi phát hiện hành vi tham nhũng, ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc thông báo cho cơ quan thanh tra, điều tra, viện kiểm sát có thẩm quyền. Mặc dù pháp luật đề cao công tác kiểm tra của các cơ quan nhằm phát hiện tham nhũng nhƣng để tránh tình trạng kiểm tra tràn lan, hoặc lợi dụng việc kiểm tra để gây khó khăn cho đồng nghiệp và công dân, Luật cũng quy định các hình thức kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm cũng nhƣ trƣờng hợp kiểm tra đột 146
  32. xuất phải có những điều kiện nhất định. Điều 61 quy định: Việc kiểm tra thƣờng xuyên đƣợc tiến hành theo chƣơng trình, kế hoạch, tập trung vào lĩnh vực, hoạt động thƣờng phát sinh hành vi tham nhũng. Việc kiểm tra đột xuất đƣợc tiến hành khi phát hiện có dấu hiệu tham nhũng. 2. Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, xét xử, giám sát Đây là những hoạt động chủ yếu trong việc phát hiện và xử lý tham nhũng. Các cơ quan thanh tra, điều tra, kiểm toán, xét xử và giám sát có chức năng bảo vệ pháp luật và kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm, trong đó có tham nhũng. Đây là lực lƣợng chính trong cuộc đấu tranh chống vi phạm pháp luật. Trong năm 2007, toàn ngành thanh tra đã triển khai 14.928 cuộc thanh tra, kiểm tra, qua đó đã phát hiện vi phạm về tài chính là 8.327.165 tỉ đồng và 1.261.806 USD, vi phạm về đất đai là 10.483,76 ha. Đã kiến nghị xử lý kỷ luật 234 tập thể, trên 2.300 cá nhân có sai phạm; chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự 153 vụ, trên 200 đối tƣợng1. Năm 2008, toàn ngành thanh tra đã triển khai 11.412 cuộc thanh tra hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nƣớc. Tổng hợp kết quả từ 10.477 cuộc thanh tra đã kết luận, cho thấy: phát hiện sai phạm 7.053,418 tỉ đồng, 287.847USD, 12.308 ha đất; đã kiến nghị thu hồi về cho Nhà nƣớc 3.808,376 tỉ đồng, 2.565 1. Theo Báo cáo tổng kết công tác năm 2007 và phƣơng hƣớng, nhiệm vụ năm 2008 của ngành thanh tra. 147
  33. ha đất; giảm trừ quyết toán và xử lý khác 2.873,726 tỉ đồng; kiến nghị xử lý hành chính 237 tập thể, 1.751 cá nhân; chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự 66 vụ việc, 95 ngƣời.1 Năm 2009, ngành thanh tra đã triển khai 3.745 cuộc thanh tra trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nƣớc, 10.037 cuộc thanh tra kinh tế - xã hội và 46.690 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành. Qua thanh tra đã phát hiện nhiều tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm trên các lĩnh vực; kiến nghị xử lý kỷ luật hành chính đối với 829 tập thể, 3.186 cá nhân; xử phạt vi phạm hành chính 103.405 tổ chức, cá nhân; chuyển cơ quan điều tra xử lý 95 vụ việc2. Theo báo cáo sơ bộ của Kiểm toán Nhà nƣớc, trong năm 2007, ngành kiểm toán đã tiến hành 105 cuộc kiểm toán, qua đó đã phát hiện, kiến nghị xử lý về tài chính 11.613 tỉ đồng, trong đó kiến nghị tăng thu cho ngân sách nhà nƣớc và tăng thu khác là 2.789 tỉ đồng, giảm chi cho ngân sách nhà nƣớc 1.240 tỉ đồng, các khoản nợ đọng phát hiện tăng thêm so với báo cáo của cơ quan quản lý thu ngân sách nhà nƣớc là 265,6 tỉ đồng, các khoản phải nộp, hoàn trả và quản lý qua ngân sách nhà nƣớc là 6.084,7 tỉ đồng, các khoản nộp và giảm chi khác không thuộc ngân sách nhà nƣớc là 1.233 tỉ đồng. Kiểm toán nhà nƣớc đã chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra hồ sơ kiểm toán Dự án phát triển hạ tầng đô thị Bắc Thăng Long - Vân Trì và Đề án 1. Theo Báo cáo tổng kết công tác năm 2008 và phƣơng hƣớng, nhiệm vụ năm 2009 của ngành thanh tra. 2. Theo Báo cáo tổng kết công tác năm 2009 và phƣơng hƣớng, nhiệm vụ năm 2010 của ngành thanh tra. 148
  34. 112 để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân có trách nhiệm để xảy ra sai phạm1. Có thể thấy rằng, hoạt động thanh tra, kiểm toán đã phát hiện ra rất nhiều sai phạm kinh tế có dấu hiệu tham nhũng hoặc có nguy cơ dẫn đến tham nhũng nếu không đƣợc ngăn chặn kịp thời. Chính vì vậy, các hoạt động này đƣợc quy định rất chặt chẽ và đầy đủ trong các văn bản pháp luật cao nhất của Nhà nƣớc. Một mặt, pháp luật trao cho các cơ quan này quyền hạn lớn để có thể đấu tranh với những vi phạm pháp luật, mặt khác cũng quy định chặt chẽ để hoạt động của các cơ quan này phải tuân thủ pháp luật, bảo đảm tính chính xác, khách quan trong khi đánh giá, kết luận những vụ việc và ngƣời có hành vi vi phạm để tránh oan sai. Các văn bản quy định về hoạt động của các cơ quan này gồm có: Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998; được sửa đổi, bổ sung năm 2004 và năm 2005, Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2004, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004; được sửa đổi, bổ sung năm 2009, Luật Thanh tra năm 2010, Luật kiểm toán nhà nước năm 2005. Điều 62, Luật phòng chống tham nhũng năm 2005 quy định: Cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nƣớc, điều tra, viện kiểm sát, toà án thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều 1. Theo Báo cáo số 01/BC-BCĐ ngày 26-02-2008 của Ban Chỉ đạo Trung ƣơng về phòng, chống tham nhũng về kết quả công tác phòng, chống tham nhũng năm 2007 và phƣơng hƣớng, nhiệm vụ năm 2008. 149
  35. tra, kiểm sát, xét xử có trách nhiệm chủ động phát hiện hành vi tham nhũng, xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị việc xử lý theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật về quyết định của mình. Việc phát hiện tham nhũng thông qua (hoạt động giám sát cũng đƣợc đề cập đến trong Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 tại Điều 63 quy định: Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân thông qua hoạt động giám sát có trách nhiệm phát hiện hành vi tham nhũng, yêu cầu hoặc kiến nghị việc xử lý theo quy định của pháp luật. Chiến lƣợc quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 đƣa ra nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử trong phát hiện, xử lý tham nhũng gồm sáu nội dung nhƣ sau: - Nghiên cứu sửa đổi pháp luật về thanh tra theo hƣớng làm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thanh tra nhà nƣớc, phân định rõ thanh tra theo cấp hành chính và thanh tra theo ngành, lĩnh vực; tăng cƣờng tính độc lập và tự chịu trách nhiệm của các cơ quan thanh tra. Cơ quan thanh tra theo cấp hành chính chuyển mạnh sang thực hiện chức năng giám sát hành chính và tăng cƣờng thanh tra việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ công vụ, việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng; nghiên cứu kết hợp tổ chức và hoạt động thanh tra với tổ chức và hoạt động kiểm tra của Đảng. Cơ quan thanh tra theo ngành, lĩnh vực tập trung vào thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật của mọi tổ chức, cá nhân; 150
  36. xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm hành chính, bảo đảm trật tự, kỷ cƣơng pháp luật trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội. Tăng cƣờng hiệu lực thi hành các kết luận của cơ quan thanh tra; - Sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật về kiểm toán nhằm phân định phạm vi hoạt động giữa kiểm toán nhà nƣớc và thanh tra tài chính, khắc phục sự chồng chéo trong công tác thanh tra, kiểm toán. Hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế; nâng cao chất lƣợng và hiệu quả hoạt động kiểm toán; đề cao trách nhiệm của các tổ chức kiểm toán và kiểm toán viên về tính chính xác, khách quan của các báo cáo kiểm toán; - Nghiên cứu, xây dựng, sửa đổi pháp luật theo hƣớng tăng hình thức phạt tiền; miễn trách nhiệm hình sự hoặc giảm hình phạt đối với những đối tƣợng đã thực hiện hành vi tham nhũng nhƣng chủ động khai báo, khắc phục hậu quả; hoàn thiện quy định xử lý tài sản tham nhũng; bổ sung quy định nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, bảo đảm cho việc thu hồi, tịch thu tài sản do tham nhũng mà có; - Đẩy mạnh đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về phòng, chống tham nhũng, phẩm chất chính trị, bản lĩnh đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ, công chức làm công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử; - Tiếp tục kiện toàn tổ chức và hoạt động của các đơn vị chuyên trách về chống tham nhũng. Nghiên cứu xây dựng chế độ, chính sách đãi ngộ hợp lý, 151
  37. đồng thời tăng cƣờng chế độ trách nhiệm và xử lý nghiêm khắc đối với hành vi tham nhũng của cán bộ, công chức trong các cơ quan, đơn vị chuyên trách chống tham nhũng; - Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chuyên trách chống tham nhũng trong việc tiếp nhận, xử lý thông tin, tố cáo về tham nhũng, phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng; tăng cƣờng trang thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ hiện đại. Nghiên cứu từng bƣớc áp dụng các biện pháp, kỹ thuật điều tra đặc biệt với trình tự, thủ tục, điều kiện chặt chẽ nhằm nâng cao hiệu quả phát hiện hành vi tham nhũng. 3. Tố cáo và giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng Tố cáo là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, các nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nƣớc, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Tố cáo là một kênh quan trọng trong phát hiện hành vi tham nhũng. Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định những nguyên tắc chung và nội dung cơ bản của tố cáo hành vi tham nhũng. Luật quy định cơ chế bảo vệ ngƣời tố cáo, quyền và nghĩa vụ của ngƣời tố cáo và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị trong tiếp nhận và xử lý tố cáo hành vi tham nhũng, khen thƣởng ngƣời tố cáo v.v Vấn đề tố cáo và giải quyết tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật nói chung đã đƣợc quy định trong Luật khiếu nại, tố cáo, năm 1998, sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005 và các văn bản hƣớng dẫn thi hành. Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy 152
  38. định về tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi tham nhũng với hai nhóm nội dung sau: Thứ nhất, quyền của công dân trong việc tố cáo hành vi tham nhũng, trách nhiệm của công dân khi thực hiện quyền tố cáo. Điều 64, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định: - Công dân có quyền tố cáo hành vi tham nhũng với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. - Ngƣời tố cáo phải tố cáo trung thực, nêu rõ họ, tên địa chỉ, cung cấp thông tin, tài liệu mà mình có và hợp tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo. - Ngƣời tố cáo mà cố tình tố cáo sai sự thật phải bị xử lý nghiêm minh, nếu gây thiệt hại cho ngƣời bị tố cáo thì phải bồi thƣờng theo quy định của pháp luật. Thứ hai, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và những ngƣời có thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết tố cáo của công dân đối với hành vi tham nhũng. Luật phòng, chống tham nhũng nhấn mạnh trách nhiệm của cơ quan nhà nƣớc trong việc bảo vệ ngƣời tố cáo khỏi sự đe doạ trả thù, trù dập. Đây là vấn đề rất quan trọng vì trong nhiều trƣờng hợp, ngƣời bị tố cáo là những ngƣời có chức vụ, quyền hạn, thậm chí giữ chức vụ, quyền hạn rất cao nên họ có nhiều cách để trả thù ngƣời tố cáo hoặc giữ kín sự việc mà ngƣời tố cáo phát hiện cho Nhà nƣớc. Vì vậy, Nhà nƣớc phải có những cơ chế bảo vệ ngƣời tố cáo, tạo điều kiện để công dân tích cực phát hiện các hành vi tham nhũng, cơ quan nhà nƣớc kịp thời xử lý. 153
  39. Khoản 1, 2, Điều 65, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định: - Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để công dân tố cáo trực tiếp, gửi đơn tố cáo, tố cáo qua điện thoại, tố cáo qua mạng thông tin điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật. - Ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khi nhận đƣợc tố cáo hành vi tham nhũng phải xem xét và xử lý theo thẩm quyền; giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin khác theo yêu cầu của ngƣời tố cáo; áp dụng kịp thời các biện pháp cần thiết để bảo vệ ngƣời tố cáo khi có biểu hiện đe doạ, trả thù, trù dập ngƣời tố cáo hoặc khi ngƣời tố cáo yêu cầu; thông báo kết quả giải quyết tố cáo cho ngƣời tố cáo khi có yêu cầu". Điều 41, Nghị định số 120/2006/NĐ-CP ngày 20-10-2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng đã cụ thể hoá các hình thức tố cáo hành vi tham nhũng mà ngƣời tố cáo có thể thực hiện: Công dân tố cáo hành vi tham nhũng bằng các hình thức sau: - Tố cáo trực tiếp; - Gửi đơn tố cáo; - Tố cáo qua điện thoại; - Tố cáo bằng thông điệp dữ liệu. Để tạo thuận lợi cho việc xử lý tố cáo và đề cao trách nhiệm của ngƣời tố cáo, hạn chế việc lợi dụng quyền tố cáo để vu cáo, làm hại uy tín danh dự của ngƣời khác, Nghị định số 154
  40. 120/2006/NĐ-CP cũng quy định: ngƣời tố cáo phải nêu rõ họ, tên, địa chỉ, nội dung tố cáo và cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có. Những tố cáo về hành vi tham nhũng mà ngƣời tố cáo mạo tên, nội dung tố cáo không rõ ràng, thiếu căn cứ, những tố cáo đã đƣợc cấp có thẩm quyền giải quyết nay tố cáo lại nhƣng không có bằng chứng mới thì không đƣợc xem xét, giải quyết. Tuy nhiên, để tận dụng có hiệu quả các thông tin tố cáo, kể cả đối với các tố cáo nặc danh, Nghị định số 120/2006/NĐ-CP cũng quy định: đối với những tố cáo không rõ họ, tên, địa chỉ ngƣời tố cáo nhƣng nội dung tố cáo rõ ràng, bằng chứng cụ thể, có cơ sở để thẩm tra, xác minh thì các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nghiên cứu, tham khảo thông tin đƣợc cung cấp để phục vụ công tác phòng, chống tham nhũng (khoản 4, Điều 42). Đây là điểm mà các cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm phải hết sức lƣu ý khi xử lý các đơn thƣ tố cáo để tránh bỏ sót nhƣng thông tin có giá trị. Quy định này cũng phù hợp với tinh thần của Công ƣớc của Liên hợp quốc về chống tham nhũng về vấn đề phát huy vai trò và sự tích cực, chủ động của xã hội và công dân trong đấu tranh chống tham nhũng đối với việc xử lý đơn thƣ tố cáo nặc danh (khoản 2, Điều 13 của Công ƣớc). Để tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ ngƣời tố cáo khỏi sự trả thù, trù dập, trƣớc hết Nghị định số 120/2006/NĐ-CP quy định những hành vi bị nghiêm cấm, bao gồm (Điều 45): - Đe dọa, xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm của ngƣời tố cáo, ngƣời thân của ngƣời tố cáo; - Đe doạ, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp, các hoạt động 155
  41. kinh doanh, nghề nghiệp của ngƣời tố cáo, ngƣời thân của ngƣời tố cáo; - Ngăn cản, gây khó khăn cho việc thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp của ngƣời tố cáo trong việc nâng ngạch, tăng bậc lƣơng, phụ cấp, khen thƣởng, bổ nhiệm và việc thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp khác của ngƣời tố cáo, ngƣời thân của ngƣời tố cáo; - Phân biệt đối xử, lôi kéo ngƣời khác cản trở việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của ngƣời tố cáo, ngƣời thân của ngƣời tố cáo; - Xử lý kỷ luật trái pháp luật, thay đổi công việc của ngƣời tố cáo, ngƣời thân của ngƣời tố cáo với động cơ trù dập. Ngƣời nào thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều 45 thì tuỳ theo tính chất, mức độ phải bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; trƣờng hợp gây thiệt hại thì phải bồi thƣờng theo quy định của pháp luật. Nghị định số 120/2006/NĐ-CP cũng quy định cho ngƣời tố cáo có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi bị đe doạ, trả thù, trù dập. Về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong việc bảo vệ ngƣời tố cáo hành vi tham nhũng, Điều 47, Nghị định số 120/2006/NĐ-CP quy định nhƣ sau: - Cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tố cáo, giải quyết tố cáo có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết để giữ bí mật cho ngƣời tố cáo; không đƣợc tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút 156
  42. tích của ngƣời tố cáo và các thông tin khác liên quan đến ngƣời tố cáo. - Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân nhận đƣợc yêu cầu của ngƣời tố cáo, ngƣời thân của ngƣời tố cáo khi bị đe đoạ, trả thù, trù dập thì phải kịp thời áp dụng hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền áp đụng các biện pháp bảo vệ ngƣời tố cáo, ngƣời thân của ngƣời tố cáo nhƣ sau: + Bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm ngƣời tố cáo, ngƣời thân của ngƣời tố cáo; + Đình chỉ, tạm đình chỉ các quyết định hành chính, ngăn chặn các hành vi hành chính trái pháp luật vì động cơ trả thù, trù dập gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho ngƣời tố cáo, ngƣời thân của ngƣời tố cáo; + Xử lý hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi đe dọa, trả thù, trù dập ngƣời tố cáo, ngƣời thân của ngƣời tố cáo. Luật quy định trách nhiệm chủ yếu trong việc xử lý các tố cáo về hành vi tham nhũng thuộc về cơ quan thanh tra, cơ quan điều tra và viện kiểm sát nhƣ sau (khoản 3, Điều 65, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005): - Cơ quan thanh tra có trách nhiệm giúp thủ trƣởng cơ quan quản lý nhà nƣớc cùng cấp xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và kiến nghị biện pháp xử lý; trong trƣờng hợp phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì chuyển cho cơ quan điều tra, viện kiểm sát có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự. - Cơ quan điều tra, viện kiểm sát nhận đƣợc tố cáo về hành 157
  43. vi tham nhũng phải xử lý theo thẩm quyền. Luật cũng quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình phải tạo điều kiện, cộng tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo để phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời hành vi tham nhũng, hạn chế thiệt hại do hành vi tham nhũng gây ra. Về khen thƣởng cho ngƣời tố cáo hành vi tham nhũng, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 chỉ đƣa ra quy định mang tính nguyên tắc về việc khen thƣởng cho ngƣời tố cáo, những nôi dung cụ thể về điều kiện, mức độ, hình thức khen thƣởng sẽ tiếp tục đƣợc nghiên cứu và quy định trong các văn bản sau này. Điều 67, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định: ngƣời tố cáo trung thực, tích cực cộng tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý hành vi tham nhũng thì đƣợc khen thƣởng về vật chất, tinh thần theo quy định của pháp luật. Điều 48, Nghị định số 120/2006/NĐ-CP cũng khẳng định việc Nhà nƣớc sẽ khen thƣởng ngƣời tố cáo hành vi tham nhũng: người tố cáo trung thực, tích cực cộng tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi tham nhũng thì được nhận bằng khen, giấy khen của cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền và được xem xét thưởng về vật chất. Để thực hiện đƣợc tinh thần này, Điều 53 của Nghị định số 120/2006/NĐ-CP đã quy định về việc lập quỹ khen thƣởng nhƣ sau: - Quỹ khen thƣởng về phòng, chống tham nhũng đƣợc thành lập để khen thƣởng cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích 158
  44. trong công tác phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng. - Quỹ khen thƣởng về phòng, chống tham nhũng đƣợc lấy từ ngân sách nhà nƣớc, trích từ tài sản đƣợc thu hồi từ các vụ, việc tham nhũng và đóng góp của tổ chức, cá nhân. - Việc quản lý, sử dụng Quỹ khen thƣởng về phòng, chống tham nhũng do Ban Chỉ đạo Trung ƣơng về phòng, chống tham nhũng thực hiện theo pháp luật về ngân sách nhà nƣớc. Chiến lƣợc quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020: cũng quy định: tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ, khen thƣởng ngƣời tố cáo, phát hiện hành vi tham nhũng; tôn vinh, khen thƣởng tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác phòng, chống tham nhũng; xử lý nghiêm minh những trƣờng hợp lợi dụng quyền tố cáo để vu khống, gây rối nội bộ làm ảnh hƣởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội. III- XỬ LÝ NGƢỜI CÓ HÀNH VI THAM NHŨNG, CÁC HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT KHÁC VÀ TÀI SẢN THAM NHŨNG Xử lý tham nhũng, trong đó có xử lý ngƣời có hành vi tham nhũng và xử lý tài sản tham nhũng là vấn đề quan trọng, là khâu cuối cùng trong quá trình đấu tranh với một hành vi hay vụ việc tham nhũng. Xử lý tham nhũng thể hiện rõ nét quan điểm và thái độ của Nhà nƣớc cũng nhƣ phản ứng của xã hội đối với tham nhũng. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, về cơ bản, pháp luật nƣớc ta đã có những quy định khá đầy đủ, chặt chẽ về việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật nói chung và tham nhũng nói 159
  45. riêng. Chính vì vậy, trong Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 không nhắc lại những quy định đó mà chỉ bổ sung một số quy định mới thể hiện quan điểm và thái độ đối với đấu tranh chống tham nhũng của nhà nƣớc ta. 1. Xử lý hành vi tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật khác Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 không chỉ quy định đối tƣợng có hành vi tham nhũng bị xử lý mà quy định cả các đối tƣợng khác có hành vi vi phạm liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ hay trách nhiệm của mình mà pháp luật đã có quy định. Điều 68 quy định đối tƣợng bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự bao gồm: - Ngƣời có hành vi tham nhũng quy định tại Điều 3 của Luật này. - Ngƣời không báo cáo, tố giác khi biết đƣợc hành vi tham nhũng. - Ngƣời không xử lý báo cáo, tố giác, tố cáo, về hành vi tham nhũng. - Ngƣời có hành vi đe doạ, trả thù, trù dập ngƣời phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng. - Ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. - Ngƣời thực hiện hành vi khác vi phạm quy định của Luật 160
  46. này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Đối tƣợng có thể bị xử lý liên quan đến việc thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng rất đa dạng. Tuy nhiên, đối với cán bộ, công chức, viên chức (là nhóm chủ yếu trong số những ngƣời có chức vụ, quyền hạn) thì hình thức xử lý phổ biến đối với họ (nếu chƣa đến mức xử lý hình sự) là việc áp dụng các hình thức kỷ luật bao gồm: - Khiển trách; - Cảnh cáo; - Hạ bậc lƣơng; - Hạ ngạch1; - Cách chức; - Buộc thôi việc. Nếu hành vi vi phạm đến mức độ nguy hiểm cao gây thiệt hại lớn về tiền và tài sản của Nhà nƣớc thì họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại phần các Tội phạm về tham nhũng (bao gồm bảy tội danh) hoặc bị truy cứu về tội danh khác mà thông thƣờng là Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. (Điều 285 của Bộ luật hình sự năm 1999; được sửa đổi, bổ sung năm 2009). Luật phòng, chống tham nhũng đã có những quy định nghiêm khắc hơn về hậu quả pháp lý đối với ngƣời có hành vi tham nhũng, cụ thể ở hai điểm sau đây: 1. Theo Luật cán bộ công chức, có hiệu lực từ ngày 01-01-2010 thì không còn hình thức kỷ luật “hạ ngạch” mà thay vào đó là hình thức “giáng chức”. 161
  47. - Ngƣời có hành vi tham nhũng, tuỳ theo tính chất, trong trƣờng hợp bị kết án về hành vi tham nhũng và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải bị buộc thôi việc; đối với đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân thì đƣơng nhiên mất quyền đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân” (Điều 69 của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005). - So với quy định hiện hành về kỷ luật cán bộ, công chức, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 rõ ràng đã có sự nghiêm khắc hơn. Theo quy định của Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày 17-3-2005 về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức (Điều 25): Hình thức buộc thôi việc: áp dụng đối với cán bộ công chức phạm tội bị toà án phạt tù giam Nhƣ vậy, cán bộ, công chức phạm tội không thuộc nhóm tội tham nhũng thì chỉ bị đƣơng nhiên buộc thôi việc nếu bị toà án phạt tù giam, còn nếu bị các hình phạt khác nhẹ hơn (cảnh cáo, cải tạo không giam giữ ) hoặc cũng bị phạt tù nhƣng cho hƣởng án treo thì vẫn có thể không bị buộc thôi việc. Ngƣợc lại, nếu cán bộ, công chức phạm tội tham nhũng thì dù hình phạt mà toà án áp dụng nhƣ thế nào thì ngƣời đó cũng đƣơng nhiên bị buộc thôi việc. Nếu đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân bị toà án kết án về tội tham nhũng thì đƣơng nhiên bị mất quyền đại biểu mà không cần phải qua các thủ tục về việc bãi nhiệm, miễn nhiệm. Sau này, các văn bản quy định về đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân sẽ có những điều chỉnh cho phù hợp với quy định này của Luật phòng, chống tham nhũng. 162
  48. 2. Xử lý tài sản tham nhũng Tham nhũng về bản chất là một hành vi có tính chất vụ lợi và một trong những hậu quả mà tham nhũng gây ra là tài sản công bị chiếm đoạt. Chính vì vậy, mục tiêu quan trọng của đấu tranh chống tham nhũng là phải bảo vệ đƣợc lợi ích của Nhà nƣớc cũng nhƣ lợi ích của tập thể và cá nhân. Chống tham nhũng cần quan tâm đến việc tịch thu, thu hồi tài sản tham nhũng, tránh tình trạng chỉ quan tâm đến việc xử lý ngƣời vi phạm về kỷ luật hay hình sự mà chƣa quan tâm hoặc có biện pháp hữu hiệu để thu hồi lại số tài sản mà kẻ tham nhũng đã chiếm đoạt và có đƣợc từ việc thực hiện hành vi tham nhũng. Điều 70, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định: - Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết để, thu hồi, tịch thu tài sản tham nhũng; - Tài sản tham nhũng phải đƣợc trả lại cho chủ sở hữu, ngƣời quản lý hợp pháp hoặc sung quỹ nhà nƣớc. - Ngƣời đƣa hối lộ mà chủ động khai báo trƣớc khi bị phát hiện hành vi đƣa hối lộ thì đƣợc trả lại tài sản đã dùng để hối lộ. - Việc tịch thu tài sản tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng đƣợc thực hiện bằng quyết định của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Về cơ bản, những quy định trên đã đƣợc thể hiện trong các văn bản pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, điểm mới khá quan trọng trong việc xử lý tài sản của ngƣời đƣa hối lộ đó là khuyến khích ngƣời đƣa hối lộ khai báo, phát giác hành vi nhận hối lộ. Mặc dù, còn khá nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề xử lý đối với ngƣời có hành vi hối lộ nhƣng nhìn chung đều nhất trí rằng cần 163
  49. có quy định theo hƣớng giảm nhẹ trách nhiệm cho ngƣời đƣa hối lộ để khuyến khích họ phát giác hành vi nhận hối lộ. Thực tế cho thấy, việc xử lý cả ngƣời đƣa hối lộ khi họ đã chủ động khai báo là không công bằng và gây ra những dƣ luận không đồng tình trong xã hội. Điều 289 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định: "ngƣời đƣa hối lộ nhƣng đã chủ động khai báo trƣớc khi bị phát giác, thì có thể đƣợc miễn trách nhiệm hình sự và đƣợc trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đƣa hối lộ". Nhƣ vậy, theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì ngƣời đƣa hối lộ đƣợc trả một phần hoặc toàn bộ tiền và tài sản đã dùng để hối lộ. Trong khi đó theo quy định tại khoản 3 của Điều 70, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 thì ngƣời đƣa hối lộ mà chủ động khai báo trƣớc khi bị phát giác đương nhiên đƣợc trả lại toàn bộ tài sản đã dùng để hối lộ. Ngoài ra, về vấn đề xử lý tài sản tham nhũng, để phù hợp với tinh thần của Công ƣớc của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã tham gia ký kết, Điều 71, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định: trên cơ sở điều ƣớc quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, Chính phủ Việt Nam hợp tác với Chính phủ nƣớc ngoài trong việc thu hồi tài sản của Việt Nam hoặc của nƣớc ngoài bị tham nhũng và trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu hợp pháp. Nghị quyết Trung ƣơng ba khóa X cũng nêu định hƣớng về vấn đề này nhƣ sau: Chú trọng thu hồi tài sản tham nhũng. 164
  50. áp dụng chính sách khoan hồng đối với những ngƣời phạm tội nhƣng có thái độ thành khẩn, đã bồi thƣờng thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả kinh tế, hợp tác tốt với cơ quan chức năng. Nghiên cứu sửa đổi pháp luật hình sự theo hƣớng khoan hồng hơn đối với những ngƣời đƣa hoặc ngƣời nhận hối lộ nhƣng đã tự giác khai báo và nộp lại tài sản trƣớc khi bị phát hiện. Trừng trị nghiêm khắc những đối tƣợng tham nhũng có tổ chức, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Nhanh chóng bổ sung vào Bộ luật hình sự các hành vi tham nhũng mới đƣợc quy định tại Luật phòng, chống tham nhũng; chú trọng tới các chế tài phạt tiền nhằm tăng khả năng thu hồi tài sản tham nhũng”. Chiến lƣợc quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 cũng đƣa ra giải pháp nghiên cứu, xây dựng, sửa đổi pháp luật theo hƣớng tăng hình thức phạt tiền; miễn trách nhiệm hình sự hoặc giảm hình phạt đối với những đối tƣợng đã thực hiện hành vi tham nhũng nhƣng chủ động khai báo, khắc phục hậu quả; hoàn thiện quy định xử lý tài sản tham nhũng; bổ sung quy định nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, bảo đảm cho việc thu hồi, tịch thu tài sản do tham nhũng mà có. Việc xử lý hành vi tham nhũng, các hành vi vi phạm pháp luật khác và tài sản tham nhũng có thể đƣợc khái quát dƣới hai dạng: - Xử lý kỷ luật, xử lý hình sự: Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định hai hình thức chế tài áp dụng đối với ngƣời có hành vi tham nhũng là xử lý kỷ luật hoặc xử lý hình sự. Theo đó, đối tƣợng bị áp dụng chế tài gồm: ngƣời có hành vi tham nhũng quy định tại Điều 3 của Luật; ngƣời không báo 165
  51. cáo, tố giác khi biết đƣợc hành vi tham nhũng; ngƣời không xử lý báo cáo, tố giác, tố cáo về hành vi tham nhũng; ngƣời có hành vi đe doạ, trả thù, trù dập ngƣời phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng; ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách; ngƣời thực hiện hành vi khác vi phạm quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. - Xử lý tài sản tham nhũng: Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định về nguyên tắc tài sản tham nhũng phải đƣợc thu hồi, tịch thu, trả lại cho chủ sở hữu, quản lý hợp pháp hoặc sung quỹ nhà nƣớc. Ngƣời đƣa hối lộ mà chủ động khai báo trƣớc khi hành vi đƣa hối lộ bị phát hiện thì đƣợc trả lại tài sản đã dùng để hối lộ. Theo Điều 71 về thu hồi tài sản tham nhũng có yếu tố nƣớc ngoài thì trên cơ sở điều ƣớc quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, Chính phủ Việt Nam hợp tác với Chính phủ nƣớc ngoài trong việc thu hồi tài sản của Việt Nam hoặc của nƣớc ngoài bị tham nhũng và trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu hợp pháp. IV- TRÁCH NHIỆM VÀ SỰ PHỐI HỢP GIỮA CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC TRONG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG 1. Trách nhiệm và sự phối hợp giữa các cơ quan trong công tác phòng, chống tham nhũng Trong quá trình nghiên cứu soạn thảo Luật phòng, chống 166
  52. tham nhũng năm 2005, vấn đề tổ chức cơ quan phòng, chống tham nhũng đƣợc thảo luận sôi nổi và có rất nhiều ý kiến khác nhau, nhất là về việc có nên tổ chức một cơ quan chuyên trách thực thi công tác đấu tranh chống tham nhũng với quyền hạn đặc biệt, đƣợc hoạt động theo trình tự, thủ tục đặc biệt để phát hiện và xử lý các vụ việc tham nhũng hay không. Không ít ý kiến đồng ý với phƣơng án này vì cho rằng tham nhũng là hành vi đặc biệt nguy hiểm, đƣợc thực hiện bởi ngƣời có chức vụ, quyền hạn nên việc phát hiện và xử lý sẽ rất khó khăn nếu chỉ sử dụng các biện pháp thông thƣờng đã đƣợc quy định trong pháp luật về tố tụng hình sự. Thực tế cũng cho thấy, hiệu quả đấu tranh chống tham nhũng hiện nay còn thấp, có thể do thiếu một cơ quan đủ mạnh để đấu tranh chống tham nhũng. Tuy nhiên, sau khi xem xét đầy đủ thì thấy rằng, xét về phƣơng diện pháp luật, chúng ta đã có khá đủ những phƣơng tiện cần thiết để đấu tranh với tệ tham nhũng. Chúng ta có hệ thống các cơ thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm toán, điều tra, v.v., và các cơ quan này cũng đã đƣợc pháp luật quy định đầy đủ quyền hạn để đấu tranh với tham nhũng. Bộ luật hình sự năm 1999; được sửa đổi, bổ sung năm 2009 có quy định rõ ràng về cấu thành các hành vi tham nhũng, hình phạt đối với tội danh tham nhũng cũng rất nghiêm khắc. Nhƣ vậy, không phải chúng ta thiếu pháp luật, cơ chế hay cơ quan chuyên trách mà do pháp luật chƣa đƣợc thi hành đầy đủ, nghiêm túc, cơ quan có thẩm quyền chƣa làm hết trách nhiệm của mình cũng nhƣ chƣa có sự phối hợp đồng bộ có hiệu quả giữa các cơ quan trong đấu tranh chống tham nhũng. Chống tham nhũng là cuộc đấu tranh phức tạp, đòi hỏi nỗ lực chung của toàn bộ hệ thống chính trị, toàn xã hội, trong đó trách 167
  53. nhiệm trƣớc hết thuộc về các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền. Chính vì vậy, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 một mặt tiếp tục đề cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nƣớc trong việc thực hiện trách nhiệm của mình trong đấu tranh chống tham nhũng, mặt khác định ra các phƣơng thức mới, giải pháp mới, cả về mặt tổ chức để nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh này. Trƣớc hết, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 nhấn mạnh trách nhiệm của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức đơn vị trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Điều 72, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định: - Ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm áp dụng quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan để tổ chức phòng, chống tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý. - Ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị chịu trách nhiệm trƣớc cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên về việc phòng, chống tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý. Nhƣ vậy, ngƣời đứng đầu phải coi phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ thƣờng xuyên trong công tác lãnh đạo, quản lý của mình. Cần phải tổ chức cho cơ quan, đơn vị mình thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về công khai, minh bạch. Phải giám sát thƣờng xuyên và có các hình thức kiểm tra việc thực hiện chức trách nhiệm vụ của đơn vị và cá nhân cấp dƣới, nhất là những công việc có liên quan đến việc quản lý tiền và tài sản của nhà nƣớc hoặc những công việc trực tiếp giải quyết công việc của công dân, doanh 168
  54. nghiệp. Phải kịp thời phát hiện những khiếm khuyết, lỗ hổng trong việc quản lý các mặt công tác của cơ quan, đơn vị để sửa đổi, bổ sung nhằm ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật nói chung và hành vi tham nhũng nói riêng. Tiếp đó, Luật phòng chống tham nhũng năm 2005 quy định trách nhiệm của Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nƣớc, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, là những cơ quan có vai trò quan trọng trong công tác đấu tranh chống tham nhũng. Riêng Thanh tra Chính phủ, Luật phòng chống tham nhũng năm 2005 quy định thêm một số trách nhiệm với vai trò là đầu mối trong việc theo dõi, thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Điều 76 quy định trách nhiệm của Thanh tra Chính phủ nhƣ sau: - Tổ chức, chỉ đạo, hƣớng dẫn công tác thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; trƣờng hợp phát hiện hành vi tham nhũng thì đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý. - Xây dựng hệ thống dữ liệu chung về phòng, chống tham nhũng. Ngày 20-5-2008 Chính phủ ban hành Nghị định số 65/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Chính phủ. Nghị định này thay thế Nghị định số 55/2005/NĐ-CP ban hành ngày 25-4-2005. Theo quy định mới, Thanh tra Chính phủ có chức năng: là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng. Với quy định này, vai trò và trách 169
  55. nhiệm của Thanh tra Chính phủ nói riêng và ngành Thanh tra nói chung trong công tác phòng, chống tham nhũng càng trở nên quan trọng Điều 80, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định nội dung phối hợp giữa các cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nƣớc, điều tra, viện kiểm sát, toà án trong đấu tranh chống tham nhũng nhƣ sau: - Trao đổi thƣờng xuyên thông tin, tài liệu, kinh nghiệm về công tác phòng, chống tham nhũng; - Chuyển hồ sơ vụ việc tham nhũng cho cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền xử lý; - Tổng hợp, đánh giá, dự báo tình hình tham nhũng và kiến nghị chính sách, giải pháp phòng, chống tham nhũng. Về sự phối hợp giữa cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nƣớc với cơ quan điều tra, Điều 81, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định nhƣ sau: - Trong trƣờng hợp cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nƣớc chuyển hồ sơ vụ việc tham nhũng cho cơ quan điều tra thì cơ quan điều tra phải tiếp nhận và giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự. - Trong trƣờng hợp không đồng ý với việc giải quyết của cơ quan điều tra thì cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nƣớc có quyền thông báo với viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan điều tra cấp trên. Điều 82, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định về phối hợp công tác giữa cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nƣớc với viện kiểm sát nhƣ sau: - Trong trƣờng hợp chuyển hồ sơ vụ việc tham nhũng cho 170
  56. cơ quan điều tra thì cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nƣớc có trách nhiệm thông báo cho viện kiểm sát cùng cấp để thực hiện việc kiểm sát. - Trong trƣờng hợp cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nƣớc chuyển hồ sơ vụ việc tham nhũng cho viện kiểm sát thì viện kiểm sát phải xem xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết bằng văn bản cho cơ quan đã chuyển hồ sơ. Các quy định nêu trên vừa quy định phƣơng thức phối hợp công tác giữa các cơ quan trong đấu tranh chống tham nhũng, vừa tạo cơ chế ràng buộc, giám sát lẫn nhau trong hoạt động của các cơ quan để tránh tình trạng có thể bỏ lọt vụ việc tham nhũng trong quá trình hoạt động của các cơ quan này. Chiến lƣợc quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 đề ra giải pháp về vấn đề này nhƣ sau: hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chuyên trách chống tham nhũng trong việc tiếp nhận, xử lý thông tin, tố cáo về tham nhũng, phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng; tăng cƣờng trang thiết bị, kỹ thuật nghiệp vụ hiện đại. Nghiên cứu từng bƣớc áp dụng các biện pháp, kỹ thuật điều tra đặc biệt với trình tự, thủ tục, điều kiện chặt chẽ nhằm nâng cao hiệu quả phát hiện hành vi tham nhũng. 2. Về các cơ chế và tổ chức có tính chất chuyên trách trong đấu tranh chống tham nhũng Mặc dù chúng ta không chủ trƣơng lập ra một cơ quan mới, chuyên trách để chống tham nhũng với quyền hạn đặc biệt, nhƣng để khắc phục tình trạng chống tham nhũng một cách dàn trải, ít hiệu quả nhƣ hiện nay, Luật phòng, chống tham nhũng 171
  57. năm 2005 đã quy định một cơ chế và tổ chức mới có tính chất chuyên trách hơn để đảm nhiệm công tác này. Cụ thể: a) Về việc thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng Trung ương Hiện nay, nhiệm vụ chống tham nhũng đƣợc giao cho nhiều cơ quan khác nhau, với nguyên tắc toàn bộ các cơ quan nhà nƣớc, toàn thể hệ thống chính trị và cả xã hội có trách nhiệm tham gia đấu tranh chống tham nhũng. Tuy nhiên, do các nỗ lực chống tham nhũng của các cơ quan còn mang tính riêng lẻ, thiếu sự thống nhất và phối hợp nên hiệu lực, hiệu quả phòng, chống tham nhũng còn nhiều hạn chế. Luật phòng, chống tham nhũng quy định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ƣơng về phòng, chống tham nhũng với tƣ cách là cơ quan tham mƣu chính sách và phối hợp sẽ không trực tiếp can thiệp mà chỉ điều phối vĩ mô hoạt động của các cơ quan thực thi pháp luật sẵn có, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả chống tham nhũng chung của tất cả các cơ quan này. Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng là một cơ quan luật định, có bộ phận giúp việc chuyên trách. Điều 73, Luật phòng chống tham nhũng năm 2005 quy định: - Ban chỉ đạo Trung ƣơng về phòng, chống tham nhũng do Thủ tƣớng Chính phủ đứng đầu có trách nhiệm chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc hoạt động phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nƣớc. Giúp việc cho Ban Chỉ đạo Trung ƣơng về phòng, chống tham nhũng có bộ phận thƣờng trực hoạt động chuyên trách. - Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ƣơng về phòng, chống tham nhũng, do Uỷ 172
  58. ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định theo đề nghị của Thủ tƣớng Chính phủ. Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng mặc dù do Thủ tƣớng Chính phủ đứng đầu nhƣng không phải là cơ quan của Chính phủ. Thủ tƣớng Chính phủ là Trƣởng ban, giúp việc Ban Chỉ đạo có bộ phận thƣờng trực hoạt động chuyên trách. Nhƣ vậy, Ban Chỉ đạo Trung ƣơng về phòng, chống tham nhũng không hoàn toàn là một tổ chức có tính chất lâm thời đại diện mà đã từng bƣớc thể hiện tính chất chuyên trách trong hoạt động của mình. Điều đó bảo đảm cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác đấu tranh chống tham nhũng trong thời gian tới. Về chức năng nhiệm vụ, Ban Chỉ đạo không tham gia trực tiếp vào việc giải quyết các vụ việc tham nhũng cụ thể, không can thiệp vào hoạt động của các cơ quan khác mà có trách nhiệm chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc hoạt động phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nƣớc. Thực hiện quy định nêu trên, ngày 28-8-2006 Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội ra Nghị quyết số 1039/2006/NQ- UBTVQH11 về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và qui chế hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ƣơng về phòng, chống tham nhũng, trong đó quy định về vị trí vai trò của Ban Chỉ đạo nhƣ sau (Điều 1): - Ban Chỉ đạo trung ƣơng về phòng, chống tham nhũng (sau đây gọi tắt là Ban Chỉ đạo) do Thủ tƣớng Chính phủ đứng đầu, có trách nhiệm chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc hoạt động phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nƣớc. - Ban Chỉ đạo chịu trách nhiệm trƣớc Ban Chấp hành Trung 173
  59. ƣơng Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thƣ, Quốc hội, Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội, Chủ tịch nƣớc, Chính phủ về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong công tác phòng, chống tham nhũng theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật. Về hoạt động cụ thể: - Trong quá trình chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc hoạt động phòng, chống tham nhũng, Ban Chỉ đạo tôn trọng và không làm cản trở hoạt động bình thƣờng của cơ quan, tổ chức, đơn vị và ngƣời có thẩm quyền trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do Hiến pháp và pháp luật quy định. - Ban Chỉ đạo làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ; Trƣởng Ban Chỉ đạo kết luận và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định, cơ quan, tổ chức, đơn vị và ngƣời có thẩm quyền chịu trách nhiệm thực hiện kịp thời, đầy đủ sự chỉ đạo, yêu cầu, kiến nghị của Ban Chỉ đạo trong công tác phòng, chống tham nhũng. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo, Điều 4, Điều 5 của Nghị quyết quy định: Ban Chỉ đạo có các nhiệm vụ sau đây: - Chỉ đạo, đôn đốc cơ quan, tổ chức, đơn vị và ngƣời có thẩm quyền kiểm tra việc triển khai thực hiện các quy định của Luật phòng, chống tham nhũng về công khai, minh bạch; xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn; thực hiện quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp, chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức; trách nhiệm của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng; 174
  60. - Chỉ đạo, đôn đốc hoạt động kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra; đôn đốc, chỉ đạo việc kiểm tra hoạt động truy tố, xét xử đối với vụ, việc tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp mà dƣ luận xã hội đặc biệt quan tâm nhằm góp phần kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi tham nhũng theo quy định của pháp luật; chỉ đạo các cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, tòa án thông qua hoạt động của mình làm rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh tham nhũng; trách nhiệm của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tham nhũng; những sơ hở, bất hợp lý của chính sách, pháp luật để kiến nghị, yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và ngƣời có thẩm quyền đề ra biện pháp khắc phục, sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật cho phù hợp; - Chỉ đạo phối hợp hoạt động của các cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, tòa án nhằm tăng cƣờng hiệu lực và hiệu quả của công tác đấu tranh chống tham nhũng, góp phần bảo đảm cho công tác này đƣợc thực hiện theo đúng quy định của pháp luật; - Chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc cơ quan, tổ chức và ngƣời có thẩm quyền trong việc xử lý khiếu nại, tố cáo về hành vi tham nhũng và các thông tin về vụ, việc tham nhũng do các phƣơng tiện thông tin đại chúng phát hiện, cung cấp, đƣa tin; - Chỉ đạo, kiểm tra việc quản lý, cung cấp thông tin, tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng và các vụ, việc tham nhũng cụ thể, bảo đảm việc tuyên truyền, thông tin đƣợc kịp thời, chính xác, trung thực, khách quan theo đúng quy định của pháp luật; chỉ đạo cơ quan, tổ chức và ngƣời có thẩm quyền xử lý nghiêm những hành vi vi phạm việc quản lý, cung cấp thông 175
  61. tin, vi phạm Luật báo chí, những trƣờng hợp báo chí thông tin sai sự thật và những hành vi lợi dụng việc tuyên truyền, thông tin về phòng, chống tham nhũng để vu khống ngƣời khác, gây mất đoàn kết nội bộ, mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nƣớc; - Tham mƣu, đề xuất với các cơ quan, tổ chức, đơn vị và ngƣời có thẩm quyền trong việc đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng; xây dựng chƣơng trình, kế hoạch công tác phòng, chống tham nhũng trong từng thời gian và lĩnh vực thƣờng xảy ra tham nhũng; kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chƣơng trình, kế hoạch và chủ trì tổ chức sơ kết, tổng kết đánh giá về công tác phòng, chống tham nhũng; - Định kỳ hoặc theo yêu cầu báo cáo Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thƣ, Quốc hội, Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội, Chủ tịch nƣớc, Chính phủ về tình hình và kết quả phòng, chống tham nhũng; công khai báo cáo hằng năm về công tác phòng, chống tham nhũng, về hoạt động của Ban Chỉ đạo và về việc xử lý những vụ, việc tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp mà dƣ luận xã hội đặc biệt quan tâm. Ban Chỉ đạo có các quyền hạn sau đây: - Yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và ngƣời có thẩm quyền báo cáo về tình hình tham nhũng và kết quả công tác phòng, chống tham nhũng tại cơ quan, tổ chức, đơn vị mình; trong trƣờng hợp cần thiết, yêu cầu báo cáo việc xử lý những vụ, việc tham nhũng cụ thể, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý thông tin về hành vi tham nhũng; - Yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và ngƣời có thẩm quyền 176
  62. thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng; kiến nghị, yêu cầu với cơ quan, tổ chức, đơn vị và ngƣời có thẩm quyền xem xét trách nhiệm, xử lý đối với ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị không thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng để xảy ra hậu quả nghiêm trọng; - Yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và ngƣời có thẩm quyền tiến hành kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra làm rõ các vụ, việc có dấu hiệu tiêu cực, tham nhũng và khi cần thiết thì chỉ đạo tổ chức việc phúc tra; chủ trì thảo luận và kết luận chỉ đạo việc phối hợp xử lý đối với các vụ, việc tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp mà dƣ luận xã hội đặc biệt quan tâm; trong trƣờng hợp cần thiết, trực tiếp chỉ đạo về chủ trƣơng xử lý đối với các vụ, việc đó hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và ngƣời có thẩm quyền giải quyết lại nhằm bảo đảm việc xử lý đƣợc kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật; - Thủ tƣớng Chính phủ - Trƣởng Ban Chỉ đạo quyết định tạm đình chỉ công tác đối với ngƣời giữ chức vụ thứ trƣởng và các chức vụ tƣơng đƣơng, Chủ tịch, phó chủ tịch, uỷ viên thƣờng trực hội đồng nhân dân, chủ tịch, phó Chủ tịch, các thành viên khác của ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng và các chức vụ khác do Thủ tƣớng Chính phủ bổ nhiệm, cách chức khi ngƣời đó có dấu hiệu tham nhũng, có hành vi gây khó khăn đối với hoạt động chống tham nhũng của cơ quan, tổ chức. Trong trƣờng hợp cần thiết yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và ngƣời có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ chức vụ đối với đảng viên, cán bộ, công chức khác khi ngƣời đó có dấu hiệu tham nhũng, gây khó khăn đối với hoạt động chống tham nhũng 177
  63. của cơ quan, tổ chức; cơ quan, tổ chức, đơn vị và ngƣời có thẩm quyền có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của Thủ tƣớng Chính phủ - Trƣởng Ban Chỉ đạo trong thời hạn chậm nhất là bảy ngày, kể từ ngày nhận đƣợc yêu cầu; - Kiến nghị cơ quan, tổ chức và ngƣời có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ công tác đối với ngƣời giữ chức vụ lãnh đạo cơ quan, tổ chức ở Trung ƣơng không thuộc các trƣờng hợp quy định tại khoản 4, Điều 5 khi ngƣời đó có dấu hiệu tham nhũng, có hành vi gây khó khăn đối với hoạt động chống tham nhũng của cơ quan, tổ chức; - Kiến nghị, yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và ngƣời có thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với đảng viên, cán bộ, công chức có hành vi tham nhũng nhƣng chƣa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 5; khi xét thấy cần thiết, yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và ngƣời có thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với đảng viên, cán bộ, công chức khác. Trƣờng hợp cơ quan, tổ chức, đơn vị và ngƣời có thẩm quyền không xử lý kỷ luật hoặc xử lý kỷ luật không nghiêm, Ban Chỉ đạo có quyền yêu cầu, kiến nghị cấp trên của cơ quan, tổ chức, đơn vị và ngƣời có thẩm quyền xem xét xử lý kỷ luật đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có vi phạm hoặc xem xét lại quyết định kỷ luật đó, bảo đảm sự nghiêm minh của kỷ luật đảng và pháp luật của Nhà nƣớc; - Trƣng tập cán bộ, công chức của cơ quan, tổ chức hữu quan để thực hiện nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo khi cần thiết; yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và ngƣời có thẩm quyền phải thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho ngƣời tố cáo hành vi 178
  64. tham nhũng, tham gia và thực hiện nhiệm vụ chống tham nhũng; đề nghị cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền khen thƣởng đối với những cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thành tích trong công tác phòng, chống tham nhũng; kiến nghị, yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và ngƣời có thẩm quyền xem xét, phục hồi quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời tham gia, thực hiện nhiệm vụ chống tham nhũng trong trƣờng hợp quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm hại do cơ quan, tổ chức, đơn vị và ngƣời có thẩm quyền gây ra. Kiến nghị, yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và ngƣời có thẩm quyền xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật đối với những ngƣời có hành vi lợi dụng việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, gây mất đoàn kết nội bộ, mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nƣớc. Về cơ cấu thành viên Ban Chỉ đạo bao gồm 1. Trƣởng Ban Chỉ đạo: Thủ tƣớng Chính phủ; 2. Phó Trƣởng Ban Chỉ đạo: Phó Thủ tƣớng Chính phủ; 3. Các Uỷ viên Ban Chỉ đạo: - ủy viên thƣờng trực1; - Tổng Thanh tra; - Bộ trƣởng Bộ Công an; - Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; - Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; - Bộ trƣởng Bộ Văn hoá - Thông tin; - Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ƣơng; - Phó Trƣởng Ban Nội chính Trung ƣơng; 1. Kiêm Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo. 179
  65. - Thứ trƣởng Bộ Quốc phòng. Ban Chỉ đạo Trung ƣơng về phòng, chống tham nhũng bắt đầu hoạt động từ tháng 10 năm 2006. Do việc đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan của Đảng và việc bầu, phê chuẩn các chức danh của Chính phủ (tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá XII), theo đề nghị của Thủ tƣớng Chính phủ - Trƣởng Ban Chỉ đạo Trung ƣơng về phòng, chống tham nhũng, Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết về việc thay đổi, bổ sung danh sách của Ban Chỉ đạo, gồm 10 thành viên1. Các Uỷ viên Ban Chỉ đạo sử dụng bộ máy của cơ quan, tổ chức do mình quản lý, phụ trách để thực hiện nhiệm vụ đƣợc Trƣởng Ban Chỉ đạo phân công. Nghị quyết cũng quy định Văn phòng Ban Chỉ đạo là cơ quan hoạt động chuyên trách, giúp việc Ban Chỉ đạo; Thủ tƣớng Chính phủ - Trƣởng Ban Chỉ đạo quyết định tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của Văn phòng Ban Chỉ đạo theo đề nghị của Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo; quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo. Văn phòng Ban Chỉ đạo có trách nhiệm tuyển chọn ngƣời có đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, có phẩm chất, đạo đức tốt, liêm khiết, trung thực, có trình độ chuyên môn và năng lực thực tiễn, có tinh thần kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng làm cán bộ, công chức của Văn phòng Ban Chỉ đạo. 1. So với trƣớc kia, Ban Chỉ đạo không có Phó Trƣởng Ban Nội chính Trung ƣơng do cơ quan này đã giải thể, Bộ trƣởng Bộ Văn hoá - thông tin đƣợc thay bằng Bộ trƣởng Bộ Thông tin và Truyền thông. 180
  66. Ban Chỉ đạo Trung ƣơng về phòng, chống tham nhũng đƣợc thành lập và đi vào hoạt động bƣớc đầu đã thể hiện đƣợc hiệu quả. Tuy nhiên, với tình hình tham nhũng ngày càng lan rộng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực nhƣ hiện nay thì việc thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng ở Trung ƣơng là chƣa đủ. Thực tiễn tại các địa phƣơng cho thấy cần phải có một cơ chế để chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa IX về phƣơng hƣớng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 và Báo cáo về công tác xây dựng Đảng có ghi rõ: “Sớm hình thành và triển khai có hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng ở Trung ƣơng. Các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị phải xây dựng chƣơng trình hành động phòng, chống tham nhũng”; và “Thành lập các ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng trung ƣơng và địa phƣơng đủ mạnh, có thực quyền, hoạt động có hiệu quả”1. Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khoá X ngày 21-8-2006 tiếp tục ghi rõ “Việc tổ chức bộ phận chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng ở các cấp các ngành thực hiện theo quy định của Chính phủ”2. Chính vì những lý do đó mà Luật phòng, chống tham nhũng cần đƣợc sửa đổi, bổ sung để tạo cơ sở pháp lý cho sự ra đời và hoạt động của Ban Chỉ đạo tại các tỉnh, thành phố trực 1. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 257-258, 289. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.30. 181
  67. thuộc trung ƣơng. Ngày 04 tháng 8 năm 2007, Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ nhất đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng chống tham nhũng. Theo đó, Điều 73 đƣợc sửa đổi, bổ sung nhƣ sau: - Ban Chỉ đạo Trung ƣơng về phòng, chống tham nhũng do Thủ tƣớng Chính phủ đứng đầu có trách nhiệm chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc hoạt động phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nƣớc. Giúp việc cho Ban Chỉ đạo Trung ƣơng về phòng, chống tham nhũng có bộ phận thƣờng trực hoạt động chuyên trách. - Ban Chỉ đạo tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng về phòng, chống tham nhũng do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng đứng đầu có trách nhiệm chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc hoạt động phòng, chống tham nhũng trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng. Ban Chỉ đạo tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng về phòng, chống tham nhũng có bộ phận giúp việc. - Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ƣơng về phòng, chống tham nhũng, Ban Chỉ đạo tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng về phòng, chống tham nhũng do Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội quy định theo đề nghị của Thủ tƣớng Chính phủ. Đồng thời để phù hợp với Luật sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Quốc hội vừa đƣợc Quốc hội khóa XI, kỳ hợp thứ 11 thông qua ngày 2-4-2007, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1-7- 2007 quy định nhiệm vụ quyền hạn của Uỷ ban Tƣ pháp của Quốc hội trong giám sát, phát hiện xử lý hành vi tham nhũng, 182