“Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về” Xu hướng, con đường hình thành lối sống bạo lực/phi bạo lực của nam giới tại thành phố Huế và huyện Phú Xuyên, Việt Nam

pdf 62 trang ngocly 20
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "“Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về” Xu hướng, con đường hình thành lối sống bạo lực/phi bạo lực của nam giới tại thành phố Huế và huyện Phú Xuyên, Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfday_vo_tu_thuo_bo_vo_moi_ve_xu_huong_con_duong_hinh_thanh_lo.pdf

Nội dung text: “Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về” Xu hướng, con đường hình thành lối sống bạo lực/phi bạo lực của nam giới tại thành phố Huế và huyện Phú Xuyên, Việt Nam

  1. “Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về” Xu hướng, con đường hình thành lối sống bạo lực/phi bạo lực của nam giới tại thành phố Huế và huyện Phú Xuyên, Việt Nam TS. Đào Thế Đức TS. Hoàng Cầm Lê Hà Trung Lee Kanthoul Với sự hỗ trợ kỹ thuật của chương trình Chung tay Phòng chống Bạo lực giới (Partners for Preven on) Page | 3
  2. Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) là một tổ chức phát triển quốc tế làm việc với nhiều quốc gia để bảo vệ và nâng cao sức khoẻ sinh sản và sức khỏe nh dục cho phụ nữ, nam giới và thanh niên. Văn phòng UNFPA tại Việt Nam Tòa nhà Golden Westlake 151 Thụy Khuê Quận Ba Đình, Hà Nội ĐT: +84 4 3823 6632 h p://vietnam.unfpa.org/public/ Tổ chức Phụ nữ LHQ (UN Women) là cơ quan Liên hợp quốc chuyên trách về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ. Là tổ chức toàn cầu về quyền của phụ nữ và trẻ em gái, UN Women được thành lập để đẩy mạnh các thành quả về bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em gái trên toàn thế giới. Văn phòng UN Women tại Việt Nam 72 Lý Thường Kiệt Hà Nội, Việt Nam ĐT:+84 4 39421495 h p://asiapacifi c.unwomen.org/ Partners for Preven on là một chương trình chung về Phòng chống Bạo lực trên cơ sở Giới của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc, với sự hỗ trợ của Quỹ Dân số Liên hợp quốc, Tổ chức Phụ nữ Liên hợp quốc và Tổ chức Tình nguyện viên Liên hợp quốc tại khu vực Châu Á – Thái bình dương. Partners for Preven on chân thành cảm ơn Cơ quan Phát triển Quốc tế Australia, Bộ Phát triển Quốc tế Anh , Bộ Ngoại giao Na Uy và Tổ chức Hợp tác Phát triển Quốc tế Thụy Điển đã có những đóng góp quý báu cho chương trình. Chương trình Chung tay Phòng chống Bạo lực giới Tầng 3, tòa nhà LHQ Đại lộ Rajdamnern Nok 10200 Băng cốc, Thái Lan ĐT: +66 2 304 9100 partners4preven [email protected] www.partners4preven on.org Page | 4
  3. MỤC LỤC Giới thiệu 7 Lời nói đầu 8 Lời cảm ơn 10 Tóm tắt 11 Tóm tắt các kết quả chính 11 Tóm tắt các khuyến nghị 12 Chương I. Đặt vấn đề 15 Chương II. Khung khái niệm 17 Bạo lực giới 18 Vấn đề nam tính trong phòng ngừa bạo lực 18 Mô hình sinh thái 19 Chương III. Tổng quan tài liệu 21 Chương IV. Phương pháp nghiên cứu 25 Phương pháp nghiên cứu lịch sử đời sống 26 Câu hỏi nghiên cứu 26 Quá trình chọn mẫu và phân tích số liệu 26 Khái quát về địa điểm nghiên cứu 27 Hạn chế 28 Chương V. Kết quả 29 1. Các yếu tố liên quan tới quan niệm nam tính bá quyền ở Việt Nam 30 2. Những yếu tố liên quan tới quan niệm mới về nam tính trong diễn biến cuộc đời 31 3. Thay đổi xã hội và tác động của sự thay đổi này về quan điểm giới ở Việt Nam 32 4. Nam tính được hình thành như thế nào 35 4.1 ‘Hình thành khái niệm giới’ trong thời niên thiếu: giáo dục của cha mẹ và gia đình 35 4.2 Các mối quan hệ, kinh nghiệm liên quan đến giới ở ngoài gia đình trong thời 38 niên thiếu 4.3 Công việc và mối liên hệ với nam tính 38 4.4 Quan niệm của xã hội về nam tính 40 5. Nam tính và mối quan hệ với bạo lực 41 5.1 Bạo lực là biện pháp kỷ luật để thiết lập và duy trì quyền uy 42 5.2 Sử dụng bạo lực để thể hiện sự thống trị và sức mạnh 43 5.3 Bạo lực/phi bạo lực trong các yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ giới 44 5.4 Mức độ chấp nhận đối với những kiểu bạo lực khác nhau 45 Chương VI. Bàn luận 47 Khác biệt giữa những nam giới sử dụng bạo lực và những nam giới có xu hướng bình 48 đẳng giới Bình đẳng giới trên lý thuyết và thực tiễn 49 Thách thức bản lĩnh đàn ông: hình ảnh, uy tín trước công chúng 49 Những quan niệm đa dạng về nam tính 50 Page | 5
  4. Chương VII. Ứng dụng của nghiên cứu đối với các chương trình, chính sách 51 phòng chống bạo lực Trong gia đình 52 Tại trường học 53 Ở cộng đồng/nơi làm việc 53 Chính sách 54 Tài liệu tham khảo 55 Phụ lục 61 1. Phụ lục I: Danh sách đối tượng nghiên cứu 61 2. Phụ lục II: Ví dụ về các chương trình phòng chống BLG toàn cầu 62 Page | 6
  5. GIỚI THIỆU Bạo lực giới (BLG) là một trong những vi phạm quyền con người phổ biến toàn cầu, tuy nhiên ít được nhận biết. BLG có mặt ở mọi nơi, mọi nền văn hóa, tôn giáo, kinh tế, xã hội. BLG tồn tại ở cả nơi công cộng lẫn riêng tư, xuất hiện cả trong thời chiến và thời bình. Bạo lực giới không những ảnh hưởng đến cá nhân mà còn tác động đến cả gia đình, cộng đồng và toàn xã hội. Báo cáo “‘Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về’: Xu hướng, con đường hình thành lối sống bạo lực/phi bạo lực của nam giới tại thành phố Huế và huyện Phú Xuyên, Việt Nam”, nằm trong khuôn khổ Dự án Sự thay đổi (The Change), một sáng kiến, một dự án nghiên cứu ứng dụng, với mục êu dài hạn là phòng ngừa bạo lực trên cơ sở giới và thúc đẩy một xã hội tốt đẹp hơn. Nghiên cứu đa quốc gia diện rộng này phỏng vấn nam giới và phụ nữ nhằm m ra mối liên hệ giữa nam nh, giới và quyền lực để cải thiện các chính sách và chương trình phòng chống bạo lực. Đây là dự án phối hợp giữa Liên hợp quốc, các tổ chức xã hội dân sự, các chính phủ và nghiên cứu viên từ các khu vực và trên toàn thế giới với sự điều phối của Partner for Preven on, một chương trình chung của UNDP, UNFPA, UN Women và UNV khu vực châu Á - Thái Bình Dương về phòng ngừa bạo lực trên cơ sở giới. Trong nhiều thập kỷ qua, nhiều nước châu Á – Thái Bình Dương đã có những ến bộ đáng kể trong nhận thức chung về pháp luật, chính sách nhằm chấm dứt nạn bạo lực, nâng cao bình đẳng giới. Tuy vậy, nh trạng bạo lực giới trong khu vực gần như chưa thay đổi hoặc nếu có chỉ là rất ít. Cho tới nay, phần lớn các hoạt động về BLG trong khu vực đều tập trung vào giải quyết vấn đề khi bạo lực đã diễn ra. Tuy cung cấp dịch vụ là một thành tố quan trọng hướng tới bảo đảm quyền, nhân phẩm con người cho những đối tượng bị bạo hành, nhưng để thực sự chấm dứt được BLG thì công tác phòng chống bạo lực cần phải được quan tâm nhiều hơn nữa. Hơn thế nữa, các nghiên cứu trên thế giới cho thấy nam giới là đối tượng chính gây ra bạo lực. Vì vậy, việc hiểu rõ các quan niệm xã hội, thái độ, hành vi của nam giới, cũng như mối liên hệ giữa BLG và những quan niệm phổ biến về “chuẩn mực của đàn ông” là yếu tố quan trọng để nâng cao nhận thức về bình đẳng giới của nam giới và phòng chống BLG một cách hiệu quả. Báo cáo nghiên cứu có một kết luận quan trọng, đó là bạo lực hoàn toàn có thể ngăn ngừa được. Kết quả nghiên cứu cho thấy bạo lực hoàn toàn không được xã hội Việt Nam chấp nhận, mặc dù quyền hành của nam giới đối với vợ vẫn được thừa nhận rộng rãi. Các kết quả phỏng vấn cho thấy có nhiều quan niệm về nam nh, và đối với một số nam giới, nam nh thực ra được thể hiện ở sự ôn hòa, có văn hóa mà không nhất thiết phải là bạo lực hay quyền hành. Rõ ràng quan niệm về nam nh cũng không hẳn là bất biến. Báo cáo đưa ra nhiều ví dụ về sự thay đổi trong quan niệm của nam giới về nam nh qua các thời kỳ. Những phân ch sâu về con đường dẫn tới lối sống bạo lực/phi bạo lực trong báo cáo này sẽ góp phần làm thay đổi và tăng cường hiệu quả của các can thiệp về phòng chống bạo lực giới. Để biết thêm chi ết về Dự án Sự thay đổi, xin liên hệ Partner for Preven on, partner4preven on@ one.un.org Page | 7
  6. LỜI NÓI ĐẦU Bạo lực giới là hậu quả của việc phân biệt đối xử dựa trên cơ sở giới và bất bình đẳng giới. Tuyên bố của Đại hội đồng Liên hiệp quốc về xóa bỏ nạn bạo lực đối với phụ nữ năm 1993 nêu rõ “Bạo lực đối với phụ nữ thể hiện mối quan hệ quyền lực không bình đẳng có tính lịch sử giữa nam giới và phụ nữ, dẫn tới việc nam giới thống trị hoặc phân biệt đối xử đối với phụ nữ và ngăn cản sự tiến bộ của phụ nữ; và bạo lực đối với phụ nữ được hình thành do những cơ chế, quan niệm của xã hội làm cho người phụ nữ phải ở vào địa vị thấp hơn hơn so với nam giới”. Nghiên cứu quốc gia đầu tiên về Bạo lực gia đình đối với Phụ nữ Việt Nam (Tổng cục thống kê, 2010) cho thấy cứ ba phụ nữ đã từng kết hôn thì có một người (34%) đã từng bị chồng bạo lực về thể chất hoặc tình dục ít nhất một lần trong đời. Gần một nửa số phụ nữ bị bạo lực (49,6%) không nói ra sự việc (Tổng cục thống kê, 2010) cho thấy quan niệm xã hội về bạo lực góp phần không nhỏ vào việc cả nam giới và phụ nữ chấp nhận bạo lực. Xã hội càng ngày càng nhận thức rõ rằng nam giới và trẻ em trai, cùng nữ giới và trẻ em gái, có vai trò quan trọng trong việc chấm dứt bạo lực, không những trong mối quan hệ riêng của mình mà còn trong cả cộng đồng. Do vậy, hoạt động phòng chống bạo lực dựa trên cơ sở về giới (GBV) phải coi nam giới không những là nguyên nhân mà còn là giải pháp của vấn đề. Năm 2008, Tổng thư ký Liên hiệp quốc Ban Ki-Moon đã phát động Chiến dịch Chấm dứt nạn Bạo lực đối với Phụ nữ (UNiTE Campaign to End Violence against Women), một cam kết quan trọng từ cấp cao nhất của Liên hiệp quốc, khẳng định “Trong nhiều năm qua, phụ nữ trên khắp thế giới đã dẫn đầu công cuộc ngăn chặn và chấm dứt nạn bạo lực, và đến hôm nay càng ngày càng có thêm nam giới tham gia phong trào này cùng phụ nữ. Nam giới, với vai trò người cha, người bạn, người ra quyết định, người lãnh đạo cộng đồng, có vai trò quan trọng trong việc nói lên tiếng nói chống lại nạn bạo hành phụ nữ và đảm bảo vấn đề này được chú ý, ưu tiên”. Quan trọng hơn nữa, nam giới là tấm gương cho trẻ em trai và nam thanh niên trong việc chia sẻ trách nhiệm làm cha làm mẹ, trách nhiệm trong sức khỏe sinh sản và tình dục, cũng như trong cuộc sống gia đình như đã đề cập trong Chương trình Hành động Hội nghị Dân số và Phát triển 1994 (được gọi là Tuyên bố Cairo) và Hội nghị xem xét kết quả năm 1999 cũng như Tuyên bố và Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh (1995). Hành vi bạo lực của nam giới có nguyên nhân sâu xa từ các chuẩn mực giới và cách nam giới và trẻ em trai được dạy dỗ trong xã hội, do vậy chúng ta cần phải hiểu được các quan niệm xã hội, hành vi và thái độ phổ biến của nam giới cũng như con đường hình thành những quan niệm hành vi thái độ bất bình đẳng giới và bạo lực trên cơ sở về giới. Vì vậy, nghiên cứu này mong muốn tìm ra cách ngăn chặn bạo lực thông qua tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ của bạo lực và những yếu tố trong cuộc đời nam giới có ảnh hưởng đến thái độ và hành vi bình đẳng cũng như bất bình đẳng. Hiện nay, Việt Nam đã có các chính sách, khung pháp lý, cũng như nhiều chương trình phòng chống bạo lực gia đình. Chính phủ đã cam kết tăng cường điều phối các cơ quan tổ chức liên quan và tiến hành thực hiện thí điểm chương trình can thiệp tối thiểu trong phòng chống bạo lực gia đình. Chương trình này hướng tới đẩy mạnh sự tham gia của nam giới vào giải quyết và ngăn chặn bạo lực gia đình cũng như công nhận vai trò quan trọng của nam giới và trẻ em trai, nữ giới và trẻ em gái trong cách tiếp cận phòng chống bạo lực. Báo cáo này phản ảnh các kết quả của nghiên cứu định tính về lịch sử đời sống của nam giới Việt Nam. Nghiên cứu này tìm hiểu những con đường hình thành thái độ và hành vi bình đẳng, bất Page | 8
  7. bình đẳng giới và bạo lực. Phương pháp nghiên cứu tương tự cũng được điều chỉnh và tiến hành ở một số nước như Bangladesh, Cambodia, China, Indonesia, Papua New Guinea và Sri Lanka nhằm tìm hiểu sâu sắc hơn nguyên nhân sâu xa của bạo lực giới trong mối liên quan với quan niệm về nam tính. Chúng tôi hy vọng báo cáo này cung cấp những thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách và các cơ quan tổ chức đang làm việc về bạo lực trên cơ sở về giới để sử dụng cho hoạch định chiến lược, xây dựng tầm nhìn và xác định ưu tiên trong các chương trình phòng và chống bạo lực trên cơ sở về giới có thu hút và chú trọng hơn sự tham gia của trẻ em trai, nam giới, cùng với phụ nữ và trẻ em gái vào các hoạt động này. Mandeep K.O’Brien Suze e Mitchell Quyền Trưởng đại diện Trưởng đại diện UNFPA tại Việt Nam UN Women tại Việt Nam Page | 9
  8. LỜI CẢM ƠN Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn sự tài trợ của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) và Tổ chức Phụ nữ Liên hợp quốc (UN Women), cũng như hỗ trợ kỹ thuật của chương trình Chung tay phòng chống Bạo lực giới (Partners for Preven on P4P). Các tác giả xin cảm ơn P4P, Nhóm công tác về Bạo lực giới của Liên hiệp quốc tại Việt Nam, đặc biệt các cá nhân là Bà Stephanie Miedema, TS. Emma Fulu, Bà Mandeep K. O’ Brien, Bà Phan Thị Thu Hiền, Clara Gomez (UNFPA), Bà Suze e Mitchell (UN Women), Trần Thị Thúy Anh (UN Women) và Ông Khamsavath Chanthavysouk (P4P) đã đóng góp hiệu quả, nhiệt nh vào quá trình biên soạn báo cáo. Các tác giả cũng xin chân thành cảm ơn tất cả những cán bộ đã cung cấp ý kiến cho bản dự thảo báo cáo bằng văn bản hay tại hội thảo tham vấn với các bên liên quan, đó là Ông Đỗ Anh Kiếm (GSO), Nguyễn Hữu Minh (IFGS), Nguyễn Mai Anh (VECO), Nguyễn Thu Hà (Bộ VHTTDL) và Khuất Thu Hồng (ISDS). Các tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Bà Nguyễn Thị Châm, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Phú Xuyên, và Ông Nguyễn Hữu Thông, Giám đốc Phân viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế đã hỗ trợ nhóm nghiên cứu về các đối tượng phỏng vấn. Chúng tôi cũng muốn bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới những nam giới tham gia phỏng vấn vì đã sẵn lòng sẻ chia những câu chuyện cuộc sống và trải nghiệm. Cuối cùng, các tác giả cũng muốn gửi lời cảm ơn tới chính quyền huyện Phú Xuyên (Hà Nội) và thành phố Huế đã hỗ trợ trong thời gian công tác thực địa. Page | 10
  9. TÓM TẮT Báo cáo ‘Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về’: Xu thiên về bạo lực bao gồm: đã từng tham gia hướng, con đường hình thành lối sống bạo lực/ vào các cuộc đánh nhau thời thơ ấu và các cuộc phi bạo lực của nam giới Việt Nam, dựa trên đánh nhau trong thời gian nghĩa vụ quân sự. nghiên cứu định nh về lịch sử đời sống được thực hiện tại hai địa bàn nghiên cứu tại Việt Mặc dù bạo lực thể chất nhìn chung đã bị Nam: thành phố Huế và huyện Phú Xuyên (Hà lên án trong xã hội, tuy nhiên, bạo lực đối Nội). Nghiên cứu được Quỹ Dân Số Liên Hiệp với vợ và con vẫn được cho là chính đáng, Quốc (UNFPA) tại Việt Nam và Tổ chức Phụ nữ miễn là bạo lực này diễn ra trong bối cảnh Liên Hiệp Quốc (UN Women) tại Việt Nam chủ riêng tư và chưa được nhận diện như là trì, với sự hỗ trợ kỹ thuật của chương trình một vấn đề của cộng đồng. Partner for Preven on, một chương trình chung của LHQ khu vực châu Á - Thái Bình Dương về Các cuộc phỏng vấn nam giới về ký ức đời sống phòng chống bạo lực giới. Mục êu của nghiên của họ từ thời ấu thơ cho đến hiện tại cho cứu là xem xét chi ết diễn biến cuộc sống của thấy có một số hình thức bạo lực được chấp từng đối tượng nam giới để m hiểu sâu về nhận và được coi là chính đáng ở một số mức những yếu tố hướng nam giới đến quan niệm độ khác nhau. Nhiều đối tượng phỏng vấn cho nam nh thiên về bạo lực, cũng như những biết cộng đồng hiện nay đã có nhiều hoạt động yếu tố hướng nam giới tới quan niệm nam nh can thiệp đáng kể tại cộng đồng phản đối bạo hướng tới bình đẳng giới, phi bạo lực. Kết quả lực thể chất, tuy nhiên, các cuộc phỏng vấn nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng đối với công cũng cho thấy nhận thức về bạo lực ở nơi công tác phòng chống BLG tại Việt Nam. Cuối cùng, cộng và bạo lực ở những nơi riêng tư còn rất nghiên cứu này chỉ ra rằng bạo lực không phải khác nhau. Bạo lực nơi công cộng bị lên án một là tất yếu mà hoàn toàn có thể thay đổi được. cách mạnh mẽ. Nhưng trong bối cảnh riêng tư, hình phạt về thể xác đối với con cái và sử dụng Tóm tắt các kết quả chính bạo lực đối với vợ đôi khi vẫn được cho là “cần thiết”. Và cho dù là bạo lực nơi công cộng hay Bạo lực thường được nhìn nhận như là riêng tư, thì việc nam giới sử dụng bạo lực vẫn một biện pháp kỷ luật để thiết lập và duy thường được gắn liền với những hoàn cảnh trì quyền lãnh đạo của nam giới, chủ yếu trong đó thể diện nam nh bị thách thức, ví dụ trong gia đình. như không có khả năng nuôi sống gia đình hay khi bị vợ cãi lại. Diễn biến cuộc sống của các đối tượng được phỏng vấn cho thấy bạo lực phản ánh tác động Có nhiều cách diễn giải khác nhau về thế của việc bị trừng phạt thể xác ở gia đình khi còn nào là một người đàn ông ở Việt Nam, và nhỏ, chủ yếu do người cha thực hiện. Tuy nhiên, chính sự đa dạng về thái độ và thực hành những trải nghiệm về bạo lực do những người có liên quan đến nam nh là cơ hội để xây quyền hành ở trường học thực hiện cũng củng dựng các quan niệm phi bạo lực và bình cố mối liên quan này do nó cũng là một cơ chế kiểm soát để hình thành và duy trì quyền lực. đẳng hơn về giới trong nam giới. Các cuộc phỏng vấn nam giới về diễn biến đời Bên cạnh đó, bạo lực gắn với khái niệm nam nh sống của họ phản ảnh sự đa dạng về quan niệm trong những giai đoạn khác nhau của cuộc đời nam nh trên địa bàn nghiên cứu. Trong một số được thể hiện qua vị thế áp đảo và sức mạnh trường hợp, các đặc điểm, thái độ và hành vi liên của người đàn ông này đối với người đàn ông quan tới nam nh ở Việt Nam khác nhau ở các khác. Từ đó xây dựng nên thứ bậc của những vùng miền và địa vị kinh tế xã hội: ở Huế, nam người đàn ông dựa trên đặc điểm nam nh mà nh lý tưởng liên quan tới học thức, trong khi ở xã hội mong đợi. Hai giai đoạn trong cuộc sống Phú Xuyên, đặc điểm của một người đàn ông lý đóng góp đáng kể vào việc hình thành nam nh Page | 11
  10. tưởng được gắn với sức mạnh thể chất. Các quan • Nơi làm việc và các thứ bậc về nam nh theo niệm nam nh khác thường đồng nhất hơn và nh trạng tài chính; và tương tự ở mọi hoàn cảnh văn hóa xã hội, ví dụ khái niệm về sự áp đảo và sự thống trị của nam • Nhận thức của cộng đồng về nhận dạng nam giới trong gia đình. nh của một cá nhân. Tuy nhiên, sự diễn giải khác nhau về thế nào là Những thay đổi về kinh tế và xã hội trong một người đàn ông ở Việt Nam đã chỉ ra những xã hội đã ảnh hưởng tới các kỳ vọng về quan niệm nam nh không bá quyền và quan hình ảnh của một người đàn ông Việt, và niệm nam nh mới. Đáng chú ý, một vài đối tượng nam giới đang gặp khó khăn trong việc xác phỏng vấn đã đề cập đến việc chia sẻ quyền lực định lại quan niệm nam nh của mình theo trong mối quan hệ vợ chồng, điều này đã ngược những kỳ vọng đang thay đổi này. lại với quan niệm nam nh bá quyền gắn với thống trị và sức mạnh. Một số khác nhấn mạnh Hầu hết các cuộc phỏng vấn cho thấy xã hội tới năng lực của phụ nữ ở nơi làm việc. Điều thú Việt Nam đang ở trong giai đoạn chuyển đổi về vị là những niềm n và thực hành mới được giải mặt kinh tế, chính trị và xã hội, và tất cả những thích gắn liền với sự thành công và ổn định về thay đổi này có ảnh hưởng tới nam nh và mối kinh tế là một trong những thuộc nh đàn ông quan hệ giới. Phần lớn những người tham gia được nhắc đến rộng rãi ở Việt Nam. Điều này nghiên cứu ủng hộ những thay đổi này, và họ cho thấy trong khi các quan niệm nam nh mới cũng ủng hộ việc phụ nữ có thêm cơ hội kinh có thể không phải lúc nào cũng phản ánh những tế và giáo dục tốt hơn. Tuy nhiên, dường như niềm n có nh bình đẳng giới hơn, nhưng nó các cuộc thảo luận trở nên kém sôi nổi hơn khi cho thấy những mâu thuẫn trong cuộc sống của nói đến ảnh hưởng của những thay đổi này đối nam giới – chẳng hạn, khi thực hành không đi đôi với việc duy trì vai trò giới ở Việt Nam. Những với những chuẩn mực đang được chấp nhận rộng người tham gia nghiên cứu nhắc đến hành vi và rãi. Đây là những điểm quan trọng vì chúng mở thực hành được mong đợi đối với nữ nh trong ra không gian để thay đổi hướng tới những quan quá khứ và họ nhìn nhận phụ nữ Việt Nam thời niệm bình đẳng giới hơn khi nói về thế nào là một nay trong khuôn khổ các chuẩn mực này. Điều người đàn ông. đó cho thấy vẫn có nhiều điểm mâu thuẫn trong quan điểm về vai trò của phụ nữ và nam giới ai Thời thơ ấu là một phần quan trọng trong nên làm gì và mỗi giới nên giữ vai trò gì trong con đường nam giới đi tới các thực hành bối cảnh xã hội Việt Nam đang thay đổi nhanh bạo lực hoặc phi bạo lực. chóng. Nghiên cứu cho thấy bốn phạm vi chính trong Tóm tắt các khuyến nghị cuộc sống của những người tham gia phỏng vấn có tác động mạnh mẽ đến thái độ, niềm n và Các kết quả của nghiên cứu này có ý nghĩa quan thực hành nam nh ở Việt Nam. Đó là: trọng đối với nỗ lực ngăn chặn bạo lực trên cơ sở giới ở Việt Nam. Nghiên cứu lịch sử đời sống • Mối quan hệ về giới trong gia đình ở thời thơ tạo ra nền tảng có giá trị cho các chương trình ấu, bao gồm cách giáo dục của cha mẹ và mong và chính sách đa dạng hơn để ngăn chặn bạo lực đợi khác nhau của gia đình đối với con gái và trên cơ sở về giới. Phần khuyến nghị của nghiên con trai; cứu này đưa ra gợi ý về các chính sách và chương trình để có thể ngăn chặn bạo lực hiệu quả hơn • Các chuẩn mực về giới trong bối cảnh trường với các tầng lớp khác nhau của xã hội – từ các học và việc ếp xúc với các mong đợi chung từ hoạt động trong gia đình cho đến các hoạt động bạn bè và những cá nhân có thẩm quyền (ví huy động cộng đồng và các chính sách xã hội rộng dụ như giáo viên) liên quan đến thực hành và lớn hơn về bình đẳng giới. Các khuyến nghị cơ niềm n về giới; bản bao gồm: Page | 12
  11. Các mối quan hệ, hoàn cảnh gia đình có vai Quan niệm của nam giới về bản lĩnh đàn ông trò quan trọng trong sự hình thành của các được hình thành bởi cộng đồng và các chuẩn phương thức giải quyết mâu thuẫn phi bạo mực xã hội về vấn đề nam nh – huy động các lực, cũng như tạo cơ hội, thực hiện quyền bình lãnh đạo cộng đồng, tổ chức địa phương tham đẳng của trẻ em trai và trẻ em gái – khuyến gia các hoạt động bình đẳng giới, phòng chống khích các chương trình về áp dụng phương bạo lực. pháp dạy bảo con cái lành mạnh, đặc biệt chú trọng vai trò người cha trong việc giáo dục con Tổ chức các hoạt động chương trình hỗ trợ (theo cái, cũng như khuyến khích đối xử bình đẳng các nội dung trên) tác động đến các chính sách với con trai và con gái. trung ương, địa phương nhằm tăng cường bình đẳng giới, phi bạo lực, tạo điều kiện để nam giới Trường học là môi trường chính thức trong đó và phụ nữ có cơ hội bình đẳng trong phát huy các quan niệm về giới, giáo dục, cơ hội của trẻ năng lực của mình – nâng cao nhận thức về Luật em trai và trẻ em gái hình thành – xây dựng các Phòng chống Bạo lực gia đình; lồng ghép bình chương trình giáo dục cho cả học sinh nam và đẳng giới vào các chương trình chính sách giáo nữ trong trường học về mối quan hệ phi bạo dục quốc gia, chính sách về lao động, chính sách lực, lành mạnh, bình đẳng giới, phối hợp với của cơ sở để nam giới tham gia bình đẳng vào giáo viên, nhất là các thầy giáo, xây dựng các cuộc sống gia đình cũng như tại nơi làm việc. tấm gương ch cực, phi bạo lực để học sinh noi theo. Page | 13
  12. Page | 14
  13. CHƯƠNG I ĐẶT VẤN ĐỀ Page | 15
  14. Mặc dù các hoạt động phòng chống bạo lực phòng chống bạo lực, và tăng cường hơn nữa giới đã thực hiện từ nhiều thập kỷ qua khắp việc ngăn chặn bạo lực trước khi xảy ra. Và cần toàn cầu, bạo lực giới (BLG) vẫn là một vấn đề m hiểu gốc rễ và những yếu tố dẫn đến BLG ở rất được thế giới quan tâm, bởi ảnh hưởng đến Việt Nam để có thể nâng cao hiệu quả của các cả nam giới lẫn phụ nữ, cũng như sự phát triển can thiệp này. Một mảng nghiên cứu vẫn còn bỏ kinh tế, xã hội của các nước. Ở Việt Nam, mặc ngỏ tại Việt Nam hiện nay là mối quan hệ giữa dù Chính phủ đã có được khung pháp lý nhằm quan niệm về nam nh và bạo lực giới, đặc biệt chấm dứt nh trạng BLG, tăng cường bình là những yếu tố xã hội liên quan đến sử dụng đẳng giới, nhưng bạo lực giới vẫn là một vấn đề bạo lực ở nam giới, và lý do vì sao một số nam nghiêm trọng, xảy ra dưới nhiều hình thức, như giới có hành vi bạo lực trong khi số khác ủng hộ bạo lực thể xác, nh thần, nh dục, kinh tế và quan điểm bình đẳng giới trong cuộc sống, quan buôn bán phụ nữ (Liên hiệp quốc tại Việt Nam, hệ vợ chồng. 2010). Nhận thức được sự nghiêm trọng của vấn đề này, chính phủ Việt Nam đã thể hiện cam Đây là một nghiên cứu định nh, thông qua kết trong xóa bỏ mọi hình thức BLG, thông qua xem xét, phân ch chi ết diễn biến cuộc sống việc phê chuẩn các công ước quốc tế về quyền của từng đối tượng nam giới để m hiểu sâu về con người, xây dựng và thông qua các luật và những yếu tố hướng nam giới đến quan niệm chính sách liên quan. Từ năm 1982, Việt Nam đã nam nh thiên về bạo lực, cũng như những phê chuẩn Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức yếu tố hướng nam giới tới quan niệm nam nh Phân biệt đối xử với Phụ nữ (CEDAW) và đã có thiên về bình đẳng giới, phi bạo lực. Kết quả những cam kết quốc tế về thực hiện những giải của nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng đối với pháp đề ra trong Hội nghị Quốc tế về Dân số và công tác phòng chống BLG tại Việt Nam. Kết Phát triển Cairo 1994 và Hội nghị Thế giới về Phụ quả nghiên cứu cho thấy bạo lực không phải là nữ 1995. Đặc biệt, Luật Phòng chống Bạo lực gia điều tất yếu sẽ xảy ra và hoàn toàn có thể thay đình đã được ban hành năm 2007. đổi được. Nhờ hiểu rõ quá trình nam giới chấp nhận hay phản đối bạo lực trong quan niệm về Tuy nhiên, ở Việt Nam cũng như một số nước tư cách đàn ông, các cơ quan tổ chức làm việc về khác, các can thiệp BLG chủ yếu vẫn dưới dạng BLG có thể m ra những phương thức sáng tạo xử lý vấn đề, tập trung vào xây dựng khung pháp để lôi kéo sự tham gia của nam giới, góp phần lý và hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực. Mặc dù các xây dựng một xã hội trong đó quan niệm nam biện pháp và xử lý khi bạo lực xảy ra là cần thiết nh phổ biến gắn liền với sự yên ấm, tôn trọng nhưng cần phải được lồng ghép vào các mô hình và bình đẳng. Page | 16
  15. CHƯƠNG II KHUNG KHÁI NIỆM Page | 17
  16. Bạo lực giới Thực tế cho thấy BLG chủ yếu do nam giới gây ra, vì vậy, để phòng chống bạo lực giới hiệu quả Trong phạm vi của báo cáo này, bạo lực trên cơ hơn cần hiểu rõ vì sao nam giới sử dụng vũ lực sở giới được hiểu là sự vi phạm quyền con người đối với vợ, bạn gái và BLG có liên hệ gì với quan nói chung, thể hiện ở bất kỳ hành vi bạo lực nào niệm về phẩm chất đàn ông. Năm 1992, mặc trái với mong muốn của phụ nữ, nam giới, trẻ em dù Hearn công bố một nghiên cứu đột phá về trai, trẻ em gái, cả ở nơi công cộng và trong gia nam nh có tựa đề Đàn ông trong con mắt công đình, mà nguyên nhân cơ bản là sự khác biệt về chúng, nhưng phải đến khi Connel (1995) công mặt xã hội giữa nam và nữ (Đại hội đồng LHQ, bố nghiên cứu Nam nh thì khái niệm nam nh 1993; ECOSOC, 2006). Bạo lực giới là một vấn đề mới thực sự được xem xét kỹ lưỡng trong cả lĩnh nghiêm trọng, có thể nguy hiểm đến nh mạng vực nghiên cứu và thực hành. Connel lập luận con người, có nguyên nhân từ mối quan hệ rằng có nhiều quan niệm về nam nh do các yếu quyền lực giữa nam giới và phụ nữ, xảy ra dưới tố giới, tộc người và tầng lớp xã hội tương tác lẫn nhiều hình thức, bao gồm cả bạo lực thể xác, nh nhau, đồng thời giới thiệu khái niệm nam nh bá thần, lời nói và bạo lực nh dục. Thực tế cho thấy quyền, ền đề để xây dựng công cụ khảo sát mối phụ nữ thường là đối tượng bị nam giới bạo lực tương quan quyền lực giới ở nam giới (Connel và (Garcia-Moreno và đồng nghiệp, 2005). BLG cũng Messerschmidt, 2005). ảnh hưởng xấu đến gia đình, cộng đồng và xã hội nói chung, cũng như gây ra những tổn thất về xã Nam nh bá quyền được định nghĩa như sau “Là hội, kinh tế, quyền con người cho cả quốc gia. những thuộc nh liên quan đến các thực hành giới, hiện thân của việc thực hành hệ tư tưởng Ngoài ra, nhiều hình thức bạo lực giới được sử gia trưởng đang được xã hội chấp nhận, và hệ dụng để thiết lập, thực hành hay duy trì bất bình tư tưởng gia trưởng này chính là cơ sở để duy đẳng giới và các quan hệ bất bình đẳng giới cũng trì (hoặc được sử dụng để duy trì) cho vị thế bá có liên quan đến những hình thức áp bức, bất quyền của nam giới và sự phục tùng, lệ thuộc bình đẳng khác vượt khỏi vấn đề giới. Những hệ của nữ giới” (Connel và Messerschmidt, 2005). thống, cơ cấu áp bức, tạo điều kiện cho bạo lực Nam nh bá quyền thể hiện dưới nhiều hình giới cũng tạo điều kiện cho nhiều hình thức bạo thức trong nhiều bối cảnh khác nhau, nhưng lực khác đối với con người. thường liên quan đến các đặc nh như quyết đoán, kiểm soát, tự n, hung hăng, tham vọng, Mặc dù khái niệm bạo lực giới được sử dụng thích cạnh tranh và mạnh mẽ (Cheng 1996). trong nghiên cứu, nhưng báo cáo này sẽ tập Một số nhà nghiên cứu khác đề nghị áp dụng trung vào bạo lực do nam giới sử dụng đối với cách ếp cận dựa vào hoàn cảnh để m hiểu về vợ, bạn gái, cũng như trải nghiệm bản thân của nam nh, m hiểu nội lực của nam giới trong họ về bạo lực, đặc biệt trong thời niên thiếu và thương thuyết nam nh bá quyền và chống lại đối với nhóm đồng niên. Trong nghiên cứu này, những quan điểm, thái độ và thực hành phổ nam giới đề cập chủ yếu đến bạo lực gia đình, biến về nam nh (Demetriou 2001; Wetherell một dạng bạo lực đối với phụ nữ phổ biến ở Việt & Edley 1999; Whitehead 1999; Lusher & Nam cũng như trên thế giới (theo TCTK và WHO, Robins 2009), đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu 2010; Garcia-Moreno và đồng nghiệp, 2005). và sự toàn cầu hóa các tranh luận trên thế giới về nam nh bá quyền (Beasley 2008). Thậm Vấn đề nam nh trong phòng ngừa bạo lực chí, Seidler (2007) còn cho rằng “mô hình bá quyền tự nó đã là sự bá quyền vì chính nh phổ Tuy các nghiên cứu về giới và bạo lực thường biến của nó đã khiến các tổ chức quốc tế muốn tập trung vào phụ nữ và quan niệm về nữ nh, có một mô hình áp dụng chung cho nhiều nền nhưng ngày càng có nhiều ý kiến cho rằng quan văn hóa. Thay bằng cố gắng thực hiện những niệm về nam nh, cũng như cách thức nam giới điều chỉnh vụn vặt cho từng nền văn hóa và đề thể hiện nam nh là một nội dung quan trọng cao hành vi bạo lực được chấp nhận ở những cần nghiên cứu (theo Hearn, 1992; Brod và nền văn hóa gia trưởng, chúng ta cần mở rộng Kaufman, 1994; Bourdieu, 2001; Connel, 1995). hiểu biết về sự khác biệt văn hóa của nam nh” Page | 18
  17. (2007:11). Chính vì vậy, nghiên cứu về nam nh yếu tố nguy cơ và bảo vệ thường được xác định trong bối cảnh văn hóa cụ thể ở Việt Nam là vô bằng điều tra quần thể, nhưng các nghiên cứu cùng cần thiết. định nh cũng có thể giải thích rõ hơn về những con đường dẫn tới bạo lực trong suốt cuộc đời. Nghiên cứu này nhận định quan niệm nam nh bá quyền và những mối quan hệ giới bất bình Những niềm n và giá trị văn hóa chung góp đẳng có thể thay đổi. Quan niệm về nam nh phần hình thành bạo lực giới gồm những yếu tố dựa trên chế độ gia trưởng, đẩy phụ nữ và một như quan niệm nam nh gắn liền với sự thống số nam giới vào vị thế thấp kém làm tổn hại cho trị hay cứng rắn, quyền lợi của nam giới và sự sở toàn xã hội và như vậy ủng hộ quan niệm nam hữu của phụ nữ và việc chấp nhận hành vi đánh nh mang nh bình đẳng giới chính là cách ếp đập phụ nữ (WHO, 2004). Các giá trị xã hội, văn cận thay đổi xã hội trên diện rộng nhằm ngăn hóa góp phần vào bạo lực giới cũng thường được chặn bạo lực. Vì thế, các can thiệp về BLG cần phản ánh trong các chính sách, luật pháp, nội tăng cường phối hợp liên ngành để huy động dung truyền thông có khuynh hướng định kiến cả nam giới và phụ nữ (Jonzon và các tác giả giới. Những yếu tố trong bối cảnh xã hội trực khác 2007: 640). ếp gồm đặc điểm của cộng đồng, như vị thế xã hội thấp kém của phụ nữ, sự dung túng bạo lực Mô hình sinh thái gia đình trong xã hội, thiếu dịch vụ hỗ trợ, tỉ lệ thất nghiệp, tội phạm và bạo lực giữa nam giới Những hiểu biết hiện nay về bạo lực đối với phụ cao. Trong phạm vi gia đình và các quan hệ gia nữ cho thấy nh trạng bạo lực đối với phụ nữ đình thì các yếu tố như xung đột vợ chồng, các có liên quan đến một loạt các yếu tố cá nhân, tập quán về hồi môn, thách cưới, quyền kiểm gia đình, cộng đồng, xã hội (O’Toole và các tác soát tài sản của nam giới, sự cô lập của người giả khác, 2007; Đại hội đồng LHQ, 2006; Gage, phụ nữ trong gia đình cũng góp phần làm tăng 2005; Heise, 1998, 2011). Báo cáo này sử dụng bạo lực. Những yếu tố nguy cơ trong lịch sử đời mô hình sinh thái (xem Hình 1) để m hiểu bản sống của nam giới bao gồm việc chứng kiến chất đa chiều của vấn đề bạo lực ở nhiều cấp hành vi bạo lực của người cha khi còn nhỏ, tàng độ, trong đó có mối quan hệ quyền lực giữa các trữ vũ khí, lạm dụng rượu và các chất gây nghiện cá nhân và các yếu tố bối cảnh. Mô hình sinh khác, mất địa vị, mất tư thế trong con mắt bạn thái thường được sử dụng để mô tả các yếu tố bè (WHO, 2004). Những mô hình sinh thái mới nguy cơ (đặc điểm, sự kiện hay trải nghiệm có đây hơn còn đề cập đến cả những yếu tố nguy dấu hiệu làm tăng nguy cơ sử dụng hay bị bạo cơ, ngăn ngừa ở những khu vực thu nhập thấp lực giới) và các yếu tố bảo vệ (đặc điểm, sự kiện và trung bình (Heise, 2011). hay trải nghiệm khiến giảm nguy cơ BLG). Các Hình 1 Mô hình sinh thái xã hội áp dụng để phân ch bạo lực giới ở nhiều cấp độ xã hội (Heise 2011) Page | 19
  18. Page | 20
  19. CHƯƠNG III TỔNG QUAN TÀI LIỆU Page | 21
  20. Những nghiên cứu về BLG ở Việt Nam bắt đầu với phụ nữ của Tổng cục Thống kê thực hiện từ những năm 1990, và ngày càng nhiều hơn, phân ch yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo vệ đối đã thu hút được chú ý do nh phổ biến của vấn với những phụ nữ đã từng bị bạo lực gia đình. đề, ở mọi tầng lớp kinh tế - xã hội, dân tộc, tôn Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm phụ nữ chấp giáo, nghề nghiệp, trình độ học vấn (Rydstrøm, nhận bị bạo hành, chứng kiến bạo hành khi còn 2006: 329). Các nghiên cứu cũng chỉ rõ các quan nhỏ, thường xuyên cãi cọ, chồng nghiện rượu, niệm xã hội bất bình đẳng nhưng chưa được chồng là người kiểm soát về kinh tế và các mặt nhận biết có liên quan như thế nào đến tỉ lệ BLG khác trong gia đình, chồng đánh nhau với nam ở Việt Nam. giới khác. Nghiên cứu định nh này bổ sung cho phân ch trên đây với những hiểu biết sâu hơn Năm 2009, với sự hỗ trợ kỹ thuật của Tổ chức về con đường dẫn đến bạo lực, làm rõ những Y tế Thế giới (WHO) và Liêp Hiệp Quốc tại Việt yếu tố nguy cơ đã nêu và những yếu tố bảo vệ Nam thông qua chương trình chung về bình đẳng trong cuộc đời của những nam giới. giới (2009-2011), Tổng cục Thống kê (TCTK) đã thực hiện một nghiên cứu ở cấp quốc gia theo Mối liên hệ giữa các chuẩn mực xã hội, những phương pháp nghiên cứu đa quốc gia của Tổ phong tục, tập quán địa phương liên quan đến chức Y tế Thế giới về nh trạng bạo lực gia đình qui định vai trò, vị thế của cho mỗi giới đã và đang đối với phụ nữ Việt Nam. Kết quả nghiên cứu được ếp tục nghiên cứu theo phương pháp được công bố năm 2010 với kết quả 34% phụ định nh trên toàn quốc, đặc biệt chú trọng vào nữ từng kết hôn đã bị bạo lực thể xác và/hoặc vấn đề bất bình đẳng giới dẫn đến BLG (Randall, nh dục ít nhất một lần cho đến thời điểm được 1999; Phan Thị Thu Hiền, 2008). Các nghiên cứu phỏng vấn, và con số này trong vòng 12 tháng hiện tại cho thấy chính vị trí đối kháng giữa nam qua là 27% (TCTK, 2010: 51). Trong số những và nữ tạo ra thứ bậc và biến đổi quyền lực trong phụ nữ từng bị chồng, bạn trai bạo lực thể xác quan hệ đã khiến phụ nữ có nguy cơ bị bạo hành hay nh dục có 26% cho biết từng bị thương ch gia đình (Jonzon và cộng sự, 2007; Rydstrøm, do bạo lực. Những phụ nữ từng bị bạo lực thể 2003, 2004, 2006). Các nghiên cứu cũng chỉ ra xác hay nh dục cũng là những người gặp nhiều rằng các chuẩn mực xã hội thường đòi hỏi phụ vấn đề sức khỏe hơn, với nh trạng sức khỏe nữ phải nhu mì, cam chịu, kiềm chế nhu cầu nh chung của họ thường là “yếu” hay “rất yếu” dục, phục tùng chồng để giữ hòa khí trong gia (TCTK 2010: 79). Một nghiên cứu khác được đình (Phan Thị Thu Hiền, 2008: 180). Ngược lại, thực hiện với sự tham gia của các nhân viên y tế các chuẩn mực xã hội cũng cho rằng nam nh huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) cho thấy gắn liền với việc uống rượu, kiếm ền, thể hiện bạo lực thể xác và nh thần phổ biến hơn bạo sức mạnh cơ bắp, cũng như biết cách “dạy” vợ lực nh dục (Krantz và các tác giả khác, 2005). con. Trừng phạt thể xác thường được biện hộ Tuy nhiên nhiều nghiên cứu khẳng định bạo bằng câu ngạn ngữ “yêu cho roi cho vọt” (Trần lực nh dục thường ít được nhắc đến (Randall, Đình Hằng, 2004) và bạo lực gia đình chính là 1999; Phan Thị Thu Hiền, 2008; Liên hiệp quốc, hậu quả của việc nam giới thể hiện quyền hành 2000). Theo Vũ Song Hà (2002), do vợ chồng ít đối với vợ để chứng tỏ bản lĩnh đàn ông (Phan khi trao đổi với nhau về giới nh và nh dục nên Thị Thu Hiền, 2008: 181). phụ nữ thường không chia sẻ về cuộc sống nh dục của mình. Sự im lặng cũng là một cách phụ Ngoài ra, văn hóa Việt Nam cho rằng nam thuộc nữ thường dùng để giữ hòa khí trong gia đình mệnh dương còn nữ thuộc mệnh âm, từ đó có và giảm nh trạng bạo lực. Vì vậy, bạo lực nh xu hướng quan niệm nam thì nóng nh còn nữ dục được coi là vấn đề riêng tư, và phụ nữ chỉ đi thì ôn hòa, nền nh, biết dùng “âm chế dương”, khám trong những trường hợp họ bị tổn thương giải tỏa căng thẳng trong gia đình (Rydstrøm, rất nghiêm trọng (Krantz và cộng sự, 2005). 2004). Jonzon và cộng sự (2007: 643) cho rằng nếu phụ nữ đi ngược lại quan niệm trên thì họ Mới đây, Partners for Preven on (P4P) và Paz sẽ bị xem là người có lỗi nên nam giới mới sử y Desarrollo (PyD) Việt Nam sử dụng số liệu dụng bạo lực. Nho giáo thường được nhìn nhận Nghiên cứu quốc gia về Bạo lực gia đình đối là có ảnh hưởng lớn trong xã hội Việt Nam, đặc Page | 22
  21. biệt trong quan hệ bất bình đẳng giữa nam và đạo trong nhiều lĩnh vực. Thêm vào đó, trình độ nữ. Một trong những giáo lý phổ biến – “tam giáo dục, cơ hội kinh tế của phụ nữ, nhất là ở tòng tứ đức” – thường được viện dẫn theo thành thị, cũng đã tăng đáng kể so với thời thực hướng áp đặt đối với phụ nữ, trói buộc người dân, phong kiến. Đặc biệt, những khó khăn kinh phụ nữ theo khuôn phép của nhà chồng. Vì thế, tế sau năm 1975 đã tạo ra những thay đổi cơ nạn nhân bạo lực gia đình thường ít kiện cáo, bản trong phân công lao động giữa nam và nữ, đưa đơn ly dị, vì giáo lý này làm cho cộng đồng đặc biệt là ở tầng lớp trung lưu. Do thu nhập khó chấp nhận những phụ nữ chống đối chồng của một người không đủ trang trải chi phí của (Hoàng Thị Ái Hoa, 2009). Theo Hoàng Tú Anh và cả gia đình nên phụ nữ phải tham gia nhiều hơn cộng sự (2002: 132), những lối suy diễn trên đã vào các hoạt động kinh tế để hỗ trợ gia đình. tồn tại lâu đời trong xã hội và là rào cản trên con Do chia sẻ trách nhiệm về kinh tế nên đã có sự đường ến tới bình đẳng giới. chuyển biến trong quan niệm của nam giới về người chịu trách nhiệm kinh tế trong gia đình, Nhiều nghiên cứu khác ở Việt Nam cũng phân nhất là đối với nhóm thanh niên. ch các mô hình bạo lực gia đình. Chẳng hạn, nam giới có hành vi bạo lực cao hơn nữ giới, nam Tổng quan tài liệu trên đây cho thấy những xu giới thường đánh vợ nhiều hơn đánh con gái. Trẻ hướng chính trong nghiên cứu về quan niệm em trai thường đánh nhau với bạn. Mẹ thường giới ở Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu này đánh con gái, trong khi bố và ông thường đánh chưa đề cập đến sự khác biệt quan niệm về con trai, cháu trai (Nguyễn Hữu Minh và Trần Thị giới giữa các vùng miền, hay các quan niệm đối Vân Anh, 2009; Hoàng Bá Thịnh, 2005; Lê Thị kháng trong bối cảnh Việt Nam. Niềm n và định Quý và Đặng Vũ Cảnh Linh, 2007; Vũ Mạnh Lợi kiến về sự khác biệt giữa các vùng miền vẫn còn và cộng sự, 1999; Liên hiệp quốc, 2000; Hội Phụ tồn tại ở Việt Nam, đặc biệt trong bối lịch sử chia nữ Việt Nam, 1997; Ngân hàng Thế giới, 1999; cách giữa hai miền Nam - Bắc. Ở chừng mực nào Rydstrøm, 2006). đó, những định kiến này được thể hiện trong các nghiên cứu, tuy nhiên vẫn cần các nghiên cứu Cuối cùng, các thay đổi về thể chế chính trị, xã so sánh để m hiểu thêm về cơ chế tạo nên các hội, kinh tế ở Việt Nam kể từ nửa sau của thế quan điểm và thực hành giới ở Việt Nam. kỷ 20 cũng ảnh hưởng đến quan hệ giới giữa nam và nữ (Gammelto , 1999; Rydstrøm, 2003, Phân ch lịch sử đời sống sau đây về BLG và 2006; Hoàng Tú Anh và các tác giả khác, 2002; quan niệm về nam nh ở Việt Nam sẽ bổ sung Mai Huy Bích, 1993; Trần Đình Hượu, 1991; Ngô thêm kết quả vào hệ thống nghiên cứu hiện tại Thị Ngân Bình, 2004). Việc ban hành hệ thống và sẽ đưa ra những phân ch sâu hơn về cái nhìn pháp luật mới đã giải quyết vấn đề “giải phóng của nam giới đối với thái độ, thực hành thể hiện phụ nữ” và phần nào có hiệu quả trong việc nâng bản lĩnh đàn ông ở Việt Nam, cũng như quá trình cao vai trò của người phụ nữ trong xã hội, giúp hình thành các nhìn nhận này trong cuộc đời họ. phụ nữ ngày càng đảm nhiệm nhiều vị trí lãnh Page | 23
  22. Page | 24
  23. CHƯƠNG IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Page | 25
  24. Phương pháp nghiên cứu lịch sử đời sống sống của họ ảnh hưởng như thế nào đến quan niệm và thực hành giới. Đặc biệt, nghiên cứu tập Nghiên cứu này sử dụng phương pháp lịch sử trung m hiểu vì sao một số nam giới sử dụng vũ đời sống để thu thập, phân ch thông n về mối lực đối với vợ, bạn gái còn số khác lại có hành vi liên hệ giữa nam nh và BLG. Giá trị của phương bình đẳng giới hơn. Hy vọng nghiên cứu sẽ giúp pháp phân ch lịch sử đời sống cho phép nhìn xa m ra những biện pháp phòng chống BLG phù hơn các chủ đề nhằm suy xét, phân ch những hợp và giúp nam giới thực hiện nếp sống bình cách thức, khuôn mẫu và xu hướng hình thành đẳng giới hơn ở Việt Nam. quan niệm về nam nh và hành vi bạo lực trong suốt cuộc đời của đối tượng (Connel, 2010). Hơn Nghiên cứu này nhằm trả lời những câu hỏi sau: nữa, phương pháp phân ch thông n lịch sử đời sống còn xem đối tượng phỏng vấn là một 1. Những yếu tố nào trong cuộc đời có vai trò chỉnh thể, từ đó khảo sát cách thức mà các cấu hình thành quan niệm nam nh bá quyền? trúc và động lực xã hội ảnh hưởng lên cuộc sống Quá trình hình thành, áp dụng những quan của từng cá nhân (Plummer, 2001). niệm nam nh bá quyền có mối quan hệ như thế nào đối với việc sử dụng vũ lực đối với vợ, Phương pháp nghiên cứu lịch sử đời sống đặc bạn gái, cũng như thái độ, hành vi khác về giới biệt có giá trị trong các nghiên cứu về bạo lực trong những lĩnh vực đời sống khác của nam để đưa ra các biện pháp cho việc thay đổi xã hội giới? và phòng ngừa bạo lực. Phương pháp này áp dụng phân ch ở mức độ cá thể, nhằm m hiểu 2. Những yếu tố nào trong cuộc đời có vai trò sâu hơn các quan niệm, thái độ, hành vi được hình thành nên quan niệm mới về nam nh hình thành và thay đổi theo thời gian như thế mang nh chất bình đẳng giới hơn? Quan nào. Phương pháp này tập trung trực ếp vào niệm mới về nam nh có mối quan hệ như thế kinh nghiệm sống của cá nhân qua đó m hiểu nào đối với thái độ và thực hành bình đẳng kỹ hơn những động lực đằng sau những hành giới trong những lĩnh vực đời sống khác nhau vi xã hội, như bạo lực trong mối quan hệ cá thể của nam giới? với nhau, trên cơ sở đó m ra được những biện pháp thúc đẩy những hành vi xã hội ch cực 3. Có sự khác biệt cụ thể nào trong lịch sử đời hơn, và khuyến khích các hành vi phi bạo lực. sống của hai nhóm đối tượng nam giới (nhóm Nghiên cứu lịch sử đời sống cho phép nghiên bình đẳng và nhóm không bình đẳng), và cứu viên nhìn nhận cá thể trong một ến trình những khác biệt này có gợi ý gì về các biện xã hội. Đặc biệt khi nghiên cứu về bạo lực với pháp nhằm khuyến khích nam giới có quan những đối tượng từng sống trong thời kỳ chiến điểm phi bạo lực và bình đẳng giới hơn? tranh và thời kỳ có sự thay đổi sâu sắc về kinh tế, chính trị, phương pháp này cho phép nhìn nhận Quá trình chọn mẫu và phân ch số liệu lịch sử xã hội cũng như cách thức các xu hướng vĩ mô ảnh hưởng như thế nào đến từng cá thể. Nghiên cứu ến hành phỏng vấn 30 nam giới, Nghiên cứu lịch sử đời sống không có ý định đưa độ tuổi từ 24 trở lên, ở hai địa phương của Việt ra một khái niệm về nam nh mang nh đại diện Nam là thành phố Huế (đô thị) và huyện Phú cho Việt Nam, nhưng nó đưa ra một góc nhìn về Xuyên (ven đô, ngoại thành Hà Nội). Các cuộc việc các quan niệm xã hội hình thanh nam nh phỏng vấn được thực hiện bằng ếng Việt, từ như thế nào. tháng 5 đến tháng 7/2011. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được sử dụng trong nghiên Câu hỏi nghiên cứu cứu này để thực hiện phỏng vấn lịch sử đời sống của: Nghiên cứu về BLG và quan niệm về nam nh ở Việt Nam đã m hiểu lịch sử đời sống của một • 15 nam giới từng có hành vi bạo lực với vợ, nhóm nam giới nhằm xem xét kỹ kinh nghiệm bạn gái từ một lần trở lên, Page | 26
  25. • 15 nam giới có quan điểm “bình đẳng giới” 1 Phân ch số liệu chia làm hai đợt. Đợt 1 được hay quan niệm “mới” về nam nh trong bối thực hiện trên toàn bộ 30 bản ghi phỏng vấn cảnh Việt Nam. bằng ếng Việt, nhằm nhìn nhận khái quát về mối quan hệ giữa quan niệm về nam nh và bạo Chiến lược chọn mẫu bao gồm hai nhóm đối lực ở Việt Nam, đồng thời nắm bắt được sự đa tượng trên được xác định dựa trên kết quả dạng về văn hóa. Phân ch thông n đợt 2 được phỏng vấn ban đầu về đối tượng nghiên cứu và ến hành bằng ếng Anh, sử dụng phân mẫu không có nghĩa là những đối tượng nghiên cứu gồm 10 đối tượng, nhằm m hiểu sâu về lịch sử có xu hướng ‘bình đẳng giới’ hay ‘bạo lực’ trong đời sống và con đường hình thành một số nếp mọi khía cạnh cuộc sống, như minh họa trong sống, quan niệm về nam nh (bạo lực/phi bạo phân ch. Tại Huế, đối tượng nghiên cứu được lực). chọn thông qua các mối quan hệ cá nhân và mạng lưới chuyên môn 2, từ đó, nhóm nghiên Các kỹ thuật phân ch thông n lịch sử đời sống cứu xác định được những người từng có hành vi được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm rà soát bạo lực và những người thể hiện thái độ, hành toàn bộ các bản ghi chép (bằng ếng Việt và vi bình đẳng giới. Ở Phú Xuyên, các đối tượng ếng Anh) và nghiên cứu các trường hợp điển nghiên cứu được Hội Phụ Nữ địa phương đề hình về lịch sử đời sống của từng người tham cử và giới thiệu chính thức với nhóm nghiên gia nghiên cứu (10 nghiên cứu trường hợp điển cứu. Không như đối tượng nghiên cứu ở Huế hình bằng ếng Anh). Các nghiên cứu trường là những người đa số làm việc ở cơ quan, văn hợp điển hình này xem xét: (1) mô tả cuộc đời phòng, những người tham gia nghiên cứu ở Phú của từng người theo thời gian, (2) ảnh hưởng Xuyên chủ yếu là nông dân nên có thời gian eo của giới lên các mối quan hệ trong cuộc đời họ, hẹp hơn do phải làm đồng hay các công việc (3) nam nh được hình thành như thế nào trong khác, khiến việc sắp xếp lịch phỏng vấn khó khăn cuộc đời họ, (4) trải nghiệm bản thân về bạo hơn. Trước phỏng vấn chính thức, nhóm nghiên lực, (5) trải nghiệm bản thân về cuộc sống yên cứu gặp trực ếp từng người nhằm tạo dựng ấm và cách giữ hòa thuận. Sau đó, các nghiên mối quan hệ, giải thích cho họ mục đích nghiên cứu trường hợp điển hình được phân ch theo cứu cũng như để trao đổi về sự đồng thuận tham nhóm nhằm m hiểu những câu chuyện tương gia nghiên cứu. Tất cả các cuộc phỏng vấn đều tự trong cuộc đời họ và con đường chung hình được ghi âm và giải băng. Mười cuộc phỏng vấn thành nên thái độ và thực hành nam nh. trong số có ghi âm được dịch sang ếng Anh để ếp tục phân ch lượt hai. Xem thêm danh sách Khái quát về địa điểm nghiên cứu những người được phỏng vấn trong phụ lục I. Huế là cố đô của vương triều cuối cùng ở Việt Nam. Tuy bối cảnh văn hóa, xã hội ở Huế đã thay đổi, đặc biệt khi du lịch phát triển, nhưng Huế vẫn [1] Khái niệm ‘bình đẳng giới’ có thể hiểu theo nhiều cách.Trong được xem là nơi còn duy trì nhiều nếp nghĩ Nho khuôn khổ nghiên cứu này, đối tượng bình đẳng giới là những người có quan niệm nam tính không áp đảo/phi truyền thống. giáo về những vấn đề như giới, gia đình, dòng tộc, Có nghĩa là những người này có tham gia vào những công việc quan hệ làng xóm so với những nơi khác. Mặc dù vận động bình đẳng giới (có lương/không lương) hay có lối sống không gia trưởng, như chăm lo cho vợ con, công việc nhà cửa v.v. vậy, Huế cũng đang trải qua những sự thay đổi xã Để biết chi tiết về phương pháp chọn mẫu, mời liên hệ stephanie. hội nhanh chóng. Một mặt, các gia đình Huế vẫn [email protected] để tìm hiểu về phương pháp nghiên cứu định tính của Dự án Sự thay đổi. gần gũi với nhau, ếp tục duy trì những chuẩn mực, quan niệm sống truyền lại từ nhiều đời nay. [2] Nhóm nghiên cứu ghi nhận rằng có một số hạn chế khi chọn mẫu phỏng vấn thông qua quan hệ cá nhân và các mạng lưới sẵn Mặt khác, thành phố này đã chứng kiến những sự có. Các đối tượng ở Huế thường nói về các chuẩn mực xã hội chuyển biến kinh tế - xã hội nhanh chóng trong thay vì kinh nghiệm sống của bản thân, hay kể chuyện của người khác thay vì chuyện cuộc sống của mình. Một số trường hợp còn vòng 10 năm qua do du lịch phát triển. Sự chuyển từ chối nói về bản thân. Các đối tượng ở Phú Xuyên cởi mở hơn biến này khiến Huế trở thành một địa điểm quan khi nói về bản thân. Nhận xét này được đúc kết khi phân tích bản ghi phỏng vấn. Các câu chuyện kể của đối tượng thường phản trọng cần nghiên cứu về quá trình hình thành, ánh quá trình hình thành và thực trạng của một số quan niệm về cũng như những thách thức trong quan niệm về nam tính trong xã hội nói chung, nhưng tựu chung vẫn phù hợp và hữu ích với mục tiêu nghiên cứu. nam nh, trong bối cảnh xu hướng xã hội chung. Page | 27
  26. Huyện Phú Xuyên là một huyện nông thôn, thuộc biết mục êu của nghiên cứu trước khi phỏng tỉnh Hà Tây cũ, sau đó được sáp nhập vào Hà Nội vấn nên có thể ảnh hưởng đến câu trả lời theo từ năm 2008. Là một thị trấn phát triển lên thành hướng giảm nhẹ hay thậm chí che dấu việc họ khu vực đô thị, Phú Xuyên là địa điểm lý tưởng từng sử dụng vũ lực với vợ, bạn gái, hoặc những để ến hành nghiên cứu nhiều mặt về vấn đề hành động mà theo họ nghĩ, hoặc sợ bị người nam nh cũng như những thay đổi trong hành vi, khác nghĩ mình có hành vi bất bình đẳng giới. nếp sống của nam giới trong quá trình đô thị hóa Tương tự, sai lệch thông n này cũng có khả năng diễn ra nhanh chóng. Ở Phú Xuyên, có thể thấy do đối tượng m cách nói tốt về mình hay thậm hầu hết mọi mặt hoạt động kinh tế - xã hội cả chí kể thêm về những hành vi bình đẳng giới của truyền thống lẫn hiện đại ở Việt Nam, như nông bản thân. Cả hai khả năng trên đều được cân nghiệp, thủ công nghiệp, thương mại, lao động nhắc trong quá trình phân ch, từ đó cung cấp di cư mùa vụ. Về mặt nào đó, những hoạt động những thông n quan trọng trong quan niệm về này phản ánh quá trình phát triển kinh tế chung ở hành vi bình đẳng giới của đối tượng phỏng vấn. Việt Nam, nhờ đó giúp nghiên cứu bảo đảm được Thêm nữa là trong hai trường hợp được phỏng nh phù hợp khi nghiên cứu quan niệm về nam vấn 3 có mặt vợ của đối tượng phỏng vấn trong nh trong bối cảnh xã hội thay đổi. một khoảng thời gian, và thậm chí vợ của một người được nghiên cứu viên hỏi. Việc này có thể Hạn chế ảnh hưởng ít nhất đến một số câu trả lời của đối tượng, khiến đối tượng giảm nhẹ, che dấu hay Một trong những thách thức chung trong phỏng thêm bớt một số chi ết. Yếu tố này cũng được vấn ở cả hai địa điểm là “sai lệch thông n do nh đến trong quá trình phân ch. Một điểm áp lực mong đợi xã hội”, một hạn chế thường nữa cần lưu ý, đây chỉ là một nghiên cứu định gặp trong các nghiên cứu có sử dụng phỏng vấn, nh thông qua phỏng vấn một số trường hợp ở thông thường đối tượng phỏng vấn cố gắng thể Phú Xuyên và Huế, vì thế không mang nh đại hiện theo hướng làm mình tốt đẹp hơn trong diện cho toàn quốc. mắt những người thu thập thông n. Đối tượng [3] Đối tượng Chiến và Dũng. Tên người đã được thay đổi để giữ bí mật cho người tham gia phỏng vấn. Phụ lục I cung cấp Danh sách người tham gia phỏng vấn đầy đủ gồm tên gọi, loại mẫu, ngày phỏng vấn, nơi ở. Page | 28
  27. CHƯƠNG V KẾT QUẢ Page | 29
  28. 1. Các yếu tố liên quan tới quan niệm nam Mặt khác, Khải cho rằng tuy nam giới có quyền nh bá quyền ở Việt Nam “dạy” vợ, nhưng cũng cho rằng nên dùng lời, biện pháp chuyên chính thay vì bạo lực. Dù vậy, Các phỏng vấn lịch sử đời sống cho thấy có khá Khải vẫn khẳng định vợ và con gái trong nhà nhiều quan niệm khác nhau về nam nh ở Việt phải “theo chồng, theo cha”. Ngay cả với Kim Nam. Trong một số trường hợp, đặc điểm, thái và Chiến là những người có hành vi bình đẳng độ, hành vi liên quan đến quan niệm về nam hơn trong quan hệ, qua phỏng vấn cũng vẫn nh ở Việt Nam có sự khác biệt theo tầng lớp cho thấy, dù không rõ nét, rằng những người kinh tế - xã hội và địa lý nhưng trong một số này vẫn có tư tưởng cho rằng uy quyền của trường hợp khác các quan niệm về nam nh nam giới trong gia đình là điều không cần bàn phổ biến hơn, bao trùm nhiều bối cảnh xã hội, cãi. Chỉ có Nam cho rằng nam giới không nên văn hóa. Các phỏng vấn cho thấy những quan có uy quyền, lấn át vợ. Theo Nam quan hệ vợ niệm về nam nh nào mang nh chất bá quyền, chồng là phải bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. được nhìn nhận như những hành vi giới được coi là “văn hóa cao đẹp” (Connel, 2005). Nhưng Một đặc trưng nữa thường có liên hệ với quan một số diễn giải về quan niệm thế nào là đàn niệm về nam nh, cũng như quan điểm về uy ông Việt Nam cũng cho thấy những quan niệm quyền của đàn ông, là người cha phải là người mới về nam nh đi ngược lại với nh bá quyền đóng vai trò chính trong dạy dỗ con cái, nhất là (sẽ được trình bày trong phần 2 phía dưới). Các con trai (Vũ Mạnh Lợi và các tác giả khác, 1999). cuộc phỏng vấn mô tả quá trình nam giới sống Đặc nh này được thể hiện theo hai cách: người và áp dụng quan niệm nam nh bá quyền cũng cha phải quản lý việc học hành ở trường của con, như quan niệm mới về nam nh theo nhiều cách đồng thời phải biết chỉ bảo con cái trong cuộc thức khác nhau. Những khác biệt này tạo cơ hội sống (xem thêm San llan, 2004: 541; Schuler, khuyến khích quan niệm sống ôn hòa, bình đẳng 2006: 388-389). Hùng cho rằng tuy cả cha lẫn hơn trong phẩm chất đàn ông Việt Nam. mẹ đều phải dạy bảo con cái nhưng người cha phải là người ra quyết định quan trọng về việc Đặc trưng phổ biến nhất về nam nh ở Việt học hành của con cái. Hầu hết những người Nam là quan niệm cho rằng nam giới (thường trả lời phỏng vấn đều nói đến việc được cha là chồng, cha) phải là trụ cột và người ra quyết mình dạy bảo ra sao ngoài những gì học được định chính trong nhà. Phần lớn các đối tượng ở trường. Cha dạy con bao gồm giúp con làm tham gia nghiên cứu cho rằng người chồng có bài tập ở nhà, dạy cho con cả những bài học về vị trí cao hơn người vợ và là người đứng đầu gia xã hội, như làm người đàn ông thì phải thế nào đình. Địch 4 cho biết: “quyền quyết định lúc nào . Và điều quan trọng hơn phân ch này đưa ra cũng phải là của người chồng, trước đây, hiện rằng có mối quan hệ giữa uy quyền – đặc trưng nay và sau này cũng vậy”. Chương thể hiện sự chính trong quan niệm về nam nh ở Việt Nam ngưỡng mộ về cách cha mình thực thi uy quyền, – và cách nam giới thể hiện uy quyền thông qua kỷ luật trong gia đình. Tuy nhiên, cách nam giới việc dạy bảo cả vợ lẫn con cái. Như sẽ trình bày thể hiện uy quyền, cũng như quan niệm về mức ở phần sau, việc bị thách thức uy quyền thường độ uy quyền bất khả xâm phạm của nam giới này được coi là một lý do chính đáng để nam giới sử cũng có sự khác biệt. Hùng, cũng như Dũng và dụng vũ lực. Sỹ cho rằng chồng phải biết “dạy” vợ để vợ phục tùng họ. Dạy ở đây bao gồm dạy để vợ không Là người chỉ giáo, biết giữ nền nếp, kỷ cương được cãi chồng và phải biết tuân phục chồng, và có uy quyền là những đặc trưng chính trong theo họ dạy vợ là “quyền của đàn ông”. Sỹ đề quan niệm thế nào là đàn ông, và là những quan cập đến đòn roi như một biện pháp “dạy” hay điểm phổ biến, được đa số nhất trí ở tất cả các “ngăn cấm” vợ cãi lại chồng. đối tượng, bất kể địa vị xã hội, vị trí địa lý. Điều này cho thấy rõ mức độ phổ biến của những đặc trưng này, cũng như những nếp sống liên quan, trong quan niệm bá quyền ở xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, những đặc trưng khác về quan niệm [4] Xem thông tin tại Phụ lục I Page | 30
  29. nam nh, cũng có ảnh hưởng bởi các yếu tố xã vậy mới đủ sức “chiến đấu”, được nể sợ. Chương hội, kinh tế, địa lý. Hình mẫu đàn ông lý tưởng cho rằng con gái thích con trai khỏe mạnh (trong theo mô tả của các nam giới được phỏng vấn ở đó có những nam giới đã thực hiện nghĩa vụ quân Huế, phần lớn là những người được học hành, sự), vì có khả năng bảo vệ cho họ. Nhớ lại thời trẻ, lớn lên trong những gia đình trung-thượng lưu, Chương cho biết một số phụ nữ cũng thích nam khá khác biệt so với những nam giới được phỏng giới “vui nh”, biết đàn hát, tuy những đặc điểm vấn ở Phú Xuyên, đa số ít được đi học, lớn lên này không được coi trọng như sức vóc. Các nam trong các gia đình nghèo. giới tham gia nghiên cứu ở Phú Xuyên thường xuyên nhắc đến nam giới với đặc nh nóng nh, Ở Huế, các đối tượng phỏng vấn coi hình mẫu nóng nảy. Sỹ, quê Phú Xuyên, cho rằng nam giới đàn ông lý tưởng là phải “lịch sự”, “có tri thức”, nhìn chung rất nóng nảy, nên nếu vợ “hỗn” thì “có học”. Sức mạnh cơ bắp thường không được chồng đánh vợ là bình thường, thậm chí chấp nhấn mạnh trong quan niệm thế nào là người nhận được, trừ khi có người can ngăn. Chương đàn ông thực sự. Thu, người gốc Huế, cho rằng so cho rằng phụ nữ phải tránh lúc chồng “nóng nh” với nam giới ở các khu vực khác ở Việt Nam, đàn và phải biết “nhịn” khi chồng đang nóng. Những ông Huế thường điềm đạm, ít nói hơn, và việc ý kiến về việc nam giới nóng nh này phù hợp với đàn ông Huế làm thơ là điều bình thường, vì đối kết quả nghiên cứu hiện nay về quan niệm văn với phụ nữ Huế, đây là một nét hấp dẫn. Thu còn hóa trong khác biệt giữa phụ nữ (âm) và nam giới cho biết “con trai mà vai u thịt bắp thì hay bị xem (dương) ở Việt Nam (xem Rydstrøm. 2004). là thô kệch”, cho nên phải “điềm đạm, ít nói, thư sinh”. Thu cũng nói rằng vì “Huế nổi ếng là đất Những khác biệt rõ ràng giữa Huế và Phú Xuyên văn hiến” nên người dân ở đây cũng coi trọng học cho thấy vai trò của những yếu tố xã hội, kinh hành hơn (vì như vậy mới m được việc làm tốt) tế, địa lý trong việc hình thành nên một số (dù so với những hoạt động khác như thể thao. Khải, không phải là tất cả) các quan niệm phổ biến cũng là người gốc Huế, cho rằng trước đây, phụ về nam nh, đồng thời cũng cho biết cách hiểu nữ thường thích nam giới giỏi học hành, thứ mới của nam giới về mẫu hình đàn ông lý tưởng chủ đến những người giỏi lao động chân tay, “Nhất là yếu được xây dựng dựa trên các giả định về uy học hay, nhì là cày giỏi”, và cũng nói thêm rằng con quyền của nam giới so với phụ nữ. Tuy nhiên, gái thường không thích con trai “to khỏe, thích một số nam giới cũng phản đối xu hướng quyền đánh nhau”. Chiến, một người gốc Huế khác, cho hành này ở một số mặt trong quan hệ vợ chồng, rằng nam giới phải có học, hiểu biết về nhiều lĩnh và trong xã hội cho thấy ở một phạm vi nào đó vực tri thức, văn hóa, thực tế, xã hội. Trái lại, Địch có tồn tại những quan niệm về nam nh mang có lẽ là người gốc Huế duy nhất cho rằng người nh bình đẳng hơn, ít áp đảo hơn. “đàn ông thực sự” phải khỏe mạnh, đồng thời phải là “chỗ dựa cho vợ con cả về vật chất, nh 2. Những yếu tố liên quan tới quan niệm thần, sức khỏe”. Địch cũng cho rằng, tuy trước mới về nam nh trong diễn biến cuộc đời đây, phụ nữ thường thích những nam giới biết “thơ văn”, ga-lăng, nhưng thanh niên hiện nay Sự đa dạng trong quan niệm về nam nh ở các thường thích “quậy” hơn, thích ra dáng “người cuộc phỏng vấn cho thấy một số nam giới đã hùng” bằng cách đánh nhau để “chứng tỏ mình điều chỉnh, phản đối quan niệm nam nh bá là đàn ông”, và điều này cũng được những nam quyền ở Việt Nam, hướng tới những quan niệm, thanh niên và cả nữ thanh niên khác hưởng ứng. nếp sống mới. Tuy những quan niệm mới về nam nh này không phải lúc nào cũng thể hiện cách Khác với Huế, ở Phú Xuyên, sức vóc lại được coi nghĩ bình đẳng giới hơn trong nam giới nhưng là tố chất lý tưởng của nam giới. Nhiều người nó cho thấy một số mâu thuẫn trong cuộc sống trả lời phỏng vấn mô tả nam giới có xu hướng của họ, chẳng hạn có những lối sống, hành vi thích bạo lực, nóng nảy, trong khi những đức khác với quan niệm chung. Những mâu thuẫn nh như lịch sự, có học thường không được này có ý nghĩa quan trọng vì nó chỉ ra cơ hội để nhắc đến nhiều. Chương, quê Phú Xuyên, cho thay đổi, hướng quan niệm hình mẫu người đàn rằng con trai thì phải cao to, khỏe mạnh, vì như ông theo chiều bình đẳng giới hơn. Page | 31
  30. Đặc biệt, mối quan hệ vợ chồng chính là nơi mà đã nhận thấy phụ nữ có thể “làm tốt hơn nhiều nhiều đối tượng phỏng vấn cho biết có những so với nam giới trong nhiều lĩnh vực nếu được thực hành đối nghịch với tư tưởng áp đảo, quyền n tưởng và trang bị đủ kiến thức, kỹ năng”, uy trong quan niệm nam nh bá quyền. Nhiều cũng như quan điểm trước đây (bất bình đẳng) người thuộc nhóm nghiên cứu được xem là có của mình về giới có thể “cản trở sự phát triển”. xu hướng bình đẳng giới cho biết bản thân họ Khi bàn về chế độ gia trưởng, Nam nói “Về điểm có những thỏa thuận hợp tác, chia sẻ quyền lực này, ở Việt Nam có câu ‘ôm rơm rặm bụng’. Có ở gia đình mình. Vợ chồng có quyền quyết định nghĩa là [nam giới] cố làm mọi việc, ra mọi quyết ngang nhau (hay gần ngang nhau) về kinh tế hay định, nhưng cuối cùng không đạt kết quả như các vấn đề khác. Những người này cho biết cả mong muốn mà còn làm hại mình”. Thay vào hai vợ chồng đều san sẻ công việc gia đình, như đó, Nam cho rằng giữa vợ chồng nên phân công trông con, giặt giũ, nấu nướng, dọn dẹp. Những trách nhiệm, công việc bình đẳng hơn. thỏa thuận này đối ngược với những điều đàn ông nói về mẫu hình nam nh áp đảo, đã phản Những quan điểm, lối sống mới này thường có ánh sự mâu thuẫn giữa những gì nam giới coi là sự liên hệ nhiều với sự ổn định kinh tế, thành bá quyền và cách thức những tư tưởng đó áp đạt. Những quan điểm này trái ngược với quan dụng (hoặc không áp dụng) trong thực tế. niệm bá quyền coi nam giới là trụ cột kinh tế trong gia đình, đồng thời là n hiệu cho thấy Nhiều đối tượng phỏng vấn khi bàn về những sự thay đổi trong nếp nghĩ về giới ở Việt Nam. xu hướng phân quyền mới trong hôn nhân cũng Sự phát triển kinh tế nhanh chóng ở Việt Nam nhìn nhận sự thành đạt trong bối cảnh quan hệ từ sau 1975 dẫn đến những thay đổi rộng khắp vợ chồng chứ không chỉ của cá nhân. Các đối về cơ cấu sản xuất, trong đó có sự chuyển dịch tượng thường hình dung nếp sống bình đẳng từ kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp và số hơn về giới đơn giản là điều kiện kinh tế tốt hơn. lượng phụ nữ đi làm tăng. Những quan niệm, lối Như Khải đã ủng hộ vợ mình đi học cao học. Khải sống mới này cho thấy quá trình chuyển dịch xã nhìn nhận việc ủng hộ vợ đi học trong bối cảnh hội đã dẫn đến những thay đổi trong chuẩn mực nhiều phụ nữ có trình độ học vấn cao hơn chồng. về giới, cũng như những lối sống, hành vi mới Khải cho biết bạn mình có vợ là giảng viên ngành được chấp nhận như thế nào. Nhiều đối tượng luật, trong khi người bạn này chỉ là “công nhân”. đề cập đến những thay đổi xã hội vĩ mô, những Khải lý giải “bây giờ người ta suy nghĩ thoáng quan điểm, thái độ, hành vi đối ngược của nam hơn rồi”, “vợ chồng biết chấp nhận nhau”. Bình giới hiện nay và trước đây. đẳng, hợp tác sẽ đem đến thành công về kinh tế trong gia đình. 3. Thay đổi xã hội và tác động của sự thay đổi này về quan điểm giới ở Việt Nam Tương tự, một số nam giới cũng đề cập đến năng lực của phụ nữ trong công việc. Khải cho biết phụ Qua phỏng vấn, có thể thấy người tham gia nữ cũng có khả năng làm lãnh đạo trong công phỏng vấn nhận thức được xã hội Việt Nam việc, cho dù tư tưởng phổ biến hiện nay là nam đang trong giai đoạn quá độ, cả về kinh tế, giới cần có ưu thế hơn phụ nữ. Khải cho rằng chính trị và xã hội, từ đó ảnh hưởng đến quan kết quả công việc phải dựa vào năng lực chuyên niệm về nam nh và các mối quan hệ giới. Về môn nhiều hơn là giới nh. Tuy vậy, Khải cũng lo thay đổi kinh tế, một số đối tượng đề cập đến ngại rằng áp lực cao của việc làm lãnh đạo khiến những chuyển biến trong thời kỳ những năm con người ta phải mạnh mẽ, và vì thế sẽ khó cho 1980 và 1990 theo hướng thị trường trong sản phụ nữ. Nam, làm việc tại một tổ chức phi chính xuất, kinh doanh. Chương bàn đến việc thực thi phủ trong lĩnh vực phát triển, hỗ trợ các dự án những chính sách trả lương cho lao động, hộ gia về bình đẳng giới. Nam cho biết trước khi làm đình theo sản phẩm, thay cho chế độ lương cố công việc hiện nay, Nam vẫn có “tư tưởng coi định. Chương cũng đề cập đến sự chuyển dịch trọng nam hơn nữ” và cảm thấy “bị đe dọa nếu nói chung từ nông nghiệp, lao động thủ công bạn là nữ giới học giỏi hơn” vì “con trai thường ở quê mình, trong đó trình độ học vấn, công xuyên giỏi hơn con gái”. Nam cho biết bản thân việc tri thức được coi trọng hơn. Tương tự, Kim Page | 32
  31. cho biết nhiều thanh niên ở quê anh hiện nay rộng rãi như trước đây nữa. Tương tự, Chiến đề thường chọn đi học đại học (nhờ cha mẹ khuyến cập đến việc phụ nữ giờ đây đã được học hành khích), chứ không theo nghề khảm trai truyền nhiều hơn, từ đó độc lập hơn về kinh tế và có thống của làng nữa. Theo Kim, nghề này bị coi địa vị hơn trong xã hội và gia đình. Ý Chiến nói là công việc nặng nhọc trong khi đi học đại học đây cũng là một thay đổi ch cực. Kim cho biết sẽ bảo đảm công ăn việc làm tốt hơn. Kim nh trong nghề làm khảm trai, phụ nữ hiện nay đã toán số thanh niên chọn con đường theo học làm những công việc mà trước đây chỉ có đàn nghề khảm trai giờ đã giảm đến 90%. Sự chuyển ông được làm, và tỏ thái độ tán thành việc này. hướng từ lao động chân tay sang nâng cao trình độ học vấn có tác động đến phân công lao động Tuy vậy, không phải tất cả những người tham giữa hai giới và vai trò của phụ nữ trong nền kinh gia phỏng vấn đều coi những thay đổi trong tế Việt Nam, như sẽ phân ch dưới đây. quan điểm giới là ch cực. Địch cho rằng phụ nữ Huế ngày này không giỏi “kiềm chế” như Sự chuyển dịch chính trị, kinh tế, xã hội gắn liền xưa, còn Chương thì cho rằng phụ nữ Phú Xuyên với chiến tranh ở Việt Nam trong nửa sau của giờ ‘bướng’ hơn, ít sợ chồng hơn trước. Cả hai thế kỷ 20 cũng là bối cảnh liên quan đến cuộc người đều có ý không tán thành thay đổi. Thu, đời của nhiều người phỏng vấn. Một số nam một người Huế khác, còn cho rằng những thay giới tham gia nghiên cứu đề cập đến chiến tranh đổi về địa vị, vai trò của phụ nữ trong xã hội là ở miền Bắc từ những năm 1950 cho đến tận êu cực. Thu cho rằng trách nhiệm của người những năm 1980. Nhiều người ở Phú Xuyên đi phụ nữ trong gia đình là giữ gìn “sự yên ấm của bộ đội trong thời gian trên. Thu cho biết “rất gia đình”, còn việc làng xã là của nam giới. Theo nhiều nam thanh niên” đã ra phía Bắc ( nh từ Thu, công việc của nam giới là quan trọng hơn, Huế) chiến đấu. Số lượng lớn nam giới làm nghĩa rằng “đàn ông là phải làm việc lớn”. Thu đổ lỗi vụ quân sự có tác động đến trật tự giới trong xã cho một số giáo lý xã hội mà theo anh là “tư hội Việt Nam, đặc biệt đã dẫn đến những thay tưởng phương Tây” khi cho phụ nữ nhiều quyền đổi về vai trò của người phụ nữ. tự do hơn và được “giải phóng khỏi công việc nhà”. Theo Thu, những thay đổi này làm xói mòn Ngoài những nhận xét chung về xã hội Việt Nam, cấu trúc xã hội Việt Nam, vì “có tề gia thì mới trị nhiều người còn đề cập cụ thể đến những thay quốc được” (xem thêm về quan điểm này trong đổi về quan điểm giới trong xã hội Việt Nam. xã hội Việt Nam trong nghiên cứu của Schuler và Chẳng hạn, Khải cho biết trước đây, phụ nữ Huế các tác giả khác, 2006). Quan điểm của Thu trái có ếng là “chịu nhịn” chồng, nhưng hiện nay, với ý kiến của một số người tham gia nghiên cứu nhiều phụ nữ không còn cảm thấy nghĩa vụ phải khác, trong đó coi việc tăng cường quyền bình “nhịn” nữa, mà thường nói lên chính kiến của đẳng của phụ nữ là một con đường tạo nên sự mình. Khải coi đây là một sự “ ến bộ” và cho thành đạt về kinh tế của gia đình. Những quan rằng “nhiều người” ở Huế hiện nay đã có tư điểm trái ngược này phản ánh những sự đối lập tưởng nam nữ bình quyền. Khải nói thêm rằng chung trong xã hội Việt Nam. Chuyển biến kinh một số người vẫn cho rằng phụ nữ phải phục tế, xã hội làm thay đổi kỳ vọng, quan niệm chung tùng nam giới nhưng họ phải giấu quan điểm, về vai trò của phụ nữ và nam giới, cũng như vị thái độ của mình, từ đó cho thấy những quan thế của nam giới, phụ nữ trong xã hội Việt Nam. điểm, thái độ này không còn được chấp nhận Page | 33
  32. Nghiên cứu trường hợp: Dũng - Thay đổi xã hội và tác động của thay đổi này tới cuộc sống của nam giới Trường hợp Dũng cho thấy những căng thẳng, mâu thuẫn của cá nhân phản ánh những thay đổi rộng khắp trong xã hội Việt Nam. Dũng cho rằng ngày nay nam giới có xu hướng ôn hòa, ít dùng vũ lực hơn, và những điểm này không còn được coi là đàn ông kém cỏi, hay yếu đuối nữa. Dũng giải thích có một số lý do dẫn tới những thay đổi này, trong đó có việc sáp nhập làng mình vào địa phận Hà Nội mới đây, từ đó khiến mọi người, nhất là nam giới, muốn thể hiện mình là “người Hà Nội” hơn, nghĩa là lịch sự, có văn hóa hơn. Dũng cho rằng phong trào “Gia đình văn hóa” 5 đặc biệt có tác động đến hành vi của mọi người trong gia đình, vì sẽ bị phê bình trước cộng đồng là Gia đình văn hóa mà trong gia đình vẫn còn lục đục. Dũng cũng cho rằng việc làng anh vừa tái thành lập hội ‘nhiêu’, một hội gồm những người đàn ông từ 50 tuổi trở lên, có uy n để lo việc làng tại đình, đã được các bô lão nhắc nhở và cộng đồng soi xét là thành viên của hội này thì phải nói năng cẩn thận, hành vi phải phù hợp. Nhưng có lẽ thành quả đáng kể của những hoạt động và thay đổi xã hội trên chính là những thay đổi với bản thân Dũng. Dũng cho biết những hoạt động trên đã có tác động nhiều đến hành vi của mình, trong khi mới gần đây, anh còn bị coi là một người nóng nảy, vũ phu. Trước đây, Dũng là người khá thô bạo với vợ và sẵn sàng đánh nhau với bất cứ ai nói anh “sợ vợ”, nhưng giờ đây anh không còn đánh vợ nữa, mà còn can thiệp khi gặp những vụ bạo lực gia đình, và nếu có ai nói anh “sợ vợ” thì anh chỉ cười trừ mà thôi. Có thể thấy quá trình thương thuyết, dung hòa giữa một bên là sự mong đợi của làng xóm đối với những người đàn ông cao tuổi là phải thể hiện nam nh ôn hòa, tôn trọng, ít bạo lực với một bên là hành vi bạo lực trước đây của Dũng là một quá trình khó khăn trong cuộc đời anh. Ví dụ về Dũng cho thấy hình ảnh, uy n có ảnh hưởng như thế nào đối với nam giới cũng như sự thay đổi trong quan niệm về nam nh của họ .Ví dụ này cũng cho thấy mối liên hệ giữa quan niệm về tư thế đàn ông của nam giới và độ tuổi, cũng như những kỳ vọng về hình mẫu người đàn ông ở một độ tuổi nhất định (kèm theo những lối sống tương ứng để tái khẳng định bản lĩnh đàn ông) sẽ thay đổi theo thời gian, và sự thay đổi này gắn liền với vị thế và quyền lực tương đối của nam giới trong cộng đồng khi là người lớn tuổi. Một thay đổi cuối cùng về quan điểm giới thường cũng thể hiện quan điểm trái ngược khá nhanh được các đối tượng tham gia nghiên cứu nói tới khi nói đến việc “cấm” con gái không được lấy là êu chí để bảo đảm m được người hợp với một trong số những bạn trai của cô, vì theo anh mình, và quyền tự do ngày càng cao trong việc người đó thiếu lễ độ, nóng nảy. chọn vợ. Những người tham gia nghiên cứu đề cập đến vấn đề này cho rằng hiện nay mọi Ngoài ra, anh Kim, người Công giáo, cho rằng người được tự do hơn trong lựa chọn bạn đời. trước đây, chỉ có người theo cùng một đạo mới Kim, sinh năm 1954, cho rằng “thời cha mẹ đặt cưới nhau. Hiện nay, Kim cho rằng đã có nhiều đâu, con ngồi đó đã qua rồi”, kể từ thế hệ của đám cưới giữa người Công giáo và Phật giáo, và anh. Kim cho rằng cha mẹ hiện nay có thể gợi ý, có khá nhiều người phải cải đạo, mà thường là khuyên bảo con cái về chuyện yêu đương, kết phụ nữ. Một số người trả lời phỏng vấn cũng hôn, nhưng quyết định cuối cùng vẫn thuộc về nói tới sự thay đổi theo hướng vợ chồng cưới con cái. Dũng cũng chia sẻ quan điểm trên, cho nhau do có cùng trình độ học vấn và/hoặc nghề rằng trên lý thuyết, nam giới và phụ nữ được nghiệp. Thu cho biết trước đây, nam giới thường tự do cưới người mình muốn. Tuy nhiên, Dũng chọn gia đình nhà vợ sao cho môn đăng hộ đối [5] Lưu ý rằng phần về Gia đình văn hóa được đề cập đến như một biện pháp răn đe đối với những hành vi bạo lực. Đối với một số chuyên gia BLG ở Việt Nam, chiến dịch “Gia đình văn hóa” bị xem là rào cản đối với việc cung cấp dịch vụ hiệu quả, vì các gia đình sẽ ít khai báo các trường hợp bạo lực hơn do sợ bị kỳ thị. Page | 34
  33. (có hoàn cảnh và địa vị tương đồng). Nhưng từ cha mẹ (Knodel và các tác giả khác, 2004: 12- ngày nay, êu chí chính có lẽ là sự tương đồng 13). Trong suốt ến trình cuộc đời, có thể thấy giữa vợ và chồng, như về trình độ học vấn, nghề hai nội dung nổi bật về quan hệ cha mẹ - con nghiệp, tài sản, cho dù hai gia đình có gia cảnh cái ở những người tham gia nghiên cứu là: thứ rất khác nhau. Sự thay đổi trong cách chọn vợ, nhất, người cha thường được gắn với chức năng chọn chồng (quyền quyết định chuyển từ cha ‘dạy dỗ’ con trai về hình ảnh thế nào là người mẹ sang con cái, cũng như xu hướng m người đàn ông trong xã hội; thứ hai, người trả lời có cùng địa vị kinh tế) cho thấy sự tác động của phỏng vấn cho biết có sự khác biệt rõ trong việc các thay đổi kinh tế, xã hội ở Việt Nam đến kỳ con trai và con gái được đối xử trong gia đình. vọng, tư tưởng về bản chất quan hệ vợ chồng Những khác biệt này thể hiện rõ nhất trong các (xem thêm vấn đề thay đổi thái độ về ly hôn thực hành truyền thống, tôn giáo, phân công lao trong nghiên cứu của Hoàng Thị Ái Hoa, 2009). động và cơ hội học hành. Ngoài ra, việc con cái Nhưng, theo lời của một số đối tượng tham gia được giáo dục qua quan hệ giữa cha mẹ - con cái nghiên cứu, sự tự chủ tương đối này vẫn ít hiện trong gia đình cũng bị ảnh hưởng bởi bối cảnh thực hơn đối với phụ nữ vì phụ nữ vẫn được kỳ lịch sử, địa lý, chính trị, và trong một số trường vọng hơn về việc phải tuân thủ các phong tục cũ hợp phỏng vấn, sự vắng mặt thường xuyên của trong việc chọn chồng. Quyền tự chủ của phụ nữ người cha do đi bộ đội hay đi làm ăn kinh tế, hạn chế so với nam giới đi kèm với sự can thiệp cũng dẫn đến những thay đổi, ảnh hưởng tương của cha mẹ vào việc ra quyết định và tuân theo ứng đến việc giáo dục và hình thành khái niệm các phong tục, quan niệm phổ biến (tôn giáo giới trong gia đình. v.v.) về việc chọn người chồng tương lai. Mô hình cha mẹ giáo dục con cái phổ biến 4. Nam nh được hình thành như thế nào? Các đối tượng tham gia nghiên cứu thường nhớ Các phần trên đã nêu tóm tắt bản chất của các lại đã được cha dạy dỗ khá nhiều về quan niệm, quan niệm nam nh bá quyền và quan niệm hành vi của người đàn ông. Người cha thường mới về nam nh, cũng như những quan niệm được xem là người chỉ bảo, giữ kỷ cương trong về mẫu hình người đàn ông có vai trò gì trong gia đình, có thể nói đã ảnh hưởng đến một số bối cảnh những chuyển biến xã hội, chính trị quan niệm về thế nào là hình mẫu người đàn kinh tế ở từng thời kỳ. Phần sau sẽ phân ch quá ông, người cha. Chiến, được chọn trong nhóm trình phát triển của những quan niệm bá quyền bình đẳng giới, nhấn mạnh vai trò của cha trong và quan niệm mới này về nam nh trong vòng việc giúp mình hiểu tầm quan trọng của việc đời của đối tượng, thông qua xem xét xu hướng, học hành, kỷ luật, sự tôn trọng, các tập tục văn con đường dẫn dắt đối tượng tới một số hành hóa, tôn giáo. Chiến nhớ rằng cha anh đặc biệt vi, quan điểm liên quan đến nam nh. Nói cách khuyên anh tránh thô lỗ, thiếu tôn trọng, nhất là khác, những yếu tố trong cuộc đời nam giới – với người lớn, cũng như sử dụng vũ lực, sỉ nhục các sự kiện, hành động, kinh nghiệm ở cả cấp độ hay gây phiền toái cho người khác. Tuy cha anh cá nhân và xã hội – có ảnh hưởng thế nào đến cho nhiều lời khuyên, định hướng về các quyết quan điểm, thái độ, thực hành của họ về khái định cuộc đời nhưng ông cũng nhấn mạnh rằng niệm nam nh và bạo lực. Chiến phải biết tự suy nghĩ cho bản thân, điều này cho thấy mối quan hệ giữa khái niệm về 4.1 ‘Hình thành khái niệm giới’ trong thời quyền hành, quyền định đoạt với hình mẫu đàn niên thiếu: giáo dục của cha mẹ và gia đình ông lý tưởng. Các nghiên cứu quốc tế về BLG cho thấy quan hệ Khác với thời niên thiếu của Chiến, Hùng (thuộc giữa con cái và cha mẹ là một trong những mối nhóm đã từng có hành vi bạo lực đối với vợ, bạn quan hệ quan trọng, định hướng nhất trong cuộc gái) không có nhiều liên hệ với cha khi còn trẻ đời con người (xem những nghiên cứu như của vì ông đi bộ đội. Khi cha vắng nhà, mẹ anh là Silverman và Williamson, 1997). Con cái thường người nuôi dạy các con, nhưng Hùng vẫn liên học các chuẩn mực, quan niệm, kiến thức chung tưởng tới cha với vai trò chính trong dạy bảo, Page | 35
  34. khuyên răn con cái. Cha anh muốn các con phải nhưng anh cũng đánh giá cao sự ưu ên của gia học bài vào buổi tối, giúp các con làm bài tập đình đối với anh cả lúc nhỏ và trong sự nghiệp. về nhà. Hùng nhớ rằng cha anh thường “chuyện Ngược lại, Dũng có vẻ không bằng lòng với trò, chia sẻ với tôi cách làm ăn, làm thế nào để những trách nhiệm và sự đối xử nghiêm khắc, trở thành người đàn ông trưởng thành, tránh xa nhất là những hình phạt đòn roi đối với anh vì rắc rối”. Khi lớn lên, cha anh dạy anh phải “sống là con trai trưởng. Những sự đối xử khác biệt, làm thằng đàn ông”, tức là phải cứng cỏi, phải ngoài sự phân biệt nói chung giữa con trai và “nắm mọi việc lớn”, phải đại diện cho gia đình con gái, cũng như giữa cha và mẹ, có thể nói đã vì là con trưởng. Ông dạy anh “sống cho có ích”, ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm, lối sống của tránh “đua đòi, ăn chơi”. đối tượng liên quan đến bình đẳng và giới. Nhìn chung, các phân ch lịch sử đời sống cho thấy Những người trả lời phỏng vấn nhớ lại rằng cách có 3 cơ chế trong ưu ên đối xử cũng như trách dạy bảo con trai và con gái của cha khác nhau về nhiệm đối với con trai trưởng theo chuẩn mực hành vi, lối sống. Chiến cho biết tuy anh và anh giới trong gia đình nằm trong khuôn khổ hoạt trai anh được dạy phải có kiến thức, học hành, động tôn giáo, phân công lao động theo giới và toàn diện, nhưng các chị em gái lại được dạy phương thức giáo dục. phải chăm chỉ, ết hạnh, chỉn chu về hình thức, ăn nói đúng mực, và nhìn chung là phải biết cư Những trách nhiệm gắn với con trai trưởng, cũng xử, nhất là với chồng và gia đình nhà chồng. như con trai nói chung, được nói đến nhiều nhất Tương tự, các chị em gái của Hùng được dạy là là công việc thờ cúng (người theo đạo Phật), phải “sống cho đàng hoàng”, không được đi chơi hương khói. Các đối tượng phỏng vấn ở Huế và khuya. Những lời dạy dỗ trên được truyền đạt Phú Xuyên nhấn mạnh vai trò giới của trong việc trong môi trường gia đình tùy theo giới và độ thờ cúng ông bà, tổ ên gần như là trách nhiệm tuổi của con cái. riêng của nam giới, vì thế, người cha sẽ dạy con trai về các lễ nghi, thờ cúng tổ ên. Trong khi đó, Giới trong gia đình thời niên thiếu phụ nữ và con gái có vai trò chính là nấu nướng, phục vụ cỗ bàn và các công việc hậu cần khác Tương tác giới trong gia đình thời niên thiếu trong những dịp này. Việc cúng giỗ có ý nghĩa cũng có ảnh hưởng đến quan niệm về nam nh rất quan trọng trong gia đình, nên việc trao vai cũng như quá trình hình thành quan điểm, lối trò này cho con trai trong nhà càng củng cố thêm sống bạo lực hay bình đẳng của người tham gia vị thế của con trai trong gia đình, dòng tộc. nghiên cứu. Tương tác giới trong gia đình của các đối tượng rất đa dạng nhưng điểm nổi bật Sự phân công lao động trong thời niên thiếu trong mọi phỏng vấn là sự ưa chuộng, tập trung củng cố thêm tâm lý thích con trai nói chung, ưu ên vào bé trai và đàn ông trong gia đình, và từ đó dẫn đến sự phân biệt trách nhiệm của đặc biệt là con trai trưởng. phụ nữ chăm sóc việc gia đình, và đàn ông cần đảm nhiệm những vai trò trong quan hệ xã hội Trong 10 người thuộc nhóm nghiên cứu trường (Adams và Coltrane, 2005). Ở Huế, sự phân công hợp điển hình thì 8 người là con trai trưởng (hay lao động theo giới thường rõ nét hơn, trong đó con trai duy nhất) trong gia đình. Một số người trẻ em gái/phụ nữ có nghĩa vụ làm việc nhà, kể về trách nhiệm và đặc quyền riêng của con còn trẻ em trai/nam giới làm việc ngoài xã hội. trai trưởng mà con gái không có, kể cả khi con Ngược lại, ở Phú Xuyên, do nghề chính là nông gái là con cả. Những trách nhiệm và đặc quyền nghiệp nên các gia đình thường phân công lao này gắn với tôn giáo và nghĩa vụ gia đình. Số động trong nhà theo tuổi mà không theo giới. khác kể đến vai trò của trưởng nam đối với các Trẻ nhỏ thường làm những việc như nấu nướng, anh chị em hay sự quan tâm và/hoặc nh cảm quét dọn, rửa bát, còn trẻ lớn thường ra đồng riêng mà cha mẹ dành cho con trai trưởng, nhất hay làm những công việc nặng hơn (về vấn đề là người cha. Một số người trả lời phỏng vấn, thay đổi trong phân công lao động theo giới, như Chiến cho biết mặc dù anh cảm thấy áp lực xem Knodel và các tác giả khác, 2004; Barry, về những kỳ vọng xã hội đối với con trai trưởng 1996). Page | 36
  35. Mối quan hệ giữa phân công lao động theo giới và quan niệm nam nh Xu hướng thể hiện rõ rệt qua lịch sử đời sống của những người tham gia phỏng vấn là sự biến đổi trách nhiệm đối với gia đình từ thời niên thiếu sang trách nhiệm quản lý gia đình khi trưởng thành và phân công lao động với người vợ. Theo Chiến vì là con trai trưởng nên được cha mẹ “chiều” và vì thế không phải làm công việc bếp núc, và nếp sống này được giữ nguyên trong thời kỳ trưởng thành và trong mối quan hệ với vợ. Khải và Nam, hai đối tượng phỏng vấn người Huế, cho biết có chia sẻ việc nhà với các anh chị em khác, và điều này có thể tác động đến việc hai người có tham gia làm việc nhà khi có gia đình riêng. Tuy nhiên, ở những người tham gia phỏng vấn vẫn tồn tại một quan niệm phổ biến là tuy nam giới có tham gia phụ giúp công việc gia đình ở nhiều mức độ nhưng việc nhà vẫn là trách nhiệm chính của chị em phụ nữ, cũng như người ta thường đánh giá phụ nữ qua khả năng lo toan công việc trong nhà. Điểm này trái ngược với quan niệm về vai trò của nam giới là người lo kinh tế cho gia đình và đàn ông khẳng định bản lĩnh thông qua sự nghiệp và công việc. Các nghiên cứu về các phong tục liên quan đến giới trong các gia đình Việt Nam cho thấy nam giới thường tham gia làm việc nhà khi trong nhà chỉ có vợ, nhưng thường không muốn người khác (chẳng hạn như bạn bè là nam giới, đồng nghiệp) biết mình giúp vợ làm việc nhà. Điều này cho thấy nam giới diễn giải như thế nào về những quan niệm phổ biến về giới của công việc nhà cũng như sự tách biệt giữa công việc trong nhà với bản lĩnh đàn ông. Sự tham gia thường nhật (và kín đáo) vào công việc nhà cho thấy sự mâu thuẫn giữa hình ảnh trước công chúng về nam nh của nam giới và hành động thực tế (bình đẳng hơn) trong chia sẻ công việc của nam giới. Như sẽ thảo luận trong phần dưới đây, sự mâu thuẫn này cho thấy cách nam giới dung hòa quan niệm về nam nh trong bối cảnh các chuẩn mực giới về vai trò của phụ nữ trong xã hội, đặc biệt là trong kinh tế đang thay đổi trong xã hội Việt Nam. Cuối cùng, sự ưu ên hơn với con trai còn được nhiều hơn, và tất cả 5 người con trai đều được thể hiện trong cơ hội học hành mà gia đình đi học đại học, trong khi không người con gái những người tham gia nghiên cứu dành cho họ. nào học đại học. Địch cũng cho biết một số lý Một số người cho biết mình có cơ hội học hành do khác khiến con gái ở quê mình thường bỏ tương tự như các anh chị em khác, nhưng theo học sớm, như kinh tế eo hẹp khiến con gái (chứ mô tả về các sự việc, phương thức giáo dục con không phải con trai) không được ếp tục đi học, trai và con gái thì thấy thực tế không như vậy. cũng như việc con gái “thiếu nhận thức hay định Chẳng hạn, Địch cho biết cha anh khuyến khích hướng về lợi ích của việc học hành đối với tương tất cả các con học hành đến chừng nào còn học lai sau này”. được, tới mức ông bắt Địch phải đi học trở lại sau khi anh này bỏ học. Nhưng Địch cũng kể khi Có thể nói bản thân những người tham gia em gái anh không vào được đại học, cha anh coi nghiên cứu cũng không nhận ra được sự khác đó là ‘số’ và không can thiệp gì. Chiến cho biết biệt giữa tuyên bố về bình đẳng trong cơ hội học tuy em gái anh là người thông minh nhất nhà hành của họ với các anh chị em mình thời niên nhưng cô cũng chỉ được học đến lớp 10, trong thiếu với sự khác biệt trong phương thức giáo khi anh được theo học đại học Y và trở thành dục đã được thực hiện. Điều này cho thấy có sự bác sỹ. Tương tự là trường hợp của Khải, anh ưu ên ngầm trong việc học hành của nam giới cho biết mức chi êu của gia đình cho việc học so với phụ nữ, và điều này phù hợp với quan hành của con trai và con gái là ngang nhau vì niệm về nam nh gắn liền với giáo dục, học tập, cha anh mong muốn tất cả các con đều được kiến thức. Hiện nay, những người trả lời phỏng học hành đến nơi đến chốn, nhưng anh cũng vấn đều nói rằng, họ muốn các con trai, con gái cho biết thêm rằng cha anh hy vọng ở con trai của họ có cơ hội học hành như nhau. Tuy nhiên, Page | 37
  36. tương tự như thế, chính những người được 4.3 Công việc và mối liên hệ với nam nh phỏng vấn nói rằng cha mẹ họ cũng muốn con cái được học hành như nhau, nên khó có thể Quan niệm của những người tham gia nghiên cứu nói rằng việc ưu ên con trai hơn con gái trong về công việc, cả trong nghề nghiệp và việc nhà, có học hành sẽ không ếp diễn trong thế hệ này. thể nói có quan hệ chặt chẽ với quá trình hình thành quan niệm của họ về nam nh và bình đẳng (bất bình 4.2 Các mối quan hệ, kinh nghiệm liên quan đẳng). Hầu hết những người trả lời phỏng vấn đều đến giới ở ngoài gia đình trong thời niên cho rằng quan niệm về nam nh của mình có quan thiếu hệ chặt chẽ với công việc. Có 3 yếu tố về công việc có liên quan với quan niệm về nam nh, cũng như Theo những gì đối tượng phỏng vấn nói về gia quan niệm đàn ông phải hơn hẳn phụ nữ qua nghiên đình, dường như thời niên thiếu trong gia đình cứu lịch sử đời sống là: bản chất công việc hình thành là nơi họ được giáo dục và hấp thụ kiến thức quan niệm về nam nh; công việc được hình thành chính về giới. Một số người tham gia nghiên cứu do quan niệm nam nh bá quyền, chẳng hạn quan cũng cho thấy họ chịu ảnh hưởng bởi sự phân niệm về sự thành đạt thường được gắn liền với biệt giới trong nhà trường. Hùng và Dũng cho những vị trí, công việc dành cho nam giới; cũng như rằng con trai và con gái được dạy cùng các môn các giá trị lao động của nam giới được cho là mang học ở trường và không có khác biệt gì giữa hai lại giá trị vật chất và có ý nghĩa cho xã hội cao hơn giới. Điều này khác hẳn so với việc dạy dỗ ở nhà, so với nữ giới. Mặc dù quan điểm chung như trên trong đó con trai và con gái được chỉ bảo những nhưng một số người tham gia nghiên cứu vẫn cho điều rất khác nhau. Ở trường học, nam nữ học rằng việc phụ nữ đi làm là cần thiết để bảo đảm kinh chung và hầu như không có khác biệt về nội dung tế gia đình. Những quan điểm này cho thấy những dạy học cho con trai và con gái. Tuy nhiên, những thay đổi kinh tế ở Việt Nam đã ảnh hưởng đến sự quan niệm như con trai hay nghịch ngợm, nói thay đổi quan điểm và thực hành giới cũng như quan chuyện riêng, hiếu động, còn con gái hiền hơn, ít niệm thế nào là người đàn ông thành đạt tại các địa nói chuyện hơn có thể nói là khá phổ biến. Thực bàn nghiên cứu. tế, theo hầu hết các đối tượng được phỏng vấn, con trai thường chịu nhiều hình thức phạt thể xác Quan niệm bá quyền về nam nh và nghề hơn trong hệ thống trường học. Hùng cho biết nghiệp của nam giới con trai và con gái thường được xếp thành cặp để giảm nói chuyện riêng, vì nếu xếp con trai với Có thể thấy ở cả Huế và Phú Xuyên công việc nhau thì sẽ ‘làm loạn’ cả lớp. được coi là việc của nam giới thường ứng với những quan niệm về nam nh của công việc đó, Tuy nhiên, mối liên hệ phổ biến giữa nam nh và điều này cho thấy công việc của nam giới không trí tuệ - một yếu tố thường được bàn đến khi nói chỉ khẳng định nam nh bá quyền mà còn ngược về nam nh, nhất là ở Huế - có thể nói là không lại nam nh bá quyền xác định những công việc thể hiện rõ, thậm chí còn ngược lại khi nói đến chỉ dành cho nam giới. Ở Phú Xuyên, khỏe mạnh khả năng học tập của con gái ở trường, trong về mặt thể chất được coi là một phần thuộc những giai đoạn đầu học tập và trong môi trường nh nam nh được đánh giá cao nên nam giới trường học. Nam kể về một buổi thi toán cấp thường tham gia nhiều hơn vào công việc chân huyện hồi lớp 5, trong đó một trong những học tay nặng nhọc. Chẳng hạn, Dũng cho biết ở làng sinh giỏi nhất là nữ. Nam giải thích điều đó cho anh, “nam đi m việc của nam còn nữ thì làm anh thấy con gái cũng giỏi giang và sẵn sàng đua những công việc chân tay nhẹ nhàng”, qua đó tranh, giành phần thắng như con trai. Anh cho cho thấy nghề nghiệp đòi hỏi phải có sức khỏe biết trước đó, anh luôn có định kiến với giới nữ vì chỉ dành cho nam. Tuy nhiên, ở Huế, kiến thức và cho rằng phụ nữ không thể làm được những việc năng lực trí tuệ lại quan trọng hơn đối với nam của đàn ông giới, nên nam giới thường ưa thích những công việc đề cao những phẩm chất này. Tất cả nam giới tham gia nghiên cứu ở Huế đều làm việc trong những ngành nghề về cơ bản sử dụng kỹ năng Page | 38
  37. trí tuệ, kiến thức, học vấn, như làm báo, nghiên cùng làm khảm trai, vợ anh là người phụ trách cứu, y khoa. Dù có nhấn mạnh vào thể lực hay trí chính công việc này, còn anh không bận tâm đến tuệ thì các đối tượng ở cả hai địa phương đều có vai trò chỉ đạo của vợ. Điều này có thể là kết quả xu hướng liên hệ “công việc của nam giới” với uy của môi trường kinh doanh phi chính thức và nh n và/hoặc tầm quan trọng. Chỉ có một trường chất quan hệ của công việc làm ăn giữa hai vợ hợp ngoại lệ trong xu hướng phổ biến nêu trên về chồng, trong đó đòi hỏi phải nương tựa lẫn nhau công việc, uy n của nam giới là trường hợp của để bảo đảm lợi nhuận, một yếu tố có thể là công Kim, người Phú Xuyên. Kim cho biết hai vợ chồng cụ cân bằng giữa hai vợ chồng. Nghiên cứu trường hợp: Anh Chiến - Nhìn nhận về quá trình hình thành nam nh trong các hoàn cảnh khác nhau và sự thay đổi theo thời gian Những thay đổi trong cuộc đời Chiến cho thấy quan niệm về nam nh bị thách thức và củng cố như thế nào trong cuộc đời, cũng như vai trò của công việc và thành đạt về kinh tế trong việc khẳng định bản lĩnh đàn ông giữa bạn bè, đồng nghiệp. Chiến thuộc nhóm đối tượng nghiên cứu có xu hướng ‘bình đẳng giới’. Chiến là con trai trưởng trong gia đình và có quan hệ rất gần gũi với cha. Tuy gia đình anh nghèo nhưng anh nhớ mình thường được “ăn ngon” vì cha mẹ “rất chiều anh”. Chiến tự mô tả ngày còn bé, anh là một cậu bé nhỏ người, sức khỏe yếu. Khi đi học, Chiến thường bị những học sinh nam khác bắt nạt, quấy nhiễu. Có một số lần, cha anh đã can thiệp, và có những phản ứng với cha mẹ của những trẻ kia. Anh cũng thỉnh thoảng chơi trò ‘đánh trận’ với các trẻ khác. Khi lớn lên, Chiến ếp tục đi học, và nhờ sự khuyến khích của cha, anh vào được trường Y và tốt nghiệp bác sỹ khoa sản. Ban đầu anh nghĩ sản khoa là nghề của nữ, nhưng sau đó anh nhận ra rằng những bác sỹ sản khoa ‘có ếng’ đều là nam giới. Anh cho rằng sở dĩ như vậy là do nam giới có sức khỏe để làm đêm và thực hiện những ca phẫu thuật nhiều áp lực, kéo dài mà công việc này đòi hỏi. Thỉnh thoảng, bạn bè anh cũng trêu chọc anh về công việc của mình nhưng anh chỉ bỏ ngoài tai vì anh nói anh đã thành công. Câu chuyện cuộc đời của Chiến cho thấy những mối liên quan thú vị. Trong thời thơ ấu quan niệm về nam nh của anh được hình thành và củng cố bởi sự đối xử của cha mẹ anh, ưu ên và xem anh là người quan trọng hơn so với các anh chị em khác. Tuy nhiên, ở trường, Chiến phải cạnh tranh để giành thứ bậc với các bạn. Trải nghiệm của anh về việc bị bắt nạt cho thấy, về mặt này, quan niệm của Chiến về bản lĩnh đàn ông của anh không bằng bạn bè. Khi trưởng thành, quan điểm của anh về nam nh càng có liên hệ chặt chẽ hơn với việc có trình độ học vấn cao và thành đạt trong sự nghiệp. Ở giai đoạn này của cuộc đời, Chiến không mấy quan tâm đến việc một số bạn bè đánh giá thấp về bản lĩnh đàn ông trong anh qua việc anh lựa chọn nghề nghiệp. Anh coi sự thành đạt kinh tế là một bước ngoặt khẳng định sự thành đạt của một người đàn ông và điều đó giúp anh khẳng định được bản lĩnh đàn ông của mình với bạn bè. Diễn ến và sự thay đổi này cho thấy quan niệm về nam nh được hình thành như thế nào trong môi trường ảnh hưởng trực ếp lên cá nhân cùng với các mối quan hệ với những yếu tố khác, và qua đó thấy được quan niệm về nam nh thay đổi như thế nào theo thời gian. Cuối cùng, trong khuôn khổ công việc, quan xem công việc của nam giới là cao quí và nghi niệm về nam nh được quyết định bởi mức ngờ năng lực của phụ nữ trong những công việc độ thu nhập và giá trị xã hội gắn với công việc đòi hỏi nhiều sức lực hay độ phức tạp dẫn đến của nam giới so với công việc của nữ. Đây chính mô hình phân công lao động theo giới trong đó là những định kiến giới ít được chú ý, thường những công việc lương cao, cần kỹ năng gắn liền Page | 39
  38. với nam giới, và thể hiện sự đánh giá thấp về công việc mà cả trong khả năng làm chủ kinh tế giá trị công việc của phụ nữ ở Việt Nam. Những trong gia đình. Như ta sẽ thấy, đây có thể nói là quan niệm xã hội phổ biến và những quan niệm một sự cân bằng mong manh và những thách thức về nam nh liên quan quy định rằng nam giới hiện hữu đối với bản lĩnh đàn ông khi nó được gắn phải là lao động chính trong nhà cũng góp phần liền với vai trò trụ cột kinh tế trong gia đình. làm tăng những kỳ vọng rằng mức lương của nam giới phải cao hơn lương của phụ nữ. 4.4 Quan niệm của xã hội về nam nh Quan niệm về công việc của phụ nữ Những mối quan hệ của những người tham gia nghiên cứu trong cộng đồng ở giai đoạn trưởng Phỏng vấn lịch sử đời sống cho thấy một xu hướng thành đóng một vai trò quan trọng nữa trong thú vị về sự tham gia chính thức của phụ nữ vào việc hình thành và củng cố một số thái độ, quan làm ăn kinh tế trong giai đoạn chuyển đổi kinh niệm, lối sống liên quan đến nam nh. Mối quan tế xã hội sau chiến tranh (Barry, 1996). Những hệ với các thành viên khác trong cộng đồng và người trả lời phỏng vấn nhận thức được giá trị cách nhìn nhận của người khác đối với họ ảnh của nguồn thu nhập thêm của phụ nữ đối với sự hưởng khá lớn đến bản thân mỗi đối tượng thành đạt kinh tế của gia đình, nhưng vẫn phản phỏng vấn. Mối quan hệ vợ chồng là nơi cho đối sự tham gia của phụ nữ trong những lĩnh vực thấy rõ rệt nhất quan niệm về nam nh được được coi là của đàn ông. Chẳng hạn, Kim ủng hộ hình thành như thế nào bởi những nhân tố ở việc ngày nay có nhiều phụ nữ làm nghề khảm cấp độ cộng đồng. trai hơn, một công việc mà trước đây được cho là chỉ nam giới mới làm được. Chiến coi việc phụ Thể hiện bản lĩnh đàn ông với bạn bè, đồng nữ đi làm và kiếm ền nhiều hơn là một sự thay nghiệp đổi ch cực theo hướng bình đẳng giới. Về phần mình, Nam, hiện đang làm việc cho một tổ chức Các đối tượng tham gia nghiên cứu xem bạn phi chính phủ về các dự án khuyến khích sự tham bè, đồng nghiệp là nơi nhìn nhận quan trọng gia và nâng cao quyền năng cho phụ nữ, cho biết của cộng đồng về mình, nhất là trong vấn đề một phần anh n tưởng vào bình đẳng giới là nhờ uy quyền đối với người vợ. Nam giới thường sự thành công của những dự án này. nói chuyện với nhau về hậu quả của việc vợ có vai trò cao hơn chồng. Quan niệm về việc đàn Tuy nhiên, công việc của phụ nữ ở ngoài gia đình ông “sợ vợ”, tức là sợ và/hoặc bị vợ chi phối, vẫn thường bị coi là không quan trọng bằng vai trò thường hay được đàm ếu. Một số ví dụ về “sợ của phụ nữ ở nhà. Chiến cho rằng gia đình sẽ có vợ” được các đối tượng phỏng vấn minh hoạ nguy cơ đổ vỡ nếu người vợ chỉ tập trung vào sự như: đang ngồi nhậu phải về sớm, hoặc để cho nghiệp mà bỏ bê chức trách gia đình. Tương tự, vợ thể hiện thái độ coi thường hay không nghe Thu cho rằng phụ nữ chỉ nên đi làm khi đã hoàn lời trước mặt bạn bè. Những trường hợp như thành mọi nghĩa vụ ở nhà. Mặc dù phụ nữ được kỳ vậy thường bị những nam giới khác chế nhạo, vọng sẽ bảo đảm sự yên ấm trong gia đình nhưng hoặc lấy ra làm trò cười. Ngay cả những người đóng góp của họ vào sự thành công về kinh tế của trả lời phỏng vấn có xu hướng bình đẳng giới gia đình nhìn chung vẫn được hoan nghênh, với như Nam và Chiến, cũng nói đến việc bạn bè điều kiện điều đó không ảnh hưởng đến vị thế trụ trêu chọc nhau về chuyện “sợ vợ” cho thấy khả cột kinh tế của người chồng trong gia đình. Địch năng ảnh hưởng giữa nam giới với nam giới cho biết nếu phụ nữ kiếm nhiều ền hơn chồng thì trong việc củng cố quyền hành của đàn ông đối sẽ dẫn đến phụ nữ muốn chỉ huy gia đình và người với vợ là khá phổ biến. Việc gắn mác “sợ vợ” cho chồng sẽ cảm thấy “yếu thế”, và điều này dễ dẫn một người đàn ông nào đó càng làm cho những đến xung đột trong gia đình (chẳng hạn như dẫn người đàn ông khác củng cố thêm mối quan hệ đến bạo lực). Tương tự, Chiến cho rằng phụ nữ bất bình đẳng giới với vợ nhằm chứng tỏ vị thế kiếm nhiều ền hơn chồng thường gặp “rắc rối”. cao hơn của mình trong gia đình. Địch và Dũng Những mâu thuẫn này cho thấy nam giới khẳng cho biết những nh huống này có thể dẫn đến định bản lĩnh đàn ông của mình không chỉ dựa trên cãi vã hay gây gổ giữa chồng với vợ, và đôi khi Page | 40
  39. cũng là cách để nam giới “chứng tỏ” rằng mình cả những người khác) coi là yếu thế qua việc không “sợ vợ”. dung hòa mâu thuẫn giữa các mối quan hệ vợ chồng, với các quan niệm phổ biến về nam nh Những người tham gia nghiên cứu cho biết khi và tầm quan trọng của hình ảnh, uy n của họ ngồi với bạn bè, họ thường không trò chuyện chi trong xã hội (xem thêm Vũ Mạnh Lợi và các tác ết về các vấn đề trong mối quan hệ vợ chồng. giả khác, 1999). Điều này cũng cho thấy vị thế Chẳng hạn, Địch cho biết anh và bạn bè thường phụ thuộc của phụ nữ và con cái trong một môi không trò chuyện về những mối quan hệ với vợ trường xã hội mà ở đó giá trị của họ được đánh vì đó là “vấn đề riêng tư trong nhà”. Điều này cho giá thông qua việc nâng cao vị thế, hình ảnh thấy dù có việc gì xảy ra giữa hai vợ chồng, kể cả và quyền lực cho nam giới hơn là giá trị của bạo lực, thì họ cũng phải giữ kín (TCTK và WHO, chính bản thân họ. Nội dung này sẽ được phân 2010; Vũ Mạnh Lợi và các tác giả khác, 1999). Do ch thêm trong mối liên hệ với việc nam giới sử đó, những lời trêu chọc của bạn bè về việc nam dụng vũ lực. giới mất quyền chi phối trong quan hệ vợ chồng cho thấy mức độ tác động của giao ếp với bạn 5. Nam nh và mối quan hệ với bạo lực bè đối với những lối sống, quan niệm về vai trò của nam giới trong mối quan hệ. Phần trên đã nêu chi ết về quá trình hình thành của các quan niệm, thái độ, hành vi liên quan Xác định giá trị của nam giới thông qua đến nam nh trong lịch sử đời sống của những cuộc sống gia đình người tham gia nghiên cứu. Phần này sẽ ếp tục phân ch sâu về quan niệm về nam nh trên Một quan niệm khác nữa về nam nh được các địa bàn nghiên cứu nhằm đánh giá xem những nam giới trả lời phỏng vấn ở Huế nói đến là nam quan niệm về nam nh đã xác định ở trên có liên giới thường bị người khác đánh giá thông qua hệ với lối sống bạo lực, cũng như trong một số người vợ, và một phần thông qua con cái của trường hợp là phi bạo lực, của nam giới như thế người đó (Schuler, 2006: 391). Đặc biệt, những nào. Một số dạng bạo lực và kinh nghiệm sống người vợ hiền, thành đạt được cho là có vai trò của nam giới có đóng góp gì cho việc khẳng định quan trọng trong việc nâng cao hình ảnh, uy n hay bác bỏ mối liên hệ giữa quan niệm về bản của người chồng (và cả gia đình) trong mắt người lĩnh đàn ông và hành vi bạo lực sẽ được m hiểu khác. Theo lời Địch, “nhiều khi ở nhà, người ta và phân ch trong phần này. không chỉ nhìn vào cả vợ lẫn chồng, mà nhìn nhiều hơn vào người vợ để đánh giá cả gia đình”. Khi nói Mối liên hệ giữa quan niệm về nam tính và bạo câu này, anh muốn nói đến hình ảnh của nam giới lực ở trên địa bàn nghiên cứu thực ra phổ biến và cho rằng chuyện đánh vợ phải được giữ kín hơn so với ý kiến của những người tham gia vì nó cho thấy “điểm yếu” của người chồng; nói nghiên cứu về nam tính bá quyền. Tuy phần cách khác, người vợ phải làm điều gì không phải lớn người trả lời phỏng vấn ở Huế không liên thì mới bị đánh, và đây là điều mà “người đàn ông hệ cụ thể quan niệm nam tính với sức mạnh không muốn cho thiên hạ thấy”. Tương tự, Chiến cơ bắp (khác với Phú Xuyên khi hầu như tất cũng cho rằng một trong những lý do khiến anh cả nam giới tham gia nghiên cứu đều gắn bản khuyến khích vợ đi học, đi làm là vì điều đó làm lĩnh đàn ông với sức mạnh cơ bắp hay bạo lực, nổi hình ảnh của mình “Ở Huế, người ta không hoặc cả hai), nhưng các phỏng vấn cho thấy hỏi bạn giàu hay không giàu mà hỏi chuyện học ngay cả ở Huế cũng như ở Phú Xuyên, quan hành của con cái, công việc của vợ”. Thu cũng cho niệm về nam tính thường gắn với những quan biết nam giới được đánh giá thông qua con cái, niệm về sự chi phối, quyền hành, sức lực. Bạo khi nói con cái ngoan, thành đạt thì “một người lực có vai trò đáng kể trong việc duy trì mối [đàn ông] sẽ được đánh giá cao cho dù có xấu liên hệ này. Tuy nhiên, việc nam giới sử dụng đến đâu đi nữa”. bạo lực cũng bị kiềm chế bởi các kỳ vọng xã hội xung quanh quan niệm phi bạo lực về nam Những ý kiến trên cho thấy nam giới đang cố tính ở Việt Nam. gắng khắc phục (quá mức) những gì mà họ (và Page | 41