Di cư và đô thị hóa ở Việt Nam: Thực trạng, xu hướng và những khác biệt
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Di cư và đô thị hóa ở Việt Nam: Thực trạng, xu hướng và những khác biệt", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
di_cu_va_do_thi_hoa_o_viet_nam_thuc_trang_xu_huong_va_nhung.pdf
Nội dung text: Di cư và đô thị hóa ở Việt Nam: Thực trạng, xu hướng và những khác biệt
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư Tổng cục Thống kê Tổng điều tra Dân số và nhà ở VIỆT NAM năm 2009 Di cư và đô thị hóa ở Việt Nam: Thực trạng, xu hướng và những khác biệt Hà Nội, 2011
- Lời nói đầu Cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 được tiến hành vào thời điểm 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2009, theo Quyết định số 94/2008/QĐ-TTg ban hành ngày 10 tháng 7 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là cuộc Tổng điều tra dân số lần thứ tư và điều tra về nhà ở lần thứ ba, được tiến hành ở Việt Nam kể từ sau thống nhất đất nước vào năm 1975. Mục đích của cuộc tổng điều tra này là thu thập số liệu cơ bản về dân số và nhà ở trên toàn bộ lãnh thổ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, phục vụ công tác lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020. Bên cạnh báo cáo “Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Các kết quả chủ yếu” đã được công bố vào tháng 7/2010, một số chủ đề quan trọng như sinh, chết, di cư và đô thị hóa, cấu trúc tuổi-giới tính của dân số, tình hình giáo dục, tiếp tục được khai thác phân tích sâu nhằm cung cấp những thông tin quan trọng về thực trạng và những khuyến nghị về chính sách phù hợp về những chủ đề đó. Chuyên khảo “Di cư và đô thị hóa ở Việt nam: Thực trạng, xu hướng và những khác biệt” đã được xây dựng, sử dụng số liệu điều tra mẫu 15% của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, nhằm cung cấp thông tin cập nhật tới độc giả về chủ đề này ở Việt Nam. Kết quả phân tích số liệu cho thấy xu hướng tăng của di cư cả về số lượng tuyệt đối lẫn tỷ lệ ở Việt Nam, và sự đóng góp mạnh mẽ của di cư vào khu vực thành thị, đặc biệt là các thành phố lớn. Di cư có đóng góp tích cực cho bản thân người di cư và sự phát triển của nơi đến, nhưng di cư cũng góp phần làm gia tăng khoảng cách kinh tế - xã hội giữa nơi đến và nơi đi, giữa thành thị và nông thôn, và giữa các vùng. Cùng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, dân cư ở các vùng thành thị đang tăng trưởng mạnh mẽ. Dân cư thành thị có nhiều lợi thế so với dân cư nông thôn trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, tình trạng đô thị hóa quá tải ở Việt Nam, dẫn đến tình trạng một bộ phận dân cư thành thị không có điều kiện tiếp cận với các tiện nghi cơ bản, ngay cả ở những đô thị phát triển nhất như thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Chuyên khảo cũng đã đưa ra những gợi ý cho các chính sách phát triển của Việt Nam cần chú trọng hơn đến vấn đề di cư và đô thị hóa hiện nay để đảm bảo di cư và đô thị hóa sẽ đóng góp tốt nhất cho tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam. Tổng cục Thống kê xin trân trọng cảm ơn Quỹ Dân số Liên hợp quốc đã hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật cho cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, đặc biệt cho việc phân tích số liệu và chuẩn bị Báo cáo chuyên khảo này. Chúng tôi đặc biệt cảm ơn Tiến sỹ Nguyễn Thanh Liêm, Viện Dân số, Sức khỏe và Phát triển và Tiến sỹ Nguyễn Hữu Minh, Viện Gia đình và Giới, thuộc Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam, đã phân tích số liệu và dày công biên soạn bản Báo cáo. Chúng tôi bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các chuyên gia trong nước và quốc tế, các cán bộ Văn phòng UNFPA, cán bộ TCTK đã làm việc nhiệt tình cùng các tác giả và có những góp ý sâu sắc trong quá trình biên soạn và hoàn thiện Báo cáo, cũng như tới văn phòng Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM) và Chương trình Định cư Con người Liên hợp quốc (UNHABITAT) đã có góp ý cho bản thảo của báo cáo này. Chúng tôi hân hạnh được giới thiệu với bạn đọc trong và ngoài nước ấn phẩm chuyên sâu về chủ đề di cư và đô thị hóa đang thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, các nhà lập chính sách và cả xã hội. Chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của độc giả, rút kinh nghiệm cho các xuất bản phẩm tiếp theo của Tổng cục Thống kê. Tổng cục Thống kê DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 3
- Mục lục Lời nói đầu 3 mục lục 5 Danh mục biểu phân tích 7 danh mục biểu phụ lục 8 Danh mục hình 9 danh mục bản đồ 11 Các chữ viết tắt 12 Tóm tắt 13 CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 15 1.Giới thiệu chung 15 2. Mục tiêu nghiên cứu 16 3. Phương pháp 16 4. Cấu trúc của báo cáo 18 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT CỦA DI CƯ 19 1. Các khái niệm cơ bản và định nghĩa 19 2. Thực trạng di cư qua thời gian 21 3. Các dòng di cư giữa khu vực nông thôn và thành thị 24 4. Chọn lọc tuổi của dân số di cư 28 5. Khác biệt về di cư theo vùng 30 6. Lao động di cư và điều kiện sống 41 7. Di cư và giáo dục 46 8. Di cư và điều kiện nhà ở 49 CHƯƠNG III: Đô thị hóa VÀ TĂNG TRƯỞNG đô thị 57 1. Một số khái niệm 60 2. Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam 61 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 5
- 3. Dân số đô thị: phân bố và sự thay đổi quy mô 63 4. Các đặc trưng đô thị hóa 67 5. Xu hướng và triển vọng đô thị hóa 88 CHƯƠNG IV: DI CƯ VÀ Đô thị hóa 95 1. Di cư và đô thị hóa 95 2. Di cư phân theo loại đô thị 96 CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 99 1. Tóm tắt các kết quả chính của di cư và khuyến nghị chính sách 99 2. Đô thị hóa ở Việt Nam và các gợi ý chính sách 101 3. Kết luận chung 103 Tài liệu tham khảo 105 Phụ lục 107 6 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt
- Danh mục biểu phân tích Biểu 2.1: Dân số di cư và không di cư theo loại hình di cư 21 Biểu 2.2: Tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm phân theo tình trạng di cư 23 Biểu 2.3: Dân số di cư từ 5 tuổi trở lên tại nơi đến phân theo các dòng di cư và năm điều tra 25 Biểu 2.4: Các tỉnh có dân số di cư thuần thấp nhất và cao nhất giai đoạn 2004-2009 40 Biểu 2.5: Các tỉnh có tỷ lệ người di cư giữa các tỉnh thấp nhất và cao nhất năm 2009 41 Biểu 3.1: Tỷ lệ dân số đô thị theo vùng kinh tế - xã hội năm 2009 63 Biểu 3.2: Phân bố dân số đô thị theo quy mô thành phố: Việt Nam, 1979,1989, 1999 và 2009 64 Biểu 3.3: Dân số đô thị ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội : 1979, 1989, 1999 và 2009 66 Biểu 3.4: Tỷ số phụ thuộc theo loại hình đô thị năm 2009 69 Biểu 3.5: Quy mô hộ theo mức độ đô thị hóa năm 2009 70 Biểu 3.6: Tỷ số giới tính theo tuổi và nơi cư trú năm 2009 71 Biểu 3.7 Tỷ lệ dân số chưa kết hôn theo tuổi, giới tính, và nơi cư trú năm 2009 72 Biểu 3.8: Trình độ học vấn cao nhất đạt được (đã tốt nghiệp) của dân số từ 5 tuổi trở lên chia theo mức độ đô thị hóa 76 Biểu 3.9: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo mức độ đô thị hóa năm 2009 78 Biểu 3.10. Tỷ lệ có việc làm tạo thu nhập trong 7 ngày trước TĐTDS chia theo giới tính, loại hình kinh tế và nơi cư trú năm 2009 81 Biểu 3.11. Tỷ lệ người thất nghiệp theo nhóm tuổi và giới tính chia theo các loại hình đô thị 2009 84 Biểu 3.12: Đặc trưng về nhà ở theo mức độ đô thị hóa và nơi cư trú năm 2009 85 Biểu 3.13: Đặc trưng về điều kiện sống theo nơi cư trú năm 2009 86 Biểu 3.14: Tỷ lệ dân số đô thị chia theo tỉnh năm 1989, 1999 và 2009 88 Biểu 4.1: Dân số di cư và tỷ lệ trên tổng dân số theo từng loại đô thị năm 2009 97 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 7
- Danh mục biểu phụ lục Biểu A-2.1: Dân số di cư và không di cư trong tổng dân số, 1989-2009 107 Biểu A-2.2: Tỷ lệ dân số di cư và không di cư trong tổng dân số, 1989-2009 108 Biểu A-2.3: Cơ cấu giới tính của dân số di cư và không di cư , 1989-2009 109 Biểu A-2.4: Các dòng di cư nông thôn-thành thị, 1999-2009 110 Biểu A-2.5: Tỷ lệ dân số nam, nữ theo loại hình di cư và dòng di cư giữa nông thôn và thành thị, 1999-2009 111 Biểu A-2.6: Trung bình và trung vị tuổi của người di cư và không di cư theo giới tính, 1989-2009 112 Biểu A-2.7: Số lượng và tỷ lệ phần trăm người di cư và không di cư theo giới tính và vùng cư trú, 2009 113 Biểu A-2.8: Số người nhập cư, xuất cư và di cư thuần của dòng di cư giữa các tỉnh theo thành thị - nông thôn và theo vùng, 2009 113 Biểu A-2.9: Số người di cư giữa các tỉnh theo vùng, 2004-2009 115 Biểu A-2.10: Tỷ lệ dân số di cư trong nước theo tỉnh (%) 116 Biểu A-2.11: Số lượng người di cư trong nước theo tỉnh 119 Biểu A-2.12: Nhập cư, xuất cư và di cư thuần của dòng di cư giữa các tỉnh theo nơi ở thành thị nông-thôn và theo tỉnh 122 Biểu A-2.13: Điều kiện kinh tế-xã hội của hộ gia đình theo loại hình di cư, 2009 125 Biểu A-2.14: Dân số lao động có kỹ năng trong dân số độ tuổi 15-55 theo loại hình di cư 126 Biểu A-2.15: Tình trạng đi học của trẻ em từ 6-10 tuổi theo loại hình di cư và giới tính 127 Biểu A-2.16: Tình trạng đi học của dân số từ 11-18 tuổi theo loại hình di cư và giới tính 128 Biểu A-2.17: Điều kiện nhà ở theo loại hình di cư 129 Biểu A-2.18: Nguồn nước sử dụng cho ăn uống theo loại hình di cư 131 Biểu A-2.19: Sử dụng hố xí hợp vệ sinh theo loại hình di cư 132 Biểu A-3. 1: Danh sách các đô thị Việt Nam 2009 133 Biểu A-3. 2: Danh sách các thị xã còn lại 134 Biểu A-3. 3: Mức độ đô thị hóa (%) tại một số vùng của thế giới: 1970-2000 135 Biểu A-3. 4: Mức độ đô thị hóa (% dân số đô thị) ở các nước Đông Nam Á: 1970-2000 136 8 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt
- Biểu A-3. 5: Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm (%) của dân số đô thị ở các nước Đông Nam Á 137 Biểu A-3. 6: Các trung tâm đô thị với hơn 100 000 dân trong năm 1979, 1989, 1999, 2009 138 Biểu A-3. 7: Tỷ lệ chưa kết hôn theo giới tính và nhóm tuổi năm 1989, 1999 và 2009 140 Danh mục hình Hình 2.1: Nơi thường trú tại thời điểm 5 năm trước thời điểm tổng điều tra 20 Hình 2.2: Tỷ lệ người di cư qua thời gian 22 Hình 2.3: Dân số di cư và không di cư 1999-2009 và dự báo đến năm 2019 23 Hình 2.4: Tỷ lệ nữ di cư qua thời gian 24 Hình 2.5: Dân số di cư 5 năm từ 1999 đến 2009 và dự báo tới 2019 26 Hình 2.6: Tỷ lệ người di cư phân theo các dòng di cư giữa nông thôn và thành thị trên tổng số dân tại nơi đến 1999-2009 và dự báo đến năm 2019 27 Hình 2.7: Tỷ lệ dân số nữ trong các dòng di cư giữa nông thôn và thành thị 27 Hình 2.8: Tháp dân số theo các loại hình di cư và không di cư, 2009 28 Hình 2.9: Tuổi trung vị của người di cư và không di cư phân theo giới tính 29 Hình 2.10: Tháp dân số theo các dòng di cư giữa nông thôn và thành thị, 2009 30 Hình 2.11: Tỷ lệ người di cư phân theo vùng kinh tế - xã hội, 2009 31 Hình 2.12: Số dân nhập cư, xuất cư và di cư thuần trong 5 năm trước thời điểm TĐTDS năm 2009 của dòng di cư giữa các tỉnh theo vùng kinh tế - xã hội 32 Hình 2.13: Số dân nhập cư, xuất cư và di cư thuần trong 5 năm trước thời điểm điều tra 1999 của dòng di cư giữa các tỉnh theo vùng 33 Hình 2.14: Số dân nhập cư, xuất cư và di cư thuần trong 5 năm trước TĐTDS năm 2009 của dòng di cư giữa các tỉnh phân theo khu vực thành thị-nông thôn và vùng kinh tế - xã hội 34 Hình 2.15: Số lượng người di cư giữa các vùng theo nơi thực tế thường trú vào thời điểm 1/4/2004 và 1/4/2009 35 Hình 2.16: Tỷ lệ người từ 15 đến 55 tuổi đã được đào tạo chuyên môn kỹ thuật 42 Hình 2.17: Tỷ lệ người từ 15 đến 55 tuổi đã được đào tạo phân theo dòng di cư 43 Hình 2.18: Mức sống của hộ người di cư và không di cư năm 2009 44 Hình 2.19: Mức sống hộ gia đình phân theo dòng di cư năm 2009 45 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 9
- Hình 2.20: Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên đã tốt nghiệp tiểu học phân theo giới tính và loại di cư (2009) 46 Hình 2.21: Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên đã tốt nghiệp tiểu học phân theo nhóm tuổi và dòng di cư (2009) 47 Hình 2.22: Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên đã tốt nghiệp tiểu học phân theo dòng di cư năm 2009 48 Hình 2.23: Tỷ lệ đi học của trẻ em từ 6 đến 10 tuổi 48 Hình 2.24: Tỷ lệ đi học của trẻ em từ 11 đến 18 tuổi 49 Hình 2.25: Tình trạng nhà ở của người dân từ 5 tuổi trở lên phân theo tình trạng di cư 50 Hình 2.26: Tình trạng nhà ở phân theo dòng di cư của người dân từ 5 tuổi trở lên 51 Hình 2.27: Tỷ lệ người từ 5 tuổi trở lên sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh 52 Hình 2.28: Tỷ lệ người sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh phân theo dòng di cư 53 Hình 2.29: Loại nhà vệ sinh của người dân từ 5 tuổi trở lên phân theo tình trạng di cư 54 Hình 2.30: Loại nhà vệ sinh của người dân từ 5 tuổi trở lên phân theo dòng di cư 55 Hình 3.1. Tỷ lệ dân cư thành thị toàn quốc từ năm 1931 đến 2009 62 Hình 3.2: Tỷ lệ tăng trưởng dân số đô thị hàng năm ở Việt Nam 1931-2008 65 Hình 3.3. Tháp dân số thành thị Việt Nam năm 2009 theo các loại hình đô thị 67 Hình 3.4. Tỷ lệ người có trình độ cao đẳng, đại học trở lên theo nhóm tuổi và nơi cư trú theo loại hình cư trú và giới tính (năm 2009) 75 Hình 3.5: Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên tham gia các hoạt động kinh tế chia theo giới tính và nơi cư trú (năm 2009) 80 Hình 3.6. Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên tham gia các hoạt động kinh tế chia theo giới tính và nơi cư trú theo mức độ đô thị hóa (năm 2009) 80 Hình 3.7. Tỷ số giới tính theo nhóm tuổi ở khu vực đô thị 92 Hình 3.8. Tỷ số giới tính theo nhóm tuổi ở khu vực đô thị (đã điều chỉnh) 92 Hình 3.9. Tỷ lệ chưa từng kết hôn của nam, nữ đô thị theo nhóm tuổi, 1999 và 2009 93 Hình 4.1: Tỷ lệ dân số di cư và tỷ lệ dân số đô thị phân chia theo tỉnh thành 95 Hình 4.2: Đường cong thể hiện mối quan hệ giữa tỷ lệ dân số di cư và tỷ lệ dân số đô thị sau khi loại bỏ các trường hợp ngoại lệ 96 10 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt
- Danh mục bản đồ Bản đồ 2.1: Số người nhập cư giai đoạn 2004-2009 36 Bản đồ 2.2: Tỷ lệ người nhập cư 2004-2009 trên tổng dân số tại nơi đến vào 1/4/2009 37 Bản đồ 2.3: Số người xuất cư giai đoạn 2004-2009 38 Bản đồ 2.4: Tỷ lệ người xuất cư 2004-2009 trên tổng số dân tại nơi đi vào 1/4/2004 39 Bản đồ 3.1: Tỷ lệ dân số sống ở các khu vực đô thị năm 1999 58 Bản đồ 3.2: Tỷ lệ dân số sống ở các khu vực đô thị năm 2009 59 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 11
- Các chữ viết tắt ASFR Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi BCĐTW Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương CBR Tỷ suất sinh thô TT-TT (Di cư) Thành thị tới thành thị TT-NT (Di cư) Thành thị tới nông thôn TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh MDG Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ NT-TT (Di cư) Nông thôn tới thành thị NT-NT (Di cư) Nông thôn tới nông thôn SMAM Tuổi kết hôn trung bình lần đầu SXKD sản xuất kinh doanh TCTK Tổng cục Thống kê TĐTDS Tổng điều tra dân số và nhà ở TFR Tổng tỷ suất sinh UNESCAP Ủy ban Liên hợp quốc về kinh tế xã hội khu vực Châu Á-Thái Bình Dương UNFPA Quỹ Dân số Liên hợp quốc
- Tóm tắt Kết quả phân tích số liệu mẫu của TĐTDS năm 2009 cho thấy xu hướng tăng của di cư cả về số lượng tuyệt đối lẫn tỷ lệ. Các kết quả phân tích cũng cho thấy những đóng góp của di cư vào khu vực thành thị, đặc biệt là tại các thành phố lớn. Các kết quả này gợi ý rằng các chính sách phát triển cần chú trọng hơn đến dân số di cư, đặc biệt là nhóm di cư từ nông thôn ra thành thị là nhóm di cư có tốc độ tăng nhanh nhất. Các chính sách liên quan đến di cư cần tính đến sự đa dạng hay những khác biệt lớn trong di cư và của người di cư. Số liệu TĐTDS đã làm sáng tỏ một số đặc trưng của nhóm dân số di cư “lâu dài hơn” nhưng bỏ qua nhóm di cư tạm thời, là nhóm dân số cần nhận được sự quan tâm nhiều hơn của các nghiên cứu tiếp theo. Mối quan hệ giữa di cư và phát triển là tương đối phức tạp: trong khi di cư có đóng góp tích cực cho bản thân người di cư và sự phát triển của nơi đến, di cư cũng góp phần làm gia tăng khoảng cách kinh tế - xã hội giữa nơi đến và nơi đi, giữa thành thị và nông thôn, và giữa các vùng. Các khu vực nông thôn và các vùng xuất cư chủ yếu như Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, Đồng bằng sông Cửu Long chịu nhiều thiệt thòi hơn trong khi khu vực thành thị, đặc biệt các tỉnh-thành phố lớn, và các vùng nhập cư chủ yếu như vùng Đông Nam Bộ được lợi từ những người di cư trẻ tuổi, thường là những người có vốn xã hội tốt hơn. Các kế hoạch và chính sách phát triển vùng và quốc gia cần tính đến những biện pháp để đảm bảo đóng góp tốt nhất của di cư tới phát triển. Những phát hiện từ TĐTDS cũng cho thấy cần đặc biệt quan tâm đến phụ nữ và trẻ em di cư. Trong thập niên vừa qua, cùng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, đang diễn ra sự tăng trưởng mạnh mẽ dân cư ở các vùng thành thị. Đồng thời lối sống đô thị ngày càng được định hình rõ nét. Đặc điểm nhân khẩu học của dân cư thành thị khác biệt đáng kể so với dân cư nông thôn: quy mô gia đình ở thành thị nhỏ hơn; người dân thành thị kết hôn muộn hơn và có ít con hơn. Dân cư thành thị cũng có được nhiều lợi thế so với dân cư nông thôn trong quá trình phát triển: điều kiện nhà ở tốt hơn, có nhiều cơ hội tiếp cận với tiện nghi cuộc sống như điện lưới, nước hợp vệ sinh và điều kiện học tập cũng như được làm việc trong môi trường đòi hỏi được đào tạo chuyên môn. Những lợi thế này thể hiện rõ nét tại những địa bàn có mức độ đô thị hóa cao. Điều này càng làm tăng thêm sức hấp dẫn của các thành phố lớn và thúc đẩy sự tăng trưởng dân số mạnh mẽ ở các khu vực này. Tuy nhiên, cũng quan sát thấy tình trạng đô thị hóa quá tải ở Việt Nam. Điều này dẫn đến hiện tượng một bộ phận dân cư thành thị không có điều kiện tiếp cận với các tiện nghi cơ bản như nhà vệ sinh, nguồn nước hợp vệ sinh, ngay cả ở những đô thị phát triển nhất như thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Tỷ lệ thất nghiệp của cư dân thành thị là cao hơn so với nông thôn. Như vậy, một bộ phận nhỏ cư dân thành thị đã không có cơ hội chia sẻ những lợi thế của các khu vực thành thị. Với tốc độ phát triển và dân số thành thị như hiện nay, Việt Nam sẽ phải đối mặt với ngày càng nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh từ quá trình đô thị hóa: tăng mật độ dân số ở thành thị; giải quyết việc làm; thiếu nhà ở; ô nhiễm môi trường, v.v Điều đó đòi hỏi phải có sự quan tâm lớn hơn đến vấn đề đô thị hóa ở Việt Nam hiện nay. DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 13
- CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 1. Giới thiệu chung Tổng điều tra dân số và nhà ở (TĐTDS) năm 2009 là cuộc Tổng điều tra dân số lần thứ tư và điều tra nhà ở lần thứ ba được tiến hành ở nước ta kể từ khi đất nước thống nhất năm 1975. Mục tiêu chính của TĐTDS là thu thập các dữ liệu cơ bản về dân số và nhà ở nhằm phục vụ công tác nghiên cứu và phân tích xu hướng phát triển dân số của cả nước cũng như của từng địa phương; cung cấp thông tin đánh giá việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2010 cũng như xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2011-2020; và giám sát việc thực hiện cam kết của Chính phủ trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc (BCĐTW, 2009). Tổng điều tra dân số và nhà ở được thực hiện ở nước ta 10 năm một lần. Cuộc TĐTDS đầu tiên được thực hiện vào năm 1979, sau đó là vào các năm 1989, 1999 và 2009. Tổng điều tra dân số năm 1979 thu thập các thông tin đơn giản và nhận được rất ít hỗ trợ kỹ thuật từ cộng đồng quốc tế. Ba cuộc TĐTDS tiếp theo đã thu thập được nhiều thông tin hơn và nhận được nhiều hỗ trợ kỹ thuật và tài chính hơn từ phía cộng đồng quốc tế. Các thông tin từ TĐTDS bao gồm những chỉ tiêu kinh tế - xã hội cơ bản nhất. Ba cuộc TĐTDS gần đây có khá nhiều thông tin giống nhau về dân số và nhà ở và vì thế có thể sử dụng vào mục đích so sánh và phân tích xu hướng. Bên cạnh điều tra toàn bộ để thu thập thông tin của tất cả các công dân Việt Nam hiện cư trú trên lãnh thổ Việt Nam tại thời điểm TĐTDS, một mẫu điều tra, thu thập nhiều thông tin cũng được tiến hành cùng với điều tra toàn bộ hơn. Mục đích của điều tra chọn mẫu này là: 1) Mở rộng nội dung điều tra; 2) Nâng cao chất lượng điều tra, nhất là đối với các câu hỏi nhạy cảm và phức tạp; và 3) Giảm chi phí cho TĐTDS. Phương án điều tra mẫu năm 2009 đã được thông qua với cỡ mẫu suy rộng là 15% dân số của cả nước. Tương tự như vậy, các cuộc điều tra mẫu của TĐTDS cũng đã được thực hiện trong các cuộc TĐTDS năm 1989 (với cỡ mẫu 5%) và 1999 (với cỡ mẫu 3%) (BCĐTW, 2009). Chuyên khảo này trình bày những phát hiện từ kết quả phân tích sâu các vấn đề di cư và đô thị hóa ở Việt Nam sử dụng các số liệu điều tra mẫu của ba cuộc TĐTDS gần đây nhất. Di cư và đô thị hóa đã trở thành một phần thiết yếu của tăng trưởng kinh tế nhanh tại Việt Nam kể từ sau cải cách kinh tế và đó cũng là những vấn đề then chốt của dân số và phát triển. Trong bối cảnh rộng hơn của khu vực châu Á, có thể thấy di cư đã tăng lên nhanh chóng với tốc độ chưa từng thấy trong hai thập kỷ qua (Deshingkar, 2006); dân số thành thị cũng tăng trưởng ở tốc độ rất cao trong vòng một thập kỷ rưỡi gần đây (UNESCAP, 2007). Chuyên khảo này cố gắng cung cấp một bức tranh chung về di cư và đô thị hóa ở Việt Nam trong hai thập kỷ qua. Chuyên khảo cũng cố gắng xem xét mối liên kết giữa di cư, đô thị hóa và một số kết quả đạt được trong việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ hay nói rộng hơn là mối liên hệ giữa di cư, đô thị hóa và phát triển. DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 15
- 2. Mục tiêu nghiên cứu Chuyên khảo này nhằm mô tả và phân tích mô hình, xu hướng và triển vọng của di cư và đô thị hóa tại Việt Nam. Chuyên khảo chủ yếu sử dụng số liệu từ cuộc TĐTDS năm 2009 và số liệu của các cuộc TĐTDS trước đó vào các năm 1989 và 1999. Các mục tiêu cụ thể của chuyên khảo này là: • Mô tả thực trạng di cư tại Việt Nam; • Mô tả những khác biệt của tình hình di cư trong nước theo các yếu tố chủ yếu như vùng, tỉnh/thành phố, loại hình di cư, dòng di cư giữa thành thị và nông thôn và giới tính của người di cư; • Mô tả xu hướng của di cư trong nước trong 20 năm qua (kể từ 1989) và triển vọng; • Mô tả thực trạng đô thị hóa ở Việt Nam; • Mô tả những khác biệt của đô thị hóa theo các yếu tố chính như theo vùng và theo tỉnh; • Mô tả xu hướng biến đổi của đô thị hóa trong 20 năm qua và triển vọng; • Đưa ra kết luận về những đặc điểm chính của di cư trong nước và đô thị hóa ở Việt Nam trong 20 năm qua; và • Đưa ra các gợi ý chính sách cho quản lý dân số và đô thị ở Việt Nam. 3. Phương pháp Như đã đề cập, chuyên khảo này sử dụng số liệu mẫu của ba cuộc TĐTDS gần đây nhất (cỡ mẫu lần lượt là 15%, 3% và 5% của các cuộc TĐTDS năm 2009, 1999 và 1989) cho phân tích. Những mẫu này mang tính đại diện không chỉ ở cấp quốc gia mà còn ở cấp tỉnh. Riêng năm 2009, mẫu được chọn mang tính đại diện tới cấp huyện. Đơn vị lấy mẫu của TĐTDS là địa bàn điều tra. Mẫu nghiên cứu được xây dựng dựa trên phương pháp chọn mẫu chùm cả khối. Các thông tin chi tiết về phương pháp chọn mẫu, kích thước mẫu, phiếu điều tra, phương pháp khảo sát và việc thực hiện điều tra dân số đã được trình bày trong các ấn phẩm xuất bản trước đây của Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương (xem BCĐTW, 2009; BCĐTW, 2000; BCĐTW, 1999; BCĐTW, 1991). Phương pháp phân tích mô tả hay phân tích đơn biến được sử dụng để đưa ra thực trạng về di cư và đô thị hóa. Phương pháp dự báo theo một số mô hình đơn giản cũng được áp dụng nhằm xem xét xu hướng biến đổi trong tương lai của di cư và đô thị hóa. Phân tích hai biến được dùng để tìm hiểu những khác biệt của di cư và đô thị hóa theo các đặc trưng về khu vực, nhân khẩu học và kinh tế - xã hội chính bao gồm: vùng nơi cư trú, tỉnh/thành phố nơi cư trú, tuổi của người trả lời, điều kiện sống của hộ gia đình người trả lời, trình độ đào tạo, trình độ học vấn và điều kiện nhà ở. Giới tính của người trả lời được xem là một vấn đề xuyên suốt và được đưa vào trong hầu hết các phân tích. Phân tích xu hướng biến đổi cũng được sử dụng để nắm bắt xu hướng biến đổi của di cư, tăng trưởng đô thị và đô thị hóa trong hai thập kỷ vừa qua. Hầu hết các biến số sử dụng trong chuyên khảo này được xây dựng dựa theo cách xây dựng 56 chỉ tiêu chuẩn của TĐTDS năm 2009 của BCĐTW (xem BCĐTW, 2010a) và theo phân loại đô thị của Chính phủ. Các so sánh được thực hiện không chỉ giữa các nhóm di cư khác nhau mà còn giữa người di cư và người không di cư. Các công cụ hỗ trợ trực giác, bao gồm các hình và bản đồ, cũng được sử dụng 16 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt
- nhằm giúp người đọc có thể hiểu các kết quả phân tích một cách dễ dàng hơn. Các kết quả phân tích số liệu chi tiết dùng cho các hình và bản đồ được trình bày trong các biểu phụ lục. Số liệu TĐTDS cũng như số liệu mẫu của TĐTDS có những điểm mạnh và cũng còn có hạn chế nhất định có ảnh hưởng đến phạm vi phân tích số liệu. Vì vậy, phần này trình bày những ưu điểm và hạn chế chính của số liệu TĐTDS và mẫu suy rộng ở Việt Nam nhằm cung cấp thông tin cơ bản và giải thích cho những hạn chế của việc phân tích trong chuyên khảo này. Ưu điểm lớn nhất của số liệu TĐTDS và điều tra chọn mẫu kết hợp trong TĐTDS là phạm vi bao phủ toàn quốc hay tính đại diện cao. Kích thước mẫu và số liệu của điều tra chọn mẫu lớn cho phép đưa ra các phân tích thống kê có tính đại diện không chỉ ở cấp vùng mà còn ở các cấp thấp hơn; điều tra chọn mẫu của TĐTDS có nhiều thông tin chi tiết cho phép phân tích nhiều vấn đề đến cấp tỉnh và thậm chí là cấp huyện với số liệu 2009. Đây là một lợi thế lớn của số liệu TĐTDS, cho phép thu thập những thông tin vĩ mô cho việc xây dựng các chiến lược và chính sách. Kích thước mẫu lớn của điều tra chọn mẫu cho phép thực hiện các mô tả và phân tích đối với các nhóm có dân số nhỏ như dân tộc thiểu số, các nhóm dân số biến động mạnh như người di cư và các vấn đề phức tạp như đô thị hóa. Ngoài ra, sự sẵn có của các thông tin kinh tế - xã hội cơ bản của người trả lời như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, dân tộc, nghề nghiệp và các đặc điểm cộng đồng như nông thôn/thành thị còn cho phép xem xét sâu hơn những khác biệt của di cư trong nước và đô thị hóa cũng như những vấn đề nghiên cứu khác liên quan đến những yếu tố này. Số liệu TĐTDS có những hạn chế nhất định. TĐTDS chỉ bao gồm một số ít các câu hỏi được chọn lọc rất kỹ và không thể có được các thông tin sâu vì nguồn lực có hạn trong khi mục tiêu lại rất lớn là thu thập thông tin từ toàn bộ dân số. Vì vậy, kết nối giữa di cư và đô thị hóa và những vấn đề kinh tế - xã hội khác được giới hạn ở những vấn đề chính sử dụng những thông tin sẵn có trong phiếu điều tra dân số. Những thông tin hạn chế này của TĐTDS cho phép đưa ra thực trạng và một số những khác biệt của di cư và đô thị hóa nhưng không cho phép đi sâu giải thích về những khác biệt này vì không có thông tin về các yếu tố giải thích. Các cuộc TĐTDS ở Việt Nam không thu thập những thông tin quan trọng liên quan đến quá trình di cư như lý do di cư, nơi sinh, và thời gian cư trú. Việc so sánh nơi thường trú thực tế tại thời điểm 5 năm trước thời điểm điều tra và nơi thường trú thực tế hiện tại để xác định người di cư có những hạn chế nhất định. Không thể xác định được thời điểm di chuyển lần gần đây nhất và thời gian cư trú tại nơi ở hiện tại của người di cư. Các nhóm dân di cư theo mùa vụ, di cư tạm thời và các dòng hồi cư xảy ra trong vòng 5 năm trước thời điểm điều tra cũng không được tính đến trong TĐTDS. Những hạn chế đó dẫn đến kết quả tất yếu là các số liệu về di biến động tính được từ bộ số liệu TĐTDS sẽ thấp hơn so với các con số thực tế. Những hạn chế này đã được chỉ ra trong một số ấn phẩm được xuất bản sau khi công bố các kết quả chủ yếu của TĐTDS năm 1999; tuy nhiên, TĐTDS năm 2009 vẫn còn những hạn chế này và vì thế vẫn cần lưu ý đến những hạn chế này khi sử dụng số liệu TĐTDS năm 2009. Tuy nhiên, cách thu thập số liệu giống hệt nhau giữa các cuộc TĐTDS cho phép so sánh các mô hình di cư giữa hai cuộc điều tra 1999 và 2009. Số liệu TĐTDS không bao gồm thông tin về tọa độ địa lý của khu vực khảo sát qua thời gian nên không thể phân tích được các yếu tố có tác động tới quá trình đô thị hóa. Qua 20 năm hay qua 3 cuộc TĐTDS gần đây nhất, có rất nhiều thay đổi về ranh giới địa lý ở cấp tỉnh, huyện và xã. Rõ ràng, quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhanh kể từ “Đổi mới” không chỉ làm gia tăng các dòng di cư mà còn ảnh hưởng đến việc mở rộng nhanh chóng các khu vực thành thị. Kết quả là, quá trình đô DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 17
- thị hóa tại Việt Nam trong hai đến ba thập kỷ qua có sự đóng góp quan trọng của cả di cư lẫn sự mở rộng phạm vi địa lý của các khu vực thành thị. Tuy nhiên, rất khó có thể đánh giá chính xác tỷ lệ đóng góp của từng yếu tố trên tới quá trình đô thị hóa từ những thông tin hiện có. 4. Cấu trúc của báo cáo Chuyên khảo bao gồm 5 chương. Chương đầu tiên trình bày các thông tin cơ bản và phương pháp nghiên cứu. Chương này cung cấp các thông tin rất cơ bản và thiết yếu về bối cảnh, lý do và mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, các đặc điểm cơ bản của số liệu TĐTDS, giới hạn và phạm vi nghiên cứu. Chương hai tập trung vào di cư. Do có nhiều cách định nghĩa di cư và cũng có nhiều loại hình di cư khác nhau, phần đầu tiên trong chương này trình bày các khái niệm cơ bản và định nghĩa di cư được sử dụng trong chuyên khảo này. Phần tiếp theo trong chương này trình bày thực trạng và xu hướng của các loại hình di cư và các dòng di cư. Phần này cũng trình bày các đặc điểm cơ bản của người di cư và những khác biệt của di cư giữa các nhóm dân số khác nhau. Đô thị hóa được trình bày trong chương thứ ba. Tương tự như Chương Hai, Chương Ba bắt đầu với các khái niệm cơ bản, định nghĩa, và các thông tin chung. Tiếp đến là các kết quả phân tích thực trạng, xu hướng và những khác biệt của đô thị hóa trong hai thập kỷ qua. Chương Bốn đi sâu xem xét mối liên hệ giữa di cư và đô thị hóa. Chương cuối cùng tóm tắt những kết quả chính, nhận định và đưa ra một số gợi ý chính sách rút ra trực tiếp từ các kết quả nghiên cứu. 18 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt
- CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT CỦA DI CƯ 1. Các khái niệm cơ bản và định nghĩa Trong chuyên khảo này, người di cư được định nghĩa là những người có nơi thường trú tại thời điểm 5 năm trước thời điểm điều tra khác với nơi thường trú hiện tại. Người không di cư là những người có nơi thường trú tại thời điểm 5 năm trước thời điểm điều tra cũng là nơi thường trú hiện tại. Theo định nghĩa này, rõ ràng là chỉ có những người từ 5 tuổi trở lên mới có đủ điều kiện xem xét. Chính vì lý do đó và để so sánh giữa các nhóm di cư và không di cư có ý nghĩa, các phân tích trong chuyên khảo này sẽ không tính đến nhóm dân số dưới 5 tuổi. Mặc dù có rất nhiều cách định nghĩa người di cư, cách định nghĩa trên là cách duy nhất có thể sử dụng với số liệu của TĐTDS. Một hạn chế của cách định nghĩa này là không phân loại được một số loại hình di cư như di cư tạm thời, di cư theo mùa vụ và hồi cư do các nhóm này ẩn trong các nhóm dân số không di cư hoặc di cư theo định nghĩa trên. Dữ liệu hiện có của TĐTDS cho phép phân loại di cư theo các cấp (địa giới) hành chính và theo các dòng di cư giữa nông thôn và thành thị. Theo phân loại địa giới hành chính hiện nay, Việt Nam được chia thành 6 vùng; dưới cấp vùng là 63 tỉnh; dưới cấp tỉnh có 690 đơn vị hành chính cấp huyện1 và dưới cấp huyện có 11.066 đơn vị hành chính cấp xã2. Do các chính sách phát triển thường được xây dựng theo từng cấp hành chính, việc phân loại di cư theo các cấp hành chính có vai trò quan trọng trong việc tính đến người di cư trong các kế hoạch phát triển ở từng cấp. Trong chuyên khảo này, các nhóm người di cư và không di cư được xác định theo cách phân loại di cư theo cấp hành chính như sau: • Nhập cư quốc tế: bao gồm những người từ 5 tuổi trở lên hiện đang sống ở Việt Nam và có nơi thường trú tại thời điểm 5 năm trước thời điểm TĐTDS là ở nước ngoài. • Di cư giữa các vùng: Bao gồm những người từ 5 tuổi trở lên hiện đang sống ở Việt Nam và 5 năm trước thời điểm TĐTDS sống ở vùng khác với vùng hiện đang cư trú. • Di cư giữa các tỉnh: Bao gồm những người từ 5 tuổi trở lên hiện đang sống ở Việt Nam và 5 năm trước thời điểm TĐTDS sống ở tỉnh khác với tỉnh hiện đang cư trú. • Di cư giữa các huyện: Bao gồm những người từ 5 tuổi trở lên và 5 năm trước thời điểm TĐTDS sống trong cùng tỉnh nhưng khác quận huyện so với nơi thường trú hiện tại. • Di cư trong huyện: Bao gồm những người từ 5 tuổi trở lên và 5 năm trước thời điểm TĐTDS sống trong cùng quận huyện nhưng khác xã/phường/thị trấn so với nơi thường trú hiện tại. 1 Bao gồm cả các huyện đảo. 2 Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009; trong đó bao gồm cả các xã đảo. DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 19
- • Mỗi nhóm người di cư có nhóm dân số không di cư tương ứng hay nói cách khác, người không di cư cũng được phân loại theo các cấp hành chính. Ví dụ, người không di cư giữa các tỉnh bao gồm những người từ 5 tuổi trở lên và 5 năm trước thời điểm điều tra sống trong cùng tỉnh với nơi thực tế thường trú hiện tại. Trong chuyên khảo này, nhóm không di cư giữa các tỉnh sẽ đại diện cho tất cả các nhóm dân số không di cư và gọi chung là nhóm không di cư bởi sự khác biệt giữa các nhóm không di cư phân theo các cấp hành chính là gần như không đáng kể3. Hình 2.1 tóm tắt định nghĩa các nhóm dân số di cư và không di cư. Dân số di cư vào một năm cụ thể được hiểu là dân số di cư đến (hay nhập cư) trong vòng 5 năm trước thời điểm đó; ví dụ, dân số di cư vào năm 2009 cần được hiểu là dân số nhập cư trong giai đoạn 2004-2009. Hình 2.1: Nơi thường trú tại thời điểm 5 năm trước thời điểm tổng điều tra và loại hình di cư Nước ngoài Việt Nam Tỉnh khác Cùng tỉnh Quận/huyện khác Cùng quận/huyện ⇓ Xã/phường khác Cùng xã/phường ⇓ ⇓ ⇓ ⇓ Không di cư giữa các Di cư trong huyện Di cư giữa các xã Di cư giữa các huyện Nhập cư tỉnh Không di cư giữa các huyện Không di cư giữa các tỉnh / Không di cư Không nhập cư quốc tế Theo dòng di cư giữa nông thôn và thành thị, các dòng di cư sau được xác định dựa trên đặc điểm nông thôn hay thành thị của nơi thường trú tại thời điểm 5 năm trước thời điểm điều tra và nơi thường trú hiện tại: • Di cư từ khu vực nông thôn đến nông thôn (NT-NT); • Di cư từ khu vực nông thôn đến thành thị (NT-TT) • Di cư từ khu vực thành thị đến nông thôn (TT-NT); và • Di cư từ khu vực thành thị đến thành thị (TT-TT). Hai nhóm dân số không di cư được sử dụng làm nhóm so sánh bao gồm: 3 Điều này được thấy rõ trong Biểu 2.1 trong phần tiếp theo. Theo định nghĩa trong chuyên khảo này: dân số không di cư giữa các huyện = dân số không di cư giữa các xã + dân số di cư trong huyện; dân số không di cư giữa các tỉnh = dân số không di cư giữa các huyện + dân số di cư giữa các huyện. Do dân số di cư trong huyện và di cư giữa các huyện chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng dân số, dân số không di cư cấp xã và huyện theo thứ tự chiếm tới 96% và 98% tổng dân số không di cư giữa các tỉnh. 20 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt
- • Không di cư ở nông thôn hay là những người không di cư hiện sống ở khu vực nông thôn; và • Không di cư ở thành thị hay là những người không di cư hiện sống ở khu vực thành thị. So với TĐTDS năm 2009 và 1999, TĐTDS năm 1989 không hỏi về tình trạng di cư ở cấp xã/phường, và cũng không hỏi đặc điểm nơi thường trú 5 năm trước là thuộc khu vực nông thôn hay thành thị. Do đó, các phân tích trong chuyên khảo có sử dụng những thông tin này sẽ giới hạn trong số liệu của hai cuộc TĐTDS 1999 và 2009. 2. Thực trạng di cư qua thời gian Dân số di cư theo cách xác định trong nghiên cứu này chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng dân số. Tuy nhiên, số lượng tuyệt đối của dân số di cư cũng không phải là nhỏ do tổng dân số nước ta tương đối lớn. Trong số hơn 78 triệu dân từ 5 tuổi trở lên trong năm 2009, có 2,1% hay tương ứng với 1,6 triệu người di cư trong huyện; 2,2% hay 1,7 triệu người di cư giữa các huyện; 4,3% hay 3,4 triệu người di cư giữa các tỉnh, và có một tỷ lệ rất nhỏ chiếm 0,1% hay 40.990 người nhập cư quốc tế. Kết quả từ các cuộc điều tra 1999 và 1989 cũng cho thấy mô hình tương tự (Xem Biểu 2.1). Di cư quốc tế đã không được đưa vào một cách đầy đủ trong TĐTDS do nhiều người Việt Nam đang cư trú tại nước ngoài tại thời điểm TĐTDS có thể chưa được tính đến. Ngoài ra, dân số nhập cư cũng không được thống kê đầy đủ vì công dân người nước ngoài hiện sống ở Việt Nam cũng không được tính đến trong TĐTDS. Vì những lý do này và vì số lượng dân số nhập cư quốc tế quá nhỏ, chuyên khảo này sẽ không đi sâu phân tích dòng di cư quốc tế. Do đó, thuật ngữ di cư được dùng trong những phần sau của chuyên khảo được hiểu là di cư trong nước. Biểu 2.1: Dân số di cư và không di cư theo loại hình di cư, 1989-2009 1989 1999 2009 Số người % Số người % Số người % Di cư trong huyện - - 1.342.568 2,0 1.618.160 2,1 Không di cư trong huyện - - 64.493.309 93,5 71.686.913 91,4 Di cư giữa các huyện 1.067.298 2,0 1.137.843 1,7 1.708.896 2,2 Không di cư giữa các huyện 51.797.097 95,5 65.835.877 95,5 73.305.072 93,5 Di cư giữa các tỉnh 1.349.291 2,5 2.001.408 2,9 3.397.904 4,3 Không di cư giữa các tỉnh 52.864.395 97,4 66.973.720 97,1 75.013.968 95,7 Nhập cư quốc tế 65.908 0,1 70.389 0,1 40.990 0,1 Không nhập cư quốc tế 54.213.686 99,9 68.975.128 99,9 78.411.872 99,9 Xu hướng gia tăng di cư cả về số lượng lẫn tỷ lệ người di cư được quan sát thấy trong hai thập kỷ qua, nhưng xu hướng gia tăng này chỉ nổi bật rõ rệt trong vòng một thập kỷ vừa qua. Có rất nhiều lý do có thể dẫn tới sự gia tăng này, trong đó phải kể đến việc giảm thiểu hệ thống hợp tác xã, việc chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường, việc dỡ bỏ các quy định hạn chế sự phát triển của khu vực tư nhân, sự phát triển của giao thông vận tải (Đặng Nguyên Anh và các tác giả khác, 1997), sự gia tăng khác biệt giữa các vùng (PWG, 1999), và sự nới lỏng các quy định DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 21
- hạn chế di cư (Doãn và Trịnh, 1998; Guest, 1998). Dân số di cư giữa các huyện tăng nhẹ từ 1,07 triệu người vào năm 1989 lên 1,14 triệu người vào năm 1999, sau đó tăng thêm hơn 50% và lên tới 1,7 triệu người vào năm 2009. Tỷ lệ dân số di cư giữa các huyện giảm từ 2% xuống 1,7% trong giai đoạn 1989-1999 nhưng sau đó tăng lên 2,2% trong năm 2009. Dân số di cư giữa các tỉnh có xu hướng ngày càng gia tăng rõ rệt. Số người di cư giữa các tỉnh tăng từ 1,3 triệu người năm 1989 lên 2 triệu người năm 1999 và lên tới 3,4 triệu người năm 2009. Tỷ lệ của nhóm di cư này trong tổng dân số cũng tăng tương ứng từ 2,5% trong năm 1989 lên 2,9% năm 1999 và 4,3% năm 2009. Những kết quả này cho thấy tỷ lệ tăng dân số di cư cao hơn tỷ lệ tăng dân số tự nhiên. Xem xét di cư ở các cấp địa giới hành chính cho thấy ở cấp càng cao thì tỷ lệ tăng dân số di cư cũng cao hơn. Hình 2.2 cho thấy nhóm dân số di cư giữa các tỉnh tăng mạnh mẽ nhất, di cư giữa các huyện tăng chậm hơn, và tăng chậm nhất là trong nhóm di cư trong huyện. Mặc dù số liệu của TĐTDS không cho biết lý do của sự khác biệt này, việc tăng thu nhập hộ gia đình, cải thiện giao thông vận tải, tăng cơ hội học hành và thông tin phong phú hơn thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng rõ ràng đã đem lại nhiều cơ hội lựa chọn cho người dân để di chuyển và tạo điều kiện để họ có thể di chuyển trong khoảng cách dài hơn và vượt ra ngoài ranh giới quen thuộc của họ. Hình 2.2: Tỷ lệ dân số di cư qua thời gian, 1989-2009 98 6 Không di cư 97 5 96 4 Di cư trong huyện 95 3 Kh ông di cư Di cư giữa 94 2 các huyện 93 1 Di cư giữa các tỉnh 92 0 1989 1999 2009 Số liệu từ ba cuộc TĐTDS đã cho thấy tốc độ tăng trưởng dân số di cư trong thập kỷ qua cao hơn tốc độ tăng trưởng dân số không di cư (Biểu 2.2). Thêm vào đó, tỷ lệ tăng dân số di cư trong giai đoạn 1999-2009 cũng cao hơn so với giai đoạn 1989-1999, trong khi tốc độ tăng trưởng dân số không di cư trong giai đoạn 1999-2009 thấp hơn so với giai đoạn 1989-1999. Do đó, tỷ lệ dân số di cư đã tăng nhanh hơn trong thập kỷ vừa qua. 22 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt
- Biểu 2.2: Tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm phân theo tình trạng di cư, 1989-2009 Đơn vị tính: % Di cư giữa các Giai đoạn Di cư trong huyện Di cư giữa các tỉnh Không di cư huyện 1989 - 1999 - 0,6 4,0 2,4 1999 - 2009 1,9 4,2 5,4 1,1 Hình 2.3 đưa ra một dự báo đơn giản về dân số di cư và không di cư từ 5 tuổi trở lên. Dự báo này không căn cứ vào cơ cấu tuổi-giới, mức sinh và mức chết của từng nhóm di cư và không di cư mà chỉ dựa vào tỷ lệ tăng dân số bình quân hàng năm của từng nhóm dân số di cư và không di cư trong giai đoạn 1999-2009 và giả định rằng tỷ lệ tăng dân số trung bình hàng năm vẫn giữ nguyên trong 10 năm tới. Mô hình dự báo cho thấy, đến năm 2019 dân số di cư giữa các tỉnh từ 5 tuổi trở lên sẽ là gần 6 triệu người; dân số di cư giữa các huyện sẽ có khoảng 2 triệu người và dân số di cư trong huyện sẽ có khoảng 2,6 triệu người; dân số không di cư sẽ tăng từ 75 triệu người năm 2009 lên 84 triệu người vào năm 2019. Do dân số không di cư có số lượng lớn và mức tăng chậm, đường thể hiện tăng trưởng dân số không di cư qua thời gian có hình dạng tương tự đường thể hiện tăng trưởng dân số qua thời gian. Tỷ lệ dân số di cư giữa các tỉnh tăng nhanh hơn so với di cư giữa các huyện và di cư trong huyện. Đến năm 2019, tỷ lệ dân số di cư giữa các tỉnh, di cư giữa các huyện và di cư trong huyện trên tổng dân số sẽ lần lượt là 6,4%, 3,0% và 2,4%. Hình 2.3: Dân số di cư và không di cư 1999-2009 và dự báo đến năm 2019 90 6 Không di cư 80 5 70 60 4 Di cư trong huyện 50 3 40 Di cư giữa 30 2 Dân số di cư các huyện Dân số không di cư 20 1 Di cư giữa 10 các tỉnh 0 0 199920002001200220032004200520062007200820092010201120122013201420152016201720182019 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 23
- Số liệu TĐTDS đã cung cấp bằng chứng rõ ràng về một hiện tượng rất được chú ý trong các nghiên cứu di cư thường được biết với tên gọi “nữ hóa di cư”. Điều này được thể hiện rất rõ qua hai chỉ số. Thứ nhất, dân số nữ di cư chiếm khoảng một nửa tổng số dân di cư. Thứ hai, tỷ lệ dân số nữ di cư trên tổng số dân di cư liên tục tăng trong hai thập kỷ qua. Ngay từ năm 1989, nữ giới đã chiếm hơn một nửa dân số di cư trong huyện và di cư giữa các huyện trong giai đoạn 1984-1989. Nữ giới chiếm dưới một nửa dân số di cư giữa các tỉnh năm 1989 nhưng đến năm 1999, tỷ lệ nam và nữ trong dân số di cư đã cân bằng. Đến năm 2009, số lượng nữ giới đã nhiều hơn số lượng nam giới trong tất cả các nhóm dân số di cư. Kết quả phân tích các bộ số liệu khác như Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam 2003, Điều tra Di cư 2004, hay Điều tra biến động dân số 1/4/2007 cũng cho các kết quả tương tự (Nguyễn, 2009). Sự giảm cầu lao động trong các hoạt động nông nghiệp tại nông thôn và gia tăng các cơ hội việc làm cho phụ nữ tại các thành phố và các khu công nghiệp là những lý do chính cho hiện tượng gia tăng số lượng và tỷ lệ nữ giới di cư này (Đặng, 2003; Kabeer và Trần, 2006). Xu hướng ngược lại được quan sát thấy trong nhóm dân số không di cư với tỷ lệ dân số nữ không di cư giảm dần theo thời gian (xem Hình 2.4). Một xu hướng nhất quán được thấy qua cả ba cuộc TĐTDS đó là nữ giới di cư trong phạm vi địa giới hành chính nhỏ hơn. Hình 2.4 cho thấy rõ ràng rằng tỷ lệ nữ di cư trong cả ba cuộc điều tra đều cao nhất trong dân số di cư trong huyện, nhỏ hơn trong di cư giữa các huyện và nhỏ nhất trong nhóm dân số di cư giữa các tỉnh. Hình 2.4: Tỷ lệ nữ di cư qua thời gian, 1989-2009 100 1989 1999 2009 50 0 Di cư trong huyện Di cư giữa các huyện Di cư giữa các tỉnh Không di cư 3. Các dòng di cư giữa khu vực nông thôn và thành thị Người di cư đóng góp vào dân số thành thị nhiều hơn là dân số nông thôn (Biểu 2.3). Kết quả này không nằm ngoài dự đoán khi có nhiều bằng chứng cho thấy sự gia tăng bất bình đẳng giữa khu vực nông thôn và khu vực thành thị với nhiều lợi thế nằm ở khu vực thành thị (Đặng và các tác giả 24 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt
- khác, 2007; TCTK & UNFPA, 2006). Tổng cộng, người di cư từ 5 tuổi trở lên đóng góp 3,8 triệu người vào dân số thành thị, hay nói cách khác 16% dân số thành thị từ 5 tuổi trở lên năm 2009 là người nhập cư trong giai đoạn 2004-2009. Cũng trong giai đoạn đó, dân số di cư từ 5 tuổi trở lên đóng góp 2,7 triệu người vào dân số nông thôn nhưng chỉ chiếm 5% dân số nông thôn từ 5 tuổi trở lên do dân số nông thôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu dân số cả nước. Biểu 2.3: Dân số và cấu trúc dân số di cư từ 5 tuổi trở lên tại nơi đến phân theo các dòng di cư và năm điều tra, 1999-2009 1999 2009 Tỷ lệ gia Số người % Số người % tăng hàng năm (%)4 Khu vực thành thị Di cư TT-TT 9 7 1 . 4 8 6 8 , 2 1.719.056 7,4 5,9 Di cư NT-TT 8 5 5 . 9 4 3 7 , 2 2.062.171 8,9 9,2 Không di cư ở TT 10.089.625 8 4 , 7 19.413.699 83,7 6,8 Tổng 11.917.055 100 23.194.927 100 6,9 Khu vực nông thôn Di cư TT-NT 2 1 9 . 7 1 8 0 , 6 547.626 1,0 9,6 Di cư NT-NT 760.939 2 , 2 2.204.430 4,0 11,2 Không di cư ở NT 33.778.197 9 7 , 2 52.273.214 95,0 4,5 Tổng 34.758.854 100 55.025.270 100 4,7 Một dự báo dân số đơn giản dựa trên tốc độ tăng trưởng dân số trung bình hàng năm được dùng để ước tính dân số di cư của các dòng di cư đến năm 2019. Dự báo cho thấy, dân số di cư từ nông thôn tới nông thôn sẽ có số lượng lớn nhất với 6,4 triệu người di cư vào năm 2019. Dân số di cư từ nông thôn ra thành thị sẽ đạt 5 triệu người, nhiều hơn đáng kể so với dân số di cư từ thành thị đến nông thôn với 1,4 triệu người di cư vào năm 2019. Và cuối cùng, dân số di cư từ thành thị tới thành thị sẽ tăng từ 1,7 triệu người năm 2009 lên 3 triệu người năm 2019 . 4 Tỷ lệ gia tăng hàng năm này là tỷ lệ trung bình cho giai đoạn 1999-2009. DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 25
- Hình 2.5: Dòng di cư giữa khu vực thành thị và nông thôn, 1999-2009 và dự báo tới 2019 7 TT- TT 6 NT - TT 5 TT- NT 4 NT - NT 3 2 1 0 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 Tỷ lệ của tất cả các nhóm dân số dân di cư giữa nông thôn và thành thị, trừ nhóm dân di cư ĐT-ĐT, trên tổng số dân ở nơi đến đều tăng lên trong 10 năm tới. Dòng di cư từ nông thôn ra thành thị sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến dân số thành thị trong khi di cư từ nông thôn tới nông thôn tiếp tục ảnh hưởng mạnh hơn đến dân số nông thôn. Tỷ lệ dân số di cư nông thôn-nông thôn và nông thôn- thành thị trong tổng dân số tại nơi đến sẽ gia tăng nhanh hơn và tỷ lệ dân số di cư thành thị đến nông thôn sẽ tăng chậm hơn. Dự báo cho thấy tỷ lệ dân số di cư nông thôn ra thành thị trên tổng số dân thành thị sẽ tăng từ 8,9% năm 2009 lên 11% năm 2019, trong khi tỷ lệ người di cư từ thành thị tới thành thị trên tổng số dân thành thị sẽ giảm từ 7,4% năm 2009 xuống 6,7% năm 2019. Ở các vùng nông thôn, tỷ lệ người di cư từ thành thị về nông thôn trên tổng số dân nông thôn sẽ tăng nhẹ từ 1% năm 2009 lên 1,6% năm 2019 và tỷ lệ người di cư từ nông thôn tới nông thôn trên tổng số dân nông thôn sẽ tăng từ 4% năm 2009 lên 7,3% năm 2019. 26 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt
- Hình 2.6: Tỷ lệ dân số di cư trong tổng dân số nơi đến phân theo các dòng di cư , 1999-2009 và dự báo đến năm 2019 12 10 TT- TT 8 NT - TT 6 4 TT- NT 2 NT - NT 0 199920002001200220032004200520062007200820092010201120122013201420152016201720182019 Ngày càng có nhiều phụ nữ từ các vùng nông thôn tham gia vào dân số di cư. Trong số bốn dòng di cư giữa thành thị và nông thôn, nữ giới di cư chiếm tỷ lệ cao hơn trong các dòng di cư từ khu vực nông thôn. Nữ giới chiếm tỷ lệ cao nhất trong dòng di cư từ nông thôn tới nông thôn trong các nhóm di cư trong huyện và di cư giữa các huyện, và tỷ lệ này đã liên tục tăng lên trong mười năm qua. Hình 2.7: Tỷ lệ dân số nữ di cư theo loại hình di cư và dòng di cư giữa nông thôn và thành thị, 1999-2009 100 NT-NT NT-TT TT-NT TT-TT 50 0 1999 2009 1999 2009 1999 2009 Di cư trong huyện Di cư giữa các huyện Di cư giữa các tỉnh DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 27
- 4. Chọn lọc tuổi của dân số di cư Kết quả phân tích số liệu TĐTDS 2009 cung cấp thêm những bằng chứng khẳng định các phát hiện trước đây cho thấy người di cư thường là những người trẻ tuổi (Guest, 1998; Đặng và các tác giả khác, 2003; TCTK, 2005; TCTK & UNFPA, 2006; UNFPA, 2007; Nguyễn, 2009). Hình 2.8 trình bày tháp dân số của người di cư và người không di cư từ số liệu điều tra mẫu TĐTDS năm 2009. Hình dáng của các tháp dân số này cho thấy rất rõ cấu trúc dân số tương đối già của nhóm dân số không di cư và cơ cấu dân số rất trẻ của các nhóm dân số di cư với mức độ tập trung rất cao quanh nhóm tuổi từ 15 đến 29. Kết quả TĐTDS năm 2009 cho thấy, tuổi trung vị của người không di cư năm 2009 là 30 tuổi, có nghĩa là một nửa dân số không di cư có độ tuổi từ 30 trở xuống, còn tuổi trung vị của người di cư ít hơn khoảng 5 năm, hay nói cách khác có một nửa số người di cư có độ tuổi từ 25 trở xuống. Các tháp dân số của người di cư cho thấy ở cấp địa giới hành chính càng cao thì người di cư càng trẻ hơn. Số liệu TĐTDS năm 2009 cho thấy nhóm người di cư trong huyện có độ tuổi cao hơn các nhóm di cư khác với tuổi trung vị là 26; người di cư giữa các huyện trẻ hơn với tuổi trung vị là 25 và người di cư giữa các tỉnh trẻ nhất với tuổi trung vị là 24. Các tháp dân số của người di cư cũng cho thấy một phát hiện thú vị khác là phụ nữ tham gia vào dân số di cư nhiều hơn nam giới trong nhóm tuổi có mức độ tập trung cao của người di cư là từ 15 đến 29 tuổi. Kết quả này cho thấy các vấn đề như sức khỏe sinh sản cho phụ nữ di cư cần được quan tâm nhiều hơn. Hình 2.8: Tháp dân số theo các loại hình di cư và không di cư, 2009 Di cư trong huyện Di cư giữa các huyện Di cư giữa các tỉnh Không di cư (Trung vị =26) (Trung vị =25) (Trung vị =24) (Trung vị =30) 80+ 75-79 Nam 70-74 Nữ 65-69 60-64 55-59 50-54 45-49 40-44 35-39 30-34 25-29 20-24 15-19 10-14 5-9 40 20 0 20 40 40 20 0 20 40 40 20 0 20 40 40 20 0 20 40 % % % % 28 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt
- Trong giai đoạn 1989-2009, nhóm dân số không di cư trải qua quá trình già hóa hay nói cách khác tuổi trung bình của nhóm này tăng lên nhanh chóng theo thời gian. Trong khi đó, những người di cư giữa các tỉnh trẻ tuổi lại tiếp tục trẻ hóa trong cùng giai đoạn. Xu hướng này không được thấy rõ ở các nhóm di cư khác (xem Hình 2.9). Xu hướng đối nghịch trong quá trình già hóa giữa người không di cư và người di cư giữa các tỉnh sẽ góp phần gia tăng những tác động kinh tế - xã hội của di cư, chẳng hạn như tác động đến hôn nhân và thị trường lao động. Mối lo ngại về khả năng tìm kiếm bạn đời của nam thanh niên ở các vùng nông thôn có nhiều người xuất cư sẽ càng tăng lên khi ngày càng có nhiều phụ nữ rời làng ra đi và nhất là khi những phụ nữ này lại ngày càng ra đi ở những độ tuổi trẻ hơn. Một phát hiện đáng chú ý khác là trong nhóm dân số không di cư, phụ nữ có xu hướng nhiều tuổi hơn nam giới; ngược lại, trong nhóm dân số di cư thì phụ nữ lại ít tuổi hơn nam giới (xem Hình 2.9). Kết quả này được thấy ở tất cả các nhóm người di cư trong cả ba cuộc TĐTDS. Hình 2.9: Tuổi trung vị của người di cư và không di cư phân theo giới tính, 1989-2009 35 34 1989 1999 2009 33 32 31 30 29 28 uổi T 27 26 25 24 23 22 21 20 Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Di cư trong huyện Di cư giữa các huyện Di cư giữa tỉnh Không di cư Người di cư có nguồn gốc từ nông thôn trẻ hơn đáng kể so với người di cư có nguồn gốc từ thành thị. Hình dáng của các tháp dân số trong Hình 2.10 cho thấy rất rõ cơ cấu dân số trẻ của nhóm dân số di cư từ nông thôn tới thành thị và từ nông thôn tới nông thôn, và cơ cấu dân số già hơn của nhóm dân số di cư từ thành thị đến nông thôn và thành thị tới thành thị. Người di cư từ nông thôn ra thành thị có độ tuổi trẻ nhất với tuổi trung vị là 23; người di cư nông thôn tới nông thôn có độ tuổi lớn hơn một chút với tuổi trung vị là 24; và cuối cùng, người di cư từ các thành thị già hơn nhóm di cư từ nông thôn từ 3 đến 4 tuổi với tuổi trung vị là 27. Các kết quả này phần nào chịu ảnh hưởng của cơ cấu dân số trẻ hơn của dân số khu vực nông thôn khi so với dân số khu vực thành thị: tuổi trung vị của người không di cư ở khu vực nông thôn là 28, ít hơn đáng kể so với tuổi trung vị 32 của người không di cư tại khu vực thành thị. DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 29
- Hình 2.10: Tháp dân số theo các dòng di cư giữa nông thôn và thành thị, 2009 NT-NT NT-TT TT-NT TT-TT (Trung vị =24) (Trung vị =23) (Trung vị =27) (Trung vị =27) 80+ 75-59 Nam 70-74 65-69 60-64 Nữ 55-59 50-54 45-49 40-44 Nh óm tuổi 35-39 30-34 25-29 20-24 15-19 10-14 5-9 40 20 0 20 40 40 20 0 20 40 40 20 0 20 40 40 20 0 20 40 % % % % 5. Khác biệt về di cư theo vùng Việt Nam có sự khác biệt về kinh tế-xã hội rõ rệt giữa các vùng. Có thể thấy những khác biệt không chỉ giữa nông thôn và thành thị mà còn giữa các vùng kinh tế - xã hội và giữa các tỉnh/thành phố trong cả nước. Những khác biệt này có nguồn gốc lịch sử, văn hóa và xã hội lâu đời. Sự đa dạng trong điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, cũng như sự đa dạng văn hóa đã tạo ra những đặc trưng riêng của các vùng miền. Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội mới của đất nước như chính sách phát triển kinh tế theo vùng trọng điểm và mức độ đầu tư kinh tế khác nhau giữa các vùng hay giữa các tỉnh/thành phố cũng góp phần không nhỏ trong việc tạo ra những khác biệt này. Nhìn chung, khu vực phía nam phát triển hơn về kinh tế và trở nên hấp dẫn hơn đối với người di cư. Nhiều thành phố có nền kinh tế năng động như 5 thành phố trực thuộc trung ương5 cũng thu hút nhiều người nhập cư hơn. Khác biệt theo vùng kinh tế xã hội Các kết quả phân tích số liệu TĐTDS cho thấy rõ sự khác biệt lớn giữa các vùng kinh tế xã hội. Tỷ lệ người di cư trên tổng dân số thay đổi đáng kể theo vùng kinh tế - xã hội và loại hình di cư. Số liệu TĐTDS năm 2009 cho thấy vùng Đông Nam Bộ có tỷ lệ người nhập cư cao nhất, đặc biệt là nhóm người di cư giữa các tỉnh. Dân số di cư giữa các tỉnh chiếm trên 14% tổng dân số của vùng Đông Nam Bộ năm 2009 trong khi tỷ lệ này chỉ nằm ở mức dưới 5% ở tất cả các vùng khác. Kết quả này cũng không nằm ngoài dự đoán khi 4 trong số 6 tỉnh của vùng Đông Nam Bộ (bao gồm Bình Dương, 5 Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Cần Thơ và Huế là 5 thành phố lớn trực thuộc trung ương, có vai trò hành chính tương đương cấp tỉnh. 30 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt
- Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh) có mức độ tập trung cao của các khu công nghiệp và phát triển kinh tế nói chung với nhu cầu lớn về lao động mà lực lượng lao động địa phương không đáp ứng được (xem Hình 2.11). Ngoài Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Hồng là hai vùng kinh tế xã hội có tỷ lệ người di cư giữa các tỉnh tương đối lớn hơn so với các vùng khác. Mặc dù năm 2009 không còn chương trình xây dựng vùng kinh tế mới tại Tây Nguyên, tiềm năng phát triển kinh tế rất lớn của Tây Nguyên cộng với đà phát triển của di cư theo các chương trình phát triển kinh tế mới trước kia khiến khu vực này vẫn tiếp tục trở thành điểm đến hấp dẫn đối với người di cư. Sức hấp dẫn của vùng Đồng bằng sông Hồng đối với người di cư cũng không nằm ngoài dự đoán do đây là vùng kinh tế trọng điểm ở Đông Bắc Bộ và là nơi tập trung các thành phố trọng điểm về phát triển kinh tế ở miền Bắc như Hà Nội và Hải Phòng. Hình 2.11: Tỷ lệ dân số di cư phân theo vùng kinh tế - xã hội, 2009 16 Trung du và miền núi 14 phía Bắc Đồng bằng sông 12 Hồng 10 Bắc Trung Bộ và DH miền Trung 8 Tây Nguyên 6 Đông Nam Bộ 4 2 Đồng bằng sông Cửu Long 0 Di cư trong huyện Di cư giữa các huyện Di cư giữa các tỉnh Tính về số tuyệt đối, Đông Nam Bộ là vùng có số lượng người di cư đến lớn nhất với hơn 1,6 triệu người năm 2009. Đồng bằng sông Hồng mặc dù có tỷ lệ người nhập cư thấp hơn Tây Nguyên nhưng lại có số lượng người nhập cư cao hơn (gần 290.000 người năm 2009) do có quy mô dân số lớn hơn. Kết quả điều tra dân số nhập cư, xuất cư và di cư thuần trong 5 năm trước thời điểm TĐTDS năm 2009 (xem Hình 2.12) cho thấy Đông Nam Bộ và Tây Nguyên là hai vùng đã được “lợi” về dân số thông qua di cư trong khi các vùng khác bị mất dân số thông qua cùng quá trình di cư này. Mặc dù vùng Đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ người nhập cư tương đối cao, đây cũng là vùng xuất phát chính của người di cư và có nhiều người xuất cư hơn là nhập cư đến vùng này. Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung và vùng Đồng bằng sông Cửu Long là các vùng có số lượng người xuất cư lớn nhất. DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 31
- Hình 2.12: Số dân nhập cư, xuất cư và di cư thuần trong 5 năm trước thời điểm TĐTDS năm 2009 của dòng di cư giữa các tỉnh theo vùng kinh tế - xã hội 1.800.000 1.600.000 Nhập cư Xuất cư 1.400.000 1.200.000 1.000.000 800.000 600.000 400.000 200.000 0 200.000 400.000 600.000 800.000 Trung du và Đồng bằng Bắc Trung Tây Nguyên Đông Nam Đồng bằng miền núi sông Hồng Bộ và DH Bộ sông Cửu phía Bắc miền Trung Long Bức tranh di cư giữa các vùng theo số liệu TĐTDS năm 2009 khá giống với bức tranh của năm 1999 về mô hình nhưng lại có rất nhiều thay đổi về số lượng dân số di cư. Tây Nguyên và Đông Nam Bộ là những vùng được lợi về dân số qua di cư trong giai đoạn 1994-1999 và vẫn tiếp tục là những vùng được lợi về dân số qua di cư giai đoạn 2004-2009; ngược lại, các vùng khác cũng vẫn tiếp tục là những vùng bị mất dân số qua di cư. Mặc dù Tây Nguyên vẫn được lợi về dân số thông qua di cư, sức hấp dẫn của khu vực này đã giảm đi rõ rệt: số lượng người nhập cư đến Tây Nguyên đã giảm xuống nhanh chóng trong khi số lượng người xuất cư khỏi vùng này lại tăng nhẹ trong thời gian qua. Số lượng người nhập cư đến vùng Đông Nam Bộ tiếp tục áp đảo số lượng người xuất cư khỏi vùng này và chênh lệch giữa dân số nhập cư và xuất cư đã tăng lên rất rõ khi số người nhập cư trong giai đoạn 2004-2009 đã tăng hơn 2,5 lần so với số người nhập cư trong giai đoạn 1994-1999 trong khi số người xuất cư vẫn giữ nguyên trong cùng giai đoạn. Vùng Đồng bằng sông Hồng cũng thu hút nhiều người nhập cư hơn nhưng ở quy mô nhỏ hơn hai vùng trên, trong khi số lượng người xuất cư hầu như không thay đổi trong 10 năm qua. Ngược lại, số người xuất cư từ Đồng bằng sông Cửu Long và vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung đã tăng nhanh chóng trong khi số người nhập cư không thay đổi nhiều. 32 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt
- Hình 2.13: Số dân nhập cư, xuất cư và di cư thuần trong 5 năm trước thời điểm TĐTDS năm 1999 của dòng di cư giữa các tỉnh theo vùng kinh tế - xã hội 1.800.000 1.600.000 Nhập cư Xuất cư 1.400.000 1.200.000 1.000.000 800.000 600.000 400.000 200.000 0 200.000 400.000 600.000 800.000 Trung du và Đồng bằng Bắc Trung Tây Nguyên Đông Nam Đồng bằng miền núi sông Hồng Bộ và DH Bộ sông Cửu phía Bắc miền Trung Long Các kết quả phân tích cũng cho thấy những khác biệt vùng rất lớn giữa khu vực nông thôn và đô thi. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long và vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung “mất” dân số do di cư ở cả nông thôn và thành thị nhưng khu vực nông thôn ở các vùng này bị “mất” nhiều người hơn so với khu vực thành thị. Ngược lại, cả nông thôn và thành thị của vùng Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ đều được “lợi” dân số do di cư nhưng khu vực thành thị của Đông Nam Bộ được “lợi” hơn rất nhiều so với khu vực nông thôn. Tuy nhiên, khu vực thành thị của vùng Trung du và miền núi phía Bắc đã đổi vai trò từ một vùng xuất cư thuần hay mất dân số do di cư trong giai đoạn 1994-1999 thành vùng nhập cư thuần hay được thêm dân số do di cư trong giai đoạn 2004-2009. Có thể thấy di cư có tác động mạnh hơn đến đô thị hóa ở một số vùng của đất nước. DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 33
- Hình 2.14: Số dân nhập cư, xuất cư và di cư thuần trong 5 năm trước TĐTDS năm 2009 của dòng di cư giữa các tỉnh phân theo khu vực thành thị-nông thôn và vùng kinh tế - xã hội 1.800.000 1.600.000 Nhập cư Xuất cư 1.400.000 1.200.000 1.000.000 800.000 600.000 400.000 200.000 0 200.000 400.000 600.000 800.000 Thành Nông Thành Nông Thành Nông Thành Nông Thành Nông Thành Nông thị thôn thị thôn thị thôn thị thôn thị thôn thị thôn Trung du và Đồng bằng Bắc Trung Tây Nguyên Đông Nam Đồng bằng miền núi sông Hồng Bộ và DH Bộ sông Cửu phía Bắc miền Trung Long Quá trình phát triển kinh tế năng động đã khiến Đông Nam Bộ trở thành vùng có sức hút đặc biệt với người di cư. Đông Nam Bộ nhận được 1,6 triệu người nhập cư từ các vùng khác, cao hơn rất nhiều so với số người nhập cư từ các vùng khác đến Đồng bằng sông Hồng là vùng có lượng người nhập cư nhiều thứ hai với gần 290.000 người nhập cư đến từ các vùng khác. Tây Nguyên là vùng có số lượng người đến nhiều thứ ba với 161.000 người nhập cư đến từ các vùng khác; Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung nhận được 110.000 người; Trung du và miền núi phía Bắc nhận được 100.000 người; và Đồng bằng sông Cửu Long nhận được gần 70.000 người nhập cư từ các vùng khác. Dòng di cư giữa các vùng lớn nhất là từ vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến vùng Đông Nam Bộ với hơn 714.000 người. Dòng di cư lớn thứ hai là từ Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung tới vùng Đông Nam Bộ với hơn 570.000 người. Dòng di cư lớn thứ ba là từ vùng Đồng bằng sông Hồng tới vùng Đông Nam Bộ với hơn 195.000 người. Dòng di cư lớn nhất đến vùng Đồng bằng sông Hồng là từ vùng Trung du và miền núi phía Bắc với 155.000 người, tiếp đến là từ vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung với 98.000 người. 34 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt
- Hình 2.15: Số lượng người di cư giữa các vùng theo theo vùng nơi đi năm 2004 và vùng nơi đến năm 2009 800 000 700 000 600 000 Đồng bằng sông Cửu Long 500 000 Đông Nam Bộ 400 000 Tây Nguyên 300 000 Bắc Trung bộ và DH miền Trung Dân số di cư thường trú 200 000 Đồng bằng sông Hồng Nơi thực tế vào 1/4/2004 vào 100 000 Trung du và miền núi phía Bắc Trung du và miền núi phía Bắc Đồng bằng sông Cửu Long Bắc Trung bộ và DH miền Trung Nơi thực tế thường trú vào 1/4/2009 Nhìn chung, các kết quả phân tích cho thấy các vùng phía Nam nước ta tiếp tục thu hút được nhiều người nhập cư hơn so với các vùng phía Bắc. Đông Nam Bộ là vùng có sức hút lớn nhất đối với người di cư. Những vùng xuất cư chính là Đồng bằng sông Cửu Long, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung. Trung du và miền núi phía Bắc cũng là vùng xuất cư nhưng có số lượng người xuất cư rất nhỏ hơn nhiều so với hai vùng xuất cư chính. Các vùng Đồng bằng sông Hồng và Tây Nguyên vừa là những vùng nhập cư và vừa là những vùng xuất cư quan trọng. Khác biệt theo tỉnh Các kết quả phân tích cho thấy sự khác biệt rất rõ về di cư giữa các tỉnh. Bản đồ 2.1 thể hiện sự khác biệt giữa các tỉnh về số lượng người nhập cư và Bản đồ 2.2 thể hiện sự khác biệt giữa các tỉnh về tỷ lệ người nhập cư trong giai đoạn 2004-2009. Bản đồ 2.3 thể hiện sự khác biệt giữa các tỉnh về số lượng người xuất cư và Bản đồ 2.4 thể hiện sự khác biệt giữa các tỉnh về tỷ lệ người xuất cư trong giai đoạn 2004-2009. DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 35
- Bản đồ 2.1: Số người nhập cư giai đoạn 2004-2009 36 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt
- Bản đồ 2.2: Tỷ lệ người nhập cư 2004-2009 trên tổng dân số tại nơi đến vào 1/4/2009 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 37
- Bản đồ 2.3: Số người xuất cư giai đoạn 2004-2009 38 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt
- Bản đồ 2.4: Tỷ lệ người xuất cư 2004-2009 trên tổng số dân tại nơi đi vào 1/4/2004 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 39
- Dân số di cư thuần được ước tính bằng dân số nhập cư trong giai đoạn 5 năm trước thời điểm TĐTDS trừ dân số xuất cư trong cùng giai đoạn. Mười tỉnh có dân số di cư thuần nhỏ nhất được đặt ở bên trái và mười tỉnh có dân số di cư thuần lớn nhất được đặt ở phía bên phải trong Biểu 2.4. Trong giai đoạn 2004-2009, Thanh Hóa và Nghệ An là hai tỉnh có dân số di cư thuần lớn nhất. Ngoại trừ Nghệ An bị “mất” dân số ở khu vực nông thôn nhưng lại “được” dân số ở khu vực thành thị do di cư, tất cả các tỉnh khác ở phía bên trái bị “mất” dân số ở cả khu vực nông thôn lẫn thành thị do di cư. Một số tỉnh ở phía bên phải bao gồm: Quảng Ninh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Hải Phòng, Đà Nẵng cũng bị “mất” dân số ở nông thôn nhưng lại “được” dân số ở khu vực thành thị do di cư. Dân số khu vực thành thị của TP Hồ Chí Minh tăng rất đáng kể do di cư với số tăng lên do di cư là gần 780.000 người. Bên cạnh đó, dân số ở cả khu vực thành thị và nông thôn của Đồng Nai, Hà Nội, và Bình Dương cũng tăng lên đáng kể do di cư. Biểu 2.4: Các tỉnh có dân số di cư thuần thấp nhất và cao nhất giai đoạn 2004-2009 Đơn vị tính: Người Tỉnh/Thành Thành Nông Tỉnh/Thành Thành Nông Tổng số Tổng số phố thị thôn phố thị thôn Thanh Hóa -6.172 -192.107 -198.279 Quảng Ninh 16.696 -4.906 11.791 Nghệ An 6.361 -124.215 -117.854 Gia Lai 4.453 8.249 12.702 An Giang -2.920 -85.476 -88.396 Bà Rịa-Vũng Tàu 21.347 -664 20.683 Thái Bình -4.101 -77.253 -81.354 Hải Phòng 26.451 -2.580 23.872 Nam Định 242 -78.621 -78.379 Đak-Nông 6.270 22.511 28.780 Bến Tre -5.718 -70.715 -76.433 Đà Nẵng 66.672 -3.575 63.097 Hà Tĩnh -1.269 -68.954 -70.222 Đồng Nai 78.680 72.370 151.050 Đồng Tháp -863 -66.534 -67.397 Hà Nội 156.983 135.443 292.426 Tiền Giang -2.327 -61.599 -63.926 Bình Dương 99.438 366.632 466.070 Cà Mau -4.045 -56.411 -60.456 TP. Hồ Chí Minh 778.113 127.218 905.331 Tỷ lệ dân số nhập cư trong tổng dân số ở các tỉnh cũng rất khác nhau. Ở Thanh Hóa, số người nhập cư trong giai đoạn 2004-2009 chỉ chiếm 0,6% dân số sống trong tỉnh tại thời điểm TĐTDS năm 2009. Ở rất nhiều tỉnh khác, ví dụ như Cà Mau, Bắc Giang, Thái Bình, Quảng Ngãi, Bạc Liêu, An Giang và Sóc Trăng, chỉ có chưa đến 1% dân số của tỉnh là người di cư trong 5 năm từ các tỉnh khác đến. Ngược lại, rất nhiều tỉnh khác lại có trên 5% dân số là người nhập cư từ tỉnh khác. Người nhập cư đến các tỉnh Đà Nẵng, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh chiếm trên 10% dân số của các tỉnh này. Bình Dương là trường hợp rất đặc biệt với hơn một phần ba dân số là người nhập cư từ các tỉnh khác. Kết quả điều tra cho thấy hầu hết các tỉnh thành có tỷ lệ người nhập cư cao nhất đều là những thành phố lớn. Kết quả này gợi ý rằng di cư đóng vai trò quan trọng trong quá trình đô thị hóa. 40 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt
- Biểu 2.5: Các tỉnh có tỷ lệ người di cư giữa các tỉnh trong tổng dân số thấp nhất và cao nhất năm 2009 Tỉnh/Thành Tỷ lệ Thành Nông Tỷ lệ Thành Nông Tỉnh/Thành phố phố (%) thị thôn (%) thị thôn Thanh Hóa 0,6 -6.172 -192.107 Lai Châu 4,9 7.669 3.388 Cà Mau 0,7 -4.045 -56.411 Lâm Đồng 4,9 15.980 -7.021 Bắc Giang 0,8 -921 -57.217 Cần Thơ 5,1 32.625 -28.382 Thái Bình 0,8 -4.101 -77.253 Bà rịa-Vũng tàu 6,3 21.347 -664 Quảng Ngãi 0,8 -2.934 -51.511 Hà Nội 6,6 156.983 135.443 Bạc Liêu 0,8 -1.089 -34.326 Đak Nông 9,4 6.270 22.511 An Giang 0,9 -2.920 -85.476 Đà Nẵng 10,1 66.672 -3.575 Sóc Trăng 0,9 -840 -53.202 Đồng Nai 10,4 78.680 72.370 Quảng Bình 1 -1.894 -33.950 TP Hồ Chí Minh 15,7 778.113 127.218 Phú Yên 1 -271 -21.184 Bình Dương 36,6 99.438 366.632 Ghi chú: những tỉnh được đánh dấu cũng là những tỉnh có số di cư thuần lớn nhất. 6. Lao động di cư và điều kiện sống Lao động di cư Số liệu TĐTDS cho thấy nhóm dân số di cư trong độ tuổi lao động (từ 15-55 tuổi)6 có tỷ lệ dân số đã từng được đào tạo chuyên môn kỹ thuật cao hơn tỷ lệ này của nhóm dân số không di cư cũng trong độ tuổi này (xem Hình 2.16). Kết quả này cung cấp thêm bằng chứng cho giả thuyết cho rằng người di cư thường có vốn xã hội lớn hơn so với người không di cư bởi vốn xã hội là điều kiện cho phép người di cư có thể di chuyển (UNFPA, 2007). Kết quả này ngụ ý rằng khu vực nào càng nhận được nhiều người di cư càng chiếm được nhiều lợi thế hơn do nhận được nhiều lao động có kỹ năng hơn thông qua di cư; ngược lại, những khu vực xuất cư bị thiệt thòi hơn khi mất đi lao động có kỹ năng. Nhóm dân số di cư giữa các huyện có tỷ lệ đã từng được đào tạo chuyên môn kỹ thuật cao hơn so với nhóm dân số di cư trong huyện. Tuy nhiên, nhóm dân số di cư giữa các tỉnh lại có tỷ lệ được đào tạo chuyên môn kỹ thuật thấp hơn so với cả hai nhóm di cư trong huyện và giữa các huyện. Cả nhóm dân số di cư và không di cư đều có chung một số đặc điểm liên quan đến đào tạo chuyên môn kỹ thuật. Thứ nhất, tỷ lệ đã được đào tạo chuyên môn kỹ thuật giảm trong giai đoạn 1989 và 1999 nhưng sau đó tăng lên đáng kể trong giai đoạn 1999-2009. Thứ hai, tỷ lệ nam giới đã từng được đào tạo cao hơn so với nữ giới. 6 Theo Luật Lao động hiện hành, tuổi lao động cho nam giới là từ 15 đến 60 và cho nữ giới là từ 15 đến 55. Vì thế, các phân tích trong chuyên khảo này chọn nhóm tuổi từ 15 đến 55 là nhóm tuổi mà cả nam và nữ đều đang trong độ tuổi lao động để phân tích. DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 41
- Hình 2.16: Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động từ 15 đến 55 tuổi đã từng được đào tạo chuyên môn kỹ thuật 50 45 1989 1999 2009 40 35 36 30 33 30 % 25 28 26 24 23 20 21 22 21 15 18 14 15 14 14 10 12 12 9 9 9 5 8 7 0 Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Di cư trong huyện Di cư giữa các Di cư giữa các tỉnh Không di cư huyện Số liệu TĐTDS cũng cho thấy nhóm dân số di cư từ nông thôn ra thành thị có tỷ lệ được đào tạo chuyên môn kỹ thuật thấp hơn so với nhóm dân số di cư từ thành thị đến nông thôn. Kết quả này không nằm ngoài dự đoán do khu vực thành thị là nơi tập trung nhiều các cơ sở đào tạo hơn. Điều này cũng phù hợp với kết quả rằng người không di cư ở thành thị có khả năng được đào tạo chuyên môn kỹ thuật cao hơn đáng kể so với người không di cư ở khu vực nông thôn. Khu vực nông thôn bị “mất” lao động có kỹ năng do quá trình di cư từ nông thôn ra thành thị và “được” lao động có kỹ năng do quá trình di cư từ thành thị đến nông thôn do khả năng được đào tạo chuyên môn kỹ thuật trong số những người di cư nông thôn ra thành thị cao hơn so với những người không di cư ở nông thôn và khả năng được đào tạo chuyên môn kỹ thuật trong những người di cư từ thành thị về nông thôn cũng cao hơn so với những người không di cư ở nông thôn. Tương tự như vậy, khu vực thành thị cũng “mất” lao động có kỹ năng do di cư từ thành thị đến nông thôn. Rất khó có thể nói khu vực thành thị hay nông thôn được lợi hơn từ các dòng di cư giữa nông thôn và thành thị. Một mặt, các khu vực thành thị không được lợi nhiều từ di cư nông thôn đến thành thị như các khu vực nông thôn được lợi từ di cư thành thị đến nông thôn do người di cư nông thôn- thành thị có tỷ lệ được đào tạo chuyên môn kỹ thuật thấp hơn người không di cư ở khu vực thành thị. Mặt khác, khu vực thành thị lại được lợi nhiều hơn so với nông thôn khi trên thực tế dân số di cư từ nông thôn ra thành thị lớn hơn rất nhiều so với dân số di cư từ thành thị về nông thôn. Hơn nữa, khu vực thành thị có thể còn được lợi rất nhiều từ cả những người di cư không có kỹ năng tay nghề từ nông thôn ra thành thị bởi những người này đã cung cấp một nguồn lao động đáp ứng được nhu cầu lớn về lao động chân tay hay lao động có tay nghề thấp ở các khu vực thành thị. 42 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt
- Hình 2.17: Tỷ lệ dân số từ 15 đến 55 tuổi đã từng được đào tạo phân theo dòng di cư 50 45 1999 2009 40 35 35 30 % 25 30 26 23 25 20 22 22 19 15 17 16 10 15 9 10 5 7 5 4 0 Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Không di cư ở Không di cư ở Di cư ở NT-TT Di cư ở TT-NT thành thị nông thôn Di cư và mức sống Do số liệu điều tra mẫu của TĐTDS không có các thông tin chi tiết về thu nhập hay tham gia vào lực lượng lao động nên không thể tính toán trực tiếp mức sống của hộ gia đình. Tuy nhiên, số liệu điều tra mẫu lại có nhiều các thông tin gián tiếp phản ánh mức sống của hộ gia đình. Do đó, chuyên khảo này xây dựng một chỉ số gián tiếp đo lường mức sống của hộ gia đình theo phương pháp phân tích nhân tố phát triển bởi Guilmoto7. Theo phương pháp này, mức sống hộ được xây dựng theo phương pháp phân tích nhân tố thành phần dựa trên các thông tin về sở hữu bảy loại tài sản khác nhau (ti vi, điện thoại, máy tính, máy giặt, điều hòa, tủ lạnh, xe máy), bốn loại tiện nghi (loại nhiên liệu dùng để thắp sáng, loại nhiên liệu dành cho nấu ăn, nguồn nước, loại nhà vệ sinh), loại vật liệu làm nhà (vật liệu làm tường và mái nhà) và điều kiện nhà ở của hộ gia đình. Dựa trên các kết quả phân tích nhân tố thành phần, các hộ được xếp vào năm nhóm ngũ vị phân theo các mức sống khác nhau gồm: khá giả, cận khá giả, trung bình, cận nghèo và nghèo. Cần lưu ý rằng mức sống ở đây là một chỉ báo tổng hợp; chỉ báo này phần nào phản ánh cả điều kiện sống và điều kiện kinh tế của hộ gia đình. Bên cạnh đó cũng cần lưu ý rằng việc xác định hộ nghèo hay hộ khá giả trong báo cáo này được thực hiện thông qua phân chia theo ngũ vị phân giàu nghèo tương đối so với các hộ gia đình khác trong cùng điều tra, hoàn toàn không phải giàu nghèo theo các cách xác định khác, ví dụ nghèo theo chuẩn nghèo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội. 7 Xem Phụ lục 5 trong chuyên khảo của Christophe Z. Guilmoto về Tỷ số giới khi sinh để biết chi tiết. Trong chuyên khảo này, Guilmoto gọi tên biến số này là biến tình trạng kinh tế xã hội (SES). DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 43
- Nhìn chung, các kết quả phân tích cho thấy người di cư có mức sống cao hơn người không di cư: tỷ lệ người thuộc hộ khá giả trong nhóm người di cư cao hơn đáng kể so với tỷ lệ này trong nhóm người không di cư; trong khi đó, tỷ lệ người thuộc hộ nghèo trong nhóm người di cư lại thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ người thuộc hộ nghèo trong nhóm người không di cư (Hình 2.18). Các kết quả này một lần nữa củng cố giả thuyết cho rằng vốn xã hội của người di cư nhìn chung lớn hơn vốn xã hội của người không di cư. Tương tự như đã thấy trong các phân tích trên về chất lượng lao động di cư, các kết quả này cũng gợi ý rằng nơi tiếp nhận được nhiều người di cư sẽ có nhiều lợi thế về mặt kinh tế hơn; ngược lại, nơi có nhiều người xuất cư có thể phải chịu nhiều thiệt thòi hơn. Các kết quả này cho thấy di cư có thể góp phần làm gia tăng bất bình đẳng giữa nơi đi và nơi đến như đã thấy trong một số nghiên cứu trước (Nguyễn, 2009). Hình 2.18: Mức sống của hộ người di cư và không di cư năm 2009 100 90 24 Khá giả 80 36 50 43 70 Cận khá giả 21 60 % 22 50 Trung bình 32 21 40 24 16 30 Cận nghèo 19 20 13 14 9 Nghèo 10 12 7 15 7 0 5 Di cư trong Di cư giữa các Di cư giữa các Không di cư huyện huyện tỉnh So sánh mức sống giữa khu vực nông thôn và thành thị có thể thấy rõ tỷ lệ người thuộc hộ nghèo ở khu vực nông thôn cao hơn rất nhiều so với khu vực thành thị. Hình 2.19 cho thấy trong khi tỷ lệ người thuộc hộ nghèo trong nhóm người không di cư ở khu vực thành thị chỉ là 6% thì tỷ lệ này ở khu vực nông thôn lên tới 18%; ngược lại, trong khi có tới trên một nửa số người không di cư ở khu vực thành thị thuộc nhóm hộ khá giả thì ở khu vực nông thôn tỷ lệ này chỉ có 15%. Câu hỏi được đặt ra là người di cư từ nông thôn ra thành thị và ngược lại từ thành thị về nông thôn làm thay đổi bức tranh này như thế nào (?). Các kết quả phân tích cho thấy mức sống của hộ người di cư từ nông thôn ra thành thị không chỉ cao hơn mức sống hộ của người không di cư ở nông thôn mà còn cao hơn cả mức sống hộ người không di cư ở thành thị: trên hai phần ba (67%) số người di cư NT-TT thuộc hộ khá giả trong khi tỷ lệ này trong nhóm người di cư TT-NT chỉ là 42% và trong nhóm người không di cư ở thành thị và nông thôn lần lượt là 52% và 15%. Các kết quả này gợi ý rằng mặc dù di cư NT-TT có thể cải thiện mức sống của người di cư nhưng khó có thể sử dụng di cư như một phương tiện để có thể đạt được mục tiêu 44 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt
- thiên niên kỷ đầu tiên về xóa đói nghèo do dòng di cư này cũng có thể làm gia tăng khoảng cách kinh tế xã hội giữa nơi đi nông thôn và nơi đến thành thị. Các kết quả phân tích trên cho thấy dường như khu vực thành thị vốn phồn vinh hơn lại được hưởng lợi kinh tế nhiều hơn trong khi khu vực nông thôn mất mát nhiều hơn do những người xuất cư từ nông thôn đi lại là những người xuất thân từ các hộ gia đình khá giả hơn. Mức sống của hộ người di cư từ thành thị về nông thôn thấp hơn mức sống của hộ người không di cư ở thành thị nhưng lại cao hơn mức sống của hộ người không di cư ở nông thôn. Vì vậy, di cư thành thị-nông thôn có thể sẽ làm lợi cho cả khu vực thành thị lẫn nông thôn và làm giảm khoảng cách kinh tế giữa hai khu vực này. Hình 2.19: Mức sống hộ gia đình phân theo dòng di cư giữa thành thị và nông thôn năm 2009 100 15 90 Khá giả 80 42 52 22 70 Cận khá giả 60 67 24 % Trung bình 50 23 40 21 Cận nghèo 30 22 16 20 20 12 11 Nghèo 10 9 8 18 6 4 9 0 2 Di cư trong Di cư giữa các Di cư giữa các Không di cư huyện huyện tỉnh Lưu ý rằng những kết quả phân tích trong chuyên khảo này dựa thuần túy vào các bằng chứng hiện có từ TĐTDS. Tác động của di cư đến khu vực nông thôn và thành thị trên thực tế phức tạp hơn và đòi hỏi nhiều thông tin hơn những gì có trong TĐTDS để có những đánh giá cụ thể. Ví dụ như thông tin về các khoản tiền và hiện vật gia đình đầu tư cho người di cư đi lên thành phố, tiền và hiện vật người di cư ở thành phố chuyển về cho gia đình ở nông thôn, tiền và hiện vật người di cư ở thành phố hỗ trợ cho những người di cư tiếp theo lên làm ăn sinh sống hay học tập ở thành phố, mức độ đóng góp của các khoản lưu chuyển này cho thành phố và nông thôn, v.v Hơn nữa, những phát hiện trong chuyên khảo này mới chỉ phản ánh đời sống kinh tế của những người di cư lâu dài; những người di cư tạm thời chưa được đề cập đến trong bức tranh này. Chúng ta có thể sẽ có một bức tranh rất khác khi tính đến người di cư tạm thời bởi họ thường xuất thân từ các gia đình nghèo hơn, có mức sống thấp hơn nhiều so với những người di cư lâu dài và người không di cư (Đặng và các tác giả khác, 2003; WB, 2003; Klump và Bonschab, 2004; Nguyễn và White, 2007; Nguyễn, 2009). Dù sao đi nữa, các kết quả phân tích từ TĐTDS đã cho thấy một hiện tượng tương tự như hiện tượng “chảy máu chất xám” thường thấy trong dòng di cư quốc tế, ít nhất là với dòng di cư lâu dài. DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 45
- 7. Di cư và giáo dục Di cư có thể tác động đến giáo dục theo cả chiều hướng tiêu cực lẫn tích cực. Đối với nhiều gia đình, di cư được sử dụng như một phương tiện nhằm đạt được trình độ học vấn cao hơn và điều kiện giáo dục tốt hơn cho một số thành viên của gia đình, đặc biệt là con cái họ. Đối với một số gia đình khác, các quá trình gián đoạn, trong đó có gián đoạn học hành, luôn đi kèm với di cư có thể có tác động đáng kể theo chiều hướng tiêu cực đến người di cư và các thành viên trong gia đình. Trong chuyên khảo này, chúng tôi đặc biệt quan tâm tới giáo dục tiểu học vì phổ cập giáo dục tiểu học là một trong các mục tiêu quan trọng của Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (UN, 2010). Số liệu của TĐTDS năm 2009 cho thấy tỷ lệ dân số di cư từ 15 tuổi trở lên đã tốt nghiệp tiểu học của tất cả các nhóm dân số di cư (di cư trong huyện, di cư giữa các huyện và di cư giữa các tỉnh) cao hơn đáng kể so với nhóm dân số không di cư (xem Hình 2.20). Kết quả này được tìm thấy trong cả hai nhóm dân số nam và nữ. Trong nhóm dân số không di cư và tất cả các nhóm dân số di cư, tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên đã tốt nghiệp tiểu học ở nhóm nam cao hơn nhóm nữ. Một điểm đáng chú ý ở đây là khoảng cách chênh lệch giữa nam và nữ trong nhóm dân số không di cư cao hơn đáng kể so với các nhóm dân số di cư. Kết quả này hàm ý rằng mục tiêu bình đẳng giới của Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ có thể đạt được trong nhóm dân số di cư trước nhóm dân số không di cư. Hình 2.20: Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên đã tốt nghiệp tiểu học phân theo giới tính và loại di cư (2009) 100 Nam Nữ 90 80 70 60 91 91 87 % 50 78 89 86 85 71 40 30 20 10 0 Di cư trong huyện Di cư giữa các Di cư giữa các Không di cư huyện tỉnh Hình 2.21 cung cấp thêm các bằng chứng cho thấy người di cư có tỷ lệ tốt nghiệp tiểu học cao hơn người không di cư trong hầu hết các nhóm tuổi trừ nhóm 15-19 tuổi và khoảng cách chênh lệch giữa các nhóm là gần như không đổi. Trong nhóm 15-19 tuổi không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm và có tới trên 90% số người trong độ tuổi này đã tốt nghiệp tiểu học. Hơn nữa, hình 2.21 46 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt
- còn cho thấy xu hướng phát triển rất tích cực của giáo dục cho cả người di cư và không di cư: những người trẻ tuổi hơn có cơ hội giáo dục tốt hơn hay tỷ lệ tốt nghiệp tiểu học cao hơn trong các nhóm dân số trẻ hơn. Hình 2.21: Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên đã tốt nghiệp tiểu học phân theo nhóm tuổi và dòng di cư (2009) 100 90 80 70 60 % 50 40 30 20 Không di cư Di cư trong huyện 10 Di cư giữa các huyện Di cư giữa các tỉnh 0 15-19 20-24 25-29 30-34 35-39 40-44 45-49 50-54 55-59 60-64 65-69 70-74 75-79 80+ Nhóm tuổi Trong nhóm dân số không di cư, những người sống ở khu vực nông thôn có tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên đã tốt nghiệp tiểu học thấp hơn những người sống ở khu vực thành thị. Cả hai nhóm dân số di cư nông thôn – thành thị và thành thị - nông thôn đều có tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên đã tốt nghiệp tiểu học cao hơn nhóm không di cư ở cả nông thôn lẫn thành thị (Xem Hình 2.22). Các kết quả này cho thấy người di cư theo định nghĩa sử dụng trong chuyên khảo này có thể không cần sự ưu tiên trong phổ cập giáo dục tiểu học cho bản thân họ nhưng cần có sự ưu tiên nhiều hơn cho nhóm dân số không di cư sống tại nông thôn để có thể sớm đạt được mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học. Bên cạnh đó, các kết quả phân tích cũng cho thấy ảnh hưởng của di cư đến nơi đi và nơi đến: những vùng có nhiều người nhập cư nhận được dân số với chất lượng giáo dục tốt hơn và vùng có nhiều người xuất cư chịu thiệt thòi khi mất đi nhóm dân số có chất lượng giáo dục tốt hơn. Hiện tượng này rất giống với hiện tượng “chảy máu chất xám” được biết đến rất phổ biến trong các nghiên cứu di cư quốc tế. DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 47
- Hình 2.22: Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên đã tốt nghiệp tiểu học phân theo dòng di cư giữa thành thị và nông thôn năm 2009 100 Nam Nữ 90 80 70 60 89 % 50 93 90 85 80 87 75 40 67 30 20 10 0 Không di cư ở Không di cư ở Di cư NT-TT Di cư TT-NT thành thị nông thôn So sánh với dân số di cư, dân số không di cư có tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi học tiểu học (6 đến 10 tuổi) đang đi học cao hơn nhưng không đáng kể (xem Hình 2.23). Trong năm 2009, 97% trẻ em không di cư trong độ tuổi 6 đến 10 hiện đang đi học (tính tại thời điểm khảo sát); trong khi đó, tỷ lệ này là 96% với nhóm dân số di cư trong huyện và giữa các huyện và 91% với nhóm dân số di cư giữa các tỉnh. Kết quả này cho thấy di cư trong tỉnh hầu như không có mối liên hệ rõ ràng với việc gián đoạn học hành của trẻ em nhưng di cư giữa các tỉnh có mối liên hệ khá rõ với việc gián đoạn học tập của trẻ em. Hình 2.23: Tỷ lệ đi học của trẻ em từ 6 đến 10 tuổi, 1989 - 2009 100 3 3 5 3 90 20 22 31 24 32 24 30 80 Chưa từng 97 đi học 70 91 60 96 96 % 50 74 75 79 Đã từng 77 đi học 40 67 65 68 30 20 Đang đi học 10 0 1999 2009 1989 1999 2009 1989 1999 2009 1989 1999 2009 Di cư trong Di cư giữa các Di cư giữa các tỉnh Không di cư huyện huyện 48 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt
- Sự khác biệt giữa nhóm dân số di cư và không di cư trong việc tới trường được quan sát thấy rõ ràng hơn và lớn hơn khi xem xét đến trẻ em trong nhóm 11 đến 18 tuổi hay nhóm trong độ tuổi học phổ thông (xem Hình 2.24). Trong năm 2009, 75% số trẻ em không di cư từ 11 đến 18 tuổi đang ngồi trên ghế nhà trường. Tỷ lệ này của các nhóm trẻ em di cư trong huyện, di cư giữa các huyện và di cư giữa các tỉnh thấp hơn và lần lượt là 64%, 71% và 44%. Thực trạng này một lần nữa cho thấy ảnh hưởng của di cư giữa các tỉnh tới sự gián đoạn học tập của trẻ em. Hình 2.24: Tỷ lệ đi học của trẻ em từ 11 đến 18 tuổi, 1989-2009 100 4 2 1 2 3 7 3 5 4 7 4 90 21 24 25 28 24 33 80 41 34 Chưa từng 38 44 đi học 70 55 60 % 50 76 Đã từng 71 73 đi học 40 64 72 30 55 52 55 59 75 44 20 Đang đi 10 học 0 1999 2009 1989 1999 2009 1989 1999 2009 1989 1999 2009 Di cư trong Di cư giữa các Di cư giữa các tỉnh Không di cư huyện huyện 8. Di cư và điều kiện nhà ở Các vấn đề sức khỏe xuất hiện ở trong ít nhất ba mục tiêu cụ thể của Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ. Chính phủ Việt Nam đã cam kết cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt cho tất cả các tầng lớp nhân dân. Mặc dù TĐTDS năm 1999 và 2009 không có các chỉ tiêu về sức khỏe nhưng các cuộc điều tra này có thu thập các thông tin liên quan khác, trong đó có các yếu tố quan trọng có ảnh hưởng mạnh đến sức khỏe như điều kiện nhà ở, sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh, và sử dụng hố xí hợp vệ sinh. TĐTDS năm 1989 không có các thông tin này và do đó các phân tích dưới đây chỉ bao gồm số liệu từ hai cuộc TĐTDS 1999 và 2009. Tình trạng nhà ở Tổng điều tra năm 1999 và 2009 có câu hỏi khác nhau về tình trạng nhà ở. Trong TĐTDS năm 1999, tình trạng nhà ở được ghi nhận dựa trên sự kết hợp giữa đánh giá cá nhân của người trả lời và quan sát của điều tra viên. Tình trạng nhà ở được xếp vào bốn loại sau: nhà kiên cố, nhà bán kiên cố, nhà thiếu kiên cố và nhà đơn sơ. Trong TĐTDS năm 2009, nhà ở được phân loại theo vật liệu chính của ba thành phần cấu thành chủ yếu gồm: cột (trụ, hoặc tường chịu lực), mái nhà, và tường/bao che8. 8 Về định nghĩa và cách xây dựng các chỉ số, xem: BCĐTW, 2010a. DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 49
- TCTK đã xây dựng một chỉ số về tình trạng nhà ở dựa trên ba thành phần này. Tuy nhiên, việc phân loại như vậy có thể gây nhiều tranh cãi nên chuyên khảo này chỉ đơn giản sử dụng vật liệu chính của mái nhà để xây dựng một biến số đánh giá tình trạng nhà ở một cách đơn giản hơn9. Tình trạng nhà ở được phân chia theo ba nhóm: nhà kiên cố (mái bê tông), nhà bán kiên cố (mái ngói hoặc mái tôn) và nhà đơn sơ (mái lá, rơm, giấy dầu). Để có thể đạt được sự tương thích nhất định về cách phân chia loại nhà ở giữa hai bộ số liệu, nhà thiếu kiên cố và nhà đơn sơ của biến tình trạng nhà ở năm 1999 được gộp thành một nhóm và đặt tên là nhà đơn sơ. Do sự khác biệt về việc xây dựng biến tình trạng nhà ở của hai cuộc TĐTDS năm 1999 và 2009, việc so sánh giữa hai năm này không được khuyến khích hoặc nếu có so sánh thì cần rất thận trọng với việc giải thích các kết quả. Nhìn chung, người di cư có nhà ở tốt hơn người không di cư; điều này được thấy rõ khi so sánh tỷ lệ sở hữu nhà đơn sơ và nhà kiên cố của hai nhóm dân số này (xem Hình 2.25). So với năm 1999, khoảng cách về điều kiện nhà ở giữa người di cư và người không di cư dường như được thu hẹp lại hơn trong năm 2009. Trong các nhóm người di cư, người di cư giữa các huyện có nhà ở tốt hơn người di cư trong huyện và người di cư giữa các tỉnh; và tình trạng nhà ở của hai nhóm người di cư trong huyện và giữa các tỉnh là tương đương. Hình 2.25: Tình trạng nhà ở của người dân từ 5 tuổi trở lên phân theo tình trạng di cư, 1999- 2009 100 4 3 2 5 90 29 33 37 Nhà đơn sơ 80 36 70 82 60 78 73 77 % 50 43 Nhà bán 48 kiên cố 40 45 50 30 20 28 Nhà kiên cố 10 19 18 24 19 17 16 13 0 1999 2009 1999 2009 1999 2009 1999 2009 Di cư Di cư giữa các Di cư giữa các Không di cư trong huyện huyện tỉnh 9 Cách phân loại 2009 sử dụng kết hợp ba biến số như vậy có thể chưa phản ánh đúng thực tế. Theo công bố số liệu Tổng điều tra năm 1999, tỷ lệ nhà kiên cố ở khu vực thành thị lớn hơn đáng kể so với khu vực nông thôn; kết quả phân tích số liệu 2009 cho thấy điều ngược lại trong khi khu vực thành thị lại là nơi được tập trung các nguồn lực và có tốc độ phát triển lớn hơn qua 10 năm qua. Các kết quả trái ngược và chưa hợp lý này gợi ý rằng cách phân loại nhà ở hiện tại cần được đánh giá kỹ. Cách phân loại sử dụng trong chuyên khảo này tuy đơn giản nhưng lại hợp lý hơn khi so sánh với số liệu 1999 và trong tương quan với các biến số thể hiện tình trạng kinh tế xã hội khác. 50 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt
- Lợi thế thành thị được thấy rõ qua tình trạng nhà ở (Hình 2.26). Người không di cư sống ở thành thị có điều kiện nhà ở tốt hơn người không di cư sống ở nông thôn: người không di cư ở thành thị có tỷ lệ người sống ở nhà kiên cố cao hơn nhiều và tỷ lệ người sống ở nhà đơn sơ thấp hơn một cách đáng kể so với các tỷ lệ tương ứng trong nhóm người không di cư sống ở nông thôn. Tình trạng nhà ở của người di cư rất giống với tình trạng nhà ở những người không di cư sống tại nơi mà họ chuyển đến. Tình trạng nhà ở của người di cư từ thành thị về nông thôn gần giống với tình trạng nhà ở của người không di cư sống ở nông thôn. Tình trạng nhà của người di cư từ nông thôn đến thành thị năm 1999 gần giống với tình trạng nhà ở của người không di cư sống ở thành thị; tuy nhiên, đến năm 2009, người di cư từ nông thôn đến thành thị có tình trạng nhà ở kém hơn người không di cư sống ở thành thị. Trong cả 2 năm của TĐTDS, tình trạng nhà ở của người di cư từ nông thôn lên thành thị tốt hơn nhiều so với người không di cư sống ở nông thôn. Các kết quả này gợi ý rằng tình trạng nhà ở của người dân có thể được cải thiện sau khi di chuyển từ nông thôn lên thành thị, có lẽ do sự phổ biến hơn của các loại nhà kiên cố ở thành thị, nhưng người di cư từ nông thôn lên thành thị dường như ngày càng gặp nhiều khó khăn hơn. Hình 2.26: Tình trạng nhà ở phân theo dòng di cư giữa thành thị và nông thôn của người dân từ 5 tuổi trở lên, 1999-2009 2 1 100 7 4 20 20 42 38 Nhà đơn sơ 80 72 79 60 83 54 79 52 % Nhà bán kiên cố 40 50 49 20 Nhà kiên cố 26 26 28 20 14 14 9 11 0 1999 2009 1999 2009 1999 2009 1999 2009 Không di cư ở Không di cư ở Di cư NT-TT Di cư TT-NT thành thị nông thôn Sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh Trong TĐTDS năm 2009, nước hợp vệ sinh được định nghĩa “là nước máy, nước giếng khoan, nước giếng đào được bảo vệ hoặc nước mưa”.10 TĐTDS năm 1999 đã sử dụng định nghĩa nguồn nước hợp vệ sinh đơn giản hơn nhưng cũng tương thích với định nghĩa 2009. 10 Về định nghĩa và cách xây dựng chỉ số, xem BCĐTW, 2010b. DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 51
- Kết quả từ hai cuộc TĐTDS đã cho thấy tỷ lệ người sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh trong nhóm người không di cư cao hơn nhóm người di cư. Trong số những người di cư, tỷ lệ người sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh trong nhóm di cư giữa các tỉnh và di cư giữa các huyện cao hơn tỷ lệ này trong nhóm di cư trong huyện. Tỷ lệ người sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh đã tăng đều trong tất cả các nhóm người di cư và không di cư trong thập kỷ vừa qua (xem Hình 2.27). Hình 2.27: Tỷ lệ người từ 5 tuổi trở lên sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh, 1999-2009 100 90 80 70 1999 60 92 % 50 94 77 2009 88 85 78 40 87 87 30 20 10 0 Di cư trong huyện Di cư giữa các Di cư giữa các Không di cư huyện tỉnh Việc tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh đã được cải thiện rõ qua thời gian; các kết quả phân tích cho thấy tỷ lệ người sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh năm 2009 cao hơn so với năm 1999 ở tất cả các nhóm người di cư và không di cư. Các kết quả cũng cho thấy rõ sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn: người dân thành thị, dù là người di cư hay không di cư, đều có tỷ lệ sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh cao hơn đáng kể so với người dân nông thôn (xem Hình 2.28). Sự sẵn có của nguồn nước hợp vệ sinh ở khu vực thành thị rõ ràng đã góp phần tạo ra khác biệt này. Tuy nhiên, đó không phải là lý do duy nhất: tỷ lệ người sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh trong nhóm người di cư từ thành thị về nông thôn cao hơn so với nhóm dân không di cư sống ở nông thôn cho thấy sự hiện diện của các yếu tố ảnh hưởng khác đến việc sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh. 52 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt
- Hình 2.28: Tỷ lệ người sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh phân theo dòng di cư giữa thành thị và nông thôn, 1999-2009 100 90 80 1999 70 60 2009 92 96 % 50 93 82 91 83 40 73 88 30 20 10 0 Không di cư Không di cư Di cư NT-TT Di cư TT-NT ở thành thị ở nông thôn Tình trạng nhà vệ sinh Theo TĐTDS năm 2009, hố xí hợp vệ sinh được định nghĩa “là hố xí tự hoại hoặc hố xí bán tự hoại”.11 Sử dụng số liệu TĐTDS năm 2009 có thể phân loại nhà vệ sinh thành ba nhóm: nhà vệ sinh có hố xí hợp vệ sinh; nhà vệ sinh có hố xí không hợp vệ sinh; và không có nhà vệ sinh. TĐTDS năm 1999 đã thu thập các thông tin tương tự và vì vậy loại nhà vệ sinh được phân nhóm giống như của năm 2009. Việc sử dụng nhà vệ sinh đã được cải thiện rõ rệt qua mười năm giữa hai cuộc TĐTDS. So với năm 1999, tỷ lệ người có nhà vệ sinh có hố xí hợp vệ sinh năm 2009 tăng lên rõ rệt trong khi tỷ lệ người không có nhà vệ sinh giảm xuống. Các kết quả này được tìm thấy ở tất cả các nhóm người di cư và không di cư. Kết quả phân tích từ cả hai cuộc TĐTDS 1999 và 2009 cho thấy nhóm dân số không di cư có tỷ lệ có nhà vệ sinh có hố xí hợp vệ sinh thấp nhất và tỷ lệ không có nhà vệ sinh cao nhất so với tất cả các nhóm dân số di cư. Không có sự khác biệt đáng kể nào giữa các nhóm dân số di cư. Trong năm 1999, tỷ lệ người có hố xí hợp vệ sinh trong nhóm người di cư giữa các tỉnh cao hơn tỷ lệ này trong nhóm người di cư trong huyện nhưng thấp hơn tỷ lệ này trong nhóm người di cư giữa các huyện. Tuy nhiên, đến năm 2009 đã có sự thay đổi lớn trong nhóm người di cư giữa các tỉnh và nhóm dân số này có tỷ lệ người có hố xí hợp vệ sinh cao nhất trong năm 2009: 83% số người di cư giữa các tỉnh có hố xí hợp vệ sinh trong khi tỷ lệ này ở nhóm người di cư giữa các huyện, di cư trong huyện và không di cư chỉ lần lượt là 79%, 63% và 50% (xem Hình 2.29). 11 Về định nghĩa và cách xây dựng chỉ số, xem BCĐTW, 2010b. DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 53
- Hình 2.29: Loại nhà vệ sinh của người dân từ 5 tuổi trở lên phân theo tình trạng di cư, 1999- 2009 100 4 3 7 9 13 10 13 13 16 90 17 Không có 80 31 hố xí 36 70 41 42 50 60 % 67 Hố xí khác 50 83 79 40 63 54 30 50 46 Hố xí hợp 38 20 vệ sinh 10 17 0 1999 2009 1999 2009 1999 2009 1999 2009 Di cư trong Di cư giữa các Di cư giữa các Không di cư huyện huyện tỉnh So sánh loại nhà vệ sinh theo dòng di cư lại một lần nữa cho thấy điều kiện sống tốt hơn của người dân thành thị. Người dân sống ở thành thị, bất kể là người không di cư hay người di cư, đều có tỷ lệ người có hố xí hợp vệ sinh cao hơn và tỷ lệ người không có nhà vệ sinh thấp hơn so với người dân sống ở nông thôn. Người di cư từ nông thôn lên thành thị có tỷ lệ người có hố xí hợp vệ sinh cao nhất (65% năm 1999 và 87% năm 2009); tỷ lệ này không những cao hơn nhóm dân không di cư ở nông thôn (5% năm 1999 và 41% năm 2009) mà còn cao hơn nhóm dân không di cư sống ở thành thị (58% năm 1999 và 79% năm 2009). Các kết quả này không nằm ngoài dự đoán khi chúng ta đã thấy người di cư từ nông thôn lên thành thị có mức sống cao hơn người dân không di cư sống ở thành thị. Người di cư từ thành thị về nông thôn có tỷ lệ người có hố xí hợp vệ sinh cao hơn hẳn nhóm người dân không di cư sống ở nông thôn nhưng thấp hơn hẳn nhóm người không di cư sống ở thành thị. Những khác biệt này rất giống với những khác biệt tìm thấy trong các phân tích mức sống dân cư ở phần trên; các kết quả này gợi ý rằng loại nhà vệ sinh và mức sống dân cư có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. 54 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt
- Hình 2.30: Loại nhà vệ sinh của người dân từ 5 tuổi trở lên phân theo dòng di cư giữa thành thị và nông thôn, 1999-2009 100 4 6 3 6 8 18 10 14 90 10 17 Không có 27 80 34 29 hố xí 70 50 61 60 % Hố xí 50 79 87 khác 77 40 66 58 65 30 41 Hố xí hợp 20 26 vệ sinh 10 5 0 1999 2009 1999 2009 1999 2009 1999 2009 Không di cư ở Không di cư ở Di cư NT-TT Di cư TT-NT thành thị nông thôn Một lần nữa cần lưu ý rằng các kết quả trên chỉ đúng cho nhóm dân số di cư lâu dài và chưa tính đến các nhóm dân số di cư tạm thời. Một số nghiên cứu trước đây đã cho thấy những kết quả tương tự về ‘vị thế cao hơn’ của người di cư lâu dài khi so với người không di cư tại nơi đến nhưng đồng thời cũng đã cho thấy ‘vị thế thấp hơn’ của người di cư tạm thời khi so với người không di cư tại nơi đến (Djamba và các tác giả khác, 1999; Nguyễn và White, 2007; Đặng và các tác giả khác, 2003). DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 55
- CHƯƠNG III: ĐÔ THỊ HÓA VÀ TĂNG TRƯỞNG ĐÔ THỊ Sau hơn 20 năm Đổi mới, quá trình đô thị hóa ở Việt Nam đã diễn ra mạnh mẽ. Theo tổng hợp của Cục Phát triển đô thị (Bộ Xây dựng 2010) từ 63 tỉnh thành phố, hệ thống đô thị quốc gia đang có sự chuyển biến tích cực về lượng và chất. Năm 1990 cả nước mới có khoảng 500 đô thị, đến năm 2000 con số này lên tới 649, năm 2003 là 656 đô thị. Mạng lưới đô thị hiện có 752 đô thị, trong đó có 02 đô thị đặc biệt là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, 09 đô thị loại I, 12 đô thị loại II, 45 đô thị loại III, 41 đô thị loại IV và 643 đô thị loại V (chiếm 86%). Bước đầu đã hình thành chuỗi đô thị trung tâm quốc gia và trung tâm vùng. Các đô thị trung tâm quốc gia gồm Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ. Các đô thị trung tâm vùng gồm các thành phố như: Biên Hòa, Vũng Tàu, Buôn Ma Thuột, Nha Trang, Nam Định, Thái Nguyên, v.v. Các đô thị trung tâm tỉnh gồm các thành phố, thị xã giữ chức năng trung tâm hành chính-chính trị, kinh tế, văn hóa, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, và các đô thị trung tâm huyện; đô thị trung tâm cụm các khu dân cư nông thôn, các đô thị mới. Tỷ lệ dân số đô thị đã tăng từ 23,7% năm 1999 lên 29,6% năm 2009 (25,4 triệu dân đô thị trong số 85,8 triệu dân số toàn quốc). Các điểm đô thị có mặt trên khắp lãnh thổ đất nước. Tuy nhiên qúa trình đô thị hóa diễn ra không đồng đều. Các vùng phía Bắc có tỷ lệ dân số đô thị ít hơn hẳn so với vùng phía Nam. Mô hình này có thể thấy rõ ràng ở các Bản đồ 3.1 và 3.2 là các bản đồ trình bày tỷ lệ dân số sống ở các khu vực đô thị trong những năm 1999 và 2009.13 12 Theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP và Nghị định số 72/2001/NĐ-CP thì khái niệm đô thị bao gồm cả vùng nội thành và ngoại thành. Như vậy khái niệm dân cư đô thị bao gồm cả dân cư nội thành và ngoại thành. Tuy nhiên, theo định nghĩa của TĐTDS thì dân cư thành thị chỉ bao gồm dân cư ở vùng nội thành phố, nội thị xã và thị trấn. Để bảo đảm tính nhất quán với báo cáo chung của Tổng cục Thống kê, trong báo cáo này tác giả sẽ dùng cụm từ “thành thị” hay “đô thị” để chỉ khu vực nội thành, nội thị, thị trấn. Trong một số trường hợp, thuật ngữ “đô thị” được dùng chung cho các khái niệm như đô thị hóa, các loại đô thị. 13 Số lượng các tỉnh, thành phố thay đổi trong thời kỳ giữa hai cuộc tổng điều tra (1999-2009). Tỷ lệ dân cư đô thị được tính căn cứ vào số liệu ở mỗi cuộc TĐTDS. DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 57
- Bản đồ 3.1: Tỷ lệ dân số sống ở các khu vực đô thị năm 1999 58 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt
- Bản đồ 3.2: Tỷ lệ dân số sống ở các khu vực đô thị năm 2009 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt 59
- Mức độ đô thị hóa tăng lên ở Việt Nam trong thập niên đầu của thế kỷ 21 gắn liền với quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và xã hội của xã hội Việt Nam trong thời kỳ này. Những biến đổi này bao gồm tăng trình độ giáo dục, đa dạng hóa cơ cấu nghề nghiệp và tăng hội nhập về không gian. Sự thay đổi của đất nước, đặc biệt từ quá trình Đổi mới kinh tế năm 1986, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của cuộc sống. Điều đó đã thúc đẩy quá trình di cư mạnh mẽ từ nông thôn vào đô thị như đã trình bày trong Chương II và làm tăng tỷ lệ dân số đô thị. Báo cáo các kết quả chủ yếu của TĐTDS 2009 (BCĐTW, 2010b) đã cung cấp cho người đọc những thông tin chung về thực trạng đô thị hóa ở Việt Nam, đặc biệt là về cơ cấu dân số đô thị. Chương này của chuyên khảo sẽ phân tích sâu hơn những đặc trưng nhân khẩu học và kinh tế xã hội của dân cư đô thị và nông thôn và cung cấp những thông tin quan trọng về mối liên hệ giữa đô thị hoá với những khác biệt về nguồn nhân lực giữa các khu vực đô thị và nông thôn. 1. Một số khái niệm Đô thị hóa Từ góc độ nhân khẩu học và địa lý kinh tế, đô thị hóa được hiểu là sự di cư từ nông thôn tới đô thị, là sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống trong những vùng lãnh thổ đô thị. Mức độ đô thị hóa của một quốc gia được đo lường bằng tỷ lệ dân cư đô thị trong tổng số dân. Về mặt xã hội, đô thị hóa được hiểu là quá trình tổ chức lại môi trường cư trú của con người. Đô thị hóa không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư và những yếu tố vật chất, mà còn làm chuyển hóa những khuôn mẫu của đời sống kinh tế-xã hội, phổ biến lối sống đô thị tới các vùng nông thôn, và toàn bộ xã hội. Như vậy, quá trình đô thị hóa không chỉ diễn ra về mặt số lượng như tăng trưởng dân số, mở rộng lãnh thổ, tăng trưởng về sản xuất, mà còn thể hiện cả về mặt chất lượng, nâng cao mức sống, làm phong phú hơn các khuôn mẫu và nhu cầu văn hóa. Cho đến thế kỷ 20, quá trình đô thị hóa thế giới chủ yếu diễn ra theo bề rộng, ở đó các dấu hiệu về sự tăng trưởng số dân đô thị, số lượng các thành phố, sự mở rộng lãnh thổ các đô thị-chiếm ưu thế. Nửa sau của thế kỷ được đánh dấu bởi quá trình đô thị hóa theo chiều sâu, đặc biệt ở các nước công nghiệp phát triển. Sự gia tăng của các dấu hiệu định lượng chững lại, thậm chí sút giảm (do phi tập trung hóa đô thị, quá trình đô thị hóa ). Thay vào đó, các dấu hiệu định tính được chú ý đề cao: chất lượng, tiêu chuẩn sống đô thị được nâng cao, sự đa dạng và phong phú các kiểu mẫu văn hóa và nhu cầu. Tuy nhiên, đối với các nước thuộc thế giới thứ ba, quá trình đô thị hóa vẫn còn nằm trong khuôn khổ của quá trình đô thị hóa theo bề rộng. Dân số đô thị Trong chương này, dân số đô thị được định nghĩa bao gồm những người sống trong các vùng nội thành của thành phố, nội thị của thị xã, các phường/thị trấn. Tất cả những người sống trong các đơn vị hành chính khác (ví dụ: xã) sẽ được coi là dân cư nông thôn. Cần lưu ý là định nghĩa về dân cư đô thị như nêu trên khác với định nghĩa dân cư đô thị mới ban hành theo Luật Quy hoạch đô thị. Nghị định số 42/2009/NĐ-CP về việc phân loại đô thị đã quy định “Dân số đô thị là dân số thuộc ranh giới hành chính của đô thị, bao gồm: nội thành, ngoại thành, nội thị, ngoại thị và thị trấn.”. Chẳng hạn, theo số liệu thống kê của Cục Phát triển đô thị, Bộ Xây dựng, đến tháng 6/2010 tổng dân số toàn đô thị là 33,12 triệu người, tỷ lệ dân số toàn đô thị đạt 38,6%, trong đó dân số nội thị đạt 26 triệu người chiếm 30,5% dân số cả nước. Như vậy có sự khác biệt giữa 60 DI CƯ VÀ ĐÔ THỊ HÓA ở Việt Nam: Thực trạng, Xu hướng và Những khác biệt



