Giáo trình Công tác xã hội với người sống chung với HIV/AIDS

doc 81 trang ngocly 50
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Công tác xã hội với người sống chung với HIV/AIDS", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docgiao_trinh_cong_tac_xa_hoi_voi_nguoi_song_chung_voi_hivaids.doc

Nội dung text: Giáo trình Công tác xã hội với người sống chung với HIV/AIDS

  1. 1.BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS Hà Nội, năm 2012 1
  2. MỤC LỤC BÀI 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIV/AIDS VÀ NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS .5 1 Kiến thức cơ bản về HIV/AIDS 5 - Giai đoạn cấp tính 8 -. Giai đoạn không triệu chứng 9 - Giai đoạn AIDS 10 2 Tình hình đại dịch HIV/AIDS trên thế giới và Việt Nam 10 3 Đặc điểm tâm lý của người có HIV/AIDS 16 4 Những vấn đề cơ bản mà người sống chung với HIV/AIDS đang gặp phải 18 5 Vai trò của NVXH trong hỗ trợ người sống chung với HIV/AIDS 22 6 Nguyên tắc làm việc với người sống chung với HIV/AIDS 24 BÀI 2: KỲ THỊ, PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS VÀ HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ GIẢM KỲ THỊ 27 1 Khái niệm kỳ thị và phân biệt đối xử 27 2 Biểu hiện của sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người sống chung với HIV/AIDS 28 3 Nguyên nhân của sự kỳ thị người sống chung với HIV/AIDS 30 4 Hậu quả của sự kỳ thị 32 5 Một số kỹ năng hỗ trợ giảm kỳ thị với người sống chung với HIV/AIDS 34 BÀI 3: SỨC KHỎE VÀ HỖ TRỢ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS 44 1 Khái niệm sức khỏe và chăm sóc sức khỏe 44 2 Tư vấn, xét nghiệm HIV tự nguyện 46 3 Hỗ trợ người sống chung với HIV/AIDS trong khủng hoảng tâm lý 49 4 Chăm sóc sức khỏe cho người sống chung với HIV/AIDS tại cộng đồng 53 5 Chăm sóc về dinh dưỡng cho người sống chung với HIV/AIDS 59 BÀI 4: LUẬT PHÁP, CHÍNH SÁCH VÀ MẠNG LƯỚI TRONG HỖ TRỢ NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS 64 1 Luật pháp, chính sách và các chương trình hỗ trợ người sống chung với HIV/AIDS 64 2 Mạng lưới hỗ trợ người sống chung với HIV/AIDS 75 2
  3. CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS ( Tài liệu đào tạo người làm CTXH tại Xã/ Phường) Phần 1: Thông tin chung - Người biên soạn: +Th.s Nguyễn Thị Vân +Th.s Tiêu Thị Minh Hường - Yêu cầu đối với giảng viên: + Có trình độ đại học trở lên và có từ 3 năm kinh nghiệm trở lên làm việc liên quan dến CTXH + Hiểu biết và có kiến thức về HIV/AIDS tình hình đại dịch HIV/AIDS trên thế giới và Việt nam, luật pháp và chính sách của VN trong hỗ trợ người sống chung với HIV/AIDS + Có kiến thức và kỹ năng cần thiết về CTXH trong trợ giúp người sống chung với HIV/AIDS + Có phương pháp sư phạm, sử dụng được phương pháp cùng tham gia + Đạo đức nghề nghiệp: có niềm đam mê nghề nghiệp và cam kết nghề nghiệp; tình yêu thương con người; trung thực - Yêu cầu đối với học viên: Học viên là những cán bộ Xã/ Phường hiện làm công tác chuyên trách và bán chuyên trách thuộc lĩnh vực LĐTBXH có: + Trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên + kinh nghiệm công tác từ 1 năm trở lên + Có ý thức nghề nghiệp 3
  4. - Yêu cầu về phương pháp đào tạo: Sử dụng phương pháp giảng dạy cùng tham gia, các công cụ thực hiện: Thuyết trình, bài tập sắm vai, thảo luận nhóm - Yêu cầu về cách đánh giá: + ý thức, thái độ tham gia của người học + Bài kiểm tra đầu vào và đầu ra - Yêu cầu về địa điểm thực hiện đào tạo: Tại các địa phương - Yêu cầu về công tác tổ chức: Phòng hội thảo đủ rộng cho 50 người, trang thiết bị đầy đủ( máy chiếu, máy tính, giấy khổ lớn, bút dạ, băng dính, kéo ) Phần 2- Nội dung - Mục tiêu chung: Môn học cung cấp cho học viên kiến thức cơ bản về HIV/AIDS và , một số kỹ năng cần thiết để học viên có thể hỗ trợ người sống chung với HIV/AIDS đồng thời truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng giảm tác hại của HIV/AIDS - Mục tiêu cụ thể: Sau khoá học học viên nắm được : + Kiến thức chung về đại dịch HIV/AIDS trên thế giới và ở Việt Nam, các khái niệm, kiến thức liên quan đến HIV/AIDS, kỳ thị với người có HIV/AIDS và những khó khăn mà người sống chung với HIV/AIDS ở Việt Nam đang phải đối mặt + Một số kỹ năng CTXH cơ bản trong trợ giúp người sống chung với HIV/AIDS và vận dụng kiến thức, kỹ năng trong trợ giúp đối tượng tại cộng đồng. 4
  5. BÀI 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIV/AIDS VÀ NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS 1 Kiến thức cơ bản về HIV/AIDS 1.1.Khái niệm HIV/AIDS và một số khái niệm liên quan - Khái niệm về HIV: HIV là virus gây suy giảm miễn dịch ở người( viết tắt từ tiếng Anh: Human Immunodeficiency Virus). HIV thuộc nhóm Lentivirus, và giống như mọi virus thuộc tuýp này, nó sẽ tấn công hệ miễn dịch của con người. Lentivirus lại thuộc vào 1 nhóm virus lớn hơn gọi là Retrovirus. Lentivirus có nghĩa là virus chậm cần có nhiều thời gian để gây ra tác dụng có hại cho cơ thể. HIV là 1 virus có tính thay đổi cao, đột biến dễ dàng. Điều này có nghĩa là ngay trong cơ thể của người bị nhiễm cũng có nhiều chủng HIV khác nhau. Dựa trên những điểm tương tự về di truyền, ta có thể phân loại vô số các chủng virus khác nhau đó thành từng tuýp, nhóm và phân tuýp. Có 2 tuýp HIV là: HIV-1 và HIV-2.Cả hai đều gây bệnh cho người. Người mang HIV trong máu thường được gọi là người nhiễm HIV 1.2.Khái niệm về AIDS AIDS Là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, do virus HIV gây ra AIDS viết tắt từ tiếng Anh: Acquired Immuno Deficiency Syndrom AIDS là một bệnh mãn tính do HIV gây ra. HIV phá huỷ các tế bào của hệ miễn dịch, cơ thể không còn khả năng chống lại các virus, vi khuẩn và nấm gây bệnh. Do đó cơ thể bị một số loại bệnh ung thư và nhiễm trùng cơ hội mà bình thường có thể đề kháng được. AIDS được coi là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV. Tuy nhiên, mỗi người khi mắc AIDS sẽ có những triệu chứng khác nhau, tuỳ theo loại bệnh nhiễm trùng cơ hội mà người đó mắc phải và khả năng chống đỡ của hệ miễn dịch mỗi người. - Các khái niệm có liên quan 5
  6. + Hội chứng: Tập hợp nhiều triệu chứng và dấu hiệu bệnh + Miễn dịch: Con người luôn luôn sống giữa vô số những mầm bệnh độc hại sẵn sàng gây bệnh cho cơ thể như: vi trùng, virus, vi nấm, ký sinh trùng và cả một số tế bào ung thư sinh sản lẻ tẻ trong cơ thể. Tuy nhiên, cơ thể cũng có một hàng rào phòng vệ rất hiệu quả khiến cho phần lớn các mầm bệnh không thể gây bệnh được. đó chính là hệ miễn dịch + Suy giảm miễn dịch: Hệ miễn dịch là hệ thống phòng ngự bảo vệ cơ thể chống lại các mầm bệnh từ ngoài xâm nhập vào cơ thể. Suy giảm miễn dịch là tình trạng hệ miễn dịch trở nên yếu, giảm hoặc không có khả năng chống lại sự tấn công của các tác nhân gây bệnh + Mắc phải: Không phải do nguyên nhân di truyền mà do bị lây nhiễm từ bên ngoài + Miễn dịch: Con người luôn luôn sống giữa vô số những mầm bệnh độc hại sẵn sàng gây bệnh cho cơ thể như: vi trùng, virus, vi nấm, ký sinh trùng và cả một số tế bào ung thư sinh sản lẻ tẻ trong cơ thể. Tuy nhiên, cơ thể cũng có một hàng rào phòng vệ rất hiệu quả khiến cho phần lớn các mầm bệnh không thể gây bệnh được. đó chính là hệ miễn dịch - Người nhiễm HIV: là người mang virus HIV trong máu Không phải mọi bệnh nhân nhiễm HIV đều được xem là đã mắc AIDS. Thực ra các nhà khoa học hàng đầu về AIDS vẫn chưa thống nhất về việc liệu HIV có đủ để làm cạn kiệt tế bào T ở người hay không. Tiêu chuẩn chẩn đoán AIDS thay đổi giữa các vùng, nhưng một chẩn đoán điển hình cần có: + Số lượng CD4 tuyệt đối dưới 200/mm3 + Hoặc có nhiễm khuẩn cơ hội do các tác nhân thường không thể gây bệnh ở người khoẻ mạnh Một người nhiễm HIV được gọi là HIV+ (HIV dương tính hoặc huyết thanh dương tính), đôi khi cũng được gọi là PWH( person With HIV). Người không nhiễm được gọi là HIV- (HIV âm tính hoặc huyết thanh âm tính. Người HIV+ thường không biết về tình trạng HIV của họ. Trong những năm gần đây thuật ngữ có tính lạc quan và chống kỳ thị hơn “ 6
  7. người sống chung với HIV/AIDS” được các nhóm hoạt động chống AIDS và cả những người mắc AIDS thích dùng. Dù có hay không các triệu chứng ban đầu, tất cả người mới nhiễm đều trải qua giai đoạn không biểu hiện triệu chứng. Vào giai đoạn này, virus tiếp tục tăng sinh nhanh chóng và không bị kiểm soát vì cơ thể chưa tạo đủ kháng thể chống virus để đạt tới trạng thái cân bằng. 1.3. Đường lây nhiễm HIV - HIV lây truyền qua đường tình dục HIV rất dễ lây qua đường tình dục không an toàn vì trong khi giao hợp sẽ tạo ra rất nhiều vết xước nhỏ mà mắt thường không thể nhìn thấy được. Các kiểu quan hệ tình dục dù cùng giới hay khác giới đều có khả năng lây truyền HIV nếu một trong hai người đã nhiếm HIV. HIV có nhiều trong tinh dịch và dịch âm đạo sẽ thông qua các vết xước để xâm nhập vào cơ thể. Những kiểu giao hợp gây nhiều vết xây xước như: giao hợp qua đường hậu môn sẽ rất dễ bị nhiễm HIV. Đó là do hậu môn và trực tràng (ống trong hậu môn) rất dễ sây xước bởi không có chất dịch làm trơn như âm đạo nên tạo điều kiện rất tốt cho HIV chuyển từ người này sang người kia Trong quan hệ tình dục, ai là người nhận tinh dịch, người đó dễ bị nhiễm HIV hơn Người mắc bệnh lây qua đường tình dục mãn tính có viêm loét như: giang mai lậu, hạ cam có nguy cơ nhiễm HIV cao gấp hàng chục lần so với người khác Càng có nhiều bạn tình càng làm tăng khả năng nhiễm HIV vì người nhiễm HIV không có biểu hiện gì khác so với người bình thường. -. HIV lây truyền qua đường máu + Qua nhận máu và các sản phẩm của máu hoặc cấy ghép cơ quan, phủ tạng, nhận tinh dịch của người nhiễm HIV. Truyền máu là con đường lây nhiễm trực tiếp. Trong truyền máu, 7
  8. máu của người cho đi thẳng vào mạch máu của người nhận, hơn nữa lượng máu này lại lớn. Do đó bất cứ ai bị truyền máu của người nhiễm HIV đều bị lây nhiễm. + Qua các dụng cụ xuyên trích qua da như bơm kim tiêm, kim châm cứu, dao, kéo, kìm dùng trong thủ thuật chữa bệnh và sửa sắc đẹp v.v bị dính máu có HIV. Đặc biệt Dùng chung bơm kim tiêm mà không tiệt trùng sau mỗi lần sử dụng khiến cho máu người trước còn đọng trên bơm kim đi thẳng vào mạch máu của người sau. Dù không nhìn thấy thì bơm kim vẫn có máu đọng đó. Do vậy nếu có virus HIV thì nó lây được dễ dàng. + Da tay sây sát, niêm mạc mắt, miệng bị dính máu hoặc dịch sinh dục khi chăm sóc người bị nhiễm HIV + HIV Lây truyền từ mẹ sang con Trước hết cần khẳng định rằng HIV lây truyền từ mẹ sang con không có nghĩa là bệnh di truyền. Phụ nữ nhiễm virus HIV nếu sinh con sẽ có khả nǎng khoảng 30% là con nhiễm HIV theo mẹ, có nghĩa là cứ 100 bà mẹ nhiễm HIV sinh con thì có khoảng 30 trẻ bị nhiễm. Virus HIV có thể lây sang bé trong các trường hợp sau: Khi sinh đẻ: HIV từ nước ối, dịch tử cung, dịch âm đạo xâm nhập trẻ sơ sinh qua niêm mạc mắt, mũi, hậu môn hoặc da sây sát của trẻ trong thời gain chuyển dạ đẻ Khi cho con bú: HIV có trong sữa mẹ, có thể qua các vết nứt ở núm vú người mẹ xâm nhập vào trẻ khi trẻ đang mọc răng hoặc có tổn thương ở niêm mạc miệng Trẻ sơ sinh bị nhiễm HIV thường có tuổi thọ rất thấp, bé sẽ bị bệnh và chết. 1.4. Các giai đoạn của nhiễm HIV - Giai đoạn cấp tính + Đa số người nhiễm HIV trong giai đoạn đầu thường không có biểu hiện gì ra bên ngoài để người khác có thể biết được, thậm chí kể cả bác sĩ khám bệnh tổng quát. Một số trường hợp khi mới nhiễm HIV có thể sốt, nổi hạch, nổi ban đỏ trong 8 đến 10 ngày rồi trở lại bình thường rất giống với các bệnh cảm cúm thông thường nên không có đặc điểm gì 8
  9. riêng để nhận biết. Vì vậy đối với nhiễm HIV có thể xem như không có triệu chứng nào là triệu chứng đầu tiên để biết đã bị nhiễm. + Thời gian: Vài tuần có khi 6 tháng đến 1 năm + Giai đoạn này chưa có kháng thể kháng virus HIV nên xét nghiệm âm tính: Khi HIV xâm nhập vào cơ thể, chúng tấn công các tế bào miễn dịch CD4 và dựa vào các tế bào này để sinh sôi nẩy nở hàng triệu phiên bản trong mỗi ngày và virus sẽ lan tràn trong cơ thể. Trong lúc này, cơ thể cố gắng bảo vệ trước sự tấn công của HIV bằng những cơ chế sau: . Tạo ra kháng thể dính vào virus và không cho virus sinh sôi thêm . Các tế bào đặc biệt có tên macrophages và các tế bào TCD4 giúp cơ thể giết chết HIV. Nếu tìm thấy kháng thể chống HIV trong máu, có nghĩa là cơ thể đang cố gắng tự bảo vệ trước sự tấn công của HIV. Tuy nhiên, lượng kháng thể chỉ đủ để có thể phát hiện qua các xét nghiệm sau vài tháng cơ thể đã bị nhiễm. Do vậy trong khoảng thời gian cơ thể bị hội chứng HIV cấp tính thì các kết quả xét nghiệm tìm HIV vẫn có thể âm tính. Khi đó người ta có thể dùng đến xét nghiệm tìm RNA của HIV trong máu. RNA là một đoạn di truyền của HIV. RNA được sản sinh khi HIV đang hoạt động. Xét nghiệm này có thể cho biết cơ thể có bị chứng HIV cấp tính hay không -. Giai đoạn không triệu chứng + Thời gian: kéo dài trong vài năm đến trên 10 năm + Triệu chứng: Người bệnh không có biểu hiện các dấu hiệu lâm sàng + Người nhiễm HIV đã có kháng thể kháng virus trong máu (xét nghiệm +) nhưng không có triệu chứng gì. + Người nhiễm HIV vẫn lao động và sinh hoạt bình thường + Giai đoạn này HIV không lây nhiễm qua tiếp xúc thông thường, chỉ lây qua 3 đường cơ bản. + Điều trị sẽ kéo dài thời gian chuyển thành AIDS 9
  10. - Giai đoạn AIDS Nhiễm HIV không có nghĩa là AIDS. Từ khi nhiễm HIV cho đến khi chuyển thành AIDS là một khoảng thời gian dài trong nhiều năm. Trong thời gian đó người nhiễm vẫn sống khoẻ mạnh và làm việc bình thường để sinh sống. Khi cơ thể bị nhiễm HIV sẽ có 3 xu hướng phát triển: + Hoặc người đó mang virus HIV kéo dài khoảng 10 năm hoặc lâu hơn mà vẫn khoẻ mạnh và làm việc bình thường nếu người đó thay đổi hành vi, thực hiện chế độ dinh dưỡng và rèn luyện thân thể tốt + Hoặc sẽ phát triển thành AIDS trong vòng 5-7 năm nếu để cho HIV diễn biến tự nhiên trong cơ thể + Hoặc sẽ diễn biến rất nhanh thành AIDS trong vòng vài năm nếu tiếp tục có hành vi nguy cơ (như dùng chung bơm kim tiêm khi tiêm chích, tiếp tục quan hệ tình dục không an toàn với nhiều người ) Giai đoạn AIDS này có thể kéo dài vài thàng đến một năm, tuỳ thuộc vào sức đề kháng của người bệnh, tế bào bạch cầu và tải lượng của virus, thuốc điều trị nhiễm trùng cơ hội. Trong giai đoạn này người bệnh thường gặp các triệu chứng: tiêu chảy, sụt cân, ung thư da, loét da, liêm mạc, lao, nám Giai đoạn này không lây qua chăm sóc nếu sử dụng đúng các dụng cụ bảo hộ 2 Tình hình đại dịch HIV/AIDS trên thế giới và Việt Nam 2.1. Tình hình đại dịch trên thế giới Trường hợp mắc hội chứng suy giảm miễn dịch đầu tiên được phát hiện tại Los- Angeles, bang California - Mỹ vào tháng 6 năm 1981. Sau đó nhiều bệnh nhân tương tự được phát hiện ở Haiiti và Châu Mỹ La-tinh trên quần thể những người đồng tính và những người nghiện chích ma tuý song vẫn chưa phát hiện được nguyên nhân. Hai năm sau (1983), tại 10
  11. Viện Pasteur Pari, Pháp, L. Montagnier và cộng sự đã phân lập được HIV từ hạch của một bệnh nhân. Một năm sau đó, công trình của Robert Gallot tại Trung tâm Ung thư của Mỹ đã khẳng định công trình của L. Montagnier và chứng minh đích tấn công cơ bản của HIV là tế bào CD4. Đến năm 1985, khi sinh phẩm chẩn đoán được bán rộng rãi trên thị trường và nhiều nơi có thể làm xét nghiệm thì người ta thấy rằng HIV đã lan tràn rất nhanh trên phạm vi toàn cầu. Sau 30 năm, AIDS trở thành một trong những căn bệnh nguy hiểm nhất mà loài người gặp phải. Các khu vực phải gánh chịu gánh nặng bệnh tật nhiều nhất là Châu phi cận Sahara, châu Mỹ La tinh và vùng Caribê. Ở các nước Châu phi cận Sahara, HIV/AIDS là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Tính trên toàn thế giới, HIV/AIDS đứng thứ 4 trong số những căn bệnh gây tử vong cao. Dự tính 3 thập kỷ qua: - Tổng số nhiễm khoảng trên 70 triệu người, gần 30 triệu người chết vì AIDS - Hiện nay còn khoảng trên 40 triệu người nhiễm HIV còn sống: 17 triệu phụ nữ nhiễm, gần 3 triệu trẻ em nhiễm, trên 14 triệu trẻ mồ côi. - Mỗi ngày thêm khoảng 14.000 trường hợp mới phát hiện - Tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất là ở Châu Phi rồi tới Châu Á Thái Bình Dương. Nhưng từ năm 2011, một số nơi có tỉ lệ nhiễm mới HIV giảm mạnh, nhất là các nước cận sa mạc Sahara Châu phi, khu vực từng bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Đồng thời có nơi tỉ lệ nhiễm mới HIV lại tăng như Australia, Đông Âu và Trung Á - Khoảng 80% lây qua đường tình dục, có nơi đến 94% Tuy nhiên, năm 2011 là năm có nhiều thay đổi, lần đầu tiên khoa học cho thấy nếu bệnh nhân được điều trị sớm, tỉ lệ nhiễm mới sẽ giảm 96%. Theo báo cáo năm 2011 của chương trình chống HIV/AIDS của LHQ (UNAIDS), thế giới đã có tiến bộ quan trọng về khoa học và nhiều lĩnh vực khác trong việc kiềm chế đại dịch HIV/AIDS. Theo UNAIDS, các ca HIV phát hiện mới trên toàn thế giới giảm 21% so với năm 1997, số người chết liên 11
  12. quan đến AIDS giảm 21% so với năm 2005. Giải thích cho sự thành công này, ông Peter Ghys, người đứng đầu bộ phận dịch tễ của UNAIDS cho rằng, một nửa số người nhiễm HIV/AIDS cần điều trị đang được điều trị, tương đương 6,6 triệu người. Nhiều loại thuốc có chức năng giảm thiểu lây truyền virus HIV từ mẹ sang con 2.2.Tình hình HIV/AIDS tại VN Tại VN trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào tháng 12 năm 1990 tại thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng thực sự dịch HIV/AIDS đã bắt đầu bùng nổ từ năm 1993 trong nhóm những người nghiện tiêm chích ma tuý tại thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, dịch bắt đầu lan ra các tỉnh thành. Đến cuối tháng 12/1998 toàn bộ 61 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong cả nước đều được phát hiện có người nhiễm HIV. Theo báo cáo “Tình hình nhiễm HIV/AIDS và hoạt động phòng, chống HIV/AIDS năm 2011, phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu năm 2012” của Bộ Y tế, tình hình nhiễm HIV/AIDS trong cả nước năm 2011 như sau: - Số trường hợp xét nghiệm nhiễm HIV báo cáo trong năm: 14.125 - Số bệnh nhân AIDS báo cáo trong năm: 6.432 - Số bệnh nhân AIDS tử vong báo cáo trong năm: 2.413 - Tổng số trường hợp nhiễm HIV hiện đang còn sống: 197.335 - Tổng số bệnh nhân AIDS hiện còn sống: 48.720 - Tổng số người nhiễm HIV đã tử vong: 52.325 Phần lớn những tỉnh, thành có số người xét nghiệm HIV dương tính cao là các tỉnh thành phố lớn và các tỉnh khu vực miền núi Tây bắc có đường biên giới với Lào. Đó là 10 tỉnh, thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Điện Biên, Thái Nguyên, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Kiên Giang, Bà Rịa Vũng Tàu, Phú Thọ. So sánh số trường hợp được xét nghiệm phát hiện và báo cáo nhiễm HIV năm 2010 và năm 2011, số trường hợp nhiễm HIV, bệnh nhân AIDS và tử vong do AIDS tiếp tục có xu 12
  13. hướng giảm nhưng không đáng kể, HIV giảm 142 trường hợp, số bệnh nhân AIDS giảm 78 trường hợp, số người tử vong do AIDS giảm 143 trường hợp. Số trường hợp nhiễm HIV được phát hiện giảm liên tiếp trong 4 năm gần đây, tuy nhiên xu hướng giảm năm 2011 bắt đầu chậm hơn nhiều so với những năm trước đây. Về địa bàn phân bố dịch: Tính đến 30/12/2011, toàn quốc đã phát hiện người nhiễm HIV tại 78% xã/phường, gần 98% quận/huyện và 63/63 tỉnh/thành phố. Phân bố người nhiễm HIV theo giới: Nam giới chiếm 69%, nữ giới chiếm 31%, so sánh cùng kỳ năm 2010, tỷ lệ này giảm khoảng 2% ở nhóm nam giới và tăng gần 2% ở nhóm nữ giới, tỷ trọng người nhiễm HIV ở nữ giới ngày càng nhiều. Phân bố người nhiễm HIV năm 2011 vẫn tập trung ở nhóm tuổi tử 20 – 39 tuổi chiếm 82% số người nhiễm HIV và tỷ lệ này hầu như không thay đổi nhiều trong 5 năm trở lại đây. Trong đó tỷ lệ người nhiễm HIV trong nhóm 30 -39 tuổi đang có xu hướng tăng dần đến hết năm 201 tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm 30 – 39 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 43%. Cùng với đó tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm 40 - 49 tuổi cũng có xu hướng tăng chậm đến hết năm 2011 tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm này là 11%. Phân bố người nhiễm HIV theo đường lây truyền trong số những người nhiễm HIV được báo cáo trong năm 2011 cho thấy lây truyền qua đường máu chiếm tỷ lệ cao nhất 46,7%, tỷ lệ này có giảm hơn 3% so với cùng kỳ năm 2010, tiếp đến là tỷ lệ người nhiễm HIV lây truyền qua đường tình dục chiếm 41,4% trong khi tính đến cùng kỳ năm 2010 tỷ lệ này là 38,7% số người nhiễm HIV được báo cáo, tỷ lệ người nhiễm HIV lây truyền từ mẹ sang con chiếm 2,4%, có 9,5% tỷ lệ người nhiễm HIV không rõ đường lây truyền. Như vậy so sánh với cùng kỳ năm 2010 thì tỷ lệ nhiễm HIV lây truyền qua đường tình dọc tăng khoảng 3%, tuy nhiên tỷ lệ này khác nhau ở các khu vực, ở các tỉnh miền Bắc chủ yếu vẫn là lây truyền qua đường máu chiếm 62,7% trên tổng số HIV phát hiện ở các tinh khu vực phía bắc. Trong khi đó ở các tỉnh khu vực phía nam lây truyền qua đường tình dục lại chiếm tỷ lệ cao hơn với 57,8% số trường hợp phát hiện nhiễm HIV ở các tỉnh phía nam và tập trung ở một số tỉnh/thành phố. 13
  14. Kết quả giám sát phát hiện cho thấy, tỷ lệ người nhiễm HIV được báo cáo chủ yếu tập trung ở người nghiện chích ma túy chiếm 41%. So sánh cùng kỳ với năm 2010, phân bố người nhiễm HIV theo nhóm nghiện chích ma túy trong năm 2011 có xu hướng giảm xuống 3%. Tuy nhiên tỷ lệ nhóm nghiện chích ma túy vẫn chiếm gần ½ tổng số các trường hợp nhiễm HIV được báo cáo. Trong 4 năm trở lại đây, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm tình dục khác giới tăng nhanh tử 8% năm 2007 thì đến năm 2011 tỷ lệ này đã là 22,5%. Xu hướng nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy tiếp tục có xu hướng giảm, năm 2011 tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy tại cộng đồng là 13,4%, năm 2010 tỷ lệ này là 17,24%. Tuy nhiên ở một số tỉnh tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy vẫn rất cao như Điện Biên 45,7%, thành phố Hồ Chí Minh 39,3%. Với tỷ lệ này cho thấy hành vi nguy cơ lây truyền HIV trong nhóm nghiện chích ma túy vẫn rất cao và tiềm ẩn nguy cơ làm tăng tỷ lệ người nhiễm HIV trong nhóm này. Xu hướng nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm năm 2011 có giảm (2,97%) so với năm 2010 (4,6%), tuy nhiên năm 2011 giám sát trọng điểm chỉ lấy mẫu những phụ nữ bán dâm tại cộng đồng, thông thường tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm đang giáo dục tại Trung tâm 05 cao hơn tại cộng đồng, do đó việc giảm tỷ lệ này vẫn cần được theo dõi tiếp để đảm bảo tính bền vững. Một số tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm rất cao và tiềm ẩn nguy cơ lây truyền cao cho người mua dâm như Hà Nội 22,5%, Lạng Sơn 17,06%, Cần Thơ 10,67%, Điện Biên 8%. Tỷ lệ phụ nữ bán dâm cho biết đã từng tiêm chích ma túy cao ở Hà Nội 15%, Điện Biên 8,6%, các tỉnh này có tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm cao và có hành vi nguy cơ cao về tình dục không an toàn làm tiềm ẩn nguy cơ lây truyền HIV lớn, cần có các biện pháp can thiệp phù hợp để hạn chế lây truyền HIV. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới cao ở thành phố Hồ Chí Minh cao (14%), Hà Nội (6,7%), xu hướng nhiễm HIV trong nhóm này tăng ở một số tỉnh như Hải Dương, Hà Nội, An Giang. 14
  15. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ mang thai tiếp tục có xu hướng giảm trong 3 năm gần đây, tỷ lệ này năm 2011 là 0,21%. Tuy nhiên ở một số tỉnh tỷ lệ này vẫn đang ở cao như Điện Biên (1%), Hà Nội và Lào Cai (0,63%). Như vậy, tình hình dịch HIV/AIDS trong năm 2011 có xu hướng giảm. Đây là năm thứ 4 liên tiếp số người nhiễm HIV mới phát hiện giảm, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy, phụ nữ bán dâm tiếp tục được khống chế và có xu hướng giảm, riêng nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới vẫn tiếp tục gia tăng ở mức độ chậm hơn. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nguy cơ thấp tại cộng đồng tiếp tục giữ được ổn định và ở mức thấp. Tuy nhiên, một số tỉnh như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Điện Biên, Sơn La, Thái nguyên, Phú Thọ , Nghệ An, Thanh Hóa, Cần Thơ, An Giang, Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu tình hình dịch vẫn còn diễn biến phức tạp, tỷ lệ nhiễm HIV trong các nhóm nguy cơ cao vẫn còn ở mức cao và hành vi làm lây truyền HIV trong một số nhóm còn tiềm ẩn trong các nhóm với nhau và lây truyền ra cộng đồng. Số trẻ em sinh ra từ bà mẹ nhiễm HIV bị nhiễm HIV có xu hướng giảm. Xu hướng tử vong do HIV/AIDS giảm liên tiếp trong nhiều năm qua, cho thấy hiệu quả của công tác chăm sóc, điều trị ngày càng tốt hơn. Báo cáo “ Sơ kết công tác phòng, chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm 2012” cho thấy, 06 tháng qua, công tác phòng, chống HIV/AIDS ở nước ta tiếp tục được triển khai rộng khắp và thu được nhiều kết quả tích cực. Cùng với việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, chính quyền các cấp và sự tham gia của các bộ, ngành, đoàn thể, các cơ quan, tổ chức, đơn vị và nhiều người dân trong cộng đồng, bao gồm cả người nhiễm HIV và những người dễ bị tổn thương bới HIV/AIDS các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ tiếp tục được đẩy mạnh. Đến nay tổng số người nhiễm HIV đang còn sống là 204.019 người, tổng số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 58.569 người, tổng số người nhiễm HIV đã tử vong là 61.856 người. Số người nhiễm HIV mới phát hiện 6 tháng đầu năm 2012 là 5.927 trường hợp, giảm so với cùng kỳ. Đáng lo ngại là dịch HIV/AIDS ở mức cao nhưng khó kiểm soát ở phần lớn các tỉnh miền núi phía Bắc như Sơn La, Điện Biên, Lai 15
  16. Châu, Lào Cai, Yên Bái. Hai thành phố lớn là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh cũng đang diễn biến dịch phức tạp, khó kiểm soát. 3 Đặc điểm tâm lý của người có HIV/AIDS Những vấn đề tâm lý của người nhiễm HIV đã được rất nhiều người quan tâm và nghiên cứu, trong đó nhiều nghiên cứu đã đưa ra những vấn đề tâm lý cơ bản của người nhiễm HIV là những thay đổi tâm lý đặc trưng và các giai đoạn khủng hoảng. Những thay đổi tâm lý đặc trưng của người nhiễm HIV bao gồm các giai đoạn sốc, lo lắng phủ nhận, tức giận, cảm giác tội lỗi, trầm uất và cô đơn, nỗ lực tự cứu mình và Chấp nhận. - Sốc xảy ra ngay tại thời điểm biết về tình trạng nhiễm HIV, biểu hiện bằng sự im lặng, tê cóng người, không tin điều xảy ra là sự thật - Lo lắng xảy đến với ngưoif nhiễm HIV sau khi họ trải qua giai đoạn sốc ban đầu. Họ sợ hãi khi nghĩ đến những gì sắp diễn ra với bản thân và gia đình mình - Phủ nhận: Không tin điều đó có thể xảy ra với mình hoặc với những người thân trong gia đình mình. Đi kèm với điều này là cảm giác sốc. - Tức giận: Cảm thấy cuộc sống bất công, tức giận với chính bản thân mình, với những người xung quanh, với những gì đã xảy ra với mình. Muốn phá bỏ, muốn trả thù chính bản thân và những người khác. - Cảm giác tội lỗi thể hiện ở chỗ tự đổ lỗi cho bản thân, mình là người gây nên chuyện, rằng đáng lẽ mình có thể không để những chuyện như vậy xảy ra - Trầm uất và cô đơn khi người nhiễm HIV cảm thấy không có ai chia sẻ những khó khăn, trăn trở của mình, không ai hiểu mình - Nỗ lực tìm cách tự cứu mình: là trạng thái điển hình khi các biểu hiện của bệnh đã rõ ràng hơn, lú này họ thường nghĩ đến một sức mạnh thần kỳ có thể làm thay đổi được thực tại 16
  17. - Chấp nhận: Không cảm thấy vui vì HIV nhưng chấp nhận cuộc sống có HIV, nhận thấy rằng không thể làm lại được. Từ việc chấp nhận được sự thực đối với bản thân, người nhiễm HIV nhận ra rằng cuộc sống vẫn đang tiếp diễn, còn có nhiều điều mình đáng làm, đáng sống. Có thể vui vẻ hạnh phúc khi sống chung với HIV vì cuộc sống còn dài. Phần lớn bệnh nhân xuất hiện những cảm xúc tiêu cực ngay khi vừa biết mình có HIV (ví dụ như sốc, thất vọng, chán nản ). Tuy nhiên, cũng có một số ít bệnh nhân chia sẻ, những cảm xúc này lại ít xuất hiện ở bản thân khi phát hiện ra mình có HIV/AIDS. Lý do là họ đã có sự chuẩn bị nhất định về mặt tâm lý, hoặc đã từng coi rằng việc nhiễm HIV là một khả năng có thể xảy ra vì đã có những hành vi nguy cơ. Những thay đổi tâm lý của người nhiễm HIV theo chiều hướng tiêu cực luôn gắn liền với cảm giác mất hy vọng, thiếu sự trợ giúp. Những khó khăn mà người nhiễm HIV sẽ gặp phải như không còn duy trì được hoạt động nghề nghiệp, những mối quan hệ tình cảm gần gũi, suy giảm hình ảnh về bản thân, thay đổi công việc. Chứng kiến cái chết của người thân, của những người cùng cảnh ngộ đã làm tăng thêm những cảm xúc tiêu cực ở họ. Yếu tố văn hoá - xã hội cũng làm tăng những cảm xúc tiêu cực của người nhiễm HIV. Những cảm xúc này cũng gắn chặt với những xung đột liên quan đến định hướng giới tính, vấn đề đạo đức, chuẩn mực xã hội Ví dụ, những thông điệp từ phương tiện thông tin đại chúng gắn liền HIV/AIDS với những người bán dâm và sử dụng ma tuý đã làm cho mọi người có thêm những cảm xúc lo lắng khi có HIV. Đối với nhiều người có những suy nghĩ không đúng về quan hệ nhân quả cũng làm tăng những cảm xúc tiêu cực của người nhiễm HIV. Ví dụ, mình bị HIV chắc do mình đã làm điều gì xấu xa từ trước, có HIV là do quả báo. Ngoài ra cũng có một số nguyên nhân bên ngoài làm tăng cảm xúc tiêu cực như: Sự chối bỏ từ gia đình, người thân, bạn bè, đi kèm với cảm giác bị chối bỏ, suy nghĩ về sự chối bỏ cũng làm tăng thêm những xúc cảm tiêu cực của người nhiễm HIV. Sự kỳ thị và phân biệt đối xử của cộng đồng cũng làm tăng cảm giác tiêu cực ở người nhiễm HIV. 17
  18. 4 Những vấn đề cơ bản mà người sống chung với HIV/AIDS đang gặp phải - Khủng hoảng tâm lý Khủng hoảng tâm lý là một trạng thái sốc tinh thần do một sự kiện hoặc một chuỗi những sự kiện bất thường gây ra những ảnh hưởng tiêu cực trầm trọng tới cá nhân. Trong tình trạng này cá nhân cảm thấy mất cân bằng, căng thẳng và giảm các hoạt động chức năng vốn có. Khi bị khủng hoảng, cá nhân thường cố gắng đối phó với vấn đề, nhưng các phương án ứng phó với những khó khăn thường ngày có thể sẽ không có hiệu quả nữa và cá nhân trở nên bị hụt hẫng. Khi mới biết mình bị nhiễm HIV, cá nhân thường rơi vào trạng thái sốc. Nếu không tự vượt qua khỏi được trạng thái này hoặc không có người giúp đỡ vượt qua, cá nhân sẽ lâm vào tình trạng khủng hoảng Thường trạng thái sốc và khủng hoảng dễ xảy đến hơn với những người biết tin mình bị lây nhiễm HIV một cách đột ngột mà không đoán hay biết trước được. Còn đối với những người có thể đoán trước được khả năng bản thân mình đã lây HIV vì một hành vi không an toàn nào đó thì trạng thái khủng hoảng thường xảy ra trong giai đoạn trước khi đi xét nghiệm HIV. Trạng thái khủng hoảng còn có thể xảy ra ở giai đoạn có những biến cố quan trọng khác do HIV gây nên: Tình trạng nhiễm HIV bắt đầu bị mọi người trong và ngoài gia đình biết, giai đoạn HIV bắt đầu chuyển sang giai đoạn AIDS. Mức độ khủng hoảng nặng hay nhẹ phụ thuộc vào tính cách của từng cá nhân, song tất cả đều cần được hỗ trợ kịp thời để thoát khỏi tình trạng này. Nếu không được trợ giúp kịp thời họ có thể chìm sâu trong khủng hoảng làm hạn chế các chức năng xã hội của bản thân hoặc có những hành vi tự giải thoát không phù hợp, ví dụ tự làm hại bản thân, thậm chí tự tử. - Vấn đề sức khỏe 18
  19. + Người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS bị suy giảm hệ thống miễn dịch cả miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào dẫn tới nguy cơ bị mắc nhiều loại nhiễm trùng cơ hội khác nhau, trong đó đồng nhiễm lao/HIV là một vấn đề ảnh hưởng lớn đến sức khỏe bệnh nhân cũng như gây không ít khó khăn trong hoạt động chăm sóc, điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS. Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, tỷ lệ đồng nhiễm lao/HIV thay đổi khác nhau tùy địa phương, điều kiện vệ sinh môi trường, tình hình phát triển kinh tế xã hội và hoạt động phòng, chống lao/HIV được triển khai, tỷ lệ này thay đổi từ 10% – 40%. HIV làm suy giảm miễn dịch, làm cho người nhiễm HIV dễ mắc bệnh lao, gia tăng tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân lao và ngược lại khi mắc bệnh lao thì làm tăng tiến triển của nhiễm HIV, làm cho suy giảm miễn dịch càng nặng hơn. + Nhiễm nấm Candida ở miệng, họng Candida là thủ phạm gây ra nấm ở họng và miệng. Loại nấm này thường kí sinh ở miệng, họng, đường tiêu hoá và thường không phát triển thành bệnh. Nhưng nếu gặp các yếu tố thuận lợi, nấm Candida sẽ gây bệnh. Do những suy giảm về miễn dịch, người có HIV cũng dễ bị nấm Candida tấn công. Theo Nghiên cứu tại Bệnh viện Nhiệt đới thành phố Hồ Chí Minh, tỉ lệ người có HIV mắc bệnh nấm miệng là 53%, trong khi con số này ở Viện y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới là 43 %. + Nhiễm trùng da Da là cơ quan trực tiếp tiếp xúc với môi trường bên ngoài nên rất dễ bị các mầm bệnh tấn công. Nhiễm trùng da ở người có HIV thường liên quan đến các chủng vi khuẩn, virus, nấm hoặc ký sinh trùng và có những biểu hiện khác biệt, dai dẳng và khó điều trị hơn. Nhiễm trùng da do vi khuẩn xảy ra rất phổ biến ở các bệnh nhân HIV/AIDS do khả năng miễn dịch của cơ thể bị suy giảm nặng. + Nhiễm trùng quanh miệng 19
  20. Ngoài ra, nấm da cũng là một trong những nhiễm trùng cơ hội thường gặp ở các bệnh nhân HIV/AIDS, nhất là ở những người không được điều trị thuốc diệt virus. - Vấn đề kỳ thị và phân biệt đối xử Kỳ thị và phân biệt đối xử đã và đang là rào cản làm hạn chế hiệu quả của công tác phòng chống HIV/AIDS trên thế giới, cũng như ở Việt Nam. Năm 1987, Dr Jonathan Giám đốc Chương trình AIDS của Tổ chức Y tế thế giới đã nhận định: Đương đầu với kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS cũng là một trọng tâm nhằm đối phó với chính bản thân dịch bệnh HIV/AIDS. 13 năm sau, năm 2000 Giám đốc Chương trình phối hợp phòng chống AIDS Liên Hiệp Quốc Peter Piot tiếp tục nhấn mạnh: Kỳ thị là một thách thức ngăn cản sự phối hợp của cộng đồng quốc gia và quốc tế. Ngày 1/12/2002 WHO phát động chiến dịch toàn cầu xóa kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS với khẩu hiệu “sống và hãy cùng sống”. Cùng thời gian này, Việt Nam phát động chiến dịch “Hãy cùng nhau vượt qua rào cản của sự kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS”. Ngày càng có nhiều hoạt động nỗ lực nhằm từng bước xóa bỏ kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS. Các câu lạc bộ, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức phi Chính phủ, các câu lạc bộ, nhóm tự lực được hình thành và đóng vai trò rất lớn trong việc chống lại việc kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS. Sự kỳ thị tuy có giảm đi, nhưng ở đâu đó trong xã hội, những định kiến và kỳ thị vẫn tồn tại và ảnh hưởng lớn đến đời sống của cộng đồng. Sự kỳ thị diễn ra ở nhiều dạng khác nhau như xem người nhiễm HIV dưới góc độ đạo đức là coi thường, khinh bỉ, phán xét, kết tội, họ là người không đúng đắn mới nhiễm HIV. Sợ lây nhiễm, phòng vệ quá mức cần thiết khi đối diện với người nhiễm HIV. Bản thân người nhiễm HIV cũng tự cảm thấy xấu hổ, e ngại, tự ti, tội lỗi, sống khép kín. Hậu quả là người nhiễm HIV/AIDS bị cô lập giữa cộng đồng, không được chăm sóc sức khỏe đầy đủ, bị đuổi học hoặc cho thôi việc, không dám tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ thực hiện hành vi an toàn và thay đổi hành vi, mặc cảm, sống thiếu tích cực. Đối với cộng đồng sẽ gây ảo tưởng rằng chỉ có một số người nhất định mới bị nhiễm HIV, hạn chế sự tham gia của người nhiễm HIV và gia 20
  21. đình trong công tác phòng chống HIV/AIDS, làm giảm hiệu quả của những nỗ lực trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng nói chung, người nhiễm HIV/AIDS nói riêng. Trong bài phát biểu tại kỳ họp cấp cao của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc tại New York ngày 2/6/2006, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm cam kết tiếp tục tăng cường nỗ lực để xóa bỏ kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS, và đảm bảo sự bình đẳng trong điều trị, tiếp cận các dịch vụ y tế và xã hội cũng như các chính sách hỗ trợ của nhà nước cho những người nhiễm HIV/AIDS. Do đó, các việc cần làm để từng bước xóa bỏ kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS bằng cách, trang bị kiến thức liên quan về HIV/AIDS, để mọi người biết cách phòng ngừa theo đúng chuẩn mực của nó. Truyền thông cho cộng đồng cùng hiểu để cùng có cái nhìn đúng đắn khi đối diện với căn bệnh HIV/AIDS. Đồng thời chung tay hỗ trợ, giúp đỡ, chia sẻ động viên, tư vấn, chăm sóc, tạo việc làm để người nhiễm HIV/AIDS tự tin quay về cuộc sống bình thường như các thành viên khác trong cộng đồng. Trong bối cảnh người bình thường tìm việc làm đã khó thì tạo và giải quyết việc làm cho người nhiễm HIV thực sự là bài toán không dễ gì giải nổi. Nhiều người nhiễm HIV cho biết, trở ngại lớn nhất của họ khi đến làm việc tại công ty không phải là sức khỏe mà chính là sự kỳ thị, phân biệt của lãnh đạo công ty, đồng nghiệp. Trước "khoảng cách" đó, người có H đều phân vân giữa việc nói hay không nói tình trạng bệnh của mình. Hơn nữa, khi nhiễm HIV, và đặc biệt dùng ARV (thuốc điều trị HIV) do tác dụng phụ nhiều khi rất mệt mỏi Hơn nữa, khi tuyển người, nhiều công ty ngành thực phẩm thường yêu cầu xét nghiệm máu, kiểm tra tổng quát trước khi nhận vào làm việc. Đây thực sự là một "hàng rào" khiến người nhiễm HIV không dám đối mặt. Có một số công ty chấp nhận người nhiễm HIV vào làm việc nhưng lại không ưu tiên cho họ nghỉ ngơi để chăm sóc sức khỏe. phải nhìn nhận thực tế là những người nhiễm HIV, muốn hay không cũng không thể tránh khỏi tình trạng sa sút về sức khỏe, có các bệnh cơ hội, mất nhiều thời gian để chăm sóc sức khỏe khi đau ốm trong khi thực sự chưa có chính sách ưu đãi xã hội nào dành cho các doanh nghiệp tiếp nhận người nhiễm HIV vào làm việc. Vì vậy, việc người nhiễm HIV sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi đi xin việc cũng như làm việc trong 21
  22. môi trường công ty - nơi mà các chủ doanh nghiệp vẫn đặt vấn đề lợi nhuận lên hàng đầu- là khó tránh khỏi. 5 Vai trò của NVXH trong hỗ trợ người sống chung với HIV/AIDS - Vai trò là người tham vấn Tham vấn người nhiễm HIV/AIDS là một quá trình trợ giúp tâm lý, trong đó nhà tham vấn sử dụng kiến thức, kỹ năng chuyên môn và thái độ nghề nghiệp để thiết lập mối quan hệ tương tác tích cực với người nhiễm HIV hoặc gia đình họ nhằm giúp cá nhân và gia đình người nhiễm HIV thay đổi cảm xúc, suy nghĩ, hành vi và sống tích cực, giảm nguy cơ lây nhiễm cho bản thân và những người xung quanh. Đối tượng cần được tham vấn có thể là: - Bản thân cá nhân người nhiễm HIV: bao gồm cả trẻ em và người lớn - Người thân trong gia đình: bố, mẹ, vợ chồng, con cái. - Người bảo trợ, người chăm sóc - Vai trò là người biện hộ Biện hộ là hoạt động thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, đặc biệt là đối với những người bất lợi thế; thúc đẩy công bằng xã hội cho tất cả những người bất lợi thế trong cộng đồng. Với người nhiễm HIV và gia đình họ, biện hộ là việc người cán bộ giúp đưa ra tiếng nói, quan điểm nhằm đảm bảo quyền lợi của người nhiễm HIV. Ví dụ biện hộ giúp người nhiễm HIV được tham gia vào các hoạt động kinh tế, biện hộ giúp người nhiễm HIV được hưởng các dịch vụ chăm sóc y tế, khuyến khích họ tham gia phát biểu ý kiến; tạo cơ hội để họ có thể phát biểu ý kiến; Bất cứ khi nào có thể khuyến khích họ tự nói lên những điều họ muốn đáp ứng nhu cầu phù hợp của mình là được hưởng chế độ chăm sóc sức khoẻ. Như vậy, biện hộ trong quá trình giúp đỡ người nhiễm HIV và gia đình là hành động mà trực tiếp đại diện, bảo vệ, can thiệp, ủng hộ và đề xuất cho quyền, lợi ích cá nhân người nhiễm HIV và gia đình của họ nhằm hướng tới sự công bằng xã hội. 22
  23. Biện hộ giúp nhóm người yếu thế lấy lại được những quyền chính đáng mà họ không được hưởng. Nhóm người nhiễm HIV đôi khi bị xã hội hoặc thậm chí bị chính một số người thân trong gia đình tước mất những quyền cơ bản của con người vì lý do kỳ thị, ví dụ không cho ăn chung mâm cơm, không cho cùng sinh hoạt gia đình, không cho con chơi cùng với con của người nhiễm HIV, không nói chuyện cùng người nhiễm HIV và người thân của người nhiễm HIV, trẻ là con của người nhiễm HIV thì không được nhà trường đồng ý vào học Trước những bất công của xã hội, những nhóm người này yếu thế có rất ít hoặc không có khả năng tự bảo vệ bản thân. Lý do vì họ không hiểu biết pháp luật và cũng không có vị trí xã hội. Vì thế nhiệm vụ của nhân viên xã hội cần phải thay những người này nói lên tiếng nói của họ, giúp những nhóm người này tìm lại được những quyền mà họ bị đánh mất. Vai trò là người vận động nguồn lực Trong vai trò này, NVXH là người trợ giúp đối tượng( cá nhân, gia đình, cộng đồng ) tìm kiếm nguồn lực cho giải quyết vấn đề. Đối với những người nhiễm HIV/AIDS, vận động nguồn lực là một hoạt động hay một nhóm các hoạt động được tiến hành nhằm tạo ảnh hưởng lên người có quyền thay đổi luật pháp hoặc chính sách có thể cải thiện cuộc sống của những người bị tác động bởi HIV/AIDS. - Vai trò là người kết nối NVXH là người có được những thông tin về các dịch vụ, chính sách để giowis thiệu cho đối tượng các nguồn tài nguyên đang sẵn có từ các cá nhân, cơ quan/tổ chức để họ tiếp cận, trên cơ sở đó có thêm sức mạnh trong giải quyết vấn đề - Vai trò tạo sự thay đổi NVXH được xem như là người tạo ra sự thay đổi cho cá nhân, nhóm, cộng đồng; giúp họ thay đổi suy nghĩ, thay đổi hành vi tiêu cực hướng tới và thực hành những hành vi tốt, lành mạnh - Vai trò là người chăm sóc, người trợ giúp 23
  24. NVXH còn được xem như người kết nối và cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho cá nhân, gia đình không có khả năng tự đáp ứng được các nhu cầu của mình và giải quyết vấn đề 6 Nguyên tắc làm việc với người sống chung với HIV/AIDS - Chấp nhận đối tượng Mỗi con người, dù là bình thường hay bất bình thường, họ đều có nhân phẩm, có giá trị riêng và có quyền được tôn trọng, bình đẳng. NVXH cần tôn trọng những cảm xúc, suy nghĩ của thân chủ. Họ có thế phê phán, đổ lỗi, quy gán và có những nhận định không hợp lý. Hãy xem đó là những điều bình thường bởi họ đang bức xúc, họ đang khủng hoảng với tình trạng của họ. Tuy nhiên, việc chấp nhận những hành vi, quan điểm hay giá trị của đối tượng không có nghĩa là đồng tình với những hành vi hay suy nghĩ của họ. Sự tôn trọng hay chấp nhận ở đây ám chỉ việc ghi nhận sự tồn tại và không phán xét hay lên án những hành vi, suy nghĩ của họ họ. Trong số những người nhiễm HIV ở Việt Nam có nhiều người nghiện ma túy hoặc tham gia vào việc bán dâm. Nhiễm HIV lại là hệ quả của những hoạt động đó. Vì vậy sự định kiến thường làm ảnh hưởng tới hành vi ứng xử đối với họ. - Đảm bảo tính khác biệt của mỗi trường hợp Con người có những nhu cầu cơ bản giống nhau, nhưng mỗi người do hoàn cảnh khác nhau, có tính cách khác nhau và những mong muốn, nguyện vọng không giống nhau. Việc cá biệt hóa trường hợp của đối tượng( cá nhân, gia đình hay cộng đồng) giúp NVXH đưa ra phương pháp giúp đỡ phù hợp với từng trường hợp cụ thể, đảm bảo lợi ích thiết thực cũng như đáp ứng đúng nhu cầu của đối tượng trên cơ sở đặc điểm, khả năng và nguồn lực mà họ có. - Đảm bảo tính riêng tư, kín đáo các thông tin về trường hợp của đối tượng Mọi thông tin của thân chủ/người nhiễm HIV cần được giữ kín, không được tiết lộ trừ phi được người nhiễm HIV đồng ý. 24
  25. Về khía cạnh pháp lý: Những tiết lộ thông tin của thân chủ mà không được sự đồng ý của họ sẽ bị xử lý theo pháp luật. Về khía cạnh tâm lý: Nếu tiết lộ thông tin của thân chủ mà không có sự chấp thuận của họ hay họ chưa sẵn sàng cho người thân được biết, việc đó sẽ làm cho họ không tin tưởng và không hợp tác tiếp tục trong quá trình trợ giúp. Về khía cạnh xã hội: Sẽ làm tăng sự kỳ thị xa lánh của cộng đồng, xã hội đối với họ và người thân của họ. - Tôn trọng quyền tự quyết của đối tượng - Tôn trọng những cảm xúc, suy nghĩ của thân chủ Họ có thế phê phán, đổ lỗi, quy gán và có những nhận định không hợp lý. Hãy xem đó là những điều bình thường bởi họ đang bức xúc, họ đang khủng hoảng với tình trạng của họ. - Không áp đặt, không phán xét hay lên án họ. Trong số những người nhiễm HIV ở Việt Nam có nhiều người nghiệm ma túy hoặc tham gia vào mại dâm. Nhiễm HIV lại là hệ quả của những hoạt động đó. Vì vậy sự định kiến thường làm ảnh hưởng tới hành vi ứng xử đối với họ. - Không quyết thay. Hãy để họ tự quyết định trên cơ sở trao đổi, tìm hiểu thông tin chính xác và hợp lý được cung cấp từ nhà tham vấn và những nguồn thông tin khác. Nhà tham vấn chỉ giúp họ đưa ra được những quyết định đúng đắn. Việc xét nghiệm hay không xét nghiệm đó là họ quyết định, việc nói ra với người thân là đã có HIV dương tính hay chưa nói ra, nói với ai đều phụ thuộc vào sự tự quyết của họ. - Tự ý thức về bản thân Tự ý thức về bản thân giúp NVXH biết giới hạn về quyền lực của mình và có ý thức hoàn thiện bản thân để hoàn thành tốt công việc chuyên môn. Đồng thời việc nhận thức về 25
  26. bản thân của NVXH còn đảm bảo cho lợi ích cũng như quyền lợi của người sống chung với HIV/AIDS trong trường hợp vấn đề của họ vượt quá khả năng của NVXH và cần chuyển tuyến - Đảm bảo mối quan hệ nghề nghiệp Công cụ chính trong các hoạt động hỗ trợ cho người sống chung với HIV/AIDS là mối quan hệ của NVXH với họ. Do đó, NVXH cần thể hiện sự tôn trọng quan điểm giá trị, nguyên tắc nghề nghiệp, khách quan và công bằng không lợi dụng vị thế của mình để thực hiện các mục đích cá nhân 26
  27. BÀI 2: KỲ THỊ, PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS VÀ HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ GIẢM KỲ THỊ 1 Khái niệm kỳ thị và phân biệt đối xử 1.1.Khái niệm kỳ thị Kỳ thị là thái độ coi thường, làm mất thể diện hay không tôn trọng một cá nhân hoặc một nhóm người nào đó vì cho là những người này có những khác biệt với các chuẩn mực thông thường của xã hội. Kỳ thị với người nhiễm HIV/AIDS là thái độ coi thường, làm mất thể diện hay không tôn trọng một người nào đó vì biết họ bị nhiễm HIV hoặc nghi ngờ họ bị nhiễm HIV. Có thể đó là thái độ miệt thị, xa lánh, từ chối tiếp xúc, khinh bỉ đối với những người nhiễm HIV/AIDS. Kỳ thị với người nhiễm HIV/AIDS hình thành trên cơ sở các quan niệm mang tính xã hội, do đó cần có những giải pháp mang tính xã hội để chống lại nó, nhằm làm giảm tác động xấu đối với người nhiễm HIV/AIDS. 1.2.Khái niệm phân biệt đối xử Phân biệt đối xử là hành vi, hành động xảy ra nhằm đối xử khác biệt (với mức độ kém hơn) với một cá nhân hoặc một nhóm người nào đó so với chung của tập thể và xã hội. Phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS là hành vi hoặc hành động xa lánh, từ chối, phân biệt, trừng phạt, phỉ báng và hạn chế quyền của họ, dựa vào tình trạng nhiễm HIV (chính xác hoặc nghi ngờ) của họ. Có hai loại phân biệt đối xử thường gặp đối với người nhiễm HIV: phân biệt đối xử tùy tiện và phân biệt đối xử hợp pháp. Phân biệt đối xử tùy tiện (hay còn gọi là phân biệt đối xử thiếu căn cứ, thiếu suy xét) thường có tính tự phát, là quan hệ riêng tư, dựa trên sự nhận thức, phán xét của các cá nhân. Phân biệt đối xử hợp pháp có tính thể chế, được qui định bởi 27
  28. các văn bản pháp luật, chính sách, hoặc thấp hơn là các qui định, thực hành ứng xử ở các cơ quan, cộng đồng. Như vậy kỳ thị là nói về thái độ, còn phân biệt đối xử là nói về hành vi hoặc hành động cụ thể đối với người nhiễm HIV/AIDS. Kỳ thị và phân biệt đối xử có quan hệ mật thiết với nhau và khó tách rời nhau. Kỳ thị là tiền đề của phân biệt đối xử. Muốn chống phân biệt đối xử phải bắt đầu từ việc chống kỳ thị vệ người nhiễm HIV/AIDS. 2 Biểu hiện của sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người sống chung với HIV/AIDS Kỳ thị và phân biệt đối xử có thể biểu hiện công khai hoặc ngấm ngầm, thô bạo hoặc tế nhị, ở nhiều hoàn cảnh khác nhau, dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau. Dưới đây là một số ví dụ về kỳ thị và phân biệt đối xử: 2.1. Tại các cơ sở y tế - Miễn cưỡng khi tiếp xúc với người nhiễm HIV/AIDS - Trì hoãn điều trị, chậm phục vụ (bắt phải chờ đợi lâu, yêu cầu đến vào lần khác). - Thoái thác, giải thích rằng lấy làm tiếc vì lý do nào đó (nhưng không từ chối thẳng thừng, như giới thiệu đến cơ sở khác, lấy lý do không đủ điều kiện nhập viện). - Đùn đẩy bệnh nhân giữa các cán bộ y tế, giữa các khoa, giữa các bệnh viện. - Trì hoãn điều trị hoặc phẫu thuật. - Xét nghiệm HIV nhiều lần trong khi không cần thiết. - Chỉ cho nhập viện và điều trị khi kèm theo điều kiện (phải tham gia nghiên cứu nào đó hoặc nhận điều trị thử). - Hạn chế tiếp cận các nơi công cộng như nhà vệ sinh, nhà ăn v.v, trong bệnh viện. - Cho xuất viện sớm. - Xét nghiệm HIV bắt buộc trước phẫu thuật hoặc trong thời gian mang thai. 28
  29. - Hạn chế đi lại trong bệnh viện. 2.2. Tại gia đình và cộng đồng - Miễn cưỡng giao tiếp với người nhiễm (lảng tránh, không bắt tay, không muốn nói chuyện ). - Quan hệ căng thẳng, từ chối, lảng tránh hoặc ly thân. - Cho ăn, ở riêng. - Không muốn (hoặc cấm) dùng chung các vật dụng phục vụ công cộng, như cho giải trí, thể thao, nhà vệ sinh, nhà ăn tập thể - Hạn chế tiếp xúc (hoặc cấm) với con cái, người thân, họ hàng. - Hạn chế hoặc cấm đến một số nơi nào đó mà những người khác đến được. - Không muốn tang lễ được diễn ra như những người bình thường hoặc không cho tổ chức tang lễ, không đến dự tang lễ 2.3. Tại nơi làm việc - Xa lánh, ngại tiếp xúc. - Lấy máu xét nghiệm HIV khi tuyển dụng hoặc trong quá trình lao động (nhưng không nói là để xét nghiệm HIV). - Xét nghiệm HIV khi tuyển dụng. - Cho nghỉ ốm, nghỉ việc (vẫn trả lương hoặc không trả lương) khi người lao động bị nhiễm HIV nhưng vẫn còn khả năng lao động. - Dùng bồi thường vật chất để thuyết phục người nhiễm HIV xin nghỉ việc. - Bắt buộc thôi việc. - Cắt giảm các quyền lợi bảo hiểm y tế. - Hạn chế tiếp cận đến các nơi công cộng ở nơi làm việc. 29
  30. - Thay đổi công việc không vì lý do sức khỏe hoặc phòng ngừa lây nhiễm. 3 Nguyên nhân của sự kỳ thị người sống chung với HIV/AIDS Kỳ thị và phân biệt đối xử là một vòng luẩn quẩn vì những quan niệm không đầy đủ của mọi người. Vì HIV/AIDS thường có liên quan đến những hành vi không được chấp nhận (tệ nạn xã hội), nên những người nhiễm HIV bị phân biệt đối xử vì bị gán cho là thuộc nhóm người sống lệch chuẩn. Những người này lại bị kỳ thị nhiều hơn vì bị coi là đã làm lây lan HIV/AIDS. Có rất nhiều lý do làm cho vòng tròn này thêm luẩn quẩn. Những lý do bao gồm do bản chất của bệnh, thiếu kiến thức, truyền thông thiếu chính xác về HIV, trình độ văn hóa và do sự bất bình đẳng về giới Sau đây là những nguyên nhân chính: 3.1. Do bản chất tự nhiên của bệnh HIV là một bệnh chết người chưa có thuốc chữa và vác xin phòng bệnh. Vì tính chất nguy hiểm của bệnh và khả năng lây truyền HIV làm cho mọi người có xu hướng phản ứng lại nỗi sợ hãi bằng cách tự tách mình ra và đổ lổi cho người khác. Điều này có thể gây căng thẳng tâm lý và cô lập cho người nhiễm HIV/AIDS, cho gia đình và bạn bè của họ. 3.2. Do thiếu hiểu biết Kỳ thị và phân biệt đối xử có một nguyên nhân cơ bản là do thiếu hiểu biết, hoặc hiểu biết không đúng về HIV/AIDS. Có hai nhận thức sai khá phổ biến về HIV/AIDS, đó là: Thứ nhất: Chỉ có những người nghiện chích ma túy hoặc quan hệ mại dâm mới có nguy cơ nhiễm HIV. Sự thật, mặc dù hơn 60% những người nhiễm HIV bị lây qua tiêm chích ma tuý, nhưng điều này không có nghĩa là chỉ có những người tiêm chích ma tuý hay quan hệ mại dâm mới bị nhiễm HIV/AIDS. Tất cả mọi người đều có nguy cơ nhiễm HIV. Thực tế ở Việt Nam, số phụ nữ bị nhiễm HIV từ chồng và số trẻ em nhiễm HIV từ mẹ đang ngày càng tăng, cũng như một số người đã bị nhiễm HIV do tai nạn nghề nghiệp (cán bộ y tế, cán bộ xã hội). Việc nhìn nhận những người nhiễm HIV đều có những hành vi như quan hệ mại dâm, 30
  31. tiêm chích ma túy (những hành vi bị coi là xấu) đã làm tăng tình trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm, cho rằng những người này đáng bị trừng phạt. Thứ hai: HIV là bệnh rất dễ lây; HIV nghĩa là chết. Sự thật, mặc dù HIV lây qua nhiều con đường khác nhau, nhưng có một đặc điểm là nó không lây qua các tiếp xúc thông thường. Người nhiễm HIV có thể sống có ích nhiều năm nếu họ biết giữ gìn sức khoẻ cho họ và cho người thân của họ. 3.3. Do truyền thông không chính xác về HIV/AIDS Trong một thời gian dài, việc tuyên truyền về HIV/AIDS thường theo cách hù dọa mọi người (chết chóc, đầu lâu xương chéo, hình ảnh lở loét toàn thân, gầy trơ xương .) hoặc ngụ ý HIV có liên quan đến tệ nạn xã hội như mại dâm, tiêm chích ma túy. Việc tuyên truyền như vậy đã khiến mọi người sợ hãi và điều này dẫn đến kỳ thị, xa lánh và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS. Những hiểu biết sai, truyền thông không đúng về HIV/AIDS làm cho người ta sợ hãi, coi thường người nhiễm, không nhìn nhận họ là người bệnh, là thành viên của gia đình, cộng đồng và không giúp đỡ họ. 3.4. Do đặc điểm trình độ văn hóa Nhiều người vẫn cho rằng HIV/AIDS là một tệ nạn, hoặc nhẹ hơn cũng là hậu quả của tệ nạn xã hội. Những người nhiễm HIV/AIDS thường bị cho là có lối sống không lành mạnh (bệnh phong tình, đặc biệt là phụ nữ) và không sống theo chuẩn mực xã hội. Nhiễm HIV/AIDS có liên quan đến những hành vi bị lên án như tiêm chích ma túy, quan hệ mại dâm, đồng tính luyến ái (đặc biệt là đồng tính nam). Việc nhìn nhận người nhiễm là ''đáng đời” (như mại dâm, tiêm chích, đồng tính quyến ái nam) hay ''đáng thương'' (như trẻ bị mẹ truyền HIV) càng làm cho kỳ thị và phân biệt đối xử thêm trầm trọng. Thực tế là, không ai đáng bị nhiễm HIV, kể cả khi họ có những hành vi có nguy cơ cao. 3.5. Do sự bất bình đẳng về giới Bất bình đẳng về giới là vấn đề toàn cầu, không trừ một quốc gia nào. Phụ nữ thường có vai trò thụ động trong quan hệ tình dục, họ thường gặp khó khăn khi thuyết phục bạn 31
  32. tình/chồng thực hiện các hành vi tình dục an toàn. Đặc điểm xã hội này khiến phụ nữ dễ bị tổn thương hơn nam giới. Khi bị nhiễm HIV/AIDS, phụ nữ cũng nhận được sự thông cảm ít hơn nam giới, họ bị lên án nhiều hơn và do đó bị kỳ thị và phân biệt đối xử nhiều hơn. 3.6. Do những chính sách hay quy định chưa hợp lý Những qui định của luật pháp hay các chính sách đề ra nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng đôi khi vô tình lại làm tăng kỳ thị với người nhiễm HIV. Ví dụ như những qui định về các nghề mà người nhiễm HIV không được làm hay việc yêu cầu xét nghiệm bắt buộc với phụ nữ có thai đã tạo ra một sự phân biệt đối xử với những người ''chẳng may'' bị phát hiện nhiễm HIV. 4 Hậu quả của sự kỳ thị Sự kỳ thị khiến những người nhiễm HIV thường giấu diếm tình trạng của mình và vì vậy làm cho những người này khó tiếp nhận thông tin chính xác, việc khó tiếp nhận thông tin và kỹ năng đồng nghĩa với tác động xấu đến những nỗ lực phòng, chống AIDS. Kỳ thị và phân biệt đối xử cũng có thể xâm phạm quyền con người, như cơ hội xin việc làm và học hành, làm cho họ khó có thể nuôi sống bản thân và gia đình họ. Điều này tạo ra tác động xấu đến kinh tế - xã hội của cả cộng đồng. - Tác động xấu đến chương trình phòng chống AIDS + Tác động xấu đến công tác dự phòng lây nhiễm Khi người nhiễm bị kỳ thị và phân biệt đối xử, họ sẽ không muốn ai biết là mình nhiễm. Chính sự tự giấu mình này làm cho họ có ít cơ hội nhận được thông tin chính xác về HIV/AIDS, các kỹ năng phòng chống AIDS, tiếp cận các dịch vụ. Đặc biệt kỳ thị và phân biệt đối xử làm giảm khả năng áp dụng các biện pháp phòng tránh bệnh cho người khác (tình dục an toàn, dùng bơm kim tiêm an toàn). Sự tự giấu mình của người nhiễm sẽ gây khó khăn cho các chương trình can thiệp nhằm làm giảm sự lây nhiễm của HIV/AIDS. + Tác động xấu đến công tác tư vấn và xét nghiệm tự nguyện 32
  33. Người nhiễm có thể sẽ không muốn đến các địa chỉ tư vấn, không sử dụng các biện pháp tình dục an toàn, do đó sẽ vô tình làm lây nhiễm cho bạn tình và có thể cho chính người thân của họ. + Tác động xấu đến công tác chăm sóc, điều trị Việc không tiếp cận được với người nhiễm HIV đồng nghĩa với sự hạn chế khả năng chăm sóc, điều trị cho họ, hậu quả là làm cho sức khỏe của họ nhanh chóng suy sụp hơn. + Tác động xấu đến sự hỗ trợ của gia đình và cộng đồng Người nhiễm rất cần sự hỗ trợ của gia đình và xã hội. Nếu tình trạng kỳ thị và phân biệt đối xử xảy ra, họ gần như bị mất đi chỗ dựa cả về vật chất và tinh thần, làm cho họ bị mất hết lòng tự trọng, bị trầm cảm và giận dữ, vì vậy dễ có những hành vi và lối sống không an toàn, hoặc không quan tâm đến sức khỏe của họ. Những điều này có thể làm cho HIV lây lan nhanh hơn trong cộng đồng. + Tác động xấu đến công tác lập kế hoạch và quản lý chương trình Chìa khóa của sự thành công của chương trình phòng chống HIV là sự tham gia tích cực của người nhiễm vào việc phát triển và thực hiện chương trình. Tuy nhiên kỳ thị và phân biệt đối xử làm cho người nhiễm sợ hãi và tránh tham gia vào các hoạt động phòng chống AIDS hay các hoạt động nghiên cứu. Thêm vào đó, tình trạng ít người đi làm xét nghiệm HIV dẫn đến những thông tin về tình hình nhiễm và các yếu tố nguy cơ không được đánh giá đúng mức, bị sai lệch và ảnh hưởng trực tiếp đến công tác dự báo, nghiên cứu, lập kế hoạch, và quản lý chương trình. Kế hoạch dựa trên những thông tin không đầy đủ và chính xác sẽ làm giảm hiệu qủa của chương trình, lãng phí tiền của và đặc biệt là không ngăn chặn được sự lây lan của HIV. - Xâm phạm những quyền cơ bản của con người Những văn bản pháp luật quan trọng nhất (Hiến pháp của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân (l989), và Luật phòng, chống HIV/AIDS (1995)) của Việt Nam đều khẳng định người nhiễm HIV/AIDS có quyền được 33
  34. bình đẳng trước pháp luật, quyền được lao động, giải trí, quyền được chăm sóc sức khoẻ và không bị phân biệt đối xử. Tuy nhiên, tình trạng kỳ thị và phân biệt đối xử đã xâm phạm đến những quyền cơ bản nhất của con người. Sự xâm phạm này có thể hạn chế các quyền của người nhiễm như: Quyền được riêng tư và giữ bí mật về tình trạng nhiễm hoặc không bị tiết lộ hành vi cho những người khác; Quyền tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế địa phương có chất lượng và giá cả phải chăng; Quyền được làm việc khi vẫn còn khả năng lao động và không có khả năng làm lây bệnh qua công việc. Khi sự kỳ thị và phân biệt đối xử xảy ra, người nhiễm HIV có xu hướng không muốn tiết lộ thân phận của mình, khiến họ luôn sống trong sự lo lắng, căng thẳng, vụng trộm và tự cô lập mình. Hậu quả là người nhiễm không nhận được sự chăm sóc và hỗ trợ tinh thần cần thiết, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của họ. Những người nhiễm bị phân biệt đối xử thường cảm thấy tuyệt vọng và suy nhược nhanh chóng. Kỳ thị và phân biệt đối xử làm cho họ suy sụp cả về thể chất lẫn tinh thần, suy kiệt nhanh hơn và thời gian sống ngắn hơn. Nhiều nghiên cứu cho thấy, nếu người nhiễm được chăm sóc tốt, được cộng đồng và gia đình hỗ trợ, họ có thể sống có ích trong nhiều năm, vẫn có khả năng lao động và làm ra của cải vật chất cho xã hội. 5 Một số kỹ năng hỗ trợ giảm kỳ thị với người sống chung với HIV/AIDS 5.1. Hỗ trợ giảm tự kỳ thị - Tham vấn cho người sống chung với HIV/AIDS + Tham vấn người nhiễm HIV/AIDS là một quá trình trợ giúp tâm lý, trong đó nhà tham vấn sử dụng kiến thức, kỹ năng chuyên môn và thái độ nghề nghiệp để thiết lập mối 34
  35. quan hệ tương tác tích cực với người nhiễm HIV hoặc gia đình họ nhằm giúp cá nhân và gia đình người nhiễm HIV thay đổi cảm xúc, suy nghĩ, hành vi và sống tích cực, giảm nguy cơ lây nhiễm cho bản thân và những người xung quanh. + Tham vấn cho người nhiễm HIV nhằm: . Giảm bớt cảm xúc tiêu cực, tăng cường sự lạc quan, phát triển niềm tin vào cuộc sống ở người nhiễm HIV. . Tăng cường hiểu biết về bản thân và nguồn lực của họ. . Nâng cao sự tự tin, có khả năng đưa ra những quyết định lành mạnh, thực hiện các quyết định một cách hiệu quả như: ra quyết định đi xét nghiệm, quyết định sử dụng các biện pháp giảm nguy cơ lây nhiễm . Tăng cường khả năng ứng phó với vấn đề liên quan tới HIV/AIDS: ứng phó với sự kỳ thị, ứng phó với những cảm xúc tiêu cực để hoà nhập với cộng đồng. . Giúp cá nhân nhận thức được những hành vi có nguy cơ cao gây lây nhiễm để bảo vệ mình và người khác xung quanh. . Giúp người thân hiểu, đồng cảm và chia sẻ, trợ giúp người nhiễm HIV trong sinh hoạt. Lao động, học tập và ra quyết định liên quan tới cuộc sống của họ. + Một số nội dung tham vấn với người nhiễm HIV/AIDS . Nói hay không nói với ai về tình trạng nhiễm của mình? Việc thổ lộ hay không thổ lộ về tình trạng HIV của bản thân là tùy vào quyết định của bạn. Tuy nhiên có 2 lý do nên cân nhắc về sự chia sẻ thông tin về tình trạng HIV của mình: . Giúp họ làm việc với cảm xúc của họ Sốc và hoang mang Phủ nhận Mặc cảm 35
  36. Giận dữ. Sợ hãi Buồn chán Chấp nhận và có hy vọng . Giúp họ đương đầu với những hành vi kỳ thị . Giúp lập kế hoạch cho tương lai . Việc làm . Chăm sóc con cái . Hãy giúp họ thể hiện tình cảm sự quan tâm tới con cái và người thân: . Tham vấn về chế độ dinh dưỡng, sức khỏe - Giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống - Tổ chức sinh hoạt nhóm 5.2. Hỗ trợ sinh kế - Hướng nghiệp, dạy nghề, hỗ trợ việc làm Nhờ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, một số địa phương đã triển khai dự án hỗ trợ, tạo nghề tìm việc cho người nhiễm HIV. Nhiều người nhiễm HIV đã được hướng nghiệp, hỗ trợ toàn bộ kinh phí học nghề và tạo việc làm theo nhu cầu và mức độ phù hợp với khả năng và sức khỏe như: Sửa chữa ô tô, cắt tóc, nấu ăn, vẽ móng ngệ thuật, cắt may Chương trình hướng nghiệp và hỗ trợ việc làm này (do Chương trình cứu trợ khẩn cấp về phòng chống AIDS (Hoa Kỳ) tài trợ thông qua Tổ chức sức khỏe gia đình Quốc tế) đã được triển khai hơn 2 năm, kết quả rất khả quan. Kết quả Khảo sát nhu cầu việc làm và năng lực của người sống chung với HIV và người sau cai nghiện tại Hà Nội của Tổ chức Chemonics- Hà Nội thực hiện cho thấy, việc tìm kiến công việc là một thách thức đối với hầu hết những người sống chung với HIV. Một 36
  37. nửa những người được khảo sát thể hiện mong muốn được làm công việc như các đồng đẳng viên hoặc mở cửa hàng nhỏ để tự điều hành như sạp bán hoa quả, thức ăn, cắt tóc Nhiều người mong muốn có công việc bán thời gian và không gò bó. Những trở ngại khi họ đi tìm việc làm gồm: Điều kiện sức khỏe yếu, bị nhà tuyển dụng và đồng nghiệp kỳ thị, lịch làm việc mâu thuẫn với lịch điều trị, không có kinh nghiệm tìm, xin và làm việc, thiếu thông tin về các cơ hội việc làm, trình độ học vấn thấp Từ kết quả khảo sát này và sự phản hồi của một số trưởng nhóm tự lực cho thấy mô hình hỗ trợ toàn bộ kinh phí giúp người nhiễm HIV học nghề (như đã triển khai tại Hải Phòng) là một mô hình hay, song chỉ có thể áp dụng cho những bệnh nhân có sức khỏe và có nhu cầu học nghề. Đa phần người nhiễm HIV cần được vay vốn để có thể chủ động kinh doanh, tạo thu nhập ổn định. Để việc kinh doanh đạt hiệu quả, người nhiễm HIV cần quên đi rằng mình là người nhiễm HIV. Kể cả khi đi xin việc cũng vậy, cần phải khẳng định tôi là người có đủ năng lực đáp ứng được yêu cầu công việc. Dịch vụ hỗ trợ tạo việc làm cho người nhiễm HIV cần chú trọng tư vấn nghề nghiệp và hỗ trợ tâm lý xã hội, đào tạo kỹ năng sống, kỹ năng xin việc và làm việc, đào tạo nghề, tăng cường xây dựng mạng lưới hỗ trợ việc làm để tối đa hóa nguồn lực sẵn có của các trường, trung tâm dạy nghề, trung tâm giới thiệu việc làm, sàn giao dịch việc làm, doanh nghiệp. Tuy nhiên, để hoạt động tạo việc làm cho người nhiễm HIV được bền vững, vẫn cần làm tốt công tác tuyên tuyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng nhằm giảm sự kỳ thị đối với người nhiễm HIV/AIDS. Đặc biệt, đã đến lúc, cần có những chính sách cụ thể hơn về vấn đề tạo nghề, tìm việc cho người nhiễm HIV. Nếu không chú trọng vấn đề hỗ trợ vốn, đào tạo nghề và tạo việc làm cho người nhiễm HIV ngay từ bây giờ, có thể khi các nguồn viện trợ quốc tế cho công tác phòng, chống HIV giảm mạnh vào năm 2015, thì sẽ có một bộ phận người nhiễm HIV gặp khó khăn. Nếu không có thu nhập ổn định, bị đẩy vào hoàn cảnh khốn khó, họ dễ dàng có các hành vi không an toàn. Như vậy dịch HIV/AIDS có nguy cơ lây lan rộng ra cộng đồng. Công tác phòng, chống đại dịch này ắt sẽ gặp khó khăn hơn gấp bội. 37
  38. - Biện hộ, vận động nguồn lực + Biện hộ là hoạt động thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, đặc biệt là đối với những người bất lợi thế; thúc đẩy công bằng xã hội cho tất cả những người bất lợi thế trong cộng đồng. Với người nhiễm HIV và gia đình họ, biện hộ là việc người cán bộ giúp đưa ra tiếng nói, quan điểm nhằm đảm bảo quyền lợi của người nhiễm HIV. Như vậy, biện hộ trong quá trình giúp đỡ người nhiễm HIV và gia đình là hành động mà trực tiếp đại diện, bảo vệ, can thiệp, ủng hộ và đề xuất cho quyền, lợi ích cá nhân người nhiễm HIV và gia đình của họ nhằm hướng tới sự công bằng xã hội. . Các giai đoạn thực hiện biện hộ / Giai đoạn chuẩn bị Xác định mục tiêu biện hộ Xác định cách thức sẽ tiến hành. Thực hiện các công việc chuẩn bị hành chính khác (ví dụ như hẹn gặp, chuẩn bị tài liệu, liên hệ địa điểm, mời họp ). / Giai đoạn thực hiện. Nhân viên xã hội có thể tổ chức và điều phối các cuộc họp nhóm giữa người yếu thế với những người có liên quan đến việc thực hiện lợi ích của người yếu thế. Hoặc nhân viên xã hội cũng có thể trực tiếp gặp các cá nhân tổ chức có trách nhiệm để chuyển tải ý kiến, nguyện vọng, nhu cầu của họ đến với nơi có thể giải quyết được. Đối với đối tượng người nhiễm HIV/AIDS và người bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS có thể tiếp cận bốn nhóm đối tượng sau: Nhóm cán bộ chính quyền, đoàn thể Nhóm trưởng thôn, bản, tổ dân phố; 38
  39. Nhóm cung cấp dịch vụ (trường học, trung tâm dạy nghề, y tế, các lớp tình thương, các đối tượng khác); Nhóm gia đình hàng xóm, cộng đồng / Giai đoạn theo dõi và lượng giá NVXH luôn thường xuyên liên hệ với những nơi đã đề đạt yêu cầu để biết thêm thông tin về việc thực hiện những nhu cầu chính đáng của đối tượng và thông báo những tiến triển này tới đối tượng Bên cạnh đó, thường xuyên nắm bắt thông tin của đối tượng để nếu có những thay đổi thì cần biện hộ thêm cho đối tượng. NVXH cùng với đối tượng cần rút kinh nghiệm và đề ra biện pháp khắc phục những thất bại trong lần biện hộ trước. . Một số kỹ năng thực hiện biện hộ Kỹ năng giao tiếp Kỹ năng đặt đâu hỏi Kỹ năng thực hiện các phần trình bày Kỹ năng điều phối các cuộc họp nhóm + Vận động nguồn lực Vận động là một quá trình liên tục nhằm thay đổi các thái độ, hành động, các chính sách và luật lệ bằng cách tác động tới những người và tổ chức có quyền lực, các hệ thống và các cấu trúc ở các mức độ khác nhau tiến tới cải thiện cuộc sống của những người bị tác động bởi một vấn đề Vận động đối với những người nhiễm HIV/AIDS là một hoạt động hay một nhóm các hoạt động được tiến hành nhằm tạo ảnh hưởng lên người có quyền thay đổi luật pháp, chính sách hoặc các tổ chức, cá nhân có thể cải thiện cuộc sống của những người bị tác động bởi HIV/AIDS. 39
  40. . Vai trò của nhà nước Tại hội nghị cấp cao về HIV/AIDS ở New York (Mỹ) vào tháng 6-2011, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc khẳng định lại quyết tâm của Việt Nam trong công cuộc phòng chống HIV/AIDS và cam kết thực hiện những mục tiêu mới thông qua việc ký Tuyên bố chính trị năm 2011 về HIV/AIDS: Tăng cường nỗ lực để loại trừ HIV/AIDS. Bên cạnh đó, cũng bày tỏ những quan ngại cho sự bền vững của công cuộc phòng chống HIV sắp tới. Thực tế cho thấy, công tác phòng, chống HIV tại Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được nhiều tiến bộ vượt bậc, được thế giới ghi nhận và đánh giá cao. Song phần lớn các chương trình, hoạt động chủ yếu từ nguồn tài trợ bên ngoài. Nhờ những bước tiến kinh tế trong những năm vừa qua, các nhà tài trợ bắt đầu thu hẹp tài trợ và chú trọng vào tính tự chủ quốc gia, dịch chuyển dần các chương trình tài trợ của mình sang cho quốc gia quản lý. Với sự cắt giảm đáng kể các nguồn lực quốc tế, trong khi nguồn tài chính trong nước phải tập trung ưu tiên nhiều chương trình mục tiêu quốc gia cũng không kém phần quan trọng nên công tác phòng, chống HIV sẽ gặp trở ngại. Theo Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm, hiện Việt Nam vẫn chưa thể phân bổ đủ ngân sách quốc gia để bù vào phần ngân sách thiếu hụt. Để đối phó với thách thức này, Việt Nam một mặt tiến hành thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia, trong đó lần đầu tiên coi chương trình phòng chống HIV là một chương trình riêng rẽ và cam kết tăng nguồn lực cho HIV giai đoạn 2011-2015. Mặt khác Việt Nam tiếp tục vận động các nhà tài trợ duy trì khả năng có thể sự hỗ trợ, hợp tác với Việt Nam, hết sức tránh việc cắt giảm đột ngột tài trợ, gây xáo trộn lớn các kết quả đạt được. . Vai trò của cộng đồng Bên cạnh những khó khăn khi là người nhiễm HIV, thì ngày càng có nhiều người, nhiều nhóm tự lực đã đoàn kết, chứng tỏ được năng lực thực sự vững mạnh. Qua đó, cá nhóm vận động và tiếp cận được với nhiều nguồn lực hỗ trợ, được sự ủng hộ của chính quyền, các tổ chức, ban ngành trong cá hoạt động của mình. Người nhiễm HIV không chỉ trông chờ vào 40
  41. cá nguồn lực từ bên ngoài mà còn khai thác và sử dụng hiệu quả tiềm năng của bản thân, cùng với các nguồn lực hỗ trợ của gia đình và các dự án để tạo thu nhập bền vững, ổn định cuộc sống. Hình ảnh của người nhiễm HIV giờ đây đã có những chuyển biến tích cực trong mắt người thân, XH, cộng đồng. Không chỉ tìm đén nhau để chia sẻ về tinh thần, giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, nhiều người nhiễm HIV đã ổn định về tâm lý và đã trở về với công việc và cuộc sống như những người bình thường không nhiễm HIV khác trong XH 5.3. Truyền thông giảm kỳ thị với người sống chung với HIV/AIDS - Khái niệm Là quá trình truyền thông với sự tích hợp của nhiều phương tiện truyền thông để phổ biến các thông điệp liên quan đến vấn đề HIV/AIDS và giảm kỳ thị với người nhiễm HIV/AIDS qua nhiều kênh truyền thông khác nhau, đồng thời cung cấp các kỹ năng, dịch vụ hỗ trợ thực hiện hành vi an toàn, hành vi có lợi - Mục tiêu Truyền thông giáo dục phòng chống HIV/AIDS và kỳ thị có mục tiêu chung là nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ và hành vi theo hướng tích cực trong phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS và chống kỳ thị phân biệt đối xử với người có và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS Truyền thông giáo dục phòng chống HIV/AIDS và kỳ thị hướng tới ba mục tiêu cụ thể: + Thay đổi nhận thức: cung cấp thông tin, chia sẻ kiến thức cho người dân giúp cho người dân hiểu và nhận thức được các vấn đề liên quan đến HIV/AIDS và giảm kỳ thị + Thay đổi thái độ: người dân có thái độ quan tâm, có quan điểm đồng tình với các vấn đề trong truyền thông + Thay đổi hành vi: người dân có những hành động tích cực trong phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS và giảm kỳ thị 41
  42. Tuy nhiên mục tiêu cuối cùng mà truyền thông hướng tới là sự thay đổi hành vi. Từ chỗ thay đổi nhận thức đến việc thay đổi hành vi, thực hiện và duy trì, củng cố hành vi mới là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự kiên trì, nhẫn nại ở cả phía người truyền thông và ý chí, quyết tâm cao của người được thuyết phục - Quá trình Mỗi con người, khi thay đổi những hành vi, thói quen có hại để có được những hành vi mới tích cực, có lợi sẽ phải trải qua một quá trình khó khăn và gặp nhiều trở ngại đòi hỏi người đó phải nỗ lực ý chí vượt qua và cần có sự trợ giúp của cộng đồng, xã hội. Tiến trình thay đổi hành vi diễn ra theo các giai đoạn như sau: + Giai đoạn tiền dự định + Giai đoạn dự định + Giai đoạn chuẩn bị + Giai đoạn hành động + Giai đoạn duy trì hành vi mới hoặc từ chối - Nội dung - Kiến thức cơ bản về HIV/AIDS và các biện pháp chăm sóc, điều trị người nhiễm HIV - Thực trạng và hậu quả của đại dịch HIV/AIDS con người và sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia - Quyền, nghĩa vụ của cá nhân, gia đình và của người nhiễm HIV trong phòng chống HIV/AIDS - Các phương pháp, dịch vụ xét nghiệm, chăm sóc, hỗ trợ và điều trị người nhiễm HIV. - Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và cộng đồng trong phòng chống HIV/AIDS - Các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV - Chống kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV 42
  43. - Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về phòng chống HIV/AIDS. - Các mô hình tiên tiến, các tấm gương điển hình của người nhiễm HIV trong lao động, trong các hoạt động xã hội, các câu lạc bộ của người nhiễm HIV hoạt động thiết thực, hiệu quả, các tấm gương tận tụy, yêu thương, chăm sóc giúp đỡ người nhiễm HIV - Kỹ năng + Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ nói và viết trong truyền thông giảm kỳ thị + Kỹ năng truyền thông bằng hình ảnh trực quan + Kỹ năng truyền thông bằng hoạt động văn hóa dân gian + Kỹ năng thu hút sự tham gia của người nhiễm HIV và gia đình của người nhiễm HIV vào hoạt động truyền thông + Kỹ năng xây dựng kế hoạch truyền thông phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS và giảm kỳ thị tại cộng đồng . Kỹ năng tạo lập nhóm nòng cốt và xây dựng mạng lưới tình nguyện viên . Kỹ năng xây dựng kế hoạch truyền thông giáo dục cộng đồng phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS và giảm kỳ thị 43
  44. BÀI 3: SỨC KHỎE VÀ HỖ TRỢ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS 1 Khái niệm sức khỏe và chăm sóc sức khỏe - Sức khỏe Theo định nghĩa về sức khoẻ của Tổ Chức Y tế Thế Giới (WHO): Sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tâm thần và xã hội, và không chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế. + Hoàn toàn thoải mái về mặt thể chất là hoạt động thể lực, hình dáng, ăn, ngủ, tình dục, tất cả các hoạt động sống trên đều ở trạng thái tốt nhất phù hợp với từng lứa tuổi. + Hoàn toàn thoải mái về mặt tâm thần là bình an trong tâm hồn, biết cách chấp nhận và đương đầu với các căng thẳng trong cuộc sống. + Hoàn toàn thoải mái về mặt xã hội là có nghề nghiệp,việc làm với thu nhập đủ sống và được đảm bảo về An sinh xã hội. + Không có bệnh tật hay tàn phế là không có bệnh về thể chất, bệnh tâm thần, bệnh liên quan đến xã hội và sự an toàn về mặt xã hội. Có một sức khỏe tốt nhất là một trong những quyền cơ bản con người dù thuộc bất kỳ chủng tộc, tôn giáo, chính kiến chính trị hay điều kiện kinh tế - xã hội nào Như vậy, theo định nghĩa trên, mỗi người chúng ta cần chủ động để có một sức khoẻ tốt. Cần chủ động trang bị cho mình kiến thức về phòng bệnh và rèn luyện sức khoẻ. Thực hành dinh dưỡng hợp lý, luyện tập thể dục thể thao phù hợp, an toàn lao động và khám bệnh định kỳ để chủ động trong việc phòng và chữa bệnh. Đồng thời để có sức khoẻ tốt với sự nỗ lực của mỗi cá nhân là chưa đủ mà cần có sự đóng góp của cả cộng đồng, của toàn xã hội trong các vấn đề an sinh, việc làm và giáo dục hay cụ thể hơn như các vấn đề về môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm - Chăm sóc sức khỏe 44
  45. Chăm sóc sức khỏe là việc chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa bệnh, bệnh tật, thương tích, và suy yếu về thể chất và tinh thần khác ở người. Chăm sóc sức khỏe được thực hiện bởi những người hành nghề y như chỉnh hình, nha khoa, điều dưỡng, dược, y tế liên quan, và các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc. Nó đề cập đến những việc cung cấp chăm sóc sức khỏe ban đầu, chăm sóc thứ cấp và chăm sóc thứ 3, cũng như trong y tế công cộng. Chăm sóc sức khỏe khác nhau giữa các nước, các nhóm và cá nhân, phần lớn chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện xã hội và kinh tế cũng như các chính sách y tế tại chỗ. Các nước và vùng lãnh thổ có chính sách khác và kế hoạch liên quan đến các mục tiêu chăm sóc sức khỏe cá nhân và dựa trên dân số trong xã hội của họ. Hệ thống chăm sóc y tế là các tổ chức được thành lập để đáp ứng nhu cầu sức khỏe của dân số. Thể thức chính xác của chúng thay đổi khác nhau giữa các nước. Ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ, quy hoạch chăm sóc sức khỏe được phân phối giữa các đối tác trên thị trường, trong khi ở một số nước kế hoạch hoạch này được thực hiện tập trung hơn giữa các chính phủ hoặc các cơ quan phối hợp khác. Trong mọi trường hợp, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hệ thống chăm sóc sức khỏe tốt đòi hỏi một cơ chế tài chính mạnh mẽ, đội ngũ cán bộ được đào tạo và trả lương tốt; thông tin đáng tin cậy làm cơ sở để ra quyết định và lập chính sách; và cơ sở vật chất và hậu cần duy trì tốt để cung cấp thuốc và công nghệ có chất lượng. Chăm sóc sức khỏe có thể tạo thành một phần trong nền kinh tế quốc gia. Năm 2008, ngành Y tế sử dụng trung bình 9% (GDP) trong các quốc gia phát triển nhất. Ví dụ Hoa Kỳ (16.0%), Pháp (11.2%), và Thụy Sĩ (10.7%) là 3 nước dẫn đầu. Chăm sóc sức khỏe thông thường được coi như là một yếu tố quyết định quan trọng trong việc nâng cao sức khoẻ tổng quát và hạnh phúc của mọi người trên khắp thế giới. Một ví dụ của việc này là xóa bệnh đậu mùa trên toàn thế giới vào năm 1980 - WHO tuyên bố rằng căn bệnh đầu tiên trong lịch sử nhân loại được loại bỏ hoàn toàn bởi sự can thiệp chăm sóc sức khỏe 45
  46. 2 Tư vấn, xét nghiệm HIV tự nguyện - Khái niệm Tư vấn, xét nghiệm tự nguyện là hình thức kết hợp giữa tư vấn và xét nghiệm HIV, trong đó người được tư vấn hoàn toàn tự nguyện sử dụng và toàn quyền lựa chọn dịch vụ tư vấn, xét nghiệm HIV vô danh hoặc xét nghiệm HIV tự nguyện ghi tên. Tư vấn, xét nghiệm tự nguyện là một quá trình mà sau khi được tư vấn, người được tư vấn sẽ đưa ra sự lựa chọn về quyết định xét nghiệm HIV. Quyết định này hoàn toàn là sự lựa chọn của người được tư vấn và quá trình tư vấn xét nghiệm tự nguyện được đảm bảo giữ bí mật Tư vấn xét nghiệm tự nguyện phải phù hợp với nhu cầu của người được tư vấn, có nhiều hình thức tư vấn: tư vấn cho các cá nhân, các cặp vợ chồng, gia đình, trẻ em Nội dung và cách tiếp cận có thể rất khác nhau và linh hoạt đối với những người được tư vấn khác nhau. Tư vấn xét nghiệm tự nguyện bao gồm tư vấn trước xét nghiệm, tư vấn sau xét nghiệm và tư vấn hỗ trợ tiếp tục. Một số nội dung khác cũng có thể được đề cập đến trước hoặc sau xét nghiệm hoặc trong thời gian người được tư vấn chờ đợi kết quả xét nghiệm HIV/AIDS là căn bệnh thế kỉ đã cướp đi hàng triệu sinh mạng của con người, để hạn chế sự lây lan của bệnh, trong những năm qua, nhiều chương trình can thiệp phòng lây nhiễm HIV/AIDS đã được thực hiện, trong đó, tư vấn, xét nghiệm tự nguyện HIV/AIDS là một trong những chương trình dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS mang lại hiệu quả cao - Tầm quan trọng + Số người nhiễm HIV đang sống tiếp tục gia tăng + Hàng nghìn người không biết mình đã nhiễm HIV có thể lây truyền HIV sang người khác 46
  47. + Hàng nghìn người khác không biết mình đã và đang bị phơi nhiễm có thể bị nhiễm và lại tiếp tục làm lan truyền HIV + Tư vấn, xét nghiệm tự nguyện là một can thiệp dự phòng quan trọng nhằm vào đối tượng có hành vi nguy cơ cao nhiễm HIV + Tư vấn xét nghiệm tự nguyện tạo cơ hội cho ngwoif nhiễm HIV biết được tình trạng nhiễm HIV của mình và giảm nguy cơ lây truyền sang người khác + Tư vấn xét nghiệm tự nguyện là nền tảng cho các dịch vụ chăm sóc và dự phòng HIV khác - Lợi ích của tư vấn, xét nghiemj tự nguyện + Người chưa nhiễm được tư vấn để: . Thay đổi hành vi, giảm nguy cơ nhiễm . tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ +Người đã nhiễm được tư vấn để: . Thay đổi hành vi, giảm nguy cơ lây truyền cho cộng đồng . Được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc và dự phòng HIV, được dùng thuốc - Các yếu tố của tư vấn xét nghiệm HIV + Tự nguyện: . tự do lựa chon không có sự cưỡng ép . Bản thân cá nhân quyết định có nên biets kết quả hay không + Xét nghiệm HIV . Kết quả xét nghiệm HIV được cung cấp cho các nhân người chọn làm xét nghiệm . Kết quả xét nghiệm được cung cấp đúng hẹn + Tư vấn HIV 47
  48. . Cung cấp thông tin dự phòng HIV . Cung cấp hỗ trợ cho người có HIV dương tính . Giúp xây dựng các kỹ năng cần thiết để giảm nguy cơ lây truyền HIV/AIDS . Tư vấn tập trung vào khách hàng: vấn đề, hoàn cảnh, nhu cầu riêng biệt liên quan đến nguy cơ nhiễm HIV của từng khách hàng + Thông báo và giới thiệu bạn tình/bạn chích chung . Người có xét nghiệm HIV dương tính / Tư vấn giúp họ cách trao đổi với bạn tình/bạn tiêm chích chung về kết quả xét nghiệm / Trao đổi các cách phòng ngừa lây truyền HIV . Với người có xét nghiệm HIV âm tính / Tư vấn giúp họ cách trao đổi với bạn tình/ chích chung về kết quả xét nghiệm / Giúp giới thiệu bạn tình/chích chung đến tư vấn xét nghiệm tự nguyện / Giúp cách cùng nhau thực hện cách phòng tránh lây nhiễm HIV + Chuyển tiếp tới các dịch vụ dự phòng và chăm sóc HIV khác . Tạo cơ hội cho người nhiễm HIV có ddwwocj cuộc sóng khỏe mạnh hơn và giảm nguy cơ lây truyền sang người khác . Tạo cơ hội cho người chưa nhiễm HIV thay đổi hành vi và giảm bớt nguy cơ nhiễm HIV của bản thân . Dịch vụ chuyển tiếp cho người nhiễm HIV: / Phòng khảm lao / Chăm sóc và điều trị HIV ( khám sức khỏe định kỳ, dự phòng nhiễm trùng cơ hội) 48
  49. / Dịch vụ khám chữa bệnh LQĐTD / Dịch vụ cai nghiện ma túy / Dịch vụ kế hoạch hóa gia đình / Dịch vụ pháp lý . Các dịch vụ chuyển tiếp cho người chưa nhiễm / Giáo dục đồng đẳng / Tư vấn giảm nguy cơ bổ sung / Dịch vụ cai nghiện ma túy / Dịch vụ khám chữa bệnh LQĐTD / Dịch vụ kế hoạch hóa gia đình + Tư vấn xét nghiệm tự nguyện là một dịch vụ y tế công cộng có ích đối với cá nhân khách hàng và cộng đồng của họ: . Khách hàng: người chủ động chọn dịch vụ y tế và tự quyết định sử dụng dịch vụ đó như thế nào . Bệnh nhân: Vai trò thụ động hơn, nhận lời khuyên của cán bộ y tế, không hoặc ít tham gia vào việc quyết định + Khách hàng: người có nguy cơ lây nhiễm cao + Tư vấn viên được đào tạo chuyên biệt về giảm nguy cơ và có phwong pháp làm việc với khách hàng có nguy cơ cao 3 Hỗ trợ người sống chung với HIV/AIDS trong khủng hoảng tâm lý 3.1. Khái niệm - Khủng hoảng tâm lý là một trạng thái sốc tinh thần do một sự kiện hoặc một chuỗi những sự kiện bất thường gây ra những ảnh hưởng tiêu cực trầm trọng tới cá nhân. Trong 49
  50. tình trạng này cá nhân cảm thấy mất cân bằng, căng thẳng và giảm các hoạt động chức năng vốn có. 3.2. Ý nghĩa của xử lý khủng hoảng trong hỗ trợ người sống chung với HIV/AIDS - Khi mới biết mình bị nhiễm HIV, cá nhân thường rơi vào trạng thái sốc. Nếu không tự vượt qua khỏi được trạng thái này hoặc không có người giúp đỡ vượt qua, cá nhân sẽ rơi vào tình trạng tiêu cực - Trạng thái khủng hoảng còn có thể xảy ra ở giai đoạn có những biến cố quan trọng khác do HIV gây nên: ví dụ khi tình trạng nhiễm HIV bắt đầu bị mọi người trong và ngoài gia đình biết, hoặc giai đoạn HIV bắt đầu chuyển sang giai đoạn AIDS. Mức độ khủng hoảng nặng hay nhẹ phụ thuộc vào tính cách của từng cá nhân, song tất cả đều cần được hỗ trợ kịp thời để thoát khỏi tình trạng này. Nếu không được trợ giúp kịp thời họ có thể chìm sâu trong khủng hoảng làm hạn chế các chức năng xã hội của bản thân hoặc có những hành vi tự giải thoát không phù hợp, ví dụ tự làm hại bản thân, thậm chí tự tử. 3.3. Các giai đoạn của tình trạng khủng hoảng khi một người biết mình nhiễm HIV - Giai đoạn trước khủng hoảng Trước khi bị khủng hoảng mặc dù các đối tượng của chúng ta đều là những người đang gặp vấn đề nhưng thông thường thì họ vẫn ở trong trạng thái tâm lý thăng bằng, các chức năng hoạt động bình thường. - Giai đoạn trong khủng hoảng Giai đoạn này bắt đầu từ khi họ được biết họ có HIV dương tính, và kết thúc khi đối tượng đã có những hành động để tự giải quyết khủng hoảng cho bản thân mình. Đối tượng ở giai đoạn này nhìn chung có thể trải qua các trạng thái sau: 50
  51. + Căng thẳng và bị sốc mạnh: Họ thường cho rằng người nhiễm HIV là đã mang một án tử hình. + Cố gắng sử dụng các phương án đối phó để giải quyết vấn đề. Thông thường cách đối phó của họ là phủ nhận lại kết quả xét nghiệm. Cho rằng đó là kết quả sai và cần phải xét nghiệm lại. + Sự căng thẳng sẽ tăng lên nếu mọi cách thức giải quyết đều thất bại. Đây là tiền đề cho những phản ứng và hành động tiêu cực của họ sau này nếu họ không có được sự can thiệp cần thiết. Trạng thái cụ thể của đối tượng khi họ trong giai đoạn khủng hoảng như sau: . Bối rối quẫn trí / Căng thẳng trầm trọng / Cảm giác bất lực / Cảm giác tức giận và buồn, tức giận . Thử nghiệm các ứng phó / Tìm ra một phương án đối phó phù hợp, tích cực. / Hoặc có phương án đối phó tiêu cực, không phù hợp. Do đó chúng ta cũng phải hết sức cẩn thận và phải nhận biết được trạng thái của xúc của đối tượng để có được các biện pháp phòng tránh thích hợp. . xử lý khủng hoảng Với sự giúp đỡ của nhân viên xã hội, đối tượng có thể làm một số việc sau: / Khám phá những phương án thích ứng hơn. / Trấn tĩnh và lấy lại sự tự chủ, thăng bằng. / Lấy lại mức độ hoạt động trước khủng hoảng hoặc cao hơn. - Giai đoạn sau khủng hoảng 51
  52. Sau khủng hoảng, đối tượng có thể rơi vào một trong ba tình trạng sau: +Tăng cường chức năng: Đối tượng sau khi vượt qua được tình trạng khủng hoảng cảm thấy mình có nhiều “năng lượng” hơn và thực hiện tốt hơn các chức năng của mình. + Bình thường: Đối tượng quay trở lại trạng thái cân bằng trước khi bị khủng hoảng + Giảm sút chức năng 3.4. Các cách giúp đỡ người sống chung với HIV/AIDS trong khủng hoảng tâm lý - Cách giúp đỡ đối tượng trong tình trạng bị sốc, lo lắng và sợ hãi +Tạo dựng mối quan hệ tích cực với đối tượng + Nâng đỡ, khuyến khích đối tượng biểu lộ cảm xúc + Thảo luận về sự kiện tác động tạo tình huống khủng hoảng + Nhận định tình huống + Phân tích tình trạng khủng hoảng + Khôi phục lý trí + Thực hiện kế hoạch và hành động + Đánh giá và tổng kết + Theo dõi - Cách giúp đỡ đối tượng khi họ phủ nhận tình huống + Để đối tượng phủ nhận mặc dù không đồng tình với họ. Chúng ta sẽ tạm chấp nhận những quan điểm của họ để sau này sẽ dần dần phân tích để đối tượng của chúng ta tự hiểu ra vấn đề. + Nhắc lại các chi tiết cụ thể của vấn đề một cách nhẹ nhàng và thận trọng + Nhắc lại nhiều lần những thông tin cụ thể 52
  53. + Không nên hứa những điều không thực tế, điều không có thể + Tỏ sự đồng cảm - Cách giúp đỡ đối tượng khi họ đang tức giận + Để họ có cơ hội trong một khoảng thời gian nhất định bộc lộ những xúc cảm của họ ngay cả khi những cảm xúc đó là rất mạnh mẽ. + Tỏ ra tự tin, nói với đối tượng là mình hiểu họ và biết họ đang tức giận, nhưng sự giúp đỡ của nhân viên xã hội sẽ có tác dụng tích cực. + Không nên tranh cãi với đối tượng trong khi họ đang khủng hoảng. - Cách giúp đỡ đối tượng trong lúc họ đau khổ, tuyệt vọng + Lắng nghe tích cực + Tránh không phán xét. + Tạo điều kiện cho đối tượng bộc lộ tình cảm. + Nói với đối tượng rằng việc bộc lộ tình cảm buồn là rất bình thường. + Tỏ ra đồng cảm, lo lắng và nâng đỡ tinh thần. 4 Chăm sóc sức khỏe cho người sống chung với HIV/AIDS tại cộng đồng 4.1. Hướng dẫn chung - Chăm sóc người có HIV/AIDS tại cộng đồng là người bệnh nhận được sự chăm sóc ngay tại chính căn nhà của họ do các thành viên gia đình, người thân, bạn bè, các tình nguyện viên thực hiện. - Chăm sóc bao gồm sự giúp đỡ về thể chất, tinh thần và việc kiểm soát căn bệnh. Bệnh nhân AIDS được chăm sóc tại cộng đồng bao gồm cả việc họ được điều trị miễn phí các loại thuốc ngăn cản sự phát triển của virus và điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội. 53
  54. Những bệnh nhân này còn tự nguyện tham gia các hoạt động của các nhóm với những người cùng có HIV, giúp nhau vượt qua bệnh tật, hoà nhập cộng đồng, được điều trị và chăm sóc sức khoẻ, được học văn hoá, học nghề và làm việc. - Về thuốc điều trị, bệnh nhân và người nhà không được tự ý mua và sử dụng. Thuốc phải do bác sĩ chuyên khoa quy định dựa vào quá trình thăm khám, theo dõi và làm các xét nghiệm - Ý nghĩa của việc chăm sóc cho người có HIV tại cộng đồng: + Người nhiễm HIV/AIDS thì diễn biến bệnh kéo dài tới 10 năm hoặc lâu hơn. Ngoài những lúc ốm đau người nhiễm HIV vẫn có khả năng lao động, học tập và sinh hoạt như người bình thường. + Các thành viên trong gia đình có thể phát hiện và xử trí được một số bệnh thường gặp ở người nhiễm nếu như họ được hướng dẫn + chăm sóc tại cộng đồng làm giảm chi phí cho hệ thống y tế, gia đình. + Bản thân người nhiễm HIV/AIDS được chăm sóc tại cộng đồng, gia đình bởi chính người thân của mình họ sẽ cảm thấy yên tâm hơn. Tóm lại, chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS tại nhà không chỉ góp phần duy trì và nâng cao sức khỏe người bệnh, mà còn giảm kỳ thị xã hội đối với bệnh nhân HIV/AIDS, tạo sự gắn bó, yêu thương giữa các thành viên trong gia đình với người bệnh, giúp người bệnh bớt sự mặc cảm, tự ti 4.2. Tuân thủ điều trị - Vai trò của bệnh nhân Trong thời gian nhiễm HIV, khám sức khoẻ định kỳ và điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội hoặc điều trị thuốc kháng HIV (ARV - Anti Retrovirus) bệnh nhân hoàn toàn có thể tự theo dõi và chăm sóc tại nhà. Để đảm bảo sức khoẻ nhanh chóng hồi phục tốt và giảm sự lây lan trong cộng đồng, giảm các biến chứng của các bệnh nhiễm trùng cơ hội, giảm phát sinh 54
  55. các chủng kháng thuốc ARV, bệnh nhân cần tuân thủ tuyệt đối sự hướng dẫn của cán bộ tư vấn hoặc bác sĩ điều trị. Bệnh nhân cần sử dụng thuốc một cách kiên nhẫn theo thời gian và không thiếu một liều lượng nào. Nguyên tắc của tuân thủ điều trị là "3 Đ": Đúng thuốc; đúng liều và đúng thời gian. Thuốc kháng HIV chỉ ở trong cơ thể bệnh nhân một khoảng thời gian nhất định mà thôi, nếu quên uống thuốc, lượng thuốc bên trong cơ thể sẽ bị thay đổi. Nếu lượng thuốc bên trong cơ thể xuống quá thấp, các thuốc này có thể sẽ không đủ khả năng kiềm chế sinh sản của virus. Nếu điều này xảy ra, HIV có thể sẽ sinh sôi trở lại cũng như có khả năng biến hóa qua dạng khác và kháng lại thuốc điều trị. Trong trường hợp này, thuốc sẽ trở nên vô hiệu. Để củng cố hệ miễn dịch bệnh nhân hãy nghỉ ngơi, tuân thủ chế độ ăn cân đối và tập thể dục thường xuyên. Cần tránh uống nhiều rượu, bỏ hút thuốc (nếu đang hút) và không dùng các thuốc kích thích. Tuân thủ nghiêm ngặt là bí quyết thành công, khi cơ thể đáp ứng với điều trị bệnh nhân sẽ thấy khoẻ hơn, có nhiều sức lực hơn để thực hiện các hoạt động hàng ngày. Các triệu chứng bệnh liên quan đến HIV có từ trước được cải thiện. Các bệnh nhiễm trùng cơ hội, giảm tần suất mắc và mức độ nặng của các nhiễm trùng cơ hội. Người bệnh điều trị ARV cần được theo dõi các xét nghiệm cận lâm sàng để phát hiện các tác dụng phụ của thuốc và đánh giá đáp ứng điều trị - Vai trò của gia đình và người thân Gia đình và người thân đóng vai trò rất quan trọng trong chăm sóc bệnh nhân vì họ thông cảm và là trách nhiệm chăm sóc người bệnh tại nhà. Do vậy, gia đình và người thân cần được trang bị các kiến thức cơ bản về phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS và các kỹ năng chăm sóc cơ bản. Về mặt tư tưởng, bệnh nhân AIDS cảm thấy thoải mái hơn, dễ chịu hơn khi họ được người nhà chăm sóc, không sợ bị kỳ thị, bị phân biệt đối xử. Ở nhà họ luôn nhận được sự chăm sóc chu đáo, sự yêu thương giúp đỡ của những người thân trong gia đình. 55
  56. AIDS là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV. Ở giai đoạn này bệnh nhân có các biểu hiện như: Sút cân, tiêu chảy kéo dài, sốt kéo dài, mụn nhọt nhiều ở lưng, ngực, đùi, cơ thể gầy yếu, ho khan, viêm phổi, nổi hạch toàn thân. Vì vậy, hằng ngày người nhà phải bón cho ăn, cho uống, lau rửa người, thay quần áo, thu dọn chất thải, động viên, nâng giấc người bệnh Những công việc này chăm sóc tại nhà tốt hơn và thuận tiện hơn so với ở bệnh viện. HIV không lây truyền qua những tiếp xúc thông thường như bắt tay, ôm hôn, ăn uống chung, do đó khi người nhiễm HIV bị ốm vẫn có thể chăm sóc tại nhà mà không sợ lây cho người khác nếu chăm sóc theo đúng hướng dẫn chuyên môn y tế. Chăm sóc người bệnh là một trong những nhiệm vụ chức năng của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là gia đình Việt Nam. - Vai trò của cán bộ y tế, cộng tác viên Vai trò cán bộ y tế cơ sở không kém phần quan trọng. Cán bộ y tế địa phương cần tiếp cận không phải để tìm hiểu tại sao nhiễm HIV mà phải tìm cách cung cấp thông tin về dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS một cách khéo léo để người bệnh hiểu được và sẽ cần mình tư vấn và giúp thêm nhiều thông tin bổ ích khác như tiếp cận điều trị thuốc ARV, hướng dẫn chăm sóc thông thường một số triệu chứng bệnh nhiễm trùng cơ hội, hoặc dự phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con. Người bệnh được sự trợ giúp và tư vấn của cán bộ y tế sẽ sớm tiếp cận được với điều trị thuốc kháng HIV, sẽ được chăm sóc điều trị sớm các bệnh nhiễm trùng cơ hội, họ sẽ mau chóng hồi phục sức khoẻ, giảm bớt chi phí khám chữa bệnh các bệnh nhiễm trùng cơ hội. Sự quan tâm đúng mực, sự trợ giúp đúng lúc có thể giúp người bệnh sớm thay đổi hành vi và giảm sự lây lan HIV trong cộng đồng. Một số triệu chứng và cách chăm sóc Nhiễm HIV, nhất là đã chuyển sang giai đoạn AIDS, người nhiễm thường bị các bệnh nhiễm trùng tấn công cơ hội, đặc biệt là các bệnh liên quan đến hô hấp, tiêu hóa và các bệnh ngoài da. Do đó, người chăm sóc cho bệnh nhân HIV/AIDS cũng cần có những kiến thức nhất định. 56
  57. - Can thiệp với chứng nhiễm trùng cơ hội Các triệu chứng nhiễm trùng cơ hội thường gặp ở bệnh nhân HIV/AIDS là sốt, tiêu chảy, sút cân, những biểu hiện bất thường trên da, loét, ho và khó thở Do đó, người chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS cần can thiệp kịp thời những triệu chứng trên. Cụ thể: + Nếu bệnh nhân sốt nên để bệnh nhân ở nơi thoáng mát, lau nước, cho uống nước, ăn trái cây và uống thuốc hạ sốt. + Nếu bệnh nhân sốt cao liên tục, sốt dai dẳng, kèm theo các triệu chứng run, rối loạn tiêu hóa, đau đầu, co giật, ho ra máu, khó thở nên đưa bệnh nhân đến bệnh viện. + Với chứng tiêu chảy (nhất là phân có màng nhày) nên cho uống nhiều nước, thức ăn dễ tiêu, đảm bảo thức ăn an toàn, vệ sinh và chia thành nhiều bữa. Vệ sinh sạch hậu môn cho bệnh nhân sau mỗi lần đi ngoài. Đưa bệnh nhân đến bệnh viện nếu đi tiêu chảy quá 10 lần/ngày, phân có máu, nôn ói, vật vã. + Sút cân (giảm trên 10% trọng lượng cơ thể ban đầu) là triệu chứng thường gặp ở người HIV, người thân nên tăng cường các thực phẩm dinh dưỡng, cho ăn đa dạng thức ăn, ăn nhiều bữa trong ngày và giữ vệ sinh răng miệng cho bệnh nhân. + Với những biểu hiện bất thường trên da, như xuất hiện mảng sần, ngứa, viêm loét, vết thương chậm liền, phỏng rộp, khối apxe bệnh nhân không nên gãi làm xây xát da, bôi thuốc chống ngứa xung quanh các vết loét, vết xước, tăng cường vitamin C để tạo sức đề kháng, giữ da khô sạch. + Triệu chứng ho và khó thở cũng thường gặp ở người HIV/AIDS, do đó người chăm sóc nên tăng cường khả năng thải đàm bằng cách cho người bệnh uống nhiều nước, vỗ lưng, vận động, hít thở sâu và dùng thuốc long đàm. + Ngoài ra, cần lưu ý đến các tổn thương thường đi kèm với nhiễm HIV/AIDS như bệnh lao. Nếu bệnh nhân có những biểu hiện ho trên 3 tuần, ho ra máu, đau ngực, sốt dai dẳng, nên nghĩ đến bệnh lao và đưa bệnh nhân đến các cơ sở y tế chuyên khoa để được điều trị. 57
  58. - Phòng lây nhiễm khi chăm sóc người bệnh: Chăm sóc người bệnh HIV/AIDS, sự gần gũi, thân tình của những thành viên trong gia đình sẽ giúp người bệnh đỡ tủi thân, mặc cảm. Tuy nhiên, các thành viên trong gia đình cần lưu ý một số biện pháp phòng ngừa sau: + Cho bệnh nhân dùng riêng một số đồ dùng như khăn tắm, khăn mặt, bàn chải đánh răng, dao cạo, đồ nạo lưỡi, đồ bấm móng tay, kim tiêm Khi máu và chất dịch tiết của người bệnh rơi vãi ra ngoài, người chăm sóc nên dùng giấy hoặc vải lau sạch, sau đó lau lại nơi này bằng nước xà phòng và lau thêm nước javen hoặc cồn 70 độ. Mọi hoạt động chăm sóc vết thương hay giặt đồ cho bệnh nhân nhiễm HIV, người thân nên mang bao tay cao su. + Quần áo, đồ vải dính máu người bệnh phải được ngâm nước Javen 0,1-0,5% trong 30 phút rồi giặt lại bằng xà phòng; nếu dính các chất đặc như chất nôn, phân thì phải gột nước cho sạch bớt trước khi ngâm Javen và giặt lại. Với các loại rác có máu (giấy, bông, băng gạc, kim tiêm ), cần cho vào 2 lần túi nylon, buộc lại trước khi bỏ vào thùng rác. + Nếu sơ ý bị dính máu, dịch tiết của bệnh nhân (ở nơi không có vết thương hở) hoặc bị những vật bén nhọn dùng cho bệnh nhân (như kim tiêm, dao cạo) làm bị thương thì rửa sạch ngay bằng nước xà phòng, sau đó dùng cồn 70 độ sát trùng lại. Nếu máu bệnh nhân dính vào vết thương hở của người chăm sóc, cần sát trùng nhanh và đến Trung tâm phòng chống HIV/AIDS hoặc Trung tâm y tế dự phòng được điều trị dự phòng phơi nhiễm. + Quan hệ tình dục với người nhiễm HIV/AIDS, phải luôn sử dụng bao cao su. Còn những biểu hiện tình cảm khác như vuốt ve, nắm tay, hôn nhẹ không làm lây bệnh. Đối với quần áo, khăn lau dính máu người bệnh phải được ngâm nước javen trong 30 phút rồi giặt lại bằng xà phòng, khi giặt cũng phải dùng bao tay. Với các loại rác có máu (giấy, bông, băng gạc, kim tiêm ) cần cho vào 2 lần túi ny-lông, cột chặt miệng túi trước khi bỏ vào thùng rác. 58
  59. 5 Chăm sóc về dinh dưỡng cho người sống chung với HIV/AIDS 5.1. Các chất dinh dưỡng dành cho cơ thể - Một chế độ dinh dưỡng tốt, đặc biệt là chế độ dinh dưỡng tốt phải đảm bảo đầy đủ các dưỡng chất sau: + Các dưỡng chất dạng phân tử (Đạm, chất xơ và mỡ) + Các vi chất dinh dưỡng (Vitamin và khoáng chất) - Sự thiếu hụt các dưỡng chất dạng phân tử như đạm, chất xơ và mỡ còn được gọi là “suy dinh dưỡng năng lượng” dẫn đến sụt cân, teo cơ và xương. Đây là một hiện tượng điển hình ở các bệnh nhân HIV/AIDS. Do vậy người nhiễm HIV/AIDS cần nhiều dinh dưỡng hơn người bình thường từ 10% - 15% năng lượng và 50% - 100% lượng đạm tiêu thụ so với người không bị nhiễm HIV. - Việc tiêu thụ các vi chất dinh dưỡng (đặc biệt là Vitamin A, B6, B12 và các khoáng chất như sắt và kẽm) là rất quan trọng để tạo ra sức đề kháng và khả năng chống trả bệnh tật. Một người lớn không bị nhiễm HIV có hoạt động bình thường thì cần khoảng 2070 kilo calo mỗi ngày. Một người lớn nhiễm HIV cần thêm khoảng 10% - 15% năng lượng 5.2. Quan hệ giữa dinh dưỡng và tình trạng HIV - Mất khả năng đề kháng do nhiễm HIV/AIDS sẽ dẫn tới suy dinh dưỡng; Suy dinh dưỡng dẫn tới suy yếu khả năng đề kháng; làm cho những hậu quả của HIV tồi tệ hơn đồng thời góp phần làm quá trình chuyển sang AIDS xảy ra nhanh hơn. Do đó suy dinh dưỡng vừa là yếu tố dẫn đến việc đẩy nhanh quá trình chuyển sang AIDS - Một người bị nhiễm HIV có khả năng bị suy dinh dưỡng cao hơn do những lí do sau: + Lượng thức ăn đưa vào cơ thể ít đi. + Hấp thụ kém: HIV/AIDS ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa thức ăn của cơ thể + Thay đổi trong cơ chế chuyển hóa dưỡng chất. 59
  60. + Viêm nhiễm và bệnh tật mãn tính. Những yếu tố trên dẫn tới người bệnh bị sụt cân, teo cơ và suy yếu sức đề kháng. Những triệu chứng này phổ biến ở những người lớn nhiễm HIV nhưng cũng khá phổ biến ở các trẻ em bị nhiễm căn bệnh này. - Một số các triệu chứng và bệnh tật do HIV gây ra cũng ảnh hưởng tới dinh dưỡng của cơ thể và có thể dẫn tới suy dinh dưỡng. + Biếng ăn (hay ăn mất ngon) xảy ra khi cơ thể bị viêm nhiễm hoặc bị sốt. - Tiêu chảy có thể xảy ra khi uống nước bẩn, bị viêm nhiễm, cơ thể có kí sinh trùng hoặc chịu ảnh hưởng của một loại thuốc nào đó. - Sốt xảy ra khi người ta cảm thấy lạnh, đổ mồ hôi, đau cơ và khớp xương, hay bị mệt mỏi nặng. - Nôn nao/ Nôn mửa có thể xảy ra do tác động của thuốc điều trị HIV/AIDS hoặc do một viêm nhiễm nào khác. - Nấm ở miệng / lưỡi cũng thường xảy ra ở các bệnh nhân HIV có khả năng miễn dịch đã bị phá hủy. - Tiêu giảm hồng cầu thường xảy ra khi chế độ ăn thiếu chất sắt hoặc do những viêm nhiễm như sốt rét và giun sán (trong ruột) phá hủy hồng cầu dẫn tới chảy máu hoặc mất máu. Phụ nữ và trẻ em là những đối tượng có nguy cơ cao với bệnh này. 5.3. Chế độ dinh dưỡng cho người sống chung với HIV/AIDS Một số nguyên tắc chung cần cho chế độ dinh dưỡng của những người bị nhiễm HIV/ AIDS - Suất ăn nhỏ nhưng nhiều lần giúp cung cấp chất dinh dưỡng tốt và duy trì hệ thống miễn dịch đồng thời giúp cho cơ thể kháng khuẩn. - Đa dạng hóa thức ăn giúp cơ thể tiếp nhận đủ năng lượng, chất đạm và vi chất dinh dưỡng cần thiết để đảm bảo chế độ dinh dưỡng đầy đủ. Chế độ ăn cân bằng sẽ giúp con 60
  61. người đảm bảo tiêu thụ đủ chất dinh dưỡng để duy trì năng lượng và đảm bảo cơ thể hoạt động bình thường. Những thức ăn cần thiết cho cơ thể con người bao gồm: + Thức ăn nuôi dưỡng cơ thể (đạm và khoáng chất): + Thức ăn bảo vệ cơ thể (các thức ăn chứa các vi chất dinh dưỡng như Vitamin A, B, C, D và các khoáng chất như i-ốt, kẽm và sắt): + Thức ăn cung cấp năng lượng (đường và chất xơ): Những người bị nhiễm HIV/AIDS có nhu cầu dinh dưỡng cao hơn mức bình thường và việc tiêu thụ thức ăn đa dạng từ mỗi nhóm thực phẩm chính hàng ngày rất quan trọng cho việc đảm bảo một chế độ dinh dưỡng tốt để chống lại bệnh tật. Ngoài ra, chế độ dinh dưỡng tốt cũng giúp người bệnh chống chọi lại được những căn bệnh truyễn nhiễm khác mà người nhiễm HIV/AIDS thường hay mắc phải do hệ miễn dịch suy yếu như lao hay viêm phổi. 5.4. An toàn vệ sinh thực phẩm Người sống chung với HIV/AIDS dễ mắc bệnh viêm nhiễm hơn vì hệ miễn dịch của họ đã bị suy yếu. Do đó việc chế biến và xử lý thức ăn, nước uống cho họ là đặc biệt quan trọng. Dưới đây là các quy tắc trong xử lý và trữ nước, thức ăn từ động vật, trái cây và rau củ: - Những quy tắc chung: Đảm bảo khu vực chuẩn bị và chế biến thức ăn không có ruồi nhặng Bọc, gói những thực phẩm chưa dùng tới lại để tránh nhiễm bẩn Trữ thức ăn nóng và lạnh riêng rẽ Nếu thực phẩm có ngày hết hạn thì tuyệt đối không ăn sau khi quá hạn sử dụng Những thức ăn đã nấu thì không nên để quá một ngày và phải hâm nóng lại trước khi ăn Nếu có tủ lạnh, cần trữ tất cả thức ăn thừa trong tủ lạnh 61
  62. Tất cả các thức ăn từ động vật (thịt gà, thịt heo, cá, trứng) phải được nấu chín kỹ ở nhiệt độ cao Không ăn trứng lòng đào và thịt tái Rửa thật sạch dụng cụ nấu nướng và những thứ bạn đã để tiếp xúc với thực phẩm sống hay thức ăn chưa chin trước khi chế biến các thức ăn khác Nên trữ thịt, thịt gia cầm và cá tách riêng với các thức ăn khác để tránh nhiễm khuẩn - Nước uống Nước uống phải là nước sạch, đun sôi trong vòng 5-10 phút để giết sạch vi khuẩn Trữ nước trong ca cốc hay bình có nắp đậy Luôn rửa tay với xà phòng trước và sau khi tiếp xúc với thức ăn - Rau quả: Dùng nước sạch để rửa thật kĩ tất cả các loại rau quả mà bạn định ăn sống để tránh nhiễm bẩn Nếu không có điều kiện rửa sạch thì nên gọt vỏ cho an toàn Chọn rau quả tươi không bị dập nát, không có mùi vị hoặc màu sắc lạ. - Sử dụng các đồ dùng để nấu thức ăn và ăn uống sạch sẽ Dùng nước sạch và an toàn để sơ chế thực phẩm, nấu thức ăn và rửa dụng cụ. Dùng các đồ dùng làm từ chất liệu an toàn và đồ rừa sạch như inox, đồ thủy tinh, đồ sư hay tráng men. Ăn xong rửa bát, chén, xoong, nồi ngay Trước khi ăn cần tráng dụng cụ, bát đũa, bằng nước sôi riêng để tránh nhiễm khuẩn từ thực phẩm sống sang thực phẩm chính (Thớt, dao ) - Vệ sinh cá nhân 62