Phương Đông lướt ngoài cửa sổ (Phần 2)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Phương Đông lướt ngoài cửa sổ (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
phuong_dong_luot_ngoai_cua_so_phan_2.pdf
Nội dung text: Phương Đông lướt ngoài cửa sổ (Phần 2)
- Chương 16. Tàu thư vận Howrah Tôi thấy anh ta ở nhà ga Trung tâm Madras, gần tàu thư vận Howrah và với cái dáng đứng lưỡng lự, dường như anh ta đang lấy can đảm để lên tàu. Trong cái nóng, mái tóc dài của anh ta rủ xuống như mớ giẻ, quần áo của anh ta đã bị giặt đi giặt lại quá nhiều lần trở nên bạc phếch. Cái va li bằng vải bạt, cũng giống như quần áo của anh ta, mép khâu đã sờn. Có lẽ anh ta là người Anh, khoảng ngoài ba mươi tuổi; mà tôi đoán là với những người như thế này, thì việc du ngoạn trở thành một thông lệ mệt mỏi; việc du ngoạn có thể trở thành một thói nghiện ngập và thay đổi thể chất con người ta, giống như ma túy, khiến người ta trở nên gầy còm xác xơ. Một người ăn mày cúi gập ho hắng bên cạnh anh ta. Chàng trai trẻ không để tâm đến bàn tay đang chìa ra, tiếp tục chăm chú nhìn đoàn tàu. Tôi tránh xa anh ta. Chuyến đi đến Calcutta còn rất dài, không cần phải làm quen quá sớm. Tôi để ý thấy khi nhấc chiếc túi để lên tàu, anh ta đưa một đồng xu cho người ăn mày. Anh ta làm vậy dù không nhìn người ăn xin đang ho, với một sự tuân thủ đầy ngượng ngùng, giống như thể anh đang phải trả một khoản tiền qua cửa nho nhỏ. Bác tài xế taxi giúp đỡ tôi nhiệt tình. Bác xách hộ cái túi, tìm bộ chăn gối cho tôi, xác định giường nằm cho tôi và bố trí để tôi có được một cái thìa kèm vào các suất ăn trên tàu. Bác chuẩn bị đi. Tôi đưa bác năm ru pi - thế là quá nhiều. Bác quyết định ở lại, giống như một cửu vạn nhiệt tình nhưng lại không phải khuân vác cái gì. “Ngài có tiền chứ ạ?” Tôi nói với bác là tôi có. “Xin ngài cẩn thận,” bác nói. “Người Ấn Độ không tốt đâu. Họ sẽ móc ví của ngài đấy.” Bác chỉ cho tôi làm thế nào để khóa khoang lại. Bác nhìn quanh, quắc mắt với những người Ấn Độ đi ngang qua hành lang. Bác cứ nhắc đi nhắc lại với tôi rằng phải cẩn thận, và tiếp tục cảnh báo kiểu đó nhiều tới mức đến tôi cũng bắt đầu tin rằng chuyến đi lên tới nút thắt cổ chai ở bang Andhra Parades, qua Orissa tới Bengal chất chứa bao nguy hiểm. Có lẽ những người dân Madras này, những người có đôi chân vòng kiềng đang nhổ nước trầu qua cửa sổ, đang chỉ chực chờ bác tài xế đi mất là nhảy bổ vào tôi. Và khi bác tài xế thực sự đi, tôi cảm thấy
- mình trơ trọi khác thường và dễ bị tấn công. Thường thì lúc nào tôi cũng cảm thấy hạnh phúc khi ngồi một mình trong góc, nhưng chỉ vào những khoảnh khắc như thế này, khi một người tình cờ gặp tôi, giúp đỡ tôi rồi đi mất, tôi mới cảm thấy thiếu thốn sự quan tâm của họ. Người đàn ông xa lạ nhiệt tâm ở Ấn Độ chỉ làm tôi mất chủ động: sự hiện diện của ông khiến tôi trở thành một quý ngài châu Âu trên đất Ấn, sự hiện diện của ông biến tôi thành một đứa trẻ. Nhưng tôi vui vẻ lên đường. Đó là cảm giác tôi từng có trên tàu tốc hành Phương Đông trực tuyến, trên tàu thư vận Frontier, tàu tốc hành Grand Trunk: kích cỡ, chiều dài tít tắp của con tàu mang lại một sự thoải mái. Tàu càng to chuyến đi càng dài, thì tôi càng thấy vui sướng - bất chấp niềm vui đó có bị tạm thời gián đoạn bởi cảm giác khó chịu mỗi khoảng thời gian tạm dừng của các tàu địa phương. Trên những chuyến đi dài, tôi hiếm khi nhìn xem mình đi qua những ga nào - tôi không quan tâm lắm đến tiến độ hành trình của tàu. Tôi đã học để trở thành một cư dân trên tàu tốc hành, tôi thích đi từ hai đến ba ngày, đọc sách, ăn uống trong toa ăn, ngủ sau bữa trưa, cập nhật nhật ký vào đầu giờ tối trước khi uống lượt rượu đầu tiên, rồi xem xem chúng tôi đang ở đâu trên bản đồ. Việc đi tàu đã kích thích trí tưởng tượng của tôi và thường mang lại cho tôi sự tĩnh mịch để sắp xếp và viết ra những suy nghĩ của mình: tôi có thể dễ dàng di chuyển trên hai hướng, dọc theo những đường ray đồng mức khi những hình ảnh của châu Á liên tục lóe lên và chuyển động trên ô cửa sổ, và bên trong thế giới trí nhớ và ngôn ngữ riêng của tôi. Tôi không thể tưởng tượng ra một sự kết hợp chuyển động nào tuyệt vời hơn. Trong lúc đi ra toa ăn, tôi thấy chàng trai trẻ khom người bên cửa sổ, cạnh lối đi ngoài khoang của anh ta, hít thở thứ không khí tối tăm nóng bỏng. “Ông sẽ không tìm được gì nhiều ở đằng đó đâu,” anh ta nói khi tôi chen qua. Tôi gật đầu và chúng tôi trao cho nhau cái nhìn cảm thông, vốn là một điểm chung giữa những người đi một mình trên những chuyến tàu dài. Tôi ăn tối - một thực đơn chay đặc biệt mà tôi đã bắt mình phải quen - và khi quay lại tôi thấy gã trai lại vẫn đứng ở chỗ cũ. Lần này, dường như anh ta đang đợi tôi. Anh ta không cố gắng có bất cứ cử động nào, dù là nhỏ nhất. Anh ta nói “Nó thế nào?” “Bình thường. Tôi chẳng để ý - tôi ăn chay mà.” “Không phải chuyện đó. Cái cách họ ăn cơ. Thúc ăn đầy cánh tay họ. Làm tôi chẳng muốn ăn nữa. Ông đã thấy họ chuẩn bị thức ăn chưa? Họ đá vào thực phẩm khắp mọi chỗ, giẫm lên và ho vào thực phẩm. Nhưng tất nhiên, có thể ông vẫn còn may mắn.” Chúng tôi nói chuyện về đồ ăn; anh ta có mang theo đồ ăn riêng. Rồi anh ta nói: “Tôi thấy ông ở Madras, cùng với người phu khuân vác đó. Thật là một nơi tồi tàn. Mà Calcutta còn tệ hơn. Ông đã tới đó bao giờ chưa?” Tôi đáp rằng chưa.
- “Có thể ông thích thứ như thế. Còn tôi nghĩ đó là một nơi kinh tởm.” Anh ta rít nốt hơi cuối rồi vứt điếu thuốc ra ngoài cửa sổ, tàn lửa bắn tung tóe trong bóng tối. “Bất cứ nơi đâu ông nhìn. Thật kinh khủng.” Một cô gái Ấn Độ đi về phía chúng tôi. Lẽ ra tôi có thể tranh thủ việc cô ấy bước tới để đi tiếp, nhưng tôi đợi, cả hai chúng tôi dạt sang một bên để cô đi qua. Cô cụp mắt xuống và lướt qua. Cô có đôi bờ vai thanh tú, đôi má khô phấn và mái tóc óng mượt, người cô tỏa ra một mùi hương ngọt nhẹ như một cánh hoa sắp tàn. “Cô ấy xinh đấy.” “Họ làm tôi chết mất,” anh ta nói. “Anh không tin tôi đâu.” “Nếu anh cho là thế.” “Tôi có một cô bạn gái người Ấn Độ - xinh hơn cô này. Đó là lý do vì sao tôi phải đi Calcutta.” “Cô ấy ở đó à?” “Cô ấy ở Bangalore. Ông đã bao giờ tới đó chưa? Cũng không quá tệ đâu, nhưng tôi vui sướng vì được xa nó - ý tôi là xa cô ta. Mà tôi có giữ chân ông quá lâu không nhỉ?” “Vẫn còn sớm mà.” Thì ra là anh ta đang chạy trốn khỏi cô gái đó. Tôi băn khoăn không biết tại sao, nhưng tôi muốn có một câu trả lời đơn giản. Anh ta mời tôi vào khoang để kể tiếp cho tôi nghe. Trong khoang chủ yếu là đàn ông, cô đơn, thức khuya và than vãn về việc không có đàn bà. Anh đưa tôi một ly rượu gin Ấn Độ. Ly rượu làm bỏng môi tôi nhưng vị thì không ra làm sao. Anh ta kể: “Cô ấy là con gái của một người mà tôi phải tới thăm. Tôi không biết ông thế nào, chứ lần đầu tiên tôi đến Ấn Độ, ít nhiều tôi cũng phớt lờ gái Ấn. Vâng, tôi thấy họ xinh đẹp đấy, nhưng điều trớ trêu về vẻ đẹp phụ nữ là nếu ta hoàn toàn chắc chắn rằng ta không lên giường với nàng thì ta sẽ bắt đầu cân đo vẻ đẹp của nàng. Ý tôi là, vẻ đẹp của nàng sẽ trở nên vô tác dụng. Nàng sẽ kém ưa nhìn hơn và trở nên nhàm chán cho tới khi ta thấy nàng vô hình. Nếu nàng có thân hình đẹp, ta sẽ thấy nàng như một thứ xấu xa, chứ không chỉ là kém ưa nhìn, nàng đợi ta có hành động là sẽ đưa ta vào nhà giam ngay. Ta có thể dần dần thực sự căm ghét những cô gái Ấn với ngoại hình đẹp và thứ đức hạnh chẳng để làm gì của họ. Đó là lý do tại sao tôi thích các nước Hồi giáo hơn. Họ che đậy phụ nữ của mình và chẳng bao giờ tranh cãi về điều đó. Chẳng ai ngu ngốc đến mức dây dưa với một phụ nữ đeo những cái mạng đó. Không thể tưởng tượng được điều đó nữa là. Ý tôi là, họ thậm chí trông còn chẳng giống phụ nữ - họ trông giống đồ đạc trong nhà được che bạt
- lên để tránh bụi phủ. Người ta cho mạng che là quyến rũ. Mạng che chẳng quyến rũ tí nào - quyến rũ gì cái thứ cao mét tư và có phủ bạt lên trên cơ chứ?” “Tôi cảm thấy như vậy về con gái Ấn đấy. Chẳng tiếp cận được họ, lẽ ra họ cũng nên trùm bạt lên đầu. Họ càng xinh đẹp thì tôi càng cố gắng tránh xa. Tôi không quan tâm vì tôi biết họ cũng chẳng quan tâm. Anh hiểu ý tôi chứ? Tôi không để ý đến họ nữa. Tôi chỉ để ý đến cô con gái của người đàn ông tôi phải tới thăm. Cô ấy nhẹ nhàng bước tới và lui, tiếp thức ăn, tiếp trà, mang album ảnh gia đình ra, làm những việc đặc trưng của dân Ấn. Gia đình này có họ Bapna và khi ông già rời khỏi phòng thì cô gái mới mở miệng lần đầu tiên, hỏi rằng tôi ở đâu. Tôi kể cho cô ấy.” “Lúc ấy là vào khoảng ba rưỡi chiều. Ông già quay lại. Ông ấy có vẻ hơi bồn chồn, nhưng rồi cũng nói được ý chính. Ông nói rằng nếu tôi định quay lại khách sạn thì tôi có vui lòng cho Primila và bạn của cô ấy đi nhờ không? Họ đang định đi xem phim, nhưng xe buýt lại mất thời gian và có thể họ không đến kịp.” “Tôi nói là tôi rất sẵn lòng. Thằng nhỏ giúp việc trong nhà chạy đi gọi được một cái taxi. Khi chúng tôi đang đi vào thành phố, Primila và bạn cô ấy nói chuyện với bác tài, chỉ đường cho bác ấy và đại loại là tranh cãi với bác về đường nào đi tốt nhất. Tôi hỏi: ‘Các em là bạn chung phòng ở trường à?’ Câu hỏi làm các cô cười khúc khích kéo tấm áo xa ri lên che miệng. Các cô đều đã hai mươi hai tuổi và cảm thấy xấu hổ khi bị nhầm là nữ sinh.” “Rồi xe taxi dừng lại. Cô bạn xuống xe còn Primila và tôi tiếp tục đi. Tôi hỏi ‘Phim của em chiếu ở đâu?’ Cô ấy trả lời là gần khách sạn của tôi. Tôi hỏi mấy giờ thì bắt đầu chiếu. Cô ấy trả lời ‘Phim chiếu cả ngày’.” “Tôi cứ nói chuyện mải miết và sau vài phút tôi nhận ra mình đang nói về một bức tranh mua của một nhà buôn ngày hôm trước, một bức khá đẹp, nữ thần Lakshmi và nam thần Vishnu quyện vào nhau trên một bông sen đang nở. Primila cứ im lặng còn tôi cứ ba hoa. Điều này vẫn xảy ra - sự dè dặt của một ai đó lại khiến tôi nói nhiều khủng khiếp, cứ như thể nói bù cho người ta.” “Tới khách sạn tôi bảo ‘Tôi hy vọng em không phải đi bộ quá xa.’ Cô ấy nói rằng rạp chiếu phim ở ngay góc phố đó thôi. Tôi hỏi cô ấy đã bao giờ vào khách sạn chưa và khi cô ấy nói chưa thì tôi thấy tiếc cho cô ấy, như thể cô bị cấm cửa khỏi một nơi chỉ vì cô ấy không có tiền. Tôi hỏi ‘Em có muốn xem qua không?’ Cô ấy nói có. Chúng tôi đi vào trong. Tôi chỉ cho cô ấy xem nhà hàng và các quán bar, quầy bán báo, cửa hàng đồ cổ nơi tôi mua bức tranh. Cô ấy rất hứng thú, đi bên cạnh tôi, ghi nhận mọi thứ cứ như một người thăm bảo tàng.” “Có một điều tôi nghĩ phải nói với ông trước tiên là cách đây sáu tháng tôi ở Madras. Một buổi chiều có chút thời gian rảnh, tôi tới gặp một người xem tướng tay,
- Swadi Sundram. Đó là một ông già sống dai, căn nhà của ông ở Mylapore không treo bản đồ cũng như các tranh ảnh tôn giáo, thậm chí cũng chẳng có nhiều đệm. Ông ta ngồi trên cái bàn có nắp cuộn, cầm chiếc bút chì và mẩu giấy, trong một cái gọi là thư phòng đầy những cuốn sách mốc meo. Ông ta nhìn kỹ lòng bàn tay tôi, xem từng đường chỉ tay, rồi vẽ ra một biểu đồ trên giấy, viết ghi chú, đánh dấu khuyên và gạch chân chúng trong khi xem. Ông ta không nói câu nào trong khoảng mười phút gì đó, dù đôi lúc ông ta dừng lại khi đang viết rồi bóp trán, giống như một người đang cố gắng nhớ ra một thứ gì đó.” “Cuối cùng ông ta nói, ‘Cậu từng bị ốm nặng, đau ở bụng, đau cơ và bị khó cử động.’ Tôi gần như bật cười - ý tôi là người ta không cần phải là một nhà xem tướng tay để có thể nói với ai đó ở Ấn Độ rằng anh ta bị đau bụng. Ông ta nói với tôi một hai điều nữa, nhưng tôi nói, ‘Ông nghe này, tôi biết điều gì đẫ xảy ra với mình - điều tôi muốn biết là cái gì sẽ xảy ra’.” “Ông ta nói, ‘Tôi thấy một cô gái người Ấn. Gương mặt cổ điển, có thể là một vũ nữ. Cậu ở một mình với cô ta’.” “ ‘Thế thôi sao.’ tôi nói.” “ ‘Không chỉ có vậy,’ ông ta trả lời, ‘Tôi thấy cậu khiêu vũ với cô ta’.” “Vâng, tất nhiên, khi ở trong khách sạn với Primila, tôi nghĩ về những điều mà Swadi Sundram nói. Tôi hỏi rằng cô ấy có phải một vũ nữ không và cô ấy nói rằng không phải. Và khi chúng tôi ra hiên thì cô ấy nói, ‘Em từng nhảy những điệu vũ truyền thống khi em còn bé, nếu đấy là điều anh muốn hỏi. Nhưng tất cả con gái Ấn đều làm thế mà.’ Tôi đề nghị uống trà. Cô ấy đồng ý. Tôi nói lẽ ra chúng tôi có thể uống một tí rượu cũng được. Cô ấy đáp ‘Tùy anh thôi.’ Tôi gọi rượu gin và tonic. Cô ấy nói là muốn rượu rum. Tôi không thể tin được. Tôi hỏi ‘Rượu rum thật à?’ Cô lại cười khúc khích, giống như trên taxi, nhưng không thay đổi ý định. Khi đồ uống được mang tới, chúng tôi cầm lấy cốc và cô ấy lại trở nên im lặng.” “Tôi cũng không có ý rõ ràng việc nói về bức tranh của mình, nhưng chẳng có điều gì nhiều để trò chuyện và tôi thấy mình có vấn đề trong việc miêu tả đồ vật. Vài lần tôi nói ‘Em nên xem nó.’ Cô ấy đáp ‘Vâng, em muốn xem,’ điều đó làm tôi thấy bực, vì thế có nghĩa là tôi phải lên trên lầu, tìm lôi nó ra và mang xuống. Bức tranh được bọc trong một gói dán kín để chống bụi. Tôi cảm thấy tiếc vì đã đề cập đến bức tranh - tôi chỉ định làm thế để tiếp tục câu chuyên. Lẽ ra tôi đã có thể uống một cách ngon lành một mình - để thư giãn. Tôi cần ở một mình sau khi gặp gỡ người khác, kiểu như là để cho tôi tự trở lại với bản thân mình. Ăn trưa với ông Bapna già đã làm cho tôi mệt lử. Tôi không nói gì thêm nữa.” “Cô ấy lại hỏi ‘Anh có bức tranh ở đây không?’ Tôi nói với cô ấy rằng nó ở trên lầu và tôi cảm thấy như thể bị dồn vào góc tường vì tôi sẽ không thể từ chối cho cô ấy xem.
- ‘Em có thích xem nó không?’ ‘Rất thích ạ,’ cô ấy nói. Tôi đáp được thôi, nhưng sẽ dễ hơn nhiều nếu như cô ấy lên trên lầu. Cô ấy đồng ý. Tôi nói ‘Để khi nào em uống xong đã.’ Nhưng cô ấy đã uống xong rồi. Tôi tợp nốt rượu rồi chúng tôi đi lên lầu. Vào trong phòng cô ấy nói ‘Em ghét máy điều hòa không khí.’ Tôi đá cái máy một phát và nó im bặt.” “Chúng tôi ngắm bức tranh, ngồi trên giường - đó cũng là chỗ duy nhất có thể ngồi - và khi cô ấy phân tích bức tranh có gì hay, các đường nét được thể hiện tốt như thế nào, cô ấy vươn người qua nhấc bức tranh tôi đang đặt trong lòng. Đã bao giờ có một cô gái nhấc một thứ gì ra khỏi lòng anh chưa? Việc đó khiến tôi rùng mình - tôi thấy như từ tay cô ấy có dòng điện cường độ rất nhẹ bất chợt chạy qua háng mình.” “Cô ấy chỉ cho tôi xem chi tiết của bức tranh và khi nhìn bức tranh gần hơn thì tôi đã nắm tay cô ấy, từ cái cách cô ấy cho tôi nắm tay tôi biết mình có thể hôn cô ấy. Người ta không chiếu cảnh hôn nhau trên phim ảnh Ấn Độ. Tôi biết tại sao. Vì ở Ấn Độ, không có kiểu cử chỉ âu yếm nào như việc hôn hít mà lại không dẫn tới việc ân ái sau đó. Việc thể hiện tình cảm một tí xíu ở Ấn Độ đã là thể hiện sự đam mê rồi, nhưng điều làm tôi ngạc nhiên chính là sự việc hoàn toàn là ý tưởng của cô ấy, chứ không phải của tôi. Tôi còn phải đi ngược lại mong muốn của mình khi đưa cô ấy lên phòng!” “Tôi hôn cô ấy và quá bất ngờ trước sự hào hứng của cô ấy tới mức bị choáng ngợp trong đê mê. Tôi đã thực sự hạnh phúc, và niềm hân hoan đó ngược với ham muốn tình dục, nhưng cái hân hoan thì ngắn ngủi hơn ham muốn, nên chỉ trong vòng một phút tôi đã ở trên cô ấy. Cô ấy ở lại với tôi trong vòng hai tiếng.” “Việc này gây ra tác động không thể tin nổi với tôi cứ như một cuộc cải đạo. Mọi phụ nữ tôi thấy sau lần đó đều hấp dẫn và tôi thấy mỗi người đều có thể là một cô nàng dễ dãi. Họ thực sự làm tôi hứng khởi - và tôi không thể rời mắt khỏi họ. Tôi thấy họ là những thiên tài duyên dáng, thông minh về tình dục, họ đã ngụy trang một cách hiệu quả với vẻ bận rộn của người phụ nữ Ấn Độ. Tôi đã rất tin vào những điều tôi biết, không ngần ngại ve vãn bất cứ ai trong số họ. Nhưng trên hết tôi bắt đầu hiểu một số ý mà Swami Sundram đã nói: ‘Cô ấy sẽ nhảy vì cậu.’ Rõ ràng Primila là cô gái mà ông ta nói tới. Tôi gặp cô ấy một vài lần nữa và tôi thực sự yêu cô ấy - thậm chí tôi nghĩ bác Bapna già đã nghi ngờ về điều gì đang diễn ra vì ông ấy hỏi tôi rất nhiều câu hỏi về gia đình tôi, tôi đang làm công việc gì và những dự định của tôi là gì? Primila nói rất nhiều về việc rời Ấn Độ và một ngày cô ấy sẽ diện áo cánh cùng quần Tây. Cô ấy trông có vẻ lấc cấc khi mặc Âu phục, nhưng, như tôi nói, tôi đang bắt đầu yêu cô ấy và tưởng tượng mình sẽ có một đám cưới tuyệt vời kiểu Ấn. Primila nói cô ấy luôn muốn đến Anh quốc - cô ấy đã đọc rất nhiều về điều này, kiểu như thế. Tôi có thể hiểu điều gì đang diễn ra.” “Swami Sundram đã tiên đoán việc này. Tôi đồ rằng như vậy, nên ngay khi có cơ hội tiếp theo, tôi đã đến Madras, để ông ta không nhận ra tôi, tôi cạo sạch râu và mặc quần áo khác. Lần này tôi phải đợi bên ngoài nhà cho tới khi ông ta xong việc với một khách hàng khác, và khi tôi bước vào, ông ta lại làm cái việc tương tự với những biểu đồ và ghi
- chú. Tôi không để lộ ra là tôi đã từng đến đây lần trước. Rồi ông ta nói ‘Đau trên đầu, đau rất nhiều, như là bệnh đau đầu.’ Tôi bảo ông ta cứ tiếp tục. ‘Cậu đang chờ một lá thư quan trọng,’ ông ta nói. Ông ta ấn vào cái đệm lò xo và phán, ‘Cậu sẽ nhận được thư này sớm thôi.’ Tôi hỏi như thế có phải mọi việc xong xuôi. ‘Không,’ ông ta nói, ‘Cậu có một nốt ruồi to trên dương vật.’ ‘Không, tôi làm gì có,’ tôi trả lời. Nhưng ông ta cứ bám vào câu chuyện của mình. Ông ta khẳng định, ‘Cậu chắc chắn có.’ Điều ngạc nhiên là ông ta cứ nhất quyết nói rằng tôi có nốt ruồi trên dương vật trong khi tôi đã phủ nhận điều đó và thậm chí có thể chứng minh cho ông ta thấy là ông ta sai thế nào. Ông ta dường như phát cáu lên bảo tôi không nên cãi lại ông ta. Tôi trả tiền cho ông ta rồi đi.” “Đó là ngày hôm qua. Tôi không quay lại Bangalore. Tôi mua một vé đến Calcutta. Tôi sẽ đi - sẽ bay tới Bangkok. Nếu tôi không gặp Swami có lẽ bây giờ tôi đã kết hôn, hoặc chí ít cũng đã hứa hôn - cũng thế cả mà. Cô ấy là một cô gái tốt, nhưng tôi hẳn là có nghiệp chướng và tôi không có nốt ruồi trên dương vật. Tôi xem rồi.” “Cho tôi xin cái chai,” anh ta nói. Anh ta làm một ngụm rồi lại nói, “Đừng bao giờ quay lại xem một thầy bói tay.” Từ Berhampur và Khurda chúng tôi đến Cuttack, nơi có những đứa trẻ nhảy xuống sông, ngụp lặn xung quanh những con trâu đang ngâm mình đến tận lỗ mũi trên dòng Mahadani mênh mông. Đây là góc Đông Bắc Orrissa, thủ đô của bệnh đậu mùa trên thế giới - Balasore, chính cái tên này gợi đến một thứ bệnh dịch gây ngứa ngáy. Biển báo tại ga tàu giống như phụ đề thuyết minh những hình ảnh tôi thấy từ trên tàu: Tuleswar, một phụ nữ đội trên đầu một bình đất nung đựng nước, mang theo những bệnh dịch đến một ngôi làng xa; Duntan, một người Bengal đang ngồi phóng uế trong tư thế như bức tượng Người suy tưởng của Rodin; Kharagpur, một người đàn ông vặn đuôi con trâu để nó đi nhanh hơn; Panskura, một đám trẻ con mặc đồng phục chạy dọc đường ray về khu ổ chuột của chúng để ăn trưa; và tới những khoảng sân ga có tường bao chật ních ở Budge-Budge, hình ảnh thương tâm đầu tiên đập vào mắt tôi là một ông già dắt một cậu bé đi qua sân ga lổn nhổn đá vụn, ông già mù có khuôn mặt hiểm độc siết chặt tay một đứa trẻ sợ hãi đang dẫn đường cho ông ta. Hành khách trên tàu thư vận Howrah có vẻ mặt nghiêm nghị đầy mệt mỏi. Họ không để ý chút nào tới đám bán rong xuất hiện ngày càng nhiều khi tới gần Calcutta, đám này lên tàu tại những ga ngoại ô, làm xiếc trên những toa tàu mở cửa. Một người đàn ông lên tàu với một ấm trà và giữ thăng bằng cho mớ chén gốm xếp trên cánh tay anh ta. Anh ta nói những lời đinh tai, mời mọc hành khách uống trà, đung đưa cái ấm trước mặt từng người, rồi lại phải xuống tàu: không bán được chút nào. Tiếp sau anh ta là một người đàn ông với một hũ kẹo và một cái thìa. Anh này lấy thìa gõ vào hũ kẹo và bắt đầu rao bằng một giọng đều đều. Cái hũ được chìa đến tận từng người, anh này vẫn tiếp tục nện cái thìa cứ thế cho đến cửa toa, khi một người khác tiến vào với một khay bút máy. Anh ta lảm nhảm, trong lúc đó thì biểu diễn cái nắp bút được vặn ra thế nào, cái ngòi được nhúng ra sao, cách ruột bút hoạt động thế nào; anh ta xoay cái bút và giữ nó cho mọi người xem;
- anh ta làm mọi thứ trừ việc dùng nó để viết và khi kết thúc anh ta lại bỏ đi, không bán được cái gì. Lại thêm những thứ nữa được rao trên tàu: bánh bao, lạc rang, lược nhựa, dây dù, những cuốn sách bẩn; chẳng ai bán được món nào. Tại một số ga, người Ấn Độ trèo qua cửa sổ vào chỗ ngồi, nhưng khi chỗ ngồi đã hết thì họ lại dồn nhau ở cửa, chỉ có bám vào toa tàu một cách mong manh. Họ treo lủng lẳng trên trần với những sợi dây, dồn nhau vào thành toa như những đống củi, chen chúc nhau trên ghế, ép sát đầu gối vào nhau; và bên ngoài tàu thư vận Howrah, họ nhanh nhẹn bám vào thành toa tàu cứ như thể bị nam châm hút vào. Gần ga Howrah, những đám người Bihar từ những bậc bến nước nhảy xuống dòng sông Hooghly nhầy nhụa mà họ cho là linh thiêng. Lễ hội của họ, Chhat, làm Calcutta sôi động hẳn lên và đây là dịp để những người Bihar thể hiện sức mạnh của họ với những người Bengal. Trong khi đó người Bengal với lễ hội Kali riêng của họ đã làm chật kín nhiều con phố lẫn căn phòng khủng khiếp, tức là điện thờ Kali: một bức tượng nữ thần to gấp đôi người thường với đôi mắt trợn trừng, chuỗi đầu lâu người quấn quanh cổ, lưỡi thè ra đỏ tươi như một que kem dâu và chân giẫm lên cái xác tả tơi thê thảm của chồng nữ thần. Đằng sau tượng Kali, các bức phù điêu thạch cao thể hiện bốn người đàn ông bị đọa đày, người đầu tiên bị đóng xuyên qua một ngọn giáo đầy máu me, người thứ hai bị một bộ xương siết cổ, người thứ ba bị một mụ phù thủy đánh nằm bẹp ra trong khi mụ này cũng đang chặt đầu người thứ tư. Đây là một thách thức với người Bihar, những đoàn diễu hành của họ có những kiệu thờ di động cao phủ vải vàng, những xe đẩy chở phụ nữ ngồi giữa một đống chuối cúng, trông rất ngoan đạo và vài nhóm nhỏ những người ăn mặc cải trang như người khác giới nhảy múa theo tiếng kèn trống. “Những người Bihar đây rồi, họ đến để ném chuối xuống dòng Hooghly,” ông Chatterjee, người ngồi trên toa riêng nói. Là một người Bengal, ông Chatterjee không chắc lắm về mục đích của lễ hội Chhat, nhưng nghĩ có thể nó liên quan đến mùa màng. Tôi nói tôi không nghĩ rằng mùa vụ ở Calcutta là lớn lắm. Ông đồng ý, nhưng nói rằng những người Bihar tận hưởng cơ hội một năm có một lần để gầm ghè với việc làm ăn của người Bengal. Ở đầu tất cả các đoàn diễu hành là một cậu bé đen nhẻm cười toe toét, ăn vận như con gái, cổ tay múa những động tác giật cục và “cái giống” của cậu ta trong cái váy sari đỏ tía cứ chĩa lên trời, vung qua vẩy lại. Hết lần này đến lần khác, các bé gái (có thể cũng là con trai) đằng sau cậu bé đi đầu phủ phục quỳ mọp xuống tận mặt phố ngập ngụa rác rưởi. Đám đông cuồng tín, sự thiêng liêng mà nhặng xị, những tạp âm nhưng lại chính thống: mọi thứ ở trong cuộc sống ở Ấn Độ dường như vượt qua mọi quy chuẩn, thậm chí [41] cả chính trị cũng có hơi hướng puja . Trong khi các lễ hội tôn giáo này đi theo một cách thống thiết riêng, thì Trung tâm Đoàn kết Xã hội đã tổ chức một kỳ nghỉ làm - gọi là bundh - và các lần tập hợp của họ tại các khu đất trống - gọi là maidan - với cờ quạt và biểu ngữ, diễu hành và diễn văn, trên thực tế không thể phân biệt được với hình ảnh của các cuộc họp đạo lớn trên những vỉa hè của Chowringhee, hay tại các bến nước đầy bùn đất. Khía cạnh này của Calcutta là những ấn tượng đầu tiên để lại cho du khách, nhưng ấn
- tượng lâu dài hơn là một bầu không khí náo động có tổ chức, mọi người đều bận rộn thực hiện một chương trình nào đó, nhiều tới mức người ta có thể thấy hàng nghìn người đồng loạt ngồi hoặc đứng trên vỉa hè - gọi là đồng loạt vì không gian rất chật chội, đều có cái vẻ của những người biểu tình phi vũ lực đang tiến hành một buổi biểu tình kiên trì vì chân lý - gọi là satyagraha - suốt một buổi chiều dài. Tôi tưởng tượng ra một nhóm khác bằng những hình dung lờ mờ, khi tôi đọc trên một tờ báo của Calcutta rằng “Các nhà lãnh đạo cánh tả cũng quyết định sử dụng biện pháp biểu tình ngồi tập thể ” Nhìn từ bên ngoài, nhà ga Howrah trông như một văn phòng, với các ngọn tháp không hoàn toàn vuông vắn, rất nhiều đồng hồ - mỗi cái theo một múi giờ khác nhau - và những bức tường gạch kín đáo. Các tòa nhà kiểu Anh xây ở Ấn Độ cứ như chúng đang phải chống lại một cuộc bao vây - có các chốt công sự, các ụ súng thần công và tháp canh kể cả ở những công trình chẳng có vẻ gì là sẽ bị tấn công. Vì vậy nhà ga Howrah giống như một phiên bản dạng pháo đài của một văn phòng quanh co khổng lồ, tạo ra ấn tượng rằng chỉ khi mua vé tàu ở đây mới chắc được rằng đây là ga tàu. Nhưng phía bên trong nhà ga thì lại cao và đầy khói bởi các đống lửa do những người sử dụng nhà ga đốt; trần nhà đen ngòm, sàn ẩm ướt, bẩn thỉu và tối tăm - những luồng ánh nắng mặt trời dài từ các cửa sổ cao nhất chiếu vào cũng mắt đi độ sáng khi đi qua bụi bặm. “Nó còn tốt chán so với hồi trước,” ông Chatterjee nói khi thấy tôi nghển cổ. “Anh phải thấy cái nhà ga này trước khi được lau dọn cơ.” Nhận xét của ông thật sự không thể bác lại được. Nhưng dưới mỗi cây cột, những người ngồi xổm túm tụm lại với nhau giữa đống rác mà chính họ đã xả ra: kính vỡ, những mẩu giấy và gỗ, ống hút và các lon thiếc. Vài đứa trẻ dựa vào cha mẹ ngủ ngon lành; những đứa khác thì nằm cuộn lại như lũ tiểu yêu ở những góc bụi bặm. Các gia đình tìm kiếm chỗ nghỉ bên những cây cột, dưới quầy hàng và các xe hành lý: sự rộng lớn của nhà ga dọa dẫm họ bằng không gian mênh mông và đẩy họ ra phía các bức tường. Trẻ con của các gia đình này lảng vảng ở những chỗ rộng, gom những gì lục lọi được lại để chơi đùa. Chúng là những đứa trẻ tí hon của những ông bố bà mẹ tí hon. Điều đáng ngạc nhiên là tại Ấn Độ người ta có thể thấy hai loại người khác nhau trong quá trình tiến hóa, tồn tại song song với nhau, một loại khá cao lớn, nhanh nhẹn và nhiệt tình, một loại người khác, mà với họ tiến hóa là sự thu nhỏ, họ nhỏ thó, ốm yếu và khúm núm. Họ như hai giống người có chung một đất sống là ga xe lửa, dù họ có tiến lại rất gần nhau (một thằng nhóc ngả lưng gần cửa sổ bán vé nhìn chân những người xếp hàng) thì họ vẫn không tương xứng với nhau. Tôi bước ra ngoài, lẫn vào sự hỗn mang giữa ban ngày tại bờ phía Tây của cầu Howrah. Ở Simla, những chiếc xe kéo tay được giữ lại vẻ cổ kính, người ta ngồi lên nó rất điệu bộ. Còn ở Calcutta, những chiếc xe này, được những người phu gầy nhom quần áo tả tơi kéo, là một phương tiện giao thông thiết yếu, rẻ và dễ len lỏi trong những ngõ hẹp. Chúng là một biểu tượng nguyên sơ của xã hội Ấn Độ, nhưng tại Ấn Độ tất cả các biểu tượng đều nguyên sơ: những người vô gia cư ngủ trước cổng vào các biệt thự, một thị dân
- trên đường chạy lên tàu hỏa vô tình giẫm phải một người ngủ trên sân ga, một người phu gò lưng kéo xồng xộc vị khách béo núc ních trên xe. Những con ngựa nhỏ bị đóng cương để kéo những chiếc xe chở khách nặng nề qua những con đường đầy sỏi, những người đàn ông đẩy xe đạp chất đầy những kiện hàng và củi đun. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy nhiều hình thức vận tải như vậy: xe ngựa, xe máy, ô tô cũ, xe đẩy và xe trượt cùng các loại xe ngựa kéo kiểu cũ, kỳ dị mà có thể đã từng là xe tứ mã. Trên một chiếc xe đẩy, những con rùa biển chết, vây chèo đã trắng dã ra, được xếp dồn lên nhau; trên xe khác thì một con trâu chết và trên xe thứ ba là cả một gia đình với tài sản của họ - lũ trẻ con, cái lồng vẹt, xoong và chảo. Giữa những phương tiện vận tải đó, người ta vẫn lao đi. Rồi xảy ra một sự hoảng loạn, mọi người tản hết ra khi một xe chở khách xập xệ có dòng chữ TOLLY- GUNGE lắc lư đi xuống cầu. Ông Chatterjee nói: “Quá nhiều người ấy mà!” Ông Chatterjee đi bộ qua cầu cùng với tôi. Ông là một người Bengal, mà đó là những người cần cảnh giác nhất tôi gặp ở Ấn Độ. Nhưng họ cũng là những người dễ bị kích động, nói nhiều, máy móc, kiêu ngạo và chẳng hài hước gì cả, họ diễn thuyết với một kỹ năng đầy hiểm ác về hầu hết mọi chủ đề chỉ trừ tương lai của Calcutta. Hễ cứ ai đề cập đến vấn đề này là người Bengal lại cứng lưỡi. Nhưng ông Chatterjee có quan điểm riêng. Ông từng đọc một bài báo về triển vọng của Calcutta. Calcutta rất xui xẻo: Chicago từng chịu một trận hỏa hoạn lớn, San Francisco xảy ra một trận động đất và London có cả dịch bệnh lẫn hỏa hoạn. Nhưng chẳng điều gì xảy đến với Calcutta để các nhà quy hoạch ở đây có cơ hội tái thiết kế thành phố. Ông nói rằng anh phải thừa nhận điều này, thành phố này có sinh lực bền bỉ của nó. Vấn đề những người sống trên vỉa hè (ông nêu ra con số một phần tư triệu) theo cách nào đó đã bị “bi kịch hóa quá mức”, và khi xem xét tới tình huống là chỉ những người sống trên vỉa hè mới tham gia vào công việc nhặt rác, thì người ta phải thấy là rác rưởi ở Calcutta “hầu hết đã được tái chế một cách triệt để.” Dường như đó là một cách dùng từ sai và nó gần như sa vào sáo rỗng: sinh lực bền bỉ kiểu gì ở một nơi mà người ta chết trên cống rãnh (“Nhưng ai rồi mà chẳng chết,” theo lời ông C.), rồi thì một phần tư triệu người bị bi kịch hóa quá mức, rồi thì những người nhặt rác làm công tác tái chế. Chúng tôi đi qua một người đàn ông đang ngả người chìa tay ra. Hắn ta là một con quái vật. Nửa khuôn mặt đã mất, cứ như thể nó bị cắt xẻo một cách vụng về - hắn không có mũi, không có môi, không có cằm; và hàm răng lúc nào cũng nhô ra của hắn giữ trong miệng một cái lưỡi thâm tím. Ông Chatterjee nhìn thấy tôi bị sốc. “Ồ, là anh ta! Anh ta luôn ở đây mà!” Trước khi chia tay tôi ở Barabazar, ông Chatterjee nói: “Tôi yêu thành phố này.” Chúng tôi trao địa chỉ cho nhau rồi chia tay, tôi về một khách sạn, ông Chatterjee thì về đường Strand, nơi dòng sông Hoogly dềnh bùn đất lên một cách tệ hại, chẳng mấy chốc mà tro bụi hỏa táng của những người Bengal sẽ nổi lên trên. Tôi ở lại Calcutta bốn ngày, đi giảng bài, ngắm cảnh và rồi tiêu hết thù lao giảng bài tại Câu lạc bộ Đua ngựa Hoàng gia Calcutta vào thứ Bảy, ngày mà tôi quyết định sẽ rời đi. Ngày đầu tiên, thành phố trông như một xác chết mà người Ấn Độ là những đàn ruồi vo ve kiếm ăn trên đó. Sau đấy tôi thấy những đường nét của nó rõ ràng hơn, những cây cột cao và những kim tự tháp ở Nghĩa địa phố Park, những ngôi biệt thự mục nát trang trí
- đường diềm và cột trụ, ở đài phun nước tại sân trong của những chỗ ấy: tượng nữ thần và yêu nữ thổi vào những tù và ốc khô khốc, tượng cũng giống những người đang sống dưới chân chúng trong những bao tải gai, đều mất chân hoặc tay. Tiếng xe điện leng keng trong đêm; ánh đèn chập chờn chiếu sáng những con bò hoang đang sục mõm vào đống rác, tranh nhau với đám người Ấn Độ đang cào xới tìm xem có thứ gì ăn được. Những khu tập thể cao tầng mang phong cách thời kỳ Moghul “ chen lấn thành phố, đè lên nó, lèn vôi vữa và gạch vào nó, không để lọt chút không khí vào nó và đứng trơ trơ chắn nó khỏi ánh sáng. Bạn dò dẫm lối đi mất khoảng một tiếng qua những ngõ ngách, những lối tắt, những sân nhà và hành lang; bạn sẽ không một lần nào xuất hiện trên một thứ gì có thể được gọi tương đối là con phố. Một cảm giác phát điên vì bất lực xuất hiện với người lạ khi anh ta bước đi trên những mê cung khúc khuỷu đó, rồi anh ta bị lạc, đi vào đi ra, đi vòng quanh, lặng lẽ quay lại lần nữa khi anh ta đi tới một bức tường cuối ngõ cụt hoặc bị chặn bởi một bức rào sắt, và cảm giác thấy rằng những lối thoát ra sẽ xuất hiện vào thời điểm thích hợp, nhưng mong đợi chúng thì quả là vô vọng Trên những con phố chính chật hẹp, đây đó vẫn có những cánh cổng cũ bằng gỗ sồi được chạm trổ, mà ở đó thời xa xưa vẫn có âm thanh của những buổi chè chén tiệc tùng vọng ra, nhưng trong hiện tại, những tòa nhà đó chỉ còn được dùng làm nhà kho, tối tăm và xám xịt, bên trong đầy những len, vải bông và những thứ tương tự - những thứ hàng hóa nặng nề này kiềm tỏa âm thanh và làm mất tiếng vọng - bầu không khí chết chóc có thể cầm nắm được Ở những chỗ con đường không phải phố chính thắt lại và phình ra các nhà bán buôn hàng rau quả như đang ở trong thành phố nhỏ hoàn hảo riêng của họ; và phía sâu dưới móng những ngôi nhà này, đất bị xòi mòn, bị đào lên làm chuồng ngựa, trong chuồng những con ngựa kéo xe bị lũ chuột quấy rầy, mà vào một ngày Chủ nhật yên tĩnh có thể nghe thấy tiếng ngựa đang lúc lắc dây cương, giống như truyện về lũ ngựa ma ám khi những hồn ma không yên nghỉ đung đưa dây xích của chúng Rồi có những đỉnh chóp nhọn của nhà thờ, những tòa tháp, những gác chuông, những chong chóng sáng chói trên nóc nhà và cột buồm trên những con tàu. Những giàn giáo, những mái nhà, cửa sổ gác thượng, vẻ tiêu điều này đè lên trên vẻ tiêu điều khác. Khói và tiếng ồn nhiều như của cả thế giới tập trung về đây.” Còn nữa và đều rất hay, nhưng tôi nghĩ trích như thế là đủ để thấy miêu tả tốt nhất về Calcutta chính là miêu tả khu Todger ở London trong chương IX cuốn Martin [42] Chuzzlewit . Tôi thấy Calcutta rất giống với quan sát của Dickens (có thể còn giống mô tả của Dickens hơn cả chính London); và tôi hiểu rằng mình không thể chia sẻ niềm hân hoan của những người Bengal đồng ý để Ngân hàng Trung ương Ấn Độ treo lên một cái biển quảng cáo to khủng khiếp trong thành phố (CALCUTTA LÀ MÃI MÃI), hoặc theo một cách kỳ quặc hơn, tôi cũng không thể chia sẻ sự quan tâm quá chu đáo của những người Mỹ tôi gặp ở đó dành cho thành phố rộng lớn nhưng chưa hoàn thiện này, sự quan tâm mà tôi cảm giác ngày nào đó sẽ khiến họ không còn là họ. Vì thế, tôi quyết định rời Calcutta, cũng có nghĩa là rời khỏi Ấn Độ. Trên đường đi, tôi thấy người đàn ông nhảy lò cò trong đám đông ở Chowringhee. Anh ta rất kỳ lạ: trong một thành phố của những người dị tật này thì chỉ có một người
- trông cực kỳ gớm ghiếc mới nổi bật. Anh ta chỉ có một chân - chân còn lại đã bị cắt cụt tới tận bắp vế - nhưng anh ta không dùng nạng. Một tay anh ta ôm một cái bọc nhầy nhụa. Anh ta nhảy lò cò qua tôi, miệng há hốc, bờ vai lắc lắc. Tôi đi theo anh ta, rồi anh ta rẽ vào phố Middleton, nhảy lò cò rất nhanh trên một chân, như một người nhảy trên cây cà [43] kheo pogo , đầu nhô lên rồi thụt xuống trong đám đông. Tôi không thể chạy vì vướng những người khác, những nhân viên bán hàng da đen đi nhanh như tên bắn, những thầy tu cầm ô, những người ăn xin không có tay chìa phần tay cụt ra trước tôi, những người đàn bà bế đứa trẻ bị cho uống thuốc ngủ, những gia đình đang đi dạo mát, những người đàn ông mặc quần thụng, tay vung vẩy như muốn choán hết vỉa hè. Anh chàng nhảy lò cò đã xa khuất. Tôi theo dấu - tôi có thể nhìn rõ đầu anh ta - rồi lạc mất anh ta. Với một chân mà anh ta đã vượt xa tôi, tôi không bao giờ nghĩ ra bằng cách nào anh ta có thể làm được như vậy. Nhưng sau này, mỗi khi nghĩ về Ấn Độ, tôi lại mường tượng ra anh ta - cứ nhảy lò cò, lò cò, lò cò - nhanh nhẹn vượt qua đám đông hàng triệu người đó.
- Chương 17. Tàu tốc hành Mandalay Hoàng hôn ở Rangoon, bầy quạ phủ đen bầu trời cả ngày lượn về nghỉ trong khi bầy dơi thức dậy, chúng kêu the thé, vỗ cánh phần phật bay cuồng nhiệt theo một vòng tròn quanh những ngọn tháp xây theo kiểu chùa chiền ở ga xe lửa. Tôi đến đây vào thời điểm này: khi đàn dơi nhào qua bầy quạ và bầu trời vàng nhạt điểm những vết đen như mực, giống một tấm lụa Miến Điện được vẽ những nét to bằng bút lông. Tôi đáp máy bay xuống Rangoon vào một đêm thứ Bảy - vì không có tàu hỏa từ Ấn Độ - và sự hâm mộ của người Miến Điện đối với phim ảnh mà tôi đã nhận ra từ lần tới thăm trước đó vẫn không hề suy giảm. Đám đông kéo vào đường Chùa Sule, ở đó có năm rạp chiếu phim, họ ăn mặc giống hệt nhau, áo sơ mi, quấn xà rông, chân đi dép quai hậu, đàn ông cũng như đàn bà rít thứ xì gà màu xanh xén đầu và trông họ (khi đang phe phẩy những ngón tay mảnh khảnh xua khói) cứ như mang dòng dõi hoàng gia, hào hoa đến ngạc nhiên ở giữa thành phố đang suy tàn này, chẳng khác nào những hoàng thân quốc thích bị trục xuất khỏi hoàng tộc. Tôi chỉ có duy nhất một mục đích ở Miến Điện: lên tàu đi lên hướng Bắc từ Rangoon qua Mandalay và Maymyo đến hẻm núi Gokteik ở bang Shan, trên nữa là lãnh thổ Trung Quốc trải rộng. Bắc qua hẻm núi này là một cây cầu trụ thép nguy nga, gọi là Cầu Cạn Gokteik, được Công ty Thép Pennsylvania xây dựng năm 1899 cho chính quyền cai trị của người Anh. Tôi đã đọc về cây cầu này, nhưng không phải trong các cuốn sách xuất bản gần đây. Đầu thế kỷ 20, niềm háo hức tàu hỏa đã tạo nên một dòng lũ những cuốn sách lạc quan về việc đi lại bằng tàu hỏa: người Pháp xây tuyến đường sắt xuyên Đông Dương đến Hà Nội, người Nga xây tuyến đường sắt xuyên Siberia gần tới thành phố Vladivostok, người Anh xây đường ray tới tận điểm xa nhất của đèo Khyber, và người ta cho rằng đường sắt Miến Điện sẽ mở rộng theo hai hướng, một hướng tới tuyến Assam- Bengal và hướng kia tới hệ thống đường sắt của Trung Quốc. Các cuốn sách mang những tiêu đề như sách khải huyền, ví dụ The railway conquest of the world (Công cuộc chinh phục đường sắt trên thế giới) của Frederick Talbot năm 1911, trong đó mô tả, từ nước này qua nước khác, về việc mọi nơi trên địa cầu này sẽ được nối lại với nhau bằng đường ray xe lửa ra sao. Những đánh giá đôi khi không thể chấp nhận được. Trong cuốn Railways of the world (Các tuyến đường sắt thế giới) năm 1914, Ernest Protheroe đã viết: “Ông John [44] Chinaman , khôn vặt, keo kiệt và đẻ nhiều, đã tránh né ‘bọn quỷ dữ ngoại bang’ hàng thế kỷ Nhưng dù người Trung Quốc có ghét người da trắng đến đâu, họ đã bắt đầu nhận ra giá trị của đường xe lửa ” cầu Cạn Gokteik, được ca ngợi rất nhiều trong các cuốn sách đó, là một điểm nối quan trọng trên tuyến đường được thiết kế đi qua thị trấn vùng biên Lashio ở phía Bắc để vào Trung Quốc. Nhưng tuyến đường này đã dừng lại ở Lashio
- (ở hướng kia, các đường sắt Miến Điện cũng không nối được với tuyến đường sắt Ấn Độ) và tôi nghe nhiều lời đồn thổi về cây cầu do Mỹ xây này: lời đồn thứ nhất nói nó bị cho nổ tung trong Thế chiến II; lời đồn thứ hai bảo rằng tuyến đường đã bị lực lượng nổi loạn do U Nu chỉ huy chiếm giữ; và một lời đồn khác nữa cho rằng người nước ngoài bị cấm đi trên tuyến này. Để tránh làm những người Miến Điện tại cửa bán vé ở nhà ga Rangoon giật mình, tôi hỏi vé tàu đi Mandalay. Có hai người đàn ông ở cửa bán vé. Anh đầu tiên trả lời rằng không có lịch chạy tàu in sẵn để tôi mua. Anh thứ hai nói: “Vâng, chúng tôi không có lịch chạy tàu.” Dường như thực tế ở Miến Điện là cần tới hai người để làm một công việc, người thứ hai sẽ khẳng định những thứ người đầu tiên nói. Cũng giống như ở Ceylon, thay vì có lịch tàu chạy, người ta kê một cái bảng đen trên đó có ghi bằng phấn tên các ga và chuyến đi, chuyến đến. Nhưng cả hai anh này đều biết rõ về tàu Mandalay. “Xuất phát lúc bảy giờ. Vào buổi sáng.” Họ nói là chỉ có một hạng toa. Và tôi khám phá ra rằng hạng này tương đương với hạng ba trên tàu Ấn Độ - ghế gỗ, cửa sổ vỡ, không có giường, không có túi ngủ, không có toa ăn và không có các thứ tiện nghi phức tạp như đường sắt Ấn Độ: phòng nghỉ ngơi, phiếu ăn tối, phiếu nhận chăn ga, biên nhận hành lý gửi cho khách hạng sang, phiếu thanh toán và trà buổi sáng. “Tôi muốn mua một vé đi Mandalay.” “Xin lỗi anh nhưng cửa bán vé này đóng rồi.” Nhưng cửa vẫn mở. Tôi nhắc việc này. “Vâng, nói thế thì nó mở đấy, nhưng không bán nữa.” Anh thứ hai nói: “Anh đến vào sáu giờ sáng nhé.” “Anh có chắc là tôi có mua được vé không?” “Có thể. Thậm chí còn tốt hơn là đến vào năm rưỡi sáng.” “Đi đến Mandalay mất bao nhiêu thời gian thế?” “Mười hai tiếng đồng hồ. Nhưng khi tàu hỏng thì khác. Anh có thể đến Mandalay vào lúc tám giờ tối.” “Hay là chín giờ tối?”
- Hai anh bán vé cùng cười. “Hoặc là chín giờ tối, nhưng không muộn hơn đâu!” Tôi đi bộ qua cầu vào thành phố, khi đang lọt giữa đám đông người Miến Điện thì có một bàn tay chìa ra nắm lấy cổ tay tôi, những ngón tay siết chặt đến mức tôi không thể giằng ra. Đó là một nhà sư, ông ta nắm chặt tay tôi và làu bàu gì đó. Nhỏ thó, khuôn mặt như mặt khỉ với cái đầu cạo trọc, ông ta chỉ bằng một nửa tôi và có vẻ như đang tức giận khi cứ nhắc đi nhắc lại một câu “Blum chyap blum chyap.” Tôi đỡ ngạc nhiên, không cố giằng tay ra nữa, cho là ông ta đang xin tiền và rốt cuộc tôi cũng hiểu được đúng là ông ta xin tiền khi nói “Một kyat thôi!” (khoảng hai mươi xu tiền Mỹ). Cái cách nắm chặt tay này là một cách ăn xin quá đáng nên tôi chỉ cho ông ta nửa kyat, và khi ông ta thả tay tôi ra để lấy tiền thì tôi lẩn ngay vào trong dòng người. Cũng có những nhà sư khác trong đám đông, trông họ thật tử tế và hồn hậu khi xin xỏ tiền của người lạ. Tiếp đó, một người Miến Điện có cái kính viễn vọng cứ nài tôi xem. Tôi trả phí là hai lăm pyat (năm xu), nhưng ngôi sao mà tôi nhìn qua thiết bị của hắn trông như bé hơn một tí và ít ấn tượng hơn so với nhìn bằng mắt thường. Tôi bước đi vô định, cố gắng tăng tốc khi một người đàn ông rụt rè đến đề nghị tôi đi với một cô bé Trung Quốc (anh ta nói “Đi nào!”), tôi lại đi chậm lại khi qua những ngôi đền nơi lũ trẻ - vẫn còn thức vào lúc mười một giờ đêm - đeo tràng hoa và cười đùa trước Phật. Những người già quỳ xuống với lòng sùng kính, hoặc sắp hoa quả dâng lên, xếp một quả dưa vào giữa nải chuối đặt lên bệ thờ của đền, cắm thêm một lá cờ giấy đỏ vào quả dưa. Những bà già đứng dựa vào quầy hoa, những điếu xì gà cắt đầu tỏa khói trên tay khiến họ trông ngạo mạn và bình thản. Đêm hôm đó tôi mơ mình bị lỡ tàu đi Mandalay. Tôi hổn hển thức dậy vào lúc năm rưỡi, ăn sáng rồi chạy tới ga tàu. Một lần trước đây, trong một buổi sáng như thế này, tôi bắt đầu đi đến nhà ga Rangoon thì một người đàn bà nhảy ra từ trong bụi rậm nơi cô ta ngủ, cố gắng dụ dỗ tôi bằng việc cởi xà rông ra cho tôi xem cặp đùi vàng vọt của cô ta. việc đó xảy ra trước bình minh; tôi không nhìn thấy mặt cô ta nhưng tiếng kêu oai oái của cô ta vang lên trên đường. Cô ta đuổi theo tôi trên đường đến nhà ga, chân lạch bạch trên vỉa hè. Đó là năm 1970 và điều tôi nhớ về nhà ga này là những con chuột, chúng nhảy nhảy trên đường ray để đánh hơi và nhai giấy vụn, những người bán hàng rong, bán hoa quả và sách bìa mềm ném bọn chuột đi, chân họ giẫm lên những vũng phân; cái nóng và đám ruồi muỗi lúc bình minh; và những cậu bé Miến Điện chế giễu bọn bạn bắt đầu đi xa của chúng. Nhưng nhà ga Rangoon đã thay đổi. Không còn chuột hay những người bán hàng rong, đường ray đã sạch sẽ. Có hai hàng rào dây thép gai trên sân ga và những đoạn dây thép gai chạy dọc cả bốn đường ray. Thứ thực phẩm duy nhất được bán là hộp ăn trưa, những hộp các tông đựng thứ cơm nguội ngắt ẩm ướt và những miếng thịt gà toàn gân. Nhà ga ngăn nắp hơn, an ninh được thắt chặt như ở nhà tù, những thanh chắn chia cách
- người đi tiễn với hành khách. Tôi hỏi một người lái tàu về những hàng rào. “Để ngăn trộm cắp,” anh ta nói. “Và cũng để ngăn mọi người bước qua đường ray. Cũng để ngăn các sự vụ khác nữa.” “Sự vụ kiểu gì?” “Bom. Năm ngoái có mấy thằng cha ném một quả bom. Chúng ném vào đoàn tàu. Quả bom làm tàu dừng lại và số thương vong là ba người. Vì lý do đó mà hàng rào được dựng lên. Tôi nghĩ đó là một việc tốt. Bây giờ chúng tôi chẳng có vấn đề gì cả.” Một nhà sư đi ngang qua, cười vu vơ. Ông ta béo mập, cầm cái ô như đang giữ bó que thẩm phán, trống không khác một nguyên lão La Mã mặc bộ cà sa màu da cam. Tôi mừng vì đó không phải là nhà sư đã vặn tay tôi tôi hôm trước. Tôi mua một hộp cơm và hai chai soda rồi lên tàu. Rời Rangoon bằng tàu thật dễ chịu: đoàn tàu đi quanh thành phố và sau năm phút rời ga, bạn đã ở vùng quê, một vùng đất thấp lầy lội trồng lúa bên thung lũng Pazandaung, tại đó có các thiền viện với những nhà sư đang tụng niệm trên sân; và qua ruộng đồng là những đoàn người - học sinh đeo túi trên vai, nhân viên văn phòng trưng diện áo sơ mi trắng, nông dân vác cuốc chim - cuộc diễu hành trong buổi sáng sớm vùng nhiệt đới hòa với nhịp chuông từ các ngôi đền. Trên tàu cũng bật nhạc. Nét mới đây. Âm nhạc phát ra từ các loa phóng thanh và suốt mười ba tiếng đồng hồ không ngừng lần nào. Trên nền những giai điệu của một nhà hát ca múa nhạc phương Đông - cồng chiêng, kèn saxophone ganh đua với tiếng đàn hạc khò khè - một giọng ta thán lào xào cất lên phần chuyển thể tiếng Miến Điện của bài “Deep Purple” (Màu tím thăm thẳm), và rồi bài “Stars Fell on Alabama” (Sao rơi trên Alabama). Thứ âm nhạc này làm tôi không đọc sách được, cái ghế gò bó khiến tôi không viết được và các hành khách khác thì đã ngủ. Tôi đi ra cửa toa nhìn người Miến Điện đạp xe dọc những con đường thôn quê, dưới những tán bồ đề khổng lồ. Những ngọn đồi phía xa xanh xanh rừng cây tếch, nhưng chúng tôi đang đi qua một vùng đồng bằng bằng phẳng gọi là Vùng Khô, đi lên phía Bắc theo một đường thẳng xuyên qua cái nóng tạo cho hành khách cảm giác rằng họ đang dần biến mất vào trong cổ họng của đất nước Miến Điện. Bên một cái giếng gần Pháo đài Ấn Độ có một cô gái Miến Điện đang chải tóc. Cô ngả về đằng trước, cả mái tóc xõa xuống - dài đến mức gần như chạm mặt đất - và cô đưa lược chải qua tóc rồi kéo lược ra. Thật là một cảnh tượng đẹp đẽ trong buổi sáng đầy nắng này - cả suối tóc đen đung đưa dưới chiếc lược và tư thế của cô gái, với đôi chân đứng rộng ra, cánh tay mơn man trên vạt tóc của mình. Rồi cô buông ra và ngẩng lên nhìn đoàn tàu đi qua. Tiếng còi ở nhà ga Toungoo là chuông báo bữa ăn tối. Toungoo ở chính giữa đường và trước khi tới ga này, chẳng có ai trên tàu động đến thức ăn. Nhưng khi tiếng còi vang
- lên, các suất cơm hộp mở ra, các cặp lồng cơm bày ra trên ghế, cơm gói trong lá cọ được đưa qua cửa sổ cùng tôm đồng, tôm biển nấu chín đỏ với tiêu, táo, đu đủ, cam và chuối nướng. Những người bán trà bán nước xuất hiện, việc ăn uống diễn ra cho tới khi tiếng còi cất lên lần nữa. Các bọc thức ăn lại được gói lại, rác vứt trên sàn còn thức ăn thừa thì vứt qua cửa sổ. Lũ chó đói đột nhiên xuất hiện, gầm ghè tranh nhau những thứ còn sót lại. “Tại sao người ta không bắn chết lũ chó này đi?” tôi hỏi một người ở Toungoo. “Người Miến Điện cho rằng giết động vật là sai trái.” “Thế sao người ta không cho chúng ăn?” Anh ta im lặng. Tôi đang đặt câu hỏi đối với một giới luật cơ bản của đạo Phật, nguyên tắc về sự vô tư lự. Vì không có động vật nào bị giết nên chúng trông như thể sắp chết đói, chuột cũng vậy, có rất nhiều chuột ở Miến Điện) cùng tồn tại với chó, mà có lẽ chó đã tận diệt mèo khỏi nước này. Người Miến Điện cởi giày và tất để đi vào những ngôi đền linh thiêng nhưng rồi chính họ nhổ nước bọt và vẩy tàn thuốc lá xuống nền - họ không thấy có gì mâu thuẫn ở đây. Họ như thế nào nhỉ? Miến Điện là một nước theo chủ nghĩa xã hội khét tiếng quan liêu. Song chính sự quan liêu này lại có bản chất Phật giáo, không chỉ ở chỗ cần phải là một Phật tử để khoan dung đối với sự quan liêu đó, mà còn ở chỗ cái trì trệ quan liêu của Miên Điện đã thường xuyên khuyến khích lối mộ đạo truyền thống - một cán bộ nhà nước và một nhà sư có những điểm chung là ít vận động và mỉm cười vô tư lự nhất trần đời. Không có vấn đề gì xảy ra ở Miến Điện, mà thật ra người ta cũng chẳng mong đợi điều gì xảy ra ở đây. Tám giờ đồng hồ đã trôi qua kể từ khi chúng tôi rời Rangoon, trưởng tàu, một người nếu ở trên các tàu khác thì đã đi soát vé hoặc sai một ai đó quét lại những hàng ghế đầy rác, thì trên tàu này vẫn ngồi trong một quầy nhỏ gần cái nhà vệ sinh bốc mùi tởm lợm, cho băng cát xét vào máy. Không có nước trên tàu, những cánh cửa lỏng lẻo va đập vào nhau; quạt thì hỏng và lôi đi như một cái máng toàn xương gà, vỏ tôm và lá cọ nhớp nháp. Nhưng hệ thống khuếch đại âm thanh trên tàu lại hoạt động với công suất ngoài mong đợi, phát ra cái thứ âm nhạc khàn khàn suốt trên đường đến Mandalay. Đến buổi chiều thì động cơ bị hỏng. Người đàn ông ngồi cạnh tôi, một cảnh sát với sự bình tĩnh điển hình nói rằng: “Dầu bị nóng quá. Họ đợi cho dầu nguội bớt.” Rõ ràng là câu hỏi của tôi làm đau lòng ông ta và ông ta cam đoan với tôi rằng chuyến tàu sẽ tới nơi vào lúc bảy giờ: “Nếu không phải bảy thì chắc chắn là tám giờ.” Ở Thazi, khi tàu hỏng đến lần thứ tư ông ta nói: “Đây là một chuyến tàu chậm. Bẩn và cũ - ghế cũ, động cơ cũ. Chúng tôi chẳng có ngoại hối.” “Nhưng chẳng cần nhiều ngoại hối để mua một cái chổi quét.”
- “Cũng có thể như thế.” Tôi lang thang trong nhà ga, nghe thấy tiếng sáo, chiêng và tiếng trống dây lắc lộp bộp, trên con đường gần đường ray, một toán người xuất hiện trong ánh sáng kỳ lạ của bầu trời đỏ rực. Toán này đi đến hàng rào bên đường ray rồi dàn thành một hình bán nguyệt quanh một cô bé nhỏ nhắn không quá mười tuổi. Cô bé vén xà rông lên để có thể cử động dễ dàng, đầu đội một chiếc mũ thanh tú có gắn tràng hạt. Âm nhạc nổi lên rồi lại tắt, om sòm và lặp đi lặp lại, cô bé uốn tay rồi bắt đầu nhảy múa; cô quỳ gối xuống, nhấc một chân này lên rồi chân kia với một chuyển động dứt khoát, sự nhanh nhẹn đã làm cho điệu múa trở nên duyên dáng. Hành khách quay ra nhìn, rít xì gà từ cửa sổ của con tàu đứng im hoặc đi tản bộ gần hơn đến sân ga. Điệu múa này là dành cho hành khách; không có tiếng nói chuyện - chỉ có tiếng nhạc ngân vang và cô bé đang múa ở nơi trống trải này. Màn biểu diễn tiếp diễn có lẽ trong khoảng mười phút, rồi đột ngột chấm dứt, toán người kéo nhau đi mất, tiếng sáo vẫn réo rắt, tiếng trống vẫn kêu. Đó là một phần của chu trình sinh hoạt ở Miến Điện: sự cố hỏng tàu và việc phải dừng lại trở nên dịu đi với âm nhạc du dương, một bầu trời đáng yêu, một cô bé nhảy múa và rồi tàu lại bất ngờ đi tiếp. Chúng tôi đi nốt phần đường còn lại đến Mandalay trong bóng đêm, tới nơi lúc tám rưỡi tối; khi đó những người đang tham gia lễ hội Kathin đã mang lại sự sôi động cho nhà ga với những tay chơi trống cuồng nhiệt và những vũ công xinh đẹp, họ chen chúc trong đám đông những người họ hàng đến đón người thân, lao vào ôm hôn người thân xuống tàu. Tôi tìm đường đi tới văn phòng của trưởng ga và được một ông già đội mũ lưỡi trai chào đón nồng nhiệt cứ như là đang chờ tôi vậy. Ông ta hỏi hộ chiếu của tôi, cần mẫn ghi lại tên rồi hỏi đích đến của tôi. “Có chuyến tàu đi Maymyo vào bảy giờ sáng mai đấy,” ông nói. Ở một đất nước mà tất cả các chuyến tàu đều khởi hành vào lúc bảy giờ thì không cần thiết phải có những lịch trình tàu in sẵn. “Tôi muốn mua một vé.” “Quầy vé đóng cửa rồi. Mai sáu giờ ông tới nhé. Đích đến cuối cùng của ông là ở đâu?” “Sau Maymyo tôi muốn đến Gokteik. Để xem cây cầu cạn.” “Du khách nước ngoài bị cấm đến xem cầu cạn.” Có thể ông ta đang cảnh cáo tôi không được làm ô uế một ngôi đền linh thiêng.
- “Vậy thì tôi đi Lashio.” “Tới đó cũng bị cấm, Lashio là một khu vực an ninh. Ở đó có phiến quân nổi loạn.” “Ý ông là tôi phải ở lại Maymyo?” “Maymyo là một nơi đẹp mà. Tất cả những người nước ngoài đều thích Maymyo.” “Tôi muốn đi đến Gokteik.” “Tệ quá. Sao ông không đến Pagan?” “Tôi từng ở Pagan rồi.” “Hoặc là hồ Inle. Họ có một khách sạn ở đấy.” “Tôi muốn đi tàu.” “Thế tại sao ông không đi tàu quay lại Rangoon đi?” người trưởng ga hỏi. Ông ta bắt tay tôi và dẫn tôi ra cửa. Ở bên ngoài là Mandalay. Đây là một thành phố dưới thấp rộng bao la, nhiều bụi tới mức đèn lồng trên những chiếc xe ngựa và đèn hiệu của những chiếc xe buýt bằng gỗ bật sáng như thể trong sương mù dày đặc. Thành phố rộng lớn nhưng chẳng có gì hay ho; pháo đài thì không được vào; các tu viện đã bị đốt phá và ngôi đền trên đỉnh đồi Mandalay thì hiện đại chẳng có gì thú vị. Mandalay là một cái tên kỳ diệu, nhưng còn hơn thế một chút. Thơ của Kipling như thế nào nhỉ? Ờ thì thực tế là Kipling chưa đặt chân đến đây bao giờ, trải nghiệm về Miến Điện của ông chỉ giới hạn trong vài ngày năm 1889, khi tàu của ông dừng ở Rangoon. Mandalay có hai khách sạn, một rẻ, một đắt. Cả hai đều thiếu tiện nghi nên tôi chọn cái rẻ hơn. Người quản lý nói rằng họ không còn phòng nào. Anh ta cau mày mệt mỏi và nóng lòng muốn tôi biến đi. Tôi hỏi: “Nhưng tôi sẽ ngủ ở đâu?” Anh ta cân nhắc về vấn đề này rồi dẫn tôi tới một phòng, than vãn rằng anh ta đến khổ với một cuộc hội thảo về bệnh phong được tổ chức trong khách sạn này (“Họ cứ đòi hết cái này đến cái kia”). Tôi hỏi có thức ăn không. Anh ta nói không còn và chứng minh bằng việc chỉ cho tôi xem căn bếp trống không. Tôi ăn quả chuối mua ở Thazi và cảm ơn anh quản lý đã bố trí phòng cho tôi. Anh ta là một người Miến Điện tốt bụng. Anh ta đã không thể đuổi tôi đi, mặc dù không muốn tôi ở lại. Anh ta cho tôi một chỗ trú chân nhỏ nhưng không có thực phẩm, theo nghĩa đen, anh ta đối xử với tôi như một kẻ hạ đẳng, với một sự tôn trọng xen lẫn đố kỵ.
- Chương 18. Tàu chợ đi Maymyo Châu Á chào buổi sáng bằng việc giặt giũ hăng say như đánh nhau. Chuyến tàu sớm đưa bạn đi qua những người dân và thấy họ giặt cứ như thể đang luyện tập chuẩn bị cho một tội ác nào đó - người Pakistan giũ đống quần áo ướt sũng bằng gậy, người Ấn Độ quật đống dhoti vào đá như thể đang đập đá (đây là cách mà Mark Twain định nghĩa người Ấn Độ), trong khi những người Ceylon thì mắm môi mắm lợi vắt kiệt khăn lungi. Ở Thượng Miến Điện, phụ nữ ngồi xổm thành từng nhóm thì thầm với nhau một cách rất bí ẩn bên những dòng nước sủi bọt, đập phẳng đồ giặt của họ bằng những mái chèo gỗ to, lũ trẻ con lom khom loạng choạng ai giữa những khe đá, những cô gái ngực nhỏ, quấn xà rông đến nách một cách e lệ và giản dị, đội những thùng nước trên đầu. Trời còn âm u nhiều mây và bắt đầu có sương mù khi chúng tôi rời Mandalay, lão già đặt một bọc vải gọn gàng trên đầu gối ngồi cạnh tôi cứ nhìn vào các cô gái đang tắm. Nhúng những lọn tóc vào thùng Dày như bờm ngựa, mướt đen và bóng loáng - Làm sao không thấy đôi mắt đục lão già rực sáng Ngời ngời như mắt tên cướp Barbary (Sáng như thế, nếu hắn để người ta nhìn thấy) Phút chốc, tôi đã nghĩ đến việc nhảy khỏi tàu, rồi cầu hôn, vứt bỏ cả cuộc đời để theo một trong những tiên nữ ấy. Nhưng tôi vẫn ngồi yên trên ghế. Những dòng suối cuồn cuộn, bọt tung trắng xóa, cho thấy đã có mưa lớn trước đó; chúng tôi đã bỏ lại cái nóng chảy mỡ cùng hàng cây cọ đầy bụi bặm ở Mandalay, đi lên sườn núi qua những rừng thông, nơi những ngôi chùa có đỉnh tháp mạ vàng, mô phỏng hình dáng của cây thông, vươn lên từ cánh rừng xanh thẳm. Một đám mây trắng như quả khí cầu dừng lại trên một nhà ga, chúng tôi đi ra khỏi đó và bắt gặp những người dân lam
- lũ hơn, toàn thân lấm lem bùn đất, gánh những chiếc thùng trên vai. Một cơn mưa nhỏ bắt đầu rơi và đoàn tàu đi chậm đến mức tôi có thể nghe thấy tiếng những giọt mưa tí tách trên cây lá mọc bên đường ray. Tại các nhà ga đầu tiên nằm trên dốc núi, những người đàn bà bê khay bán đồ ăn sáng cho hành khách: cam, đu đủ cắt lát, bánh rán, lạc và chuối. Một cô bán một thứ gì đó nâu bóng như hạt gì đó. Tôi ra hiệu gọi cô ta lại gần để xem là thứ gì. Đó là những con côn trùng béo ngậy bị xiên vào que - châu chấu chiên. Tôi hỏi ông già ngồi cạnh tôi xem ông có thích một ít không. Ông trả lời lịch sự rằng ông đã ăn sáng rồi và dù sao thì ông không bao giờ ăn côn trùng. “Nhưng những người địa phương thì rất thích ăn chúng.” Hình ảnh những con châu chấu chiên đã khiến tôi chán chẳng muốn ăn uống gì, nhưng một giờ sau đó cơn đói trở lại dữ dội như dông bão. Tôi đứng gần cửa bắt chuyện với một người Miến Điện đang trên đường đi Lashio thăm gia đình. Anh ta cũng đang đói. Anh ta nói rằng chúng tôi sắp đến một ga có thể mua thức ăn. “Tôi thích uống chút trà,” tôi bảo. “Nhưng tàu dừng nhanh lắm - chỉ vài phút thôi.” “Nghe này, sao anh không đi mua thức ăn còn tôi kiếm đồ uống gì đó nhỉ? Như thế đỡ tốn thời gian hơn.” Anh ta đồng ý, nhận lấy ba kyat tôi đưa, và khi tàu dừng thì chúng tôi nhảy ra - anh ta đi tới quầy thực phẩm, tôi đi tới một khu tường rào treo nhiều chai lọ. Người bán hàng rong giải thích với một nụ cười xin lỗi rằng tôi không thể mang cốc trà của anh ta đi, vì vậy tôi uống một cốc tại chỗ và mua hai chai soda. Khi lên tàu tôi không thể tìm thấy anh người Miến Điện kia đâu, cho tới tận sau khi tàu bắt đầu lăn bánh thì anh ta mới xuất hiện, thở không ra hơi, mang đến hai gói lá cọ buộc dây. Chúng tôi mở nắp chai bằng bản lề cửa, đứng thích khuỷu tay vào với nhau ở cuối toa và mở các gói lá cọ ra. Có gì đó giống nhau ở bên trong, một xiên gỗ với ba vật đen ngòm cắm vào - đó là các miếng thịt cháy. Không chỉ là các xiên thịt này được tạo hình không đúng cách, mà đúng ra là chúng được tạo hình sai theo cách y hệt nhau. Các xiên thịt được nhồi giữa một nắm cơm. “Tiếng Miến Điện chúng tôi gọi đó là ” Anh ta nói ra từ trong tiếng Miến Điện. Tôi săm soi mấy xiên thịt. “Có phải từ đó là cánh?” “Vâng, đây là thịt chim.” Và rồi tôi thấy những cái đầu bé tí, cái mỏ, những đôi mắt cháy rụi và những cái móng sém đen trên cái chân khẳng khiu.
- “Anh có thể gọi đây là thịt chim sẻ,” anh ta nói. Có thể chúng tôi gọi đây là chim sẻ, nhưng tôi nghĩ sao chúng trông bé đến thế khi không có lông. Anh ta rút một con ra khỏi cái xiên, tọng cả vào mồm và gặm rau ráu đầu, chân, cánh, cả con chim; anh ta vừa nhai vừa mỉm cười. Tôi véo một miếng thịt nhỏ từ con chim sẻ của tôi ăn thử. Vị cũng không tồi, nhưng thật khó để ăn một con chim sẻ ở Miến Điện mà không bị những con chim bay nhanh như tên bắn riếc móc. Tôi liều ăn cơm vậy. Tôi quay trở lại chỗ ngồi, vì vậy anh kia không nhìn thấy tôi vứt chỗ thịt chim còn lại đi. Ông già ngồi cạnh tôi hỏi: “Cậu nghĩ tôi bao nhiêu tuổi. Đoán đi.” Tôi nói sáu mươi trong khi nghĩ ông bảy mươi. Ông lão ngồi thẳng lên. “Sai rồi! Tôi tám mươi nhé. Thế này, tôi đã qua sinh nhật lần thứ bảy chín, tức là tôi đang ở tuổi tám mươi.” Đoàn tàu hết lùi lại tiến trên những khúc đường cong đột ngột như những đoạn trên đường từ Simla đi Landi Kotal. Tàu thường dừng lại mà chẳng có lý do rõ ràng gì, rồi sau đó lại khởi hành mà không kéo còi cảnh báo; những người Miến Điện nhảy ra ngoài đi giải phải chạy đuổi theo đoàn tàu, họ vén xà rông lên chạy dọc đường ray trong khi bạn bè trên tàu hò hét. Sương mù, cơn mưa và những đám mây lạnh sà xuống thấp khiến người đi tàu cảm thấy như đang trong buổi sáng sớm, trời lờ mờ và lạnh như trước lúc bình minh, trời cứ thế này kéo dài tới tận trưa. Tôi mặc thêm áo sơ mi bên ngoài áo len, rồi thêm một cái áo ấm và một cái áo mưa ni lông, nhưng tôi vẫn thấy lạnh, không khí ẩm ngấm vào đến tận xương. Đây là lúc tôi cảm thấy lạnh nhất kể từ khi rời khỏi Anh quốc. Đột nhiên ông lão nói: “Tôi sinh ra ở Rangoon năm 1894. Cha tôi là người Ấn Độ, nhưng theo Công giáo. Vì vậy tôi được gọi là Bernard. Cha tôi là một quân nhân trong Quân đội Ấn Độ. Ông cả đời làm lính - tôi đồ rằng ông tham gia quân đội ở Madras vào những năm 1870. Ông phục vụ trong Trung đoàn Bộ binh 26 Madras và theo trung đoàn đến Rangoon năm 1888. Tôi từng có ảnh của ông, nhưng khi bọn Nhật chiếm Miến Điện - tôi chắc là anh đã nghe về cuộc chiến chống Nhật - tất cả tài sản của chúng tôi bị tiêu tán hết, chúng tôi đã mất rất nhiều thứ.” Ông lão rất háo hức nói chuyện, vui mừng vì có một người lắng nghe, chẳng cần hỏi gợi chuyện. Ông nói rất từ tốn, búng vào gói vải mỗi khi nhớ ra một câu, còn tôi thì tự ôm lấy mình trong cái lạnh và vui mừng rằng tất cả những gì ông lão cần ở tôi chỉ là thi thoảng tôi gật đầu một cái để bày tỏ mình quan tâm. “Tôi chẳng nhớ nhiều về Rangoon, chúng tôi chuyển đến Mandalay khi tôi còn rất trẻ. Tôi còn nhớ gần như mọi thứ từ năm 1900 đến nay. Ông MacDowell, ông Owen, ông Stewart, đại úy Taylor - tôi đã làm việc cho những người đó. Tôi là bếp trưởng trong nhà
- bếp sĩ quan Pháo binh Hoàng gia, nhưng tôi còn làm nhiều hơn là việc nấu nướng - tôi làm mọi thứ. Tôi đã đi khắp Miến Điện, phục vụ trong các trại khi họ ở trên chiến trường. Tôi có trí nhớ tốt. Tôi nghĩ thế. Ví dụ, tôi nhớ ngày Nữ hoàng Victoria băng hà. Tôi đang học lớp nhì Trường thánh Xavier ở Mandalay. Ông giáo nói với chúng tôi: ‘Nữ hoàng đã băng hà, nên hôm nay các em được nghỉ học.’ Khi đó, tôi - bao nhiêu nhỉ? - lên bảy tuổi. Tôi là một học sinh giỏi. Tôi làm bài tập, nhưng khi tôi không học nữa thì chẳng có gì để làm. Năm 1910 tôi mười sáu tuổi và nghĩ mình nên kiếm việc trong ngành đường sắt. Tôi muốn trở thành một người lái tàu. Tôi muốn lên một đầu máy, đi tới tận vùng Thượng Miến Điện. Nhưng rồi tôi thất vọng. Họ bắt chúng tôi đội những thùng than lên đầu. Đó là một công việc rất vất vả, cậu không thể tưởng tượng được đâu - nóng lắm - và tên quản lý chúng tôi, là Vander gì đó, người lai Anh-Ấn. Hắn quát chúng tôi, tất nhiên vào mọi lúc; chỉ được nghỉ có mười lăm phút để ăn trưa mà hắn cũng vẫn quát. Hắn béo và chẳng tử tế gì với chúng tôi. Hồi đó có rất nhiều người lai Anh-Ấn làm việc trong ngành đường sắt. Có lẽ tôi nên nói hầu hết bọn họ là người lai Anh-Ấn. Tôi đã tưởng tượng mình sẽ lái đầu máy và giờ đây tôi đang tải than! Công việc này quá nặng nhọc với tôi, nên tôi bỏ đi.” “Tôi rất thích công việc tiếp theo. Trong nhà bếp sĩ quan của Pháo binh Hoàng gia. [45] Tôi vẫn còn một vài giấy chứng nhận, trên đó có ghi chữ RA . Đầu tiên tôi phụ giúp đầu bếp rồi tôi trở thành đầu bếp. Ông đầu bếp tên Steward chỉ cho tôi cách gọt rau củ theo nhiều kiểu khác nhau, cách làm xa lát, cốc tai hoa quả, bánh kem xốp và các kiểu pha thịt. Khi đó là năm 1920 và là quãng thời gian đẹp nhất ở Miến Điện. Sau này chưa bao giờ được như thế. Hồi đó có rất nhiều thực phẩm, mọi thứ đều rẻ và thậm chí sau Thế chiến I mọi việc vẫn rất tốt đẹp. Chúng tôi còn chẳng biết đến Thế chiến I ở Miến Điện; chúng tôi chẳng nghe thấy gì về nó - chúng tôi không cảm thấy nó. Tôi chỉ biết chút ít về cuộc chiến vì nó liên quan đến anh trai tôi. Anh ấy chiến đấu ở Basra - tôi chắc cậu biết nơi đó Basra, ở vùng Lưỡng Hà. “Vào lúc đó tôi kiếm được hai mươi lăm rupi mỗi tháng. Nghe thì có vẻ không nhiều, đúng không nhỉ? Nhưng, cậu biết không, tôi chỉ mất có mười rupi để trang trải cuộc sống - tôi dành dụm chỗ còn lại và sau đó tôi mua một nông trại. Khi được trả lương, tôi được một đồng bảng vàng và một tờ mười rupi. Một đồng bảng vàng có giá trị bằng mười lăm rupi. Nhưng phải ví dụ để cho anh thấy mọi thứ rẻ như thế nào, một cái áo sơ mi chỉ [46] có giá là bốn anna , thực phẩm thì dồi dào và cuộc sống rất dễ chịu. Tôi kết hôn và có bốn đứa con. Tôi làm việc ở nhà bếp sĩ quan từ năm 1912 đến tận năm 1941, khi quân Nhật tới. Tôi yêu công việc của mình. Tất cả các sĩ quan đều biết tôi và tôi tin là họ tôn trọng tôi. Họ chỉ nổi cáu khi có việc gì dó chậm trễ. Mọi thứ phải được làm đúng thời hạn và tất nhiên khi không đúng thời hạn - nếu có sự chậm trễ - thì họ sẽ rất giận dữ. Nhưng chẳng có ai trong số họ tàn ác với tôi cả. Suy cho cùng, họ là sĩ quan - sĩ quan quân đội Anh quốc, cậu biết đấy - họ có tiêu chuẩn ứng xử tốt. Trong suốt thời gian đó, bất cứ khi nào dùng bữa, họ mặc đầy đủ quân phục, đôi khi có khách hoặc các phu nhân dự thì họ mặc dạ phục, đeo nơ đen. Còn các quý bà thì áo choàng dài. Tha thướt như những cánh bướm. Tôi cũng có đồng phục của mình, áo vest trắng, nơ đen và giày mềm - cậu biết cái kiểu giày mềm đó đấy. Chúng không phát ra tiếng động nào cả. Tôi có thể đi vào trong
- phòng mà không ai có thể nghe thấy tôi. Người ta không làm loại giày đó nữa, cái loại không phát ra tiếng động ấy mà.” “Mọi việc cứ diễn ra như vậy trong vài năm. Tôi nhớ một đêm ở nhà ăn, Tướng quân Slim đến dự ở đó. Anh biết ông ấy đấy. Và cả Phu nhân Slim. Họ bước vào tận trong bếp. Cả Tướng quân và Phu nhân Slim, một số người khác nữa, các sĩ quan và phu nhân của họ. Tôi đứng nghiêm. Phu nhân Slim hỏi tôi: ‘Anh là Bernard?’ Tôi trả lời: ‘Vâng thưa Quý bà.’ Bà ấy nói rằng bữa ăn hôm đó tuyệt ngon. Hôm đó có món thịt gà phủ xốt bóng, rau và bánh xốp kem. Tôi đáp: ‘Rất vui vì Quý bà hài lòng.’ Tướng quân Slim nói: ‘Thế mới là Bernard chứ’ và họ đi ra ngoài.” “Ngài Tưởng Giới Thạch và Tưởng phu nhân cũng từng tới đó. Ngài ấy rất cao và không nói lời nào. Tôi phục vụ họ. Họ ở lại hai ngày - một đêm và hai ngày. Và ngài Toàn quyền tới - Huân tước Curzon. Rất nhiều người đã tới - Công tước xứ Kent, những người từ Ấn Độ và một vị tướng khác - tôi sẽ có nhớ ra tên ông này.” “Rồi người Nhật tới. Ôi, tôi còn nhớ việc này rất rõ! Nó như thế này. Tôi đang đứng trong bụi cây gần nhà - bên ngoài Maymyo, ở chỗ ngã ba đường. Tôi mặc một cái áo may ô và quần thụng longyi, như người Miến Điện vẫn mặc. Cái xe to lắm, với một lá cờ trên nắp ca pô - quốc kỳ Nhật, mặt trời mọc, đỏ và trắng. Xe dừng lại ở ngã ba. Tôi không nghĩ họ nhìn thấy tôi. Một người gọi tôi lại gần. Ông ta nói gì đó với tôi bằng tiếng Miến Điện. Tôi nói: ‘Tôi biết nói tiếng Anh đấy ạ.’ Quý ông người Nhật kia nói ‘Anh là người Ấn à?’ Tôi thưa vâng. Ông ta tự nắm tay vào nhau như thế này rồi nói, ‘Ấn Độ - Nhật Bản. Bằng hữu!’ Tôi mỉm cười với ông ấy. Tôi chưa bao giờ đến Ấn Độ trong đời mình. Có một vị quan rất to trên xe. Ông ấy chẳng nói gì, nhưng ông kia nói ‘Đây có phải đường đi Maymyo không?’ Tôi nói chính là đường đó. Họ lái xe đi tiếp, leo lên trên đồi. Quân Nhật tiến vào Maymyo như thế đấy.”
- “Vợ tôi mất. Năm 1941 tôi tái hôn và có thêm ba thằng con trai, John Henry, Andrew Paul và năm 1945 có thêm thằng Victor. Cậu biết đấy, tên là Victor, vì chiến tranh đã kết thúc. Tôi cố gắng nghỉ hưu. Tôi đã già đi, nhưng chính phủ Miến Điện lại triệu đến tôi mỗi khi có dạ tiệc ở Mandalay. Tôi chưa từng tới Rangoon kể từ năm 1944 hay 1945 gì đó, dù tôi đã đến Mandalay rất nhiều lần. Giờ tôi đi từ đó tới đây. Hai đêm trước có một dạ tiệc, một món nướng nhiều thịt, hai món rau. Không hoành trang như Dạ tiệc Chiến thắng. Tôi chịu trách nhiệm tổ chức toàn bộ Dạ tiệc Chiến thắng năm 1945 - cho hai trăm người. Chúng tôi khai vị với xúp kem rau, rồi cá hồi trộn mayonnaise, gà quay, các món rau, khoai tây chiên và luộc, cả nước xốt nữa. Bữa ăn kết thúc với bánh xốp kem và một món mặn. Ừ, món mặn thì là cái gì chẳng được, nhưng nhân dịp đó là món Kỵ sĩ Quỷ. Thăn lợn và pho mát được quấn quanh một miếng bánh mì và cố định bằng một cái tăm. Mọi người đều vui sướng trong Dạ tiệc Chiến thắng. A, Maymyo đây rồi.” Ở đây nhà mọc lên từ những cái cọc, xung quanh là đám cây trạng nguyên cao khoảng mét rưỡi, hoa đỏ mọc búa xua trông như những chiếc ruy băng lễ hội rung rinh. Rồi, qua một đền thờ và một tu viện với những tấm gỗ bị gió mưa biến thành màu đồng xỉn, nhiều nhà cửa hơn xuất hiện, một dãy cửa hiệu, một nhà hát, một nhà thờ Hồi giáo trên con phố rộng đầy bùn đất. Nhà ga có khoảng sân rộng chưa được lát và vì trời vẫn đang mưa phùn nên vài chỗ trên sân bị ngập nước, những chỗ còn lại bị giày xéo thành một thứ bùn sánh như cháo đặc. Ông Bernard hỏi: “Cậu định trọ ở đâu?” Tôi nói chưa có ý tưởng gì dù là nhỏ nhất. “Vậy cậu nên đến Candacraig,” ông nói. “Tôi là người quản lý - tôi đặt phòng cho cậu nhé?” “Vâng,” tôi nói. “Sau đấy cháu còn đi tiếp - cháu phải mua vé đi Gokteik.” Trong lúc đi tìm phòng vé, tôi bước nhầm vào phòng điều hành radio, trong đó một người lai Á-Âu râu quai nón đeo cà vạt vàng, mái tóc chải xuống gọn gàng đang ngồi nghe tín hiệu Moóc và viết nguệch ngoạc lên một tập giấy. Anh nhìn tôi và đứng dựng dậy, bắt tay tôi. “Liệu tôi có thể giúp gì được anh?” Tín hiệu Moóc vẫn đang tiếp tục. Tôi nói có lẽ anh nên nghe tiếp. “Cũng chẳng quan trọng lắm đâu,” anh đáp. Tôi để ý tập giấy với những nét bút chì viết chữ Miến Điện. “Họ gửi cho anh tín hiệu Moóc tiếng Miến à?”
- “Tại sao không chứ?” Anh giải thích rằng tiếng Miến Điện có ba mươi sáu chữ cái, nhưng thỉnh thoảng họ gửi tín hiệu Moóc theo tiếng Anh. “Làm sao anh biết là họ đang gửi tín hiệu bằng tiếng Miến Điện hay tiếng Anh?” “Giả sử anh đang nhận tín hiệu tiếng Miến Điện. Tín hiệu cứ thế được một lúc. Rồi anh nhận được mười hai chấm. Điều đó có nghĩa sau đó là tiếng Anh. Rồi anh sẽ nhận tín hiệu tiếng Anh. Rồi lại thấy mười hai chấm nữa có nghĩa là họ sẽ quay lại tiếng Miến Điện. Anh hiểu không, tại vì trong tiếng Miến Điện không có những từ như ‘cần pít-tông’ hay ‘trục khuỷu’. Hay đấy chứ.” Anh nói nhanh, điệu bộ có vẻ bồn chồn. Da anh tối màu như người Miến Điện, nhưng cái mũi khoằm và khuôn mặt nhăn nheo như một nông dân người Ý. “Tiếng Anh của anh rất tốt.” “Tiếng mẹ đẻ của tôi mà!” Anh nói tên là Tony. “Thực ra tôi đến phát điên ở cái điểm trung chuyển này. Tôi ở trên Hsipaw cơ, nhưng tôi đến đây vì cái ông tướng làm ở Maymyo bỏ việc. Họ chẳng có người thay, nên tôi cứ phải ở đây tới tận ngày mười chín. Gia đình tôi ở Hsipaw và lẽ ra tôi phải về đó mấy tuần rồi - tôi có sáu nhóc, chúng đang băn khoăn bao giờ bố mới về. Anh định đi đến đâu nhỉ?” Tôi nói với anh rằng tôi muốn đi tàu đến Gokteik, nhưng tôi đã nghe nói là bị cấm. “Chẳng có vấn đề gì. Bao giờ anh muốn đi? Ngày mai à? Có chuyến tàu lúc bảy giờ đấy. Chắc chắn là tôi có thể giúp anh lên tàu. Tôi đoán rằng anh muốn xem cây cầu - nó đẹp đấy. Buồn cười nhỉ, chẳng có mấy ai đi lên tận đấy. Khoảng một năm trước có một ông mãnh - hắn là người Anh - đi đến Lashio. Bọn lính chặn lại và đuổi hắn xuống tàu ở Hsipaw. Tâm trạng hắn lúc đấy não nề lắm - bị cắt hết mọi mối liên lạc. Tôi bảo hắn đừng lo. Bọn cảnh sát tới và gây phiền hà một chút, nhưng hôm sau tôi cho hắn lên tàu đi Lashio và khi cảnh sát tới vào lúc chín giờ tôi nói ‘Hắn đến Lashio rồi,’ thế là bọn họ chẳng làm được gì cả.” “Thế đến Gokteik có phạm luật không?” “Có thể có, có thể không. Chẳng ai biết cả - nhưng tôi sẽ cho anh lên tàu. Đừng lo.” Anh tiễn tôi ra tới sân trước nhà ga; nơi đó, dưới trời mưa và một khoảng không gian rộng đầy bùn đất, có khoảng ba mươi xe ngựa chở khách đang đỗ - những thùng xe bằng gỗ đã phai màu sơn, cửa xe đều nứt nẻ và những tay phu xe đội mũ rộng vành, khoác áo vải mưa nhựa không tay vút những chiếc roi da cứng lên lũ ngựa đã bị bịt mắt. Lũ ngựa giậm chân, nhiều con đang cố kéo những cỗ xe chất đầy hàng khỏi đống bùn - những cỗ
- xe quá tải với gói, hộp, hòm xiểng chất lên tận nóc và ở cả sáu mặt cửa sổ. Với giá chuyển hướng động cơ hơi nước phía đằng sau, hình ảnh những cỗ xe ngựa gharri - cùng trời mưa, bùn lầy và những người Miến Điện quấn khăn chống lại giá lạnh - đã hoàn chỉnh bức tranh về một thị trấn vùng biên. Một bác phu xe vụng về bước về phía tôi với đôi ủng lấm bùn (những phu xe khác đi xăng đan cao su và một số thì đi chân trần, tuy nhiên tất cả đều mặc áo khoác ngoài nặng trịch), Tony nói với bác này đưa tôi đến Candacraig. Bác phu xe già nhấc bống cái túi của tôi lên trên nóc và phủ nó bằng một miếng bạt cứng trước khi buộc xuống. Tôi chui vào trong cỗ xe bằng gỗ và chúng tôi lên đường, đường xóc nên xe lắc lư; tôi ngồi thẳng lưng, nhìn màn mưa trên những con phố rộng của Maymyo với những hàng cây bạch đàn. Những căn nhà gỗ xiêu vẹo, những căn nhà xây bằng gạch trông cổ kính mà mong manh trong cơn mưa, ở góc phố chính, trước một căn nhà hai tầng bằng gỗ có mái hiên, một cỗ xe ngựa đang rẽ, người đàn ông quất con ngựa khi nó đang chạy nước kiệu sát lề con đường gập ghềnh - trên đường chẳng thấy cái xe ô tô nào - con ngựa hí lên trong thị trấn mưa gió tối tăm, trong ánh sáng le lói mờ mịt giữa cơn dông bão trên con phố ướt át, ngay trước các cửa hàng Trung Quốc, Tiệm may [47] Thượng Hải và Nhà hàng Charlie. Cảnh tượng trông giống như một bức vẽ Klondike bằng mực sepia, màu nâu và tĩnh lặng, tưởng như đã trải qua một thế kỷ như vậy mà không có gì chuyển động ngoài việc cận cảnh có hình ảnh con ngựa đen nhạt nhòa đang kéo xe trong mưa. Candacraig ở phía trên thị trấn, trên đỉnh núi Tây, cách nhà ga gần năm ki lô mét. Ở đây, nhà cửa đều to, với những tòa tháp và mái nhà lợp bằng đá, những viên gạch trở nên đỏ quạch trong mưa, đó là nhà cũ của những viên chức dân sự người Anh, họ đến Maymyo khi thủ đô được chuyển tới đây vào máy tháng mùa hè. Chúng tôi đi qua những tòa nhà mang tên Cây Thông, Nhà Đỉnh núi và Cảnh Rừng; Candacraig nằm ở trên đỉnh một quả đồi nhỏ, giống như một biệt thự ở Newport hay Eastbourne, có cổng vòm, mái hiên đầu hồi và phía trên cửa là một dàn thường xuân uốn theo cửa được tỉa tót gọn gàng. Tôi trả tiền cho bác phu xe rồi đi vào sảnh cao như chính tòa nhà. Những căn phòng chạy dọc phía trên sảnh, theo một hành lang được cắt bởi một cầu thang đôi hình đàn lừa vươn lên tới tận đầu hành lang. Phía trên lò sưởi ốp gỗ tếch là một cái quầy trống trơn; những bức tường cũng trống trơn, sàn nhà được lau bóng phát ra ánh sáng dịu, lan can cầu thang sáng bóng; trong một gian sảnh bằng gỗ rộng lớn như thế này mà lại không có đồ trang trí gì. Nó trống rỗng. Có mùi sáp. Tôi gõ nhẹ lên quầy. Một người đàn ông xuất hiện. Tôi đã nghĩ đó là ông Bernard, nhưng lại là một người đàn ông đeo kính dày, không phải người Ấn Độ hay người Miến Điện, với bộ răng hô nổi bật và đôi bàn tay to lớn ngượng nghịu. (Sau này tôi được biết anh ta là người Ceylon, nhưng có thể xem như anh ta bị bỏ rơi lại xứ Thượng Miến Điện này ba mươi năm rồi). Anh ta nói rằng ông Bernard đã bảo là tôi sẽ tới, rằng tôi là người khôn ngoan nên sẽ đến Candacraig - những khách sạn khác ở Maymyo thì chẳng có trang thiết bị gì cả.
- “Họ không có trang thiết bị gì cơ?” “Xà phòng ạ, thưa Quý ông.” “Không có xà phòng ấy à?” “Không ạ, thưa Quý ông. Và không có cả chăn, ga trải, khăn tắm và đôi khi còn chẳng có cả thực phẩm. Họ chẳng có gì cả. Họ chỉ có một chỗ cho khách ngả lưng nhưng chẳng có thêm gì khác, thưa Quý ông,” anh ta quay ra nói với ông Bernard vừa bước vào phòng, “Con đã bố trí Quý ông đây vào Phòng số 10.” Ông Bernard đưa tôi đến phòng, xúc một xẻng đầy than nóng nhóm lửa trong lò sưởi và luôn miệng kể về Candacraig. Tên của khách sạn được đặt theo kiểu Scotland, địa điểm này thực sự là một “khu nhà tập thể” dành cho những viên chức chưa kết hôn của Công ty Thương mại Bombay - Miến Điện, nhằm tránh cho các anh chàng này khỏi những rắc rối của mùa nóng sau những tháng làm việc tại các lâm trường xa xôi: ở đây họ có thể tắm nước lạnh, chơi bóng bầu dục, cricket và polo. Đế chế Anh hoạt động dựa trên một lý thuyết rằng độ cao sẽ xốc dậy tinh thần. Ông Bernard cứ tiếp tục nói. Cơn mưa giội vào cửa sổ và tôi có thể nghe thấy nước chảy khắp mái nhà. Nhưng ngọn lửa đã cháy rực và tôi đang ngồi trên ghế bành, hơ đôi chân, hút tẩu và mở tập thơ của Browning ra. “Cậu có muốn tắm nước nóng không?” Ông Bernard lịch thiệp hỏi tôi, “Thế thì rất tốt, tôi sẽ sai con trai tôi mang mấy xô lên. Mấy giờ thì cậu muốn ăn tối? Tám giờ à. Cảm ơn cậu. Cậu có muốn uống chút gì không? Tôi sẽ tìm một chút bia nhé. Cậu có thấy căn phòng ấm áp thế nào không? Phòng rộng nhưng lửa sưởi rất tốt. Tiếc là trời ngoài kia lại mưa rét. Nhưng ngày mai cậu sẽ lên tàu đi Gokteik mà. Chúng tôi từng đóng trại ở đó - Pháo binh Hoàng gia Anh ấy mà. Ở Gokteik thì không có gì để ăn đâu, nhưng tôi sẽ làm cho cậu một bữa sáng ngon và khi cậu về thì trà đã sẵn sàng. Ở đây thật thoải mái, nhưng ở trên ấy thì chỉ có rừng thôi.” Đêm hôm đó tôi ăn tối một mình, dưới ánh nến, tại một cái bàn ăn khổng lồ. Ông Bernard đã bố trí chỗ của tôi gần lò sưởi. Ông đứng cách tôi một quãng, không nói một lời, lướt qua lần này đến lần khác để chuốc thêm đồ uống vào cốc của tôi hoặc bưng đến món mới. Tôi nghĩ rằng tôi cũng gan lì như người đứng kế bên tôi, nhưng tôi có một phần nào đó trong mình - có khi cũng chính là phần thích đi tàu hỏa - tận hưởng các chuyến đi chỉ vì những lần nghỉ chân dễ chịu trên đường, một kẻ lười nhác thích hưởng những thú vui bình dân, đi khắp châu Á để thỏa mãn cái thú đó và biện hộ cho niềm vui của mình bằng khoảng cách đi được. Vậy là tôi đã đi tận bốn mươi nghìn ki lô mét để tới đây, nằm lười nhác ở Maymyo, hơ mông sưởi ấm và mỗi lần được người ta phục vụ thì lại quên mất [48] chỗ đang đọc dở trong tập Bishop Blougram’s Apology (Lời xin lỗi của Bishop Blougram): tôi là người khách duy nhất trong căn biệt thự hai mươi phòng ở Miến Điện này.
- Chương 19. Tàu thư vận Lashio Buổi sáng sớm ở một góc của Maymyo, một khoảng đất trống phía trên rừng thông, ba mươi người đang đứng tại những dãy ghế dài bằng gỗ tếch thơm phức của Nhà thờ Dòng Vô nhiễm hát bài “Kyrie” trong bộ Thánh ca Missa di Angelis. Tôi đi dọc con đường qua những tán cây ướt đẫm sương để tới nơi có tiếng thánh ca ngọt ngào như đang cầu khẩn, Lễ Cả Thánh Gregory mà tôi đã biết hai mươi năm trước vào một mùa hè khi tôi còn nhàn rỗi và sùng đạo. Cứ như thể tôi đang nghe thấy giọng mình thời trẻ trong dàn đồng ca ấy, thật dũng cảm với tâm hồn trinh nguyên chưa một lần bị đe dọa, ở tuổi mười hai, đang xin được rủ lòng thương tha thứ cho những tội lỗi vụng về con trẻ nào đó. Sau khi nhớ về cậu bé ngày đó, tôi ở lại xem Lễ Tấn phong, tôi đứng đằng sau một người Miến Điện nghèo mặc quần buộc gấu quỳ xuống cầu xin trên những viên ngói cứng. Khi tôi đi, linh mục run run hát bài “Paster Noster”, tiếng hát cứ lượn theo tôi tới tận con đường, nơi các thầy tu tập sự, là những trẻ em mặc váy vàng, râu tóc cạo sạch và đi chân trần, khẩn trương trên đường đi đến tu viện, tay ôm lấy những cái bát sơn mài màu đen. Khách đi Lashio đang đổ về nhà ga: một cuộc diễu hành huyên náo của những cỗ xe tonga và xe ngựa chạy tuyến diễn ra dọc theo đại lô mọc đầy những cây bạch đàn; những phụ nữ cầm túi mua sắm chạy, răng ngậm chặt xì gà và đàn ông thì ăn mặc đúng kiểu vùng biên, với ủng và mũ đen, chạy len lỏi giữa những con bò đực đang nặng nhọc kéo những cái xe chở củi đun đi theo chiều ngược lại (củi đã được chẻ ra và trông còn tươi màu của thớ gỗ bị xé). Tôi bỏ lại máy ảnh và hộ chiếu. Tôi cảm thấy tính hợp pháp của chuyến đi đến Goteik có thể không chắc chắn và tôi muốn xuất hiện ở đó như một người đi đường càng ít khả nghi càng tốt. Tony, anh chàng lai Âu-Á đang đợi tôi. Anh cầm ba kyat của tôi và lấy cho tôi một vé đi Naung-Peng, ga sau Gokteik. Anh nói chỗ đấy chẳng có gì ngoài cây cầu ở Gokteik, nhưng ở Naung-Peng có căng tin phục vụ tốt. Chúng tôi băng qua sân ga đầy bùn đi tới toa cuối. Ba người lính mặc đồng phục không giống nhau đứng bên ngoài toa tàu - quân phục chẳng vừa với họ cứ như thể đây là chiến lợi phẩm đoạt được từ những kẻ thù vóc dáng tí hon trong một đêm tối. Họ chuyền cho nhau những miếng cau đã bổ qua nòng những khẩu súng trường đeo lỏng lẻo trên vai. Tony nói với người lính cao lớn nhất bằng tiếng Miến Điện, anh này gật đầu với tôi đầy ẩn ý. Điều làm tôi ngạc nhiên là những cái mũ sứt mẻ, bộ quân phục may sẵn rẻ tiền lại khiến họ có cái vẻ già dặn và can đảm mà ta thường thấy ở những người lính đánh thuê đã kinh qua trận mạc - vẻ luộm thuộm thường bị lẫn với sự dày dạn kinh nghiệm có được qua gian khổ.
- Tony nói, “Anh sẽ an toàn ở đấy. Đi vào toa này này.” Mười năm chiến tranh du kích ở các bang hẻo lánh vùng Thượng Miến Điện, cũng như tình trạng cướp bóc dai dẳng do thổ phỉ gây ra, những kẻ chặn cướp tàu xe bằng súng tự chế, đã khiến cho toa tàu cuối được dành cho các nhóm hộ tống có vũ trang. Họ ngồi trên toa này, những khẩu súng trường Enfields kiểu cũ vứt bừa bãi trên các dãy ghế gỗ, mảnh che tai bằng len trên mũ họ bay lật phật; họ nằm ườn ra, ăn chuối, bổ cau rồi nhổ bã cau ra sàn đỏ choét; và họ hy vọng sẽ bắn được một kẻ phiến loạn hoặc một tên trộm. Người ta nói với tôi rằng chẳng mấy khi họ gặp may như thế. Phiến quân đã bị làm cho nhụt chí và không ra mặt; còn những kẻ cướp thì thừa hiểu về nhóm hộ tống ở toa cuối, đã biết cách càn quét chớp nhoáng vài toa đầu, dùng dao găm đe dọa hành khách và có thể chạy lại vào trong rừng an toàn trước khi binh sĩ kịp chạy lên. Tiếng còi tàu khởi hành khiến bầy quạ bay lên và chúng tôi lên đường, bon bon dọc theo tuyến đường tàu duy nhất. Sương buổi sớm đã biến thành mây mù và mây mù biến thành mưa phùn, nhưng kể cả một lượng mưa đáng kể như vậy đã trút vào toa qua cửa sổ cũng không thuyết phục được bất cứ anh lính nào (đang ăn, đang đọc hoặc đang đùa nhau đánh nhau) đóng cửa chớp lại. Cửa sổ cho mưa vào cũng cho ánh sáng vào: người ta phải chọn giữa ướt nhưng sáng với khô nhưng tối trên những chuyến tàu nội địa. Tôi ngồi ở mép ghế, thấy tiếc vì đã không mang theo thứ gì để đọc, băn khoăn liệu tôi có phạm luật khi đi tới cầu cạn Gokteik và cảm thương những đứa trẻ quần áo ướt sũng đang lội qua những vũng nước lạnh với đôi chân trần. Rồi tàu đi vào một đường tránh và dừng lại. Phía trên là nhà ga, ngôi nhà gỗ một tầng to bằng một ga ra dành cho hai ô tô. Những cái ống trên cửa sổ nhà ga cắm mấy đòa hoa màu cam và màu đỏ mà người Miến Điện gọi là “hoa Maymyo”. Vài người đàn ông trên toa trước xuống tàu đi giải. Hai em gái nhỏ chạy từ trong cánh rừng bên cạnh đường tàu ra để bán những nải chuối đựng trong cái chậu men đội trên đầu. Mười phút trôi qua, một người đàn ông xuất hiện ở cửa sổ vẫy vẫy mẩu giấy, kiểu như một tờ trên tập giấy mà Tony đã chép tín hiệu Moóc. Mẩu giấy được chuyển tới tay người lính cao lớn cầm khẩu Sten, anh này đọc to với giọng khó chịu. Những người lính khác lắng nghe chăm chú; một người quay ra nhìn chằm chằm vào tôi, động tác mau lẹ khiến tôi phát ngượng. Tôi đứng dậy bước về cuối toa tàu, nhưng trước khi tôi bước tới cửa ra, người lính đang xem bức điện - người mà trước đó tôi hỏi có biết nói tiếng Anh không thì anh ta chỉ cười một cách ái ngại - nói rằng “Xin mời ngồi xuống.” Tôi ngồi xuống. Một người lính càu nhàu. Mưa càng to hơn, tạo thành tiếng sôi rào rào trên nóc toa tàu. Người lính đặt khẩu Sten xuống và đi về phía tôi. Anh ta đưa cho tôi xem bức điện. Nó được viết bằng bút chì, từng dòng từng dòng bằng tiếng Miến Điện giống như mật mã trong câu chuyện “Cuộc phiêu lưu của những người đàn ông nhảy múa”. Nhưng giữa tất cả “những người đàn ông nhảy múa” trên trang giấy, những người xoay đầu vặn tay khua
- chân, cả mấy từ tiếng Anh được viết hoa “SỔ THÔNG HÀNH”. “Anh có sổ thông hành không?” Tôi nói: “Tôi không có sổ thông hành.” “Anh đang định đi đâu?” “Gokteik, Naung-Peng,” tôi nói. “Chỉ là đi một chuyến thôi. Ai muốn biết cơ chứ?” Anh ta suy nghĩ một lúc rồi gập tờ giấy lại, dùng một mẩu bút chì viết cẩn thận theo một cột xô lệch mấy chữ: Tên, Số, Nước và sổ thông hành. Anh ta đưa cho tôi mẩu giấy. Tôi điền thông tin vào, trong khi tất cả những người lính còn lại - tất cả sáu người - tụ tập quanh tôi. Một người nhìn qua vai tôi, nói rít qua kẽ răng: “Người Mỹ à.” Những người khác xác nhận điều này, đầu họ chụm vào, hơi thở của họ phả vào tay tôi. Bức điện được chuyển đến căn nhà bằng gỗ. Tôi đứng dậy. Một người lính nói: “Ngồi xuống.” Hai giờ đồng hồ trôi qua, toa tàu ướt đầm đìa, nóc toa như sôi lên với cơn mưa trút xuống và những người lính khi nãy thầm thì nói chuyện với nhau, có thể là họ ngại tôi biết tiếng Miến Điện, thì bây giờ tiếp tục việc ăn uống, bóc lạc, bóc chuối, bổ cau của họ. Tôi không nghĩ thời gian ở đâu có thể trôi chậm hơn trên một toa tàu đỗ trong mưa lọt giữa nơi bức tường rừng cây ở xứ Thượng Miến Điện này. Thậm chí không có cả sự quấy quả của những người bán hàng rong, hay trò đùa giỡn kinh khủng của bầy chó hoang; chẳng có nhà cửa; rừng cây thì chẳng có bố cục hay ánh sáng; tức không có cảnh gì để ngắm. Tôi ngồi trong trạng thái lạnh buốt xương nhìn mưa tạo ra những vòng tròn tỏa dần trên cái ao nước cạnh đường ray rồi cố gắng tưởng tượng xem điều gì sai lầm. Tôi không nghi ngờ gì việc tôi là nguyên nhân khiến tàu bị dừng lại - người ta đã phản đối tôi lên tàu; người ta đã nhìn thấy tôi lên tàu ở Maymyo. Tôi có thể bị đưa trở lại, hoặc tôi có thể bị bắt vì vi phạm các quy định an ninh, bị tống vào tù. Nỗ lực đi xa thế này dường như là lãng phí; và thực sự, liệu có phải tôi đã đi tất cả quãng đường đó để rồi vào tù, giống như những người đã vượt qua khó khăn để đi tới những nơi xa xôi tận cùng của trái đất, băng qua những cánh rừng, trải qua thời tiết xấu nhiều tuần liền, rồi vội vã lên một cái máy bay xấu số hoặc bước vào giữa đường bắn của một viên đạn? Thật là khổ nhục cho một kẻ đi xa như thế để rồi mất mạng. Tôi không cảm thấy lo lắng về cái chết - họ không ngu ngốc đến mức giết tôi. Nhưng họ có thể gây khó dễ cho tôi. Mà thực ra là họ đã làm. Đã quá mười giờ sáng mà tôi thì đã tới ngưỡng cam chịu rồi. Giá như ánh mặt trời ló rạng thì tôi tình nguyện đi bộ về Maymyo, biến tất cả sự thất bại này thành một cuộc leo núi. Nhưng trời mưa quá to khiến cho tôi không thể làm gì ngoài ngồi và đợi.
- Sau rốt người lính cao lớn đeo khẩu Sten quay lại. Anh ta đi cùng một anh bạn nhỏ con, trẻ hơn, khoác một cái áo ướt sũng và đội một cái mũ cũng ướt, anh ta lấy khăn mùi soa lau mặt khi bước vào trong toa. Anh ta hỏi: “Ông là ông Paul?” “Vâng. Thế anh là ai?” “Sĩ quan an ninh U Sit Aye,” anh ta đáp và tiếp tục hỏi tôi vào Miến Điện khi nào, vì mục đích gì và vào bao lâu. Rồi anh ta hỏi, “Ông là khách du lịch à?” “Vâng.” Anh ta nghĩ một lát, nghiêng đầu, nhíu đôi mắt dưới hàng mày rậm và nói: “Thế máy ảnh của ông đâu?” “Tôi để lại rồi,” tôi đáp. “Tôi hết phim.” “Đúng rồi, chúng tôi không có phim ở Miến Điện.” Anh ta thở dài. “Không có ngoại hối mà.” Khi anh ta đang nói thì có một đoàn tàu khác đi tới cạnh đoàn tàu của chúng tôi. “Chúng ta sẽ lên tàu kia.” Trong toa cuối có hộ tống vũ trang của đoàn tàu thứ hai này, khi ngồi với một toán lính mới, U Sit Aye nói rằng anh ta chịu trách nhiệm về an ninh đường sắt; anh ta có ba đứa con; anh ta ghét mùa mưa. Rồi anh ta không nói thêm gì nữa. Tôi đồ rằng anh ta đang dẫn độ tôi và dù tôi không biết tại sao chúng tôi chuyển tàu, thì chúng tôi cũng bắt đầu đi tiếp, theo hướng tới Gokteik. Một người đàn ông Miến Điện đội mũ, dáng phờ phạc lên ngồi cạnh chúng tôi, bắt đầu xé điếu thuốc lá có đầu lọc ra thành một mẩu giấy vuông nhỏ. Đây là một kiểu hành vi của những người khách trọ nước ngoài ở khách sạn tại Afghanistan, một màn dạo đầu để nhồi gai dầu và thuốc lá vào cái ống rỗng. Nhưng người đàn ông này không có gai dầu. Thuốc của anh ta là một thứ bột trắng, đựng trong một cái lọ nhỏ. Anh ta gõ thứ thuốc này vào trong ống, xen kẽ với những lớp thuốc lá. Anh ta nhồi ống thuốc rất cẩn thận, lèn thật chặt, vuốt và vỗ nhẹ ống thuốc. “Anh ta làm gì thế nhỉ?” U Sit Aye đáp, “Tôi không biết.” Người đàn ông nhìn chằm chằm vào điếu thuốc. Nó gần đầy rồi và anh ta lấy một
- que diêm nhồi thuốc xuống. “Anh ta đang cho cái gì đó vào trong đấy.” U Sit Aye nói, “Tôi thấy rồi.” “Nhưng không phải cần sa.” “Không phải đâu.” Bây giờ người đàn ông đã làm xong. Anh ta đổ nốt chỗ thuốc rồi vứt lọ ra ngoài cửa sổ. Tôi nói, “Tôi nghĩ đấy là thuốc phiện.” Người đàn ông nhìn lên cười toe toét: “Anh nói đúng đấy.” Tiếng Anh của anh ta trong như tiếng chuông ngân khiến tôi giật mình. U Sit Aye không nói gì, anh không mặc cảnh phục nên người đàn ông kia không thể nào biết được mình vừa chế một điếu thuốc phiện ngay trước mũi một sĩ quan an ninh. “Làm một hơi đi,” người đàn ông nói. Anh ta xoắn đầu điếu thuốc và liếm lưỡi lên cả điếu để nó cháy thật chậm. Anh ta mời tôi hút. “Không, cảm ơn anh.” Anh ta trông có vẻ ngạc nhiên. “Tại sao không?” “Thuốc phiện làm tôi đau đầu.” “Không! Rất tốt đấy! Tôi thích lắm ” anh ta nháy mắt với U Sit Aye. “ Tôi thích xài cái này để có những giấc mơ đẹp ngay giữa ban ngày!” Anh ta hút điếu thuốc đến tận đầu lọc, rồi cuộn áo khoác để gối lên sau đầu. Anh ta nằm dài ra ghế ngủ thiếp đi với nụ cười trên khuôn mặt. Anh ta bình tâm đến cực độ, người hạnh phúc nhất ở trên chuyến tàu lạnh giá đang chạy rầm rập này. U Sit Aye nói, “Bọn tôi không bắt chúng trừ phi chúng có thật nhiều thuốc. Có nhiều phiền hà lắm. Chúng tôi bắt một thằng cha vào tù. Rồi chúng tôi gửi mẫu về Rangoon để kiểm tra - nhưng thứ thuốc phiện anh ta có chỉ là hạng ba; tôi có thể phân biệt được dựa trên màu thuốc - và sau hai hay ba tuần gì đó họ mới gửi báo cáo về. Anh cần rất nhiều thuốc phiện để có thể xét nghiệm - đủ để làm đủ loại thí nghiệm.”
- Đến chiều chúng tôi tới ngoại vi Gokteik. Mây mù dày đặc và những thác nước ầm ĩ giội xuống những bụi tre xanh. Tàu chúng tôi bò trên rìa mép những quả đồi, kéo còi ở mỗi chỗ quanh, nhưng bên ngoài chỉ có mây mù trắng xóa, làn gió mạnh thổi lớp mây mù này bay đi thì lại thấy lớp mây mù trắng xóa khác dày đặc hơn tràn tới. Cứ giống như đang đi trên một máy bay bay chậm với cửa sổ mở và tôi cảm thấy ghen tị với sự ung dung của kẻ hút thuốc phiện lúc nãy. “Phong cảnh bị mây phủ hết rồi,” U Sit Aye nói. Tàu chúng tôi trèo lên hơn một ki lô mét thì bắt đầu đi xuống khe núi nơi có những làn mây hình thuyền bay nhanh từ sườn đồi này sang sườn đồi khác, những dải hơi nước dài ngắn khác nhau hầu như không chuyển động trông giống như những tấm mạng lụa xác xơ. Chiếc cầu cạn, một con quái vật hình học màu bạc giữa những núi đá và rừng cây lởm chởm rời rạc bắt đầu xuất hiện, rồi lại biến mất sau những vỉa đá. Nó xuất hiện trở lại giữa những khoảng trống, càng ngày càng to hơn, ít ánh bạc hơn nhưng hoành tráng hơn. Sự hiện diện của nó thật kỳ quái, một công trình nhân tạo ở vùng hẻo lánh như thế này, đọ sức với sự hùng vĩ của hẻm núi khổng lồ nhưng dường như lại hùng vĩ hơn cảnh vật xung quanh nó, phong cảnh cũng không thể bỏ qua - dòng nước chảy xiết qua chân rầm cầu và đổ xuống những ngọn cây, đàn chim bay qua những đám mây xoắn chặt và đường hầm tối om phía trên cầu cạn. Chúng tôi tiến chầm chậm tới cầu và dừng lại một lát ở ga Gokteik, nơi những người miền núi, những người Shan mình đầy hình xăm trổ và người Hoa lạc lõng đã tới cư trú trong những toa tàu hỏa không còn sử dụng nữa - vốn là các toa chở hàng và chở gia súc. Họ bước ra cửa để nhìn tàu thư vận Lashio đi qua. Những anh lính gác mặt mũi cau có đeo súng trường trên vai đứng gác ở lối vào cầu cạn; gió thổi qua vọng gác không có tường chắn và cơn mưa phùn vẫn tiếp tục rơi. Tôi hỏi U Sit Aye liệu tôi có thể thò ra ngoài cửa sổ. Anh ta nói không vấn đề gì, “nhưng đừng có ngã nhé.” Bánh xe lửa dội vào những nhịp cầu thép và tiếng nước rơi xuống như gầm rú đuôi những con chim bay ra khỏi tổ của chúng ở dưới gầm cầu vài trăm mét. Tàu dừng khá lâu trong giá lạnh đã khiến tôi suy nhược và chuyến đi tới đây cũng chẳng có gì đáng chú ý, nhưng điều này đã xốc dậy tinh thần của tôi, đó là việc chạy qua cây cầu dài trong mưa, đi từ đồi dốc đứng này sang đồi dốc đứng khác, đi qua sự tăm tối của rừng sâu, choáng ngợp trước dòng sông mà gió mùa đã mang lại cho nó một thứ âm thanh dọa dẫm, và tiếng huýt gió của đầu máy lặp đi lặp lại, hồi âm xuống hẻm núi, vang vọng tới tận Trung Quốc. Rồi tàu đi vào đường hầm như những cái hang có mùi phân dơi và cây cối ẩm mốc, vừa đủ ánh sáng để soi thấy những dòng nước rỉ xuống tường hầm, những loài hoa nở đêm lạ lùng mọc giữa một rừng dây leo và lá chen trong đá mấp mô. Khi ra khỏi đường hầm cuối cùng, chúng tôi đã đi xa khỏi cầu cạn Gokteik, và Naung-Peng sau một giờ đồng hồ tàu đi chầm chậm nữa là điểm cuối cùng trong hành trình của tôi. Nơi đây có một tập hợp những lán gỗ và chòi mái lợp cỏ. Cái “căng tin” mà Tony nói với tôi chính là một trong những cái lều cỏ đó: ở phía trong kê một cái bàn dài bày những chiếc liễn đựng món hầm màu xanh màu vàng, những người Miến Điện ăn mặc phong phanh ở một nơi lạnh như thế này, đang tự sưởi ấm bên cạnh những vạc cơm sôi lục bục trên lò than. Cảnh tượng giống
- như khu bếp dã chiến của một bộ lạc Mông Cổ nào đó đang rút lui sau trận chiến kinh hoàng: đầu bếp là những người đàn bà Hoa răng đen còn thực khách là một bầy người có nguồn gốc di truyền lẫn lộn giữa Trung Quốc và Miến Điện, người ta chỉ có thể đoán ra nguồn gốc dân tộc của họ qua trang phục, quấn xà rông hay mặc quần, đội cái mũ dù của dân cu li hay đội mũ len ẩm ướt chẳng ra hình thù gì giống như một cái găng làm bếp. Đầu bếp lấy muôi múc món hầm ra những cái lá cọ to và đổ xuống một nắm cơm; hành khách ăn thứ thực phẩm này và uống những cốc trà nhạt nóng. Cơn mưa gõ lên mái và rơi lanh canh lên vũng bùn bên ngoài, những người Miến Điện vội chạy trở lại tàu cùng mấy con gà buộc chặt vào những cái bị bằng lông, giống hệt một kiểu hàng thủ công đặc biệt. Tôi mua một điếu xì gà giá hai xu, tìm được ruột cái ghế đẩu gần lò than, ngồi xuống hút thuốc đợi chuyến tàu tiếp theo tới. Chuyến tàu tôi đã đi tới Naung-Peng không đi Lashio cho tới khi chuyến tàu “đi xuống” từ Lashio tới. Rồi nhóm hộ tống từ Maymyo đổi tàu với một nhóm hộ tống khác được vũ trang tốt hơn từ Lashio nhằm quay trở lại nơi họ đã khởi hành từ buổi sáng. Tôi để ý thấy mỗi đoàn tàu đều có một toa bọc thép được kéo ngay sau đầu máy; đó là một cái hòm thép với những khe châu mai, đơn giản tới mức thô lậu, giống như hình vẽ cái xe tăng của một đứa trẻ, nhưng bên trong thì trong rỗng vì những người lính đều xuống toa cuối, cách đó chín toa. Tôi không biết là khi xảy ra bao vây thì họ chiến đấu bảo vệ chuyến tàu thế nào từ phía dưới cách đầu máy khoảng bảy mươi mét và U Sit Aye cũng không giải thích cho tôi việc này. Còn lý do tại sao những người lính không đi trên toa tàu bọc sắt thì rõ rồi: đó là một thứ cực kỳ bất tiện, bên trong tối om vì khe châu mai rất bé. Chuyến tàu trở lại Maymyo đi rất nhanh vì đường đi hầu hết là xuống núi, việc tiếp thực phẩm ở các ga nhỏ diễn ra liên tục. U Sit Aye nói rằng những người lính đã đánh điện yêu cầu thực phẩm từ trước và điều này là sự thực, ví dụ tại nhà ga nhỏ nhác, một cậu bé sẽ vội chạy tới đoàn tàu ngay khi vừa tới; và đứa trẻ khuôn mặt đẫm nước mưa này sẽ cúi chào và chuyển một gói thực phẩm tại cửa toa chở lính. Tại một ga gần Maymyo hơn, những người lính đánh điện trước để lấy hoa, vì vậy khi chúng tôi tới, từng người lính bước ra ngoài, trên áo vẫn còn dính vết cà ri, trong miệng vẫn còn nhai trầu, tay thì cầm một bó hoa mà giữ còn chặt hơn cả khẩu súng trường. “Tôi có thể đi bây giờ chưa?” tôi hỏi U Sit Aye. Tôi vẫn không biết là liệu có phải mình sắp bị bắt giam vì đã đi vào vùng đất cấm. “Anh có thể đi được rồi,” anh ta nói và mỉm cười. “Nhưng anh không bao giờ được đi tàu đến Gokteik lần nữa. Nếu cứ đi sẽ gặp rắc rối đấy.”
- Chương 20. Tàu đêm tốc hành từ Nong Khai Chuyến tàu tốc hành từ Băng Cốc đưa tôi đến Nong Khai, miền cực Bắc Thái Lan. Nong Khai chẳng có gì nổi bật - năm con phố với những căn nhà giản dị, nhưng một chuyến đi thuyền qua sông Mê Kông có thể đưa bạn tới Viêng Chăn, Lào. Viêng Chăn thì đặc biệt, nhưng bất tiện. Những nhà chứa còn sạch hơn khách sạn, cần sa rẻ hơn thuốc lá tẩu và thuốc phiện thì dễ tìm hơn một cốc bia lạnh. Thuốc phiện là loại thuốc mang lại cảm giác thư giãn, một thứ hoàn hảo cho bệnh lão khoa, những giấc ngủ đầy mộng mị mà nó mang tới giúp xóa đi mệt mỏi; sau một đêm dùng thuốc phiện thì bạn sẽ không thấy cần phải ngủ lại nữa. Khi bạn tìm thấy một quán bia vào nửa đêm, ngồi yên lặng, băn khoăn xem cái chỗ này là gì, em tiếp viên sẽ tới đề nghị “phục vụ” bạn bằng miệng, mà bạn vẫn không biết. Khi mắt đã trở nên quen với bóng tối thì bạn thấy cô ta đã trần truồng. Không cần báo trước, cô ta nhảy trên ghế, cắm một điếu thuốc lá vào âm đạo rồi châm lửa, rít thuốc bằng cách co bóp lá phổi tử cung. Có rất nhiều trò chơi tình dục! Bạn có thể dạy những người này bất cứ thứ gì. Có nhiều quán bar ở Viêng Chăn; cách trang trí và loại bia thì giống nhau ở tất cả các quán, nhưng những trò quái đản thì khác nhau. Bộ phim tiếng Anh duy nhất tôi có thể tìm thấy tại Viêng Chăn lại là một phim khiêu dâm và sự theo dõi chăm chú đến tôn sùng của những du khách Nhật Bản, những người xem phim như thể thực tập sinh trong một phòng thực nghiệm giải phẫu khiến cho tôi cảm thấy chán nản. Tôi đi mua quà, trong lòng tưởng tượng ra các sản vật của người Lào, nhưng chỉ thấy những đồ thủ công truyền thống bao gồm cả tạp dề, tập giấy ghi nhớ, lót nồi và cà vạt. Cà vạt ư! Tôi bỏ công ra để đi một chuyến thoải mái trên sông Mê Kông, nhưng người ta nói với tôi rằng chỉ có bọn buôn lậu mới đi trên sông. Thức ăn rất dị thường. Trong bát xúp tôi ăn có cả lông thú, lông chim, xương sụn và những mẩu lòng cắt ra như mì ống. Tôi kể điều này cho một hoàng thân mà tôi được thúc giục là nên tới thăm. Ông ta đưa tôi đến một nhà hàng, nơi chúng tôi ăn một cái đùi cừu, xúp bạc hà và khoai tây nướng - tôi đoán rằng đây là cách mà ông ta muốn thể hiện lời xin lỗi. Tôi hỏi ông thấy thế nào khi làm hoàng thân ở Lào. Ông ta nói rằng mình không thể trả lời câu hỏi đó vì không dành nhiều thời gian ở Lào; ông ta thích môn nhảy dù tự do và đua mô tô. Sự mô tả của ông ta về đời sống chính trị ở Lào khiến tôi nghĩ rằng đất nước này giống như [49] Ruritania , một vương quốc phóng túng của những người anh em cùng mẹ khác cha đánh đấm lẫn nhau và nợ nước Mỹ đầm đìa. Nhưng tối hôm đó, ông hoàng thân nói rằng ở Lào họ có kẻ thù. Bọn chúng đâu? Tôi hỏi. Khi ấy chúng tôi đang ngồi trong nhà. Ông ta chỉ tay ra ngoài cửa sổ và qua bên kia phố, bóng một người đàn ông cầm khẩu súng máy được vẽ lên cửa sổ cao nhất của một tòa nhà ba tầng Hoàng thân nói “Là hắn. Một tên
- Pathet Lào.” Tôi kể về hành trình của mình, hoàng thân hỏi: “Vậy cậu đi tàu à. Cậu có biết tàu đi Băng Cốc nhanh cỡ nào không?” Tôi nói tôi không biết. “Năm mươi cây số một giờ.” Mặt ông ta làm bộ. Vợ ông ta không nghe câu chuyện. Bà ta đang đọc tạp chí và nhìn lên rồi nói: “Đừng quên là chúng mình sẽ phải tới Paris vào ngày hai sáu.” Lào, một nước ven sông, một xứ sở đã bị giày xéo và cướp bóc, đó là một trò chơi khăm phải trả giá đắt của nước Mỹ, một xứ sở không có động lực, không làm được thứ gì, phải nhập khẩu mọi thứ, một vương quốc có thái độ cao ngạo, xa cách với những gì liên quan đến Pháp. Điều đáng ngạc nhiên là vương quốc này vẫn còn tồn tại và mỗi khi nghĩ đến nó, tôi càng thấy nó giống như một hình thái sống ở cấp độ thấp, như những con sán mắt lé hay những con trùng a míp mềm oặt, kiểu sinh vật không thể chết kể cả khi bị xé tơi ra từng mảnh. Khởi hành từ nhà ga Nong Khai (những đứa trẻ người Thái đang thả diều dọc đường ray), tôi đi về phía Nam để đến Singapore. Có một tuyến tàu liên tục từ nhà ga phía Bắc này tới tận Singapore, qua Băng Cốc và Kuala Lumpur, khoảng hai nghìn ba trăm ki lô mét xuyên qua những cánh rừng, những đồng lúa và những đồn điền cao su. Đường sắt Quốc gia Thái Lan rất thuận tiện, được điều hành một cách chuyên nghiệp và giờ tôi đã có đủ hiểu biết về việc đi lại bằng tàu hỏa ở Đông Nam Á để tránh toa nằm có điều hòa không khí, trên những toa đó người ta bật điều hòa đến lạnh cóng và chẳng có những thứ tiện nghi như trên những khoang nằm bằng gỗ trên tàu: giường rộng rãi và một phòng tắm. Chẳng có tàu nào trên thế giới lại có một vại cao bằng đá đựng nước ở trong khoang tắm, trước khi ăn tối, người ta có thể đứng khỏa thân rồi giội nước bằng gáo. Các đoàn tàu ở bất cứ nước nào cũng có những thứ đồ dùng linh tinh không thể thiếu trong nền văn hóa của nước đó: tàu của Thái thì có vại nước tắm hình ống tráng men bên ngoài, tàu Ceylon thì có toa dành riêng cho các nhà sư, tàu Ấn Độ có một nhà bếp ăn chay và sáu hạng khác nhau, tàu Iran có chiếu cho người ta quỳ cầu nguyện, tàu Malaysia thì có quầy bán mì, tàu Việt Nam có kính chống đạn trên toa đầu máy, còn trên mọi toa tàu của Nga đều có ấm samovar. Phiên chợ trên tàu, với những thứ linh tinh và những hành khách, phản ánh đầy đủ xã hội đến mức khi lên tàu người ta sẽ đối diện với tính cách quốc gia của nước đó. Đối với tôi, nhiều lúc việc đi tàu giống như dự một hội thảo nhàn nhã, nhưng cũng có vài dịp tôi thấy như bị cầm tù và sau đó bị những đặc tính xã hội gớm ghiếc tấn công. Trên chuyến tàu tốc hành ban đêm từ Nong Khai có rất nhiều thợ máy người Hoa và Philippin, da họ ngả màu sẫm vì làm việc trên những sân bay của Mỹ, họ đội những cái mũ bóng chày kéo xuống che mắt. Họ đánh bạc trên toa nằm hạng hai, nơi những nhân viên người Mỹ đang ngồi bẽn lẽn bên các cô gái Thái, trông họ có vẻ nhớ nhà nhưng rất
- hợp cách khi cầm tay nhau. Tôi ở cùng khoang với một người Mỹ tự nhận là nhân viên bán hàng. Anh ta trông không giống một người bán hàng. Tóc anh ta cắt ngắn ngủn và tôi có thể nhìn thấy một cái sẹo trắng chạy từ đỉnh đầu anh ta ra đằng sau, cứ như đó là một bộ phận của cơ thể; anh ta đeo một lá bùa Thái ở trên cổ, móng tay thì sứt mẻ; đằng sau bàn tay phải của anh ta xăm chữ TIGER và anh ta luôn miệng nói về con “heo rừng” của mình, một cái xe Harley-Davidson Electraglide. Anh ta đã ở Thái Lan năm năm. Anh ta không có kế hoạch quay lại nước Mỹ và nói rằng tham vọng của anh ta là kiếm ba mươi nghìn đô la mỗi năm - hay như cách anh ta nói “ba mươi K.” “Anh đã gần đạt con số đấy chưa?” “Rất gần rồi,” anh ta nói. “Nhưng tôi nghĩ có thể tôi phải đi Hồng Kông.” Anh ta vừa ở Viêng Chăn vài ngày. Tôi nói nơi đó không hợp với gu của tôi lắm. Anh ta bảo, “Lẽ ra anh nên đến quán Hồng Bạch.” Tôi nói, “Tôi đến quán Hồng Bạch rồi.” “Anh có thấy em gái cao cao ở đấy không?” “Ở đó tối quá nên tôi chẳng biết ai cao ai thấp.” “Em này thì có mặc quần áo. Hầu hết các em đều hở mông, đúng không? Nhưng em này thì tóc dài mà mặc quần chùng. Các em khác thì nhét thuốc lá vào chỗ ấy và rít thuốc ở đấy, nhưng em này thì chỉ đi tới ngồi cạnh tôi. Em đó không mặc áo ngực và có bộ ngực đẹp như các em người mẫu. Tôi mời em đó uống rượu, nhưng em uống Pepsi và rất buồn cười là tôi không bị tính thêm tiền cho vụ đó. Tôi thích như vậy.” “Đại loại là chúng tôi ngồi đó cưa cẩm nhau và tôi cho tay vào trong áo em bóp một cái. Em cười và hỏi ‘Anh có muốn mát xa không?’ Tôi nói quên vụ đó đi. Thế không phải là mát xa. Rồi em nói ‘Lên trên lầu - anh đưa cho má mì bốn đô rồi má mì sẽ cho em làm’.” “Điều gì xảy ra khi bọn tôi lên trên lầu? Em nằm dựa vào tôi. Em nói ‘Gì cũng được. Bất cứ kiểu gì anh muốn làm với em, anh có thể làm. Bất cứ kiểu gì anh muốn em làm, em sẽ làm. Em biết cách.’ Cái này làm cho tôi hứng tình chứ còn gì nữa?” “Sẽ thế nào nếu có một em gái đẹp - ý tôi là, một em người cực ngon - nói thế với anh? ‘Làm bất cứ kiểu gì anh muốn làm với em.’ Cứ như là mình có nô lệ ấy. Tôi nghĩ đến hai ba thứ - toàn những thứ điên rồ; tôi không nói với anh đâu. Em ấy nói ‘Kiểu gì nào? Kiểu gì nào?’ Tôi quá ngượng nên không nói với em được, nhưng tôi nghĩ, em đã ra giá thì không thể rút lại được. Tôi nghĩ đến những kiểu hoang dã và nói ‘Gì cũng được à?’ và



