Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
huong_dan_dieu_tra_dich_hai_thuc_vat_o_a_chau_va_khu_vuc_tha.pdf
Nội dung text: Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương
- Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương
- Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương Teresa McMaugh
- Trung tâm Quốc Gia Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc Tế (gọi tắt là ACIAR) được thành lập từ tháng 6 năm 1982 theo một đạo luật của Quốc hội Úc. Nhiệm vụ của Trung tâm là góp phần xác định những vấn đề nông nghiệp ở các quốc gia đang phát triển và tiến hành hợp tác nghiên cứu giữa Úc và các nghiên cứu viên thuộc các quốc gia đang phát triển trong những lĩnh vực Úc có năng lực nghiên cứu đặc biệt. Bất kỳ tên thương mại nào được sử dụng đều không có nghĩa là Trung tâm hỗ trợ hay kỳ thị một sản phẩm nào. CÁC CHUYÊN KHẢO CỦA ACIAR Những chuyên khảo có phản biện kín này bao gồm các kết quả nghiên cứu đầu tiên do ACIAR tài trợ hay những tư liệu được xem là thích ứng với mục tiêu nghiên cứu của ACIAR. Loạt chuyên khảo này phổ biến ở các nước trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển. © Australian Centre for International Agricultural Research 2008 McMaugh, T. 2008. Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương. ACIAR Chuyên khảo số 119b, 192 trang. 978 1 86320 554 2 (print) 978 1 86320 555 9 (online) Những người tham gia biên dịch: Phan Thúy Hiền, Quang Huy, Đoàn Thị Kim Quyên, Phạm Minh Bằng, Nguyễn Bá Chính và Thái Duy Bảo Hiệu đính chính: Thái Duy Bảo, với sự cộng tác của Phạm Minh Bằng, Vũ Quang Hào, Nguyễn Thị Chắt và Nguyễn Viết Tùng. Biên tập và thiết kế: Clarus Design Pty Ltd, Canberra In tại nhà in Union Offset, Canberra
- Lời nói đầu Vì hàng hóa nông sản dễ mở đường cho các dịch hại lây lan vào nhiều vùng mới, các quốc gia tham gia đàm phán về mậu dịch các mặt hàng nông sản này cần có đầy đủ thông tin về đặc điểm sinh học, phân bố, mức ký chủ cũng như tác hại kinh tế của các loài dịch hại thực vật. Khi sức khỏe cây trồng đã trở thành vấn đề lớn thuộc chính sách thương mại, thì những hiểu biết về công tác bảo vệ thực vật trong các ngành nông, lâm nghiệp của một quốc gia có những ứng dụng quan trọng khác nữa. Các ứng dụng này bao gồm việc xây dựng chính sách kiểm dịch chặt chẽ lẫn quá trình quản lý dịch hại đặc hữu. Vấn đề sức khỏe thực vật tác động nhiều mặt đến xã hội. Vì khi năng suất giảm, thu nhập nông dân bị ảnh hưởng không ít. Người tiêu dùng có ít lương thực hơn cũng như không nhiều lương thực để lựa chọn khi mua, hoặc lương thực sẽ có khả năng lưu chứa tồn dư thuốc hóa học. Hơn nữa, nhiều phương diện xã hội cũng có thể bị tác động khi sâu bọ, bệnh dịch và cỏ dại xâm nhập vào cộng đồng. Kỳ thực, cả ngành chăn nuôi lẫn trồng trọt ở Úc đều dựa trên giống, mầm ngoại lai. Bằng công việc kiểm dịch thực vật chặt chẽ suốt hơn 100 năm qua, Úc Châu đã tránh được nhiều dịch bệnh và dịch hại ngoại lai tai hại. Tình trạng an toàn y tế nông nghiệp thuận lợi của Úc Châu tạo cho đất nước này một lợi thế cạnh tranh khi tiếp cận với thị trường nước ngoài. Đối với các quốc gia là đối tác của ACIAR, quan trọng là phải nắm vững những vấn đề sức khỏe cây trồng và động vật xảy ra trên vùng lãnh thổ của mình. Trước đây ACIAR đã xuất bản tài liệu hướng dẫn phương cách nghiên cứu những vấn đề sức khỏe động vật và sức khỏe động thực vật dưới nước. ACIAR cũng đã tiếp sức cho các quốc gia riêng lẻ nghiên cứu các dịch hại cụ thể; chẳng hạn như, loại ruồi hại quả ở một số nước Á Châu và Nam Thái Bình Dương, loài bọ phấn trong và ngoài khu vực Nam Thái Bình Dương. Tuy nhiên, chưa thực sự có hỗ trợ nào mang tính hệ thống nhằm trang bị cho các quốc gia này những kỹ năng cơ bản để tự họ có thể thực hiện nghiên cứu trong lĩnh vực sức khỏe thực vật. Tập cẩm nang này xuất bản với hỗ trợ của Tổ chức Nghiên cứu và Phát triển Nông thôn (gọi tắt là RIRDC). Điều quan trọng đối với RIRDC là Úc Châu có thể áp dụng quyền hành động ngăn ngừa trước nhằm giảm thiểu các mối đe dọa do dịch bệnh ngoại lai đem lại. Thông qua việc tập huấn các chuyên gia sức khỏe thực vật thuộc các quốc gia trong vùng, tập cẩm nang này cho phép Úc Châu đối phó những mối đe dọa tại gốc thay vì sau khi để chúng xảy ra trên nước Úc. Tập cẩm nang này sẽ tiếp sức cho các nhà khoa học nghiên cứu các chương trình giám sát sức khỏe thực vật và truyền tải mẫu xét nghiệm về phòng thí nghiệm để giám định và bảo quản. Từ đó, các quốc gia có thể chia sẻ những kết quả nghiên cứu của nhau, làm gia tăng quan hệ hợp tác sâu về nghiên cứu sức khỏe thực vật. Cẩm nang này có thể tải xuống miễn phí từ trang web của Trung tâm ACIAR theo địa chỉ: www.aciar.gov.au Peter Core Peter O’Brien Giám đốc Trung tâm Nghiên Giám đốc điều hành Trung tâm cứu các ngành Nông thôn Nghiên cứu và Phát triển Quốc tế 3
- Mục lục Lời nói đầu 3 Lời tựa 7 Lời cảm tạ 9 Chú giải thuật ngữ 11 Những chữ viết tắt 14 Chương 1. Cách thức sử dụng tài liệu hướng dẫn 15 1.1. Phạm vi và đối tượng đọc 15 1.2. Tiêu chuẩn Quốc tế về Vệ sinh thực vật và các thuật ngữ sử dụng trong tập hướng dẫn này 16 1.3. Làm thế nào để sử dụng tài liệu hướng dẫn một cách hiệu quả nhất 17 1.4. Các ký hiệu sử dụng trong tập tài liệu 18 Chương 2. Thiết kế điều tra chi tiết 19 2.1. Giới thiệu 19 2.2. Bước 1. Chọn đề tài và lên danh sách tác giả. 19 2.3. Bước 2. Lý do điều tra 21 2.4. Bước 3. Xác định dịch hại đối tượng 22 2.5. Bước 4: Xác định ký chủ đối tượng 28 2.6. Bước 5: Ký chủ phụ 30 2.7. Bước 6. Xem xét các kế hoạch điều tra trước đó. 31 2.8. Bước 7 đến 10. Lựa chọn vùng điều tra 31 2.9. Bước 7. Xác định vùng điều tra 32 2.10. Bước 8. Xác định quận/ huyện điều tra 32 2.11. Bước 9. Xác định khu vực điều tra, địa bàn điều tra và điểm lấy mẫu 33 2.12. Bước 10. Phương pháp chọn địa bàn điều tra 33 2.13. Bước 11. Tính toán số lượng mẫu điều tra 49 2.14. Bước 12. Định thời biểu điều tra 56 2.15. Bước 13. Xây dựng kế hoạch thu thập số liệu trên hiện trường thực địa 58 2.16. Bước 14. Phương pháp thu thập mẫu dịch hại. 62 2.17. Bước 15. Lưu giữ số liệu điện tử 73 2.18. Bước 16. Yếu tố con người 74 2.19. Bước 17. Lấy giấy phép và xin phép tiếp cận điểm 79 2.20. Bước 18. Nghiên cứu thí điểm 79 2.21. Bước 19. Thực hiện điều tra: thu thập số liệu và thu thập mẫu 80 2.22. Bước 20. Phân tích số liệu 80 2.23. Bước 21. Báo cáo kết quả 81 2.24. Bước kế tiếp là gì? 81 Chương 3. Tìm hiểu thêm về điều tra phát hiện 83 3.1. Ðiều tra xây dựng danh mục dịch hại và ký chủ 83 3.2. Điều tra xác định vùng, khu vực và địa bàn phi dịch hại 89 3.3. Điều tra ‘phát hiện sớm’ 96 3.4. Tài liệu tham khảo 98 Chương 4. Tìm hiểu thêm về điều tra giám sát 99 4.1. Hỗ trợ việc quản lý dịch hại cây hoa màu và dịch hại cây rừng 99 4.2. Hổ trợ vùng có tình trạng ít nhiễm dịch hại 100 Chương 5. Tìm hiểu thêm về điều tra khoanh vùng 103 5.1. Điểm khác biệt về điều tra khoanh vùng là gì? 103 5.2. Kỹ thuật ‘tìm kiếm ngược’ và ‘tìm kiếm xuôi’ 103 5
- Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương 5.3. Vai trò của điều tra khoanh vùng đối với các kế hoạch an ninh sinh học 104 5.4. Ai thực hiện điều tra khoanh vùng? 104 5.5. Thiết kế điều tra 105 5.6. Trường hợp nghiên cứu điều tra khoanh vùng điển hình 109 Chương 6. Tìm hiểu thêm về điều tra chung 111 6.1. Thu thập thông tin về dịch hại 111 6.2. Mở các kênh truyền thông với các tổ chức Bảo vệ thực vật Quốc gia 112 6.3. Xây dựng chiến dịch nâng cao nhận thức 113 Chương 7. Bước 21. Báo cáo kết quả điều tra 119 7.1. Bạn cần báo cáo cho ai? 119 7.2. Viết báo cáo tóm tắt 119 7.3. Thông cáo báo chí 120 7.4. Bài trên bản tin 120 7.5. Xây dựng một báo cáo cơ bản 120 7.6. Báo cáo chính thức theo định dạng sẵn 121 7.7. ISPM 13 – Báo cáo dịch hại trong các lô hàng nhập khẩu 121 7.8. ISPM 17 –Báo cáo dịch hại 122 Chương 8. Trường hợp nghiên cứu 125 8.1. Các đặc điểm trường hợp nghiên cứu 125 8.2. Trường hợp nghiên cứu A. Dịch hại mía ở Papua New Guinea, In-đô-nê-xi-a và bắc Úc 127 8.3. Trường hợp nghiên cứu B. Việc điều tra danh mục dịch hại đối với các tác nhân gây bệnh cây và phát hiện ban đầu của NAQS và SPC 129 8.4. Trường hợp nghiên cứu C. Điều tra phát hiện sớm và tình trạng dịch hại đối với sâu đục chồi non ở cây dái ngựa và cây tuyết tùng 131 8.5. Trường hợp nghiên cứu D. Điều tra tình trạng dịch hại đô thị ở Cairns 133 8.6. Trường hợp nghiên cứu E. Điều tra tình trạng vùng phi dịch hại đối với mọt cứng đốt trong hạt tồn trữ 136 8.7. Trường hợp nghiên cứu F. Điều tra tình trạng vùng phi dịch hại của ruồi đục quả Queensland và ruồi đục quả Địa Trung Hải 138 8.8. Trường hợp nghiên cứu G. Tình trạng vùng phi dịch hại đối với dây tơ hồng 141 8.9. Trường hợp nghiên cứu H. Tình trạng vùng phi dịch hại đối với bọ đầu dài đục quả và hạt xoài 143 8.10. Trường hợp nghiên cứu I. Côn trùng hại cây lương thực, thực phẩm trong các cộng đồng thổ dân ở Lãnh thổ Bắc Úc 145 8.11. Trường hợp nghiên cứu J. Điều tra phát hiện sớm bệnh than đen ở cây mía 147 8.12. Trường hợp nghiên cứu K. Bệnh bạc lá lúa 150 8.13. Trường hợp nghiên cứu L. Điều tra giám sát sâu đục cây gỗ lớn trên bạch đàn và gỗ tếch 151 8.14. Trường hợp nghiên cứu M. Điều tra giám sát bệnh héo rủ cây con trong vườn ươm 153 8.15. Trường hợp nghiên cứu N. Giám sát bệnh hại rễ ở các vùng trồng cây gỗ cứng 156 8.16. Trường hợp nghiên cứu O. Điều tra giám sát hiện tượng rụng lá do một bệnh hại lá gây ra trong một đồn điền 158 8.17. Trường hợp nghiên cứu P. Điều tra tỷ lệ cây bị tổn thương ở thân 164 8.18. Trường hợp nghiên cứu Q. Điều tra giám sát ở các vùng trồng thông 169 8.19. Trường hợp nghiên cứu R. Điều tra giám sát rệp hại cây họ hoa thập tự 174 8.20. Trường hợp nghiên cứu S. Điều tra giám sát côn trùng kháng thuốc phosphine PH3 ở hạt ngũ cốc tồn trữ 176 8.21. Trường hợp nghiên cứu T. Chủng vi-rút đốm vòng cây đu đủ (PRSV-P): nghiên cứu khoanh vùng 180 8.22. Trường hợp nghiên cứu U. Điều tra khoanh vùng bệnh Hoàng Long (Greening) ở cây có múi và sinh vật truyền bệnh là rầy chổng cánh Châu Á ở Papua New Guinea . . . 182 8.23. Trường hợp nghiên cứu V. Điều tra khoanh vùng sâu vạch đỏ hại xoài ở bắc Queensland 185 8.24. Trường hợp nghiên cứu W. Điều tra khoanh vùng ruồi đục quả Queensland ở Rarotonga, Quần đảo Cook 188 6
- Lời tựa Năm 2001–2002, Cơ Quan Hỗ trợ Phát triển Quốc tế (gọi tắt là AusAid) đã tài trợ cho Văn Phòng Giám đốc Cơ quan Bảo vệ Thực vật, thuộc Bộ Nông-Lâm-Ngư của chính phủ Úc (gọi tắt là DAFF) để thực hiện việc tổng hợp tình hình sưu tập các loại dịch hại chân đốt và tiêu bản các bệnh thực vật xuất hiện trong các quốc gia thuộc khối ASEAN. Công trình này thực hiện với sự cộng tác của ASEANET1. Trong báo cáo2 của mình, các tác giả đã kết luận rằng không một quốc gia nào trong khu vực có được khả năng miêu tả đầy đủ về tình trạng sức khỏe cây trồng của nước mình cả. Phần lớn, vấn đề này có nguyên do là số lượng mẫu bệnh thực vật lưu giữ trong các bộ sưu tập sinh học chưa được nhiều. Các bộ sưu tập dịch hại chân đốt này, nhìn chung, có số lượng mẫu đáng kể hơn so với các bộ sưu tập mẫu bệnh thực vật; tuy vậy, tất cả đều được bổ sung và tiếp sức từ các nguồn khác để vươn mình đến những chuẩn mực quốc tế hiện đại. Các bộ sưu tập dịch hại3 mang ý nghĩa rất lớn vì chúng cung cấp nhiều chứng cứ đáng tin cậy nhất về tình trạng sức khỏe thực vật của một quốc gia. Các dữ liệu này chính là nền tảng cho việc xây dựng chính sách kiểm dịch chặt chẽ trong và ngoài nước, cũng như việc phát triển chiến lược phòng trừ dịch hại ở phạm vi trang trại. Chúng càng trở nên quan trọng hơn kể từ khi Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) ra đời vào năm 1995, dự báo mở ra kỷ nguyên mới của tự do hóa thương mại. Không giống như tổ chức ra đời trước đó là Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch, WTO là một tổ chức hoạt động có điều lệ, quy định việc mậu dịch các mặt hàng nông sản có tên trong bản Hiệp Định Áp Dụng Biện Pháp Vệ sinh Thực vật và Vệ Sinh Dịch Tể (gọi tắt là Hiệp định SPS). Trong khi mậu dịch các mặt hàng nông sản được mở rộng từ năm 1995, thì việc xuất khẩu từ các quốc gia đang phát triển lại không được mở rộng ngang cùng với mức thương mại giữa các quốc gia phát triển. Các quốc gia phát triển đã đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu bằng việc sử dụng các điều lệ của Hiệp Định SPS để kích đẩy các thị trường mở mà trước đây đóng cửa do có nghi ngờ về kiểm dịch. Đồng thời, chính phủ nhiều nước còn phải đối đầu với áp lực từ phía nông dân buộc phải sử dụng những điều lệ trong Hiệp định để loại bỏ các mặt hàng, mà theo họ, làm nẩy sinh mối đe dọa cho các ngành sản xuất. Sức khỏe thực vật từ đó đã trở thành một vấn đề không nhỏ trong chính sách mậu dịch. 1 ASEANET chính là tổ chức do địa phương lập nên và hoạt động trong địa phương các quốc gia ASEAN, thuộc Tổ chức BioNet Quốc tế, một hiệp hội hoạt động hợp tác để nâng cao tính tự lực trong lĩnh vực phân loại học và phương pháp phân loại học sinh học. 2 Evan, G., Lum Keng-Yang Murdoch, L., 2002. Đánh giá nhu cầu trong phân loại và phân loại sinh học đối với vi khuẩn bệnh lý thực vật trong các quốc gia Đông Nam Á, Chánh văn phòng Văn phòng Bảo vệ Thực vật, Bộ Nông- Lâm-Ngư Úc Châu. Báo cáo chưa xuất bản. Nauman, I.D. và Md Jusoh, M. [Md Jusoh Mammat] (2002). Đánh giá nhu cầu trong phân loại các dịch hại thực vật, đặc biệt động vật chân đốt xuất hiện ở các quốc gia Đông Nam Á: Phân loại sinh học, quản lý sưu tập và thông tin. Văn Phòng của Giám đốc Cơ Quan Bảo vệ Thực vật, Bộ Nông-Lâm-Ngư. Báo cáo chưa xuất bản. 3 Thuật ngữ sử dụng sau đây bao gồm các loại động vật chân đốt và các tác nhân gây bệnh thực vật. 7
- Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương Một quốc gia mà thiếu khả năng miêu tả đầy đủ về tình trạng sức khỏe cây trồng trong kinh tế nông nghiệp của mình sẽ gặp bất lợi khi đàm phán về việc tiếp cận thị trường nước ngoài. Nước nhập khẩu sẽ đánh giá mức rủi ro dựa trên hiểu biết của mình về tình hình dịch hại ở quốc gia xuất khẩu, về khả năng du nhập các loài dịch hại ngoại lai đang gây chú ý qua hàng nhập khẩu, cũng như về các biện pháp kiểm dịch thực vật hiện hành, nhằm giảm thiểu các rủi ro ở mức có thể chấp nhận được. Những bộ hồ sơ dịch hại đầy đủ dựa trên mẫu sưu tập chính là chìa khoá cho các quốc gia đang phát triển mở được cánh cửa đàm phán với các nước phát triển trên một cơ chế mậu dịch bình đẳng. Nhiều bộ sưu tập dịch hại chân đốt và bệnh thực vật là thành quả lao động trong hơn một trăm năm qua. Các Giám Đốc bảo tồn đầu tiên của những bộ sưu tập này đã xác nhận xuất xứ các mẫu vật là từ các nhà khoa học hoạt động trong lĩnh vực sức khỏe thực vật, từ các nông gia và từ những đợt đi thu thập mẫu của chính họ. Trong khi mẫu vật do các nhà khoa học về sức khỏe thực vật và các nông gia cung cấp vẫn còn giá trị, thì việc sưu tập mẫu lại trở nên có ý nghĩa nhiều hơn so với trước đây, do nhu cầu nâng cao tri thức khoa học về đa dạng sinh học, do mối quan tâm về nhu cầu phát hiện dịch hại lạ trong môi trường mới, cũng như do ước muốn mở rộng mậu dịch các mặt hàng nông sản. Các quốc gia mong muốn mở rộng xuất khẩu mặt hàng nông sản trong khuôn khổ điều lệ của WTO lại không có điều kiện xa hoa để xây dựng cho mình các bộ sưu tập mẫu dịch hại vốn phải mất nhiều năm tháng. Mà họ cũng chẳng phải làm vậy đâu. Họ có thể đẩy nhanh được việc xây dựng danh mục dịch hại dựa trên mẫu vật thông qua các chương trình điều tra có tổ chức, tập trung vào dịch hại có khả năng lan truyền qua hàng hóa nhập khẩu. Thường thì, nhưng không phải lúc nào cũng vậy, các đối tác thương mại sẽ quy định cụ thể phạm vi các hoạt động điều tra. Những chỉ dẫn trong tài liệu này được xây dựng nhằm trợ giúp cho các nhà khoa học về sức khỏe thực vật tiến hành những hoạt động điều tra với bất kỳ mục đích nào mà họ theo đuổi. Lois Ransom Giám đốc Cơ quan Bảo vệ Thực vật Bộ Nông-Lâm-Ngư nghiệp Chính phủ Úc châu 8
- Lời cảm tạ Tác giả xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến những cá nhân, đơn vị đã hỗ trợ trong việc thiết kế tài liệu hướng dẫn này và những đóng góp của họ bao gồm các trường hợp nghiên cứu, công việc biên tập kỹ thuật và đọc phản biện. Bộ Nông, Lâm, Ngư của Chính phủ Úc châu Ông Rob Cannon TS. Paul Pheloung Ông Eli Szandala TS. Leanne Murdoch Bà Emma Lumb TS Ian Naumann TS. Graeme Evans Trung tâm Nghiên Cứu Nông nghiệp Quốc tế Úc châu TS. Paul Ferrar (tiền nhiệm) Cơ quan Kiểm tra Sức khỏe Động Thực vật, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ TS. Lawrence G. Brown Ông Edward M. Jones Bộ Nông nghiệp Rarotonga, Đảo Cook TS. Maja Poeschko Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp Malaysia TS. Lee Su See Vụ Bảo vệ Mùa màng và Kiểm dịch Thực vật, Bộ Nông nghiệp Malaysia, Kuala Lumpur Ông Palasubramaniam K. Khoa Nông nghiệp Trường Đại học Khon Kaen, Thái Lan TS. Yupa Hanboonsong Văn phòng Nghiên cứu và Phát triển Bảo vệ Thực vật, Bộ Nông Nghiệp, Bangkok, Thái Lan Cô Srisuk Poonpolgul Mạng lưới Hợp tác về Sức Khỏe Thực vật ASEAN, Ban Thư ký ASEANET, Selangor, Malaysia TS. Lum Keng Yeang Cục Công nghiệp Cây Thực vật, Bộ Lâm nghiệp Philippines TS. Hernani G. Golez (tiền nhiệm) Khoa Nông nghiệp, Trường Đại học Gajah Mada, Bulaksumur, Yogyakarta, In-đô- nê-xi-a TS. Ir Andi Trisyono 9
- Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương Văn Phòng Giám Đốc Bảo Vệ Nghề Vườn, Tổng Giám Đốc Sản Xuất Rau Quả, Jakarta Selatan, In-đô-nê-xi-a TS. Sulistio Sukamto Cơ quan Thanh tra và Kiểm dịch Nông nghiệp (NAQIA), Port Moresby, Papua New Guinea Cô Majorie Kame Ban Thư ký Cộng đồng Thái Bình Dương, Suva, quần đảo Fiji Cô Jacqui Wright Ông Nacanieli Waqa TS Richard Davis Viện Bảo vệ Thực vật, Từ Liêm, Hà Nội, Việt Nam Cô Quách Thị Ngọ Bộ Canh Nông BIOTROP, Bogor, In-đô-nê-xi-a TS Soekisman Tjitrosemito Cơ quan dịch vụ Sức khỏe Động Thực vật (APHS), Bộ các Ngành Thiết yếu và Thủy sản bang Queensland (QDPI&F), Indooroopilly, Queensland, Úc TS Ross Wylie Cơ quan Chiến lược Kiểm dịch Bắc Úc (NAQS), Mareeba, Queensland, Úc Cô Barbara Waterhouse Ông Matthew Weinert Cơ quan Chiến lược Kiểm dịch Bắc Úc (NAQS), Trạm Nghiên cứu Canh nông Berrimah, Lãnh Thổ bắc Úc, Úc Ông Andrew Mitchell Ông Glenn Bellis Ngành Thực vật - Tổ chức Nghiên cứu Khoa học Công nghệ Khối Thịnh Vựơng, Canberra, Úc TS Richard Groves (cựu nhân viên) Bộ các Ngành Thiết yếu bang Victoria, Knoxfield, Victoria, Úc. TS Peter Ridland Bộ Nông Nghiệp Tây Úc, Nam Perth, Tây Úc TS Rob Emery Văn phòng trông coi các trạm thí nghiệm đường thuộc BSES Limited (trước đây), lần lượt hoạt động ở các chi nhánh của BSES Limited (trước đây) tại Indooroopilly, Tully và Woodford, tiểu bang Queensland, Úc TS Peter Allsopp TS Robert Magarey Ông Barry Croft Cơ quan Nghiên cứu và Phát triển Rừng, Bộ Lâm nghiệp Tasmania, Hobart, Úc TS Tim Wardlaw Bộ các Ngành Thiết yếu và Thủy sản bang Queensland (QDPI&F), Cairns, Úc Ông Mark Stanaway Cô Rebecca Yarrow 10
- Chú giải thuật ngữ Chú giải thuật ngữ4 Vùng Một quốc gia, phần của quốc gia hay toàn bộ hoặc nhiều phần của một quốc gia được chính thức công nhận. Vùng ít dịch hại Một vùng, một bộ phận hoặc toàn bộ một quốc gia hay hoặc tất cả các phần của nhiều quốc gia được các nhà chuyên môn có thẩm quyền xác định là có một loại dịch hại cụ thể nào đó xảy ra ở mức thấp và cần phải có biện pháp điều tra, khống chế và trừ diệt hữu hiệu. Điều tra khoanh vùng Điều tra được tiến hành để xác lập ranh giới của một vùng được coi là bị hoặc không bị nhiễm một loại dịch hại nào đó. Điều tra phát hiện Điều tra được tiến hành trên một vùng nhằm xác định sự có mặt của dịch hại. Điều tra chung Quá trình thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, dù có sẵn hay không và được Tổ chức Bảo vệ Thực vật Quốc gia (NPPO) cung cấp, về các loại dịch hại đang là mối lo ngại của một vùng. Công ước Quốc tế về Bảo vệ Thực vật (IPPC) Công ước Quốc tế được Tổ Chức Lương thực và Nông Nghiệp của Liên Hiệp Quốc (FAO) phê chuẩn và có sửa đổi sau đó. Tiêu chuẩn Quốc tế về Vệ sinh Thực vật (ISPM) Tiêu chuẩn quốc tế được ban hành từ Hội nghị của FAO - Ủy ban Lâm thời về Biện Pháp Vệ sinh Thực vật hay Ủy ban về Biện pháp Vệ sinh Thực vật, thành lập trong khuôn khổ của Công ước Quốc tế về Bảo vệ Thực vật. Tiêu chuẩn Quốc tế Tiêu chuẩn được xây dựng theo Điều khoản X, Đoạn 1 và 2 của Công ước Quốc tế về Bảo vệ Thực vật (IPPC). 4 Phần chú giải về Các Tiêu chuẩn Quốc tế (ISPMs) và các định nghĩa, xin xem: International Phytosanitary Portal ở trang web: trang web chính thức của Công Ước Quốc tế vè Bảo vệ Thực vật. 11
- Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương Điều tra giám sát Điều tra liên tục để xác định các đặc trưng của một quần thể dịch hại nào đó. Tổ chức Quốc gia về Bảo vệ Thực vật (NPPO) Cơ quan chính thức do Chính phủ thành lập nhằm thực thi các chức năng do Công ước Quốc tế về Bảo vệ Thực vật quy định. Liên quan đến mục tiêu chính của Công ước Quốc tế về Bảo vệ Thực vật (1997) là “bảo đảm thực hiện những hoạt động chung và có hiệu quả nhằm ngăn chặn sự lan truyền và xâm nhập của các dịch hại thực vật và các sản phẩm từ thực vật”, (Điều I.1) mục tiêu này đòi hỏi các quốc gia “phải cung cấp hết sức đầy đủ thông tin cho một tổ chức mang tính quốc gia về bảo vệ thực vật,” (Điều IV.1) mà tổ chức này có trách nhiệm: “ điều tra thực vật sống, bao gồm cả khu vực đang canh tác (đồng ruộng, đồn điền, vườn ươm giống, vườn, nhà kính và phòng thí nghiệm) lẫn các loài hoa dại, thực vật và sản phẩm từ thực vật được lưu cất trong kho bãi hay đang vận chuyển, đặc biệt là việc điều tra với mục tiêu là thông báo sự xuất hiện, bộc phát và lan truyền của dịch hại cũng như việc không chế những dịch hại đó, bao gồm các hoạt động báo trình như đã quy định trong điều VIII, Đoạn 1(a) ” (Điều IV.2b). ISPM 17 Dịch hại thông thường Loại dịch hại không phải là đối tượng kiểm dịch ở một vùng nào đó. Dịch hại Bất kỳ loài, chủng hoặc dạng sinh học nào của thực vật, động vật, hay tác nhân gây bệnh nào gây hại cho thực vật hay sản phẩm thực vật. Vùng phi dịch hại (PFA) Vùng mà các chứng cứ khoa học cho thấy không một loại dịch hại cụ thể nào xảy ra và bất cứ ở đâu trong vùng, tình trạng này được khẳng định chính thức. Khu sản xuất phi dịch hại (PFPP) Khu vực sản xuất mà chứng cứ khoa học cho thấy không có dịch hại cụ thể nào xảy ra và bất cứ ở đâu trong khu vực, tình trạng này được khẳng định chính thức trong một giai đoạn nhất định. Địa bàn sản xuất phi dịch hại (PFPS) Một bộ phận xác định trong địa bàn sản xuất mà chứng cứ khoa học cho thấy không có dịch hại cụ thể nào xảy ra và bất cứ ở đâu trong bộ phận này, tình trạng này được khẳng định chính thức trong một giai đoạn nhất định, và được quản lý như một đơn vị riêng biệt giống như một khu sản xuất phi dịch hại. 12
- Chú giải thuật ngữ Hồ sơ dịch hại Tài liệu cung cấp thông tin liên quan đến sự có mặt và vắng mặt của một dịch hại cụ thể tại một địa điểm nhất định trong một khoảng thời gian nào đó, trên phạm vi một vùng (thông thường là một quốc gia) ở những hoàn cảnh đã xác định. Phân tích nguy cơ dịch hại (PRA) Quá trình đánh giá chứng cứ sinh học, kinh tế và trên các bình diện khoa học khác để khẳng định có nên hay không điều chỉnh một loại dịch hại và mức độ triệt để của các biện pháp Vệ sinh Thực vật đối với loại dịch hại nầy. Tình trạng dịch hại (trong một vùng) Sự có mặt hay vắng mặt của một loại dịch hại trong một vùng ở thời điểm hiện tại, mà bất cứ nơi nào trong vùng, tính phân bố của nó được giới chuyên môn chính thức xác định trên cơ sở những hồ sơ dịch hại sưu tập hiện tại và trong thời gian đã qua cũng như từ các nguồn thông tin khác. Dịch hại kiểm dịch Loại dịch hại có tiềm năng gây hại đáng kể về mặt kinh tế đối với một vùng đang đối đầu với nguy cơ do nó đem lại, chưa thực sự có mặt hay đã có mặt nhưng không phân bổ rộng khắp và đang chính thức bị phòng trừ. Tổ chức Bảo vệ Thực vật Khu vực (RPPO) Tổ chức liên chính phủ có chức năng được quy định tại Điều IX của Công ước Quốc tế về Bảo vệ Thực vật. Dịch hại thuộc diện điều chỉnh Loại dịch hại kiểm dịch hay dịch hại thông thường thuộc diện điều chỉnh. Dịch hại thông thường thuộc diện điều chỉnh (RNQP) Loại dịch hại thông thường có mặt trong thực vật làm giống có tác động đến mục đích sử dụng của thực vật đó, gây ảnh hưởng nghiêm trọng về mặt kinh tế và do vậy cần phải điều chỉnh trong phạm vi lãnh thổ của đối tác tham gia hợp đồng nhập khẩu. Điều tra chi tiết Những thao tác mà các Tổ chức Quốc gia về Bảo vệ Thực vật sử dụng để thu thập thông tin về dịch hại đang là những mối lo ngại tại những địa bàn cụ thể trên một khu vực trong một khoảng thời gian nhất định. Điều tra chung Quá trình chính thức thu thập và lưu giữ tư liệu về việc xuất hiện và vắng mặt của dịch hại qua việc khảo sát, theo dõi, hay những thao tác khác. Điều tra khảo sát Thao tác chính thức được tiến hành suốt trong một khoảng thời gian nhất định để xác định những đặc trưng của một quần thể dịch hại nào đó hay để xác định loài dịch hại nào đang có mặt ở một vùng. 13
- Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương Những chữ viết tắt ALPP Vùng ít dịch hại APHIS Cơ quan Kiểm tra Sức khỏe Động Thực vật Hoa Kỳ APPPC Ủy ban Bảo vệ Thực vật Châu Á Thái Bình Dương AQIS Cơ quan Thanh Tra và Kiểm Dịch Thực vật Úc Châu ASEAN Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á ASEANET Hiệp Hội Tự lập, Tự hành Khu vực Đông Nam Á, thuộc Mạng Lưới Sinh học Quốc tế AusAID Cơ quan Hỗ trợ Phát triển Quốc tế Úc EPPO Tổ chức Bảo vệ Thực vật Châu Âu và Vùng Địa Trung Hải FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc GPS Hệ thống định vị địa lý ICPM Ủy ban Lâm thời về Kiểm dịch Thực vật IPPC Công ước Quốc tế về Bảo vệ Thực vật ISPM Tiêu chuẩn Quốc tế về Kiểm dịch Thực vật ISSG Tổ Chuyên Gia về Các loài thâm nhập LOOP Hiệp hội Tự lập, Tự hành Khu vực NAPPO Tổ chức Bảo vệ Thực vật Khu vực Bắc Mỹ NAQ Chiến lược Kiểm dịch Thực vật Bắc Úc Châu NPPO Tổ chức Bảo vệ Thực vật Quốc gia PFA Vùng phi dịch hại PFPP Khu sản xuất phi dịch hại PFPS Địa bàn sản xuất phi dịch hại PNG Papua New Guinea PRA Đánh giá nguy cơ dịch hại QDPI&F Bộ các Ngành Thiết yếu và Nghề cá Queensland RPPO Tổ chức Bảo vệ Thực vật Khu vực RSPM Tiêu chuẩn Khu Vực về các Biện pháp Vệ sinh Thực vật SPC Ban Thư ký của Cộng đồng Thái Bình Dương SPS Biện pháp Vệ sinh Dịch tễ và Vệ sinh thực vật USDA Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ WTO Tổ chức Thương mại Thế giới 14
- 1. Cách thức sử dụng tài liệu hướng dẫn Chương 1 Cách thức sử dụng tài liệu hướng dẫn 1.1. Phạm vi và đối tượng đọc Tập hướng dẫn này được biên soạn nhằm trợ giúp cho các chuyên gia về bảo vệ thực vật xây dựng các chương trình điều tra phát hiện dịch hại chân đốt (sâu, nhện hại) và mầm bệnh thực vật trên đồng ruộng, rừng trồng và các hệ sinh thái tự nhiên. Tài liệu này cũng đề cập đến việc xây dựng các chương trình điều tra nhằm xác lập danh mục mẫu dịch hại5, điều tra giám sát tình trạng các loại dịch hại cụ thể nhằm xác định giới hạn phân bố của chúng, điều tra để xác minh sự xuất hiện hay vắng mặt của dịch hại tại các vùng nhất định và điều tra chung. Các đơn vị và cá nhân đảm trách đầu tiên phần thiết kế biên soạn tập tài liệu hướng dẫn này đều nắm bắt được nhu cầu của các chuyên gia về bảo vệ thực vật ở các nước đang phát triển trong vùng, đặc biệt là các nước mong muốn xây dựng danh mục dịch hại dựa trên tiêu bản để hỗ trợ cho đàm phán mở rộng thương mại các mặt hàng nông sản. Vì lẽ đó, Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Úc Châu (ACIAR), cùng Tổ chức Nghiên cứu và Phát triển các Ngành Nông thôn (RIRDC) đã cung cấp toàn bộ kinh phí để các nhà chuyên môn về bảo vệ thưc vật ở một số quốc gia phát triển trong khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương cho ra đời tập tài liệu hướng dẫn này. ACIAR cũng tài trợ việc tuyển mời một số chuyên gia Úc tham gia vào quá trình biên soạn. Bên cạnh đó, các chuyên gia trong khu vực và Úc Châu cũng hình thành một “ban tư vấn” nhóm họp tại thủ đô Canberra, Úc Châu vào tháng 11 năm 2004 để giám sát việc xuất bản tài liệu. Ban Tư Vấn lưu ý rằng tài liệu hướng dẫn này không nên mang tính áp đặt thái quá và phương thức điều tra dịch hại thực vật cần phải linh hoạt, tính đến các vấn đề như kinh phí sẵn có, cũng như những khó khăn khi tiếp cận địa bàn có khả năng phát hiện dịch hại. Nhận thức được những hạn chế này, Ban Tư Vấn đã bày tỏ quan điểm là nên gọi tên ấn phẩm này là “tài liệu hướng dẫn” hơn là “cẩm nang” hay “sách công cụ”. Ở chương cuối của tài liệu, một số thành viên trong Ban Tư Vấn cũng đã tình nguyện đóng góp bài dưới hình thức là các trường hợp nghiên cứu dựa trên những điều tra khảo sát dịch hại tại một số nước được chọn thuộc khu vực Đông Nam Á, vài đảo quốc ở Thái Bình Dương và Úc Châu. Tài liệu hướng dẫn này sẽ dẫn dắt người đọc đi qua các bước dễ-làm-theo để thiết kế một chương trình điều tra, chú trọng đến nhu cầu xây dựng tư liệu cẩn thận cho quá trình điều tra. Ở mỗi bước, có những chỉ dẫn bổ ích về những vấn đề cần xem xét trước khi đi sâu vào một kế hoạch điều tra. Tập tài liệu hướng dẫn này cũng đưa ra những lời khuyên về cách giải quyết những vấn đề hóc búa là làm sao xây dựng những chương điều tra có giá trị về mặt 5 Từ “dịch hại” sử dụng trong toàn bộ tài liệu này mang một ý nghĩa chung, chỉ các loại động vật chân đốt, sâu bệnh thực vật và cỏ dại. 15
- Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương định lượng hầu đáp ứng được những đòi hỏi khắt khe của các quan chức nhà nước, các đối tác thương mại và những người chỉ muốn tin vào kết quả cho dù điều tra được tiến hành với bất cứ mục đích gì. Ban Tư Vấn, ACIAR và những đơn vị, cá nhân chịu trách nhiệm xuất bản hy vọng rằng tập tài liệu hướng dẫn này có thể hữu dụng đối với bất kỳ nhà khoa học về bảo vệ thực vật nào khi xây dựng một chương trình điều tra. Các chuyên gia mới bắt tay vào công tác điều tra cũng sẽ tìm thấy tập hướng dẫn này đặc biệt có ích. Tiến trình xây dựng hoạt động điều tra được hướng dẫn trong tài liệu này sẽ nhanh chóng tạo ra niềm tự tin cho những cán bộ mới vào nghề và hỗ trợ không nhỏ cho việc xây dựng những chương trình điều tra dịch hại. 1.2. Tiêu chuẩn Quốc tế về Vệ sinh thực vật và các thuật ngữ sử dụng trong tập hướng dẫn này Tiêu chuẩn Quốc tế ra đời để hướng dẫn cách thức thực hiện việc mậu dịch các mặt hàng nông sản nhằm hạn chế nguy cơ lan truyền dịch hại giữa các nước đối tác ở mức thấp nhất. Những tiêu chuẩn chính là các loạt Tiêu chuẩn Quốc tế về Kiểm dịch thực vật (gọi tắt là ISPMs). Những tiêu chuẩn này được Ủy ban Lâm thời về Biện pháp Vệ sinh Thực vật xây dựng và chứng thực dưới sự bảo hộ của Công ước Quốc tế về Bảo vệ Thực vật (gọi là IPPC). Mục tiêu của IPPC là bảo đảm những hoạt động mang tính chia sẻ chung và hiệu quả nhằm ngăn ngừa sự lan truyền và xâm nhập của dịch hại cũng như gia tăng các biện pháp phòng trừ. Các bên tham gia IPPC có quyền sử dụng các biện pháp Vệ sinh Thực vật để ra quy định việc nhập khẩu các mặt hàng, bao gồm nguyên cây, sản phẩm từ cây có khả năng che dấu dịch hại thực vật. Do những tiêu chuẩn quốc tế đã có phù hợp với hoạt động điều tra dịch hại thực vật nên các hướng dẫn trong tập sách này cũng chứa đựng và cố tuân theo tối đa những tiêu chuẩn của ISPM. Vì các tiêu chuẩn này xây dựng chung cho nhiều quốc gia và ở những bối cảnh khác nhau, nên nội dung các hướng dẫn này cung cấp nhiều thông tin về công tác thiết kế các hoạt động điều tra hơn là chỉ nêu ra các chỉ dẫn trong tiêu chuẩn. Ở nơi nào các mục của tài liệu hướng dẫn phù hợp với tiêu chuẩn ISPM thì chỗ đó có đoạn trích của ISPM. Lưu ý rằng tiêu chuẩn ISPM chủ yếu nhắm vào điều tra liên quan đến mậu dịch, mà điều này vốn không phải là lý do duy nhất của bản thân hoạt động điều tra. Tập tài liệu hướng dẫn này đề cập công việc thiết kế các loại điều tra phục vụ nhiều mục đích khác nhau, kể cả các hoạt động liên quan đến mậu dịch. Hầu như luôn luôn các định nghĩa của ISPM đều được sử dụng trong tài liệu hướng dẫn này. Bảng kê các thuật ngữ của ISPM liên quan đến hoạt động điều tra được trình bày ở tiêu chuẩn ISPM 5 và 6. Những thuật ngữ tương thích nhất lại được sử dụng lại trong bảng kê thuật ngữ của chính tập hướng dẫn này. Cần phải phân biệt ngay từ đầu sự khác biệt quan trọng giữa thuật ngữ “điều tra chung” và “điều tra chi tiết”. Thông thường, người ta hiểu nhầm “điều tra chung” nghĩa là thực hiện một điều tra tại chỗ đối với tất cả các loại dịch hại (chung chung). Trái lại, điều tra chung là một thuật ngữ bao quát mà ISPM không đưa ra một định nghĩa rõ ràng. Trong tập tài liệu này, thuật ngữ này được hiểu là loại điều tra bao gồm nhiều phạm vi hoạt động. Hoạt động đầu tiên và phổ biến nhất chính là thu thập thông tin về một loại dịch hại cụ thể. Những hoạt động khác bao gồm các chiến dịch tuyên truyền giáo dục ý thức trong quần chúng cũng như thực hiện báo cáo cho các mạng lưới, cụ thể là cho các tổ chức bảo vệ thực vật quốc gia. Điều 16
- 1. Cách thức sử dụng tài liệu hướng dẫn tra chi tiết là những hoạt động khảo sát liên quan đến công tác thực địa; vì vậy điều tra chi tiết bao gồm những hoạt động khảo sát mà tìm kiếm rất “chung chung” các loại dịch hại hay những loại dịch hại “thông thường” trên đồng ruộng. 1.3. Làm thế nào để sử dụng tài liệu hướng dẫn một cách hiệu quả nhất Nội dung trọng tâm của tài liệu hướng dẫn này là cung cấp chỉ dẫn về cách thức thiết kế các loại điều tra chi tiết. ISPM chia các điều tra chi tiết thành 3 loại: điều tra phát hiện, điều tra giám sát và điều tra khoanh vùng. Trong tập tài liệu hướng dẫn này, Chương 2 là chương quan trọng nhất và cần phải đọc và hiểu kỹ, bất luận bạn đọc có ý định xây dựng kiểu loại điều tra nào. Chương này cung cấp những thông tin về các thành phần và nội dung cơ bản cho bất kỳ loại điều tra chi tiết nào. Thiết kế điều tra được chia thành 21 bước, 20 bước đầu nằm trong Chương 2. Bước thứ 21, tức là bước thông báo kết quả, lại nằm trong Chương 7. Chương 3, 4 và 5 cung cấp những thông tin bổ sung về 3 loại điều tra chi tiết theo chuẩn ISPM và mỗi loại đối chiếu lại với Chương 2. Chương 6 dành cho loại điều tra chung. Chương 7 trình bày chi tiết cách thức thông báo kết quả điều tra thu thập được. Chương 8 bao gồm một số ví dụ về các loại điều tra chi tiết liên quan đến nhiều loại dịch hại và hoàn cảnh khác nhau. Các trường hợp nghiên cứu này do nhiều chuyên gia nghiên cứu về bảo vệ thực vật ở Đông Nam Á và Khu vực Thái Bình Dương cũng như ở Úc đóng góp. Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Các loại điều tra chi tiết Chương 6: Điều tra chung Chương 3: Điều Chương 4: Điều tra Chương 5: Điều tra tra phát hiện giám sát khoanh vùng Chương 7: Báo cáo kết quả 17
- Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương 1.4. Các ký hiệu sử dụng trong tập tài liệu Các ký hiệu dùng trong khắp tài liệu này là để gây chú ý đối với bạn đọc nào quan tâm đặc biệt đến một hay một số trong số 4 chủ điểm chính, đó là: cỏ dại, cây rừng, bệnh lý cây, côn trùng và các loài tương cận. Dấu chỉ các ký hiệu là: Cây rừng Cỏ dại Bệnh lý cây Côn trùng và các loài tương cận 18
- 2. Thiết kế điều tra chi tiết Chương 2 Thiết kế điều tra chi tiết 2.1. Giới thiệu Điều tra chi tiết bao gồm công tác điền dã - đi khảo sát thực tế để tìm hiểu dịch hại. Chương này mô tả các bước làm thế nào để quyết định: địa bàn điều tra, số điểm điều tra và loại số liệu cần thu thập. Chương này tiếp tục cung cấp thông tin về cách thức thu thập và lưu giữ mẫu, tiếp theo là bàn về những khía cạnh quan trọng cần tận dụng trong khi điều tra, bao gồm phần hướng dẫn các thao tác xử lý số liệu thu thập được. Trước khi đi thực tế và bắt đầu tìm kiếm dịch hại, bạn cần phải đưa ra nhiều quyết định về xây dựng kế hoạch. Một kế hoạch điều tra cần phải đầy đủ và kết quả phải phản ánh đúng thực trạng dịch hại. Kế hoạch đó phải có tính khả thi xét về điều kiện vật chất lẫn tài chính. Không hề có những quy định cứng nhắc và nghiêm ngặt về số lượng mẫu điều tra hoặc một phương thức chính xác về quy trình thiết kế điều tra nào cả. Do vậy, điều quan trọng là giải thích rõ ràng các bước đã chọn trong điều tra. Khi thiết kế một điều tra mới, cần cẩn thận ghi rõ và minh chứng các chi tiết thiết kế này. Đưa ra những xác minh hay lý lẽ cho 1 lựa chọn nào đó, sẽ làm dễ dàng và nhanh chóng cho bạn hay một ai đó lên kế hoạch cho các điều tra tương tự. Bằng việc đưa ra những lập luận, bạn cũng sẽ giúp cho bất cứ ai sau này sử dụng báo cáo của bạn như một phần điều tra tổng quát. Lập luận và quyết định của bạn cũng cần phải được biện minh nếu kế hoạch điều tra cần sự phê duyệt của Tổ chức Bảo vệ Thực vật Quốc gia (NPPO). Trong khi thực hiện kế hoạch nếu có thay đổi về quyết định nào đó thì phải bổ sung những thay đổi này kèm theo lý do giải thích. Phần còn lại của chương này mô tả 21 bước thiết kế và tiến hành một cuộc điều tra. Các bước này được trình bày trong Hình 1. 2.2. Bước 1. Chọn đề tài và lên danh sách tác giả. Hãy chọn một tên gọi thật đơn giản cho kế hoạch của bạn. Có thể bạn sẽ chỉnh sửa tên gọi đó trong quá trình thực hiện. Liệt kê danh tánh và địa chỉ liên lạc của các cá nhân có trách nhiệm xây dựng kế hoạch điều tra. 19
- Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương 1. Đặt tên và quyết định thành phần tham gia 2. Xác định mục đích điều tra giám sát: danh sách dịch hại, ký chủ, phát hiện sớm vùng phi dịch hại, vùng ít dịch hại, quản lý dịch hại, khoanh vùng, hệ thống báo cáo qua mạng cộng đồng. Đối tượng dịch hại đã được nhận diện không? Có 3. Chi tiết về dịch hại: tên, vòng đời, phương thức lan truyền, đặc tính phân loại. Không Cây ký chủ có hiện diện không? Có 4. Chi tiết của ký chủ: tên, vòng đời, phân bố. Không 5. Chi tiết các ký chủ phụ 6. Tham khảo bất kỳ điều tra nào có điều kiện tương tự, và các tài liệu in ấn v.v. 7. Xác định vùng điều tra 8. Xác định khu vực điều tra 9. Xác định loại địa bàn điều tra, hiện trường thực địa, khu vực lấy mẫu và điểm lấy mẫu. 10. Xác định phương pháp chọn điểm Có Có cần xử lý thống kê không? Không 11. Tính toán số lượng mẫu cần điều tra 12. Xác định thời biểu điều tra 13. Loại thông tin cần thu thập 14. Phương pháp thu thập dịch hại 15. Lưu giữ số liệu 16. Cá nhân tham gia 17. Lấy giấy phép tiếp cận hiện trường và những giấy tờ cần thiết khác 18. Tiến hành điều tra thí điểm 19. Tiến hành điều tra: thu thập số liệu thô và mẫu điều tra 20. Phân tích số liệu 21. Báo cáo kết quả Hình 1. Các bước thiết kế một điều tra chi tiết. 20
- 2. Thiết kế điều tra chi tiết Bước 1 Đặt tên cuộc điều tra của bạn Ghi danh tánh của các cá nhân tham gia 2.3. Bước 2. Lý do điều tra Có nhiều lý do điều tra dịch hại. Như đã bàn đến ở Chương 1, một số có thể là: • Xây dựng bảng danh mục dịch hại hoặc ký chủ xuất hiện trong một vùng. • Chứng minh môt vùng nào đó không nhiễm dịch hại (một loại dịch hại nào đó không xuất hiện trong một vùng) hoặc một số khu vực ít bị nhiễm dịch hại để đáp ứng mục đích thương mại. • Xây dựng danh mục dịch hại gốc trước khi thường xuyên theo dõi những thay đổi về tình hình dịch hại. • Quản lý và phòng trừ dịch hại. • Phát hiện sớm các loại dịch hại ngoại lai. • Phát hiện sớm những sinh vật hiện có đang trở thành dịch hại. • Khoanh vùng phạm vi xâm nhiễm dịch hại. • Theo dõi diễn biến chiến dịch diệt trừ dịch hại. Bạn cũng có thể đưa những lý do khác kết hợp với các lý do trên. Hộp 1. Điều tra kiểm tra mối liên kết Nếu bạn đang cố xét xem sự có mặt của dịch hại có liên quan đến một yếu tố nào khác hay không, chằng hạn như một vị trí đặc biệt (ven đường hoặc gần tháp điện thoại di động) hoặc một số ký chủ, thì bạn cần thiết kế một thí nghiệm kiểm tra giả thiết đó. Thí nghiệm “kiểm tra giả thiết” khác với điều tra giám sát. Phải cẩn thận thiết kế thí nghiệm kiểm tra mối liên quan nhằm loại trừ khả năng phát tán dịch hại cũng như phân lập được yếu tố liên quan. Trong trường hợp này, bạn cần kiểm tra tác động của yếu tố đó là đúng hay sai – mà không làm ảnh hưởng đến kết quả. Tài liệu hướng dẫn không đề cập đến thiết kế thí nghiệm loại này. Để hiểu thêm, bạn có thể tìm đọc khái niệm “kiểm tra giả thiết” (hypothesis testing) trên mạng Internet. Bước 2 Xác định mục đích điều tra của bạn 21
- Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương 2.4. Bước 3. Xác định dịch hại đối tượng Nếu dịch hại đối tượng chưa được nhận diện – ví dụ như bạn dự định điều tra loài cỏ dại mới, bạn hãy bỏ qua bước 3 và tiến hành luôn bước 4. Nếu dịch hại đối tượng đã được nhận diện, bước 3 yêu cầu thu thập càng nhiều thông tin càng tốt về dịch hại đó. 2.4.1. Các nguồn thông tin hữu ích Đối với các dịch hại đã xuất hiện ở một quốc gia, việc tìm kiếm thông tin về dịch hại – vòng đời và đặc điểm nhận diện – sẽ dễ dàng hơn bởi vì đã có thể có các chuyên gia trong và ngoài nước (các nhà côn trùng học, bệnh lý cây, viên chức bảo vệ thực vật và kiểm dịch). Bạn có thể tìm kiếm thông tin về dịch hại ngoại lai từ các quốc gia đã từng xuất hiện loài dịch hại đó qua liên lạc với Bộ Nông nghiệp của Chính phủ (đặc biệt là các Tổ chức Bảo vệ Thực vật Quốc gia) và tìm đọc tài liệu xuất bản hoặc tìm kiếm trên mạng Internet (lưu ý đánh giá chuẩn xác độ tin cậy của nguồn thông tin). Ngoài ra, bạn còn có thể tiếp cận với rất nhiều danh mục và các cơ sở dữ liệu điện tử mô tả nhiều loại dịch hại, ví dụ như CABI Crop Protection Compendium. Theo ISPM 6 (FAO 1997, tr. 7): Các nguồn thông tin này có thể bao gồm: Các Tổ chức Bảo vệ Thực vật Quốc gia, các cơ quan chính quyền ở phạm vi quốc gia và địa phương, các viện nghiên cứu, các trường đại học, các hiệp hội khoa học (bao gồm cả các chuyên viên nghiệp dư), các nhà sản xuất, tư vấn viên, viện bảo tàng, công chúng, các tạp chí khoa học và thương mại, các nguồn thông tin chưa được xuất bản và những điều quan sát được ở thời điểm hiện tại. Ngoài ra, các Tổ chức Bảo vệ Thực vật Quốc gia cũng có thể thu thập thông tin từ các tổ chức Quốc tế như Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO), Tổ chức Bảo vệ Thực vật Khu vực (RPPO), v.v Các nguồn thông tin khác có thể là: • Các báo cáo phân tích nguy cơ dịch hại do chính Quốc gia bạn hoặc các cơ quan thuộc quốc gia khác tiến hành. • Các bộ mẫu sưu tập dịch hại côn trùng và nguồn bệnh cây quan trọng đối với nông nghiệp. • Các cơ sở dữ liệu điện tử về ngăn chặn được dịch hại và bệnh từ các cơ quan kiểm dịch. • Mạng internet (xem Hộp 2, trang 24). 2.4.2. Xác minh nguồn thông tin ISPM 8 đã xây dựng được cơ sở đánh giá độ tin cậy của một hồ sơ dịch hại và cũng có thể áp dụng vào đánh giá nguồn thông tin sử dụng trong xây dựng điều tra của bạn. Các yếu tố liên quan được trình bày trong một bảng của ISPM 8 bao gồm phạm trù chuyên môn các cá nhân tham gia và chất lượng nguồn thông tin. Bạn cần xem xét thẩm quyền của các cá nhân có trách nhiệm đưa ra thông tin và chất lượng thông tin đó. 2.4.3. Tên dịch hại Bắt đầu bằng việc xây dựng danh mục tên khoa học và tên thường gọi của dịch hại đối tượng, bao gồm cả các tên gọi khác của chúng. 22
- 2. Thiết kế điều tra chi tiết 2.4.4. Sinh vật mang mầm dịch hại Xác định các sinh vật mang mầm dịch hại cần điều tra. Nếu dịch hại có chứa các sinh vật mang mầm dịch hại, chúng phải được đưa vào danh sách các sinh vật đối tượng điều tra. 2.4.5. Các tác động dịch hại có thể có Cần xem xét lý do bạn chọn những loài dịch hại này – có phải vì chúng là những loài dịch hại chính hay chỉ là những mối dịch hại đe dọa? Các đối tác thương mại có cần thông tin về thực trạng một số dịch hại nào đó trong vùng của bạn không? Nói chung, bạn phải nêu ra được dịch hại có khả năng gây ảnh hưởng như thế nào lên ký chủ, vùng hoặc hệ sinh thái vùng sản xuất và tổng thể nền sản xuất . 2.4.6. Đặc điểm dịch hại: Bằng cách nào nhận diện dịch hại trên hiện trường thực địa? Đặc điểm phân loại của một dịch hại hoặc các biểu hiện dịch hại có mặt có thể được xây dựng từ nhiều nguồn khác nhau. Đối với những dịch hại đã từng xuất hiện ở một quốc gia, nông gia và cán bộ lâm nghiệp có thể quen thuộc với các loài dịch hại đó. Để chắc chắn dịch hại đã được giám định chính xác, bạn cần đến xác nhận của một chuyên gia bệnh cây đối với mầm bệnh hại, một chuyên gia côn trùng học đối với côn trùng và các dạng tương tự, hoặc một nhà thực vật học đối với cỏ dại. Bạn cần xây dựng một danh sách các chuyên gia và phòng thí nghiệm có kinh nghiệm với dịch hại và có khả năng phân loại để nhận dạng dịch hại tùy theo loài dịch hại bạn dự định điều tra. Ở những khu vực có hiện diện cây ký chủ, cần mô tả các bộ phận cây ký chủ dễ bị dịch hại xâm nhiễm nhất, và các bộ phận cây cần kiểm tra, ví dụ: thân, vỏ cây, lá, rễ, tán lá, gốc cây. Dịch hại có tập trung vào hàng hóa nông sản hay không, ví dụ như: quả, hạt? Dịch hại có gây hại vào giai đoạn nào đó trong quá trình phát triển của cây ký chủ không? Ánh sáng hay pheromone có thu hút dịch hại không? Mô tả vị trí dịch hại hoặc biểu hiện gây hại trên ký chủ hoặc nông sản; ví dụ: bay phía trên hoa màu, đục sâu vào vỏ cây, ở mặt dưới của lá, phân sâu bọ dưới gốc cây, lá cong lên, phát triển dọc theo hàng cây. Một nhà thực vật học có thể xác định được nhiều ký chủ của một dịch hại cây trồng. Có yếu tố nào tác động đến phát triển các biểu hiện gây hại hay không, ví dụ như: giống ký chủ, giai đoạn phát triển của ký chủ, mùa vụ, ảnh hưởng của thuốc diệt dịch hại và điều kiện khí hậu? Tập hợp tất cả các thông tin có sẵn về vòng đời của dịch hại. 2.4.7. Thu thập mẫu và hình ảnh tham khảo Đối với các điều tra tổng quát và điều tra chi tiết, hình ảnh thể hiện các đặc điểm dịch hại và các tác động của nó đối với cây ký chủ đều rất hữu ích trong các báo cáo. Mang theo các tài liệu để phổ biến ở hiện trường là rất cần thiết để phát hiện dịch hại, đặc biệt là khi các dịch hại hoàn toàn mới đối với cán bộ điều tra. Có một bộ tiêu bản thực vật hoặc mẫu cây nhiễm dịch hại, hoặc một bộ tiêu bản động vật không xương sống cũng rất hữu ích với điều kiện chúng không quá cồng kềnh và phải được bảo vệ cẩn thận. Bạn cũng có thể thu thập được nhiều hình ảnh điện tử từ một số trang web, chụp từ máy ảnh kỹ thuật số hoặc nhờ các đồng nghiệp gửi hay qua mạng thư điện tử. Bạn có thể sử dụng tất cả các hình ảnh này để tạo ra các trang thông tin về dịch hại. 23
- Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương Hộp 2. Nguồn thông tin dịch hại trên internet Cơ quan Kiểm tra Sức khoẻ Động, Thực vật Hoa Kỳ(Animal and Plant Health Inspection Service - APHIS) thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) Tại trang web: Trang web này có kết nối tới các tiêu chuẩn của Tổ chức Bảo vệ Thực vật Bắc Mỹ (NAPPO) và Tiêu chuẩn Quốc tế về Biện pháp Kiểm dịch Thực vật. Trang web bao gồm các cẩm nang về nhiều loài dịch hại không xương sống có thông tin hữu ích về phân loại, phương pháp điều tra và phòng trừ dịch hại. Các bản đánh giá nguy cơ dịch hại của hàng hóa nông sản đang được xét nhập khẩu vào Mỹ cũng sẵn có để tìm nhiều loại dịch hại và chúng có thể cung cấp thông tin về phổ ký chủ và phương pháp điều tra trong các mục hữu ích khác. APHIS cũng cung cấp một trang web hữu ích khác tại địa chỉ kết nối với một loạt các hệ thống cơ sở dữ liệu về dịch hại; ví dụ: những cơ sở dữ liệu liệt kê trong hộp này do HEAR và ISSG quản lý, kho dữ liệu tạp chí điện tử và một số cơ sở dữ liệu về dịch hại dưới nước. Hội Bệnh Thực vật Hoa Kỳ (American Phytopathological Society - APS) Tại trang web: APSNet có các thảo luận về bệnh cây trồng thông qua các bản tin nội bộ, và một bộ sưu tập hình ảnh giới hạn. Mạng còn bao gồm một hệ thống cơ sở dữ liệu về danh mục dịch hại các cây trồng và hàng nông sản (xem ‘Common names of plant diseases’ (tên bệnh cây thường gọi) dưới các nguồn trực tuyến (‘Online resources’) và gõ tên ký chủ hoặc tên dịch hại). Hội cũng xuất bản các tạp chí đăng ký mua dài hạn như: Phytopathology (Bệnh thực vật học), Plant Disease (Bệnh cây), Molecular Plant-Microbe Interactions (Tương tác phân tử giữa thực vật và vi sinh vật) và Plant Health Progress (Phát triển bảo vệ thực vật). CAB Quốc tế (CAB International - CABI) Tại trang web: Mục đích của CABI là xây dựng, phổ biến và khuyến khích sử dụng kiến thức trong lĩnh vực sinh học ứng dụng, bao gồm lĩnh vực phúc lợi con người và môi trường. CAB International xuất bản nhiều sách và các tài liệu tham khảo khác được liệt kê trên mạng tại địa chỉ . CABI xuất bản một hệ thống cơ sở dữ liệu tổng hợp các bài tóm tắt của các ấn phẩm khoa học, bạn có thể đăng ký mua dài hạn đĩa CD và xem trực tuyến. Cẩm nang Bảo vệ Thực vật CABI (CABI Crop Protection Compendium) Cẩm nang chứa đựng thông tin về rất nhiều dịch hại. Để sử dụng cẩm nang này trực tuyến hoặc từ đĩa CD, bạn phải trả tiền mua bản quyền sử dụng và phần mềm cài đặt vào máy tính. Có thể tìm thêm thông tin và dùng thử tại trang web: www.cabicompendium.org/cpc. Quy trình phân loại (Diagnostic Protocols – DIAGPRO) Tại trang web: www.csl.gov.uk/science/organ/ph/diagpro Trang web này do Phòng thí nghiệm khoa học Trung ương Anh Quốc điều phối để xây dựng các quy trình phân loại 15 sinh vật có hại cho thực vật. Các quy trình này đưa ra những thông tin về lấy mẫu, kể cả những đặc trưng và phương pháp loại. 24
- 2. Thiết kế điều tra chi tiết Tổ chức Bảo vệ Thực vật Châu Âu và Vùng Địa Trung Hải (European and Mediterranean Plant Protection Organization – EPPO) Tại trang web: www.eppo.org Tổ chức này điều phối nhiều lĩnh vực khác nhau trong công tác bảo vệ thực vật xuyên suốt hầu hết các nước Châu Âu. EPPO đã xây dựng nhiều tiêu chuẩn về biện pháp vệ sinh thực vật và sản phẩm bảo vệ thực vật. Tuy những tiêu chuẩn này chỉ áp dụng cho cộng đồng các nước Châu Âu, chúng cũng cung cấp thông tin về hàng rào kiểm dịch hiện hành. Một số tiêu chuẩn có đưa ra danh mục dịch hại và các thông tin về việc kiểm soát chúng trên các hoa màu và phân loại chúng trên hiện trường thực địa (xem ‘Good plant protection practice’ (Biện pháp bảo vệ thực vật sạch) và ‘Phytosanitary procedures’ (Quy trình kiểm dịch thực vật) theo ‘Standards’(Các tiêu chuẩn). Mạng thông tin tài nguyên quỹ gien (Germplasm Resources Information Network - GRIN) Tại trang web: www.ars-grin.gov/cgi-bin/npgs/html/index.pl Trang này cung cấp những thông tin về nguyên tắc phân loại thực vật. Nó cho phép tìm kiếm ở mức độ họ, chi, loài, và cả tên thường gọi. Tuy đường dẫn kết nối đến trang web này hiện tại còn chưa rõ ràng, bạn nên kiên nhẫn chờ đợi vì cơ sở dữ liệu của mạng này khá đồ sộ. Chương trình Các loài thâm nhập Toàn cầu (Global Invasive Species Programme – GISP) Tại trang web: www.gisp.org Chương trình này là một phần phối hợp của Công ước về Đa dạng Sinh học. Trang web GISP chủ yếu thảo luận về các loài thâm nhập mang tính tổng quát và cung cấp các đường dẫn tới các trang web hữu ích khác như được đưa ra trong hộp này. Trang web CBD (www.biodiv.org/programmes/cross- cutting/alien) có một số nghiên cứu tình huống về một loạt các loài thâm nhập, trong đó có cả những loài tác động đến nông nghiệp. Nguy cơ đối với Hệ sinh thái Hawai (Hawaiian Ecosystems At Risk – HEAR) Tại trang web: www.hear.org Mục đích của dự án về Nguy cơ đối với Hệ sinh thái Hawai nhằm cung cấp thông tin và kinh phí hỗ trợ việc quản lý các loài thâm nhập ngoại lai ở Hawai và Thái Bình Dương. Trang web chứa đường dẫn tới cẩm nang toàn cầu về cỏ dại www.hear.org/gcw. Cẩm nang chứa đựng các thông tin không có hình ảnh đi kèm, thu thập được từ trước đến nay, ghi các tên gọi khác nhau, tình trạng dịch hại, nguồn gốc, các giới hạn môi trường dung nạp, có cây trồng hay không. Trang web HEAR kết nối với báo cáo: ‘Invasive species in the Pacific.Technical Review of regional strategy’ (Loài thâm nhập ở Thái Bình Dương. Báo cáo chuyên môn về chiến lược khu vực), của Chương trình Môi trường Khu vực Nam Thái Bình Dương (South Pacific Regional Environment Programme - SPREP) thực hiện. Báo cáo này liệt kê các dịch hại biểu hiện đe dọa khu vực Thái Bình Dương và được viết vào năm 2000. Tham khảo trang web . Công ước Quốc tế về Bảo vệ Thực vật (ICCP) Tại trang web: www.ippc.int/IPP/En/default.htm Trang web IPPC đề cập đến tiêu chuẩn ISPM và kết nối với các tổ chức bảo vệ thực vật đa quốc gia. 25
- Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương Tổ Chuyên gia về Các loài thâm nhập (Invasive Species Specialist Group – ISSG) Tại trang web: www.issg.org Trang web này mang lại hai lợi ích: thứ nhất, một danh sách các chuyên gia và thứ hai, một hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử về các loài thâm nhập toàn cầu. ALIENS-L là một danh sách địa chỉ email của Tổ Chuyên gia về Các loài thâm nhập (ISSG) thuộc Ban phụ trách sự sống còn các loài của Hiệp hội Bảo tồn Thế giới (IUCN), hoạt động thông qua Ban Thư ký của Cộng đồng Thái Bình Dương (SPC). Đây là một diễn đàn thảo luận về bất kỳ sinh vật gây hại nào và do vậy các chủ đề khá phong phú. Đây là cách dễ dàng đưa ra các câu hỏi cho tổ chuyên gia. Để đăng ký vào danh sách này, bạn có thể gửi email tới địa chỉ Aliens-Lrequest@ indaba.iucn.org, để trống mục subject (chủ đề) và ‘join’ (nhập) vào ô cho sẵn. Hệ thống Cơ sở Dữ liệu điện tử về các loài thâm nhập toàn cầu đưa ra thông tin các loài đang đe dọa sự đa dạng sinh học, bao gồm cả động vật và thực vật. Tìm hệ thống cơ sở dữ liệu này tại . Nghiên cứu chăm sóc đất (Landcare Research), NewZealand Tại trang web: www.landcareresearch.co.nz/databases/index.asp Nghiên cứu chăm sóc đất lưu giữ nhiều bộ sưu tập và cơ sở dữ liệu điện tử sinh học và tài nguyên. Có cả các danh mục tiêu bản lưu giữ trong bộ sưu tập, rất hữu dụng nếu bạn muốn sao chụp lại tiêu bản phục vụ việc phân loại hoặc tìm kiếm các hình ảnh dịch hại điện tử. Bộ sưu tập bao gồm tuyến trùng, động vật chân đốt, nấm và các mầm bệnh khác, có cả các thực vật bản địa của New Zealand. Nguy cơ đối với Hệ sinh thái Vùng đảo Thái Bình Dương (PIER) Tại trang web: www.hear.org/pier/index.html Trang web này tập trung vào các loài thực vật thâm nhập đang là mối đe dọa cho hệ sinh thái vùng đảo Thái Bình Dương. Ngoài ra, cũng có các tài liệu như hình ảnh và sự phân bố của các loài cỏ trọng yếu đối với nông nghiệp. Mạng lưới Dịch hại (PestNet) Tại trang web: www.pestnet.org PestNet đưa ra một hệ thống thư điện tử liên lạc tương tự như ISSG nhưng tập trung nhiều vào dịch hại nông nghiệp nhằm trợ giúp những người làm công tác bảo vệ thực vật ở Đông Nam Á và Thái Bình Dương. Chủ đề thảo luận chủ yếu liên quan đến nhận dạng dịch hại, yêu cầu về tiêu bản và phương pháp phòng trừ dịch hại. PestNet có một trang web hướng dẫn cách thức gia nhập danh sách thư điện tử. Bạn chỉ cần làm các hướng dẫn ở mục ‘Join PestNet’ trên trang web www.pestnet.org. Trang web còn có cả một phòng triển lãm hình ảnh nhiều loại dịch hại. 26
- 2. Thiết kế điều tra chi tiết Ban Thư ký Cộng đồng Thái Bình Dương (Secretariat of the Pacific Community – SPC), Cơ quan Bảo vệ Thực vật (Plant Protection Service – PPS) Tại trang web: www.spc.int/pps Nhóm này phối hợp các vấn đề về bảo vệ thực vật thuộc các nước và lãnh thổ trong khu vực Thái Bình Dương. PPS tập trung vào hàng rào kiểm dịch thực vật, phòng ngừa, công tác chuẩn bị đối phó xâm nhiễm và quản lý dịch hại. Trang web này cũng có các báo cáo chuyên ngành về dịch hại rừng, cách giám sát và quản lý chúng và cả hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử về danh mục dịch hại của khu vực Thái Bình Dương. Hoa màu Truyền thống Vùng đảo Thái Bình Dương (Traditional Pacific Island Crops) Tại trang web: Trang web này do Trung tâm mạng thông tin nông nghiệp (AgNIC) của USDA gov:8o8o/agnic xây dựng. Trang web có các thông tin về canh tác, dịch hại và các vấn đề tiếp thị của nhiều cây trồng trong khu vực Thái Bình Dương như kava và cau. Ngoài ra, nó còn kết nối tới các trang web hữu quan của Trường Đại học Hawaii. Cỏ dại Môi trường (Enviroweeds) Chương trình này do Trung tâm Hợp tác Nghiên cứu về Quản lý Cỏ dại của Úc Châu (Cooperative Research Centre for Weed Management in Australia) điều phối. Nó được sử dụng để phổ biến và thảo luận về thông tin quản lý cỏ dại môi trường trong hệ sinh thái tự nhiên. Để đăng ký vào chương trình này, bạn có thể gửi email đến địa chỉ [email protected] và gõ trong phần nội dung thư. Để trống phần subject (chủ đề). 2.4.8. Phiếu thông tin dịch hại Phiếu thông tin dịch hại có các chi tiết nhận dạng dịch hại để cán bộ điều tra có thể tham khảo tại hiện trường. Bạn có thể gọi chúng là ‘phiếu hướng dẫn trên hiện trường. Để hoàn thành công việc này, dựa vào các thông tin đã thu thập được, bạn có thể xây dựng các tờ phiếu thông tin dịch hại của riêng mình. Bạn nên thiết kế chúng thật đơn giản và dễ đọc. • Một tờ phiếu thông tin dịch hại bao gồm: Tên thường gọi và tên khoa học của dịch hại • Phổ ký chủ • Biểu hiện và hình thái • Ảnh màu hoặc sơ đồ dịch hại cho thấy các hình thái đặc trưng ở các giai đoạn điển hình và trên nhiều ký chủ khác nhau (nếu có) • Môi trường sống thích hợp – có thể bao gồm cả môi trường nhân tạo như các chậu trồng cây, vật liệu chèn lót (thùng gỗ), gian hàng ngoài chợ, hầm thức ăn gia súc và các container hàng hóa đường biển • Nếu có thể, chi tiết về các dịch hại dễ nhầm lẫn với dịch hại điều tra Phiếu thông tin cỏ dại thường có các hình ảnh giai đoạn cây con, trưởng thành và chi tiết các bộ phận phân loại như: hoa, lá, nụ. 27
- Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương Bước 3 Ghi chép lại tên dịch hại Ghi chép tầm quan trọng của dịch hại Ghi chép đặc điểm phân loại của dịch hại, bao gồm cả vòng đời Xây dựng các phiếu thông tin dịch hại để sử dụng trên hiện trường 2.5. Bước 4: Xác định ký chủ đối tượng Nếu ký chủ không hiện diện- ví dụ như trong trường hợp điều tra cỏ dại hoặc pheromone bẫy côn trùng - bỏ qua bước này, tiến hành luôn bước 5. 2.5.1. Tên ký chủ Liệt kê các tên thường gọi và tên khoa học của ký chủ đối tượng. Đối với cây rừng, liệt kê các loài cây chủ yếu và tên thường gọi của chúng. 2.5.2. Giá trị của ký chủ hoặc hàng hoá nông sản Mô tả tầm quan trọng của ký chủ; ví dụ: giá trị dinh dưỡng đối với các cộng đồng nhỏ và tầm quan trọng về mặt kinh tế đối với quốc gia và khu vực. 2.5.3. Đặc điểm phát triển và vòng đời cây ký chủ Mô tả đặc điểm phát triển của mỗi ký chủ và các khía cạnh vòng đời có liên quan đến việc phân loại dịch hại điều tra. Liệt kê cách trồng cây ký chủ; ví dụ: trên đồng ruộng, đồn điền, trong vườn nhà, dưới dạng cây cảnh ở nơi công cộng. Thảm thực vật phát triển cao và rậm rạp đến mức nào? Bạn có thể quan sát và tiếp cận được bao nhiêu phần cây? Bạn có thể lấy mẫu từ tán lá, phần gần giữa thân chính, ngọn cao nhất hoặc gốc cây được hay không? Đối với cỏ dại, dạng thảm thực vật ở vùng điều tra là gì? 2.5.4. Khả năng tiếp cận cây ký chủ Nếu đang thiết kế một điều tra chi tiết, bạn cần quan tâm đến thảm thực vật và vùng sẽ điều tra dịch hại. Thông tin về khả năng tiếp cận cây ký chủ rất quan trọng đối với người sử dụng báo cáo của bạn để làm phần điều tra tổng quát bởi vì nó giải thích cho họ hiểu tại sao đã tiến hành điều tra ở một số khu vực nhất định. 28
- 2. Thiết kế điều tra chi tiết Hộp 3. Danh mục dịch hại kiểm dịch theo ISPM Dịch hại được điều chỉnh: Loại dịch hại kiểm dịch hay dịch hại thông thường được ấn định. Dịch hại kiểm dịch: Một dịch hại có tiềm năng gây hại đáng kể về mặt kinh tế đối với một vùng đang đối đầu với nguy cơ do nó đem lại, và chưa thực có mặt hay đã có mặt nhưng không phân bố rộng khắp và đang chính thức được phòng trừ. Dịch hại thông thường: Loại dịch hại không phải là đối tượng kiểm dịch ở một vùng nào đó. Dịch hại thông thường thuộc diện điều chỉnh: Loại dịch hại thông thường có mặt trong thực vật làm giống có tác động đến mục đích sử dụng của thực vật đó, gây ảnh hưởng nghiêm trọng về mặt kinh tế và do vậy cần phải điều chỉnh trong phạm vi lãnh thổ của đối tác tham gia hợp đồng nhập khẩu. Dịch hại thông thường thuộc diện quy định (RNQP) thường xuất hiện và lan truyền rộng trong các nước nhập khẩu (ISPM 16) So sánh dịch hại kiểm dịch và dịch hại thông thường thuộc diện điều chỉnh (ISPM 16) Tiêu chí xác định Dịch hại kiểm dịch RNQP Tình trạng dịch hại Chưa xuất hiện hoặc phân Xuất hiện và có thể phân bố bố phạm vi hẹp rộng Đường lan truyền Thực hiện biện pháp vệ sinh Chỉ thực hiện biện pháp vệ thực vật đối với bất kỳ đường sinh thực vật trên thực vật làm lan truyền nào giống Tác động kinh tế Tác động tiên đoán Tác động đã biết Chính thức phòng Chính thức phòng trừ nếu Chính thức phòng trừ trên trừ có mặt nhằm tiêu diệt hoặc những thực vật làm giống ngăn chặn nhằm hạn chế tác động của dịch hại Các vi sinh vật còn lại đều là dịch hại thuộc diện chưa hoặc không điều chỉnh cho dù chúng có được xem là dịch hại hay không ở trong một hay một số khu vực nào đó. Các cây ký chủ trồng ra sao? Nếu chúng phát triển đồng đều trong hàng, bạn có thể đi giữa các hàng được không? Khi đi xuôi một hàng, bạn có thể nhìn thấy toàn bộ các cây trong hàng đó hay không (hãy so sánh giữa khoai tây và cây cọ)? Nếu hệ thực vật là ngẫu nhiên, giống như rừng tự nhiên hoặc vườn rau quả kinh doanh, hoặc thậm chí các cây trồng liên tiếp như ngũ cốc ngoài cánh đồng, bạn có thể đi bộ hoặc lái xe được không? Người chủ chấp nhận thiệt hại đến mức nào nếu bạn dẫm lên hoa màu của họ? Bạn nghĩ một người có thể nhìn sâu vào cánh đồng hay cánh rừng bao xa? Địa hình như thế nào? Có điểm nào xa xôi quá không? Có đập, sông, hay tường rào cản trở việc tiếp cận địa bàn điều tra không? 29
- Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương 2.5.5. Phân bố ký chủ theo khu vực Mô tả sự phân bố ký chủ trong quốc gia / khu vực cần quan tâm. Liệt kê tất cả địa điểm theo tên gọi. Đối với việc lấy mẫu hàng hoá, mô tả môi trường nơi hàng hoá được lưu giữ trong quá trình điều tra. Ví dụ: lều, lán chứa hàng hoặc chợ địa phương. Bước 4 Ghi chép các tên gọi của cây ký chủ. Ghi chép tầm quan trọng của cây ký chủ. Ghi chép đặc điểm phát triển của cây ký chủ. Ghi chép khả năng tiếp cận điểm điều tra nếu dự định điều tra thực tế. Ghi chép vùng phân bố cây ký chủ. 2.6. Bước 5: Ký chủ phụ Vòng đời các dịch hại khác và ký chủ khác có thể tương tác với dịch hại cần quan tâm. Các nguồn dịch hại phụ có thể là các cây ký chủ khác trồng lân cận, hoặc có mặt trong vườn ươm hay trong kho lưu trữ hạt giống đối với trường hợp cỏ dại. Các ký chủ phụ này bao gồm cả ký chủ phụ đối với mầm bệnh nấm có giai đoạn sinh trưởng vô tính hoặc hữu tính bắt buộc trên cây ký chủ phụ. Xác định toàn bộ các loại ký chủ có tầm quan trọng đặc biệt đối với điều tra phát hiện sớm dịch hại ngoại lai và điều tra khoanh vùng khảo sát phạm vi dịch hại xâm nhiễm. Bạn có thể thu thập thông tin loại này bằng cách phỏng vấn cư dân địa phương và tham khảo các ấn phẩm, cơ sở dữ liệu điện tử và các nguồn tài liệu trên mạng internet. Bước 5 Ghi chép lại các nguồn ký chủ phụ. 30
- 2. Thiết kế điều tra chi tiết 2.7. Bước 6. Xem xét các kế hoạch điều tra trước đó. Tìm hiểu xem các đồng nghiệp hay các cá nhân trong cơ quan của bạn có ai đã từng thiết kế các kế hoạch điều tra nào chưa. Liên lạc hỏi Tổ chức Bảo vệ Thực vật Quốc gia (NPPO) xem họ có đang thực hiện những kế hoạch điều tra nào không hoặc có thể giúp bạn liên lạc với các cá nhân trong nước đã từng thiết kế các kế hoạch điều tra. Nếu kế hoạch điều tra đó có liên quan đến thương mại, NPPO sẽ phải tham gia vào tiến trình điều tra. Bạn cũng có thể sử dụng danh sách địa chỉ email đề cập đến trong Hộp 2 để tìm kiếm kế hoạch điều tra dịch hại hoặc ký chủ cùng loại trong điều kiện tương tự. Các báo cáo này có thể cung cấp thông tin hữu ích khi bạn tiếp tục công việc thiết kế kế hoạch điều tra của mình. Bước 6 Thu thập các điều tra sẵn có, kế hoạch giám sát và các báo cáo 2.8. Bước 7 đến 10. Lựa chọn vùng điều tra Thông thường có 6 mức liên quan đến việc chọn vùng điều tra (Hình 2) 1. Đầu tiên là lựa ‘vùng’. Đó là một quốc gia, phần của một quốc gia hay toàn bộ hoặc nhiều phần của vài quốc gia được chính thức công nhận (theo ISPM 5) sẽ chứa những nơi bạn tìm kiếm dịch hại. 2. Thứ hai là chọn ‘quận / huyện’ điều tra – đây có thể là các quận/ huyện đang trồng hoặc các khu trong vùng thuộc nhóm địa hình không thuận lợi trên bản đồ. 3. Thứ ba là chọn ‘khu điều tra’ trong quận/huyện; ví dụ: trang trại, rừng, cộng đồng dân cư, làng, cảng hoặc chợ. 4. Thứ tư là chọn ‘địa bàn điều tra’ trong mỗi khu. Các địa bàn này có thể là ruộng, một phần đồn điền quầy hàng trong chợ (bán hàng hoá điều tra) hoặc vườn nông lâm. 5. Thứ năm là chọn ‘điểm lấy mẫu’ trong mỗi địa bàn điều tra. Điểm này có thể là những ô chọn ngẫu nhiên, thực vật đơn lẻ, cây hoặc nông sản, đoạn cắt ngang hoặc cây có gắn bẫy pheromone hoặc một hàng cây trồng. 6. Thứ sáu là chọn ‘nơi lấy mẫu’ khi bạn cần chọn các mẫu đại diện trong một điểm lấy mẫu. Ví dụ: bạn đã chọn khu lấy mẫu là 20 cây đu đủ trong mỗi vườn là nơi lấy mẫu và dự định lấy 3 quả trên 1 cây hoặc kiểm tra phần thân ngọn thứ 3 tính từ đỉnh. Trong một vài trường hợp, chẳng hạn như đặt bẫy pheromone hoặc lấy mẫu hàng hoá nông sản ở chợ, nơi lấy mẫu chính là điểm lấy mẫu này. 31
- Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương Quận / Huyện Địa bàn điều tra - vườn quả Tây Bắc Quận / Huyện Quận / Huyện Đông Trung tâm Quận / Huyện Đông Nam Vùng = Đảo chính của X Khu vực điều tra = trang trại Hình 2. Sơ đồ minh hoạ khái niệm vùng, quận/ huyện, khu vực và địa bàn điều tra. 2.9. Bước 7. Xác định vùng điều tra Vùng điều tra rất dễ xác định. Vùng điều tra có thể là toàn bộ quốc gia hoặc một phần của một quốc gia nơi có thể thiết lập được các biện pháp kiểm dịch hữu hiêu. Bước 7 Xác định vùng điều tra, tương tự như ở bước 5. Đưa ra các thông tin chi tiết ngắn gọn về khí hậu, địa hình và tọa độ địa lý. 2.10. Bước 8. Xác định quận/ huyện điều tra. Nếu chưa biết một số quận / huyện trong vùng điều tra, bạn cần phải tìm hiểu vị trí của chúng bằng cách hỏi thăm những người dân trong các quận / huyện mà bạn đã biết; ví dụ : viên chức kiểm lâm hoặc các tổ chức chính phủ và tư nhân đại điện người trồng trọt. Bạn có thể phải khoanh tròn các khu vực trên bản đồ để nhìn rõ các hướng điều tra. Bạn cũng có thể hiểu biết rõ các quận /huyện, bởi vì chúng có khí hậu khác biệt nhau. Thông thường chỉ có một hoặc một vài quận / huyện và vì thế rất dễ xác định. 32
- 2. Thiết kế điều tra chi tiết Tùy thuộc vào mục đích điều tra, bạn sẽ dễ dàng chọn được quận / huyện nào cần điều tra. Bước 8 Ghi nhận quận / huyện điều tra, xác định rõ từng quận / huyện một và các tọa độ tổng quát. 2.11. Bước 9. Xác định khu vực điều tra, địa bàn điều tra và điểm lấy mẫu Trong giai đoạn này, bạn phải tìm hiểu đặc điểm của khu vực điều tra, địa bàn điều tra, điểm lấy mẫu và nơi lấy mẫu, nói cách khác chúng ở các vị trí nào. Xem ví dụ phần 2.7. Một số điều tra không có điểm lấy mẫu hay nơi lấy mẫu, và thậm chí một số điều tra không yêu cầu địa bàn điều tra. Ví dụ: 1 người quan sát cánh rừng từ một mỏm đá, để tìm các triệu chứng rõ ràng có thể là đang điều tra toàn bộ khu vực đó. Bước 9 Ghi chép lại đặc điểm của khu vực, địa bàn điều tra và điểm lấy mẫu. 2.12. Bước 10. Phương pháp chọn địa bàn điều tra Tất cả các kế hoạch điều tra đều phải thực hiện ở mức độ khu vực. Đây là mức độ tối thiểu mà một cuộc điều tra phải tiến hành. Một số loại điều tra chỉ tiến hành ở mức chọn địa bàn điều tra. Đó là điều tra từ một vị trí thuận lợi (xem phần 2.12.3.12) và cảm biến từ xa (xem phần 2.12.3.13). Điều tra thu thập số liệu ở mức độ khu vực là những điều tra nhằm vào một vùng rộng lớn từ một vị trí thuận lợi, cho phép nhìn toàn cảnh khu vực điều tra. Để làm được việc này, các triệu chứng hoặc dịch hại phải được nhìn thấy rõ ràng từ một khoảng cách xa. Vì cách điều tra từ độ cao như vậy có mức độ chính xác thấp nên không phù hợp với hầu hết các mục đích điều tra, đặc biệt đối với những điều tra nhằm đáp ứng yêu cầu chi tiết cặn kẽ của các đối tác thương mại. Tùy thuộc vào lý do của cuộc điều tra đã dự định, bạn có thể đã biết chính xác địa bàn điều tra hoặc phải cần chọn ra địa bàn điều tra nào. 33
- Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương Cần lưu ý là vào giai đoạn này không thể chỉ có một phương pháp tốt nhất để chọn địa bàn điều tra. Có khả năng là bạn cũng không thể áp dụng được phương pháp “tốt nhất” vì những bất lợi về mặt hậu cần cũng như tài chính. Điểm mấu chốt là bạn phải ghi chép kỹ càng về lựa chọn của mình và lý do lựa chọn đó. Những người có liên quan khác sẽ xem xét, thảo luận và có thể tán thành lựa chọn của bạn trong những tình huống cụ thể. 2.12.1. Khi đã biết địa bàn và số lượng địa bàn điều tra Một vài điều tra cần tập trung vào một số khu vực, địa bàn điều tra hoặc một số điểm lấy mẫu cụ thể. Điều tra khoanh vùng là điều tra liên quan đến việc tìm kiếm dịch hại lây lan (vì thế mà khu vực và địa bàn điều tra do tình hình thực tế quyết định) và phải xác định phạm vi cũng như cách lan truyền của dịch hại. Điều tra khoanh vùng được đề cập đến ở Chương 5, tuy nhiên bạn vẫn phải tiếp tục đi hết các bước trong chương này. Đối với điều tra ở địa bàn có nguy cơ cao, khu vực và địa bàn điều tra được chọn chủ yếu theo quy hoạch thành phố – đó là các địa bàn dịch hại ngoại lai có khả năng xuất hiện đầu tiên và các vùng phụ cận như cảng biển, sân bay. Xem thêm phần 2.12.3.1 : Điều tra địa bàn mục tiêu. Điều tra đột xuất (xem phần 2.12.3.2) khác với tất cả các loại điều tra khác. Loại điều tra này liên quan đến việc chọn mộtđịa bàn điều tra mục tiêu (có nghĩa là khu vực, quận / huyện và vùng đều đã được biết trước), sau đó tiến hành điều tra tập trung và nhanh, lấy mẫu đầy đủ ở khu vực lấy mẫu. Xem thêm phần 2.12.3.3 : Lấy mẫu đầy đủ. 2.12.2. Khi nào cần chọn địa bàn điều tra Xác định địa bàn điều tra bằng cách nào? Phương thức của bạn tùy thuộc vào các trở ngại trong điều tra, khả năng lan truyền dịch hại và loại kế hoạch lấy mẫu nào thích hợp nhất. 2.12.2.1. Bất lợi về hậu cần và vật chất Điều kiện lý tưởng nhất là có thể tiếp cận được với tất cả các khu vực, địa bàn điều tra và các điểm lấy mẫu trong quận /huyện cần điều tra. Trong nhiều cuộc điều tra, không thể thực hiện được điều này vì lý do tài chính. Nếu không có khả năng ‘lấy mẫu đầy đủ’ (xem phần 2.12.3.3), bạn nên xác định những khó khăn sẽ gặp và cố vạch ra những mặt hạn chế. Để giải quyết việc này, bạn phải lùi công việc lại và xác định xem bao nhiêu điểm lấy mẫu và điểm lấy mẫu thực tế có thể thực hiện được với những giới hạn về số lượng nhân viên, thời gian, tài chính, khả năng chuyên môn, thời tiết hoặc các yếu tố khác. Nếu cần thiết, tiến hành một điều tra có tính giả thuyết (về thời gian và tài chính) và suy nghĩ cách điều tra thực tế đạt hiệu quả. Những thông tin như thế sẽ giúp bạn thấy được số lượng địa bàn, khu vực và vùng có thể điều tra. 34
- 2. Thiết kế điều tra chi tiết 2.12.2.2. Kiểu mẫu lan truyền của dịch hại Với giả thiết rằng dịch hại xuất hiện ở vùng điều tra, thì chúng lan truyền hay phát tán bằng cách nào? Nắm được phương thức lan truyền của dịch hại trong vùng có cây trồng hoặc lan sang các địa bàn khác sẽ chỉ ra cách thiết kế điều tra chi tiết. Điều này cũng có liên quan đến điều tra chung khi giải thích các kết quả điều tra chi tiết mà có thể sử dụng làm nguồn thông tin tham khảo. Những dịch hại như châu chấu sẽ lan truyền ngẫu nhiên khắp ruộng trong khi các dịch hại khác như tuyến trùng và một số loài cỏ dại có khuynh hướng tập trung thành đám nhỏ trên ruộng. Dịch hại có thể thích cư trú ở những vị trí đặc biệt trong một vùng, như dọc theo dòng sông, suối hoặc bờ rào. Nếu dịch hại được cho là lan truyền theo ngẫu nhiên, hoặc từng đám nhỏ phân bố ngẫu nhiên, thì việc lấy mẫu ở bất kỳ điểm nào trên địa bàn cũng sẽ cho một xác suất phát hiện dịch hại như nhau. Điều này rất quan trọng khi bạn không thể quan sát được tất cả các địa bàn. Nếu dịch hại có xu hướng thích cư trú ở một nơi nào đó trồng hoa màu, thì bạn phải tập trung chú ý vào những nơi này trong kế hoạch lấy mẫu (xem phần 2.12.3.1 : Điều tra địa bàn mục tiêu). 2.12.2.2.1 Làm gì nếu không biết trước sự phân bố? Nếu dịch hại xuất hiện, có thể thực hiện một cuộc khảo sát sơ bộ trong quá trình nghiên cứu điều tra thí điểm (bước 18). Các chủ đất và nông gia có thể cũng đã biết một số kiểu tập trung của dịch hại. 2.12.2.3. Điều tra tất cả các địa bàn Nếu bạn chọn điều tra tất cả các địa điểm ở một mức nào đó thì gọi là lấy mẫu đầy đủ ở mức đó. Trong tất cả các loại điều tra, lấy mẫu đầy đủ cho phép thu thập số liệu chi tiết nhất. Có thể tìm hiểu thêm về lấy mẫu đầy đủ ở phần 2.12.3.3. Một nguồn thông tin quan trọng khác có thể là từ những người trực tiếp làm việc trên hiện trường. Sự hợp tác của những người quen thuộc với địa bàn điều tra và dịch hại đối tượng có thể giúp thu hẹp diện tích điều tra. Xem thêm phần 2.12.3.4 : Quan sát của những người trực tiếp canh tác /trồng rừng. 2.12.2.4. Điều tra một số địa bàn Nếu không thể có mặt tại tất cả các địa bàn ở mỗi mức, bạn cần phải chọn một số khu vực đại diện. Để thực hiện việc chọn lựa này, bạn có thể sử dụng một hoặc kết hợp cả 4 hướng dẫn sau: 1. Lấy mẫu ngẫu nhiên: Đặt cho các địa bàn (ở cùng một mức điều tra) một con số hoặc một biểu tượng. Sau đó dùng phương pháp bốc số ngẫu nhiên để chọn khu vực lấy mẫu và ghi chép lại. Xem phần 2.12.3.5: Điều tra lấy mẫu ngẫu nhiên. 2. Lấy mẫu hệ thống: Chọn ra các tiêu chuẩn để chia các khu vực lấy mẫu thành một số điểm có khoảng cách đều và sau đó chọn khu lấy mẫu dựa trên số điểm đó (xem phần 2.12.3.7: Điều tra lấy mẫu hệ thống). Ví dụ: lấy mẫu một khu vực bỏ một khu vực trong danh sách tên khu xếp theo thứ tự ABC, bố trí 1 mạng bẫy theo các ô vuông hoặc đi cắt ngang theo đường song song trên khu vực lấy mẫu. 3. Phân tầng: Có thể kết hợp với lấy mẫu ngẫu nhiên. Bạn có thể chia các khu vực lấy mẫu thành các mảng một cách logic và sau đó chọn khu vực lấy mẫu theo hệ thống hay ngẫu nhiên trong các mảng này. 4. Chọn khu vực lấy mẫu mục tiêu: Bạn có thể chọn khu lấy mẫu dựa vào nơi dịch hại có thể tập trung nhiều nhất, do đó bạn đã chọn khu lấy mẫu mang tính chủ quan, thiên về mục đích tìm kiếm dịch hại. Xem phần 2.12.3.1: Điều tra khu lấy mẫu mục tiêu. 35
- Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương Thông thường, các cuộc điều tra phải thiết kế sao cho phù hợp nhất với việc phát hiện dịch hại đối tượng. Tuy nhiên, kế hoạch điều tra cũng cần phải bao gồm một số mẫu lấy ngẫu nhiên để phát hiện cả những trường hợp đột xuất. Cần lưu ý nếu điều tra yêu cầu thể hiện định lượng về mức độ dịch hại trong một vùng thì kết quả thu được từ các điều tra sẽ lệch lạc và đánh giá đưa ra sẽ không chính xác. ISPM 6 Để hiểu thêm về yếu tố sai lệch, đọc Hộp 4. Một số người đã sử dụng các phương pháp khác để chọn khu vực lấy mẫu nhưng những phương pháp này đều đưa ra các cách chọn không khách quan và không mang tính ngẫu nhiên đúng nghĩa. Cách thứ nhất là lấy mẫu lung tung (xem phần 2.12.3.9), cố gắng chọn ngẫu nhiên các khu lấy mẫu nhưng không áp dụng phương pháp bốc số ngẫu nhiên. Cách thứ hai là lấy mẫu thuận tiện (xem phần 2.12.3.10). Cách lấy mẫu này liên quan đến việc chọn khu vực dễ dàng tiếp cận, ví dụ như vị trí gần đường nhất. Phương pháp này thường được sử dụng trong rừng khi điều tra những khoảng cách lớn, còn được gọi là điều tra ‘đi xuyên qua’ hoặc ‘lái xe ngang qua’ (xem phần 2.12.3.11). Cách này có thể sử dụng phối hợp với điều tra chi tiết bổ sung tại các khu lấy mẫu lựa chọn. Một cách thiết kế điều tra khác không có tính ngẫu nhiên nhưng lại là cách có giá trị nhằm đánh giá một khu vực cây trồng hoặc rừng rộng lớn. Đó là điều tra quan sát từ vị trí thuận lợi ở trên cao (xem phần 2.12.3.12) và cảm biến từ xa (xem phần 2.12.3.13). Bước 10 Ghi nhận phương pháp chọn khu vực điều tra. Ghi nhận phương pháp chọn địa bàn điều tra. Ghi nhận phương pháp chọn địa điểm lấy mẫu để điều tra. Sắp xếp thành bảng liệt kê tất cả các khu vực, địa bàn điều tra và điểm lấy mẫu được chọn, và đặt tên cho từng vị trí đó. Như đã đề cập ở trên, vào giai đoạn này bạn đã có thể biết được số lượng điểm điều tra ở mỗi mức điều tra. Do vậy, bạn có thể tiếp tục thực hiện bước 12: Xác định thời biểu điều tra. Nếu bạn đã chọn được phương pháp, chẳng hạn như lấy mẫu ngẫu nhiên để chọn điểm điều tra, bước tiếp theo bạn cần làm là quyết định số lượng điểm điều tra. Tiếp tục sang bước 11: Tính toán lượng mẫu điều tra. 2.12.3. Loại điều tra ảnh hưởng đến việc chọn địa bàn như thế nào. 2.12.3.1. Điều tra địa bàn mục tiêu Là điều tra tập trung vào một số địa bàn cụ thể để tối đa hoá khả năng tìm thấy dịch hại. 36
- 2. Thiết kế điều tra chi tiết Điều tra phát hiện sớm dịch hại ngoại lai thường liên quan đến các địa bàn mục tiêu là những điểm đầu tiên dịch hại ngoại lai có khả năng xâm nhiễm. Hàng hóa và con người có thể mang theo dịch hại vào một quốc gia khi đi ngang qua đường biên giới hay đến theo đường biển hoặc sân bay. Một số dịch hại có thể phát tán nhờ gió hoặc theo đường nước giữa các quốc gia hay vùng đảo. Tùy thuộc vào các đường dịch hại có thể đến, các điểm này được chọn làm địa bàn điều tra. Cường độ điều tra cao nhất ở quanh điểm đến đầu tiên, và giảm theo khoảng cách xa dần. Địa bàn mục tiêu điều tra cũng có thể là trên hiện trường thực địa hay khu rừng nơi điều tra tập trung vào cây ký chủ hoặc là các địa bàn nơi dịch hại có khả năng xuất hiện nhiều nhất (và do vậy bạn đã đi vào điều tra không khách quan). Cách này bao gồm điều tra quả chín hay rụng sớm, hoặc bị loại trong các kho chứa; hay các nơi trên hiện trường thực địa gần sông, suối. Những người canh tác, chủ đất và các cá nhân khác làm việc ở khu vực điều tra đều có thể cho bạn biết về nơi đã thấy có mặt dịch hại. Điều này giúp bạn xác định những nơi cụ thể có thể tìm ra dịch hại. Ưu điểm: • Thuận lợi cho việc phát hiện sớm dịch hại ngoại lai. Nhược điểm: • Ít có thông tin về mức phổ biến của dịch hại. Hộp 4. Tìm hiểu thêm về việc làm sai lệch kết quả điều tra Khi mẫu hay các quan sát được thu thập, lưu giữ hoặc diễn giải theo hướng gây ảnh hưởng nhất quán đến số liệu, như đánh giá quá cao hoặc quá thấp số dịch hại thực tế, tác động này được gọi là không khách quan và gây sai lệch kết quả điều tra. Điều này dễ dàng xảy ra theo nhiều cách khác nhau, và trong một số thiết kế điều tra, việc chọn địa bàn sẽ bị thiên lệch một cách có chủ định. Thiên vị này xảy ra khi người thiết kế điều tra cố gắng chọn các địa bàn có khả năng xuất hiện dịch hại cao nhất, thay vì quan tâm đến mức phổ biến của dịch hại trên một vùng lớn. Trong những tình huống như xác định mức phổ biến của dịch hại và xét xem một khu vực có hoàn toàn không có dịch hại hay không, để thu thập được thông tin chính xác, bạn cần phải tránh tối đa các nguyên nhân gây sai lệch kết quả điều tra. Không khách quan khi chọn lựa Bạn có thể dễ dàng chọn một cây hay một điểm điều tra dựa vào đặc điểm địa bàn đang điều tra. Một số triệu chứng dịch hại hay cỏ dại có thể dễ dàng nhìn thấy từ xa, và tất nhiên lôi cuốn tầm mắt của bạn vào đó. Một cá nhân có thể chủ ý hay vô tình đi về hướng có dịch hại hoặc đi xa khỏi chúng. Có thể họ muốn tránh những nơi buồn tẻ, khó khăn, hoặc mệt mỏi với việc tìm kiếm lặp đi lặp lại. 37
- Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương Không khách quan khi đếm Tính không khách quan xảy ra khi đếm, ví dụ số lượng dịch hại trên 1m2, có thể ít hơn hoặc nhiều hơn con số thực,vì người đếm cố ý hoặc vô tình thích kết quả đếm cao hoặc thấp. Điều này có thể tệ hơn nếu từ hai người trở lên làm công việc đếm, và mỗi người lại có một suy nghĩ chủ quan khác nhau khi đếm. Khả năng nhận dạng dịch hại hoặc triệu chứng của nó cũng có thể thay đổi giữa những người điều tra trên cùng địa bàn. Không khách quan do nhớ lại không chính xác Sai lệch có thể xảy ra khi một người ghi chép lại số liệu dịch hại dựa vào trí nhớ của mình về những quan sát trước đó. Lỗi có thể do nhớ lại không chính xác địa điểm, thời gian hoặc dịch hại nào có mặt hay không có mặt. Bạn có thể giảm bớt những lỗi chủ quan này bằng cách thu thập mẫu (nếu có thể), và ghi chép chi tiết ngay khi quan sát dịch hại hoặc triệu chứng của nó. Nếu không làm được điều này, những gì quan sát và ghi lại theo hồi tưởng phải được xác minh lại hoặc cần xử lý thận trọng. Lỗi lấy mẫu Lỗi lấy mẫu có thể nảy sinh, ví dụ từ bất cứ hoàn cảnh nào sau đây: khi côn trùng trên một cây bị quấy nhiễu và không thể đếm được; khi thời tiết ảnh hưởng đến việc đếm, như lá trên cây ở hình thái khác khi thời tiết ẩm ướt; do các khác biệt ở giá cắm lông vũ tẩm pheromone; do thiết bị lấy mẫu bị hỏng. Lỗi đánh giá nảy sinh khi đo lường số liệu không chính xác, chẳng hạn như sai số của thiết bị đo, đặt bẫy bắt côn trùng vào thời điểm không tối ưu, hoặc đặt chúng quá gần nhau hay quá xa nhau, khác biệt về phương pháp đếm và khả năng phân loại của mỗi người, dùng sai chất dẫn dụ pheromone, sử dụng thiết bị không đúng cách,hoặc xử lý mẫu không thích hợp. 2.12.3.2. Điều tra đột xuất Mục đích điều tra đột xuất là phát hiện tất cả dịch hại có mặt, thậm chí ở mức độ thấp, xác định các triệu chứng dịch hại khó thấy và dịch hại mới phát sinh. Các cuộc điều tra này đòi hỏi phải kiểm tra kỹ tất cả cây trong địa bàn điều tra hoặc vào thời điểm định trước, xây dựng danh mục dịch hại cho một hoặc nhiều ký chủ. Điều tra đột xuất chỉ hạn chế trong một danh mục dịch hại có liên hệ đặc biệt hoặc có nguy cơ đe dọa, và nói chung chỉ được tiến hành ở các vùng có nguy cơ cao như các bến cảng. Loại điều tra này cần nhiều chuyên gia thực vật học, côn trùng học và bệnh cây để nhận dạng cỏ dại, côn trùng hoặc tác nhân bệnh cần quan tâm. Hiệu quả của điều tra đột xuất nhằm giám định dịch hại mới tùy thuộc vào cấu trúc hệ thực vật – ví dụ: rất khó điều tra cây lớn, để tìm dịch hại hoặc triệu chứng tác động trực tiếp đến phần ngọn - và phụ thuộc vào các nguồn kinh phí và trình độ chuyên môn của chuyên viên giám định dịch hại. Ưu điểm • Cho độ tin cậy cao về tình trạng dịch hại ở một vùng nhỏ. • Có thể áp dụng để xác định mức phổ biến của dịch hại trong vùng đó. 38
- 2. Thiết kế điều tra chi tiết Nhược điểm • Thông tin có được chỉ hạn chế trong một vùng nhỏ • Có thể rất tốn kém hoặc khó phối hợp, đặc biệt là khi phải tổ chức cho nhiều chuyên gia tham gia. 2.12.3.3. Lấy mẫu đầy đủ Lấy mẫu đầy đủ là kiểm tra tất cả các điểm ở một mức độ nhất định. Đây có thể là lấy mẫu đầy đủ tất cả khu vực thông qua điều tra các khu lấy mẫu tại một địa bàn. Khái niệm này trùng lặp với điều tra đột xuất cũng có lấy mẫu đầy đủ ở mức địa bàn điều tra. Ưu điểm • Lấy mẫu tất cả các điểm có nghĩa là loại trừ được lỗi không khách quan khi chọn lựa trong kế hoạch lấy mẫu và số liệu thu được có độ tin cậy cao. • Có thể áp dụng để ước tính mức phổ biến dịch hại, và là một phần của điều tra phát hiện sớm dịch hại hoặc điều tra giám sát. Nếu mức phổ biến của dịch hại được dự đoán là thấp, loại điều tra này sẽ phát hiện bất cứ dịch hại nào có mặt. Nhược điểm • Lấy mẫu đầy đủ bị hạn chế trên thực tế, vì thường bạn không thể điều tra tất cả cây ký chủ, các địa bàn hoặc các vùng, vì những cản trở về tài chính và hậu cần. • Lấy mẫu đầy đủ có thể không sử dụng nguồn kinh phí hiệu quả nhất, chẳng hạn nhiều điểm có thể điều tra được, nhưng chỉ một vài điểm được điều tra đầy đủ. Nguồn kinh phí có thể được sử dụng tốt hơn nếu điều tra ít cây ký chủ hơn ở mỗi điểm, và tập trung vào nhiều điểm bởi vì giữa các điểm điều tra, mức phổ biến của dịch hại có thể có khác biệt lớn. 2.12.3.4. Quan sát của người canh tác / trồng rừng Trong trường hợp này, người quản lý mùa màng hoặc rừng báo cáo lại cho một nhân vật trung tâm, chẳng hạn chủ đất, về dịch hại phát hiện được trong khi làm việc. Những người này phải nhớ lại địa điểm, thời gian và những gì đã quan sát được. Đổi lại, các chủ đất có thể chỉ cho cán bộ điều tra nơi họ đã phát hiện dịch hại hoặc cây bệnh. Vì hiểu biết và liên hệ gần gũi giữa người quan sát và cây ký chủ cũng như khu vực điều tra, các thông tin đưa ra có thể tiết kiệm nhiều công việc điều tra phát hiện sớm dịch hại. Trong những tình huống này, cần thông báo cho người làm việc trên hiện trường thực địa biết những gì người điều tra muốn biết. Ưu điểm • Tiết kiệm vì điều tra tiến hành cùng với các hoạt động khác. • Chất lượng dữ liệu có thể tương đương với một điều tra đầy đủ, nếu người làm việc rất quen với địa bàn điều tra và dịch hại, và đặc biệt nếu họ đã hiểu biết địa bàn điều tra trong một thời gian dài. • Có giá trị trong phát hiện sớm dịch hại mới. Nhược điểm • Không thể đưa ra chuẩn chính xác về mức phổ biến dịch hại, trừ khi dịch hại xuất hiện ít và rõ ràng. • Việc phát hiện dịch hại kịp thời dựa vào tần số đến hiện trường thực địa của các nhân viên làm việc. Điều đó cũng có nghĩa là họ có thể rất ít khi đến một nơi, ví dụ như rừng có địa hình khó khăn. 39
- Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương 2.12.3.5. Điều tra lấy mẫu ngẫu nhiên Thông thường, bạn không thể điều tra tất cả các điểm và cây ký chủ. Vì vậy, bạn cần phải chọn một tập hợp số điểm nhỏ hơn để điều tra. Để tránh sự chọn lựa không khách quan, tất cả các ký chủ và địa bàn phải có cơ hội được điều tra ngang nhau. Trong điều tra lấy mẫu ngẫu nhiên, điểm điều tra và cây ký chủ được chọn công bằng để giảm ảnh hưởng chủ quan của con người trong việc chọn điểm. Những phương pháp công bằng – phương pháp đưa ngẫu nhiên vào một kế hoạch điều tra - được mô tả chi tiết ở Hộp 5, trang 42. Lấy mẫu có hệ thống (xem phần 2.12.3.7) cũng có thể được xem như có yếu tố ngẫu nhiên nếu khoảng cách lấy mẫu không phụ thuộc vào sự phân bố dịch hại giả định. Ví dụ: các khu lấy mẫu cách nhau đồng đều có thể không luôn trùng hợp với sự vắng mặt hay có mặt của dịch hại. Ưu điểm • Vì sự lựa chọn khu vực không phụ thuộc vào kiểu lan truyền của dịch hại, yếu tố ngẫu nhiên có thể giúp phát hiện dịch hại trong khi các thiết kế điều tra khác có thể không làm được. Chính vì điều đó, ISPM đề nghị tất cả các kế hoạch điều tra phải có lấy mẫu ngẫu nhiên để phát hiện các trường hợp bất ngờ (ISPM 6). • Có thể dễ dàng đưa yếu tố ngẫu nhiên vào kế hoạch. • Có thể áp dụng để xác định mức phổ biến của dịch hại như một phần của điều tra phát hiện hay điều tra giám sát. Nhược điểm • Có thể dẫn tới sự lựa chọn hay thứ tự các địa bàn điều tra một cách không thực tế, và có thể phải kết hợp với các phương pháp khác như phân tầng ở các mức điều tra cao hơn mức điều tra lấy mẫu ngẫu nhiên. • Chọn ngẫu nhiên khu vực có thể bỏ sót các nhóm dịch hại tập trung và có thể thất bại nếu dịch hại có mặt rõ rệt, nhưng thiết kế điều tra theo các khu vực chọn ngẫu nhiên lại bỏ qua khu vực có mặt dịch hại. (Trong trường hợp này, bạn phải xem xét lại lựa chọn thiết kế điều tra.) • Có một số khía cạnh lấy mẫu không nên ngẫu nhiên. Ví dụ: lựa chọn cây trong một vườn quả có thể ngẫu nhiên vì chúng cố định về vị trí và số lượng, nhưng lựa chọn quả trên mỗi cây không thể ngẫu nhiên vì mỗi một cây khác nhau về số quả và vị trí chính xác của cành, lá hoặc quả (v.v ) trên cây. Tuy nhiên, thậm chí trong trường hợp này, cũng có thể dùng súc sắc để chọn ngẫu nhiên số cành từ trên ngọn xuống hoặc từ dưới gốc lên hoặc một bộ phận ức đoán của cây. Với một chút tưởng tượng, hầu hết các yếu tố trong quá trình chọn khu lấy mẫu đều có thể được ngẫu nhiên hoá nếu cần. 2.12.3.6. Lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng Trong lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng, cây ký chủ hoặc khu lấy mẫu được chia theo hệ thống thành từng nhóm, và các khu vực hoặc cây ký chủ được chọn ngẫu nhiên trong mỗi nhóm. Ví dụ: 20 làng (mức điều tra: khu vực) được chọn để điều tra bệnh trên chuối. Mỗi làng có 15 trang trại (mức điều tra: địa bàn), tổng số 300 trang trại. Nếu 100 trang trại được điều tra, chúng ta có thể chọn ngẫu nhiên 100 trang trại từ số 300 trên. Do tình cờ, điều này có thể dẫn đến kết quả là một số làng có tất cả trang trại được điều tra, trong khi có làng lại không có trang trại nào được điều tra. Nếu việc điều tra tất cả các làng là cần thiết thì việc chọn lọc 100 điểm có thể được phân tầng theo làng, ví dụ: 5 trang trại ở mỗi làng sẽ được chọn ngẫu nhiên. 40
- 2. Thiết kế điều tra chi tiết Ưu điểm • Đưa ra phương pháp cho phép kết hợp các yếu tố thực tế với lấy mẫu ngẫu nhiên. • Có thể áp dụng để xác định mức phổ biến dịch hại như một phần trong việc điều tra phát hiện hoặc điều tra giám sát. Nhược điểm • Nếu có khác biệt lớn trong phân bố các điểm điều tra (ví dụ: có sự khác nhau về số trang trại trong mỗi làng), lấy số mẫu bằng nhau từ mỗi trang trại có thể không cho thấy mức phổ biến dịch hại thực sự, vì có thể có phân bố không đồng đều ở các khu vực có ký chủ. Trong trường hợp này, việc chọn lựa khu vực cần phải ‘thiên’ về phía khu vực (làng) có nhiều địa bàn điều tra (trang trại) hơn. 2.12.3.7. Điều tra lấy mẫu có hệ thống Điều tra có hệ thống liên quan đến việc thiết kế điểm điều tra, và điều tra ở các khoảng cách đồng đều, vùng hoặc cây ký chủ. Ví dụ: kiểm tra các cây ở mỗi 10 hàng; cứ 3 trang trại kiểm tra 1; cứ 8 m2 kiểm tra một điểm; đặt bẫy côn trùng trên đường mạng lưới; mỗi cây kiểm tra 2 quả táo; hoặc điều tra theo các dải song song trong một điểm. Ưu điểm • Đơn giản và hiệu quả. • Số mẫu tương ứng với mật độ quần thể. • Có thể không cần phải đếm toàn bộ quần thể (chẳng hạn không cần biết chính xác bao nhiêu hàng trong hoa màu điều tra) trước khi xây dựng và thực hiện kế hoạch điều tra. • Chỉ dẫn lấy mẫu rõ ràng để cán bộ điều tra làm theo. • Đối với dịch hại phân bố thành từng đám tập trung, điều tra có hệ thống có thể tạo cơ hội phát hiện dịch hại tốt hơn so với lấy mẫu ngẫu nhiên. Sở dĩ như vậy vì lấy mẫu ngẫu nhiên có thể bỏ qua một đám dịch hại tập trung lớn trong khi điều tra hệ thống có thể phát hiện được vì khoảng cách gần. • Có yếu tố ngẫu nhiên nếu các khoảng cách điều tra không phụ thuộc vào phân bố dịch hại. • Có thể áp dụng để ước tính mức phổ biến của dịch hại trong điều tra giám sát. Nhược điểm • Khó áp dụng nếu ký chủ không phân bố theo trật tự nhất định hoặc không có khả năng tiếp cận đồng đều vùng điều tra. • Cần đảm bảo rằng nếu điều tra được lặp lại sau đó ở cùng địa điểm thì sẽ trừ ra các cây hoặc mét vuông đã điều tra trước. Có thể thực hiện việc này bằng cách xê dịch điểm khởi đầu (ví dụ: lệch 1 hàng) mỗi lần điều tra. 41
- Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương Hộp 5. Đưa các yếu tố ngẫu nhiên vào kế hoạch điều tra Lấy mẫu theo sơ đồ hình ‘W’ và các đường chéo Đi bộ và kiểm tra ký chủ hay mỗi mét vuông đất theo hình chữ chi lớn trên hiện trường thực địa hoặc trong rừng cũng làm tăng tính ngẫu nhiên cho những khu chọn lấy mẫu. Di chuyển trên hiện trường theo đường chéo hoặc hình chữ W ngược cũng đạt được mục đích như trên. Nhược điểm của sơ đồ lấy mẫu này là nếu điều tra trở lại một hiện trường, không hẳn là tất cả cây trên thực địa đó đều có cùng cơ hội được kiểm tra, và có những cây được điều tra lặp đi lặp lại. Để khắc phục nhược điểm này, bạn có thể quay vòng, thay đổi khởi điểm hoặc thay đổi hướng chữ W trên hiện trường điều tra, di chuyển theo đường chéo hoặc đường chữ chi, với điều kiện sơ đồ di chuyển tránh trùng lắp nhau. Tạo số ngẫu nhiên Có thể chọn ngẫu nhiên thứ tự các điểm đến bằng cách ấn định cho mỗi điểm một số thứ tự và lên danh sách các điểm cùng với số thứ tự của chúng. Một việc không kém phần quan trọng là bạn cần lưu giữ thứ tự các số đã chọn, vì trong một số điều tra, chẳng hạn như đường cong tích lũy loài, việc này sẽ định ra được thứ tự các khu lấy mẫu điều tra. Tạo một danh sách các số ngẫu nhiên Đổ súc sắc, ném các vật thể, rút bộ bài và sỏi có đánh số. Nếu chỉ có vài điểm điều tra, chọn ngẫu nhiên các điểm hoặc thứ tự các điểm bằng cách đổ súc sắc, ghi lại các con số xuất hiện và bỏ các số bị lặp lại. Một cách khác là đảo các quân bài có đánh số hay tên địa điểm điều tra và rút ra rồi ghi lại thứ tự xuất hiện.Hiển nhiên, bạn phải trộn bài thật kỹ để tránh tình trạng các quấn dính thành cụm hoặc nhóm, dẫn đến việc một số điểm được chọn nhiều hơn các điểm khác. Phương pháp này rất hữu ích trừ phi số địa điểm nhiều hơn số quân bài trọn bộ. Một phương pháp khác nữa là đứng ở các vị trí khác nhau trên hiện trường thực địa và ném que (hoặc một vật gì đó dễ nhìn thấy và không làm hư cây trồng). Phương pháp này phụ thuộc vào sức ném, và vật thể ném có được tìm thấy hay không. Bạn nên ném que theo hướng sau lưng để giảm trường hợp ném hướng có chủ ý. Bạn cũng có thể dùng các viên sỏi có ghi số hiệu các điểm lấy mẫu, trộn chúng thật kỹ và bốc chọn các viên sỏi ngẫu nhiên. Những vật sẵn có ở kích cỡ tương đối đồng đều, cũng không thể được đánh số và trộn kỹ và làm theo cách này. Sử dụng phần mềm Microsoft Excel trên máy vi tính Tạo số các điểm điều tra. Ví dụ: Bạn có 92 điểm được đánh số từ 1 đến 92. 42
- 2. Thiết kế điều tra chi tiết Cách 1 Chọn một ô trống trong trang của Excel và chọn hàm số =RANDBETWEEN. Hàm số này sẽ tạo ra các số giữa phạm vi dãy số bạn chọn. Trong trường hợp này là giữa 1 và 92. Phương trình sẽ là: = RANDBETWEEN (1,92) Nhấn , một con số giữa phạm vi đó sẽ xuất hiện. Sao và dán công thức này vào đủ số ô bạn cần, lưu lại các con số có được và bỏ đi những số lặp lại. Ghi chép lại số của các điểm điều tra bạn chọn ngẫu nhiên. Nếu công thức này không thực hiện được trên máy tính của bạn, sử dụng chức năng Help (trợ giúp) của chương trình. Cách 2 Cách này khắc phục được vấn đề lặp lại các con số. Như ví dụ trên, tạo một cột chứa các số theo thứ tự từ 1 đến 92. Trong các ô của cột bên cạnh, gõ = RAND()6 tương ứng với 92 ô. Chọn tất cả các ô trong cả 2 cột và (trên Mục Data) sử dụng cột chứa các số ngẫu nhiên làm cột sort (sắp xếp). Chức năng này sẽ sắp xếp các số trong cột chứa số từ 1 đến 92 một cách ngẫu nhiên mà không có số nào bị lặp lại. Sau đó bạn có thể lấy bao nhiêu số bạn muốn theo thứ tự từ trên xuống. Sử dụng internet Rất nhiều trang web có các bảng số ngẫu nhiên hoặc chương trình tạo ra các số ngẫu nhiên mà bạn có thể tải về từ trên mạng internet; bằng không bạn vẫn có thể dùng Microsoft Excel để tạo ra bảng số ngẫu nhiên của riêng mình. Vì địa chỉ trang web liên tục thay đổi nên không có địa chỉ trang web nào liệt kê ra ở đây. Bạn có thể tìm kiếm theo cụm từ chính ‘random number table’ (bảng số ngẫu nhiên) và dễ dàng tìm ra các địa chỉ trang web hữu dụng. Sử dụng bảng số ngẫu nhiên Bạn có thể tìm được bản in của các bảng chứa số được tạo ngẫu nhiên. Những bảng này cơ bản được tạo ra từ những chương trình như đã mô tả ở trên, ngẫu nhiên hoá các số từ 00001 đến 99.999 để có được bộ 5 chữ số (Một bảng ví dụ được trình bày ở trang sau). Bạn có thể sử dụng các số theo hàng ngang hoặc hàng dọc. Nếu chúng ta tiếp tục với ví dụ ở trên trong đó số điểm điều tra cao nhất là 92 với 2 chữ số, chúng ta sẽ đọc các số trong bộ có 2 chữ số, bỏ qua các số có một chữ số và các số bé hơn 1 hoặc lớn hơn 92. Các số từ 1 đến 9 có số 0 đứng trước, có nghĩa là từ 01 đến 09. Ví dụ: dãy đầu tiên có các số: 56888 17938 03701 19011 21795 81858 84375 52174 30547 01838 Các số này được đọc là 56 sau đó đến 88, bỏ qua số 8 vì chỉ có một chữ số, sau đó đến số 17, bỏ qua số 93 vì lớn hơn 92, bỏ qua số 8 tiếp theo, sau đó đến số 3 và 70, bỏ qua số 1, và cứ tiếp tục như vậy đến khi có đủ các điểm cần chọn. Lần sau bạn cần các số ngẫu nhiên, hãy bắt đầu từ một vị trí nào đó trong bảng, đọc theo thứ tự hàng dọc hoặc thậm chí đọc các số từ cuối bảng ngược lên. 6 Không chèn bất cứ ký tự nào giữa các ngoặc đơn 43
- Hướng dẫn điều tra dịch hại thực vật ở Á Châu và Khu vực Thái Bình Dương Nếu bạn chọn từ một số có 3 chữ số, ví dụ: bạn có tổng số 480 điểm (từ 001 đến 480), đọc 3 chữ số đầu và bỏ qua chữ số thứ tư và năm của mỗi số ngẫu nhiên, có nghĩa là bỏ qua số 568 vì lớn hơn 480, bỏ qua 88, lấy 179, bỏ qua 38, lấy 037, bỏ qua 01, lấy 190, bỏ qua 11, lấy 217, bỏ qua 95 và cứ tiếp tục như vậy. Ô vuông Latin Một phương pháp đơn giản khác đưa yếu tố ngẫu nhiên vào kế hoạch lấy mẫu điều tra là ấn định số hoặc chữ cái cho điểm điều tra. Thứ tựcác điểm được điều tra là như nhau nhưng điểm khởi đầu cho mỗi lần điều tra tiếp theo thay đổi. Phương pháp này có ích trong việc giảm các yếu tố chủ quan do thời gian, kể cả mùa, và thường được sử dụng khi tất cả các điểm có thể được quay vòng theo thông lệ. Ví dụ. Điều tra các điểm theo trật tự sau: Khởi điểm 1: A B C D E Khởi điểm 2: B C D E A Khởi điểm 3: C D E A B Khởi điểm 4: D E A B C Khởi điểm 5: E A B C D Bảng số ngẫu nhiên 56888 17938 03701 19011 21795 81858 84375 52174 30547 01838 49616 05027 58559 77518 88818 15510 05166 17778 45383 63979 87810 50654 12571 64281 18565 63604 97574 77022 10497 70113 77768 24763 85849 17644 59367 55704 67362 91953 87927 54886 15685 77153 56972 83849 91933 04399 54762 71614 87482 66997 57092 05782 67929 96388 87619 87284 16247 86247 68921 61431 45805 97856 91292 58860 19103 04612 88838 39043 28360 38408 52092 41346 76829 28270 42199 01882 43502 20505 92532 87558 78094 24397 88649 24778 14083 25737 96866 53011 60742 04056 42069 88809 18431 08841 19234 28425 08699 86805 11950 71287 88748 65229 69696 94302 99033 64739 41696 46127 05953 25836 77027 57205 73195 17923 13149 23871 64516 54129 60723 12240 14727 32085 97754 87565 68544 47424 18127 39214 31843 50282 67741 79843 97622 21539 83690 87439 42371 92319 95824 77041 73620 81275 57875 76408 47690 23760 67511 71723 86944 46318 27839 40135 78953 09577 70296 79014 72997 52780 62760 34873 81980 85841 90030 81070 98649 97659 10671 89893 21450 57957 63538 95903 70908 23910 57908 67982 27523 62498 27636 02209 34182 62714 03756 64533 26160 20042 11142 00536 93365 08796 30918 27213 10699 59679 59136 82891 77801 62105 81536 91477 85473 23571 50458 11012 03006 83667 68269 23315 18286 48988 53811 39465 95669 80783 34150 65472 90418 48305 32304 23130 90354 51729 98512 79972 29695 38245 38004 81201 31328 38571 75420 48164 33446 07120 13909 10215 51857 19984 41887 17670 00454 95064 31329 06519 85296 07531 22075 30769 73421 17858 61307 17016 64835 16959 47499 42525 38932 33886 48382 88842 44
- 2. Thiết kế điều tra chi tiết 2.12.3.8. Điều tra bẫy côn trùng Có thể bắt côn trùng bằng các bẫy tĩnh hấp dẫn côn trùng bằng ánh sáng, màu sắc hoặc chất dẫn dụ pheromone. Sau đó, chúng được lấy ra khỏi các bẫy và đem nhận dạng. Các bẫy này đặc biệt hữu ích giúp xác định một dịch hại nào đó có mặt trong vùng hay không. Vị trí và mật độ bẫy rất quan trọng và được quyết định dựa theo loại bẫy và chỉ dẫn của nhà sản xuất, cũng như áp dụng tùy theo địa bàn điều tra. Bẫy thường được sử dụng để đánh giá mức phổ biến của dịch hại trong vùng. Trong một số trường hợp, số côn trùng bẫy được tỉ lệ thuận với mức phổ biến dịch hại trên thực tế (ví dụ: một con ruồi dính bẫy có thể đại diện cho 100 con ruồi trong vùng). Ưu điểm: • Sau khi đặt bẫy, không cần theo dõi trong thời gian vài tuần. • Rất hữu ích trong việc phát hiện sớm các dịch hại bị dẫn dụ. • Có thể chọn vị trí đặt bẫy không gây ảnh hưởng đến cây trồng hoặc rừng • Có thể dùng để hiển thị mức phổ biến của dịch hại. • Bẫy với các thiết bị chọn lọc có thể giúp tập trung vào việc bắt một số dịch hại nhất định. Nhược điểm • Một số bẫy có thể bị mưa ướt hoặc trục trặc về thiết kế cần phải khắc phục. • Bẫy có thể hấp dẫn dịch hại từ ngoài vùng mục tiêu hoặc từ thực vật gần cây trồng hay hệ thực vật tự nhiên. Điều này gây khó khăn khi đánh giá kết quả. Trong trường hợp này, cần kiểm tra ký chủ của mỗi loài thu được để chắc chắn rằng dịch hại đó tương tác với ký chủ đối tượng. • Tốn nhiều thời gian và công sức đếm và xác định dịch hại bẫy được. • Sử dụng số dịch hại thu được làm cách tính định lượng về mức phổ biến dịch hại hay mật độ dịch hại sẽ rất phức tạp vì có quá nhiều yếu tố liên quan. • Có thể bỏ sót dịch hại thực có mặt do cài đặt bẫy với mật độ và vị trí không hợp lý. • Có thể gặp khó khăn về mồi nhử khi quyết định điều tra để xác định toàn bộ dịch hại có mặt. 2.12.3.9. Sự ngẫu nhiên giả tạo - lấy mẫu có mục đích và lấy mẫu không quy luật Lấy mẫu có mục đích gồm có việc chọn khu vực, địa bàn điều tra, khu lấy mẫu, hoặc thậm chí cả điểm lấy mẫu do cán bộ điều tra quyết định là đại diện cho toàn bộ khu vực điều tra. Điều này dựa vào cảm quan của cán bộ điều tra về tình trạng dịch hại, và do vậy vô tình hoặc hữu ý họ thực hiện công việc theo cảm quan của mình. Lấy mẫu không quy luật là thuật ngữ chỉ cán bộ điều tra cố lựa chọn mẫu “ngẫu nhiên” bằng nhẩm chọn các điểm tùy theo từng lúc. Tuy nhiên, người ta thường có xu hướng sắp xếp chia đều các điểm hoặc chọn các điểm dựa vào ý tưởng cho là đã ‘ngẫu nhiên hoá’. Ví dụ: cán bộ điều tra nói chung thường không xem xét chọn lựa những điểm co cụm gần nhau trong một vùng lớn, mà ở đây lại có thể cho ra kết quả nếu các điểm được chọn một cách ngẫu nhiên. Nếu các điểm lấy mẫu được chọn ngay trên hiện trường, không phải xác định trước trên bản đồ, thì mắt của người điều tra thường có khuynh hướng nhắm vào các cây hoặc triệu chứng nhất định. Lúc đó, cán bộ điều tra sẽ lâm vào một tình thế khó xử: mẫu lấy có thực sự ngẫu nhiên không nếu cố ý đưa vào hoặc loại ra các điểm lấy mẫu? Thường thì người ta không thể thực sự giả đò lấy mẫu ngẫu nhiên được. 45



