Huyền Thoại U Minh (Phần 2)

pdf 134 trang ngocly 40 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Huyền Thoại U Minh (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfhuyen_thoai_u_minh_phan_2.pdf

Nội dung text: Huyền Thoại U Minh (Phần 2)

  1. huyền thoại u minh U Minh thượng trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc rong hai cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta chống kẻ thù xâm Tlược là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cùng với quân và dân cả nước, quân và dân U Minh Thượng đã có những đóng góp to lớn, đã làm nên một U Minh với nhiều chiến công lừng lẫy, một U Minh huyền thoại. Vai trò và những cống hiến lớn lao của đất và người U Minh Thượng trong các cuộc kháng chiến có thể khó nói hết được, nhưng cũng có thể khái quát trên một số nét chính và qua đó càng giúp ta thêm hiểu về sự vĩ đại của cuộc chiến đấu của quân và dân khu căn cứ cách mạng U Minh nói chung và U Minh Thượng nói riêng trong các cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ và vẻ vang. Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (23 - 11 - 1940), giặc Pháp đàn áp dã man những nơi khởi nghĩa, cơ sở cách mạng bị tổn thất nặng nề, các đồng chí Phan Văn Bảy (Xứ ủy viên), Võ Văn Kiệt và nhiều đồng chí khác đã về U Minh xây dựng căn cứ và lực lượng cách mạng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. - Trong cách mạng Tháng 8 năm 1945 nhân dân vùng U Minh kết hợp với các nơi khác nổi dậy giành chính quyền tại thị xã Rạch Giá và quận Phước Long vào ngày 27/8/1945 và quận An Biên vào ngày 28-8-1945. - Ngày 23 - 9 - 1945, thực dân Pháp trở lại tái chiếm Sài Gòn. Cuộc kháng chiến ở Nam Bộ bắt đầu, sau đó thực dân Pháp lần lượt tái chiếm toàn bộ Nam 98
  2. huyền thoại u minh Bộ. Các cơ quan và lực lượng võ trang các tỉnh thuộc Khu 9 và Khu 8 đã về vùng U Minh. - Tháng 4/1946, lực lượng vũ trang khu 9 từ U Minh Thượng ra Giồng Riềng, Gò Quao diệt ác, phá tề và tiến công nhiều đồn bốt giặc. Giặc tiến đâu, nhân dân trong vùng đều tự giác làm trình báo cho chính quyền cách mạng và kiên quyết đánh trả, làm chậm tốc độ tiến quân và làm thất bại ý đồ chiếm đóng của giặc. Quân dân U Minh Thượng và nhân dân trong vùng còn lập nhiều tuyến đánh địch, phá lộ, phá cầu, chặn xe cơ giới, làm rào cản trên các sông, kinh chặn tàu địch Rừng U Minh Thượng và lòng dân nơi đây thực sự đã che bộ đội và ngăn quân thù. - Khi thực dân Pháp tái chiếm, U Minh Thượng là một căn cứ mà các lực lượng quân sự và chính trị các tỉnh miền Tây rút về để củng cố lực lượng chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới. Chính tại đây vào ngày 13/6/1946, quân và dân ta đã lập nên chiến công vang dội diệt hàng trăm tên giặc tại Cây Bàng (xã Vĩnh Hòa). Tiếp sau đó là trận đánh tàu Pháp ngày 5/10/1947, nhấn chìm 2 tàu sắt LCS tại sông Ba Đình ngay Vàm Cái Nứa, diệt 60 tên địch, bẻ gẫy cuộc hành quân giải vây đồn Chắc Băng - Đây là một chiến thắng có ý nghĩa rất quan trọng - Đến năm 1949, các cơ quan của Trung ương cục Miền Nam, của Đảng và các cơ quan của Nam Bộ và Khu 9 đóng tại U Minh Thượng, U Minh Hạ và rất nhiều nơi ở rừng đước Năm Căn (nay là huyện Đầm Dơi và Ngọc Hiển). - Thực dân Pháp cũng thấy rõ vị trí của U Minh nên tìm mọi cách bắn phá, hành quân thọc sâu vào vùng này. Có lúc tên Thủ tướng bù nhìn Nguyễn Văn Tâm (cha của Nguyễn Vân Hinh) đề nghị đổ dầu đốt sạch rừng U Minh, nhưng chúng không thực hiện được. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nhiều cơ quan, đơn vị quan trọng của khu, của tỉnh đã về đóng tại U Minh Thượng: + Xứ ủy, Trung ương Cục đóng ở càm kinh Hai, xã Vĩnh Thuận. + Nhiều cơ quan của khu và của tỉnh đóng ở Đường Sâm xã Vĩnh Bình, Vĩnh Hòa. + Quân y phân liên khu miền Tây đóng ở Sáu Ngàn - kinh 14 - 13 - 11, xã Vĩnh Thuận; Dân y tỉnh đóng ở kinh Ba, xã Vĩnh Thuận. + Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn của Bộ Tư lệnh Nam Bộ, trường lục quân Gia Định, trường Thanh niên Cứu quốc, trường Phụ nữ cứu quốc Tây Nam Bộ, trường Thiếu sinh quân khu 9 99
  3. huyền thoại u minh Công binh xưởng ở U Minh Thượng ảnh: TL + Ngày 31/1/1946 một cuộc họp giữa 2 Bộ chỉ huy chiến Khu 8 và chiến Khu 9 bàn bạc quyết định xem nên bám trụ tại địa bàn chống giặc hay là rút một bộ phận lớn lực lượng vũ trang lên miền Đông. Mặc dù có 2 luồng ý kiến, nhưng vẫn có một số lớn chỉ huy các đơn vị quyết tâm bám trụ tại địa bàn tiếp tục chiến đấu chống Pháp, thành lập Sở chỉ huy tại Phước Long (Rạch Giá). + Cuối tháng 2 năm 1946, Bộ chỉ huy chiến Khu 9 triệu tập hội nghị tại Ngang Dừa nhằm đánh giá tình hình, xác định nhiệm vụ phát động du kích chiến tranh, duy trì cuộc kháng chiến. Hội nghị quyết định 2 vấn đề: - Lập 3 phân cục chính trị giúp các tỉnh trở về địa phương từ tháng 3 đến tháng 9/1946. - Lập 3 phân khu Quân sự ở vùng độc lập, tập trung ở 3 huyện Phước Long, An Biên và Cà Mau, lập phòng tuyến chiến đấu ở thị trấn Phước Long, thị trấn Xẻo Rô, chợ Thứ Ba. Hội nghị cũng quyết định xây dựng căn cứ Cái Bát, Ro Ghe (An Biên), Cái Tàu (Cà Mau) Vĩnh Thuận, Phước Long, Tân Duyệt, Tân Thuận, Nam Cà Mau. Đây là bước ngoặt của cuộc kháng chiến ở Khu 9, bởi nó tạo cơ sở duy trì cuộc kháng chiến lâu dài và quyết định xây dựng căn cứ hậu phương lần đầu tiên cho cuộc kháng chiến chống Pháp. + Ngày 5/8/1946, tỉnh Rạch Giá triệu tập cuộc họp đại biểu ở Thầy Quơn, bàn về việc xây dựng củng cố tổ chức Đảng, mặt trận, chính quyền và bầu ban chấp hành tỉnh ủy lâm thời. Đồng chí Nguyễn Xuân Hoàng được bầu làm Bí thư 100
  4. huyền thoại u minh tỉnh ủy. Đây là mốc thời gian cơ quan chỉ huy quân sự đầu tiên của tỉnh Rạch Giá được thành lập. + Đầu năm 1947, khu ủy và Bộ chỉ huy chiến Khu 9 từ Xuân Hòa (Kế Sách) dời về căn cứ Cây Bàng để lãnh đạo và chỉ huy Khu 9 kháng chiến. + Ngày 5 tháng 10/47 đơn vị Bạc Liêu do đồng chí Lê Hồng Phát chỉ huy dùng thủy lôi đánh chìm 2 tàu LCS của quân Pháp tại sông Ba Đình diệt gần 100 tên bẻ gãy cuộc hành quân giải tỏa của địch. + Từ cuối năm 1947, vùng U Minh Thượng được giải phóng. + Đầu tháng 11/1949, Xứ ủy, ủy Ban kháng chiến hành chính và Bộ Tư lệnh Nam bộ từ Đồng Tháp chuyển về Khu 9 đóng tại vùng U Minh Thượng và U Minh Hạ. Lúc này, đồng chí Lê Duẩn là Bí thư Xứ ủy Nam bộ. + Cuối tháng 3/1954, ta bao vây bức rút đồn Xẻo Rô, huyện An Biên hoàn toàn giải phóng. - Ngày 20 - 7 - 1954, hiệp định Giơnevơ được ký kết. Vùng tập kết 200 ngày của Nam Bộ từ phía Nam sông Cái Lớn chạy ra biển đến Cà Mau, U Minh Thượng và Hạ nằm trong vùng tập kết này. Nơi đây hàng ngày đón nhận thân nhân đồng bào của bộ đội và cán bộ tập kết, cả đồng bào vùng địch tạm bị chiếm tham quan và tìm hiểu về chủ trương, chính sách của Việt Minh, của chánh phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây cũng là nơi đào tạo cấp tốc các loại cán bộ ở lại Miền Nam công tác hoặc bồi dưỡng cơ sở bí mật hoạt động công khai, hợp pháp; 200 ngày của vùng tập kết để lại dấu ấn sâu đậm trong nhân dân, nổi rõ Người dân U Minh vót chông tham gia đánh giặc ảnh: TL 101
  5. huyền thoại u minh chế độ ưu việt của cách mạng, chăm lo đời sống nhân dân lao động, mở lớp chống mù chữ, chữa bệnh cho nhân dân, vui chơi giải trí lành mạnh v.v , đồng bào đến tham quan đều thấy rõ, chế độ này khác hẳn với chế độ của bọn Pháp và bù nhìn tay sai. Mỹ - Diệm nhận rõ vùng U Minh là cái “rún” của cuộc kháng chiến ở Tây Nam Bộ nên chúng dùng chính sách “Dĩ cộng Diệt cộng”. (Dùng cộng sản diệt cộng sản); chúng đã lập ngay “khu An Phước” với mưu đồ tiêu diệt cộng sản ngay từ đầu. Tại “Đặc khu An Phước” địch đã giết hại hàng nghìn cán bộ, đảng viên và đồng bào ta trong vòng chưa đầy 3 năm (từ tháng 4 - 1955 - 1957) với biết bao cực hình tàn bạo, dã man. Bọn Mỹ ngụy đánh giá căn cứ U Minh là vấn đề chiến lược quan trọng trong chiến tranh giữa ta và địch ở miền Tây. Ai chiếm lĩnh được vùng này sẽ giành thế chủ động trên chiến trường. Nếu địch chiếm được vùng này sẽ bảo vệ được hậu cứ vùng 4 chiến thuật tại thành phố Cần Thơ, phá tan được căn cứ kháng chiến, đẩy “Việt Cộng” vào thế bị động phải phân tán nhỏ tạo điều kiện cho chúng tiêu diệt “Cộng sản”; còn nếu “Quân giải phóng” làm chủ vùng U Minh, có vùng căn cứ vững mạnh làm bàn đạp, tung lực lượng tập trung lớn mạnh, uy hiếp đầu não và hậu cứ địch ở vùng 4 chiến thuật, làm cho địch luôn luôn ở thế bị động đi đến thất bại. Chính vì thế mà địch lập ra tỉnh Chương Thiện nhằm mục đích vừa án ngữ không cho “Việt Cộng” bung lên, vừa làm bàn đạp tấn công lấn chiếm, phá rã vùng căn cứ kháng chiến của cách mạng. Năm 1952 - 1953 Nguyễn Văn Tâm thủ tướng bù nhìn của Pháp từng hăm dọa, sẽ đổ dầu đốt cháy U Minh và sau này 1969, 1970, 1971 Nguyễn Văn Thiệu tổng thống tay sai của Mỹ, cũng đã từng tuyên bố đã bình định được 97% lãnh thổ và quyết tâm “Nhổ cỏ U Minh”. Nhưng mọi mưu ma chước quỷ và hành động dã man của địch đều không thể thực hiện thành công trước tinh thần và ý chí kiên cường, bất khuất của quân và dân ta. - Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ (1955 - 1956), cán bộ cách mạng được phân công vào lực lượng võ trang Hòa Hảo, mang danh nghĩa “Lực lượng võ trang giáo phái Hòa Hảo chống Mỹ Diệm” đã chỉ huy đánh nhiều trận chung quanh vùng căn cứ U Minh, gây cho địch nhiều thiệt hại như ở kinh 10, kinh 5, kinh 6 (huyện Thới Bình) trận Giồng Riềng, vườn Cò (Long Mỹ) trận Cây Bàng (xã Vĩnh Hòa - An Biên) 102
  6. huyền thoại u minh Đến tháng 9 - 1957 được liên Tỉnh ủy miền Tây cho phép, tỉnh tập hợp 9 đại đội ngầm để thành lập 2 tiểu đoàn, lấy danh nghĩa “lực lượng giáo phái ly khai chống Mỹ – Diệm” với phiên hiệu: trung đoàn Lê Quang và Ngô Văn Sở Như vậy, năm 1957 các tỉnh thuộc khu Tây Nam Bộ đã có lực lượng võ trang mang danh nghĩa của giáo phái Hòa Hảo ly khai chống Mỹ Diệm (trừ Trà Vinh, đến tháng 4 - 1959) thành lập tiểu đoàn Cửu Long (sau đổi thành là 501A và 501B) từ giữa năm 1959 đến giữa năm 1960, các lực lượng chuyển thành quân giải phóng. Trong suốt những năm kháng chiến chống Mỹ, quân và dân U Minh đã liên tục đánh địch khiến chúng không thể thực hiện được âm mưu tội ác Chiến thắng Xẻo Rô 30 - 10 - 1959, chiến thắng Ngã tư Công sự 13 - 2 - 1960, chiến thắng Kè Một 24 - 8 - 1962, tiêu diệt đồn Kim Quy tháng 7-1963, diệt đồn Nhà Ngang 17 - 10 - 1963 san bằng đồn thứ 9 ngày 16 - 11 - 1963, chiến thắng Vĩnh Thuận. Huyện Sử, Lục Phi tháng 4 - 1964 bức rút chi khu Hiếu Lễ tại thứ 11 ngày 8 - 1 - 1965, chống địch 3 lần hành quân quy mô lớn bình định lấn chiếm vùng căn cứ, chiến thắng thứ II (1969 - 1972); Nhiều trận đánh tàu ở Xẻo Rô, Ba Đình, Sông Cái Lớn, trong đó có chiến công anh Tư Nhà Mới (Nguyễn Văn Tư) đã nói lên điều đó. Nhiều sự kiện lịch sử đã diễn ra ở U Minh Thượng trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước: + Tháng 10/1954, Xứ ủy Nam bộ họp phiên đầu tiên tại Chắc Băng. Hội nghị quyết định đổi tên Phân Liên khu thành Liên Tỉnh ủy và điều chỉnh lại địa bàn cho phù hợp với tình hình nhiệm vụ mới. + Tỉnh Rạch Giá là một trong những tỉnh ở Khu 9 khởi nghĩa vũ trang sớm nhất. Điểm tiến công xảy ra ở vùng U Minh Thượng - chi khu An Biên (Xẻo Rô) vào ngày 30 tháng 10 năm 1959. Nhân cuộc chống càn thắng lợi diệt gần 100 tên ở Đông Sậy (Tân Lộc) ngày 11/11/1959 ta phát động nhân dân ở các xã Biển Bạch, Trí Phải và Tân Lộc nổi dậy diệt ác phá kềm. Năm 1959 - Trường Đảng của Liên Tỉnh ủy miền Tây Nam Bộ đã mở lớp tại rừng U Minh Thượng. + Hưởng ứng cao trào đồng khởi nghĩa do Xứ ủy phát động, đêm 17 rạng 18 tháng 9 năm 1960, tiểu đoàn tỉnh Rạch Giá kỳ tập diệt gọn đồn Kim Quy xã Vân Khánh huyện An Biên. + Cuối tháng 11/1960, tiểu đoàn tỉnh Rạch Giá lại tiêu diệt 2 đồn Cái Bát 103
  7. huyền thoại u minh vị trí một số cơ quan ở căn cứ địa u minh qua các thời kỳ (Nguồn: Phòng KHCN-MT Quân khu 9) 104
  8. huyền thoại u minh 105
  9. huyền thoại u minh và Kim Quy (lần 2), đánh thiệt hại nặng quân viện, giải phóng hoàn toàn xã Vân Khánh. + Đầu tháng 2/1961, lực lượng du kích bao vây đồn Cái Nứa kết hợp binh vận kêu gọi địch đầu hàng, đến đêm 19 rạng 20/2/1961 đồn Cái Nứa bỏ chạy, giải phóng xã Vĩnh Bình. Năm 1960 các cơ quan của liên tỉnh ủy miền Tây Nam Bộ về đóng các xã Ninh Thanh Lợi (Hồng Dân) Lương Tâm (Long Mỹ); Ban tuyên văn giáo Tây Nam Bộ đóng ở xã Vĩnh Thuận - Kinh 11, 13, 14, 1, trong rừng có nhà in, điện đài Minh ngữ. Năm 1961 - Văn phòng Liên Tỉnh ủy đóng vùng ngã 5 Bình Minh - Tuần Thơm. Tháng 5 - 1961: (từ ngày 8 đến ngày 12 – 5 – 1961) Đại hội Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Tây Nam Bộ họp tại một trường tiểu học của xã Biển Bạch. Ngày 12 – 5 - 1961, lễ ra mắt ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng miền Tây Nam Bộ tại xã Biển Bạch. Tại các tỉnh Miền Tây, Mặt trận Dân tộc giải phóng cũng ra mắt sau buổi lễ này. - Sau buổi lễ này, tờ báo Giải phóng miền Tây (ra số đầu tiên) và tờ nhân dân miền Tây ra mắt trong dịp kỷ niệm sinh nhật Hồ Chủ tịch. - Cuối năm 1967 đầu 1968 chuẩn bị cho cuộc tấn công Xuân Mậu Thân 1968 – văn phòng khu ủy Tây Nam Bộ và một số ngành (trong đó có ban tuyên huấn Khu) đã về đóng vùng Cán Gáo, cập theo kinh xáng Thứ 11 - vùng kinh 5 Vận chuyển lương thực vào căn cứ U Minh Thượng ảnh: TL 106
  10. huyền thoại u minh Nhân dân U Minh Thượng biểu tình chống Mỹ trên kênh xáng Xẻo Rô ảnh: TL Đất Sét, kinh 5 Ông Đuôn - vùng Vĩnh Bình - kinh Xáng Cụt - Vĩnh Hòa Hưng. + Đầu năm 1961 tại ấp Bình Minh, xã Vĩnh Bình, huyện Vĩnh Thượng, Liên tỉnh ủy miền Tây triệu tập cuộc họp mở rộng đến các đồng chí Bí thư tỉnh ủy do đồng chí Nguyễn Thành Thơ (Mười Khẩn) làm Bí thư chủ trì. Đồng chí Nguyễn Đệ là cán bộ tập kết vừa từ miền Bắc vào, được mời tham dự Hội nghị. Hội nghị bàn về tiếp tục mở đợt 4 “Đồng Khởi”, chuẩn bị cho đợt 5. Tại Hội nghị, Ban Quân sự liên tỉnh miền Tây được tổ chức, do đồng chí Nguyễn Thành Thơ làm trưởng Ban, đồng chí Nguyễn Đệ làm phó Ban kiêm tham mưu trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Bé (Tám Tùng) phó ban phụ trách chính trị. Tổ chức Ban quân sự này là tiền thân của Bộ Tư lệnh Khu 9 sau này. Sau Hội nghị này, ngày 3/6/1961, 2 tiểu đoàn chủ lực khu được thành lập. Tiểu đoàn 306 và tiểu đoàn 96. + Ngày 24 tháng 5 năm 1962, địch dùng trực thăng đổ quân xuống Lò Rèn đánh lên Kè Một. Tiểu đoàn U Minh 10 vận động tiến công đánh quỵ 1 tiểu đoàn này. Chúng đổ quân thêm một tiểu đoàn khác - Ta chiến đấu suốt ngày diệt gần 300 tên, bắn rơi 2 máy bay lên thẳng. Đây là trận đánh địch đổ quân bằng trực thăng đầu tiên ở U Minh Thượng. + Tháng 4 năm 1964, Quân khu 9 mở chiến dịch quy mô cỡ 2 trung đoàn kết hợp với lực lượng địa phương và du kích tiến công tại khu vực Vĩnh Thuận gây cho địch những thiệt hại năng nề. Sau đó lại tấn công một loạt căn cứ khác của địch, giải phóng một vùng rộng lớn, bao gồm các xã của huyện An Biên nối liền với các xã giải phóng của huyện Vĩnh Thuận và các xã giải phóng huyện 107
  11. huyền thoại u minh Thới Bình, đến U Minh Hạ, tạo thành căn cứ địa rộng lớn của khu Tây Nam bộ. + Ngày 25 tháng 5 năm 1967 nhiều lượt máy bay B52 địch ném bom xuống vùng U Minh Thượng. Sau đó địch cho 1 tiểu đoàn đổ quân lục soát đến chiều địch rút quân. Đây là trận ném bom B52 đầu tiên của địch xuống vùng U Minh Thượng. + Ngày 22 tháng 12/1968, địch tập trung 15 tiểu đoàn cùng lực lượng hạm đội nhỏ trên sông của Mỹ, lực lượng hải quân ngụy tổ chức cuộc hành quân lớn cấp quân đoàn gọi là: “Hành quân thăm dò U Minh” kéo dài 1 tháng. Cuộc hành quân này có máy bay B 52 rải thảm ở hậu kinh 5 (trong rừng) và Mường Đào để yểm trợ cuộc hành quân. + Ngày 2/9/1969 địch tập trung lực lượng gồm sư đoàn 9 bộ binh, Lữ B thủy quân lục chiến, 4 tiểu đoàn biệt động quân, 4 giang đoàn thủy bộ, 3 giang đoàn xung phong, hải đoàn 41 (sông Đốc), hải đoàn Hắc Giang (5 Căn) 3 tiểu đoàn pháo binh, pháo từ hạm đội bắn vào, 2 trung đoàn không quân, có cả máy bay B52 yểm trợ tổ chức cuộc hành quân lấn chiếm U Minh lần thứ nhất. Ngay từ những ngày đầu, các cánh quân của địch đều bị quân và dân U Minh chặn đánh nhiều trận, gây thiệt hại cho địch sau hơn 2 tháng chiến đấu Du kích U Minh Thượng săn máy bay địch ảnh: TL 108
  12. huyền thoại u minh vô cùng anh dũng, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, quân và dân U Minh đã buộc địch phải chấm dứt cuộc hành quân và rút toàn bộ lực lượng ra khỏi U Minh vào ngày 13/11/1969. + Tháng 2/1970, địch huy động lực lượng lấn chiếm U Minh lần thứ 2 với qui mô lớn hơn lần 1. Nhưng cũng như lần 1, chúng cũng bị quân và dân U Minh chặn đánh và tiêu diệt. Đến ngày 12/3/1970 địch buộc phải rút chạy khỏi U Minh. + Đến ngày 12 tháng 3/1970, quân khu sử dụng trung đoàn 2, tiểu đoàn đặc công quân khu đoàn 6 pháo binh tập kích tiêu diệt sở chỉ huy chiến đoàn 33 tại kinh Họa Đồ, buộc địch phải rút chạy, bẻ gãy cuộc hành quân lấn chiếm U Minh lần thứ 2. + Ngày 12 tháng 9 năm 1970, Hội nghị thường vụ Khu ủy và Quân khu ủy tại Xẻo Bần bàn về việc đánh phá bình định, chống địch lấn chiếm, nhất trí chủ trương kiên trì bám trụ, tiêu hao tiêu diệt địch ngăn chặn và từng bước đánh bại âm mưu lấn chiếm U Minh của chúng. + Ngày 1/12/1970, địch sử dụng sư đoàn 21, một bộ phận sư đoàn 9, 1 liên đoàn biệt động quân, Lữ A thủy quân lục chiến, thiết đoàn 9, không quân, hải quân hạm đội trên sông của Mỹ đồng thời điều động quân bảo an từ căn cứ tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh mở cuộc hành quân lấn chiếm U Minh lần thứ 3 và chúng dự kiến tháng 11/1971 sẽ hoàn thành việc chiếm đóng U MInh. + Ngày 01/6/1971 là ngày lễ quân lực “cộng hòa”, Nguyễn Văn Thiệu xuống căn cứ Thứ 11 làm lễ khánh thành chi khu Hiếu Lễ và mừng “chiến thắng” U Minh. Thiệu huênh hoang tuyên bố: Bộ đội chủ lực Việt cộng không còn nữa, chỉ còn 100 du kích ở U Minh Thượng và 100 du kích ở U Minh Hạ, chỉ hoạt động kiểu “du kích” mà thôi. Nhưng chỉ 3 tháng sau đó Bộ Tư lệnh quân khu quyết định mở cuộc phản công đánh quỵ sư đoàn 21. Đến 12/9/1971, đợt phản công ở U Minh Thượng kết thúc, ta đã đánh thiệt hại nặng sư đoàn 21 buộc địch phải hủy bỏ kế hoạch tô dày và lấp kín U Minh, rút bỏ đồn kinh mới, kinh Rạch Cái Tàu. + Trong 3 năm bình định ác liệt của địch từ 1969 - 1971, vùng U Minh Thượng và xã Khánh Lâm, địch giết hại trên 2.000 chiến sĩ và đồng bào ta. + Sang năm 1972, tại U Minh, quân dân ta liên tục tổ chức đánh địch, giải phóng thêm một số xã. + Sang năm 1973 và năm 1974, ta giải phóng phần lớn vùng U Minh Thượng. Cơ quan Bộ Tư lệnh dời lên đóng tại rạch Cái Nứa. Bộ Tham mưu đóng 109
  13. huyền thoại u minh quân tại Rạch Bời Lời. Cục chính trị đóng quân khu vực Bình Minh. Cục Hậu Cần vẫn ở xã Khánh Lâm U Minh Hạ. Vùng U Minh Thượng lúc này có điều kiện thuận lợi để lực lượng địa phương tỉnh, huyện và du kích bao vây tiến công đồn bốt gây cho địch những tổn thất nặng nề và củng cố thế và lực của ta. + Đêm 16 rạng ngày 17/2/1974 quân ta diệt căn cứ Kinh Chín Biển Bạch, bức rút 3 đồn kinh 10 Rừng, kinh Năm Đuông và kinh Kiểm Lâm; ta thừa thắng bức rút luôn căn cứ Tám Ngàn. + Đêm 16 rạng ngày 17/2/1974 quân ta bức rút đồn Xẻo Cạn Ngọn. + Đầu tháng 4/1974 địch tổ chức hành quân hỗn hợp bộ binh - cơ giới, hải quân để giải tỏa và nối lại trục sông Cái Lớn bị quân ta chặn đánh và tiêu diệt; thừa thắng lực lượng huyện và du kích được tăng cường hỏa lực mở hết đồn bót từ Xép Ba Tàu đến Xẻo Rô. + Từ ngày 8 đến ngày 11 tháng 7 năm 1974, quân dân ta phối hợp tiến công đoạn từ Xẻo Rô đến vàm sông Cái Lớn đánh thiệt hại nặng căn cứ Xẻo Rô, bức rút đồn cuối cùng ở xã Tây Yên. + Đêm 13 rạng ngày 14/7/1974, ta diệt cụm đồn tế xã Đông Thái, bức chạy 1 loạt đồn khác. Tiếp theo ngày 15 tháng 7, quân ta diệt cụm đồn tế xã Đông Thạnh. Sáng ngày 19/7, quân ta tiếp tục đánh địch giải phóng 1 đoạn kinh xáng Xẻo Rô, giải phóng 3 xã Đông Thái, Đông Hòa, Tây Yên. Chiến dịch mùa khô 1974 - 1975 mở màn vào ngày 6/12/1974 đến ngày 10/1/1975, ta đã giải phóng xã Biển Bạch, xã Trí Phải; giải phóng phần lớn kinh xáng Xẻo Rô; giải phóng 1 đoạn kinh xáng Vĩnh Thuận dài 11 km. + Ngày 14 tháng 2 năm 1975, Thường vụ khu ủy và quân khu ủy tổ chức Hội nghị tại Cái Nứa. Hội nghị đánh giá thắng lợi đợt 1 và quyết định tập trung lực lượng đánh một số trận tương đối lớn, diệt cứ điểm lớn, chủ yếu diệt cho được quân cơ động đi giải tỏa, tạo điều kiện giải phóng triệt để không cho địch tái chiếm. Đây là Hội nghị cuối cùng của cấp lãnh đạo khu ủy và quân khu trên đất vùng U Minh Thượng cho đến ngày giải phóng hoàn toàn. - ấp Bời Lời A Cái Nứa xã Vĩnh Bình Nam từng là căn cứ của Bộ Tư lệnh QK9, hậu cần quân khu; là nơi tập kết cuối cùng của đường vận chuyển chiến lược 1C. - Khu vực phía trong đê rừng thuộc xã Minh Thuận ngày nay đã có Bộ Tư lệnh Quân khu và nhiều cơ quan ở. 110
  14. huyền thoại u minh - ấp Đòng Tranh, Tân Bình, Kè Một, Nước Chảy xã Vĩnh Bình Bắc có nhiêuều cơ quan của tỉnh Rạch Giá lập căn cứ như: UBND cách mạng tỉnh, Ban An ninh, Ban Tuyên huấn tỉnh, Đoàn văn công, Tỉnh Đoàn, Phụ nữ tỉnh - Khu ủy và Tỉnh ủy Rạch giá từng đóng tại ấp Khâm, Vĩnh Tiến xã Vĩnh Hòa. Cơ quan Tỉnh ủy nhiều năm ở Xẻo Gia xã Vĩnh Bình Bắc và ở Vĩnh Tiến xã Việt Hòa. - Xã Vĩnh Thuận có cơ quan Hậu cần Quân khu đóng ở Kinh Năm; quận y ở Kinh Hai; Ban Tuyên huấn khu thành lập ở Sáu Ngàn Kinh 13. Trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, rồi chống đế quốc Mỹ, quân và dân U Minh Thượng nêu cao ý chí cách mạng, tinh thần bất khuất, kiên trung, đã bám trụ kiên cường, vừa sản xuất, vừa chiến đấu, vượt qua vô vàn những thử thách khốc liệt để đi đến ngày chiến thắng, cùng đồng bào chiến sĩ cả nước giành chiến thắng U Minh Thượng mãi mãi là biểu tượng của chủ nghĩa Anh hùng cách mạng, luôn xứng đáng với niềm tin yêu, sự ngưỡng mộ của đồng bào, đồng chí cả nước. Cao Hà 111
  15. huyền thoại u minh U Minh THƯợNG Với CUộC CHIếN TRANH NHÂN DÂN TIÊU BIểU, ĐA DạNG Và HIệU QUả rong cuộc đọ sức cam go, quyết liệt với kẻ thù tàn bạo, lắm quân Tnhiều súng, quân và dân U Minh Thượng, bằng lòng yêu nước nồng nàn và căm thù giặc sâu sắc, đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng, chủ động, sáng tạo, mưu trí thực hiện cuộc chiến tranh nhân dân vô cùng phong phú, đa dạng và hiệu quả, khiến kẻ thù dù có trăm phương ngàn kể, vẫn phải hứng chịu thất bại cay đắng. Trong quá trình đó, nhiều hình thức chiến đấu, nhiều cách đánh địch, nhiều biện pháp đấu tranh đã được quân và dân U Minh Thượng thực hiện, góp phần vào chiến thắng vẻ vang. * Đắp cản rào sông bảo vệ căn cứ u minh Trên vùng sông nước miền Tây Nam bộ và U Minh Thượng, bất chấp sự tàn bạo của giặc, đồng bào ta đã bằng nhiều hình thức, nhiều cách đấu tranh và nhiều cách đánh sáng tạo, gây cho địch những thiệt hại ngày càng lớn, tạo nên một cuộc chiến tranh nhân dân đa dạng, hiệu quả. Đắp cản rào sông chặn địch, bảo vệ căn cứ cách mạng là một trong những cách làm như vậy. Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, quân và dân U Minh Thượng và các vùng lân cận đã từng làm gián đoạn, tê liệt các con đường giao thông bộ từ Rạch Giá đi Hà Tiên; Rạch Giá, Bến Nhứt đi Ngang Dừa; Rạch 112
  16. huyền thoại u minh Dựng cản trên sông chặn tàu địch tiến công vào căn cứ địa U Minh ảnh: TL Giá đi Xẻo Rô, An Biên, Thứ Chín, Thứ Mười Một, Phước Long, Vĩnh Phú, Ngã Năm, Long Mỹ (thời đó huyện Long Mỹ - Hồng Dân còn thuộc tỉnh Rạch Giá). Tuyến Đập Đá, Vĩnh Thuận, kinh Xáng Chắc Băng cũng bị ta chặt phá từng đoạn ; vô hiệu hóa giao thông bộ, bức rút nhiều đồn, bót, trạm, thị trấn thị tứ, khu dồn dân, những nơi không có đừơng bộ không thể tồn tại được. Cũng nhờ đó mà U Minh Thượng, U Minh Hạ thoát khởi sự kìm toả thường trực của quân thù cho mãi về sau. Bị vô hiệu hóa các tuyến giao thông đường bộ, quân Pháp tăng cường phương tiện hoạt động đường thủy. (Tây Nam bộ vốn là địa hình chằng chịt những sông ngòi, kinh rạch dày đặc như mạng nhện). Nhưng quân và dân ta lại chuyển hướng cho 3 thứ quân (du kích quân, địa phương quân, chủ lực quân) nghiên cứu cách chặn đánh tàu địch hoạt động trên sông nước mà một trong những trận đánh lẫy lừng nhất thời đó là trận thắng trên sông Ba Đình nhấn chìm tàu giặc. Phong trào Đắp cản, Rào sông chặn đường hành quân của giặc vào xóm làng đốt phá, chém giết dân lành đã phát triển mạnh ở nhiều địa phương. Bọn giặc cũng bằng mọi cách chống lại các hoạt động của ta. Các trạm gác, đồn bốt được dựng lên khắp các tuyến sông ngòi dẫn vào vùng giải phóng và chiến khu của ta. Lực lượng của chúng khi đó còn rất mạnh. Quân dân ta cũng dùng mọi biện pháp ngăn chặn, làm chậm bước hành quân của chúng để ta có đủ thời gian đối phó hoặc là rút lui an toàn Đồng bào, chiến sĩ ta đã tích cực làm các Cản đất và Cản cây trên các kinh rạch để ngăn địch. Cản trên sông được nhân dân tạo nên rất phong phú về qui mô và hình thức, 113
  17. huyền thoại u minh được thực hiện tùy theo yêu cầu thực tiễn sử dụng tại thời điểm đó và địa bàn đó. Tỉnh Rạch Giá cũ nay là tỉnh Kiên Giang có hai con sông, sông Cái Lớn và sông Cái Bé chảy qua. Tất cả những sông, rạch (trời sinh) mương đào, xáng múc, xáng thổi (nhân tạo) đều có nguồn xa gần ăn thông với 2 con sông này. Và tất cả các đường thủy mà tàu giặc có thể vào vùng giải phóng hay căn cứ U Minh đều bị quân dân miền Tây làm các loại cản chặn lại. Giao thông đường bộ bị ta phá hoại, giao thông đường thủy bị ta rào, càng hạn chế tối đa những cuộc hành quân càn quét đẫm máu của quân địch. Vùng giải phóng của ta được mở rộng 3 bên, 4 bề, ta làm chủ cả U Minh Thượng và U Minh Hạ. Nhiều khi quân ta hoạt động sát nách kẻ thù. Quân giặc chỉ co cụm ở các tỉnh lỵ, chúng chỉ kiểm soát được ban ngày, ban đêm là của Việt Minh. Nhiều khi chỉ bằng phương tiện đi lại thô sơ như: xuồng 2 chèo, xuồng 4 chèo, mui là hai tấm rèm hình chữ nhật kết lại từ lá dừa nước (Trời mát thì xếp lại, trời nắng hay mưa thì dựng lên, 2 miếng rèm đầu chụm lại như nóc nhà hình tam giác) mà ta đã tổ chức vận chuyển vũ khí, lương thực, cán bộ trong vùng phục vụ cho cuộc kháng chiến. Nhiều khi biết ở chỗ này, chỗ kia quân ta đang hiện diện và hoạt động mạnh, nhưng địch lại không thể làm gì được, bởi địch kéo quân vào từ Rạch Giá thì bị cản Trèm Trẹm chặn lại; Hành quân từ thị xã Bạc Liêu thì đụng ngay cản Vĩnh Hưng; Từ Long Mỹ qua thì vấp vô số cản như: cản Cao Hột lớn, Cao Hột bé. Trên thực tế bằng cách giản đơn nhất, đắp cản, rào sông, nhân dân Tây Nam bộ đã chọn cho mình một kiểu chống giặc rất hữu hiệu. Cản đất, cản cây và nhiều hình thức rào, cản đơn giản khác làm chậm bước hành quân của địch, đó là sự sáng tạo, là cách đánh giặc rất “Việt Nam”. Qua đó cho ta thấy sức sáng tạo to lớn của nhân dân trong cuộc “Chiến tranh nhân dân” ở nước ta nói chung và ở miền Tây Nam bộ nói riêng. * Xây dựng xã ấp chiến đấu bảo vệ căn cứ u minh thượng Nhiệm vụ bảo về căn cứ địa cách mạng, chống địch càn quét lấn chiếm là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng bộ và quân dân trong vùng căn cứ U Minh Thượng. Từ khi U Minh Thượng trở thành căn cứ địa cách mạng, thành vùng giải phóng, quân dân U Minh Thượng đã tích cực xây dựng xã ấp chiến đấu, phòng 114
  18. huyền thoại u minh Bia ghi dấu tội ác quân xâm lược Mỹ tại ấp Kinh Làng Đông Thái (8/1968) gian bảo mật chống địch càn quét, lấn chiếm, chống bọn do thám, gián điệp bảo vệ căn cứ U Minh Thượng. Trong 2 cuộc kháng chiến, trên địa bàn U Minh Thượng có các xã Đông Yên, Tây Yên, Đông Thái, Đông Hòa, Đông Hưng, Vân Khánh thuộc huyện An Biên và Vĩnh Thuận, Vĩnh Phong, Vĩnh Hòa, Vĩnh Bình Bắc, Vĩnh Bình Nam thuộc huyện Vĩnh Thuận. Vào những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, việc chống địch hành quân và càn quét được thể hiến rõ nét nhất bằng các công trình đắp cản. Các cản trên tuyến xáng Xẻo Rô, Chắc Băng, sông Ba Đình đã góp phần rất lớn trong việc bảo vệ căn cứ U Minh Thượng. Đến giai đoạn kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, căn cứ vào tình hình cụ thể việc xây dựng xã ấp chiến đấu được hết sức coi trọng và diễn ra rất phong phú, sinh động, tạo nên và rất có hiệu quả trong việc ngăn chặn, làm chậm bước tiến hành quân và góp phần tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch để bảo vệ căn cứ địa cách mạng. Đầu năm 1961, Tỉnh ủy Rạch Giá chủ trương: “Tích cực xây dựng xã ấp chiến đấu, bảo vệ và xây dựng vùng giải phóng về mọi mặt (1). Vì vậy, công tác xây dựng xã ấp chiến đấu trong rừng U Minh Thượng thật sự diễn ra từ năm 1961. Sau cao trào đồng khởi của quân dân miền Nam và các đợt liên tục tấn công, nổi dậy của quân dân U Minh Thượng, xã Vân Khánh hoàn toàn giải phóng, các xã Vĩnh Hòa, Vĩnh Bình (cả Vĩnh Bình Bắc và Vĩnh Bình Nam) giải (1) Theo Kiên Giang 30 năm chiến tranh giải phóng 115
  19. huyền thoại u minh phóng cơ bản, xã Vĩnh Phong làm chủ 4/7 ấp, các xã Đông Yên, Đông Thái, Đông Hưng, Vĩnh Thuận phá tan từng mảng khu dồn dân để đua dân về vườn đất cũ. Rừng U Minh Thượng và vùng ven rừng thông ra sông Cái Lớn, ra biển đã hình thành vùng giải phóng rất rõ ràng. Cũng từ đó, U Minh Thượng thật sự trở thành một căn cứ lớn của khu 9. Trong giai đoạn này, Huyện ủy An Biên (lúc này chưa có huyện Vĩnh Thuận) và Chi bộ các xã tích cực thực hiện xây dựng “xã ấp chiến đấu”, bảo vệ địa phương của mình góp phần bảo vệ căn cứ U Minh. Trong giai đoạn ban đầu, nhân dân các ấp giải phóng làm chông tre, chông cau, chông đinh cài cắm trên các con đường mà địch có thể hành quân vào xóm ấp, lập các hầm chông, gài lựu đạn v.v vừa chống địch hành quân càn quét, đồng thời cũng tạo điều kiện để du kích tấn công địch. Cẩm nang của binh sĩ ngụy phát hành vào đầu những năm năm 60 đã hết sức chú ý cảnh giác về chông và lựu đạn gài, chúng cho rằng bất cứ ở đâu, địa hình nào cũng đều có thể có các vật nguy hiểm này. Những phương tiện, vũ khí thô sơ của nhân dân U Minh Thượng trong phong trào xã ấp chiến đấu đã góp phần rất lớn trong việc bảo vệ khu căn cứ. Các cơ quan của tỉnh và khu cũng dựa vào các xã ấp chiến đấu mà hoạt động. Cuối năm 1961, đầu năm 1962, địch quyết liệt gom dân lập ấp chiến lược. Chúng coi ấp chiến lược như là một loại ấp chiến đấu, chống sự xâm nhập của cộng sản. Nhưng các ấp chiến lược ấy dù chưa bị phá tan thì vẫn không thể nào ngăn chặn nổi các hoạt động cách mạng. Còn các xã ấp chiến đấu của ta lại là tử địa của bọn lính “Quốc gia”. Ta và địch giành đi, giật lại từng xóm ấp trong vùng căn cứ U Minh Thượng, có lúc địch đánh mạnh, đóng đồn bót dày dặc, mỗi xã có 5, 7 đồn, Chúng tưởng như thế là đ㠓Bình định được U Minh”. Những nơi không có đồn bót, chúng dùng bom đạn cùng các chiến thuật trực thăng, thiết xa làm cho người dân không thể sinh sống được. Có những con kinh chúng đổ hàng tiểu đoàn quân chà xát mỗi ngày 2 đợt, bắn giết tất cả các sinh vật mà chúng bắt gặp, ác liệt nhất là trong thời gian từ sau Tết Mậu Thân đến năm 1972. Nhưng, dù cho địch có sử dụng sức mạnh của vũ khí phương tiện chiến tranh và thủ đoạn tàn độc đánh phá U Minh, dù có đóng nhiều căn cứ quân sự và dồn bót, phong trào cách mạng ở U Minh Thượng vẫn tồn tại, phát triển và vẫn luôn là một căn cứ địa cách mạng vững chắc. 116
  20. huyền thoại u minh Quân dân U Minh Thượng xây dựng xã ấp chiến đấu ngay cạnh đồn bót giặc, bãi chông, bãi lửa, mìn bẩy, lựu đạn gài bố trí thành một trận địa thiên la địa võng, bất cứ lúc nào địch đi càn quét đều có thể vướng phải, du kích ở sát đồn địch sẵn sàng tiêu diệt kẻ thù. Chính vì thế, rất nhiều đồn bốt của địch ở U Minh Thượng bị vô hiệu hóa; chỉ có những đồn quanh chi khu, căn cứ quân sự của địch là còn ngoan cố. Song song với việc bố trí các cạm bẫy, các xã trong U Minh Thượng trồng cây tạo địa hình để bộ đội và du kích dựa vào đánh giặc. Để chống trực thăng đổ quân, nhân dân cắm cọc tràm trên đồng trống, giăng dây chì, dây chuối. Việc làm tưởng chừng như hết sức thô sơ này lại làm cho trực thăng không dám đáp xuống, mỗi lần đổ quân phải dọn bãi ngoài xa, đủ thì giờ cho quân dân ta chuẩn bi trận địa chống càn. Để chống xe thiết giáp M113, quân dân ta đào hào, đắp đê cao, phía trên trồng cây làm cho xe bánh xích không thể trèo qua được. Phía sau đê là chiến hào và trận địa đánh giặc. Chính nhờ đó mà chiến thuật thiết xa vận không thể phát huy tác dụng ở U Minh Thượng. Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Rạch Giá, phong trào xây dựng xã ấp chiến đấu bảo vệ căn cứ địa cách mạng phát triển đều khắp, được nhân dân các xã ấp tích cực tham gia. Mỗi địa phương đều có sự sáng tạo riêng của mình để chống địch càn quét, góp phần tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch. Chính vì thế, có những khu vực được coi như cấm địa đối với địch như Cái Nhum xã Vĩnh Phong, Bời Lời xã Vĩnh Bình, xã Vân Khánh, ấp 15 xã Đông Hưng Xã ấp chiến đấu ở U Minh Thượng không có hàng rào thép gai, không có tháp canh, lô cốt Nhưng mỗi bụi tre, gốc cây, bụi cỏ, thậm chí cả đồng trống đều là pháo đài chống giặc làm cho cả phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ- ngụy khó thể vượt qua mà không bị thiệt hại. Trong việc bảo vệ căn cứ U Minh, phong trào xây dựng xã ấp chiến đấu đã góp phần công sức hết sức quan trọng. Yếu tố địa lợi và nhân hòa đã kết hợp một cách nhuần nhuyễn thể hiện qua phong trào xây dựng xã ấp chiến đấu. * Phong trào PHá ấp CHIếN LượC ở U MINH thượng TRONG kháng CHIếN CHốNG Mỹ Có thể nói ở U Minh Thượng và nhiều vùng đất khác ở Nam bộ trong thời kỳ Mỹ - Ngụy cai trị, chiếm đóng, để tiêu diệt lực lượng cách mạng của ta, một trong những thủ đoạn hết sức thâm hiểm của địch là thực hiện chiến thuật “tát 117
  21. huyền thoại u minh nước bắt cᔠmà tiêu biểu là kế hoạch xây dựng hệ thống ấp chiến lược của chúng nhằm dồn dân tập trung để tách khỏi các cán bộ cách mạng; làm như vậy kẻ địch cho rằng cán bộ cách mạng không còn nơi nương tựa, phát triển và dễ dàng bị tiêu diệt. Ngay từ năm 1962, Ngô Đình Diệm thực hiện theo kế hoạch Stalây-Tâylor của Mỹ, tổ chức phản kích lại ở vùng U Minh Thượng. Theo đó, trên địa bàn U Minh, địch ra sức tô dày đồn bót, chúng thẳng tay ruồng bố gom tát nhân dân ra chung quanh các cụm đồn bót, thành lập những ấp chiến lược, khu dồn dân. Để đối phó với âm mưu thâm độc của địch, Khu ủy chủ trương phải phá bằng được kế hoạch ấp chiến lược của địch trên địa bàn khu 9, trong đó có vùng U Minh Thượng. Nhân dân U Minh Thượng dưới sự lãnh đạo của Đảng đã quyết tâm chống lại kế hoạch gom dân của địch, duy trì và mở rộng phong trào cách mạng. Đồng bào tìm mọi cách đấu tranh chống địch dồn dân lập ấp. Cùng với đó là phong trào đấu tranh chống địch lấn chiếm, đào đê quốc phòng bao giữ chân rừng, ngăn mặn vách biển, bảo vệ sản xuất và khai thông hành lang tiểu thủy để thuận lợi cho công việc vận chuyển phục vụ kháng chiến. Nhờ vậy mà cùng với thời gian bình định của địch, đến cuối năm 1964, nhân dân U Minh đã hoàn thành 4 tuyến đê và kinh có chiều dài tất cả trên 140 km. Hai năm chống kế hoạch bình định của địch là 2 năm đấu tranh quyết liệt, giằng co từng tấc đất, diễn ra từng ngày với địch và không ít đồng bào đồng chí đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng. Tự tạo vũ khí thô sơ trong kháng chiến chống Mỹ ảnh: TL 118
  22. huyền thoại u minh Địch tàn phá xóm làng, du kích cùng nhân dân thu dọn nhà cửa, bám trụ đánh địch ở U Minh Thượng ảnh: TL Đến đầu năm 1964, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân U Minh thừa thắng xông lên phá lỏng và phá rã kế hoạch tái lập ấp chiến lược của địch, giải phóng hầu hết khu căn cứ cách mạng U Minh Thượng. Trong cuộc đấu tranh ác liệt đó, nhân dân U Minh đã tỏ rõ lòng yêu nước, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng vẻ vang. Không phân biệt trai - gái, già - trẻ, ai cũng hăng hái tham gia Chẳng hạn, để cô lập chi khu Hiếu Lễ, nhân dân U Minh với sự chỉ đạo của cấp trên đã hăng hái tham gia xây dựng chướng ngại vật nhiều nơi, hàn cản nhiều con kinh lưu thông; du kích chặn bắn máy bay cắt các tuyến tiếp tế, tiếp viện từ xa đồng thời rút dân lâu nay bị địch tập trung ra khỏi vùng kềm của chúng, đưa lực lượng binh vận và chính trị tiếp cận tấn công, tranh thủ phân hóa địch. Từng đợt bao vây đánh lấn với chiến thuật “chặt rễ bứng gốc” được nhân dân U Minh sáng tạo thực hiện với ba mũi giáp công toàn diện. Phương châm bao vây đánh lấn của nhân dân U Minh trên cơ bản là những mũi vũ trang đánh sâu, đánh mạnh và có một lực lượng trợ chiến hùng hậu, có hậu cần tốt, dai sức, vững chắc; Bao vây phải kiên trì, làm cho giặc bí thế; đánh lấn phải cho giặc bỏ chạy; phải nắm vững tình hình địch sắp tháo chạy để ta phục kích tiêu diệt. Trong suốt hai năm chống bình định của địch, nhân dân U Minh đã mở nhiều đợt tấn công địch ráo riết; bóc gỡ thêm nhiều đồn bốt, làm chủ tuyến kinh xáng Xẻo Rô từ Thứ Năm đến Thứ Mười Một, từ Cán Gáo đến Thới Bình; Cô lập 119
  23. huyền thoại u minh hoàn toàn chi khu Hiếu Lễ; Cuối cùng chúng phải rút bỏ chi khu Hiếu Lễ. Như vậy, sau hơn hai năm đọ sức với kế hoạch gom dân lập ấp chiến lược của địch, nhân dân U Minh Thượng đã giải phóng hoàn toàn các xã Vân Khánh, Đông Hưng, Đông Thạnh, Đông Hòa, Đông Thái, Vĩnh Bình, Tân Băng, Vĩnh Hòa và giải phóng cơ bản các xã Vĩnh Thuận, Đông Yên, Vĩnh Phong, Tây Yên, tạo nên một vùng giải phóng có chiều dài 40 km, ngang 30 km, diện tích 1.200 km2, có trên 30.000 dân thoát khỏi ách kìm kẹp của địch, 466 gia đình trở về ruộng vườn cũ làm ăn Thắng lợi đó là vô cùng to lớn. Trong phong trào phá ấp chiến lược ở U Minh Thượng, có 4 trận đánh lớn tiêu biểu và cũng nhờ 4 trận đánh này mà ấp chiến lược mới bị phá và không bị địch lấy lại. Đó là, trận Vĩnh Thuận (3/1964); trận Sông Trẹm; trận An Biên (6/1964 - 6/1965) và trận sau Mậu Thận 1968. + Trận Vĩnh Thuận (tháng 3/1964): Đây là một chi khu lớn của địch, ta phải tập trung một lực lượng lớn để đánh. Sau khi phá xong Vĩnh Thuận, quân ta còn trụ lại các vùng xung quanh để vừa đánh quân tiếp viện của địch, vừa hỗ trợ đồng bào phá các ấp chiến lược do địch dày công dựng lên. + Trận Sông Trẹm (tháng 6/1964): Đây cũng là một căn cứ có quy mô rất lớn, nó còn là một cứ điểm cắt ngang U Minh Thượng và U Minh Hạ. Quân ta đã tổ chức tấn công, tiêu diệt hơn 1 tiểu đoàn địch, giải phóng khu vực rộng lớn và hỗ trợ nhân dân phá tan các ấp chiến lược trong vùng. + Trận đánh An Biên (tháng 6/1964 đến tháng 6/1965): Đây là một tuyến mà địch xây dựng dày đặc các ấp chiến lược chạy dài từ Xẻo Rô tới Sông Trẹm; hàng chục xã bị địch gom dân. Ta vừa kết hợp phát động quần chúng, vừa tổ chức lực lượng bao vây, đánh lấn dần dần mới đánh dứt điểm tiêu diệt căn cứ địch. + Sau trận Mậu Thân 1968: Đây là đợt địch tổ chức lực lượng lớn để chiếm lại U Minh Thượng với nhiều mũi tiến quân có đủ các binh chủng phối hợp. Nhưng quân ta cũng không hề bị động, với kế hoạch “tốc chiến, tốc thắng”, đã tấn công địch ngay từ khi chúng vừa đổ quân tới. Chỉ 3 ngày đêm đầu chiến đấu, ta đã tiêu diệt 300 tên địch, bắn cháy và chiếm hàng trăm tàu giặc Và trận đánh lớn ấy đã buộc địch phải rút chạy; Phong trào phá ấp chiến lược đã hoàn toàn thắng lợi. Thành tích chống gom dân và đánh phá ấp chiến lược của nhân dân U Minh Thượng đã được tỉnh Rạch Giá báo cáo điển hình toàn Khu 9 và có sức cổ vũ, đóng góp kinh nghiệm cho phong trào chống gom dân, đánh phá ấp chiến lược 120
  24. huyền thoại u minh của địch trên toàn miền Nam và góp phần tích cực cùng toàn dân đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của địch ở miền Nam. * Binh vận kết hợp diệt ác phá kềm Những năm 1956-1960 có thể coi là thời kỳ đen tối nhất, cam go nhất đối với cách mạng ở U Minh. Mỹ - Ngụy với âm mưu triệt tận gốc các mầm mống cách mạng đã không từ một thủ đoạn tàn bạo nào để đánh phá U Minh. Chúng khẩn trương quân sự hóa bộ máy ngụy quyền; xua quân địa phương đi càn, cùng với quân chủ lực liên tiếp ruồng bố sâu vào vùng căn cứ cách mạng hòng tiêu diệt các cơ quan đầu não của Đảng. Chúng ráo riết bắt lính, bắt xâu, đốt nhà, cào nhà, lùa dân vào khu tập trung hòng cắt đứt mọi liên hệ của tổ chức cách mạng với quần chúng. Không chỉ khống chế gắt gao các gia đình có liên quan tới cách mạng, địch còn bắt ép vợ con cán bộ lấy bọn ác ôn, sĩ quan, công chức hòng bôi đen gia đình cách mạng và ly gián nội bộ quần chúng Âm mưu của địch vô cùng thâm độc. Trước những thử thách vô cùng nghiêm trọng đó, tổ chức Đảng và các tổ chức cách mạng vẫn kiên quyết bám dân, bám địa bàn bất chấp mọi hiểm nguy, tìm mọi cách để giữ phong trào. Một trong những biện pháp cấp bách lúc đó là phải trừng trị những tên ác ôn đầu sỏ để bảo toàn lực lượng cách mạng và tạo lòng tin ở quần chúng; đồng thời đẩy mạnh phá kềm, làm thất bại âm mưu của địch. Phương châm đề ra là diệt ác phải đúng người, đúng tội, đúng yêu cầu trấn áp phản động, đưa khí thế phong trào cách mạng quần chúng lên. Xuất phát từ những yêu cầu ấy, công tác binh vận có vai trò rất quan trọng và phải hỗ trợ tích cực cho chủ trương diệt ác. Thực hiện chủ trương đó, quân và dân U Minh đã tổ chức 3 mũi giáp công và đây cũng là biện pháp tối ưu đưa phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng lên cao. Trong một thời gian không dài, nhiều tên sĩ quan, tề nguỵ nổi tiếng ác ôn ở U Minh liên tiếp bị trừng trị. Kiên trì đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang và làm công tác binh vận, quân và dân U Minh đã từng bước làm rệu rã và làm thất bại những âm mưu đen tối của địch, bảo vệ được cơ sở cách mạng Không chỉ tích cực vận động binh lính ngụy, xây dựng cơ sở nội tuyến, Công tác binh vận ở U Minh còn vận dụng sáng tạo nhiều kiểu tấn công địch cho 121
  25. huyền thoại u minh phù hợp với hoàn cảnh lúc ấy. Những đợt người dân chạy vào vùng kềm, ta xây dựng quần chúng lúc vào vùng địch, khi phát hiện địch chuẩn bị càn quét, đổ quân liền tìm cách truyền tin cho cách mạng, loan tin chiến thắng của giải phóng, gây hoang mang trong binh sĩ địch, nắm tình hình tư tưởng của tổ chức địch, tuyên truyền giáo dục binh sĩ, bắt mối với gia đình binh sĩ xây dựng cơ sở Trong cuộc đấu tranh cam go, quyết liệt ấy, đã xuất hiện nhiều tấm gương dũng cảm, kiên trung, làm xúc động lòng người. Đồng chí Danh Phước là tiểu đội trưởng đồn Thứ 11, đảng viên phụ trách nhóm cơ sở nội tuyến trong đơn vị này là một trong số những người như vậy. Một hôm có hai đồng chí chi ủy viên và một cán bộ của ta bị bắt, giặc giam ba đồng chí tại đồn, Danh Phước tìm cách giải thoát. Thời cơ giải thoát chỉ là ngay trong đêm, nếu để trễ hôm sau, địch sẽ giết mất 3 đồng chí. Đêm ấy có đoàn cải lương đến biểu diễn tại chợ, binh sĩ kéo nhau đi xem hát. Danh Phước đã vào mở khám thả 3 đồng chí rồi vác theo 6 khẩu súng xuống mé kinh. 3 đồng chí trốn đi an toàn. Phước quay lại tháo thêm cây súng cối 81 ly với ý định cùng chở đi luôn. Nhưng anh bị lộ và bị địch bắt lại. Hôm sau, giặc đem Danh Phước ra xử bắn tại Thứ 11. Chúng bảo anh là kẻ phản bội, Danh Phước thét vào mặt tên đại úy: “Mày mới là kẻ phản bội, trước đây mày cũng là cán bộ của Đảng nay mày phản Đảng, phản dân. Tao vì Đảng, vì dân vào đây để tiêu diệt bọn mày, sao gọi là phản bội?”. Tiếng thét của Danh Phước làm xúc động mãnh liệt đồng bào Thứ 11 và cũng là nguồn cổ vũ cho anh em còn lại cố gắng làm tròn nhiệm vụ. Còn nhiều tấm gương và hành động dũng cảm, mưu trí khác nữa góp phần vào thắng lợi của cuộc chiến đấu. Trong tiền cứ của địch tại vườn Hai Tu, xã Đông Thái có hai anh em Sơn và Quang là 2 cơ sở nội tuyến của ta. Hai người này đã giáo dục vận động thêm được 3 người lính khác cùng tham gia công việc. Sơn và Quang lại là bạn với tên đại úy Trần Văn Được, chỉ huy tiền cứ này. Thực hiện kế hoạch của cấp trên từ bên ngoài giao cho, anh em Sơn và Quang thống nhất đưa hai chị em Lê Thị Cúc và Lê Thị Phượng Liên giả làm người yêu của hai người tới làm mật giao liên thực hiện kế hoạch trận đánh. Công việc trót lọt, các thông tin từ bên trong được thường xuyên truyền ra ngoài cho cơ sở của ta. Rồi khi đã nắm được phiên canh của mình chắc chắn, Sơn liền thông báo cho các đồng chí bên ngoài. Đúng 11 giờ đêm ngày 21/4/1972, lực lượng bên ngoài nhập cùng bên trong nổ súng. Trận đánh kéo dài đến 4 giờ sáng ngày 22/4/1972, ta hoàn toàn làm chủ tiền cứ tiểu đoàn bảo an Thần Hổ ở 122
  26. huyền thoại u minh vườn Hai Tu sau khi đã tiêu diệt trên 100 tên địch, bắt sống 62 tên, thu toàn bộ vũ khí, 6 máy PRC.25 Đó là một trong số nhiều trận đánh mà công tác binh vận, nội tuyến đã có đóng góp quan trọng tạo nên thắng lợi. Từ những thắng lợi trên, tình hình phân hóa, chuyển biến chính trị trong nguỵ quân, nguỵ quyền tiếp tục có những thay đổi theo hướng bất lợi cho địch. Binh lính ngụy quay súng, bỏ ngũ và đồng tình ủng hộ các cuộc đấu tranh của quần chúng ngày càng nhiều. Trong nhiều giai đoạn, công tác nội tuyến trở thành khâu then chốt trong các mặt công tác binh vận, tạo điều kiện cho nhiều nơi khởi nghĩa, làm binh biến cướp đồn, diệt đơn vị địch góp phần vào thắng lợi chung. Hồng Hạnh 123
  27. huyền thoại u minh căn cứ U Minh Thượng và vùng đất vĩnh thuận trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc gay từ năm 1940 do tình hình và yêu cầu của cách mạng, Vĩnh Thuận đã trở Nthành căn cứ địa của Liên tỉnh Miền Tây (Hậu Giang) - Năm 1941, Tỉnh ủy Rạch Giá được thành lập. Liên tỉnh ủy Hậu Giang và tỉnh ủy Rạch Giá đã chọn rừng U Minh làm căn cứ địa cách mạng. Các xã Vĩnh Phong, Vĩnh Thuận, Vĩnh Bình, Vĩnh Hòa trở thành hành lang bảo vệ căn cứ U Minh. Như vậy, rừng U Minh và các xã thuộc huyện Vĩnh Thuận đã trở thành căn cứ địa cách mạng của tỉnh Rạch Giá và của cả Liên tỉnh Miền Tây, Khu 9. Tại sao U Minh Thượng trở thành căn cứ địa cách mạng trong suốt hai cuộc kháng chiến, kể cả giai đoạn tiền khởi nghĩa? Sau khi thực dân Pháp tái chiếm Nam Bộ, U Minh Thượng là một căn cứ mà các lực lượng quân sự và chính trị các tỉnh miền Tây rút về để củng cố lực lượng chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới. Chính tại đây vào ngày 13/6/1946, quân dân ta đã lập nên chiến công vang dội diệt hàng trăm tên giặc tại Cây Bàng xã Vĩnh Hòa. Ngày 5/10/1947 quân ta lại dùng thủy lôi dánh chìm 2tàu sắt LCS của Pháp tại sông Ba Đình ngay vàm Cái Nứa, diệt trên 60 tên, bẻ gãy cuộc hành quân giải vây đồn Chắc Băng. Chiến thắng này có ý nghĩa rất quan trọng góp phần buộc quân Pháp rút chạy một số đồn, ta giải phóng một vùng rộng trên tuyến sông này. 124
  28. huyền thoại u minh Bàu Môn ghi dấu chiến công (3/1954) Đến tháng 10 năm 1947, các xã Vĩnh Phong, Vĩnh Thuận, Vĩnh Bình, Vĩnh Hòa đã trở thành vùng giải phóng; Liên hoàn với khu vực Cà Mau, tỉnh Bạc Liêu hình thành một vùng căn cứ U Minh rộng lớn là nơi các cơ quan Khu 9 và sau đó là các cơ quan Nam bộ, Xứ ủy và Trung ương Cục miền Nam về đóng ở Bạc Liêu, Rạch Giá. - Tháng 8 năm 1954, U Minh Thượng trở thành khu vực tập kết 200 ngày. Các xã của huyện Vĩnh Thuận đón tiếp hàng chục ngàn cán bộ, chiến sĩ các nơi về để chuẩn bị tập kết ra miền Bắc. - Ngày 10/1/1956, một tiểu đoàn chủ lực nguỵ bị quân dân xã Hòa Hảo (do cán bộ cách mạng chỉ huy) đánh tan tành tại Cây Bàng xã Vĩnh Hòa. - Ngày 24/5/1962, tiểu đoàn U Minh 10 đánh bại chiến thuật trực thăng vận của Mỹ – nguỵ tại Kè Một xã Vĩnh Bình. - Đầu năm 1964, huyện Vĩnh Thuận được thành lập từ huyện An Biên tách ra gồm 4 xã Vĩnh Thuận, Vĩnh Bình, Vĩnh Phong và Vĩnh Hòa. Trong đó có 2 xã hoàn toàn giải phóng từ năm 1962 là Vĩnh Hòa và Vĩnh Bình. Từ đó, huyện Vĩnh Thuận là căn cứ của nhiều cơ quan cấp tỉnh và Khu 9. Là một vùng căn cứ cách mạng, là hậu phương kháng chiến, quân dân huyện Vĩnh Thuận đã tích cực bám trụ, xây dựng xã ấp chiến đấu; tích cực cùng các đơn vị bộ đội tấn công kẻ thù trên khắp địa bàn, nhất là những năm 1969- 125
  29. huyền thoại u minh 1971, góp phần làm thất bại hoàn toàn kế hoạch bình định “Nhổ cỏ U Minh” của Mỹ – nguỵ, giữ vững căn cứ U Minh. Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp: - Xứ ủy, Trung ương Cục đóng ở vàm kinh Hai xã Vĩnh Thuận. - Nhiều cơ quan của Khu và tỉnh đóng ở Đường Sân xã Vĩnh Bình, Vĩnh Hòa. - Quân y phân liên khu miền Tây đóng ở Sáu Ngàn - kinh 14 - 13 - 11, xã Vĩnh Thuận, Dân y tỉnh đóng ở kinh Ba xã Vĩnh Thuận. - Trường lục quân Trần Quốc Tuấn của BTL Nam Bộ, trường lục quân Gia Định, trường Thanh niên Cứu quốc, trường Phụ nữ cứu quốc Tây Nam Bộ, trường Thiếu sinh Quân khu 9. Trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ: - ấp Bời Lời A Cái Nứa xã Vĩnh Bình Nam từng là căn cứ của Bộ Tư Lệnh quân khu 9, hậu cần quân khu; Là nơi tập kết cuối cùng của đường vận chuyển chiến lược 1C. - Khu vực phía trong đê rừng thuộc xã Minh Thuận từng có Bộ Tư Lệnh quân khu và nhiều cơ quan ở. - ấp Đồng Tranh, Tân Bình, Kè Một, Nước Chảy xã Vĩnh Bình Bắc có nhiều cơ quan của tỉnh Rạch Giá lập căn cứ như: UBND cách mạng tỉnh, Ban an ninh, Ban Tuyên huấn tỉnh, Đoàn văn công, tỉnh đoàn, phụ nữ tỉnh - Khu ủy và Tỉnh ủy Rạch Giá từng đóng tại ấp Khân, Vĩnh Tiến xã Vĩnh Hòa. Cơ quan Tỉnh ủy nhiều năm ở Xẻo Gia (ngay Chệt Nền) xã Vĩnh Bình Bắc và ở Vĩnh Tiến xã Vĩnh Hòa. - Xã Vĩnh Thuận có cơ quan Hậu Cần Quân khu đóng ở kinh Năm, quân y ở kinh Hai, Ban Tuyên huấn khu thành lập ở Sáu Ngàn kinh 13. Là địa bàn căn cứ nên Mỹ - nguỵ tập trung đánh phá Vĩnh Thuận vô cùng ác liệt, nhất là trong chiến dịch bình định “nhổ cỏ U Minh” từ năm 1969-1970; chúng tập trung các loại vũ khí tối tân, phương tiện chiến tranh hiện đại, chiến thuật tân kỳ đánh phá trên địa bàn Vĩnh Thuận. Nhưng bất chấp bom đạn ác liệt của giặc, quân và dân huyện Vĩnh Thuận đã liên tục đánh địch, lập nhiều chiến công xuất sắc, góp phần bẻ gãy kế hoạch bình định lấn chiếm U Minh của Mỹ - nguỵ. Tổng kết riêng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân và dân 126
  30. huyền thoại u minh Vĩnh Thuận đã đánh trên 670 trận, diệt và làm bị thương hơn 4.000 tên giặc, bắn rơi 16 máy bay, diệt 9 xe bọc thép, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Về sự cống hiến và hy sinh trong hai cuộc kháng chiến, Vĩnh Thuận có trên 12.000 lượt thanh niên nam nữ tham gia chiến đấu ở khắp các địa bàn và 2.073 người đã ngã xuống vì độc lập tự do cho dân tộc; 1.194 thương binh; 62 gia đình có từ 2 đến 5 người là liệt sĩ, có 64 bà mẹ Việt Nam anh hùng. (Theo tư liệu của Huyện ủy Vĩnh Thuận) 127
  31. huyền thoại u minh dũng cảm ĐáNH ĐịCH BảO Vệ CĂN Cứ U MiNH thượng rong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của nhân dân ta Tở miền Nam, U Minh Thượng là một căn cứ kháng chiến đặc biệt quan trọng. Kẻ thù cũng thấy rõ vị trí U Minh Thượng đối với sự sống còn của chúng. Vì vậy mà chúng đã thực hiện những thủ đoạn, những kế hoạch đánh phá U Minh Thượng hết sức thâm độc và quyết liệt: Nhiều cuộc hành quân qui mô lớn gồm hải - lục - không quân dài ngày đã được Mỹ - Nguỵ tổ chức để đánh vào U Minh hết sức ác liệt. Bảy lần đánh địch bình định bảo vệ căn cứ U Minh Thượng: Thời kỳ đồng khởi 1960-1961, lực lượng của ta đã tiêu diệt chi khu Thứ 3, diệt hàng trăm tên địch. Đây là chi khu vừa kết hợp với Xẻo Rô là căn cứ quan trọng của địch về phía Tây Bắc làm bàn đạp tấn công vào U Minh Thượng. Chiến thắng thứ 3 đã tạo điều kiện để quần chúng nổi dậy tấn công quân sự và binh vận, diệt, bức hàng, bức rút hàng chục đồn bót của địch, cả tuyến Xẻo Rô, Ba Đình và Vĩnh Thuận. Cũng nhờ vậy mà ta đã phá kế hoạch bao vây chia cắt U Minh Thượng của địch lần thứ nhất. Trong thời kỳ 1962-1963 thực hiện chiến lược chiến tranh đặc biệt, địch tăng cường phi pháo, tập trung lực lượng đánh phá U Minh, xây dựng dầy đồn bót dọc các tuyến sông Cái Lớn, Ba Đình, kinh xáng Chắc Băng, kinh xáng Xẻo 128
  32. huyền thoại u minh Rô, sông Trẹm gây cho ta một số khó khăn. Tỉnh ủy Rạch Giá và lực lượng vũ trang Quân khu vẫn bám trụ tại U Minh Thượng; tổ chức đánh địch và lãnh đạo nhân dân kháng chiến. Cùng với nhiều trận đánh khác, tiêu diệt và tiêu hao sinh lực địch, phá nhiều đồn bốt của chúng, tháng 4-1964 Quân khu mở chiến dịch Vĩnh Thuận, tiêu diệt chi khu Vĩnh Thuận, tiêu diệt một tiểu đoàn biệt kích và đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn bảo an. Ngày sau, địch đổ quân gồm cả sư đoàn 21, 2 trung đoàn của ta đã chiến đấu quyết liệt với địch, diệt trên 300 tên, bắn rơi tại chỗ 12 trực thăng, bắn bị thương trên 10 trực thăng khác, thu trên 500 cây dù và nhiều súng đạn. Tiếp theo ngày 19-5-1964, quân ta tiêu diệt căn cứ Huyện Sử, diệt, bắt sống 250 tên và đánh bại quân viện của địch. Diệt, bức hàng, bức rút hàng chục đồn bót trên tuyến Nhà Ngang, Cái Bần và An Biên, Xẻo Rô. Đặc biệt tại Thứ 11, bằng chiến thuật bao vây đánh lấn, sau gần 2 tháng huy động hàng trăm du kích, hàng ngàn nhân dân tiếp tế đào công sự, giao thông hào, tấn công binh vận, ta bao vây diệt hàng trăm tên, đánh bại quân viện. Đến 24-12-1964 Chi khu Hiếu Lễ còn lại phải chạy về Chi khu Thứ 3. Ta giải phóng Thứ 11 và tuyến kinh xáng Xẻo Rô đến Chi khu Thứ 3. Như vậy, từ năm 1963 đến tháng 12- 1964, liên tục tiến công quân địch, quân và dân U Minh Thượng và các khu vực lân cận đã đánh bại kế hoạch bình định U Minh Thượng của địch lần thứ 2. Bước vào năm 1965, thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ, Mỹ - ngụy đánh phá ác liệt miền Nam, ném bom miền Bắc. Tại U Minh Thượng, địch quyết tâm bình định cho được. Chúng đã tập trung sư đoàn 21, Liên đoàn biệt động quân, hàng chục tiểu đoàn bảo an và giang đoàn hàng trăm tàu và hàng chục phi vụ B52 rải thảm, đánh phá ác liệt dài ngày vào An Biên và U Minh Thuợng, lực lượng tại chỗ của ta đánh trả địch quyết liệt, nhưng địch cũng đã đóng được một số đồn dọc Kinh xáng Xẻo Rô, sông Trẹm, gây cho ta nhiều khó khăn và tổn thất. Bước vào Đông Xuân 1965 - 1966, Quân khu chủ trương mở đợt hoạt động trọng điểm hướng Rạch Giá, phá kế hoạch bình định U Minh của địch. Hàng loạt trận đánh đã được thực hiện, tiêu diệt hàng trăm tên địch, bóc gỡ nhiều đồn bốt và giải phóng các xã: Thủy Liễu, Vĩnh Phước, Định Hòa, Hóa Quản, Bình An, Long Thạnh, cơ bản giải phóng huyện Châu Thành B, Tắc Cậu ra sát thị xã, và tuyến sông Cái Lớn từ Ba Đình đến Tắc Cậu, Xéo Rô; Sau đó là các xã: Tây Yên, Đông Yên, Đông Hòa, Đông Thái và tuyến kinh Xáng Xẻo Rô từ thứ 3 đến thứ 11. Thừa thắng, ta diệt căn cứ Tân Bằng, Vàm Xáng, giải phóng tuyến sông 129
  33. huyền thoại u minh Trẹm, nối liền U Minh Thượng với U Minh Hạ. Kế hoạch bình định đánh phá U Minh Thượng lần thứ 3 của địch đã bị ta đánh bại. Từ giữa năm 1966 đến trước chiến dịch Mậu Thân 1968, quân và dân U Minh Thượng liên tiếp mở nhiều đợt tấn công địch ở Giồng Riềng, ở Nam - Bắc lộ Cái Sắn, ở Chi khu Ngàng Dừa, đồn Cái Đước, ở kinh Ba Quân, ở Gò Quao, Lộ Lục Phi, Bến Lức Mặc dù vậy, tới giữa năm 1968 địch tập trung phản kích đẩy ta ra khỏi vùng ven và tiến hành bình định, tô dầy đồn bót, tát dân, lập ấp chiến lược ác liệt; cơ bản 1968 địch đã làm chủ vùng ven và đồng bằng, gây cho ta rất nhiều khó khăn. Ngay sau đó, chúng tập trung lực lượng bao gồm sư đoàn 21, Lữ đoàn Thủy quân lục chiến, Liên đoàn biệt động và 15 tiểu đoàn khác cùng hàng trăm máy bay, tàu chiến đánh vào U Minh với tham vọng cuối 1969 sẽ đánh chiếm xong U Minh Thượng. Lại một lần nữa, U Minh Thượng đứng trước thử thách cam go. Nhưng cũng lại một lần nữa, quân và dân U Minh tỏ rõ ý chí ngoan cường của mình. Quân khu quyết tâm cùng các cơ quan của tỉnh bám trụ tại chỗ, cùng nhân dân tổ chức đánh địch, bảo vệ căn cứ. Kết quả tại U Minh Thượng cơ quan Quân khu và địa phương đánh địch hàng trăm trận, loại trên 500 tên, bắn chìm hàng Tàu không số của ta chở vũ khí tiếp tế cho vùng U Minh Thượng ảnh: TL 130
  34. huyền thoại u minh chục tàu, bắn rơi và làm bị thương hàng chục trực thăng. Phía sau, ta liên tục tập kích hỏa lực và đặc công vào Cần Thơ, Sóc Trăng, Chương Thiện, phá hàng chục máy bay, trên 10 pháo, diệt hàng ngàn địch, gỡ 30 đồn bót, làm cho hậu cứ địch bị thiệt hại và bị uy hiếp. Sau một tháng hành quân đánh phá U Minh, địch bị thiệt hại nặng và đầu tháng 1-1969 địch phải kết thúc, rút khỏi U Minh. Như vậy, ta đã đánh bại kế hoạch bình định U Minh Thượng lần thứ 4. Thất bại, nhưng Mỹ - ngụy chưa từ bỏ mưu đồ triệt phá căn cứ U Minh. Tháng 9-1969 địch sử dụng sư đoàn 9, Liên đoàn Biệt động quân và 4 tiểu đoàn thủy quân đánh bộ mở cuộc hành quân qui mô lớn dài ngày đánh vào Bắc U Minh Thượng, Vĩnh Bình, Kè Một, Tuần Thơm và dọc sông Ba Đình đến Vĩnh Thuận. Tới tháng 10/1969 địch tăng thêm quân và phương tiện chiến tranh đánh vào U Minh Thượng quyết tìm diệt cơ quan chỉ huy Quân khu và chủ lực ta. Với quyết tâm tập trung lực lượng tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh, đánh bại kế hoạch bình định nhổ cỏ U Minh của địch, ta đã tiêu diệt Lữ B thủy quân lục chiến, địch chết 680 tên, có tên Đại tá Lữ trưởng và Lữ phó chết và bị thương, ta bắn chìm 8 tàu, phá hủy 8 pháo 105 và 155 ly. Cùng lúc, ta đánh vào Sở Chỉ huy K32 tại Thứ 7, đánh vào chi khu Thứ 3, đánh vào căn cứ Xẻo Rô diệt hàng trăm địch, bắn chìm 5 tàu; Tập kích hỏa lực trận địa pháo tại Cái Bát và Vàm Xáng, phá 4 pháo và hàng trăm tên địch chết và bị thương. Bị thiệt hại nặng, ngày 6-11-l969 địch phải rút chạy khỏi U Minh. Ta đánh bại bình định U Minh lần thứ 5 của địch. Tháng 2-1970 địch lại tập trung quân với sư đoàn 21, Lữ A thủy quân lục chiến và gần 10 tiểu đoàn biệt động, bảo an, và giang đoàn, đánh vào U Minh và tuyến An Biên. Nhưng trong suốt một tháng đánh phá U Minh, quân địch đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của quân và dân ta, hàng nghìn tên bị tiêu diệt và bị thương Địch thất bại nặng phải rút khỏi U Minh kết thúc hành quân. Cuộc bình định U Minh Thượng lần thứ 6 của địch lại bị ta đánh bại. Đầu năm 1973, lợi dụng ta nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pari, với âm mưu tràn ngập lãnh thổ đánh chiếm U Minh thực hiện “Việt Nam hóa chiến tranh”, địch đã tập trung 75 tiểu đoàn của sư đoàn 21, sư đoàn 7, sư đoàn 9, biệt động quân, thủy quân lục chiến và bảo an vùng 4 chiến thuật, quyết tâm bình định Chương Thiện và U Minh. Lại một lần nữa chủ lực Quân khu và quân dân tỉnh Rạch Giá, Cần Thơ và quân dân U Minh Thượng đụng đầu với địch. Qua các trận chiến đấu quyết liệt, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 47.000 tên địch, 131
  35. huyền thoại u minh (chết 19.000, bị thương 21.000, bị bắt 1.550 tên, rã trên 10.000 tên), tiêu diệt 6 tiểu đoàn, 1 liên đội, 64 đại đội, 1 chi đoàn M113, 2 giang đoàn, đánh chìm 145 tàu, phá hủy 376 xe quân sự có 247 xe M113, phá hủy 177 khẩu pháo 105 và 155 ly, bắn rơi 66 máy bay, gỡ 496 đồn bót, thu trên 5.400 khẩu súng. Thắng lợi vô cùng quan trọng là ta đã giữ vững căn cứ U Minh, và vĩnh viễn đánh bại âm mưu bình định U Minh của địch, góp phần đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ - Ngụy”. Đây là lần thứ 7 ta đánh bại cuộc bình định của địch tại U Minh Thượng. Với những chiến công oanh liệt 7 lần đánh bại kế hoạch bình định U Minh vô cùng tàn bạo của địch, quân và dân U Minh Thượng nói riêng và tỉnh Rạch Giá nói chung đã chứng tỏ chủ nghĩa Anh hùng và lòng dũng cảm, ngoan cường, mưu trí, sáng tạo Vượt qua mưa bom bão đạn và mưu mô xảo quyệt của kẻ thù, đứng vững và chiến thắng vẻ vang. những trận đánh quan trọng trên đất rừng u minh Trong suốt 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hàng nghìn trận chiến đấu lớn nhỏ của quân và dân U Minh Thượng đã diễn ra, gây cho địch những thiệt hại và thất bại nặng nề trước khi chúng bị thất bại hoàn toàn. Tuy nhiên, trong từng giai đoạn cách mạng đã xuất hiện những trận đánh có ý nghĩa quan trọng, tác động tới tình thế, tới tương quan lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường. Những trận đánh như vậy thực sự là những “đột phá khẩu”, mở ra những điều kiện mới để cuộc chiến đấu của quân và dân ta phát triển mạnh mẽ và hiệu quả hơn, tiến gần đến thắng lợi hơn. * Trận đánh Ngã Ba Cây Bàng (13/6/1946) Với mưu đồ “đánh nhanh, thắng nhanh” hòng quét sạch lực lượng của ta ở U Minh, ngày 8-6-1946 giặc Pháp bắt đầu tấn công vào cửa ngõ U Minh Thượng, đặc biệt là khu vục ngã ba Cây Bàng. Địch tập trung lực lượng lớn bộ binh có 20 tàu chiến và nhiều máy bay yểm trợ để tìm diệt cơ quan đầu não của ta. Chúng cho máy bay nhiều lần ném bom, bắn phá kinh Cây Bàng và kinh Tuần Thơm (Vĩnh Tiến); dùng tàu đổ một tiểu đoàn khoảng 300 tên lên ngã ba Ba Đình, vàm Thầy Quơn và vàm Hóc Hỏa, hình thành 3 mũi tấn công vào kinh Cây Bàng. Dân quân du kích của ta tại chỗ đã đánh chặn địch từng bước. Các chiến sĩ thuộc Quân khu 9 đã ngoan cường chặn đánh 2 cánh quân từ Thầy Quơn và ngã Ba Đình tiến vào, giết chết và làm bị thương hàng trăm tên địch. Sau đó, do lực 132
  36. huyền thoại u minh lượng của ta quá mỏng nên đã phải rút vào rừng để bảo toàn lực lượng. Trận đánh địch ở Cây Bàng, tuy ta diệt địch không được nhiều nhưng có ý nghĩa to lớn về chính trị. Vì đã bảo vệ được căn cứ của Khu 9, gây tiếng vang lớn khắp vùng sông Hậu và sông Tiền, làm cho giặc Pháp phải sợ khi vào vùng căn cứ U Minh; nâng cao lòng tin của quần chúng với cách mạng, với bộ đội cụ Hồ. Trận đánh ở Cây Bàng còn là chiến thắng đầu tiên ở khu vực miền Tây Nam bộ và Đông Nam bộ có ảnh hưởng lan tỏa ra cả khu vực miền Đông, miền Trung Nam bộ. * Trận đánh tại Bàn Môn (6/3/1954) Đây là trận đánh của tiểu đoàn 207 cùng nhân dân U Minh tiêu diệt tiểu đoàn Ngụy số 221 và đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 15 thuộc phân khu Rạch Giá của địch. Trận thắng làm rung động và gây hoang mang cao độ cho quân địch lúc đó ở cả vùng Tây sông hậu; góp phần cùng quân dân toàn quốc đánh bại thực dân Pháp, buộc chúng phải ký hiệp định Giơ ne vơ. * Trận đánh tiêu diệt Chi khu Xẻo Rô (30/10/1959) Căn cứ Xẻo Rô là một căn cứ lớn của Mỹ – ngụy ở vùng Tây Nam Bộ và khu vực U Minh khi đó. Tiêu diệt căn cứ Xẻo Rô có tác động trực tiếp tới việc tạo nên khí thế cách mạng mới của quân và dân trong vùng nhằm nổi dậy phá tan chiến lược chiến tranh đơn phương của Mỹ Ngụy tại đây. Với lực lượng khoảng 90 tay súng, có sự trinh sát kỹ càng, tới 0 giờ 5 phút ngày 30/10/1959, quân ta đã nổ súng tấn công căn cứ địch. Kết quả: Ta đã tiêu diệt 42 tên đầu sỏ gian ác có nợ máu với nhân dân, bắt sống 24 tên, thu nhiều vũ khí, đạn dược và tiền vàng, giải thoát 113 người bị địch bắt giam giữ Trận đánh đã gây chấn động mạnh trong hàng ngũ địch vì đây là trận đánh diệt chi khu làm chủ quân lỵ đầu tiên ở miền Nam; đồng thời góp phần đẩy mạnh phong trào nổi dậy phá kềm, bỏ khu tập trung của nhân dân, là phá sản chiến lược chiến tranh của Mỹ – ngụy. * Trận đánh ở Thứ Mười Một (1969-1971) Đây là một chiến thắng lớn nhưng diễn ra trong thời gian dài. Ngày 29/9/1969, Mỹ – ngụy phát hiện lực lượng miền tăng cường về QK9, địch đã tập trung một lực lượng quân sự lớn mở cuộc hành quân lớn cấp quân đoàn nhằm lấn chiếm U Minh. Lực lượng địch gồm Sư đoàn 21 ngụy, Trung đoàn 16 sư đoàn 9, biệt động quân, thủy quân lục chiến, quân bảo an tỉnh, một trung đoàn xe thiết giáp M113 2 giang đoàn 133
  37. huyền thoại u minh Từ cuối tháng 9 đến tháng 10/1969, địch tập trung đánh vào U Minh Thượng. Quân và dân ta ngay tức khắc đã tổ chức chặn đánh địch – Thời gian đầu đã tiêu diệt và làm bị thương hàng nghìn tên địch, bắn cháy 10 tàu, bắn bị thương hàng chục máy bay. Quân địch cho một cánh quân lớn thọc sâu vào Thứ Mười Một và thiết lập căn cứ hành quân ở đây, bao gồm Lữ A thủy quân lục chiến, 1 tiểu đoàn pháo binh, giang đoàn 74 Quân ta chủ trương tập trung đánh vào trung tâm hành quân của địch ở thứ Mười Một, vừa diệt sinh lực địch, vừa phá kế hoạch bình định của chúng. Đúng 03 giờ sáng ngày 6/11/1969, quân ta nổ súng tấn công địch – chỉ sau 2 giờ đồng hồ, ta đã làm chủ trận địa, diệt gần 700 tên, thu nhiều vũ khí. Sau thất bại đó, địch phải rút quân khỏi U Minh. Đó cũng chính là lần đánh bại đợt I bình định lấn chiếm U Minh của địch. Cũng qua trận đánh này, quân ta có thêm nhiều kinh nghiệm quý trong việc xây dựng và củng cố chất lượng cán bộ đảng viên; xây dựng củng cố lực lượng vũ trang, giải quyết được nhiều vấn đề về tư tưởng và nhận thức, củng cố lòng tin của cán bộ và quần chúng vào thắng lợi. Minh Tâm 134
  38. huyền thoại u minh Căn cứ U Minh trong bối cảnh chung của Tây Nam bộ sau hiệp định Paris (01/1973) gày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh lập lại Nhòa bình ở Việt Nam được ký kết. Đây là một thắng lợi quan trọng của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Với Hiệp định Pa-ri, Mỹ phải tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; phải rút hết quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, phá hủy các căn cứ quân sự Mỹ tại miền Nam; cam kết không dính líu và can thiệp vào công việc ở miền Nam Việt Nam, để nhân dân miền Nam Việt Nam tự giải quyết công việc của chính mình; phải công nhận thực tế ở miền Nam có hai hệ thống chính quyền, hai quân đội và hai vùng kiểm soát. Mỹ phải bồi thường chiến tranh Đối với ta, việc ký Hiệp định Pa-ri đã tạo ra một thế đi lên vững chắc để giành thắng lợi hoàn toàn. Điều quan trọng của Hiệp định Pa-ri không phải là ở chỗ Mỹ phải thừa nhận ở miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát rồi tiến tới thành lập chính phủ ba thành phần, mà mấu chốt là ở chỗ quân Mỹ phải rút về nước, còn quân ta thì ở lại. Nhân dân ta đang đứng trước vận hội và nhiều thuận lợi cơ bản trong cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Tuy nhiên, cũng như nhiều nơi khác ở miền Nam, tại miền Tây Nam Bộ (tức Khu 9 - bí số là T3) và tỉnh Rạch Giá (bí số là U3) nói riêng, dù Hiệp định Pa-ri 135
  39. huyền thoại u minh về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình đã được ký kết nhưng tình hình chiến sự vẫn còn ác liệt, thậm chí căng thẳng hơn bởi Mỹ - ngụy vẫn tiếp tục duy trì chiến tranh. Nhưng, địch cũng nhận thức rõ những khó khăn mà chúng đang vấp phải nên chúng phải dùng cả những luật phát xít để đối phó với nhân dân và với cả sự chống đối trong nội bộ. Chúng vừa đánh vừa tung ra những luận điệu tuyên truyền lừa bịp và chỉ thị cho các địa phương phải căn cứ vào tương quan lực lượng cụ thể từng nơi để có biện pháp đối phó thích hợp nhằm mục đích lấn chiếm. Trên chiến trường miền Tây Nam Bộ và tại tỉnh Rạch Giá, địch đã sử dụng nhiều thủ đoạn, chiến thuật gọi là “ruồi bu ù lì”, nằm chết gí một chỗ rồi lại thay thế bổ sung; đóng đồn này không được chúng chuyển sang đóng bốt khác; đóng trong xóm không được thì lùi ra đóng ngoài đồng; đóng đồn chưa được thì cắm quân, giăng dây thép gai, cọc sắt, đào công sự nằm vạ tại chỗ. Những nơi chúng yếu thế, bị bao vây thì xuống thế, chấp nhận hòa hoãn để khỏi bị tiêu diệt và để tìm cách phát hiện lực lượng cách mạng, chuẩn bị điều kiện khi có thời cơ lại bung ra lấn đất, kềm dân, diệt cơ sở của ta Nắm bắt kịp thời sự biến động của tình hình chiến trường, Khu ủy Khu 9 cũng đã kịp thời chỉ thị cho các địa phương phải kiên quyết đánh địch, làm cho chúng phải co lại để ta giành dân. Với bản chất xâm lược, hiếu chiến và tư tưởng chống cộng, Mỹ đã trực tiếp đưa quân Mỹ và lôi kéo các nước chư hầu tham gia cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Khi buộc phải rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, Mỹ vẫn nuôi ý đồ xâm lược Việt Nam, tiếp tục duy trì chế độ thực dân mới ở miền Nam Việt Nam bằng một cuộc chiến tranh không có người Mỹ nhưng được tiến hành bằng tiền bạc và vũ khí Mỹ. Chỉ hai tuần trước khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, Tổng thống Mỹ Ních-xơn vẫn cam kết sẽ viện trợ đầy đủ về quân sự và kinh tế cho chính quyền Sài Gòn. Để tiếp sức cho chế độ Nguyễn Văn Thiệu, trước khi ký Hiệp định Pa-ri, Mỹ đã viện trợ ồ ạt cho ngụy quyền miền Nam 700 máy bay, 500 pháo, 400 xe tăng, 2 triệu tấn vật tư chiến tranh trị giá khoảng 750 triệu đô-la Mỹ. Nhiều sĩ quan quân đội Mỹ lột bỏ quân phục, khoác áo dân sự, tiếp tục điều khiển quân đội Sài Gòn tiến hành chiến tranh. Từ năm 1973, số người Mỹ ở miền Nam Việt Nam vẫn còn đến hơn hai vạn người. Chưa hết, trong năm 1973, Mỹ còn đưa thêm vào miền Nam Việt Nam 90 máy bay, 100 pháo và một khối lượng lớn phương tiện chiến tranh. Trên thực tế, Mỹ vẫn là người quyết định các chủ trương về quân sự, chính trị, kinh tế và cả 136
  40. huyền thoại u minh những vấn đề nhân sự của chính quyền Sài Gòn, kể cả người cầm đầu Chính phủ và quân đội. Thậm chí Mỹ còn thành lập một nhóm đặc biệt để nghiên cứu kế hoạch ném bom trở lại miền Bắc Việt Nam! Mỹ vẫn duy trì một lực lượng “răn đe” mạnh về quân sự ở vùng Đông Nam á, bao gồm 152.000 quân, l.020 máy bay chiến đấu, 56 tàu chiến, 5 tàu sân bay và Hạm đội 7 vẫn túc trực ngoài biển Đông. Dựa vào viện trợ Mỹ, chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh việc xây dựng một lực lượng quân sự đủ mạnh để đối phó có hiệu quả với lực lượng vũ trang cách mạng. Chúng tăng cường bắt lính, tăng quân. Cuối năm 1973, lực lượng chính quy của quân đội Sài Gòn lên tới 710.000 binh lính. Ngoài ra còn l,5 triệu lính bảo an, dân vệ được trang bị đầy đủ. Tỉ lệ quân số giữa ta và địch là: ta 1, địch 2,5. Chúng cũng có ưu thế hơn về phi pháo và xe cơ giới. Cho nên, thực tế ở miền Nam, sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, vẫn chưa có lấy một ngày hòa bình. Bình định, lấn chiếm là âm mưu số một của địch; vì chỉ có bình định, lấn chiếm, và ngược lại, thì chúng mới mong kềm được dân, giữ được đất ở vùng đồng bằng đông dân, nhiều của như miền Tây Nam Bộ. Giữa tháng 1 năm 1973, trước khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, Nguyễn Văn Thiệu - Tổng thống ngụy quyền đã chủ trì một phiên họp, có cả Phó Tổng thống Trần Văn Hương cùng nhiều thành viên trong nội các và đủ mặt Tư lệnh các vùng chiến thuật, tham dự bàn về việc đối phó với ta khi Hiệp định Pa-ri được ký kết. Cũng từ đây, ở miền Tây Nam Bộ, kế hoạch bình định của địch trong năm 1973 gồm ba đợt: Đợt 1: Bình định, lấn chiếm Chương Thiện; Đợt 2: Bình định, lấn chiếm U Minh; Đợt 3: Bình định, lấn chiếm Cà Mau. Kế hoạch bình định, lấn chiếm được địch thực hiện toàn diện, cả về quân sự, kinh tế và chính trị. Thực hiện bước 1, địch tập trung quân đánh lấn vào Chương Thiện. Đây là địa bàn cơ động nằm giáp ranh các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Rạch Giá. Nếu ta đứng chân được ở Chương Thiện sẽ bảo vệ được U Minh - căn cứ địa cách mạng, làm bàn đạp tấn công vào Cần Thơ - nơi có cơ quan đầu não của Vùng 4 chiến thuật và Quân đoàn 4 ngụy. Vì vậy, suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ta và địch đã tranh chấp ác liệt địa bàn cơ động này. Trong kế hoạch bình định lấn chiếm, địch phân làm hai bước: ở bước l (đầu tháng 2-1973 đến cuối tháng 5-1973) địch đặt ra yêu cầu phải khôi phục trở lại tình hình trước khi có Hiệp định Pa-ri. Bước này địch huy động 30 tiểu đoàn, tập 137
  41. huyền thoại u minh trung đánh vào trọng điểm gồm 12 xã của 3 huyện là Gò Quao, Giồng Riềng (tỉnh Rạch Giá) và Long Mỹ (tỉnh Cần Thơ). Để đối phó với địch, ta bố trí lực lượng vũ trang làm nòng cốt, gồm Trung đoàn 1 chủ lực Quân khu, 1 tiểu đoàn địa phương của Cần Thơ ở cánh Long Mỹ, Phụng Hiệp; Trung đoàn 2 ở cánh Ba Hồ và du kích của 12 xã của các huyện nói trên cùng lực lượng đấu tranh chính trị, binh vận của quần chúng. Ta với địch quần nhau ác liệt suốt trong bốn tháng; địch bị tiêu diệt, tiêu hao nhiều lực lượng, không đóng thêm được đồn bốt, cũng không kềm thêm dân mà còn bị mất thêm đồn bốt, vùng kềm bị thu hẹp. Đối với Rạch Giá, ý đồ của địch vẫn là tiếp tục bình định, lấn chiếm. Chúng tập trung ở các khu vực sau đây: - Tuyến Xáng Cụt - Cầu Đúc (Gò Quao). - Tuyến Xáng Ba Hồ - Thác Lác - Hòa Hưng (Gò Quao). - Tuyến Xáng Cò Tuất - Thạnh Bình (Giồng Riềng). - Khu vực Xẻo Cạn - Hốc Hỏa (An Biên) Riêng Gò Quao và Giồng Riềng, dính với trọng điểm bình định của địch, lực lượng được bố trí nhiều hơn. ở khu vực này, vào tháng 6 năm 1973, có 3 đến 4 tiểu đoàn bảo an Hòa Hảo, từ 2 đến 5 tiểu đoàn chủ lực. Từ tuyến kinh Xáng Cụt đến Cầu Đúc, Ba Hồ thuộc các xã Vĩnh Tuy, Vĩnh Hòa Hưng Nam và Vĩnh Hòa Hưng Bắc, có thêm 2 liên đoàn bảo an Hòa Hảo với l bộ chỉ huy điều khiển. ở tuyến này lực lượng địch khá mạnh. Sau khi bố trí xong lực lượng, địch tiếp tục củng cố lại bộ máy kềm kẹp, đưa sĩ quan dồn sức cho cơ sở; thành lập một số xã mới như các xã Phó Cơ Điều, Phi Thông (thị xã Rạch Giá), Thạnh Lợi (Giồng Riềng), Tân Cảnh, Lâm Yên (An Biên). Để củng cố tuyến phòng thủ, địch cho thành lập phân khu và chi khu ở 44 xã thuộc Kiên Giang. Trong tháng 3 và 4 năm 1974, chúng lập được 12 phân khu và chi khu, ở Giồng Riềng: 4 xã, An Biên: 5 xã, Châu Thành B: 2 xã và Tân Hiệp: 1 xã. Đầu tháng 4 năm 1974, địch lập chi khu Hưng Long gồm các xã Vĩnh Tuy, Vĩnh Lộc, Vĩnh Viễn và Lương Tâm. Bộ máy chỉ huy được đặt tại xã Vĩnh Tuy. Về kinh tế, địch chủ trương thu gom, cướp lúa, lập vựa ở Vĩnh Thuận, Thứ Ba, Cái Nước ; bắt dân đem lúa ra gần đồn, giao chỉ tiêu cướp lúa cho từng đồn và tăng cường kiểm tra lúa gạo vùng kềm ở thị xã, thị trấn nhằm cắt đứt nguồn hậu cần tại chỗ của ta. 138
  42. huyền thoại u minh Có thể nói sau khi ký Hiệp định Pa-ri, ở miền Tây Nam Bộ nói riêng và cả miền Nam nói chung, địch không thi hành những điều khoản đã cam kết mà còn gây ra những cuộc xung đột vũ trang; tiến hành những cuộc hành quân lấn đất, giành dân để thực hiện âm mưu, kế hoạch toàn diện của chúng là tiếp tục tiến hành chiến tranh nhằm xóa bỏ từng bước thành quả cách mạng của nhân dân ta, duy trì chế độ thực dân mới, tiến tới làm chủ hoàn toàn miền Nam. Cũng sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, qua ít ngày theo dõi thấy thái độ ngoan cố, những hoạt động phá hoại và sự phản kích của địch, những biểu hiện có phần lúng túng của một số địa phương, Ban Thường vụ Khu ủy Khu 9 đã kịp thời triệu tập hội nghị mở rộng vào ngày 3 tháng 2 năm 1973. Hội nghị này có các Bí thư Tỉnh ủy của ba tỉnh Rạch Giá, Cần Thơ và Sóc Trăng cùng tham dự. Hội nghị đã đánh giá về thắng lợi lịch sử vĩ đại của việc ký kết Hiệp định, nhưng mặt khác cũng thấy rõ vì thua mà Mỹ phải ký kết; muốn bắt buộc chúng thi hành những điều đã cam kết, phải tiếp tục dùng sức mạnh tổng hợp, nhất là phải nắm vững lực lượng vũ trang để tiến công địch, làm chuyển biến so sánh lực lượng, đặc biệt đối với chiến trường đồng bằng, bất cứ tình huống nào cũng phải giành cho được đại bộ phận nông thôn mới có thể tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Hội nghị Khu ủy nhận xét: Trận địa cách mạng đã tiến vào vùng kềm, vào hậu phương của địch, trong lòng binh sĩ ngụy . Tuy nhiên, từ ngày 6 tháng 2 năm 1973, địch tăng cường phản kích và khủng bố. Chúng ngoan cố “ăn liều đánh bậy”, nên để đối phó, lãnh đạo Quân khu đã chỉ thị cho lực lượng vũ trang phải đánh mạnh để buộc địch phải thi hành Hiệp định. Khu ủy đã chỉ đạo: Nó không thi hành thì cứ đánh miết. Đánh bao lâu nữa thì nó thua không biết, nhưng chắc chắn là không dài lắm. Bộ đội đánh, đồng bào phải đấu lý, đấu lẽ, đấu bằng nhiều cách để buộc nó thi hành Hiệp định, nhưng đấu với nó bằng miệng thì tốn công đó, và nhiều khi còn bị nó làm khó, làm dễ nữa. Nói chung là đồng bào nhận thức được khá đúng thắng lợi to lớn lịch sử của ta, thất bại, suy yếu của địch. Nhưng khuynh hướng chưa tin vào khả năng đấu tranh chính trị là một khuynh hướng phổ biến trong quần chúng và trong phần lớn cán bộ nói chung ”. Tiếp đó, ngày 13 tháng 2 năm 1973, Quân khu ủy có nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ mới. Riêng về công tác quân sự, Quân khu ủy nêu rõ: Phải làm cho lực lượng vũ trang nhận rõ thắng lợi của ta, thất bại của địch, âm mưu của địch và khả năng, thuận lợi của ta; nung nấu lòng căm thù đối với tội ác của địch; nhận rõ bạn, thù, ta, kiên định quan điểm triệt để cách mạng, tư tưởng liên tục tấn công, 139
  43. huyền thoại u minh quan điểm bạo lực thể hiện trên mọi lĩnh vực hoạt động xây dựng, trong công tác dân vận, địch vận Xây dựng khí thế phấn khởi quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ trong giai đoạn mới, tập trung chống tư tưởng hòa bình yên nghỉ, cầu an hưởng lạc . Chấp hành sự chỉ đạo của Khu ủy và Quân khu ủy, ngày 20 tháng 2 năm 1973, Tỉnh ủy Rạch Giá họp nhằm xây dựng, bổ sung phương hướng công tác năm 1973 của Đảng bộ. Tỉnh ủy khẳng định tư tưởng tiến công cách mạng vẫn là nguyên tắc chỉ đạo được vận dụng cho thích hợp trong bối cảnh có Hiệp định Pa- ri; đồng thời xác định rõ nhiệm vụ phải tiếp tục tiến công địch để giành đất, giành dân, giành quyền làm chủ và để có cơ sở tiếp tục tiến công. Tỉnh ủy cũng nêu rõ nhiệm vụ của lực lượng vũ trang là phải tiếp tục giữ vững và mở rộng các địa bàn quan trọng, hướng chủ yếu là vùng tranh chấp, vùng đông dân, tiếp tục đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, kết hợp ba mũi giáp công trừng trị địch vi phạm Hiệp định. Với chủ trương đúng đắn, kịp thời đó, quân và dân Rạch Giá cũng như quân dân toàn miền Tây Nam Bộ tiếp tục tiến công địch, giành nhiều thắng lợi. Tại vùng lòng chảo tiếp giáp giữa các huyện Giồng Riềng, Gò Quao, Châu Thành B, Tân Hiệp, quân và dân địa phương cùng Tiểu đoàn 207 của tỉnh, Trung đoàn 20 của Khu đã bao vây hàng chục đồn bốt, đánh thiệt hại nặng các cánh quân lấn chiếm của địch, chuyển các xã vùng Bắc sông Cái Bé từ tranh chấp yếu lên tranh chấp mạnh. Tại thị xã và các thị trấn, Đảng bộ địa phương phát động quần chúng đấu tranh chính trị, chống địch bắt lính, đòi địch thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pa-ri, tuyên truyền chính sách hòa giải hòa hợp dân tộc trong các tầng lớp nhân dân và gia đình binh sĩ Công tác xây dựng lực lượng vũ trang cũng có bước nhảy vọt, du kích nhiều xã có đủ một trung đội, một số xã có đến 2 trung đội, nhiều đơn vị cấp huyện có từ 1 đến 2 đại đội với quân số tương đối đầy đủ. Sau những hoạt động trên, ta đã đánh bại một bước âm mưu lấn chiếm, bình định của địch, giành nhiều thắng lợi. Tuy nhiên, địch vẫn ngoan cố, không từ bỏ quyết tâm bình định, lấn chiếm; đặc biệt là ở khu vực U Minh. Chiến sự diễn ra ác liệt tại các tuyến kinh xáng ở An Biên, Vĩnh Thuận, tuyến Sóc Sâu, Thủy Liễu, Vĩnh Hòa Hưng Bắc (Gò Quao); Hòa Thuận, Hòa Hưng, Thạnh Hưng (Giồng Riềng); Cò Tuất (Tân Hiệp), nhất là khu vực kinh 7, kinh 8, Thạnh Trị, Họa Đồ, Tà Keo, Giáo Dung Nhưng nhìn tổng thể trên địa bàn toàn tỉnh Rạch Giá từ khi ngừng bắn đến giữa năm 1973, thế và lực của địch tiếp tục suy yếu, thất bại ngày càng nặng nề. 140
  44. huyền thoại u minh Cuối tháng 4 năm 1973, địch điều thêm lực lượng bảo an từ các tỉnh về Rạch Giá, nâng tổng số đơn vị chiến đấu lên đến 46 tiểu đoàn. Mục tiêu lấn chiếm của địch nhằm vào 3 huyện: Long Mỹ (Cần Thơ), Giồng Riềng, Gò Quao (Rạch Giá). Đầu tháng 5 năm 1973, Quân khu 9 chỉ đạo mở đợt tiến công tổng hợp để trừng trị địch vi phạm Hiệp định ở vùng ruột Hậu Giang. Huyện Gò Quao của tỉnh Rạch Giá nằm trong vùng trọng điểm của Quân khu. Hai huyện Giòng Riềng và Vĩnh Thuận được xác định là trọng điểm tiến công của tỉnh Rạch Giá. Đến giữa tháng 5, vào thời kỳ cao điểm, quân - dân trong tỉnh đồng loạt tiến công, bao vây gần 190 đồn và căn cứ lớn - nhỏ của địch. Ngày 2 tháng 7 năm 1973, Khu ủy ra Chỉ thị số 10/CT, nêu rõ nhiệm vụ chung của Đảng bộ miền Tây: Phát huy đúng mức những thành quả đã đạt được, khắc phục nhanh chóng và triệt để những tồn tại, thiếu sót, đẩy mạnh hoạt động quân sự, chính trị, binh vận kết hợp pháp lý Hiệp định đánh bại kế hoạch bình định đặc biệt của địch ở miền Tây, đấu tranh buộc phải thi hành Hiệp định, đi đôi với xây dựng ta vững mạnh về mọi mặt, giành thắng lợi to lớn hơn nữa trong thời gian trước mắt, tạo cơ sở vững chắc, đảm bảo đánh thắng địch trong mọi tình huống . Thực hiện sự chỉ đạo của Khu ủy, quân và dân Rạch Giá đã nỗ lực phản công và tiến công địch, giành được nhiều thắng lợi có ý nghĩa quan trọng. Để kịp thời chỉ đạo cách mạng miền Nam trong tình hình mới, đầu tháng 10 năm 1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị lần thứ 21, ra nghị quyết Về thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và nhiệm vụ của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới. Tại Hội nghị này, sau khi phân tích tình hình, Trung ương đề ra nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới là: Tiếp tục thực hiện chiến lược cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, tập trung mũi nhọn vào đế quốc và tập đoàn tay sai, xóa bỏ chính quyền tay sai Mỹ, xóa bỏ chế độ thực dân mới, lập nên một chính quyền dân tộc, dân chủ nhân dân thực sự, thực hiện một miền Nam Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, tiến tới hòa bình, thống nhất nước nhà. Về phương châm, phương thức thực hiện là phải nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công. Về quân sự, phải kiên quyết phản công, tiến công địch, đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng hoặc bình định vùng đồng bằng, vùng giáp ranh. Việc vận dụng phương châm trên phải gắn liền với yêu cầu giành dân và giành quyền làm chủ v.v 141
  45. huyền thoại u minh Đây là một nghị quyết quan trọng, có ý nghĩa lịch sử, thể hiện quyết tâm lớn của Đảng ta: Hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam. Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 21 - một nghị quyết cơ bản sau thắng lợi của Hội nghị Pa-ri, đã làm chuyển biến tình hình chiến trường miền Nam từ cuối năm 1973. Trong thời gian này, tại miền Tây Nam Bộ, địch tiến hành kế hoạch lấn chiếm đợt 2 ở Chương Thiện, thực hiện từ đầu tháng 6 đến tháng 10 năm 1973. Chúng thực hiện bước 2 là để tiếp tục thực hiện những mục tiêu mà bước l chưa đạt được. Địch tập trung lực lượng gồm 75 tiểu đoàn, từ 6 đến 8 giang đoàn và lực lượng bảo an của các tỉnh thuộc vùng 4 chiến thuật. Cách đánh của chúng là dùng bom pháo oanh kích ác liệt dọn bãi, sau đó cho trực thăng đổ quân, cày xới địa hình, kềm giữ dân, tiến hành đóng đồn bốt kết hợp với các điểm dã ngoại, từ đó đánh loang dần ra. Địch dùng trực thăng đổ 15.000 quân tăng cường sức mạnh cho cánh quân ở hướng Ba Hồ. Tại Châu Thành A, đơn vị Châu Hà - bộ đội tỉnh và quân dân địa phương tiến công tiêu diệt và bức rút 6 đồn, giải tỏa và khai thông đường hành lang 1C, là con đường nối dài đường Hồ Chí Minh trên biển từ hậu phương lớn miền Bắc về Khu 9 Những đòn tiến công của lực lượng cách mạng đã đẩy quân địch vào thế khó khăn, lúng túng. Đối với vùng kềm và vùng đô thị, địch thực hiện chiến dịch Quét sạch lá rừng nhằm phá các cơ sở cách mạng và bắt lính. Đầu tháng 11 năm 1973, địch rút quân từ nhiều nơi tập trung về Chương Thiện nâng quân số lên đến 90 tiểu đoàn, bổ sung đạn pháo để tăng cường đánh phá vùng căn cứ cách mạng U Minh. Quân dân U Minh và khu 9 lại bước vào cuộc chiến đấu mới, gian khổ và quyết liệt. Tuy vậy, ngay từ những ngày đầu mùa khô, lực lượng vũ trang cách mạng ở Giồng Riềng đã tập kích trung đoàn 33 thuộc sư đoàn 21 ngụy đóng dã ngoại ở Thạnh Hưng và Hòa Thuận, diệt gần 100 tên và phá hủy 2 xe M. 113. ở Tân Hiệp, Tiểu đoàn 207 của tỉnh tập kích chi đoàn xe M.116 giữ đồng Thạnh An, xã Thạnh Đông, phá hủy 8 chiếc. ở Gò Quao, quân ta tiến công chi khu làm thiệt hại nặng 2 sở chỉ huy tiểu đoàn địch. Đêm 10, rạng 11 tháng 11 năm 1973, Đoàn 6 pháo binh Quân khu bắn phá căn cứ hải quân Xẻo Rô (An Biên), đánh chìm và phá 18 tàu địch. Kế hoạch lấn chiếm của địch trên địa bàn tỉnh Rạch Giá xem như thất bại ngay từ đầu và bị phá sản về cơ bản. Tính chung trong 9 tháng đầu năm 1973, quân dân Rạch Giá đã loại khỏi 142
  46. huyền thoại u minh vòng chiến đấu 7.076 tên địch, thu 388 súng, bắn rơi 9 máy bay; làm chìm, cháy 11 tàu, diệt 24 xe, phần lớn là xe bọc thép, diệt 15 đồn, bức rút 24 đồn, phá rã 300 phòng vệ dân sự, diệt 24 tề ấp, 3 tề xã; vận động 11.555 lượt quần chúng đấu tranh giành lại 234 thanh niên khỏi bị bắt lính Thắng lợi về các mặt quân sự, chính trị của nhân dân ta ở miền Nam nói chung và ở Tây Nam bộ nội riêng trong năm 1973 đã làm sáng tỏ “đáp số của bài toán chiến lược”: Làm thế nào và bắt đầu từ đâu để đánh bại âm mưu và những hoạt động của địch nhằm kéo dài chiến tranh trong tình trạng không có quân đội Mỹ trực tiếp tham chiến? Thực tiễn diễn biến chiến trường miền Nam cho thấy, trước những hành động trắng trợn xé bỏ Hiệp định Pa-ri của Mỹ - ngụy, cuộc đấu tranh đòi hòa bình, hòa hợp dân tộc theo pháp lý của Hiệp định là một đòn tiến công quan trọng có tác dụng vạch trần bản chất hiếu chiến, ngoan cố, bộ mặt lừa bịp của đối phương và tập hợp được đội quân chính trị đông đảo của quần chúng. Nhưng chỉ có những đòn tiến công quyết liệt trên mặt trận quân sự kết hợp với bạo lực cách mạng của quân chúng mới đập tan được ý đồ xâm lược của đế quốc Mỹ và âm mưu kéo dài chiến tranh của chính quyền Sài Gòn. Thắng lợi toàn diện của quân và dân ta ở miền Nam trong năm 1973 cũng đã tạo đà, làm nên một bước ngoặt quan trọng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam. Thu Hoài 143
  47. huyền thoại u minh đảng bộ và quân dân an biên thực hiện “Ba mũi giáp công” góp phần đánh bại âm mưu bình định lấn chiếm u minh của địch n Biên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (gồm huyện An Biên, Ahuyện An Minh và có lúc cả huyện Vĩnh Thuận ngày nay) là một huyện chiếm phần lớn đất rừng của vùng U Minh Thượng, với hệ thống kinh rạch chằng chịt và có cả vùng biển. Điều kiện tự nhiên và cuộc sống vốn nhiều khó khăn, đã hun đúc nhân dân quần tụ trong vùng sớm hình thành cá tính bất khuất, dũng cảm, cần cù, quyết liệt, kiên nhẫn nhưng cũng rất nhân ái, đôn hậu, thuỷ chung, đạo nghĩa. Rõ ràng là một nơi “địa lợi nhân hoà”, cho nên từ rất lâu vùng này đã từng được chọn làm nơi dung trú và căn cứ cho các lực lượng cách mạng khi tiến cũng như khi thoát. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và đánh Mỹ vừa qua, vị trí đó của vùng U Minh nói chung và huyện An Biên nói riêng, đã được chứng minh. Nhân dân ở đây đã từng chịu gian khổ, hy sinh, đóng góp sức người sức của, cưu mang, trường kỳ nuôi chứa, bảo vệ cho nhiều cán bộ, chiến sĩ, cơ quan, đơn vị cấp tỉnh, Khu, Nam bộ. Trong điều kiện vô cùng gian nan đó, nhân dân An Biên đã biết phát huy những mặt thuận lợi, khắc phục khó khăn, vươn lên lập nên những chiến tích đầy tự hào. Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, quân dân và Đảng bộ An Biên đã 144
  48. huyền thoại u minh cùng lực lượng vũ trang Quân khu và tỉnh đánh trận Bàu Môn (tháng 3/1954) vang dội, hai lần bắt sống quận trưởng của giặc, giải phóng toàn huyện trước khi chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử kết thúc thắng lợi. Năn năm sau (tháng 10/1959) quân dân An Biên lại “tái lập lịch sử” đánh thẳng vào hang ổ giặc tại Thứ Ba, bắt sống và diệt tên quận trưởng ác ôn, gây rung động trong hàng ngũ giặc; tạo nên một dấu mốc lịch sử khởi đầu cho phong trào đồng khởi của nhân dân trong tỉnh. Thời kỳ Mỹ – nguỵ, thực hiện kế hoạch bình định U Minh, địch cho phân chia lại địa giới vùng này. Đối với huyện An Biên (13 xã) địch phân ra thành hai quận: Kiên An (An Biên: 9 xã) và Kiên Long (Vĩnh Thuận: 4 xã); phối hợp với đặc khu Huyện Sử (Thới Bình) cùng hệ thống cứ điểm đồn bốt lập thành vành đai bao quanh U Minh Thượng; chia cắt U Minh Thượng và vùng Chương Thiện. Ngày 8/4/1963 Ngô Đình Diệm lại ký quyết định tách 4 xã Đông Hưng, Đông Thạnh,Vân Khánh và Tân Bằng ra khỏi quận Kiên An để lập quận mới: quận Hiếu Lễ. Thời gian này phong trào cách mạng của quân và dân địa phương đã có bước chuyển mạnh mẽ, giành nhiều thắng lợi. Cuối năm 1964, được sự hỗ trợ của Đại đội pháo DKZ của Khu, bằng chiến thuật “bẻ ngoe, lật mu”, quân dân An Biên thực hành ba mũi giáp công, bao vây, bứt rút các đồn Thứ Bảy, Kim Qui, Tân Bằng tiến lên giải phóng hầu hết các xã trong quận Hiếu Lễ. Sau khi tuyến Xẻo Rô được giải phóng thì quận lỵ Hiếu Lễ bị cô lập. Bấy giờ lực lượng võ trang của An Biên phối hợp với quần chúng ngày càng vây chặt Thứ Mười Một. Quân dân ta dựng chướng ngại vật, hàn các cản: Kinh Hảng, Kinh Quân Sự, Lung Đường, bắn máy bay, cắt tiếp tế, tiếp viện, đồng thời đẩy mạnh việc xây dựng xã chiến đấu. Đảng bộ đã chủ trương rút dân ra ngoài và đưa quần chúng tấn công, tranh thủ phân hoá địch ở Thứ Mười Một, song song với việc phát động trong toàn huyện một cuộc vận động thi đua đóng góp người và của để thực hiện quyết tâm dứt điểm Thứ Mười Một. Chỉ trong vòng mười ngày của tháng 11/1964 nhân dân trong huyện đã cho lực lượng kháng chiến mượn nhà để đóng quân; đóng góp được 250.000 đồng tiền mặt, 230 giạ lúa, 52 giạ gạo, 1.850 kg gà, vịt, 1.250kg khoai, bầu, bí, tất cả đều vượt yêu cầu. Nhân dân đưa 830 thanh niên và một số nông dân hăng hái lên đường ra trận. Có sự chi viện của pháo Quân khu, quân dân An Biên liên tiếp pháo kích, du kích liên tục tổ chức bắn tỉa. Địch ngày đêm mất ăn, mất ngủ, kêu cứu liên miên. 145
  49. huyền thoại u minh Trước nguy cơ bị tiêu diệt, cuối tháng 11/1964 bọn địch vùng IV chiến thuật đã đưa 3 tiểu đoàn, 4 đai dội cùng nhiều tàu, xe, máy bay kéo vào yểm trợ để bọn chi khu Hiếu Lễ ở Thứ Mười Một rút chạy. Phải mất 4 ngày đêm, đến ngày 8/1/1965, chúng mới hộ giá được cho bọn Hiếu Lễ tháo thân.Quân dân ta xông lên truy kích, san bằng đồn bốt, thu chiến lợi phẩm. Miền Tây đã giải phóng hoàn toàn một quận. Vùng giải phóng của huyện An Biên được mở rộng. Trong tình hình mới, huyện càng có điều kiện để đưa phong trào các mặt trong huyện vươn lên một bước mới, cung cấp sức người và của cho địa phương và cấp trên. Chiến thắng Thứ Mười Một, giải phóng hoàn toàn quận Hiếu Lễ (1/1965) đã chứng minh sự đúng đắn, sáng tạo của đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng; là kết quả của sự phối hợp chặt chẽ giữa ba mũi giáp công, nhất là đã khẳng định vai trò của dân quân du kích; nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thống đánh giặc của nhân dân U Minh, nhân dân An Biên. Bắt đầu từ ngày 22/12/1968 địch mở cuộc càn lớn, mang tên “thăm dò U Minh”, đánh sâu, dài ngày vào U Minh, thuộc 4 huyện của 2 tỉnh Rạch Giá và Cà Mau. Tại An Biên, địch huy động một lực lượng gồm: 41 phum, 11 o-bo đánh vào Kinh Xáng, Xẻo Rô. Ven biển chúng có 3 tàu lớn, 05 khẩu ô-bi (không kể 2 khẩu đặt tại Chi Khu Thứ Ba). Trực thăng võ trang từ 2 đến 4 chiếc, trực thăng chuyển quân từ 6 đến 12 chiếc. Quân số địch sử dụng để đánh vào An Biên gồm 4 tiểu đoàn (chưa kể l tiểu đoàn dự bị ở Thứ Ba) với trên l.000 quân. Ngày 26/12/1968 chúng cụm quân tại Thứ Mười Một. Trận địa pháo 5 khẩu địch đặt ở đây. Song song với đánh lớn, bọn Chi khu Thứ Ba và các đồn bót đánh xỉa nhiều cuộc vào Tây Yên, Đông Yên. Ngày 27/12/1968 chúng đưa quân án ngữ tại Thứ Bảy và Kinh Chệch Kỵ. Từ ngày 27/12 đến 29/12/1968 chúng đưa quân đánh vào các khu vực Kinh Bà Điền, Chệch ớt Chủ Vàng, Mười Thân, chung quanh Thứ Mười Một, Cán Gáo. Đêm 30/12/1968 chúng đóng quân ở Mương Đào. Từ 30/12/1968 đến 3/1/1969 chúng dùng trực thăng hốt quân đánh các xã ở vùng biển Kim Qui, Mương Đào (Vân Khánh), Rọ Ghe, Thuồng Luồng (Đông Hưng) Xẽo Nhàu, Xẽo Ngát (Đông Thạnh) và cập theo Kinh chống Mỹ. Với quyết tâm đánh bại cuộc càn của địch, bẻ gãy kế hoạch “Bình định cấp tốc” của chúng, bảo vệ thành quả cách mạng, các lực lượng võ trang của ta đã bám sát đánh địch bằng các loại vũ khí, chất nổ làm cho địch thiệt hại nặng nề. Trong 7 ngày (từ 27/12/1968 đến 2/1/1969) các lực lượng võ trang ở An Biên 146
  50. huyền thoại u minh bám sát bờ xáng đánh phum 17 trận, làm chìm, cháy, hư 26 phum (có 2 phum bị đánh chìm tại Kinh Mười Quang). Địch chết và bị thương gần 100 tên. Địa phương quân còn phối hợp với lực lượng của Khu đánh nhiều trận. Riêng trận ngày 4/1/1969 bọn quân cụm ở Thứ Chín mở đường hai bên bờ xáng Thứ Ba bị ta chặn đánh làm chết và bị thương 160 tên, hư l khẩu pháo. Địch phải thu quân lại, 12 giờ trưa ngày 5/1/1969 đoàn tàu và quân bộ rút hết khỏi tuyến Xẻo Rô. Về phong trào đấu tranh chính trị, trong thời gian này đã có hàng chục cuộc với hàng trăm quần chúng đấu tranh với địch giữ tài sản, không để chúng cướp giựt, đốt phá; giành lại gia súc, tiền bạc Ngoài việc phục vụ chiến đấu, tiếp lương, chuyển thương, tải đạn hàng chục ngàn lượt dân công trong huyện đã tích cực tham gia đào, vét kinh mương và đào đắp gần 26.000 mét đê ven biển (chân 4,5 m, cao l,50 m, bề mặt 1,50 m); có 186 tân binh tham gia vào các đơn vị võ trang và các cơ quan của Khu, tỉnh, huyện (trong đó đưa cho Khu 42 người); đóng góp hàng trăm ngàn đồng vào quỹ, “đảm phụ nuôi quân”, hàng ngàn giạ lúa Điều hết sức có ý nghĩa là, có lần chỉ trong một đêm, hàng chục đồng bào ở Rạch Ông, Rạch Bà (Vân Khánh) đã dùng tay lắt và vọt từng bông lúa, dùng chảo rang khô, quết bằng cối được 20 giạ gạo kịp cung cấp theo yêu cầu của trên. Cũng tại Rạch Ông, 2 nữ thanh niên đã dũng cảm, khéo léo ra tận chợ Rạch Sỏi để mua 2 kg dây thun và 30m mũ đi mưa đem về cho anh em du kích gói thuốc nổ, phục vụ rất kịp thời cho yêu cầu đánh địch Tinh thần cách mạng của nhân dân An Biên đã góp phần to lớn vào thắng lợi chung của cuộc chiến đấu. Sau thất bại vào đầu năm 1969, địch vẫn không từ bỏ âm mưu bình định U Minh. Chúng tiếp tục đánh phá U Minh bằng phi pháo, kể cả B52 và pháo tàu, rải chất độc khai hoang; cố sức quét dọn địa bàn, gom xúc dân ra vùng chúng kiểm soát, quyết tâm chiếm U Minh. Ngày 26/9/1969 chúng mở một cuộc hành quân lớn, cấp quân đoàn, đánh vào U Minh. Một cánh quân (trong đó có Lữ đoàn A Thủy quân lục chiến ) thọc vào Thứ Mười Một làm căn cứ hành quân và bung ra càn quét. Ngay từ đầu, các lực lượng võ trang của Khu ở đây và du kích các xã xung quanh đã bám và liên tục đánh địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Đêm 5/11/1969 quân chủ lực của Khu nổ súng đánh vào Thứ Mười Một. 5 giờ sáng ta làm chủ trận địa, diệt gần 700 tên, diệt chỉ huy sở Lữ đoàn A Thuỷ quân lục chiến, 3 đại đội trực thuộc, 2 tiểu đoàn, giang đoàn 74 và Sở chỉ huy, phá hủy 8 147
  51. huyền thoại u minh tàu sắt, 6 khẩu pháo Trưa ngày 6/11/1969 địch buộc phải chấm dứt cuộc hành quân và rút khỏi U Minh. Chiến thắng Thứ Mười Một vào cuối năm 1969 có ý nghĩa động viên mạnh mẽ Đảng bộ, quân dân An Biên củng cố quyết tâm bảo vệ U Minh. Sang năm 1970 địch vẫn tiếp tục đánh phá nhằm bình định U Minh. Lần này với quyết tâm mà chúng huênh hoang gọi là Nhổ cỏ U Minh , chúng sử dụng lực lượng Lữ đoàn B Thuỷ quân lục chiến, Sư đoàn 21, Sư đoàn 9 và nhiều máy bay, xe bọc thép đánh vào căn cứ U Minh Thượng với mục đích phục vụ cho kềm dân, lấn đất, trên cơ sở đó vơ vét người và của xây dựng lực lượng địa phương, bổ sung cho chủ lực, đồng thời tiêu diệt cơ sở cách mạng, nhất là ở xã, ấp; đánh dạt, đẩy lùi lực lượng võ trang của ta ra khỏi dân. Chúng sử dụng lực lượng tổng hợp, đánh toàn diện, có kế hoạch cụ thể đối với từng khu vực, có diện, có điểm, quá trình làm có rút kinh nghiệm bổ sung với nhiều âm mưu thủ đoạn tàn bạo, thâm độc, nhất là thủ đoạn chính trị, kinh tế Mật độ bom đạn của máy bay, tàu chiến trút xuống dày đặc, ác liệt, dập vùi, cày đi, xới lại từng tấc đất. Trên địa bàn nhiều xã, địch đã hành quân, đánh phá liên tục 26, 27 ngày trong một tháng. Nhà cửa dân chúng hầu như không một cái nào còn nguyên vẹn; rất nhiều nhà bị phá, đốt cháy hàng ba, bốn lần. Qua thời gian này địch đã lấn chiếm, đóng thêm nhiều đồn bốt ở vùng giải phóng của ta, khôi phục được giao thông đường thủy từ Xẻo Rô đến vàm Cán Gáo, hình thành tuyến phòng thủ chi viện cho nhau. Về mặt chính trị, địch chuẩn bị sẵn bọn tề lưu vong, tề ngầm, hễ lấn chiếm được tới đâu là chúng đua bọn này tới đó để kềm dân, bắt lính, tổ chức phòng vệ dân sự; bổ sung các ban tề xã, tề ấp; đưa bọn gián điệp vào nắm tin, đưa tin chiến thắng giả tạo, tin thất thiệt để tuyên truyền, tác động; đưa bọn đầu hàng về mai phục, vận động chiêu hàng, gây rối ren hậu phương của ta. Về kinh tế, địch triệt phá nhà cửa, ruộng lúa, hoa màu, cướp và bắn giết gia súc, đốt lúa, không cho nhân dân gặt lúa, rải chất độc ven hai bờ kinh xáng Xẻo Rô; Phong tỏa gắt gao khu vực U Minh, không cho quần chúng ra vào, tịch thu lương thực, thực phẩm v.v Lúc này cán bộ, chiến sĩ của ta nhiều nơi bị thiếu đói phải ăn cháo, ăn khoai, củ chuối, cọng súng, kim thất, tàu bay, nụ áo có nơi phải tìm cách cắm câu, giăng lưới kiếm cá nhờ nhân dân đổi gạo thêm, nhưng cũng không phải dễ. Về phía ta, với nhận định là địch vẫn giữ âm mưu quyết bình định lấn chiếm 148
  52. huyền thoại u minh U Minh nên Khu uỷ có chỉ thị trực tiếp cho các lực lượng, các cơ quan và các huyện vùng U Minh chuẩn bị chống lấn chiếm, đánh địch bình định. Thời gian này Tỉnh ủy Rạch Giá cũng đã tăng cường lãnh đạo các địa phương trong tỉnh nêu cao quyết tâm đánh thắng kế hoạch bình định U Minh của địch đồng thời tích cực xây dựng lực lượng của ta về mọi mặt để có thể đáp ứng yêu cầu của cách mạng trong tình hình mới. Nhiều lớp tập huấn, bồi dưỡng phát triển Đảng, Đoàn, nghiệp vụ an ninh, công tác xã, ấp liên tục được tổ chức ở nhiều xã. Củng cố, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với cuộc kháng chiến, trước mắt đáp ứng cho công tác lãnh đạo địa phương đánh bình định lấn chiếm của địch trong giai đoạn này. Ngay khi vào đợt, các lực lượng võ trang ở An Biên đã đánh một đòn phủ đầu địch tại căn cứ Xẻo Rô, diệt quân chủ lực cùng bọn bảo an và tề tại đây, chuẩn bị cho việc lấn chiếm tuyến Xẻo Rô. Sau đó ta lại tấn công chốt Thứ Mười Một, diệt quân chủ lực và bọn địa phương lấn chiếm; tiêu hao nặng các vị trí Thứ Mười Một, Thứ Chín Rưỡi. Du kích xã phát triển trong chống càn, trong vây bó đồn bốt giặc. Một số đội du kích xã, ấp bắn rớt máy bay địch, diệt tàu Về phong trào chính trị, nói chung, do có bước chuẩn bị đối phó, chống lấn chiếm nên quần chúng bám đất, chiến đấu tốt. Có nhiều nhà bị đốt đi, phá lại nhiều lần nhưng quần chúng vẫn bám lại bằng cách cất chòi, trại, núp theo lùm bụi hoặc ở hầm; tìm cách duy trì sản xuất cùng du kích chiến đấu. Từng lúc, từng nơi quần chúng có những cuộc đấu tranh quyết liệt với địch như các cuộc chống địch bắn phi pháo vào dân, chống khủng bố, hãm hiếp, chống bắt lính, đôn quân mặt khác quần chúng đã đoàn kết chia cơm xẻ áo giúp đỡ, đùm bọc nhau trong chống địch càn quét, kết hợp với bộ đội và du kích canh gác làm đồng và tranh thủ cấy gặt vào ban đêm (lấy đêm làm ngày để sản xuất). Đầu năm 1971 qua tiếp thu Chỉ thị 01 của Trung ương Cục, Tỉnh ủy Rạch Giá thống nhất là phải chuyển hướng chỉ đạo chiến dịch toàn diện, triệt để, sâu sắc để tạo nên tình thế chiến lược mới. Tỉnh ủy xác định nhiệm vụ trọng tâm của Đảng bộ vẫn là đánh địch bình định; toàn chiến trường, mọi lực lượng, mọi khả năng đều đánh địch bình định; tập trung cho cơ sở, đưa Chi bộ, Đảng viên, du kích bám quần chúng, nắm dân, giành dân, nhanh chóng khôi phục và phát triển cơ sở cách mạng làm chuyển biến so sánh lực lượng ở cơ sở trong một thời gian ngắn, đưa bộ đội chủ lực của tỉnh ra đứng ở những địa bàn xung yếu tạo thuận lợi cho vùng tranh chấp chuyển lên, đồng thời căng kéo địch tạo điều kiện cho hai huyện An Biên và Vĩnh Thuận đánh bại kế hoạch “bình định U Minh” của địch. 149
  53. huyền thoại u minh Lược lượng võ trang phải phát huy hiệu suất chiến đấu, đánh địch liên tục, diệt gọn tiểu đội, trung đội địch ở cả 3 vùng, kết chặt 3 mũi giáp công đi đôi với hợp đồng chặt chẽ với lực lượng cấp trên trong tác chiến khi có yêu cầu; tăng cường đánh phá giao thông, cơ quan đầu não, kho tàng, hậu cứ của địch, bao bó các đồn bót trong vùng tranh chấp; bán tỉa, gài chất nổ, bãi chông ; sử dụng du kích mật đánh tại chỗ, kết chặt với phong trào chính trị và binh vận để tiêu hao địch, làm hạn chế và ngăn chặn hoạt động đánh xỉa của địch bung ra kềm dân, tạo điều kiện đi tới dứt điểm; diệt ác ôn, phá rã phòng vệ dân sự. Đi đôi với phong trào bao vây đồn bốt, đẩy mạnh phong trào xây dựng xã, ấp chiến đấu. Phát động rộng rãi, trong tất cả các cán bộ chiến sĩ, một phong trào bắn máy bay nhất là loại “trực thăng cán gáo” vì hoạt động của nó có tác động lớn đến quần chúng và nó có nhiều nhược điểm, nhất là vừa tầm bắn của súng trường của du kích. Về phía địch, tháng 2/1971, khi thấy các mục tiêu chưa đạt yêu cầu, không kềm được dân, không bắt được lính chúng đã đưa 24 đại đội bảo an của các tỉnh về tăng cường, củng cố các đồn trong vùng này. Lúc bấy giờ chúng đưa một bộ phận quân của Sư 9 bộ binh về phía Nam sông Cái Lớn. Tháng 6/1971, lại tăng thêm quân, chúng đóng thêm được căn cứ ở Xẽo Bần, đẩy mạnh kế hoạch nước rút sử dụng chiến thuật “tô dày đồn bót” lấp kín U Minh. Trước tình hình đó Quân khu đã quyết định mở đợt phản công ngay vào đầu tháng 9/1971. Trong đợt phản công này các lực lượng võ trang trên chiến trường U Minh nói chung và lực lượng võ trang huyện An Biên nói riêng đã thể hiện quyết tâm vượt mọi gian khổ, ác liệt, đứng vững trên các địa bàn, liên tục tấn công địch đều khắp, bẻ gãy nhiều cuộc càn quét, chặn đứng và làm tà các mũi tiến quân lấn chiếm, giáng những đòn đau, dồn dập vào các căn cứ hành quân, đồn bót, Chi khu, diệt nhiều sinh lực địch, hạ nhiều máy bay, đánh chìm tàu lập những chiến công lớn. Dù bị thua đau nhiều trận, bị tiêu hao, tiêu diệt một phần lớn thực lực, nhưng sang năm 1972 địch vẫn ngoan cố phản kích. Chúng tiếp tục đưa bọn bảo an ra phía trước can viện, nhổ chủ lực ra cơ động, cố rút đồn bốt ở những nơi yếu để co cụm lại, tập trung cho việc lắp lại những nơi quan trọng Về ta, thời gian này phong trào du kích chiến tranh được đẩy mạnh, phát triển rộng khắp các xã. Thanh niên tòng quân tham gia xây dựng lực lượng võ trang khu, tỉnh, huyện. Nhân dân ra sức xây dựng xã, ấp chiến đấu, cùng du kích, bộ đội đánh bại các cuộc hành quân càn quét của địch, mặt khác đoàn kết tương trợ, sản xuất, đóng góp đảm phụ đáp ứng yêu cầu của địa phương và cấp trên. 150
  54. huyền thoại u minh Với những thắng lợi trong năm 1972, nhất là thắng lợi đầu tháng 4/1972, Đảng bộ, quân dân An Biên nói riêng, tỉnh Rạch Giá nói chung, đã tạo được nhiều tiền đề có ý nghĩa rất quan trọng: bước đầu ta giành được đất, giành được dân, vùng giải phóng được hình thành bắt đầu khôi phục cuộc sống, tạo cơ sở cho việc xây dựng phía sau của ta. So sánh lực lượng giữa ta và địch bước đầu thay đổi có lợi cho ta. Thành tích đó đã đánh dấu bước trưởng thành nhanh chóng về tinh thần và chiến thuật kỹ thuật của lực lượng võ trang của ta ở chiến trường U Minh, chiến trường An Biên, góp phần cùng quân dân toàn Miền Nam đánh thắng các chiến thuật “nhảy dò”, “trực thăng vận”, “hạm đội nhỏ trên sông”, bộ binh kết hợp cơ giới, phi pháo, chiến thuật lấn chiếm bằng đồn bốt làm thất bại về cơ bản âm mưu của địch bình định U Minh. (Nguồn tư liệu: VP Huyện ủy An Biên) 151