Đề cương bài giảng Văn học thiếu nhi

pdf 68 trang ngocly 200
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề cương bài giảng Văn học thiếu nhi", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfde_cuong_bai_giang_van_hoc_thieu_nhi.pdf

Nội dung text: Đề cương bài giảng Văn học thiếu nhi

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG KHOA SƯ PHẠM TỰ NHIÊN ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG VĂN HỌC THIẾU NHI Người soạn: Lê Thị Hồng Thắm Bộ môn : Giáo dục Tiểu học Năm 2015
  2. Lời mở đầu Nhằm góp phần đào tạo, bồi dưỡng và phục vụ tốt việc học tập, nâng cao năng lực cảm thụ văn học cho sinh viên ngành giáo dục Mầm non, chúng tôi tổ chức biên soạn bài giảng Văn học thiếu nhi. Để biên soạn bài giảng này, chúng tôi dựa vào Đề cương chi tiết học phần của tổ Giáo dục Mầm non, khoa Sư phạm tự nhiên, sách Văn học thiếu nhi, tài liệu bồi dưỡng chuẩn hóa Trung học sư phạm Mầm non cho giáo viên nhà trẻ, mẫu giáo hệ 9+1 của Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1997. Giáo trình Văn học, tập một và tập ba của nhà xuất bản Giáo dục, năm 1998 cho hệ Cao đẳng Sư phạm tiểu học. Đặc biệt lần biên soạn này, chúng tôi soạn theo hướng khái quát, tinh giản nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức, nâng cao năng lực của người học. 1
  3. A. Mục lục Lời giới thiệu 1 Học phần: Văn học thiếu nhi A. Mục lục: 2 B: Mục tiêu học phần: 3 C: Nội dung dạy học: 4 Phần 1: Văn học dân gian 6 Bài 1: Nhìn lại văn học dân gian 6 Bài 2: Truyện cổ dân gian và giáo dục trẻ thơ 10 Bài 3: Đồng dao trong đời sống trẻ thơ 16 Bài 4: Hát ru với trẻ thơ 21 Phần 2: Văn học trẻ em Việt Nam 24 Bài 1: Khái quát về sự phát triển của văn học thiếu nhi Việt Nam 24 Bài 2: Thơ Võ Quảng 30 Bài 3: Thơ Phạm Hổ 34 Bài 4: Tô Hoài .42 Bài 5: Thơ Các em viết 46 Bài 6: Thơ Trần Đăng Khoa 51 Phần 3: Văn học trẻ em nước ngoài 59 Bài 1: Khái quát văn học trẻ em nước ngoài 61 Bài 2: Giới thiệu môt số tác giả, tác phẩm tiêu biểu 67 2
  4. B. Mục tiêu học phần 1. Mục tiêu chung của học phần: * Kiến thức: - Sau khi học xong học phần, sinh viên có được những những kiến thức về đặc trưng cơ bản của văn học dân gian, vai trò của văn học dân gian đối với giáo dục trẻ thơ, một số thể loại văn học dân gian phù hợp với trẻ mầm non. - Hiểu được thành tựu của văn học thiếu Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám 1945, một số tác giả, một số tác phẩm tiêu biểu. - Hiểu được một số nét về thành tựu văn học thiếu nhi thế giới, một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu. * Kỹ năng: - Biết phân tích, đánh giá các tác phẩm viết cho trẻ mầm non. Phát hiện được những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của văn học thiếu nhi nói chung, thơ truyện cho trẻ mầm non nói riêng. * Thái độ: Yêu thích và đánh giá đúng các tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi nói chung, cho trẻ mầm non nói riêng, từ đó bồi dưỡng thêm lòng yêu nghề, mến trẻ. 2. Mục tiêu đào tạo cụ thể: 2.1. Phẩm chất: * Phẩm chất 1: - Có ý thức tìm hiểu, nghiên cứu về khái niệm văn học dân gian, đặc trưng của văn học dân gian, giá trị của văn học dân gian. Một số tác phẩm văn học dân gian phù hợp với trẻ như: cổ tích, thần thoại, ngụ ngôn, truyền thuyết, đồng dao, hát ru - Yêu thích văn học dân gian, đặc biệt là các thể loại văn học dân gian gắn bó với đời sống tâm hồn trẻ thơ. * Phẩm chất 2: Có ý thức tìm hiểu,nghiên cứu về thành tựu của các giai đoạn phát triển của văn học thiếu nhi Việt Nam, những nét đặc sắc về nội dung, nghệ thuật. Về nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm, tác giả tiêu biểu như: Tô Hoài, Phạm Hổ, Võ Quảng, Trần Đăng Khoa * Phẩm chất 3: Có ý thức tìm hiểu, nghiên cứu thành tựu của văn học trẻ em nước ngoài được dịch sang tiếng Việt, những giá trị cơ bản của văn học trẻ em nước ngoài. Tìm hiểu một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu như: Andecxen, Grim. L.Tôn xtôi, Hecto- Malo 2.2. Năng lực: *Năng lực 1: Có khả năng phân tích, đánh giá, sưu tầm các tác phẩm Văn học dân gian để tìm ra nét đặc trưng của từng thể loại phù hợp với trẻ thơ. * Năng lực 2: Có khả năng phân tích, đánh giá tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi trong và ngoài nước. 3
  5. C. Nội dung dạy học Phần I: Văn học dân gian Bài 1: Nhìn lại Văn học dân gian: (02 tiết) - Văn học dân gian là gì? - Đặc trưng của văn học dân gian. - Các giá trị cơ bản của văn học dân gian: - Văn học dân gian trong đời sống trẻ thơ. Bài 2: Truyện cổ dân gian với trẻ thơ: (03 tiết) - Những loại truyện cổ dân gian phù hợp với trẻ. - Những giá trị đặc trưng nói chung của truyện cổ dân gian với giáo dục trẻ: Bài 3: Đồng dao với trẻ thơ: (02 tiết) - Khái niệm về đồng dao. - Đặc trưng của đồng dao. - Ý nghĩa của đồng dao đối với trẻ thơ. Bài 4: Hát ru với trẻ thơ: (02 tiết) - Khái niệm hát ru. - Truyền thống về hát ru và tình hình hiện nay về hát ru. -Ý nghĩa của hát ru trong đời sống trẻ thơ. Phần II: Văn học trẻ em việt Nam Bài 1: Khái quát về sự phát triển của văn học thiếu nhi Việt Nam: (03 tiết) - Qúa trình sáng tác văn học thiếu nhi Việt Nam. - Những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong văn học viết cho thiếu nhi. Bài 2: Thơ Võ Quảng: (02 tiết) - Vài nét về tác giả. - Những giá trị cơ bản trong thơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi. Bài 3: Thơ Phạm Hổ: (03 tiết) - Vài nét về tác giả. - Giá trị nội dung thơ Phạm Hổ viết cho các em. - Nghệ thuật thơ Phạm Hổ viết cho các em: Bài 4: Truyện Tô Hoài: (04 tiết) - Vài nét về tác giả. - Truyện viết cho các lứa tuổi. - Nghệ thuật truyện Tô Hoài viết cho thiếu nhi. Thực hành phân tích tính cách nhân vật Dế Mèn. Bài 5: Thơ các em viết. (02 tiết) - Khái quát, tình hình sáng tác thơ các em thời thời chống Mỹ đến nay. - Đặc sắc nội dung trong thơ các em viết. - Đặc sắc nghệ thuật trong thơ các em. Bài 6: Thơ Trần Đăng Khoa. (04 tiết) - Vài nét về tác giả. - Nội dung thơ Trần Đăng Khoa. - Nghệ thuật thơ Trần Đăng khoa. - Thực hành phân tích bài thơ “Hạt gạo làng ta” Phần III: Khái quát văn học trẻ em nước ngoài. (03 tiết ) - Sơ lược về mảng văn học trẻ em nước ngoài được dịch sang tiếng Việt. - Giới thiệu một số tác giả tiêu biểu. 4
  6. + An Đéc Xen (Đan mạch). + Lép-Nicôlaiêvích Tônxtôi (Nga). + Grim (Đức). + Fujiko Fujio (Nhật bản). + Hécto Malo (Pháp). 5
  7. PHẦN I: VĂN HỌC DÂN GIAN Bài 1: Nhìn lại văn học dân gian 1.1. Khái niệm. Trong dân gian, tổng thể các sáng tác nghệ thuật truyền miệng có tên gọi chung: Văn chương truyền khẩu hay văn chương truyền miệng, văn chương bình dân Từ khoảng cuối những năm 1950 xuất hiện thuật ngữ: Văn học dân gian và thuật ngữ này dần dần được dùng rộng rãi hơn cả. Qua nghiên cứu những đặc trưng cơ bản của Văn học dân gian, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một khái niệm cơ bản về Văn học dân gian như sau: Văn học dân gian là những sáng tác nghệ thuật truyền miệng, do nhân dân sáng tác, được nhân dân tiếp nhận, sử dụng và lưu truyền . Văn học dân gian tương đương với khái niệm Folklore, một thuật ngữ quốc tế có nghĩa là là trí tuệ nhân dân (folk: nhân dân; lore: trí tuệ). Văn học dân gian được coi như là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ, cũng như văn học viết. Đó là hai hình thức khác nhau của cùng một loại nghệ thuật: nghệ thuật ngôn từ (văn học viết dùng ngôn ngữ viết, văn học dân gian dùng ngôn ngữ nói). Vì vậy, không thể đồng nhất chúng với nhau, nhưng cũng không thể đối lập chúng. Chúng có mối quan hệ qua lại, và có những giai đoạn mối quan hệ này đặc biệt khắng khít. 1.2. Đặc trưng của văn học dân gian: Văn học dân gian có nhiều đặc trưng, nhưng người ta thường xác định những đặc trưng cơ bản sau đây: 1.2.1. Tính tập thể và tính truyền miệng: - Văn học dân gian được gọi là những sáng tác nghệ thuật của quần chúng nhân dân vì đó là những tác phẩm ra đời từ rất xưa, do nhân dân sáng tác, lưu truyền. Đây là đặc trưng cơ bản của Văn học dân gian. Tập thể quyết định sự ra đời và tồn tại của tác phẩm. Mỗi tác phẩm Văn học dân gian là kết quả sáng tác của nhiều người, nhiều thế hệ, nhiều địa phương khác nhau (lúc đầu tác phẩm do một người sáng tạo ra, tác phẩm được quần chúng nhân dân ưa thích vì nó phù hợp với tâm lý tập thể và do vậy được lưu truyền qua nhiều đối tượng, nhiều địa phương, nhiều giai đoạn, tác phẩm được nhiều người sửa chữa (có thể thêm hoặc bớt cho hoàn thiện hơn). - Trong quá trình ấy vai trò của cá nhân mờ dần, vai trò của tập thể trở nên đậm nét. Cứ như vậy, mỗi tác phẩm là sáng tác của nhiều người và trở thành những tác phẩm vô danh (đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhiều dị bản của Văn học dân gian). 6
  8. - Văn học dân gian cổ đại ra đời khi chưa có chữ viết, nó tồn tại trong dạng truyền miệng. Từ khi sinh ra, tác phẩm Văn học dân gian liên tục được truyền miệng từ địa phương này tới địa phương khác, trong quá trình đó, Văn học dân gian biến đổi không ngừng. Nhờ có tính truyền miệng mà Văn học dân gian lưu giữ được từ đời này qua đời khác. Tính truyền miệng là phương tiện cơ bản để lưu giữ nền Văn học dân gian. 1.2.2. Tính nguyên hợp: Tính nguyên hợp (nghệ thuật tổng hợp) là sự kết hợp ngay từ nguồn gốc các yếu tố khác nhau trong một chỉnh thể, cụ thể là: - Văn học dân gian thuộc loại nghệ thuật đa yếu tố. Yếu tố ngôn từ ở Văn học dân gian thường kết hợp với các yếu tố khác như: Âm nhạc, múa, trò chơi, tạo hình và tác phẩm Văn học dân gian chỉ thực sự sống động khi được trình diễn nguyên dạng với đầy đủ các yếu tố hợp thành. Nhưng cơ sở của tác phẩm Văn học dân gian là yếu tố ngôn từ. Nghĩa là, ở đây yếu tố ngôn từ giữ vai trò biểu đạt chủ yếu. Bởi trên thực tế người ta vẫn có thể cảm nhận được nội dung cụ thể của câu chuyện, của bài ca, của vở diễn qua lời kể, lời ca, lời nói. - Văn học dân gian nảy sinh và tồn tại như một bộ phận không tách rời của sinh hoạt nhân dân. Tác phẩm Văn học dân gian gắn liền với những hình thức truyền thống của nếp sinh hoạt nhân dân trong gia đình, làng xã, trong hoạt động lao động sản xuất, cụ thể là: + Hò cất lên khi lao động sản xuất: Hò chèo thuyền, hò giã gạo + Hát, múa, khấn, cầu nguyện khi trình diễn trong các nghi lễ: Cúng cầu mưa, cúng ra khơi, + Hát ru trẻ ngủ trong sinh hoạt gia đình. + Hát trêu ghẹo, hát giao duyên trong giao tiếp cộng đồng, trong các lễ hội truyền thống của dân tộc. 1.3. Sự phân loại của Văn học dân gian: Để phân loại các tác phẩm văn học dân gian phải dựa vào các tiêu chí (tính chất, dấu hiệu) sau: - Hệ thống đề tài. - Chức năng sinh hoạt. - Phương thức diễn xướng. - Thi pháp (hệ thống nghệ thuật). Căn cứ vào các tiêu chí trên, chúng ta thấy Văn học dân gian gồm các thể loại sau: 1.3.1. Các thể loại tự sự: Thần thoại, truyền thuyết, sử thi, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, vè, tục ngữ, câu đố. 7
  9. 1.3.2. Các thể loại trữ tình (gọi chúng là ca dao, dân ca): Gồm các bài ca nghi lễ, bài ca lao động, bài ca sinh hoạt, bài ca giao duyên 1.3.3. Các thể loại kịch: Chèo, tuồng, các trò diễn dân gian. * Các thể loại Văn học dân gian có mối quan hệ qua lại: Thể loại sau nảy sinh trên cơ sở thể loại đã có từ trước. Ví dụ (VD): Thần thoại về anh hùng văn hóa hoặc các sử thi về anh hùng có thể chuyển thành truyền thuyết lịch sử. - Các thể loại Văn học dân gian có số phận lịch sử khác nhau. Số phận ấy chịu sự quyết định của nhu cầu xã hội, xã hội yêu cầu cách thể hiện của thể loại nào thì thể loại ấy phát triển. Khi xã hội không có nhu cầu thì thể loại đó bị suy tàn. VD: Thần thoại ra đời đầu tiên trong hệ thống thể loại Văn học dân gian nhưng cũng là thể loại một đi không trở lại với con người. 1.4. Những giá trị cơ bản của văn học dân gian: 1.4.1. Giá trị nhận thức: Nói đến nhận thức là nói đến hiểu biết. Văn học dân gian đem lại cho chúng ta các giá trị nhận thức sau đây: - Văn học dân gian đem lại những hiểu biết rất phong phú, chân thực về cuộc sống lao động, sinh hoạt, quan hệ xã hội của nhân dân. Văn học dân gian cung cấp cho chúng ta những tri thức rộng rãi về phong tục, tập quán cùng cảnh vật quê hương, đất nước. VD: Sự tích bánh chưng, bánh giầy cung cấp cho ta hiểu biết về một phong tục đẹp mang tính truyền thống văn hóa cổ xưa của dân tộc, về đạo nghĩa uống nước nhớ nguồn, tôn trọng sản phẩm của người lao động. Sự tích đầm Dạ Trạch: Ca ngợi cảnh vật quê hương đất nước - Văn học dân gian giúp ta hiểu biết về đời sống tâm tư, tình cảm, về phẩm chất đạo đức cùng những giá trị tinh thần khác của nhân dân (cổ tích, thần thoại, ngụ ngôn, ca dao, dân ca, tục ngữ ). VD: Truyện Ngụ ngôn, răn dạy con người đạo lý, kinh nghiệm sống. Truyện cười, nhằm mua vui giải trí, phê phán thói hư tật xấu, giúp người ta sống tốt hơn. - Văn học dân gian góp phần bổ sung kiến thức lịch sử dân tộc trong quá khứ. VD: Truyền thuyết An Dương Vương, Thánh Gióng 1.4.2. Giá trị giáo dục: Văn học dân gian là kho kinh nghiệm phong phú của nhân dân, là nơi lưu giữ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vì thế giá trị của Văn học dân gian là vô cùng lớn. 8
  10. - Văn học dân gian là những lời răn dạy, bảo ban của cha mẹ đối với con cái, của anh em với nhau, của tình làng, nghĩa xóm Văn học dân gian dạy cho chúng ta cách ăn nói, ứng xử cho phù hợp với mọi quan hệ xã hội, ca ngợi cái tốt, phê phán cái xấu VD: Truyện cây khế, Hai anh em, Tấm Cám và một số bài ca dao, dân ca - Văn học dân gian góp phần xây dựng lối sống tốt đẹp, bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức tốt đẹp cho con người như: lòng nhân ái, tính trung thực, sự khôn ngoan, thái độ cần cù, chăm chỉ trong công việc. VD: Cây khế, Tấm Cám, Thạch Sanh - Văn học dân gian giáo dục con người tình cảm đối với quê hương, đất nước, lòng tự hào dân tộc, tinh thần tự lực, tự cường chống chọi với thiên nhiên, chống ngoại xâm. VD: Sơn Tinh Thủy Tinh; Thánh Gióng 1.4.3. Giá trị thẩm mỹ: Văn học dân gian đem lại cho chúng ta những khoái cảm thẩm mỹ về vẻ đẹp của con người, của quê hương đất nước. - Văn học dân gian xây dựng được những hình tượng nghệ thuật độc đáo, những cốt truyện hoàn thiện. VD: Hình tượng Thánh Gióng, Thạch Sanh - Cách sử dụng ngôn ngữ trong Văn học dân gian hết sức tài hoa. VD: Bài ca dao sau: Anh đến tìm hoa, hoa đã nở, Anh đến tìm đò, đò đã sang sông, Anh đến tìm em, em đã có chồng - Sử dụng thành công các phương tiện nghệ thuật như: tượng trưng, hư cấu, kỳ ảo và các biện pháp nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ Những giá trị ấy tạo cơ sở cho tình cảm thẩm mỹ phát triển. Các giá trị của Văn học dân gian vì thế được coi là dòng sữa mẹ nuôi dưỡng tâm hồn dân tộc ở mọi thời đại. 1.5. Văn học dân gian trong đời sống trẻ thơ: Văn học dân gian là loại hình nghệ thuật đến với trẻ em sớm nhất, là người bạn tinh thần, gắn bó với các em ngay từ lúc còn bé thơ, nhất là những thể loại dân gian phù hợp với trẻ thơ: - Khi còn ở trong nôi, tiếng hát ru à ơi đầy yêu thương của mẹ, của bà đã trở thành nhu cầu thiết yếu của trẻ, đưa trẻ đến với giấc ngủ êm dịu, ngọt ngào. - Khi trẻ bắt đầu tập nói, tập đi, các câu chuyện, các bài hát có ngôn ngữ trau chuốt, gọt giũa là những phương tiện giúp các em học ăn, học nói. VD: Con gà, con chó có lông, 9
  11. Cây tre có đốt, nồi đồng có quai. -Khi trẻ vào mẫu giáo, những bài ca vui chơi (đồng dao), những câu chuyện cổ dân gian, câu đố hấp dẫn, lôi cuốn các em vào các hoạt động tập thể, hoạt động nhận thức. Thông qua các hoạt động ấy, vốn hiểu biết các em được nâng cao, ngôn ngữ được rèn giũa, trí tuệ được mở mang, chuẩn bị kinh nghiệm sống để các em bước vào đời. - Gắn bó với tuổi thơ, Văn học dân gian là nguồn sữa mẹ nuôi dưỡng, phát triển tâm hồn trẻ thơ, truyền cho các em vẻ đẹp truyền thống của cha ông: lòng nhân ái thủy chung, tính công bằng, yêu chuộng lẽ phải, đức cần cù, chăm chỉ, yêu nước, thương nòi, tự tin, lạc quan, yêu đời, yêu cuộc sống. Câu hỏi và bài tập 1. Trình bày các giá trị cơ bản của văn học dân gian. 2. Phân tích vai trò của Văn học dân gian trong đời sống trẻ thơ. 10
  12. Bài 2: Truyện cổ dân gian và giáo dục trẻ thơ Truyện cổ dân gian là một trong những bộ phận của Văn học dân gian. Đây là một bộ phận vô cùng hấp dẫn đối với trẻ thơ. Trong tâm trí trẻ thơ, truyện cổ dân gian là một thế giới vừa thực, vừa mộng chứa đựng những màu sắc. Đồng thời truyện cổ dân gian là một bộ phận góp phần rất lớn vào việc giáo dục đạo đức và hình thành nhân cách cho trẻ. 2.1. Những truyện cổ dân gian phù hợp với trẻ thơ 2.1.1. Thần thoại – Truyền thuyết với giáo dục trẻ thơ. 2.1.1.1. Thần thoại: a. Định nghĩa: Loại truyện kể về sự tích các thần do người thời cổ tưởng tượng ra nhằm giải thích nguồn gốc, ý nghĩa của một số hiện tượng tự nhiên và xã hội được coi là có quan hệ mật thiết đến sự sống còn của tập thể thị tộc hay bộ lạc. b. Nội dung của thần thoại: Gồm ba nội dung chính: - Thần thoại Việt Nam giải thích những hiện tượng chung của vũ trụ, trái đất, đồng thời phản ánh cuộc đấu tranh bền bỉ của người xưa nhằm khám phá tự nhiên và chinh phục thiên nhiên. VD: Truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh, truyện Thần Trụ trời; truyện Thần biển. - Thần thoại phản ảnh ước mơ giản dị, hồn nhiên và cũng hết sức sáng tạo, cao đẹp của lý tưởng con người cổ đại. VD: Hình tượng thần trụ trời cao to, bước một bước từ núi này sang núi khác; Hình tượng Sơn Tinh dũng cảm chống Thủy Tinh để bảo vệ hạnh phúc. - Nhân vật chính trong thần thoại là các vị thần, đó là những nhân vật có sức biến hóa hơn người. Nhưng gạt bỏ những yếu tố hoang đường thần bí đó thì thần thoại lại chứa đựng một nội dung hiện thực là phản ánh cuộc sống và cuộc đấu tranh của con người. 2.1.1.2. Truyền thuyết: a. Định nghĩa: Truyền thuyết là những câu chuyện kể về những sự kiện, nhân vật, địa danh lịch sử đã được nhân dân lý tưởng hóa và gửi gắm vào đó thái độ, tình cảm, cách đánh giá của mình.Truyền thuyết ra đời sau thần thoại. b. Nội dung: Truyền thuyết lịch sử phản ánh hai nội dung lớn: - Ca ngợi cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước của dân tộc. VD: Sự tích Hồ Gươm, Thánh Gióng, An Dương Vương. - Ca ngợi công đức của các vị anh hùng vì độc lập, tự chủ của dân tộc. VD: Truyền thuyết hai Bà Trưng; Lê Lợi; Trần Hưng Đạo c. Tác dụng của thần thoại và truyền thuyết với giáo dục mầm non: 11
  13. - Trong thần thoại và truyền thuyết, trí tưởng tượng đóng vai trò hết sức quan trọng, đây là yếu tố tạo nên thần thoại và truyền thuyết. Vì vậy đem thần thoại và truyền thuyết đến với trẻ sẽ góp phần kích thích trí tưởng tượng và nuôi dưỡng ước mơ cho trẻ, giúp các em cảm nhận sức mạnh kỳ diệu của lao động sáng tạo. - Thần thoại và truyền thuyết có tác dụng to lớn trong việc giáo dục lòng tự hào dân tộc cho trẻ thơ. Qua truyền thuyết, thần thoại trẻ biết ông cha ta đã sống ra sao, chống ngoại xâm anh dũng như thế nào, cải tạo thiên nhiên ra sao? Giáo dục trẻ thơ qua thần thoại và truyền thuyết là hình thức giáo dục bằng nghệ thuật có tác dụng đến tình cảm, lý tưởng của các em. 2.1.2. Truyện cổ tích với giáo dục trẻ thơ: 2.1.2.1. Định nghĩa: Truyện cổ tích là những truyện kể truyền miệng. Bằng tưởng tượng, truyện mô tả số phận con người trong các mối quan hệ gia đình, xã hội cụ thể (truyện trình bày đủ các dạng quan hệ vốn có của con người trong xã hội phong kiến như: vua – tôi, thần – dân, giàu – nghèo, thầy – trò, vợ – chồng, anh – em, bè bạn ). Thông qua các mối quan hệ đa dạng và phong phú ấy, cổ tích theo cách riêng của mình phát hiện ra các xung đột xã hội, các mâu thuẫn giai cấp trong xã hội có giai cấp. Và từ những phát hiện về một vấn đề trọng đại như vậy, cổ tích hướng nhiệm vụ chủ yếu của mình vào việc lý giải, tìm lối thoát cho một vấn đề mà chính lịch sử trong giai đoạn ấy cũng chưa tạo được tiền đề thực tế để có thể giải quyết triệt để. 2.1.2.2. Phân loại: Truyện cổ tích chia làm ba loại: - Truyện cổ tích loài vật. - Truyện cổ tích sinh hoạt. - Truyện cổ tích thần kỳ. Trong đó truyện cổ tích thần kỳ là loại truyện chiếm số lượng nhiều nhất và là loại truyện hấp dẫn nhất đối với mọi người nói chung, trẻ em nói riêng. a. Truyện cổ tích loài vật: Là những truyện cổ tích trong đó nhân vật chính là một con vật nào đó. Con vật này có thể sống gần gũi với người dân hoặc sống trong rừng. Loại truyện cổ tích này có khi là giải thích một đặc điểm nào đó của con vật. VD: Vì sao dơi ăn muỗi? Vì sao lươn lại sống trong bùn? Vì sao lông quạ lại đen? Tại sao chó ghét mèo? Có khi truyện cổ tích đề cập đến một con thú thông minh (thỏ, cáo). Những truyện cổ tích loài vật thường hấp dẫn bởi nhiều tình tiết ly kỳ. b. Truyện cổ tích sinh hoạt: Là những chuyện kể về những con người và những sự kiện xảy ra trong thế giới con người không có các nhân vật siêu nhiên, thần bí. Đây là loại truyện đề cập đến những tình huống rất bình thường trong cuộc sống hàng ngày. Cách xử sự trong các mối quan hệ bạn bè, gia đình, thầy trò, cách ứng xử 12
  14. nhạy bén, miêu tả trong những tình huống khó khăn, cách phơi bày thói ba hoa, hống hách ý nghĩa răn dạy thể hiện rất đậm trong loại cổ tích này. VD: Vợ khôn lấy chồng dại; Trương Chi; Gái ngoan dạy chồng; Giết chó khuyên chồng; Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng. c. Truyện cổ tích thần kỳ: (Cổ tích hoang đường) Là loại cổ tích mà trong đó yếu tố thần kỳ được thể hiện đậm nét hơn cả. Yếu tố này không chỉ tạo ra màu sắc ly kỳ và hấp dẫn của cổ tích mà còn có ý nghĩa quyết định trong những thời điểm nhất định. Thiếu nó bản thân nhân vật không thể vượt qua nổi những thử thách gay go để chiến thắng kẻ thù. VD: Các yếu tố kỳ diệu trong các tác phẩm: Tấm Cám; Thạch Sanh; Cây khế; Cây tre trăm đốt; Sọ dừa - Kết cấu của cổ tích thần kỳ thường có ba phần: + Phần thứ nhất: Nói về nguồn gốc xuất thân và cuộc đời đau khổ của nhân vật (mồ côi cha mẹ, mang lốt xấu xí, nghèo khổ), nhân vật bị hành hạ, bạc đãi, bị lừa dối, tước đoạt Vì vậy ngay từ đầu nhân vật đã tạo sự thương yêu, đồng cảm sâu sắc của nhân dân lao động. + Phần thứ hai: Nói về phẩm chất, về tài năng và chiến công của nhân vật. Vai trò của các yếu tố kỳ diệu thể hiện rõ rệt nhất ở đây. Nhân vật bao giờ cũng phải trải qua một hoặc vài lần thử thách, kẻ thù luôn gây cho họ muôn vàn khó khăn để đẩy họ vô chỗ đường cùng. Song với sức mạnh của đạo đức, của tài năng và có sự hỗ trợ của yếu tố kỳ diệu, nhân vật chính diện bao giờ cũng vượt qua những trở ngại để thực hiện ước mơ. + Phần thứ ba: Là phần thưởng dành cho nhân vật chính diện. Và có thể nói, Có bao nhiêu dạng nhân vật là có bấy nhiêu ước mơ của nhân dân xưa về một xã hội, một con người, một cuộc đời hạnh phúc. - Với kết thúc truyện có hậu, truyện cổ tích thần kỳ biểu hiện rực rỡ chủ nghĩa nhân đạo, tiến bộ của nhân dân. Trong xu thế tích cực, cổ tích đem lại cho người đọc, người nghe một niềm lạc quan vô bờ bến về sự tồn tại một xã hội công bằng, thanh bình, không có điều ác. 2.1.1.3. Tác dụng của truyện cổ tích với giáo dục trẻ mầm non: - Tuổi thơ là tuổi giàu tưởng tượng và ước mơ. Truyện cổ tích (đặc biệt là cổ tích thần kỳ) hấp dẫn trẻ thơ trước hết ở một thế giới vừa thực vừa mộng, chứa đựng những phép màu, những vật thiêng, những sức mạnh thần kỳ góp phần nuôi dưỡng những khát vọng tưởng tượng và ước mơ sáng tạo cho trẻ. - Tuổi thơ khát khao một cuộc sống tốt đẹp. Truyện cổ tích rất phù hợp với các em vì ở đây nói lên những quan niệm đạo đức, công lý xã hội và ước mơ về một cuộc 13
  15. sống tốt đẹp hơn cuộc sống hiện tại, góp phần giáo dục đạo đức và hình thành lòng nhân ái cho trẻ. - Truyện cổ tích lấy việc miêu tả hành động của nhân vật để chỉ ra phẩm chất của nhân vật. Các nhân vật trong truyện cổ tích chia thành hai tuyến đối lập nhau: thiện – ác; giàu – nghèo; chăm chỉ – lười biếng Vì vậy, truyện cổ tích dễ hình thành cho trẻ cách nhìn nhận, cách đánh giá cái tốt, cái xấu. Trên cơ sở đó giúp các cháu có ý thức làm theo cái tốt, cái đẹp được đề cao trong truyện. VD: +Việc may túi ba gang của hai anh em trong Cây khế: Người em may túi ba gang, người anh may túi mười hai gang. + Việc Cám đổ tép của Tấm trong truyện Tấm Cám - Trong truyện cổ tích các tình tiết diễn ra theo trình tự thông thường: Việc gì xảy ra trước thì nói trước, việc gì xảy ra sau thì nói sau, nhân vật, không gian, thời gian trong truyện thường là phiếm chỉ. VD: Ngày xửa ngày xưa ở một gia đình nọ, trong một khu rừng kia Vì thế truyện cổ tích dễ nhớ, dễ thuộc và hấp dẫn trẻ thơ. - Truyện cổ tích giúp trẻ làm giàu thêm vốn từ, học tập được lời hay, ý đẹp và cách diễn đạt của nhân dân (cách ví von, so sánh, cách diễn đạt ngắn gọn, từ ngữ dễ hiểu ). 2.1.3. Truyện ngụ ngôn với giáo dục trẻ thơ: 2.1.3.1. Định nghĩa: Truyện ngụ ngôn là loại truyện tưởng tượng, mượn loài vật, sự vật, hiện tượng để nêu lên một kinh nghiệm sống, một bài học đạo đức hay một triết lý sống. - Truyện ngụ ngôn bao giờ cũng có hai lớp nghĩa: Lớp nội dung truyện kể và lớp bài học kinh nghiệm. Đây là đặc điểm nổi bật của truyện ngụ ngôn. 2.1.3.2. Nội dung truyện ngụ ngôn: - Nội dung cụ thể của truyện thường nói về phẩm chất, hoạt động của loài vật, sự vật. Nhưng mục đích chính cần đạt tới lại là vấn đề con người trong những mối quan hệ xã hội. Những vấn đề đó mang tính triết lý, vì vậy, truyện ngụ ngôn gần gũi với tục ngữ và truyện cười. - Ý thức xây dựng xã hội thể hiện bằng những bài học phê phán và ca ngợi được coi là âm hưởng chủ đạo của truyện ngụ ngôn. 2.1.3.3. Tác dụng của truyện ngụ ngôn với trẻ thơ: Mỗi câu truyện ngụ ngôn là một bài học giáo dục, một kinh nghiệm sống. Mặt khác truyện ngụ ngôn ngắn gọn, nội dung đơn giản, kết cấu mạch lạc, số lượng nhân vật ít. Mỗi nhân vật được khai thác chỉ ở một nét tính cách hoặc một thói quen. Vì vậy, mỗi truyện ngụ ngôn chỉ là một câu chuyện nhỏ vừa sức tiếp thu với trẻ mẫu giáo. 14
  16. Truyện ngụ ngôn giáo dục trẻ bằng những bài học nhẹ nhàng nhưng phải có người lớn gợi ý, giúp đỡ trẻ mới hiểu được. VD: Câu truyện Kiến giết voi: Khai thác ở nét tính cách coi thường người bé nhỏ, tự cho mình là nhất của chú voi, cuối cùng, chú kiến bé nhỏ bắt voi phải quy phục, van xin. Bài học cho trẻ là không được coi thường kẻ yếu. Nhưng phải có sự phân tích, gợi ý của cô giáo trẻ mới hiểu được ý nghĩa của bài học giáo dục. 2.2. Những giá trị đặc trưng nói chung của truyện cổ dân gian đối với trẻ thơ 2.2.1. Truyện cổ dân gian là kho báu về đạo đức truyền thống dân tộc: - Truyện cổ dân gian là kho báu về đạo lý truyền thống dân tộc mà trước hết là đạo đức lý làm người. Trẻ tìm thấy trong truyện cổ những tấm gương mẫu mực về đạo đức để noi theo như: Tính trung thực, sự cần cù, chăm chỉ, sống có nghĩa có tình, giàu lòng nhân ái. Những nội dung này được thể hiện qua thần thoại, truyền thuyết - Giáo dục trẻ lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức về truyền thống lịch sử cha ông, giáo dục ý thức “uống nước nhớ nguồn” trong quá trình dựng nước và giữ giữ nước của dân tộc, các nội dung này được thể hiện trong truyền thuyết. - Giáo dục các em những kinh nghiệm sống, kinh nghiệm đối nhân xử thế trong các mối quan hệ để hoàn thiện nhân cách con người. Điều đó được thể hiện qua cổ tích, qua truyện ngụ ngôn. 2.2.2. Truyện cổ dân gian phát huy mạnh mẽ trí tưởng tượng của trẻ thơ: - Hình tượng trong thần thoại kỳ vĩ, bay bổng giàu tính thẩm mỹ, giúp các em cảm nhận sức mạnh kỳ diệu của lao động sáng tạo. - Truyền thuyết, thần thoại nâng đỡ trí tưởng tượng, của các em bay cao, bay xa, mở rộng cánh cửa tâm hồn để các em vươn xa vào cuộc sống. - Truyện ngụ ngôn, truyện cổ tích thần kỳ với những yếu tố kỳ diệu chắp cánh cho ước mơ các em, tạo cho các em một khoảng trời rộng để bay bổng. Kết thúc có hậu trong truyện cổ tích chắp cánh cho ước mơ một xã hội công bằng, thanh bình và giàu lòng nhân ái làm cho các em tin yêu ở cuộc đời hơn nữa. Câu hỏi và bài tập: 1. Trình bày khái niệm, nội dung, tác dụng của các loại truyện cổ dân gian. 2. Trình bày các giá trị đặc trưng nói chung của truyện cổ dân gian với giáo dục trẻ thơ. 3. Chọn một truyện dân gian phù hợp với trẻ mầm non, kể trước lớp và nêu ý nghĩa của câu truyện. 15
  17. Bài 3: Đồng dao trong đời sống trẻ thơ 3.1. Khái niệm: Đồng dao là một thể loại của bài ca dân gian dành cho trẻ em. Đó là những câu hát có nội dung và hình thức phù hợp với trẻ, thường do trẻ em hát khi vui chơi. 3.2. Đặc trưng của đồng giao: Là một trong những thể loại của bài dân gian. Do vậy nó cũng mang những đặc trưng chung của tác phẩm Văn học dân gian như: Tính tập thể, tính truyền miệng, tính nguyên hợp Ngoài ra nó còn có những đặc điểm riêng biệt vì đây là loại bài ca của trẻ em, cụ thể là: 3.2.1. Đồng dao tập trung vào đề tài thiên nhiên và phản ánh nó trong trạng thái hoạt động, gắn bó với đời sống trẻ thơ: - Đồng dao là những bài ca về chim muông, cây cỏ, tôm cá, đó là những bài ca sinh hoạt dân gian phong phú đối với trẻ. Đồng dao là người thầy dạy các em những khái niệm đầu tiên về thiên nhiên, đất nước, con người. VD: Qua một bài ca ngắn, đồng dao giới thiệu với các em hàng chục loài cá, loài chim, gia cầm mỗi loài mang một đặc điểm độc đáo, ngộ nghĩnh: Xa cha xa mẹ Là con cá trôi Mệt đổ mồ hôi Là con cá liệt Hoặc: Hay chạy lon ton Là gà mới nở Cái mặt hay đỏ Là con gà mào Hay lội dưới ao Mẹ con nhà vịt Hay la hay hét Là con bồ chao Hay bay bổ nhào Là chim bói cá Hoặc, một bài đồng dao về chim, các em phát hiện ra những ưu điểm, những hạn chế của từng loài qua tiếng hót của chúng: Khéo ăn khéo nói Là chim chích chòe Hót chẳng ai nghe 16
  18. Là con chim cú Còn gì vui thú Là chim vành khuyên Hoặc: Không nói không rằng Là hoa ngủ điếc, Xanh xanh biếc biếc Là cái hoa chàm Đụng cái là hờn Là hoa xấu hổ - Thế giới đồng dao là một thế giới sinh động, phong phú, chứa chan sức sống và tươi vui. Trong đồng dao có đủ những con vật gần gũi với cuộc sống xung quanh trẻ. VD: - Tập tầm vông Con công hay múa Nó múa làm sao Nó đập cánh vào Nó xòe cánh ra - Con vỏi con voi. Cái vòi đi trước, Hai chân trước đi trước, Hai chân sau đi sau, Còn cái đuôi đi sau rốt, Tôi xin kể nốt, Câu chuyện con voi. - Con gà cục tác lá chanh, Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi, Con chó khóc đứng khóc ngồi, Mẹ ơi, đi chợ mua tôi củ riềng. - Con cua tám cẳng hai càng, Chẳng đi mà lại bò ngang cả ngày 3.2.2. Ngôn từ, kết cấu của đồng dao đơn giản, dễ hiểu, đặc biệt tính hài hòa trong nhịp điệu của ngôn từ làm cho đồng dao dễ nhớ, dễ thuộc: VD: Các bài đồng dao được viết bằng thể thơ bốn tiếng, ba tiếng, hoặc lục bát: Mười ngón tay Ngón đi cày Ngón tát nước Ngón cầm lược 17
  19. Hoặc: - Đòn gánh / có mấu Củ ấu / có sừng Bánh chưng / có lá Con cá / có vây Ông thầy / có sách Thợ ngạch / có dao Thợ rào / có búa Ông chúa / có tàn Ông Quan / có lọng Ông tổng / có trâu Nhà giàu / có thóc - Con gà tục tác / lá chanh, Con lợn ủn ỉn / mua hành cho tôi, Con chó khóc đứng / khóc ngồi, Bà ơi đi chợ / mua tôi củ riềng. Cách ngắt nhịp chủ yếu của Đồng dao là 3/3, 4/4 hoặc 2/2 cùng với sự việc sử dụng vần chân, vần bằng xen kẽ, tạo cho thể loại này một cách nói phù hợp với các em. 3.2.3. Đồng dao gắn liền với trò chơi nên nó thật sự là một phương tiện phục vụ nhu cầu giải trí, nhu cầu vui chơi tập thể của các em. Đồng dao là loại sáng tác dân gian hết sức lý thú. Vì nó gắn với trò chơi, mà đã vui chơi thì phải có bạn, có bè, không thể chơi và hát một mình. VD: Trò chơi nu na nu nống; Chồng nụ chồng hoa; Con vỏi con voi, là những trò chơi mang tính tập thể cao, có luật chơi và mọi người phải thực hiện luật chơi cho tốt trong khi chơi, vì thế người ta thường nói Đồng dao là tiếng hát gọi đàn đối với trẻ em. 3.3. Ý nghĩa của đồng giao đối với trẻ thơ Đồng dao là bài ca dân gian dành cho trẻ em nên nó có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống tâm hồn của trẻ em. 3.3.1. Đồng dao là chiếc chìa khóa mở rộng cánh cửa tâm hồn trẻ thơ, giúp các em mở rộng mối quan hệ, hòa nhập với cộng đồng. Đây là kết quả của vui chơi tập thể, trẻ hòa vào cộng đồng nhỏ bé của cuộc chơi một cách say sưa. Tuân thủ các luật chơi, trẻ bước đầu nhận ra các nguyên tắc của xã hội nhỏ bé. Khi chơi, muốn được chơi và trò chơi lý thú phải thực hiện luật chơi và kết hợp với các thành viên nhỏ bé để cùng chơi, làm sai luật sẽ bị loại khỏi cuộc chơi. VD: Thả đỉa ba ba; Ù à ù ập 3.3.2. Đồng giao giúp trẻ yêu đời, yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên đất nước, mở rộng tâm hồn và tri thức sơ đẳng cho trẻ: 18
  20. VD: Bài đồng dao cung cấp cho các em kiến thức về gia vị khi nấu một số món ăn: Con gà tục tác lá chanh Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi. Con chó khóc đứng khóc ngồi Bà ơi đi chợ mua tôi củ riềng. Đằng sau cái hồn nhiên tươi mát và ngộ nghĩnh, nhiều bài đồng dao đã phát hiện ra một cách bất ngờ những chân lý sâu xa của cuộc sống giúp trẻ mở mang trí tuệ. VD: Một số bài đồng dao kết cấu theo kiểu vòng tròn thể hiện một chân lý, một quy luật: Tu hú là chú Bồ các Bồ các là bác chim ri. Chim ri là dì sáo sậu Hoặc: - Đậu nành là anh dưa chuột, Dưa chuột chú ruột dưa gang, Dưa gang cùng làng dưa hấu, Dưa hấu là cậu bí ngô Bí ngô là cô đậu nành. Từ đó rút ra: Trong cuộc sống không có gì là tuyệt đối bởi sự vật luôn liên hệ với nhau, ràng buộc và tác động lẫn nhau. 3.3.3. Đồng dao đi liền với trò chơi nhưng ý nghĩa giáo dục với các em rất lớn, nó giúp các em biết sống có đạo đức, biết trân trọng người lao động. VD: Ăn một bát cơm Nhớ ơn người cày ruộng Ăn một đĩa muống Nhớ ơn người làm ao Ăn một quả đào Nhớ ơn người vun gốc Ăn một con ốc Nhớ ơn người đi mò. 3.3.4. Đồng dao góp phần phát triển vốn từ cho trẻ, tạo cho các em lòng yêu thích tiếng Việt, rèn luyện bộ máy phát âm cho trẻ. - Đồng dao giúp trẻ học ăn, học nói, Đồng dao sử dụng rất nhiều từ tượng hình, tượng thanh, cách nói dân dã, giúp các em làm quen với các loại từ tiếng Việt. VD: Nu na nu nống, Đánh trống phất cờ, Mở cuộc thi đua, Chân ai sạch sẽ 19
  21. - Hoặc giúp trẻ làm quen với các cách xưng hô trong giao tiếp hàng ngày. VD: Tiếng con chim ri Gọi dì gọi cậu Tiếng chim sáo sậu Gọi cậu gọi cô Tiếng chim cồ cồ Gọi cô gọi chú. - Các từ láy trong đồng dao là những phương tiện giúp trẻ rèn luyện bộ máy phát âm. VD: Bài đồng dao: - Nu na nu nống (luyện âm n) - Dung dăng dung dẻ (luyện âm d). * Kết luận: Đồng dao là nhóm bài ca đặc biệt phù hợp và hòa hợp với trẻ thơ. Đây là bộ phận bài ca dành riêng cho trẻ. Đồng dao mang đến cho trẻ niềm vui của các hoạt động tập thể, đồng thời cũng mang đến cho các em bao hiểu biết bổ ích về thế giới xung quanh, hình thành cho các em lòng nhân ái. Nó thực sự là một trong những phương tiện hữu hiệu để giáo dục trẻ. Câu hỏi và bài tập: 1. Thế nào là đồng dao? Đồng dao có những đặc trưng gì? 2. Trình bày ý nghĩa của đồng dao đối với đời sống trẻ thơ. 3. Sưu tầm một số bài đồng dao phổ biến ở địa phương nơi bạn sinh sống. 20
  22. Bài 4: Hát ru với trẻ thơ 4.1. Khái niệm về hát ru: Hát ru là một loại dân ca sinh hoạt trữ tình truyền thống của dân tộc. Loại dân ca này chủ yếu hát trong sinh hoạt gia đình. Đó là những lời ru của bà, của mẹ, của anh chị với trẻ thơ. - Hát ru có chức năng chủ yếu là đưa trẻ vào giấc ngủ hoặc làm cho chúng bình tĩnh, nín dịu khi chúng la khóc. Âm điệu hát ru vì vậy thường chậm rãi, êm dịu, du dương, nhẹ nhàng, lắng đọng. Lời hát ru thường đi kèm với cử chỉ, ôm ấp, âu yếm hay vỗ về của người ru đối với đối tượng được ru. VD: À ơi! con ơi con ngủ cho say Ôm con mẹ gối cánh tay con nằm Mẹ cho con gác lên chân Có hơi mẹ ấm con còn ngủ ngon Tiếng ru gửi gắm tình thương Mang bình yên đến cho con mẹ mừng - Hát ru là loại dân ca mà làn điệu của nó thường ứng với khuôn thơ lục bát, nhạc điệu của nó tự do. Vì thế khi hát ru người ta thường lặp lại các âm điệu nhẹ nhàng, êm dịu. 4.2. Truyền thống về hát ru: - Hát ru là lối hát theo tập quán truyền thống. Nó xuất hiện rất sớm và tồn tại lâu dài trong đời sống của nhân dân nhằm đáp ứng nhu cầu nuôi dạy con cái, giải trí, giãi bày tâm sự. - Hát ru của người Việt có ba giọng điệu chủ yếu là ru con Bắc Bộ (từ Thanh Hóa trở ra). Ru con Trung Bộ (từ Quảng Bình trở vào đến duyên hải miền Trung) và ru con Nam Bộ. Trong quá trình phát triển của nó có những thời kỳ ở những địa phương khác nhau hát ru dường như bị bỏ quên, dẫn đến một hậu quả đáng tiếc là nhiều thế hệ trẻ thơ không được hưởng dòng sữa tinh thần trong nguồn văn học dân gian đầy giá trị. 4.3. Tình hình hiện nay về hát ru: - Hát ru hiện nay không còn sử dụng nhiều như những thời kỳ trước vì nhiều lý do: Cháu đi nhà trẻ, mẫu giáo nên bà, mẹ không phải giữ ở nhà. Cơ chế thị trường cuốn hút con người vào cơn lốc làm ăn khiến các ông bà, cha mẹ không còn để ý đến việc hát ru. Các cô gái trẻ lớn lên trong thời kỳ mở cửa không có nhu cầu học hát ru và sử dụng hát ru. Thực trạng đó là điều báo động cho một nét truyền thống văn hóa dân tộc đang có nguy cơ mai một và cũng là một thiệt thòi lớn cho trẻ em Việt Nam hiện nay. - Để khôi phục nét truyền thống mang đậm đà bản sắc dân tộc, Đảng và các bộ, ngành chức năng đã có nhiều biện pháp như: Tổ chức thi hát ru hàng năm từ trung 21
  23. ương đến địa phương tạo nên một phong trào giúp người Việt Nam ý thức được tầm quan trọng của hát ru và để lưu giữ hát ru trong cội nguồn dân tộc. 4.4. Ý nghĩa hát ru trong đời sống trẻ thơ: 4.4.1. Lời ru đưa trẻ vào giấc ngủ. Từ khi lọt lòng mẹ, hiếm có trẻ em Việt Nam nào lại không được nghe một lời hát ru. Hát ru cùng với dòng sữa mẹ đi suốt với trẻ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời. Trẻ đi vào giấc ngủ từ những khúc tâm tình và sâu lắng ấy: VD: Cái ngủ, mày ngủ cho ngoan Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về Bắt được con trắm, con trê Lôi cổ đem về cho cái ngủ ăn. Đó là cách biểu hiện của tiếng nói tâm hồn, tình cảm trong lành của bà, của mẹ, của chị với trẻ thơ. 4.4.2. Lời ru đưa đến cho trẻ những bài học đầu tiên của cuộc đời. - Bài học đầu tiên mẹ dạy con qua hát ru là dạy trẻ cảm nhận thế giới quanh mình: VD: À ơi! Con mèo, con chó có lông Cây tre có đốt, nồi đồng có quai. - Lời ru đưa các em đến với cuộc sống một nắng hai sương của người lao động: À ơi! con cò mà đi ăn đêm Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao. Ông ơi! Ông vớt tôi nao Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng Hoặc: Cái ngủ, mày ngủ cho ngoan Mẹ mày vất vả chân, tay tối ngày. - Hát ru dạy các em từ lời ăn, tiếng nói, cách đi, dáng đứng, cách cư xử với mọi người trong xã hội. Các em cảm nhận từ lời ru bài học làm người: VD: + Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn. + Khôn ngoan đá đáp người ngoài Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau. + Lên xe, nhường chỗ bạn ngồi Nhường nơi bạn dựa, nhường lời bạn thân. - Lời ru dạy các em biết thế nào là tốt, xấu: VD: Con gái chưa nói đã cười Chưa đi đã chạy là người vô duyên. Ngậm cơm mà nói huyên thuyên Lời nghe không sạch lại hiềm khó coi. 22
  24. 4.4.3. Hát ru là nhạc, là thơ, là những hình tượng nghệ thuật đầu tiên đậu lại trong tâm hồn trẻ. Giai điệu gần gũi, thân quen như hơi thở của mẹ, tạo dựng cho trẻ ấn tượng về âm thanh, nhịp điệu. 4.4.4. Ngôn ngữ lời ru . -Là ngôn ngữ thơ ca được gọt giũa, trau chuốt qua bao người với thử thách của thời gian. - Ngôn ngữ hát ru chính xác, nhuần nhụy, xứng đáng dành cho trẻ học ăn, học nói, góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ. * Kết luận: Hát ru là một thể loại dân gian chỉ dành riêng cho trẻ. Hát ru với trẻ thơ không phải là sữa, là cá, là cơm nhưng nó là chất dinh dưỡng giúp cho tâm hồn không bị què quặt, giữ cho bước đi khỏi ngã, khỏi nghiêng. Hát ru là ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn các em, dẫn dắt các em đi suốt cuộc đời. Câu hỏi bài tập: 1. Trình bày ý nghĩa của ru trong đời sống trẻ thơ. 2. Sưu tầm một số bài hát ru phổ biến ở địa phương nơi bạn sinh sống. 23
  25. PHẦN 2: VĂN HỌC TRẺ EM VIỆT NAM Bài 1: Khái quát về sự phát triển của văn học thiếu nhi Việt Nam 2.1. Quá trình sáng tác văn học thiếu nhi Việt Nam: 2.1.1. Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Giai đoạn này đã có văn học cho thiếu nhi nhưng chưa thực sự có một nền văn học cho thiếu nhi, bởi bọn thực dân phong kiến rất coi khinh người lao động, do đó đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của người lao động cũng không được chúng quan tâm đến. Con em của họ lại càng không được chúng để ý đến. Cụ thể là: - Khi còn dùng chữ nho thì lẻ tẻ có một vài cuốn mang tính chất sách giáo khoa như:“Tam tự kinh”, “Minh Tâm bảo giám”, nhằm dạy cho trẻ tuân theo những qui định của lễ giáo và đạo lý phong kiến. - Một số tác phẩm dịch từ tiếng Pháp cho các em đọc như: Thơ ngụ ngôn của La – Phông – ten, truyện cổ tích Pe ron. - Một số sách viết cho trẻ em bằng tiếng Pháp nhưng không nhiều và không phải em nào cũng đọc được . - Ở giai đoạn 1930 – 1945 có một số nhà văn Việt Nam cũng viết cho các em: Tản Đà, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Văn Vĩnh, Tô Hoài. Ngoài ra còn có bộ phận Văn học dân gian cũng được các em yêu thích vì nội dung dễ hiểu, phù hợp với cách hiểu, cách nghĩ của tuổi thơ, mà đặc biệt là nó được truyền miệng nên em nào cũng được thưởng thức. Nhìn chung, trước Cách mạng tháng Tám nước ta đã có văn học cho thiếu nhi nhưng chưa thực sự có nền văn học cho thiếu nhi. 2.1.2. Văn học thiếu nhi từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay. Văn học viết cho thiếu nhi từ sau Cách mạng tháng Tám được chia làm bốn giai đoạn phát triển: 2.1.2.1. Giai đoạn từ năm 1945 – 1954: Đây là giai đoạn văn học thiếu nhi đặt nền móng xây dựng và tham gia tích cực vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp: - Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một chân trời mới cho nền văn học thiếu nhi. Bác Hồ và Đảng, nhà nước đã dành sự quan tâm đặc biệt đến sự hình thành một nền văn học cho thiếu nhi. Bác Hồ là người đi đầu trong việc sáng tác cho các em. Bác luôn động viên, khuyến khích mọi người chăm lo, giáo dục và sáng tác văn nghệ phục vụ thiếu nhi. - Năm 1946 tờ báo thiếu nhi Việt Nam đầu tiên được ra mắt bạn đọc nhỏ tuổi với tên gọi Thiếu sinh. - Bộ phận văn học thiếu nhi được thành lập do nhà văn Tô Hoài phụ trách. 24
  26. * Nội dung chủ yếu của văn học thiếu nhi giai đoạn này đề cập đến tinh thần anh dũng của thiếu nhi trong kháng chiến hoặc nói về tình bạn và sinh hoạt của các em. Các tác phẩm tiêu biểu: “Thiếu niên anh hùng (Phong Nhã) “Chú giáo làng Sen” (Nguyễn Tuân) Hoa sơn; Vừ A Dính (Tô Hoài) “Chiến sĩ ca nô” (Nguyễn Huy Tưởng) 2.1.2.2. Giai đoạn từ 1955 – 1964: Đây là giai đoạn văn học thiếu nhi tham gia xây dựng Chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà. Giai đoạn này có một số sự kiện tiêu biểu như sau: - Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ II năm 1957 đã đề ra nhiệm vụ sáng tác cho thiếu nhi. - Ngày 17/6/1957 nhà xuất bản Kim Đồng được thành lập tại thủ đô Hà Nội đánh dấu sự kiện và một bước tiến lớn của văn học thiếu nhi Việt Nam. - Năm 1962 Bộ giáo dục và Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản đã tổ chức cuộc vận động sáng tác văn học cho thiếu nhi. Cuộc vận động này đã được nhiều nhà giáo, nhà văn, nhiều giới, nhiều ngành tham gia một cách tích cực. Giai đoạn này văn học thiếu nhi phát triển khá rực rỡ. Đội ngũ sáng tác văn học cho thiếu nhi đã lớn mạnh nhanh chóng. - Các đề tài về cách mạng và kháng chiến, về truyền thống yêu nước, lòng căm thù giặc, tinh thần đấu tranh anh dũng của dân tộc được khai thác triệt để, các tác phẩm đều có tính giáo dục cao. - Một số tác phẩm tiêu biểu như: Đất rừng phương Nam (Đoàn Giỏi) Hai làng Tà Pình và Động Hía (Bắc Thôn-1958) Vừ A Dính (Tô Hoài-1963) Cái thăng ( Võ Quảng-1961) Cái tết của mèo con (Nguyễn Đình Thi). Năm 1960 Nguyễn Huy Tưởng cho ra đời hai truyện lịch sử: Kể chuyện Quang Trung và Lá cờ thêu sáu chữ vàng. - Về thơ, Tuyển tập thơ viết cho thiếu nhi (1945 – 1960) ra đời. Đây là kết quả sáng tác của một đội ngũ nhà thơ viết cho thiếu nhi như: Võ Quảng, Phạm Hổ, Thái Hoàng Linh, Xuân Tửu 2.1.2.3. Giai đoạn từ 1965 – 1975: Đây là giai đoạn văn học thiếu nhi có đề tài phản ánh công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Văn học thiếu nhi thực sự trở thành một lực lượng lớn trong việc khích lệ, biểu dương những tấm gương thiếu nhi 25
  27. trong học tập, trong chiến đấu chống Mỹ của cả nước. Đây là thời kỳ văn học thiếu nhi phát triển rực rỡ nhất và đạt được nhiều thành tựu nhất. Hàng loạt tập truyện và thơ được xuất bản đã khẳng định bước tiến lớn của nền văn học thiếu nhi, cụ thể là: - Đề tài về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tiếp tục được khai thác với những thành tựu mới, một số tác phẩm xuất sắc ra đời: Đội du kích thiếu niên Đình Bảng (Xuân Sách) Quê nội (Võ Quảng). - Đề tài chống Mỹ được quan tâm kịp thời phù hợp với bước đi của lịch sử. Các tác phẩm đã miêu tả cuộc sống chiến đấu của thiếu niên trong vùng tạm chiếm và nêu bật những gương anh hùng cho thiếu nhi học tập, chủ yếu là những nhân vật có thật: Mẹ vắng nhà (Nguyễn Thi) Hồ Văn Mên (Lâm Phương) - Đề tài lịch sử tiếp tục được khai thác, các tác phẩm tiêu biểu: Sát thát (Lê Vân – Nguyễn Bính) Bên bờ Thiên Mạc (Hà Ân) Trăng nước Chương Dương (Hà Ân) - Bên cạnh đề tài chiến đấu, văn học thiếu nhi giai đoạn này còn phản ánh đậm nét cuộc sống học tập, lao động và vui chơi của các em dưới mái trường xã hội chủ nghĩa. Một số tác phẩm tiêu biểu: Chú bé sợ toán (Hải Hồ) Trận chung kết (Khánh Hòa) Những tia nắng đầu tiên (Lê Phương Liên) Hoa cỏ đắng (Nguyễn Thị Như Trang) Xã viên mới (Minh Giang) Những cô tiên áo nâu (Hoàng Anh Đường) - Thơ viết cho thiếu nhi tiếp tục được phát triển với những tên tuổi quen thuộc, trong số đó có những tên tuổi suốt đời chỉ chuyên viết cho các em: + Phạm Hổ với Chú bò tìm bạn + Đinh Hải với Chồng nụ chồng hoa + Ngô Viết Bình với Mầm bé - Đặc biệt giai đoạn này xuất hiện một số cây bút thiếu nhi làm thơ tài năng như: Trần Đăng Khoa, Cẩm Thơ, Nguyễn Hồng Kiên, Khánh Chi, Chu Hồng Quí, Hoàng Hiếu Nhân, Ngô Thị Bích Hiền 2.1.2.4. Giai đoạn từ 1975 đến nay: 26
  28. Đất nước thống nhất, hòa bình, cả nước bước vào xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời bình. Văn học tham gia vào phản ánh công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. * Số lượng tác giả, tác phẩm viết cho thiếu nhi ngày càng phát triển đa dạng và phong phú. - Các sách nghiên cứu về văn học thiếu nhi ra đời: Hoa trái đầu mùa (Văn Hồng) Đôi điều tâm đắc (Vũ Ngọc Bình) - Sự xuất hiện hàng loạt tờ báo, tạp chí chuyên viết cho lứa tuổi thanh thiếu niên: Áo trắng; Mực tím; Hoa học trò; Vì trẻ thơ - Đề tài chống Pháp được hoàn thiện thêm: Tảng sáng (Võ Quảng – 1977). - Một số tác phẩm ôn lại những gian truân thời chống Mỹ: VD: Hồi đó ở Sa Kỳ (Bùi Minh Quốc – 1981) - Đặc biệt ở giai đoạn này xuất hiện một số tác phẩm viết cho lứa tuổi mới lớn với những biểu hiện tâm lý phức tạp: Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán – 1985) Tuổi thơ im lặng (Duy Khán – 1987) Miền thơ ấu (Vũ Thư Hiên – 1988) - Năm 1995 nhà xuất bản Văn học với sự cộng tác của một số nhà văn lão thành viết cho thiếu nhi đã xuất bản tuyển tập Văn học thiếu nhi (Văn học thiếu nhi Việt Nam sau cách mạng). - Từ đầu thập kỷ 90, nhà xuất bản Đồng Nai đã thiết lập Tủ sách Hoa niên với phương châm tạo điều kiện để các em học sinh được giải trí lành mạnh. - Gần đây nhà xuất bản Kim Đồng cũng đã lập Tủ sách Vàng giới thiệu những tác phẩm văn học thiếu nhi đặc sắc trong và ngoài nước để các em thâm nhập. - Năm 1992 lần đầu tiên văn học thiếu nhi đã được giới thiệu trong từ điển thuật ngữ văn học. Điều này đánh dấu một bước phát triển của văn học thiếu nhi. - Hội nhà văn Việt Nam thường xuyên tổ chức các trại sáng tác, các cuộc thi viết cho thiếu nhi, các cuộc vận động sáng tác trong các em. - Thơ và văn xuôi viết cho thiếu nhi phát triển. Riêng kịch viết cho thiếu nhi còn hạn chế. 2.1.2. Những nét đặc sắc về nội dung trong văn học viết cho thiếu nhi Việt Nam. Muốn viết thành công cho các em, các tác giả đã phải sống cuộc sống các em, phải có tình yêu máu thịt với các em. Chính vì thế trong các tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi lòng yêu thương trẻ thơ được đặc biệt chú ý, vì vậy, các tác phẩm đều được các em đón nhận một cách thích thú. 27
  29. - Các tác phẩm viết cho các em đều giàu lòng nhân ái, độ lượng, bao dung. Tình yêu thương các em của người lớn được thể hiện trong các tác phẩm rất cụ thể, rất chân thành. Tình yêu ấy gắn liền với đời sống tâm tư và nguyện vọng của các em. - Văn học viết cho thiếu nhi ngoài việc có ý nghĩa giáo dục vẫn phản ánh được tình cảm yêu, ghét đúng đắn của các em. Nó là nguồn gốc của những hành động anh hùng: các em yêu cha mẹ, quý trọng người thân, yêu quê hương đất nước, giàu lòng nhân ái, ghét sự dối trá, lừa lọc, độc ác. VD: Kim Đồng; Đội du kích thiếu niên Đình Bảng; Quê nội; Vừ A Dính - Trẻ em giàu ước mơ, sống vui nhộn, có nhiều trò chơi, hiếu động, hồn nhiên, vô tư, gắn bó và có nhiều kỷ niệm khó quên với quê hương. VD: Truyện Cái thăng, kể lại cảnh ăn khoai chà mật hoặc bài Thả thuyền, thơ của Võ Quảng. Lứa tuổi thiếu nhi các em thường chỉ thấy vui, thấy tốt đẹp ở quanh mình, không biết buồn lâu và dễ quên những chuyện đã qua. VD: Dế mèn phiêu lưu ký (Tô Hoài) Cái thăng (Võ Quảng) 2.1.3. Đặc sắc về nghệ thuật trong các tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi. Văn học viết cho thiếu nhi sinh động, linh hoạt, in đậm dấu ấn tuổi thơ trong từng trang viết. 2.1.3.1. Thơ văn viết cho thiếu nhi giàu chất thơ, chất truyện và chất hài hước. - Truyện viết cho thiếu nhi phải mang đậm chất thơ, chất lãng mạn của tuổi thơ. Đó là yếu tố quan trọng tạo ra sự hấp dẫn của truyện viết cho thiếu nhi. Chất thơ sẽ làm cho truyện có sức cảm hóa lạ lùng và mạnh mẽ. Chất thơ giúp cho trẻ em sau khi được nghe hoặc sau khi gấp sách lại vẫn thấy bao điều kỳ diệu ngoài những lời kể, những dòng chữ cứ bám chặt lấy tâm hồn, tình cảm và chắp cánh cho những ước mơ, khát vọng của tuổi trẻ. VD: Những trang sách miêu tả cảnh vật trong truyện Dế Mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài thực sự mang đậm chất thơ (miêu tả mùa xuân, mùa thu, mùa đông ). - Chất truyện trong thơ là hình tượng cảm xúc. Mỗi bài thơ viết cho các em gần như một mẩu chuyện hoặc chất chứa đầy yếu tố truyện. VD: Bài thơ Chú bò tìm bạn của Phạm Hổ hay bài Đánh thức trầu của Trần Đăng Khoa. - Chất hài hước cần thiết cho cả thơ và truyện. Đây là một trong những nét đặc sắc của văn học thiếu nhi bởi tuổi thiếu nhi là tuổi học mà chơi, chơi mà học, cuộc sống của các em luôn vui tươi, hồn nhiên và trong sáng. Vì vậy mà văn học viết cho các em luôn tạo ra những tiếng cười hóm hỉnh và tinh nghịch. 28
  30. VD: Đoạn miêu tả Ếch cốm đại vương ra lệnh cho họ nhà cóc ra đánh hai anh em Dế Mèn, cảnh thầy đồ Cóc dùng chữ khi tiếp kiến Dế Mèn, Dế Trũi, cảnh Dế Mèn trêu chị Cốc v.v trong Dế Mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài. Cái cười trong văn học thiếu nhi không gây ác ý. Các em cười mà vẫn rất yêu quê hương, xóm làng và cả những người xung quanh. Qua những tiếng cười đó các em lớn lên về mọi mặt, hiểu biết thêm về thế giới xung quanh. 2.1.3.2. Ngôn ngữ văn học viết cho thiếu nhi mang đậm tính kịch và hành động: Chất liệu tạo nên hình tượng văn học là ngôn ngữ. Văn học thiếu nhi đã thể hiện được ưu thế trong ngôn ngữ biểu hiện. Văn học viết cho thiếu nhi bao giờ cũng có kịch tính và hành động trong ngôn ngữ. VD: Võ Quảng miêu tả con sóng trên sông Thu Bồn: Những con sóng vung vẩy, nhảy nhót, chốc chốc chơi trò nhào lộn. Những con sóng lực lưỡng quất thẳng vào vách đá. Chúng nhảy chồm lên, tung bọt, gào rống rồi kéo nhau vụt chạy. (Tảng sáng của Võ Quảng) Hoặc khi đọc Dế Mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài có đoạn chị nhà Trò bị họ nhà Nhện đòi nợ, may sao gặp được Dế Mèn đứng ra bênh vực. Đoạn văn được viết bằng một loại ngôn ngữ giàu sức gợi tả và có tính kịch cao. Đọc lên các em thiếu nhi vô cùng thích thú. Đằng sau sự thích thú là những tiếng cười hồn nhiên, vui tươi và hả hê: Dế Mèn nói: - Ai đứng chóp bu bọn mày? Ra đây cho ta nói chuyện? Tôi quay phắt càng, đạp mạnh vào đầu mụ Nhện một cái đạp, mụ hoảng hốt, co rúm lại, hãi quá. Tôi nói: - Cớ sao dám kéo bè, kéo cánh ra bắt nạt em nhà trê ốm yếu thế kia? Chúng bay có của ăn, của để, đứa nào cũng béo múp mông đít cả lượt như thế kia mà cố tình đòi một tí tẹo nợ đã mấy đời rồi là không được. Kết luận: Từ khi Cách mạng tháng Tám thành công cho đến nay, nền văn học thiếu nhi của nước ta đã có những bước tiến khá dài. Đó là một nền văn học thiếu nhi Việt Nam phát triển phong phú và toàn diện về số lượng và chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn học của thiếu nhi cả nước. Câu hỏi bài tập: 1. Trình bày quá trình phát triển của văn học viết cho thiếu nhi từ Cách mạng tháng Tám đến nay. 2. Trình bày những nét đặc sắc về nội dung của văn học viết cho thiếu nhi. 3. Trình bày những nét đặc sắc về nghệ thuật của văn học viết cho thiếu nhi. 29
  31. Bài 2: Thơ Võ Quảng 2.1. Vài nét về tác giả: - Võ Quảng sinh ngày 11/3/1920 trong một gia đình nhà nho ở xã Đại Hòa – Huyện Đại Lộc – Tỉnh Quảng Nam. - Học giỏi văn, thích sáng tác, chịu sự ảnh hưởng mẫu mực của văn học cổ điển Pháp. - Năm 17 tuổi bắt đầu hoạt động trong tổ chức thanh niên cộng sản. - 1954 tập kết ra Bắc, làm công tác văn nghệ. - 1957 cùng với Tô Hoài, Phạm Hổ thành lập nhà xuất bản Kim Đồng (làm tổng biên tập). Vừa viết văn, vừa làm thơ, ông có một sự nghiệp sáng tác phong phú và đa dạng được các em yêu mến. Về thơ có những tác phẩm chính: - Gà mái hoa (NXB Kim Đồng – 1957) - Thấy cái hoa nở (NXB Kim Đồng – 1962) - Nắng sớm (NXB Kim Đồng – 1965) - Anh đom đóm (NXB Kim Đồng – 1970) - Én hát và đu quay (NXB Kim Đồng – 1972 in chung) - Măng tre (NXB Kim Đồng – 1970) - Ông Trung thu (NXB Kim Đồng – 1970) - Chị chổi tre (NXB Kim Đồng – 1972) 2.2. Những giá trị cơ bản trong thơ thiếu nhi của Võ Quảng: 2.2.1. Nội dung: Thế giới thiên nhiên, thế giới đầy hấp dẫn của tuổi thơ và tình yêu mến quê hương, đất nước. - Có thể nói trong thơ Võ Quảng có cả một thế giới loài vật và cỏ cây. Có một vườn bách thú và bách thảo mà những em bé nào có cái may mắn được vào đều say mê, yêu thích. Vườn thơ của ông giàu các loại chim, thú nhu mèo, gà, vịt, chó, trâu, bò, lợn, chào mào, chim khuyên, cò, vạc, vàng anh - Những bài thơ viết về loài vật của Võ Quảng dường như được viết riêng cho lứa tuổi nhi đồng, chúng vừa là bài học nhận thức, vừa là sự giao cảm của các em với thế giới xung quanh. VD: Ông miêu tả con lợn: Lưng mày múp míp Mắt mày húp híp Đuôi mày ngúc ngoắc Miệng mày nhóp nhép. 30
  32. - Vườn thơ của Võ Quảng còn miêu tả một bức tranh thiên nhiên sống động tạo nên những bức tranh lộng lẫy của cảnh vật. Đó là sự hài hòa của cỏ cây với động vật. VD: Cảnh hồ sen mùa hạ được vẽ nên bằng những nét bút cổ điển, gợi một không khí yên tĩnh, thoáng đãng, trong lành. Hoa sen sáng rực Như ngọn lửa hồng Một chú Bồ Nông Mải mê đứng ngắm. Nước xanh thăm thẳm Lồng lộng mây trời Một cánh sen rơi Rung rinh mặt nước. Nhà thơ còn cho các em thấy sự kỳ diệu của mùa xuân qua cảnh thức tỉnh của một chồi biếc. Dưới vỏ cây bàng Còn một vài lá nhỏ Một mầm non nho nhỏ Còn nằm nép lặng im. Mầm non mắt lim dim Cố nhìn qua kẽ lá Thấy mây bay hối hả Thấy lất phất mưa phùn. Khi mùa xuân đến, đất trời xôn xao, chim muông ríu rít, khe suối rì rào, tất cả như một bản hợp xướng đang vang lên thì mầm non cũng hào hứng góp vào một màu sắc: Vội bật chiếc vỏ rơi Nó đứng dậy giữa trời Khoác áo màu xanh biếc. Có thể nói, Viết cho trẻ thơ, Võ Quảng đã có được sự quan sát tinh tế, nhạy cảm, phản ánh và miêu tả được những bức tranh thiên nhiên, những con vật, loài vật hết sức cụ thể và sinh động, thỏa mãn óc tìm tòi của các em và giúp các em nhận thức sâu sắc về thế giới xung quanh. 2.2.2. Nghệ thuật. 2.2.2.2. Bút pháp miêu tả cụ thể, tinh tế. 31
  33. - Nhà thơ hiểu rất kỹ những con vật, nên chỉ bằng một vài nét, một vài chi tiết chọn lọc, ông đã khắc họa được ngoại hình của chúng rất nổi. VD: Con trâu đẹp vì nó khỏe: Da đen bóng loáng Ức rộng thênh thang Đôi sừng nghênh ngang Chóp sừng nhọn hoắt. Nhịp điệu trong thơ Võ Quảng rất đặc biệt, ông thích dùng những câu thơ ngắn và sử dụng rất thành công những vần thơ mang thanh trắc: Bỗng cạc, cạc, cạc (Có tiếng đàn vịt) Chú chẫu chàng Như tia chớp Vụt xuống nước Biến đâu mất. Đó là những câu thơ mang đầy kịch tính, người đọc vừa buồn cười vừa cảm phục cái nhanh nhẹn, láu lỉnh của chú chẫu chàng. Hoặc: Bốc được núm nếp Tý trèo lên bàn Gọi gà tục tục - Này nếp, này nếp Bỗng gà quắc mắt Xù lông, la: vắc. * Sử dụng thành công nhiều từ tượng thanh rất thành công: VD: Bỗng mái hoa đổi nết Cái đầu nó nghếch nghếch Con mắt nó nhớn nhác Cái cổ nó thon thót Nó kêu: tót, tót, tót. Hoặc: Mỗi buổi sớm mai Mái hoa lên gác - Cục, cục, cục tác! Rồi ngỗng cạc cạc Rồi vịt gắp gắp. Rồi cóc ọc, ọc Và Tý nhảy nhót Bắt nhịp Mái hoa. 32
  34. - Cục, cục, cục tác - Cục, cục, cục tác Kết luận: Võ Quảng là nhà văn, nhà thơ của các em. Tác phẩm của ông đã đóng góp một phần không nhỏ vào việc truyền cho các em lòng yêu người, yêu quê hương, đất nước, yêu tiếng mẹ đẻ của mình. Ông thật sự là người bạn lớn của các em. Câu hỏi và bài tập: 1. Trình bày những giá trị cơ bản về nội dung thơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi. 2. Trình bày những giá trị cơ bản về nghệ thuật thơ Võ Quảng viết cho thiếu nhi. 33
  35. Bài 3: Thơ Phạm Hổ 2.1. Vài nét về tác giả: - Phạm Hổ sinh ngày 28/11/1926 tại xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. - Sống trong một gia đình có truyền thống văn học, say mê văn học từ nhỏ, nhất là văn học thiếu nhi. - Những năm kháng chiến chống Pháp, ông là cán bộ sáng tác của chi hội văn nghệ liên khu V. - Năm 1954 ông tập kết ra Bắc, làm công tác văn nghệ. Năm 1957, cùng với Tô Hoài, Võ Quảng thành lập nhà xuất bản Kim Đồng. - Phạm Hổ sáng tác nhiều thể loại: Thơ, truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết và cả phê bình văn học. Nhưng thành công hơn cả là mảng sáng tác cho thiếu nhi, đặc biệt là thơ và truyện cổ tích mới viết cho nhi đồng. 2.2. Giá trị nội dung thơ Phạm Hổ viết cho các em: Nội dung thơ Phạm Hổ tập trung vào hai chủ đề chính: 2.2.1. Thơ Phạm Hổ thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống: Nói về thơ Phạm Hổ trước hết là nói về thơ thiên nhiên. Tập thơ Bạn trong vườn; Chú bò tìm bạn là những tập thơ mà ở đó bức tranh thiên nhiên được miêu tả hết sức sinh động. Thế giới rau, củ, quả còn ít nhà thơ nhắc đến nhưng với Phạm Hổ thì thế giới ấy hiện lên với những nét riêng, hấp dẫn, ngọt ngào. VD Bắp cải xanh Xanh mát mắt Bắp cải sắp Sắp vòng tròn Bắp cải non Nằm ngủ giữa Viết về cỏ cây, Phạm Hổ thật sự lột tả hết những nét hấp dẫn của chúng: VD: Viết về quả dứa, Phạm Hổ đã gợi cho các em sự liên tưởng thích thú: Đầu xanh mũ vua Mình vàng áo giáp Một trăm con mắt Nhìn quanh bốn bề. Hoặc, viết về quả dưa hấu: Dây dưa hấu yếu mềm Sinh đàn con to, nặng Mẹ không bế nổi con Đành trao nhờ đất ẵm. 34
  36. Thơ Phạm Hổ cung cấp cho các em những người Bạn trong vườn dâng quả ngọt, trái sai và màu xanh tươi cho cuộc sống như: Thị, ổi, na, chuối, bưởi, roi, dừa, nhãn, khế, mía tác giả đã dẫn các em vào vườn quả. VD: Bài thơ hàng rào là cánh cửa mở sẵn như hứa hẹn bao điều lý thú: Vườn quê ta nghìn năm Bao đời nay thân thuộc Một màu xanh êm đềm Trăm hương thơm vị ngọt Ta lớn lên bằng cơm cá Còn bằng quả vườn ta Trong tình yêu đất nước Có tình của lá hoa. Cây mít ló sau nhà Cây chanh ngang trước ngõ Cây bưởi đứng cuối vườn Đi xa ai chẳng nhớ ? Viết về thiên nhiên, nhà thơ Phạm Hổ như một anh phụ trách dẫn các em đi, miệng cười tươi và giảng giải cho các em nghe những điều bổ ích và lý thú. Mỗi bài thơ ông viết là một bài học phong phú, sinh động về loài cây, loài con, về đất nước, con người. Cây thị, quả thị có thật ở ngoài đời, có trong truyện cổ tích, nay lại có trong thơ Phạm Hổ: Lá xanh, quả xanh Lặng im trên cành Lá xanh, quả vàng Chim chuyền rung rinh Bà kể thị này Ngày xưa cô Tấm Chui vào đấy trốn Đợi ngày gặp vua. Thông qua việc miêu tả thiên nhiên đầy sinh động, hấp dẫn, Phạm Hổ truyền cho các em lòng yêu quê hương, đất nước sâu sắc. 2.2.2. Thơ Phạm Hổ ca ngợi tình yêu thương con người mà bao trùm lên trên hết là ngợi ca tình bạn: 35
  37. Phong cách thơ Phạm Hổ là phong cách thơ của tình bạn. Nói cách khác, Phạm Hổ là nhà thơ của tình bạn. Trong hơn mười tập thơ viết cho các em, đã có sau tập viết về tình bạn. - Ngoài việc kể tên các thuộc tính cơ bản của những con vật, cây cối, đồ vật xung quanh trẻ, giúp các em có những bài học tìm hiểu tự nhiên, xã hội sinh động. Nhà thơ còn miêu tả chúng rất ngộ nghĩnh. Chúng tạo thành một thế giới trẻ thơ đầy tưởng tượng, nhầm lẫn và thắc mắc. Tính truyền cảm của thơ Phạm Hổ chính là ở đó. - Mỗi bài thơ của Phạm Hổ là một câu chuyện nhỏ xinh, một tiếng cười hóm hỉnh, sảng khoái: Ngỗng không chịu học Khoe biết chữ rồi Vịt đưa sách ngược Ngỗng cứ tưởng xuôi Cứ giả đọc nhẩm Làm vịt phì cười Vịt khuyên một hồi Ngỗng ơi! Học! Học! (Ngỗng và Vịt) - Thế giới động vật, cỏ cây trong thơ ông thật đáng yêu, đáng để kết làm bạn bè, để yêu thương. Trong bài thơ Chú bò tìm bạn, tác giả giới thiệu một chú bò thật dễ thương, hiền hậu và ngộ nghĩnh: Mặt trời rúc bụi tre, Buổi chiều về nghe mát Bò ra sông uống nước, Thấy bóng mình ngỡ ai, Bò chào: “Kìa anh bạn Lại gặp anh ở đây!” Nước đang nằm nhìn mây Nghe bò cười nhoẻn miệng Bóng bò chợt tan biến Bò tưởng bạn đi đâu Cứ ngoái trước nhìn sau “Ậm ò” tìm gọi mãi - Các con vật trong thơ ông là những người bạn nhỏ mà ông muốn giới thiệu cho các em. Họ đều vui tính, ngây thơ, hiếu động, đáng yêu. Qua cuộc sống sôi nổi, những trò chơi tinh nghịch, những mẩu đối thoại của họ, các em có thể vui những niềm vui của họ và tìm thấy ở đó những điều bổ ích cho chính mình. 36
  38. VD: Gà mẹ hỏi gà con - Đã ngủ chưa đấy hả? Cả đàn gà nhao nhao - Ngủ cả rồi đấy ạ! Hoặc một chú chó dùng điện thoại, rất đa nghi, cố nhất định không chịu khẳng định người đầu dây bên kia là bạn của mình chỉ vì một lý do là chú ta không được nhìn thấy bạn: - Thỏ đây! Ai nói đấy? Mèo à? Mèo thế nào? Mình không trông thấy cậu Nhỡ đứa khác thì sao? Hoặc một chú chó chơi trốn tìm, rúc đầu vào khe tủ và yên chí là mình nấp kín rồi (vì mình không nhìn thấy đối phương). Vì thế, nếu có bị phát hiện chẳng qua là tại cái đuôi mà thôi: Rủ nhau chơi ú tim Giờ đến phiên chó trốn Mèo đảo mắt tìm quanh Chó nấp đâu giỏi gớm Bỗng kìa chỗ khe tủ Chó để lộ cái đuôi Rón rén mèo đến nơi Òa! Chộp ngay lưng bạn. Chó vẫn thú vị lắm Cứ nhe răng ra cười “Không! mình nấp giỏi thật Lỗi chỉ tại cái đuôi!” (Chơi ú tim) Hoặc một chú gấu chụp ảnh gửi tặng bạn, nhưng rồi chê không lấy ảnh vì một lý do hết sức buồn cười là sao không giống mình ở chỗ to, cao. Gấu đen chụp ảnh Gửi tặng bạn thân Gấu trắng, thợ giỏi “Tách” cái, chụp xong Lúc nhận ảnh xem Gấu đen trợn mắt: - Sao mình bé choắt Lại cụt cả chân! Chụp chẳng nên thân 37
  39. Này đây, trả cậu! - Những người bạn ở lớp, ở trường cũng ngây thơ, ngộ nghĩnh, đáng yêu. Bài Giặt sách, bài Rình xem mặt trời là những ví dụ sinh động. 2.2.3. Bài học giáo dục qua trang thơ Phạm Hổ. - Thơ Phạm Hổ viết cho các em mang tính giáo dục cao. Đằng sau cái ngộ nghĩnh, ngây thơ, khờ khạo đáng yêu ấy là những bài học giáo dục rất bổ ích cho các em: VD: Bài Ngỗng và vịt, giúp bạn học hành. Trong bài Dép xinh, tác giả giáo dục các em bé biết giữ gìn đồ dùng cá nhân: Bàn chân xinh của bé Đi dép đẹp thêm ra Dép cũng vui thích lắm Theo chân đi khắp nhà. Hoặc: Mẹ, mẹ ơi, cô bảo: “Bàn tay như búp lan Phải giữ sao cho sạch Tay bẩn, lo rửa ngay Tránh bẩn sang áo, sách ” Giáo dục các em thói quen tập thể dục rèn luyện thân thể: Con cua nó hay cắp Nên cái càng nó to Chân không tập thể dục Chân sẽ như chân cò. Trong bài Anh đom đóm, Phạm Hổ thông qua hình ảnh chú đom đóm lập lòe trong đêm tối để liên tưởng giáo dục các em tinh thần giúp đỡ bạn bè như: - Anh đom đóm ơi! Đèn anh xanh ngắt Gió thổi không tắt Anh xách đi đâu - Tôi ra đầu cầu Lập lòe soi lối Cho cóc tối tối Đi học bình dân. -Thơ Phạm Hổ giáo dục các em biết nâng niu và yêu mến cảnh vật. Đó là một vườn cây, một bóng nắng, một cánh diều bay bổng. (bài Chú bò tìm bạn, Thị, Ổi, Na ) 38
  40. VD: Trong bài thơ Em yêu tổ quốc Việt Nam tác giả viết: Ôi Việt Nam! Việt Nam! Tổ quốc bao thân mến Yêu từng khóm tre làng Từng con đò vào bến - Thơ Phạm Hổ giáo dục các em biết yêu quý ông bà, cha mẹ và những người xung quanh. Bài Mẹ ốm là một bài thơ đậm chất nhân văn. Hoặc giáo dục các em biết chia sẻ cùng bạn bè: Mẹ, mẹ ơi, cô bảo Cái bánh ăn một mình Chỉ ngon một nửa thôi Bẻ đôi ra mời bạn Ăn vừa ngon, vừa vui. Hoặc: Các cháu chơi với bạn Cãi nhau là không vui Cái miệng nó xinh thế Chỉ nói điều hay thôi. Có thể nói: Ngoài việc mở mang sự hiểu biết cho các em về thế giới xung quanh, thơ Phạm Hổ phản ánh những mối quan hệ gần gũi, thương yêu của thế giới trẻ thơ với nhau. Qua đó, đem lại cho các em những bài học nhẹ nhàng mang ý nghĩa giáo dục cao, góp phần giáo dục các em thành những công dân tốt. 2.3. Nghệ thuật thơ Phạm Hổ viết cho các em: 2.3.1. Thơ Phạm Hổ viết cho các em giản dị, súc tích, có tâm hồn do hình thức rõ ràng, nội dung chính xác, thơ ông gần với truyện kể: Mỗi bài thơ của Phạm Hổ là một câu chuyện nhỏ, xinh, các câu thơ, các chữ trong câu gần như lời nói bình thường nên dễ hiểu, dễ nhớ, nội dung bài thơ kể về một điều gì đó rất gần gũi với các em, được các em yêu thích. VD: Bài Chú bò tìm bạn; Ngỗng và vịt; Chơi ú tim; Gà mẹ hỏi gà con; Rình xem mặt trời vv là những bài thơ tiêu biểu cho lối thơ gần với truyện của Phạm Hổ. 2.3.2. Nghệ thuật miêu tả có tính mô phỏng trong thơ ông rất tài tình: - Khi miêu tả vạn vật trong cuộc sống, Phạm Hổ nhìn chúng bằng con mắt trẻ thơ, nói về chúng bằng giọng trẻ thơ nên dưới ngòi bút của tác giả chúng hiện ra rất đáng yêu bởi lối bắt chước rất tài tình của ông. Trong bài tàu dài, đọc kỹ ta sẽ như thấy tiếng con tàu đang chạy: Hai toa, Ba toa, Bốn toa 39
  41. Bé đếm, Đếm mãi Tàu còn Trôi qua. Bé đếm, Còn đếm Đầu tàu Đã xa Đuôi dài Rồng rắn, Toa còn, Níu toa. Xình xịch, Xình xịch. Kìa đạn, Kìa gạo Ghé mắt, Nhìn ra. Hoặc trong bài Xe chữa cháy tác giả nhại tiếng tí te, tí te của xe chữa cháy bằng sự mô phỏng có ngay! có ngay: Mình đỏ như lửa Bụng chứa nước đầy Tôi chạy như bay Hét vang đường phố Nhà nào bốc lửa Tôi dập liền tay Ai gọi chữa cháy? “Có ngay! Có ngay!” 2.3.3. Sử dụng rất thành công lối thơ hỏi – đáp: Đây là nét đặc sắc nhất trong nghệ thuật thơ Phạm Hổ viết cho các em, làm cho thơ ông mang một vẻ độc đáo. - Lối thơ hỏi – đáp chiếm số lượng khá nhiều trong những bài thơ ông viết cho các em. Các bài thơ này vừa tái hiện lại những điều thắc mắc của trẻ lại vừa giảng giải cho trẻ hiểu vấn đề, cách thắc mắc rất đúng, rất trẻ con mà cách trả lời cũng thật thấu đáo theo cách hiểu của trẻ con. Vì thế lối thơ hỏi – đáp làm nên một nét đặc sắc của nghệ thuật thơ Phạm Hổ. VD: Bài Soi gương, Hoa sen hoa đào, Kim đồng hồ, Chim sáo, Trâu tiêm thuốc là những ví dụ tiêu biểu cho lối thơ hỏi – đáp: – Có ai đang khóc nhè 40
  42. Mà soi gương không bố? - Một đứa khóc đủ rồi Soi gương chi thành hai đứa!!! (Soi gương) Hoặc: - Sao hoa sen, hoa đào? Không nở cùng một lúc? - Hoa chia nhau trực mùa Như các em trực lớp. (Hoa sen hoa đào) Hoặc: - Sao hai kim đồng hồ Cái chạy nhanh chạy chậm? - Vì cái này chân dài Còn cái kia chân ngắn ! (Kim đồng hồ) Hoặc: - Vì sao con chim sáo Cứ một điệu hát hoài ? - Nó không có cô giáo Dạy nó hát nhiều bài ! (Chim sáo) Hoặc: - Sao tiêm thuốc cho trâu Không thấy trâu nó khóc? - Nó đã không sợ đau Tìm đâu ra nước mắt! (Trâu tiêm thuốc) Hoặc: Cua con hỏi mẹ Dưới ánh trăng đêm - Cô lúa đang hát Sao bỗng lặng yên Đôi mắt lim dim Mẹ cua liền đáp - Chú gió đi xa Lúa buồn không hát. (Cua và gió) * Kết luận: Mỗi nhà văn, nhà thơ có cách nhìn, cách nghĩ, cách viết riêng. Phong cách thơ Phạm Hổ viết cho các em dịu dàng, đằm thắm, sâu xa mà vui tươi, duyên dáng, mang đậm tình người, tình đời và mang tính giáo dục cao. Câu hỏi và bài tập: 1. Trình bày những nét đặc sắc về nội dung thơ Phạm Hổ viết cho các em. 2. Phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật thơ Phạm Hổ viết cho các em 41
  43. Bài 4: Tô Hoài 2.1. Vài nét về tác giả: Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen. - Sinh ngày: 27/9/1920 trong một gia đình làm nghề thủ công. - Quê nội ở huyện Thanh Oai nhưng lại sinh ra và lớn lên ở quê ngoại: làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (cũ). Nay là huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội. - Tô Hoài có quá trình viết văn lâu dài, ông viết văn xuôi thuộc nhiều thể loại. Ông là một trong những cây đại thụ của văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945. Ông viết cho người lớn và cũng dành nhiều thời gian sáng tác cho thiếu nhi, ở lĩnh vực nào ông cũng thành công. * Một số tác phẩm chính viết cho thiếu nhi: - Dế mèn phiêu lưu ký (1941) - Võ sĩ Bọ Ngựa (1941) - O chuột (1942) - Đám cưới chuột (1943) - Vừ A Dính (1963) - Chim chích lạc rừng (1960) - Chim Hải âu - Dê và Lợn - Kim Đồng (1973) - Đảo Hoang (1976) - Hợp tác xã chúng em - Đàn chim gáy - Con mèo lười (kịch bản phim) 2.2. Truyện viết cho các lứa tuổi: 2.2.1. Truyện viết cho lứa tuổi nhỏ: Tô Hoài là một trong số ít nhà văn viết đều tay nhất cho thiếu nhi. Điểm đáng chú ý đầu tiên ở Tô Hoài là ông nắm được yêu cầu giáo dục của từng độ tuổi, hiểu được tâm lý các em. - Viết cho lứa tuổi nhỏ, tác giả sử dụng những mẩu chuyện ngắn, lời văn dí dỏm, sự việc cụ thể. Nhân vật là những loài vật quen thuộc để truyền lại cho các em những hiểu biết đơn giản về các vấn đề đặt ra trong sinh hoạt hàng ngày, về vẻ đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa. 42
  44. - Ở độ tuổi nhỏ, các em thường thích thú xem các chú chim với tiếng hót vui tai, chú gà trống gáy Nắm được đặc điểm ấy. Tô Hoài đã mượn loài vật để lồng ghép vào đó các bài học. VD: + Một anh chàng Bọ Ngựa kiêu căng, tưởng mình có sức mạnh, gây gổ với bà con hàng xóm, liền nhận được bài học đích đáng từ bác Cồ Cồ, và Bọ Ngựa đã chừa hẳn thói ngông cuồng để trở thành người khiêm tốn (Võ sĩ Bọ Ngựa) + Ông phê phán một con mèo lười, ông dựng lên cảnh nhộn nhịp của các con vật đáng náo nức theo chủ đi lên nương. Còn riêng Mèo Đen chỉ ngồi nhà chờ ăn, Mèo Đen còn lôi kéo các bạn như: Bê, Lợn cũng lười như mình. Nhờ tình thương yêu của các bạn, Mèo Đen đã tự sửa chửa khuyết điểm của mình (kịch bản phim Con Mèo lười). + Ông giới thiệu với các em sự thay đổi nhanh chóng của đất nước, quê hương trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội qua các tác phẩm: Chim chích lạc rừng, Đàn chim gáy, Cá đi ăn thề 2.2.2. Truyện viết cho các lứa tuổi sắp bước vào đời. Viết cho lứa tuổi lớn, Tô Hoài muốn nhấn mạnh yêu cầu giáo dục lý tưởng cho các em. Trước Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài có tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu ký; Đám cưới Chuột. Đây là những tác phẩm hay, gợi được một không khí riêng. Trong tác phẩm Đám cưới chuột, nỗi buồn của loài chuột bị giam hãm, mất tự do, buồn vì luôn bị đe dọa, bị bóc lột (họ hàng nhà chuột luôn bị mèo mướp ăn thịt, phải cống nộp cá chép, chim bồ câu, khi chuẩn bị rước chuột nhắt vinh qui bái tổ). Do sợ mèo mà các người khiêng kiệu đã làm chuột Nhắt què chân, bị cô chuột Chù từ chối, chuột Nhắt chán đời nhưng ông chuột Cống một người học rộng, tài cao đã giác ngộ, khơi dậy ở chuột Nhắt lòng căm thù loài mèo và chế ngự nỗi sợ truyền kiếp với loài mèo để đấu tranh, sống có ích cho mọi người. Đó là những tác phẩm khẳng định được lý tưởng sống đúng đắn. Tiêu biểu cho nhân vật có lý tưởng là Dế Mèn. Mèn là hiện thân của những chàng trai mới lớn, có sức khỏe, yêu lao động, biết ước mơ nhưng đôi khi cũng quá bồng bột, thiếu chín chắn trong hành động. Tuy nhiên, Mèn cũng nhanh chóng nhận ra lỗi lầm và tự xác định cho mình lý tưởng sống đúng đắn: sống hòa bình, thân ái, muôn loài cùng nhau kết làm anh em. Qua tác phẩm này Tô Hoài còn muốn nói với các em một điều nữa: Để thực hiện lý tưởng, thực hiện những điều mình mong muốn, mọi người cần có một quyết tâm, một nghị lực, cần phải biết yêu thương, đoàn kết với mọi người (Mèn, Dế Trũi, Bọ Muỗm, Kiến ). 43
  45. - Để giáo dục lý tưởng, ngoài lấy con vật để giáo dục các em, Tô Hoài còn xây dựng những nhân vật chính diện, có phẩm chất tốt đẹp nhằm đem lại cho các em lứa tuổi sắp bước vào đời những hình ảnh gương mẫu. VD: Tác phẩm Kim Đồng, Vừ A Dính Đó là những em thiếu niên anh hùng có thực trong lịch sử. Đó là những em thiếu nhi yêu thiết tha gia đình nhưng cũng gắn bó mật thiết với cách mạng. Họ đã anh dũng hy sinh để bảo vệ quê hương, đất nước. + Trong công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, một thế hệ thiếu nhi mới được hình thành, đã nêu cao lý tưởng sống của con người mới xã hội chủ nghĩa: Mình vì mọi người, mọi người vì mình, vì lợi ích chung của tập thể, các em có ý thức làm chủ đất nước (Hai ông cháu và đàn trâu). 2.2.3. Nghệ thuật truyện Tô Hoài viết cho thiếu nhi 2.2.3.1. Ngôn ngữ trong tác phẩm của Tô Hoài: Rất sinh động, cụ thể, phù hợp với cách nói, cách nghĩ của thiếu nhi (Dế Mèn phiêu lưu kí, Võ sĩ Bọ Ngựa, Chim Chích lạc rừng ). VD: Tôi đi đứng oai vệ. Mỗi bước đi, tôi làm điệu nhún nhảy các kheo chân, rung lên rung xuống hai chiếc râu cho ra kiểu cách con nhà võ. Tôi tợn lắm, dám cà khịa với tất cả bà con trong xóm (Dế Mèn phiêu lưu ký) 2.2.3.2. Bút pháp miêu tả của Tô Hoài thường sinh động, không lặp lại, nhiều trang viết của ông dồi dào chất trữ tình, chất thơ. VD: Thế giới thiên nhiên qua cách nhìn trìu mến, rất trẻ của ông hiện lên với những màu sắc, âm thanh uyển chuyển. Mùa xuân hiện ra: Mùi hoa hồng và hoa huệ sực nức bốc lên. Trong không khí vắng bóng hơi nước lạnh lẽo, không khí bây giờ sáng và đầy hương thơm Cây hồng bì đã rũ bỏ những cái áo già đen đủi. Những cây xoan khẳng khiu đang trổ lá Đây lại là một nét đặc sắc nữa của ngòi bút Tô Hoài khi miêu tả cảnh vật lúc trời đang đổ mưa dữ dội: Mưa đến rồi, lẹt dẹt lẹt dẹt Mưa giáo đầu. Những giọt nước to lăn xuống mái phên nứa. Mưa thực rồi. Mưa ù xuống khiến cho mọi người không tưởng được là mưa lại kéo xuống nhanh chóng thế. Lúc nãy là mấy giọt lách tách, bây giờ bao nhiêu là nước tuôn rào rào. Nước xiên xuống, lao xuống, lao vào trong bụi cây. Lá đào, lá na, lá sói vẩy tai run rẩy. Con gà trống ướt lướt thướt ngật ngưỡng tìm chỗ trú. Mưa xuống sầm sập, giọt ngã, giọt bay, bụi nước tỏa trắng xóa. Trong nhà bỗng tối sầm Mưa rào rào trên sân gạch. Mưa đồm độp trên phên nưá, đập lùng bùng vào lòng lá chuối, tiếng gianh đổ ồ ồ 44
  46. 2.2.3.3. Câu văn trong truyện của Tô Hoài thường đa dạng nhiều câu có sự kết hợp giữa tả và kể, giữa đối thoại và độc thoại rất tài tình. Nhiều câu thể hiện sự dí dỏm, sinh động, rất riêng của ông: VD: Dế Mèn cường tráng, dế Choắt ho hen cò cử, những cô Cào Cào đỏm dáng, ưa làm duyên, một gã Bọ Ngựa huênh hoang, lố bịch, một gã chim Trả trai lơ, ưa làm dáng, già chơi trống bỏi * Kết luận: Tô Hoài là người có công lớn trong việc xây dựng nên những truyện loài vật có sức sống lâu dài trong văn học thiếu nhi Việt Nam. Tác phẩm của ông thể hiện tấm lòng yêu thương, gắn bó với quê hương làng xóm, yêu thiên nhiên, loài vật. Ông có óc quan sát nhạy bén, tài tình, sắc sảo, trí tưởng tượng phong phú. Ông xứng đáng là người bạn lớn của các em. Câu hỏi và bài tập 1. Trình bày đặc điểm nội dung truyện Tô Hoài viết cho các lứa tuổi. 2. Trình bày đặc điểm nghệ thuật truyện Tô Hoài viết cho thiếu nhi. 45
  47. Bài 5: Thơ các em viết Trong những năm 60 của thế kỷ XX, xuất hiện một số tác giả nhỏ tuổi làm thơ và lập tức được công nhận là có thơ hay. Đây là một hiện tượng độc đáo. Nó độc đáo vì ở những nền văn học khác chỉ có người lớn làm thơ cho các em. Vậy mà đến những năm 1960 lại xuất hiện hiện tượng trẻ em làm thơ và đã mang đến cho nền văn học thiếu nhi Việt Nam những thành công bất ngờ. 2.1. Khái quát tình hình sáng tác thơ của các em từ thời chống Mỹ đến nay: - Bắt đầu từ 1964 đã có các bài thơ của các em đăng trên báo như: Báo Văn nghệ, báo Thiếu Niên Tiền Phong. Thời kỳ đầu còn lẻ tẻ với một vài sáng tác của Trần Đăng Khoa, Cẩm Thơ, Chu Hồng Quý. - Sau này đội ngũ làm thơ của các em đông dần lên và được công nhận là thơ các em viết rất hay. Ngoài những tên tuổi thời kỳ đầu còn có thêm Nguyễn Hồng Kiên, Khánh Vân, Thúy Giang, Ngô Thị Bích Hiền, Khánh Chi, Hoàng Hiếu Nhân, Ngô Hồng Phước, Thu Hà Cho đến nay đất nước chúng ta đã có rất nhiều các em nhỏ làm thơ; nhà xuất bản Kim Đồng đã xuất bản nhiều tập thơ riêng cho các em như: - Tấm lòng chúng em (1965) - Tuổi nhỏ chống Mỹ cứu nước (1970) - Đời đời ơn Bác (1970) - Nối dây cho diều (1970) - Bông hồng đỏ (1970) - Từ góc sân nhà em (1968) - Em kể chuyện này (1971) - Thơ Trần Đăng Khoa (1992) 2.2. Đặc sắc nội dung trong thơ các em viết: 2.2.1. Cuộc đời qua cách nhìn trẻ thơ: Những gì các em viết là tình cảm, trí tuệ của những tâm hồn ngây thơ, trong sáng. Các em tin yêu cuộc sống nên các em rất hồn nhiên trong cách nghĩ, cách nhìn. - Các em nhìn cuộc đời bằng cặp mắt xanh non, dễ có những cảm xúc bất ngờ, tạo nên những trang thơ thật kỳ lạ. Sự phát hiện của các em bé làm thơ rất tinh tế, nhiều khi làm người lớn phải ngỡ ngàng. Bài thơ Giỡn sóng của Cẩm Thơ là một ví dụ. Năm năm em lại về giỡn sóng Ôi cái sóng biển đông Phù sa về nhuộm hồng Triều lên cùng với sóng Triều reo như trẻ nhỏ 46
  48. Em òa vào lòng sóng mênh mông. Thật là một thế giới trẻ thơ kỳ diệu, đáng yêu. - Tuổi thơ của các em thường rất gần gũi với những cái nên thơ của thiên nhiên, tạo vật. Các em yêu thiên nhiên, tạo vật bằng tấm lòng thiết tha, trìu mến của mình. VD: Ngô Thị Bích Hiền viết về mưa: Mưa, mưa, mưa Rơi, rơi, rơi Lợp, bợp, bợp Trên mái nhà Thành chùm hoa Dưới hồ nước Ướt, ướt, ướt Trên cành cây Lay, lay, lay Cánh cửa sổ Sạch đường phố Mát đôi chân Trời tạnh dần Yêu mưa lắm. - Những vần thơ được hình thành từ một tâm hồn trẻ thơ: Hạt mưa, ông Trăng, cánh diều, cây cau, cây trầu không, vườn chuối VD: Hình ảnh ông Trăng trong thơ Ngô Thị Bích Hiền đã trở thành một nhân vật như con người, cũng năng nổ, ngộ nghĩnh, có sức lôi cuốn mạnh mẽ: Quả trăng như cái đĩa Từ mái nhà ngoi lên Bầu trời kia là biển Trăng con một chiếc thuyền Dâng trào lên, trào lên. - Một hình ảnh, một âm thanh bất kỳ của cuộc sống có thể trở nên những vần thơ hay, bài thơ đẹp của hồn thơ các em. VD: Chậu nước trong Múc từ sông Ngọc Mẹ gọi: - Kiên ơi, xuống gội đầu Mây trắng Bồng bềnh in mặt nước Ơ kìa! Đáy chậu có trời sao. 47
  49. (Nước trong – Nguyễn Hồng Kiên) 2.2.2. Tình yêu của trẻ thơ qua thơ các em viết: 2.2.2.1. Tình yêu thiên nhiên: - Các em yêu thiên nhiên, đất nước bằng cả tấm lòng thiết tha, trìu mến của mình, yêu say đắm, yêu chân thực. Các bài thơ được diễn tả sinh động, biến động như chính hồn, cuộc sống của các em. Thiên nhiên đã đem lại cho các em cảm hứng thơ. VD: Những Hoa cau, Hoa bưởi vốn đã thơm trong tự nhiên, khi đi vào thơ Trần Đăng Khoa nó lại trở nên thơm hơn và đã làm cho thơ Khoa thơm mãi. Nửa đêm nghe ếch học bài Lưa thưa vài hạt mưa ngoài hàng cây Nghe trời trở gió heo may Sáng ra vại nước rụng đầy hoa cau. (Hoa cau) - Trong thơ các em viết, lá biết nói, hoa biết cười, cây biết buồn vui và nắng cũng biết làm nũng như người, cách nhìn của trẻ thơ làm cho cảnh vật sinh động, đáng yêu: VD: Cây lúa hai tay bới tóc Làm cả buổi chiều xôn xao (Ra ngoại thành – Khánh Thi) Đặc biệt thơ Mưa của Trần Đăng Khoa là một bức tranh sinh động tuyệt vời. Trần Đăng Khoa bằng bút pháp nhân hóa đã biến thiên nhiên trong bài thơ trở thành một thế giới sống động như thế giới con người. Phải có tình yêu thiên nhiên sâu sắc đến mức nào, Khoa mới có được những bài thơ hay như vậy. 2.2.2.2. Tình yêu con người trong thơ các em viết: - Tiếng nói đầu tiên trong thơ các em là tình yêu của người con đối với mẹ. Mẹ là hiện thân của vất vả, gian lao. Mẹ là nơi ấp ủ niềm tin yêu vào cuộc sống của các em. Mẹ là sự chở che mỗi khi vấp vả. Tình cảm các em dành cho mẹ thật chân thành, thật thiêng liêng và cao cả. Bài thơ Mẹ ốm, Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa là những ví dụ điển hình. Với mẹ, các em vừa tìm thấy sự chở che khi còn bé, vừa thấy muốn được chăm sóc, an ủi mẹ khi đã bắt đầu lớn. Mẹ và con luôn có mối quan hệ qua lại hai chiều. Cái đáng cảm phục là ở chỗ con đã ngâm thơ, hát ru mẹ ngủ để xua tan những nhọc nhằn nơi mẹ: Mẹ ơi đông sẽ qua nhanh Mùa xuân sẽ đến, chồi xanh tươi dần Mẹ ru con đã bao lần Hôm nay em mới một lần tập ru. (Vân Trang) Đó là tâm trạng ngóng trông mẹ một chiều mưa. Vừa lo mẹ ướt, vừa mong tìm một chút hơi ấm nơi mẹ: Ước gì mưa tạnh mưa ơi Mẹ về sáng một khoảng trời đầy sao. (Ngô Hồng Phước) 48
  50. - Tình cảm đối với ông bà: Là rụng về cội, khi lớn lên, biết suy nghĩ, nghĩ về quê hương, về cội nguồn, các em đều nhớ đến ông bà của mình. Các em dành nhiều bài thơ nói tới tình cảm đó, nặng lòng biết ơn: Bà chết cháu nhỏ quá Nào đã biết gì đâu Dần dần cháu cũng hiểu Đời bà nhiều khổ đau. (Nguyễn Thị Hương Lý) Ở rất nhiều bài thơ với bao nhiêu xao xuyến nhớ quê hương, bao giờ cũng lắng đọng nỗi nhớ bà, dường như bà và quê hương hòa làm một: Bà ơi! Bà ở nơi nao Có nghe tiếng cháu thì thào gọi không? (Mai Hương Giang) Hoặc bài thơ Đánh thức trầu của Trần Đăng Khoa cũng là một bài thơ thể hiện tình cảm của em đối với bà. - Tình cảm đối với thầy cô giáo cũng không phải là cái gì chung chung mà là cả một niềm yêu mến cụ thể của các em với niềm yêu quý và biết ơn sâu sắc. Trần Đăng Khoa là tác giả có nhiều bài thơ viết về thầy cô hay nhất, xúc động nhất như bài Nghe thầy đọc thơ, Tiễn thầy đi bộ đội, Hỏi đường, Bàn chân thầy giáo. - Đặc biệt là tình cảm của các em đối với Bác Hồ: Đó là những vần thơ hay nhất, xúc động nhất của các em. VD: Trần Đăng Khoa lo cho sức khỏe của Bác: Sang năm Bác tám mươi rồi Bác ơi, Bác thấy trong người khỏe không. Đến lúc Bác qua đời, Khoa không còn hy vọng được gặp Bác nữa. Cả đất nước thương tiếc Bác, trong đó có cả tiếng thơ tràn đầy nước mắt của Khoa: Cháu buốt ở trong tim này Chỗ đeo tang suốt đêm ngày Bác ơi Cháu không nói được nên lời Cháu ngồi cháu khóc, đất trời đổ mưa. (Cháu thề phấn đấu suốt đời – Trần Đăng Khoa) 2.3. Đặc sắc nghệ thuật trong thơ các em viết: 2.3.1. Trí tưởng tượng diệu kỳ: Nói đến thơ các em không thể không nói đến trí tưởng tượng. Tưởng tượng là một phẩm chất rất cơ bản trong tâm hồn các em. Tưởng tượng làm tròn trặn hơn suy nghĩ, đẹp thêm tư tưởng của lứa tuổi mà sự phát triển của tư duy đang ở độ tuổi măng non. Trong các sự vật bình thường, thậm chí rất quen thuộc, gần gũi mà ta gặp hàng ngày, các em lại tìm thấy trong đó bao điều kỳ diệu. Bài thơ Mưa của Trần Đăng Khoa 49
  51. là một bài thơ như thế. Ngoài ra Trần Đăng Khoa còn nghe cả những âm thanh của cuộc sống bằng trí tưởng tượng của mình. Trí tưởng tượng ấy được thể hiện qua bài Nửa đêm tỉnh giấc làm cho bài thơ bay lên cùng xúc cảm của Khoa: Nửa đêm em tỉnh giấc Bước ra hè em nghe Một tiếng gì không rõ Xôn xao cả đất trời. -Thơ các em ngộ nghĩnh, ngây thơ. Các em thổi vào thiên nhiên, sự vật một luồng sinh khí mới qua trí tưởng tượng của mình. Trí tưởng tượng giúp các em sử dụng thành công nhiều biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa, liên tưởng. VD: Nhờ trí tưởng tượng mà Nguyễn Hồng Kiên đưa các bạn chứng kiến cảnh cóc đến nhà trời, bắt ông trời phải đổ mưa xuống và rồi sau đó cóc được lên chức là cậu ông trời. Hoặc câu chuyện đầy lý thú và hấp dẫn các bạn trẻ là nhờ ở trí tưởng tượng tài tình của nhà thơ thiếu nhi Trần Đăng Khoa. Lão mặt trời quái ác Nốc rượu mặt đỏ nhừ Uống cạn nước ao hồ Để mùa màng chết khát Cả họ hàng nhà Cóc Mở cuộc họp trong hang Cóc tía giận tím gan Muốn lên trời hỏi tội. Có thể nói, trí tưởng tượng làm cho hồn thơ các em bay cao, bay xa. 2.3.2. Ngôn ngữ thơ các em rất gần gũi với khẩu ngữ, vì thế mà thơ các em dễ cảm, dễ hiểu và rất hồn nhiên: VD: Gà mơ trong ổ nhảy ra Đẻ mỗi quả trứng thế mà kêu đau Thực tình, nó chẳng đau đâu Ném cho nắm thóc cúi đầu ăn ngay. (Gà mơ – Trần Mai Khanh) Hoặc bài thơ Sao không về vàng ơi của Trần Đăng Khoa hoặc bài Kể cho bé nghe; Họp báo chim Họa mi của anh cũng mang đậm đặc trưng khẩu ngữ, nó gần gũi với lối nói, nếp nghĩ hàng ngày của trẻ thơ. Tóm lại: Thơ các em là tiếng nói, là tâm hồn tình cảm của tuổi thơ trong sáng nhất. Song đẹp nhất, hay nhất là tầm hồn, tư tưởng thấm vào các em nhuần nhuyễn. Các em cảm nhận tất cả bằng tình yêu cuộc sống, yêu con người để có tình cảm tốt đẹp mà trước hết phải là tình cảm của trẻ thơ. Câu hỏi và bài tập: 1. Trình bày những nét đặc sắc trong nội dung thơ các em viết. 2. Trình bày những nét đặc sắc trong nghệ thuật thơ các em viết. 50
  52. Bài 6: Trần Đăng Khoa 2.1. Vài nét về tác giả: - Trần Đăng Khoa sinh 26/4/1958 tại làng Điền Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Thanh, tỉnh Hải Dương. - Anh là một cây bút nổi danh từ nhỏ (9 tuổi) và đã đạt được rất nhiều giải thưởng thơ, có thơ đăng từ lúc 6 tuổi (bài Con bướm vàng). - Năm 17 tuổi Trần Đăng Khoa xung phong vào bộ đội. Sau đó được cử về học tại trường viết văn Nguyễn Du. Sau khi tốt nghiệp xuất sắc trường viết văn Nguyễn Du, anh tiếp tục sang Liên Xô (cũ) học ở trường viết văn Gorki. - Hiện nay Trần Đăng Khoa công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân Đội. Trần Đăng Khoa được đánh giá là cây bút xuất sắc nhất trong số các em bé làm thơ ở nước ta, đỉnh cao của văn học thiếu nhi thời chống Mỹ. * Một số tác phẩm tiêu biểu: - Từ góc sân nhà em (NXB Kim Đồng – 1968) - Khúc hát người anh hùng (NXB Phụ Nữ – 1975) - Góc sân và khoảng trời (NXB Kim Đồng – 1975) - Thơ Trần Đăng Khoa (NXB Kim Đồng – 1983) - Bên cửa sổ máy bay (NXB Tác phẩm mới – 1986) 2.2. Nội dung thơ của Trần Đăng Khoa: 2.2.1. Bức tranh nông thôn trong thơ Trần Đăng Khoa: Nông thôn Việt Nam, đối tượng chính của thơ Trần Đăng Khoa được biểu hiện rõ ở hai phương diện: Cảnh vật và con người trong một khung cảnh đặc biệt thời chiến tranh. 2.2.1.1. Cảnh vật thiên nhiên: - Tuổi thơ Khoa gắn bó khăng khít với Góc sân và khoảng trời, Từ góc sân nhà em, Khoa đã nhìn, đã cảm, đã nghĩ và đã đưa vào thơ những hình ảnh hết sức quen thuộc của làng quê Việt Nam như: Một mảnh vườn, một khoảnh sân, một dòng sông, một cánh đồng, một trận mưa Những hình ảnh ấy quen thuộc, bình dị nhưng vẫn gây ngạc nhiên, thú vị cho người thưởng thức bởi Khoa nhìn bằng con mắt trẻ thơ non tươi nét yêu đời. Bởi, Khoa thổi vào chúng vẻ hồn nhiên, tinh nghịch của tâm hồn những cậu bé con lớn lên nơi đồng quê chiêm trũng với những trò chăn trâu, thả diều, bắt cá. VD: + Trong bài Mưa Khoa viết về một mảnh vườn, một góc sân hả hê đón nhận cơn mưa với một sự tưởng tượng phong phú. Trong cơn mưa ấy tất cả các côn trùng, thảo mộc đều thể hiện rõ đặc trưng của giống loài: Sắp mưa, Sắp mưa 51
  53. Những con mối Bay ra Mối trẻ Bay cao Mối già Bay thấp Gà con Rối rít Tìm nơi Ẩn nấp Kiến Hành quân Đầy đường + Trong bài Thả diều Khoa đã miêu tả vẻ đẹp riêng của cánh đồng chiều. Cánh diều cùng tiếng sáo đã tạo nên nét thanh bình, thư thái trong cảnh vật thiên nhiên và tâm hồn người dân quê. Trong hoàn cảnh chiến tranh, cánh diều là hình ảnh tượng trưng cho sức sống mãnh liệt của người dân Việt Nam, là tiếng nói thách thức chiến tranh: Cánh diều no gió Tiếng sáo thổi vang Sao trời trôi qua Diều thành trăng vàng Tiếng diều văng nắng Trời xanh cao hơn Dây diều em cắm Bên bờ hố bom. + Bài thơ Ò ó o và Buổi sáng nhà em đã ghi lại cảnh sinh hoạt khẩn trương trong một buổi bình minh của nhà nông, cảnh vật và con người vừa bừng tỉnh, đã hối hả lo toan cho một ngày lao động mới. Bài thơ đậm đà chất dân dã của một miền quê Việt Nam quen thuộc. Một số bài thơ như: Đánh thức trầu; Trăng ơi từ đâu đến; Nửa đêm tỉnh giấc; Con trâu đen lông mượt v.v là những bài thơ mang đậm chất đồng quê Việt Nam. - Ngoài những gì cảm nhận được ở mảnh vườn, góc sân Khoa còn mở rộng lòng mình để đón nhận hương đồng, gió nội phóng khoáng của đồng quê. Anh miêu tả Cánh đồng làng Điền Trì, ca ngợi vẻ đẹp và sự quý giá của Hạt gạo làng ta anh say 52
  54. với Hương đồng; Đồng chiều và vui cùng bà con niềm vui thắng lợi khi thôn xóm vào mùa. Cánh cò chớp trắng bên sông Kinh Thầy đã đưa người đọc vào không gian rộng rãi, trong lành của đồng quê. + Đọc những bài thơ viết về đồng quê của anh người ta như cảm nhận được cái hương vị, cái thần thái, cái hồn quê Việt Nam. Hồn quê Việt Nam đã từng phảng phất trong những hình ảnh bình dị, quen thuộc qua triết lý của Khoa. Mái gianh ơi hỡi mái gianh! Ngấn bao mưa nắng mà thành quê hương. (Khúc hát người anh hùng) + Hương vị đồng quê đã trở thành một phần không nhỏ trong tâm hồn Khoa: Đất trời cách một gang mây Và tôi cùng với luống cày tỏa hương. (Đồng chiều) Một số bài thơ như Hương đồng; Đồng chiều; Thôn xóm vào mùa là những bài thơ thể hiện một nông thôn Việt Nam trong lành, nồng nàn men say của đất trời. - Có thể nói, tâm hồn Khoa luôn hòa hợp với thiên nhiên, với quê hương, nên anh có thể bắt được rất tài, rất nhạy thần sắc của nó. Anh có thể nghe được Tiếng cây lách chách đâm chồi, tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng (của Chiếc lá; Thở hy hóp trên sân của lúa phơi ngày mùa, tiếng Gió giở mình trăn trở đêm thu, có thể thấy Cây cau nó bức quá, phành phạch quạt liên hồi. Qua đó, Khoa đã bộc lộ một tình yêu quê hương sâu sắc và truyền cho người đọc tình yêu ấy. 2.2.1.2. Hình ảnh người nông dân trong thơ Trần Đăng Khoa: - Thiên nhiên là phần nền khắc họa rõ nét thêm hình ảnh người nông dân trong bức tranh quê của thơ Khoa. Qua thơ anh, người đọc có thể thấy được những nỗi vất vả, khó nhọc, chịu đựng, hy sinh của người nông dân, đặc biệt là những người mẹ. - Chịu ảnh hưởng sâu sắc của ca dao, khi nói tới những nỗi vất vả gian lao của người lao động, Trần Đăng Khoa thường dùng hình ảnh tượng trưng, đó là hình ảnh con cò. Hình ảnh đó thường gắn với người mẹ, đó là người mẹ trong nỗi thương cảm xót xa: Mẹ già ơi! Đêm ngủ có ngon không ? Lặn lội thân cò, con vạc, con nông Đến lúc chết, kẽ chân còn dính đất. (Khúc hát người anh hùng) Từ hình tượng con cò, Khoa luôn liên tưởng đến những gian truân mà người mẹ nếm trải. Khi nói tới cái quý giá của hạt gạo – hạt vàng, anh nhắc nhở cho mọi người biết thế nào là giọt mồ hôi của mẹ. Hạt gạo làng ta Có bão tháng bảy Có mưa tháng ba 53
  55. Giọt mồ hôi sa Những trưa tháng sáu Nước như ai nấu Chết cả cá cờ Cua ngoi lên bờ Mẹ em xuống cấy Bài thơ cho thấy ý chí đấu tranh chống lại thiên nhiên của người mẹ. Kết hợp với chi tiết đội sấm, đội chớp, đội cả trời mưa của cha, Khoa đã ngợi ca sức sống bền bỉ của những người nông dân trong bất kỳ thời đại nào. Hình ảnh vất vả của người nông dân còn được Trần Đăng Khoa khắc họa trong bài thơ Mẹ ốm Nắng mưa từ những ngày xưa Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan (Mẹ ốm) Tuy nhiên, nếu chỉ có gian khổ thì chưa hẳn là cuộc sống. Trong thơ Khoa còn xuất hiện rất nhiều niềm vui đời thường. Đó là niềm vui được lao động, được cống hiến, được gặt hái những thành quả lao động của mình, điều đó tạo nên tiếng cười hồn nhiên, cởi mở của bà con nông dân: Nơi này mấy bác cày Đầu nghiêng nghiêng chiếc nón Tiếng trâu và tiếng cười Vang ruộng dài lõm bõm Nơi kia là mấy chị Thì thòm tát gàu giai Nước reo theo lòng máng Bọt trong trắng hoa nhài Nơi ấy mấy cô cấy Ngửa tay phía mặt trời Mẹ bén hàng đứng thẳng Hồn nhiên trong tiếng cười. (Cánh đồng làng Điền Trì) Còn đây là niềm vui được mùa: Chị chủ nhiệm giữ rơm Anh dân quân đập lúa Thóc nở bung như sao Nhuộm vàng cả trời cao (Vào mùa) - Giản dị, trong sáng, sinh động, gợi cảm, đó là những nét nổi bật trong bức tranh quê của thơ Trần Đăng Khoa. Một bức tranh hội tụ khá đầy đủ trong bài Khi mùa thu sang: Mặt trời lặn xuống bờ ao Ngọn khói xanh lên lúng liếng Vườn ra gió chẳng đuổi nhau 54
  56. Lá vẫn bay vàng sân giếng. Xóm ngoài nhà ai giã cốm Làn sương lam mỏng rung rinh Bạn nhỏ cưỡi trâu về ngõ Tự mình làm nên bức tranh Rào thưa tiếng ai cười gọi Trông ra nào thấy đâu nào Một khoảng trời trong leo lẻo Thình lình hiện lên ngôi sao. Qua những suy tư, trăn trở về cảnh vật, con người nơi chôn nhau cắt rốn của mình, Khoa đã bộc lộ tình cảm sâu nặng đối với quê hương. Thơ Khoa đề cập tới những vấn đề tuy không mới mẻ, nhưng đầy chiều sâu ý thức, có hiểu quê thì mới yêu quê được và đã yêu thì chẳng thể nào quên. 2.2.2. Thế giới trẻ thơ trong thơ Trần Đăng Khoa 2.2.2.1 Từ cuộc sống hàng ngày: - Thơ Khoa cho chúng ta biết cuộc sống vất khá vất vả, nguy hiểm, nhưng không thiếu niềm vui của những cậu bé, cô bé sinh ra và lớn lên ở nông thôn, trong hoàn cảnh chiến tranh. Đó là những em bé chăm ngoan, hiếu thảo, biết lao động giúp đỡ gia đình, kính yêu cha mẹ, yêu quý cô giáo, chăm sóc các em nhỏ. Các em thật xứng đáng là con ngoan, trò giỏi. VD: Bài Khi mẹ vắng nhà; Mẹ ốm; Hạt gạo làng ta thể hiện tình cảm người con đối với cha mẹ. - Trong gia đình thì hiếu thảo, ngoài xã hội các em rất ý thức đóng góp công sức của mình xây dựng quê hương, đất nước, các em tham gia làm kế hoạch nhỏ, cùng các bác xã viên làm ra Hạt gạo làng ta: Hạt gạo làng ta Có công các bạn Sớm nào chống hạn Vục mẻ miệng gàu Trưa nào bắt sâu Lúa cào rát mặt Chiều nào gánh phân Quang trành quét đất . - Các bạn nhỏ trong thơ Khoa rất hồn nhiên vô tư, tinh nghịch, cái tinh nghịch của trẻ em nông thôn được tắm trong hương đồng, gió nội. Sáng nay bọn em đi đánh giậm Ở ao ven làng Bên ruộng lúa xanh non 55
  57. Những chị lúa phất phơ bím tóc Những cậu tre bá vai nhau thì thầm đứng học Đàn cò trắng Khiêng nắng Qua sông Cô gió chăn mây trên đồng Bác Mặt trời đạp xe qua đỉnh núi Có vẻ vui tươi Nhìn chúng em nhăn nhó cười (Em kể chuyện này) Hoặc: Có cá chúng mày ơi! Dù con to, con nhỏ Nếu chạm đến mồi ta Đều nằm trong khoèo giỏ Riêng mặt trời tinh nghịch Ngậm mồi dưới đáy ao Giật mấy lần không được Còn làm ta ngã nhào! - Thơ Khoa còn làm cho người đọc thấy được các bạn nhỏ rất có ý thức trong việc làm anh, làm chị. Chỉ làm việc rất nhỏ nhưng đã thể hiện rõ ý thức ấy: Trong giấc mơ em Có gặp con cò Lặn lội bờ sông Có gặp cánh bướm Mênh mông, mênh mông Có gặp bóng mẹ Lom khom trên đồng Gặp chú pháo thủ Canh trời nắng trong Em ơi cứ ngủ Tay anh đưa đều Ba gian nhà nhỏ Đầy tiếng võng kêu Kẽo cà kẽo kẹt. Bài thơ Dặn em là một bài thơ rất cảm động, thể hiện tinh thần trách nhiệm với em rất lớn. Dặn em đừng có chơi xa Tàu bay Mỹ bắn, không ra kịp hầm Đừng ra ao cá trước sân Đuổi con bươm bướm, trượt chân ngã nhào. 2.2.2.2. Đến số phận các em bé Việt Nam trong chiến tranh, các thiếu nhi Việt Nam trong chiến tranh phải tự lập, tự lo cho bản thân trước tuổi. 56
  58. VD: Bài Đánh tam cúc bé Giang ở nhà một mình, không có ai chơi cùng vì mọi người phải lo công việc, lúc kết thân với chú mèo, cùng đánh tam cúc với chú, bé cũng biết nịnh chú mèo để được cùng chơi. Quân này mày được Quân này tao chui Mèo ta phỗng mũi Ngoao! Ngoao một hồi Quân này mày chui Quân này tao được Mèo bỗng dỏng tai Mắt xanh như nước - À thôi! Mày được Bé Giang dỗ dành Mèo thè lưỡi đỏ Liếm vào răng nanh. (Đánh tam cúc) - Không chỉ tự lập, các em còn rất tự tin, rất cứng cỏi trong hoàn cảnh chiến tranh: Trần Đăng Khoa đã kể cho các bạn thế giới thấy sự tự tin của thiếu nhi Việt Nam trong bom rơi, đạn nổ: Chúng tôi đến lớp ngày ngày Mũ rơm tôi đội, túi đầy thuốc men Ao trường vẫn nở hoa sen Bờ tre vẫn chú dế mèn vuốt râu. Và các em khẳng định: Chúng tôi chẳng sợ Mỹ đâu Vẫn ca vẫn hát những câu rộn ràng Bao giờ bạn đến Việt Nam Bạn xem Mỹ chết, bạn thăm Bác Hồ. (Gởi bạn Chi Lê) Có thể nói: Chiến tranh không thể khiến các em gục ngã, trái lại còn là là lửa tôi luyện cả một thế hệ măng non, giúp các em có đủ nghị lực, ý chí để vượt lên hoàn cảnh. 2.3. Nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa: Ngoài những nét ngộ nghĩnh, sinh động, ngây thơ mà Khoa đạt được, thơ Trần Đăng Khoa còn hấp dẫn bạn đọc nhỏ tuổi bằng những nét nghệ thuật đặc sắc sau đây: 57
  59. - Thơ Trần Đăng Khoa giàu chất trữ tình, sử dụng rất thành công biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa, liên tưởng. VD: Bài Mẹ ốm; Cây dừa; Đám ma bác giun; Nghe thầy đọc thơ (phân tích) - Màu sắc kỳ diệu, tươi mát, hình ảnh sinh động, tinh tế, sáng tạo, sự tưởng tượng phong phú: VD: Bài Buổi sáng nhà em; Hoa cau; Hoa bưởi; Ò ó o; Trăng sáng sân nhà em (phân tích) - Ngôn ngữ đa dạng, tinh tế, giàu âm thanh, giàu hình ảnh qua việc miêu tả thiên nhiên, đồng quê Việt Nam: VD: Bài Đánh thức trầu; Đồng quê; Thả diều Tóm lại: Với nội dung in đậm dấu ấn đồng quê Việt Nam, thể hiện một tâm hồn nhạy cảm với thiên nhiên, con người, thơ Trần Đăng Khoa còn bộc lộ những suy ngẫm, những khái quát về con người, về quê hương. Điều đó tạo cho thơ anh có chiều sâu và chiều rộng của tính triết lý. Câu hỏi và bài tập: 1. Trình bày những nét đặc sắc trong nội dung thơ Trần Đăng Khoa. 2. Phân tích nét đặc sắc nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa. 58
  60. PHẦN III: VĂN HỌC TRẺ EM NƯỚC NGOÀI Bài 1: Khái quát văn học trẻ em nước ngoài Sự quan tâm của người lớn đối với trẻ em là vô cùng, không có giới hạn. Các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến trẻ em trong nhiều lĩnh vực. Riêng trong văn học người ta cũng dành sự quan tâm rất đáng kể cho lứa tuổi mầm non. Nhìn chung, mảng văn học dành cho trẻ thơ trên thế giới đều có những điểm thống nhất. 3.1. Sơ lược về mảng văn học trẻ em nước ngoài được dịch sang tiếng Việt: - Mảng văn học trẻ em nước ngoài dịch ra tiếng Việt lâu nay được coi là bộ phận, bổ sung và làm phong phú cho nền văn học thiếu nhi trong nước. Nó là một bộ phận hữu ích và gắn bó hữu cơ với mỗi nền văn học, nó là một bộ phận không thể thiếu trong nền văn học thiếu nhi nước nhà. - Xuất phát từ quan niệm như vậy, chúng ta đã chọn dịch những tác phẩm đặc sắc của các nền văn học trẻ em trên thế giới, đặc biệt là các nước có nền văn học trẻ em tiên tiến như nước Nga, Đức, Đan Mạch và các nước tiên tiến khác. - Những sách dịch tiêu biểu, có giá trị tư tưởng và nghệ thuật đã dịch sang tiếng Việt như: + Rô Bin Xơn Cruxô (Đa-ni-en Đê - phô) + Không gia đình (Hector Malot) + Túp lều bác Tôm (Bít – chơ – xtô) + Trường học dũng cảm (Gai – đa) + Thôn tiểu Bắc đẩu (Mua – sa –tốp) + Chiếc đồng hồ (Păng-tê-le-ep) + Lời hứa danh dự (Păng – tê – lê –ep) + Vi chi a Ma lê ép ở nhà và ở trường (Nô mơ xop) Và hàng ngàn các sách dịch khác. - Như vậy có thể nói rằng: Sách dịch đã mở ra một chân trời rộng lớn, một thế giới cảnh vật giàu đẹp với bao dân tộc và phong tục tập quán khác nhau. Sách dịch như một cánh cửa rọi thêm ánh sáng vào nền văn học trẻ em trong nước. 3.2. Những giá trị cơ bản nhất: Mảng văn học dịch đã được khai thác và bổ sung cho nền văn học trẻ em trong nước ở những khía cạnh sau: - Khẳng định những tiềm năng to lớn của con người về trí tuệ, về lòng nhân ái, về khả năng chinh phục thiên nhiên và sáng tạo ra cái mới. - Khẳng định những chuẩn mực đạo đức trong các mối quan hệ xã hội, trong lao động và trong luân lý thông thường của đời sống. VD: + Truyện ngụ ngôn của La – phông – ten + Truyện cổ Grim 59
  61. + Truyện cổ Bun – ga – ri + Nghìn lẻ một đêm. Đây là những ví dụ sinh động cho việc khẳng định những chuẩn mực đạo đức. - Mảng văn học dịch này cũng cho trẻ em nước nhà thấy rõ, ở đâu cũng vậy, cái ác luôn xen lẫn với cái thiện, cái thiện đấu tranh với cái ác để giành thắng lợi. Cũng chính vì thế nó nhắc nhở con người: Một khi đã có khát vọng chân chính có quyết tâm sắt đá thì phải không ngừng trang bị cho mình những phẩm chất, những năng lực đích thực để làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội. Phải thừa nhận rằng, mảng văn học trẻ em nước ngoài dịch ra tiếng Việt đã góp phần không nhỏ vào việc bồi đắp tư tưởng và tình cảm cho trẻ em nước nhà trong mấy chục năm. Câu hỏi và bài tập: 1. Trình bày khái quát văn học trẻ em nước ngoài được dịch sang tiếng Việt 2. Trình bày giá trị về nội dung của các tác phẩm văn học nước ngoài được dịch sang tiếng Việt. 60
  62. Bài 2: Giới thiệu một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu 3.1. An – đéc – xen: 3.1.1.Giới thiệu tc giả: Ông là nhà văn Đan Mạch. Sinh ngày 02/4/1805 và mất ngày 04/8/1875. Ông sinh ra trong một gia đình nhà nghèo, cha là một người thợ đóng giày. - Cha mất sớm, ông phải tự lập để kiếm sống. - Ông sống gần gũi với tầng lớp thợ thuyền. - Những kẻ quyền quý thường chế giễu ông về dòng máu dân đen, nhưng ngược lại ông rất tự hào về sự gần gũi của mình với những con người lao khổ ấy. - Anđécxen vốn là người thông minh, hiếu học, ông viết văn, làm thơ và thường nói: Không có chuyện kể nào hay hơn được những điều do chính cuộc sống tạo ra. - Ông nổi tiếng hơn cả vẫn là những truyện cổ tích ông viết cho trẻ thơ. Những truyện cổ tích của Anđécxen có một sức hấp dẫn lạ kỳ đối với người nghe, bởi vì ở đó trí tưởng tượng của một tài năng kiệt xuất đã biến hóa các truyện cổ thành một cách riêng. - Patốpxki đã nhận xét: Trong mỗi truyện cổ tích Anđécxen còn có một truyện cổ tích khác mà chỉ có người lớn mới có thể hiểu hết ý nghĩa của nó”. Làm được điều đó là vì Anđécxen đã biết khám phá những khía cạnh thần kỳ, ít người nghĩ tới, ở ngay trong cuộc sống hàng ngày, thổi cho chúng một linh hồn của thế giới thần thoại đầy chất thơ và giải quyết theo những quan niệm dân chủ tiến bộ của mình, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân. - Truyện cổ của Anđécxen đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, trong đó có tiếng Việt. Một số truyện rất được trẻ em yêu thích như: VD: Truyện Cô bé bán diêm; Chú lính chì dũng cảm; Nàng công chúa và hạt đậu; Bà Chúa Tuyết 3.1.2: Giá trị nội dung của tác phẩm. Truyện cổ tích của Andecxen có một sức hấp dẫn kỳ lạ đối với người đọc, người nghe, có giá trị nhân đạo sâu sắc. Đó là niềm tin vào sự thắng lợi của ánh sáng trước bóng tối, sự thắng lợi của trái tim con người trên cái ác, đó là sự mỉa mai, châm biếm sâu cay đối với bất công, lừa dối, ngu dốt. VD:* Khi phân tích truyện Bộ quần áo mới của Hoàng Đế cần lưu ý những điểm sau: - Tính hiếu kỳ của vị hoàng đế. - Thói nịnh bợ của lũ quan lại. - Thói ăn theo nói leo của thiên hạ. 61