Kỷ yếu Hội thảo khoa học Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX (Phần 2)

pdf 377 trang ngocly 60 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Kỷ yếu Hội thảo khoa học Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfky_yeu_hoi_thao_khoa_hoc_chua_nguyen_va_vuong_trieu_nguyen_t.pdf

Nội dung text: Kỷ yếu Hội thảo khoa học Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX (Phần 2)

  1. Quốc sử quán triều Nguyễn từ thời vua Gia Long đến Tự Đức TS. Trần Vũ Tμi* Tồn tại trong vòng 125 năm (1820 - 1945), Quốc sử quán triều Nguyễn đã để lại cho đời một khối l−ợng t− liệu đồ sộ và một l−ợng công trình quy mô. Đây là cơ quan văn hoá - giáo dục chuyên trách biên soạn lịch sử của triều Nguyễn và cũng là cơ quan làm sử lớn nhất, chặt chẽ nhất và thành công nhất trong nền sử học quân chủ Việt Nam. Thành công của Quốc sử quán không chỉ để lại nhiều tác phẩm sử học, địa lý lớn, đây còn là cơ quan viết sử đã thử nghiệm và vận dụng hầu hết các thể viết sử truyền thống Trung Hoa và Việt Nam một cách nhuẫn nhuyễn và sáng tạo. Các tác phẩm của Quốc sử quán có giá trị sử liệu nói riêng và cả những giá trị văn hoá nói chung. Thành công của Quốc sử quán cũng là thành công của chính sách phát triển văn hoá - giáo dục của triều Nguyễn, đặc biệt là các vị vua đầu triều từ Gia Long đến Tự Đức. Sự quan tâm và những chính sách −u tiên của ng−ời đứng đầu nhà n−ớc quân chủ là nhân tố quyết định đến sự phát triển của Quốc sử quán. 1. Sứ mạng đặt ra cho Quốc sử quán triều Nguyễn. Triều Nguyễn trị vì đất n−ớc trong một hoàn cảnh lịch sử phát triển phức tạp, đặc biệt là về văn hoá - t− t−ởng. Để bảo vệ v−ơng quyền dòng họ và cả yêu cầu thống nhất quốc gia, triều Nguyễn đã cố gắng xây dựng một nhà n−ớc quân chủ trung −ơng tập quyền vững mạnh. Sức mạnh đó đã dập tắt các m−u đồ cát cứ, các hành động tiếm quyền nh−ng không thắng nổi một thách thức khó khăn là cuộc xâm l−ợc của thực dân Pháp. Lịch sử triều Nguyễn chứa đựng nhiều mâu thuẫn và khó khăn, ban đầu là vấn đề chính thống, yêu cầu thống nhất quốc gia, ổn định xã hội đến vấn đề canh tân rồi vận mệnh dân tộc, bảo vệ độc lập Hoàn cảnh đó ảnh h−ởng không thuận chiều với hoạt động của Quốc sử quán, nh−ng chính khó khăn ấy đã khẳng định vị trí của sử học, thành nhu cầu “trị n−ớc” của các vị vua đầu triều. Năm 1802, Nguyễn ánh lên ngôi, công việc quan trọng của vua Gia Long là phải khẳng định đ−ợc sự chính thống. Việc đó không đơn thuần chỉ là hình luật, hay các vần thơ tán d−ơng công trạng mà phải bằng những ph−ơng tiện thiết thực và hiệu quả hơn. Các tác phẩm sử học cũng là một ph−ơng tiện tốt để triều Nguyễn thực hiện ý định đó. Thứ nhất, các tác phẩm sử học có thể đề cao và thần thánh vai trò họ Nguyễn trong tiến trình lịch sử dân tộc, nhất là công cuộc mở đất Đàng Trong. Thứ hai, triều Nguyễn muốn dung hoà mâu thuẫn trong xã hội, lấy Nho giáo làm hệ t− * Đại học Vinh. 380
  2. t−ởng chính thống để củng cố và bảo vệ v−ơng quyền dòng họ. Các tác phẩm theo t− t−ởng này có ý nghĩa giáo dục lớn, là ph−ơng tiện để triều Nguyễn thoả hiệp hoàng quyền tối th−ợng với thực quyền quan lại địa ph−ơng, giữa hoàng quyền với thần thuộc, với thần dân Thứ ba, sử học cũng giúp triều Nguyễn khẳng định sự chính thống là đã kế tục xứng đáng sự nghiệp của tổ tiên dòng họ (từ thời Nguyễn Kim “phù Lê diệt Mạc”), và sâu xa hơn là hài hoà vào dòng chảy liên tục của lịch sử dân tộc. Mặt khác, triều Nguyễn cũng muốn tách khỏi ánh hào quang của nhà Lê còn tồn tại dai dẳng, khẳng định quyền uy dòng họ theo cách riêng. Huế trở thành kinh đô, nơi tập trung uy quyền của họ Nguyễn và cũng là nơi quy tụ của cả n−ớc, đó cũng là sứ mạng đặt ra cho Quốc sử quán. Quốc sử quán ngoài là một nhu cầu trị n−ớc còn là một cơ chế hoạt động của bộ máy nhà n−ớc của triều Nguyễn. Sau khi thống nhất quốc gia, Gia Long đã đặt lại các đơn vị hành chính. Đến thời Minh Mạng, vua đã xây dựng một bộ máy chặt chẽ từ trung −ơng đến địa ph−ơng. Trong số các cơ quan văn hoá giáo dục, bên cạnh Quốc Tử Giám, Viện Tập Hiền, Hàn Lâm Viện, Thái Th−ờng Tự, Quang Lộc Tự là Quốc sử quán, cơ quan chuyên trách s−u tầm và biên soạn sử sách. Quốc sử quán đ−ợc lập ra nhằm phục vụ lợi ích của v−ơng triều Nguyễn, thế nên hoạt động của cơ quan này phải phù hợp với t− t−ởng chính thống và lợi ích của triều đình. Quốc sử quán lấy t− t−ởng Nho giáo làm chủ đạo. Nho giáo xuyên suốt trong các tác phẩm sử học nhằm nêu g−ơng trị đạo cho đời, khen chê về luân lý, nêu cao chính thống, chống “nguỵ triều”, tán d−ơng công trạng, sự nghiệp của vua và dòng họ vua Coi Nho đạo là sử đạo, Quốc sử quán chịu sự chi phối của thuyết “Thiên mệnh”, coi vua là thiên tử, thay trời trị dân. Tâm lý con ng−ời ph−ơng Đông rất coi trọng “thiên nhân cảm ứng”, họ quan niệm thuận với trời thì thịnh, nghịch với trời thì suy. Điều đó đ−ợc các sử quan Quốc sử quán vận dụng triệt để. Các tác phẩm sử học luôn thần thánh vai trò dòng họ Nguyễn, coi sự trị vì của dòng họ là sự ủng hộ của trời đất và các lực l−ợng siêu nhiên. Quyền của vua (v−ơng quyền) kết hợp với quyền của thần (thần quyền) tạo nên hoàng quyền tối th−ợng của vua Nguyễn. Biên soạn lịch sử để phục vụ lợi ích của v−ơng triều, tuy nhiên, trong một chứng mực nào đó, các vị vua Nguyễn đã tỏ ra rất tôn trọng sử học và chỉ dụ cho các sử quan làm cho đ−ợc “tín sử ”. Năm 1821, vua Minh Mạng dụ rằng: “N−ớc có sử là để tin ở đời này mà truyền lại cho đời sau Tất cả thần công các ng−ời dự vào sử cuộc hãy nên cố gắng làm sao cho bút pháp đ−ợc đứng đắn, vựng biên không thiếu sót, tập thành tín sử một đời”1. Khi duyệt bộ Đại Nam thực lục, vua Thiệu Trị đã chỉ thị cho Tr−ơng Đăng Quế: “Ng−ơi nên truyền bảo cho sử thần cứ việc chép thẳng, sửa lại đôi chút cho trang nhã” Vua Tự Đức cũng đã khuyên các sử quan cố gắng: “Phải khảo xét cho kỹ, đính chính tinh t−ờng, nên phải tốn nhiều năm tháng ”. Mặc dù vậy, vua trực tiếp viết phần “n gự ph ê”, đánh giá một số nhân vật lịch sử, 1 Quốc sử quán triều Nguyễn, Minh Mệnh chính yếu, tập 1, NXB Thuận Hoá, Huế 1992, tr.153. 381
  3. quyết định phần “p hà m lệ” và việc phân kỳ lịch sử thì việc biên soạn lịch sử, nhất là lịch sử v−ơng triều Nguyễn khó mà trở thành “tín sử ”. 2. Quá trình xây dựng và phát triển của Quốc sử quán triều Nguyễn. Sau khi lên ngôi, Gia Long đã có ý định thành lập một cơ quan viết sử: “Nay đất n−ớc đã thống nhất, cần phải tìm xét rộng rãi hết thẩy điển ch−ơng, điều lệ do quan lại địa ph−ơng sở tại dâng lên, nếu có điều gì quan hệ đến chính thể, trẫm sẽ tự xét chọn, đều có nêu th−ởng”. Tân Mùi (1811), bàn soạn sách Quốc triều thực lục, Gia Long xuống chiếu: “Nay soạn Quốc triều thực lục, phàm sự tích cũ, cần phải tìm xém xét rộng rãi để sẵn mà tham khảo Việc binh tình giặc một ng−ời không thể ghi hết, t−ởng ở chốn đồng quê, các nhà quan cũ và các cụ già, những điều ghi chép đ−ợc, những điều tai nghe mắt thấy, hẳn có điều đáng đúng. Vậy, đặc chiếu cho các sĩ dân từ năm Quý Tỵ trở về sau, từ Nhâm Tuất (1802) trở về tr−ớc, phàm những việc quan hệ đến n−ớc, ai hay biên chép thành quyển cáo đến nộp quan sở tại. Các cụ già ai hay ghi nhớ việc cũ thì quan lại sở tại mời đến hỏi, ghi chép chuyển tâu. Lời nào nói có thể ghi vào sử đ−ợc thì có th−ởng, thảng hoặc có can huý cũng không bắt tội”1. Ngoài việc quan tâm đến việc biên soạn lịch sử, khuyến khích mọi ng−ời s−u tầm sử liệu, vua Gia Long cũng rất chú ý đến đội ngũ sử gia. Gia Long đã triệu Thị trung học sỹ Phạm Quý Thích, tiến sĩ khoa Kỷ Hợi (1779), lĩnh đốc học phủ Phụng Thiên Nguyễn Đ−ờng Kim, đốc học trấn Sơn Nam th−ợng, đốc học phủ Hoài Đức về kinh sung chức biên tu ở sử cục, sai tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành làm Tổng tài bộ Thực lục, đồng thời giao trọng trách cho ông soạn Hoàng triều luật lệ Tuy đã có nhiều cố gắng nh−ng những khó khăn của vị vua đầu triều khiến Gia Long ch−a thể tổ chức hoạt động Sử cục một cách quy mô. Canh Thìn (1820), Minh Mạng nối nghiệp vua cha, vị vua này đã thực hiện cải cách hành chính nhằm xây dựng một quốc gia quân chủ tập quyền vững mạnh. Cũng nh− Gia Long, Minh Mạng cũng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn: Các cuộc khởi nghĩa d−ới danh nghĩa phù Lê, thêm vào đó là việc đối xử hà khắc thái quá của triều Nguyễn đối với những cộng sự gần gũi nh− Nguyễn Văn Thành, Vũ Trinh, Lê Chất, Lê Văn Duyệt. Triều Nguyễn bị xem là sát hại công thần. Tuy vậy, Minh Mạng cũng rất chú ý đến lịch sử và ng−ời viết sử n−ớc nhà. Canh Thìn (1820), mùa Hạ, tháng Sáu, Minh Mạng xuống chiếu: “ N−ớc nhà từ khi khai thác đến nay, lần l−ợt các Thánh cùng truyền nối trên hai trăm năm, kịp đến Đức Thế tổ Cao hoàng đế ta, ngài đã trung h−ng, thống nhất bờ cõi, trong khi đó, những việc lớn công to, nếu chẳng có sử sách thì lấy gì truyền lại cho đời sau lâu dài. Trẫm muốn dựng Sử quán, sai các bậc nho thần soạn tập bộ Quốc triều thực lục để nêu lên những công cuộc xây dựng 1 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1, NXB KHXH, Hà Nội 1969 - 1978, tr.121. 382
  4. nền tảng thịnh v−ợng để cho đời sau bắt ch−ớc vậy”1, bèn sai chọn bên tả trong kinh thành, thuộc địa phận ph−ờng Phú Văn (sau gọi là ph−ờng Trung Hậu, nay thuộc ph−ờng Thuận Thành) họp thợ xây đắp, hơn một tháng thì xong. Nhà vua thân hành đến thăm, cho dựng biển “khuynh cái hạ mã” tr−ớc sân. Hai bên tả hữu tấm biển có 2 con hổ nằm phủ phục để quan quân mỗi lần đi ngang qua phải nghiêng lọng xuống ngựa để tỏ lòng tôn kính sử sách và ng−ời làm sử n−ớc nhà. Tân Tỵ (1821), mùa Hạ, tháng Năm, Minh Mạng sai quan soạn Liệt thánh thực lục, cử ch−ởng hữu quân Nguyễn Văn Nhân làm Tổng tài, th−ợng th− Trịnh Hoài Đức và Phạm Đăng H−ng làm phó Tổng tài, các tham tri Trần Minh Nghĩa, Nguyễn Khoa Minh, Nguyễn Văn H−ng, Nguyễn Huy Trinh, Hàn Lâm ch−ởng viện học sĩ Hoàng Kim Hoan, Thái th−ờng tự khanh Lê Đồng Lý, Lại bộ thiêm sự Lê Đăng Doanh, Đông các học sĩ Đinh Phiên, Hàn lâm thị giảng học sĩ Nguyễn Tuần Lý, Nguyễn Mậu Bách làm toản tu, đặt 25 ng−ời làm biên tu, 5 ng−ời khảo hiệu, 12 ng−ời th− ch−ởng, 8 ng−ời đằng lục2. Nh− vậy đến triều Minh Mạng, Quốc sử quán đã có trụ sở riêng, biên chế số l−ợng sử quan lớn, cơ cấu tổ chức rất chặt chẽ. Điều đó chứng tỏ sự quan tâm của triều Nguyễn đối với lịch sử và ng−ời viết sử n−ớc nhà. Bên cạnh đó, Minh Mạng th−ờng xuyên theo dõi và đốc thúc công việc của Quốc sử quán. Quý Tị (1833), vua xuống dụ: “Nhà n−ớc có sử là để làm tài liệu đáng tin cho đời nay và truyền mãi về sau. Ta từ lúc mới lên ngôi, liền muốn biên thuật ngay công đức đời tr−ớc thành một bộ sử của một triều đại, nên đã cho xây dựng sử cục, lại lựa chọn ng−ời biên soạn Thực lục về Liệt thánh. Những ng−ời đ−ợc lựa chọn vào việc này đã đ−ợc ban yến vẻ vang, lại đ−ợc cấp l−ơng −u hậu Thế mà, từ tổng tài đến toản tu trong đợt làm việc ấy trở xuống không chịu hăng hái cố gắng làm tốt, lại kéo dài bao nhiêu năm. Nay ta muốn hai tay cầm đọc thì chỉ mới có bản thảo, ch−a viết tinh t−ờng”3. Minh Mạng đã có sự thay thế kịp thời: “Nay chọn các viên khác sung vào, làm cho đến thành công, vậy ra lệnh th−ợng th− bộ Hộ là Tr−ơng Minh Giảng, th−ợng th− bộ Lễ là Phan Huy Thực đều làm Tổng tài, Tả tham tri bộ Hộ là Tr−ơng Đăng Quế, hữu tham tri bộ Hình là Bùi Phổ, hữu tham tri bộ Công là Nguyễn Trung Mậu, tả phó Đô ngự sử viện Đô sát Hà Duy Phiên, thự hữu tham tri bộ Binh Nguyễn Trọng Vũ, tả thị lang bộ Lễ Lê Nguyên Trung, đều sung toản tu, dùng nhà Hữu Đãi Lâu làm nơi biên soạn”4. Chỉ dụ trên cho thấy sự theo dõi sát sao của vua Minh Mạng với lịch sử, nhất là lịch sử dòng họ. Tân Sửu (1841), mùa Đông, tháng M−ời, ngay khi mới lên nối ngôi, vua Thiệu Trị đã “nghĩ đến việc nối theo đức hay của ng−ời tr−ớc, để lại về sau lâu dài”, “kịp thời biên tập để thành bộ sử đáng tin của đời thịnh trị”. Nhà vua đã tăng c−ờng nhân sự cho Quốc sử quán, truyền đặt thêm Tổng tài và phó tổng tài mỗi chức đều 2 viên 1 Đại Nam thực lục (Sđd), tập 1, tr.62. 2 Tôn Thất Hanh, Quốc sử quán qua các triều đại, Huế x−a & nay, số 6 - 1994, tr.50-53. 3 Tôn Thất Hanh, Quốc sử quán qua các triều đại, Huế x−a & nay, số 6 1994, tr.50-53. 4 Tôn Thất Hanh, Quốc sử quán qua các triều đại, Huế x−a & nay, số 6 1994, tr.50-53. 383
  5. quan. Vua cũng cho xây thêm nhà Công thự của chức toản tu và nhà Giải vũ đài của chức biên tu ở hai bên tả hữu Quốc sử quán1. Vua Thiệu Trị còn xuống chiếu cử Văn minh điện đại học sĩ là Tr−ơng Đăng Quế, Đông các đại học sĩ là Vũ Xuân Cẩn cùng sung tổng tài, th−ợng th− bộ Công là Nguyễn Trung Mậu, th−ợng th− bộ Lễ Phan Bá Đạt sung làm phó tổng tài, cho thự thị lang bộ Công là Đỗ Quang Lâm làm Hàn lâm viện trực học sĩ, án sát Thái Nguyên là Tô Trân làm Thái Bộc tự khanh, lang trung bộ Binh là Vũ Phạm Khải làm Hồng Lô tự khanh đều sung chức toản tu, còn từ chức biên tu trở xuống đều cho đổi sang viện hàm Hàn Lâm. D−ới thời Thiệu Trị, Quốc sử quán đ−ợc củng cố, mở rộng các chức danh, điều đó giúp cho công tác biên soạn lịch sử đ−ợc tiến triển nhanh hơn. Đinh Mùi (1847), Tự Đức lên ngôi. Hàng loạt vị công thần đ−ợc thăng cấp, các gia đình Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt, Lê Chất đ−ợc phục hồi danh dự, tạo điều kiện cho sự hoàn chỉnh các bộ sử biên niên về thời Gia Long. Tuy nhiên, việc lên ngôi không đúng nguyên tắc Khổng giáo cũng nh− những bất hoà trong nội bộ Hoàng tộc khiến triều đình Tự Đức gặp nhiều khó khăn, hàng loạt cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra khiến triều đình phải vất vả “đánh dẹp”. Thêm vào đó là tiếng súng xâm l−ợc của thực dân Pháp đã làm cho triều đình lúng túng. Dù vậy, Tự Đức và triều Nguyễn vẫn có những sự quan tâm thích đáng đối với Quốc sử quán. Chỉ dụ của vua nêu rõ: “Việc đời cổ đã lờ mờ, lấy gì làm kinh nghiệm cho đời sau? Đạo học ch−a đ−ợc sáng tỏ, nguyên nhân chẳng vì sử cũ ch−a đ−ợc đầy đủ đó sao?”. Nhà vua cũng nhấn mạnh đến tính cần thiết phải biên soạn quốc sử: “Nếu ch−a biên tập đ−ợc bộ Việt sử, ch−a chấn h−ng đ−ợc nền cố học, thì đó cũng là khiếm khuyết của thời đại thịnh trị (do đó) cần phải cử hành việc trọng đại ấy cho kịp thời”. Hoạt động biên soạn sử sách d−ới triều Tự Đức đ−ợc tiến hành rầm rộ, tài liệu sử dụng cũng nh− sách vở in ấn cũng nhiều hơn, nhà vua phải cho xây thêm một nhà dài phía sau trụ sở Quốc sử quán để đựng đồ gỗ và mộc bản in sách gọi là Tàng bản đ−ờng2. 3. Hoạt động và những thành tựu của Quốc sử quán triều Nguyễn Quốc sử quán là cơ quan văn hoá - giáo dục, một bộ phận hợp thành của nhà n−ớc trung −ơng ở thế kỷ XIX. Quốc sử quán đ−ợc xây dựng nhằm nhu cầu “trị n−ớc” của triều Nguyễn, tuân thủ những nguyên lý của Nho giáo, phù hợp với lợi ích của dòng họ. Hoạt động của Quốc sử quán nằm trong cơ chế giám sát của bộ Lại, tuân thủ những nghi thức do bộ Lễ đặt ra và chịu sự chi phối trực tiếp của nhà vua. Đội ngũ nhân sự đ−ợc tổ chức và phân cấp rõ ràng, bao gồm các chức danh: tổng tải, phó tổng tài, toản tu, biên tu, khảo hiệu, đằng lục, th− ch−ởng, kiểm thảo Quốc sử quán chịu sự giám sát trực tiếp của Đô sát viện. Các hoạt động thuộc về nghi thức đã 1 Đại Nam thực lục (Sđd), tập 18, tr.333. 2 Nguyễn Sỹ Hải, Tổ chức chính quyền trung −ơng thời Nguyễn sơ, Luận án tiến sỹ luật khoa, Ban công pháp, Tr−ờng ĐH Luật khoa Sài Gòn 1962, tr.26. 384
  6. đ−ợc bộ Lễ quy định và đ−ợc ghi chép cụ thể trong bộ Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ của Nội các triều Nguyễn, đơn cử một vài hoạt động khi biên soạn thực lục. Toản tu thực lục (biên chép thế hệ, công nghiệp các nhà vua). Thể lệ biên soạn rất chặt chẽ và uy nghiêm, thể hiện sự tôn trọng đối với sử sách và ng−ời làm sử n−ớc nhà. Tr−ớc khi biên soạn, vua sai Khâm thiên giám chọn ngày tốt, chọn ngày biên soạn, hàng loạt nghi thức đ−ợc tiến hành. “Sáng sớm hôm ấy, các phần việc đặt nghi lễ triều đình ở điện Cần Chánh, gian giữa đặt một án vàng, ty Hà Thanh sửa soạn đủ nhã nhạc, ty Loan nghi sửa soạn một bộ long đình, tán vàng lọng vàng đều 4 cái, g−ơm dài 10 cái, gậy đủ 20 cái, chực đợi ở ngoài cửa Đại Cung. Ng−ời coi việc sẽ đặt một cái h−ơng án, sửa soạn đủ h−ơng nến Nội các đem chỉ dụ ra đóng ấn, để vào ống kim ph−ợng, đặt trên án vàng Nhà vua đội mũ đ−ờng cân, mặc áo vàng, đeo đai ngọc, ngự điện Cần Chánh, lên ngai ngự, hoàng thân và trăm quan bày hàng làm lễ 5 lạy Các quan sử xếp hàng làm lễ 5 lạy, xong quan bộ Lại quỳ tâu, xin cho quan tuyên chỉ làm lễ bái mạng Quan khâm mạng tuyên chỉ đến tr−ớc chỗ án vàng trên điện, b−ng ống kim ph−ợng, từ thềm giữa xuống, để ở trên long đình. Ty loan nghi khênh đi, che lọng vàng từ cửa giữa đại cung ra, tán vàng, nhã nhạc nghi tr−ợng đều đi theo. Quan tuyên chỉ đi theo cửa giữa Ngọ Môn, đến tr−ớc cửa Quốc Tử Giám, Quan sử đều quỳ đón ở hai bên tả hữu ngoài cửa. Quan khâm mạng mở ống lấy dụ chỉ ra, quay mặt về h−ớng Nam đứng, đọc xong lại bỏ vào trong ống để lên h−ơng án rồi lui ra. Quan sử làm lễ 5 lạy và làm lễ xin lĩnh tế 5 lạy, rồi chia 2 hàng, vâng lĩnh dụ chỉ viết tinh tế ra giấy vàng đem niêm yết, còn bản chính l−u lại ở Quốc Tử Giám. Quan sử đổi áo th−ờng, l−u lại quán bắt đầu làm việc”1. Kính dâng thực lục: Phàm biên chép thực lục, khi làm xong, chọn ngày tốt, kính dâng lên vua ngự lãm. Tr−ớc một ngày, bộ Lễ đặt 3 cái án vàng ở gian chính giữa Quốc sử quán, quan sử bày bộ Th ực lụ c lên đó. Đến ngày lễ, vào canh 5, các viên tổng tài, toản tu đến tr−ớc án vàng b−ng hộp đựng Thự c lục. Nhã nhạc nổi lên, ty Loan nghi r−ớc h−ơng đình, long đình đi lên, đồ nghi tr−ợng, tán, kiếm, nhã nhạc đi tr−ớc, tổng tài trở xuống đi hộ vệ sau, vào Hoàng thành theo cửa giữa Ngọ Môn. Khi đến điện Cần Chánh, nhã nhạc ngừng, các sử quan chia nhau b−ng các bộ sách dâng lên. Thân phiên và hoàng thân quỳ đón và đợi đặt lên án vàng gian giữa điện. Nhà vua đội mũ cửu long, mặc áo hoàng bào, đeo đai ngọc, cầm ngọc khuê, ngự lên điện Kiền thành. Hai tên thái giám r−ớc nhà vua đến tr−ớc án vàng, h−ớng về bắc quỳ xuống dắt ngọc khuê vào đai và mở thực lục ra xem ”2. Nghi thức biên soạn thực lục, dâng thực lục quả thực rất r−ờm rà, huy động nhiều thành phần đủ cả thân phiên, hoàng thân, thị vệ, thái giám, các quan văn võ, đủ cả Lễ bộ, Lại bộ, có cả nhã nhạc, tán vàng, nghi tr−ợng Tuy nhiên, điều đó cũng chứng tỏ thái độ tôn trọng của triều đình Nguyễn đối với sử học. 1 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 8, NXB Thuận Hoá, Huế 1993, tr.108-109. 2 Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (Sđd), tr.117-118. 385
  7. Bên cạnh hoạt động biên soạn thực lục về các đời vua, Quốc sử quán còn biên soạn liệt truyện, địa lý chí, c−ơng mục, tôn phả, toản tu ngọc điệp, chính yếu Đồng thời, Quốc sử quán còn làm nhiệm vụ khắc in và bảo quản sách vở, tài liệu. Các vị vua triều Nguyễn đã có những quan tâm đặc biệt đối với hoạt động của Quốc sử quán. Tuy nhiên, vì những khó khăn khách quan và cả những khó khăn chủ quan đã làm cho cơ quan này không hoàn thành đ−ợc trọng trách mà các vua Nguyễn đặt ra, đặc biệt là phục vụ cho nhu cầu trị n−ớc lúc bấy giờ. D−ới triều Gia Long, nhà vua đã có ý thức biên soạn quốc sử. Song những khó khăn của vị vua đầu triều khiến cho việc biên soạn quốc sử ch−a đ−ợc đẩy mạnh, ch−a xuất hiện những công trình sử học lớn. Đáng ghi nhận thời kỳ này là việc hoàn thành bộ Nhất thống d− địa chí (1806) và bộ Hoàng Việt luật lệ (1812) phục vụ cho công cuộc nhất thống và cai trị bằng pháp trị đ−ơng thời. Đến thời Minh Mạng, Thiệu Trị, mặc dù triều đình đã quan tâm xây dựng Quốc sử quán và đội ngũ sử quan nh−ng công tác biên soạn vẫn còn chậm chạp. Cho đến hết thời vua Thiệu Trị, bộ lịch sử dân tộc ch−a đ−ợc thực hiện, bộ lịch sử dòng họ mới soạn xong phần tiền biên của Thực lục và chuẩn bị soạn phần chính biên. Đến thời Tự Đức, triều đại mà Quốc sử quán đã biên soạn các bộ sử chính yếu thì công tác in ấn, phát hành lại chậm. Cho đến năm 1862, Quốc sử quán mới chỉ biên soạn xong Thực lục tiền biên, Liệt truyện tiền biên, Thực lục chính biên (về Gia Long và Minh Mạng), Khâm định Việt sử thông giám c−ơng mục nh−ng tất cả chỉ ở dạng bản thảo. Cho đến khi vua Hàm Nghi xuất bôn (1885), những tác phẩm đ−ợc Quốc sử quán phát hành cũng chỉ là những bài thơ của Minh Mạng, Thiệu Trị phản ánh việc đàn áp các cuộc nổi dậy và quyển Ngự chế Việt sử tổng vịnh tập. Bộ Đại Nam thực lục (chép từ năm 1558 đến 1847) đã đ−ợc in nh−ng không phát hành, còn bộ Khâm định Việt sử thông giám c−ơng mục thì in ch−a xong. Tiến độ biên soạn các bộ sử khác cũng rất chậm chạp: Đại Nam liệt truyện (đến năm 1889 mới soạn xong phần chính biên), Đại Nam nhất thống chí đến năm 1882 mới hoàn thành, Minh Mạng chính yếu phải đến năm 1894 mới soạn xong. Phần in ấn, phát hành lại càng chậm chạp hơn nữa: Năm 1900 mới phát hành Đại Nam liệt truyện, 1901 ấn hành Minh Mệnh chính yếu, 1905 phát hành Thực lục tiền biên Có thể thấy một thực tế: Các bộ sử chủ yếu của Quốc sử quán đ−ợc hoàn thành sau năm 1884 và phần lớn đ−ợc phát hành đầu thế kỷ XX, khi mà triều Nguyễn đã không giữ đ−ợc độc lập. Mục đích dùng các tác phẩm sử học nh− một nhu cầu trị n−ớc và chính thống hoá sự trị vì của vua Nguyễn đã không đạt đ−ợc, Quốc sử quán đã không đáp ứng đ−ợc kỳ vọng mà các vua Nguyễn đặt ra. Dù phải đối diện với rất nhiều khó khăn nh−ng các vị vua đầu triều từ Gia Long đến Tự Đức đã có sự quan tâm thích đáng đối với công tác biên soạn sử sách. Kết quả của sự quan tâm ấy là Quốc sử quán ngày càng đ−ợc xây dựng chặt chẽ và quy mô hơn. Triều Nguyễn cũng đã bố trí nhiều trí thức lớn, trong số đó có nhiều vị là “tứ trụ triều đình” hay Th−ợng th− các Bộ làm Tổng tài phụ trách công tác biên 386
  8. soạn sử sách. Trong hoàn cảnh lịch sử có nhiều biến động, đội ngũ sử quan ch−a nhiều nh−ng kết quả mà Quốc sử quán đã làm đ−ợc (cơ bản biên soạn thành công các bộ sử lớn: Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện, Đại Nam nhất thống chí, Khâm định Việt sử thông giám c−ơng mục, Minh Mệnh chính yếu ) thật đáng trân trọng. Thành công của Quốc sử quán cũng là thành công về chính sách văn hoá - giáo dục của các vị vua triều Nguyễn. Đành rằng, Quốc sử quán đã không đáp ứng đ−ợc nhu cầu “trị n−ớc” đ−ơng thời nh−ng nh− mong muốn của các vị vua đầu triều, biên soạn lịch sử để làm g−ơng trị loạn cho đời sau, Quốc sử quán đã có những đóng góp quan trọng cho sử học nói riêng và nền văn hoá dân tộc nói chung. Quốc sử quán đã để lại một khối l−ợng t− liệu đồ sộ về nhiều mặt, làm cơ sở cho chúng ta nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX. 387
  9. Cải cách hμnh chính d−ới triều Minh Mệnh (1820 - 1840) PGS.TS. Nguyễn Minh T−ờng* Cải cách hành chính là nhu cầu cấp thiết của một Nhà n−ớc nhằm hoàn thiện, nâng cao tính hữu hiệu cho bộ máy quản lý quốc gia. Do vậy, ở nhiều n−ớc song song với những chuyển biến lớn về chính trị - xã hội, kinh tế th−ờng diễn ra các cuộc cải cách hành chính với một quy mô rộng lớn và toàn diện. Trong bài viết này, chúng tôi muốn khảo sát cuộc cải cách hành chính d−ới triều Minh Mệnh đ−ợc tiến hành từ năm 1820 đến năm 1840. Cuộc cải cách hành chính do Minh Mệnh chỉ đạo thực hiện đ−ợc tiến hành dần dần từ Triều đình Trung −ơng, sau đó mới tới các thể chế hành chính của địa ph−ơng. Chúng tôi xin trình bày tóm l−ợc quá trình cải cách hành chính ấy: A. Cải cách hành chính ở Trung −ơng I. Cải tổ và đổi mới các cơ quan văn phòng của nhà vua 1. Từ Văn th− phòng chuyển thành Nội các Các cơ quan của Văn phòng đ−ợc đặt ra từ thời Gia Long ngay ở trong Đại nội, nhiệm vụ chính là phụ trách các công việc văn th− giấy tờ và cố vấn cho nhà Vua về việc quốc gia đại sự khác. Văn th− phòng mặc dầu đã hoạt động khá hữu hiệu nh−ng dần dần không đáp ứng nổi với tình hình thay đổi nữa. Phải thiết lập một cơ quan mới có đầy đủ quyền hạn thay mặt nhà Vua giải quyết mọi công việc của các trấn trên phạm vi toàn quốc, nh−ng cơ quan ấy luôn luôn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của nhà Vua. Đó là nguyên nhân và điều kiện cơ bản dẫn đến việc thành lập Nội các vào năm Minh Mệnh thứ 10 (1829). Nội các là cơ quan do Minh Mệnh thiết lập nhằm thay thế Văn th− phòng, về mặt tổ chức và nhiệm vụ thì có phỏng theo quy chế Nội các của nhà Minh và nhà Thanh của Trung Quốc. Nh−ng Nội các của hai triều đại Minh, Thanh quyền hành luôn đứng trên Lục bộ. Nhà Thanh, quan đứng đầu Nội các đ−ợc thăng lên đến Chánh nhất phẩm1. * Viện Sử học Việt Nam 1. Nhị thập ngũ sử: Thanh sử cảo - Th−ợng Hải cổ tịch xuất bản xã - Th−ợng Hải th− điếm, tr. 114. 388
  10. Bốn viên quan phụ trách Nội các gồm: 2 ng−ời hàm Chánh tam phẩm là Thị lang các Bộ hoặc Hàn lâm viện Ch−ởng viện học sĩ sung biện công việc Nội các, trong đó một ng−ời kiêm lãnh Th−ợng bảo khanh; 2 ng−ời hàm Chánh tứ phẩm là Hàn lâm viện Thị độc học sĩ sung làm việc Nội các, trong đó một viên kiêm lãnh Th−ợng bảo thiếu khanh. Ngoài 4 viên quan đứng đầu kể trên, Nội các còn có 28 ng−ời thuộc viên, phẩm trật từ hàm Chánh ngũ phẩm xuống tới Tòng cửu phẩm. Nội các là cơ quan rất quan trọng, công việc rất nhiều, nhiệm vụ có quyền nhận "những ch−ơng sớ, sổ sách, án kiện của các nha, lục bộ cùng các thành, trấn trong ngoài đã phụng sắc phê bảo, lãnh chỉ rồi thì nghĩ lời chỉ dụ mà trình lại để tuân hành"1. Để tránh tệ chuyên quyền, trong một lời dụ cho Sử quán, Minh Mệnh đã đem tấm g−ơng chuyên quyền của Nội các nhà Minh, Thanh để răn đe: "Vua Thánh Tổ (nhà Minh) mới dựng ra Nội các, lấy các viên Hàn lâm vào làm thăng chức Đại học sĩ nh−ng trật chỉ ngũ phẩm để làm cố vấn mà thôi, sau phẩm trật càng cao quyền hành càng lớn, tuy không có cái tên gọi là Tể t−ớng mà có cái thực quyền Tể t−ớng, cho nên vua Thế Tôn nhà Minh dùng Nghiêm Tung, vua Cao Tôn nhà Thanh dùng Hòa Thân đều là ng−ời u mê mà tùy tiện tác oai tác phúc, cái g−ơng đó thực không xa2. Tuy nhiên cũng có thể châm ch−ớc, việc nên làm, cả nhẽ lại bỏ cả, nh− ng−ời vì nghẹn mà bỏ ăn sao! Ph−ơng chi, quan chức trong Nội các ngày nay trật chỉ có tam phẩm mà đứng hàng thứ d−ới 6 bộ, không thể đứng đầu trăm quan mà giữ mọi việc nh− nhà Minh, nhà Thanh đ−ợc"3. Để tránh việc thông đồng, t− tình giữa các viên quan ở Nội các và các viên quan ngoài, trong Hộ i đi ển còn quy định: "Ng−ời nào ở Nội các đã đ−ợc bổ làm quan ngoài, thì không đ−ợc vì đã từng sung vào Nội các mà tự tiện ra vào"4. Ng−ời đ−ợc Minh Mệnh bổ nhiệm vào chức đứng đầu Nội các lâu nhất là Hà Tông Quyền. Là ng−ời thông minh, có thực học, Hà Tông Quyền rất đ−ợc Minh Mệnh yêu quý và tin t−ởng. Một lần Minh Mệnh nhận xét về Hà Tông Quyền tr−ớc viên thị thần Tr−ơng Đăng Quế rằng: "Hà Quyền thù ứng văn ch−ơng thực là hạng tài tử cứng và nhanh, nay tìm đ−ợc ng−ời nh− thế, ch−a dễ đ−ợc số nhiều. Nguyễn Cửu Tr−ờng cũng ở trong khoa giáp ra, ta th−ờng vào Nội các để xem tài, nh−ng cũng chậm chạp lỗ độn, so với Hà Quyền không thể kịp đ−ợc"5. 1. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên. Sđd, tập IX, tr. 352. 2. Trong phần dịch, dịch giả dịch nhầm là: "Vua Thế Tôn nhà Minh dùng Nghiêm Tung Thanh, vua Cao Tôn dùng Hòa Thân ". Nguyên văn chữ Hán chép là: "Vô tể t−ớng chi danh nhi hữu tể t−ớng chi thực. Cố Minh Thế Tôn chi dụng Nghiêm Tung, Thanh Cao Tôn chi dụng Hòa Thân , giai mông tế thông minh, uy phúc tự tứ, quyết giám thành vị bất viễn". Minh Mệnh chính yếu - Sđd, tập I, phần chữ Hán tờ 32a. 3. Quốc sử quán triều Nguyễn: Minh Mệnh chính yếu. Tủ sách Cổ Văn XB. Sài Gòn, 1972, tập I, tr. 198, 199. 4. Nội các triều Nguyễn: Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (Từ đây xin gọi tắt là Hội điển). Nxb Thuận Hóa - Huế, 1993, tập XIV, tr. 14. 5. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 1969, tập XXII, tr. 339. 389
  11. Nhằm tăng c−ờng trách nhiệm của Nội các và Lục bộ đồng thời cũng nhằm ràng buộc lẫn nhau, Minh Mệnh đặt ra chế độ: các Phiếu nghĩ của Nội các nếu có gì không hợp, thì Lục bộ trích và tham hạch, ng−ợc lại Phiếu nghĩ, Bản tâu của Lục bộ nếu không có gì không hợp gì Nội các cũng đ−ợc trích ra để tham hạch. Theo Hội điển, Nội các d−ới triều Minh Mệnh đ−ợc chia làm 4 tào: - Th−ợng bảo - Ký chú - Đồ th− - Biểu bạ Nh−ng đến năm Minh Mệnh thứ 17 (1836), có chiếu dụ đổi tên tào Đồ th− làm vào Bí th−, tào Ký chú làm tào Thừa vụ. Nh− vậy từ đây cho đến cuối triều Minh Mệnh, Nội các gồm 4 tào nh− sau: - Th−ợng bảo - Thừa vụ - Bí th− - Biểu bạ Vậy nhằm mục đích gì mà Minh Mệnh thiết lập Nội các? Để giải đáp câu hỏi này, ta cần nhận rõ tham vọng quán xuyến suốt thời gian trị vì của Minh Mệnh: Xây dựng một Nhà n−ớc Trung −ơng tập quyền chuyên chế cao độ. Nội các chính là cơ quan, thay mặt Vua khống chế, giàng buộc quyền lực của Lục bộ. Từ đó, tạo điều kiện cho nhà Vua lãnh đạo quốc gia một cách sâu sát nhất và có ít lỗi lầm. 2. Cơ mật viện Đây là một cơ quan, trong lịch sử quân chủ Việt Nam, chỉ đ−ợc thiết lập từ triều Minh Mệnh trở đi. Vấn đề không phải là ở tên gọi, mà chính là nội dung, chức vụ của Cơ mật viện. Theo sách Hội điển: Cơ mật viện có nhiệm vụ "dụ bàn những công việc cơ m−u trọng yếu giúp đỡ việc quân sự"1. Sách Đại Nam thực lục chính biên chép: "Minh Mệnh năm thứ 15 (1834), tháng 12: Bắt đầu đặt Cơ mật viện. Vua dụ Nội các: "Nhà n−ớc chia chức đặt quan, những chức then chốt trọng yếu đều đầy đủ: Bộ, Viện và Nội các, cũng đều có chế độ chức phận rõ ràng, ai nấy đều phải giữ đúng nhiệm vụ. Đến nh− việc quân, việc n−ớc là những việc lớn lao, khi lâm sự, ta truyền bảo tận mặt. Bộ và Nội các vâng dụ chỉ, nên phiếu làm theo từ tr−ớc đến giờ cũng đã đều đ−ợc ổn thỏa đẹp đẽ cả. Nh−ng nghĩ: còn những việc quân, việc n−ớc trọng yếu, cơ mật và lớn lao, cũng cần phải phỏng theo nh− Khu mật viện của nhà Tống và Quân cơ xứ của nhà Thanh, châm 1. Nội các triều Nguyễn: Hộ i đ iển . Sđd, tập I, tr. 199. 390
  12. ch−ớc mà làm, để riêng làm một sở. Công việc có chuyên trách, thì chế độ, quyền hạn và chức phận càng đ−ợc chu đáo hơn. Vậy nay chuẩn cho đặt ra Cơ mật viện. Khi có việc n−ớc, việc quân trọng đại, sẽ đặc cách xuống dụ chọn ng−ời sung làm Cơ mật đại thần, vâng theo phiếu ghi mà thi hành để tỏ rõ sự thận trọng"1. II. Hoàn thiện Lục bộ Vua Gia Long noi theo điển chế từ tr−ớc, ngay khi lên làm chủ toàn cõi Việt Nam đã thiết lập 6 bộ: Lại - Hộ - Lễ - Binh - Hình - Công. Năm 1804, Gia Long cho đúc ấn triện của 6 bộ, và năm 1806 cho xây dựng nhà cửa trong Kinh thành để làm trụ sở cho các bộ, nh−ng ch−a đặt đủ các chức Th−ợng th−. Th−ợng th− 6 bộ mãi tới năm Gia Long thứ 8 (1809) mới đ−ợc chính thức đặt ra. Sách Đại Nam thực lục chính biên chép về sự kiện này nh− sau: "Tháng 11 năm Kỷ Tỵ (1809) lấy: - Th−ợng th− Binh bộ Lê Quang Định làm Th−ợng th− Hộ bộ. - Cải thụ Lại bộ Trần Văn Trạc làm Th−ợng th− Lại bộ. - Lễ bộ Đặng Đức Siêu làm Th−ợng th− Lễ bộ. - Binh bộ Đặng Trần Th−ờng làm Th−ợng th− Binh bộ. - Hình bộ Nguyễn Tử Châu làm Th−ợng th− Hình bộ. - Công bộ Trần Văn Thái làm Th−ợng th− Công bộ. Sáu bộ đặt chức Th−ợng th− bắt đầu từ đấy"2. Năm 1827, Minh Mệnh cho xây dựng cơ quan 6 bộ, to lớn hơn tr−ớc mỗi bộ đ−ờng gồm 5 tòa nhà, mỗi tòa nhà đều xây t−ờng gạch bao quanh. Để tăng c−ờng khả năng thực thi công vụ và liên hệ giữa các bộ, Minh Mệnh cho tập trung 6 bộ vào một khu vực nhất định, đó là khu vực bên trái của Hoàng cung. Các bộ đ−ờng đều đ−ợc thiết kế thống nhất một kiểu thức, bố trí thành hàng chữ "Nhất" ( - ), từ tây sang đông, theo thứ tự Lại - Hộ - Lễ - Binh - Hình - Công. Theo Hộ i đi ển , d−ới triều Nguyễn, nhiệm vụ của các bộ đ−ợc phân công nh− sau: - Bộ Lại: "Coi giữ những chính sự thăng giáng về quan văn trong Kinh và ở các tỉnh chỉnh đốn ph−ơng pháp làm quan để giúp chính sự trong n−ớc"3. 1. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 1965, tập XV, tr. 335. 2. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên. Nxb Sử học, Hà Nội 1963, tập IV, tr. 45. 3. Nội các triều Nguyễn: Hộ i đ iển . Sđd, tập II, tr. 9. 391
  13. - Bộ Hộ: "Nắm giữ các chính sách về điền thổ, hộ khẩu, tiền thóc trong n−ớc bình chuẩn1. Việc phát ra thu vào, để điều hòa nguồn của cải nhà n−ớc"2. - Bộ Lễ: "Coi giữ trật tự 5 lễ3 hòa hợp giữa thần và ng−ời, hài hòa trên và d−ới, để giúp việc lễ cho n−ớc"4. - Bộ Binh: "Chuyên coi việc bổ nhiệm, tuyển dụng các chức võ trong ngạch, khảo duyệt khí giới, l−ơng thực để giúp việc chính trị trong n−ớc"5. - Bộ Hình: "Giữ việc pháp luật, án từ để nghiêm phép n−ớc"6. - Bộ Công: "Coi giữ việc thợ thuyền, đồ dùng trong thiên hạ, phân biệt vật hạng, xét rõ tài liệu để sửa sang việc n−ớc"7. Nh− vậy, kể từ năm 1827 trở đi, thành phần lãnh đạo và nhân viên các bộ gồm những chức sau: - Th−ợng th−: Chánh nhị phẩm - Tham tri: Tòng nhị phẩm - Thị Lang: Chánh tam phẩm - Lang trung: Chánh tứ phẩm - Viên ngoại lang: Chánh ngũ phẩm - Chủ sự: Chánh lục phẩm - T− vụ: Chánh thất phẩm - Th− lại: + Chánh bát phẩm + Chánh cửu phẩm8 1. Bình chuẩn: Làm cho công bằng giá cả, lúc rẻ thì mua vào, lúc đắt thì bán ra. 2. Nội các triều Nguyễn: Hộ i đ iển . Sđd, tập IV, tr. 11. 3. Theo cổ lễ, 5 lễ là: lễ Cát, lễ Hung, lễ Quân, lễ Tân và lễ Gia: - Lễ Cát là những lễ về việc tế tự. - Lễ Hung là những lễ về tang ma. - Lễ Quân về quân sự. - Lễ Tân về việc tiếp tân khách. - Lễ Gia là lễ đến tuổi đội mũ và lễ kết hôn. 4. Nội các triều Nguyễn: Hộ i đ iển . Sđd, tập VI, tr. 13. 5. Nội các triều Nguyễn: Hộ i đ iển . Sđd, tập IX, tr. 15. 6. Nội các triều Nguyễn: Hộ i đ iển . Sđd, tập XI, tr. 17. 7. Nội các triều Nguyễn: Hộ i đ iển . Sđd, tập XIII, tr. 11. 8. D−ới thời quân chủ có chế độ "Cửu phẩm", từ Cửu phẩm lên đến Nhất phẩm. Mỗi phẩm gồm 2 trật là Chánh và Tòng, nh− vậy tổng cộng có 18 cấp: 1) a. Chánh nhất phẩm 6) a. Chánh lục phẩm b. Tòng nhất phẩm b. Tòng lục phẩm 2) a. Chánh nhị phẩm 7) a. Chánh thất phẩm b. Tòng nhị phẩm b. Tòng thất phẩm 3) a. Chánh tam phẩm 8) a. Chánh bát phẩm b. Tòng tam phẩm b. Tòng bát phẩm 4) a. Chánh tứ phẩm 9) a. Chánh cửu phẩm b. Tòng tứ phẩm b. Tòng cửu phẩm 392
  14. + Vị nhập l−u1. Ngoài số nhân viên chính thức kể trên, còn những nhân viên ngoại ngạch, gồm một số Cử nhân và Giám sinh Quốc tử giám đã đ−ợc tuyển lựa để đ−a đến học tập chính sự tại các bộ đ−ờng gọi là Hành tẩu. ở mỗi bộ, Tr−ởng quan phụ trách gồm 5 ng−ời: 1 Th−ợng th−, 2 Tham tri (Tả, Hữu tham tri) và 2 Thị lang (Tả, Hữu thị lang). Số Tr−ởng quan này vì cần phải có một kiến thức văn hóa rộng rãi, và nhất là để tạo ra uy tín đối với nhân viên cấp d−ới nên th−ờng đ−ợc lựa chọn những ng−ời có khoa mục. Riêng đối với Bộ Binh vì tính chất đặc biệt của bộ này phụ trách, nên các viên Tr−ởng quan, chủ yếu là Th−ợng th− lại th−ờng đ−ợc tuyển từ hàng ngũ võ quan. Song, d−ới triều Minh Mệnh, cũng không loại trừ khả năng các đại thần xuất thân khoa mục đ−ợc giao những trọng trách về quân sự, nh− tr−ờng hợp Tr−ơng Minh Giảng chẳng hạn. Triều Minh Mệnh, chức Th−ợng th− các bộ là do nhà vua tự lựa chọn trong hàng ngũ đại thần trong triều hoặc các quan đứng đầu các trấn, tỉnh (sau năm 1831) ở địa ph−ơng. Theo quan chế của triều Nguyễn, các viên quan đứng đầu Lục bộ hợp với các viên quan đứng đầu 3 cơ quan khác là: Đô sát viện, Đại lý tự và Thông chính sứ ty, thành "Cửu khanh". Đô chính là chế độ "Cửu khanh" - 9 quan chức đại thần cao quý nhất - của triều Nguyễn, bắt đầu chính thức đặt ra từ triều Minh Mệnh. B. Cải cách hành chính ở địa ph−ơng Nh− chúng ta đều biết, suốt cả thời kỳ Gia Long (1802-1819) và đến thời Minh Mệnh, đất n−ớc Việt Nam đ−ợc chia thành các trấn, d−ới trấn là phủ, huyện (miền núi là châu) và xã. Nh−ng suốt 30 năm đầu triều Nguyễn tồn tại hai đơn vị hành chính trùm lên trên các trấn, đó là Bắc thành đứng đầu là Tổng trấn Bắc thành cai quản cả 11 trấn Bắc Kỳ và Gia Định thành đứng đầu là Tổng trấn Gia Định thành cai quản 5 trấn Nam Kỳ. Việc tồn tại đơn vị hành chính "Thành" dẫn đến tình trạng đất n−ớc về hình thức tuy thống nhất nh−ng trên thực tế xu h−ớng phân quyền, cát cứ đ−ợc nuôi d−ỡng và phát triển bởi quyền hành của Tổng trấn quá lớn, gần nh− Phó v−ơng. Nhất là vào thời gian Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn Bắc thành và Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định thành do công lao và uy tín của hai viên công thần khai quốc này quá lớn, Triều đình Trung −ơng hầu nh− không thể kiểm soát nổi. Thực ra, hai ông vua đầu triều Nguyễn, nhất là Gia Long đều ở vào tình thế buộc phải chấp nhận sự phân chia quyền hành nói trên. Có thể nói Gia Long phải buông lỏng phần nào quyền hành của mình là do hai nguyên nhân chủ yếu sau: phải 5) a. Chánh ngũ phẩm b. Tòng ngũ phẩm Sự phân định trật này có tác dụng biểu thị tính cách khinh trọng và mối liên hệ t−ơng hỗ giữa các bộ, viện, t−, quán Mỗi tổ chức vụ nằm trong một phẩm trật nhất định. Từ đây xin viết tắt nh− sau: Chánh nhất phẩm = 1a, Tòng nhất phẩm = 1b, v.v 1. Vị nhập l−u: nhân viên trong bộ máy hành chính ch−a đ−ợc chính thức vào ngạch quan lại. 393
  15. chia bớt quyền hành cho các công thần khai quốc (triều Nguyễn gọi là công thần trung h−ng) vì số này khá đông, họ vừa có công lao rất lớn, vừa có thực tài, lại đang nắm những lực l−ợng quân sự mạnh. Bên cạnh đấy, các trấn Bắc Hà là "n−ớc cũ" của nhà Lê hơn 300 năm, con cháu các bề tôi nhà Lê còn nhiều, lòng ng−ời còn h−ớng về triều cũ, Gia Long không đủ tự tin ngồi tại Kinh đô Huế mà có thể nắm chặt đ−ợc miền đất này. Gần 20 năm d−ới thời Gia Long và hơn 10 năm d−ới thời Minh Mệnh hình thành và củng cố chế độ quyền lực của Tổng trấn Bắc thành và Gia Định thành là một thời gian khá dài. Việc xóa bỏ chức Tổng trấn để thủ tiêu một chế độ quyền lực mà chế độ đó lại quan hệ đến đặc quyền, đặc lợi của nhiều viên quan đại thần là công việc không đơn giản chút nào. Có lẽ, khi mới lên ngôi vào năm 1820, Minh Mệnh đã tính tới điều đó, cho nên ch−a thể tiến hành vội vàng đ−ợc. Cuộc cải cách bộ máy hành chính cấp Tỉnh mà việc làm cụ thể đầu tiên là xóa bỏ các đơn vị "Thành" và "Trấn", chia đặt cả n−ớc thành 31 tỉnh, không phải ngẫu nhiên đ−ợc tiến hành vào hai năm 1831-1832. ở đây rõ ràng có sự liên quan tới độ "chín" về nhân cách cũng nh− năng lực và bản lĩnh chính trị của Minh Mệnh. Đọc chính sử triều Nguyễn, chúng ta sẽ thấy khi b−ớc vào tuổi "tứ thập", tức vào những năm 1829, 1830, Minh Mệnh rất có ý thức về vị trí của mình đối với v−ơng triều Nguyễn. Hoài bão của ông là muốn làm "một Lê Thánh Tông của triều Nguyễn". Tháng 10 năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), cuộc cải cách bộ máy hành chính cấp Tỉnh chính thức đ−ợc tiến hành ở các trấn từ Quảng Trị, phía bắc Kinh đô Huế ra tới toàn bộ Bắc Kỳ, Minh Mệnh sắp xếp lại các trấn và chia thành 18 tỉnh. Một năm sau, vào tháng 10 năm Minh Mệnh thứ 13 (1832) lại chia tỉnh, đặt quan từ trấn Quảng Nam trở vào trong là 12 tỉnh. Nh− vậy vào hai năm 1831 và 1832, Minh Mệnh đã chia cả n−ớc (từ Kinh đô Huế) thành 31 tỉnh (30 tỉnh và 1 phủ Thừa Thiên) trong đó có 10 tỉnh lớn, 10 tỉnh vừa và 10 tỉnh nhỏ. Đồng thời với việc chia tỉnh, Minh Mệnh tiến hành cải tổ lại bộ máy quan lại đứng đầu địa ph−ơng. Các chức Tổng trấn Bắc thành, Tổng trấn Gia Định thành mặc nhiên bị xóa bỏ. Các chức Trấn thủ, Hiệp trấn và Tham hiệp đứng đầu các trấn tr−ớc đây, nay cũng bị bãi bỏ. Mô phỏng theo chế độ quan chức của nhà Minh, nhà Thanh, Minh Mệnh cho đặt các chức Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát và Lãnh binh đứng đầu các tỉnh trong cả n−ớc. Tổng đốc là chức hàm t−ơng đ−ơng với Th−ợng th− Lục bộ, trật Chánh nhị phẩm có trách nhiệm chuyên hạt1 một tỉnh và kiêm hạt2 một tỉnh. Thí dụ nh− Tổng đốc Bình - Trị thì chuyên hạt Quảng Bình và kiêm hạt Quảng Trị. 1. Chuyên hạt: Chuyên chủ công việc trong hạt mình hiện đóng. 2. Kiêm hạt: Kiêm lý công việc một hạt ngoài hạt mình thống trị. 394
  16. Tuần phủ ở các tỉnh Nam Kỳ th−ờng gọi là Tuần vũ, là chức hàm t−ơng đ−ơng với Tham tri Lục bộ, trật Tòng nhị phẩm có trách nhiệm chuyên hạt một tỉnh. Thí dụ nh− Tuần phủ Quảng Trị, Tuần phủ An Giang. Bố chánh trật Chánh tam phẩm chuyên trách các việc thuế khóa, tài chính trong tỉnh. án sát trật Tòng tam phẩm chuyên giữ việc kiện tụng, hình án trong tỉnh. Lãnh binh trật Tòng tam phẩm trông coi việc binh trong tỉnh. Vấn đề chia tỉnh và thu hẹp phạm vi tỉnh còn do trình độ quản lý của quan lại đầu tỉnh đ−ơng thời có nhiều hạn chế. Trong điều lợi thứ hai, đình thần cũng chỉ rõ: "Nay nhân địa thế, chia đặt ra từng tỉnh, tỉnh nào cũng có quan ty chuyên trách thì chức phận không quá nặng, công việc cũng không quá bộn, ng−ời gánh trách nhiệm không đến nỗi nặng quá, không làm nổi"1. Để đảm bảo cho sự thành công của công cuộc cải cách, Minh Mệnh rất chú ý tới vấn đề nhân sự của bộ máy hành chính cấp Tỉnh. Trong việc dùng ng−ời Minh Mệnh hiện rõ là một con ng−ời vừa có tài vừa quyết đoán nh−ng lại chuyên chế tàn bạo. T− t−ởng pháp trị là t− t−ởng quán xuyến suốt thời gian 20 năm d−ới sự trị vì của Minh Mệnh. Minh Mệnh ban th−ởng khá rộng rãi khi có công lao và đại dụng những ng−ời d−ới quyền tỏ ra có tài và mẫn cán, song cũng rất nghiêm khắc tr−ớc những tội lỗi của quan lại. D−ới thời Minh Mệnh, việc xử chém những viên quan đại thần tham nhũng và chặt bàn tay những kẻ thủ kho bớt xén của công là chuyện không phải hiếm thấy. Đối với quan lại, Minh Mệnh đòi hỏi ở họ tr−ớc hết là tài năng và khả năng hoàn toàn xuất sắc chức trách đ−ợc giao. Tr−ờng hợp Minh Mệnh xử tội án sát Quảng Ngãi Nguyễn Đức Hội là một thí dụ. Nguyễn Đức Hội th−ờng ngày lơ là với chức phận lại th−ờng tham nhũng tự cho rằng mình vốn là bề tôi cũ của Minh Mệnh khi còn ở tiềm để (tức cung của Thái tử), dầu có quá lắm cũng không đến nỗi tội nặng. Khi chuyện vỡ lở, Minh Mệnh đã lột hết chức của Nguyễn Đức Hội và phát vãng ra Cam Lộ làm lính cơ Định man. Nhận chuyện đó, Minh Mệnh đã bảo Nội các rằng: "Ta từ khi lên ngôi đến nay, dùng ng−ời làm việc, giữ một mực công bằng, dẫu có kẻ tôi con thân tín từ tr−ớc cũng chỉ dùng theo tài năng, chứ không t− vị một ng−ời nào. Kẻ nào có tội cũng theo pháp luật trừng trị, ch−a từng g−ợng nhẹ bao giờ"2. Đặc biệt với các bề tôi thân cận, Minh Mệnh tỏ ra rất khắt khe tr−ớc những lời tán tụng, định khoác lên ông những hào quang giả. Sách Đại Nam thực lục ghi chép lại sự việc khá tế nhị d−ới đây: "Thị lang Nội các là Phan Thanh Giản và Tr−ơng 1. Nh− trên. 2. Đại Nam thực lục, tập XIV, tr. 337. 395
  17. Đăng Quế dâng bài tụng đại khánh (tứ tuần đại khánh của Minh Mệnh - NMT) thuật các công việc từ lúc vua lên ngôi đến nay, siêng lo chính trị làm gốc để đ−ợc phúc h−ởng thọ. Vua phê: "Bọn ng−ơi không lo cố gắng làm hết chức phận, cứ ngày đêm thêm lầm lỗi, nay lại làm bài văn vô dụng này đối với lầm lỗi có bổ ích gì? Trẫm có thích nịnh ngoài mặt đâu? Vậy ném trả lại và truyền Chỉ quở mắng"1. Trong việc sử dụng quan lại để tránh việc kéo bè kéo cánh, ỷ thế làm bậy dẫn tới hậu quả làm tha hóa bộ máy hành chính, Minh Mệnh áp dụng triệt để chế độ "Hồi tỵ". Hồi tỵ nghĩa đen là tránh né. Chế độ đó có một số quy định chính nh− sau: - Không đ−ợc làm quan ở một trong các địa ph−ơng d−ới đây: + Nguyên quán: tức quê gốc của mình. + Trú quán: tức nơi mình ở đã lâu. + Quê mẹ. + Quê vợ. + Nơi du học lúc còn trẻ. - Các quan chức đứng đầu tỉnh nh− Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát, Lãnh binh, Đốc học thì không đ−ợc cử ng−ời cùng chung một quê. - Các lại dịch thuộc các bộ, các nha có bố con, anh em ruột, anh em chú bác, ng−ời có họ hàng xa và có tình thông gia đều phải hồi tỵ. - Các nha môn lớn nhỏ, trong ngoài nếu trong một nhà, ng−ời nào có tình thầy trò thân thiết đều phải hồi tỵ. Công cuộc cải cách hành chính nói chung và cuộc cải cách bộ máy hành chính cấp Tỉnh nói riêng do Minh Mệnh thực hiện đã đạt những kết quả đáng ghi nhận. Chúng tôi xin rút ra một số nhận xét d−ới đây: 1. Cơ cấu tổ chức hành chính thời Minh Mệnh đơn giản, hợp lý và hiệu quả Thực tế để cuộc cải cách hành chính đạt kết quả, thì công việc đầu tiên không thể không làm là cải cách cơ cấu tổ chức. Và Minh Mệnh, ông vua thứ hai của triều Nguyễn đã sớm thực hiện việc này. Cơ cấu tổ chức hành chính thời Minh Mệnh cho thấy có những đặc điểm cơ bản là gọn, hợp lý và hiệu quả. Những cơ quan hành chính sau cải cách của Minh Mệnh, mặc dù khá gọn nhẹ, song đối với tình hình công việc, số dân của n−ớc ta thời bấy giờ, vẫn đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả của nó. Tính hợp lý của các cơ quan hành chính còn đ−ợc tỏ rõ trong tr−ờng hợp sau: có một viên đại thần cho rằng tỉnh H−ng Hóa quá rộng, xin Minh Mệnh cho phép tách thành 2 tỉnh, nh−ng nhà vua không đồng ý, bởi lý do 1. Nh− trên, tập X, tr. 59, 60. 396
  18. H−ng Hóa tuy rộng nh−ng dân số ít, số ruộng canh tác không nhiều. Tách tỉnh rồi, lại phải xây dựng trị sở của tỉnh mới, đặt thêm quan lại, mà theo Minh Mệnh, quan càng nhiều thì chỉ càng "nhiễu" dân mà thôi. Về việc bổ nhiệm quan lại, từ các viên Th−ợng th− đứng đầu các bộ trong triều đình, các viên Tổng đốc, Tuần phủ đứng đầu mỗi tỉnh đến hàng ngũ các viên Tri phủ, Tri huyện đều do Hoàng đế nhà Nguyễn trực tiếp bổ nhiệm. Bộ Lại chỉ giữ nhiệm vụ tuyển chọn, thuyên chuyển và thăng giáng hàng ngũ quan lại, chứ không có quyền bổ nhiệm. 2. Tăng c−ờng tính hiệu quả của luật pháp và củng cố tinh thần pháp trị D−ới triều Minh Mệnh, tinh thần pháp trị cũng đ−ợc đề cao và thực hiện rất nghiêm. Sau một thế kỷ dài mất ổn định về chính trị, để duy trì kỷ c−ơng xã hội, bộ máy hành chính của đất n−ớc hoạt động một cách hữu hiệu, phòng ngừa và trừng trị quan tham, lại nhũng tất yếu phải đề cao pháp luật. Bộ Hoàng triều luật lệ gồm 398 điều đã đ−ợc biên soạn xong năm 1812 và đ−ợc thi hành từ triều Gia Long. Ngoài việc dựa vào các điều luật trong bộ máy này, Minh Mệnh còn quy định thêm các điều luật mới nh−: Định lệ chi tiết về phân xử việc làm sai lầm của các thuộc viên, các đ−ờng quan ở Kinh đô và các tỉnh. Định lệ về việc xử phạt quan lại tham nhũng và hối lộ Minh Mệnh là một ông vua th−ởng phạt rất minh bạch. Có công không kể thân sơ, đ−ợc ông cất nhắc rất nhanh, nh−ng ng−ợc lại, có lỗi mắc tội, Minh Mệnh trừng phạt cũng rất nặng. Những viên quan đại thần tài ba nh− Thị lang sung Nội các Hà Tông Quyền, Phan Huy Thực, Nguyễn Công Trứ một khi mắc lỗi, hoặc có tội cũng không tránh khỏi bị trừng phạt. 3. Chú trọng việc đào tạo, tuyển chọn ng−ời tài cho bộ máy hành chính Một bộ máy hành chính tốt, cần phải có những con ng−ời có trình độ văn hóa, có trách nhiệm và tính liêm khiết cao. Lịch sử nền hành chính quốc gia từ x−a cho thấy, nếu có pháp luật cụ thể, chi tiết, nghiêm minh vẫn ch−a đủ, mà điều tối quan trọng là cần có một đội ngũ ng−ời làm việc có trách nhiệm, công tâm vì dân, vì n−ớc. Có thể nói, cải cách hành chính do Minh Mệnh chỉ đạo thực hiện đạt đ−ợc những kết quả nhất định, bởi lẽ đã từng b−ớc củng cố chế độ quan văn, dần dần hạn chế vai trò của võ quan. Sự tiến triển của chế độ văn quan cũng là một đặc điểm của nền chính trị ở các n−ớc ph−ơng Đông chịu ảnh h−ởng văn hóa Nho giáo. Nh− vậy, đứng tr−ớc một sự lựa chọn, Minh Mệnh th−ờng trọng thực học hơn nguồn gốc xuất thân. D−ới triều Minh Mệnh, mặc dù văn quan đ−ợc coi trọng nh−ng cũng không bao giờ quên chỉnh đốn việc quân. Vì thế quân đội Nguyễn d−ới triều Minh Mệnh là một lực l−ợng quân sự mạnh và điều đó đã đ−ợc kiểm nghiệm trong thực tế. 397
  19. Cải cách hành chính d−ới triều Minh Mệnh mang lại hiệu quả là củng cố và tăng c−ờng chế độ giám sát toàn bộ nền hành chính quốc gia. Tuy nhiên, do những hạn chế về thế giới quan nên mặc dù có những cải cách hành chính tích cực nh−ng Minh Mệnh vẫn không v−ơn đ−ợc ra thế giới bên ngoài mà ng−ợc lại càng "đóng cửa" hơn tr−ớc, và từ chối toàn bộ lời thỉnh cầu thiết lập mối giao bang của các n−ớc ph−ơng Tây. 398
  20. Tính năng động của công trình thủy lợi châu thổ sông Hồng d−ới triều Nguyễn TS. Olivier Tessier* Lịch sử khai thác và tụ c− trên châu thổ sông Hồng gắn chặt với việc chủ động về n−ớc và hệ thống thủy lợi đ−ợc tạo nên bằng một quá trình bồi đắp lâu dài. Mối quan tâm chính đối với việc đắp đê nhằm bảo vệ chống những trận lụt lớn của các dòng sông là một hằng số trong lịch sử cổ đại và hiện đại của Việt Nam, đã góp phần lớn vào việc cấu trúc nên mối quan hệ giữa Nhà n−ớc và nông dân, chỉ vì ở đất n−ớc chủ yếu là nông thôn này, sản xuất nông nghiệp là nguồn thu nhập quan trọng nhất của Nhà n−ớc quân chủ thông qua sự chiếm hữu đất đai của ng−ời nông dân (đã đăng bộ). Nh− vậy phải tiến hành công việc trong hàng thế kỷ nhằm bảo đảm tốt nhất cho nguồn thu nhập không thể thiếu đối với sự tồn tại của v−ơng triều, và việc đó phải làm trong một vùng có đặc điểm là tính bấp bênh của nông nghiệp xảy ra triền miên, khi hạn hán đe dọa vụ mùa tháng 5, tiếp đến là nguy cơ lũ lụt tàn phá vụ mùa tháng 10. Có thể rút ra đặc tính chủ yếu của châu thổ: đấy là một đồng bằng phù sa rộng lớn (14.700 km2) bị tê liệt từ lâu trong quá trình phát triển do bàn tay con ng−ời. Việc đắp đê dọc hai con sông chính là sông Thái Bình và sông Hồng, đã khiến cho trong hàng thế kỷ địa hình trở nên không đồng đều, mà thực ra chỉ là tạm thời khi phù sa tự nhiên của các trận lũ sẽ bồi đắp dần nếu dòng sông không bị giới hạn trong hệ thống đê điều dài hơn 2000 km. Sông Thái Bình chảy phía đông-bắc châu thổ, là một con sông có chế độ mạnh nh−ng đều, với hệ thống gồm các hợp l−u và chi l−u, có đặc điểm là lũ không lớn có thể kiềm chế bằng việc đắp đê. Hệ thống sông Hồng hình nh− là ng−ợc lại, những trận lũ đ−ợc tăng c−ờng do n−ớc của hai hợp l−u chính (sông Đà và sông Lô) đều rất dữ dội và là nguyên nhân của những trận lụt tàn hại. Nh−ng dòng sông còn là nguồn tạo thành châu thổ và là nguồn đem lại phì nhiêu đầu tiên nhờ lớp phù sa đáng kể lắng đọng hàng bao thế kỷ mà chiều dày của lớp trầm tích lên đến hàng chục mét1. L−u l−ợng có thể đạt đến 28.000 m3/giây vào mùa lũ, dâng mực n−ớc lên rất cao, lại nằm chênh vênh bên trên đồng bằng nh−ng dòng chảy đổ qua các giồng đất vào lúc th−ờng đã đ−ợc đê ngăn chặn. Cụ thể ra, vào mùa n−ớc thấp mùa đông, mực n−ớc trung bình của dòng sông ở vào khoảng 2,50 mét trên mực n−ớc biển. Vào đầu mùa n−ớc cao (tháng sáu-m−ời), mực n−ớc lên nhanh và có thể đạt đến 10 mét trong * Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO) tại Hà Nội 1 Lớp phù sa sông Hồng, −ớc tính 130 triệu tấn mỗi năm, xếp con sông đứng vào hàng thứ 8 trên thế giới về l−ợng phù sa tải đi (Béthemont, 2000). 399
  21. vài ngày: cao độ của kinh thành là 5 mét, nh− vậy Hà Nội sẽ bị con sông đe dọa trong suốt mùa m−a. Mối đe dọa định kỳ đó là một thực tế đối với đại bộ phận các khu vực tụ c− và đất đai trên châu thổ, trừ vùng đất cao phía tây-bắc. Vì vậy, thành phố đ−ợc cải tên là Hà Nội năm 1831, và những làng mạc trung du và hạ châu thổ, đ−ợc tồn tại bền lâu một cách kỳ lạ nhờ vào lao động không ngừng của những ng−ời nông dân đắp đê, trổ các cửa cống và đào kênh m−ơng. Mục tiêu của báo cáo này là bàn về chính sách thủy lợi trên châu thổ sông Hồng do các vua triều Nguyễn thực hiện, tr−ớc và đầu cuộc can thiệp thực dân, đặt trong tính năng động lịch sử lâu dài. Ngoài những nghi ngại về đ−ờng lối theo đuổi công trình đắp đê rất tốn kém mà vẫn không đem lại một sự bảo vệ thỏa mãn đủ chống lại lũ lụt và sự đổi dòng đột ngột của các con sông, chúng tôi cố chứng minh rằng các vua của triều đại này trên một vài khía cạnh nào đó vẫn là những ng−ời đi đầu trong lĩnh vực làm chủ n−ớc và đặt cơ sở cho một sự qui hoạch hợp lý châu thổ sông Hồng. Vài mốc lịch sử: đắp đê, một −u tiên lâu đời ở Việt Nam, cũng nh− ở Trung Quốc, xây dựng đê điều th−ờng trực tiếp do các vị hoàng đế điều hành. Thiên mệnh giao cho một ng−ời “quyền uy tối th−ợng”, nghĩa là quyền hợp pháp cai trị thiên hạ (Cadière L., 1914), đòi hỏi nhà vua phải quan tâm bảo vệ các thần dân. Song song với việc đi tìm một sự hỗ trợ của Trời, đ−ợc khẳng định hàng năm và dịp lễ tịch điền (hay hạ điền) mở đầu mỗi mùa canh tác, việc bảo vệ dân chúng và mùa màng cũng đòi hỏi v−ơng triều phải can thiệp trực tiếp vào những công trình thủy lợi để cố gắng bảo vệ các cánh đồng khỏi bị lũ lụt. Đề cập đầu tiên đến công trình đê điều sau thời gian dài đô hộ của Trung Quốc, đ−ợc nhắc đến vào cuối thế kỷ XI trong C−ơng mục (Chb. IV, 6): Tháng hai năm Mậu Tí, năm thứ 8 (1108) đời vua Lý Nhân Tông, “Mùa hạ đắp đê ở ph−ờng Cơ Xá”1. Câu trích dẫn đầu tiên đó không có nghĩa rằng đê điều ch−a đ−ợc đắp trong thời gian tr−ớc đó: sự tồn tại của những công trình bảo vệ ở hai tỉnh Sơn Tây và H−ng Hóa x−a đã đ−ợc xác nhận có từ đầu công nguyên2 và là kết quả sự vay m−ợn kỹ thuật của Trung Quốc. Quả thật, nh− P. Gourou viết: “Khi c− dân Châu thổ [sông Hồng] không còn là dân chài nữa, khi họ đã trở nên quá đông để có thể chỉ khai thác vùng đất cao và các giồng dọc sông, họ buộc phải đắp đê” (1936: 83). Nói chung, giả thiết đ−ợc các tác giả ghi nhận về nguồn gốc của đê điều là tính năng động có nguồn gốc nội sinh: nhằm chống lại lũ muộn mùa hè hay lũ mùa xuân, nông dân và các làng biệt lập phải đắp đê nhỏ dọc các dòng sông nhỏ bao quanh ruộng đồng của họ. Theo thời gian, biện pháp đó đ−ợc phổ biến và các con đê nhỏ đ−ợc nối liền nhau 1 Việt sử thông giám c−ơng mục tiết yếu, Nxb KHXH, Hà Nội, 2000, tr. 118. 2 Đ−ợc dẫn trong công trình của Cao Xuân Dục, Đạ i Na m d− địa chí −ớc biên, q 6, dẫn theo Hậu Hán th−. 400
  22. để phác thảo nên một hệ thống không ngừng dày đặc qua thời gian (Rouen, 1915: 10). Vấn đề còn bỏ ngỏ với giả thiết văn hóa đó là vai trò của Nhà n−ớc và khả năng can thiệp của nó. Về điểm chủ yếu này, nếu lập luận của Karl Wittfogel đ−a ra trong công trình gây tranh cãi Tính chuyên chế ph−ơng Đông đã bị phê phán nhiều từ khi ra đời, thì tác giả đã biết nhắc rằng việc làm chủ và kiểm soát n−ớc đã tất yếu đ−a đến mối quan hệ quyền lực giữa chính quyền trung −ơng với xã hội nông dân. Và trên thực tế, từ thế kỷ XIII, nghĩa là khi nhà Trần đặt cơ sở cho sự thành lập một chính quyền mang tính quí tộc và quân sự, biên niên sử hoàng gia mới nói đến việc thực hiện những công trình thủy lợi lớn và yết lộ từng mẩu sự phác thảo một tổ chức hành chính và quân sự chuyên biệt. Sau trận lụt do cơn lũ lớn làm vỡ đê Long Đàm (tỉnh Hà Nội ngày nay) tháng m−ời 12451, sự kiện cho thấy đê sông Hồng ít ra cũng đã đ−ợc xây đắp một phần. Sách Đại Việt sử ký viết: “Đời Thái Tôn hoàng đế (1225- 1258). – Triều Thiên ứng chính bình [ ] Mậu Thân năm thứ 17 (1248). Tháng 3, sai các lộ đắp đê giữ n−ớc sông, gọi là đê Đỉnh nhĩ (quai vạc), đắp suốt từ đầu nguồn cho đến bờ biển để giữ n−ớc lụt tràn ngập. Đặt chức Hà đê chánh phó sứ để trông coi. Chỗ đắp thì đo xem đắp vào mất bao nhiêu ruộng đất của dân, theo giá trả lại tiền. Đắp đê Đỉnh nhĩ bắt đầu từ đấy. [ ] Năm thứ 5 niên hiệu Nguyên Phong cùng triều vua [ ] Mùa hạ tháng 4 (5-1255)chọn các tản quan làm Hà đê chánh phó sứ các lộ, khi nào rỗi việc làm ruộng thì đốc thúc quân lính đắp bờ đê đào m−ơng lạch để phòng lụt hạn.” Quả thật các nguồn sử liệu có đ−ợc không đồng nhất và thiếu dấu vết hay bằng chứng viết từ bên d−ới ở cấp làng xã, phải chấp nhận nguy cơ một sự thổi phồng khả năng của quyền lực v−ơng triều áp đặt có hiệu quả đối với nông thôn. Dù sao, đoạn trích trên cho thấy đối diện với công trình lớn lao phải hoàn thành, việc đắp đê toàn bộ sông Hồng đã đ−ợc nhà vua định ra ph−ơng h−ớng cho các tỉnh thực hiện bằng việc sử dụng nguồn nhân lực dễ huy động là quân đội. Nh−ng mặc cho hình thức tổ chức đầu tiên và quản lý các công trình thủy lợi đó, nỗ lực đắp đê thực hiện trong thế kỷ XIII và XIV không đ−ợc tiến hành theo một qui hoạch tổng thể trên châu thổ và phải dựa vào các kỹ thuật xây dựng theo kinh nghiệm và có chất l−ợng không đều từ tỉnh này sang tỉnh khác. Hậu quả là sự mong manh của đê điều đắp nên và chỗ tiếp nối thành hệ thống đôi khi không vững chắc, không đủ để chống lại những trận lũ trung bình của sông Hồng và các chi l−u, chứng cớ là có nhiều ghi chép về đê vỡ, lụt lội, về gia cố đê điều và những công trình mới. Đến thế kỷ XV, với triều đại nhà Lê, đất n−ớc trải qua một thời kỳ yên ổn và hòa bình t−ơng đối với Trung Quốc và Champa, mà Đại Việt vừa áp đặt thắng lợi quyền uy của mình. Đ−ờng lối lớn về nông nghiệp của vua Lê Thái Tổ đ−ợc tiếp tục 1 Năm ất Tỵ, năm thứ 14 (1245). “Mùa thu tháng 7, n−ớc to, vỡ đê Long Đàm”, C−ơng mục, sđd, tr. 157. 401
  23. d−ới triều vua Lê Thánh Tông: do việc vỡ đê sông Tô Lịch, hoàng đế chỉ dụ sửa sang đê điều và đ−ờng xá khắp cả n−ớc và đặt các chức quan mới về khuyến nông và hà đê1. ý chí đó đ−ợc tiếp tục đến những năm đầu thế kỷ XVI và không chỉ xây dựng và gia cố đê điều mà còn khuyến khích các công trình dẫn thủy nhập điền. Cho nên năm 1503, d−ới triều vua Lê Hiển Tông, D−ơng Trực Nguyên, Tả thị lang Bộ Lễ tâu xin: “Đắp đê sông Tô Lịch trên từ cầu Trát xuống đến sông Cống để phòng bị thủy hoạn, lại xin khai cừ Yên Phúc xuống đến cừ Th−ơng Phúc để lấy n−ớc t−ới ruộng. Nhà vua chuẩn y.”2 Không còn nghi ngờ gì, việc thiết lập d−ới triều Lê, một Nhà n−ớc nho giáo trung −ơng tập quyền, chỉ đạo cả n−ớc dựa trên bộ máy quan liêu hiện diện đến tận các huyện nông thôn, là một nhân tố quyết định để thực hiện công trình thủy lợi và chống lũ lụt. ý chí hợp lý hóa và hệ thống hóa việc bảo d−ỡng và gia cố hệ thống đê điều đã đ−ợc nêu trong luật nhà Lê, chỉ rõ các quan ở các cấp hành chính là ng−ời duy nhất chịu trách nhiệm thực hiện các chỉ dụ của nhà vua: “Điều 181: Các công trình tu sửa đê điều phải bắt đầu từ mồng 10 tháng giêng, tất cả dân làng trong vùng hộ đê phải đến đoạn đê đ−ợc giao cho tu bổ. Công trình đó phải làm trong thời hạn hai tháng: mồng 10 tháng ba phải hoàn thành. Khi đắp đê mới, thời hạn ba tháng định ra để hoàn thành. Các quan lộ phải th−ờng xuyên giám sát công trình, các giám hộ và đốc phu phải liên tục đôn đốc thực hiện [ ]” (Deloustal, 1911: 128). Rồi đến cuối thế kỷ XVII khi đất n−ớc t−ơng đối tạm yên d−ới thời chúa Trịnh, nguồn sử liệu nói về vấn đề tu bổ đê điều ít ỏi hơn. Quả thật đất n−ớc vừa trải qua một thời kỳ cực kỳ rối ren và bất ổn chính trị do cuộc nổi dậy của nhà Mạc và một loạt cuộc chiến đẫm máu giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn. Đầu thế kỷ XVIII. C−ơng mục viết: “Tháng 8, mùa thu. Hạ lệnh sửa đắp đ−ờng đe sông Nhị. Hàng năm n−ớc sông Nhị tràn ngập, đ−ờng đê nhiều chỗ khuyết liệt. Triều đình bèn hạ lệnh hai ty Trấn thủ và Thừa chính đốc sức dân phu, thùy theo địa thế bồi đắp sửa chữa, để lợi cho nông dân”3. Ba năm sau (1711), năm thứ 7 triều Vĩnh Thịnh, nhà vua quyết định điều chỉnh tổ chức hộ đê bằng việc cử quan triều đình đến giám sát. nh−ng lời cẩm án chép tiếp sau đó rằng: “Triều đình chia cho dân phải nộp tiền thuế điệu để hàng năm phải sửa đắp, dân phải tốn của hao công, mà một khi sảy ra nạn n−ớc xoáy vỡ đê, dân lại bị hại không sao kể xiết”4. Cuối cùng, chỉ có ba đoạn của các ch−ơng 33 đến 35 trong C−ơng mục (1663 đến 1721) nói đến việc đắp đê và chỉ nói về việc tu sửa chứ không có làm mới. Tình hình đó ng−ợc lại với nhiều đoạn nói về 1 “ất Mùi năm [Hồng Đức] thứ 6 (1475). Tháng 7, mùa thu. Có thủy tai lớn, vỡ đê Tô Lịch. Đặt chức quan hà đê và quan khuyến nông”. “Nhà vua ra sắc lệnh cho trong n−ớc sửa đắp đê điều và đ−ờng sá, đặt chức quan hà đê trông coi công việc này: lại đặt chức quan khuyến nông để đôn đốc về việc cày cấy.” Việt sử Thông giám C−ơng mục, t. XII, Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1959, tr. 1082. 2 Việt sử Thông giám C−ơng mục, t. XIII, Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1959, tr. 113. 3 Việt sử Thông giám C−ơng mục, t 2. XIII, Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 2007, tr. 395 4 Việt sử Thông giám C−ơng mục, t 2. XIII, Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 2007, tr. 397 402
  24. hạn hán và lũ lụt đ−a đến mất mùa đói kém liên tiếp xảy ra thời đó (17 đoạn), cho thấy một Nhà n−ớc rõ ràng là yếu kém và bất lực hơn điều mà sử học chính thống muốn làm cho ta lầm t−ởng. Đấy là một trong những sai lầm nghiêm trọng của các chúa Trịnh đã không chú ý đúng mức về vấn đề nông nghiệp nói chung, và đặc biệt là việc chủ động về n−ớc mà việc quản lý giao cho các quan tỉnh. Thật vậy, sau nhiều lần vỡ đê, năm 1723 Nhà n−ớc phải nắm lại việc điều phối công trình đê điều, nh−ng đến năm 1767 lại phải giao lại cho quan địa ph−ơng, vì chính quyền đang ở vào lúc suy thoái (Lê Thành Khôi, 1992: 271). Mặt khác của việc làm chủ n−ớc là t−ới tiêu, các nguồn t− liệu lại càng hiếm hơn vấn đề đê điều, nh−ng cũng nói lên mối quan tâm th−ờng xuyên của các triều đại tr−ớc nạn hạn hán và hậu quả bi thảm đối với dân chúng. Dù sao, nếu từ thế kỷ XV v−ơng quyền đã cố can thiệp vào lĩnh vực này, ta cũng nhận thấy những nỗ lực không đem lại đ−ợc sự cải thiện đáng kể: không có một công trình nào trực tiếp thực hiện trên các sông đ−ợc tiến hành tr−ớc thế kỷ XIX. Phải nói rằng vào thời đó vấn đề phải giải quyết là rất lớn. Việc t−ới n−ớc chỉ có thể thực hiện ở gần vùng đất thấp tạo thành một hệ thống ao chuôm và kênh rạch1. Vùng đó, bị ngập trong mùa m−a, đ−ợc dùng để giữ n−ớc t−ới trong mùa đông khô hạn, việc giữ n−ớc phụ thuộc vào nhịp độ thủy triều lên, với mức tối đa là 4 mét, mà hiệu quả đ−ợc thấy rõ trong phần lớn châu thổ. Vùng ven biển, từ nhiều thế kỷ nông dân đã biết lợi dụng hiện t−ợng thủy triều: họ xây dựng rất nhiều cửa gỗ lim để có thể điều chỉnh cho n−ớc vào các kênh khi n−ớc triều dâng qua cửa sông ngăn chặn dòng chảy con sông khiến cho mực n−ớc sông dâng cao. Mặt khác, việc t−ới tiêu chủ yếu dựa vào các ao chuôm và các con kênh nhỏ để kéo dài cuộc sống ngắn ngủi của các nơi dự trữ n−ớc tự nhiên đó. Vì vậy một tấm bia làng khắc năm 1764 nói về việc đào con kênh t−ới n−ớc do hai xã cùng hợp sức làm vào giữa thế kỷ XVIII: “Hai xã Thời ủng và Chu Lũng tiến hành qui hoạch ổn định dân c−. Năm Đinh Mão (1747) đào hào đắp lũy, năm Quí Dậu (1753) đào m−ơng để phục vụ nông nghiệp, đến năm Mậu Dần (1758) góp ruộng sửa sang đình miếu. Nay quan viên hai xã tiến hành đo đạc, phần rào lũy bao quanh đã làm đ−ợc 99 tr−ợng, đào m−ơng đ−ợc 581 tr−ợng, khu miếu chu vi 61 tr−ợng 6 th−ớc. [ ] Tổng cộng số tiền đóng góp là 1010 quan tiền sử, số ng−ời đã cúng hiến ruộng cho việc đào đắp m−ơng lũy là 148 vị. Để biểu d−ơng công đức, hai xã dựng bia khắc tên họ những ng−ời đóng góp tiền và ruộng vào việc chung và đặt lệ thờ phụng mãi mãi.”2 Song song với các sáng kiến địa ph−ơng, từ thế kỷ XV, v−ơng triều đã ban bố một loạt chỉ dụ kêu gọi dân chúng đắp cao các con trạch, đào hồ chứa n−ớc và nạo 1 Kênh rạch là những đoạn sông cạn, có rất nhiều trên châu thổ sông Hồng, bảo đảm việc giao thông tự nhiên giữa dòng sông và các vùng đất mà kênh rạch chảy qua. 2 “Thác bản bia xã Thời ủng huyện Vĩnh Lại phủ Hạ Hồng, s−u tầm tại đình xã Hoà ủng tổng Bất Bế huyện Vĩnh Lại tỉnh Hải D−ơng”, Th− muc thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam, 2007, Hà Nội, Viện NCHN - EFEO - EPHE, Tập III, tr. 281. 403
  25. vét kênh rạch nhằm làm tăng nguồn n−ớc sẵn có tạo thuận lợi cho việc làm vụ tháng 5, và nếu có thể thì trồng lúa sớm thay thế vụ lúa tháng 10 bị tàn phá vì vỡ đê (Pouyanne, 1931: 34). Nh− vậy vào cuối thế kỷ XV, Sông Đào đã đ−ợc đào vừa để t−ới n−ớc vào mùa khô và tiêu n−ớc vùng thấp trong mùa m−a (Fiorucci A., 2006). Vì không thể cắt ngang thân đê, cũng nh− cấu tạo của địa hình với những giồng đất và những vùng trũng tự nhiên, đòi hỏi phải dùng biện pháp cơ giới đ−a n−ớc lên cao để lấy n−ớc d−ới sông trong mùa khô. Về điểm này, trong nghiên cứu về công trình t−ới n−ớc, E. Chassigneux nhận xét rằng nếu một vài văn bản và sắc chỉ lệnh cho các quan và dân chúng “làm xe lấy n−ớc”1, thì không có một chi tiết nào nói rõ về các “máy” đó, cũng không biết nó có tồn tại không. Phải chăng đấy là những guồng đạp n−ớc mà ta có thể thấy thời đó ở một vài tỉnh châu thổ? Gặp lúc hạn hán cũng vậy, chỗ dựa chính vẫn là ông trời. Nhiều đoạn trong C−ơng mục đã minh chứng, một mặt các biện pháp ân xá đ−ợc coi là hành động giải oan của chính phủ bị coi là nguyên nhân của những thiên tai (Langlet, 1970, tr. 211) và mặt khác, nhiều lễ cầu đảo dâng lên các thần núi thần sông để xoa dịu sự giận dữ của thần linh. Đã đ−ợc ghi lại vào năm Quí Hợi, năm thứ t− (1143): “Từ mùa xuân đến mùa hạ hạn hán. Nhà vua thân làm lễ đảo vũ. Tháng 6 m−a”; hay vào năm Mậu Thìn, năm thứ sáu (1448): “Tháng 4 mùa hạ. Hạn hán. Nhà vua chính mình đi lễ cầu đảo. Tha những tù phạm bị tình nghi”2. Triều Nguyễn: tiến đến đắp đê toàn bộ sông Hồng Tuy kinh đô của đất n−ớc mới thống nhất đ−ợc di dời vào Huế, các vua đầu triều Nguyễn vẫn bày tỏ mối quan tâm đặc biệt nhằm phục hồi tình hình kinh tế-xã hội ở Bắc Hà, đã bị buông lỏng sau nhiều thập kỷ chiến tranh và tan tác. Để tỏ rõ quyền uy khắp mọi miền, triều Nguyễn lo việc xây dựng lại cầu, đ−ờng, bến sông, nh−ng cũng dựng lên những thành lũy theo kiểu Vauban để trấn áp khởi nghĩa của nông dân. Đấy là một trong những nghịch lý của nửa đầu thế kỷ XIX: việc thiết lập một chế độ quân chủ chuyên chế đòi hỏi phải hiện đại hóa cơ sở hạ tầng của châu thổ sông Hồng, việc tăng c−ờng kiểm soát dân chúng bằng một bộ máy quan liêu tham nhũng đã gây nên sự bất bình ngày càng tăng của nông dân khiến trong nhiều tr−ờng hợp họ đã nổi dậy. Cho nên, các thủ lĩnh nông dân nh− Phan Bá Vành, các quan lại còn luyến tiếc nhà Lê, đã lôi kéo hàng ngàn nông dân nghèo và cầm cự trong sáu năm (1821-1827) chống lại binh lính ở vùng biển Quảng Yên (Sơn Nam). Nếu các cải cách hành chính của Minh Mạng nhằm lập lại trật tự trong n−ớc, đã tạo nên một thời kỳ lắng dịu, thì cuộc khủng hoảng d−ới triều Tự Đức lại mở rộng để lên 1 Chúng tôi chỉ thấy một đoạn trong C−ơng mục nói về việc này: “Quí Hợi năm thứ 6 (1503). Tháng giêng mùa xuân. Hạn hán. Hạ sắc lệnh chuẩn bị xe lấy n−ớc để bảo vệ việc làm ruộng” (tôi nhấn mạnh). Và lời cẩn án nói rõ là trong nguyên bản “thủy xa” là một dụng cụ nông nghiệp để tát n−ớc. 2 Việt sử thông giám c−ơng mục, Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, t. IV, 1958, tr. 315, t. ĩ, tr. 819. 404
  26. đến đỉnh cao năm 1850 với việc tràn qua của các phe đảng Trung Hoa tránh sự đàn áp sau cuộc khởi nghĩa của Thái Bình Thiên quốc (Lê Thành Khôi, 1992: 380-382). Trong lĩnh vực thủy lợi, tr−ớc hết là hoàng đế Gia Long, rồi đến Minh Mạng, Tự Đức đã cho thực hiện nhiều công trình lớn chủ yếu nhằm trấn ngự lũ sông Hồng. Theo con số giám sát năm 1829 của quan Đê chính Lê Đại C−ơng, tổng chiều dài các đê chính trên châu thổ sông Hồng (thống kê ở 739 xã thuộc 38 huyện của 5 tỉnh) là 952 km (238.660 tr−ợng) trong đó 144,5 km (36.127 tr−ợng) đắp trong 26 năm d−ới triều hai vua đầu (Đỗ Đức Hùng, 1979: 47). Nỗ lực đ−ợc ghi nhận khiến P. Gourou đánh giá rằng vào tr−ớc lúc chủ nghĩa thực dân can thiệp, việc đắp đê toàn bộ sông Hồng đã hoàn thành, nghĩa là hệ thống đê điều đã gần nh− dày đặc nh− ta có thể quan sát vào đầu những năm 1930. Nó trải trên gần 2.000 km đê chính và 2.000 km đê phụ (Gourou, 1936: 85). Mặc dầu các con số thống kê đáng kể trên toàn thể, chính sách thủy lợi của nhà Nguyễn có đặc tính là nhiều lần thay đổi và không liên tục, biểu lộ ở những quyết định đơn ph−ơng của mỗi vị hoàng đế và sự thiếu đồng bộ nghiêm trọng của bộ máy quan lại. Ta có thể ghi nhận hai khía cạnh vừa là nguyên nhân và hậu quả của tình trạng đó. Năm 1809, vua Gia Long cải cách việc quản lý đê điều và lập một ty trung −ơng chuyên trách đặt d−ới quyền một vị quan triều đình là “quan Đê chính ở Bắc thành”. Đồng thời ban bố một điều lệ gồm 8 điều nói về việc thực hiện các công trình và cách kiểm soát, bảo vệ và qui hoạch các công trình liên quan cùng đánh giá chi phí1. Điều lệ đó định các loại đê theo ba mức quan trọng (đê đại giang, đê trung giang, đê tiểu giang) và đ−a ra đối với mỗi loại một kích th−ớc chung cho công trình –chiều rộng chân đê và mặt đê, chiều cao và độ nén – (Đỗ Đức Hùng, 1994: 48-49). Cuối cùng, giống nh− luật nhà Lê, luật Gia Long đã định ra hình phạt có thể đi đến xử trảm những ai bị truy tố “Lén lút đào thân đê – Điều 395” và “Vi phạm thời gian cần thiết và không tu sử đê điều – Điều 396”, điều cuối cùng lấy lại các yếu tố chính ghi trong luật đời Lê (Philastre, 1876: 742-745). Mặc dầu toàn bộ các biện pháp nhằm hợp lý hóa việc quản lý kỹ thuật và nhân sự của hệ thống đê điều, những vụ vỡ đê và lụt lội vẫn xảy ra hàng năm d−ới triều Gia Long và Minh Mạng, đi theo những trận lụt là đói kém và khởi nghĩa nông dân. Hầu nh− hàng năm, từ tháng sáu, Đại Nam thực lục đều ghi lại những nơi bị thiên tai nhiều hay ít gây nên do lũ lớn, hay ng−ợc lại gây nên do hạn hán, nhà vua khẩn cấp cứu tế gạo tiền cho nạn dân và miễn toàn bộ hay một phần thuế khóa. Về điểm này, trận lụt năm 1827 thật tai hại: “Bắc thành n−ớc lớn, ba trấn Sơn Tây, Sơn Nam, Nam Định đều vỡ đê, cửa nhà ruộng n−ơng chìm ngập nhiều, cũng có ng−ời chết đuối. Thành thần tr−ớc phái ng−ời đi khắp các nơi mà l−ợng phát chẩn, rồi đem việc tâu 1 “Ban điều lệ Đê chính cho Bắc Thành. Vua l−u ý đến việc phòng n−ớc sông, sai thành thần tham ch−ớc việc cũ tâu lên, lại sai đình thần bàn lại, định làm điều lệ ban hành” [các điều khoản kèm theo]. Đại Nam Thực Lục, t. I, Nxb Giáo Dục, 2004, tr. 764-765. 405
  27. lên. [ ] Xem tờ tâu tình hình của dân bị lụt, rất là th−ơng xót, mà phát chẩn không đ−ợc nhiều, nhân dân ch−a khỏi túng thiếu. Vậy dụ cho trấn thần cấp thêm, không cứ đàn ông, đàn bà, già trẻ, ng−ời chết đuối thì cấp 3 quan tiền, ng−ời đói mà rất nghèo cấp mỗi ng−ời 2 quan tiền 1 ph−ơng gạo, ng−ời nghèo vừa cấp 1 quan tiền 1 ph−ơng gạo.”1 Vào năm thứ 8 triều Minh Mạng (1828) đã ban hành chỉ dụ bãi bỏ trách nhiệm xây và tu bổ đê cho các quan tỉnh, bị lên án là sơ suất và thiếu hiểu biết, để giao cho một tổ chức quan lại chuyên trách. Chỉ dụ đó định cụ thể qui mô các loại đê khác nhau, phải đ−ợc tôn cao theo đúng qui cách định ra d−ới thời Gia Long, và vạch đ−ờng đi của đê; còn lệnh trồng tre d−ới chân và chuẩn bị sẵn tr−ớc mùa lũ sọt và tre để dễ tu sửa; cuối cùng chỉ thị lập ở chỗ hợp l−u sông Hồng và sông Lô một đền thờ hà bá (Chassigneux, 1914: 98). Nh−ng không có gì đ−ợc thực hiện, cho nên năm 1833 Minh Mạng quyết định cải tổ toàn bộ việc quản lý đê. Ông giải tán nha môn chuyên trách mà ông đã lập sáu năm tr−ớc ở bộ Công, và giao lại việc quản lý đê cho các quan tỉnh, từ nay chịu trách nhiệm đoạn đê đi qua phần đất của mình. Sự thay đổi hoàn toàn đó đ−ợc thực hiện vì lý do sau: kinh nghiệm cho thấy các quan chuyên trách chỉ tập trung vào các công trình xây dựng và tu sửa đê điều mà không đếm xỉa đến hoạt động nông nghiệp và cụ thể là khả năng lập những con rạch tiêu n−ớc hay t−ới n−ớc2. Tranh luận xung quanh lợi ích duy trì và gia cố đê điều Việc tổ chức lại về quản lý và kỹ thuật đ−ợc đặt ra trong khuôn khổ một cuộc tranh luận cơ bản đề xuất năm 1830 d−ới thời Gia Long: qua chỉ dụ, nhà vua lệnh cho các quan và dân chúng tranh luận về lợi ích của việc duy trì đê hay phá bỏ3. Quả thật, với hệ thống đê dày đặc, nông dân và quan lại bắt đầu nhận thấy nó gây trở ngại cho việc t−ới tiêu ruộng đồng trên châu thổ. Họ đau lòng khi nhìn thấy sông Hồng n−ớc tràn bờ trong khi lúa vẫn khô hạn trong ruộng d−ới chân đê. Cho nên sách Đồng Khánh địa d− chí (1888) đã nói rõ khi viết về tỉnh Sơn Tây: “Các huyện hạ du thủy thổ lành, không khác các tỉnh phía đông-nam. Giữa hai mùa hè thu, m−a to 1 Đại Nam thực lục, t. II, Nxb Giáo Dục, 2004, tr. 648. 2 “Bỏ bớt nha môn Đê chính Bắc Kỳ [ ] Đặt ra đê, là cốt để bảo vệ cho nghề nông. Từ tr−ớc đến nay cứ đến mùa thu n−ớc lớn, quan Đê chính chuyên làm những việc bồi đắp giữ đê cho vững, còn đối với việc làm ruộng, thì lợi, hại, đau khổ, không quan tâm đến.[ ] Quan địa ph−ơng mục kích tình hình ấy, nh−ng không dám tự tiện, phải loanh quanh t− báo đi báo lại, nên không khỏi chậm trễ. Do đấy, dù nắng, m−a tầm th −ờng cũng có khi gây thành tai hại ! Dân bị khó khăn về l−ơng thực, ch−a hẳn không phải vì thế.” Đại Nam Thực Lục, t. III, Nxb Giáo Dục, 2004, tr. 536. 3 Quý Hợi, Gia Long năm thứ 2 [1803], mùa thu, tháng 8. “Hạ lệnh cho quan lại sĩ thứ ở Bắc Thành điều trần về lợi hại của việc đê. Chiếu rằng: Làm lợi bỏ hại là việc tr−ớc tiên của chính trị. Xét x−a sánh nay, phải sao cho đúng lẽ. Những huyện ở ven sông trong địa ph−ơng các ng−ơi từ tr−ớc đã lập đê điều để phòng n−ớc lụt. Song nhân tuần đã lâu, hễ đến mùa lụt thì đê điều vỡ lở, lúa ruộng bị ngập, ng−ời và súc vật cũng bị hại. Bọn ng−ơi, ng−ời thì sinh ở nơi đó, ng−ời thì làm việc ở nơi đó, thế đất tình ng−ời đã từng am thuộc. Vậy đắp đê và bỏ đê, cách nào lợi, cách nào hại, cho đ−ợc tỏ bày ý kiến. Lời nói mà có thể thực hành sẽ đ−ợc nêu th−ởng”. Đại Nam Thực Lục, t. I, Nxb Giáo Dục, 2004, tr. 572-573. 406
  28. hàng tuần ở vùng th−ợng du H−ng Hóa, Tuyên Quang đổ xuống, n−ớc sông chảy xiết, ngoài đê n−ớc có khi lên đến 18, 19 th−ớc mà ruộng trong đê vẫn khô hạn mong m−a.” Ng−ời ta đi đến hỏi rằng phải chăng tốt hơn là xóa bỏ công trình tốn kém và nguy hiểm đó để cho n−ớc các sông lớn tự do tràn bờ trong mùa hè trên toàn bộ châu thổ nh− một trận lụt chậm và từ từ chứ không trở thành một thảm họa. Nó sẽ đem lại độ ẩm lớn giải quyết vấn đề t−ới n−ớc đồng thời làm tăng độ phì nhiêu của đất nhờ lớp phù sa lắng đọng. Nói cách khác, vấn đề là xem đê có tạo nên một biện pháp tệ hại hơn là mối họa mà nó muốn chống lại không. Cho nên sau mỗi trận lụt lớn, dân chúng các vùng bị ngập đều yêu cầu san bỏ đê, nh− tr−ờng hợp các năm 1804, 1825, 1835, 1847, 1872 và 1879: nguyên nhân chính thúc đẩy yêu cầu đó là khi bị lụt do vỡ đê phía th−ợng l−u, phía hạ l−u vẫn nguyên vẹn sẽ ngăn cản n−ớc rút khi mực n−ớc sông hạ xuống, khiến cho mùa màng không còn thu hoạch đ−ợc (Pouyanne, 1931: 20). May mắn là không vị vua triều Nguyễn nào dám quyết định phá đê trên toàn châu thổ, câu hỏi nhức nhối đó đã phát sinh ra những giải pháp thay thế bổ sung nhằm điều chỉnh tình trạng thiếu hoàn thiện của việc đắp đê. Tr−ớc hết ng−ời ta tìm cách hạ chiều cao của mực n−ớc sông Hồng bằng cách làm tăng dòng chảy tự nhiên và trổ những chi l−u nhân tạo. Với việc cải cách quản lý đê điều năm 1833, Minh Mạng đã quyết định trong năm đó, theo lời khuyên của hai viên quan chuyên trách, cho đào và nạo vét sông Cửu An làm chi l−u cho sông Hồng ở đoạn H−ng Yên và đào các kênh dẫn thủy. Từ 1835 đến 1836, 20 km đ−ợc đào để nối sông Hồng với sông Cửu An, đồng thời nạo vét và mở rộng lòng sông này trên hơn 40 km. Đi cùng với công trình đó còn cho san bằng các đê thấp ở tỉnh H−ng Yên, những con đê mà chiều cao bị hạ xuống nhiều khi nó không đ−ợc san phẳng hoàn toàn (Đỗ Đức Hùng, 1998: 44). Tác động của công trình qui mô lớn đó nằm ở đối cực của những kết quả bất ngờ. Bốn tháng sau khi công trình hoàn thành, đ−ợc vị quan nổi tiếng Nguyễn Công Trứ, khi đó làm Tổng đốc Hải-Yên, phúc trình lên vua Minh Mạng vào tháng 6 năm 1836, thì cửa sông Cửu An mở trên sông Hồng bị n−ớc cuốn đi ba chỗ: tỉnh H−ng Yên và Hải D−ơng bị ngập d−ới hai th−ớc n−ớc và thị xã H−ng Yên hoàn toàn ngập trong n−ớc. Đấy là trận lụt tai hại ch−a từng thấy ở hai tỉnh này (Đỗ Đức Hùng, 1998: 45). Nó khiến cho Nguyễn Công Trứ bị nhà vua khiển trách gay gắt, buộc tội phải chịu trách nhiệm tình hình và bắt phải giải quyết hậu quả1. Từ 1837, nhiều công trình gia cố sông Cửu An đ−ợc tiến hành. Theo lời cầu khẩn của dân chúng các tỉnh bị lụt tàn hại liên tục mỗi năm, cửa trổ phía th−ợng l−u sông Cửu An hoàn toàn đ−ợc lấp lại và chức năng của nó chỉ còn là một con kênh tiêu n−ớc cho vùng thấp của tỉnh 1 “[ ] Hai bên bờ đê liệu đặt cống có cửa và cống không cửa để tiện đóng mở, ngõ hầu mới phòng đ−ợc lụt mùa hè và chống đ−ợc n−ớc mùa thu, để cho dân ta không một ng−ời nào bị mất nơi ăn chốn ở. Nếu có một điều gì không chu đáo, thì chỉ trách cứ vào bọn Nguyễn Công Trứ đó !” Đại Nam Thực Lục, T. XVIII, Chính Biên Đê Nhị Kỷ XIV (1836), Nxb Khoa Học Xã Hội, 1967, tr. 292. 407
  29. H−ng Yên đến hạ l−u sông Luộc (Pouyanne, 1931: 21). Không có sự chọn lựa nào khác ngoài việc xây đắp và gia cố đê ở các tỉnh H−ng Yên, Hải D−ơng và Nam Định, nhiệm vụ mà vua Thiệu Trị phải lo theo dõi trong sáu năm trị vì của mình (1841- 1847). Tuy nhiên, mặc dầu lần thử nghiệm tai hại đó, cuộc tranh luận vẫn đ−ợc vua Tự Đức nối lại năm 1852, khi mở ra cuộc tham vấn mới về thái độ đối với hệ thống đê điều. Nhà vua không dấu sự nghi ngờ đối với chủ tr−ơng đeo đuổi việc đắp đê trên châu thổ, bằng chứng là một lời phê ngoài lề sách Đại Việt sử ký khi nói về việc đắp đê Đỉnh Nhĩ (xem ở trên): “Đấy là một công trình thiếu suy nghĩ đã gây nên những tai họa không kể xiết”. Thế nh−ng, sau năm năm trì hoãn, cuối cùng những ng−ời chủ tr−ơng duy trì và gia cố đê đã thắng thế, phần lớn các quan trong triều đều thừa nhận ý đồ phá bỏ một số đê đã gây nên trong thập kỷ vừa qua những trận lụt với mức độ và tần số x−a nay ch−a hề có. Một khi cuộc tranh luận mở màn, nha môn Đê chính đ−ợc lập lại năm 1857. Viên quan Đê chính mới dâng lên m−ời đề nghị đ−ợc coi là −u tiên trong công trình thủy lợi và điều hòa chống lũ (Đỗ Đức Hùng, 1979: 52). Trên cơ sở đó và song song với những con đê và đê quai mới xây trên sông Hồng để chặn dòng n−ớc, các công trình nạo vét đ−ợc tiến hành bằng bừa do tàu kéo để khơi sâu cửa sông và nh− vậy khiến cho dòng n−ớc thoát nhanh hơn. Ng−ời ta còn tìm cách chuyển một phần dòng n−ớc sang sông Thái Bình để hạ mực n−ớc và hạn chế sức lũ. Cho nên năm 1858 vua Tự Đức cho đào một cửa mới đổ vào sông Đ−ơng phía d−ới cửa sông cũ đã bị phù sa lấp kín (Chassigneux, 1914: 101). Nh−ng năm 1862, khi công trình sông Đ−ơng ch−a hoàn tất, nha môn Đê chính lại bị giải thể một lần nữa và đ−ờng lối làm những công trình thủy lợi lớn lại bị đắp chiếu. Nhà vua giải thích sự chọn lựa đó bằng lý do tài chính và nhất là những rối ren do cuộc can thiệp của thực dân Pháp gây nên ở miền Bắc và miền Nam đất n−ớc. Đê công, đê t− Sự tồn tại hai loại đê là một thực tế lịch sử nội tại trong quá trình đắp đê trên châu thổ sông Hồng. Tháng 11 năm 1665, C−ơng mục chép việc định thời hạn tu sửa đê và phân các loại công trình khác nhau tùy theo mức độ quan trọng: “Cứ tháng 10 hàng năm, Ty thừa chính các xứ cho các huyện thuộc hạt đi khám đê đ−ờng, xem chỗ nào cần phải sửa đắp: nếu là công trình nhỏ thì chiếu theo xã nào mà thế n−ớc có thể đếm đ−ợc sức cho dân các xã ấy tự làm công việc sửa đắp, việc sửa đắp này là do huyện trông coi thúc giục; nếu là công trình lớn thì hạ lệnh cho quan đôn đốc”1. Dù sao, lần đầu tiên d−ới triều Nguyễn, hai loại đê đó đ−ợc phân định rạch ròi. Vì vậy trong cuộc điều tra năm 1829 tiến hành trong bốn tỉnh châu thổ (xem ở trên), song song với việc thống kê các công trình công cộng, viên quan Đê chính Lê Đại C−ơng, đã điểm lại 698 km đê t− thứ yếu đặc biệt và 16 cửa cống thuộc các đê 1 Việt sử Thông giám C−ơng mục, T.II, NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2007 Tr 310 408
  30. đó (Đỗ Đức Hùng, 1979: 53). Đê t− vào thời đó chiếm 40% trong tổng số 1.650 km đê của năm tỉnh. Vậy sự phân loại đó dựa trên tiêu chí nào? Các đê công do Nhà n−ớc thực hiện d−ới sự chỉ đạo của các quan tỉnh hay nha môn chuyên trách tùy theo thời kỳ. Đê đó đ−ợc coi là chiến l−ợc khi nó bảo đảm an toàn cho cả một vùng đất đai và dân c− rộng lớn, việc vỡ các đê đó có thể gây nên ngập lụt cho các huyện lỵ, tỉnh lỵ và toàn tỉnh. Đó là những công trình đồ sộ nhất chạy dọc dòng chính của sông Hồng và những chi l−u hung dữ nhất, việc xây dựng và duy tu phải tuân theo những chuẩn mực chung của Nhà n−ớc về kích th−ớc và độ nén. Nhằm huy động theo định kỳ khối l−ợng nhân công cần thiết để thực hiện những công trình đó, Nhà n−ớc có trong tay hai khả năng. Huy động dân làng theo ba nghĩa vụ đã định gồm lao dịch (đ−ợc luật Gia Long định là 60 ngày mỗt năm cho mỗi dân đinh), mỗi dân đinh phải thực hiện không có thù lao các công trình công cộng do các quan phân bổ. Với những công trình xây dựng lớn là hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn nông dân đ−ợc huy động có sự đôn đốc của biền binh. Nh− năm 1835 (tháng 10), trong tấu trình lên nhà vua về việc đào sông Cửu An, Nguyễn Công Trứ đ−a ra những con số kinh ngạc: “Đào sông đắp đê công việc bề bộn nặng nề, xin liệu thuê 20.000 dân phu (Nam Định 6.000 ng−ời, Hải D−ơng 4.000 ng−ời, H−ng Yên 3.000 ng−ời, các tỉnh láng giềng Hà Nội, Bắc Ninh mỗi tỉnh 3.500 ng−ời), đến tháng giêng sang năm sẽ tiếp tục khởi công làm”1. Việc tu bổ các đoạn đê h− hỏng hay bị n−ớc cuốn cũng cần số nhân công lớn nh− trong báo cáo của Tổng đốc Hà Nội-Ninh Bình, Đoàn Văn Tr−ờng: “Các chỗ đê bị vỡ ở huyện Ch−ơng Đức, Hoài An, Thanh Liêm thuộc trong tỉnh hạt hiện đã vát đ−ợc hơn 4.000 dân phu sửa đắp, đều đã làm kín cả rồi”2. Biện pháp thứ hai là thuê nhân công (trả bằng gạo và tiền) d−ới hình thức khoán, dựa vào nhân công thuê m−ớn cần thiết với số ng−ời đàn ông và đàn bà huy động trong mấy tháng mùa khô từ sau vụ tháng 10 đến đầu mùa lũ đầu xuân. Nh− vậy để đắp đê mới ở Bắc thành, các quan Đặng Trần Th−ờng và Nguyễn Khắc Thiệu, năm 1809 phải tâu xin vua Gia Long: “Đê điều các trấn Sơn Tây, Kinh Bắc, Sơn Nam th−ợng đều bị sụt lở, nên đắp ba đoạn đê mới khác và đắp thêm hai đoạn đê cũ, xin thuê dân làm. Còn các đoạn khác thế n−ớc chảy không xói lắm có thể chống đã đ−ợc thì bắt dân sở tại ra sức sửa đắp. Vua y lời tâu”3. Ta dễ dàng nhận thấy việc kết hợp hai hình thức huy động nhân công biểu hiện sự căng thẳng giữa khả năng tài 1 Đại Nam thực lục, T. IV, Nxb Giáo dục, 2004, tr. 784. 2 Đại Nam thực lục, T. III, Nxb Giáo dục, 2004, tr. 858. 3 “Trấn Sơn Tây một đoạn đê mới, từ xã An Lão Thị huyện Yên Lạc đến xã Kim Đà huyện Yên Lãng, dài 1.282 tr−ợng 8 th−ớc 4 tấc; trấn Kinh Bắc, một đoạn từ xã Đông D− huyện Gia Lâm đến xã Kim Quan dài 637 tr−ợng 8 th−ớc 7 tấc; trấn Sơn Nam th−ợng, một đoạn từ xã Đội Xuyên huyện Nam Xang đến xã Nh− Trác dài 508 tr−ợng 1 th−ớc. Đê cũ ở Sơn Nam th−ợng, một đoạn ở xã Nho Lâm huyện Kim Động dài 125 tr−ợng, một đoạn xã Quỳnh Trân huyện Duy Tiên dài 18 tr−ợng. Tính giá tiền là 87.000 quan”, Đại Nam Thực Lục, T. I, Nxb Giáo Dục, 2004, tr. 749. 409
  31. chính của Nhà n−ớc để đầu t− vào việc xây dựng và tu sửa đê điều với việc sử dụng cụ thể trên thực địa. Nếu một vài tờ tấu lên nhà vua đặc biệt nói đến sự trì trệ của nông dân tham gia công trình, còn bộc lộ việc các hào mục địa ph−ơng biển thủ tiền của Nhà n−ớc trả công cho dân phu bằng việc bắt dân đóng góp tài chính hay bắt tham gia theo nghĩa vụ lao dịch1. Vì vậy, trong khi khen ngợi việc hoàn thành công trình tu sửa và gia cố đê sông Cửu An, hoàn thành năm 1837, vua Minh Mạng nhắc nhở chớ có lẫn lộn hai nguồn nhân công, một mặt là thuê phu, và mặt khác là huy động lao dịch, tiền phát cho dân địa ph−ơng là tiền th−ởng chứ không phải là trả l−ơng: “Vua bảo rằng: “Đúng nh− lời các ng−ơi nói thì làm một việc mà lợi hai ba đ−ờng, có gì là không nên, bèn cho phép làm. Vừa ba tháng, đê đắp xong. Vua th−ởng lũ Trứ đều gia một cấp, sa màu mỗi ng−ời ba tấm, phi long, đại kim tiền; cát t−ờng, bát bảo, ngũ bảo, tiểu kim tiền mỗi ng−ời đều một đồng. Bố, án ba tỉnh và nhân viên thân biền, khám biện, chuyên biện đều th−ởng kỷ lục, kim ngân tiền có cấp bậc, dân phu làm việc không vào hạng phải thuê, th−ởng chung tiền 5.000 quan”2. Nếu nỗ lực tài chính ở thế kỷ XIX thay đổi nhiều tùy theo chính sách thủy lợi của từng đời vua, thì sự đầu t− vào lĩnh vực này không bao giờ đ−ợc cáo tố mặc cho những h− hại th−ờng xuyên của công trình từng gây nên tranh cãi về công dụng của nó. Hãy xem lại câu trong Minh Mạng chính yếu, trong đó nhà vua nhắc nhở đến tầm quan trọng của đầu t− tài chính Nhà n−ớc, và từ đó đã chua chát khiển trách các quan tỉnh Sơn Tây, Sơn Nam và Nam Định sau hàng loạt vụ vỡ đê và lụt lội nghiêm trọng: “Đê là rất quan trọng đối với dân tỉnh các khanh. Các khanh thấy Trẫm không biết tiếc, vì mỗi năm Trẫm ban cho các khanh 100.000 quan cùng chu cấp vật phẩm để lo việc gìn giữ đê điều. [ ] Tại sao các khanh không lo sớm để tránh những hiểm 1 “Dân ở các hạt H−ng Yên, Hải D−ơng, Nam Định sửa đắp đê điều, phần nhiều góp tiền thuê ng−ời khác làm, không chịu tự mình đi làm việc. Vua nghe tin, dụ bộ Công rằng: "Ghét khó nhọc, thích nhàn rỗi, đó là th−ờng tình của ng−ời ta, mà làm quen cần khổ, mới là dân đời thịnh trị, vả lại việc ngăn giữ n−ớc sông, trẫm sở dĩ ngày đêm lo tính, không tiếc phí tổn, chỉ lấy chống lụt, giúp việc làm ruộng làm kế nuôi dân ta, đến khi khởi công sửa đắp, đổi bỏ tệ cũ thuê khoán, chuyên thuê dân trong hạt, cốt để cho bờ sông giữ vững, đã có thể cho dân đ−ợc ở yên mà tiền gạo chi ra lại có thể giúp l−ơng ăn cho dân, trẫm để tâm đến l−ơng thực của dân nh− thế là nhất, không ngờ bọn dân th−ờng quen thói l−ời biếng, lại cùng nhau thuê ng−ời khác làm, có thể hoặc trị bọn hào dịch gian dối sâu mọt, đặt điều dọa nạt mà dân th−ờng không biết, không dám thò đầu ra làm việc, cùng nhau đóng góp thuê tiền, để cho chúng kiếm lợi, ở đó tình trạng nh− thế, không những tốn không của kho Nhà n−ớc, mà dân ta lại phải khổ luỵ, trẫm nghe tin đó, rất lấy làm bất bình". Chuẩn cho truyền Chỉ cho Tổng đốc Hải An là Nguyễn Công Trứ, Tổng đốc Định An là Trịnh Quang Khanh, Tuần phủ H−ng Yên là Hà Thúc L−ơng đều đem việc ấy hiểu thị mà răn bảo, còn dám có thuê riêng thì trị tội nặng. Đến khi làm xong, các nhân viên đi làm việc, đều chia hạng nghị khen nghị th−ởng. Lúc đó có dân huyện H−ng Nhân xin thôi không lĩnh số tiền gạo thuê làm, đặc cách gia ân th−ởng chung cho 800 quan tiền (Năm tr−ớc sửa đắp t− đê 70 tr−ợng, đã đ−a th−ởng tiền 30 quan, rồi sau đê ấy bị bỏ, cho nên dân ấy tự nguyện ra sức sửa đắp đê mới 70 tr−ợng, lấy tiền ấy bù vào đê tiền kia, không dám lĩnh tiền thuê nữa).”, Đại Nam Thực Lục, T. XX, Chính Biên Đê Nhị Kỷ XVI (1838), Nxb KHXH, 1968, tr. 47-48. 2 Đại Nam thực lục, T. XIX, chính Biên đệ nhị kỷ XV (1837), Nxb KHXH, 1968, tr. 29. 410
  32. họa nh− vậy? Tại sao khi n−ớc lên hung dữ các khanh không có cách kiềm chế khác? [ ] Điều đó là do các khanh còn sơ suất” (do Chassigneux dẫn, 1914:100). Còn các đê t− thì đ−ợc coi là thứ yếu và kém tầm chiến l−ợc, vì đắp ở những khúc sông ổn định hơn và nếu có tràn bờ thì chỉ gây thiệt hại về ng−ời và đất đai hạn chế. Nhà n−ớc có sự phân biệt theo kinh nghiệm giữa lĩnh vực công và lĩnh vực t−, nghĩa là phân bổ nghĩa vụ và trách nhiệm tùy thuộc vào khả năng tài chính từng lúc và những −u tiên chính trị của cả n−ớc nói chung và việc quản lý thủy lợi nói riêng. Công việc ở các đê t− do các cộng đồng nông dân đảm trách và tự trang trải sau khi đ−ợc sự chuẩn y của nhà vua, mà đây là điểm chủ yếu, vì theo chế độ ruộng đất thì Nhà n−ớc là ng−ời sở hữu duy nhất đất đai một cách hợp pháp và th−ờng xuyên, nông dân chỉ là những ng−ời lĩnh canh mà quyền sử dụng phụ thuộc vào việc khai phá ruộng đất và đóng thuế. Sự can thiệp t−ơng đối của lĩnh vực công so với chủ động địa ph−ơng đi theo những thay đổi trong việc phân cấp trách nhiệm đối với đê, và cuối cùng đã phản ánh trung thành tính thất th−ờng trong quan hệ giữa các vua triều Nguyễn với bộ máy hộ đê trên những con sông chính ở châu thổ. Vì vậy việc bãi bỏ nha môn đê chính năm 1833 và đi tìm những giải pháp thay thế việc đắp đê, cụ thể là qua công trình đ−a n−ớc sông Hồng vào sông Cửu An, trùng hợp rõ rệt với sự thoái thác của Nhà n−ớc đối với đặc quyền của nhà vua trong việc quản lý việc trị thủy, đ−ợc vua tạm thời giao cho cộng đồng làng xã (Đỗ Đức Hùng, 1998). Công trình thực hiện ở địa ph−ơng có thể có qui mô khiêm tốn và liên quan đến dân một làng riêng lẻ hay một xã, nh− một vài văn bia làng xã cho thấy. Bia ph−ờng Hồ Khẩu l−u giữ trong chùa Chúc Thánh, dựng năm 1858 (Tự Đức 11), giải thích những cuộc tu sửa liên tiếp sau khi đê vỡ đòi hỏi một số tiền lớn và phải kêu gọi sự đóng góp của những ng−ời hảo tâm. “Khúc đê ở ph−ờng Quảng Bố bị vỡ, n−ớc lũ tràn vào ph−ờng Hồ Khẩu, dân ph−ờng phải lo đắp đê, chi phí rất nhiều, do vậy cần nhờ lòng hảo tâm quyên góp của tín thí. Có bà Nguyễn Thị Vạn hiến cho ph−ờng 30 quan tiền và xin gửi giỗ ở chùa Chúc Thánh. Dân ph−ờng lập bia, định lệ cũng giỗ bà về sau”1. Nh−ng những công trình do dân làng chủ động xây dựng đôi khi có qui mô lớn khiến việc thực hiện phải đ−ợc sự can thiệp của lĩnh vực công. Sự tồn tại của nó nói lên bất lực của Nhà n−ớc và những khó khăn trong quản lý đê điều trên châu thổ, và cũng là khả năng của dân chúng tự tổ chức ở địa ph−ơng nhằm thực hiện các công trình công cộng. Đấy là một thực tế đầu triều Nguyễn, nh− tr−ờng hợp đắp ở vùng Mỹ L−ơng-Yên Sơn (nay thuộc huyện Ch−ơng Mỹ và Quốc Oai, Hà Nội) con đê Thập Cửu dài khoảng 50 km (3,10 m rộng ở đáy, cao 2,30 m), để bảo vệ 8.000 mẫu đất trồng lúa (2.890 ha). Điều đáng l−u ý là nó đ−ợc hoàn thành từ 1808 đến 1812 do 1 Thác bản bia ph−ờng Hồ Khẩu, tổng Trung, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức. Th− muc thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Viện NCHN - EFEO - EPHE, 2007, Hà Nội, T. I, tr. 94. 411
  33. dân 19 xã, và đ−ợc ghi vào bản khoán −ớc khá chi tiết nêu rõ trách nhiệm của mỗi xã trong việc giám sát, bảo vệ và duy tu công trình (chăn trâu, trồng tre, v.v ), đóng góp tài chính và hình phạt trong tr−ờng hợp cố tình vi phạm. Do tầm quan trọng của nó, khi công trình hoàn tất, việc điều phối đ−ợc chỉ dụ của vua đặt d−ới sự phụ trách của Nhà n−ớc để đ−a vào lĩnh vực công mà Nhà n−ớc không phải bỏ ra một đồng nào! (Huy Vu, 1978). Tuy nhiên phải nhấn mạnh đến sự thụ động và chờ đợi của chính quyền trung −ơng trong tr−ờng hợp đắp đê Thập Cửu, không hoàn toàn theo đúng qui định nh− nhiều đề nghị xây đắp công trình ghi trong sử sách, mà việc phê chuẩn đòi hỏi sự ban cấp tài chính của Nhà n−ớc: “Đắp đê mới ở Mai Xá, tỉnh Nam Định (dài hơn 200 tr−ợng, Mai Xá thuộc huyện Mỹ Lộc). Dân xã đó đều muốn ra sức bồi đắp. Tỉnh thần đem việc tâu lên. Vua khen và cho làm. Khi công việc xong, th−ởng tiền 5.000 quan”1. Nói cách khác, nhằm khuyến khích sáng kiến địa ph−ơng, nhà vua có thể miễn toàn bộ hay một phần thuế trong thời hạn ba năm, huy động binh lính hỗ trợ dân chúng, ban th−ởng và cấp bằng sắc cho các hào mục và nông dân xứng đáng, và đền bù cho những chủ ruộng có đất bị san lấp khi làm công trình hay dùng làm nơi lấy đất xây đắp. Chinh phục đất bồi ven biển: những qui hoạch hợp lý đầu tiên Nếu mối quan tâm đầu tiên của các vua triều Nguyễn là các công trình ngăn lũ trên sông Hồng, thì triều đình cũng lo cải tiến các biện pháp thủy nông. Đầu tiên là chinh phục các dải đất bồi ven biển. Thực ra đây không phải là sáng kiến của thế kỷ XIX, vì các nguồn sử liệu đã nói đến việc chinh phục đất ven biển từ thế kỷ XIII, mà theo một số nhà nghiên cứu, có thể đấy là nguồn gốc của những công trình đắp đê đầu tiên trên châu thổ. Cho nên J. Gauthier đánh giá rằng: “Những con đê đầu tiên ở Bắc Kỳ có thể là những đê ven biển, bổ sung cho sự bảo vệ nguyên thủy của các đụn đất ven biển” nhằm khai khẩn đất hoang phì nhiêu khiến cho châu thổ đ−ợc kéo dài liên tục ra biển (1930: 14-15). Cái mới là sự hợp lý hóa việc chinh phục bờ biển bằng những con đê bao bãi bồi tạm thời nổi lên khi n−ớc rút nhằm khai thác trên qui mô lớn. Công trình đầu tiên loại này đ−ợc thực hiện năm 1828 trên đất bồi ven biển các tỉnh Thái Bình và Ninh Bình. Công trình tiến hành d−ới sự chỉ đạo của Nguyễn Công Trứ cho phép lập nên hai huyện ven biển là Kim Sơn và Tiền Hải năm 1829: “Bắt đầu đặt huyện Kim Sơn, lệ vào phủ Yên Khánh, Ninh Bình. Lĩnh Dinh điền sứ là Nguyễn Công Trứ, ở phía ngoài đê Hồng Lĩnh đo đ−ợc số ruộng hoang là 14.620 mẫu, chia cấp cho dân nghèo hơn 1.260 ng−ời. Lập thành 3 làng, 22 ấp, 24 trại và 4 giáp, chia làm 5 tổng, tâu xin đặt riêng một huyện gọi là Kim Sơn, chọn ng−ời hợp với địa ph−ơng làm tri huyện để 1 Đại Nam thực lục, T. XVIII, Chính biên Đệ nhị kỷ XIV (1836), Nxb KHXH, 1967, tr. 360. 412
  34. phủ dụ khuyên bảo”1. Đầu thế kỷ XX, hai huyện này có 20.000 ha đất canh tác nuôi sống 120.000 dân c− (Lê Thành Khôi, 1992: 372). ở đây, song song với sự tham gia của chính quyền trung −ơng, việc chinh phục vùng đất mới lại cũng xuất phát từ sáng kiến của địa ph−ơng. Nh− tấm bia lập ngày 10 tháng 6 năm Tự Đức thứ 32 (1880), nói về xã Hải Yến (Quảng Ninh) đã quai đê bao 50 mẫu đất hoang lấn ra biển nhờ hệ thống đê và con trạch ngăn n−ớc mặn tràn vào. Cũng nguồn t− liệu đó nói rõ nội dung bản khoán −ớc của xã định quyền lợi và nghĩa vụ cho mỗi giáp (Huy Vu, 1978: 47). Nh−ng cải tiến đáng chú ý nhất là t−ới tiêu. Thật vậy, phải chờ đến đầu thế kỷ XIX mới xuất hiện biện pháp lấy n−ớc từ sông. Cho đến lúc đó, hình nh− không thể làm chủ đ−ợc kỹ thuật cắt ngang thân đê lấy n−ớc mà không gây vỡ đê đ−a đến lụt lội. Nguyên lý là lấy n−ớc trực tiếp từ dòng sông bằng những đ−ờng dẫn xuyên qua thân đê và có thể đóng lại dễ dàng, theo kiểu cống ngầm. Biện pháp này nhằm thay thế ph−ơng thức chống hạn duy nhất tr−ớc đó là dự trữ n−ớc trong các ao chuôm sau mùa m−a. Dấu vêt đầu tiên ghi chép về công trình làm trực tiếp vào thân đê cho thấy việc xây dựng đ−ợc tiến hành vào đầu triều Gia Long, nh−ng không loại trừ khả năng thực hiện những công trình t−ơng tự sớm hơn. Cho nên trong sắc chỉ của vua Gia Long năm 1809 giao nhiệm vụ đầu tiên cho nha môn đê chính mới thành lập, phải lập bảng thống kê các đê và cống n−ớc. Những công trình đầu tiên đ−ợc làm thô sơ, bằng thân gỗ khoét rỗng, đôi khi không gắn khít vào thân đê. Sau đó đ−ợc làm chắc chắn hơn, xây vòm cuốn bằng gạch và vữa chịu lực và gắn chặt vào thân đê bảo đảm duy trì lâu dài (Gauthier, 1930: 25). Năm 1829, thống kê các công trình thủy lợi ghi lại 50 cống n−ớc chính và 16 cống n−ớc phụ, đều có chức năng tiêu n−ớc và dẫn n−ớc, biết rằng tấu trình gửi vua Minh Mạng năm 1833 của ba viên quan đầu tiên trong cuộc cải cách quản lý đê điều, đã khuyến khích việc phổ biến các thiết bị đó. “Nay các tỉnh đã có đại viên Đốc, Phủ chịu trách nhiệm về sự làm lợi trừ hại cho dân. Vậy xin đem công đê và t− đê giao cả cho các quan tỉnh quản lĩnh, theo nh− ch−ơng trình mà làm. Còn những đoạn đê ven sông, xem kỹ chỗ nào đáng đặt cống n−ớc để lợi việc làm ruộng, thì tâu xin làm ngay. Mỗi vụ chiêm và vụ mùa hoặc khô cạn, hoặc úng thủy tùy thế mà mở ra cho n−ớc thông đi, khi n−ớc sông lên to thì đóng cửa cống lại. Sông con ở phía trong đê, chỗ nào nông cạn thì tùy thế mà khai mở cho thông dòng n−ớc. Chỗ có cống n−ớc, nên chứa nhiều đống đất và vật liệu để phòng hộ đê. Phàm những việc nên khai hay nên lấp, quan địa ph−ơng phải thân đến tận nơi xem xét công việc, không đ−ợc phó mặc dân th−ờng. Và việc đê đã giao cho quan địa ph−ơng, thì xin 1 Đại Nam thực lục, T. II, Nxb Giáo Dục, 2004, tr. 843. 413
  35. nên bỏ nha môn Đê chính. Vua sai đình thần bàn tâu, đều cho là phải. Vua bèn cho làm theo lời bàn ấy”1. Hiệu quả của các cống n−ớc đó nh− thế nào? Nó đem lại kết quả khả quan ở vùng ven biển, ở đó thu hoạch một số vụ bấp bênh do n−ớc lũ sông Hồng nhiều hơn là do n−ớc m−a (Pouyanne, 1931: 35). Ng−ợc lại, đi xa vùng ven biển, thì thấy nó đem lại những sự cải tiến còn cách xa kết quả mong đợi. Lý do thứ nhất thuộc về kỹ thuật: cửa cống trổ ra lúc đầu bị cát bồi lấp vào mùa n−ớc lên, khiến cho l−u l−ợng chảy qua cống không đủ. Nh−ng nhất là khi mùa n−ớc dâng, ở vùng đất th−ợng và trung l−u châu thổ, độ cao lũ các sông có đê v−ợt quá bình độ vùng thấp của đồng ruộng, ngăn chặn việc thoát n−ớc thừa qua cống n−ớc, tạo thành những hồ lớn. Còn về vấn đề t−ới tiêu, n−ớc sông lúc xuống thấp để lộ phần lớn các cửa cống lên trên mực n−ớc trong mùa khô. Xét cho cùng, nếu các vua triều Nguyễn biết rất rõ rằng các sông trên châu thổ là nguồn dự trữ n−ớc vô tận cho nông nghiệp cần đ−ợc sử dụng, thì địa hình châu thổ không cho phép dẫn thủy bằng dòng chảy: sự thiếu vắng những biện pháp cơ giới để bơm n−ớc ngăn cản việc v−ợt qua khó khăn đó (Chassigneux, 1912: 96). Cho nên việc lấy n−ớc từ các kênh m−ơng và ao hồ do thủy triều các sông tràn vào tự nhiên vẫn là tiêu chí để xây dựng hệ thống dòng chảy. Trong hệ thống này, mỗi ng−ời nông dân đều chịu trách nhiệm tát n−ớc bằng gầu từ một vị trí riêng biệt nằm dọc các kênh hay ao, gọi là điểm tát n−ớc. Các điểm tát n−ớc đó là của t− nhân, ng−ời chủ nơi đó đ−ợc −u tiên tr−ớc những dân làng khác muốn lấy n−ớc cho ruộng của mình. N−ớc tát lên hoặc trực tiếp đ−a vào ruộng, hoặc đ−a vào một con m−ơng dẫn đến các thửa ruộng. Chúng tôi đã nói đến các biện pháp khuyến khích của các vua nhằm làm tăng các nguồn dự trữ n−ớc cho vụ lúa tháng 5, nh− nạo vét kênh m−ơng, đào kênh dẫn thủy hay đắp con trạch làm tăng khả năng giữ n−ớc của các đầm vực. Nh−ng còn hơn cả việc đắp đê, sự lên xuống trong đầu t− của triều đình và một số bất lực khi đề ra những biện pháp hữu hiệu cho việc t−ới tiêu, là hai nhân tố thúc đẩy các cộng đồng nông dân phải tự lo thực hiện công trình của mình. Nếu nh− không thể thống kê số l−ợng các sáng kiến địa ph−ơng đó, thì các h−ơng −ớc cũng nh− văn bia đôi khi cũng cho thấy sự có mặt của nó, nh− tấm bia xã Đắc Sở (huyện Đan Ph−ợng, tỉnh Hà Đông) khắc năm 1854 (Tự Đức thứ 7) đã nói: “Việc thủy lợi có quan hệ lớn đến nông nghiệp. Một số quan viên, h−ơng lão đã bỏ tiền của ra xây dựng chiếc cống đá thuộc bản xã để khai thông n−ớc thuận lợi cho việc cày cấy. Bia ghi danh sách những ng−ời h−ng công hội chủ nh−: phó tổng Nguyễn Văn Uyên, phó lý Nguyễn Kim Nguyên v.v ”2 Nên nhớ là vào cuối thế kỷ XIX, tổng số các công trình công và t− và 1 Đại Nam thực lục, T. III, Nxb Giáo Dục, 2004, tr. 536-537. 2 Th− muc thác bản văn khắc Hán Nôm Việt Nam, 2007, Hà Nội, Viện NNCHN - EFEO - EPHE, T. I, tr. 802-803. 414
  36. đặc biệt trong việc t−ới tiêu, đã khiến cho khả năng làm hai vụ lúa một năm đã đạt đến một phần ba tổng diện tích châu thổ sông Hồng. Cuối cùng, vào mùa khô hạn, các vua triều Nguyễn cũng nh− các triều đại tr−ớc, đều cầu đảo để mong m−a. Trong những đoạn nói về việc cầu đảo của Đại Nam thực lục, đoạn trích sau đây (tháng 7, năm 1826) có lẽ đã nói lên mối lo của Minh Mạng tr−ớc hiện t−ợng khí hậu mà quyền uy của ông đành bất lực: “Vua bảo thị thần rằng: “Từ nay hạn hán phần nhiều về xuân hạ, mà gần đây th−ờng thấy về thu, đông, chẳng biết có phải vì khí trời không thuận mà đến nh− thế không! Vả nay mấy tuần không m−a, khí nóng nh− đốt ruột, huống là cỏ cây lúa ruộng thì t−ơi tốt sao đ−ợc. Trẫm ở trong cung ch−a từng một đêm nào ngủ yên. Đêm qua trẫm ngồi ở sân điện, ngửa xem t−ợng trời, thấy một đám mây đen nghịt, chợt gặp gió đông nam, lại tan ngay, sao mà khó m−a đến thế!”. Vua quay bảo Phan Huy Thực rằng: “Trẫm muốn thí nghiệm các thần kỳ trong n−ớc có thần nào làm m−a đ−ợc thì khen tặng, không làm đ−ợc thì đình việc thờ cúng, đó cũng là ý xét công thần kỳ của ng−ời x−a. Nh−ng lại nghĩ sao Cơ thì gió, sao Tất thì m−a là do tự nhiên, không phải sức thần làm đ−ợc.” [ ]”1. Mặc dầu việc dời đô về Huế có hậu quả tr−ớc mắt là đ−a trung tâm quyền lực xa khỏi thực tế Bắc Hà sau nhiều thế kỷ cắm sâu vào trung tâm châu thổ sông Hồng, triều Nguyễn vẫn đầu t− tài chính rất lớn vào lĩnh vực thủy lợi nhằm giải quyết việc đắp đê trên toàn châu thổ. Tuy nhiên, nỗ lực tr−ớc nay ch−a hề có vẫn không che dấu đ−ợc sự bấp bênh và mâu thuẫn trong đ−ờng lối thủy lợi của các triều vua: không liên tục trong tổ chức và quản lý đê điều, khi thì giao cho nha môn chuyên trách, khi thì giao cho các quan tỉnh; tính quan liêu chậm chạp một phần do ở xa triều đình trung −ơng và do sự không đồng bộ của bộ máy quan lại; sự thay đổi của các giai đoạn tham gia của Nhà n−ớc rồi lại rút lui bỏ mặc một phần cho cộng đồng nông dân lo liệu, những ng−ời nông dân buộc phải tự gánh vác việc xây dựng và duy tu các công trình ngày càng tăng lên (Đỗ Đức Hùng, 1979: 49, 1994: 51). Sự bất lực của các vua không gánh vác đầy đủ “Thiên mệnh” đ−ợc giao phó trách nhiệm bảo vệ thần dân chống các thiên tai và cụ thể là chống lại lũ lụt các sông, có lẽ đã làm tăng sự bất bình trong dân chúng chứng tỏ ở sự bùng nổ liên tục các cuộc khởi nghĩa nông dân trong thế kỷ XIX: 4 cuộc một năm d−ới thời Gia Long; 11 cuộc một năm d−ới thời Minh Mạng; 8 cuộc một năm d−ới thời Thiệu Trị; 3 cuộc một năm d−ới thời Tự Đức; tổng cộng là 400 cuộc nổi dậy trong 60 năm (Lê thành Khôi, 1992: 382). 1 Đại Nam thực lục, T. II, Nxb Giáo Dục, tr. 524-525. 415
  37. Nh−ng v−ợt qua sự tổng kết còn nhiều mâu thuẫn mà tính khách quan chỉ là t−ơng đối, do tình trạng thiếu hụt của nguồn t− liệu, ta có thể thấy triều Nguyễn đã đóng vai trò bản lề trong lĩnh vực thủy lợi bằng việc đặt cơ sở cho qui hoạch hiện đại và hợp lý châu thổ sông Hồng. ngoài việc đắp đê toàn bộ, các vua Gia Long và Minh Mạng quả là những ng−ời đầu tiên có ý định giải quyết vấn đề sống còn của thủy lợi bằng cách dựa trực tiếp vào nguồn dự trữ n−ớc t−ới bất tận của các con sông. Thật vậy, kết quả đạt đ−ợc thật là nhỏ nhoi vì ở vùng châu thổ, việc thiết lập hệ thống thủy lợi chỉ có thể làm trên qui mô lớn không những để t−ới n−ớc mà còn để tiêu n−ớc thừa trong mùa m−a lũ: điều đó cần phải có những ph−ơng tiện cơ giới quan trọng để bơm n−ớc lên cũng nh− đào những con sông lớn để t−ới tiêu. Đối với những ng−ời đi đầu đó, giới hạn tr−ớc hết thuộc về kỹ thuật; phải đợi đến năm 1920 các kỹ s− và chuyên gia thuộc địa mới đ−a ra đ−ợc những biện pháp thủy nông hiệu quả và hiện thực cho vùng trung du và hạ châu thổ, nhờ vào sự tăng c−ờng những trạm bơm điện. Mặc dầu thừa nhận sự bất lực đó, nó vẫn cho chúng ta một cái nhìn tổng thể về sự phức tạp của vận hành thủy lợi trên châu thổ và các hậu quả đôi khi tai hại của công trình, nh− cuộc tranh luận đ−a ra năm 1803 của vua Gia Long xem có cần gai cố hay ng−ợc lại là xóa bỏ hệ thống đê sẵn có. Đào Hùng dịch 416
  38. QUảN Lý RUộNG ĐấT CủA NHμ NGUYễN QUA TƯ LIệU ĐịA Bạ TS. Phan Ph−ơng Thảo* 1. Quản lý ruộng đất là một trong những trọng tâm của của quản lý Nhà n−ớc thời phong kiến. ở Việt Nam, d−ới thời phong kiến, chế độ ruộng đất là cơ sở, là nền tảng của nhà n−ớc trung −ơng tập quyền, là nguồn thu nhập chủ yếu của triều đại phong kiến, đồng thời cũng là nhân tố quan trọng chi phối mọi hoạt động của xã hội đ−ơng thời. Vì vậy, quyền sở hữu tối cao của nhà n−ớc về ruộng đất đ−ợc xác lập một cách vững chắc trên cơ sở làm tốt công tác quản lý chặt chẽ và có hiệu quả đối với ruộng đất. Thời phong kiến, mặc dù nhà n−ớc nắm quyền sở hữu tối cao về ruộng đất song phần lớn ruộng đất lại do làng xã trực tiếp quản lý, bao gồm cả ruộng đất công, ruộng đất t− và một số loại ruộng đất khác, còn ruộng đất do nhà n−ớc trực tiếp quản lý chiếm tỷ lệ nhỏ (nh− tịch điền, ruộng quốc khố, quan điền, quan thổ ). Vì vậy, để quản lý ruộng đất - cơ sở kinh tế của quản lý nông thôn nói chung, nhà n−ớc phải lấy làng xã làm đơn vị. Địa bạ ra đời cũng từ thực tế nh− vậy. “Địa bạ là văn bản chính thức về địa giới và diện tích các loại ruộng đất, các loại hình sở hữu ruộng đất của làng xã, đ−ợc xác lập trên sự khám đạc và xác nhận của chính quyền, dùng làm cơ sở cho việc quản lý ruộng đất và thu tô thuế của nhà n−ớc. Có thể định nghĩa một cách tổng quát về địa bạ nh− vậy, tuy mỗi thời và mỗi nơi, tên gọi và qui cách địa bạ có khác nhau”1. Theo ghi chép của sử biên niên, nhà n−ớc phong kiến Việt Nam đã tiến hành lập địa bạ lần đầu tiên là vào năm 1092, khi đó gọi là tịch điền (sổ ruộng) 2. Từ đó trở đi, các v−ơng triều phong kiến Việt Nam rất quan tâm tới việc lập điền tịch, hộ tịch các làng xã làm cơ sở cho quản lý nhà n−ớc và qui định các loại tô thuế, nghĩa vụ lao dịch, binh dịch của các làng xã đối với v−ơng triều. Đầu thế kỷ XV, ngay sau khi mới lên ngôi, vua Lê Thái Tổ (1428-1433) đã ra lệnh cho các địa ph−ơng khám đạc, kiểm tra tình hình sở hữu các loại ruộng đất và lập địa bạ trong thời hạn 1 năm3. Sau đó lại qui định cứ 4 năm làm lại địa bạ một lần4, làm cơ sở quản lý ruộng đất. * Đại học Quốc gia Hà Nội 1 Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang, Vũ Văn Quân, Phan Ph−ơng Thảo: Địa bạ Hà Đông, H. 1995 2 Đại Việt sử ký toàn th−, Bản dịch Nxb KHXH, H. 1993, T.I, tr. 283 3 Đại Việt sử ký toàn th−, Sdd, Tập II, tr. 298 4 Quốc triều hình luật, tr. 130 417