Nho giáo Việt Nam dưới góc nhìn của các học giả Trung Quốc

pdf 7 trang ngocly 90 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nho giáo Việt Nam dưới góc nhìn của các học giả Trung Quốc", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfnho_giao_viet_nam_duoi_goc_nhin_cua_cac_hoc_gia_trung_quoc.pdf

Nội dung text: Nho giáo Việt Nam dưới góc nhìn của các học giả Trung Quốc

  1. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam,CHÍNH số 5( 90)TRỊ - 2015 - KINH TẾ HỌC Nho giáo Việt Nam dưới góc nhìn của các học giả Trung Quốc Phan Ngọc Huyền * Nho giáo ở Việt Nam từ lâu đã được giới bước sử dụng Nho giáo làm tư tưởng lí luận học giả Trung Quốc quan tâm nghiên cứu. để duy trì quan hệ quân thần và trật tự triều Bài viết trình bày quan điểm của một số học chính, trong khi Phật giáo đóng vai trò là giả Trung Quốc được công bố trên các tạp tôn giáo duy trì sự ổn định xã hội. Năm chí chuyên ngành (chủ yếu từ những năm 1070, nhà Lý cho xây dựng Văn Miếu, đắp 90 của thế kỉ XX trở lại đây) về quá trình tượng Khổng Tử. Năm 1075, mở khoa thi truyền bá và tôn sùng, sự khác biệt và đầu tiên để chọn người tài. Theo Lý Vị Túy những yếu tố tạo thành đặc trưng riêng của và các tác giả (2005), Nho học từ thời Lý Nho giáo Việt Nam. Nhân Tông bắt đầu hưng thịnh(1), mở ra 1. Quá trình truyền bá và tôn sùng thời kì mới, đặt cơ sở cho sự phát triển Nho Đây là vấn đề được rất nhiều học giả học ở thời kì sau. Thời Trần, Nho học phát Trung Quốc đề cập. Các bài viết đều khái triển khá mạnh. Thái Tông năm thứ 28 quát quá trình truyền bá và phổ biến Nho (1253), nhà vua cho mở rộng Quốc tử giám, giáo ở Việt Nam từ thời Hán đến triều hạ chiếu cho những người có học trong Nguyễn qua các giai đoạn lịch sử. Có thể thiên hạ tập giảng “Ngũ kinh”, “Tứ thư”. tạm tính thời gian Nho giáo truyền vào Ba năm sau, nhà Trần lại cho mở khoa thi Giao Chỉ không sớm hơn mốc Hán Văn Đế chọn kẻ sĩ tại hai khu vực là kinh đô Thăng bình định Nam Việt, thiết lập chín quận Long và Thanh Hóa, Nghệ An. Kết quả thi (năm 111 tr.CN) và không muộn hơn thời chọn được phân thành Kinh Trạng nguyên kì Tích Quang cai trị ở Giao Chỉ, Nhâm và Trại Trạng nguyên Những dẫn chứng Diên trấn thủ ở Cửu Chân (khoảng trước và đó cho thấy nhà Trần cũng giống nhà Lý đã sau năm 29). học tập nhà Tống trong việc dùng học Theo Hoàng Quốc An, trải qua một thời thuyết của Khổng Tử để thực hành chế độ kì dài đấu tranh giành độc lập, từ thế kỉ thứ khoa cử. Những biện pháp đó đã có tác X, Việt Nam bước vào thời kì độc lập tự dụng tích cực trong việc trong việc củng cố chủ. Khổng Tử và học thuyết Nho giáo từ đó luôn nhận được sự trọng thị của giai cấp (*) phong kiến thống trị. Nhà Lý sau khi thành Tiến sĩ, Trung tâm Nghiên cứu Châu Á, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. lập đã học tập chế độ khoa cử theo Nho học ĐT: 0963829545. Email: [email protected] của Trung Quốc. Nhà Lý trọng đạo Phật (1) Hoàng Quốc An (1991), “Sự truyền bá và ảnh hưởng của học thuyết Khổng Tử ở Việt Nam”, Tạp nhưng cũng ý thức được việc phải từng chí Đông Nam Á tung hoành, kì 1, tr.8. 100
  2. Nho giáo Việt Nam dưới góc nhìn của các học giả Trung Quốc chế độ thống trị phong kiến và phát triển Lê Thánh Tông đặt quy định bảo kết hương văn hóa xã hội(2). thi, nhấn mạnh người ứng thí trước tiên Tưởng Ngọc Sơn trong bài viết “Việc phải tôn sùng đạo đức luân lí của nhà Nho, thực thi lấy Nho học làm chủ yếu - hình thái trước hết xét đạo đức sau đó mới đến văn nhận thức chủ lưu của giai cấp thống trị chương. Những người phạm tội bất hiếu, phong kiến Việt Nam từ hậu Lê đến bất mục, loạn luân thì dù có học vấn cũng Nguyễn sơ” đã cho rằng, khác với hai triều không được ứng thí. Lê Thánh Tông trị vì đại Lý - Trần, các hoàng đế triều hậu Lê 38 năm thì đã tổ chức 12 kì thi chọn được đều tôn thờ Nho học, lấy Nho học làm công 511 cử sĩ. Hiến Tông năm thứ hai (1499), cụ chủ đạo để kiến quốc trị dân, làm cơ sở số người tham gia thi đạt hơn 5000 người. lí luận cho việc chế định điển chương chế Đó là dấu hiệu cho thấy khoa cử hưng độ, trở thành công cụ pháp điển hóa buộc thịnh, ảnh hưởng của Nho học ngày càng các cơ quan trên, dưới trong triều đình cả sâu rộng(4). nước phải tuân theo. Đồng thời, Khổng Tử Thời hậu Lê, nhà nước dựa trên tư tưởng cũng được thần thánh hóa, Nho học - ở một Nho gia để định ra các điều lệ giáo hóa mức độ nhất định, đã có màu sắc tôn giáo(3). nhân dân. Lê Thánh Tông biểu dương, khen Thời Lê, nhà nước chủ trương mở rộng Văn thưởng cho những người “trung, tín, hiếu, Miếu, các giảng đường, nhà học và tiến đễ”. Cho biên soạn “Hồng Đức pháp điển”, hành tế cúng Khổng Tử thường xuyên, đều “24 điều huấn dạy”, cụ thể hóa các đạo đức đặn trong năm. Năm Hồng Đức thứ 3 luân lí Nho gia, quan niệm đẳng cấp phong (1472), vua Thánh Tông định thời gian một kiến, trật tự tôn ti bằng các điều luật, lệnh. năm hai lần (xuân, thu nhị kì) cử hành điển Việc mượn các quy định hành chính, pháp lễ tế cúng Khổng Tử. Lê Thánh Tông cũng luật có tính cưỡng chế đã làm cho tư tưởng nhiều lần cho trùng tu Văn Miếu ở kinh đô Nho học nhanh chóng phổ biến rộng rãi và xây dựng Văn Miếu ở một số nơi. Lê trong các mặt của đời sống xã hội và quan Thế Tông năm Cảnh Hưng thứ 16 (1755), hệ giữa con người với con người. Năm bắt đầu mặc vương phục cho tượng Khổng 1470 thực hành tang chế 3 năm, nghiêm trị Tử ở Văn Miếu Thăng Long. Bên cạnh đó những kẻ vi phạm lễ chế nhằm nhấn mạnh là việc mở rộng hệ thống giáo dục. Nhà đạo hiếu, đồng thời biểu dương các tấm nước đã xây dựng được hệ thống giáo dục gương tiết phụ liệt nữ. hoàn chỉnh, đào tạo được đội ngũ đông đảo Năm Cảnh Trị nguyên niên (1663) đời các nho sĩ và quan lại. Ngoài Quốc tử giám, vua Lê Huyền Tông, ban hành 47 điều giáo Thái học viện là cơ quan giáo dục cao nhất, hóa, răn dạy: làm thần tận trung làm con tận các phủ, châu, huyện đều xây dựng học hiệu, ngoài ra còn có các trường tư. Dù (2) Tlđd, tr.8. (3) Tưởng Ngọc Sơn (2007), “Việc thực thi lấy Nho trường công hay trường tư đều lấy các tác học làm chủ yếu, hình thái nhận thức chủ lưu của phẩm kinh điển của Nho học làm tài liệu giai cấp thống trị phong kiến Việt Nam từ hậu Lê giảng dạy. Phương pháp dạy học cũng thể đến Nguyễn sơ”, Tạp chí Đông Nam Á tung hoành, kì 9, tr.73-74. hiện tư tưởng giáo dục của Nho gia. Thời (4) Tlđd, tr.74. 101
  3. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 5(90) - 2015 hiếu, anh em phải hòa mục, vợ chồng phải tuyên truyền, mục đích là khiến thần dân yêu kính nhau, bạn bè phải tin tưởng giúp toàn quốc nhận thức được quan niệm, tư đỡ nhau, cha mẹ lấy tu thân để dạy con, tưởng về trung quân, hiếu, thân, nhân, thầy trò lấy lấy đạo đức để đối đãi nhau nghĩa, lễ, trí, nhằm duy trì và bảo vệ chế độ Đây là cách để đưa những luân thường đạo thống trị phong kiến. Gia Long năm thứ 11 lí của Nho giáo từ cung đình xuống làng xã, đã ban hành quốc sách trị nước, thể hiện cho thấy Nho giáo ngày càng phổ biến sâu toàn bộ hệ thống tư tưởng tu thân, tề gia, trị rộng trong xã hội(5). quốc, bình thiên hạ của Nho gia. Năm 1834, Đầu thế kỉ XIX, nhà Nguyễn tuy mới Minh Mệnh lại ban hành “thập điều huấn thành lập nhưng đã chú trọng xây dựng Văn dụ”, răn bảo mọi cá nhân trên cả nước từ miếu ở kinh đô Phú Xuân, đặt bài vị các bậc trên xuống dưới phải lấy hiếu đễ, trung tín, tiên nho. Nguyễn Ánh thân suất triều thần nhân nghĩa, lễ trí để tự răn mình, làm mọi đến đó tế cúng. Minh Mệnh lên ngôi còn cho việc phải hợp với đạo tam cương, ngũ xây dựng Văn Miếu ở nhiều trấn, thành như thường, làm nhiều việc thiện, học làm như Gia Định, Thanh Hóa. Thời Tự Đức còn người tốt(7). quy định cả sắc phục, thành phần đoàn tế, 2. Khác biệt và bản sắc(5) nghi thức cúng tế rất long trọng. Khi nói đến quá trình tiếp thu Nho giáo Cùng với sự tôn sùng có phần thái quá, từ Trung Quốc, các học giả Trung Quốc nhà Nguyễn cũng đẩy mạnh chế độ giáo đều chú ý đến sự vận dụng, tiếp biến có dục Nho học mang tính hệ thống hóa. Các chọn lọc từ phía Việt Nam; làm nên sự khác loại hình trường học được phổ biến từ trung biệt có tính bản sắc của văn hóa Việt Nam. ương đến địa phương. Thời Minh Mệnh, Lương Chí Minh (Đại học Bắc Kinh) bên cạnh Quốc tử giám còn cho xây Tập cho rằng: “Việt Nam thời cổ đại không sáng thiện đường làm nơi dạy học cho các hoàng tạo ra học phái độc lập nào ngoài (tiếp thu) tử, nội dung học tập là “Tứ thư”, “Ngũ Nho học của Trung Quốc. Đó là sự ứng kinh”, “Hiếu kinh”. Nhà vua còn quy định dụng Nho học của Trung Quốc vào Việt con em nhà bình dân từ 7-8 tuổi phải đi Nam, nhưng không phải là sự sao chép học. Nội dung trước là đọc “Trung kinh”, hoàn toàn mà có sự lựa chọn và phát huy, “Hiếu kinh”, “Tiểu học”, “Tứ thư”. Sau tạo ra đặc trưng có tính dân tộc hóa nhất mới đọc “Ngũ Kinh”. Tôn chỉ giáo dục là định”(8). Quan điểm của Lương Chí Minh bồi dưỡng lòng hiếu, đễ, trung, tín, lấy được nhiều nhà nghiên cứu đi sau tán đồng. chính tâm, tu thân là mục tiêu của kẻ học Tôn Diễn Phong (Khoa ngôn ngữ Á - Nho. Trẻ em thì học “Minh tâm bảo giám” Phi, Học viện ngoại ngữ Giải phóng quân) nhằm dạy lễ trong ứng đối, cư xử(6). trong bài viết có tên “Sự biến đổi, khác biệt Để phổ biến tư tưởng luân thường đạo đức của Nho giáo xuống các địa phương, (5) Tlđd, tr.74. ngoài hệ thống giáo dục trường lớp, thời (6) Tlđd, tr.74-75. Nguyễn còn tích cực thực hiện các hoạt (7) Tlđd, tr.75. (8) Lương Chí Minh (1995), “Luận về nguồn gốc, đặc động giáo hóa mang tính xã hội, lấy cương trưng và ảnh hưởng của Nho giáo Việt Nam”, Học thường, luân lí của đạo Nho làm nội dung báo Đại học Bắc Kinh, kì 1, tr.26. 102
  4. Nho giáo Việt Nam dưới góc nhìn của các học giả Trung Quốc của tư tưởng Nho giáo ở Việt Nam” cho giáo ở Việt Nam. Ông viết: “Nhận thức về rằng, trên thực tế, tư tưởng Nho giáo, qua địa vị của người phụ nữ và quan niệm về quá trình truyển bá và phát triển ở Việt “hiếu”, “trung” của người Việt Nam thể Nam đã được tiếp nhận, hấp thụ và cải biến. hiện sự khác biệt khá rõ Chính sự khác So với Trung Quốc, tư tưởng đó nhất định biệt đó thể hiện nét đặc sắc của văn hóa sẽ có sự khác biệt ở điểm này, điểm khác. Việt Nam”(11). Người Việt Nam nhận thức về Nho giáo ở Người Việt Nam cũng nói đến “trung”, hai tầng diện khác nhau: nhận thức học nhưng họ lí giải chữ “trung” ngoài hàm thuật và nhận thức dân gian. “Nhận thức nghĩa “trung thành”, “trung quân” còn có học thuật” là để chỉ nhận thức của các nhà một hàm nghĩa nữa, là “trung với nước”, nho và những người đọc sách thánh hiền, đồng thời xem đó là sự thể hiện cao nhất được truyền dạy những tư tưởng nho học của chữ “trung”. Ví dụ, ở Trung Quốc, khi chính quy. “Nhận thức dân gian” là để chỉ bị ngoại tộc xâm lược, xã tắc đổ nát, quốc sự lí giải sự phi học thuật của những người gia đứng trước thời khắc sinh tử, tồn vong, bình dân (phổ thông lão bách tính) đối với văn quan sẵn sàng chết để khuyên can nhà tư tưởng nho giáo(9). vua cũng có, võ quan sẵn sàng chết nơi Trình Lâm Huy (Học viện dân tộc Quảng chiến trường để chặn giặc cũng có, những Tây) trong bài viết “Sự truyền bá và ảnh trí thức vì đại nghĩa thà chết chứ không hưởng của Nho học ở Việt Nam” nhấn chịu khuất phục kẻ thù cũng có, nhưng mạnh rằng, mỗi dân tộc khi tiếp nhận văn người dám đứng lên kêu gọi vì đại cục của hóa ngoại lai không sao chép hoàn toàn mà quốc gia, xuất phát từ lợi ích cao nhất của thường tiếp nhận có chọn lựa dựa trên đặc dân tộc mà đưa ra chủ trương phế bỏ hôn điểm và tình hình thực tế của dân tộc đó. quân hoàng đế, lấy sự cứu vãn an nguy cho Việt Nam khi tiếp thu Nho giáo cũng hấp xã tắc làm trọng, nhất là với Nho sinh, thì thụ tinh hoa của Nho học, đồng thời cải quả là cực hiếm. Ví dụ, thời Bắc Tống, khi biến, khiến cho Nho học Việt Nam có người Kim xâm lược, Trung Quốc có anh những đặc trưng dân tộc riêng. Đặc trưng hùng Nhạc Phi và vô số những trung thần đó được biểu hiện ở 3 phương diện: dân tộc nghĩa sĩ cảm tử khác sẵn sàng hi sinh để hóa, thực dụng hóa và giản ước hóa. Trên đánh giặc, nhưng rất ít người (đặc biệt là cơ sở tôn trọng tinh thần cơ bản của Nho Nho sinh) có chủ trương lật đổ hôn quân học Trung Quốc, Nho học Việt Nam đã hoàng đế, giải cứu trăm họ khỏi tình cảnh được cải biến khiến cho nó được Việt Nam nước sôi lửa bỏng. Ở Việt Nam, tình hình hóa, dân tộc hóa(10). Vậy, cái riêng, nét “dân tộc hóa” của (9) Tôn Diễn Phong (2005), “Sự biến đổi, khác biệt Nho giáo Việt Nam so với Trung Quốc là của tư tưởng Nho giáo ở Việt Nam”, Học báo Học viện ngoại ngữ Giải phóng quân, số 4, tr.116. gì? Điều này được nhiều học giả lí giải (10) Trình Lâm Huy (2005), “Sự truyền bá và ảnh giống nhau. hưởng của Nho học ở Việt Nam”, Học báo Đại học Tôn Diễn Phong đã phân tích sự khác Nam Xương, kì 6, tr.122. (11) Tôn Diễn Phong (2005), “Sự biến đổi, khác biệt nhau trong cách lí giải về những nguyên lí của tư tưởng Nho giáo ở Việt Nam”, Học báo Học căn bản thuộc luân thường đạo lí của Nho viện ngoại ngữ Giải phóng quân, số 4, tr.115. 103
  5. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 5(90) - 2015 không giống như vậy. Cuối thế kỉ XIX, khi hành vi trong việc suy nghĩ và giải quyết người Pháp xâm lược Việt Nam, hoàng đế vấn đề “cứu nước, cứu dân, an dân”(16). triều Nguyễn là Tự Đức cắt 3 tỉnh miền Quan niệm “trọng nam khinh nữ” là sản Đông cho Pháp. Điều đó gây ra sự phản phẩm của chế độ gia trưởng phụ quyền theo đối kịch liệt trong nước. Cử nhân Phan tư tưởng Nho giáo. Tác giả Tôn Diễn Phong Văn Trị hô hào đòi chém đầu Tự Đức. cho rằng, mặc dù Việt Nam có chịu ảnh Hành động này rất khó tìm thấy trong lịch hưởng của tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, sử Trung Quốc(12). “tam tòng tứ đức”, người phụ nữ Việt Nam Theo Hà Ngọc Đình, chữ “hiếu” là tiêu chưa có địa vị độc lập ngoài xã hội, song ở chí đạo đức hàng đầu của người học Nho. trong gia đình, người phụ nữ phải đảm Đối với cả Trung Quốc và Việt Nam, tận đang, gánh vác mọi việc lớn nhỏ. Do vậy, hiếu với cha mẹ là nghĩa vụ lớn nhất của họ không nhất thiết phải hoàn toàn phục con cái. Người Việt Nam cho rằng, tội ác tùng theo lời của đàn ông. Họ có quyền không bằng tội bất hiếu. Cho dù phạm phải được phát ngôn, thương lượng các công lỗi lầm gì nhưng chỉ cần tận hiếu thì đều việc làm ăn trong nhà Điều đó cho thấy có thể được xã hội đồng tình và lượng “trọng nam khinh nữ” của Nho giáo ở Việt thứ(13). Theo Tôn Diễn Phong, chữ “hiếu” Nam không giống như ở Trung Quốc. Sự ở Việt Nam còn có 2 tầng hàm nghĩa. Hiếu trói buộc và cấm đoán của lễ giáo phong với cha mẹ gọi là “tiểu hiếu”, hiếu với kiến đối với người phụ nữ cũng không tàn quốc gia gọi là “đại hiếu” và “tiểu hiếu khốc như ở Trung Quốc. Sự khác biệt trong phải phục tùng đại hiếu”. Trường hợp nhận thức và địa vị về người phụ nữ giữa Nguyễn Trãi nghe lời khuyên của cha trở Việt Nam và Trung Quốc cũng là điều về nghĩ kế “bình Ngô phục quốc” thay vì không khó lí giải(17). lẽo đẽo theo sang Trung Quốc hầu cha để Chia sẻ quan điểm trên với Tôn Diễn báo hiếu là một ví dụ(14). Phong nhưng tiếp cận vấn đề ở góc độ Trình Lâm Huy cho rằng, cả hai phạm khác, Trương Hải Bân trong bài “Từ mĩ trù đạo đức “trung” và “hiếu” khi sang Việt thuật dân gian xem sự thẩm thấu và khác Nam đều có cách lí giải khác với Trung biệt của tư tưởng Nho giáo ở Việt Nam” Quốc. Người Việt Nam khi giải thích “trung” nghĩa là tận trung với nước, “hiếu” (12) Tlđd, tr.116. tức là tận hiếu với dân, thì đó chính là sự cụ (13) Hà Ngọc Đình (1993), “Sự truyền bá và ảnh thể hóa một cách mạnh mẽ ý thức dân tộc hưởng của Nho học ở Việt Nam”, Tạp chí Đông (15) Nam Á tung hoành, kì 2 (tiếng Trung), tr.27. và tinh thần yêu nước . Tư tưởng Nho (14) Tôn Diễn Phong (2005), “Sự biến đổi, khác biệt giáo gốc vốn đề cao “nhân nghĩa”. Đó là “kỉ của tư tưởng Nho giáo ở Việt Nam”, Học báo Học sở bất dục, vật thi ư nhân”, “xá sinh thủ viện ngoại ngữ Giải phóng quân, số 4, tr.117. (15) Trình Lâm Huy (2005), “Sự truyền bá và ảnh nghĩa, sát thân thành nhân”, chủ yếu để chỉ hưởng của Nho học ở Việt Nam”, Học báo Đại học cảnh giới đạo đức cao thượng và lí tưởng Nam Xương, kì 6, tr.122. hiến thân, tinh thần hi sinh của nhà Nho. (16) Tlđd, tr.122. (17) Tôn Diễn Phong (2005), “Sự biến đổi, khác biệt Song ở Việt Nam, Nguyễn Trãi lại giải của tư tưởng Nho giáo ở Việt Nam”, Học báo Học thích “nhân nghĩa” thành tiêu chuẩn của viện ngoại ngữ Giải phóng quân, số 4, tr.118. 104
  6. Nho giáo Việt Nam dưới góc nhìn của các học giả Trung Quốc nhận định rằng, tư tưởng Nho giáo vốn lấy chúng ta tham khảo vì góp thêm một cái pháp tông huyết thống và luân lí cương nhìn về đặc trưng Nho giáo Việt Nam từ thường làm sợi dây tổ chức để tạo thành hệ cách tiếp cận của chính những học giả đến thống tư tưởng theo chế độ phụ quyền từ quê hương của Nho giáo.(18) (“quân thần phụ tử”, “nam tôn nữ ti”). Nhưng sau khi truyền vào Việt Nam, Nho Tài liệu tham khảo giáo lại chủ động hấp thụ tín ngưỡng 1. Hoàng Quốc An (1991), “Sự truyền bá và ảnh truyền thống của người Việt, đồng thời kết hưởng của học thuyết Khổng Tử ở Việt Nam”, Tạp hợp với trí tuệ dân gian và khuynh hướng chí Đông Nam Á tung hoành, kì 1 (tiếng Trung). sùng bái nữ thần từ xưa của người Việt để 2. Trương Hải Bân (2013), “Từ mĩ thuật dân gian xem hiển thị thành nền văn hóa mẫu tính đặc sự thẩm thấu và khác biệt của tư tưởng Nho giáo ở Việt sắc và trở thành một trong những tín Nam”, Tạp chí Quan sát mĩ thuật, kì 3 (tiếng Trung). ngưỡng dân gian quan trọng mà có thể kể 3. Mã Đạt (2010), “Lược luận nét đặc sắc của Nho ra hơn 70 vị nữ thần, trong đó có 4 vị nữ học Việt Nam và ảnh hưởng của nó”, Học báo Học thần lớn nhất là Âu Cơ, Mỵ Nương, Man viện giáo dục Hà Nam, kì 1 (tiếng Trung). Nương và Liễu Hạnh(18). 4. Hà Ngọc Đình (1993), “Sự truyền bá và ảnh Nho giáo Việt Nam qua lăng kính của hưởng của Nho giáo ở Việt Nam”, Tạp chí Đông các học giả Trung Quốc được du nhập, từ Nam Á tung hoành, kì 2 (tiếng Trung). Trung Quốc nhưng lại được vận dụng theo 5. Trình Lâm Huy (2005), “Sự truyền bá và ảnh xu hướng “bản địa hóa” của Việt Nam. hưởng của Nho học ở Việt Nam”, Học báo Đại học Nho giáo được truyền bá vào xã hội Việt Nam Xương, kì 6 (tiếng Trung). Nam từ rất sớm (thời Hán) và từng bước 6. Lương Chí Minh (1995), “Luận về nguồn gốc, trở thành công cụ thống trị của giai cấp đặc trưng và ảnh hưởng của Nho giáo Việt Nam”, phong kiến trong nhiều thế kỉ. Nó cũng Học báo Đại học Bắc Kinh, kì 1 (tiếng Trung). được các triều đại cầm quyền (nhất là từ 7. Tôn Diễn Phong (2005), “Sự biến đổi, khác biệt Hậu Lê đến Nguyễn) tôn sùng và tìm mọi của tư tưởng Nho giáo ở Việt Nam”, Học báo Học viện cách tuyên truyền, cho dân chúng. Nhìn ngoại ngữ Giải phóng quân, số 4 (tiếng Trung). chung, các học giả Trung Quốc đều thống 8. Tưởng Ngọc Sơn (2007), “Việc thực thi lấy nhất cho rằng, các giai đoạn truyền bá Nho Nho học làm chủ yếu, hình thái nhận thức chủ lưu giáo gắn với lịch sử Việt Nam. Họ cũng của giai cấp thống trị phong kiến Việt Nam từ hậu chỉ ra một số đặc điểm riêng biệt của Nho Lê đến Nguyễn sơ”, Tạp chí Đông Nam Á tung giáo Việt Nam so với Nho giáo ở Trung hoành, kì 9 (tiếng Trung). Quốc, nhất là khi so sánh cách lí giải các 9. Lý Vị Túy, Từ La Ngọc, Trình Tiếp Hồng phạm trù đạo đức thuộc về luân thường, (2005), “Sự truyền bá và phát triển Nho học thời cổ đạo lí của Nho giáo. Quan điểm của các đại ở Việt Nam”, Tạp chí Học thuật luận đàm, kì 5 học giả Trung Quốc về cơ bản không có gì (tiếng Trung). mới và khác so với những nghiên cứu về Nho giáo Việt Nam của các học giả trong (18) Trương Hải Bân (2013), “Từ mĩ thuật dân gian nước (như Phan Ngọc). Mặc dù vậy, xem sự thẩm thấu và khác biệt của tư tưởng Nho giáo những nghiên cứu của họ cũng rất đáng để ở Việt Nam”, Tạp chí Quan sát mĩ thuật, kì 3, tr.111. 105
  7. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 5(90) - 2015 106