Điểm mù (Phần 2)

pdf 114 trang ngocly 30 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Điểm mù (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfdiem_mu_phan_2.pdf

Nội dung text: Điểm mù (Phần 2)

  1. Chương 5 KHI CHÚNG TA PHỚT LỜ CÁCH CƯ XỬ VÔ ĐẠO ĐỨC Kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, mũi dùi chĩa về rất nhiều hướng. Nhóm bị buộc tội bao gồm các ngân hàng vô trách nhiệm, những người mua nhà tham lam, những kẻ đầu cơ tích trữ, Đại hội Đảng Dân chủ (vì đã thúc đẩy việc cho người thu nhập thấp vay tiền với mức tín dụng cao) và chính quyền Bush (vì đã đưa ra những quyết định tồi tệ và sự thiếu tập trung trong điều hành). Nhưng ít nhất thì một phần của vấn đề này bắt nguồn từ thất bại của các tổ chức đánh giá tín dụng độc lập trong việc đánh giá đúng độ rủi ro của các chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp mà họ sở hữu. Theo lời của Đại biểu Henry Waxman (D-CA), chủ tịch Hội đồng Giám sát nhà ở và Cải cách Chính phủ: “Câu chuyện của các tổ chức đánh giá tín dụng là câu chuyện về một sự thất bại ê chề”. Hội đồng của Waxman đã tìm ra chứng cứ vững chắc rằng các nhân viên có trách nhiệm trong các tổ chức đánh giá tín dụng đã “hoàn toàn nhận thức được rằng không có cơ sở vững vàng để cho điểm đánh giá AAA cho hàng ngàn tín dụng rối rắm liên quan đến thế chấp đang tăng lên hàng ngày nhưng bất chấp tất cả, các tổ chức vẫn đứng ra bảo chứng cho chúng”. Mục đích của các tổ chức đánh giá tín dụng là giúp cho các cổ đông bên ngoài hiểu được độ tin cậy của những tổ chức ban hành các nghĩa vụ trả nợ (bao gồm các công ty, tổ chức phi lợi nhuận và liên bang, nhà nước cùng với chính quyền địa phương) cũng như các công cụ nợ mà những tổ chức tài chính này bán ra thị trường. Những tổ chức này tồn tại nhờ vào tính khách quan mặc định của họ, tuy nhiên các khoản bồi thường của họ không hề được ràng buộc vào bất kỳ điều gì trừ sự khách quan. CỰU NHÂN VIÊN nhân viên cấp cao của các tổ chức đánh giá này từng thừa nhận trước ủy ban của Waxman rằng có sự mâu thuẫn tồn tại trong hệ thống đánh giá tín dụng của Mỹ. Đặc biệt là các tổ chức đánh giá tín dụng quy mô nhất, bao gồm Standard và Poor’s, Moody’s và Fitch lại được ăn lương từ những công ty mà họ đánh giá chứ không phải từ các nhà đầu tư - những người sẽ chịu thiệt hại nặng nhất bởi các đánh giá thiếu chính xác.
  2. Những tổ chức đánh giá quy mô nhất có được siêu lợi nhuận bằng cách đưa ra đánh giá có thứ hạng cao cho các nhà phát hành nợ và chứng khoán mà không nhất thiết phải cung cấp những ước định chính xác nhất về chứng khoán và các nhà phát hành này. Thêm vào đó, không hề đáng ngạc nhiên khi các tổ chức với các tiêu chuẩn lỏng lẻo nhất lại gặt hái nhiều hợp đồng nhất từ khách hàng mới, điều này cho họ động lực tài chính để đánh giá chứng khoán một cách chủ động. Nghiêm trọng hơn, các tổ chức đánh giá này lại bán các dịch vụ tư vấn cho những công ty sở hữu số chứng khoán mà họ đang đánh giá. Có vẻ rất rõ ràng rằng nếu các tổ chức đánh giá có động cơ để cố gắng làm vui lòng những công ty mà họ đang đánh giá thì những đánh giá độc lập và công bằng sẽ hoàn toàn không có khả năng xảy ra. Thế nhưng không phải ai cũng tin vào lập luận hiển nhiên này. Những người bênh vực các tổ chức đánh giá tranh luận rằng nhận thức của các tổ chức này về tầm quan trọng của việc giữ vững tính liêm chính sẽ giúp họ tránh được khả năng đưa ra những đánh giá thiên lệch. Niềm tin này tuy đáng ngưỡng mộ nhưng lại quá lạc quan. Tệ hơn là, nó khiến cho xã hội không nhìn thấy được lối hành xử thiếu đạo đức của các bên liên quan. Giống như chính phủ liên bang đã thất bại trong việc xác định sự mâu thuẫn cố hữu về lợi ích trong ngành công nghiệp kiểm toán vào thời kỳ tiền Enron, các nhà lãnh đạo của chúng ta cũng thất bại trong việc thay đổi ngành công nghiệp đánh giá tín dụng, thứ rất có khả năng đang đâm đầu vào một thảm họa. Trong cả hai trường hợp, người ta đều mù mờ trước hành vi vô đạo đức của những người khác. Có nhiều nguyên nhân khiến chúng ta không chú ý đến hành vi thiếu đạo đức của người khác. Trước hết, chúng ta bận rộn chú tâm vào những việc khác. Như sẽ bàn đến trong chương 6, chúng ta tập trung vào các mục tiêu mang lại lợi ích cho mình và thường xuyên bỏ qua những mục tiêu không có lợi khác. Chúng ta thường không được hưởng lợi gì khi chú ý đến lối cư xử vô đạo đức của người khác. Hơn nữa, con người có một khả năng đặc biệt là lướt qua những sự thật hiển nhiên. Trong một nghiên cứu, nhà tâm lý học Ulric Neisser yêu cầu các sinh viên hệ cử nhân của ông tại trường Cornell xem một đoạn video ghép chồng hình ảnh của hai bộ ba sinh viên đang chuyền bóng. Một bộ ba mặc áo trắng và bộ ba còn lại mặc áo đen. Nhóm sinh viên được hướng dẫn để đếm số lần chuyền bóng giữa bộ ba áo trắng. Đoạn video chồng hình đã khiến nhiệm vụ này tương đối phức tạp.
  3. Trước khi đọc tiếp, bạn cứ tự nhiên xem đoạn phim và thử đếm xem có chính xác bao nhiêu đường chuyền bóng giữa các cầu thủ áo trắng tại www.blindspots- ethics.com/neisser. Bạn cũng có thể đoán ra rằng đây là một trò có thủ thuật. Khi đang tập trung để đếm số đường chuyền thì bạn – cũng như đa số mọi người thử thực hiện yêu cầu này – chắc hẳn đã không nhìn thấy một phụ nữ mang ô đi qua sân bóng một cách rõ ràng và bất ngờ. (Nếu bạn không tin rằng có người phụ nữ đó, hãy xem lại đoạn phim đi.) Chỉ có một trong số năm sinh viên Cornell của Neisser phát hiện ra người phụ nữ này. Khi đoạn phim được chiếu trong phòng học của sinh viên lớp MBA và quản lý cấp cao của chúng tôi, tỉ lệ người phát hiện ra người phụ nữ còn thấp hơn một phần năm rất nhiều, cũng như chúng ta đã không chú ý đến cô ấy khi lần đầu tiên xem đoạn video này. Đó là bởi vì phải tập trung cao độ vào nhiệm vụ được giao - trong trường hợp này là đếm số lần chuyền bóng – con người sẽ bỏ qua phần thông tin vô cùng rõ ràng trong thế giới thị giác của mình. Đoạn phim của Neisser là bằng chứng cho thấy khi tập trung vào một việc nào đó, chúng ta có thể trở nên mù mờ với những thông tin khác đang tồn tại một cách rõ ràng ở xung quanh mình. Vượt qua những bận rộn và xao nhãng bình thường, nhìn dưới lăng kính của đạo đức ứng xử, chương này chỉ ra hàng loạt lý do khiến chúng ta bỏ qua những hành vi vô đạo đức của người khác. Tại sao chúng ta lại nhìn đi chỗ khác trong khi rõ ràng là có ai đó đang hành xử sai lầm? Chúng ta sẽ bắt đầu bằng việc thảo luận về vai trò của sự mù mờ có động cơ hay là xu hướng bỏ qua sai lầm của người khác khi việc phát hiện ra nó không mang lại lợi ích gì. Tiếp theo, chúng ta sẽ tìm hiểu sự mù mờ gián tiếp hoặc là xu hướng không chú ý đến những hành động vô đạo đức khi chúng được thực hiện thông qua hành động của người khác. Sau đó, chúng ta sẽ xem xét những tình huống nguy hiểm khi chú ý đến hành vi thiếu đạo đức của những người xung quanh. Cuối cùng, chúng ta sẽ đánh giá xem xu hướng coi trọng kết quả hơn quá trình có tác động như thế nào đến nhận định của con người về đạo đức của người khác. Sự mù quáng có động cơ Bộ phim The Reader gây nhiều tranh cãi năm 2008 được dựng dựa trên một tiểu thuyết cùng tên của nhà văn người Đức Bern- hard Schlink, trong phim, CỰU NHÂN VIÊN lính Đức quốc xã Hanna
  4. Schmi phải đối mặt với án phạt tại phiên tòa tội ác chiến tranh vì đã tham gia vào một sự kiện khủng khiếp trong Thế chiến thứ hai. Schmi và năm nữ lính gác SS khác đã cai quản hàng trăm tù nhân tham gia một cuộc hành binh tử thần năm 1944. Đêm đó, các tù binh hạ trại lưu trú tại một nhà thờ và lính gác đã khóa cửa nhốt họ trong đó. Nhà thờ bị đánh bom và bốc cháy nhưng không có lính gác nào mở cửa khiến cho ba trăm tù nhân bị chết cháy bên trong nhà thờ. Hanna không chỉ không cứu được ba trăm tù nhân mà cô còn khai rằng, trong suốt cuộc chiến, cô đã nhận lệnh và hàng tháng đều chọn ra mười người tù để đưa đến buồng hơi ngạt của Aus- chwi . Tại phiên toàn, khi được hỏi về việc không mở cửa nhà thờ, Hanna (do nữ diễn viên Kate Winslet thủ vai) nhìn thẩm phán một cách ngờ vực, “Đương nhiên,” cô đáp một cách thản nhiên, “lý do rất rõ ràng là: chúng tôi không thể làm thế. Chúng tôi là cai ngục. Công việc của chúng tôi là canh giữ tù nhân.” Hanna giải thích rằng nếu lính gác thả các tù nhân trong vụ cháy nhà thờ thì họ sẽ không thể khống chế được đám đông đó. Trong lúc hỗn loạn, các tù nhân có thể sẽ trốn thoát và Hanna sẽ không thể hoàn thành công việc của cô được. Nhấn mạnh thêm lý do tại sao cô không phóng thích tù nhân, Hanna hét lên: “Chúng tôi phải chịu trách nhiệm về họ!” Vô cùng hoang mang, cô đã hỏi vị thẩm phán: “Nếu là ngài, ngài sẽ làm thế nào?” Chúng tôi không có hứng thú bào chữa cho hành động của nhân vật hư cấu này, tuy nhiên, hình ảnh của Hanna trong The Reader và sự sửng sốt của một số nhóm người Do Thái chỉ trích câu chuyện này cho thấy rằng nhân vật đã gây ra những hành động khủng khiếp mà không nhận ra giá trị đạo đức bên trong chúng. Cô không được đi học, nghe theo mệnh lệnh của cấp trên mà trưởng thành, đảm nhận một vị trí trong SS để kiếm sống và đơn giản là cô không hiểu rằng cô có thể lựa chọn để phóng thích những tù nhân mắc kẹt trong đám cháy nhà thờ. Trong The Reader, Hanna chấp nhận số mệnh của mình (nhà tù) nhưng đa phần trong cuộc đời của mình, cô không nhìn nhận rằng hành động của cô là thiếu đạo đức. Hành vi của Hanna và sự phủ nhận hành động sai trái của cô là một trường hợp cực đoan và hư cấu. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng sự thiếu nhận thức của Hanna cũng giống với những người vì lợi ích của tổ chức hay của quốc gia của họ mà làm ra điều sai trái. Lối ứng xử này phù hợp với việc ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy rằng rất nhiều người đang gây ra những thiệt hại nặng nề mà họ không hề
  5. nhận ra điều đó. Trong một nghiên cứu năm 2009 diễn ra với 2.800 nhân viên, 49% thừa nhận họ đã chứng kiến vài kiểu hành vi sai trái trong công việc vào năm trước mặc dù các công ty đang ra sức để nâng cao đạo đức cho nhân viên của mình. Không may là hành vi sai trái không phải là một trào lưu mới: Những vụ tai tiếng về đạo đức tại Arthur Andersen, Enron, Health-South, Tyco và WorldCom đều là bước tiếp nối của những vụ tai tiếng đạo đức trước đó của General Electric, Investors Overseas Services, Lincoln Savings & Loan, Sear và Shoney’s. Xuyên suốt quyển sách này, chúng tôi đã ghi lại một phát hiện quan trọng về đạo đức ứng xử: khi người ta có mối tư lợi trong một tình huống nào đó thì họ khó có thể tiếp cận tình huống đó một cách không thiên vị, ngay cả khi họ cho rằng bản thân họ là trung thực. Chúng tôi cho rằng sự thiên lệch này có tác động đến quan sát của những người khác: đó là, nếu bạn có động cơ để làm ngơ trước hành vi thiếu đạo đức của ai đó thì bạn sẽ không nhận thấy nó. Cụm từ sự mù quáng có động cơ mô tả sự thất bại thường thấy của con người trong việc nhận thấy hành vi thiếu đạo đức của người khác khi biết rằng chính việc nhận thấy đó sẽ gây hại cho người quan sát. Khi bên A được khuyến khích để nhìn nhận bên B bằng cái nhìn tích cực phiến diện của mình,thì bên A sẽ khó đánh giá chính xác tính đạo đức trong hành vi của bên B. Trong những vụ tai tiếng đình đám nhất của thập niên này, rất nhiều người – bao gồm những thành viên của hội đồng lãnh đạo, các công ty kiểm toán, các tổ chức thẩm định và nhiều người nữa – đã tiếp cận được nguồn thông tin cần thiết và lẽ ra họ phải nhìn thấy và phản ứng lại với hành vi thiếu đạo đức của những người khác. Thế nhưng họ đã không làm vậy, một phần là vì xu hướng của tâm lý không chú ý đến thông tin xấu mà họ vốn dĩ không muốn nhìn thấy. Một khía cạnh đáng chú ý của câu chuyện về các tổ chức đánh giá tín dụng là sự tương đồng của nó với câu chuyện của các công ty kiểm toán xảy ra vào khoảng bảy năm trước. Vụ tai tiếng um sùm nhất trong giai đoạn đầu thiên niên kỷ mới chính là sự sụp đổ của Enron, một thất bại kinh doanh nổi tiếng trong thời đại của chúng ta. Tại sao Auther Andersen, công ty kiểm toán của công ty Enron lại đứng ra bảo đảm cho tình trạng tài chính của Enron trong khi chính công ty đó đang che đậy khoản nợ hàng tỉ đô-la từ các cổ đông? Rất đơn giản, Auther Andersen có lý do để bị tác động bởi sự mù quáng có động cơ. Năm 2001, Arthur Andersen kiếm được hàng triệu đô-la từ Enron và
  6. với khách hàng lớn thứ hai của nó, công ty này thu được 25 triệu đô- la phí kiểm toán cùng 27 triệu đô-la phí tư vấn. Andersen có động cơ mạnh mẽ để giữ lại và phát triển những hợp đồng ngon lành này. Rõ ràng là, khi bạn tìm ra vấn đề trong sổ sách chứng từ của vị khách hàng mà bạn đang kiểm toán thì mối quan hệ khách hàng đó không thể tiếp tục được nữa. Thêm vào đó, có vẻ như nhiều kiểm toán viên của Andersen đã hy vọng được làm việc với Enron như rất nhiều vị đồng nghiệp trước đó đã từng. Sự sụp đổ của Enron không phải là duy nhất. Ngay sau khi nó gục ngã, hàng loạt vụ tai tiếng đình đám của những tổ chức lớn đều bị phanh phui, bao gồm WorldCom, Global Crossing, Tyco International và Parmalat. Trong mỗi vụ, kiểm toán viên đều bị dính líu vì đã không vạch trần các sai phạm. Những vụ tai tiếng này có lẽ đã không xảy ra nếu thành viên của các công ty trên chịu đối mặt với các hành vi vô đạo đức của đồng nghiệp và khách hàng thay vì cứ nhắm mắt bỏ qua. Các vụ việc này làm lộ ra điểm yếu của hệ thống kiểm toán Mỹ: tại đây, sự mù quáng có động cơ luôn có đường phát triển. Max và đồng nghiệp đã kiểm tra sức mạnh của những mâu thuẫn lợi ích loại này bằng cách cung cấp cho người tham gia khảo sát các thông tin về tiềm năng bán hàng của một công ty hư cấu. Nhiệm vụ của người tham gia là ước tính trị giá của công ty đó.[98] Người tham gia được giao một trong bốn vai trò: người mua, người bán, kiểm toán của người mua hoặc kiểm toán của người bán. Tất cả những người tham gia đều tiếp nhận thông tin giúp họ tính toán giá trị của công ty. Những người với vai trò kiểm toán cung cấp các đánh giá của họ về giá trị của công ty cho khách hàng của mình. Như những gì đã bàn đến trước đó trong quyển sách này về xu hướng tự-phục-vụ, người bán cung cấp các ước định về giá trị công ty cao hơn so với những gì người mua tiềm năng đánh giá được.[99] Các kiểm toán viên, những người tư vấn cho bên mua hoặc bên bán thì nghiêng hẳn về lợi nhuận của khách hàng của mình: Kiểm toán của bên bán kết luận một cách công khai rằng công ty đó có giá trị hơn hẳn những gì kiểm toán viên của bên mua đánh giá. Thế thì các kiểm toán viên đã cố tình đánh giá thiên lệch hay là giới hạn đạo đức đang lên sàn? Để trả lời câu hỏi này, các kiểm toán viên đã được yêu cầu đưa ra ước tính về giá trị thực sự của công ty như khi được thẩm định bởi những chuyên gia trung lập và họ sẽ
  7. được khen thưởng cho độ chính xác của các đánh giá của riêng cá nhân họ. Kiểm toán viên của bên bán đưa ra các ước tính mà trong đó giá trị của công ty cao hơn 30%, xét một cách bình quân so với những gì mà kiểm toán viên của bên mua ước lượng. Bằng chứng này cho thấy, thay vì tỉnh táo đưa ra một quyết định có lợi cho khách hàng của mình, những người tham gia vào khảo sát này đã tiếp thu thông tin về mục tiêu một cách thiên vị. Việc sắm vai trò của kiểm toán viên đã khiến các ước tính của họ bị thiên lệch và giới hạn khả năng của họ trong việc nhận thấy sự lệch lạc trong hành vi của khách hàng. Theo đó, ngay cả một mối quan hệ giả thiết thuần túy giữa kiểm toán viên và khách hàng cũng khiến những người sắm vai trò kiểm toán viên bóp méo các nhận định của mình. Hơn nữa, chúng tôi đã lặp lại nghiên cứu này với thành phần tham gia là những kiểm toán viên thật sự đến từ một trong bốn “đại gia” hàng đầu của ngành kiểm toán và nhận được kết quả tương tự. Không nghi ngờ gì nữa, một mối quan hệ lâu dài dính dáng đến hàng triệu đô-la trong tổng thu nhập sẽ có sức ảnh hưởng kinh khủng hơn nữa. Khi khách hàng có hành động không đạo đức, kiểm toán viên của họ không nhìn thấy hành vi trái đạo đức này cùng một lý do với việc họ không nhìn thấy hành vi trái đạo đức của chính mình. Sự thiên lệch hướng về những kẻ chi tiền (khách hàng) khiến kiểm toán viên không thể tách rời bản thân ra khỏi khách hàng. Từ góc độ của hành vi đạo đức, nếu không có loại động cơ này tồn tại thì kiểm toán viên sẽ không trở nên giống với khách hàng của mình đến thế; hậu quả là họ không thể nhìn thấy các hành vi trái đạo đức và sự thiên vị trong cách cư xử với khách hàng của mình. Thứ đạo đức có giới hạn của khách hàng được truyền sang kiểm toán viên. Sự mù quáng có động cơ là nguyên nhân gây ra tình trạng không thể nhận thấy hành vi trái đạo đức của người khác trong rất nhiều lĩnh vực. Hãy bàn về sự lan truyền của việc sử dụng chất kích thích steroid trong môn bóng chày. Năm 2007, Barry Bonds của đội tuyển San Francisco Giants đã vượt qua Hank Aaron để trở thành vận động viên đánh home run[100] xuất sắc nhất mọi thời đại, có lẽ đây cũng là kỷ lục đáng giá nhất trong giải đấu bóng chày Major League Baseball (MLB). Các cơ quan thi hành luật, ủy viên hội đồng bóng chày và người hâm mộ đã đặt ra nghi vấn rằng liệu khả năng của Bonds có thật sự vượt qua Aaron hay không. Nhiều người cho rằng Bonds đã sự dụng steroid hoặc chất kích thích khác để cải thiện khả năng thi đấu của mình, đặc biệt là khi huấn luyện viên lâu năm của anh đã bị truy tố về tội cung cấp steroid cho các vận động viên. Những nghi vấn tương tự cũng xoay quanh các
  8. ngôi sao khác của giải MLB, bao gồm Sammy Sosa, Roger Clemens, Da- vid Ortiz, Manny Ramirez và nhiều người nữa. Vào tháng Bảy năm 2009, sự việc cho thấy rõ ràng rằng MLB có ít nhất 100 tuyển thủ có kết quả xét nghiệm dương tính với việc sử dụng thuốc kích thích. Sau vụ bê bối steroid, người hâm mộ bóng chày có xu hướng trút giận lên các cầu thủ gian lận (và bị phát hiện) vì đã làm ô uế môn thể thao này. Tuy nhiên, bản chất tranh đua của giải đấu Major League Baseball, các phần thưởng mang giá trị kinh tế và sự lỏng lẻo trong việc thi hành các điều lệ về sử dụng thuốc đều là các yếu tố kích thích vận động viên sử dụng steroid. Trên thực tế, nhiều cầu thủ có thể cảm thấy không công bằng cho bản thân nếu họ không sử dụng steroid. Mũi dùi cũng nên hướng về hội đồng MLB, đội tuyển San Francisco Giants và hiệp hội các cầu thủ. Không một ai trong số họ điều tra về những thay đổi nhanh chóng về thể chất, sức mạnh nổi bật cũng như khả năng vượt trội của Bonds và những cầu thủ khác khi trận đấu diễn ra. Cứ cho là các phóng viên thể thao và nhiều người hâm mộ hiểu rõ rằng vấn nạn steroid đã tồn tại xuyên suốt các giải MLB, vậy tại sao hội đồng MLB, các đội tuyển hoặc hiệp hội các cầu thủ không hề giải quyết vấn đề này? Chúng tôi tin rằng câu trả lời nằm trong một sự thật rằng các nhóm này đã được lợi về mặt kinh tế, ít nhất là trong một thời gian ngắn, từ việc các cầu thủ như Bonds sử dụng steroid. Sử dụng steroid tạo ra các cú home run, home run làm tăng lượng khán giả và lượng khán giả tăng tạo ra nhiều lợi nhuận hơn cho giải đấu, cho các đội tuyển và cho các cầu thủ. Những lợi ích này đã khiến ban quản lý MLB không lưu ý đến các vấn đề mà bản thân họ vốn đã không muốn nhìn thấy. Việc sử dụng steroid có dễ phát hiện đến thế không? Bạn cứ tự mình nhìn xem. Trong hình số 6 chúng tôi lập biểu đồ số lượng home run được ghi bởi các cầu thủ với thứ hạng nhất, nhì, ba trong mỗi năm từ 1990 đến 2009. Phần đỉnh điểm giữa năm 1998 và năm 2001, giai đoạn được ghi nhận là cao trào của steroid trong bóng chày đã có thể là chứng cứ thuyết phục để MLB hành động (cùng với các bằng chứng khác). Nhằm loại bỏ khả năng cho rằng một vài cầu thủ xuất sắc trong thời kỳ này đã làm lệch lạc kết quả, chúng tôi đã lấy bình quân số lượng home run được ghi bởi các cầu thủ ghi home run xuất sắc nhất từ năm 1991 đến 1994. Con số bình quân này là 44. Tiếp đó chúng tôi đếm số lượng cầu thủ đã đánh số lượng home run đó hoặc nhiều hơn trong mỗi năm của giai đoạn cầu thủ có sử dụng steroid
  9. 1998 – 2001. Có mười cầu thủ trong năm 1998, tám cầu thủ năm 1999, sáu cầu thủ năm 2000 và chín cầu thủ năm 2001 đã ghi số lượng home run tương đương hoặc nhiều hơn con số home run bình quân được ghi bởi các cầu thủ xuất sắc nhất từ năm 1991 đến 1994. Bài toán đơn giản này cho thấy rằng một lượng lớn bất thường các cầu thủ đã có cú đánh bóng vượt khỏi sân đấu xuyên suốt thời kỳ việc sử dụng steroid rộ lên và rằng việc chú ý đến các chỉ số bất thường này hoàn toàn không khó chút nào. Hình 6. Số home-run được ghi bởi ba cầu thủ xuất sắc nhất MLB, từ năm 1990 - 2009 Sự mù quáng có động cơ khiến những người ở nấc thang cao nhất trong xã hội dính líu đến các hành vi mà họ sẽ không bao giờ tha thứ được nếu họ lưu ý đến nó hơn. Hãy bàn về vụ tai tiếng lạm dụng tình
  10. dục trẻ em đã làm rung chuyển Giáo hội Công giáo. Tại sao tình trạng lạm dụng này có thể tràn lan qua hàng thập kỷ mà không bị ngăn chặn bởi những người đứng đầu Giáo hội? Một ví dụ điển hình: Hồng Y Giáo chủ Bernard F. Law, Tổng Giám mục Boston đã không thể làm gì với vô số trường hợp lạm dụng trẻ em diễn ra ngay dưới trướng của ngài. Ngài thú nhận trong hồ sơ tòa án rằng ngài có biết đến những cáo buộc đối với John J. Geoghan, người mà sau này bị cáo buộc về tội quấy rối trẻ em nhưng ngài lại cho vị mục sư này trở về làm việc. Law cũng thú nhận rằng ngài vẫn để James Foley hoạt động trong đoàn mục sư mặc dù ngài đã biết vào năm 1993, vị mục sư này đã có hai đứa con với một người phụ nữ trong giáo phận của hắn và hắn đã bỏ trốn vào năm 1973 khi người phụ nữ này cố gắng tự tử bằng cách uống thuốc quá liều. Law đã giữ lại nhiều tên tội phạm khác cùng với những kẻ phá luật của nhà thờ trong thời gian tại vị.[101] Việc Hồng y Giáo chủ Law, vốn là một nhà hoạt động dân quyền đã dành trọn đời mình để giúp đỡ mọi người khiến cho mối nghi vấn trở nên phức tạp hơn. Toàn bộ bằng chứng đều cho thấy Law là một con người đức hạnh nhưng đã đưa ra vài quyết định vô cùng thiếu đạo đức và chắn chắn là phi pháp trong quyền hạn của mình. Tại sao ngài lại chấp nhận hành vi phạm pháp và lừa gạt? Law khai nhận rằng trong quá khứ, ngài xem xét khả năng hạn chế hành vi của những kẻ lạm dụng dựa vào nền y học lỗi thời và lời khuyên tâm thần học, từ đó quyết định xem có giữ họ lại trong nhà thờ hay không. Có khả năng rằng Hồng y Law đã tin rằng những vị mục sư như Geoghan có thể khống chế hành vi của họ. Cũng có khả năng rằng chính mong muốn cải tạo những kẻ phạm tội của Hồng y Law đã khiến ngài không nhìn thấy các chứng cứ rõ ràng trước mắt rằng hành vi tội phạm đồi bại đó đã lặp đi lặp lại nhiều lần. Gần đây hơn, Hồng y Joseph Ra inger, vị Giáo hoàng hiện tại đã và đang bị buộc tội che giấu những vụ tai tiếng khác về lạm dụng tình dục trong Giáo hội Thiên Chúa giáo, bao gồm việc thuyên chuyển vào phút cuối những mục sư bị cáo buộc sang giáo xứ khác và nhấn mạnh vào lòng trung thành với nhà thờ của họ thay vì đề cao các hành vi đạo đức có trách nhiệm thật sự. Không bào chữa cho bất kỳ hành vi nào dẫn đến việc lạm dụng trẻ em, chúng tôi tin rằng lòng trung thành của vị Giáo hoàng với tổ chức của ngài đã khiến ngài mù mờ về tính nghiêm trọng trong các hành động. Thay vì biện hộ cho hành vi đồi bại, sự mù quáng có động cơ đưa ra một lời giải thích về mặt tâm lý cho việc xuất hiện hành vi thiếu đạo đức.
  11. Như những ví dụ này và những ví dụ khác nữa đã chỉ ra, chúng ta không chỉ bị bịt mắt trước những hành động suy đồi của chính mình mà còn trước sự kém đạo đức của những người xung quanh. Động cơ khiến chúng ta cứ mãi mù mịt trước các hành vi vô đạo đức của người khác xuất hiện dưới rất nhiều hình dạng, bao gồm nỗi sợ hãi, sự khích lệ, lòng trung thành và văn hóa trong tổ chức của chúng ta. Để hành xử có đạo đức hơn, chúng ta cần phải bỏ những tấm màn bịt mắt của mình đi và xem xét tác động của các yếu tố này đối với nhận định của bản thân. Sự mù quáng gián tiếp Hãy tưởng tượng rằng công ty bạn sản xuất ra một món hàng có doanh số bán ra rất chậm. Chỉ có một vài khách hàng mua nó nhưng những ai thích món hàng này sẵn sàng trả giá cao hơn rất nhiều so với giá tiền đang bán. Hãy tưởng tượng rằng những khách hàng này chính là vật làm tin để bạn nâng giá bởi vì bạn độc quyền sản phẩm đó và bởi vì họ cần nó. Bạn biết rằng bất kỳ sự nâng giá đáng kể nào đều sẽ thu hút luồng dư luận bất lợi khiến bạn phải trả giá còn nhiều hơn những gì việc nâng giá có thể mang đến. Bạn sẽ làm gì để giải bài toán này? Vào tháng tám năm 2005, Merck, một hãng dược lớn đã tìm được đáp án. Merck bán ra một loại thuốc trị ung thư hiệu quả nhưng có mức tiêu thụ chậm tên là Mustargen cùng với một loại thuốc trị ung thư thứ hai gọi là Cosmegen cho Ovation, một hãng dược nhỏ hơn.[102] Là loại thuốc hóa trị để chữa bệnh ung thư hệ bạch huyết, Mustergen được chưa đến 5.000 bệnh nhân sử dụng và mang lại cho Merck mức doanh thu chỉ vào khoảng 1 triệu đô-la hằng năm vào thời điểm nó được bán đi. Mới nhìn thì có vẻ Merck đã tìm được biện pháp hữu hiệu để loại bỏ một loại thuốc thu-hoạch-chậm ra khỏi hệ thống sản xuất bận rộn của mình. Nhưng sự thật cho thấy việc sản xuất Mustargen chưa từng là vấn đề với Merck. Sau khi bán bản quyền Mustargen và Cosmegen cho Ovation, Merck tiếp tục sản xuất hai loại thuốc này cho Ovation theo hợp đồng. Nếu việc làm ra sản phẩm với số lượng nhỏ là kém hiệu quả, tại sao Merck lại tiếp tục sản xuất Mustargen? Hãy xét đến chuyện đã
  12. diễn ra sau khi Merck hoàn tất thỏa thuận với Ovation: Ova- tion nâng giá Mustargen lên ước chừng gấp mười lần và giá của Cosmegen thì thậm chí còn tăng nhiều hơn. Thì ra Ovation thường mua các loại dược phẩm có thị trường nhỏ từ các công ty dược đang hoạt động và gặp vấn đề với dư luận liên quan đến việc tăng giá đến chóng mặt các loại thuốc mà khách hàng của họ đang có nhu cầu sử dụng. Trong một cuộc giao dịch khác, Ovation mua lại thuốc Panhematin từ Abbo Laboratories và nâng giá của nó lên gần mười lần; Abbo vẫn tiếp tục sản xuất loại dược phẩm này. Quyết định bán Mustergen và Cosmegen cho Ovation của Merck cho thấy rằng ban lãnh đạo của nó đã hy vọng được nhìn thấy các tiêu đề kiểu như “Merck bán hai loại dược phẩm cho Ovation” chứ không phải là “Merck lừa gạt các bệnh nhân ung thư, nâng giá thuốc điều trị ung thư đến 1.000 phần trăm.” Merck đã thoát khỏi vụ này như thế nào với chiến lược thông minh đó? Merck thành công bởi vì trực giác của con người không gắn kết các cá nhân và tổ chức với loại hành động đồi bại gián tiếp như thế. Ngay cả khi có dữ kiện cho thấy rõ ràng mục tiêu đồi bại của những kẻ đó thì chúng ta vẫn để cho họ lọt lưới. Lưu ý rằng chúng tôi không bình luận về nguyên tắc đạo đức của việc tăng giá thành vì nhu cầu chữa trị bệnh ung thư. Trên thực tế, chúng ta thường tin rằng lợi nhuận cao trong ngành dược phẩm giúp tạo ra hàng loạt các loại thuốc tốt mà bệnh nhân đang sử dụng. Tuy nhiên điều quan trọng là chúng ta phải nhận thức được mức độ khó khăn của việc “nhìn thấy” những hành vi gián tiếp vi phạm lề lối đạo đức của những người xung quanh; nhận thức này có thể giúp chúng ta xác định các cá nhân và tổ chức cố tình tạo ra những tấm màn che mắt dư luận. Nếu Merck đã thật sự cho rằng việc tăng giá thuốc trị ung thư lên gấp mười lần sẽ thu hút luồng dư luận trái chiều thì chúng tôi cho rằng đa số mọi người sẽ xem quyết định che giấu sự tăng giá đó qua một nhà trung gian như Ovation là một chiến lược quỷ quyệt và đồi bại. Chiến lược công khai của Merck thường thành công cũng như tất cả các chiến lược tương tự khác bởi vì công chúng và giới truyền thông rất hay thất bại trong việc chú ý đến màn chơi bẩn mà các cá nhân và tổ chức thực hiện thông qua trung gian. Đa số chúng ta đều không thành công trong việc buộc tội người khác vì những hành vi xấu xa gián tiếp của họ. Quan điểm này đã được kiểm chứng một cách cụ thể hơn bởi Max và đồng nghiệp trong một thử nghiệm nhằm tái tạo lại môi trường diễn ra câu chuyện của Merck.[103] Những người tham gia thí nghiệm đọc đoạn văn sau:
  13. Một công ty dược phẩm lớn X có một loại thuốc trị ung thư đem lại lợi nhuận thấp. Sản phẩm có chi phí cố định cao và thị trường hẹp. Tuy nhiên, những bệnh nhân đã dùng thuốc thì lại rất cần nó. Hãng dược sản xuất loại thuốc này với 2,50 đô-la/viên (bao gồm toàn bộ các chi phí) và bán ra với giá chỉ 3 đô-la/viên. Người tham gia nghiên cứu được chia thành hai nhóm. Thành viên của một trong hai nhóm được yêu cầu đánh giá tính đạo đức của hành động sau: A. Công ty dược phẩm lớn đó đã tăng giá sản phẩm từ 3 đô-la một viên lên 9 đô-la một viên. Nhóm còn lại được yêu cầu đánh giá tính đạo đức của một hành động khác: B. Công ty dược X đã bán bản quyền loại thuốc đó cho một hãng dược nhỏ hơn. Để bù lại chi phí, hãng dược Y đã tăng giá bán lên 15 đô-la một viên. Như chúng tôi dự đoán, những người đọc hành động A đánh giá hành vi của công ty dược một cách khắc nghiệt hơn những người đọc hành động B, mặc dù hành động A tạo ra ít tác động tài chính cho bệnh nhân hơn. Cần lưu ý rằng những người tham gia thí nghiệm này chỉ phản ứng với một trong hai lựa chọn chứ không phải cả hai (các nhà nghiên cứu gọi đây là “phản ứng lựa chọn tình huống” “kiểu giữa- các-đối-tượng”). Sau đó chúng tôi cho một nhóm thứ 3 xem cả hai hành động và yêu cầu họ đánh giá xem hành động nào là xấu xa hơn. Lúc này kết quả lại ngược lại: Khi họ có thể so sánh cả hai tình huống, những người tham gia nhìn nhận hành động B có vấn đề về đạo đức hơn hành động A. Kết luận này phù hợp với một nghiên cứu đáng tin cậy cho thấy cách đánh giá “đồng hành” hoặc “cùng nhau” này cho ra các nhận xét chính xác và lý trí hơn so với kiểu đánh giá “riêng rẽ” (mỗi lần một thứ). Tuy nhiên, chúng ta cũng phải nhận thấy rằng đa số những hành động có vấn đề về đạo đức trên thực tế thường xuất hiện từng cái một. Chúng tôi đã tái hiện kết quả này trong các lĩnh vực khác ngoài ngành dược, ví dụ như kiểm soát mức ô nhiễm và đất nhiễm độc.
  14. Chúng tôi liên tục nhận thấy rằng khi các thành viên tham gia nghiên cứu đánh giá một lựa chọn, họ hoàn toàn bỏ qua hành vi sai trái của một tổ chức khi nó thực hiện hành động đó thông qua trung gian. Nhưng khi họ được yêu cầu so sánh một hành động gián tiếp với một hành động trực tiếp, họ có thể nhìn thấu sự gián tiếp đó và đưa ra các đánh giá dựa trên mức độ nghiêm trọng của hậu quả gây ra bởi hành động đó.[104] Hơn thế, khi chúng tôi làm cho mục đích của hãng dược nọ khi thực hiện hành động gián tiếp đó trở nên rõ ràng hơn bằng cách khẳng định rằng hãng đã hiểu rõ hàm ý của việc bán rẻ loại thuốc đó và rằng nó sẽ mang lại lợi ích- thì những thành viên đánh giá hành động gián tiếp này một cách riêng rẽ vẫn cho rằng nó ít sai trái hơn hành động trực tiếp. Cuối cùng, một nhà kinh tế học, Luke Coffman đã biến câu hỏi của chúng tôi thành một trò chơi mang tính thí nghiệm với mục đích tìm hiểu xem những người chơi sẽ trừng phạt đối tượng thực hiện hành động sai trái một cách gián tiếp và trực tiếp như thế nào. [105] Luke đã tạo ra thứ mà anh gọi là “trò chơi bốn-nhà-cầm- quyền”. Trong một trò chơi hai người thông thường, người chơi A được trao cho một số tiền nhất định và phải lựa chọn giữa việc cho người chơi C toàn bộ, một ít hoặc không một đồng nào trong số tiền đó. Người chơi C là người nhận thụ động phụ thuộc vào quyết định của người chơi A. Trong trò chơi của Luke, người chơi A có 24 đô-la và được chọn chơi trò chơi cầm quyền này với vai trò một nhà cầm quyền với người chơi C hoặc anh ta có thể bán quyền tham gia trò chơi này cho người chơi B theo mức giá thương lượng. Nếu người chơi B mua quyền tham gia trò chơi từ người chơi A, người chơi B được trao vai trò của nhà cầm quyền và có 24 đô-la để dùng trong trò chơi với người chơi C. Giai đoạn cuối của trò chơi này là người chơi D có cơ hội để trừng phạt người chơi A (chứ không phải người chơi B) vì hành động của anh ta bằng cách cắt giảm số tiền thu được sau cùng của người chơi A. Như dự đoán, khi người chơi A lưu lại trong cuộc chơi (tức là người này không bán quyền chơi trò chơi cho người chơi B) thì người chơi D nhất định phạt người chơi A vì đã cho người chơi B số tiền ít hơn với mức phạt tương ứng với lượng tiền mà người chơi A giữ lại cho chính mình. Thú vị hơn và cũng phù hợp với những nghiên cứu của chúng tôi, khi người chơi A thực sự bán quyền chơi cho người chơi B thay vì chọn trở thành một nhà độc tài tham lam thì người chơi D lại giảm số tiền phạt một cách đáng kinh ngạc. Thế là những người tham gia đã trừng phạt người trực tiếp thực hiện hành
  15. động sai trái nặng hơn người gián tiếp thực hiện hành động sai trái. Sự chênh lệch này trở nên cân bằng khi lượng tổn hại đối với người chơi C là như nhau và trong các phiên bản sau đó, người chơi A hoàn toàn có thể dự đoán được rằng quyết định của người chơi B có tác động như thế nào đến người chơi C. Loại nghiên cứu đạo đức hành vi này cho thấy rằng bằng cách thực hiện hành động gián tiếp trong một số hoàn cảnh có thể dự đoán trước, những người cầm trịch có thể kích hoạt sự mù quáng gián tiếp của người quan sát và do đó, họ thoát được việc chịu trách nhiệm cho các thiệt hại mà họ gây ra. Thành viên của các tổ chức thường xuyên ủy thác hành vi thiếu đạo đức cho những người khác trong cùng tổ chức. Chẳng hạn như các vị quản lý bảo cấp dưới của họ “hãy làm bất kỳ điều gì” để đạt được mục tiêu sản xuất hoặc kinh doanh đồng nghĩa với việc để ngỏ cho các phương pháp sai trái hay thậm chí là đồi bại. Các công ty của Mỹ mang việc sản xuất giao cho các nhà thầu phụ rẻ tiền bên ngoài bởi vì họ ít bị ràng buộc bởi những tiêu chuẩn đắt đỏ về đạo đức lao động và môi trường. Đối tác tại các công ty kế toán nhắc nhở kiểm toán viên cấp thấp về tầm quan trọng của việc duy trì một khách hàng có hồ sơ kế toán không được tốt. Trong rất nhiều tình huống, người ta phớt lờ những ẩn ý xấu xa trong hành vi của người khác khi hành vi đó được thực hiện một cách không trực tiếp. Sau đây là một ví dụ khác. Max sống ở Boston là một người hâm mộ bóng đá lâu năm và anh không thích những kẻ gian lận. Do đó, Max đã rất thất vọng về việc xảy ra ở mùa giải bóng đá Na- tional Football League năm 2007. Năm đó đội New England Patri- ots được cho là một trong những đội bóng mạnh nhất mọi thời đại. Không may là Bill Belichick, vị huấn luyện viên được trọng vọng của đội đã đe dọa danh tiếng của đội bởi hành vi gian dối rõ ràng của mình. Khi đội Patriots đang thi đấu với đội New York Jets (một đội bóng yếu) vào đầu mùa giải 2007, Belichick đã chỉ đạo một trợ lý quay phim lại những tín hiệu phòng thủ riêng của đội Jets – một hành vi vượt rào trắng trợn như Belichick đã biết rõ.[106] Ủy viên hội đồng NFL Roger Goodell đã phạt Belichick 500.000 đô-la, phạt đội Patriots 250.000 đô-la và tước đoạt một trong những quyền lựa chọn đáng giá của Patriots trong quá trình tuyển cầu thủ mới. Rất rõ ràng, Belichick có lỗi. Thế nhưng gia tộc Kraft, người sở hữu đội Patriots thì sao? Họ thuê Belichick, khuyến khích ông giành
  16. lấy thắng lợi và không hề phê bình vị huấn luyện viên đó sau vụ việc. Đạo đức của nhà Kraft chưa hề bị chất vất bởi giới truyền thông và người hâm mộ đội Patriots không có vẻ gì là quá quan tâm đến hành động của gia tộc có danh tiếng tốt này. Sự im lặng đáng chú ý của nhà Kraft trong vấn đề này chính là một sự vô đạo đức gián tiếp và kết quả là không ai chú ý đến nó. Khi người ta ủng hộ hành động đồi bại của nhân viên dưới quyền của họ thì họ cũng đồng thời chịu trách nhiệm cho hành động đồi bại đó. Sự im lặng chứng tỏ rằng vướng mắc duy nhất của họ đối với hành động vô đạo đức đó chính là việc nó bị phát hiện. Chúng ta phải xác định rằng những nhà điều hành cấp cao có trách nhiệm với hành vi của nhân viên khi mà các bằng chứng đều cho thấy rằng công ty của họ đã dung nạp các hành vi trái đạo đức. Đáng tiếc là, nghiên cứu về đạo đức hành vi đã cho thấy hàng loạt chứng cớ rằng người ngoài cuộc không hề chú ý đến hành động xấu của những kẻ thực hiện chúng thông qua một đơn vị trung gian. Hành vi thiếu đạo đức trên triền dốc trơn trượt Có một câu chuyện dân gian thú vị rằng: nếu bạn đặt một con ếch vào một cái nồi đầy nước sôi bên trong, con ếch sẽ nhảy ra ngay lập tức. Tuy nhiên, nếu bạn đặt con ếch vào một cái nồi chỉ có nước ấm và từ từ tăng dần nhiệt độ của nước lên, con ếch sẽ không phản ứng với sự thay đổi nhiệt độ dần dần này và kết quả nó sẽ bị luộc chín. Câu chuyện này nghe có vẻ hoang đường, nhưng nó lại là một ví dụ tiêu biểu cho thất bại của hầu hết mọi người trong việc nhận ra sự phai mờ dần dần của các chuẩn mực đạo đức. Như chúng tôi đã đề cập ở chương trước, hành vi thiếu đạo đức của chúng ta thường xảy ra trên các triền dốc trơn trượt. Chúng ta thường viện cớ để biện hộ cho bản thân khi gây ra một lỗi lầm nhỏ và thường có xu hướng cho phép bản thân thực hiện những vi phạm này càng ngày càng nhiều hơn. Các nghiên cứu về đạo đức hành vi cũng chỉ ra rằng con người cũng thường không nhận ra triền dốc trơn trượt trong hành vi thiếu đạo đức của người khác. Trong câu chuyện quỹ của Bernard Ma- doff, cộng đồng đầu tư chuyên nghiệp mở rộng và Ủy ban Chứng khoán và Sàn giao dịch Mỹ (SEC) cũng không nhận thấy rằng hiệu suất từ quỹ của Madoff là không trùng khớp. Vì sao? Một phần của câu chuyện nằm ở sự thúc đẩy mù quáng. Một phần khác là vì sự gian lận này
  17. diễn ra từ từ, ít nhất là hơn chu kỳ 15 năm. Khi sự gian lận xảy ra trên một triền dốc trơn trượt, tính bất khả thi của lợi nhuận như trường hợp của Madoff thường dễ dàng bị bỏ qua. Thực tế là, con người thường lờ đi những dấu hiệu cảnh báo rõ ràng về hành vi thiếu đạo đức của người khác. Bắt đầu từ năm 1999, nhà điều tra gian lận tài chính độc lập Harry Markopolos đã không ngừng cảnh báo SEC rằng lợi nhuận từ trường hợp của Madoff không thể có được bằng cách thức hợp pháp. Nhưng tất cả những dấu hiệu đều cho thấy rằng SEC đã không nghiêm túc cân nhắc những cảnh báo chuẩn xác này. Kết quả là, sự gian lận có liên quan tới hơn 50 tỉ đô la của Madoff chỉ được phơi bày ra ánh sáng khi Madoff tự thú nhận. Giờ hãy tưởng tượng một nhân viên kiểm toán của một công ty kế toán lớn (có thể là Arthur Andersen) chịu trách nhiệm làm kiểm toán cho một công ty lớn (có thể là Enron) và rất có danh tiếng. Trong vòng ba năm, những lời tuyên bố về tài chính của khách hàng đều rất có đạo đức và có tiêu chuẩn rất cao. Kết quả là kiểm toán viên đồng ý với những tuyên bố đó và có một mối quan hệ vô cùng tốt với khách hàng của mình. Tuy nhiên, tới năm tiếp theo, công ty đã thực hiện một số hành vi vi phạm tuyên bố tài chính (đã được đề ra trước đó) khá rõ ràng, “cơi nới” và thậm chí phá luật ở một số vấn đề nhất định. Giờ hãy tưởng tượng một kịch bản khác. Lần này, kiểm toán viên đã nhận thấy đối tác “cơi nới” luật ở một số lĩnh vực ngay từ năm đầu tiên nhưng không có dấu hiệu sẽ phá luật. Năm tiếp theo, vấn đề thiếu đạo đức ở công ty này còn rõ rệt hơn nữa khi công ty thực hiện một số vi phạm nhỏ trong tiêu chuẩn kiểm toán liên bang. Năm thứ ba, các vi phạm này trở nên trầm trọng hơn. Đến năm thứ tư, công ty kiểm toán phát hiện ra họ đang phải đối mặt với các loại hình vi phạm nghiêm trọng đã được đề cập tới ở đoạn văn trước khi khách hàng của họ bất ngờ vượt ra khỏi rào chắn đạo đức. Vậy hành động nào có khả năng sẽ được các nhân viên kiểm toán của công ty thực hiện nhiều nhất trong hai trường hợp này? Ở trường hợp thứ nhất, các nhân viên kiểm toán có thể từ chối chứng nhận rằng tuyên bố tài chính đó có thể chấp nhận được theo pháp luật. Ở trường hợp thứ hai, khả năng các kiểm toán viên nhận ra được sự vi phạm pháp luật và đạo đức nghiêm trọng là thấp hơn rất nhiều (dù các vi phạm ở trường hợp này giống với các vi phạm ở trường hợp
  18. thứ nhất). Nói cách khác, các kiểm toán viên sẽ dễ dàng nhận thấy và từ chối ký vào tuyên bố ở trường hợp thứ nhất hơn trường hợp thứ hai, mặc dù các hành động thiếu đạo đức trong năm cuối cùng ở cả hai trường hợp được miêu tả là giống nhau. Trong nghiên cứu của chúng tôi với David Messick và Francesca Gino, chúng tôi phát hiện ra rằng “triền dốc trơn trượt” (một kiểu mẫu ứng xử) có thể sử dụng được để lý giải việc vì sao hầu hết mọi người đều thất bại trong việc nhận ra các hành xử đặc biệt phi đạo đức của người khác.[107] Thực hiện một nghiên cứu có một vài đặc điểm tương đồng với những người được miêu tả trong hai câu chuyện trên, chúng tôi phát hiện ra rằng con người thường ít có khả năng nhận thức được sự thay đổi trong hành vi ứng xử thiếu đạo đức của người khác nếu sự thay đổi diễn ra chậm rãi theo thời gian hơn là thay đổi đột ngột.[108] Nghiên cứu về nhận thức thị giác, chẳng hạn như câu chuyện về đoạn băng quay cảnh chuyền bóng rổ đã được chúng tôi miêu tả ở phần đầu của chương chứng minh rằng chúng ta thường xuyên thất bại trong việc nhận thức những thay đổi đang diễn ra ngay trước mắt mình.[109] Trong một nghiên cứu điều tra “thay đổi sự mù mờ” (change blindness), một nhà thí nghiệm đã cầm một quả bóng rổ và dừng những người đi bộ lại để hỏi đường. Trong lúc những người được hỏi chỉ đường, một nhóm trợ lý nghiên cứu đã đi qua chỗ người chỉ đường và người làm thí nghiệm. Khi những người này đi qua, người làm thí nghiệm đã đưa quả bóng rổ cho một người trong số họ. Sau khi người đi bộ chỉ đường xong, người làm thí nghiệm hỏi cô có nhận thấy sự thay đổi nào diễn ra khi cô đang nói không. Hầu hết những cá nhân được hỏi đều trả lời là không. Nhưng khi họ được hỏi trực tiếp rằng có nhìn thấy quả bóng rổ không, rất nhiều người nhớ lại đã có nhìn thấy quả bóng và rất nhiều người thậm chí còn có thể điểm lại những đặc điểm cụ thể của quả bóng đó. Như vậy, có thể thấy khi những người đi bộ này không thể nhận ra một cách rõ ràng một thay đổi nhỏ gia tăng với mức độ nhỏ (nhưng hiển nhiên) diễn ra, rất có khả năng họ cũng đã từng thực hiện điều tương tự nên đã hòa hợp với nó. Cũng giống như vậy, rất nhiều nhà đầu tư vào Madoff bây giờ vẫn có thể điểm lại những bằng chứng mà lẽ ra họ nên nhận ra từ rất lâu trước khi Madoff tự thú nhận tội lỗi của mình. Nghiên cứu khoa học về thay đổi sự mù mờ tập trung vào nhận
  19. thức thị giác. Con người cũng thường thất bại trong việc chú ý tới các hình thức thay đổi khác trong môi trường của họ - những hình thức thay đổi có thể dẫn đến những sai lầm đáng kể trong quá trình đưa ra quyết định với những hậu quả đạo đức tương ứng. Kết quả là, con người thường khó nhận ra sự thiếu đạo đức trong hành vi của người khác khi nó chỉ gia tăng với mức độ nhỏ - trên một triền dốc trơn trượt – hơn là khi nó xảy ra bất ngờ, một hiện tượng làm dấy lên lời cảnh báo cho chúng ta về sự xuống dốc dần của các hành vi đạo đức. Kết quả công việc quan trọng hơn Quá trình thực hiện Câu chuyện thứ nhất: Trong quá trình nghiên cứu, nhà khoa học phải quyết định xem có nên đưa những số liệu lâm sàng vào trong kết quả nghiên cứu của mình hay không. Thời gian đang rất gấp rút và kinh phí cho dự án nghiên cứu lần này không còn nhiều. Khi hạn phải tổng hợp kết quả nghiên cứu đến gần, ông nhận ra rằng bốn đối tượng nghiên cứu đã bị rút ra khỏi dự án vì lý do kỹ thuật. Dù vậy, ông vẫn tin rằng những số liệu được nghiên cứu trên bốn đối tượng này là chính xác và phù hợp với nghiên cứu của mình, do đó ông đã đưa những số liệu này vào trong cơ sở dữ liệu để phân tích. Sau khi những số liệu này được thêm vào, kết quả nghiên cứu đã có những sự thay đổi đáng kể và củng cố thêm cho nghiên cứu về sự an toàn của thuốc trong sử dụng điều trị bệnh. Không lâu sau đó, loại thuốc này được đưa ra thị trường. Chỉ trong một thời gian ngắn, công ty đã phải ra lệnh thu hồi lại toàn bộ số thuốc sau khi có 6 người tử vong và hàng trăm người bị ảnh hưởng sau khi sử dụng thuốc. Bạn có nghĩ đây là một sự vô đạo đức của nhà nghiên cứu? Câu chuyện thứ hai: Trong quá trình nghiên cứu, nhà khoa học phải quyết định xem có nên đưa những số liệu lâm sàng vào trong kết quả nghiên cứu của mình hay không. Thời gian đang rất gấp rút và kinh phí cho dự án nghiên cứu lần này không còn nhiều. Ông tin rằng sản phẩm này là an toàn và hiệu quả trong việc điều trị bệnh. Khi thời hạn nghiên cứu sắp hết, ông nhận ra rằng nếu có được số liệu nghiên cứu về tác dụng của thuốc trên 4 đối tượng nữa, kết quả nghiên cứu sẽ rõ ràng hơn. Ông
  20. quyết định làm giả số liệu để hoàn thành kết quả nghiên cứu của mình và nhanh chóng sau đó, loại thuốc này được đưa ra thị trường. Loại thuốc này đã đem lại lợi nhuận lớn cho công ty nhờ hiệu quả tích cực của nó trên người bệnh và gây ra ít tác dụng phụ. Bạn nghĩ thế nào về sự vô đạo đức của nhà nghiên cứu trong câu chuyện thứ hai? Câu chuyện nào theo bạn là không thể tha thứ được? Để hiểu được cách chúng ta nhìn nhận về vấn đề đạo đức, chúng tôi đã tiến hành thử nghiệm với hai câu chuyện này trên 2 nhóm đối tượng. Mỗi nhóm được yêu cầu đọc một câu chuyện và nêu ra suy nghĩ của mình về hành động của nhà khoa học trong trường hợp đó. [110] Nhóm đọc câu chuyện thứ nhất có thái độ chỉ trích đối với nhà khoa học trong câu chuyện rõ rệt hơn hẳn so với nhóm đọc câu chuyện thứ hai. Nhóm thứ nhất cũng cho rằng nhà khoa học trong câu chuyện cần phải bị trừng phạt một cách mạnh mẽ vì hành động vô đạo đức của mình. Dù vậy, có lẽ bạn đã nhận ra rằng, chính hành động của nhà nghiên cứu trong câu chuyện thứ 2 vô đạo đức hơn rất nhiều so với hành động của nhà nghiên cứu trong câu chuyện thứ nhất. Vậy tại sao chúng ta lại thường nhìn nhận những hành vi trong câu chuyện thứ nhất khó chấp nhận hơn so với những hành vi trong câu chuyện thứ hai? Chính thành kiến trong đánh giá về kết quả công việc là câu trả lời cho điều đó.[111] Sự thành kiến này đã khiến chúng ta tập trung chú ý vào kết quả của công việc mà bỏ qua những yếu tố bất hợp lý trong quá trình thực hiện khi đánh giá các quyết định mà người khác đưa ra. Nhà nghiên cứu về Quá trình đưa ra quyết định của con người John Baron và Jack Hershey là hai người đầu tiên thông qua nghiên cứu về một loạt các tình huống ra quyết định, từ chơi bạc cho đến nghiên cứu y tế, đã chứng minh được rằng con người thường có xu hướng đánh giá sự khôn ngoan của người đưa ra quyết định dựa trên kết quả công việc mà quyết định đó mang lại. Trong nghiên cứu độc lập của chúng tôi về những hành vi đạo đức, con người thường có xu hướng đánh giá mức độ đạo đức của hành động dựa trên việc những hành động này có gây ra những hậu quả gì không hơn là yếu tố đạo đức trong chính bản thân hành động đó.[112] Chẳng hạn như trong hai câu chuyện về nghiên cứu thuốc ở trên, chúng ta có xu hướng bị ảnh hưởng bởi thành kiến về hậu quả
  21. mà hành động mang lại hơn là bản chất hành động đó nếu chỉ được tiếp xúc với một tình huống. Rõ ràng rằng, khi chúng ta được tiếp xúc với cả hai tình huống và có so sánh, chúng ta có khả năng tránh khỏi việc tập trung quá nhiều vào kết quả công việc mà thay vào đó là nhìn nhận và đánh giá hành vi của hai nhà khoa học trong hai câu chuyện. Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm nghiên cứu đánh giá hành vi của nhà nghiên cứu trong câu chuyện thứ hai đáng bị lên án hơn so với hành vi của nhà nghiên cứu trong câu chuyện thứ nhất. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần ghi nhớ rằng, trong phần lớn thời gian, chúng ta chỉ nhìn thấy một tính huống để đánh giá mà thôi. Thế giới đã chứng kiến một cuộc tranh luận chưa có hồi kết giữa các nhà triết học về việc đánh giá tính đạo đức trong hành động. Một nhóm các nhà triết học cho rằng tính đạo đức của một sự việc nên được đánh giá dựa trên những nguyên tắc hành động trong quá trình thực hiện trong khi một nhóm khác lại cho rằng chính kết quả của sự việc là thước đo chuẩn xác nhất cho tính đạo đức của sự việc đó. Mặc dù vậy, khi chúng ta đánh giá một vấn đề dựa trên kết quả của nó mà không cân nhắc đến các cách giải quyết vấn đề khác hay tình huống xảy ra sự việc, chúng ta thường bị bỏ qua chủ ý ban đầu của người thực hiện sự việc. Chính thành kiến về kết quả của sự việc cũng được thể hiện rất rõ trong hệ thống luật pháp của chúng ta. Nhà tâm lý học Fiery Cushman và các cộng sự của mình đã nghiên cứu một vụ án giết người trong đó thủ phạm là hai anh em, Jon và Mark, cả hai đều chưa có tiền án tiền sự nhưng được biết đến là hai người vô cùng nóng tính.[113] Vụ việc xảy ra khi có một người lạ mặt vô duyên cớ đến gây sự với Jon và Mark, đồng thời sỉ nhục gia đình của hai anh em. Tức giận trước hành động này, Jon rút súng ra định bắn chết kẻ lạ mặt nhưng viên đạn đi chệch hướng và người lạ mặt vẫn bình an vô sự. Ngược lại, Ma rút súng ra chỉ nhằm mục đích dọa nạt kẻ lạ mặt nhưng phát súng vô tình giết chết kẻ lạ mặt. Cushman và cộng sự chỉ ra rằng theo hệ thống luật pháp của đa số bang trên nước Mỹ, Ma sẽ bị xử phạt nặng hơn Jon dù anh ta chỉ vô ý ngộ sát. Nói một cách khác, luật pháp quan tâm nhiều hơn đến kết quả sự việc hơn là chủ đích ban đầu của sự việc. Nhằm làm rõ hơn mối liên quan giữa thành kiến về kết quả sự việc trong hệ thống luật pháp, Cushman và cộng sự đã thực hiện một thử thách khá thú vị. Đơn giản, hãy thử tưởng tượng rằng bạn đang phải đứng giữa hai sự lựa chọn trong một cuộc chơi với một đối thủ
  22. lạ mặt. Phương án thứ nhất: Bạn tung một quân xúc xắc. Nếu bạn đổ được số một, hai, ba hoặc bốn, bạn sẽ nhận được $10 và đối thủ của bạn sẽ nhận $0. Nếu quân xúc xắc lăn ra số năm, bạn và đối thủ sẽ nhận được mỗi người $5. Nếu bạn đổ được số 6, bạn sẽ không nhận được gì trong khi đối thủ của bạn nhận được $10. Phương án thứ hai: Bạn tung môt quân xúc xắc. Nếu bạn đổ được số một, bạn sẽ nhận được $10 trong khi đối thủ của bạn không nhận được gì. Nếu bạn đổ được số hai, ba, bốn hoặc năm, bạn và đối thủ sẽ nhận được mỗi người $5. Nếu bạn đổ được số 6, bạn sẽ không nhận được gì trong khi đối thủ của bạn nhận được $10. Để ý một chút có thể thấy phương án thứ nhất là một sự lựa chọn khá “tham lam” khi mà cơ hội để người chơi có thể nhận được $10 cho bản thân nhiều hơn hẳn so với phương án thứ hai. Ngược lại với phương án thứ nhất, phương án thứ hai được coi là phương án công bằng bởi nó đưa ra 4 cơ hội để cho bạn và đối thủ của bạn có thể đều nhận được $5. Ba tình huống sau đây đều có khả năng xảy ra nhưng tùy theo lựa chọn lúc đầu của bạn. Sau khi người chơi A đã lựa chọn, quân xúc xắc được gieo và tiền thưởng được chia tương ứng cho những người chơi, Cushman và cộng sự đã yêu cầu người chơi B (người không có quyền lựa chọn quy tắc chơi) đưa ra hình phạt đối với đối thủ của mình. Trong trường hợp này, số tiền của người chơi B không bị ảnh hưởng bởi quyết định của anh ta. Kết quả nghiên cứu cho thấy, người chơi B có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến kết quả của quân xúc xắc được gieo và số tiền người chơi A nhận được khi cân nhắc các hình thức phạt hơn là lựa chọn phương án chơi của người chơi A. Ví dụ, nếu người chơi A muốn chơi một cách công bằng và lựa chọn phương án thứ hai và đổ được một, người chơi B sẽ có xu hướng phạt anh ta nặng hơn so với khi anh ta chọn phương án thứ nhất và đổ được năm. Những kết quả nghiên cứu trên đây đã chỉ ra rằng chúng ta thường có xu hướng đánh giá con người một cách phiến diện dựa trên kết quả tiêu cực của sự việc mà anh ta thực hiện. Một vấn đề khác cũng nảy sinh đó là chúng ta thường phải chờ rất lâu để đánh
  23. giá xem sự việc đó có phải là vô đạo đức hay không. Câu hỏi này chỉ có thể trả lời khi hậu quả tệ hại của sự việc đã xảy ra và lúc đó đã quá muộn để sửa chữa. Rất nhiều người trong chúng ta hiện nay đang lật lại vấn đề liệu quyết định của chính quyền Bush trong cuộc tấn công Iraq năm 2003 có phải là quyết định vô đạo đức hay không? Nghịch lý là khi cuộc chiến đang diễn ra và chiến thắng nằm ở phía Mỹ, sự chỉ trích này chỉ giới hạn trong một bộ phận nhỏ những người dân Mỹ nhưng khi quân đội Mỹ sa lầy vào cuộc chiến ở Iraq, sự chỉ trích này đã bùng lên và lan rộng. Người ta không chỉ chỉ trích về cuộc chiến mà còn lật lại vấn đề về những bằng chứng mà chính quyền Bush đưa ra nhằm châm ngòi cuộc chiến. Chính sự thành kiến trong việc đánh giá sự việc đã giải thích cho vấn đề tại sao phần lớn cộng đồng không bày tỏ thái độ đối với cuộc chiến cho đến khi họ nhìn thấy được kết quả tệ hại của nó. Sự thất bại trong việc đánh giá khía cạnh đạo đức của một vấn đề không chỉ được giới hạn trong các sự kiện lớn như chiến tranh mà trong mọi mặt của cuộc sống. Chúng ta sẽ xem xét sự thành kiến trong việc đánh giá khía cạnh đạo đức của một vấn đề trong một ví dụ về hệ thống kiểm toán tại Mỹ. Trong hàng thập kỷ, những công ty kiểm toán của Mỹ cung cấp đồng thời cả dịch vụ kiểm toán và dịch vụ tư vấn cho các khách hàng của mình. Sự kết hợp này đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến sự độc lập và tính công bằng trong quá trình thực hiện kiểm toán.[114] Rất lâu trước sự sụp đổ của Enron, đã có rất nhiều lập luận cho rằng cấu trúc dịch vụ của các công ty kiểm toán đảm bảo cho tính trung thực và đạo đức của các nhà kiểm toán viên.[115] Bỏ qua những bằng chứng rõ ràng về việc mô hình dịch vụ này đã giết chết tính độc lập và trung thực trong hệ thống kiếm toán, chỉ đến sau thất bại của Enron, WorldCom, Tyco cùng một loạt các công ty kiểm toán lớn khác, chính quyền Mỹ mới bắt đầu vào cuộc và thừa nhận rằng chính cấu trúc dịch vụ mà các công ty kiểm toán đang cung cấp là nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến tính độc lập của các kiểm toán viên. Nói một cách khác, chỉ đến khi những hậu quả xấu đã trở nên quá rõ ràng, những người đại diện luật pháp mới có những hành động can thiệp và ngăn chặn. Nhưng không phải lúc nào những hành động ngăn chặn này cũng có thể giải quyết được cốt lõi của vấn đề. Chúng ta sẽ nghiên cứu những nguyên nhân đó trong chương 7 của quyển sách này. Chính thành kiến trong việc đánh giá tính đạo đức của vấn đề cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến các nghiên cứu về sự cảm thông
  24. của cộng đồng với các nạn nhân trong các vụ việc. “Hiệu ứng nạn nhân với danh tính xác thực” thường được dùng để mô tả hiện tượng cộng đồng có xu hướng dành nhiều sự cảm thông hơn cho những nạn nhân có danh tính được xác định hơn là những nạn nhân vô danh tính. Chúng ta thường quan tâm và bày tỏ sự lo lắng nhiều hơn đối với những nạn nhân có danh tính xác thực dù những gì chúng ta biết về họ là vô cùng ít ỏi (ví dụ: tên hoặc quê quán. Hãy thử tưởng tượng rằng chúng ta đang phải đánh giá mức độ vô đạo đức của hành vi tội ác trong ba tình huống: nạn nhân có danh tính xác thực, nạn nhân không thể xác thực danh tính và không có nạn nhân liên quan trong sự việc. Rõ ràng rằng, chúng ta thường thất bại trong việc xác định một hành động là vô đạo đức nếu không có nạn nhân nào bị ảnh hưởng bởi hành động đó. Tương tự với điều đó, chúng ta thường có cái nhìn nghiêm khắc hơn đối với những hành động gây ảnh hưởng đến các nạn nhân có danh tính xác thực hơn là các hành động gây ảnh hưởng đến các nạn nhân vô danh. Một lần nữa, việc đánh giá tính đạo đức của một hành vi bị ảnh hưởng bởi kết quả mà hành vi đó gây ra, trong trường hợp này là danh tính của nạn nhân dù người thực hiện hành vi và bản chất hành vi là không có gì khác biệt. Câu chuyện của Noreen Harrington, một CỰU NHÂN VIÊN chiến binh Goldman Sachs, người đã tố cáo xì căng đan gian lận trong việc thực hiện giao dịch muộn giữa các Quỹ tương hỗ đã chứng tỏ rằng yếu tố vô danh của các nạn nhân trong hành vi vô đạo đức chính là một trong những điều kiện để các hành vi này tiếp tục diễn ra trong thời gian dài mà không bị tố giác.[116] Vụ gian lận xảy ra liên quan đến hai hành vi: Một là việc giao dịch muộn một cách bất hợp pháp với các lệnh giao dịch được đặt sau 4 giờ chiều (khi sàn giao dịch đã đóng cửa) nhưng vẫn sử dụng giá tại sàn trước 4 giờ chiều. Hai là thời gian mở cửa sàn giao dịch bao gồm việc tận dụng giá thông qua sự khác biệt giữa các múi giờ trong giao dịch quỹ quốc tế, một hành vi hợp pháp nhưng có thể vi phạm các quy tắc Quỹ bởi nó thường đem lại lợi nhuận cho một số nhỏ các nhà giao dịch trên sàn giao dịch được tạo ra từ thiệt hại của các cổ đông lâu dài. Harrington cho biết rằng trước khi quyết định tố cáo vụ việc, bà nhìn nhận nó là “một hành vi vô danh tính đó là cách chúng tôi nhìn nhận những hành vi này. Việc nó ảnh hưởng đến ai với hậu quả như thế nào thật sự rất mơ hồ”. [117] Cách nhìn nhận này đã thay đổi khi chị gái của Harrington đến hỏi lời khuyên của bà về tài khoản 401(k) của mình. Chị gái của Har- rington, người được bà miêu tả là một trong những người làm việc
  25. chăm chỉ nhất mà bà từng biết, lo lắng rằng những khoản lỗ mà bà ấy phải chịu từ tài khoản hưu sẽ khiến bà ấy phải tiếp tục làm việc để kiếm sống. Đột nhiên, Harrington “nhìn nhận sự việc dưới một luồng sáng mới”, bà giải thích “Tôi nhìn thấy sự việc một cách rõ ràng hơn, đó không còn là một hành vi vô danh tính nữa bởi tôi nhìn thấy khuôn mặt chị gái tôi và rồi tôi nhìn thấy khuôn mặt của hàng nghìn người nữa, những người chỉ sống dựa vào tài khoản 401(k). Tại thời điểm đó, tôi cảm thấy mình cần phải đứng ra lấy lại công bằng và giúp cho những người làm luật nhìn thấy những sự bất công đang diễn ra hàng ngày ở đây”.[118] Ngay cả trong ngành giáo dục, thành kiến trong việc đánh giá tính đạo đức của một hành vi cũng khá rõ rệt. Trong phần thảo luận tại chương 3, chúng ta đã nói về việc các trường đại học có chính sách cho phép những sinh viên có mối quan hệ thân quen vào nhập học dù không đủ điều kiện dự tuyển. Thật bất ngờ là chỉ có một bộ phận rất nhỏ của cộng đồng lên án các chính sách này và cho rằng việc nhập học này là hoàn toàn vô lý. Sự thờ ơ của cộng đồng đối với sự việc này được cho là do danh tính của những nạn nhân, trong trường hợp này là những sinh viên bị từ chối nhập học dù đủ điều kiện đầu vào, không thể xác định rõ ràng. Chính bởi sự “vô danh tính” này mà phần đông mọi người sẽ không nhìn nhận được mức độ tác động tiêu cực của sự việc và những hành vi vô trách nhiệm này thường được cho qua mà không bị đánh giá. Ngay cả khi chúng ta nhận thức được hậu quả tiêu cực mà những chính sách này gây ra, chúng ta cũng thường đánh giá thấp mức độ nghiêm trọng của những hành vi này do sự mơ hồ về đối tượng bị ảnh hưởng bởi những chính sách đó. Những nghiên cứu về hành vi đạo đức củng cố luận điểm rằng phần đông chúng ta đều muốn hành động một cách đạo đức. Mặc dù vậy, chúng ta vẫn thường bị vướng vào những hành vi thiếu đạo đức bởi những thành kiến tác động đến quyết định của chúng ta, những thành kiến mà đôi khi chính chúng ta cũng không nhận ra. Như đã trình bày trong chương này, những thành kiến đó không chỉ gây ảnh hưởng đến hành động của chính chúng ta mà còn đến khả năng phán xét khía cạnh đạo đức trong hành vi của những người xung quanh. Dựa trên cái nhìn tổng quát về những đánh giá sai lầm trong khía cạnh đạo đức của sự việc mà con người có thể mắc phải, trong 3 chương tiếp theo, chúng ta sẽ sử dụng những kiến thức này để khám phá những tác động mà nó có thể gây ra cho tổ chức và xã hội cũng như cách thức để có thể thay đổi những sai lầm đó.
  26. • Con người cũng thường thất bại trong việc chú ý tới các hình thức thay đổi khác trong môi trường của họ - những hình thức thay đổi có thể dẫn đến những sai lầm đáng kể trong quá trình đưa ra quyết định với những hậu quả đạo đức tương ứng. • Con người thường có xu hướng đánh giá mức độ đạo đức của hành động dựa trên việc những hành động này có gây ra những hậu quả gì không hơn là yếu tố đạo đức trong chính bản thân hành động đó. • Những nghiên cứu về hành vi đạo đức củng cố luận điểm rằng phần đông chúng ta đều muốn hành động một cách đạo đức. Mặc dù vậy, chúng ta vẫn thường bị vướng vào những hành vi thiếu đạo đức bởi những thành kiến tác động đến quyết định của chúng ta, những thành kiến mà đôi khi chính chúng ta cũng không nhận ra. ___ Chú thích: [98] D. A. Moore, L. Tanlu, và M. H. Bazerman (2010), “Conflict of Inter- est and the Intrusion of Bias” (Xung đột lợi ích và sự xâm nhập của tính thiên lệch). [99] Babcock và Loewenstein 1997. [100] (Thuật ngữ dùng trong môn bóng chày) cú đánh cho phép người đánh bóng chạy quanh tất cả các điểm quy định trên sân để ghi điểm mà không dừng lại.(Chú thích biên tập) [101] T. Farragher (14/12/2002), “Admission of Awareness Damning for Law” (Tạm dịch: Sự xuất hiện nhận thức tổn hại đến luật pháp). [102] A. Berenson (12/3/2006), “A Cancer Drug’s Big Price Rise Disturbs Doctors and Patients” (Tạm dịch: Sự tăng giá của thuốc chữa ung thư gây khó khăn cho bác sĩ và bệnh nhân), New York Times. [103] N. Paharia, K. S. Kassam, J. D. Greene, và M. H. Bazerman (2009), “Dirty Work, Clean Hands: The Moral Psychology of Indirect
  27. Agency” (Tạm dịch: Công việc bẩn thỉu, bàn tay sạch sẽ: Tâm lý đạo đức học trong các cơ quan không trực tiếp). [104] Paharia et al 2009. [105] L. Coffman (2010), “Intermediation Reduces Punishment and Reward” (Tạm dịch: Khoảng trung gian giữa thưởng và phạt bị bó hẹp). [106] “Belichick Fined” (14/9/2007), Mike and Mike in the Morning, ESPN. com audio podcast. [107] Tenbrunsel và Messick 2004; Gino và Bazerman 2009. [108] Gino và Bazerman 2009. [109] D. J. Simons (2000), “Current Approaches to Change Blindness” (Tạm dịch: Những cách tiếp cận mới nhất để thay đổi sự mù mờ). [110] F. Gino, D. A. Moore, và M. H. Bazerman (2010), “No Harm, No Foul: The Outcome Bias in Ethical Judgments” (Tạm dịch: “Không nguy hại, không bốc mùi: Kết quả của sự thiên lệch trong đánh giá đạo đức). [111] J. Baron và J. C. Hershey (1988), “Outcome Bias in Decision Evalua- tion” (Tạm dịch: Kết quả của tính thiên lệch trong đánh giá quyết định). [112] Gino, Moore và Bazerman 2010. [113] F. A. Cushman, A. Dreber, Y. Wang và J. Costa (2009), “Accidental Outcomes Guide Punishment in a ‘Trembling Hand’ Game” (Tạm dịch: Những kết quả tình cờ dẫn đến việc trừng phạt trở thành trò “Bàn tay run rẩy”). [114] D. Moore, P. Tetlock, L. Tanlu và M. H. Bazerman (2006), “Conflicts of Interest and the Case of Auditor Independence: Moral Seduction and Strategic Issue Cycling” (Tạm dịch: Xung đột lợi ích và trường hợp kiểm toán viên độc lập: Sự dụ dỗ đạo đức và chiến lược vòng tròn).
  28. [115] M. H. Bazerman và M. D. Watkins (2004), Predictable Surprises: The Disasters You Should Have Seen Coming and How to Prevent Them (Tạm dịch: Những dự đoán bất ngờ: Thảm họa bạn lẽ ra phải thấy và làm cách nào để phòng tránh chúng). [116] Small và Loewenstein 2003 [117] Chatzky 2004. [118] Cha ky 2004.
  29. Chương 6 ĐẶT NHẦM HY VỌNG VÀO “TỔ CHỨC ĐẠO ĐỨC” Năm 2009, Sinh viên MBA năm thứ hai khóa 33 của trường Kinh tế trực thuộc Đại học Harvard đã viết một bản tuyên thệ và yêu cầu những sinh viên khác ký vào. Những người đã ký đã đồng ý với những điều khoản mà bản tuyên thệ ấy đặt ra: Sau khi tốt nghiệp và trở thành quản lý, họ sẽ cống hiến hết mình cho những lợi ích của khách hàng, hành xử có đạo đức cũng như chế ngự được những ý muốn cá nhân để đặt lợi ích của tổ chức nơi họ hoạt động lên trên (xem bản tuyên thệ ở dưới). Chỉ trong vài tuần, đã có hơn một nửa số sinh viên theo học bằng MBA vào năm 2009 ở Đại học Harvard đồng ý ký vào bản tuyên thệ. Rất nhanh sau đó, tin tức về bản tuyên thệ này lan ra khắp nơi, thu hút được một lượng lớn chữ ký không chỉ của các sinh viên học bằng MBA ở Harvard mà còn từ rất nhiều sinh viên của các trường khác cũng theo học bằng này trên thế giới. Có ý kiến cho rằng bản tuyên thệ này là một dấu hiệu hứa hẹn đến từ một thế hệ MBA mới – họ sẽ không mắc phải những vụ xì căng đan đã từng đình đám một thời trong quá khứ (như vụ Bernard Madoff hay tiền thưởng AIG) nữa và chính họ cũng sẽ là người mở ra một kỷ nguyên mới của sự hợp tác cộng đồng có trách nhiệm. Mặc dù việc bản tuyên thệ đó thu hút được sự chú ý của đông đảo sinh viên là một điều rất có giá trị trong vấn đề đạo đức kinh doanh, bản tuyên thệ cũng vấp phải những ý kiến phê bình. “Nó chẳng có giá trị gì cả”, Sco Holley, một sinh viên tốt nghiệp hệ MBA của Harvard vào năm 2009 và cũng là một người đã ký bản tuyên thệ chia sẻ với tờ Bussiness Week: “Muốn ký thì cứ ký, và thế là xong”. Không chỉ cho rằng bản tuyên thệ này sẽ không có nhiều ảnh hưởng đối với cách hành xử của các nhà quản lý, Hol- ley còn nghĩ nó sẽ trở thành một bằng chứng của sự đạo đức giả nếu một trong những người từng ký vào đó dính líu tới những vụ xì căng đan liên quan đến vấn đề đạo đức sau này. Holley còn tiên đoán rằng những người ký vào bản tuyên thệ đó mới chính là những người ít có khả năng sẽ thực hiện nó nhất. Những người phê bình khác cũng chỉ ra rằng những quy định trong
  30. bản tuyên thệ có phạm vi quá rộng và điều này có thể dẫn đến những xung đột về mục tiêu chẳng hạn như cân bằng lợi ích của các cổ đông với vấn đề bảo vệ môi trường – một trong những tình huống rất khó giải quyết. Còn có ý kiến cho rằng bản tuyên thệ có thể sẽ gây ra tranh cãi nếu những người điều hành tổ chức đưa ra những quyết định thiếu đạo đức và làm lu mờ đi những chủ ý tốt của những cá nhân quản lý khác. BẢN TUYÊN THỆ MBA Là một nhà quản lý, mục tiêu của tôi là đưa ra những phương thức phục vụ tốt nhất bằng cách kết hợp con người và những nguồn tài nguyên để tạo ra những giá trị mà không một cá nhân nào có thể tạo ra nếu làm việc đơn lẻ một mình. Vì vậy tôi sẽ tìm kiếm một khóa học nhằm tăng cường những giá trị mà doanh nghiệp của tôi có thể đem đến cho cộng đồng trong tương lai xa. Tôi nhận ra rằng những quyết định của mình sẽ có ảnh hưởng lâu dài đến sự thịnh vượng của mỗi cá nhân cả trong lẫn ngoài doanh nghiệp của tôi. Tôi cũng hiểu rằng khi tìm cách dung hòa lợi ích của mỗi cử tri, tôi sẽ phải đối mặt với những lựa chọn khó khăn không chỉ với tôi mà còn với cả những người khác. Vì vậy Tôi xin hứa: • Sẽ luôn đề cao tính toàn vẹn trong hành động cũng như đạo đức nghề nghiệp trong công việc. • Sẽ luôn bảo vệ lợi ích của các cổ đông, đối tác, khách hàng và cộng đồng tôi làm việc. • Sẽ luôn giữ vững lòng tin khi quản lý doanh nghiệp của mình, tránh đưa ra những quyết định cũng như có những hành động có thể thỏa mãn tham vọng của cá nhân tôi nhưng gây hại đến doanh nghiệp cũng như cộng đồng mà doanh nghiệp của tôi đang phục vụ. • Sẽ hiểu, phát huy toàn diện và tuân thủ luật pháp cũng như các điều khoản trong hợp đồng của doanh nghiệp. • Sẽ luôn chịu trách nhiệm cho hành vi của mình cũng như đại diện cho mọi hoạt động và các nguy cơ của doanh nghiệp một cách chính xác và thành thật nhất.
  31. • Sẽ luôn nỗ lực hoàn thiện bản thân cũng như giám sát quá trình tiến bộ của các nhà quản lý khác để doanh nghiệp luôn phát triển và tiếp tục đóng góp vào sự thịnh vượng của cộng đồng. • Sẽ luôn phấn đấu để tạo ra một nền kinh tế, một cộng đồng, một môi trường bền vững và thịnh vượng toàn cầu. • Sẽ luôn có trách nhiệm với đồng nghiệp và họ cũng sẽ có trách nhiệm với tôi thông qua sự ràng buộc bởi bản tuyên thệ này. Tôi vinh dự được chấp nhận mọi điều khoản trong bản tuyên thệ này một cách tự nguyện.[119] Việc xuất hiện những lời phản đối bản tuyên thệ này có thể là do rất nhiều công ty và tổ chức đã tiêu tốn hàng nghìn đô-la vào việc cải thiện đạo đức cho nhân viên của họ. Các chương trình cải thiện đạo đức, bao gồm các sáng kiến như thay thế các bộ quy tắc ứng xử, các cơ quan thanh tra, rèn luyện đạo đức đều được tạo ra để truyền đạt giá trị của các tổ chức cũng như những quy tắc đạo đức tiêu chuẩn mà những tổ chức này muốn nhân viên của mình hiểu được. Thêm vào đó, các chương trình đánh giá mức độ tuân thủ luật lệ (compliance programs), một phần quan trọng của chương trình giáo dục đạo đức được tạo ra để đảm bảo các tổ chức tuân thủ đúng các quy định về mặt đạo đức của Chính phủ. Để đáp lại những vụ xì căng đan đạo đức trong những năm 90, Chính phủ đã ngay lập tức cho ban hành Luật Sarbanes – Oxley[120] vào năm 2002, yêu cầu tất cả 9.000 công ty, tổ chức công khai hoạt động trên nước Mỹ thuê vệ sĩ hoặc các “cán bộ an ninh” (compli- ance officers) – một vị trí mà trước năm 2002 chưa bao giờ có. Tại Sun Microsystems, người đứng đầu đội “cán bộ an ninh” đã thực hiện “Trại huấn luyện tinh thần” (boot camps) về đạo đức cho mọi nhân viên trong công ty, tập trung vào vấn đề đạo đức kinh doanh và việc thực thi đúng Luật Sarbanes – Oxley. Công ty đã phát triển và dịch các nội dung các khóa học trực tuyến về việc tuân thủ quy định này ra ít nhất 9 thứ tiếng trong liên bang. Toàn bộ 32.000 nhân viên của Sun Microsystems đều được yêu cầu tham gia khóa học bắt buộc đầu tiên trong lịch sử công ty này. Việc chủ động sử dụng hệ thống đánh giá mức độ tuân thủ luật lệ để cải thiện vấn đề đạo đức trong các tổ chức đã không còn chỉ bó hẹp trong các công ty giao dịch trên phố Wall. Một trường Đại học Thể
  32. dục Thể thao phát biểu: “Các “cán bộ an ninh” giờ đã trở thành nhân viên quan trọng nhất của bộ phận Thể thao” (trích từ tờ New York Times).[121] Ở một thế giới mà sự vi phạm các luật dành cho sinh viên và sự vi phạm nội quy của các huấn luyện viên, cầu thủ và trường học có thể gây ảnh hưởng nặng nề thì việc đảm bảo sự tuân thủ luật tuyệt đối đã trở thành nhiệm vụ hàng đầu. Cái giá phải trả cho các hoạt động tư pháp này không hề rẻ. Một cuộc nghiên cứu diễn ra trên 217 công ty lớn đã chỉ ra rằng cứ mỗi một tỉ đô-la lợi nhuận thu được, công ty sẽ phải bỏ ra một triệu đô- la cho các hoạt động liên quan đến pháp luật. Ở Sun Microsystems, chi phí phải trả cho các hoạt động này (bao gồm thời gian nhân viên bỏ ra để theo học các khóa đào tạo trách nhiệm, lương cho các kế toán và kiểm toán viên cũng như chi phí các trưởng phòng phải chịu) là xấp xỉ trên 6 triệu đô/một năm. Nếu những nỗ lực này mang lại kết quả thì có thể rất nhiều người sẽ nói rằng số tiền chỉ như “muối bỏ bể” so với lợi nhuận các công ty thu được từ hoạt động của mình đã được sử dụng rất hợp lý. Nhưng tất cả vẫn chỉ là “nếu như”. Như chúng tôi đã nhấn mạnh, dù đã bỏ ra rất nhiều thời gian, tiền bạc, nỗ lực cũng như các ban hành các đạo luật mới, những hành vi thiếu đạo đức vẫn có chiều hướng gia tăng. Kết quả thật đáng thất vọng này đã được dự báo từ sớm. Dù có soạn ra một bản tuyên thệ hoàn hảo đến đâu, có thực hiện nhiều chương trình giáo dục đạo đức như thế nào, tất cả vẫn sẽ chỉ là vô dụng nếu khía cạnh đạo đức giới hạn không được chú ý tới. Vấn đề của các chương trình giáo dục đạo đức chính là nó cho rằng một khi nhân viên đã nhận thức được các quy định thì họ sẽ biết phải làm thế nào để thực hiện chúng. Như đã đề cập đến ở chương 3 và 4, đạo đức giới hạn và sự suy đồi đạo đức có thể được “nhìn” thấy khi các hành vi đạo đức và sự tuân thủ luật pháp hay luật lệ có liên quan đến nhau trong những tình huống được đề ra. Bản tuyên thệ, hệ thống đánh giá mức độ tuân thủ luật lệ và rất nhiều cố gắng mang tính tổ chức nhằm nâng cao khả năng hành xử có đạo đức thực tế không chỉ không đạt được mục đích của mình mà ngược lại còn góp phần gia tăng tỉ lệ xuất hiện của các hành vi thiếu đạo đức. Vì sao lại như vậy? Vì những người xây dựng những hệ thống này thường có xu hướng lờ đi khả năng hệ thống của họ có thể vô tình gây ảnh hưởng lên các hành vi thiếu đạo đức. Những cố gắng ấy trở nên vô nghĩa bởi cách mà mỗi cá nhân phản ứng với các phần
  33. thưởng hoặc hình phạt và thậm chí vẫn là chưa đủ khi chúng ta có thể tạo ra một chương trình khác giúp đưa những cách ứng xử đó vào thực tế. Các chương trình đào tạo đạo đức “quy chuẩn” và tuân thủ hệ thống tư pháp chỉ đại diện cho một phần gọi là “cơ sở đạo đức” (ethical infrastructure) của các tổ chức. Hệ thống ngầm chính thức bao gồm những luật không chính thống và các áp lực có thể tác động đến cách hành xử của nhân viên nhiều hơn bất cứ một loại nỗ lực “bề nổi” nào. Để khám phá thêm về phản ứng của mỗi cá nhân trước những ưu đãi của hệ thống đánh giá mức độ tuân thủ luật lệ, đạo đức hành vi học đã đào sâu vào bên trong các tổ chức: bỏ qua những chương trình đào tạo đạo đức chính thống để tiến đến những hệ thống không chính thức – hệ thống đã dạy cho mỗi nhân viên biết kiểu hành vi họ thực sự được mong chờ phải thể hiện là gì. Hệ thống trao thưởng méo mó Để hiểu được những sai sót trong hầu hết các chương trình đào tạo đạo đức của các tổ chức, hãy thử suy xét trường hợp sau đây: một ông bố đang cố gắng khuyến khích con gái mình tự dọn dẹp giường mỗi sáng sớm. Mỗi lần cô bé tự dọn giường, ông sẽ tặng cho cô một ngôi sao và sau đó cô bé có thể đổi những ngôi sao với bố để lấy tiền mua đồ chơi. Ông bố rất tự hào về cách làm này và thực sự thì nó cũng có tác dụng: cô bé đã tự dọn giường mỗi ngày. Nhưng không lâu sau đó, ông nhận ra rằng cô bé – người chịu trách nhiệm việc đổ rác trong nhà – không còn đổ rác thường xuyên nữa. Thêm một vài lần quan sát, ông bố còn nhận ra thêm rằng cô bé không thực sự dọn giường: cô chỉ phủ tấm chăn lên trên và làm như là đã dọn mà thôi. Cũng giống như việc treo thưởng cho trẻ khi trẻ làm việc nhà, mục đích của những chương trình giáo dục đạo đức thông thường – giảm thiểu các hành vi thiếu đạo đức và gia tăng các hành vi đạo đức – là đáng khen ngợi nhưng cũng có một vài điểm cần phản đối. Hệ thống trao thưởng của các chương trình này được xây dựng trên tiền đề của các nghiên cứu về thiết lập mục tiêu: Con người tìm kiếm thông tin về các hành vi sẽ được đánh giá cao (được trao thưởng) và cố gắng thể hiện mình có thể thực hiện tốt các hành vi đó. Những mặt bất lợi của mục tiêu đã bị lờ đi dẫn đến những kết quả nguy hiểm. Trên thực tế, những mục tiêu này có thể tạo ra những sai lầm mang tính hệ thống. Đặc biệt là chúng có thể khuyến khích nhân viên: 1. Quá tập trung vào mục tiêu và bỏ qua mọi yếu tố khác nằm
  34. ngoài phạm vi mục tiêu. 2. Thực hiện những hành vi nguy hiểm. 3. Quá tập trung vào các động lực bên ngoài mà quên đi nội lực bên trong. 4. Điều mà chúng tôi cho rằng quan trọng nhất là thực hiện nhiều hành vi thiếu đạo đức hơn bình thường.[122] Hãy thử xem xét một tình huống khác: cuộc khủng hoảng kinh tế gần đây và sự liên quan của nó với hệ thống trao thưởng sai lầm. Việc Tổng thống Bill Clinton muốn gia tăng số lượng người sở hữu nhà bằng cách trao thưởng cho những người mua nhà và cho vay tiềm năng là một ví dụ. Hệ thống quản lý của Clinton đã “đi một con đường dài và lố bịch” để thực hiện mục tiêu này tại Mỹ, thúc đẩy hình thức thanh toán theo hình thức đặt cọc một số tiền tương đối nhỏ để ép người cho vay trao các khoản nợ thế chấp cho những người mua không đủ tiêu chuẩn, theo như lời của Peter Coy – biên tập tờ Bussiness Week. “Giờ thì đã rõ ràng rằng sự suy đồi của hệ thống cho vay tiêu chuẩn đã “thổi” giá lên do nhu cầu của người dân tăng cao.” Coy viết, “Và sau đó là dẫn đến làn sóng vỡ nợ của những người mà lẽ ra ngay từ đầu đã không nên mua nhà.”[123] Sự gia tăng số lượng người sở hữu nhà ở Mỹ có thể là một thành công đáng khen ngợi, nếu như cách thức thực hiện có đạo đức hơn. Nhưng Clinton và những người cùng thúc đẩy dự án này đã bỏ qua tình huống là mục tiêu này có thể thay đổi cách hành xử của con người theo hướng ít được mong đợi. Trong trường hợp này, việc mục tiêu gia tăng số lượng người sở hữu nhà đã vô tình thúc đẩy các hành vi cho vay thiếu đạo đức của các ngân hàng và các quyết định mang tính nguy hiểm của khách hàng. Những hệ thống trao thưởng nhân tạo bắt buộc bao gồm mức hứng thú thấp và hình thức thanh toán đặt cọc chính là nguyên nhân của những quyết định tồi tệ xuất hiện ào ạt trong thời kỳ này. Một ví dụ mang tính lịch sử hơn của việc chính phủ đã cố gắng chủ động trong việc gia tăng các hành vi đạo đức và giảm thiểu các hành vi thiếu đạo đức là sự thông qua False Claims Act (Luật Quy Tam) vào năm 1863 của Quân đội Mỹ nhằm trừng phạt các hành vi
  35. gian lận của các nhà thầu trong cuộc nội chiến. Đạo luật này cho phép các cá nhân và tổ chức không nằm trong Chính phủ Mỹ nộp đơn tố cáo các cá nhân và các tổ chức liên bang mà họ cho rằng có dính líu trực tiếp hoặc gián tiếp đến các hành vi gian lận với Chính phủ. Mục đích của đạo luật này là khuyến khích công dân trở thành một “kiểm soát viên” (whistleblower) giúp Chính phủ giảm thiểu những hành vi thiếu đạo đức mà họ không nhận ra. Ngay khi một “kiểm soát viên” nộp đơn cáo buộc những hành vi phạm pháp của một tòa án Mỹ, Bộ Tư pháp Mỹ sẽ lập tức tiến hành điều tra và quyết định cách hành xử trong trường hợp này. Luật Quy Tam quy định “kiểm soát viên” sẽ được hưởng một số phần trăm nhất định (30%) từ số tiền mà Chính phủ thu hồi lại được. Số tiền thưởng này có thể khá lớn: trong một vụ cáo buộc TRW ngăn chặn các nhà khoa học tiết lộ thông tin về những sản phẩm điện tử bị lỗi mà công ty đã bán cho chính phủ, số tiền thu được là 325 triệu đô, trong đó 48,8 triệu đô được trao cho “kiểm soát viên” và luật sư của người đó.[124] Có thể thấy rõ rằng mục đích của Luật Quy Tam là đúng đắn. Nó được đề ra để khuyến khích công dân dám dấn thân vào các nguy hiểm mang tính cá nhân hoặc rộng hơn để tố cáo sai phạm của các tổ chức. Tuy nhiên, việc trích tiền thưởng từ tổng số tiền thiệt hại thu được có thể khiến những “kiểm soát viên” chần chừ trong việc nộp đơn tố cáo, tức là gián tiếp tiếp tay cho những sai phạm đó để tăng thêm số tiền phi pháp phát sinh và như thế khi họ tố cáo, họ sẽ được hưởng nhiều tiền thưởng hơn.[125] Chính vì khả năng tham nhũng tiềm tàng trong hệ thống trao thưởng sai lầm này, những bản tố cáo hành động phi pháp thực tế còn làm tăng thêm số lượng hành vi thiếu đạo đức. Những người lãnh đạo các tổ chức cũng như chính quyền có trách nhiệm phân tích xem nhân viên và công dân thường sẽ phản ứng thế nào với những hệ thống khuyến khích có chủ đích (pro- posed incentive systems). Nhưng giống như những ví dụ trên đây đã chứng minh, những người xây dựng hệ thống thường thất bại trong việc nhận thấy rằng những nỗ lực để hoàn thành mục tiêu được đề ra có thể dẫn đến việc con người đưa ra những quyết định thiếu đạo đức ở những phạm trù khác. Hệ thống trao thưởng có thể khuyến khích thái độ “bằng bất cứ giá nào” – một chất xúc tác rất mạnh dẫn đến các hành vi thiếu đạo đức. Những hệ thống này có thể rất hiệu quả khi thu hút sự chú ý của con người đến thẳng phần “kết quả” – phần
  36. thưởng họ nhận được nhờ tuân thủ đúng các luật lệ và sự hợp tác và khiến họ lờ đi cách thức mình đã thực hiện để đạt được kết quả đó. Như đã tranh luận ở chương 5, hệ thống thi đấu và trao thưởng của MLB đã khuyến khích các HLV và các cầu thủ chiến thắng bằng bất cứ giá nào và dẫn đến việc lạm dụng chất kích thích ở rất nhiều cầu thủ. Trong rất nhiều năm trước đó, các cầu thủ thu được lợi nhuận rất ít từ các thành tích của mình rất hiếm và thậm chí không hề có nguy cơ sử dụng chất kích thích. Các công ty tác động đến vấn đề đạo đức theo hàng nghìn cách khác nhau, rất nhiều cách trong số đó không có sự liên quan rõ ràng đến vấn đề đạo đức cho đến khi những hành vi thiếu đạo đức xuất hiện và trở nên phổ biến. Hãy cân nhắc trường hợp xảy ra vào những năm đầu thập niên 90 khi Sears giao cho các kỹ sư ô tô của mình mục tiêu thu được 147 đô-la/ giờ. Để có thể hoàn thành mục tiêu này, các kỹ sư đã tư vấn những vấn đề ngoài lĩnh vực của mình và bán cho các khách hàng những món đồ để sửa chữa không cần thiết. Sau khi vụ xì căng đan này bùng nổ, giám đốc của Sears – Edward Brennan – đã thừa nhận rằng “mục tiêu này đề ra khiến những kỹ sư không thể tránh khỏi sai sót trong công việc.” Việc trả lương theo giờ cho các hoạt động kiểm toán, tư vấn của các công ty luật cũng tạo ra hành động sai trái tương tự. Tất cả các nhân viên đều quá chú tâm vào các dự án đắt đỏ và không cần thiết để có thể đạt được số giờ làm việc đúng như mục tiêu của họ. Nhà tâm lý học Bary Staw và Richard Boe ger đã chứng minh một cách thuyết phục về những điều sẽ xảy ra nếu một cá nhân quá tập trung vào một mục tiêu nào đó.[126] Ông yêu cầu những sinh viên hãy biên tập lại một đoạn văn sẽ được sử dụng trong tài liệu để quảng bá trường đại học kinh tế. Trong đoạn văn đó sẽ có những lỗi sai về ngữ pháp và nội dung câu từ. Một vài sinh viên (nhóm A) được bảo rằng “hãy cố gắng hết sức” khi sửa chữa lỗi sai. Những người khác (nhóm B) được nhắc rằng chỉ cần tập trung sửa các lỗi sai ngữ pháp. Những người nghiên cứu thấy rằng nhóm A hoàn thành công việc xuất sắc hơn nhóm B. Một mục tiêu hẹp – ở trường hợp này là chỉ tìm lỗi sai ngữ pháp – đã khiến những người trong nhóm B vô tình bỏ qua các lỗi sai về nội dung câu từ. Trong hệ thống Y tế của Mỹ, mục tiêu chính của những công ty bảo hiểm y tế là lợi nhuận. Các công ty đã có sai sót về mặt đạo đức trong quá trình thực hiện mục tiêu này, chẳng hạn như hệ thống
  37. chăm sóc sức khỏe di động. Khoảng giữa năm 2009, trong quá trình cải cách lại hệ thống Y tế, Tổng thống Barack Obama đã phát biểu trước Quốc hội chỉ trích các công ty bảo hiểm chỉ quan tâm đến những khách hàng còn khỏe mạnh và lờ đi những người đang mắc bệnh hoặc ốm yếu. Ông chỉ ra trường hợp của Robin Be- aton, một người phụ nữ sống ở bang Texas đã bị công ty bảo hiểm hoãn lịch phẫu thuật ung thư vú vì cô đã quên không nói rằng gần đây cô đã đến gặp một bác sĩ da liễu để trị mụn trứng cá. Theo như Obama, các công ty bảo hiểm đưa ra những quyết định thiếu đạo đức như vậy vì họ được trao thưởng để làm thế. “Họ làm vì lợi nhuận” – ông nói. – “Là một trong những nhà CỰU NHÂN VIÊN điều hành hệ thống bảo hiểm điều trần trước Quốc hội, các công ty bảo hiểm không chỉ được khuyến khích để tìm cách từ chối những người bệnh thực sự, mà họ còn được trao thưởng để làm việc đó. Đó chính là thứ mà nguyên giám đốc đã gọi là “Những mong đợi lợi nhuận không ngừng từ phố Wall”.[127] Chúng tôi không phản đối việc các công ty bảo hiểm và các loại hình kinh doanh khác tìm cách thu lợi nhuận, thực tế, chúng tôi tin rằng họ nên làm vậy. Chúng tôi chỉ chỉ ra những sai lầm của hệ thống trao thưởng trong việc đề cao lợi nhuận lên trên tất cả đã khiến các quyết định có đạo đức phải chìm vào quên lãng. Một trong những lý do khiến các mục tiêu một chiều thất bại là cá nhân thường bị chi phối bởi các động lực bên ngoài khi thực hiện mục tiêu thay vì lắng nghe tiếng nói bên trong và làm những điều đúng đắn. Hãy trở lại với trường hợp trả lương theo giờ trong lĩnh vực kiểm toán và tư vấn. Một vài công ty luật của Mỹ đã thực hiện hình thức trả lương theo giờ này để khuyến khích nhân viên trung thực hơn trong việc khai báo họ đã đi đâu và làm gì trong khoảng thời gian họ có. Mục tiêu tốt đẹp này sau đó đã trở thành sự đòi hỏi các cá nhân phải khai báo thật chi tiết thời gian làm việc của mình. Trong một vài trường hợp, yêu cầu này đã tạo ra hàng trăm loại mật mã cho những hoạt động hợp pháp mà một chuyên gia đã thực hiện với khách hàng của mình. Một ai đó có thể cho rằng việc giải trình chi tiết này sẽ tăng tính trung thực của bản báo cáo nhưng điều đó là không cần thiết. Các luật sư đã khuyến cáo chúng ta rằng bản báo cáo chi tiết ấy chỉ mang lại tác dụng ngược và hệ thống được lập ra nhằm gia tăng số lượng hành vi đạo đức sẽ phản tác dụng.[128]
  38. Kể cả khi nhân viên cân nhắc nhiều mục tiêu, sự chú ý của họ dành cho các mục tiêu này cũng không như nhau. Họ thường có khuynh hướng tập trung vào mục tiêu chính vì vậy đánh giá những mục tiêu còn lại là không quan trọng bằng. Tính lợi nhuận thường được đặt cao hơn tính phát triển bền vững, tương tự, để kịp giao hàng đúng hạn các công ty thường hạ thấp chất lượng sản phẩm được làm ra. Trường hợp những công ty tính lợi nhuận theo quý cũng là một ví dụ. Nghiên cứu đã cho thấy, khi đặt trong tương quan so sánh với những bản báo cáo của các công ty tính lợi nhuận trong khoảng thời gian dài hơn, những bản báo cáo của các công ty tính lợi nhuận theo quý thường chỉ thực hiện một mục tiêu là đạt được hoặc vượt qua mức doanh thu được đặt ra từ kỳ trước. Những công ty này cũng cống hiến ít tài nguyên hơn cho một nhóm công chúng nhỏ hơn và cũng ít được nhận thưởng hơn khi đầu tư vào các nghiên cứu và sự phát triển (trong một thời gian ngắn).[129] Chỉ tập trung vào việc đạt được mục tiêu của từng quý đã khiến các công ty bị xao nhãng trước các mục tiêu quan trọng khác, chẳng hạn như đầu tư cho sự tồn tại lâu dài của họ. Hơn nữa, nhiều công ty đã thay đổi dữ liệu để đạt được mục tiêu của quý và hy sinh các lợi ích mang tính lâu dài trong quá trình làm việc. Một ví dụ là General Electric – một công ty đã bị SEC phạt tới 50 triệu đô-la vì báo cáo khống việc họ bán được tới 100 đầu máy xe lửa trong khi thực tế là họ chỉ ngồi không – một hành động mà rất nhiều nhà phân tích đã nhận xét rằng “bị mờ mắt bởi việc phải làm mọi cách để đạt được mức lợi nhuận như kỳ vọng.”[130] Các hệ thống trao thưởng thường có mục đích đúng đắn nhưng lại không mang lại nhiều hiệu quả vì nó không dự đoán được phản ứng của nhân viên. Các hệ thống này quá đơn giản và chỉ tập trung vào một mục tiêu cụ thể. Vì đã lờ đi thực tế các nhân viên có thể đạt được những mục tiêu ngoài lề, nó đã thúc đẩy sự xuất hiện của các hành vi không như mong muốn nhưng mặt khác cũng phản đối các hành vi quá thiên về dục vọng (cá nhân hoặc tổ chức) bằng việc không trao thưởng cho các hành vi đó. Cũng giống như cô bé được thưởng vì tự dọn giường, các nhân viên đã thất bại trong việc khống chế các hành vi thiếu đạo đức của mình. Vậy phải làm thế nào để các tổ chức thiết lập được những hệ thống khuyến khích đạo đức có tác dụng hơn? Rõ ràng nhất là, khi đặt ra mục tiêu cho nhân viên, trước tiên họ phải đặt mình vào vị trí của nhân viên và dự đoán xem nhân viên sẽ hành xử theo cách nào.
  39. Các nhà phân tích của phố Wall cũng như những nhà phân tích khác – những người chịu trách nhiệm đánh giá khả năng tồn tại của một công ty cần suy nghĩ kỹ về những hậu quả mà gánh nặng mục tiêu ngắn hạn đem lại. Bằng việc dự đoán trước những hành động xấu phát sinh do bản báo cáo hay những lời tuyên bố của mình, những người đưa ra quyết định có thể nhận ra họ đã bỏ qua những mục tiêu cũng rất quan trọng và xứng đáng để trao thưởng, nếu không muốn nói là quan trọng hơn, chẳng hạn như việc báo cáo trung thực. Việc cung cấp chính xác những định mức này được cho là mục tiêu quan trọng nhất trong hệ thống tài chính của chúng ta và người lãnh đạo cần điều chỉnh hệ thống để gia tăng những mục tiêu có thể đạt được, cũng như đưa ra các biện pháp kiểm tra và cân bằng thích hợp. Nếu không thể làm được điều này, họ không chỉ bị cho là đang khuyến khích các hành động thiếu đạo đức mà chính họ cũng đang là người hành động thiếu đạo đức. Những ảnh hưởng không mong muốn từ hệ thống hình phạt Bên cạnh việc khuyến khích những hành vi có đạo đức bằng hình thức trao thưởng, các chương trình đánh giá mức độ tuân thủ luật lệ và đạo đức còn có hệ thống hình phạt (sanctions system) dùng cho các trường hợp hành xử thiếu đạo đức, điển hình nhất là các biện pháp trừng phạt. Những chương trình này thường đem lại tác dụng ngược, tức là thay vì giảm thiểu các hành vi thiếu đạo đức thì chúng lại gia tăng các hành vi này. Trong một chuỗi thí nghiệm, Ann và David Messick đã thấy rằng hệ thống đánh giá mức độ tuân thủ luật lệ thậm chí còn làm tăng các loại hành vi không mong muốn ở con người thay vì giảm bớt chúng. [131] Trong một nghiên cứu, mỗi người tham gia đóng vai một nhà sản xuất trong một ngành công nghiệp thải ra môi trường các khí gas độc hại. Những người tham gia nghiên cứu được bảo rằng họ và những nhà sản xuất khác đang lo lắng về việc những tổ chức môi trường sẽ sớm coi họ là “mục tiêu” vì thải chất thải độc hại ra môi trường và việc bị họ “chú ý” sẽ dẫn tới việc các nhà máy phải chi rất nhiều tiền cho các hoạt động dọn chất thải. Những người tham gia nghiên cứu hiểu rằng để tránh bị các tổ chức môi trường “chú ý”, họ cần họp với nhau và đạt được một thỏa thuận rằng họ sẽ vận hành “máy tẩy rửa” 80% thời gian làm việc để dọn dẹp một phần khí thải đó. Họ nhận thấy rằng đây là giải pháp tốt để xoa dịu các nhà bảo vệ môi trường.
  40. Mặc dù chi phí cho việc sử dụng “máy tẩy rửa” không hề rẻ nhưng vẫn thấp hơn số tiền họ phải bỏ ra cho những hoạt động liên quan đến pháp luật và tư pháp nếu những tổ chức môi trường thực sự nhắm vào họ. Mỗi người tham gia nghiên cứu đóng vai một thành viên của tổ sản xuất được yêu cầu phải lựa chọn giữa việc giữ đúng thỏa thuận sử dụng “máy tẩy rửa” hoặc phá vỡ hiệp ước và không sử dụng “máy tẩy rửa” trong quá trình sản xuất nữa. Hãy thử tưởng tượng bạn là nhà sản xuất X, bạn biết rằng dù mình có quyết định chạy hay không chạy “máy tẩy rửa” thì cũng không ảnh hưởng gì tới việc các tổ chức môi trường có coi ngành công nghiệp này là “mục tiêu” hay không. Tại sao lại như vậy? Vì nếu mọi nhà sản xuất còn lại đều quyết định giữ đúng thỏa thuận và chạy “máy tẩy rửa” thì lượng chất thải thải ra môi trường sẽ luôn nằm dưới mức báo động và các nhà bảo vệ môi trường sẽ bỏ qua ngành công nghiệp này dù nhà sản xuất X có vận hành máy hay không. Thế nhưng nếu tất cả các nhà sản xuất khác đều phá bỏ hiệp ước thì lượng khí thải sẽ tiếp tục tăng cao và các tổ chức môi trường sẽ buộc phải vào cuộc và dù nhà sản xuất X có làm gì đi nữa cũng không thể thay đổi điều này. Vì thế dù các nhà sản xuất khác có hành động thế nào thì nhà sản xuất X vẫn biết lựa chọn kinh tế nhất là phá vỡ thỏa thuận và không chạy “máy tẩy rửa”. Chúng tôi đã nói với một nửa số người tham gia nghiên cứu này rằng không có một hệ thống đánh giá mức độ tuân thủ nào ở đây cả - có nghĩa là sẽ không có một hình phạt hay một sự theo dõi nào để xác định xem họ có tôn trọng thỏa thuận hay không. Một nửa còn lại nhận được thông báo rằng sẽ có hệ thống đánh giá mức độ tuân thủ luật lệ và sẽ có khoảng 5% số nhà sản xuất bị lựa chọn để kiểm chứng ngẫu nhiên xem họ có chấp hành đúng thỏa thuận hay không, nếu bị phát hiện phá vỡ hiệp ước, họ sẽ bị phạt và phải trả một khoản tiền phạt ở mức tối thiểu. Liệu những người tham gia nghiên cứu sẽ hợp tác với cả nhóm hay sẽ hành xử thiếu đạo đức? Kết quả nghiên cứu cho thấy sự tuân thủ hay không tuân thủ của họ phụ thuộc vào việc có tồn tại hệ thống đánh giá mức độ tuân thủ luật lệ hay không. Các nhà kinh tế học đã tiên đoán rằng việc xuất hiện hình thức phạt tiền có thể dẫn đến một trong hai trường hợp sau: (1) Họ sẽ không thay đổi hành vi (tức là không chạy “máy tẩy rửa”) vì số tiền phạt quá nhỏ, không đáng kể và (2) Sự xuất hiện của hình thức phạt tiền khiến việc phá luật trở nên
  41. “kém hấp dẫn” hơn và sẽ tốt hơn nếu tuân thủ đúng hiệp ước và cho chạy “máy tẩy rửa”. Thế nhưng trong nghiên cứu của Ann và David, mọi chuyện khác hoàn toàn với dự đoán. Mặc dù việc xuất hiện hình thức phạt tiền khiến việc phá luật trở nên “kém hấp dẫn” hơn dưới góc nhìn kinh tế nhưng nó lại dẫn đến nhiều sự bội ước hơn chứ không phải là ít đi. Khi không có sự tồn tại của hệ thống đánh giá mức độ tuân thủ luật lệ, hơn một nửa số người tham gia nghiên cứu thực hiện đúng như bản hiệp ước. Khi có hệ thống này tồn tại, chưa tới một nửa số người đồng ý chạy “máy tẩy rửa”, phần lớn chọn cách vi phạm thỏa thuận. Ann và David xem xét kết quả của nghiên cứu qua việc nhìn nhận cách mỗi người tham gia đánh giá quyết định của mình. Khi không có sự xuất hiện của hệ thống đánh giá mức độ tuân thủ luật lệ, hầu hết coi quyết định của mình là có đạo đức. Ở trường hợp này, mỗi cá nhân đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: “Làm gì là đúng nhất?”. Ngược lại, khi có sự xuất hiện của hệ thống, hầu hết người tham gia cho rằng quyết định của mình là một quyết định tốt về mặt kinh tế. Ở trường hợp này, họ tự hỏi: “Nếu mình bị bắt thì sao?” và “Khi bị bắt thì sẽ mất bao nhiêu tiền?” Sức ép đến từ hệ thống đánh giá mức độ tuân thủ luật lệ đã dẫn đến sự suy đồi đạo đức như việc người tham gia ít thấy quyết định của mình có tính đạo đức hơn và vì vậy có khuynh hướng phá vỡ thỏa thuận nhiều hơn. Để hiểu rõ hơn tính phổ biến của hiện tượng này ở các vấn đề khác nhau, hãy cùng xem xét sự thất bại của trung tâm trông trẻ ban ngày.[132] Để giảm thiểu tình trạng các ông bố, bà mẹ đến đón con muộn, trung tâm bắt đầu yêu cầu phụ huynh phải trả một khoản phí mỗi khi họ đến đón con trễ. Vấn đề đã được giải quyết chưa? Chưa hề. Thực tế, những đứa trẻ còn bị đón muộn hơn cả trước khi hình thức này được đưa ra. Thay vì giảm thiểu hành vi này, khoản phí phạt còn làm gia tăng nó. Vì sao? Vì trung tâm này đã không lường trước được phản ứng của mỗi cá nhân với khoản tiền phạt. Đột nhiên khía cạnh đạo đức bị gạt ra khỏi tâm trí của các bậc phụ huynh khi họ đưa ra quyết định trong tình huống này. Họ không còn cho rằng việc đón con đúng giờ là một việc “cần làm” nữa. Khoản tiền phạt hướng sự tập trung của họ vào bàn cân tiền – thời gian khi họ đưa ra quyết định. Tức là trong mắt họ, việc trông trẻ bị đón muộn chỉ còn là một dịch vụ đơn thuần của trung tâm chăm sóc ban ngày. Hãy chú ý rằng trong mỗi tình huống này, hệ thống đánh giá mức
  42. độ tuân thủ luật lệ không có nhiều tác dụng như mong đợi. Những nhà sản xuất có thể chịu chi trả một khoản tiền phạt nhỏ cũng như những ông bố bà mẹ có thể chọn ở lại cơ quan lâu thêm một chút. Một câu hỏi có tính lôgic được đặt ra: liệu có phải sự yếu kém của hệ thống đánh giá mức độ tuân thủ luật lệ chỉ làm trầm trọng thêm các hành vi thiếu đạo đức không? Theo nghiên cứu của chúng tôi, nếu khả năng bị bắt cao hơn và số tiền phạt nhiều hơn, ắt hẳn sẽ có ít người phá vỡ thỏa thuận hơn. Khi chúng tôi siết chặt hệ thống đánh giá mức độ tuân thủ luật lệ hơn, chúng tôi nhận ra rằng sự bội ước có giảm đi.[133] Tuy nhiên chúng tôi cũng khám phá ra rằng với một hệ thống hình phạt lỏng lẻo, những người tham dự từng biết đến những luật lệ hà khắc hơn vẫn sẽ cho là đó là một quyết định kinh tế chứ không phải là một quyết định đạo đức. Vì sao lại cần phải xem xét việc hệ thống đánh giá mức độ tuân thủ luật lệ dẫn đến sự suy đồi đạo đức khi đã đạt được mục tiêu đặt ra như thế nào? Vấn đề chính là điều gì sẽ xảy ra một khi hệ thống này sụp đổ. Quay trở lại với chuyện trung tâm trông trẻ, mặc dù sau đó trung tâm này đã bỏ hình thức phạt tiền với phụ huynh đón con muộn nhưng các bậc phụ huynh vẫn tới đón con trễ hơn so với trước khi hình thức này được đưa ra. Chúng tôi nhận ra rằng hệ thống này thường có khuynh hướng chuyển những quyết định mang tính đạo đức sang các quyết định nghiêng về mặt kinh tế hoặc thực tế, bao gồm cả việc tính toán thiệt hơn giữa vấn đề lợi ích và tuân thủ luật lệ. Khi một hệ thống đánh giá mức độ tuân thủ luật lệ chặt chẽ bị gỡ bỏ, cái giá phải trả cho việc không tuân theo luật lệ sẽ ít nặng nề hơn, khía cạnh đạo đức sẽ phai mờ dần khỏi các quyết định và các quyết định sẽ chỉ còn mang tính thực tế với sự lên ngôi của các hành vi sai quy chuẩn. Không chỉ bản thân hệ thống này có những sai lầm của nó, mỗi cá nhân chịu ảnh hưởng của hệ thống này cũng thường tìm cách để giảm thiểu sự ảnh hưởng của nó đối với bản thân. Hãy thử xem xét hiện tượng “tâm thần kháng” (psychological reactance) – một xu hướng phổ biến của việc giới hạn tự do của con người. Các nhà tâm lý học đã chứng minh rằng nỗ lực điều khiển hành vi của con người thường thất bại vì con người sẽ nỗ lực hơn gấp đôi để đòi quyền tự do khi cảm thấy quyền này bị đe dọa. “Trái cấm” – dù là một trò chơi dành cho trẻ con hay một sở thích lãng mạn “khó theo đuổi” – đều sẽ trở
  43. nên hấp dẫn hơn nếu nó là thứ hiếm. Hệ thống đánh giá mức độ tuân thủ luật lệ cũng tạo ra hiệu ứng tương tự. Khi các nhân viên cảm thấy bị điều khiển quá mức bởi hệ thống này, các hành vi phá luật đột nhiên sẽ trở nên hấp dẫn hơn với họ, chỉ đơn giản là vì nó là hành vi bị cấm. Để phá bỏ những hạn chế trong hệ thống này, các nhân viên thường có xu hướng cố gắng làm nó yếu đi, bỏ qua nó hoặc cố gắng tìm cách đánh lừa nó để đánh bại nó bằng mọi giá. Khi hệ thống này còn đang hiện hành, tỉ lệ thất bại của nó cao đến bất ngờ và thường có giá rất đắt đối với những ông chủ bỏ tiền mua. Nhưng sự nguy hiểm chính của hệ thống này nằm ở sự lắt léo của nó trong quá trình thực hiện quyết định. Đột nhiên, thay vì nghĩ xem nên làm điều gì cho đúng, những nhân viên chỉ tập trung vào việc tính toán chi phí và ích lợi của hai hành vi tuân thủ luật và vi phạm luật và cố gắng đánh bại hệ thống này. Làm thế nào để các tổ chức có thể giảm thiểu các hành vi thiếu đạo đức một cách hiệu quả thay vì làm nó trầm trọng thêm? Như chúng tôi đã thảo luận, một cuộc kiểm tra không chính thống các giá trị của một tổ chức dưới góc nhìn đạo đức hành vi sẽ giúp ta xác định được khi nào những hệ thống này thực sự hoạt động. Những nhà quản lý cũng cần tỉnh táo để tránh “áp đặt” đạo đức bằng các sắc lệnh, hoạt động giám sát và các hệ thống hành pháp. Thúc đẩy các khuôn khổ đề cao tính đạo đức hơn thay vì tính tuân thủ luật lệ trong các quyết định sẽ giúp các nhân viên luôn nhận thức được rõ khía cạnh đạo đức trong mọi quyết định của mình. Thêm vào đó, những người lãnh đạo nên khuyến khích nhân viên của mình đặt ra một câu hỏi quan trọng trong những tình huống có nhiều lựa chọn: “Liệu quyết định này sẽ dẫn đến điều gì?” Khi làm điều tốt trở thành cái cớ để cư xử không đúng đắn Chúng ta biết rằng có không ít tổ chức phi lợi nhuận đang ngày đêm làm việc với mục đích giúp thế giới trở nên tốt đẹp hơn, điều đó có thể dẫn đến việc nhiều người hiểu nhầm những thành công của họ. Họ cung cấp thông tin một cách có chọn lọc để lý tưởng hóa tổ chức của họ và thậm chí còn sửa đổi thông tin trước khi đưa ra công chúng. Những tổ chức này thường được điều hành bởi những người tốt – những người không muốn đánh lừa công chúng bằng việc thực hiện những hành vi họ sẽ làm nếu vận hành các tổ chức vì lợi nhuận. Ví
  44. dụ, không thể so sánh họ với những người điều hành nền công nghiệp thuốc lá – những kẻ cố ý thực hiện các chiến dịch gây nhiễu thông tin để công chúng hoang mang về tác hại của việc hút thuốc. Thay vào đó, họ tập trung vào việc thể hiện những việc tốt họ đã làm để biện hộ cho sự thiếu trung thực của các lãnh đạo tổ chức phi lợi nhuận trong việc quyên góp thêm nhiều quỹ phục vụ cho những mục đích tốt đẹp. Ở chương 1, chúng tôi đã miêu tả một cuộc thí nghiệm mà ở đó mỗi cá nhân được trao cơ hội để gian lận trong bài kiểm tra toán. Những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng khả năng gian lận sẽ cao hơn nếu số tiền gian lận được sử dụng cho mục đích từ thiện chứ không phải cho tư lợi cá nhân.[134] Tương tự, nghiên cứu đạo đức hành vi trong lĩnh vực bồi thường đạo đức và cân bằng đạo đức đã cho thấy nỗ lực của tổ chức phi lợi nhuận trong việc thúc đẩy các hành vi có đạo đức cũng có liên quan đến sự gia tăng hành vi thiếu đạo đức.[135] Theo những học thuyết này, chúng ta cố gắng duy trì sự cân bằng của tính đạo đức bằng việc thực hiện những hành vi thứ yếu, bù thêm có liên quan đến đạo đức. Vì các hành vi đạo đức của chúng ta có tính linh hoạt nên khi ta thực hiện hành vi đạo đức, ta có cảm giác như đó sẽ là “cái cớ” có thể sử dụng để thực hiện những hành vi thiếu đạo đức trong tương lai. Ngược lại, khi ta hành xử thiếu đạo đức, ta sẽ có động lực để trở nên đạo đức hơn trong tương lai. Ví dụ, khi được nhắc nhở về tính nhân đạo vốn có trong mỗi con người, số tiền quyên góp được cho các quỹ từ thiện sẽ giảm đi.[136] Ngược lại, khi con người ta cảm thấy mình đã vi phạm đạo đức, họ sẽ có xu hướng giúp đỡ người khác nhiều hơn. [137] Các nghiên cứu gần đây của Ann và đồng sự cho thấy nhiều bằng chứng hơn về hiện tượng này. Trong nghiên cứu này, những người tham gia được đề nghị hãy nhớ lại những hành động tốt mình đã làm để xây dựng hình ảnh đạo đức bản thân một cách hoàn hảo hơn, chẳng hạn như cống hiến của họ trong việc bảo vệ môi trường và chỉ một đôi lần có hành động hủy hoại môi trường. Những người này có xu hướng ít ủng hộ việc cắt giảm khí thải tạo ra hiệu ứng nhà kính hơn những người bị yêu cầu nhớ lại những hành vi xấu họ đã làm (ngược lại với trường hợp trên).[138] Kết quả nghiên cứu dẫn đến một ví dụ cụ thể và chi tiết của sự xung đột lợi ích. Ở chương 5, chúng tôi đã thảo luận vấn đề xung đột lợi ích sẽ xuất hiện khi những tư vấn viên, chẳng hạn như kiểm toán viên, có xu hướng đánh giá sai mức độ của vấn đề và tha thứ cho
  45. những hành vi thiếu đạo đức hoặc khi chính bản thân họ hành xử thiếu đạo đức. Khi những vụ xì căng đan liên quan đến vấn đề xung đột lợi ích bùng nổ, các công ty, tổ chức hoặc chính phủ thường ngay lập tức đưa ra những yêu cầu chi tiết buộc các tư vấn viên phải giải trình động cơ của sự xung đột lợi ích này cho khách hàng của họ. Yêu cầu của Luật Sarbanes – Oxley về việc các công ty và kiểm toán viên của các công ty đó phải giải trình xung đột lợi ích đã được dự báo trước là một cách thức để đạt được mục tiêu giữ gìn sự minh bạch và gia tăng tính trung thực của các công ty. Hầu hết mọi người đều tán thành việc yêu cầu công khai thông tin trong khi vẫn để các chuyên gia “chọn cách hợp lý nhất”. Mục tiêu đúng đắn của việc công khai thông tin dựa trên giả định rằng công chúng sẽ được hưởng nhiều lợi ích hơn từ việc biết thêm thông tin về những xung đột lợi ích của tư vấn viên. Thật đáng tiếc là, việc tiết lộ thông tin không phải là một giải pháp thành công trong việc kiềm chế các hành vi thiếu đạo đức. Giải pháp này không chỉ không đạt được mục tiêu của nó mà còn ngăn chặn ảnh hưởng lên các hành vi đạo đức.[139] Một thí nghiệm thú vị sau đây sẽ lý giải nguyên do của hiện tượng này. Trong thí nghiệm, một vài người đóng vai “người ước lượng” được yêu cầu ước lượng số tiền có trong một cái lọ và một vài người khác đóng vai “tư vấn viên” được yêu cầu tư vấn cho “người ước lượng” về giá trị của số tiền trong lọ. Tư vấn viên được phép nhìn cái lọ gần hơn người ước lượng. Người ước lượng sẽ được trả một số tiền tùy theo mức độ chính xác trong ước lượng của họ. Một vài tư vấn viên sẽ được trả tiền dựa trên mức ước lượng chính xác của người ước lượng cùng đội (sau khi người ước lượng nhận được lời khuyên từ tư vấn viên) trong khi những tư vấn viên khác sẽ được trả tiền dựa theo mức ước lượng của người ước lượng cùng đội cao tới mức nào. Ở trường hợp này, những tư vấn viên gặp phải xung đột đạo đức vì họ không được trao thưởng bởi tính chính xác của công việc mà là tính sai lệch của ước lượng. Kết quả không hề bất ngờ, nhóm tư vấn viên này đưa ra mức giá cao hơn (cho người ước lượng cùng đội của họ) so với những tư vấn viên không gặp phải xung đột lợi ích. Theo ý kiến của chúng tôi, điều thú vị hơn là những gì đã xảy ra khi tư vấn viên tiết lộ những xung đột lợi ích của mình cho người ước lượng cùng đội: các tư vấn viên này thường đưa ra những tư vấn ước lượng cao hơn và tính chính xác cũng ít hơn khi so sánh với những tư vấn viên khác, hơn nữa, những người ước lượng cũng không hạ thấp mức ước lượng của họ xuống sau khi biết về những xung đột lợi ích. Kết quả là những tư vấn viên