Nam bộ xưa và nay (Phần 2)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Nam bộ xưa và nay (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
nam_bo_xua_va_nay_phan_2.pdf
Nội dung text: Nam bộ xưa và nay (Phần 2)
- NHÂN VẬT Trịnh Hoài Đức một trong “Gia Định tam gia” NGUYỄN Q.THẮNG Trịnh Hoài Đức, một nhà văn hóa lớn Việt Nam và cũng là một nhà địa phương chí có tầm cỡ của văn hóa Việt Nam. Sinh năm 1765 và mất năm 1825, thọ 60 tuổi, ông là một người Minh Hương, nhưng tinh thần và tâm thức ông luôn luôn hướng về Việt Nam. Điều đó được thấy rõ qua các công trình sáng tác và trước tác văn hóa của ông đối với lịch sử văn hóa Việt Nam hồi giữa thế kỷ XIX. Ông là sáng lập viên Bình Dương thi xã, nhóm Sơn Hội. Đây là một trong hai thi xã nổi tiếng và bề thế nhất ở lục tỉnh Nam kỳ. Thi xã này gồm: Chỉ Sơn Trịnh Hoài Đức, Nhữ Sơn Ngô Nhơn Tịnh, Hối Sơn Hoàng Ngọc Uẩn, Tri Chỉ Lê Quang Định (điều đáng chú ý là các vị sáng lập có tên tự hoặc hiệu đều có chữ Sơn, do đó nhóm có tên là Sơn Hội) đa số họ là người Minh Hương, nhưng lại rất nặng lòng với Việt Nam mà họ xem như nước mẹ. Tất cả những yếu tố đó có lẽ phát xuất từ sự cảm hóa mãnh liệt của văn hóa Việt Nam đã khiến họ trở thành một mẫu người Việt Nam chân chính. * Niềm tin cùng sức cảm hóa của văn hóa Việt Nam đối với những người Minh Hương nhận nước Việt Nam làm tổ quốc được thấy rõ qua một số thơ văn của họ (tức nhóm Minh Hương Gia Thạnh) đặt cơ sở tại vùng Chợ Quán (Chợ Lớn), nay thuộc đường Trần Hưng Đạo và Hùng Vương quận 5, TP.HCM. Tại đình Gia Thạnh (Gia Thạnh đường) ngày nay còn dấu tích tấm biển với ba chữ Gia Thạnh đường và đôi liễn do chính tay Trịnh Hoài Đức viết. “Minh đồng nhật nguyệt diệu Nam thiên, phụng chỉ lâm trường Gia cẩm tú. Hương mãn càn khôn linh Việt địa, long bàn hổ cứ Thạnh văn chương.” Nghĩa là: “Ánh sáng không thua mặt trời, mặt trăng để soi khắp trời Nam, qui mô thì phụng múa lân chầu càng tăng vẻ đẹp gấm vóc. Mùi hương tung khắp đất trời làm thơm nước Việt, địa thế thì rồng quăng cọp dựa càng nảy ra những đấng tài hoa”. Văn tài Trịnh Hoài Đức được đúc kết qua nhiều tác phẩm giá trị, nhưng nổi bật và sáng giá nhất phải kể đến bộ Gia Định thành thông chí của ông. Đây là địa phương chí đầu tiên của lịch sử thư tịch Việt Nam. Tác giả có một cái nhìn toàn diện một vùng đất mới có rất nhiều tiềm năng trong lịch sử mở nước của tiền nhân. Có thể nói đây là một tác phẩm sáng giá nhất và cũng ra đời sớm nhất ở miền Nam vào giai đoạn đất nước mới thống nhất. Qua sách, tác giả trình bày cặn kẽ về đất nước, con người, phong tục, thổ ngơi của đất Gia Định xưa tức vùng đất mà tiền nhân quen gọi là lục tỉnh (tức gồm 6 tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang và Hà Tiên). Gọi là lục tỉnh vì các nhà Nho xưa gọi tắt theo một câu cổ ngữ. “Khoái mã gia biên vĩnh định an hà” nghĩa là “Phóng ngựa ra roi giữ yên non nước”, các nhà Nho theo đó lấy các chữ tắt làm tên đầu cho các tỉnh, Gia: Gia Định, Biên: Biên Hòa, Vĩnh: Vĩnh Long, Định: Định Tường, An: An Giang, Hà: Hà
- Tiên chỉ Nam kỳ mà bây giờ chúng ta gọi là miền Nam hay Nam bộ. Chính vì nội dung có tầm quan trọng về đất nước con người, phong tục như đã nói; thế cho nên khi thực dân Pháp chiếm Nam kỳ việc đầu tiên khi thành lập bộ máy cai trị họ đã cho dịch tác phẩm này sang tiếng Pháp để dùng vào việc củng cố chế độ thực dân và theo đó các quan cai trị người Pháp biết được một phần lịch sử, địa lý, phong tục dân bản xứ. Ngoài các sáng tác, trước tác bằng chữ Hán sáng giá của ông, ông còn là một nhà thơ sử dụng chữ Nôm rất độc đáo. Theo truyền văn thì số thơ ông làm bằng chữ Nôm rất nhiều, nhưng đến nay đã thất lạc. Riêng 18 bài thơ Đi sứ cảm tác đã nói lên được cái thi tài của ông và từ đó còn cho chúng ta thấy được khả năng sử dụng chữ Nôm cũng như mãnh lực tiếng Việt trong truyền thống dân tộc. Thơ ông nhẹ nhàng, trong sáng, từ hoa thuần thục, không gò chữ uốn câu, nhẹ nhàng như hơi thở khỏe khoắn lành mạnh Bài thơ Từ giã mẹ đi sứ là một chứng liệu đích thực nhất cho thi tài cũng như văn tâm ông? Lìa hiệp thương nhau kể mấy hồi, Ân tình ai cũng khó phanh phui. Trăng lòa ải Bắc nhàn chinh bóng, Thu quạnh trời Nam quạ đút mồi. Ngay thảo tưởng rồi sa nước mắt, Công danh nghĩ lại ướt mồ hôi. Quân thân tuy cách lòng đâu cách, Trọn đạo con là trọn đạo tôi. (Theo tuần báo Tân Văn, tháng 8- 1935, Sài Gòn). Và nhất là 18 bài liên hoàn ông làm khi đi sứ Trung Hoa năm 1802 để tỏ niềm riêng nơi đất khách - tuy rằng đây là viễn tổ - nơi ông đang nhận một trọng trách của triều đình giao cho ông. Với những bài thơ Nôm này (chùm thơ Nôm đi sứ), tác giả đã nói lên được tâm sự và chí hướng cùng hoài bão mình đối với Tổ quốc, ở đây xin đơn cử một trong 18 bài thơ trên: Nước nhà xưa có phụ chi ai? Nhắn với bao nhiêu kể cõi ngoài. Gắng sức dời non khoan nói tướng, Trải lòng nâng vạc mới rằng trai, Nắng sương chưa đội trời chung một, Sông núi đừng cho đất rẽ hai. Giúp cuộc Võ Thang ra sức đánh, Người coi để tiếng nhắc lâu dài.
- (Bài XI, trích lại trong Quốc âm thi hiệp tuyển, Lê Quang Chiểu, Pièce en deux volumes, Sài Gòn, Claude et Compagnie édition, 1903). Ngoài ra trong cấn Trai hối thực trung biên, Trịnh Hoài Đức còn ghi lại rất nhiều thơ chữ Hán của ông về vịnh vật, tả cảnh, ngôn chí mà loại thơ này của ông đều hàm chứa một nội dung sâu sắc chứng tỏ ông là người có rất nhiều kinh nghiệm về sử, địa, nhân tình thế thái trong và ngoài nước, ví như: Đào châu quán trục Ngũ hồ du, Thiên lý giao thừa Phạm Lãi du Nghĩa là: Nghìn dặm từng rong thuyền Phạm Lãi, Đào Châu chơi nhỡn suốt năm hồ. Đào Châu là hiệu của Phạm Lãi. Phạm Lãi sau khi giúp Việt Câu Tiễn thành công trong việc giữ nước, khi công thành thì thân thối (thoái). Tâm sự ấy của Phạm Lãi phải chăng là nỗi niềm Trịnh Hoài Đức? Bên cạnh đó Trịnh Hoài Đức có nhiều thơ chữ Hán tặng các bạn như các bài Khách Cao Miên quốc ký hoài Diệp Minh Phụng Kỳ Sơn với các câu: “Cố quốc âm thư vạn lý tình” (Nước cũ tin âm mấy dặm trình) và câu kết: “Liên nhân khởi phục giá cô minh” (Giá cô kêu gọi, gợi thâm tình) phải chăng ông nhớ về cố quốc Việt Nam lúc đang ở nước bạn “Cao Miên”. Nước cũ vừa hàm ý cố quốc mà cũng là nơi chôn nhau cắt rốn bản thân mình. Cho nên dù phải xa nước Việt, xa đất Gia Định, nhưng hình ảnh đất nước, con người Việt Nam vẫn canh cánh bên lòng: Chế Lăng sơn thủy nhiễu yên chướng Gia Định hương quan nhập mộng hồn. Dịch thơ: Non nước Chế Lăng đầy chướng khí Xóm làng Gia Định mộng hồn trông. Thơ văn Trịnh Hoài Đức khá nhiều, không những về lượng mà chất của các tác phẩm ông mới là phần đóng góp lớn cho kho tàng văn hóa Việt Nam hồi thế kỷ XIX. Gia Định thành thông chí có lẽ là tác phẩm tầm cỡ có giá trị lớn đối với toàn bộ văn học Việt Nam mà các nhà trong Gia Định tam gia (gồm ông (THĐ), Ngô Nhơn Tịnh, Lê Quang Định), và nhóm Sơn Hội (gồm 3 vị trên và các ông Diệp Minh Phụng, Hoàng Ngọc Uẩn ) quả thật lớn lao. Phần đóng góp của họ đối với văn hóa Việt Nam rất phong phú và cho đến mãi hôm nay tác phẩm của họ - trong đó có tác phẩm Trịnh Hoài Đức - vẫn còn là những bài học đối với chúng ta trong việc “ôn cố”.
- Người Bình Dương SƠN NAM Bình Dương là tên vùng đất quen thuộc nhưng nghe hơi lạ tai, đối với người lớn tuổi. Xưa gọi Thủ Dầu Một, thời Pháp thuộc. Thời Tự Đức, thuộc vào địa bàn tỉnh Biên Hòa. Hai tiếng Bình Dương mới đặt sau Hiệp định Genève 1954, lần hồi trở nên quan thuộc, dân gian ưa thích, nhất là sau khi có phim Người đẹp Bình Dương ra mắt, mặc dầu không thành công như ý muốn. * Cốt lõi của người tỉnh Bình Dương ngày nay vẫn là dân sống quanh thị xã, lấy Thủ Dầu Một làm trung tâm phát triển. Thị xã nằm bên bờ sông Sài Gòn, phía thượng nguồn. Chính con sông hiền lành này là mạch máu giao lưu để vận tải hàng hóa với khối lượng lớn xuống Sài Gòn, Chợ Lớn đi các tỉnh. Phần lớn vẫn còn sử dụng đường bộ, với hệ thống khá hoàn chỉnh. Trước khi Pháp đến, Bình Dương giao lưu dễ dàng với tỉnh lân cận là Biên Hòa, xuống Sài Gòn, theo đường bộ khoảng 30km. Vì vậy, người Bình Dương không cần đi xuống các tỉnh phía đồng bằng sông Cửu Long để làm ruộng nước. Với thế mạnh là lâm sản, sau này là vườn cao su, đặc biệt có vài ngành thủ công nghệ cung cấp sản phẩm cho cả phía Nam. Khoảng cuối thế kỷ XIX, Bình Dương nổi danh là khu vực săn bắn lý tưởng, dành cho người Âu từ nước ngoài đến. Thái tử Nga (sau này là Sa hoàng bị truất phế vì Cách mạng tháng Mười 1917) vào năm 1890 được thực dân mời lên Dĩ An để săn nai, thật ra đó là con nai nuôi sẵn. Rồi người Pháp thử khai thác rừng già của Thủ Dầu Một, cho nhiều đoàn thám sát phía thượng nguồn sông Bé, rất gian nan, gặp sự chống đối của người dân tộc S- tiêng. Công ty tàu thủy Pháp mở tuyến Sài Gòn đi và về 2 lần 1 tuần, từ năm 1885, nhằm chở lính, gạo, thực phẩm cho đồn bót. Pháp cho mở thêm tuyến xe lửa (chạy hơi nước, sau chạy điện) từ Sài Gòn, Bà Chiểu, Hóc Môn lên Lái Thiêu, về sau nối lên Lộc Ninh nhằm chở mủ cao su về Sài Gòn. Vấn đề phu cao su quá lớn, chỉ xin đề cập đến vài ngành tiểu công nghệ gây uy tín cho đất Bình Dương. Bình Dương, với trung tâm là Lái Thiêu có lẽ đứng đầu phía Nam về khối lượng đồ gốm, sản xuất được nhiều vì có nơi tiêu thụ, có đầu ra để phát triển đầu vào. Trước khi Pháp đến, nhiều toán nghệ nhân và chuyên gia Trung Hoa đã khảo sát thị trường đồ gốm. Bên Cam-Bốt, gần như chẳng có đất tốt với trữ lượng to, phía đồng bằng sông Cửu Long thì đất chỉ dùng làm gạch ngói, còn ở miền Trung bộ thì khó tìm đất, vả lại đường chuyên chở quá xa đến nơi phân phối. Trước đó, ở gần gò Cây Mai (Chợ Lớn) đã qui tụ số ít người chuyên về gốm thô, siêu, đặc biệt là có gốm cao cấp dùng trang trí chùa, miếu. Sau đó, khu vực Lò Gốm ấy giải thể, khi chỉnh trang vùng Chợ Lớn. Nghệ nhân và giới kinh doanh lại dời về Lái Thiêu, nơi có rạch Lái Thiêu thuận lợi chuyên chở, đồng thời vùng phụ cận hoặc xa hơn, phía Đất Cuốc (Tân Uyên) còn dự trữ đất sét. Căn cứ vào năm thành lập và trùng tu chùa Bà ở Lái Thiêu, ta đoán chắc nghề gốm ở đây khởi đầu từ năm 1867 qua 1883, 1889. Lò gốm Lái Thiêu hình thành với qui mô to, trên mặt bằng đồ sộ, gần giống như lò sành sứ bên Trung Hoa: khâu chọn đất, lọc đất, nhồi đất, tạo hình, phơi khô, vào lò, xem lửa, ra lò rồi phân phối. Vòng sản xuất khép kín trong một mặt bằng. Bấy giờ những lò lớn chia ra:
- - Lò Quảng Đông chuyên về tượng trang trí nhiều màu sắc, dùng khuôn, làm chậu trồng cây cảnh, về sau, bày ra kiểu tượng con voi để làm đôn, có thể ngồi lên được. - Lò Triều Châu, chuyên làm tô chén gia dụng, với đặc trưng nền trắng, men xanh, thường vẽ hình con rồng, bông cúc, con gà - Lò Phước Kiến, chuyên về vật dụng to lớn, như lu khạp, dùng men vàng, gọi men “da lươn” Mãi đến nay, đồ gốm vẫn còn được chuộng, mặc dầu đồ nhôm nhựa phát triển. Nghề này vẫn thu hút nhiều công nhân già cả lớn bé. Chợ Lái Thiêu là thị trấn “thức suốt đêm”. Dọc theo rạch Lái Thiêu, dịp gần Tết, hàng trăm ghe tải lớn nhỏ đậu vào bến, chờ “ăn hàng”, nhất là dịp gần Tết. Nghề mộc một thời khiến cho Bình Dương nổi danh cả phía Nam, vì ở tỉnh Thủ Dầu Một nên dân gian quen ca ngợi là “thợ Thủ”, tay nghề cao. Người Pháp ngay những năm đầu thế kỷ đã tổ chức Trường Mỹ thuật Gia Định (chuyên hội họa), trường dạy gốm ở Biên Hòa và trường chuyên đồ Mộc (gọi trường Bá nghệ) ở Thủ Dầu Một. Nhờ trường mộc này, tay nghề của thợ Thủ được hiện đại hóa. Người Pháp đã thấy thế mạnh của Bình Dương là gỗ quí (gõ, cẩm lai, bằng lăng ) nên đã đưa nhiều thợ giỏi về mộc từ bên Pháp sang dạy cho dân địa phương. Những bộ “xa-lông” nay còn thấy, bán với giá khá cao lấy kiểu từ đồ mộc của Pháp, theo kiểu thức đời vua Louis XVI. Trước kia, ta dùng trường kỷ, nhưng với Pháp, đã có những ghế dựa, dành cho cá nhân, chủ nhà và khách ngồi quanh cái bàn nhỏ. Để phù hợp với cảm quan của người Việt, bày chạm cúc dây, hoa mẫu đơn, về sau, lại cản xà cừ. Cái bàn “giường thờ” thời xưa để thờ ông bà được cải tiến, trở thành cái “tủ thờ” xinh xắn, mặt hình bầu dục (gọi hột xoài). Đây là kiểu tủ của Pháp cải tiến, thường chạm hai hàng chuỗi theo hình dọc. Mặt tiền của tủ, cản xà cừ những điển tích cầu hôn Giang Tả, Ngũ Tử đăng khoa Đây là tay nghề của những thợ cản xà cừ từ tỉnh Hà Đông vào, lần hồi, nhóm nghệ nhân của đồng bằng sông Hồng tổ chức một miếu thờ, nay hãy còn, đáng trân trọng, gọi miếu Mộc Tổ, vào khoảng năm 1940. Nghệ nhân ở Lái Thiêu lại cải tiến kiểu tranh thờ tổ tiên, trước kia thờ chữ Phước, chữ Lộc hoặc tranh nhập từ Hương Cảng với non cao, cây tùng và dòng suối. Tranh vẽ trên kiếng ra đời, vui tươi hơn, có dòng sông chảy ra biển, cây phượng trổ hoa, ngôi nhà ngói, vẫn là “cây cội nước nguồn” ở vùng văn minh sông nước, phổ biến đến tận mũi Cà Mau, nay hãy còn, hình ảnh vẽ sau tấm kiếng, thỉnh thoảng rửa sạch bụi, trông như mới. Sơn mài là thế mạnh, có truyền thống của Bình Dương, trước kia chỉ sản xuất đồ gia dụng như quả đựng đồ cưới, sau cải tiến lại, nâng lên với tranh sơn thủy (con nai uống nước bên dòng suối). Ban đầu, nổi danh nhất là nhóm Thanh Lễ, ông Thanh và ông Lễ hợp tác, về sau, ông Lễ (Nguyễn Thành Lễ) lãnh đạo, bày ra kiểu xa-lông phủ toàn sơn mài, thêm tủ đựng rượu cũng sơn mài, hấp dẫn người Âu, một thời gây uy tín lớn, xuất cảng qua châu Âu. Vườn cây ăn trái từ hai trăm năm qua thành hình ở Bình Nhâm, Lái Thiêu, giống măng cụt được du nhập (nhờ người theo đạo Thiên Chúa), thêm sầu riêng (sầu riêng, từ năm 1925), thêm dâu, bòn bon. Khu vườn cây ăn trái nay trở thành điểm du lịch cho dân Sài Gòn. Lướt qua vài ngành nghề xưa để thấy người Bình Dương rất năng động, hàng hóa phải có thị trường rộng trong miền, cải tiến kỹ thuật không ngừng. Ngoài số người sống với
- nghề ruộng rẫy, khá đông người Bình Dương sống với nghề thủ công, nhờ vậy mà lanh lẹ, bặt thiệp, xuống Sài Gòn chơi, khó phân biệt người tỉnh lẻ với người đô thị. Hệ thống đường bộ khá hoàn chỉnh, chợ Thủ Dầu Một xây dựng nơi cao ráo, sạch sẽ. Có thể nói ở Bình Dương thành hình một kiểu “nhà vườn”, tuy không nói ra từ ngữ ấy. Đình chùa khá xưa, nay còn ngôi nhà của bác sĩ Trần Công Vàng, hơn 80 tuổi, vẫn còn bảo quản tốt, nhà 5 căn, hai chái, trang trí kiểu đầu thế kỷ, đã trăm năm qua còn giữ được phong độ cổ kính.
- Người lục tỉnh TRẦN VĂN GIÀU Người dân đồng bằng sông Cửu Long - Đồng Nai vốn chân thật, trung tín, cởi mở, bộc trực, tình cảm (lắm khi có tính chất nguyên thủy), xử xự với người ngay không suy tính thiệt hơn. Họ cũng đòi hỏi kẻ khác phải như vậy đối với họ. * Trước khi Pháp chiếm miền cực Nam của nước ta thì lục tỉnh có bao nhiêu ruộng vườn (vài mươi vạn mẫu chăng?), có bao nhiêu dân cư (già một triệu chăng?), không rõ lắm. Điều được biết rõ là lục tỉnh chỉ có Sài Gòn, Chợ Lớn là thành thị, kỳ dư là nông thôn, phần lớn diện tích còn là hoang dã. Đất phì nhiêu bạt ngàn chờ tay người khai phá; sông lớn rạch nhỏ đầy cá, tôm, cua, sấu, khí hậu dễ chịu, thường mưa thuận gió hòa, rất ít khi bão, lụt, hạn, những ưu đãi ấy của thiên nhiên như vẫy gọi nông dân Trung, Bắc vào Nam. Nam kỳ được chinh phục không phải bằng thanh gươm vó ngựa mỗi ngày đi hàng chục dặm mà bằng lưỡi cày đôi trâu đi từng bước một. Gốc gác người nông dân lục tỉnh chủ yếu có ba nguồn: Thứ nhất là những người dân Trung, Bắc bần cùng, lưu tán hay muốn tránh cuộc phân tranh đẫm máu kéo dài giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn, từ đầu thế kỷ XVII đã lần lượt theo gió mùa vào vùng Đồng Nai - Cửu Long để kiếm sống và an thân. Họ là những toán tiên phong vũ trang bằng óc phiêu lưu mạo hiểm, bằng cán búa, lưỡi cày, tấm lưới. Thứ nhì là những người (số ít) có tiền của, có quyền thế chiêu mộ dân nghèo (số đông) ở miền Trung đi vào Nam khẩn đất theo chính sách dinh điền của nhà Nguyễn. Thứ ba, là những lính tráng cùng với nhiều tội đồ được triều đình sai phái, bắt buộc vào Nam lập đồn điền, vừa bảo vệ biên cương, giữ trị an vừa mở ruộng lập vườn xung quanh cứ điểm quân sự. Những ai mộ dân khẩn đất thì trở thành địa chủ lớn, còn phần nhiều dân được mộ đi thì trở thành tá điền, người làm thuê, ở đợ. Quan hệ chủ tớ là quan hệ bóc lột. Tuy vậy, ở một miền có rất nhiều đất canh tác mà cư dân lại rất thưa thớt, thì thường nhất là chủ ruộng cần dân cày hơn là dân cày cần chủ ruộng. Cho nên địa chủ đâu dễ tha hồ lấy tô cao quá, đâu dễ thẳng tay hà khắc với người làm thuê ở đợ. Công điền lục tỉnh ít hơn nhiều so với công điền Trung, Bắc, nhưng ở lục tỉnh mỗi ai có sức lao động và quyết chí tự lập đều có thể bằng tay mình khai phá mấy dây ruộng, lên một miếng vườn, đào đìa, giăng câu, thả đó ở bất cứ một bưng biền bờ rạch ngọn sông nào để khỏi vào luồn ra cúi. Câu nói: “nhất canh trì, nhì canh viên, tam canh điền”, chẳng những tổng kết sự làm ăn, mà còn chỉ lối thoát cho nông dân: không ruộng thì làm vườn, thiếu vườn thì đào đìa nuôi cá; làm vườn hơn làm ruộng, đào đìa nuôi cá hơn làm vườn. Bề nào cũng có cách sống được. Những người tự mình đem cha mẹ vợ con vào sinh cơ lập nghiệp thì trở thành trung nông với năm mười mẫu, ba bảy con trâu, là thường sự. Các đồn điền mở ra tới mức nào đó, tới lúc nào đó, rồi thì một phần thành công điền, phần lớn chia cho những ai có công khai phá dù là lính tráng hay tội đồ. Nhà cầm quyền kể cũng không ít vất vả mới giữ được trị an tương đối; đọc lời đáp của
- Nguyễn Văn Nhân với Minh Mạng thì đủ rõ. Quá nhiều rừng rú bưng biền, đường bộ ít, sông ngòi chằng chịt, người bất tuân luật pháp triều đình dễ đi lại ẩn náu ngay sát nách thành Gia Định, đừng nói đâu xa. Vả chăng, ông bà người dân lục tỉnh đã vào sinh sống ở đây, “dọc ngang nào biết trên đầu có ai” trước khi chúa Nguyễn đưa quan quân vào đặt bộ máy cai trị, còn cha anh họ thì đã từng ủng hộ vua Tây Sơn Nguyễn Huệ bốn lần vào Nam đánh chúa Nguyễn đến không còn manh giáp. Họ tiếp nối tinh thần của cha ông thì có lạ gì? Làng ấp của họ không tập trung như ở Trung, Bắc mà rải dài theo sông rạch, mỗi nhà là một vuông tre, sự ràng buộc giữa dân và quan, cả giữa dân với dân, cũng đều không chặt chẽ. Họ nguyên là con em hoặc chính họ là dân “tứ chiếng” từ những tỉnh, phủ, xã khác nhau, chủ yếu từ những vùng đã nổi tiếng hay cãi, hay co, vũ dũng có thừa, mạnh ai nấy vượt biển băng ngàn đến tập hợp trên đồng bằng cực kỳ trù phú này, đem theo mình nhiều chất phiêu lưu mạo hiểm tự do mà ít chất thuần phục quyền uy phong kiến, càng ít sự ràng buộc lễ giáo đạo đức Khổng Mạnh; nhưng giữa họ với nhau, tình huynh đệ giang hồ nghĩa hiệp là một thực tế lắm khi cao cả, chớ có khinh nhường. Người dân đồng bằng sông Cửu Long - Đồng Nai vốn chân thật, trung tín, cởi mở, bộc trực, tình cảm (lắm khi có tính chất nguyên thủy), xử sự với người ngay một cách không suy tính thiệt hơn. Họ cũng đòi hỏi kẻ khác phải như vậy đối với họ. Ngay từ thuở ấy của thế kỷ XVIII sang đầu thế kỷ XIX kinh tế nông thôn lục tỉnh không hẳn là kinh tế tự túc từng vùng, ở đây lúa gạo thì nhiều, thủ công lại rất ít. Người ta sống không phải chỉ có ăn, còn cần nhiều thứ khác, nên phải mua bán lúa mà mua hàng nhu yếu từ xa, từ rất xa. Ghe thuyền lục tỉnh lên Sài Gòn - Chợ Lớn từ Sài Gòn - Chợ Lớn tàu bè ra Trung, Bắc, xuống Nam Dương, lên Bắc Hải. Rồi ngược lại. Trên mức độ bắt đầu nhưng đáng kể, có sản xuất hàng hóa ở lục tỉnh rồi, bài phú Cổ Gia Định phản ánh thực trạng đó. Và trong thực trạng đó, tầm mắt con người không phải chỉ bó hẹp ở xóm vắng làng xa. Trong các miền Đồng Nai, Cửu Long đặc biệt trù phú, khí hậu dịu hòa làm ăn dễ, tiền của lương thực như ở đầu bàn tay, dân lại tràn đầy nghị lực của kẻ khai phá đất mới muôn trùng, thì con người “dám làm ăn lớn”, con người “hào hiệp” là điều dễ hiểu, huống chi họ mang trong máu cái truyền thống “trọng nghĩa khinh tài” mà không phải chờ đến ngày vào Đồng Nai - Cửu Long mới có.
- Người Hoa ở Bạc Liêu PHAN TRUNG NGHĨA Đến năm 1882, khi người Pháp thành lập tỉnh Bạc Liêu họ đã tiến hành điều tra dân số và ghi rằng: “ đã có 4.900 người Hoa kiều, chưa kể số người Hoa làm bạn chèo ghe (chèo ghe mướn) và số ẩn náu ở ruộng muối”. Sau 115 năm (đến năm 1997), người Hoa ở Bạc Liêu đã lên đến 32.280 người. Trong cộng đồng người Hoa của đất Bạc Liêu có một sự giao thoa rất sâu sắc trong huyết thống lẫn văn hóa. Trong văn hóa, chúng ta thấy rõ nhất là ở các chùa miếu, chùa Minh ở phường 3, Bạc Liêu là một thí dụ. Kiến trúc thì đặc sệt Trung Hoa nhưng tín ngưỡng lại theo cách của người Việt. * Năm 1695, không chịu cạo đầu, thắt bím làm tôi nhà Thanh, Mạc Cửu đã dẫn gia quyến và tùy tùng vào khai khẩn đất Hà Tiên (Pexun). Triều đình ta đã phong cho Mạc Cửu là Tổng binh đại đô đốc và tạo điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa của một vùng đất mới thuộc chủ quyền Việt Nam. Từ đó, Hà Tiên phát triển thành một thương cảng quốc tế sầm uất, một khu thương mãi tầm cỡ như trung tâm của địa bàn ĐBSCL ngày nay. Về văn hóa thì phát triển rực rỡ, ngày nay chúng ta còn nghe nói đến: “Chiêu anh các”, “Hà Tiên thập vịnh” Thời điểm trấn Hà Tiên ra đời, Bạc Liêu thuộc trấn Hà Tiên với tên gọi là huyện Trấn Di. Nhóm thứ nhất, người Hoa sau khi cùng với người Việt hoàn thành sứ mệnh đặt những viên gạch đầu tiên để xây dựng cù lao Phố, thành Gia Định rồi khu thương mại Sài Gòn - Gia Định vượt sông Tiền, sông Hậu tiến vào Bạc Liêu. Nhóm thứ hai theo đường biển từ Hà Tiên vòng xuống mũi Cà Mau, cất nhà trú ngụ rồi thành lập làng, ấp rồi tiến dần lên Bạc Liêu. Đây là lớp lưu dân Hoa kiều đầu tiên đến khẩn hoang đất Bạc Liêu hoang địa. Kế tiếp con cháu họ từ bên Tàu sang Bạc Liêu bằng đường biển. Trước thập niên 30 của thế kỷ này, tàu Hải Nam chạy buồm, mắt đen, mũi đỏ từ đảo Hải Nam chở lao động ở Phúc Kiến, Quảng Đông và đông nhất là người Triều Châu sang Việt Nam và Bạc Liêu, khi về thì chở bong bóng cá, đường, sáp ong, tôm, cá khô Mỗi chuyến đi của thương thuyền Hải Nam đôi khi phải mất sáu tháng một chuyến, bởi còn phụ thuộc mùa gió. Sau thập niên 30 thì tàu Hải Nam được đổi bằng sắt và chạy máy hơi nước. Đến năm 1882, khi người Pháp thành lập tỉnh Bạc Liêu họ đã tiến hành điều tra dân số và ghi rằng đã có 4.900 người Hoa kiều, chưa kể số người Hoa là bạn chèo ghe (chèo ghe mướn) và số ẩn náu ở ruộng muối. Sau 115 năm (đến năm 1997), người Hoa ở Bạc Liêu đã lên đến 32.280 người. Người xưa kể rằng: Ngôn ngữ chủ yếu của chợ Bạc Liêu trong thế kỷ XIX là tiếng Triều Châu. Ai không biết tiếng Triều Châu thì khó lòng buôn bán, cả bộ máy hương chức làng cũng dùng tiếng Triều Châu. Lớp người Hoa trong thời kỳ đầu vì chính trị mà trở thành lưu dân phiêu bạt nơi xứ người hầu hết là tráng đinh. Họ lấy phụ nữ người Việt, người Khơme làm vợ và do đó xuất hiện lớp người Minh Hương, tức là con cháu họ sau này. Trong cộng đồng của người đất Bạc Liêu có một sự giao thoa rất sâu sắc trong huyết thống lẫn trong văn hóa. Trong văn
- hóa chúng ta thấy rõ nhất là ở các chùa miếu, chùa Minh ở phường 3, Bạc Liêu là một thí dụ. Kiến trúc thì đặc sệt Trung Hoa nhưng tín ngưỡng lại theo cách của người Việt. Nhưng người Hoa vì phản kháng Thanh triều mà lưu xứ thì vừa làm ăn vừa nhen nhóm hội kín (Thiên địa hội - tổ chức bài Thanh phục Minh), chủ yếu là hai hội kèo xanh và kèo vàng. Tổ chức này sau biến tướng thành hội anh chị, đâm chém nhau giành ảnh hưởng làm ăn. Người Pháp lúc bấy giờ rất lo ngại, Giám đốc nội vụ đã báo cáo trước hội đồng quản hạt: “Nếu cái đầu của Thiên địa hội ở Chợ Lớn thì cái đuôi của nó tại Bạc Liêu”. Và lý do chính để người Pháp thành lập tỉnh Bạc Liêu là lý do an ninh, cần phải tăng cường bộ máy cai trị. Người vì kinh tế mà tha phương thì rất chí thú làm ăn. Người Hoa ở Bạc Liêu thường trồng rẫy, buôn bán và khai thác đất ven biển. Những hình ảnh cảm động còn đọng lại trong lòng người Bạc Liêu như một hoài niệm về những chú Chệt chí thú làm ăn: Đó là một tráng đinh ăn rất ít mà sức vóc gấp đôi người khác, gánh một lần bốn thùng nước để tưới rẫy, mà lại tưới vào giữa trưa nắng, trái với kỹ thuật làm rẫy của người Việt, người Khơme. Vậy mà mấy tay “cắc chú” ấy tạo ra những địa danh như Rẫy Chệt, Trà Ban. Rồi những rẫy khóm ở Chắc Băng, Cạnh Đền Người Hoa còn đóng vai trò khai sinh ra vườn nhãn Bạc Liêu, ruộng muối Bạc Liêu nổi tiếng khắp Nam kỳ lục tỉnh. Sở trường mạnh nhất của người Hoa là buôn bán. Tại Bạc Liêu có khá nhiều chú Chệt từ thời trai trẻ cho đến tuổi trung niên chỉ làm một nghề duy nhất là gánh ve chai lông vịt hoặc thuốc nhuộm quần áo. Một ngày, họ bán từ sáng đến tối chỉ ăn 3 gà-mên cháo loãng và một khúc cải xá bấu. Vậy mà, khi thời cơ đến, họ bỏ ra hàng trăm cây vàng làm cho láng giềng phải giật mình. Thời cơ của người Hoa tại Bạc Liêu là khi Pháp mở thương cảng Sài Gòn để xuất khẩu gạo, họ đã năng động lập chành lúa, mua ghe chài để làm ăn theo cách cung cấp hàng hóa, nông cụ cho người Việt, người Khơme rồi thu mua lại lúa gạo để vận chuyển đi Sài Gòn. Người Hoa đã năng động đưa công nghệ mới, thiết lập những nhà máy xay xát để phục vụ cho việc làm ăn của mình. Chính lúc đó người Hoa đã nhen nhóm nền công nghiệp chế biến đầu tiên cho Bạc Liêu. Căn cứ vào vai trò thương mại giữa 3 tộc người ở Bạc Liêu thì người Hoa bao giờ cũng chiếm ưu thế. Có từng lúc họ nắm vai trò chủ đạo ở chợ Bạc Liêu. Vì sao người Hoa buôn bán giỏi? Chính Nho giáo đã giúp cho người Hoa một yếu tố căn bản đó là chữ TÍN. Điều này, khi đánh giá về sự phát triển của châu Á mà cụ thể là Nhật, các chuyên gia kinh tế của thế giới đã thừa nhận. Văn hóa của Trung Hoa cũng theo hành trang của lưu dân Hoa kiều mà vào đất Bạc Liêu. Đó là sắc thái văn hóa chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi Phật giáo (phái Bắc Tông) và Nho giáo (Khổng, Mạnh). Tại Bạc Liêu, văn hóa ấy được phô bày qua các chùa miếu với lối kiến trúc và tín ngưỡng theo truyền thống Trung Hoa, như thờ: Thiên hậu thánh mẫu, Quan đế thánh quân Đồng thời, lối sống của Hoa kiều cũng mang tính chất bảo tồn văn hóa họ qua các tổ chức bang, hội, họ và qua các thủ tục xây cất, quan hôn tang tế rất nặng nề về thuật phong thủy Những năm gần đây cùng với sự trở về nguồn của văn hóa người Việt, người Khơme thì văn hóa người Hoa cũng được bảo tồn và phát triển thông qua các lễ hội truyền thống và phát triển các loại hình nghệ thuật. Ngoài vị trí kinh tế, văn hóa Trung Hoa đặc biệt là các loại hình văn học nghệ thuật đã
- có ảnh hưởng và chiếm một vị trí quan trọng trong cộng đồng người ở đất Bạc Liêu. Tài liệu tham khảo: - Đại Nam thống nhất chí - Lịch sử khẩn hoang miền Nam - Văn minh miệt vườn - Đồng bằng sông Cửu Long, nét sinh hoạt xưa và nay - Sơn Nam - Bạc Liêu xưa và nay - Huỳnh Minh
- Hai giai thoại về thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa KIỀU VĂN Ông Bùi Hữu Nghĩa (1807-1872) người làng Long Tuyền, quận Bình Thủy, tỉnh Cần Thơ, là người đỗ thủ khoa đầu tiên ở Gia Định, ông là một nhà thơ nổi tiếng về cả thơ chữ Hán lẫn thơ Nôm. Ông cũng là tác giả của vở tuồng Kim Thạch kỳ duyên được coi là một kiệt tác sân khấu ở miền Nam. Vở này đã từng được diễn tại Kinh đô Huế và đích thân vua Tự Đức tới xem. Mặc dù uyên thâm Hán học, đỗ đạt cao, ông không hề mù quáng tôn sùng mà sáng suốt nhìn nhận cái hay lẫn cái dở của văn chương cổ điển Trung Hoa. Dẫn chứng là ông đã phát hiện những chỗ “không ổn” của các áng thơ Đường mà người đời coi là những điển phạm. - Bốn câu thơ này - Thủ khoa Nghĩa nói - ai cũng khen hay mà không thấy cái dở của nó: Cửu hạn phùng cam vũ Tha hương ngộ cố tri. Động phòng hoa chúc dạ, Kim bảng quải danh thì. (Nắng hạn lâu gặp mưa rào, Nơi xa gặp bạn cũ Đêm động phòng hoa chúc Lúc đi thi đỗ đạt) Bài thơ nói đến bốn hoàn cảnh khiến người ta vui sướng. Nhưng nếu chỉ diễn tả có bấy nhiêu, thì thiết nghĩ cũng chưa lấy gì làm “sướng” cho lắm! Muốn thực “sướng” thì phải thêm chữ như sau: Thập niên cửu hạn phùng cam vũ Thiên lý tha hương ngộ cố tri “Hòa thượng động phòng hoa chúc dạ Nột nho kim bảng quài danh thì! (Mười năm nắng hạn gặp mưa rào Ngàn dặm quê người gặp bạn cũ Thầy chùa mà được động phòng hoa chúc! Nho sinh dốt nát mà được thi đỗ!) Như vậy vẫn chưa hết. Cũng bài thơ trên, muốn biến hóa nó thành ra “sự khổ” thì chỉ cần “thêm chữ” như sau là cái khổ hiện ra liền: Diêm điền cừu hạn, phùng cam vũ
- Đào trái tha hương, ngộ cố tri Yểm hoạn động phòng hoa chúc dạ! Cừu nhân kim bàng quài danh thì. (Ruộng muối đang được nắng lâu, lại gặp mưa rào, Trốn nợ tới quê người lại gặp ngay người quen cũ Anh chàng bị “thiến” lại gặp đêm động phòng! Kẻ thù của mình lại thi đỗ!) Qua câu chuyện trên đủ thấy “trí lực” và đặc biệt là sự “hài hước” và cái “hóm hỉnh” của ông Thủ khoa tới mức nào! Chuyện thứ hai: cũng tại Gia Định xuất hiện một ông Tú, tên là Văn Bình. Tài nghệ của ông ta chưa ai được thưởng thức nên chưa biết ra làm sao. Nhưng cái “đức” “gà tức nhau tiếng gáy” của ông ta thì không ai bằng. Nghe danh ông Thủ khoa Nghĩa nổi như cồn, ông ta nhất quyết “hỏi dò cho đến ngọn nguồn lạch sông”, bèn khăn áo chỉnh tề “vi hành” xuống Bình Thủy, Cần Thơ để gặp ông Thủ khoa cho bằng được. Tới giữa làng Long Tuyền, bỗng ông ta gặp một ông già đang ngồi đan rổ ở ngoài đường. Tú Văn Bình hỏi thăm đường vào nhà ông Thủ khoa Nghĩa, ông già đan rổ hỏi: - Thưa, ông là ai, ở đâu ra mà tới kiếm ông Thủ khoa? - Tôi là tú tài Văn Bình ở Gia Định, chắc bác đã biết tiếng. Nay tôi muốn gặp ông Thủ khoa xem ổng giỏi tới cỡ nào? Ông già đan rổ khoắn khỏa mời ông Tú vào nhà nghỉ một lát để sai con cháu dẫn sang nhà ông thủ khoa. Đoạn chủ nhà chỉ vào những câu đối treo trong nhà nói: - Những câu này là của ông Thủ khoa đó. Nhưng ông ta thích viết dài. Riêng tôi, tôi thích làm văn “chữ một” thôi, ở đây thỉnh thoảng tôi cũng có mời anh em bè bạn thích thơ cùng nhau đối đáp chơi. Ông Tú không ngờ gặp được một người bình dân thích văn chương, cũng nổi hứng muốn được “thù tạc” đôi câu. Ông già đan rổ đề xướng cách “đối chữ một” Văn Bình bằng lòng liền. Chủ khách uống trà rất tương đắc. Chủ nhà bèn đọc một chữ “võ”. Văn Bình đối liền: “”văn”. Chủ nhà lại đọc “trắc”. Ông Tú đối “bình”. Chủ đọc tiếp: “vãng”. Đối: “lai”. Chủ lại đọc: “Nam”. Đối: “Bắc”. Chủ đọc: “cô”. Đối: “cụ”. Tú Văn Bình nghĩ vế đối “chữ một” của mình chỉnh không chê vào đâu được. Ông già đan rổ cười nói: - Nào, bây giờ mời ông đọc cả hai vế xem sao! Tú Văn Bình đọc:
- Võ trắc vãng Nam cô Văn Bình lai Bắc cụ! Vừa đọc xong vế đối của mình, ông Tú giật nẩy mình, bèn vội vàng đứng lên vái như tế sống ông già mà rằng: - Xin lỗi cụ! Cụ đích thị là cụ thủ khoa rồi. Tú này từ nay không dám vuốt râu cọp nữa! Ông già đan rổ lúc bấy giờ mới cười xòa và bỏ qua mọi chuyện. Thì ra ông thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa đã cho ông Tú Gia Định một đòn trời giáng: Văn Bình lai (đến) bú c! (Theo Giai thoại văn chương Việt Nam của Thái Bạch)
- Vợ Trương Định một liệt nữ bốn lần vươn cao trong số phận CAO VĂN SÁU Cuộc đời và sự nghiệp của Trương Định được sử sách lưu lại, nghiên cứu và phổ biến từ rất lâu. Lăng mộ của ông, nhiều miếu thờ ông là những nơi đông đảo đồng bào đến ca ngợi và nhớ đến công đức của ông. Thế nhưng cuộc đời và sự nghiệp của bà Trần Thị Sanh, người vợ và là người gần gũi đã góp công sức làm nên sự nghiệp hiển hách của chồng, ít được biết đến. Hào khí Gò Công - Tiền Giang sản sinh và hun đúc nên một Trương Định và Trương Định đã đền đáp xứng đáng cho Gò Công. Hào khí Gò Công cũng sản sinh ra một Trần Thị Sanh và Trần Thị Sanh cũng đền đáp xứng đáng cho quê cha đất tổ. Trong các sự nghiệp anh hùng đôi khi có bàn tay chế tác của người đàn bà. Lê Hoàn có thái hậu Dương Vân Nga. Nguyễn Huệ có công chúa Ngọc Hân. Hoàng Hoa Thám có cô Ba. Trương Định có bà Hầu Trần Thị Sanh. Có điều thú vị và mang nhiều ý nghĩa lãng mạn là Nguyễn Huệ phải vượt ngàn dặm ra tận Thăng Long mới gặp công chúa Ngọc Hân và lúc ông đã là Bắc Bình Vương với hào quang chói lọi. Trương Định gặp bà Trần Thị Sanh tại chỗ, lúc ông là phó quản cơ (như phó giám đốc nông trường ngày nay). Bà Sanh thuộc dòng quốc thích, em con nhà cô của thái hậu Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức. Bà Trần Thị Sanh lấy Trương Định khi bà đã có một đời chồng và đã có một người con gái. Vì không sanh được cho chồng con trai nên chồng có thê thiếp. Cuộc hôn nhân tan vỡ. Bà vươn lên và cố tạo cho mình một chỗ đứng trong xã hội. Bà làm văn và trở thành người giàu có nhất xứ Gò Công. Gò Công bốn tổng đồng giàu Mà riêng có một bà Hầu giàu to Bà giàu lên và dùng tiền bạc vào việc nghĩa. Bà dùng tiền của mua lượng lớn thóc cho Trương Định cứu tế đồng bào ngoài Huế đang bị thiên tai đói kém. Bà còn đưa tiền cho Trương Định qui tụ nông dân khai khẩn đất đai. Vào những năm 40 và 50 của thế kỷ trước, nhiệm vụ kinh tế, xã hội là khai thác tiềm năng của đất đai để phát triển nông nghiệp và ổn định đời sống của nông dân. Như vậy bà là một người thức thời. Bà và Trương Định không phải xuất thân từ nông dân với “áo vải cờ đào” nhưng việc làm của bà và Trương Định đã chinh phục được nông dân. Khi Trương Định vươn cao cờ nghĩa, họ đã theo ông. Rồi bà Trần Thị Sanh lấy Trương Định. Đám cưới họ được dòng họ của bà khuyến khích và tán đồng. Lấy Trương Định, bà vươn lên trên số phận lần thứ hai nhưng mới chỉ là chuyện riêng tư của bà. Tây đánh thành Gia Định, Trương Định cùng quan quân triều đình đánh trả. Thành Gia Định thất thủ. Trương Định rút về Gò Công tổ chức kháng chiến. Triều đình cắt ba tỉnh miền Đông cho Tây và lệnh cho ông bãi binh. Ông chống lại và cùng nhân dân, các võ quan, các sĩ phu tiếp tục đánh Tây. Trương Định được suy tôn Bình tây Đại Nguyên soái. Bà Trần Thị Sanh đồng chí hướng với chồng. Bà lo rèn vũ khí, đúc súng, tích lũy lương thực và hậu cần cho nghĩa quân. Lần thứ ba vươn lên số phận. Lần này vừa là số phận của quê hương. Trương Định không sợ Tây, không tuân phục lệnh đầu hàng của triều đình. Phẩm chất cao cả ấy làm cho ông trở thành bất tử. Bà Trần Thị Sanh, người bạn đời của
- ông cũng có đầy đủ phẩm chất ấy như ông. Giữ cho mình phẩm chất ấy bà phải đương đầu với những nỗi niềm mà Trương Định không phải trải qua. Bà là quốc thích lại là người đàn bà một lần bất hạnh trong tình duyên. Cùng Trương Định chống Tây - bà đứng trước nguy cơ góa bụa. Sự thật bà đã trở thành vợ liệt sĩ lúc tuổi hãy còn trẻ. Sau khi Trương Định nằm xuống, người liệt nữ này càng chứng tỏ phẩm chất anh hùng, bất khuất đảm đang, vươn cao lên trước bi kịch của riêng mình và của đất nước. Lấy uy thế là quốc thích và uy thế vợ liệt sĩ Bình Tây, bà đem xác chồng về chôn, làm lăng mộ cho ông nghiêm trang, đàng hoàng, xứng đáng với một người anh hùng. Cảm động và đáng kính phục là trước lăng mộ bà làm bia đá với chữ đề; Đại Nam - An Hà lãnh binh kiêm Bình Tây Đại tướng quân. Bấy giờ Tây đã chiếm Gò Công. Với hai chữ Đại Nam bà tự hào về dân tộc mình. Với những chữ Bình Tây Đại tướng quân, bà tự hào về ông và nói lên ý chí bất khuất của người nằm trong mộ và của riêng bà. Qua những dòng chữ nêu trên ta nghĩ là đôi anh hùng và liệt sĩ nữ ấy tri âm tri kỷ biết bao khi còn sống và lúc một người đã nằm xuống. Bà Trần Thị Sanh làm lăng mộ của Trương Định là cho bà, của người vợ làm cho chồng. Hơn thế nữa bà làm lăng mộ và miếu thờ này là thay mặt cho nhân dân để ghi công đức một người anh hùng. Lăng mộ, miếu thờ Trương Định ngày nay chúng ta có được là nhờ bà. Bà Trần Thị Sanh ca ngợi Trương Định bằng những lời dõng dạc như một lời thề khắc trên bia đá.
- Nguyễn Văn Tuyên người có công trong việc đào kinh Vĩnh Tế NGUYỄN HỮU HIỆP Chúng ta đã biết khá nhiều về công đức ông Thoại Ngọc Hầu, là người đã gắn cả cuộc đời mình vào việc đốc suất đào kinh Vĩnh Tế và bảo vệ vùng biên giới Tây Nam. Nhưng ít ai biết đến một nhân vật cũng được phong tước Hầu, đã cùng ông Thoại trông coi việc đào con kinh này, và cũng là người lính biên phòng thay thế ông Thoại khi ông qua đời trong nhiệm vụ trọng yếu tại đây. Đó là Thống chế lãnh bảo hộ Cao Miên Quốc Ấn, Án thủ Châu Đốc đồn, kiêm lãnh Hà Tiên trấn biên vụ Trung Tuyên Hầu Nguyễn Văn Tuyên. * Chưởng cơ Tuyên, hay Bảo hộ Tuyên, lúc Tuyên Trung Hầu (sử cũng chép Tuyên Quang Hầu, Tuyên Đức Hầu - phải chăng cả ba tước đều được vua phong lần lượt cho ông?). Chính danh là Phan Văn Tuyên, do lập được nhiều công to nên được ban quốc tính, trở thành Nguyễn Văn Tuyên. Theo gia phả nhà họ Nguyễn Hầu, ông sinh năm Quý Tỵ (1763), nguyên quán làng Kiêm Toàn, huyện Phú Xuân, tỉnh Thừa Thiên. Do quê hương liên tiếp chìm đắm trong các cuộc giao tranh khói lửa giữa hai họ Trịnh - Nguyễn, và giữa Tây Sơn với chúa Nguyễn nên cũng như nhiều người khác, gia đình ông phải vào Nam lánh nạn. Lúc đầu dừng chân ở Gia Định, sau tiến lần về vùng Sa Đéc rồi định cư ở Tòng Sơn (thôn Mỹ An, phủ Tân Thành, huyện Vĩnh An, tỉnh An Giang - nay là xã Mỹ An Hưng, huyện Thanh Hưng, tỉnh Đồng Tháp), chọn nơi đây làm quê hương thứ hai, nơi mà sách Đại Nam thống nhất chí mô tả “như tai bèo nổi trên mặt nước, cá lội cò bay, có cảnh trí thiên nhiên rất đẹp ở miền sông nước, phong cảnh cực kỳ thanh tú”. Do đó, các sách Đại Nam chánh biên liệt truyện và Đại Nam thống nhất chí đều nói ông là người huyện Vĩnh An và liệt vào “An Giang nhân vật”. Vốn dòng dõi Phấn dũng tướng quân, ông Tuyên luôn nuôi hoài bão lớn là lấy nghiệp cung đao để lập thân trong thời loạn, nên năm 25 tuổi (1788) ông đầu quân. Nhờ giỏi võ nghệ và có tài điều binh, sau một thời gian ngắn, ông được phong Thần sách quân hổ oai vệ úy. Sau 14 năm xông xáo trước hòn tên mũi đạn, ông lập được nhiều chiến công, được thăng Chấn võ quân nhất bảo vệ úy. Rồi sau đó, 1802, được thăng Khâm sai Chưởng cơ. Năm 1816, được thăng thống chế. Mùa đông năm Kỷ Mão (1819) sau khi đã điều nghiên kỹ về địa hình, vua ban sắc dụ dạy quan Trấn thủ Vĩnh Thanh và Nguyễn Văn Thoại chỉ huy đào kinh Vĩnh Tế, ăn thông từ Châu Đốc đến Giang Thành - Hà Tiên, để ngoài việc tháo lũ rửa phèn cho vùng “Châu Đốc tân cương”, còn nhằm tạo một thủy mạch trọng yếu có tính chiến lược trong việc trấn giữ miền biên viễn. Ngoài Nguyễn Văn Thoại, các ông Chưởng cơ Nguyễn Văn Tuyên và Điều bát Nguyễn Văn Tồn cũng được lệnh hợp sức. 5 năm trời trông nom, đốc suất, từ tháng Chạp năm Mẹo (1819) đến tháng 5 năm Thân (1824) công trình đào kinh bằng tay của trên 80.000 lượt người, dài 98.300 mét, mới hoàn thành trong điều kiện không ít “dân xâu” phải bỏ mạng vì hùm tha sấu bắt, sơn lam chướng khí, hoặc những rủi ro trong lao động ở một nơi núi rừng hiểm trở và cực kỳ gian nan, vất vả. Các nhân vật hữu công được tuyên dương, ban thưởng tiền bạc và the lụa. Ông Nguyễn Văn Tuyên là một trong những người ấy.
- Năm 1822, ông được làm Trấn thủ Biên Hòa, rồi Trấn thủ Định Tường. Lại được giao kiêm chức Khâm sai thuộc nội Chưởng cơ song song với chức vụ Trấn thủ Định Tường. Sau đó được bổ nhiệm làm Trấn thủ Vĩnh Thanh (Vĩnh Long). Để tỏ rõ niềm ân hậu đặc biệt, năm Minh Mạng thứ 5 (1824), tháng 3, ngày mùng 9 vua sắc phong cho thân mẫu ông là bà Võ Thị Đức mỹ hiệu Thục Nhân. Đến năm 1828, lại truy tặng thân phụ ông là Anh dũng tướng quân Phan Văn Hậu (đã mất năm 1822) chức Khinh xa đô uý, thần sách vệ úy Nguyên hầu. (Sắc chỉ Minh Mạng năm thứ 9, tháng 6 ngày 25). Cũng trong khoảng thời gian này, Khâm sai Thống chế Nguyễn Văn Tuyên được cử cai quản Biền binh Gia Định thành. Khi Tả quân Lê Văn Duyệt có việc lai kinh, ông được cử quyền nhiếp Tổng trấn Gia Định thành (hiểu là toàn miền Nam). Ngày mùng 6 tháng 6 năm Kỷ Sửu (1829), ông Nguyễn Văn Thoại đương nhiệm Bảo hộ Cao Miên lâm trọng bệnh mà mất, ông Nguyễn Văn Tuyên được cử thay thế (1830), sắc phong nguyên chức: Thống chế cai quản biền binh, bảo hộ Cao Miên quốc ấn, án thủ Châu Đốc đồn kiêm quản Hà Tiên trấn biên vụ. Giữ chức bảo hộ được hơn 1 năm, ông lâm trọng bệnh mà mất tại Châu Đốc ngày 28-5 năm Tân Mão (1831), thọ 68 tuổi. Linh cữu ông được đưa về an táng tại khu mộ dòng tộc ở quê nhà Mỹ An thôn thuộc tỉnh An Giang (nay gọi là Mỹ An Hưng thuộc tỉnh Đồng Tháp). Sau 140 năm, khu cổ mộ vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Nhưng do có nguy cơ sẽ bị dòng nước sông Tiền làm sụp lở nên gia tộc quyết định cải táng. Các ngôi cổ mộ được xây bằng chất liệu vôi tam hợp và đá ong, rất quy mô, chắc cứng, do đó phải nhờ đến phương tiện cơ giới, vì sức người, dù đông, nhiều, cũng khó bề lay chuyển nổi. Bên trong, các quan tài đều là gỗ quý nên phần lớn còn nguyên vẹn, cả những tấm hình minh tinh (triệu) cũng còn, nhưng không thể không bị mục bở. Tất cả 6 phần mộ ấy đều được di dời về an táng bên cạnh đền thờ ông lập tại ấp Thái Ninh Bình gần đó, vào ngày 15-5-1971. Sử ghi về ông Tuyên Trung Hầu: “Nguyễn Văn Tuyên người huyện Vĩnh An, đầu đời trung hưng theo quân đi đánh giặc, lập nhiều chiến công, làm đến vệ úy vệ Hữu bảo quân Chấn võ ( ) lại đem quân dân đào sông Vĩnh Tế; sau ra làm Trấn thủ hai tỉnh Định Tường và Vĩnh Thanh, lại làm Án thủ Châu Đốc, bảo hộ nước Cao Miên”. Theo gia phả, ông Nguyễn Văn Tuyên có vợ và 4 người con trai mà ông Nguyễn Trường Cửu là trưởng nam. Từ ngày cải táng, các công trình kiến trúc đền thờ và lăng mộ được trùng tu lại rất khang trang, cổ kính. Miêu Duệ Nguyễn Trường Chấp (đời thứ 7), người trực tiếp trông nom việc khói hương tại đây cho biết, đến nay, dù đã trải 165 năm kể từ ngày Khâm sai Thống chế mất, với biết bao biến cố bể dâu, nhưng gia tộc họ Nguyễn Hầu vẫn bảo vệ được đầy đủ và nguyên vẹn gia phả, bằng sắc, gồm: 2 đạo sắc phong, 3 tờ chiếu chỉ, 4 bảng bằng cấp và 6 tờ công văn có ấn tín của vua, của đình thần, hoặc của các quan Trấn thủ. Do công đức to lớn của Tuyên Trung Hầu Nguyễn Văn Tuyên đối với dân, với nước, nên từ nhiều năm nay, nhân dân địa phương, cũng như một số khách tham quan phương xa thường đến chiêm bái, dâng hương tưởng nhớ và ngoạn cảnh. Nhưng đông đảo nhất vẫn là
- ngày giỗ hằng năm, do Hội đồng gia tộc tổ chức đúng theo nghi thức cổ truyền vào các ngày 27 và 28-5 Âm lịch.
- Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa với phong trào kháng chiến chống Pháp ĐINH VĂN HẠNH Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa ra đời trong thời kỳ thực dân Pháp đánh chiếm các tỉnh miền Tây Nam Bộ (1867), phát triển mạnh mẽ theo thời gian và gắn liền với phong trào chống Pháp của một bộ phận nông dân Nam bộ cuối thế kỷ XIX. Hầu hết các lãnh tụ yêu nước lãnh đạo nông dân vũ trang kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ lúc bấy giờ là tín đồ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Tứ Ân Hiếu Nghĩa hoặc có liên hệ với các tổ chức tôn giáo đó, như Trần Văn Thành, Nguyễn Thành Đa (cử Đa), Bùi Văn Tăng (Đình Tăng), Nguyễn Trung Trực, Trương Công Định, Nguyễn Hữu Huân Đây là một vấn đề lý thú mang ý nghĩa “Chìa khóa” để tìm hiểu sự đa dạng trong các hình thức chống Pháp của nhân dân Nam bộ cuối thế kỷ XIX. * Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa được sáng lập bởi Đức Bổn Sư Ngô Lợi (1831- 1890). Ông là một người giàu lòng yêu quê hương, đất nước và thương người. Theo đức tin, những người theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa bấy giờ (và còn truyền đến bây giờ) tin rằng: Đến một ngày nào đó sẽ có một tiếng nổ vang trời xé đôi núi cấm (Thất Sơn, An Giang), trong đó sẽ hiện ra cung son, điện ngọc, nơi diễn ra Hội Long Hoa. Vào “ngày tận thế” ấy, chỉ những người theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa - con của trời, Phật mới sống sót. Một đấng Minh vương sẽ lập lại đời thượng ngươn, lập nên cuộc sống thái bình, an lành. Đó là niềm tin tôn giáo. Nhưng nhiều người cho rằng khái niệm tận thế và Hội Long Hoa chỉ là sự ẩn dụ về ngày tàn của thực dân Pháp, ngày độc lập của dân tộc Việt Nam. Và điều này không phải vô căn cứ nếu tìm hiểu tường tận các hoạt động thực tiễn, sự nhập cuộc với lịch sử, với vận mệnh dân tộc của tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Như vậy có thể nói: ngọn cờ tôn giáo bấy giờ là một sự lựa chọn trong buổi đầu chống Pháp ở vùng đất mới và trở thành vũ khí tinh thần của một bộ phận nông dân trước kẻ thù có tàu đồng, súng sắt, mắt xanh, mũi lõ * Để thể hiện mục tiêu chống Pháp lâu dài, năm 1876, Ngô Lợi (còn gọi là Năm Thiếp) dẫn tín đồ vào núi Tượng (một trong 7 ngọn núi ở vùng Thất Sơn) khai hoang mở đất, lập nên các trại ruộng, hình thành bốn làng An Định, An Hòa, An Thành và An Lập (Nay là xã Ba Chúc, An Giang). Thực chất của việc tràm thào khai sơn (theo cách gọi của tín đồ) là lập một căn cứ, chuẩn bị những điều kiện chống Pháp lâu dài. Đây là một phương thức phù hợp sau tình hình các cuộc khởi nghĩa vũ trang của Nguyễn Trung Trực, Thiên Hộ Võ Duy Dương, Trương Công Định, Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân bị dìm trong bể máu, mà cũng là phương thức Ngô Lợi đã kế thừa từ cao đồ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương Trần Văn Thành là lập trại ruộng, tụ binh khởi nghĩa chống Pháp ở Bảy Thưa - Láng Linh (1867- 1873). Vùng núi Tượng có thung lũng rộng, đất hoang nhiều, có thể khai thác trồng tỉa, khi bị địch tấn công có thể dễ dàng rút lui qua bên kia biên giới Cao Miên Dầu là đất mới, nhưng từ năm 1876, những người theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa đã qui tụ về An Định, An Hòa, An Thành, An Lập rất đông. Họ khoác áo tôn giáo che mắt thực dân, sống bình dị, nhẫn nại và hy vọng chờ đợi. Họ làm ăn, tích lũy lương thực, rèn luyện khí giới dưới sự chỉ huy của lãnh tụ tôn giáo: Đức Bổn Sư Ngô Lợi. Làng An Định xung
- quanh được bố phòng rất cẩn mật. Và việc tập luyện, ý đồ chống Pháp cũng được thực hiện bí mật. Người ta liên hệ nhau bằng Mật lệnh. Để thuận lợi cho việc làm ăn và thực hiện mục đích chống Pháp cao cả, Ngô Lợi đã cho tín đồ làm chung, ăn chung, tổ chức cuộc sống theo hình thức cộng đồng (một loại công xã). Có người nhận xét làng An Định là căn cứ của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa và của phong trào Cần Vương toàn cõi Nam kỳ. Thực ra, đó là một căn cứ chống Pháp lâu dài của toàn cõi Nam kỳ, vì phong trào Cần Vương mãi đến tháng 7-1885 mới được phát động, còn trước đó gần 10 năm, An Định đã là nơi hội tụ của nghĩa quân thất bại trong những cuộc khởi nghĩa lớn do các nhà yêu nước lãnh đạo, về đây cùng với Năm Thiếp chờ cơ hội. * Nhận thấy sự nguy hiểm cho chính quyền thuộc địa Pháp từ giáo chủ Tứ Ân Hiếu Nghĩa, ngày 29-5-1878, Giám đốc Nội vụ Sài Gòn ký lệnh cho tham biện các tỉnh Nam kỳ, truy nã Năm Thiếp. Việc truy nã sẽ được ưu tiên cấp quân dò thám. Chính quyền thực dân cũng treo giải thưởng 1.000 tiền cho ai bắt được Năm Thiếp. Công văn cũng ghi rõ tướng mạo của Năm Thiếp rằng: Vóc người cao ráo, ốm yếu, có ba chòm râu dài. Sau khi công văn được phát đi, theo báo cáo của tỉnh Châu Đốc (Raports Mensuels des provinces, 1878-1880) thì chủ tỉnh các nơi đã soát thấy và bắt rất nhiều người có Lòng Phái của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa Năm Thiếp vẫn nằm ngoài vòng kiểm soát của chính quyền thực dân và vẫn bí mật tụ nghĩa. Theo báo cáo ngày 20-9-1879, của tỉnh Châu Đốc gửi Thống Đốc Nam kỳ (Société secrètes, 1875-1882, F.14) thì suốt từ tháng 2 đến tháng 9-1879, các chủ tỉnh Tân An, Châu Đốc đã cố truy tìm Năm Thiếp, nhưng không có kết quả. Đồng thời, chính quyền thực dân cũng nhận được những báo cáo khác nhau cho biết Năm Thiếp đang ở chỗ này, chỗ kia, có khi ở Mỹ Tho, có khi ở tận Cao Miên, có khi về núi Tượng, hay Sa Đéc Không thể phủ nhận sự thiếu chính xác ở báo cáo của các chủ tỉnh trước một thực tế là Năm Thiếp đã xông xáo với phong trào ở hầu khắp các tỉnh miền Tây Nam kỳ. Cuối tháng 12-1879, chủ tỉnh Châu Đốc nhận được tin mật thám cho biết Năm Thiếp đang thực sự có vài trăm “đệ tử” trung thành, đang tuyên truyền “sách động” và bố trí canh phòng làng An Định. Trước tình hình bất an cho người Pháp ở vùng Thất Sơn, chính quyền thực dân quyết định tấn công triệt hạ căn cứ do Năm Thiếp lập nên. Ngày rằm tháng 7-1881, trong lúc tín đồ đang làm lễ Trung nguyên, cúng Đại Trai đàn và Ngô Lợi đang diễn thuyết, Pháp bí mật đánh úp. Lực lượng của Pháp gồm lính đóng ở Châu Đốc, huy động thêm tàu chiến ở trung tâm đồn binh Tân An với nhiều chiếc thuyền chở quân. Đến Tịnh Biên, chúng tiến bộ bao vây núi Tượng, Pháp bắt được 10 người có tên trong danh sách bị truy lùng vì tội tham gia khởi nghĩa chống Pháp. Nhờ sự che chở của tín đồ, trong đêm tối Năm Thiếp đã thoát được sự bao vây và truy lùng của thực dân Pháp. Pháp đã triệt phá đốt hết nhà cửa, chùa chiền Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Nhưng sau khi chúng rút đi, tín đồ lại trở về An Định làm ăn sinh sống, dựng lại chùa mới Thực dân Pháp tiếp tục dùng kế mật thám dò la để có thể bắt sống Năm Thiếp. Theo báo cáo của tỉnh Châu Đốc (tháng 10-1881) thì mật thám cho biết: Năm Thiếp có “thuật tàng hình”! Ai gặp thì ông vui vẻ đón tiếp và còn cho biết cả nơi cư trú. Ông không trang bị một thứ khí giới nào. Hỏi thì ông trả lời không cần giáo mác, nhưng trong một tương lai chưa biết ngày nào, ông sẽ đánh đuổi thực dân Pháp khỏi Nam kỳ với phép màu nhiệm. Ông chủ tỉnh Châu Đốc chủ trương để nguyên tình hình, không khuấy động nhằm hy vọng làm mất chất xúc tác ở niềm tin của dân chúng, mặt khác chờ thời cơ Năm Thiếp mất cảnh
- giác, dễ bắt sống. Đầu năm 1885, Đốc phủ Trần Bá Lộc báo cáo với chủ tỉnh Mỹ Tho là có thể xảy ra nổi loạn ở các tỉnh miền Tây. Loạn quân vẫn do Năm Thiếp cầm đầu, hiện ở núi Tượng. Nguồn tin trên được chính quyền thực dân cho là có cơ sở. Vì vậy, ngày 16-4-1885, Pháp mở đợt tấn công quy mô lần thứ hai vào núi Tượng, quyết bắt cho được Năm Thiếp, đồng thời giải tán đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Nắm được phần nào tình hình, Năm Thiếp đã dẫn 1.800 người ở các làng An Định, An Hòa lui sang Vườn Dâu (Campuchia) tránh sự tiêu diệt của Pháp. Cũng như lần trước, Pháp lại đốt phá nhà cửa, chùa chiền, lấy đi các báu vật trong chùa, đặc biệt là Ngôi Long Đình - Vật thiêng của bổn đạo mà mãi 86 năm sau tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa mới được nhận lại. Năm Thiếp và tín đồ - nghĩa quân, ở lại Campuchia khá lâu. Đây cũng là điều kiện để Năm Thiếp liên lạc, kết hợp với nghĩa quân chống Pháp của Campuchia. Tháng 5-1885, người Khmer ở Thất Sơn, tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa An Định và nghĩa binh ủng hộ Si-Vatha ở bên kia biên giới đã đánh chiếm đồn biên giới Phú Thạnh của Pháp. Đại úy Ferussec đưa quân tiếp ứng, giải vây, nhưng sợ không dám đánh, phải rút lui. Chủ tỉnh Châu Đốc cử thiếu tá Goulias đưa thêm 200 quân tái chiếm được đồn Phú Thạnh. Khi tình hình tạm yên, Năm Thiếp cùng tín đồ trở về An Định. Nhưng do trước đó nhà cửa, vườn tược bị tàn phá nên nạn đói đã xảy ra. Nhiều người phải vào rừng đào củ rừng để ăn. Thế mà một tháng sau đó “dân đinh” An Định vẫn lại tăng thêm 258 người. Trong báo cáo tháng 10-1885, chủ tỉnh Châu Đốc viết: “Toàn là dân bất hảo, chống đối sự khai hóa của người Pháp, họ ở tứ xứ gom về và tất cả đều theo đạo Phật nhưng là Phật tử có nhiệt tâm đến mức cuồng tín (ám chỉ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa của ông Năm Thiếp - TS). Họ ra về chí thú làm ăn về hình thức mà thôi, gặp cơ hội là họ khởi loạn nữa”. Ngày 13-7-1885, vua Hàm Nghi ban chiếu Cần Vương, Phong trào Cần Vương lan rộng khắp cả nước. Phó tổng binh thành Hà Nội là Lê Công Chánh đã xin về Bình Định tham gia cuộc khởi nghĩa Mai Xuân Thưởng. Sau đó, ông được Mai Xuân Thưởng cử vào Nam kỳ vận động phong trào Cần Vương. Năm 1886, Lê Công Chánh đến Bảy Núi, quy tụ nghĩa sĩ, lập căn cứ, phát động khởi nghĩa, ở đây, Lê Công Chánh đã gặp Năm Thiếp và Nguyễn Xuân Phong họp nhau bàn bạc ở núi Dùm (Thất Sơn). Kể từ khi có phong trào Cần Vương, căn cứ An Định của Năm Thiếp cũng đã thành một cơ sở quan trọng nhất ở Nam kỳ. Nếu hai ông Nguyễn Bá Trọng và Lê Bá Đạt trên đường đi nhận bằng cấp và ấn triện không bị Pháp bắt, và Lê Công Chánh bị sa vào tay giặc muộn hơn, thì việc các ông liên kết với nhau, thực hiện phong trào Cần Vương tại Nam kỳ chắc chắn sẽ gây sự hoang mang, điên đảo cho thực dân Pháp. Việc tổ chức phong trào Cần Vương quy mô không thành. Năm Thiếp vẫn tiếp tục cùng tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa chuẩn bị những điều kiện, chờ thời cơ thuận lợi để đánh Pháp. Năm 1887, nghĩa binh của các cuộc khởi nghĩa thất bại và những người nuôi chí cứu nước khắp cõi Nam kỳ kéo về núi Tượng đông hơn. Bấy giờ núi Tượng đã trở thành nơi thu hút mạnh mẽ, có tầm ảnh hưởng lớn ở Nam bộ. “Tín đồ Tứ Ân (ở núi Tượng - TG) cứ rộn rịp bất thường, thực dân được báo cáo là cuộc dấy loạn lại sắp diễn ra ngay trên địa phận tỉnh Châu Đốc”. Nhận rõ sự nguy hiểm cho chính quyền thực dân từ mối đe dọa của tín đồ Tứ Ân Hiếu
- Nghĩa do Năm Thiếp làm thủ lĩnh, ngày 13-5-1887, Thực dân Pháp huy động một lực lượng lớn tiến đánh núi Tượng, quyết xóa sổ, giải thể các làng xóm, căn cứ do Ngô Lợi lập nên. Chỉ huy toán quân do thiếu tá Peignaux cầm đầu, ngoài ra còn có sự tham gia của Đốc phủ Trần Bá Lộc, tên Cai tổng - gián điệp Trương Văn Keo, Tám Quy lợi hại. Do huy động lực lượng lớn, có nhiều súng ống hiện đại, Pháp đã nhanh chóng đánh chiếm trọn vẹn các làng đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Nhưng Pháp không bắt được Năm Thiếp, ông đã “tàng hình” bằng sự che giấu, bảo bọc của nhân dân. Cuối năm 1887, Pháp lại tổ chức tấn công vào An Định. Lần này chúng bắt được 8 người tham gia phong trào Cần Vương mà chúng nắm được lý lịch và biết đang tụ nghĩa ở núi Tượng. Chúng xử tử cả 8 người tại chỗ và chôn chung một hầm. Cuối năm, Năm Cũi (tức Nguyễn Thành Liễu) nguyên là dò thám của Đốc Phủ Lộc lên núi Tượng theo dõi Năm Thiếp, (trong quá trình gần kề với một giáo chủ uy tín, đức độ, Năm Cũi được cảm hóa, tự nguyện ở lại với Năm Thiếp) đã tổ chức ám sát Đốc Phủ Lộc. Nhưng cuộc ám sát không thành, tên Việt gian có thể nói là độc ác nhất ở Nam kỳ, Trần Bá Lộc thoát chết. Nhằm đánh lừa Pháp, tránh sự rình rập của chúng, tín đồ phao tín Năm Thiếp đã chết. Họ lập mộ giả ở doi Hai Ký (Núi Dài, An Thành). Ngày nay, vào dịp thanh minh, nhân dân ở đây vẫn tiến hành tảo mộ ở nấm mồ giả ấy. Đầu năm 1888, Pháp lại kéo vào núi Tượng, tín đồ lại lẩn trốn, Pháp tiếp tục đốt phá những ngôi chùa vừa xây dựng lại và cướp đi nhiều báu vật. Đây là lần thứ 7, cũng là lần cuối cùng kể từ lần đầu tiên, năm 1881, chúng tiến đánh căn cứ núi Tượng, các làng đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa của Năm Thiếp và những người yêu nước. Tháng 2-1888, Pháp nhận thấy không thể dùng bạo lực để truy bức những người đang sống ở An Định ra khỏi vùng này, chúng phải thay đổi sách lược, thừa nhận sự tồn tại của An Định, cho tín đồ sinh sống tự do và dùng hội tề mạnh để kiểm soát. Đồng thời xáo trộn các thôn do Năm Thiếp lập ra. Mỗi thôn nhập về một làng kế cận: An Định nhập vào Ba Chúc, An Thành nhập về Lương Phi Sự thay đổi chính sách của người Pháp cũng là sự phản ánh ưu thế của chúng. Tháng 9-1888, phong trào Cần Vương thất bại, Nhà yêu nước Năm Thiếp bấy giờ phải ẩn tránh. Còn nhiều câu chuyện cảm động về một con người nuôi chí lớn, nhưng cũng cảm thấy bất lực vào cuối đời. Năm 1890, Ngô Lợi mất. Mộ táng ở núi Tượng Để có những nhận xét xác đáng về phong trào chống Pháp của tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa cũng như mối quan hệ giữa đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa với cuộc vận động chống Pháp do Đức Bổn Sư Ngô Lợi lãnh đạo, cần sưu tầm, bổ sung thêm nhiều tư liệu mới. Tuy nhiên đây là một việc khó làm, vì các sự kiện không được ghi chép, lưu trữ, ngoài một số tư liệu một chiều của người Pháp. Người theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa thích giữ kín mọi việc và không thích nói nhiều về việc nghĩa, bổn phận đối với quê hương, đất nước mà họ đã làm
- Phan Thanh Giản con người, sự nghiệp & bi kịch cuối đời PHAN HUY LÊ LTS. Từ tháng 11-1994, tại Vĩnh Long, một cuộc hội thảo khoa học về nhân vật Phan Thanh Giản đã được tổ chức. Cuộc tranh luận sôi nổi giữa các nhà khoa học cũng như những cách suy nghĩ khác nhau trong dư luận xã hội về nhân vật lịch sử này cho thấy, để tạo ra một sự nhất trí trong đánh giá nhân vật như Phan Thanh Giản thật là không đơn giản. Cho đến hôm nay, chúng tôi nhận được văn bản kết luận của cuộc hội thảo này do Giáo sư sử học, Nhà giáo Nhân dân Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội KHLSVN thay mặt ban chỉ đạo soạn thảo để in vào tập kỷ yếu sẽ ra mắt bạn đọc trong thời gian tới. Qua việc đánh giá nhân vật Phan Thanh Giản, chúng ta cũng có thể liên hệ tới không ít các nhân vật khác trong lịch sử đang cần có sự nhìn nhận công bằng và xác đáng hơn sau những bài học nhận thức về thực tiễn đời sống trong giới chuyên môn cũng như trong dư luận xã hội. 1. Trước hết chúng ta cần nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng và tính phức tạp trong việc đánh giá nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản (PTG). Đánh giá về một nhân vật lịch sử, một con người, nói chung đã là một vấn đề phức tạp và tinh tế, đòi hỏi các nhà khoa học phải đặt nhân vật đó vào bối cảnh lịch sử cụ thể với tất cả mối quan hệ phức hợp của hoàn cảnh gia đình, văn hóa, xã hội, điều hiện hoạt động và nhất là yêu cầu phát triển của đất nước trong xu thế chung của thời đại và của khu vực, để phân tích và nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện và thỏa đáng về mặt công lao, cống hiến, mặt tích cực cũng như mặt hạn chế và tiêu cực. Tuy nhiên đối với những nhân vật mà công lao và cống hiến đã quá rõ ràng như các anh hùng dân tộc, các danh nhân văn hóa hay trái lại, những nhân vật mang tội với lịch sử, với dân tộc và nhân loại thì sự đánh giá tương đối dễ dàng hơn và dễ đi đến sự nhất trí hơn. Nhưng trong lịch sử còn có những nhân vật, những con người sinh ra và lớn lên trong một bối cảnh phức tạp, đầy biến động và thử thách của lịch sử, và trong cuộc sống như hoạt động bản thân của họ cũng chứa đựng và phản ánh những mâu thuẫn đó, vừa có nhân cách cao đẹp, có công lao đối với dân với nước, vừa có những mặt hạn chế nặng nề, những ứng xử mang tính nghịch lý, thậm chí có khi đi đến bế tắc, tự kết thúc cuộc sống bằng những bi kịch. Đối với những nhân vật loại này, việc nghiên cứu và đánh giá dĩ nhiên gặp nhiều khó khăn và thường tồn tại những ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau là hiện tượng dễ hiểu. PTG là trường hợp khá điển hình thuộc loại hình nhân vật này. Ngay từ 1867, khi PTG tự kết thúc cuộc đời bằng chén thuốc độc, thì từ trong triều cho đến trong dân gian, đã có những thái độ nhìn nhận và sự đánh giá rất khác nhau về ông. Vua Tự Đức và triều đình đổ hết tội lỗi cho ông về việc để mất Nam kỳ lục tỉnh, kết tội ông “xét phải tội chết, chưa đủ che được tội” và nghị án “truy đoạt lại chức hàm và đẽo bỏ tên ở bia tiến sĩ, để mãi cái án tràm giam hậu”[1]. Nhưng đến năm 1886, vua Đồng Khánh lại “khai phục nguyên hàm” và khắc lại tên ông ở bia Tiến sĩ[2]. Trong lúc đó, những nhà yêu nước đồng thời với ông như nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu tỏ thái độ thương tiếc và trân trọng đối với PTG qua bài thơ điếu:
- Minh tinh chín chữ lòng son tạc Trời đất từ rày mặc gió thu. (Có bản chép từ đây mặc gió thu, cũng có cách giải thích khác về bài thơ điếu này). Và trong bài Văn tế lục tỉnh sĩ dân trận vong, nhà thơ Đồ Chiểu một lần nữa nêu tên Trương Định và PTG: Phải trời cho mượn cán quyền phá lỗ, Trương tướng quân còn cuộc nghĩa binh “Ít người đặng xem tấm bảng phong thần, Phan học sĩ hết lòng mưu quốc” (Có dị bản: “mượn cán thương phá lỗ” và “Phan học sĩ hết lòng cứu nước”). Nhưng lại có nguồn tin tương truyền rằng, Trương Định lên án PTG bán nước khi đề cờ khởi nghĩa “Phan, Lâm mãi quốc; triều đình khi dân”. Ở đây chưa bàn về nguồn gốc và tính xác thực của câu nói trên, nhưng sự tồn tại và lưu truyền dù trong giới hạn nào, ít nhiều cũng phản ánh một thái độ lên án PTG. Rồi trong thơ văn, trong các công trình nghiên cứu, chúng ta luôn luôn bắt gặp những nhận xét và đánh giá rất khác nhau, khác nhau đến mâu thuẫn, trái ngược nhau về nhân vật PTG. Năm 1962-1963, trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử bùng lên cuộc tranh luận về PTG. Tháng 10-1963, tạp chí đã công bố bài kết luận của GS Trần Huy Liệu dưới tiêu đề “Chúng ta đã nhất trí về việc nhận định Phan Thanh Giản.Quan điểm chung của bài kết luận là lên án PTG “Phan trước sau vẫn rơi vào thất bại chủ nghĩa, phản lại nguyện vọng về quyền lợi tối cao của dân tộc, của nhân dân”, là phạm tội “dâng thành hiến đất cho giặc” và từ đó phủ nhận tất cả “tứ đức” của ông như “đức tính liêm khiết”, “lòng yêu nước”, “thương dân” vì “công đức đã bại hoại thì tứ đức còn có gì đáng kể”[3]. Bài kết luận này cũng như những tham luận đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử lúc bấy giờ cho thấy, bên cạnh thái độ lên án PTG, cũng có những ý kiến muốn nhìn nhận ông một cách toàn diện hơn và phải ghi nhận những phẩm giá, nhân cách của ông một cách khách quan và thỏa đáng hơn. Và ngay sau khi cuộc thảo luận kết thúc với kết luận lên án và phê phán nặng nề như vậy thì GS Ca Văn Thỉnh với tư cách là một người con của Bến Tre, của Nam kỳ lục tỉnh tỏ thái độ băn khoăn và không đồng tình. Như vậy là cuộc thảo luận năm 1962-1963 tuy kết thúc, nhưng trong tranh luận và sau khi kết luận, vẫn tồn tại những quan niệm và ý kiến khác nhau. Hơn thế nữa, cuộc tranh luận lúc bấy giờ diễn ra trong hoàn cảnh cuộc chiến tranh dân tộc đang phát triển gay gắt mà mục tiêu cao nhất của nhân dân cả nước là chống xâm lược, là độc lập và thống nhất Tổ quốc. Yêu cầu của cuộc đấu tranh dân tộc, trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng của nhà sử học đối với đất nước dĩ nhiên có ảnh hưởng đến xu hướng chung của cuộc tranh luận. Chúng ta nên ghi nhận kết quả của cuộc thảo luận năm 1962-1963 như một mốc đánh dấu nhận thức và thái độ của sử học đối với PTG trong bối cảnh lịch sử cụ thể lúc đó. Sau năm 1975, nhất là trong công cuộc đổi mới gần đây, nhiều nhà khoa học thấy cần
- phải đánh giá lại PTG một cách khách quan và đầy đủ hơn. Nhân dân và cán bộ tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long quê hương của PTG càng mong mỏi và đòi hỏi các nhà khoa học và công luận làm sáng tỏ hơn thân thế và sự nghiệp của ông với tất cả những gì ông đã để lại cho lịch sử và trong lòng dân, những thành công và thất bại, mặt tích cực và hạn chế, những trăn trở và uẩn khúc của đời ông. Đó chính là lý do sâu xa và gần gũi đưa đến cuộc hội thảo khoa học do Tỉnh ủy, UBND tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre phối hợp với Trung tâm KHXH & NVQG, Hội KHLSVN và Ban KHXH Thành ủy TP Hồ Chí Minh tổ chức. Sự có mặt và tham gia tích cực của nhiều nhà khoa học ở địa phương và Trung ương, nhiều cán bộ lãnh đạo của hai tỉnh và sự theo dõi, chờ đợi của nhân dân quê hương PTG đủ cho thấy sự cần thiết và ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của cuộc hội thảo. 2. Tư liệu là cơ sở khoa học cần thiết để phục dựng lại một cách đáng tin cậy thân thế và sự nghiệp của PTG cùng những mối quan hệ phức tạp giữa ông với thời cuộc, với triều đình và quân Pháp lúc bấy giờ. Chỉ trên cơ sở những sự thật lịch sử được xác minh bằng tư liệu cụ thể, chúng ta mới có thể phân tích và nhận định một cách khoa học. So với cuộc hội thảo 1962-1963 và những công trình nghiên cứu trước đây, chúng ta ý thức sâu hơn vai trò của tư liệu và đã cố mở rộng thêm các nguồn tư liệu. Ngoài chính sử của triều Nguyễn như Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện những thư tịch Hán Nôm, nhiều tác giả đã cố gắng khai thác thêm những sử liệu trong các tác phẩm của PTG, trong các di tích lịch sử và văn học dân gian của quê hương ông, trong các tài liệu lưu trữ của triều đình Nguyễn (Châu bản triều Nguyễn), của quân đội Pháp Tôi đặc biệt quan tâm những tư liệu của quê hương Bến Tre như tấm bia mộ đơn sơ “Lương Khê Phan lão nông chi mộ”, tấm minh tinh ghi lời Phan “Đại Nam hải nhai lão thư sinh tánh Phan chi cửu”, những chuyện kể, những truyền thuyết dân gian nói lên chí hiếu học, cuộc sống thanh bạch, lòng liêm khiết, tinh thần yêu nước, thương dân của PTG[4] và qua đó, giúp chúng ta hiểu tấm lòng tôn kính, ngưỡng mộ của nhân dân đối với ông. Rõ ràng chúng ta còn phải dày công mở rộng và khai thác sâu hơn nữa các nguồn tư liệu về PTG. Cho đến nay, ngay những tác phẩm của PTG được con ông thu thập lại trong hai bộ sách Lương Khê thi thảo (in năm 1876, có 454 bài thơ) và Lương Khê văn thảo (In năm 1876, có 39 bài văn)[5] vẫn chưa được khai thác nhiều. Những tư liệu lưu trữ của triều Nguyễn và của Pháp cũng chỉ mới được tìm tòi, khai thác một phần. Nhưng cùng với việc mở rộng nguồn tư liệu, chúng ta phải quan tâm đến việc giám định và xử lý tư liệu. Đây là một vấn đề cực kỳ quan trọng về phương pháp luận sử học mà trong hội thảo khoa học của chúng ta, một số tác giả đã nêu lên với sức thuyết phục cao. Ngay câu nói “Phan, Lâm mãi quốc, triều đình khi dân” mà bao nhiêu tác giả đã sử dụng và dẫn ra như một minh chứng hùng hồn về thái độ lên án của nhân dân đối với PTG và triều đình Nguyễn, thì cho đến nay, nguồn gốc và xuất xứ vẫn chưa rõ. Phải chăng đó là câu đề cờ của Trương Định khi dựng cờ khởi nghĩa vừa chống Pháp xâm lược vừa chống triều đình đầu hàng? Nhưng như vậy tại sao, như có tác giả đã nêu lên, không thấy ghi chép lại trong những tác phẩm viết về Trương Định của những tác giả đương thời như Nguyễn Thông? Phải chăng do nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục đưa ra năm 1907? Nhưng chưa ai cung cấp được căn cứ cụ thể và chúng ta chỉ có thể coi đó là một giả thuyết hay suy đoán mà thôi. Tôi xin nhắc lại, dù sự ra đời và lưu truyền câu nói đó xuất
- phát từ đâu và trong phạm vi nào, cũng phản ánh một thái độ phê phán PTG của một số người nhất định. Nhưng nếu là câu nói của Trương Định thì rõ ràng ý nghĩa của tư liệu khác hẳn. Vì thế, tìm hiểu nguồn gốc và xuất xứ của câu nói vẫn cần đặt ra. Sử dụng tư liệu của chính sử triều Nguyễn viết về PTG, nhất là quan hệ giữa ông với vua Tự Đức và triều Nguyễn trong trách nhiệm để mất 6 tỉnh Nam kỳ cũng cần phân tích, giám định. Đại Nam thực lục ghi chép việc ký Hòa ước Nhâm Tuất 1862 như là trái ý Tự Đức và bị nhà vua lên án: “Thương thay con đỏ của lịch triều, nào có tội gì? Rất là đau lòng. Hai viên này (Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp - cũng có người phiên âm là Hiệp) không những là người có tội của bản triều mà là người có tội của muôn nghìn đời vậy”[6], “Nghị hòa là thất cơ, lỗi ấy do hai viên kia (Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp)”. Nhưng cũng chính bộ sử này cho biết rõ, lúc đó Tự Đức đã xác lập đường lối “chủ hòa” và khi cử PTG làm Chánh sứ toàn quyền đại thần “nghị về việc hòa” thì vua tôi đã bàn định kỹ các khả năng kể cả việc cắt đất và bồi tiền. Nếu PTG tự tiện ký Hòa ước trái ý vua thì sao Tự Đức không bắt tội, mà lại cử ông làm Tổng đốc Vĩnh Long và tiếp tục giao phó cho ông nhiều trọng trách giao thiệp với Pháp và năm 1963 chính Tự Đức đã phê chuẩn Hòa ước, làm lễ đại triều ở điện Thái Hòa tiếp sứ thần hai nước Pháp, Y Pha Nho để trao đổi văn bản hòa ước. Đó là những lắt léo trong chính sử triều Nguyễn nhằm biện hộ cho Tự Đức và đổ tội cho PTG, mà khi sử dụng chúng ta cần giám định cẩn thận. Sử dụng tư liệu của Pháp, nhất là những tư liệu do những chỉ huy quân viễn chinh Pháp và những viên quan cai trị Pháp viết, chúng ta càng cần phân tích, đối chiếu và giám định kỹ, không những vì lối trình bày khuếch đại “chiến công” của họ, mà có khi còn vì những mưu đồ chính trị thâm hiểm. PTG là một người có uy tín và ảnh hưởng lớn trong nhân dân thì càng dễ trở thành đối tượng lợi dụng của họ và vì mục đích đó, họ không ngần ngại gì bóp méo sự thật hay bịa đặt ra các văn bản giả. Trong cuộc hội thảo khoa học của chúng ta, có tác giả nêu lên một cách có căn cứ, nghi vấn về bài hịch kêu gọi đầu hàng của PTG với lời “ta đã biên thư cho tất cả các quan và tất cả các vị chỉ huy quân sự là phải bẻ gãy giáo mác và trao lại thành lũy mà không giao chiến”[7], và thư của PTG gửi cho La Grandière trước lúc tự tử[8]. Đó là những tư liệu mà nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng, nhưng chưa ai đặt vấn đề thẩm định xác thực và độ tin cậy của nó. Việc quân Pháp hạ thành Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên tháng 6- 1867 cũng có chỗ khác nhau giữa một số tư liệu của Pháp và của ta. Quan chức Pháp như La Grandière, Paulin, E. Luro miêu tả như PTG đã đầu hàng, trao thành Vĩnh Long cho Pháp, rồi viết thư bắt các thành An Giang, Hà Tiên cũng phải nộp thành cho Pháp[9]. Nhưng tư liệu của ta như Đại Nam thực lục và nhất là Châu bản triều Nguyễn[10] cho thấy một thủ đoạn của quân Pháp, lợi dụng thái độ chủ hòa của PTG và những sơ hở của quân ta, để bất ngờ chiếm thành. Chúng đem chiến thuyền đến áp sát thành Vĩnh Long, đưa thư bắt nhường ba tỉnh miền Tây, buộc PTG xuống tàu thương nghị rồi khi Phan trở lại, chúng kéo theo và bất ngờ đột nhập chiếm thành Vĩnh Long. Việc chiếm thành An Giang và Hà Tiên cũng diễn ra gần như thế. Đó là lý do chúng chiếm được ba thành quá dễ dàng và không tốn một viên đạn. Tất nhiên để mất ba thành là trách nhiệm không thể thoái thác của Kinh lược sử
- đại thần PTG và các tướng giữ thành, nhưng dâng thành đầu hàng giặc hay bị lợi dụng và lừa dối để mất thành lại là hai việc khác nhau liên quan đến phẩm giá con người. Những tư liệu khác nhau như vậy đòi hỏi phải có sự phân tích, đối chiếu và giám định rõ ràng trước khi sử dụng. Giám định tư liệu và yêu cầu mặc nhiên của công tác sử liệu học, nhưng hội thảo khoa học của chúng ta lần đầu tiên đưa ra yêu cầu đó với những nghi vấn và đề xuất cụ thể về một số tư liệu liên quan đến nghiên cứu con người và sự nghiệp PTG vào những năm tháng thử thách nặng nề nhất trong cuộc đời ông. 3. Đánh giá PTG trước đây người ta thường tập trung vào 5 năm cuối đời ông từ khi ký Hòa ước 1862 nhượng ba tỉnh miền Đông đến khi để mất tiếp ba tỉnh miền Tây Nam kỳ năm 1867. Đó là giai đoạn cuối đời mà ông phải gánh vác những trọng trách nặng nề trong những mâu thuẫn của đất nước và của bản thân phát triển đến cực điểm mà ông không vượt qua được và tự kết thúc bằng cái chết. Trong giai đoạn này tập trung nhiều vấn đề phức tạp cần làm sáng tỏ nhất. Nhưng khi xem xét và đánh giá một con người, chúng ta cần nhìn nhận một cách toàn diện về toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của con người đó. Kể từ khi sinh ra năm 1796 đến khi từ trần năm 1867, cuộc đời và sự nghiệp của PTG nên phân định làm 3 giai đoạn: - Giai đoạn thiếu thời lo ăn học từ 1796 đến khi thi đỗ Tiến sĩ năm 1826. - Giai đoạn làm quan phụng sự ba triều vua Nguyễn: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, từ năm 1826 đến năm 1862. - Giai đoạn cuối đời đầy thách thức và bế tắc từ 1862 đến 1867. Hội thảo của chúng ta nhất trí cho rằng trước khi tập trung làm sáng tỏ những vấn đề giai đoạn cuối đời cần xem xét và đánh giá con người và sự nghiệp của PTG trong hai giai đoạn đầu trước năm 1862. Trong buổi thiếu thời, nét nổi bật của con người PTG là hiếu thảo, chăm học, sống thanh bạch và cần kiệm. Xuất thân trong một gia đình nghèo khổ, tiên tổ từ Bình Định di cư vào đồng bằng sông Cửu Long và trên quê hương mới cũng qua ba lần thay đổi mới định cư ở thôn Tân Thạnh, huyện Tân An, dinh Long Hồ (sau là huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Cha làm Thủ hạp là một viên chức nhỏ, bị tội oan phải tù 3 năm ở Vĩnh Long, PTG mồ côi mẹ từ lúc lên 7 tuổi, được mẹ kế và nhiều người giúp đỡ cho ăn học thành tài. Năm Ất Dậu 1825, ông thi Hương trường Gia Định, đỗ Cử nhân lúc 30 tuổi (31 tuổi ta). Năm sau - năm Bính Tuất 1826 - ông thi hội, đỗ Tiến sĩ (Đệ tam Giáp đồng Tiến sĩ xuất thân) năm 31 tuổi (32 tuổi ta). Đó là thành đạt lớn mở ra trong bước ngoặt cuộc đời của PTG. Ông trở thành vị Tiến sĩ đầu tiên, vị Tiến sĩ khai khoa của Nam kỳ lục tỉnh. Quốc triều hương khoa lục chép: “Ông là người đỗ đại khoa đầu tiên của Nam kỳ. Ông là người có học vấn và đức hạnh đứng đầu đất Nam Trung”[11]. Quốc triều đăng khoa lục nhận xét: “ông là người đỗ đại khoa trước nhất của Nam kỳ. Lực học tinh thuần, tính hạnh chính trực”[12]. Với lòng hiếu thảo, hiếu học, tinh thần siêng năng, cần mẫn và trí thông minh, PTG đã vượt qua những khó khăn của cuộc sống, vươn lên vị trí Tiến sĩ khai khoa của đất Đồng
- Nai - Gia Định, của Nam kỳ lục tỉnh. Những phẩm giá con người và vị trí thành đạt đó đã làm cho nhân dân Nam kỳ quý mến và ngưỡng mộ, tự hào về người con của quê hương, biểu thị tinh thần hiếu học của nhân dân ta. Đó cũng là những phẩm chất tốt đẹp thời tuổi trẻ của PTG mà chúng ta cần thận trọng và còn nguyên giá trị giáo dục đối với thế hệ trẻ hôm nay cũng như ngày mai. Với học vị Tiến sĩ, PTG đi vào con đường hoạn lộ, làm quan trải qua ba triều vua từ Minh Mạng qua Thiệu Trị đến Tự Đức. Từ chức Hàn lâm viện Biên tu thăng Lang trung bộ Hình, ông tiếp tục giữ nhiều chức vụ ở trong triều và nhiều địa phương. Dưới triều Minh Mạng (1820-1840), ông giữ chức Quyền nhiếp trấn Nghệ An (1828), Thự phủ doãn phủ Thừa Thiên (1829), thăng Thị lang bộ Lễ (1829), thăng Hiệp trấn Ninh Bình (1829), đổi về Quảng Nam (1831) dẹp cuộc nổi dậy ở Chiên Đàn bị thua và bị cách chức, rồi được khởi phục làm Hành tẩu Nội các, thăng Thị lang bộ Hộ, Thự phủ doãn Thừa Thiên, thăng Hồng lô tự khanh, sung Phó sứ sang Thanh rồi thăng Đại lý tự khanh kiêm công việc bộ Hình, sung Cơ mật viện đại thần (1832), Khâm phái đi Trấn Tây, đổi làm Bố chính Quảng Nam (1835) , vì can ngăn vua bị xúc xiểm và bị giáng là thuộc viên lục phẩm (1836) , rồi được làm Thừa chỉ Nội các, sung Lang trung bộ Hộ, rồi Thự thị lang sung Cơ mật viện (1836), được cử đi duyệt binh ở Hà Tỉnh, Nghệ An, Thanh Hóa, lúc về chuyên biện việc bộ Hộ, vì quên không đóng dấu vào chương sớ bị giáng làm Lang trung, biện lý việc Bộ, phái đi khai mỏ Chiên Đàn, mỏ bạc Thái Nguyên (1838), được triệu về Kinh làm Thông chính sứ phó ty, rồi Thị lang bộ Hộ, vì can ngăn vua bị giáng làm Thông chính phó sứ (1840), sung làm Phó chủ khảo trường thi Thừa Thiên vì sơ suất bị giáng một cấp (1840). Dưới triều vua Thiệu Trị (1841- 1847), ông được thăng Tham tri (1841), rồi thăng Thượng thư bộ Hình sung Cơ mật viện đại thần (1847). Dưới triều vua Tự Đức (1848- 1883), cho đến trước năm 1862, ông được đổi sang Thượng thư bộ Lại (1848), sung làm Giảng quan tòa Kinh diên, cửa làm Kinh lược đại sứ ở Tả Kỳ, lĩnh Tổng đốc Bình Phú, kiêm coi đạo Thuận Thành (1849), làm Kinh lược phó sứ Nam kỳ lĩnh Tuần phủ Gia Định, kiêm coi tỉnh Biên Hòa và các đạo Long Tường, An Hà (1851), được triệu về kinh thăng Thự hiệu biện đại học sĩ, lĩnh Thượng thư bộ Hình, sung Cơ mật, Kinh diên (1853), làm Chánh tổng tài Quốc sử quán (1856)[13]. Qua hành trang tóm lược trên, cuộc đời làm quan của PTG có những bước thăng trầm, có lúc bị giáng chức, nhưng trong bất cứ cương vị nào ông cũng luôn luôn trung thành, mẫn cán, lo làm tròn sứ mạng phò vua, giúp nước, an dân theo quan niệm của Nho giáo. Ngoài tài năng, phẩm giá đáng quý ở PTG là tấm lòng yêu nước thương dân, tính ngay thẳng cương trực và cuộc sống cần kiệm thanh bạch. Làm quan có lúc đến nhất phẩm triều đình, nhưng quyền lực và danh vọng không làm ông bị tha hóa như nhiều quan chức khác, trước sau ông vẫn giữ nhân cách cao đẹp của mình. Với tính cương trực và ý thức trách nhiệm trước nước, trước dân, PTG đã dám can ngăn vua dù bị mang họa vào thân. Năm 1836, ông đã can ngăn vua Minh Mạng đi tuần du Quảng Nam vì năm đó mất mùa lại đang lúc cày cấy “hãy xin tạm đình cho dân chuyên việc đồng ruộng”[14]. Năm 1840, Vương Hữu Quang có tội, đình thần dựa theo ý vua, có
- người xin xử tội chém, có người xin xử tội lưu, ông dám xin nhà vua chỉ xử giáng 2 cấp lưu[15]. Những năm 1843, 1849, 1852, 1853, 1859, PTG dâng sớ lên vua, nói lên thực trạng của đất nước về kinh tế, xã hội và đề xuất những chính sách nhằm “dựa vào pháp luật mà cai trị”, “quan tốt mà dân yên”, “chỉnh đốn thói quen của sĩ phu”, “chữa hồi bệnh đau khổ của nhân dân”, “nuôi dân chăm cày cấy”, “nuôi quân trù phương lược”, “binh giỏi lương đủ như nguồn nước chảy mãi không hết” [16]. Năm 1838, được cử đi khai mỏ vàng Chiên Đàn ở Quảng Nam rồi mỏ bạc Tống Tinh ở Thái Nguyên, PTG đem thực trạng thua lỗ tâu trình lên để nhà vua bãi bỏ việc khai mỏ vàng Chiên Đàn và chuyển mỏ bạc Tống Tinh cho thương nhân lĩnh trưng[17]. Tự Đức đã khen PTG là người “liêm bình chính cán” (1852), là “thanh liêm, cẩn thận” (1856). Ngoài các hoạt động chính trị PTG còn có những cống hiến về mặt văn hóa. Năm 1856, PTG được cử làm Tổng tài phụ trách công việc biên soạn bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Trong 3 năm (1856-1859), ông cùng nhóm biên soạn đã hoàn thành công việc biên tập, nhưng sau đó còn phải “duyệt nghĩ” (1871), “duyệt kiểm” (1872), “phúc kiểm” (1876), “duyệt đính” (1878), “kiểm duyệt” (1884), đến năm 1884 mới được khắc in và ban hành. Đó là bộ quốc sử đồ sộ, viết theo lối “cương mục”, chép lịch sử dân tộc từ đời Hùng Vương cho đến năm Chiêu Thống 3 (1789), gồm cả thảy 52 quyển. Bộ sử biên soạn trên quan điểm Nho giáo kết hợp với tinh thần dân tộc, với những “lời chua” nhằm chú giải tên đất, tên người và giám định một số sự kiện, niên đại trên cơ sở khảo chứng công phu, và những “Lời phê” của Tự Đức. Khâm định Việt sử thông giám cương mục cùng với Đại Việt sử ký toàn thư (chép sử từ nguồn gốc đến năm 1675) là hai bộ quốc sử lớn nhất được khắc in toàn bộ trong thời đại phong kiến Việt Nam. Về phương diện này, chúng ta cần ghi nhận cống hiến to lớn của PTG và với bộ quốc sử này, ông là một nhà sử học lớn[18]. PTG còn là nhà thơ, nhà văn mà những tác phẩm còn lại đã được các con ông thu thập và khắc in thành hai bộ Lương Khê thi thảo và Lương Khê văn thảo. Tuy chưa được dịch và nghiên cứu đầy đủ, nhưng một vài tham luận trong hội thảo khoa học của chúng ta cũng đã cho thấy rõ thêm tâm hồn và tài năng cũng như tư tưởng và tình cảm thắm thiết của ông đối với quê hương xứ sở, đối với dân với nước được gởi gắm trong thơ văn của ông. Ông cùng Nguyễn Thông có công xây dựng Văn Thánh miếu và lập Văn Xương các ở Vĩnh Long sau khi mất ba tỉnh miền Đông để qui tụ các sĩ phu về đây. PTG là một trong những nhà thơ, nhà văn lớn của Nam kỳ. Như vậy là cho đến trước năm 1862, PTG đã có nhiều hoạt động chính trị và văn hóa. Tất cả các tham luận và thảo luận trong hội thảo đều gần như nhất trí biểu thị sự trân trọng và đánh giá cao những cống hiến tích cực của ông trong thời gian này, nhất là nhân cách và phẩm giá cao quý của ông. 4. 5 năm cuối đời (1862-1867) là giai đoạn gian truân, đầy uẩn khúc của PTG và cũng là giai đoạn tập trung nhiều vấn đề tranh luận nhất của cuộc hội thảo. Những vấn đề chính được đặt ra là trách nhiệm của PTG trong việc ký Hòa ước 1862 nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp, trong việc để mất ba tỉnh miền Tây năm 1867 và cái chết của ông, mối quan hệ trách nhiệm giữa PTG với vua Tự Đức và triều Nguyễn.
- Về tư liệu và một số sự kiện liên quan cũng được nêu lên để cố gắng tìm ra sự thật lịch sử bấy lâu nay bị che phủ trong màn sương mù của những tài liệu ghi chép lắt léo một cách dụng ý, thậm chí cả sự bịa đặt và bóp méo mà chưa hề được thẩm định một cách khoa học (đã trình bày trong phần 2). Hội thảo lưu ý các nhà khoa học nên tiếp tục dày công tra cứu, giám định tư liệu để sớm đưa ra ánh sáng những sự việc bị che đậy nhằm trả lại cho lịch sử những sự thật lịch sử và có đủ cơ sở khách quan hơn trong việc nhìn nhận và đánh giá PTG một cách công minh. Cho đến lúc này, trong chúng ta vẫn còn những khía cạnh bất đồng hay khác biệt, và ai cũng mong muốn được tiếp tục nghiên cứu và trao đổi. Tuy nhiên, chúng ta cũng rất vui mừng nhận thấy qua hai ngày hội thảo, chúng ta đã làm sáng tỏ được những vấn đề đặt ra và đi đến một số nhận thức chung trong việc đánh giá PTG vào 5 năm cuối đời ông. Hòa ước năm Nhâm Tuất 1862 gồm 12 điều khoản, trong đó điều cơ bản là triều Nguyễn nhượng hẳn cho Pháp ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường cùng đảo Poulo Condor (Côn Đảo) và chịu bồi thường chiến phí 4 triệu đồng bạc trả trong 10 năm, người Pháp và Y Pha Nho được quyền tự do truyền đạo và buôn bán. Rõ ràng đây là một hiệp ước xâm phạm nặng nề đến lãnh thổ của đất nước và chủ quyền quốc gia, đi ngược lại quyền lợi dân tộc và truyền thống dân tộc. Ngay lúc bấy giờ, nhân dân Nam kỳ và nhân dân cả nước đã tỏ sự bất bình, chống đối lại hòa ước đó và ngày nay cũng không một ai có thể biện hộ được. Nhưng vấn đề là phải chăng PTG và Lâm Duy Thiếp, những người ký Hòa ước, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc nhượng đất đó? Tự Đức muốn đổ hết trách nhiệm và tội lỗi cho PTG, nhưng tư liệu lấy ngay trong chính sử triều đình cũng đủ cho chúng ta khẳng định rằng PTG là người thừa hành và thực hiện một chủ trương đã được hoạch định của Tự Đức và triều đình đồng thời PTG cũng là người đồng tình với chủ trương đó. Trách nhiệm của PTG ở đây là trách nhiệm của người thừa hành và tất nhiên với cương vị Chánh sứ toàn quyền đại thần, ông cũng có phần trách nhiệm, trong việc thương thuyết và thực thi một chủ trương sai lầm của triều đình. Sau khi Hòa ước được ký kết, đình thần cũng chỉ có thể nhận xét và tâu lên vua: “Về khoản cắt đất bồi ngân, hai viên ấy đã làm, phần nhiều chưa hợp. Nhưng điều ước mới định, nếu vội sửa đổi ngay, sợ họ còn tức khí”, và đề nghị “công việc Nam kỳ nên chuyển ủy cho Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp đứng làm”[19]. Trong việc để mất ba tỉnh miền Tây năm 1867, trách nhiệm của PTG có phần nặng nề hơn vì với cương vị Vĩnh Long - An Giang - Hà Tiên Kinh lược sứ, ông có trách nhiệm giữ đất và là người được toàn quyền thay mặt vua xử lý mọi việc trong vùng. Nhưng trên thực tế, chủ trương “cầu hòa” và Hòa ước 1862 mà Tự Đức đã phê chuẩn năm 1863, đã đặt PTG và nhiệm vụ giữ đất ba tỉnh miền Tây vào tình thế cực kỳ khó khăn đến bế tắc. Về vị trí địa lý, ba tỉnh hoàn toàn bị cô lập, bị tách ra khỏi địa bàn cả nước bởi ba tỉnh miền Đông đã ở trong tay quân Pháp. Hơn thế nữa, trung thành theo Hòa ước 1862 và nhất là sợ người Pháp “nghi ngại”, Tự Đức “đem sao lục 12 điều ước cũ, đưa đi treo dán để hiểu bảo cho sĩ dân đều biết, khiến đều yên ổn làm ăn”, rồi còn “xuống dụ cho tinh thần ba tỉnh sức khắp các hạt biết, mà các quan phủ huyện một khi trông thấy, tức thì bắt ngay đem giải, nhà dân có ai chứa chấp cũng bắt tội như kẻ phạm tội”[20]. Tự Đức nhiều lần ra lệnh “hưu binh”, “giải giáp”, sau PTG dụ Trương Định, giải tán lực lượng nghĩa binh chống Pháp. Như vậy Tự Đức và
- triều đình đã tự mình tước bỏ mọi khả năng giữ đất ba tỉnh miền Tây cũng như giành lại ba tỉnh miền Đông. Năm 1886, quân Pháp đe dọa chiếm nốt ba tỉnh miền Tây “khiến ba tỉnh ấy một lòng chống giữ”, mặt khác lại thấy “thế đất cheo leo, muốn giữ cho không lấn cũng khó” và “xin tư cho quan Kinh lược không đánh nhau với quân Pháp, tự phải rút lui”[21]. Những chủ trương và giải pháp của triều đình như vậy ắt dẫn đến hậu quả tất nhiên là không thể nào giữ được ba tỉnh miền Tây. Tư liệu lịch sử của ta cho thấy PTG không phải đầu hàng, nộp thành cho giặc như miêu tả của một số tư liệu Pháp, nhưng việc mất ba tỉnh miền Tây cũng là hậu quả tai hại của những chủ trương sai lầm của Tự Đức và triều Nguyễn, trong đó có trách nhiệm của bản thân PTG. Chính PTG cũng tự coi đây là một “tội lỗi”, một tội lỗi không thể dung thứ được và ông đã tự xử bằng cái chết. Cái chết PTG có thể coi là sự kết thúc những năm cuối đời đầy bi kịch của ông trong bi kịch chung của đất nước dưới triều Nguyễn. PTG là người yêu nước, thương dân, nhưng cũng là một tín đồ của Nho giáo với lòng trung quân sâu nặng. Vào thế kỷ XIX, Nho giáo vẫn còn giữ một số ảnh hưởng tích cực trên một số phương diện nào đó về mặt đạo đức và cách xử thế, nhưng hệ tư tưởng Nho giáo thì tỏ ra quá bảo thủ và lỗi thời, không còn khả năng giúp con người nhận thức, lý giải và giải quyết những vấn đề mới của đất nước, của dân tộc trong bối cảnh phát triển mới của thời đại. Trước họa xâm lược của thực dân Pháp đến từ một nước tư bản phương Tây, từ một nền văn minh công nghiệp với nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh tối tân, với lối đánh chưa từng có trong binh thư phương Đông, vua tôi triều Nguyễn tỏ ra bất bị động, lúng túng. Trong triều người thì “chủ chiến” người thì “chủ hòa”, người thì “lo chống giữ lâu dài”, người thì “chẳng chiến cũng chẳng hòa” và không ít người chẳng đưa ra được chính kiến gì. Vua Tự Đức đi từ chống đỡ yếu ớt và thất bại, đến “chủ hòa” thương lượng và nhượng bộ dần đất đai và chủ quyền cho giặc. Đây là lần đầu tiên dân tộc ta phải đương đầu với một đối tượng xâm lược mới, trong một bối cảnh lịch sử mới mà những kinh nghiệm cổ truyền cần được vận dụng trong một phương thức đấu tranh mới. “Chủ chiến” nhưng nếu chỉ biết đánh không biết dựa vào dân để đánh lâu dài và kết hợp lo canh tân để tăng cường tiềm lực đất nước thì cũng khó giữ được nước. “Chủ hòa” mà chỉ lo thương thuyết, cầu xin giặc, không dám dựa vào dân, không lo canh tân đất nước thì chỉ dẫn đến thất bại và đầu hàng. Con đường “chủ hòa” theo cách của Tự Đức và triều Nguyễn là con đường thất bại chủ nghĩa, đã dẫn đến hậu quả nhượng ba tỉnh miền Đông rồi để mất ba tỉnh miền Tây của Nam kỳ lục tỉnh, và sau đó tiếp tục đưa đất nước đến bại vong. Với hệ tư tưởng Nho giáo bảo thủ, triều Nguyễn tự giam mình trong những giáo lý đã chết cứng của Thánh hiền, quay lưng lại mọi trào lưu tiến hóa trên thế giới, khước từ mọi đề nghị canh tân đất nước của những trí thức yêu nước cấp tiến. Nỗi đau lòng và tính bi kịch của PTG là một mặt ông cùng “chủ hòa” với triều đình,
- rất mực trung thành với nhà vua, mặt khác ông lại nặng lòng yêu nước thương dân. Mâu thuẫn đó đã đẩy ông đến chỗ bế tắc và chỉ còn biết lấy cái chết để kết thúc cuộc đời và bày tỏ nỗi lòng của mình. Có lẽ tác giả Đại Nam chính biên liệt truyện phần nào đã thấu hiểu lòng ông khi nhận xét: “Thanh Giản là người ngay thực, giữ lòng liêm khiết, làm quan cần mẫn, thận trọng, gặp việc dám nói. Trải thờ ba triều, vẫn được yêu quý. Đến khi mang cờ tiết đi Nam, thế không làm sao được, biết tội tự uống thuốc độc chết. Thực là ở vào chỗ người ta khó xử. Xem tờ sớ để lại thì lòng trung ái chứa chan ở ngoài lời nói”[22]. Đúng như nhiều tác giả đã nhìn nhận, cái chết của PTG là một bi kịch. Trong hội thảo, chúng ta đã chỉ ra trách nhiệm của PTG trong trách nhiệm chủ yếu thuộc về Tự Đức và triều Nguyễn, nhưng tất cả chúng ta đều nhất trí không nên qui kết cho ông cái tội “bán nước” hay “phản bội Tổ quốc”. Với những kết quả như trên, chúng ta có thể kết luận cuộc hội thảo khoa học của chúng ta đã thành công tốt đẹp. Thành công tốt đẹp không có nghĩa là chúng ta đã giải quyết xong mọi vấn đề liên quan đến PTG và nhất trí với nhau về mọi khía cạnh trong nhìn nhận và đánh giá PTG. Sử học là một khoa học mà nhận thức về đối tượng của nó là một quá trình tiến dần đến chân lý, nhưng không thể một lúc nắm bắt toàn bộ chân lý. Cuộc hội thảo của chúng ta đánh dấu một bước mới trong nhận thức và đánh giá về PTG, nhưng đồng thời cũng mở ra nhiều vấn đề mới cần tiếp tục nghiên cứu và thảo luận. Qua cuộc hội thảo này, chúng ta thấy rõ những mặt hạn chế và bế tắc của PTG, nhưng đồng thời chúng ta cũng trân trọng ghi nhận những cống hiến tích cực của ông trong toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp, đánh giá cao nhân cách và phẩm chất cao quý của ông. Chúng tôi hy vọng kết quả của cuộc hội thảo sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn cuộc đời và sự nghiệp một con người mà từ khi nhắm mắt cho đến nay luôn luôn đứng trước những sự đánh giá mâu thuẫn trong khen và chê, trong bình luận công và tội. Chúng ta còn tiếp tục nghiên cứu và thảo luận, nhưng những gì đạt được trong hội thảo nói lên lòng mong mỏi của chúng ta muốn trả về cho PTG những giá trị và những hạn chế đích thực của ông, muốn có sự nhìn nhận khách quan, công minh và thỏa đáng. Những kết quả và thái độ của hội thảo chắc sẽ giải tỏa phần nào những mặc cảm bấy lâu đè nặng lên tâm tư của nhiều người, kể cả con cháu PTG và con cháu Trương Định, những người “chủ chiến” đã kiên quyết chiến đấu chống Pháp xâm lược và đã hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân. Kết quả cuộc hội thảo cũng là cơ sở khoa học để Tỉnh ủy và ủy ban Nhân dân hai tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre tham khảo trong biên soạn các sách về danh nhân quê hương, về giáo dục truyền thống, về xử lý những di tích liên quan đến PTG. Chúng tôi thấy nên bảo tồn ngôi mộ của PTG ở Bến Tre, di tích Văn Thánh Miếu và Văn Xương Các ở tỉnh Vĩnh Long nhằm nêu cao truyền thống hiếu học của dân tộc, ghi nhớ và phát huy những phẩm giá, nhân cách cao quý của một người trí thức nặng lòng yêu nước thương dân nhưng cuối đời đã lâm vào cảnh bế tắc, bi kịch trong một bối cảnh gian truân và đau thương của đất nước. Chú thích: 1. Đại Nam thực lục, T.31, Hà Nội 1974.tr.269.
- 2. ĐNTL, T.37, Hà Nội 1977, tr.223, 225. 3. Trần Huy Liệu: “Chúng ta đã nhất trí về việc nhận định Phan Thanh Giản”- Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 55, 10/1963, tr.18-19. 4. Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy Bến Tre: Quê hương Bến Tre đối với nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản. Tham luận. 5. Phan Thanh Giản: Lương Khê thi thảo. Viện Hán Nôm, VHV.151, A.2125. Phan Thanh Giản: Lương Khê văn thảo. Viện Hán Nôm, VHV.856, VHV.857, VHV.91, A.2125. 6. ĐNT, T.29, Hà Nội 1974, tr.302. 7. Paul Brando: Recits et Nouvelles. Paris 1897, dẫn theo Trương Bá cần: Phan Thanh Giản với việc mất 6 tỉnh Nam bộ vào tay thực dân Pháp. Tham luận số 7. 8. Octave Fore: Les régions inconnues: chasse, pêche, aventure et découverts dans l’Extrême Orient. Paris 1870, dẫn theo tham luận số 7, đd. 9. Xem tham luận số 7, đd. 10. Châu bản triều Nguyễn hiện nay lưu giữ tại Cục lưu trữ nhà nước và theo kết quả kiểm tra mới nhất có 734 tập, trong đó triều Tự Đức có 386 tập. Đây là một nguồn tư liệu rất quý, nhưng chưa được khai thác bao nhiêu, không những về Phan Thanh Giản, mà về nghiên cứu lịch sử Việt Nam đời Nguyễn nói chung. 11. Cao Xuân Dục: Quốc triều hương khoa lục, TP.HCM 1993, tr.150. 12. Cao Xuân Dục: Quốc triều khoa lục. Sài Gòn 1962, tr.31. 13. Đại Nam chính biên liệt truyện, T.4. Huế 1993, tr.37-42. 14. ĐNTL, T.4, Snd, tr.38. 15. ĐNTL, T.22, Hao Noãi 1969, tr.88. 16. ĐNCBLT, T.4, Snd, tr.40-42 17. ĐNTL, T.21, Hao Noãi 1969, tr.57, 212. 18. Khâm định Việt sử thông giám cương mục, dịch và xuất bản từ 1957 đến 1960 gồm 20 tập, 2037 trang. 19. ĐNTL, T.29, Hao Noãi 1974, tr.305, 309. 20. ĐNTL, T.30, Hà Nội 1974, tr.162, 163. 21. ĐNTL, T.31, Hà Nội 1974, tr.66- 65. 22. ĐNCBLT, T.4, Sđd, tr.46.
- Á Nam Trần Tuấn Khải TRẦN ĐỨC DỤ Á Nam Trần Tuấn Khải là con lớn của cử nhân Trần Thụy Giáp, sinh ngày 18 tháng 9 năm Ất Vị (1895) tại làng Quang Xán, huyện Mỹ Lộc, Nam Định. Lúc còn nhỏ ở quê nhà với mẹ. Hồi ấy trời ra tai họa mất mùa luôn mấy năm, nhà nghèo túng thường không đủ gạo ăn phải kèm thêm ngô khoai bìm sắn, có phen phải giã cả bèo và nấu khoai ngứa để sống cầm hơi cho qua ngày đoạn tháng. Mẹ là con nhà nho, tính tình hiền hậu, bà lo toan chăm sóc việc gia đình, ruộng nương, trồng dâu, nuôi tằm. Bà rất thông minh, thuộc nhiều ca dao, thơ phú, thường đem những ca dao thơ văn thuộc lòng hát ru cho con nghe. Nhờ thế, ngay lúc còn thơ ấu nguồn thơ ca phong phú của mẹ đã ảnh hưởng nhiều tới tuổi thơ ấu của Á Nam. Lên 5 tuổi đã bập bẹ học được dăm ba chữ và thuộc một bài thơ ngũ ngôn chữ Hán. Năm Trần Thụy Giáp thi đậu cử nhân (1900), cả huyện mừng rỡ, dân xã đem võng lọng đi rước quan cử nhân tân khoa, Tuấn Khải cũng được người làng bồng trên một con ngựa đi theo võng của thân phụ. Năm Giáp Dần (1914), cha lâm trọng bệnh mất ngay tại lỵ sở Cẩm Giàng, năm ấy Khải vừa đúng 20 tuổi, mới lấy vợ được một năm, phải cùng gia quyến về quê chịu tang cha rồi ở luôn quê nhà với mẹ, đi dạy học. Vợ ở nhà nuôi con thơ cùng giúp mẹ chồng việc đồng áng canh cửi. Khải cũng không phải bận tâm. Khải mấy lần tìm cách ra nước ngoài mà không sao đi thoát. Khoảng năm 1915-1916 lén ra Móng Cái để qua Đông Hưng. Chính bài Tiễn chân anh khóa, Khải làm vào dịp này. Lần sau, cách lần trước không lâu, Khải cùng bạn thân là Nguyễn Xuân Xứng lên Yên Bái trốn sang Tàu cũng không đi lọt. Nhân ngồi bên bờ sông đêm đêm, thấy các cô gái kĩu kịt gánh nước, lòng chứa chan bi phẫn làm bài thơ Gánh nước đêm. Qua năm Kỷ Vị (1919) lại trở về làng Quang Xán dạy học. Ít tháng sau ông xuôi ngược khắp miền Bắc thỉnh thoảng mới về thăm nhà. Bà cử thấy con là người có chí mới khuyên con và dâu nên ra thành thị để tiện đường cho Á Nam bay nhảy. Khải liền đưa vợ con lên Hà Nội, ở nếp nhà của ông nhạc ngay trong thành phố, nhưng ít lâu sau thấy chồng ghét cảnh phố phường náo nhiệt, bà Khải liền bán căn nhà đó mua một trang trại ở Thái Hà ấp ngay ven đô Hà Nội, hàng ngày bà đi cân gạo ở các tỉnh đem về Hà Nội bán. Khải cả tháng gần như không ăn cơm nhà, thường đi với bạn hữu. Vợ biết chí hướng chồng dùng văn chương khơi động lòng yêu nước của đồng bào nên bà Khải dành riêng một căn phòng cho chồng tiếp bạn bè lui tới. Thường ngày trang trại hay bị khám xét, gia nhân bị mua chuộc đe dọa vì trong số bạn hữu có nhiều người hoạt động chống Pháp. Tập văn đầu Á Nam đưa in là cuốn Duyên nợ phù sinh (1920). Lúc in xong ông không lo được tiền, sau nhờ nhà sách Xương Ký của Bùi Xuân Học ứng tiền lấy sách về bán. Năm 1923, xuất bản tiếp cuốn Duyên nợ phù sinh II. Năm 1925, in cuốn tiểu thuyết Gương bể dâu, qua năm sau cho ra tiếp bản dịch bộ Thủy Hử. Cũng năm này ông lại cho ra cuốn tiểu thuyết dịch Hồn hoa của Từ Trảm Á, cuốn Tam tự kinh dẫn giải của Mạnh Tử. Bạch Thái Bưởi một đại thương gia, lại là chủ nhiệm nhật báo Khai hóa mời Á Nam vào ban biên tập. Hồi này có Ngô Đức Kế - một danh nho quê ở miền Trung lúc ấy ra Hà thành tham gia làng báo rất mến ông. Khi Kế làm chủ nhiệm tạp chí Hữu Thanh liền mời
- Á Nam hợp tác. Những bài bình luận công kích Phạm Quỳnh đăng trong tạp chí phần nhiều có ý kiến của Á Nam. Độ này thỉnh thoảng ông cũng viết bài đăng trên khá nhiều báo: Nam Phong, Thực nghiệp dân báo, Trung Bắc tân văn, Đông Dương tạp chí, Làm được ba năm, Á Nam từ chức biên tập viên vì ý kiến bất đồng. Trước khi giã từ tòa soạn Khai Hóa, Á Nam cho xuất bản thêm tập thơ Duyên nợ phù sinh nói trên. Gặp dịp rảnh rang, Á Nam viết giúp cho vài tờ báo hoặc cùng bạn hữu đi thăm thú Lạng Sơn, Thanh Hóa, Thái Nguyên, Sơn Tây Được bạn là Ngô Văn Phú giới thiệu, Á Nam lại viết giúp cho nhật báo Đông Pháp, các báo miền Nam, miền Trung. Năm 1927, cụ Phan Bội Châu bị Pháp bắt ở bên Tàu, đưa về giam ở nhà pha Hỏa Lò Hà Nội, một người bạn bàn với Á Nam xin ở tù thay cho cụ Phan, song thực dân Pháp không chấp thuận. Phẫn kích vì thời cuộc, Á Nam bèn xuất bản tập thơ Bút quan hoài I, rồi cuốn Hồn tự lập I và II, trong đó ông kịch liệt chống Pháp với giọng thơ kích thích đồng bào. Vài tháng sau Pháp ra lệnh cấm tàng trữ, lưu hành trong và ngoài nước cả ba cuốn sách. Pháp bắt đầu chú ý đến văn thơ và hành vi của Á Nam, thường cho người theo dõi. Hồi này Phan Sào Nam được tha, Pháp cho về an trí tại Huế. Nhân có người rủ nhà thơ vô Nam tìm cách ra nước ngoài, hai người lén đi đường bộ vào Huế thăm cụ Phan, cụ rất vui cùng bàn luận chương trình kiến quốc. Ông gặp cụ Huỳnh Thúc Kháng ở tòa soạn báo Tiếng dân. Cùng dịp này Pháp ra lệnh tịch thu và cấm lưu hành tập thơ Bút quan hoài, cuốn Hồn tự lập I, lại cấm mọi người hát bài Tiễn chân anh khóa. Đường vô Nam thật gian nan vì lúc ấy chưa có đường xe lửa chạy suốt, phải đi làm nhiều chặng. Khi vô Nam ông gặp người quen hứa sẽ tìm cách để ông xuống một tàu thủy của Pháp, song thực dân biết nên ông không đi được, phải tạm lưu lại Sài Gòn. Lúc ấy Diệp Văn Kỳ mới ra tờ Thần Chung mời ông vô ban biên tập, song ông mắc lo chuyện đi. Dịp này Á Nam được tiếp xúc mấy nhà hoạt động lưu vong Lê Đức, Đồ Nhi, Trần Duy Bình, Bùi Thế Mỹ và lớp trẻ Đào Trinh Nhất, Hoàng Tích Chu, Trần Huy Liệu, Nguyễn Tường Tam, Cả Vấn mới ở Pháp về. Việc xuất dương không thành, Á Nam quay về Hà Nội viết bài cho báo của ông nghè Ngô Đức Kế. Thấy giữa thành thị ồn ào, Á Nam mua một căn nhà nát ở Thái Hà ấp rồi hợp tác với Hà Thành Ngọ báo, Thực nghiệp dân báo, Đông Pháp thời báo, và cùng nhà in Nam Ký san định in bộ Văn đàn bảo giám. Hoàng Tích Chu ở Sài Gòn ra cũng ở đó khiến Pháp càng để ý quanh vùng. Họ Chu được phép xuất bản tờ Đông Tây tuần báo, Á Nam viết giúp một thời gian. Cùng trong năm này, Á Nam lại tính chuyện đi một lần nữa. Lúc ra Huế ông ghé thăm cụ Phan rồi vào thẳng Đà Nẵng định kiếm thêm người cùng đi. Pháp dò biết ý định lùng bắt, có người hay tin vội đưa ông vào ẩn trốn trong hang động Huyền Không trong dãy núi Ngũ Hành, Á Nam lại phải quay về. Năm 1931, sau vụ Việt Nam Quốc dân đảng đánh phá Yên Bái thất bại, cuối tháng Giêng Pháp hạ lệnh tịch thu số Sách chơi xuân năm Nhâm Thân, khám nhà rồi bắt giam Á Nam và chủ nhà sách Nam Ký, ông bị kêu án 2 tháng tù treo (nhưng cũng bị giam hơn 2 tháng) về tội viết sách phá rối trị an xúi dân nổi loạn. Trong nhà pha Hỏa Lò, Á Nam gặp cả Nghiêm Toản và nhiều nhà tri thức tâm huyết, ở tù ra, vợ chết, con nhỏ chết, chôn cất vợ xong ông trở về Thái Hà ấp, bắt đầu viết bài cho tạp chí Văn học của Dương Quảng
- Hàm và một số báo khác Ông có soạn bộ truyện Tàu Thiên thai lão hiệp dài tới hơn 40 hồi. Ít lâu sau Á Nam lên ngụ tại khu Quần Ngựa ở vùng Thụy Khuê và hợp tác với tờ nhật báo Việt Cường của Phạm Lê Bổng cùng làm đủ mọi nghề, và nhờ có tiền nhuận bút ông dựng được 3 gian từ đường bằng ngói ở quê. Năm Mậu Dần (1938), nghe lời người bạn Bố chánh, Á Nam tục huyền lấy thêm bà vợ thứ họ Nguyễn. Tháng Chạp năm 1946, khởi đầu chiến tranh Việt Pháp, dân Hà Nội phải tản cư, gia đình Á Nam tản cư về mạn Sài Gòn quê của mẹ vợ, ít lâu Pháp càn quét khắp nơi, gia đình dời sang Hữu Bằng rồi Sơn Lộ (làng So), Quốc Oai, Sơn Tây. Ở được vài tháng giặc càn về So, mấy cái rương đựng quần áo, giấy tờ quan trọng, bản thảo với tập gia phả bị lửa thiêu sạch, vì lúc đó cả nhà đi vắng, chỉ có mỗi đứa con gái (Trần Thị Gia Minh) ở nhà cũng bị thất lạc (sau lúc về thành mới gặp lại) rồi ít lâu sau gia đình lại tản cư qua Sơn Lãng thuộc phủ Ứng Hòa, Hà Đông. Năm 1947 hồi cư về Hà Nội, ông chỉ dạy học ở một số trường như trung học Chu Văn An, Trưng Vương, Nguyễn Trãi và các trường tư thục. Cuối năm 1954, Á Nam đưa vợ con vô Nam. Năm 1957 ông ra tờ Văn học tạp chí (được 2 số). Tham gia soạn bộ Bách khoa tự điển, sau việc bỏ dở vì Đào Văn Tập chết. Năm 1958, Á Nam làm chủ khảo cuộc thi thơ văn toàn quốc, viết bài cho báo Bách Khoa và tờ Văn hóa nguyệt san, cố vấn cho Hội Bắc kỳ chấn hưng Phật giáo và cố vấn cho Hội Tịnh Độ Tông do Đoàn Trung Còn chủ trương. Năm 1960 phụ trách ban dịch thuật Hán văn cho Sở Tu thư, giúp việc nghiên cứu ở Thư viện quốc gia, văn khố Đà Lạt, Phó chủ tịch ủy ban dịch thuật tác phẩm ngoại ngữ. Thường viết bài tập san Vạn Hạnh, tuần báo Văn Đàn của Phạm Đình Tân (1910-1993) Ông có làm một bài thơ Hậu anh khóa đã một thời gây xôn xao dư luận. Á Nam mất vì bệnh già lúc 18 giờ 30 ngày 23 tháng Giêng Quý Hợi (1983) tại cư xá Trần Quốc Toản (cư xá Liautey của Pháp). Hiện nay ở Sài Gòn có một đường phố mang tên ông.
- Chiếc áo Bác Hồ với đồng bào Nam bộ PHAN VĂN HOÀNG Nhân ngày thương binh toàn quốc lần đầu tiên được tổ chức (27-7- 1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh ca ngợi “thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào” và kêu gọi “đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”. Trong dịp đó, Bác Hồ tặng “chiếc áo lót lụa mà chị em phụ nữ đã biếu Bác” để bán đấu giá gây quỹ giúp đỡ thương binh[1]. * Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác, nhiều cá nhân và tập thể xin mua. Cuối cùng, Liên hiệp công đoàn tỉnh Bắc Cạn trả giá cao nhất (46.700 đồng) và được nhận chiếc áo ấy. Trong khi đó, ở Nam bộ, cụ Cao Triều Phát - đại biểu Quốc hội (khóa 1) tỉnh Bạc Liêu - cùng tín đồ Minh Chơn Đạo đóng góp được 100.000 đồng (hồi đó, mỗi đồng mua được một giạ lúa), nhưng do đường sá xa xôi, phương tiện liên lạc còn thô sơ, nên mãi đến cuối tháng 8-1947, thư của cụ Cao mới ra đến chiến khu Việt Bắc. Liên hiệp công đoàn tỉnh Bắc Cạn hoan hỉ tặng lại cho cụ Cao và bà con Nam bộ chiếc áo Bác Hồ. Hay tin đó, Hồ Chủ tịch liền viết thư cho cụ Cao. Rất tiếc là trong nửa thế kỷ qua, bức thư đó không được công bố rộng rãi, ngay cả Hồ Chí Minh toàn tập - lần xuất bản đầu tiên cũng như lần tái bản mới đây - đều không đăng, nên ít người biết được nội dung của nó. Thậm chí, một tác giả cho rằng “lá thư riêng vừa nói của Hồ Chủ tịch đã bị thất lạc”[2]. Thật ra, lá thư ấy vẫn còn, sau khi đi một vòng từ chiến khu Việt Bắc, vượt Trường Sơn vào đến chiến khu Đồng Tháp Mười, theo bước chân của người nhận đi khắp các chiến trường Nam bộ, rồi trở ra thủ đô Hà Nội! Người được Bác Hồ giao nhiệm vụ mang áo, thư và ảnh vào Nam trao lại cho cụ Cao là ông Bùi Thái Dương, ủy viên thường vụ Tổng liên đoàn lao động Việt Nam. Rất tiếc lúc đó cụ Cao đang đi công tác ở các tỉnh miền Tây. Ngày 19-8-1948, ông Bùi Thái Dương viết thư để lại: “Đáng lẽ chúng tôi phải tới tận nơi để trao tận tay cụ những vật thiêng liêng đó, song vì đường sá và thời gian công tác không cho phép chúng tôi lưu lại lâu ngày nên phải yêu cầu ủy ban kháng chiến hành chánh Nam bộ chuyển tới cụ. Tiếc không được gặp cụ, mong cụ thứ lỗi cho”. Chờ tới khi cụ Cao về lại Đồng Tháp Mười, luật sư Phạm Văn Bạch - Chủ tịch UBKCHC Nam bộ - mới tổ chức buổi trao thư, ảnh và áo của Hồ Chủ tịch cho cụ Cao trước sự tham dự của đông đảo cán bộ và nhân dân (25-9-1948). Xúc động trước “tấm thạnh chân tình và một nghĩa cử cao quý” của Hồ Chủ tịch đối với cá nhân cụ nói riêng và đối với đồng bào Nam bộ nói chung, cụ Cao viết thư “cảm tạ Chủ tịch” và bày tỏ tình cảm quý mến đối với Chủ tịch: “Tôi bao giờ cũng mong mỏi được gặp gỡ Chủ tịch một ngày gần đây ( ) chừng ấy tôi mới được thỏa mãn”. Trong tình hình cuộc kháng chiến ở Nam bộ “vẫn gay go và quyết liệt”, cụ Cao hứa với Chủ tịch: “Chủ tịch nhứt định thắng giặc, đem thống nhất độc lập thật sự cho nước nhà! Tôi đây quyết tâm ủng hộ cho đến ngày thành công cuộc Cách mạng giải phóng dân tộc!
- Chủ tịch chiến đấu cho Tổ quốc, cho quốc dân đồng bào! Tôi đây cũng theo con đường cứu quốc duy nhứt ấy! Cuối thư, cụ Cao “xin chúc Hồ Chủ tịch có một sức khỏe hùng tráng để dìu dắt đồng bào đến ngày vinh quang của Tổ quốc”. Trong thư gửi ông Bùi Thái Dương, sau khi “cám ơn ông đã chịu khổ cực mang vô Nam bộ chiếc áo đó, luôn cả thơ và ảnh của Hồ Chủ tịch”, cụ Cao viết: “Tôi cảm động vô cùng khi tôi cầm trên tay chiếc áo lịch sử ấy” của “vị lãnh tụ tối cao của dân tộc”. Mặc dầu hoàn cảnh kháng chiến cực kỳ khó khăn, hơn nữa cụ Cao thường đi công tác nhiều nơi, nay ở Đồng Tháp, mai về U Minh, song lúc nào cụ cũng mang thư, ảnh và chiếc áo Bác Hồ bên cạnh mình. Trên báo Đuốc Nhà Nam xuất bản ở Sài Gòn ngày 22-6-1969, nhà văn Thiếu Sơn kể lại lần gặp cụ Cao trong chiến khu: “Cụ móc (từ) ba-lô ra một bức thơ xếp làm tư đã bạc màu và đưa cho tôi xem Bức thư đó cụ Cao Triều Phát luôn giữ kín trong ba-lô của cụ”. Sau ngày Hiệp định Genève 1954 ký kết, được Hồ Chủ tịch mời ra miền Bắc, cụ Cao đem theo những kỷ vật thiêng liêng ấy. Cụ qua đời (9-9-1956), gia đình cụ trao lại cho Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (ở Hà Nội) bảo quản. Chú thích: 1. Báo Vệ Quốc Quân, số 11, ngày 27-7-1947 2. Nhiều tác giả, Bác Hồ với miền Nam, miền Nam với Bác Hồ. Ban Khoa học xã hội Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, 1990, T.III, tr.143.



