Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Ước muốn thâm căn, công nghệ tiên tiến

pdf 60 trang ngocly 50
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Ước muốn thâm căn, công nghệ tiên tiến", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfsu_ua_thich_con_trai_o_viet_nam_uoc_muon_tham_can_cong_nghe.pdf

Nội dung text: Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Ước muốn thâm căn, công nghệ tiên tiến

  1. SỰ ƯA THÍCH CON TRAI Ở VIỆT NAM: ƯỚC MUỐN THÂM CĂN, CÔNG NGHỆ TIÊN TIẾN Báo cáo nghiên cứu định tính nhằm tìm hiểu sâu hơn về tình trạng tăng tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam Tháng 9 / 2011 Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: 2 Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  2. Bản quyền thuộc: Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam Ảnh minh họa: Liên Hợp Quốc tại Việt Nam/Đoàn Bảo Châu - Sơn Đào và các ảnh do Luck House Graphics cung cấp
  3. Mục lục LỜI NÓI ĐẦU 5 CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6 TÓM TẮT 7 CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU VỀ CUỘC NGHIÊN CỨU 13 Bối cảnh 15 Mục đích nghiên cứu 16 CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17 Địa bàn nghiên cứu 19 Đối tượng nghiên cứu 19 Thu thập thông tin và số liệu 19 Xử lý và phân tích số liệu 20 CHƯƠNG 3. VÌ SAO CON TRAI ĐƯỢC KHAO KHÁT HƠN? 21 Khía cạnh văn hóa của sự ưa thích con trai 23 Những khía cạnh kinh tế - xã hội của sự ưa thích con trai 27 Những điều người ta nói: Áp lực của gia đình và chuẩn mực của cộng đồng 31 Tóm lại: Vì sao con trai được khao khát hơn? 38 CHƯƠNG 4. CÓ CON TRAI BẰNG CÁCH NÀO? 39 Sinh con trai: khoa học của sinh sản có lựa chọn 41 Tóm lại: Làm thế nào để có con trai? 50 CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 51 Kết luận 53 Khuyến nghị 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO 58 Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: 3 Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  4. 4 Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  5. Lời nói đầu rong vài thập kỷ trở lại đây, mất cân bằng giới tính khi sinh đã ảnh hưởng đến một số nước ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Thời gian gần đây Việt Nam bắt đầu có sự Tgia tăng bất thường của tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS). Cho đến năm 2000, TSGTKS vẫn còn ở mức bình thường là 106,2 bé trai được sinh ra trên 100 bé gái nhưng theo kết quả cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009 tỷ số này đã tăng lên nhanh chóng đến 110,6. Ở cấp độ quốc tế cũng như ở Việt Nam, sự mất cân bằng của TSGTKS được coi như chỉ báo nhân khẩu học cho thấy sự bất bình đẳng giới vì nó phản ánh tình trạng phân biệt đối xử với phụ nữ và trẻ em gái ngay từ trước khi họ được sinh ra. Mức độ và tốc độ gia tăng đáng báo động của TSGTKS mới chỉ thu hút được sự chú ý của các nhà hoạch định chính sách trong những năm gần đây. Vào năm 2006 và 2009, một số tài liệu được công bố về kết quả phân tích số liệu của các cuộc điều tra biến động Dân số hàng năm và số liệu thống kê về các ca sinh từ tại bệnh viện năm 2008 đã đưa ra bằng chứng định lượng đầu tiên về sự xuất hiện lên của hiện tượng nhân khẩu học này. Theo đó, sự gia tăng TSGTKS được cho là bắt đầu vào khoảng năm 2004 và tiếp tục tăng lên với tốc độ chưa từng có với 1 điểm phần trăm mỗi năm. Những phát hiện này sau đó đã được khẳng định bởi một phân tích sâu hơn và toàn diện hơn từ số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, cung cấp một bức tranh chi tiết về quá trình tiến triển của TSGTKS theo thời gian, những khác biệt về mặt địa lý của tỷ số này theo vùng và cấp tỉnh, cũng như các đặc điểm kinh tế xã hội của hộ gia đình có TSGTKS cao. Mặc dù những phân tích định lượng đã cung cấp những thông tin có giá trị về xu hướng và đặc điểm của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam, nhiều câu hỏi về các yếu tố văn hóa và xã hội tác động đến TSGTKS vẫn chưa được trả lời. Để xác định những khoảng trống trong kiến thức và hiểu biết về vấn đề này, đầu năm 2010 UNFPA đã tổ chức thực hiện một phân tích tổng quan các tài liệu về TSGTKS ở khu vực châu Á với trọng tâm là Việt Nam. Nghiên cứu này đã thu thập và phân tích hầu hết các tài liệu nghiên cứu, luật pháp và chính sách về TSGTKS ở Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam và xác định những khoảng trống kiến thức đang tồn tại. Đó chính là cơ sở cho việc thiết kế cuộc nghiên cứu mà kết quả được trình bày trong báo cáo này. Cuộc nghiên cứu định tính này được thực hiện trong vòng 3 tháng từ tháng Tám đến tháng Mười năm 2010 tại bốn tỉnh/thành phố của Việt Nam bao gồm Hà Nội, Hưng Yên (thuộc vùng Đồng bằng Sông Hồng), Quảng Ngãi (thuộc khu vực bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung) và Cần Thơ (thuộc Đồng bằng sông Cửu Long). Nghiên cứu đã chứng minh tầm quan trọng của chế độ thân tộc phụ hệ và mô hình cư trú bên nội ở Việt Nam như cội nguồn sâu xa của tâm lý ưa thích con trai, thôi thúc nhu cầu phải có con trai để nối dõi tông đường. Thêm vào đó, nghiên cứu đã xác định vai trò quan trọng của việc tiếp cận ngày càng dễ dàng đến công nghệ lựa chọn giới tính tạo điều kiện cho nhiều cặp vợ chồng đạt được ước nguyện sinh con trai. Dự thảo báo cáo kết quả và khuyến nghị về các giải pháp đối với các yếu tố văn hóa, xã hội và công nghệ tác động đến TSGTKS đã được thảo luận trong cuộc hội thảo tham vấn do Chính phủ và các Tổ chức Liên Hợp Quốc phối hợp tổ chức trong hai ngày 3 và 4 tháng 11 năm 2010 với sự tham gia của các nhà hoạch định chính sách và các đại diện từ các cơ quan chính phủ, các tổ chức xã hội dân sự và các cơ quan Liên Hợp Quốc. Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: 5 Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  6. UNFPA xin cảm ơn Tiến sĩ Khuất Thu Hồng, Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS) và Tiến sĩ Tine Gammeltoft từ khoa Nhân chủng học, trường Đại học Tổng hợp Copenhagen về sự đóng góp của họ cho báo cáo này. Chúng tôi muốn đặc biệt cảm ơn Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình về những hỗ trợ cho cuộc nghiên cứu và về việc đồng tổ chức hội thảo tham vấn nói trên, tạo điều kiện cho thảo luận giữa chính phủ, Liên Hợp Quốc và các tổ chức xã hội dân sự nhằm hoàn chỉnh các khuyến nghị trình bày trong báo cáo này. Lời cảm ơn cũng xin được gửi tới các cán bộ của UNFPA vì những cố gắng và đóng góp quý báu của họ trong quá trình thực hiện nghiên cứu và chuẩn bị báo cáo này. UNFPA mong muốn giới thiệu tài liệu có giá trị này đến các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu và những người quan tâm đến các vấn đề dân số và giới ở Việt Nam. Những bằng chứng được trình bày trong tài liệu này được đưa ra kịp thời vào thời điểm mà Việt Nam đang xây dựng một số chính sách và văn bản pháp lý cũng như các chương trình can thiệp để giải quyết vấn đề giới có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong nhiều năm tới đây. Bruce Campbell Trưởng Đại diện Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam CÁC CHỮ VIẾT TẮT CEDAW Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ GOPFP Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình GSO Tổng cục Thống kê ICPD Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển TSGTKS Tỷ số giới tính khi sinh UNFPA Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc 6 Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  7. Tóm tắt ình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh đã tác động đến một số nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương như Trung Quốc, Hàn Quốc và Ấn Độ. Sự gia tăng bất thường của tỷ số giới tính Tkhi sinh (TSGTKS) cũng được quan sát thấy ở Việt Nam trong mấy năm gần đây. Cho đến năm 2000, TSGTKS vẫn còn ở mức bình thường và được ước tính vào khoảng 106,2 nhưng con số này đã tăng lên 110,6 theo kết quả của cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009. Dự báo rằng nếu mất cân bằng giới tính tiếp tục tăng sau năm 2010, thì sau hai thập kỷ nữa, Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề nhân khẩu học, kinh tế, chính trị và xã hội như tình trạng mất ổn định trong thị trường hôn nhân do thừa nam thiếu nữ, gia tăng áp lực buộc phụ nữ phải kết hôn sớm, tăng nhu cầu về mại dâm và sự lan tràn của các đường dây buôn bán phụ nữ, tăng nguy cơ bạo lực giới. Thực hành lựa chọn giới tính còn có thể mang lại những tác động tiêu cực đối với sức khỏe tâm thần, sức khỏe sinh sản/tình dục và quyền của phụ nữ. Mất cân bằng giới tính khi sinh phản ánh và tiếp tục củng cố sự bất bình đẳng giới trong xã hội. Các nghiên cứu trong khu vực đã chỉ ra một loạt các yếu tố khác nhau tác động đến sự gia tăng của TSGTKS như tâm lý ưa thích con trai (các yếu tố cầu), khả năng tiếp cận và chi trả các dịch vụ công nghệ lựa chọn giới tính (các yếu tố cung), và tác động nhất định của sự giảm sinh dẫn tới việc các gia đình mong muốn có quy mô gia đình nhỏ nhưng phải có con trai. Mặc dù cả ba yếu tố nói trên cần phải được phân tích một cách độc lập với nhau nhưng khi phối hợp lại chúng đã tạo ra một bối cảnh đặc thù dẫn đến gia tăng TSGTKS. Bối cảnh ở Việt Nam hiện nay đang hội đủ cả ba yếu tố đó: tâm lý ưa thích con trai, mức sinh giảm nhanh chóng và sự sẵn có các dịch vụ công nghệ lựa chọn giới tính tiên tiến. Chính phủ Việt Nam đã có nhiều nỗ lực để thúc đẩy bình đẳng giới và bảo vệ quyền con người thông qua cam kết thực hiện các sáng kiến quốc tế và ban hành các văn bản pháp luật và chính sách về bình đẳng giới. Gần đây, các quy định nghiêm cấm các hành vi xác định giới tính và nạo phá thai lựa chọn giới tính đã được ban hành. Với sự hỗ trợ của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức về vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh đã được triển khai thực hiện. Đồng thời, việc thu thập và phân tích các số liệu nhân khẩu học về hiện trạng TSGTKS cũng được nỗ lực tiến hành. Nghiên cứu định tính này nhằm bổ sung những kiến thức còn thiếu về các xu hướng của TSGTKS thông qua việc tìm hiểu về các yếu tố văn hóa, xã hội và thị trường đang tác động đến TSGTKS. Mục đích chung của cuộc nghiên cứu là cung cấp các bằng chứng cho thảo luận về chính sách, xây dựng điều chỉnh các can thiệp và chính sách hiện hành về tâm lý ưa thích con trai và mất cân bằng TSGTKS ở Việt Nam. Cụ thể, nghiên cứu này nhằm trả lời những câu hỏi sau đây: i) Các yếu tố văn hóa và xã hội chủ yếu của tâm lý ưa thích con trai ở Việt Nam là gì? ii) Những ai tham gia vào lựa chọn giới tính và quá trình lựa chọn giới tính đã diễn ra như thế nào? iii) Những công nghệ nào được sử dụng để lựa chọn giới tính và chúng được kiểm soát ra sao? và iv) Các chính sách của nhà nước về cấm lựa chọn giới tính đã được thực hiện như thế nào trong thực tế? Cuộc nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2010 tại Hà Nội, Hưng Yên (vùng Đồng bằng sông Hồng), Quảng Ngãi (vùng Bắc Trung bộ và Duyên Hải miền Trung) và Cần Thơ (vùng Đồng bằng sống Cửu Long). Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, bốn địa phương này đều được xác định là có tình trạng gia tăng TSGTKS, nhưng ở mức độ khác nhau. Các phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm đã được thực hiện cả ở cấp tỉnh/thành phố và ở cộng đồng. Tổng số 248 người đã được phỏng vấn hoặc tham gia thảo luận nhóm, bao gồm 48 cán bộ lãnh đạo quản lý từ cấp tỉnh đến cộng đồng; 48 phụ nữ và 47 nam giới trong độ tuổi sinh đẻ có từ 1 đến 4 con với đứa con cuối cùng sinh trong khoảng từ năm 2006 đến 2009, trong đó 48 người chưa có con trai; 28 ông bà nội trong đó 16 người chưa có cháu trai; 32 bác sĩ và y tá sản làm việc trong các bệnh viện nhà nước hoặc cơ sở y tế tư nhân và 34 khách hàng đến khám thai tại các cơ sở đó. Các cuộc phỏng vấn và thảo luận nhóm đã được ghi âm và chuyển thành văn bản sau đó được xử lý trên phần mềm NVIVO trước khi được phân tích. Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: 7 Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  8. 8 Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  9. Nghiên cứu này cũng đã phát hiện ra rằng nhiều KẾT QUẢ cặp vợ chồng đã tìm đến khoa học và công nghệ để có được đứa con với giới tính như mong muốn, Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng tâm lý ưa thích trong đó có cả siêu âm để xác định giới tính của con trai ở Việt Nam bắt nguồn từ hệ thống thân thai nhi và nạo thai để loại bỏ những thai gái tộc phụ hệ và mô hình cư trú bên nội, tạo ra áp không mong muốn. Hỗ trợ những người khao lực buộc các gia đình phải có ít nhất một con khát con trai là một bộ phận dịch vụ y tế đang trai1. Chuẩn mực gia đình hai con đã được các hướng đến lợi nhuận, và việc “sinh đẻ có chọn lọc” gia đình chấp nhận: ngày nay, hầu hết các cặp vợ đó được chấp nhận rộng rãi và thông cảm bởi cả chồng đều chỉ muốn có hai con và trong đó phải người dân và cán bộ tham gia vào nghiên cứu này. có ít nhất một con trai. Mọi người cho rằng con Khả năng tiếp cận đến công nghệ đã tạo điều kiện trai là rất quan trọng đối với các gia đình vì con cho mọi người “lựa chọn” giới tính của con cái, và trai tiếp nối dòng dõi; thờ cúng tổ tiên và chăm vì thế củng cố quan niệm cho rằng cơ cấu gia đình sóc cha mẹ lúc họ về già. Do đó, để hiểu về động có thể và nên thực hiện theo kế hoạch và có “lựa cơ của sự ưa thích con trai ở Việt Nam, cần phải chọn.” Trong một bối cảnh xã hội nơi mà hệ thống đặc biệt chú ý đến các chuẩn mực và quan niệm thân tộc vẫn đề cao nam giới hơn phụ nữ, sự tiếp về thân tộc. cận dễ dàng đến các công nghệ mới như siêu âm Tuy nhiên nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng ở Việt sản khoa có thể sẽ làm gia tăng áp lực buộc mọi Nam con gái được tin cậy và được đánh giá cao người phải sinh bằng được con trai, và do vậy càng vì sự gần gũi tình cảm với cha mẹ, sự đóng góp làm tăng sự ưa thích con trai. về kinh tế và hỗ trợ đối với gia đình cha mẹ đẻ. Những người được phỏng vấn khẳng định rằng con gái cũng có thể chăm sóc cha mẹ già và thờ KHUYẾN NGHỊ cúng tổ tiên. Điều này gợi ý rằng trong thực tế, Để giải quyết vấn đề gia tăng TSGTKS ở Việt Nam, kiểu gia đình “truyền thống” (đàn ông là chủ đạo) một số khuyến nghị sau đây đã được rút ra trên cơ không nhất thiết là kiểu gia đình duy nhất như sở các kết quả nghiên cứu: mọi người vẫn nghĩ và mặc định. 1- Giải quyết vấn đề sử dụng công nghệ sai Một phát hiện quan trọng trong nghiên cứu mục đích này là vai trò đáng kể của áp lực của gia đình và cộng đồng trong việc duy trì vai trò chủ đạo của Nghiên cứu chỉ ra rằng nhiều người đã tìm cách đàn ông nói chung và tâm lý ưa thích con trai lựa chọn con trai thông qua sử dụng siêu âm kết nói riêng. Mọi người thích có con trai không chỉ hợp với nạo thai. Khi xây dựng các can thiệp để vì ‘‘giá trị’’ của bản thân người con trai mà còn vì giải quyết vấn đề này, cần phải đảm bảo rằng việc có con trai sẽ củng cố vị trí của người phụ nữ quyền được nạo thai an toàn của phụ nữ phải trong gia đình và khẳng định uy tín của người đàn được bảo vệ và cán bộ y tế phải cung cấp dịch ông trong cộng đồng. Nam giới và phụ nữ không vụ tư vấn đầy đủ và có chất lượng đối với những có con trai thường phải chịu áp lực rất lớn từ gia phụ nữ muốn nạo thai. Tuy nhiên, để loại trừ việc đình nhà chồng và phải chịu đựng sự mỉa mai, sử dụng các công nghệ y học cho mục đích lựa trêu chọc và xúc phạm của cộng đồng. Tâm lý ưa chọn giới tính có thể cân nhắc áp dụng một số thích con trai không chỉ là vấn đề duy trì dòng biện pháp sau đây: giống gia đình mà còn là vấn đề áp lực, uy tín và sự thừa nhận về đạo đức. Nghiên cứu chỉ ra rằng 1A. Nâng cao nhận thức cho người cung cấp những áp lực về đạo đức như vậy thể hiện rõ hơn dịch vụ về hậu quả xã hội của sự mất cân ở miền Bắc và đặc biệt là trong những người có bằng giới tính và về trách nhiệm đặc biệt cuộc sống khá giả. của họ đối với vấn đề nhân khẩu học quan trọng này. Chủ đề TSGTKS nên được đưa vào chương trình giảng dạy ở các trường đại học y, đồng thời những người cung cấp dịch vụ 1 Trong chế độ phụ hệ, dòng dõi được truy theo đàn ông: phụ hệ là dòng dõi bắt đầu từ ông tổ cho đến thế hệ con sản, phụ khoa cần được tập huấn để có thể cháu (trai hoặc gái) mà chỉ được duy trì thông qua những tư vấn cho những phụ nữ có ý định nạo thai người con trai. Thuật ngữ “cư trú bên nội” nói về hệ thống lựa chọn giới tính. thân tộc trong đó các cặp vợ chồng sinh sống bên gia đình nhà chồng. Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: 9 Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  10. 1B. Củng cố các quy định của nhà nước cấm xác mà chủ đạo là phụ hệ và cư trú bên nội. Do đó, để định giới tính thai nhi thông qua tăng cường nâng cao giá trị của con gái, cần thúc đẩy các mô giám sát việc sử dụng siêu âm sản khoa hình thân tộc lưỡng hệ mà trong đó cả họ nội và trong các cơ sở y tế công và tư nhân. Thông họ ngoại đều được thừa nhận như nhau. Các can tin về giới tính thai nhi thường được thông thiệp để thúc đẩy mô hình thân tộc lưỡng hệ như báo qua những cách rất tế nhị nhưng các vậy có thể chú ý đến các chiều cạnh sau đây: cơ chế giám sát có thể được thực hiện bằng cách sử dụng “khách hàng bí mật” (Boyce và 2A. Họ của con cái và dòng họ của gia đình: Neale 2006) hoặc công tác thanh tra do các Theo Điều 15, Nghị định 158/2005/NĐ-CP cán bộ y tế thực hiện. Các quy định còn có do Chính phủ ban hành ngày 27/12/2005 thể được tăng cường thông qua phối hợp và điểm e mục 1 phần II của Thông tư với cán bộ tư pháp để xử lý những trường của Bộ Tư pháp số 01/2008/TT-BTP ngày hợp vi phạm (ví dụ đưa ra tòa). Cần tham 02/06/2008 Hướng dẫn thực hiện một số khảo kinh nghiệm từ Hàn Quốc và Ấn Độ. Ví quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ- dụ, ở Hàn Quốc, những giải pháp can thiệp CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng trong ngành y tế đã được cho là đóng vai trò ký và quản lý hộ tịch: “Khi đăng ký khai sinh, quan trọng trong việc đưa tỷ số giới tính khi họ và quê quán của con được xác định theo sinh trở lại mức bình thường (UNFPA 2010 a). họ và quê quán của người cha hoặc họ và quê quán của người mẹ theo tập quán hoặc 1C. Củng cố các quy định cấm xác định giới tính theo thỏa thuận của cha, mẹ”. Như vậy, theo thai nhi thông qua các chế tài nghiêm khắc luật pháp Việt Nam, họ tộc có thể được tiếp (ví dụ mức phạt tiền cao hoặc rút giấy phép tục thông qua con gái hoặc con trai. Cần tổ hành nghề) nếu phát hiện bác sĩ thông báo chức các chiến dịch truyền thông trên thông cho khách hàng về giới tính của thai nhi. tin đại chúng và trong cộng đồng để củng cố nhận thức của xã hội về việc con gái có 1D. Củng cố các quy định cấm xác định giới tính thể tiếp tục truyền lại họ và dòng giống gia thai nhi bằng cách đăng tải rộng rãi trên các đình. Những chiến dịch như vậy phải được phương tiện thông tin đại chúng về những nhằm vào cán bộ nhà nước ở tất cả các cấp, trường hợp vi phạm. Biện pháp này có thể từ trung ương đến cơ sở và nhân dân nói vừa như là chế tài xử lý vừa là cách để ngăn chung trên khắp cả nước. ngừa sự vi phạm của những người khác. 2B. Thờ cúng tổ tiên: Tổ chức các chiến dịch 1E. Các can thiệp trong ngành y tế nhằm giám thay đổi hành vi để nhấn mạnh việc con gái sát và điều chỉnh những hoạt động “tư vấn” hoàn toàn có thể đảm nhiệm việc thờ cúng (đáng ngờ cả về đạo đức và y sinh học) của tổ tiên và chăm nom phần mộ của những cán bộ y tế cho những người muốn sinh con người trong gia đình. với giới tính mong muốn. Cần phải nâng cao nhận thức của công chúng và của người 2C. Nơi cư trú: Điều 20 Luật Hôn nhân và Gia cung cấp dịch vụ về bản chất khoa học giả đình ban hành năm 2000 quy định rằng tạo của phần lớn những lời khuyên về sinh cặp vợ chồng có quyền tự do lựa chọn nơi đẻ như vậy và khuyến khích sử dụng khoa ở của mình. Nghiên cứu này chỉ ra rằng sự học và công nghệ một cách phù hợp. linh hoạt về nơi sinh sống - ví dụ cặp vợ chồng có thể tự do lựa chọn ở với gia đình 2. Giải quyết nguyên nhân gốc rễ của sự ưa nhà chồng hoặc gia đình nhà vợ, - có thể thích con trai: bất bình đẳng giới trong giúp giảm bớt áp lực phải có con trai. Vì vậy, thân tộc cần phải thúc đẩy sự chấp nhận rộng rãi mô hình cư trú bên ngoại (ở rể), ví dụ, thông qua Mặc dù công nghệ y học được sử dụng rộng rãi các chiến dịch truyền thông nhằm thay đổi cho mục đích lựa chọn giới tính, nguyên nhân sâu hành vi để nhấn mạnh khả năng của con xa của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh gái có thể chăm sóc tốt cha mẹ và khuyến không nằm trong việc sử dụng công nghệ. Nghiên khích mọi người linh hoạt về nơi sinh sống cứu này chỉ ra rằng nền móng của bất bình đẳng vì lợi ích quốc gia (thông qua cân bằng tỷ giới gắn liền với hệ thống thân tộc ở Việt Nam: sự số giới tính). ưa thích con trai bắt nguồn từ hệ thống thân tộc 10 Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  11. 2D. Thừa kế: Theo Luật Dân sự Việt Nam, mọi cá nhân đều có quyền lập di chúc để lại tài sản của mình cho người khác sau khi họ qua đời. Nếu không có di chúc, tài sản sẽ được chia công bằng giữa những người họ hàng trực hệ. Tuy nhiên, trong thực tế, con trai thường được thừa kế phần lớn tài sản của cha mẹ. Các chiến dịch truyền thông cần phải nâng cao nhận thức về quyền thừa kế bình đẳng của con gái. 2E. Chăm sóc người cao tuổi: Các chiến dịch truyền thông cần phải thu hút sự chú ý của công chúng đến một thực tế rằng con gái cũng có thể chăm sóc cha mẹ già chu đáo cả về tình cảm và vật chất. Cần phải có những cải thiện về hệ thống lương hưu và bảo hiểm xã hội để giảm bớt áp lực đối với cha mẹ, nhất là những người nghèo phải dựa vào con cái khi tuổi già. 3. Giải quyết các quan niệm chuẩn mực về bất bình đẳng giới Nghiên cứu này cho thấy thái độ và chuẩn mực của gia đình và cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc con trai được ưa thích hơn con bao gồm các hoạt động tiếp cận, huy động gái ở Việt Nam. Nghiên cứu ở Hàn Quốc cho thấy cộng đồng, các chiến dịch truyền thông đại thay đổi các chuẩn mực là yếu tố cực kỳ quan chúng, giáo dục trực tiếp hướng đến nhiều trọng trong việc đưa TSGTKS trở lại mức tự nhiên thành phần xã hội như cán bộ nhà nước, (Chung và Das Gupta 2007). Ở Việt Nam, có thể lãnh đạo cộng đồng, chức sắc tôn giáo, cán cân nhắc áp dụng một số can thiệp sau đây: bộ xã hội, giáo viên, phóng viên, cán bộ y tế và nhân dân nói chung. 3A. Các chiến dịch truyền thông nhằm nâng cao nhận thức rằng trêu chọc và đả kích 3D. Tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức về những người không có con trai là bất lịch sự bình đẳng giới và TSGTKS cho cán bộ xã hội, và thiếu đạo đức, đồng thời gây bất lợi cho giáo viên, cán bộ tòa án, cán bộ y tế, phóng sự phát triển của đất nước. Các chiến dịch viên, lãnh đạo các tổ chức xã hội, chức sắc như vậy cần phải hướng vào cả cán bộ và tôn giáo, cán bộ dân số và các nhóm liên cộng đồng dân cư ở nông thôn và đô thị. quan khác. 3B. Các chiến dịch truyền thông nhằm nâng 4. Bổ sung kiến thức: Tiếp tục nghiên cứu cao giá trị của con gái, nhấn mạnh khả năng và chia sẻ thông tin của con gái có thể tạo thu nhập cao và chăm sóc cha mẹ khi họ về già. Nên đưa các Để tăng cường cơ sở cho xây dựng chính sách và tấm gương thành đạt và hạnh phúc của các đối thoại về những yếu tố thúc đẩy sự gia tăng gia đình chỉ có con gái. TSGTKS ở Việt Nam, cần phải có thêm số liệu định tính và định lượng, đồng thời cần phổ biến và 3C. Các chiến dịch giáo dục truyền thông về cho thảo luận rộng rãi trong công chúng những TSGTKS để làm rõ rằng mất cân bằng giới bằng chứng này. Cụ thể, cần phải có những số tính khi sinh phản ánh bất bình đẳng giới liệu sau: đồng thời chỉ ra những hậu quả tiêu cực của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh 4A. Số liệu về dân số: Cần tiếp tục phân tích đối với xã hội. Các chiến dịch này có thể định kỳ về TSGTKS qua các số liệu dân số và Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: 11 Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  12. thống kê khai sinh để bổ sung bằng chứng 4C. Nghiên cứu về xu hướng y tế hóa và về TSGTKS và giám sát các xu hướng theo thương mại hóa việc sinh đẻ: thời gian. Cụ thể hơn, phải phân tích tỷ số này từ các cuộc Điều tra biến động dân số Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng việc sinh đẻ hàng năm, điều tra dân số giữa kỳ, và Tổng đang bị y tế hóa và thương mại hóa một Điều tra Dân số năm 2019. cách đáng kể ở Việt Nam. Trong bối cảnh đó, cần phải có thêm kiến thức về những 4B. Nghiên cứu về gia đình và thân tộc: Các vấn đề sau đây: yếu tố xã hội và văn hóa thúc đẩy sự ưa thích con trai ở Việt Nam đã được hiểu biết  Những người cung cấp dịch vụ nhìn khá đầy đủ. Tuy nhiên vẫn có nhu cầu thông nhận như thế nào về vai trò của họ trong tin về các loại hình gia đình khác nhau đang việc siêu âm và nạo thai được sử dụng tồn tại ở Việt Nam. Nghiên cứu định tính cho mục đích lựa chọn giới tính, và làm này cho thấy hệ tư tưởng văn hóa chủ đạo thế nào để người cung cấp dịch vụ có nhấn mạnh mô hình gia đình “truyền thống” thể tham gia tích cực hơn vào những nỗ đề cao nam giới nhưng trong thực tế cuộc lực để chống lại tình trạng sử dụng sai sống, các mô hình đề cao phụ nữ cũng công nghệ y học? Để trả lời những câu đóng vai trò quan trọng không kém. Các hỏi này, nghiên cứu hoạt động bao gồm nghiên cứu tiếp theo có thể tìm hiểu những tham vấn với những bên liên quan có câu hỏi sau đây: thể là phương pháp phù hợp,  Trải nghiệm về cuộc sống và điều kiện  “Tư vấn” (về thời điểm rụng trứng, ăn sống của những gia đình Việt Nam nơi uống, sinh lý và thuốc men) đóng mà cha mẹ già sống với con gái đã vai trò như thế nào trong những cố trưởng thành có những đặc trưng gì? gắng của các cặp vợ chồng để có Những bằng chứng xác đáng về vai trò được những đứa con mong muốn và quan trọng của con gái trong kinh tế liệu người cung cấp dịch vụ và khách gia đình và chăm sóc cha mẹ già có thể hàng của họ có biết rằng những giải giúp thay đổi nhận thức của mọi người pháp như vậy có rất ít hiệu quả hay về việc “không thể thiếu” con trai. không? Kết quả của nghiên cứu về những vấn đề này cần được phổ biến  Cách thức phân chia tài sản và nơi cư và thảo luận kỹ trong nhóm cán bộ trú cũng như vai trò của con trai và y tế cung cấp dịch vụ và quan chức con gái trong vấn đề này khác nhau ngành y tế, và sẽ được sử dụng để như thế nào ở các vùng khác nhau thiết kế tài liệu đào tạo cho các cán của Việt Nam? Những kiến thức sâu bộ y tế. hơn về động thái kinh tế-xã hội khiến một số vùng của Việt Nam “thân thiện” với con gái hơn các vùng khác, có thể giúp nâng cao nhận thức về các hình thức tổ chức thân tộc khác nhau ở Việt Nam, giúp mọi người nhận ra rằng gia đình “truyền thống” đề cao nam giới chỉ là một trong các mô hình thân tộc ở Việt Nam. Hiểu biết sâu hơn về tính “lưỡng hệ” của hệ thống thân tộc Việt Nam cũng có thể hữu ích trong việc xây dựng các hoạt động vận động chính sách và truyền thông về các vấn đề liên quan đến thân tộc như là họ (trong họ tên), thừa kế và nơi cư trú, từ đó đóng góp vào việc phát triển cách tổ chức thân tộc linh hoạt hơn. 12 Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  13. Chương 1 GIỚI THIỆU VỀ CUỘC NGHIÊN CỨU Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: 13 Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  14. 14 Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  15. Các dự báo nhân khẩu học cho thấy rằng nếu mất BỐI CẢNH cân bằng giới tính tiếp tục tăng sau năm 2010, sẽ làm gia tăng mạnh tỷ lệ nam giới trong dân cư. Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh đã Sau hai thập kỷ nữa, Việt Nam sẽ dư thừa ít nhất xảy ra ở một số nước trong khu vực châu Á-Thái là 10 phần trăm nam giới trưởng thành so với số Bình Dương bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc và phụ nữ cùng thế hệ. Nếu TSGTKS không nhanh Ấn Độ. Sự gia tăng bất thường của TSGTKS khi chóng trở lại mức bình thường của nó là 105 bé sinh cũng được quan sát thấy ở Việt Nam trong trai được sinh ra trên 100 bé gái, sự mất cân bằng những năm gần đây. Cho đến năm 2000, TSGTKS giữa số lượng các chú rể và cô dâu tương lai sẽ vẫn còn ở mức bình thường và được ước tính dẫn đến tình trạng mất ổn định trong thị trường vào khoảng 106,2 bé trai so với 100 bé gái được hôn nhân giống như những gì đang diễn ra ở sinh ra. Tuy nhiên, tỷ số này đã tăng lên 112,1 một số vùng của Trung Quốc và Ấn Độ hiện nay. vào năm 2008 và 110,6 theo kết quả của cuộc Tổng Điều tra Dân số và nhà ở năm 2009. Ở một Việc thiếu hụt nữ giới sẽ làm nảy sinh một loạt số địa phương, TSGTKS thậm chí đã tăng đến hậu quả xã hội như gia tăng áp lực buộc phụ 128. Khoảng cách quá lớn của chỉ số nhân khẩu nữ phải kết hôn sớm, tăng nhu cầu về mại dâm học này so với mức sinh học tự nhiên là 104-106 và gia tăng nạn buôn bán phụ nữ. Những bằng bé trai được sinh ra trên 100 bé gái, đã phản ánh chứng về bạo lực giới và buôn bán phụ nữ ở Việt sự can thiệp có chủ đích phá vỡ thế cân bằng Nam chỉ ra những nguy cơ đối với phụ nữ và các ổn định sinh học giữa số bé trai và bé giá được em gái nếu bạo lực giới gia tăng do số lượng nam sinh ra trong xã hội, và phản ánh sự phân biệt giới tăng lên (UNFPA 2010c). Thực hành lựa chọn đối xử có hệ thống đối với các bé gái từ trước giới tính có thể mang lại những tác động tiêu khi được sinh ra. Đây là bằng chứng cho thấy cực đối với sức khỏe tâm thần, sức khỏe sinh sản/ rằng sự ưa thích con trai đã dẫn các gia đình đến tình dục và quyền của phụ nữ (Belanger 2002a). việc lựa chọn giới tính của các con mình. Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: 15 Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  16. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có một loạt các yếu tố khác nhau tác động đến sự gia tăng của MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU TSGTKS. Chúng ta có thể phân biệt các yếu tố liên Mục đích của cuộc nghiên cứu là tìm hiểu các quan đến tâm lý ưa thích con trai (các yếu tố cầu), yếu tố xã hội, văn hóa và sức khỏe tác động đến khả năng tiếp cận và chi trả các dịch vụ công TSGTKS ở Việt Nam để giúp hiểu sâu sắc hơn về nghệ lựa chọn giới tính (các yếu tố cung), và tác các nguyên nhân của tâm lý ưa thích con trai động nhất định của sự giảm sinh, khiến các gia trong mối liên hệ với tình trạng mất cân bằng đình giảm số con nhưng buộc phải có con trai, giới tính khi sinh. Nghiên cứu sẽ cung cấp các đồng thời cả áp lực của thị trường và sự thương bằng chứng cho thảo luận về chính sách, xây mại hóa công nghệ phát hiện và lựa chọn giới dựng và điều chỉnh các can thiệp và chính sách tính (Guilmoto 2009). Mỗi yếu tố trên cần phải hiện hành về tâm lý ưa thích con trai và TSGTKS được phân tích một cách riêng rẽ. Tuy nhiên, mặc ở Việt Nam. Cụ thể, nghiên cứu này nhằm trả lời dù cả ba yếu tố nói trên độc lập với nhau nhưng những câu hỏi sau đây: khi phối hợp lại đã tạo ra một bối cảnh đặc thù dẫn đến gia tăng TSGTKS. Bối cảnh ở Việt Nam 1) Các yếu tố văn hóa và xã hội chủ yếu của hiện nay đang hội đủ cả ba yếu tố đó: tâm lý ưa tâm lý ưa thích con trai ở Việt Nam là gì? thích con trai từ lâu đời, mức sinh giảm và sự sẵn có của công nghệ lựa chọn giới tính hiện đại. 2) Những ai tham gia vào lựa chọn giới tính và quá trình lựa chọn giới tính đã diễn ra như Chính phủ Việt Nam đã có nhiều nỗ lực để thế nào? thúc đẩy bình đẳng giới và bảo vệ quyền con người thông qua những cam kết thực hiện các 3) Những công nghệ nào được sử dụng để sáng kiến quốc tế như công ước CEDAW và Kế lựa chọn giới tính và chúng được kiểm soát hoạch Hành động ICPD. Ở cấp độ quốc gia, ra sao? Việt Nam đã ban hành luật Bình đẳng Giới và đưa ra các quy định nghiêm cấm các hành vi 4) Các chính sách của nhà nước về cấm lựa xác định giới tính và nạo phá thai lựa chọn giới chọn giới tính đã được thực hiện như thế tính. Trong ba thập kỷ qua, với sự hỗ trợ của nào trong thực tế? Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) đã tích cực hỗ trợ chính phủ Việt Nam trong việc thu thập và phân tích các số liệu nhân khẩu học giúp cho xây dựng và thực hiện các chính sách dựa trên bằng chứng về dân số, sức khoẻ sinh sản và giới. Phân tích tổng quan các tài liệu về TSGTKS ở khu vực Đông và Nam Á với trọng tâm là Việt Nam đã xác định những khoảng trống trong kiến thức về chủ đề này ở Việt Nam và đưa ra một số gợi ý về việc triển khai các nghiên cứu phục vụ chính sách (UNFPA 2010a). Một nghiên cứu phân tích số liệu của Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009 đã cung cấp một bức tranh cập nhật nhất về các xu hướng của TSGTKS kể từ năm 1999 cho đến nay (UNFPA 2010b). Nghiên cứu định tính này nhằm bổ sung những kiến thức còn thiếu về các xu hướng của TSGTKS thông qua việc tìm hiểu về các yếu tố văn hóa, xã hội và thị trường đang tác động đến TSGTKS. 16 Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  17. Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: 17 Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  18. 18 Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  19. Số liệu của cuộc nghiên cứu này được thu thập nhà ở 2009, Hà Nội có tỷ số giới tính trẻ em dưới từ tháng 8 đến tháng 10 năm 2010. Kết quả sơ bộ 5 tuổi nằm trong khoảng 115-120; Hưng Yên nằm đã được trình bày và thảo luận tại hội thảo tham trong các điểm “nóng” với TSGTKS trong khoảng vấn do UNFPA và Tổng cục Dân số phối hợp tổ 120-125, Quảng Ngãi có TSGTKS trong khoảng chức ở Hòa Bình trong hai ngày 3 và 4 tháng 11 110-115, và ở Cần Thơ tỷ số này dao động ở mức năm 2010. Mục tiêu của hội thảo là chia sẻ những 105-110 (UNFPA 2010b) thông tin về chủ đề và xây dựng quan điểm chung về việc làm thế nào để giải quyết tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Các đại biểu đến dự bao gồm đại diện của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương Bảng 1 dưới đây trình bày về các nhóm đối tượng của ngành y tế, bộ văn hoá, du lịch và thể thao, của cuộc nghiên cứu. Tổng số 248 người thuộc các cơ quan nghiên cứu, các tổ chức xã hội dân 11 nhóm đối tượng khác nhau đã được phỏng sự và các cơ quan Liên Hợp Quốc. Các khuyến vấn hoặc tham gia thảo luận nhóm nghị trình bày trong báo cáo này được xây dựng Tất cả phụ nữ và nam giới ở cộng đồng trong trên cơ sở kết quả nghiên cứu và một số gợi ý mẫu nghiên cứu đều ở độ tuổi sinh đẻ với đứa được đưa ra trong cuộc hội thảo tham vấn. con sinh gần đây nhất từ năm 2006 đến 2009. ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU THU THẬP THÔNG TIN Dựa vào kết quả phân tích số liệu cuộc Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009, bốn địa phương VÀ SỐ LIỆU đã được lựa chọn: Hà Nội và Hưng Yên ở vùng Các kỹ thuật thu thập thông tin chủ yếu là phỏng Đồng bằng Sông Hồng, Quảng Ngãi ở vùng vấn sâu và thảo luận nhóm. Trước khi tiến hành Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung,và Cần nghiên cứu thực địa, một bảng hướng dẫn chi Thơ thuộc Đồng bằng sông Cửu Long. Bốn địa tiết các câu hỏi phỏng vấn và thảo luận nhóm đã phương này đều được xác định là có tình trạng được xây dựng. Thiết kế nghiên cứu và các công gia tăng TSGTKS, nhưng ở mức độ khác nhau. cụ nghiên cứu cũng như hướng dẫn quy trình Theo phân tích kết quả Tổng điều tra Dân số và nghiên cứu đều được thẩm định bởi Ban Đạo đức Nhóm đối tượng Số lượng Người cung cấp dịch vụ y tế (Lãnh đạo bệnh viện, bác sĩ sản/siêu âm và y tá 32 bệnh viện tỉnh và ở các cơ sở y tế tư nhân) Lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo ngành y tế và dân số tỉnh/thành phố 10 Khách hàng khám thai tại bệnh viện Tỉnh và phòng khám tư nhân 34 Lãnh đạo cộng đồng (xã/phường) 48 Nam giới và phụ nữ có con đầu lòng là con trai 24 Nam giới và phụ nữ có đầu lòng là con gái 24 Nam giới và phụ nữ có hai con gái trở lên, chưa có con trai 24 Nam giới và phụ nữ có hai con gái trở lên, một con trai út 23 Ông/bà nội chưa có cháu trai 16 Ông/Bà nội có một cháu trai út 12 Lãnh đạo Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình 1 Tổng số 248 Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: 19 Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  20. Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát triển Xã những người tham gia nghiên cứu đều có những hội. Trước khi tiến hành công tác thực địa, nhóm hiểu biết nhất định về chủ đề nghiên cứu là một nghiên cứu viên gồm sáu người đã được tập vấn đề có ý nghĩa chính trị và xã hội cấp thiết huấn trong hai ngày về mục đích, phương pháp đối với quốc gia. Do vậy, việc những người được nghiên cứu và toàn bộ các công cụ nghiên cứu. phỏng vấn cố gắng để tỏ ra là mình có nhận thức đúng đắn cũng có những ảnh hưởng nhất định Mỗi cuộc phỏng vấn sâu hoặc thảo luận nhóm đến cách họ trả lời về một số khía cạnh được cho đều bắt đầu bằng phần giới thiệu về cuộc nghiên là nhạy cảm, nhất là về các thực hành liên quan cứu và quy trình phỏng vấn. Các nghiên cứu viên đến lựa chọn giới tính. Việc những người được tự giới thiệu về mình và xin phép được phỏng phỏng vấn cố gắng trả lời “đúng” với đường lối vấn/thảo luận cũng như xin phép được ghi âm chính sách của nhà nước đã phần nào hạn chế họ cuộc phỏng vấn. Tất cả những người được lựa chia sẻ những kinh nghiệm mà họ cho là “không chọn đều đồng ý tham gia cuộc nghiên cứu và phù hợp” hoặc “không đúng”. Những nghiên cứu cho phép ghi âm cuộc phỏng vấn, chỉ có một trong tương lai cần có nhiều thời gian hơn để có người từ chối ghi âm. Trung bình một cuộc thể thực hiện phỏng vấn nhiều lần và tạo điều phỏng vấn kéo dài khoảng một giờ hai mươi kiện cho nghiên cứu viên gần gũi hơn với người phút. Các cuộc phỏng vấn với các nhà lãnh đạo, được phỏng vấn để giúp giảm bớt những câu trả cán bộ cung cấp dịch vụ và khách hàng tại các cơ lời “phù hợp” theo kiểu như vậy. sở y tế thường chỉ kéo dài 30 phút đến một giờ, do hạn chế về thời gian hoặc do điều kiện phỏng Điều kiện phỏng vấn cũng là một yếu tố có thể vấn không thuận lợi. ảnh hưởng đến chất lượng của cuộc phỏng vấn. Hầu hết các nhà lãnh đạo và các nhà cung cấp dịch vụ có ít thời gian giành cho phỏng vấn do XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH vậy họ không có đủ thời gian để chia sẻ kinh nghiệm công tác thực tiễn cũng như thể hiện SỐ LIỆU các quan điểm của họ về vấn đề nghiên cứu. Hơn nữa, các phỏng vấn với khách hàng tại các cơ Sau khi các băng ghi âm phỏng vấn được chuyển sở y tế được thực hiện trước hoặc sau khi khách thành văn bản, nhóm nghiên cứu đã đọc nhanh hàng sử dụng dịch vụ, vì vậy không thể kéo dài các phỏng vấn để phát hiện các chủ đề chính từ đó do hạn chế về thời gian. Khi các cuộc phỏng vấn xây dựng hệ thống mã hóa thông tin cho tất cả các thực hiện tại cơ sở y tế, đôi khi cũng khó đảm nhóm đối tượng. Tiếp theo, nhóm nghiên cứu phân bảo được tính riêng tư. Những nghiên cứu trong tích thông tin bằng NVIVO - phần mềm dùng cho xử tương lai cần phải có nhiều thời gian hơn cho lý số liệu định tính, và xây dựng đề cương báo cáo. quá trình thu thập số liệu và sử dụng các phương pháp cùng tham gia; như vậy có thể giúp nghiên cứu viên thu thập được nhiều thông tin sâu hơn, MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA nhất là từ cán bộ lãnh đạo. CUỘC NGHIÊN CỨU Trong khoảng hai năm trở lại đây, mất cân bằng giới tính khi sinh là một chủ đề khá được quan tâm bởi các nhà lập chính sách, các cơ quan truyền thông đại chúng và các tổ chức trong nước và quốc tế tại Việt Nam. Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa Gia đình và các cơ quan/tổ chức hữu quan đã ban hành các quy định nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính, tiến hành một dự án can thiệp ở 18 tỉnh/thành phố và tổ chức một số chiến dịch nâng cao nhận thức. Các phương tiện truyền thông đại chúng cũng tích cực tham gia vào công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân chúng về tầm quan trọng và hậu quả của vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh. Vì vậy hầu hết 20 Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  21. Chương 3 VÌ SAO CON TRAI ĐƯỢC KHAO KHÁT HƠN? Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: 21 Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  22. 22 Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  23. Tại sao ở Việt Nam con trai có xu hướng được dõi, vùng địa lý và địa vị chính trị-xã hội thế nào ưa thích hơn so với con gái? Để trả lời câu hỏi đi nữa, đều nhấn mạnh việc nối dõi tông đường này, phần trình bày các phát hiện chính của cuộc (xem Belanger 2002b, Gammeltoft 1999). Mọi nghiên cứu ở chương này sẽ được chia ra làm ba người cho rằng chỉ con trai mới có thể duy trì phần; phần đầu tiên tập trung vào các yếu tố văn dòng họ và nối dõi tông đường. Quan điểm này hóa, phần thứ hai bàn về các yếu tố kinh tế-xã hội, được phát hiện ở tất cả các địa bàn nghiên cứu và phần thứ ba nhấn mạnh đến các yếu tố chuẩn nhưng đặc biệt được nhấn mạnh hơn ở Hưng Yên mực hay nói cách khác là sự trông đợi và yêu cầu và nhẹ nhàng hơn ở Cần Thơ. Ví dụ, một người mà con người đặt ra cho nhau. Trong cuộc sống đàn ông, 33 tuổi ở Hưng Yên, cho rằng: “Cái cơ hàng ngày, ba nhóm vấn đề này có mối liên hệ bản nhất con trai sẽ làm ổn định phát triển dòng tương hỗ với nhau. Tuy nhiên, để tiện cho phân tộc để sản sinh ra con người, để giữ mãi dòng tộc, tích, báo cáo này sẽ trình bày riêng từng vấn đề. đấy là cốt yếu nhất”. Một người đàn ông khác, 36 tuổi ở Quảng Ngãi, có cùng chung ý kiến “Con trai là để nối dõi truyền tông thôi, người ta mong KHÍA CẠNH VĂN HÓA muốn con nó duy trì nòi giống mà họ ưng con họ lấy tên họ của cha. Ví dụ bây giờ không có con CỦA SỰ ƯA THÍCH trai là anh mất gốc rồi đấy”. Trong thảo luận nhóm CON TRAI ở Hưng Yên, một cán bộ lãnh đạo xã phát biểu: Nhà giàu hay nhà nghèo cũng muốn có con Ở mọi nơi trên thế giới, quan niệm và thực hành trai, thứ hai nữa là để lấy chỗ thờ phụng. Nếu về dòng tộc tạo nên cốt lõi của đời sống văn con rể không thờ thế là cụt đời. Người Việt Nam hóa. Tuy nhiên, các xã hội khác nhau có các cách mình [cho rằng] không có con trai là tuyệt tự, tổ chức dòng tộc rất khác nhau. Các nhà nhân kể cả giàu cũng muốn có người con trai. chủng học đã phân biệt chế độ phụ hệ, mẫu hệ và lưỡng hệ. Trong chế độ phụ hệ, dòng dõi chỉ Thuật ngữ “dòng dõi” hoặc “dòng giống” gia đình được truy theo đàn ông: phụ hệ là dòng các thế phản ánh vai trò chủ đạo của đàn ông trong chế hệ bắt nguồn từ ông tổ cho đến con cháu và độ thân tộc này. Thông qua “giống” mà “dòng dõi” dòng này chỉ được nối tiếp bởi các thế hệ con gia đình được tiếp nối từ tổ tiên đến con cháu đời trai. Trong chế độ phụ hệ, con cái sinh ra thuộc sau. Người con trai là sự kết nối các cá nhân của về bên dòng họ cha và mang họ cha. Nam giới thế hệ trước và thế hệ sau để tạo thành một cộng thường là người thừa kế tài sản của gia đình và đồng đông đúc của gia đình, dòng họ. Trong dòng họ. Trong chế độ mẫu hệ, dòng dõi được một nghiên cứu về tầm quan trọng của dòng họ, truy theo người mẹ và ở chế độ lưỡng hệ thì theo Phạm Văn Bích đã nhấn mạnh: cả cha và mẹ. Ở Việt Nam có nhiều chế độ dòng tộc khác nhau cùng tồn tại. Một số dân tộc thiểu Trong chế độ phụ hệ, người đàn ông không số như người Êđê và người Chăm theo chế độ phải là một người độc lập, một cá nhân theo mẫu hệ. Người Kinh là tộc người chiếm đến 86 đúng nghĩa của từ đó, mà là một thành viên phần trăm dân số Việt Nam, quan hệ thân tộc của một dòng tộc. Anh ta là hiện thân của thường được tổ chức theo chế độ phụ hệ và mô dòng tộc này. Sự tồn tại của anh ta chỉ là hình sinh sống bên nội nhưng cũng có một số một mắt xích trong một chuỗi chung. Anh ta nét của chế độ lưỡng hệ (Hy Văn Lương 1989, phải tưởng nhớ tổ tiên của mình, thực hành Phạm Văn Bích 1999, Nguyễn Tuấn Anh 2010). thờ cúng tổ tiên, và tiếp nối dòng tộc bằng Phần tiếp theo sẽ thảo luận tầm quan trọng của cách sinh được ít nhất một đứa con trai để con trai theo ý kiến của những người tham gia đảm bảo rằng có người sẽ đảm nhiệm các nghiên cứu này trên cơ sở của những quan điểm nghĩa vụ này của anh ta trong tương lai. Chỉ và thực hành chế độ dòng tộc như trên. có người con trai mới có thể đảm bảo sự tiếp nối của dòng tộc theo hai nghĩa; thứ nhất, Duy trì dòng giống chỉ anh ta mới có thể thờ cúng tổ tiên. Thứ hai, chỉ người con trai mới có thể đảm bảo Khi được hỏi lý do quan trọng nhất của việc phải sự tiếp nối của dòng dõi huyết thống được có con trai, hầu hết những người được phỏng quy định bởi chế độ phụ hệ phổ biến. Nếu vấn, cho dù họ có nghề nghiệp, học vấn, dòng người đàn ông chết đi mà không có con Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: 23 Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  24. trai, cả dòng tộc của anh ta, bao gồm cả tổ tiên và những con cháu chưa sinh ra, sẽ chết theo anh ta (Phạm Văn Bích 1999: 220). Để làm tròn đạo ‘‘hiếu’’ với cha mẹ, những người được hỏi đều cho rằng, người đàn ông phải có con trai để nối dõi tông đường. Trong nghiên cứu này, những người đàn ông không có con trai đã cảm thấy có lỗi vì đã không làm tròn nhiệm vụ đối với cha mẹ và tổ tiên vì không sinh được người tiếp nối dòng giống gia đình. Ví dụ, một người đàn ông, 28 tuổi ở Hưng Yên giải thích về mong muốn có con trai như sau “Lý do để đẻ con trai của tôi thì để đáp ứng nguyện vọng của ông bà nội. Tức là ông bà chỉ muốn có cháu trai thì tất nhiên mình cũng làm sao mà nếu đẻ được cháu trai cho ông bà thì ông bà vui”. Còn người đàn ông 36 tuổi ở Quảng Ngãi dưới đây thì tâm sự rằng mặc dù thỉnh thoảng anh nói là anh không muốn có con trai, nhưng trên thực tế anh luôn cảm thấy bị dằn vặt vì điều này: Nhiều khi mình cũng nghĩ nói không [muốn có con trai] thì cũng không thật lắm, em nói Ở Hà Nội, một bà nội 65 tuổi có 6 cháu gái và thiệt. Nhưng nhiều khi nghĩ tại vì sinh ra làm chưa có cháu trai nào, tâm sự rằng bà không dám con thì nếu mà nói theo hồi xưa là phong chia sẻ nỗi bất hạnh mà bà cảm thấy khi không kiến thì người ta nói là mình cũng chưa làm có cháu trai với bạn bè hay hàng xóm vì bà cảm tròn trách nhiệm của một người con trai. Ví thấy sợ hãi rằng điều này chỉ càng làm cho họ dụ hồi xưa làm dâu mà không làm tròn trách bàn tán thêm về bà và gia đình bà mà thôi: nhiệm là họ bỏ chứ mình nghĩ là nếu có thì ông bà nội vui hơn chút, thì mình cũng kiểu Nhà mình mà có một tí cháu trai thì cũng là như làm tròn với chữ hiếu vậy thôi. Cũng hơi vinh dự cho ông bà là có nếp có tẻ, có trai có nghĩ một chút, nói không nghĩ thì cũng vô lý gái. [Các con trai] sinh ra không đến nỗi mà (Nam, 36 tuổi, hai con gái, Quảng Ngãi). gia đình toàn gái Ví dụ tôi mà bảo chán là họ cũng thêm vào nữa đấy: Đúng rồi nhà Một số người già được phỏng vấn giải thích bà chán thế, hai đứa không biết đẻ, đẻ toàn rằng đối với văn hóa truyền thống Việt Nam, cháu gái, ông bà mất cháu đích tôn “đít việc không có cháu trai để nối dõi tông đường nhôm” rồi. Thì nói nôm thế. Nói về duy tâm bị coi là số phận không may mắn. Việc một gia giống ngày xưa thì kiểu gì cũng phải đẻ một đình có nhiều con trai được coi như biểu hiện đứa là có trai chứ không thì xã hội nó có diếc của phúc đức, còn việc không có con trai bị coi móc. (Hỏi: Diếc móc như thế nào?) Đời mày như sự trừng phạt do hành vi thất đức. Ngày nay, ăn ở như thế nào, ông bà nhà mày ăn ở thế những quan điểm này vẫn còn tồn tại, và có xu nào mà toàn gái mà không có người nối dõi hướng làm trầm trọng thêm nỗi đau của những tông đường. gia đình không có con trai. Trong một cuộc thảo luận nhóm ở Cần Thơ, một cán bộ cho rằng: Do tầm quan trọng của việc sinh được con trai để nối dõi tông đường như vậy, một số người được Ra ngoài xã hội người ta hay kích bác nhau, hỏi cho rằng thậm chí có một con trai “không đạt họ nói, ừ tại gia đình thất đức, không có chất lượng” vẫn còn có giá trị hơn con gái. Ví dụ, con nối dõi. Có một câu như vậy cũng làm một người phụ nữ 38 tuổi ở Hưng Yên, nhận xét ảnh hưởng đến tư tưởng Không có phúc. rằng: “Con trai có như thế nào chăng nữa vẫn là Ngày xưa ông bà làm ác như thế nào đó, giờ con trai, kể cả nó có phá phách hoặc có khi nó không có cháu nối dõi. giết cả bố cả mẹ, nó đánh mẹ nhưng nó vẫn là con trai, nó vẫn là hơn con gái.” 24 Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  25. Thờ cúng tổ tiên con người thiết lập được mối quan hệ xã hội cơ bản liên kết chúng ta thành một cộng đồng Vì con trai tiếp nối dòng dõi gia đình, con trai có người, thể hiện tình cảm gắn bó, sự tôn trọng trách nhiệm thờ cúng tổ tiên và trông nom bàn và sự quan tâm lẫn nhau. Ông cũng nhấn mạnh thờ của gia đình. Đối với hầu hết các gia đình rằng tính người của chúng ta có thể được xem người Kinh, bàn thờ được đặt ở trung tâm của như thể hiện ở mối ràng buộc xã hội với nhau. ngôi nhà. Được trang trí với ảnh chụp hay ảnh vẽ của những người quá cố, bàn thờ là nơi con Trách nhiệm thờ cúng tổ tiên còn đi liền với trách cháu thắp hương, dâng cúng hoa, quả cho tổ nhiệm đối với phần mộ của tổ tiên. Người đàn tiên, là nơi thể hiện lòng tôn kính, tình yêu, sự ông 32 tuổi ở Quảng Ngãi tham gia trong nghiên quan tâm và lòng biết ơn của những người đang cứu này là con trai duy nhất trong gia đình. Trong sống trong gia đình đối với cha mẹ và ông bà suốt thời gian chiến tranh, gia đình của anh đã đã khuất. Những người được thờ cúng trên bàn mất rất nhiều người con trai. Anh và cha mình là thờ thường là tổ tiên của người chồng trong gia những người đàn ông cuối cùng của dòng họ còn đình, trong khi tổ tiên của người vợ lại được thờ sống sót. Cha anh là người chăm sóc hơn 70 ngôi cúng bởi người anh/em trai tại bàn thờ của ‘dòng mộ của dòng họ trong suốt nhiều thập kỷ. Ông tộc’của người đó. Nếu gia đình có hơn một người thường thắp hương vào các ngày kỷ niệm và các con trai, người con trai trưởng chịu trách nhiệm dịp đặc biệt khác. Ông luôn luôn nhắc nhở con trai thờ cúng và chăm sóc phần linh hồn của những về nghĩa vụ chăm sóc các phần mộ đó và mong người thân đã qua đời: con trai trưởng có trách ước có một đứa cháu trai để tiếp tục thực hiện nhiệm chính chăm sóc linh hồn của cha mẹ, nghĩa vụ đối với tổ tiên. Hiện nay anh đã có hai ông bà và cụ kỵ. Điều này đặc biệt quan trọng: con gái và vẫn hy vọng là sẽ có con trai để đáp lại nếu không có sự chăm sóc, linh hồn của những mong mỏi của cha và sau này tiếp tục thờ cúng tổ người thân đã khuất sẽ sống một cuộc sống đau tiên và chăm sóc các phần mộ của gia đình. khổ và đói khát ở ‘thế giới bên kia’. Phạm Văn Bích (1999:224) nhận định rằng ‘thờ cúng tổ tiên là Nếu con trai được coi là rất quan trọng đối với các một cái gì đó phân biệt giữa con người và các vấn đề tâm linh, thì điều gì xảy ra đối với những gia loài động vật khác Thờ cúng tổ tiên là văn hóa, đình chỉ có con gái? Hầu hết những người được nó khiến chúng ta thành con người’. Tác giả này phỏng vấn đều khẳng định rằng trong trường nhận xét thêm rằng chính thờ cúng tổ tiên mà hợp gia đình không có con trai, người con gái có Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: 25 Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  26. thể thờ cúng tổ tiên để đảm bảo rằng phần linh thể tiếp nối dòng họ. Trong nhiều trường hợp, hồn của cha mẹ và ông bà không đói lạnh. Một người con gái có thể thờ cúng tổ tiên mình trong người bà không có cháu nội trai ở Quảng Ngãi nhà chồng, nhưng không thể đặt bàn thờ tổ tiên tâm sự: ‘‘Ông [nhà tôi] kêu mình nghĩ làm gì, con của mình chung một nơi với bàn thờ tổ tiên nhà gái nó cũng biết thương nó thờ, mà trai nó cũng chồng. Trong trường hợp hai vợ chồng ở riêng thì biết lo nó thờ. Nếu như không có cháu trai thì bàn thờ tổ tiên nhà vợ có thể được đặt cùng một cháu gái nó cũng thờ ’’ Những người được hỏi ở nơi. Nói cách khác, mặc dù người con gái có thể tất cả các địa bàn nghiên cứu cũng có chung ý thờ cúng cho những người thân trong gia đình kiến, tuy nhiên ở miền Nam có vẻ cởi mở hơn hẳn đã qua đời trong trường hợp gia đình không có về vấn đề này. Một số người thậm chí còn nhấn con trai, nhưng ‘nhánh’ đó của dòng tộc vẫn bị mạnh rằng khả năng con gái có thể thờ cúng tổ coi là chấm dứt. Theo ý kiến của một người đàn tiên là một phần truyền thống văn hóa có từ lâu ông 27 tuổi ở Hưng Yên: ‘‘Con trai thì nối dõi tông đời của Việt Nam. Ví dụ, một người phụ nữ ở Cần đường, sau này còn hương khói cho đám giỗ chứ Thơ đưa ra ý kiến : anh , còn con gái thì làm sao mà được?’’. Không có con trai, như một lãnh đạo xã ở Hưng Yên Về chuyện dâng hương, phong tục hồi đó là đã phát biểu ở trên ‘‘thế là cụt đời’’. Trong cuộc có trai có gái bưng hương lên, từ ngày xưa thảo luận nhóm với các cán bộ lãnh đạo ở một tới nay là vậy rồi. Bây giờ không có con trai phường ở Hà Nội, một phụ nữ 59 tuổi không có thì con gái cũng bưng lư hương cho cha mẹ anh em trai cho rằng: này kia, cũng đàng hoàng. Con gái cũng làm đám này kia, cũng tưng bừng chứ đâu Ông bà nội mà đẻ ra mỗi bố tôi, mà bố tôi phải là không. lại là trưởng họ, bây giờ lại giao cho chi dưới, riêng chi nhà tôi lại chả có ai, mấy Một số người tham gia nghiên cứu này chỉ ra rằng anh em toàn đẻ con gái cả Thế là tôi bây hiện nay ở Việt Nam, mô hình sinh sống đang giờ, thậm chí ở nhà chồng nhưng lại cúng thay đổi. Nhiều cặp vợ chồng trẻ có xu hướng giỗ bố mẹ rồi ông bà, cũng không xảy ra cái sống trong gia đình hạt nhân hơn là gia đình mở gì cả, vẫn vui vẻ. rộng. Điều này làm cho việc thờ cúng tổ tiên của cả hai bên gia đình trở nên dễ dàng hơn. Trong Tuy nhiên, mối quan hệ dòng họ cũng có những cuộc thảo luận nhóm ở Hà Nội, một nam cán bộ khía cạnh kinh tế và xã hội. Câu chuyện của phường cho rằng: “Bây giờ đa số là họ ở riêng người đàn ông 32 tuổi ở Quảng Ngãi, người mà chứ không ở chung với bố mẹ. Cho nên chuyện sẽ phải gánh trách nhiệm chăm sóc hơn 70 phần thờ cúng bây giờ rất là đơn giản thôi vì đã là nhà mộ gia đình, đã chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa riêng rồi mình đều thờ cúng bố mẹ chồng, bố chế độ phụ hệ và sự thừa kế tài sản: do người mẹ mình đều được hết, không sao’’. con trai tiếp nối dòng tộc và chịu trách nhiệm thờ cúng tổ tiên nên họ được thừa hưởng đất đai Một số đối tượng được phỏng vấn đưa ra ví dụ từ và tài sản của gia đình: ‘‘Khi có con trai, thứ nhất, cuộc sống của chính bản thân họ về việc con gái về tài sản của ba mẹ để lại dù lớn nhỏ gì không cũng có thể thờ cúng tổ tiên. Trong cuộc thảo luận biết nhưng nó là tài sản của ông già Nó nối giữ nhóm với cán bộ phường ở Hà Nội, một người đàn lại tài sản đó Thứ hai, tất cả mồ mả này nọ, cúng ông 67 tuổi giải thích cách mà ông và gia đình vợ lễ này nọ thì con trai lo. Hiện nay phong tục của hoàn thành nghĩa vụ thờ cúng tổ tiên mặc dù vợ mình thì đa số con trai lo cho việc đó. Hai việc này ông không có anh em trai nào: “ Gia đình bên vợ nó rất quan trọng.’’ Phạm Văn Bích (1999: 222) có tôi toàn con gái. Như bản thân tôi là chàng rể vẫn những quan sát tương tự: theo đứa con của chị lớn nhất, chị cả để mà cúng giỗ toàn bộ bố mẹ vợ, ông bà bên vợ, không vấn Việc thờ cúng tổ tiên được chịu trách nhiệm đề gì, tụi tôi làm bình thường, bác là gái cũng như bởi người đàn ông trong gia đình, thường là trai. Hàng năm tôi cũng theo, thoải mái.” người con trai trưởng. Trong gia đình truyền thống, anh ta phải lo tất cả các chi phí để Trong cuộc thảo luận nhóm này, những người tổ chức cúng giỗ. Điều này giải thích tại sao tham gia đã chỉ ra điểm khác biệt quan trọng anh ta lại được cha mẹ chia cho phần tài giữa việc con trai và con gái thờ cúng tổ tiên: sản lớn nhất, chủ yếu là đất đai mà thường mặc dù con gái có thể chăm sóc tốt phần linh được gọi là hương hỏa điền. hồn của những người thân đã qua đời, họ không 26 Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  27. Trong bối cảnh mà con trai được ưa thích hơn, lớp nghèo nhất trong xã hội. Một cán bộ dân số khía cạnh kinh tế - xã hội của việc thừa kế tài sản ở Hưng Yên quan sát thấy: ‘‘Có con trai là để người và nơi cư trú luôn đóng những vai trò thiết yếu. ta nương tựa lúc tuổi già sau này thực ra thì chế độ an sinh xã hội chưa đáp ứng được nhu cầu của số đông. Cho nên đây là một trong những tác NHỮNG KHÍA CẠNH động tâm lí buộc người ta phải sinh được con trai bởi vì họ chưa nhìn thấy các cơ sở nào khác nuôi KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA SỰ dưỡng người già.’’ ƯA THÍCH CON TRAI Trách nhiệm của người con trai và con dâu thể hiện không chỉ ở việc hỗ trợ kinh tế cho cha mẹ Theo thuật ngữ nhân chủng học, mô hình sinh khi họ mất sức lao động, mà còn ở việc chăm sống bên nội nói đến tập tục mà cặp vợ chồng sóc và trả các chi phí chăm sóc sức khỏe khi cha sau khi cưới phải sống bên gia đình chồng, còn mẹ già và ốm yếu. Vì con gái sau khi kết hôn phải trong mô hình sinh sống bên ngoại cặp vợ chồng sống bên gia đình nhà chồng nên những người sống với gia đình nhà vợ. Một số dân tộc thiểu được phỏng vấn nói rằng con gái là ‘con của số ở Việt Nam vẫn áp dụng mô hình sinh sống người ta’ hoặc là ‘vịt trời’ tất yếu sẽ bay đi khỏi bên ngoại, trong khi người Kinh chủ yếu theo mô nhà cha mẹ. Một người đàn ông 28 tuổi ở Hưng hình sinh sống bên nội. Nói một cách khác, người Yên đã tổng kết vấn đề trong những lời sau đây: con gái sau khi lấy chồng phải sống bên gia đình ‘Con gái là của con người ta, đẻ ra khi đủ lông chồng, trường hợp người chồng sống với gia đủ cánh là nó bay, không ai chăm sóc [cha mẹ] đình người vợ cũng được ghi nhận tuy không sau này’. Tương tự, một người cha 33 tuổi của phổ biến. Theo ý kiến của những người tham gia hai đứa con gái ở Cần Thơ nhận định rằng: ‘‘Gia nghiên cứu, các mô hình sinh sống này đóng vai đình chỉ có con gái sau này lớn tuổi rồi thì gái nó trò quan trọng trong bối cảnh người Việt Nam không lo được. Ví dụ ẵm bồng rồi nó lo không khao khát có con trai. Cụ thể là, do mô hình sinh nổi, chỉ cơm nước thôi. Còn có trai thì nó lo việc sống bên nội, hầu hết cha mẹ trông đợi rằng khi nào cũng được.’’ họ về già và phụ thuộc vào sự giúp đỡ và chăm sóc của người khác, chính con trai và con dâu là Tuy nhiên, nếu như con trai rất quan trọng trong những người chăm sóc họ. việc chăm sóc cha mẹ khi về già, điều gì xảy ra đối với những gia đình không có con trai? Trong Hỗ trợ khi về già: nguồn bảo trợ xã hội là từ quá trình phỏng vấn, nhóm nghiên cứu hỏi con trai và con gái những người tham gia điều gì xảy ra đối với các cặp vợ chồng già không có con trai. Nhiều người Theo kết quả của cuộc Tổng Điều tra Dân số năm có thể hình dung ra rằng câu hỏi này sẽ gợi ra 1999, ở Việt Nam, hơn ba phần tư (77%) người ở nhiều câu chuyện về những cặp vợ chồng già độ tuổi 60 trở lên sống chung với con cháu. Tỷ lệ đau khổ sống trong sự cô đơn và nghèo túng. hộ gia đình chỉ có một người già vào năm 1999 Tuy nhiên, thực tế không phải như vậy. Ngược là 1,8% nhưng đã tăng lên 2,6% vào năm 2009, lại, những người được phỏng vấn ở tất cả các chiếm 10,7% những người từ 65 tuổi trở lên ở địa bàn lại kể các câu chuyện của những người Việt Nam. Phổ biến hơn cả là trường hợp các cha già được con gái chăm sóc và có cuộc sống tốt mẹ già sống với con trai: tỷ lệ những người già đẹp. Họ quan sát thấy rằng những người không sống với con trai cao hơn khoảng 50% so với tỷ có con trai hiếm khi trở nên cơ cực và cô đơn khi lệ sống với con gái (Barbieri 2009). Trong nghiên về già; ngược lại, họ được con gái chăm sóc rất cứu định tính này, những người được hỏi ở tất tốt. Trong một cuộc nghiên cứu dựa trên cơ sở cả các địa bàn nghiên cứu đều nhấn mạnh rằng phân tích các số liệu của cuộc Tổng Điều tra Dân con trai là vô cùng quan trọng đối với cha mẹ vì là số năm 1999, Magali Barbieri (2009: 148) đưa ra chỗ dựa cho cha mẹ khi về già. Trong một xã hội kết luận tương tự: ‘phát hiện thú vị nhất, trong với nguồn an sinh cho người già chủ yếu đến từ bối cảnh văn hóa Việt Nam, đó là tỷ lệ cha mẹ gia đình, nhiều người tham gia nghiên cứu trông sống chung với con gái thậm chí khi con trai đợi khi về già có thể ‘dựa’ vào con cái. Tục ngữ Việt còn sống, rất có ý nghĩa. Khoảng 20 phần trăm Nam có câu: ‘‘Trẻ cậy cha, già cậy con’’. Do đó, nếu những người trên 60 tuổi sống trong hoàn không có con trai, tương lai của cha mẹ khi về già cảnh này.’ có thể rất bấp bênh, nhất là khi họ thuộc tầng Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: 27 Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  28. Trong nghiên cứu này, nhiều người được hỏi nhấn nó thăm như thăm bệnh người dưng vậy đó. mạnh rằng con gái không chỉ có thể sống cùng và Nó thăm xong nó đi về. Hoặc là tối vợ chồng chăm sóc cha mẹ già, mà họ thực hiện các nghĩa vụ con cái nó lại thăm, chút xíu rồi nó đi về. Còn này thậm chí còn tốt hơn cả con trai. Một người phụ con gái nó ở túc trực 24/24 nuôi mẹ. nữ 40 tuổi ở Hưng Yên, mẹ của hai con gái, nói rằng: Ở tất cả các địa bàn nghiên cứu, đối tượng được Có trường hợp con gái mà hơn con trai phỏng vấn đều khẳng định con gái có trách nhiều, chẳng hạn bạn chị là con gái phụng nhiệm, tận tình và chăm chỉ hơn con trai. Khi còn sự mẹ, chăm sóc lo cho mẹ hết tất cả về kinh bé, họ giúp đỡ cha mẹ nhiều hơn và khi trưởng tế, xây dựng cơ sở vật chất trong gia đình, thành họ vẫn tận tụy và yêu thương cha mẹ mình nói chung là tất cả lo cho mẹ cuộc sống thậm chí khi họ không sống cùng với gia đình bố hạnh phúc mà sướng. mẹ mình. Một người bà ở Hưng Yên tâm sự rằng: Ở Cần Thơ, một người mẹ 29 tuổi của hai con gái Nghĩ nhà làm ruộng thì cháu trai có khi sai tâm sự rằng: nó quét nhà còn lâu, có cháu gái thì sau này lại được một cháu đi cấy với bà. Chị có một đứa em gái, một thằng em trai. Nói chung hai chị em gái chỉ là con gái thôi mà Những đối tượng được phỏng vấn nhận định rằng làm ăn này kia, mua đất làm nhà, chứ giờ em khi đã trưởng thành, sự chăm chỉ của con gái khiến trai là út nó đi chơi bê tha có ở nhà đâu. Mà họ có khả năng bằng hoặc hơn con trai trong việc mẹ chị thì chỉ nhờ được hai chị em chị đó thôi. kiếm tiền và giúp đỡ gia đình. Ngược lại, con trai đôi khi có thể không đáng tin cậy: nhiều người nhấn Một người đàn ông 32 tuổi ở Hưng Yên có hai mạnh tới sự gia tăng của các hiện tượng tiêu cực con gái cũng kể lại câu chuyện tương tự về tình được coi là ‘tệ nạn xã hội’ (như cờ bạc, nghiện ma túy trạng này trong làng của anh: và mại dâm) trong xã hội Việt Nam những năm gần đây, và cho rằng con trai dễ sa ngã vào các tệ nạn Như làng em con gái lập cơ, lập nghiệp đầy, xã hội đó hơn con gái. Trong một cuộc thảo luận mà cũng có con trai không nuôi được bố mẹ, nhóm ở Hà Nội, một nữ cán bộ lãnh đạo phường đã nhưng con gái người ta nuôi được bố mẹ rất kể câu chuyện có thật từ nơi bà sinh sống: nhiều. Ở làng em em nhìn thấy sáu, bảy điển hình là con gái nuôi được bố mẹ, giàu có. Kể Tôi biết hai trường hợp tức là họ cũng ở gần cả nhà em cũng thế, bác ruột em cũng toàn nhau, một trường hợp chỉ có con gái không con gái, nhưng các chị không có một người thôi, rất chăm sóc bố mẹ đầy đủ. Nhưng một nào ở nhà làm ruộng, đều đi công nhân viên trường hợp bên cạnh toàn là con trai nhưng chức hết, toàn bộ. Nhà của bác bây giờ cho lại nghiện hết. Cuối cùng như vậy bao nhiêu chị út kế tự thì anh rể ở đấy. của nả của bố mẹ lại cuốn đi hết, người ta bảo là đấy, con trai mà để làm gì. Người ta chỉ Những người tham gia nghiên cứu cho rằng con cần con gái thôi người ta không cần con trai. gái thường có mối quan hệ tình cảm gần gũi với cha mẹ hơn. Hơn nữa, do cẩn thận và chu đáo Những người được hỏi không có con trai hoặc hơn, họ thường chăm sóc cha mẹ già tốt hơn con cháu nội trai thường tự an ủi với suy nghĩ rằng với trai, đặc biệt khi cha mẹ đau ốm. Một khách hàng những vấn đề có thể xảy ra trong việc nuôi dậy khám thai tại Quảng Ngãi kể câu chuyện về thời con trai thì có con gái nhiều khi lại có lợi ở một gian bà ngoại của chị bị ốm: số mặt. Một người đàn ông 42 tuổi ở Cần Thơ có hai con gái tự an ủi rằng: “Mình nghĩ có con trai Bà ngoại em có con trai nhưng toàn là con mình cũng sợ sau này nó lớn lên xì ke ma tuý linh gái lo hết, về già bị bệnh hoạn thì con gái tinh, mình thôi, con gái cho nó chắc ăn”. Ở Quảng đều tới lo, chứ con dâu không có lo. Ngãi, một người ông không có cháu nội trai nhấn mạnh việc đóng góp của con gái cho gia đình: Tương tự, một cán bộ ở Cần Thơ kể với nghiên cứu viên về những lúc ông bị bệnh: Thằng con trai nó ra nếu có phước còn không thôi, chứ nuôi nó 25 tuổi mà nó nằm Tôi có năm đứa con. Ba thằng con trai, hai chiếc chiếu nó không giặt cô à. Chứ con gái đứa con gái. Nhưng hễ tôi bệnh nặng toàn là 11 tuổi biết bế em rồi, 12 - 13 tuổi học con gái tôi không à, con trai nó lủi. Con trai một buổi là biết nấu cơm, biết cắt lúa. 28 Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  29. Ở Hưng Yên, một người đàn ông 32 tuổi có hai được hỏi nhận thấy mô hình ở rể là một giải đứa con gái nói rằng không nhất thiết phải có pháp tốt, những người khác lại tỏ ra hoài nghi con trai vì có con trai cũng có nghĩa là có thêm về việc cặp vợ chồng có thể sống với gia đình nhiều lo lắng: nhà vợ. Sự hoài nghi này đặc biệt rõ rệt ở Hưng Yên. Những người tham gia nghiên cứu ở địa Em nói với ông bà ngoại nhà em là trong bàn này cho rằng trước đây chỉ người đàn ông thâm tâm con không cần con trai. Em cũng nào nghèo mới chấp nhận ở rể. Đối với người nói luôn với ông bà ngoại là con trai nó có đàn ông, việc sinh sống bên nhà vợ bị coi là mất nhiều khoản phải nghĩ: thứ nhất phải lo nhà thể diện, bởi sống bên gia đình nhà vợ có nghĩa cửa cho nó, phải lo cuộc sống cho nó, rồi là anh ta không có quyền lực gì mà buộc phải tính toán cho nó, phải rèn luyện nó, nhiều theo những lề thói của nhà vợ. Một số người khi mình rèn mãi rồi nó cũng trốn đi lẻn lút còn nói rằng sống với gia đình nhà vợ chẳng đi chỗ nọ, chỗ kia. Em nói thật với chị, trong khác gì như ‘chó chui gầm chạn’. Một người đàn thâm tâm em, không bao giờ em nghĩ là ông 35 tuổi ở Hưng Yên cho rằng: mình phải sinh một đứa con trai. Cái đấy (ở rể) thì tôi nghĩ là chắc là khó bởi Tóm lại, sự chia sẻ của mọi người về giá trị của con vì là về tâm lý ngay như người con trai ở nhà gái đã phản ánh các khuôn mẫu giới truyền thống: vợ người ta cũng không thích, tất nhiên bây không giống như anh, em trai của mình, con gái giờ thay đổi nhiều nhưng có một số người thường được trông đợi là phải chăm làm, dễ bảo, ta cũng không muốn nhờ vợ hoặc là nhiều khéo léo trong công việc nội trợ. Đồng thời, trong khi chưa nói đến bố mẹ vì bố mẹ nhiều khi là gia đình con gái cũng thường bị thiệt thòi hơn: còn liên quan đụng chạm đến thông gia này mặc dù con gái thường được mô tả chu đáo và kia. Có thể là người ta sẽ vẫn ở riêng nhưng đáng tin cậy hơn con trai, mô hình sinh sống bên mà con gái có thể là bằng hình thức khác nội đã hạn chế khả năng con gái chăm sóc cha cung cấp tài chính để nuôi dưỡng bố mẹ, mẹ. Theo ý kiến của những người được phỏng cũng có thể là nuôi dưỡng chứ không gì cứ vấn, vì phải sống với gia đình nhà chồng nên trách phải ở cùng mới là nuôi dưỡng. nhiệm chính của người phụ nữ là chăm sóc cha mẹ chồng, chứ không phải là cha mẹ đẻ của mình. Một số đối tượng được phỏng vấn nhận xét rằng Do đó, trách nhiệm chăm sóc cho cha mẹ đẻ sẽ ngày nay không dễ để khuyến khích mô hình ở mang lại gánh nặng kép lên vai người phụ nữ. Một rể bởi vì các cặp vợ chồng chỉ có hai con - và nếu người phụ nữ 27 tuổi ở Hưng Yên chia sẻ rằng: họ chỉ có một đứa con trai, người con trai này tất nhiên phải sống với cha mẹ mình và không được Ở làng nhà em cũng có mấy trường hợp là các sống với cha mẹ vợ. Do đó, một số người khẳng bà là đều sinh con gái, thế nhưng mà các chị định rằng mô hình ở rể chỉ áp dụng được đối với cũng ngoài phục vụ nhà chồng các chị vẫn cặp vợ chồng có hơn một con trai. phục vụ cả mẹ mình nữa, vì bố thì chết rồi còn mẹ thôi, thì các chị vẫn phục vụ chu đáo đầy Tóm lại, mặc dù những người tham gia nghiên đủ chứ không phải là khổ sở gì, vẫn tốt chứ cứu đánh giá cao con gái, họ vẫn khẳng định không sao. (Hỏi: Mọi người xung quanh bàn rằng trong một số trường hợp con trai vẫn là chỗ luận gì về chuyện đó?) Không, đều khen cả, kể dựa ‘chắc chắn’ cho cha mẹ khi về già. Do phong cả con rể thì cũng chấp nhận như thế vì là chắc tục của việc cư trú bên nhà chồng, người phụ nữ chắn khi lấy con gái người ta thì là các chàng được trông đợi phải ‘theo’ chồng và phải đặt công rể cũng phải xác định cái ý thức như vậy rồi. việc chăm sóc gia đình chồng lên hàng đầu. Do đó, không ai có thể chắc chắn được rằng người Có một số trường hợp cha mẹ già sống với con con gái sẽ có thể dễ dàng hỗ trợ về mặt tài chính gái và con rể. Trong các địa bàn nghiên cứu ở và chăm sóc cha mẹ đẻ khi về già. Mặc dù một phía Nam, mọi người thường đánh giá cao và người con gái có thể chăm sóc cha mẹ đẻ hàng chấp nhận mô hình chung sống này. Ví dụ, một ngày, nhưng người con trai lại có trách nhiệm người đàn ông 33 tuổi có hai con gái ở Cần Thơ chính đối với cha mẹ khi họ già. Trách nhiệm này, kể rằng: “Ở xóm cũng có nhiều gia đình có gái theo ý kiến của những người được phỏng vấn, không, không có trai, cũng có đứa con gái có gia khiến việc con trai được thừa kế phần lớn tài sản đình cũng ở lại với cha mẹ chứ đâu có bỏ bẵng. của cha mẹ trở nên hợp lý hơn. Không có con trai thì có con gái, rể ở đó cũng thay thế con trai ruột”. Trong khi một số người Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: 29 Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  30. Thừa kế đàn ông 41 tuổi ở Quảng Ngãi trong đoạn trích dưới đây có hai con gái và một con trai. Anh nói Chế độ phụ hệ thường đi liền với sự thừa kế theo sẽ đầu tư công bằng cho tất cả các con được học kiểu phụ hệ, có nghĩa là không chỉ tên họ và trách hành theo ý muốn của chúng và chia đều tài sản nhiệm đối với tổ tiên mà đất đai và tài sản cũng cho các con, không phân biệt trai gái: được truyền từ cha sang người con trai. Trước đây, ở một số địa phương, những cặp vợ chồng không Khoảng mấy năm trước anh có dự định hết rồi có con trai có xu hướng tìm người thừa tự ở một chứ. Chuyện trước mắt là lo cho các cháu ăn nhánh khác của dòng họ. Thường người con trai học đến nơi đến chốn Rồi xong rồi dự định của anh/em chồng sẽ trở thành người thừa tự, sau này là cháu nó cũng phải lập gia đình thừa hưởng tài sản của cặp vợ chồng, bao gồm cả hoặc là ấy thì anh vẫn, anh sắp đặt hết rồi chớ. đất đai, và có trách nhiệm cúng giỗ họ khi họ qua Cái chuyện ví dụ là hiện giờ anh có 3 lô đất. 3 đời. Mục đích chủ yếu là để linh hồn của họ được lô đất đấy là anh xác định là mỗi đứa mỗi lô. chăm sóc và tài sản không lọt vào tay dòng họ khác. Một phụ nữ già mà gia đình không có con Người đàn ông này có hai người con gái lớn và trai đã kể với nghiên cứu viên về câu chuyện buồn một người con trai kém 10 tuổi so với người con mà bản thân bà phải trải qua trong việc phân chia gái thứ hai. Anh kể với nghiên cứu viên rằng anh tài sản gia đình: tất cả tài sản của cha mẹ bà phải không dự định có con trai: anh có ba anh em trai để lại cho người em trai họ, trong khi bản thân bà mà ai cũng có con trai, vì thế anh không phải chịu và các chị em gái không nhận được bất cứ thứ gì. áp lực từ phía gia đình phải sinh con trai. Hơn nữa, Bà cảm thấy điều này là bất công, nhưng không vợ của anh là con duy nhất trong gia đình, và anh có quyền lực để thay đổi tình thế. nhận thấy cô đã hoàn thành rất tốt trách nhiệm đối với cha mẹ mình. Do đó, anh rất hạnh phúc khi Tuy nhiên, theo ý kiến của các đối tượng được có hai đứa con gái và có dự định chia hết tài sản phỏng vấn, hiện nay phong tục thừa tự này hiếm cho các con. Con gái thứ hai mà vợ chồng anh có khi xảy ra. Nếu cặp vợ chồng không có con trai, ý định sẽ sống khi về già sẽ được thừa hưởng ngôi họ có xu hướng chia tài sản của mình cho một nhà. Sau khi người con trai út ra đời, anh quyết trong số con gái của mình. Trong số những người định chia tài sản đồng đều cho cả ba đứa con. trong mẫu nghiên cứu không có con trai, chỉ có một người nói rằng bà có dự định tìm người thừa Xu hướng chia đều tài sản cho cả con trai và con tự trong dòng tộc; những người khác đều nói là gái rõ rệt hơn trong các gia đình ở phía Nam có họ sẽ chia tài sản cho con gái. Trong số những thể được giải thích bởi thực tế là ở phía Nam, hệ người có cả con trai và con gái, phần lớn có ý thống thân tộc có các đặc điểm ‘song phương’ định chia tài sản cho cả con trai và con gái, nhưng mạnh hơn, và do đó tài sản được chia đều cho hai không đồng đều. Bởi vì họ nghĩ là sẽ sống với con (Đỗ Thái Đồng 1991). Ở Hà Nội và Hưng Yên, con trai khi về già và con trai sẽ thờ cúng tổ tiên, phần lớn những người tham gia nghiên cứu có vẻ nên hầu hết người được hỏi dự định chia cho con vẫn giữ quan niệm cha mẹ phải sống với con trai, trai phần tài sản nhiều hơn con gái. Một cán bộ trong khi ở Cần Thơ và Quảng Ngãi, mọi người cởi phường ở Hà Nội đã giải thích rằng: mở hơn đối với việc cha mẹ có thể sống với bất cứ người con nào. Đỗ Thái Đồng (1991: 79) cũng Anh con trai phải ở với bố mẹ, trông nom có những quan sát tương tự, nhận xét rằng ở phía bố mẹ hay thường xuyên hàng ngày, còn Bắc, người con trai trưởng là người có quyền thừa phải thờ cúng ông bà tổ tiên thì thống nhất kế, trong khi ở phía Nam, ‘Cha mẹ già sống với chung trong gia đình là anh ấy [được nhiều] người con út và anh/cô ấy là người sẽ chịu trách hơn một tí. Chứ không phải đây là do phân nhiệm thờ cúng cha mẹ sau khi họ qua đời’. Một biệt là nam phải hơn, nữ phải ít. Cũng có gia người đàn ông 36 tuổi ở Cần Thơ là người cha của đình đều. Thí dụ như gia đình nhà em, con hai đứa con gái và một đứa con trai, chia sẻ: trai cũng như con gái, chia đều hết. Nói chung em rất là công bằng, con mình thì Trong một số trường hợp, các đối tượng trả lời đứa nào cũng là con. Em sẽ chia đều nhau phỏng vấn cho rằng họ không phân biệt giữa nhưng mà nếu như trong của cải của em làm con trai và con gái về mặt thừa kế tài sản. Xu ra có sự giúp đỡ hỗ trợ của đứa con nào đó hướng này thường được quan sát thấy ở các địa nó chung sức vào thì có thể nó được nhỉnh bàn phía Nam hơn là phía Bắc. Ví dụ, một người hơn.(Hỏi: Theo em thì đứa nào sẽ chung sức 30 Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  31. với em nhiều hơn?) Hiện giờ con em còn nhỏ Khái niệm thành đạt trong xã hội Việt Nam thời nhưng theo em thì cảm giác thấy là đứa con kỳ trước Đổi mới chủ yếu gắn liền với vị trí cao gái ở giữa sẽ chung sức với em nhiều hơn. trong hệ thống nhà nước. Ngày nay thành đạt còn bao gồm cả khía cạnh kinh tế, những người Cỡ mẫu của cuộc nghiên cứu này chưa đủ lớn để làm ăn kinh tế giỏi, dù là tư nhân, cũng được coi đưa ra các phân tích có tính hệ thống về mối liên là người thành đạt. Tuy nhiên, khái niệm thành đạt quan giữa tình trạng kinh tế-xã hội và sự khao khát của cá nhân không tách rời các yếu tố gia đình. con trai. Tuy nhiên, nhiều đối tượng được phỏng Nếu gia đình bị coi là không trọn vẹn, một cá nhân vấn đã chỉ ra rằng quan niệm chỉ có con trai mới trong gia đình đó không thể được coi là thành đạt có thể thừa kế tài sản của gia đình đã khiến cho trong cuộc sống. Bởi vì đứa con trai là tài sản quan những người khá giả càng mong muốn có con trọng nhất của gia đình, việc có con trai dường trai hơn. Con trai không chỉ nối dõi tông đường, như trở thành trọng tâm của khái niệm thành đạt. con trai còn phải tiếp tục sự nghiệp gia đình. Chủ Một người đàn ông 32 tuổi ở Quảng Ngãi đưa ra trương của Nhà nước khuyến khích phát triển khu nhận xét: ‘‘Mình để ý thấy những ông làm ăn kinh vực kinh tế tư nhân những năm gần đây đã kích tế lớn, hoặc những ông cán bộ lớn thì người ta thích sự ra đời và phát triển mạnh của các doanh cũng mong một đứa con trai để kế cận cái đó, nó nghiệp gia đình, nhất là ở khu vực đô thị. Các đối tiếp tục thì thành công hơn chứ’’. Tương tự, một tượng được phỏng vấn cho rằng, sự khá giả gia người đàn ông 36 tuổi ở Hưng Yên cũng cho rằng: tăng càng làm cho các gia đình khao khát con trai: ‘‘Ở thành phố thì những người làm làm quan chức chẳng hạn thì người ta có của có cải, giàu thì người Phần lớn các gia đình khá giả, đều có doanh ta mới phải có con trai để nối dõi tông đường”. nghiệp tư nhân ở ngoài, người ta càng muốn có con trai hơn, để gọi là sau này bàn Tóm lại, nhiều đối tượng được phỏng vấn nhấn giao lại tài sản. Có con gái thì có đưa cho nó, mạnh rằng với sự phát triển kinh tế, việc có con nó cũng đưa nhà chồng nó hết (cười). Muốn trai dường như trở nên ngày càng quan trọng. có con trai để nó thừa kế gia sản nhà mình. Nhiều người tin rằng chỉ có con trai mới có thể (Thảo luận nhóm cán bộ phường, Cần Thơ) đảm bảo sự tiếp nối dòng tộc và duy trì sự nghiệp Theo tôi khi người ta đầy đủ người ta lại rất gia đình. Mặc dù một số người biểu lộ sự cam kết cần [con trai] vì người ta cần người kế thừa sẽ để con gái thừa hưởng tài sản, mô hình thừa kế tài sản, chứ chia cho con rể người ta rất tiếc, phụ hệ dường như vẫn còn rất mạnh. Tầm quan nói thật là như thế. (Thảo luận nhóm cán bộ trọng của các yếu tố văn hóa và kinh tế - xã hội xã, Hưng Yên) gắn với người con trai được củng cố mạnh mẽ bởi các chuẩn mực xã hội: trong các cộng đồng Mối liên quan giữa mức sống và sự ưa thích con được nghiên cứu, có con trai là tiền đề để được trai mà những người tham gia nghiên cứu nhất nhìn nhận như là một cá nhân có giá trị trong quán với những phân tích mới nhất của Tổng điều mắt của những người khác. tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009. Trong khi hai nhóm nghèo nhất và nghèo có TSGTKS ở mức tự nhiên (105-107) thì ba nhóm có mức sống NHỮNG ĐIỀU NGƯỜI TA trung bình, khá giả và giàu có TSGTKS cao hơn nhiều, xấp xỉ mức 112 (UNFPA 2010b). Cuộc Tổng NÓI: ÁP LỰC CỦA GIA điều tra cũng tìm thấy TSGTKS cao ở lần sinh con thứ ba trong các gia đình có mức sống từ trung ĐÌNH VÀ CHUẨN MỰC bình trở lên. Một số cán bộ trong cuộc nghiên cứu này có những quan sát tương tự. Ví dụ, một CỦA CỘNG ĐỒNG phó Giám đốc Sở Y tế đã quan sát thấy rằng một Trong quá trình thu thập số liệu, nhóm nghiên số cán bộ đảng viên cũng chấp nhận từ bỏ địa cứu đã đến nhiều địa bàn, gặp gỡ và nói chuyện vị chính trị để thực hiện mong muốn có con trai: với nhiều đối tượng ở cả nông thôn lẫn đô thị. nhiều người sẵn sàng từ bỏ quyền lợi chính Cho dù sống ở thành phố, thị trấn hay làng quê trị, chấp nhận để sinh một đứa con trai. Tức nông thôn, tất cả các đối tượng tham gia nghiên là, nếu như đẻ con thứ ba, thì xóa tên đảng cứu đều tỏ ra rất lo lắng về ‘‘những điều người ta viên nhiều người họ cũng sẵn sàng chấp nói’’. Những suy nghĩ của họ cho thấy rằng việc nhận từ bỏ cái đấy (Nữ, Phó Giám đốc sở Y tế). sinh con đẻ cái không còn là vấn đề ‘‘cá nhân’’ Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: 31 Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  32. của phụ nữ, nam giới hoặc cả hai vợ chồng, mà nữa khả năng được con trai, thì họ sẽ bớt đi trở thành mối quan tâm chung của cả hai bên việc đó. Chính cái việc cấm đấy, chúng ta chỉ gia đình và cộng đồng. Sống trong cộng đồng có hai con nó cũng tạo điều kiện cho mất gắn kết chặt chẽ với nhau, nhiều đối tượng được cân bằng giới tính. Nhưng mà nếu chúng hỏi tỏ ra rất quan tâm tới những điều mà mọi ta không cấm thì cái tỷ lệ dân số tăng rất là người xung quanh có thể bàn tán về họ. Hầu nhanh. Nhưng cái cấm của mình tạo ra mất hết trong số họ phấn đấu hết mình để xây dựng cân bằng giới tính nhưng mà nếu chúng ta một hình ảnh tích cực cho bản thân trong con không cấm thì vấn đề dân số không kiểm mắt của những người khác. Để có được sự tôn soát được. Nó giống con dao hai lưỡi. trọng và thừa nhận của những người khác, việc sinh những đứa con theo mong muốn trở nên Tương tự, một nữ lãnh đạo xã ở Hưng Yên nhìn vô cùng quan trọng. Phần lớn đối tượng được nhận việc thực hành lựa chọn giới tính như là phỏng vấn cho rằng họ mong muốn không có một hệ lụy không mong đợi của chính sách hai hơn hai đứa con - và do đó hy vọng đặt vào hai con. Chị kể lại câu chuyện dưới đây về người đứa con này dường như càng gia tăng. hàng xóm của mình: Chuẩn mực về gia đình hiện đại: “sinh đẻ có Chủ trương đẻ hai con của nhà nước là tuyệt kế hoạch” vời nhưng hạn chế đẻ ít thì họ phải tìm, phải chọn, có nhiều người đi nạo thai bảy lần. Bà Hiện nay, theo ý kiến của nhiều đối tượng được ấy ở cạnh nhà tôi [nạo thai] chục lần, gần phỏng vấn, cấu trúc lý tưởng của gia đình hạt chết. [Bà ấy] bảo cao tuổi vẫn phải hoạt động, nhân bao gồm bố, mẹ, một con trai và một con vẫn nạo thai, nếu không chồng đánh, nó bóp gái. Khao khát ‘có nếp, có tẻ’ tồn tại rất lâu ở Việt cổ. Chạy sang [nhà tôi] kêu “Chị ơi, cứu em”. Nam, nhưng ngày nay mô hình lý tưởng này càng Già 52 tuổi rồi mà vẫn bị bóp cổ phải đẻ. khó đạt được hơn. Trước đây, mọi người muốn có ‘ít nhất’ một con trai và ‘ít nhất’ một con gái. Tuy nhiên, phần lớn những người tham gia Ngày nay, họ muốn chính xác một con trai và nghiên cứu không coi chuẩn mực của chính sách chính xác một con gái. Một số đối tượng được hai con như là yêu cầu mà Nhà nước áp đặt lên phỏng vấn định nghĩa mong muốn có chính xác họ. Thay vào đó, họ coi đó là lý tưởng của riêng một đứa con trai và một đứa con gái như là sự họ: để nuôi dạy con cái tốt, họ cho rằng, mỗi tuân thủ một cách nghiêm ngặt chính sách kế người chỉ nên có không quá hai đứa con. Một hoạch hóa gia đình của Nhà nước khuyến khích người đàn ông 34 tuổi ở Hà Nội, cha của hai đứa mỗi cặp vợ chồng không có hơn hai con. Ở Hưng con gái, cho rằng: Yên, một người đàn ông 37 tuổi, cha của hai đứa con gái và một đứa con trai nói: Thực ra là về quan niệm của cá nhân thì cũng chỉ sinh hai con thôi chứ không muốn là sinh Bây giờ nhà nước chỉ cho đẻ một đến hai nhiều, sinh nhiều thì không chăm được, còn con mà trào lưu bây giờ những gia đình mà phải để các cháu có điều kiện ăn học. Điều sinh nhiều con gái khi chửa đã đi siêu âm, kiện chăm sóc bây giờ là vất lắm, mình cảm nếu là con trai thì để, mà con gái thì bỏ. Trào thấy chăm con nhỏ bây giờ vất hơn nhiều lưu chung bây giờ theo như tôi nhìn thấy rất Thực ra cũng như quan niệm của bao nhiêu nhiều như thế. người thôi mình muốn gia đình có nếp có tẻ. Một số cán bộ chỉ ra mối tương quan trực tiếp giữa Chương trình kế hoạch hóa gia đình đã được thực chính sách kế hoạch hóa gia đình của Nhà nước và hiện ở Việt Nam trong hơn ba thập kỷ và chuẩn việc thực hành lựa chọn giới tính trong những năm mực gia đình nhỏ đã và đang được nhiều người gần đây. Ví dụ, một cán bộ nam ở Cần Thơ cho rằng: nhập tâm. Như một cán bộ ở Cần Thơ nhận xét, “Phần lớn người dân ở đây đang dần dần chấp Người ta có hai con gái hoặc một con gái nhận quy mô gia đình ít con. Việc tuyên truyền thì người ta phải tìm cách sinh đứa con trai, nhân dân chấp nhận gia đình ít con gần như khô- mà khi siêu âm người ta thấy con gái nữa ng có nhiều khó khăn vì khi ít con thì sẽ tạo được người ta sẽ bỏ đứa con gái đó. Còn nếu như điều kiện nuôi con tốt”. Việc các chuẩn mực kế anh cho người ta sinh thoải mái, thì họ sinh hoạch hóa gia đình được mọi người chấp nhận đã hai đứa con gái rồi, họ sẽ có thai lần thứ ba khiến chúng trở nên thuyết phục hơn là nếu bị ‘áp 32 Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  33. đặt’ bởi Nhà nước. Các chuẩn mực này, cùng với gái nữa thì chồng mình nó buồn, nó kêu ôi sự sẵn có của các công nghệ khoa học mới phục đứa đầu con gái, đứa sau cũng con gái, ông vụ sinh sản - chủ yếu là siêu âm và nạo phá thai - buồn, ông cằn nhằn. Vậy mình sinh được là những nguyên nhân chính ẩn đằng sau sự gia đứa con trai sau này cũng được mà con gái tăng TSGTKS ở Việt Nam hiện nay. Mọi người tiếp càng tốt vì đứa trai, đứa gái rất là tốt. thu chuẩn mực gia đình nhỏ, và họ tiếp thu các phương pháp ‘khoa học’ mới để quy hoạch gia Cách thức mà mọi người áp dụng để đạt được cơ đình. Hai việc này phối hợp với nhau đã tạo nên cấu gia đình mà họ mong ước sẽ được thảo luận một bối cảnh mà trong đó số bé trai được sinh ra chi tiết hơn ở chương sau. Trong đó, chúng tôi sẽ nhiều hơn số bé gái. Cụ thể, một người đàn ông xem xét các áp lực sinh con mà gia đình và cộng 33 tuổi ở Hà Nội, nhận định rằng: “Nếu mà cứ như đồng gây ra cho người phụ nữ và nam giới. tình trạng bây giờ mà mọi người chỉ muốn đẻ hai con thôi thì chắc chắn sau này hiếm con gái thật.” Phải sinh được con trai: áp lực từ phía gia đình Tuy nhiên, khi chuẩn mực quy mô gia đình nhỏ Trong nghiên cứu này, cả nam giới và phụ nữ được chấp nhận rộng rãi trong dân cư, cơ cấu đều cho biết rằng họ cảm thấy áp lực từ phía các giới lý tưởng của gia đình như được mô tả bởi thành viên gia đình trong việc phải có con trai. những người tham gia nghiên cứu lại không Tuy nhiên, những áp lực này thể hiện ở nhiều hình giống với ‘gia đình kiểu mẫu’ được tuyên truyền thức và mức độ khác nhau, thường đặt nặng hơn bởi Nhà nước. Trong khi các chiến dịch kế hoạch lên vai người phụ nữ. Sau khi lấy chồng, người hóa gia đình không có sự ‘thiên lệch về giới’ và phụ nữ thường chuyển sang sống ở gia đình nhà cố gắng bỏ qua các khác biệt văn hóa giữa con chồng. Điều này đặt người phụ nữ vào vị trí dễ bị gái và con trai thì những người được phỏng vấn tổn thương trong gia đình nhà chồng: Là thành ở tất cả các địa bàn nghiên cứu nhấn mạnh rằng viên mới, họ phải chứng tỏ giá trị của bản thân giới tính của đứa con rất quan trọng. Đối với hầu bằng cách cư xử đúng đắn và làm việc chăm chỉ hết các cặp vợ chồng, điều đặc biệt quan trọng - và sinh người thừa kế để duy trì nòi giống cho là có ít nhất một đứa con trai. ‘Gia đình kiểu mẫu’ gia đình nhà chồng. Do đó, sinh được một đứa mà họ mô tả phải bao gồm một đứa con trai và con trai sẽ đảm bảo được vị trí của người phụ nữ một đứa con gái; lý tưởng nhất là sinh đứa con trong gia đình mới. Nhận thức được điều này, cha trai đầu lòng. Người Việt Nam đã từng có quan mẹ đẻ thường cảm thấy hạnh phúc và bớt căng niệm rằng ‘ruộng sâu trâu nái không bằng con thẳng nếu con gái họ sinh được con trai. Họ biết gái đầu lòng’. Tuy nhiên, ngày nay, nhiều cặp vợ rằng điều này sẽ giúp con gái họ được bảo vệ và chồng mong muốn sinh được đứa con trai đầu được thừa nhận trong gia đình nhà chồng. Một tiên, sau đó đến con gái. Theo ý kiến của những người đàn ông 67 tuổi ở Quảng Ngãi đã chia sẻ người được hỏi ở tất cả các địa bàn nghiên cứu, cảm nhận của ông về việc con gái của ông có thể sinh được con trai đầu lòng sẽ ‘làm tư tưởng thoải bị gây áp lực bởi gia đình nhà chồng về việc sinh mái’. Khi đã có con trai đầu lòng mọi người trong con trai và niềm hân hoan mà ông sẽ cảm nhận gia đình sẽ không bị căng thẳng. Áp lực và sự được nếu con gái mình sinh được con trai: không chắc chắn sẽ bao vây cuộc sống của họ Con gái mình làm dâu người ta đẻ ra cháu nếu đứa con đầu là gái. Giống như nhiều người trai cho họ thì mình mừng lắm chứ. Họ khỏi tham gia nghiên cứu, một phụ nữ khám thai 32 hắt hủi con mình Con gái mình có chồng tuổi ở Quảng Ngãi cho rằng cô cảm thấy ‘an toàn mà nó sinh con gái không thì thứ nhất là hơn’ khi sinh con trai đầu lòng: cha mẹ chồng hắt hủi nó, xui gia không có Em nghĩ đứa đầu là con trai, đứa sau là con được đoàn kết, vậy là họ phải đi kiếm chỗ gái thì tốt nhất. Vì đứa đầu nó là con trai thì khác thằng con trai mình mình nói được. nó vững vàng hơn. (Hỏi: Vững vàng ở chỗ Chứ bây giờ thằng con rể mình mà nó ưng nào?) Ví dụ sau này mình sinh một đứa trai con gái mình, đẻ chừng ba đứa con gái là nó nữa cũng được, mà sau mình sinh đứa gái xoè xỡ nó hắt hủi, nói không có được, mình nó càng tốt thì không sao hết. Như vậy ví dụ động viên không có được. mình sinh đứa đầu nó là con gái thì sau này Người phụ nữ 65 tuổi ở Hưng Yên rất vui mừng mình sinh đứa thứ hai mình sợ, mình mang khi cả hai đứa con gái của bà đều sinh được con bầu mình sợ, mình siêu âm về nhỡ mà con trai. Như vậy, bà có thể yên tâm rằng các con gái Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: 33 Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  34. mình sẽ có địa vị tốt trong gia đình nhà chồng. Đẻ con trai cho bằng chị bằng anh. Anh có Bà cảm thấy tự hào đã sinh ra những cô con gái con giai, chị cũng có con giai thì mình cũng ‘biết đẻ’: có cho bằng, không thì kém. Cho bạn bè nó khỏi bảo là chỉ biết đẻ con gái thôi không Con gái tôi thì tôi cũng mong muốn làm sao biết đẻ con giai. (Nữ, 24 tuổi, hai con gái, nó đi lấy chồng được đứa con trai để nối dõi Hưng Yên) tông đường nhà người ta. Riêng tôi thì cháu Ở nông thôn nó nặng, cho nên nhà có, nhà gái cũng được nhưng nhà người ta lại cần không, anh em trong họ hàng nhà tôi có trai, đến cháu trai. Mong muốn con gái mình đẻ có gái hết, mình không có thì tự nhiên tâm lý cháu trai để người ta đỡ hắt hủi. Thật lòng của mình lúc nào cũng nghĩ thua chị, kém mà nói, tôi cũng rất tự hào vì hai đứa con gái em. (Nữ, 40 tuổi, bốn con gái, Hưng Yên) nhà mình lại đẻ hai thằng con trai đầu lòng, đúng là cũng rất tự hào. Một số phụ nữ trong mẫu nghiên cứu tâm sự rằng bản thân họ mong muốn có con trai bởi họ Tương tự, người cha 72 tuổi ở Hưng Yên dưới đây biết được tầm quan trọng của đứa con trai đối hi vọng đứa con đầu lòng mà con gái ông đang với chồng và bố mẹ chồng. Ví dụ, một người phụ mang thai sẽ là con trai. Ông nói rằng nếu sinh nữ 35 tuổi ở Quảng Ngãi, kể với nghiên cứu viên con gái, điều đó có thể gây tổn hại không những rằng cô quyết định sinh thêm đứa con thứ ba là cho con gái ông mà còn cho cả gia đình ông, bởi con trai bởi vì cô cảm thấy thương mẹ chồng khi vì từ trước đến nay, tất cả con cái của ông chỉ sinh chưa có cháu trai: được con gái. Do đó, gia đình có thể bị đàm tiếu là ‘gia đình không sinh được con trai’: Chỉ tại do bà mẹ chồng cũng muốn có cháu trai mà thằng em trai út lại sinh ba đứa con Nếu mà sinh con trai đầu lòng thì đảm bảo gái nên chị mới quyết định sinh nữa. (Hỏi: là chồng nó quý như cục vàng, nó quý đưa đi Nhưng bà nội có động viên chị sinh thêm về đón nhưng là con gái thì không khéo lại con trai không?) Không, vì sinh hay không là bị cái nốt là nhà mày chỉ toàn con gái làm gì do mình chứ. Tại vì chị thấy nó ít quá với lại ra con trai. Con gái [tôi] hiện nay cũng đang cũng thấy tội bà nội nên đẻ thêm. có cái tư tưởng ấy. Nó sợ về nhà người ta mà lại đẻ con gái nữa mà bị chỉ trích thì khổ. Thế Một người phụ nữ 24 tuổi ở Hưng Yên, là mẹ của cho nên là cái đấy là cũng lo, đang lo đấy hai đứa con gái, chia sẻ rằng cô thương chồng nhưng mà nó chưa thể hiện ra thôi. Tôi cũng khi anh cảm thấy thua kém so với bạn bè vì chưa biết tâm lý nó là đang lo đấy. sinh được con trai: Những người tham gia nghiên cứu ở tất cả các địa Nếu không đẻ được con trai thì có áp lực cho bàn đều cho rằng giá trị của người phụ nữ phụ cả phụ nữ cả nam giới nhưng phụ nữ vất vả thuộc vào đứa con mà chị sinh ra, và giới tính của hơn. Vì nghĩ đi ra ngoài người ta có con trai, đứa con là chỉ báo của sự thành công. Ở Hưng chồng mình đi ra ngoài thì rón rén.Lúc đi chơi Yên, sự phụ thuộc của người phụ nữ vào con trai thì bạn bè cười, nhà bạn có con trai mình để đạt được sự chấp nhận trong gia đình phụ hệ không có con trai thì chả dám nói gì cả. dường như rõ rệt nhất. Một cán bộ ở Hưng Yên đã chia sẻ với nghiên cứu viên rằng: ‘‘Nếu như Tóm lại, trong một số trường hợp, người phụ sinh hai con gái thì ông chồng bảo không hề biết nữ nói rằng họ nỗ lực để sinh được con trai vì đẻ gì cả, người ta biết đẻ một trai một gái, hoặc cảm thấy yêu, thương và có trách nhiệm với người ta biết đẻ hai trai, đây chỉ cầy cục có một chồng và gia đình chồng. Họ muốn đáp lại con trai mà cũng không được’’. Trong nhiều gia những mong đợi hướng của những người đó đình nhiều thế hệ, nhất là ở Hưng Yên, tồn tại môi để trở thành người vợ và người con dâu tốt. trường ganh đua nơi mà những người phụ nữ Tuy nhiên, trong một số trường hợp, hoàn cảnh trong gia đình - luôn ý thức được rằng họ đang bị trong gia đình nhà chồng căng thẳng và chứa những người khác đánh giá và bị xét đoán về khả đựng nhiều mâu thuẫn hơn. Có một số phụ nữ năng ‘‘biết đẻ’’ của mình - thường cạnh tranh với cho biết cảm giác luôn bị đe dọa: nếu không những người phụ nữ khác. Trong đó, mỗi người có con trai, họ có nguy cơ mất chồng vào tay cố gắng đạt được vị trí cao hơn những người phụ người phụ nữ khác. nữ khác thông qua khả năng biết đẻ của mình: 34 Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  35. Mặc dù đa thê đã bị coi là bất hợp pháp ở Việt Trong một số trường hợp, ông bà nội thường gây Nam kể từ năm 1959, nhưng trong thực tế, áp lực lớn tới các cặp vợ chồng trẻ khiến họ phải tình trạng nam giới lấy vợ hai nếu vợ hợp pháp cố sinh tiếp để có con trai. Điều này thường xảy không sinh được con trai vẫn xảy ra ở một số địa ra đối với những gia đình mở rộng không có con phương. Một số phụ nữ được phỏng vấn trong trai vì cả dòng tộc có nguy cơ bị chấm dứt. Ví dụ, cuộc nghiên cứu này - đặc biệt là ở Hưng Yên - tỏ một người đàn ông 36 tuổi ở Cần Thơ, nói rằng: ra lo lắng là nếu họ không sinh được con trai, thì ‘‘Gia đình em bên nội của em chỉ có mình em là chồng họ có thể lấy người phụ nữ khác. Bị chồng con trai duy nhất của cả dòng họ thành ra bà cứ ly dị hoặc ruồng bỏ không chỉ là vấn đề đạo đức nhồi nhét là em phải có một đứa cháu trai để cho đối với phụ nữ, mà còn gây ra rất nhiều rủi ro về bên nội em có cái gì đó’’. Tương tự, một người mặt tài chính. Một người phụ nữ 29 tuổi ở Cần đàn ông 41 tuổi ở Quảng Ngãi tâm sự với nghiên Thơ là mẹ có hai đứa con gái và đã nạo phá thai cứu viên rằng: nhiều lần đang nỗ lực sinh được một đứa con trai. Cô chia sẻ rằng: Nhiều gia đình, thí dụ như ông nội sinh ra một người con trai, [đến lượt] người đó sinh Nói chung cũng tội nghiệp cho phụ nữ, mình ra một đứa con trai nhưng mà cái đứa con là phụ nữ mình cũng sợ bên chồng này kia trai đó mới có ba đứa con gái thì áp lực rất rồi chồng mình bỏ mình. Mình thương lớn đối với kể cả một dòng họ, áp lực với chồng mà mình cứ thấy thai gái bỏ hoài như dòng họ chứ không phải riêng gia đình đó. vậy thì sau này phụ nữ sẽ sức khỏe này kia. Người con trai bây giờ nó đang chịu áp lực Nói chung là phụ nữ giờ khổ hơn đàn ông. đối với cả một dòng họ. Một người phụ nữ khác 38 tuổi ở Hưng Yên có Áp lực trực tiếp từ ông bà nội thường rõ rệt hơn hai con gái và một con trai tâm sự rằng chính sự trong kết quả nghiên cứu ở Hưng Yên. Một người ra đời của đứa con trai mới đảm bảo được hạnh phụ nữ 38 tuổi ở đây là mẹ của hai đứa con gái và phúc của gia đình. Có đứa con trai, chị không một con trai tâm sự với các nghiên cứu viên rằng còn phải lo sợ rằng tài sản của gia đình sẽ bị chia trước khi sinh con trai, chị luôn bị mẹ chồng chê sẻ với người phụ nữ khác: ‘‘Cái thứ nhất là hạnh trách vì không sinh được con trai. Mặc dù điều kiện phúc gia đình, cuộc sống của mình và của con nhà ở rất tồi, mẹ chồng chị không cho phép vợ mình. Chồng mình thứ nhất là đi làm ăn hoặc là chồng chị xây nhà mới với lý do họ chỉ có con gái: này khác thì kinh tế gia đình thu vén về một mối thôi. Cái thứ hai là lo cho con mình yên tâm đến [Lúc] bà nội còn sống, bà nội cứ nói Khi nơi đến chốn’’. Một người phụ nữ 33 tuổi ở Hưng sinh cháu thứ hai xong em muốn làm nhà Yên có hai đứa con gái kể với nghiên cứu viên bà không cho làm. Bà bảo toàn con gái xây rằng không có con trai khiến cho cô ấy cảm thấy nhà làm gì. Bà không cho xây bởi vì ở đất lo lắng khi cô ấy chứng kiến một số trường hợp của bà mà. người đàn ông lấy vợ khác vì người vợ đầu không sinh được con trai: Một cặp vợ chồng khác ở Hưng Yên cũng phải chịu áp lực tương tự. Người chồng là con trai Ở làng nhà em cũng thế, trước cứ nói đấy trưởng nhưng chỉ có mỗi một con gái. Cha mẹ người ta có bốn đứa con gái mà người ta anh luôn nhắc nhở rằng nếu họ không sinh được cũng không gì, nhưng mà thực tế ra khi đi con trai, họ có thể không được sống trong ngôi làm ăn thì người ta lại có vợ ở nơi khác và khi nhà lớn của gia đình, mà phải tự xây nhà riêng mà con trai lớn người ta lại mang về. Cho nên sống. Thay vào đó, ngôi nhà của gia đình có thể cái này càng gây đến ở với người đàn ông được chuyển sang cho người em chồng có con người ta cứ muốn con trai, chúng em thực trai. Một người phụ nữ 27 tuổi ở Hưng Yên có một sự là đúng ra người ta nói đùa câu “không đứa con gái kể rằng khi chị mang thai, siêu âm lần đẻ đi được con trai rồi nó đi lấy vợ hai” cái đầu tiên cho kết quả là con trai nên bố mẹ chồng đấy cũng đúng, nhiều người cũng như thế rất vui mừng. Tuy nhiên, đến khi biết rằng đó sẽ là rồi. Cho nên nếu lần này chúng em đẻ được một bé gái thì họ thay đổi thái độ và ít quan tâm con trai thì chúng em đẻ ngay thật. Nhưng đến chị hơn. Khi bé gái ra đời họ gần như bỏ mặc vì sợ biết có đẻ được con trai hay không, cho mẹ con chị và thường xuyên nhắc nhở về việc nên cũng lo. phải có con trai, thậm chí còn đe dọa là sẽ cưới vợ khác cho con trai: Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: 35 Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến
  36. Từ ngày em đẻ con gái là lạnh nhạt. Trước bảo đảm ở nhà chồng, nam giới dường như lại là đấy là bố mẹ em chăm cho em ăn này, ngủ đối tượng chính của những áp lực từ cộng đồng. nghiếc các thứ này. Khi mà em đẻ con gái thì Theo quan niệm chung, để được coi là thành bố mẹ em lạnh nhạt hơn. Không quan tâm đạt trong cuộc sống và là người đàn ông ‘thực nhiều. Rồi lúc nào cũng nói chuyện là ông ý sự’, một người đàn ông phải có ít nhất một đứa ông nọ có con, cháu trai rồi, tôi thì vẫn chưa con trai (Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội 2007). có, “bây giờ tôi gần 60 tuổi rồi mà vẫn chưa Do đó, việc không có con trai khiến cho người có thằng cháu đích tôn”. Nói nhiều lắm chị ạ. đàn ông dễ bị chế nhạo và bị bàn tán. Một cán Mới cả, “Không đẻ được thì tôi cưới vợ khác bộ ở Cần Thơ nói rằng: ‘‘Tình trạng chung, những cho con tôi”. người nam giới mà không có con trai, thường những lúc uống nước hoặc bàn nhậu hay ngồi Ở Hưng Yên, một số đối tượng được phỏng vấn nói chuyện, có nhiều kích động. Kích động nói cho rằng áp lực từ cha mẹ chồng hoặc chồng đôi là không có con trai thì sau này, nói như ban nãy khi còn dẫn đến mâu thuẫn và bạo lực trong gia nói là thấp, tức là sợ vợ nhiều hơn. Người đàn ông đình, nhất là khi người vợ không muốn tiếp tục bị coi là dưới màu người đàn bà’’. Một người đàn sinh con. Người phụ nữ thường bị đổ lỗi là không ông 22 tuổi ở Hưng Yên cũng khẳng định điều “biết” đẻ và bị đe dọa ly hôn: này: ‘‘Có con trai đi ra ngoài cũng đỡ, nếu có con gái người ta hay trêu. Ví dụ như mày sinh con gái, Trong trường hợp gia đình muốn đẻ con trai mày không biết sinh.’’ mà người vợ không muốn thì gia đình nhà chồng xui, nhiếp móc người chồng để người Ở cả miền Bắc và miền Nam, các đối tượng được chồng về đánh vợ bắt phải đẻ được thì thôi. phỏng vấn đều cho rằng việc những người khác Nếu toàn con gái thì người chồng sẽ đánh châm chọc và đùa cợt thường gây ra áp lực nặng nhau với người vợ, đòi ly hôn, nếu không li nề lên người nam giới. Ở Đồng bằng sông Hồng, hôn thì tao đi lấy vợ hai. (Thảo luận nhóm câu thành ngữ ‘bố vợ phải đấm’ vẫn hay được cán bộ xã, Hưng Yên) dùng để chế giễu những người chỉ có con gái, có nghĩa là những người đàn ông chỉ có con gái [không có con trai] thì trong gia đình xảy ra không được người khác, thậm chí cả con rể, tôn nhiều chuyện, chuyện bé xé ra to, vợ chồng trọng. Những người được phỏng vấn cũng nói xảy ra mâu thuẫn đánh nhau chửi nhau, rằng trong các dịp cỗ bàn của dòng họ những cũng nhiều trường hợp xảy ra. Ngay chị lớn người chỉ có con gái thường bị trêu đùa là phải nhà em, cũng vì chuyện đẻ con trai con gái ngồi mâm dưới cùng với các thành viên có cấp mà vợ chồng cãi nhau đánh nhau, thậm chí bậc thấp hơn trong gia đình như phụ nữ và trẻ gần bỏ nhau vì anh ý nhất quyết đòi đẻ con em. Thậm chí nếu điều này không diễn ra trên trai. Chồng ép đẻ vì gia đình nhà anh ý thì có thực tế thì tại nơi làm việc hay trong các cuộc mỗi anh ý là con trai là trưởng mà bây giờ lấy nhậu, người nam giới không có con trai thường vợ lại được bốn cô con gái thì đâm ra cũng bị trêu chọc rằng họ chỉ được ngồi ở mâm dưới. khó. (Nam 27 tuổi, hai con gái, Hưng Yên) Theo những người được phỏng vấn, sự xúc phạm công khai này thực sự gây tổn thương và Áp lực từ phía cộng đồng tạo thành áp lực nặng khiến những người đàn ông đó phải làm mọi cách để có con trai. Một cán Nghiên cứu này phát hiện ra rằng áp lực phải có bộ ở Hưng Yên kể với nghiên cứu viên về áp lực con trai không chỉ đến từ gia đình mà còn đến của cộng đồng lên những người đàn ông ở địa từ cộng đồng. Một số người được hỏi mô tả áp phương mình như sau: lực cộng đồng – thường ở dưới dạng châm chọc hay những nhận xét làm giảm giá trị - cũng gây Người đàn ông chưa có con trai thường tổn thương sâu sắc chẳng kém áp lực từ phía gia hay bị tác động nhất là những buổi ăn cỗ. đình. Bởi vì áp lực cộng đồng được thể hiện ở Thường thường thì tôi thấy người ta bảo thôi nơi công cộng, những người phải chịu áp lực này mời anh xuống mâm dưới bởi vì anh sinh thường cảm thấy bị xúc phạm và mất mặt trước con gái, ngồi xuống mâm dưới. Đấy là cái người khác, trong khi áp lực gia đình thường ở thứ nhất, cái thứ hai nữa là ngồi tập trung dưới dạng kín đáo và ‘riêng tư’ hơn. Trong khi phụ với nhau thì bảo “Ôi giời nói chuyện với anh nữ thường dễ bị tổn thương từ những áp lực từ chán lắm, anh có biết gì đâu ngày sau toàn phía gia đình do địa vị xã hội của họ không được là bố vợ ấy mà”. Khi mà người ta trêu đùa như 36 Sự ưa thích con trai ở Việt Nam: Ước muốn thâm căn, Công nghệ tiên tiến