Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới 2011-2020

pdf 96 trang ngocly 20
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới 2011-2020", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfdan_so_va_phat_trien_tai_viet_nam_huong_toi_mot_chien_luoc_m.pdf

Nội dung text: Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới 2011-2020

  1. Hà Nội, Tháng 12 - 2009
  2. UNFPA, Quỹ Dân số Liên hợp quốc, là một tổ chức phát triển quốc tế đang hoạt động nhằm thúc đẩy quyền cho mỗi phụ nữ, nam giới và trẻ em đều có được một cuộc sống dồi dào sức khoẻ và có cơ hội bình đẳng. UNFPA đang hỗ trợ các nước trong việc sử dụng số liệu dân số để xây dựng chính sách và chương trình nhằm xóa đói giảm nghèo và đảm bảo rằng mọi phụ nữ đều có thai theo ý muốn, trẻ em được sinh ra an toàn, thanh thiếu niên đều không mắc phải HIV/AIDS, trẻ em gái cũng như phụ nữ đều được tôn trọng và đối xử bình đẳng. Các quan điểm được trình bày trong báo cáo này là của nghiên cứu viên và không nhất thiết phản ánh quan điểm và chính sách của UNFPA, của các Tổ chức Liên Hợp Quốc và của các tổ chức thành viên khác. 2 Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020
  3. Lời cảm ơn Nhóm tác giả xin cảm ơn những người đã cung cấp thông tin và chia sẻ kinh nghiệm chuyên môn trong quá trình chuẩn bị báo cáo này. Chúng tôi đặc biệt xin cảm ơn Ts. Nguyễn Bá Thủy - Thứ trưởng Bộ Y tế, Ông Nguyễn Văn Tân - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình, Ông Trần Văn Chiến - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình, Ông Đinh Công Thoan và các đồng nghiệp khác công tác tại Tổng cục DS-KHHGĐ, Ông Đào Văn Dũng - Ban Tuyên Giáo TW; Ông Nguyễn Văn Tiên - Ủy ban Các vấn đề xã hội, Quốc hội; Ông Nguyễn Văn Phái – nguyên cán bộ Tổng Cục Thống Kê, Bà Nguyễn Thanh Hương - Trường Đại học Y tế công cộng Hà Nội, Ông Trần Tiến Đức – nguyên Trưởng Đại diện của Future Group International tại Việt Nam, TS. Đặng Nguyên Anh và các đồng nghiệp tại Viện Khoa học xã hội, Jane Hughes và Vũ Quý Nhân - Tổ chức Hội đồng Dân số. Xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới Ông Ian Howie, nguyên Trưởng Đại diện UNFPA tại Việt Nam và ông Bruce Campbell - Trưởng Đại diện UNFPA tại Việt Nam, Bà Urmila Singh, Phó Đại diện UNFPA tại Việt Nam, bà Trần Thị Vân, Trợ lý Trưởng Đại diện và ông Bùi Đại Thụ cùng các đồng nghiệp khác tại UNFPA. Chúng tôi cũng xin cảm ơn Peter McDonald và Terry Hull tại Đại học quốc gia Ôxtrâylia. Mặc dù báo cáo này được thực hiện theo yêu cầu của UNFPA, song những quan điểm trình bày trong báo cáo, nếu không có ghi chú đặc biệt, là quan điểm của nhóm tác giả và không nhất thiết có sự nhất trí của UNFPA hay bất kỳ tổ chức nào có liên quan. Adrian C. Hayes Nguyễn Đình Cử Vũ Mạnh Lợi Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020 3
  4. Lời nói đầu Dân số và Sức khỏe sinh sản luôn là những vấn đề chính sách được ưu tiên của Việt Nam trong những thập kỷ qua. Chiến lược Dân số Việt Nam và Chiến lược quốc gia về Sức khỏe sinh sản đã được xây dựng trong giai đoạn 2001-2010 và là bộ phận không thể tách rời của Chiến lược Phát triển Kinh tế-Xã hội của đất nước trong cùng thời kỳ. Ủy ban quốc gia về Dân số, Gia đình và Trẻ em được Chính phủ giao nhiệm vụ là cơ quan chủ trì thực hiện Chiến lược Dân số Việt Nam. Bộ Y tế được giao chủ trì thực hiện Chiến lược quốc gia về Sức khỏe sinh sản. Tháng 4 năm 2009, Bộ Chính trị đã chỉ đạo tại Kết luận số 44-KL/TW cụ thể là: “Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo tổng kết việc thực hiện Chiến lược Dân số, Chiến lược Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001-2010, xây dựng Chiến lược Dân số - Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020 làm cơ sở cho việc hoạch định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ”. Chấp hành ý kiến chỉ đạo này, tháng 5 năm 2009, Bộ Y tế đã giao Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình (trước đây là Ủy ban quốc gia về Dân số, Gia đình và Trẻ em) làm đầu mối phối hợp với các vụ, cục và đơn vị khác của Bộ và các cơ quan, tổ chức ngoài Bộ tiến hành đánh giá việc thực hiện hai chiến lược nêu trên và xây dựng Chiến lược Dân số - Sức khỏe sinh sản cho giai đoạn 2011-2020. Việc đánh giá hai chiến lược hiện đang được hai nhóm chuyên gia độc lập tiến hành nhằm xem xét mức độ thành công của quá trình thực hiện, cũng như mức độ đạt được các mục tiêu mà chiến lược đề ra, đồng thời rút ra các bài học kinh nghiệm cho quá trình xây dựng Chiến lược mới. Song song với việc đánh giá, Bộ Y tế cũng đang xây dựng Chiến lược Dân số - Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020 để trình Chính phủ phê duyệt vào tháng 3 năm 2010. Quỹ Dân số Liên Hợp quốc (UNFPA) và các tổ chức Liên Hợp quốc khác rất hân hạnh được cộng tác chặt chẽ và có những hỗ trợ kỹ thuật cho Bộ Y tế trong quá trình xây dựng Chiến lược này. Báo cáo mang tên “Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011– 2020” được thực hiện với mục đích xem xét và phân tích toàn diện những vấn đề quan trọng về dân số và phát triển cần đặt ra cho Việt Nam trong những năm tới. Trên cơ sở đó, báo cáo đề xuất một số khuyến nghị đối với Bộ Y tế trong quá trình xây dựng chiến lược mới. “Sáng kiến Một Liên hợp quốc” tại Việt Nam được khởi động từ đầu năm 2006 và là kết quả của những thảo luận trong nước nhằm tăng cường tính gắn kết, tính hiệu quả và hiệu suất của Liên hợp quốc tại Việt Nam. Các cơ quan Liên hợp quốc và một số nhà tài trợ hiện đang hợp tác thực hiện một nghiên cứu với tên gọi “Phân tích chung quốc gia”. Một trong những mục tiêu chính của phân tích này là để tìm hiểu sâu hơn các thách thức ảnh hưởng tới sự phát triển, trên cơ sở những hiểu biết chung về tình hình phát triển của Việt Nam theo cách tiếp cận dựa trên quyền. Kết quả của phân tích này sẽ là cơ sở xây dựng khuôn khổ hợp tác giữa Liên hợp quốc và Chính phủ Việt Nam trong những năm tới. Hơn thế nữa, phân tích sẽ giúp cung cấp các dữ liệu cập nhật và xác thực phục vụ quá trình xây dựng Chiến lược và Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 2011-2015. UNFPA xin chân thành cảm ơn Ts. Adrian C. Hayes (Đại học quốc gia Ôxtrâylia) và hai thành viên khác của nhóm tác giả là Ts. Nguyễn Đình Cử (Đại học Kinh tế quốc dân) và Ts. Vũ Mạnh Lợi (Viện Xã hội học Việt Nam) đã hoàn thành báo cáo này. UNFPA cảm ơn sự hợp tác của các đồng nghiệp công tác tại Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình, Ban Tuyên giáo Trung ương, Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội, Tổng cục Thống kê, Đại học Y tế công cộng, Viện Xã hội học và các đồng nghiệp khác thuộc các tổ chức quốc tế và trong nước. 4 Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020
  5. UNFPA xin hân hạnh giới thiệu báo cáo này với các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý, cán bộ nghiên cứu, các nhà chuyên môn trong nước và quốc tế quan tâm đến Dân số và Sức khỏe sinh sản tại Việt Nam. Chúng tôi hy vọng báo cáo này sẽ cung cấp những bằng chứng hữu ích và là cơ sở cho quá trình xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội nhằm đảm bảo khả năng tiếp cận các gói dịch vụ cơ bản về dân số và sức khỏe sinh sản của người dân. Bruce Campbell Trưởng Đại diện Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020 5
  6. Các chữ viết tắt CBR Tỷ suất sinh thô CDR Tỷ suất chết thô CMWRA Phụ nữ kết hôn đang ở độ tuổi sinh đẻ CPR Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai DHS Điều tra nhân khẩu học và y tế GDP Tổng sản phẩm quốc nội GOPFP Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình (thuộc Bộ Y tế) GSO Tổng cục Thống kê (thuộc Bộ kế hoạch và Đầu tư) HDI Chỉ số phát triển con người HVP Dự báo dân số của Liên hợp quốc với ước tính ở mức sinh cao ICDS Điều tra nhân khẩu giữa hai cuộc tổng điều tra dân số ICPD Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển (xem UN 1994) ILO Tổ chức Lao động quốc tế IMR Tỷ suất chết sơ sinh LVP Dự báo dân số của Liên hợp quốc với ước tính ở mức sinh thấp MDG Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ MICS Điều tra đa biến MOH Bộ Y tế MMR Tỷ suất chết mẹ MOLISA Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội MVR Dự báo dân số của Liên hợp quốc với ước tính ở mức sinh trung bình NCPFC Ủy ban quốc gia về Dân số, Gia đình và Trẻ em NCPFP Ủy ban quốc gia về Dân số và Kế hoạch hóa gia đình NIN Viện Dinh dưỡng quốc gia PAIS Điều tra chỉ số Dân số và AIDS PCFPS Điều tra biến động dân số và KHHGĐ 6 Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020
  7. P/F Parity-fertility ratio (sử dụng trong một số thuật toán ước tính gián tiếp về mức sinh) PHC Tổng điều tra dân số và nhà ở PPP Ngang giá sức mua SRB Tỷ số giới tính khi sinh TAR Tổng tỷ lệ nạo phá thai TFR Tổng tỷ suất sinh UN Liên hợp quốc UNDP Quỹ Phát triển Liên hợp quốc UNFPA Quỹ Dân số Liên hợp quốc UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc U5MR Tỷ suất chết ở trẻ em dưới 5 tuổi VHLSS Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam VMS Nghiên cứu Di dân Việt Nam (2004) WHO Tổ chức Y tế Thế giới WRA Phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ (15-49 tuổi) ZPG Tăng trưởng dân số bằng không Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020 7
  8. Mục lục Lời cảm ơn 3 Lời nói đầu 4 Các chữ viết tắt 6 Danh mục bảng 10 Danh mục biểu đồ 11 1. Giới thiệu 12 1.1 Mục tiêu 12 1.2 Chính sách dân số 12 1.3 Nguồn dữ liệu và phương pháp luận 13 1.4 Cấu trúc báo cáo 14 Phần I Những xu hướng biến động dân số hiện nay và tác động tới sự phát triển 15 2. Quy mô và tăng trưởng dân số 16 2.1 Các chỉ số cơ bản và chuyển đổi nhân khẩu học 16 2.2 Tăng trưởng dân số, Cơ cấu tuổi và Đà tăng dân số 17 2.3 Quy mô và mật độ dân số 19 2.4 Biến động dân số: 2001-2010 đến 2011-2020 20 3. Giảm tử vong và biến động về dịch tễ học 22 3.1 Tử vong giảm trong toàn quốc 22 3.2 Những khác biệt giữa các khu vực 24 3.3 Những thay đổi về bệnh tật và nguyên nhân tử vong 25 3.4 Dinh dưỡng 26 3.5 Tử vong ở bà mẹ 26 3.6 HIV/AIDS 26 3.7 Nhìn về phía trước 28 4. Giảm mức sinh và chuyển đổi nhân khẩu học 29 4.1 Giảm mức sinh trong toàn quốc và khác biệt giữa các vùng 29 4.2 Các nguyên nhân kinh tế-xã hội của giảm mức sinh 31 4.3 Các yếu tố ảnh hưởng 32 4.4 Sử dụng các biện pháp tránh thai 34 4.5 Nạo phá thai 36 4.6 Tỷ số giới tính khi sinh 38 4.7 Những xu hướng hiện nay của tỷ suất tăng dân số tự nhiên 38 5. Di cư và đô thị hóa 41 5.1 Những dòng di cư chủ yếu ở Việt Nam 41 5.2 Đô thị hóa nhanh chóng 42 8 Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020
  9. 5.3 Những hệ quả của đô thị hóa nhanh chóng 43 5.4 Tăng trưởng dân số và di cư trong tương lai 44 6. Biến động về cơ cấu dân số 46 6.1 Biến động về cơ cấu tuổi và giới tính 46 6.2 Giáo dục và việc làm 47 6.3 Nghèo đói 48 6.4 Dân tộc thiểu số 48 6.5 Phát triển con người và chất lượng dân số 50 7. Phát triển kinh tế - xã hội và “Cơ cấu dân số vàng” 51 7.1 Cơ cấu dân số vàng 51 7.2 Hiện thực hóa cơ cấu dân số vàng 52 7.3 Ý nghĩa đối với sự phát triển bền vững và môi trường 52 PHẦN II Đánh giá sơ bộ Chiến lược Dân số 2001-2010 55 8. Tóm tắt nội dung Chiến lược và Pháp lệnh 56 8.1 Chiến lược Dân số 2001-2010: Mục tiêu và Giải pháp 56 8.2 Các hoạt động can thiệp cho mỗi giải pháp 54 8.3 Pháp lệnh Dân số năm 2003 59 9. Tiến độ thực hiện các mục tiêu 61 9.1 Tiến độ thực hiện các mục tiêu chính 61 9.2 Tiến độ thực hiện theo các chỉ số chủ yếu 62 9.3 Bài học kinh nghiệm 66 PHẦN III Hướng tới một chiến lược mới 2011-2020 69 10. Các vấn đề cần giải quyết trong xây dựng chính sách 70 10.1 Các nguyên tắc cơ bản và ICPD 70 10.2 Xác định vấn đề 70 10.3 Xây dựng chính sách 71 10.4 Làm thế nào để duy trì mức sinh thay thế? 71 10.5 Làm thế nào để thích ứng với sự tiếp tục gia tăng dân số? 73 10.6 Làm thế nào để tận dụng cơ cấu dân số vàng? 74 10.7 Làm thế nào để kiểm soát quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng? 75 10.8 Làm thế nào để cải thiện sức khỏe sinh sản? 75 10.9 Làm thế nào để giải quyết mất cân bằng về giới tính khi sinh? 76 10.10 Làm thế nào để đối phó với vấn đề già hóa 77 Tài liệu tham khảo 79 Phụ lục 85 Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020 9
  10. Danh mục bảng Bảng 1. Các chỉ số dân số chủ yếu giai đoạn 2000-2020, theo dự báo của Liên hợp quốc 21 Bảng 2. Ước tính IMR và U5MR từ nhiều nguồn, Việt Nam, 1982-2006 23 Bảng 3. Tỷ lệ suy dinh dưỡng độ I ở trẻ em dưới 5 tuổi, theo nhóm tuổi và các đặc điểm cơ bản, Việt Nam, 2006 27 Bảng 4. Ước tính tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi và tổng tỷ suất sinh (TFR), từ nhiều nguồn, Việt Nam, 1987-2005 30 Bảng 5. TFR theo đặc điểm cơ bản, dữ liệu Điều tra DHS 2002 32 Bảng 6. Phân bổ tỷ lệ phần trăm phụ nữ theo tình trạng hôn nhân và nhóm tuổi, 2002 33 Bảng 7. CPR trong số phụ nữ đã kết hôn theo độ tuổi và đặc điểm cơ bản, 2002 35 Bảng 8. CPR, các biện pháp tránh thai hiện đại và truyền thống, 2002-2007 37 Bảng 9. Tỷ lệ nạo phá thai, Việt Nam, dữ liệu năm 2002 37 Bảng 10. CBR, CDR và tỷ suất tăng dân số tự nhiên, 1998 và 2002-2006 39 Bảng 11. Ước tính các chỉ số dân số cơ bản của Việt Nam, dữ liệu 2006 40 Bảng 12. Phần trăm dân số thành thị, theo khu vực, Việt Nam, 1979, 1989, 1999, 2009 42 Bảng 13. Phân bố tuổi, Việt Nam, 1979, 1989, 1999 và 2007 46 Bảng 14. Tỷ suất giới tính theo độ tuổi, Việt Nam, 2006 47 Bảng 15. Số năm học được hoàn thành bởi nhóm tuổi 20-24, Việt Nam, 2006 48 Bảng 16. Tỷ lệ nghèo chung, theo khu vực, Việt Nam, 1998, 2002, 2004 và 2006 49 Bảng 17. % dân số theo 10 nhóm dân tộc lớn nhất 1979, 1989, 1999 49 Bảng 18. Các hoạt động can thiệp đề xuất cho mỗi giải pháp trong Chiến lược dân số 2001-2010 57 Bảng 19. Chỉ tiêu đề ra và giá trị thực tế đạt được của các chỉ số chủ yếu Chiến lược dân số 2001-2010 63 10 Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020
  11. Danh mục biểu đồ Biểu đồ 1. Tỷ suất sinh và chết thô (trên 1.000 dân), và tỷ lệ tăng tự nhiên (%/năm) tại Việt Nam, 1950-2005 16 Biểu đồ 2a. Cơ cấu tuổi, giới tính, 1980 18 Biểu đồ 2b. Cơ cấu tuổi, giới tính, 1990 18 Biểu đồ 2c. Cơ cấu tuổi, giới tính, 2000 18 Biểu đồ 3. Tăng trưởng dân số từ năm 1950 và các dự báo của Liên hợp quốc đến năm 2050, Việt Nam 20 Biểu đồ 4. Các xu hướng IMR theo các cuộc điều tra PHC & PCFPS và DHS, 1984-2006 25 Biểu đồ 5. Những khác biệt theo khu vực về IMR, theo dữ liệu PCFPS, 2002-2005 25 Biểu đồ 6. Nguyên nhân chết theo báo cáo của các cơ sở y tế công lập trong các năm 1978-2007 25 Biểu đồ 7. Các xu hướng của TFR theo Tổng Điều tra và Điều tra ICDS, PCFPS và DHS, 1987-2006 30 Biểu đồ 8. Tỷ suất sinh đặc trưng theo độ tuổi, Việt Nam, 1988, 1998, 2006 31 Biểu đồ 9. Những khác biệt theo khu vực về TFR theo Điều tra PCFPS, 2000-2005 31 Biểu đồ 10. Phần trăm phụ nữ đã kết hôn, 1989-2006 34 Biểu đồ 11. Dân số đô thị và nông thôn, ước tính và dự báo, Việt Nam, 1950-2050 43 Biểu đồ 12. Tỷ số người ở độ tuổi lao động đối với người ở tuổi phụ thuộc, Việt Nam, ước tính và dự báo 1950-2050 52 Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020 11
  12. Chương 1: Giới thiệu 1.1 Mục tiêu Chính phủ Việt Nam đang bắt đầu quá trình xây dựng Chiến lược mới về Dân số và Sức khỏe sinh sản cho 10 năm tới, 2011-2020. Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) đã cam kết hỗ trợ kỹ thuật cho Chính phủ trong quá trình xây dựng chiến lược. Văn phòng UNFPA đã mời nhóm chuyên gia quốc tế và trong nước xây dựng báo cáo này nhằm xem xét và phân tích những vấn đề dân số và phát triển mà Việt Nam đang đối mặt và đưa ra một số khuyến nghị từ đó giúp Văn phòng UNFPA cung cấp hỗ trợ kỹ thuật tốt nhất cho [hoặc thích ứng], một cách trực tiếp hoặc Chính phủ trong quá trình xây dựng chiến gián tiếp đến các biến động về nhân khẩu lược mới. Bên cạnh đó, Báo cáo này cũng học” (Demeny 2003: 752)1. Tư tưởng căn sẽ hữu ích đối với các độc giả khác, đặc biệt bản ở đây là các nhà hoạch định chính sách là các nhà xây dựng chính sách và chương sẽ tập trung vào việc tác động vào những trình của Chính phủ và những ai quan tâm nguyên nhân gốc rễ ảnh hưởng tới những đến chính sách dân số tại Việt Nam. biến động về nhân khẩu học, chứ không trực tiếp can thiệp vào các biến động này. “Chính Báo cáo có ba mục tiêu cụ thể: sách dân số cần tác động vào các thể chế và cơ chế khuyến khích đối với các cá nhân • Xem xét các xu hướng dân số hiện nay tại nhằm hướng họ thực hiện những hành vi phù Việt Nam và đánh giá vai trò của các xu hợp với lợi ích chung” (Demeny 2003: 754). hướng này tới sự phát triển của quốc gia; Một sự thay đổi trong chính sách có thể là • Rà soát các chính sách dân số hiện hành bất cứ tác động nào, ví dụ như từ việc Chính tại Việt Nam và đánh giá mức độ đạt được phủ quyết định giải thể Ủy ban Dân số, Gia các mục tiêu; đình, Trẻ em và thành lập Tổng cục Dân số - • Đề xuất một số khuyến nghị về việc điều Kế hoạch hóa gia đình, tới việc thay đổi cách chỉnh các chính sách hiện hành và áp thức thống kê số ca sinh, chết hàng tháng dụng chính sách mới nhằm đáp ứng những tại địa bàn xã. Chính sách có thể mang tính nhu cầu chính sách của giai đoạn 2011 - chính thức và thể hiện thành văn bản (Ví dụ: 2020. luật, nghị định) hoặc mang tính không chính Ba mục tiêu này sẽ lần lượt được đề cập thức và bất thành văn (Ví dụ: khi “tất cả trong Phần I, II và III của báo cáo. mọi người đều biết” cấp trên muốn gì và mỗi người tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp). Báo cáo này (đặc biệt là ở Phần 1.2 Chính sách dân số Thuật ngữ “chính sách” và “chiến lược” được 1 Báo cáo bổ sung cụm từ “thích ứng” để mô tả trường sử dụng trong các cuộc thảo luận chính sách hợp nhà hoạch định chính sách không được phép tác động đến một biến động nhân khẩu nào đó nhưng lại với nhiều nội hàm khác nhau, “chính sách cần có một hoạt động can thiệp chính sách cụ thể để dân số” cũng được hiểu theo nhiều cách khác đảm bảo xã hội thích ứng một cách tốt nhất với thay đổi đó. Nói cách khác, chính sách dân số (theo quan nhau. Định nghĩa sử dụng trong Báo cáo gần điểm của chuyên gia) bao hàm không chỉ việc điều với định nghĩa của Demeny: “Chính sách dân chỉnh những điều kiện thể chế nhằm tác động đến các số có thể định nghĩa là những điều kiện về quá trình nhân khẩu học mà cả việc điều chỉnh những điều kiện thể chế nhằm thích ứng tốt hơn với các quá mặt thể chế và/hoặc các chương trình cụ thể trình nhân khẩu học này. Ở phần sau của báo cáo, sẽ được xây dựng hoặc điều chỉnh một cách cẩn đánh giá điều này quan trọng đối với Việt Nam như thế nào trong việc đối phó với sự gia tăng dân số do “đà trọng, thông qua đó chính phủ có tác động tăng dân số” (chứ không phải do “mức sinh cao”). 12 Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020
  13. II) quan tâm nhiều nhất đến các chính sách các chương tiếp theo, báo cáo đã lựa chọn mang tính chính thức của Chính phủ, đồng những tập hợp dữ liệu tại Việt Nam được xem thời muốn nhấn mạnh rằng hiệu quả của là tin cậy nhất hiện có và chủ yếu dựa vào kết những chính sách phụ thuộc vào việc chúng quả các cuộc điều tra do Tổng Cục Thống Kê được “cụ thể hóa” bằng các chính sách thích (TCTK) thực hiện. Vì thế sẽ có sự chênh lệch hợp như thế nào ở cấp địa phương2. không đáng kể giữa các số liệu thống kê được dẫn chiếu trong các phần khác nhau của báo “Chiến lược” thường bao gồm (i) một tập hợp cáo do tiếp cận các nguồn khác nhau. các chính sách nhằm đạt được một mục đích chung (Ví dụ: ổn định mức sinh ở mức sinh Các nguồn dữ liệu thống kê về nhân khẩu thay thế, hay bảo vệ quyền của dân nhập cư học chủ yếu ở Việt Nam bao gồm tổng điều mới tại khu vực đô thị), và (ii) những quy tra dân số, điều tra biến động dân số và kế định về đối tượng thực hiện, thời gian và hoạch hóa gia đình hàng năm và các cuộc cách thức thực hiện những chính sách đó. điều tra chọn mẫu làm căn cứ được thực hiện thường xuyên (như Điều tra nhân khẩu và Y Mục đích tổng quát của một Chiến lược Dân tế và Điều tra đa biến). Các dữ liệu thống kê số và Phát triển là “hài hòa hóa” vấn đề dân do Bộ Y tế (và các bộ khác) thu thập thường số với sự phát triển của đất nước. Có nhiều xuyên cung cấp thông tin quý báu về các lý do cần thiết và có nhiều cách để lồng ghép hoạt động can thiệp về mặt chính sách song vấn đề dân số vào quá trình xây dựng kế nhìn chung chỉ sử dụng được ở mức độ hạn hoạch phát triển. Công tác lập kế hoạch, chế để đánh giá tác động của những hoạt muốn đảm bảo tính khả thi, cần phải thích động can thiệp đó đối với các xu hướng biến ứng hoặc tác động (khi thích hợp) lên quá động về dân số. Phần lớn nội dung báo cáo trình biến đổi nhân khẩu học. Thêm vào đó, được hoàn thành trong khoảng thời gian từ các đặc tính dân số của một quốc gia còn mô cuối năm 2008 đến đầu năm 2009, trước khi tả một cách cơ bản về những nguồn nhân Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở được tiến lực có thể huy động được cho các mục đích hành vào tháng 4 năm 2009. Tuy nhiên, phát triển cũng như cung cấp thông tin căn một số kết quả ban đầu của cuộc Tổng Điều bản về đối tượng hưởng lợi của các kế hoạch tra được công bố trong tháng 8 năm 2009 phát triển. Do vậy, dân số vừa là phương đã được đưa vào trong báo cáo khi báo cáo tiện, vừa là mục đích của sự phát triển. được chỉnh sửa lần cuối cùng vào tháng 11 năm 2009. 1.3 Nguồn dữ liệu và Ngoài ra, còn có một số dữ liệu được chọn phương pháp luận lọc từ các báo cáo hoặc các nghiên cứu đã được xuất bản. Thông tin cũng được thu Các dữ liệu thống kê sử dụng trong báo cáo thập từ các cuộc thảo luận và trao đổi với này được lấy từ một số nguồn. Để thực hiện các chuyên gia, quan chức chính phủ và các các ước tính và dự báo dân số trình bày ở đối tượng khác. Các cán bộ của UNFPA tại Chương 2, báo cáo sử dụng tài liệu Triển vọng Hà Nội đã đóng góp nhiều ý tưởng và gợi dân số thế giới 2006 của Vụ Dân số Liên hợp mở cũng như tạo điều kiện hỗ trợ hết sức quốc (Vụ Dân số của Liên hợp quốc 2007)3. quan trọng4. Đối với những nội dung cụ thể đề cập trong Mọi đánh giá về các xu hướng dân số đều đòi hỏi phải dẫn chiếu tới một số tiêu chuẩn 2 Xem thêm phần giới thiệu tổng quan rất toàn diện của mang tính quy tắc, bất kể những tiêu chuẩn Colebatch (2002) về khái niệm “chính sách” và cách thức xây dựng và kiểm chứng chính sách trong các hệ đó được thể hiện rõ ràng hay không. Nguồn thống chính trị hiện đại. trích dẫn các tiêu chuẩn được sử dụng trong 3 Các “bảng tổng hợp” cơ bản về Việt Nam được trích báo cáo này là Chương trình hành động được dẫn tại phụ lục A. Vụ Dân số của Liên hợp quốc sử dụng dữ liệu dân số do các cơ quan thống kê quốc đưa ra tại hội nghị quốc tế về Dân số và Phát gia như TCTK cung cấp nhưng có đánh giá riêng về tính đầy đủ, chính xác và nhất quán của các dữ liệu đó và điều chỉnh nếu cần thiết (Xem thêm chi tiết tại UN 2007, vol. III.) Thuận lợi của việc sử dụng bộ dữ 4 Báo cáo này là kết quả làm việc của một nhóm chuyên liệu của Liên hợp quốc là ở chỗ dữ liệu được cụ thể gia. Nguyễn Đình Cử và Vũ Mạnh Lợi là các chuyên gia hóa theo thời gian một cách hoàn chỉnh và nhất quán về dân số và chính sách dân số của Việt Nam. Trưởng (theo phép nội suy và ngoại suy) và được trình bày nhóm chuyên gia Adrian Hayes, có nhiều kinh nghiệm theo một biểu mẫu thống nhất cho phép so sánh giữa làm việc về các vấn đề chính sách dân số và phát triển các quốc gia. tại Đông Á và Đông Nam Á. Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020 13
  14. triển Cairo, 5-13/9/2004 (UN 1994). Chương nghèo đói ). Cuối cùng Chương 7 phân tích trình này được thông qua bằng một tuyên vấn đề “cơ cấu dân số vàng” của Việt Nam bố tại Hội nghị Cairo và Chính phủ Việt Nam (là kết quả của sự thay đổi về các tỷ số phụ (cùng với khoảng 170 quốc gia khác) tham thuộc theo tuổi) và cơ hội duy nhất (song gia ký kết. Điều đó không có nghĩa là Việt cũng mang tính giới hạn về mặt thời gian) Nam (hay bất kỳ quốc gia nào) có nghĩa vụ cho việc tăng cường đầu tư phát triển nguồn phải công nhận tất cả các nguyên tắc hay nhân lực, từ đó tiếp tục cải thiện cơ cấu dân phải thực hiện tất cả các khuyến nghị của số và “chất lượng dân số”. Chương trình. Song Chương trình hành động ICPD cho cho đến nay vẫn là “văn kiện đồng Phần I khi đánh giá các xu hướng dân số thuận” quốc tế quan trọng nhất đối với những hiện nay vấn đề giới không cần tách ra thành ai có liên quan đến các chính sách và chương một chương riêng. Mọi quá trình biến động trình dân số và phát triển. nhân khẩu học đều liên quan mật thiết đến vấn đề giới. Để đảm bảo công bằng giới thì điều hết sức quan trọng là phải hiểu được 1.4 Cấu trúc báo cáo chính xác mối liên quan đó diễn ra như thế nào và tại sao (Presser và Sen 2000). Cách Báo cáo được chia thành ba phần tương ứng tiếp cận trong báo cáo này là đề cập các vấn với ba mục tiêu chủ yếu. Phần I, đánh giá đề giới ở bất cứ nội dung nào trong phân tích vai trò của các xu hướng dân số hiện nay các quá trình dân số và phát triển (tử vong, trong sự phát triển của quốc gia. Chương 2, sức khỏe, mức sinh, di cư ). đề cập tới các thống kê nhân khẩu học cơ bản về quy mô và tăng trưởng dân số. Việt Phần II tập trung điểm lại các chính sách dân Nam là nước có quy mô và mức tăng dân số số hiện hành tại Việt Nam, đồng thời đánh giá lớn (theo các tiêu chuẩn quốc tế) với mật độ tính hiệu quả của những chính sách đó mà dân số đông. Nhìn chung, những thực tế này trọng tâm là Chiến lược Dân số 2001-2010, đều được các bên liên quan hiểu một cách và Pháp lệnh Dân số ban hành năm 2003 rộng rãi là có tầm quan trọng đối với triển được nêu trong Chương 8. Chương 9, đánh vọng phát triển của một quốc gia, song các giá tiến độ thực hiện so với các mục tiêu đề cơ chế tác động cụ thể lại hiếm khi được mô ra của Chiến lược và trình bày một số bài học tả chi tiết. Chương 3 và 4, xem xét các quá thu được (đặc biệt liên quan đến nội dung trình biến động về sinh - tử, là các yếu tố giám sát và đánh giá). ảnh hưởng tới sự gia tăng dân số của một quốc gia. Chương 5, tập trung vào vấn đề Phần III tiếp nối những phân tích đã trình bày di cư, đặc biệt là tỷ lệ gia tăng về di cư từ ở Phần I và II. Chương 10 đi vào phân tích sơ nông thôn ra thành thị. Chương 6, xem xét bộ những vấn đề chủ yếu về chính sách cần đến những chuyển đổi về cơ cấu dân số (độ giải quyết trong Chiến lược mới về Dân số và tuổi, giới tính, giáo dục, lực lượng lao động, Phát triển giai đoạn 2011 - 2020. 14 Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020
  15. PHẦN I NHỮNG XU HƯỚNG BIẾN ĐỘNG DÂN SỐ HIỆN NAY VÀ TÁC ĐỘNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020 15
  16. Chương 2: Quy mô và tăng trưởng dân số là tăng trưởng dân số cao trong giai đoạn chuyển đổi nhân khẩu học6. Biểu đồ 1. Tỷ suất sinh và chết thô (trên 1.000 dân), và tỷ lệ tăng tự nhiên (%/năm) tại Việt Nam, 1950-2005 Mục tiêu của Phần I là xem xét những xu Tỷ lệ tăng tự nhiên hướng chuyển đổi dân số hiện nay tại Việt Nam và đánh giá vai trò của chúng đối với sự phát triển của quốc gia. Chương mở đầu sẽ trình bày tổng quan về tình hình dân số của Tỷ lệ tăng tự nhiên Việt Nam có sử dụng tập hợp dữ liệu quốc tế Nguồn dữ liệu: Vụ Dân số của Liên hợp quốc (2007). của Vụ Dân số Liên hợp quốc. 2.1 Các chỉ số cơ bản và Biểu đồ 1 cho thấy xu hướng biến động của các chỉ số cơ bản ở Việt Nam kể từ năm 1950, chuyển đổi nhân khẩu học thể hiện bằng tỷ suất chết thô (CDR) và tỷ suất sinh thô (CBR) (với các giá trị biểu diễn Giống như nhiều nước khác ở Đông Á và trên trục tung Y bên trái)7. Trong những năm Đông Nam Á, Việt Nam đang ở giai đoạn sau gần đây, CDR đã giảm dần một cách ổn định của chuyển đổi nhân khẩu học. “Chuyển đổi mặc dù tốc độ giảm đã bắt đầu chững lại. Theo nhân khẩu học” là thuật ngữ được các nhà ước tính mới nhất của Liên hợp quốc (2007), nhân khẩu học sử dụng để mô tả mức chết trong giai đoạn 1950-1955, CDR trung bình và sinh giảm từ tỷ lệ cao ở các quốc gia có là 23,9 trên 1000 dân và giảm xuống còn 5,2 thu nhập thấp xuống tỷ lệ thấp ở các quốc trên 1000 dân ở giai đoạn 2000 - 2005 (xem gia có thu nhập cao (Casterline 2003: 210). phụ lục A). Trong khi đó, CBR lúc đầu tăng ít, Chuyển đổi nhân khẩu học gắn bó hết sức sau đó bắt đầu giảm. CBR ở mức 42,7 trên mật thiết với sự phát triển. Trong quá trình 1000 dân vào năm 1950 - 1955, đạt đỉnh phát triển, xã hội đều trải qua sự chuyển đổi 45,9 trong giai đoạn 1960 - 1965 và giảm nhân khẩu học và không xã hội nào hoàn dần một cách ổn định từ đó đến nay, mặc dù thành sự chuyển đổi này mà không phát (tương tự như chỉ số CDR) mức độ giảm cũng triển. Tuy nhiên, những cơ chế gắn kết giữa đã bắt đầu chững lại trong những năm gần chuyển đổi nhân khẩu học và phát triển đều đây. Ước tính chỉ số này đạt 20,2 trên 1000 rất phức tạp. Thời điểm và tốc độ giảm mức dân trong giai đoạn 2000 - 2005. chết và mức sinh ở các nước đang phát triển rất khác nhau5. Phương thức phổ biến nhất là mức chết giảm trước mức sinh và kết quả 6 Xem thêm phần giới thiệu tóm tắt của Casterline (2003) về chủ đề này. 5 Các tỷ số cơ bản đều không đồng nhất trong các xã hội 7 CDR là số ca chết trên 1.000 dân mỗi năm, CBR là số trước chuyển đổi cũng như sau chuyển đổi. ca sinh sống trên 1.000 dân mỗi năm. 16 Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020
  17. Tác động của mức giảm chết và giảm sinh sẽ số trẻ sinh ra đều sống, lớn lên và bước vào được lần lượt xem xét một cách chi tiết hơn tuổi trưởng thành (trong thực tế nhiều người trong hai chương tiếp theo. Ở phần này, sẽ có tuổi thọ cao) nên mỗi nhóm tuổi thu hẹp đánh giá tác động kết hợp của hai chỉ số này hơn không đáng kể so với nhóm trẻ hơn kế đối với tăng trưởng dân số, phân bổ độ tuổi tiếp phía dưới cho đến khi chúng ta đạt đến và quy mô dân số8. nhóm 65 tuổi trở lên. Biểu đồ 2 cho thấy cơ cấu tuổi của Việt Nam 2.2 Tăng trưởng dân số, cơ đã thay đổi như thế nào kể từ năm 198010. cấu tuổi và đà tăng dân số Mặc dù, mức sinh đã bắt đầu giảm từ những năm 1960, tại thời điểm năm 1980, nó vẫn ở Biểu đồ 1 cho thấy CBR ở bất kỳ thời điểm nào mức khá cao và cơ cấu tuổi hình tháp vẫn rõ trong giai đoạn 1950 - 2005 đều cao hơn hẳn nét. Đến năm 2000, chúng ta thấy rằng mức so với CDR9. Giai đoạn 1950 - 1955, số ca sinh sinh giảm dần đã làm cho nhóm tuổi trẻ nhất nhiều hơn số ca chết trung bình là 18,8 (tức là trở nên thu hẹp hơn so với nhóm tuổi lớn hơn 42,7 - 23,9) trên 1000 dân/năm, hay nói cách kế tiếp11. Sử dụng dự báo dân số của Liên hợp khác, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,88% (biểu quốc với ước tính ở mức trung bình (xem Phụ thị trên trục tung bên phải của Biểu đồ 1). Xin lục B); có thể thấy đến năm 2020, thậm chí lưu ý rằng trong khi tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 2030, cơ cấu tuổi càng có xu hướng biến được biểu thị theo % thì tỷ suất sinh, chết thô đổi theo hình trụ. Dân số Việt Nam đang già ở bên phải của trục tung được biểu thị theo tỷ đi. Hiện tượng này sẽ rõ nét hơn rất nhiều sau lệ phần nghìn (%o). Do CBR trước tiên tăng, năm 2000 so với trước đó (xem Chương 6). sau đó mới giảm nên số ca sinh nhiều hơn số Năm 1950 tuổi trung vị là 24,6; năm 1970 ca chết đạt đỉnh trong giai đoạn 1960 - 1965 giảm xuống 18,0; năm 2000 lại tăng lên là ở mức 24,8 trên 1000 dân/năm. Mặc dù đến 23,1; tới năm 2050, theo dự báo của Liên hợp năm 2000 - 2005, CBR đã giảm tới một mức quốc với ước tính ở mức trung bình thì số tuổi (20,2) thấp hơn so với giai đoạn 1950 - 1955 trung vị của dân số Việt Nam sẽ là 41,6. (23,9), tỷ lệ tăng dân số tự nhiên vẫn ở mức 1,50%/năm, do CDR cũng giảm (xuống còn Biểu đồ 2 cũng chứng minh sự mất cân bằng 5,2). Chính mức tăng tự nhiên dương này làm giới tính khi sinh: bắt đầu từ năm 1980, ở cho dân số Việt Nam tăng nhanh trong nửa nhóm tuổi 0 - 4, số trẻ em trai đã nhiều hơn cuối của thế kỷ XX (xem phần 2.3). Nếu tính hẳn số trẻ em gái (Biểu đồ 2a). Sự mất cân cả số người di cư khỏi Việt Nam thì tỷ lệ tăng bằng này càng rõ nét hơn vào năm 1990 và dân số thực tế sẽ thấp hơn chút ít so với tỷ lệ 2000 (Biểu đồ 2b và 2c). Vấn đề này sẽ được tăng tự nhiên song thấp hơn không đáng kể thảo luận ở Chương 4. (xem Chương 5). Các tỷ suất sinh thô và chết thô cơ bản có ý Một hệ quả quan trọng khác của sự thay đổi nghĩa quan trọng vì khi kết hợp lại, sẽ cho các chỉ số cơ bản với chuyển đổi nhân khẩu tỷ suất tăng dân số tự nhiên. Tuy nhiên, học là thay đổi về cơ cấu tuổi. Các chỉ số cơ các tỷ suất thô này không phải là chỉ số bản ở mức cao của dân số trước chuyển đổi đáng tin cậy phản ánh chính xác tình hình gắn liền với tháp tuổi thường được biết tới: sinh và chết, vì chúng bị ảnh hưởng của mức sinh cao có nghĩa là số ca sinh nhiều, cơ cấu tuổi và giới tính của dân số. Dân số làm cho đáy tháp khá rộng, nhưng mức chết nước A có thể có CBR cao hơn dân số nước cao có nghĩa là mỗi nhóm tuổi đều bị thu hẹp B chẳng hạn, không phải do phụ nữ ở nước lại đáng kể so với nhóm tuổi trẻ hơn kế tiếp phía dưới, vì thế tháp nhỏ lại dần lên phía 10  Để biểu thị cơ cấu tuổi - giới tính, nhóm nam và nữ trên, giống như đỉnh của một tam giác vậy. thường được đặt lần lượt ở bên trái và bên phải của Dân số sau chuyển đổi có cơ cấu tuổi giống trục tung, nhưng trong Biểu đồ 2, báo cáo đặt cả hai hình trụ hơn: do số ca sinh không nhiều nên nhóm ở cùng một bên (để tiện cho việc áp dụng phần mềm vẽ bản đồ). đáy của hình trụ khá hẹp. Song vì phần lớn 11 Trong nhiều trường hợp, sự xuất hiện nhóm tuổi 0 - 4 hẹp trong dữ liệu thu được từ các cuộc tổng điều tra và điều tra đơn giản chỉ phản ánh việc số ca sinh và số trẻ 0 - 4 tuổi không được thống kê đầy đủ (và/ 8 Xem Jones (1999) để so sánh các yếu tố này giữa các hoặc các nhóm tuổi trẻ em khác bị khai tăng tuổi) quốc gia Đông Nam Á. nhưng trong trường hợp này, các phát hiện xem ra 9 Để phân tích điều này, báo cáo sử dụng dữ liệu mới đáng tin cậy hơn. Các số liệu của Liên hợp quốc cho nhất của TCTK trong Chương 4. thấy mức sinh đạt đỉnh trong giai đoạn 1985-1990. Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020 17
  18. A đẻ nhiều hơn phụ nữ ở nước B, mà do nghĩa là dân số khi đã liên tục tăng nhanh nước A có số phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ nhiều trong một thời gian dài sẽ có cơ cấu dân số hơn so với nước B. Tương tự như vậy, dân trẻ và làm cho dân số tiếp tục tăng trưởng số nước C có thể có CDR cao hơn dân số trong nhiều thập kỷ trước khi đạt được tình nước D, không phải do những người thuộc trạng tăng trưởng bằng không. (Feeney một nhóm tuổi bất kỳ nào đó ở nước C có 2003: 647). xác suất chết trong 12 tháng tới cao hơn so với nước D, mà là do dân số nước C có tỷ lệ người già cao hơn. Các tỷ suất thô cơ bản này, vì thế, nếu chỉ xem xét riêng lẻ, Biểu đồ 2a. Cơ cấu tuổi, giới tính, sẽ có những đánh giá không đúng về tình 1980 hình sinh và chết12. 80+ Ở Việt Nam, tỷ lệ phụ nữ trong nhóm tuổi 70-74 60-64 15 - 49 tăng từ 41,3% năm 1970 đến 44,5% 50-54 năm 1980, 48,3% năm 1990 và 53,9% năm Nữ 40-44 Nam 2000 (UN 2007). Để đạt mức giảm CBR từ 30-34 38,9% năm 1970 - 1975 xuống còn 20,2% 20-24 năm 2000 - 2005 (giảm 48,1%) ngay cả khi 10-14 tỷ lệ phụ nữ ở tuổi sinh đẻ tăng lên, đòi hỏi 0-4 mức sinh trung bình ở mỗi phụ nữ - tổng 0 1000 2000 3000 4000 5000 tỷ suất sinh13 phải giảm và thực tế đã giảm (theo dữ liệu của Liên hợp quốc) từ 6,70 Biểu đồ 2b. Cơ cấu tuổi, giới tính, trong giai đoạn 1970 - 1975 xuống còn 2,32 1990 trong giai đoạn 2000 - 2005 (giảm 65,4%). Tỷ lệ phụ nữ trong nhóm tuổi 15 - 49 được 80+ dự báo sẽ đạt đỉnh vào khoảng năm 2010 (ở 70-74 mức 57,3%) rồi sau đó giảm (tới mức 42,6% 60-64 Nữ vào năm 2050 theo dự báo mức trung bình 50-54 Nam của Liên hợp quốc). Tổng số tuyệt đối phụ 40-44 nữ trong nhóm tuổi 15 - 49 sẽ không đạt 30-34 đỉnh cho đến khoảng năm 2030 theo dự báo 20-24 mức trung bình của Liên hợp quốc. 10-14 0-4 Sự chênh lệch giữa số ca sinh và số ca chết 0 1000 2000 3000 4000 5000 quyết định tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và không phụ thuộc vào các điều kiện mức chết Biểu đồ 2c. Cơ cấu tuổi, giới tính, và mức sinh thực tế. Thông thường, song 2000 song với sự chuyển đổi nhân khẩu học, dân số sẽ tiếp tục tăng liên tục trong vài thập 80+ kỷ sau khi đã đạt được “mức sinh thay thế”. Nữ 70-74 Trường hợp này được gọi là đà tăng dân số. Nam 60-64 Đà tăng dân số là sự thay đổi về tỷ lệ tăng 50-54 dân số diễn ra sau những thay đổi về hành vi 40-44 sinh đẻ và tỷ lệ tử vong. Đà tăng dân số xảy 30-34 ra trong quá trình thay đổi về cơ cấu tuổi, có 20-24 10-14 0-4 12 Chính vì vậy các nhà thống kê gọi các tỷ số này là tỷ số “thô”! 0 1000 2000 3000 4000 5000 13 Tổng tỷ suất sinh (Total Fertility Rate -TFR) tại một thời điểm xác định là tổng số lần sinh con sống trung Nguồn dữ liệu: Vụ Dân số của Liên hợp quốc (2007: Vol. II). bình mà một phụ nữ sẽ sinh trong suốt cuộc đời nếu Ghi chú: Trục hoành X biểu diễn quy mô dân số theo đơn người phụ nữ đó đạt tỷ suất sinh đặc trưng theo độ vị nghìn. tuổi tại thời điểm đó. Tổng tỷ suất sinh nhóm tuổi là số lần sinh con sống trung bình của những phụ nữ thuộc một nhóm tuổi trong suốt thời kỳ sinh sản của họ. TFR thời kỳ được sử dụng phổ biến hơn và vì thế khi nói “TFR” chính là nhằm nói đến TFR thời kỳ, trừ phi có sự chú thích cụ thể. 18 Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020
  19. Dự báo dân số của Liên hợp quốc với ước tính là tăng 51,7% so với năm 2000. Vào năm ở mức sinh trung bình cho Việt Nam cho thấy 2020, dân số sẽ là 101,7 triệu, với mức mặc dù mức sinh đạt dưới mức sinh thay thế tăng 0,9%/năm và tuổi bình quân là 31,2. trước năm 2010, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên Với mức sinh thấp (LVP) dự báo dân số sẽ sẽ vẫn là 1,09%/năm trong giai đoạn 2015 - là 100,4 triệu vào năm 2050 (tức là tăng 2020. Trong những thập kỷ tới, mặc dù dân 27,0% trong vòng 50 năm). Năm 2020, dân số sẽ tăng do đà tăng dân số (chứ không phải số sẽ là 97,0 triệu, với tỷ lệ tăng là 0,5%/ do mức sinh tăng), song tỷ lệ tăng dân số sẽ năm và tuổi bình quân là 32,5. Với mức sinh tiếp tục giảm. Cũng theo dự báo trên của Liên cao (HVP) dự báo dân số sẽ là 142,2 triệu hợp quốc, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của Việt vào năm 2050 (tức là tăng 79,8% so với năm Nam sẽ ở mức 0,79%/năm trong giai đoạn 2000). Năm 2020, dân số sẽ là 106,3 triệu, 2025 - 2030 và giảm xuống còn 0,29% trong với tỷ lệ tăng là 1,2%/năm và tuổi bình quân những năm 2045 - 2050. Xử lý vấn đề tăng là 29,9. Rõ ràng, sự biến đổi về quy mô dân dân số do đà tăng dân số là một thách thức số và cơ cấu tuổi trong giai đoạn 10 hoặc lớn đối với các nhà hoạch định chính sách. hơn 10 năm tới rất phụ thuộc vào mức sinh Vấn đề này sẽ được thảo luận thêm trong một trong tương lai. Các xu hướng mức sinh và số phần sau của báo cáo. những yếu tố ảnh hưởng đối với chúng sẽ được thảo luận ở chương 4. 2.3 Quy mô và mật độ dân số Điều đáng lưu ý là trong ba dự báo trên chỉ có phương án mức sinh cao (HVP) cho thấy Biểu đồ 3 cho thấy dân số Việt Nam đã tăng giá trị tuyệt đối của mức tăng quy mô dân số từ 27,4 triệu năm 1950 lên 79,1 triệu năm trong giai đoạn 2000-2050 (63,1 triệu) cao 2000, tức là tăng 190% trong vòng 50 năm. hơn so với giai đoạn 1950-2000 (51,7 triệu); Dân số sẽ còn tiếp tục tăng - Vấn đề mấu và ngay cả trong trường hợp này, mức tăng chốt đặt ra là: Tăng bao nhiêu? Trong những trong giai đoạn 2000-2050 tính theo phần hoàn cảnh nào? trăm (79,8%) cũng thấp hơn nhiều so với giai đoạn 1950-2000 (190,0%). Do “không thể biết chắc chắn các xu hướng tương lai” (UN 2007: vol. I, xxxviii) Liên hợp Mật độ dân số tăng tương ứng với quy mô dân quốc đã đưa ra một số dự báo dựa trên các số. Mật độ dân số trung bình của Việt Nam là giả định khác nhau. Sự khác biệt chủ yếu 83 người/km2 vào năm 1950; 238 người/km2 giữa ba dự báo chính (được đưa vào Phụ năm 2000; và sẽ tăng lên mức 362 người/ lục A) là: dự báo với ước tính ở mức sinh km2 vào năm 2050 (MVP) (UN 2007). Mật độ trung bình (MVP) giả định rằng TFR sẽ tiếp dân số tăng sẽ tác động đến tổ chức xã hội và tục giảm xuống thấp hơn một chút so với môi trường (xem chương 5 - 7). mức sinh thay thế và đạt 1,85 trước năm 2020 rồi giữ ở mức này cho đến năm 2050; Theo kết quả ban đầu của TĐT (tại thời điểm dự báo với ước tính ở mức sinh cao (HVP) 1 tháng 4 năm 2009) dân số Việt Nam là cho biết tăng trưởng dân số sẽ diễn ra như 85,8 triệu, tăng 9,5 triệu trong khoảng thời thế nào nếu TFR bằng 2,35; và dự báo với gian từ 1999-200915. Điều này cho thấy mức ước tính ở mức sinh thấp (LVP) xem xét tăng tăng dân số của Việt Nam hiện đang ở mức trưởng dân số trong bối cảnh mức sinh được sinh thấp. giả định là tiếp tục giảm cho đến khi TFR đạt 1,35 (vào khoảng năm 2020), sau đó giữ ổn định ở mức này14. Với mức sinh trung bình (MVP) dự báo dân số sẽ là 120 triệu người vào năm 2050, tức 14 Cả ba dự báo giả định rằng mức chết sẽ tiếp tục giảm vừa phải, do đó tuổi thọ sẽ tăng từ 74,2 tuổi trong giai đoạn 2005-2010 đến 80,3 tuổi trong giai đoạn 2045-2050 với mức di cư ròng thấp. Với những giả định thực tế, các xu hướng sinh trong tương lai chính là yếu tố tác động lớn nhất đến quy mô tăng trưởng dân số. Xem chi tiết về các giả định của ba dự báo 15 Phúc tra kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ sót chỉ khoảng chính trong tài liệu UN (2007, vol. III). 0.3%. Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020 19
  20. Biểu đồ 3. Tăng trưởng dân số từ hoạch định chính sách ở một số khía cạnh năm 1950 và các dự báo của Liên nào đó, nhưng nếu mức sinh cực thấp thì sẽ hợp quốc đến năm 2050, Việt Nam có những tác động tiêu cực đối với sự phát triển, như trình bày trong Chương 7. Phân tích chi tiết kết quả Tổng Điều tra Dân số năm 2009 sẽ cho phép các dự báo cho giai đoạn 2011-2020 được chính xác hơn. Các dự báo trên của Liên hợp quốc cho thấy trừ trường hợp có biến cố rất lớn không lường trước được, dân số Việt Nam sẽ tăng thêm Quy mô dân số (triệu người) 11 triệu người, có thể sai số 2 - 3 triệu, trong giai đoạn 2011-2020. Kết quả sơ bộ ban đầu của Tổng Điều tra Dân số cho thấy có thể tốc độ tăng dân số sẽ tiếp cận ở mức sinh Ghi chú: Pop - Dân số; MVP - Dự báo với ước tính ở mức sinh trung bình; HVP - Dự báo với ước tính ở mức sinh thấp, nghĩa là ở giới hạn dưới của khoảng cao; LVP- Dự báo với ước tính ở mức sinh thấp. dao động này, tuy nhiên đây cũng chỉ là giả Nguồn: Vụ Dân số của Liên hợp quốc (2007). định; khi có thêm đầy đủ số liệu, cần được phân tích thêm để theo dõi và kiểm chứng giả định này. 2.4 Biến động dân số: 2001-2010 đến 2011-2020 Phần còn lại của báo cáo này mục đích tìm hiểu chi tiết hơn tình hình dân số Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và những can thiệp Bảng 3 tóm tắt một số biến động chủ yếu có chính sách nào cần được cân nhắc. Muốn thể xảy ra đối với các chỉ số về số dân của vậy, chúng ta phải hiểu được cặn kẽ các xu Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020 so với hướng đang diễn ra hiện nay và điều kiện giai đoạn 2001-201016. làm cho chúng có thể thay đổi. Những câu Ô có tên gọi “Dự báo với ước tính ở mức hỏi chính đặt ra là: sinh thấp” cho thấy nếu mức sinh tiếp tục • Những nhân tố nào có khả năng tác động giảm như hiện nay và ổn định ở ngay sát tới việc dân số vào năm 2020 sẽ vượt lên dưới mức sinh thay thế vào cuối năm 2020 hay hạ xuống thấp hơn mức dự báo nêu (giống như giả định trong MVP), thì tăng trên? trưởng tuyệt đối trong giai đoạn 10 năm tới sẽ giống như trong giai đoạn hiện nay, tức • Cơ cấu dân số về độ tuổi, giới tính, hình là khoảng 11 triệu người. Tuy nhiên, nếu thái định cư và các đặc điểm xã hội khác mức sinh ổn định ở ngay trên mức sinh thay sẽ thay đổi như thế nào trong giai đoạn thế vào cuối năm 2020 (giống như giả định 2010-2020? trong HVP) thì tăng trưởng dân số sẽ đạt gần • Quan trọng nhất là: Những lựa chọn chính 15 triệu (xem ô “Dự báo với ước tính ở mức sách nào có thể tác động tới các kết quả sinh cao”). Mặt khác, nếu mức sinh tiếp tục nhân khẩu học nhằm góp phần tăng phúc giảm xuống mức cực thấp trong giai đoạn lợi xã hội cho dân số Việt Nam giai đoạn 10 năm tới (TFR=1,35: xem ô “Dự báo với 2011-2020 và những năm sau đó? ước tính ở mức sinh thấp”) thì tăng trưởng dân số có thể hạ thấp tới mức 7 triệu; tỷ lệ tăng dân số thấp hơn sẽ hấp dẫn các nhà 16 Các năm tham chiếu trong thống kê của Liên hợp quốc và thống kê chính thức của Việt Nam không hoàn toàn trùng khớp. Thống kê của Liên hợp quốc lấy mốc 01/07 là trung điểm của một năm. Thống kê của TCTK lại lấy mốc 01/04, cũng là ngày tham chiếu chính thức của tổng điều tra dân số và điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình. Trong khi đó, giai đoạn lập kế hoạch 2011-2020, lại tính từ 01/01/2011 đến 31/12/2020. 20 Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020
  21. Bảng 1. Các chỉ số dân số chủ yếu giai đoạn 2000-2020, theo dự báo của Liên hợp quốc Dự báo với ước tính ở Dự báo với ước tính ở Dự báo với ước tính ở mức sinh thấp mức sinh trung bình mức sinh cao Dân số vàphát triểntạiViệtNam: 2000 2005 2010 2015 2020 2010 2015 2020 2010 2015 2020 Dân số 79,1 85,0 89,9 93,9 97,0 90,8 96,5 101,7 91,8 99,1 106,3 (triệu người) Độ tuổi trung bình 23,1 24,9 27,2 29,7 32,5 26,9 29,0 31,2 26,6 28,2 29,9 (tuổi) 2000- 2005- 2010- 2015- 2020- 2010- 2015- 2020- 2010- 2015- 2020- 2005 2010 2015 2020 2025 2015 2020 2025 2015 2020 2025 CBR 21,2 18,8 14,2 12,1 11,3 17,5 16,0 14,7 20,7 19,5 17,7 Hướng tớimột chiếnlượcmới, 2011-2020 CDR 5,2 5,1 5,1 5,2 5,5 5,0 5,1 5,3 5,0 5,0 5,1 TFR 2,32 2,14 1,57 1,36 1,35 1,97 1,86 1,85 2,37 2,36 2,35 IMR 22 20 17 15 14 Tốc độ tăng trưởng 1,45 1,32 0,87 0,65 0,54 1,20 1,05 0,90 1,52 1,41 1,23 Nguồn: Vụ Dân số của Liên hợp quốc (2007). 21
  22. Chương 3: Giảm tử vong và biến động về dịch tễ học 3.1 Tử vong giảm trong toàn quốc Khi dân số trải qua quá trình chuyển đổi nhân khẩu học thì chỉ số cơ bản đầu tiên sẽ giảm thường là mức chết. CDR ở Việt Nam đã giảm một cách ổn định từ năm 1950 tới nay và cả trước đó (xem Phụ lục A). Chương này sẽ phân tích sâu hơn về giảm mức chết, đặc biệt tập trung vào chết sơ sinh và chết trẻ em vì đây hay được xem là hai trong số những chỉ số về sức khỏe cộng đồng nhạy cảm nhất17. Việc cải thiện tình hình bệnh tật và tử vong có ý nghĩa căn bản đối với cuộc sống của con người: cả hai đều là kết quả Các cuộc điều tra của PCFPS sau này cho của sự phát triển, đồng thời là nền móng thấy IMR giảm đáng kể và chững lại ở mức quan trọng để tiếp tục phát triển. 16 ca chết trên 1.000 ca sinh sống vào năm 2005 và 2006 (TCTK 2008: 35). Các số liệu Các số liệu ước tính về tỷ suất chết sơ sinh và ước tính IMR áp dụng cho giai đoạn 12 tháng chết ở trẻ em của Việt Nam có trong các tài liệu: trước thời điểm điều tra (ngày 01/04) nên (i) Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999 (TĐTDS), trung điểm của giai đoạn này (ngày 01/10) (ii) Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia vẫn thuộc năm trước của năm điều tra; tức 18 đình hàng năm (PCFPS) , được thực hiện từ năm là khi tính IMR sử dụng dữ liệu được thu thập 2001, (iii) Điều tra nhân khẩu học và y tế Việt năm 2007 thì sẽ cho kết quả ước tính cho Nam (DHS), được thực hiện năm 1997 và 2002, một giai đoạn 12 tháng mà trung điểm của và (iv) Điều tra đa biến (MICS), được thực hiện nó thuộc năm 2006. Các thống kê của PCFPS năm 2000 và 2006. Bảng 2 liệt kê các số liệu ước được tính toán theo bộ chương trình phần tính chủ yếu lấy từ những nguồn này liên quan mềm QFIVE của Vụ Dân số Liên hợp quốc, sử đến tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi (IMR) và tỷ dụng các thuật toán ước tính gián tiếp20. suất chết trẻ em dưới 5 tuổi (U5MR). Tổng điều tra 1999 ước tính IMR ở mức 36,7 trẻ sơ sinh chết trên 1.000 trẻ đẻ sống trong vòng 12 tháng trước ngày tổng điều tra 01/04/1999, bằng cách sử dụng phương pháp tính toán trực tiếp có điều chỉnh19. 17 Tỷ suất chết đặc trưng theo độ tuổi theo kết quả Tổng điều tra lần trước được liệt kê tại Phụ lục C. 20 Những kết quả ước tính này rất có khả năng thấp 18 Điều tra này bắt đầu được giới thiệu năm 2000, mặc hơn thực tế. Gigi Santow đã chỉ ra rằng các thuật dù tên gọi của nó đã được thay đổi một vài lần. toán được sử dụng ở đây ban đầu được thiết kế cho các nước mà đa số có tỷ suất chết cao hơn Việt Nam 19 “Căn cứ thông tin về tình hình tử vong ở các hộ gia ngày nay, vì thế chúng có thể cho các kết quả ước đình, lập bảng thống kê tổng số ca chết trong thời tính IMR thấp hơn chút ít khi áp dụng cho các dữ liệu gian một năm trước thời điểm Tổng điều tra và sắp của Việt Nam (UNFPA 2007: 10). Mức chết cũng có xếp theo giới tính và nhóm tuổi của người chết lúc thể bị hạ thấp hơn khi TCTK sử dụng những thuật chết. Phản hồi từ các hộ gia đình thường không chính toán này; CDR có thể cao hơn tới 25% so với ước xác, làm cho tổng số ca chết thường thấp hơn thực tế. tính của PCFPS (UNFPA 2007: 12-13). Việc sử dụng Vì thế, những dữ liệu này được điều chỉnh trên cơ sở các kỹ thuật ước tính gián tiếp ở một nước như Việt các hệ số điều chỉnh được ước tính từ cuộc phúc tra Nam - nơi chưa có hệ thống đăng ký công dân đáng về mức sinh và mức chết” (TCTK 2001: 89) Cần số ca tin cậy là hết sức thiết yếu, song những kết quả sai chết ở các hộ gia đình được thu thập theo phiếu hỏi lệch có thể xảy ra trong những hoàn cảnh cụ thể của với nhóm mẫu 3% (về mức sinh và mức chết); tức là Việt Nam cần được nghiên cứu thêm. 5.000 dân hay 2,4 triệu dân. 22 Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020
  23. Bảng 2. Ước tính IMR và U5MR từ nhiều nguồn, Việt Nam, 1982-2006 Tên cuộc Thời điểm thu Thời gian Ước tính điều tra thập dữ liệu tham chiếu IMR Ngày tổng điều tra PHC 1999 37 1998 dân số 01.04.99 PCFPS 2003 04/03 21 2002 PCFPS 2004 04/04 18 2003 PCFPS 2005 04/05 18 2004 PCFPS 2006 04/06 16 2005 PCFPS 2007 04/07 16 2006 28,2 1992-1996 DHS 1997 07/97 – 10/97 40,0 1987-1991 31,8 1982-1986 18,2 1998-2002 DHS 2002 10/02 – 12/02 29,6 1993-1997 35,7 1988-1992 MICS 2006 22 2001-2005 U5MR 37,7 1992-1996 DHS 1997 07/97 – 10/97 53,5 1987-1991 54,9 1982-1986 23,6 1998-2002 DHS 2002 10/02 – 12/02 39,5 1993-1997 47,4 1988-1992 Nguồn: Các cuộc điều tra như ghi ở cột 1. Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020 23
  24. Dữ liệu về mức chết sơ sinh và chết ở trẻ em Các dữ liệu IMR khác được cung cấp bởi các cũng được thu thập bởi Điều tra DHS năm cuộc điều tra của MICS, thực hiện ở Việt Nam 1997 và 200221. Các số liệu ước tính của DHS năm 1995, 2000 và 200623. Điều tra MICS đều dựa vào kết quả ước tính trực tiếp sử năm 2006 cho thấy IMR là 22 trên 1.000 trẻ dụng dữ liệu từ hồ sơ thai sản của nhóm phụ đẻ sống tính trung bình cho giai đoạn 5 năm nữ đã từng lập gia đình tuổi từ 15 đến 49. trước thời điểm điều tra (với trung điểm ở năm Kết quả ước tính trực tiếp từ những dữ liệu 2003), theo các thuật toán ước tính gián tiếp. này cho thấy IMR ở mức 28,2 trong 5 năm trước cuộc điều tra năm 1997 (trung điểm ở Biểu đồ 4 thể hiện mức giảm IMR trong giai năm 1994) và 18,2 trong cùng kỳ trước điều đoạn 1984-2006, sử dụng dữ liệu của các tra năm 2002 (trung điểm năm 2000). cuộc điều tra PHC, PCFPS, và DHS24. Các năm biểu diễn trên trục hoành X là các năm Các dữ liệu DHS cũng đã được sử dụng để tham chiếu thống kê, chứ không phải năm ước tính IMR và U5MR cho nhóm 5 - 9 tuổi thu thập dữ liệu. và 10-14 tuổi trước thời điểm điều tra. Rõ ràng là càng đi ngược về trước thời điểm Tất các nguồn dữ liệu chính đều khẳng định điều tra thì càng có nhiều khả năng xảy ra rằng từ những năm 1980 đến nay, mức chết sai số và chênh lệch. Tuy nhiên, kết quả ước sơ sinh và chết ở trẻ em đã giảm đáng kể25. tính này vẫn rất đáng quan tâm. Dữ liệu năm Tuy vậy vẫn có một quan ngại lớn rằng các 1997 cho thấy ước tính cho giai đoạn 1982- số liệu ước tính chính thức do TCTK công bố 1986 thấp hơn so với giai đoạn 1987-1991 – kể cả những số liệu sử dụng thuật toán ước rất có thể là do những hạn chế của dữ liệu tính gián tiếp được xem là khắc phục được lỗi gây ra22. Các ước tính cho các giai đoạn 5 bỏ sót – vẫn có thể nghiêng về phía thấp. năm trước đó trong dữ liệu năm 2002 có vẻ tin cậy hơn. Những dữ liệu này cho thấy IMR đã giảm từ 35,7 trong giai đoạn 1988-1992 3.2 Những khác biệt giữa các xuống còn 18,2 trong giai đoạn 1998-2002. khu vực Chất lượng dữ liệu DHS 2002 có vẻ tốt song các chuyên gia đều có chung nhận xét rằng Quá trình biến đổi dịch tễ học không diễn ra phép ước tính trực tiếp thường cho kết quả đồng đều giữa các khu vực hành chính. Biểu IMR thấp hơn thực tế và các nhà nghiên cứu đồ 5 cho thấy sự khác biệt trong mức giảm DHS cũng lưu ý phải thận trọng khi đánh giá IMR theo khu vực, theo dữ liệu PCFPS. Nhìn mức giảm nhanh chóng này “nếu không có chung, tỷ suất này đều giảm ở tất cả các [thêm] bằng chứng về thành công lớn của khu vực song chênh lệch giữa các khu vực các chương trình đảm bảo sự sống còn cho vẫn rất lớn. Ở ba khu vực có tỷ suất IMR trẻ em”: “ mức chết vô cùng thấp theo kết lớn nhất, một trẻ sơ sinh có xác suất chết quả điều tra [DHS 2002] đòi hỏi phải có sự trước khi tròn 1 tuổi lớn hơn gấp 2,5 lần thận trọng khi phân tích. Chỉ cần bỏ sót một so với một trẻ sơ sinh ở ba khu vực có IMR vài ca sinh mà trẻ tử vong sớm trong thời thấp nhất. Những khác biệt này cần được kỳ sơ sinh cũng sẽ có thể làm cho mức chết nghiên cứu chi tiết hơn. Chúng có thể được giảm hẳn song sự bỏ sót này thường không giải thích phần lớn bởi sự chênh lệch về mức cách nào phát hiện được. Một lý do khác là ở độ phát triển giữa các khu vực (thu nhập, những mức chết thấp như vậy, sai số lấy mẫu giáo dục, cơ sở hạ tầng, dịch vụ ) song thường rất lớn” (NCPFC và ORC Macro 2003: văn hóa, khí hậu và các yếu tố môi trường 78,79). Giới hạn trên và dưới của khoảng tin khác cũng có thể có tác động nhất định. cậy 95% đối với ước tính IMR bằng 18,2 lần lượt là 27 và 9. 23 Dữ liệu năm 1995 không có và báo cáo năm 2000 không có ước tính IMR . 21 Ngoài ra còn có điều tra DHS năm 1988 (NCPFP 24 Biểu đồ 4 tương tự như “Biểu đồ 7.1” trong tài liệu 1990), nhưng rất khó tìm thông tin về cuộc điều tra của NCPFC và ORC Macro (2003: 78), chỉ có một điều này vì không được đăng trên website Measure DHS. cần lưu ý là báo cáo DHS hình như đã đảo ngược hai Những số liệu ước tính của nó về IMR và U5MR cũng giá trị của IMR là “28,2” và “31,8” trên đường biểu không được sử dụng để phân tích các xu hướng trong thị xu hướng IMR theo DHS 1997. những báo cáo DHS sau này, trừ một phần vắn tắt trong NCPFP và ORC Macro (1999: 85). 25 Phụ lục C cung cấp số liệu về tỷ suất chết đặc trưng theo độ tuổi dựa trên kết quả Tổng điều tra năm 22 Ví dụ: khoảng tin cậy 95% đối với ước tính 28,2 1999. Mức chết giảm chậm hơn ở các nhóm tuổi khác cho giai đoạn 1992-1996 là 21 : 36 (NCPFP và ORC nhau so với nhóm 0 - 1, song đều giảm ở tất cả các Macro 2003: 85). nhóm tuổi (TCTK 2001: 111). 24 Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020
  25. Biểu đồ 4. Các xu hướng IMR theo xu hướng biến đổi (Biểu đồ 6). Năm 1976 và các cuộc điều tra PHC & PCFPS và 1986, bệnh truyền nhiễm vẫn là nguyên nhân DHS, 1984-2006 của hơn 50% số ca chết, song đến năm 2000, tỷ lệ này chỉ còn 30% và đến nay là dưới 50 20%. Trong khi đó, các bệnh không truyền 40 nhiễm lại tăng lên là nguyên nhân của dưới 30 50% nay tăng lên trên 60% số ca chết này. Số vụ tai nạn, thương tích và ngộ độc cũng 20 tăng lên một cách nhanh chóng, càng nhấn 10 mạnh tầm quan trọng ngày càng tăng của 0 việc phải xử lý những “nhân tố về lối sống” 1984 1986 1988 1990 1992 1994 1996 1998 2000 2002 2004 2006 trong công tác kiểm soát bệnh tật và tử vong PHC & PCFPS DHS 1997 DHS 2002 của dân số hiện nay. Nguồn: Giống như ở Bảng 2. Biểu đồ 6. Nguyên nhân chết theo báo cáo của các cơ sở y tế công lập Biểu đồ 5. Những khác biệt theo trong các năm 1978-2007 khu vực về IMR, theo dữ liệu PCFPS, 70 2002-2005 60 50 40 40 % 30 20 30 10 0 1976 1986 1996 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 20 Bệnh truyền nhiễm Bệnh không truyền nhiễm Tai nạn, thương tích và ngộ độc 10 Nguồn: Niên giám thống kê y tế của Bộ Y tế các năm 2001-2007. 0 2002 2003 2004 2005 Các số liệu về nguyên nhân chết được cung cấp trong báo cáo Điều tra Y tế quốc gia năm Tây Bắc Ven biển Trung bộ 200226. Một số phát hiện từ kết quả cuộc điều Tây Nguyên Đồng bằng sông Cửu Long tra này là: bệnh truyền nhiễm vẫn là nguyên Đông Bắc Đồng bằng Bắc bộ nhân gây ra gần 40% số ca chết trong nhóm Bắc Trung Bộ Đông Nam bộ 0-4 tuổi; nhóm nghèo nhất vẫn chiếm hơn 20% tổng số ca chết do bệnh truyền nhiễm, Nguồn: TCTK (2007). gấp hai lần hoặc hơn hai lần so với các nhóm khác; và (đúng như dự đoán) nhóm người nghèo và dân tộc thiểu số có ít cơ hội tiếp 3.3 Những thay đổi về bệnh cận chăm sóc y tế trước khi tử vong hơn tật và nguyên nhân tử vong nhiều so với các nhóm còn lại. Không chỉ mức chết giảm, cơ cấu nguyên nhân chết cũng đang biến đổi. Dân số đang trải qua một quá trình “biến đổi dịch tễ học” quen thuộc, trong đó nguyên nhân chết chủ yếu là các bệnh truyền nhiễm được thay thế bởi các bệnh mãn tính không truyền nhiễm - (đôi khi còn được gọi là “bệnh của nhà giàu”). Các dữ liệu đáng tin cậy từ các cuộc điều tra mẫu theo thời gian không sẵn có, song thống kê về số ca chết tại các cơ sở y tế cũng cho thấy 26 Dựa trên kết quả phỏng vấn mẫu gồm 36.000 hộ gia đình tại 1.200 xã/phường thuộc 61 tỉnh. Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020 25
  26. Những vấn đề liên quan khác hiện đang được 3.5 Tử vong ở bà mẹ các nhà nghiên cứu và lập chính sách thảo luận là: dinh dưỡng và chênh lệch về tình trạng sức Tình trạng sức khỏe sinh sản cũng có những khỏe giữa các vùng, miền và giữa nhóm người thay đổi lớn. Điều tra MICS cung cấp những nghèo và không nghèo đang gia tăng kể từ khi ước tính thận trọng nhất cho đến nay về tỷ bắt đầu thực hiện cải cách kinh tế27. suất chết ở bà mẹ (MMR)29. Với phương pháp ước tính gián tiếp thông qua chị/em gái , họ ước tính MMR là 95 trên 100.000 ca sinh 3.4 Dinh dưỡng sống, theo dữ liệu năm 2000; và 162 theo dữ liệu năm 2006. Cả hai kết quả này đều Theo các dữ liệu về dinh dưỡng trong báo dựa trên thông tin về chị/em gái đã chết 28 cáo điều tra MICS 2006 (xem Bảng 3), tại bất kỳ một thời điểm nào trước đây của 20,2% số trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh người trả lời phiếu điều tra. Vì thế, chúng dưỡng cân nặng theo tuổi (tức là thiếu cân); ta có thể coi năm tham chiếu là 10-14 năm 35,8% suy dinh dưỡng chiều cao theo tuổi trước thời điểm điều tra. Các nhà nghiên cứu (tức là thấp còi); và 8,4% suy dinh dưỡng đều cho rằng phương pháp ước tính thông cân nặng theo chiều cao (tức là còm còi). qua chị/em gái thường không được khuyến Suy dinh dưỡng vẫn là một vấn đề y tế có ý cáo sử dụng đối với dân số có TFR nhỏ hơn nghĩa cộng đồng ảnh hưởng đến chất lượng 4. Như thế có nghĩa là có sự hoài nghi về độ dân số và sự phát triển con người. So với tin cậy của phép ước tính và con số ước tính quần thể tham khảo theo khuyến cáo của mới nhất có thể lại là ít tin cậy nhất30. WHO và UNICEF, ngay ở nhóm giàu nhất, vẫn có tới 21,1% trẻ dưới 5 tuổi có chiều Năm 2006 TCTK bổ sung một số câu hỏi vào cao thấp hơn hơn hai độ lệch chuẩn. cuộc điều tra PCFPS “để nhằm xác định các nguyên nhân chết và ước tính tỷ suất chết Sự khác biệt giữa các khu vực cũng rất đáng ở bà mẹ hiện nay” (TCTK 2007: 69). Bằng lưu ý. Tỷ lệ thiếu cân thay đổi từ 10,8% phương pháp trực tiếp họ đã ước tính MMR (Đông Nam bộ) đến 28,8% (Tây Bắc); tỷ lệ là 115 trên 100.000 ca sinh sống trong 12 thấp còi từ 24,2 (Đông Nam bộ) đến 54,5% tháng trước thời điểm điều tra; các chuyên (Tây Bắc); và tỷ lệ còm còi từ 4,9% (Đồng gia đều thấy rằng việc sử dụng phương pháp bằng Sông Cửu Long) đến 11,6% (Tây trực tiếp tất yếu sẽ bỏ sót một số lượng đáng Nguyên). Nhìn chung, khu vực Tây Bắc và kể ca chết ở bà mẹ. Song về lâu dài, điều tra Tây Nguyên có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao PCFPS có thể cung cấp một số thông tin hữu nhất cả nước. ích về tốc độ giảm MMR (không tính đến biên độ chính xác của nó). Các số liệu thống kê trình bày trong Bảng 3 cần được phân tích sâu hơn so với phân tích của Báo cáo MICS năm 2006 (TCTK 2006). 3.6 HIV/AIDS Trong cùng mẫu điều tra, 4,6% trẻ em dưới Sự biến đổi nguyên nhân chết từ chủ yếu là 5 tuổi được coi là béo phì. các bệnh lây truyền sang các bệnh không lây truyền không phải chỉ dừng lại ở đó. Trong những thập kỷ gần đây, các bệnh truyền 29 Tỷ suất chết ở bà mẹ là số ca chết ở bà mẹ trong một khoảng thời gian nhất định trên 100.000 ca sinh sống 27 Rõ ràng đây là một hệ quả của những “chuyển đổi trong cùng kỳ. Tỷ lệ chết ở bà mẹ là số ca chết ở bà kinh tế xã hội”: Xem Zhao (2006). mẹ trong một khoảng thời gian nhất định trên 100.000 phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ trong cùng kỳ. Chết ở bà mẹ 28 Các dữ liệu trong báo cáo MICS 2006 chính là các là tử vong của người phụ nữ trong khi đang mang thai chỉ số nhân trắc do Viện Dinh dưỡng quốc gia (NIN) hoặc trong vòng 42 ngày kể từ ngày chấm dứt sự mang thực hiện trên Điều tra Mức sống hộ gia đình Việt thai, bất kể sự mang thai đó đã kéo dài bao lâu và ở Nam 2006 (VHLSS) (xem TCTK 2006: 45-46). Tất đâu, vì bất kỳ lý do nào có liên quan đến hay bị làm cả trẻ em dưới 6 tuổi trong mẫu điều tra gồm 9.300 trầm trọng bởi sự mang thai hay quá trình theo dõi sự hộ gia đình được đo chiều cao và cân nặng. Trẻ em mang thai, nhưng không phải do các nguyên nhân tai được phân loại thành suy dinh dưỡng độ I thể thiếu nạn hoặc sự cố. Xem WHO, UNICEF, UNFPA và World cân, thấp còi và còm còi nếu có chỉ số dinh dưỡng Bank (2007: 4-5). trên âm 2 độ lệch tiêu chuẩn so với mức bình thường của quần thể tham khảo theo khuyến cáo của WHO 30 Nhiều ca chết ở bà mẹ là hậu quả của việc nạo/phá và UNICEF (và suy dinh dưỡng độ II nếu trên âm 3 thai không an toàn. Vấn đề nạo/phá thai được thảo luận ở độ lệch tiêu chuẩn). phần 4.5. 26 Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020
  27. Bảng 3. Tỷ lệ suy dinh dưỡng độ I ở trẻ em dưới 5 tuổi, theo nhóm tuổi và các đặc điểm cơ bản, Việt Nam, 2006 Suy dinh dưỡng Suy dinh dưỡng Suy dinh dưỡng chiều cao/ cân/chiều cao Đặc điểm cân/tuổi % < -2 tuổi % < -2 SD % < -2 SD SD (thiếu cân) (thấp còi) (còm còi) Giới Trai 21,1 39,5 9,0 Gái 19,2 32,2 7,8 Tuổi < 6 tháng 8,9 16,5 17,5 6-11 tháng 8,1 19,4 4,9 12-23 tháng 18,2 35,6 10,0 24-35 tháng 21,0 39,5 7,6 36-47 tháng 24,3 40,6 9,4 48-59 tháng 26,0 40,1 6,1 Nơi cư trú Thành thị 12,3 24,3 9,3 Nông thôn 22,0 38,5 8,2 Nhóm thu thập (ngũ phân vị) 1 (thấp nhất) 28,5 46,0 9,9 2 25,1 42,3 7,5 3 17,3 32,0 10,3 4 15,8 32,8 6,9 5 (cao nhất) 10,4 21,1 7,2 Vùng Đồng bằng Bắc bộ 18,5 29,5 8,9 Đông Bắc 22,3 45,9 9,2 Tây Bắc 28,8 54,5 8,2 Bắc Trung bộ 21,0 40,4 9,5 Nam Trung bộ 23,7 32,3 10,0 Tây Nguyên 23,2 41,0 11,6 Đông Nam bộ 10,8 24,2 8,2 Đồng bằng Sông Cửu Long 20,4 34,4 4,9 Dân tộc Kinh 18,0 32,0 8,3 Khác 29,7 52,5 8,8 Tổng 20,2 35,8 8,4 Nguồn: TCTK (2006: 137). nhiễm mới đã xuất hiện và lan nhanh trên về AIDS về căn bản được phổ biến ở thành toàn cầu do sự thuận tiện của các phương tiện thị, trong khi cứ 10 người dân nông thôn có giao thông hiện đại và do ngày càng có nhiều 1 người chưa từng nghe nói về AIDS” (TCTK người đi lại giữa các nước. HIV/AIDS đặc biệt 2006: 36). Nhận thức về HIV/AIDS hạn chế có liên quan đến sức khỏe sinh sản. Mức độ nhất ở những người thất học và những người nhận thức chung về HIV/AIDS ở Việt Nam thuộc nhóm nghèo nhất. “Cứ 5 người được được đánh giá là cao. Theo Điều tra dân số hỏi thì hơn 4 người (83% phụ nữ và 90% nam và chỉ số AIDS năm 2005 (PAIS), “kiến thức giới) nói họ biết rằng người ta có thể hạn chế Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020 27
  28. rủi ro nhiễm HIV bằng cách sử dụng bao cao 3.7 Nhìn về phía trước su. Cứ 5 người được hỏi thì hơn 4 người (85% phụ nữ và 89% nam giới) nói họ biết rằng Việc tiếp tục cải thiện sức khỏe và dinh dưỡng người ta có thể hạn chế rủi ro nhiễm vi rút của nhân dân có vai trò thiết yếu để đảm bảo HIV bằng cách chỉ quan hệ tình dục với một tiếp tục phát triển một cách công bằng và bạn tình không bị nhiễm và người này cũng bền vững. Có những khác biệt đáng kể trong không có bạn tình khác. Kiến thức về cả hai các chỉ số y tế giữa các vùng, miền và các cách phòng tránh lây truyền HIV này cũng rất nhóm dân cư. Mối quan ngại ngày càng tăng cao, 79% phụ nữ và 86% nam giới được hỏi và một vài trong số những sự khác biệt đó đều nêu được hai cách giảm rủi ro bị nhiễm đang càng trở nên rõ nét hơn trong những HIV này”. năm gần đây, ảnh hưởng tiêu cực đến những cải thiện đáng kể đã đạt được trước đây về Trong nhóm thanh niên (15 - 24 tuổi), kiến công bằng trong chăm sóc y tế31. thức về AIDS thay đổi theo trình độ học vấn. Trong nhóm 15 - 24 tuổi có quan hệ tình Chính phủ đã và đang nỗ lực tổ chức lại cơ dục, dưới 1% nữ thanh niên và 21% nam sở tài chính của ngành y tế trong giai đoạn thanh niên cho biết họ đã có quan hệ rủi ro 2001-2010 song kết quả đạt được cho đến cao hơn. (Trong PAIS và các cuộc điều tra nay chưa đồng bộ và định hướng chính sách tương tự, tất cả nam, nữ thanh niên có hoạt chưa rõ ràng (xem Bộ Y tế và Nhóm đối tác động tình dục mà chưa lập gia đình thì đều ngành y tế 2008). Trong khi đó, chi tiêu cho được định nghĩa là có tham gia vào “tình dục y tế vẫn tiếp tục tăng một phần là do sự biến có rủi ro”). “Tình dục có rủi ro trong nam đổi về dịch tễ học32 và điều này góp phần làm thanh niên cũng tăng theo trình độ học vấn tăng sự bất bình đẳng trong tiếp cận các dịch và mức độ giàu có Cứ 3 nam thanh niên có vụ y tế. quan hệ tình dục rủi ro cao thì 2 người cho biết đã sử dụng bao cao su trong lần quan hệ Cải tổ ngành y tế sẽ là yêu cầu cấp thiết gần đây nhất” (TCTK 2006: 74). Tỷ lệ nhiễm nhằm cải thiện hơn nữa sự phát triển con HIV/AIDS có vẻ vẫn ở mức thấp, song nước người (hay chất lượng dân số) trong giai nào cũng có những nhóm dân số có rủi ro đoạn 2011-2020. cao, và với ngày càng nhiều những người đi lại xuyên quốc gia thì HIV/AIDS vẫn là một vấn đề y tế cộng đồng và sức khỏe sinh sản quan trọng của Việt Nam (Simonet 2004). 31 Tuy nhiên, phương thức của những sự khác biệt này không đồng nhất và chưa được hiểu cặn kẽ ở thời điểm hiện tại. Xem tài liệu của Knowles và những người khác. (2008). 32 Chi phí chăm sóc y tế cho các “bệnh của nhà giàu” thường tốn kém hơn so với các bệnh truyền nhiễm. 28 Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020
  29. Chương 4: Giảm mức sinh và chuyển đổi nhân khẩu học 4.1 Giảm mức sinh trong toàn quốc và khác biệt giữa các vùng Chỉ số cơ bản thứ hai sẽ giảm trong giai đoạn quá trình chuyển đổi nhân khẩu học là mức sinh. Mức sinh ở Việt Nam đã liên tục giảm từ giữa những năm 1960, đặc biệt là từ cuối những năm 1980 đến nay. Tốc độ và mức độ của mức giảm này có vai trò đặc biệt quan trọng đối với tăng trưởng dân số (tăng trưởng dương hay tăng trưởng âm) và cơ cấu tuổi trong tương lai. Những ước tính tin cậy nhất hiện có cho thấy mức sinh hiện đang ở (không được thể hiện trong Bảng 4) ước tính hoặc dưới mức sinh thay thế; trong một vài TFR bằng 2,07 vào năm 2006. Biểu đồ 7 thể năm trở lại đây, mức sinh tiếp tục giảm song hiện các đường biểu thị xu hướng của TFR, với tốc độ chậm. bao gồm những ước tính của Điều tra PCFPS được thực hiện hàng năm trong giai đoạn Bảng 4 thể hiện một số ước tính chủ yếu về 2000-2007. Xu hướng giảm dần trong vài mức sinh đặc trưng theo tuổi và tổng tỷ suất năm gần đây cho thấy TFR có thể vẫn đang sinh (TFR) trong khoảng thời gian 20 năm. giảm, nhưng với tốc độ chậm. Những ước tính này dựa trên dữ liệu của Tổng Điều tra dân số, Điều tra nhân khẩu Mặc dù xu hướng chung từ 1998 đến 2006 rõ học giữa hai cuộc tổng điều tra (ICDS) và ràng có chiều đi xuống, vẫn có một số dao từ Điều tra biến động dân số và kế hoạch động xung quanh đường biểu thị xu hướng từ hóa gia đình (PCFPS), được tính toán cho năm 2001 đến năm 2003. Những dao động khoảng thời gian 12 tháng trước thời điểm này không phải là không phổ biến trong các 34 điều tra, sử dụng các thuật toán ước tính dữ liệu điều tra . Trong trường hợp này, các gián tiếp33. Điều tra DHS cho kết quả ước dao động có thể được gây ra bởi những bất tính trong khoảng thời gian 5 năm trước thời thường trong quá trình thu thập dữ liệu, do điểm điều tra. lỗi chọn mẫu ngẫu nhiên, hoặc chúng cũng có thể phản ánh “hiệu ứng nhịp độ” thực tế trong Ngoại trừ một vài điểm không nhất quán và tỷ suất sinh khi các cặp vợ chồng điều chỉnh bất thường không đáng kể trong dữ liệu, nhìn hành vi sinh sản của họ nhằm thích ứng với chung các ước tính đều khẳng định mức sinh những thay đổi ngắn hạn về điều kiện kinh đã giảm đáng kể từ cuối những năm 1980 tế hay để sinh vào những thời điểm được coi đến nay, từ trung bình 4 ca sinh sống trên là may mắn (chẳng hạn như năm Quý Mùi một phụ nữ xuống mức thay thế là 2,1 vào 2003). Bất luận thế nào, xu hướng chung rõ thời điểm năm 2005. Điều tra PCFPS 2007 ràng là giảm. Xu hướng này có vẻ như sẽ tiếp tục song với một tốc độ chậm hơn. 33 Điều tra PCFPS sử dụng biến Trussell trong thuật toán ước tính gián tiếp P/F (TCTK 2007: 57). Kết quả phép tính phụ thuộc vào số ca sinh sống được ghi nhận bởi cuộc điều tra trong khoảng thời gian 12 tháng trước thời điểm điều tra (ngày 1 tháng 4); vì thế ước tính TFR dựa trên kết quả điều tra được thực hiện trong một năm, có nghĩa là khoảng thời 34 Chính vì vậy mà những dữ liệu này thường được gộp gian 12 tháng mà trung điểm của nó thực ra vẫn 3 năm một (hoặc dài hơn) và các “giá trị bình quân thuộc năm trước đó (ngày 1 tháng 10). dao động” được sử dụng Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020 29
  30. Bảng 4. Ước tính tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi và tổng tỷ suất sinh (TFR), từ nhiều nguồn, Việt Nam, 1987-2005 1988 1989 1994 1997 1999 2002 2006 Điều Tổng Điều tra Điều Tổng Điều Điều tra Tuổi tra DHS điều ICDS tra DHS điều tra DHS PCFPS (1987) tra DS (1989- (1992- tra DS (1998- (2005) (1988- 1993) 1996) (1998) 2002) 1989) 15-19 20 35 38 39 29 25 28 20-24 235 197 196 178 158 138 137 25-29 243 209 189 148 135 114 131 30-34 151 155 124 95 81 60 76 35-39 85 100 69 52 41 26 35 40-44 51 49 31 20 18 10 9 45-49 11 14 2 4 6 2 1 TFR 3,98 3,8 3,25 2,67 2,3 1,87 2,09 Nguồn: NCPFC và ORC Macro (2003: 29) và TCTK (2007:59). Ghi chú: Những năm trong ngoặc đơn là thời điểm mà số liệu phản ánh Biểu đồ 7. Các xu hướng của TFR Trong những năm gần đây, đã có lúc một số theo Tổng Điều tra và Điều tra ICDS, chính trị gia, quan chức và nhà báo cho rằng PCFPS và DHS, 1987-2006 có những dấu hiệu của một cuộc “bùng nổ dân số” chớm bắt đầu, song các nhà nhân khẩu 5 học đã kiểm tra các dữ liệu và không thấy có 4 bằng chứng nào ủng hộ nhận định này35. 3 2 1 35 Gigi Santow đã thực hiện một nghiên cứu độc lập từ tháng 2 đến tháng 3 năm 2005. Kết quả nghiên cứu 0 của bà được tóm tắt trong tài liệu UNFPA (2005): 1987 1990 1993 1996 1999 2002 2005 “Các phân tích được trình bày cho thấy mức tăng nhẹ của [tỷ lệ tăng tự nhiên] trong năm 2003 không thể được xem là bằng chứng của một cuộc “bùng nổ dân số”. Ngay cả khi thực sự có biến động thì đơn giản là Nguồn: Giống như Bảng 4. vẫn còn quá sớm để khẳng định, chưa nói đến một thực tế là pháp lệnh dân số mới có hiệu lực tháng 5/2003, khoảng thời gian quá ngắn để có thể dẫn tới "bùng nổ dân số" trong năm 2003. Mức sinh sẽ tiếp tục giảm. Xu hướng đi xuống từ năm 1988 đến nay hoàn toàn là hợp lý. Trong thực tế, mức sinh dao động từ năm này sang năm khác, song các xu hướng mà những con số này thể hiện qua một khoảng thời gian dài là rõ rệt. Cách thức các dữ liệu và ước tính dân số được thực hiện ở Việt Nam là một ví dụ cho thấy cần có sự thận trọng và cẩn tắc để đảm bảo kết quả thu được là tốt nhất có thể. Tuy nhiên, những dữ liệu và ước tính này cần được phân tích kỹ hơn và công bố một cách chính xác để tránh báo động sai không đáng có”. 30 Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020
  31. Thời gian sẽ cho biết liệu TFR có tiếp tục Biểu đồ 8. Tỷ suất sinh đặc trưng mức giảm chậm như hiện nay hay không; theo độ tuổi, Việt Nam, 1988, 1998, liệu nó sẽ “dao động” xung quanh một mức 2006 trung bình gần với mức sinh thay thế; hay liệu nó có tăng trở lại hay không. Các xu 250 hướng trên Biểu đồ 7 cho thấy (i) điều quan 200 trọng là phải theo dõi các biến động của 150 TFR trong tương lai, và (ii) các nhà hoạch định chính sách có thể sẽ phải xem xét các 100 can thiệp về chính sách khi cần thiết nhằm 50 đảm bảo duy trì TFR ở gần xung quanh mức sinh thay thế. 0 15-19 20-24 25-29 30-34 35-39 40-44 45-49 1.000) theo độ tuổi ( đ.vị đặc trưng ỷ suất T Tuổi Biểu đồ 8 cho thấy tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi của các năm 1988, 1998 và 2006 Tổng điều tra Tổng điều tra điều tra năm1989 năm 1999 năm 2007 qua kết quả Tổng điều tra dân số năm 1989, năm 1999 và Điều tra PCFPS 2007. Đồ thị Nguồn: TCTK (2008). thể hiện xu hướng chung là mức sinh giảm ở tất cả các nhóm tuổi. Có thể thấy năm 2007, Biểu đồ 9. Những khác biệt theo nhóm tuổi 25-29 đã nổi lên thành nhóm có khu vực về TFR theo Điều tra mức sinh cao nhất (theo dữ liệu năm 2006, PCFPS, 2000-2005 mức sinh cao nhất được ghi nhận trong nhóm tuổi 20-24). Sinh muộn hơn cũng là một xu 4 hướng đáng lưu ý: “Với việc lựa chọn sinh con muộn hơn, phụ nữ ngày nay có cơ hội tăng cường kiến thức và năng lực chuyên môn, và 3 nhờ đó họ có cơ hội có được việc làm tốt hơn với thu nhập cao hơn” (UNFPA 2008: 15). Kinh nghiệm quốc tế cho thấy khả năng trở lại mức sinh cao là rất ít. 2 Những khác biệt giữa các 1 vùng 2000 2001 2002 2003 2004 2005 Biểu đồ 9 cho thấy TFR giữa các vùng có sự Tây Nguyên Đông Bắc chênh lệch đáng kể. Trong thập kỷ này, TFR Bắc Trung Bộ Đồng bằng Bắc bộ đã và đang giảm ở tất cả các khu vực; mức Đồng bằng sông Cửu Long giảm cao nhất là từ năm 2000 đến 2005 tương Tây Bắc ứng ở các khu vực bắt đầu với TFR cao nhất: Ven biển Trung bộ Đông Nam bộ Tây Nguyên từ 3,8 xuống 2,8; Đông Bắc từ Nguồn: TCTK (2007: 62). 3,5 xuống 2,4; và Bắc Trung bộ từ 2,8 xuống 2,5. Đến thời điểm năm 2006, Tây Nguyên là khu vực duy nhất có TFR trên 3,5. thể giả định rằng Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Các yếu tố khác nhau gắn với sự 4.2 Các nguyên nhân kinh tế - phát triển kinh tế - xã hội đã làm cho mức xã hội của giảm mức sinh sinh giảm trong những thập kỷ gần đây. Các nghiên cứu trong 50 năm vừa qua cho Bảng 5 cho thấy TFR theo nơi cư trú và trình thấy giảm mức sinh liên tục không bao giờ độ học vấn theo dữ liệu DHS năm 2002. Điều là do tác động của một nhân tố phát triển tra DHS tính toán TFR bằng cách sử dụng một riêng lẻ nào. Phát triển kinh tế, thu nhập, phương pháp trực tiếp dựa trên số ca sinh sống quá trình đô thị hóa, giáo dục, tổ chức chính được báo cáo trong khoảng thời gian 5 năm trị - hành chính, tôn giáo và văn hóa đều trước thời điểm điều tra (trung điểm là năm góp phần vào giảm mức sinh. Chúng ta có 2000). Phương pháp này thường đánh giá TFR Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020 31
  32. Bảng 5. TFR theo đặc điểm cơ bản, dữ liệu Điều tra DHS 2002 TFR trung bình cho 5 năm trước thời điểm điều tra Nơi cư trú Thành thị 1,40 Nông thôn 1,99 Trình độ học vấn Thất học 2,82 Một phần tiểu học 1,98 Tốt nghiệp tiểu học 2,13 Tốt nghiệp trung học cơ sở 1,71 Tốt nghiệp phổ thông trung học trở lên 1,39 Tổng 1,87 Nguồn: NCPFC và ORC Macro (2003). thấp hơn thực tế36 (mặc dù trong trường hợp 4.3 Các yếu tố ảnh hưởng của Việt Nam, tính thống nhất của các kết quả ước tính dựa trên các nguồn dữ liệu khác nhau Khung lý thuyết giải thích các yếu tố ảnh thể hiện trên Biểu đồ 7 là rất ấn tượng), nó có hưởng tới mức sinh (Bongaarts 1978; thể là một thước đo khá tin cậy những sự chênh Easterlin và Crimmins 1983). Việc xem xét lệch này. Trong giai đoạn 5 năm mà trung điểm vai trò của các yếu tố khác nhau (gắn với sự là năm 2000, dường như phụ nữ nông thôn có phát triển) ảnh hưởng đến mức sinh được hỗ tổng số ca sinh sống trung bình nhiều hơn phụ trợ rất lớn bởi khung lý thuyết này xác định nữ thành thị 0,6 con. Hơn nữa, phụ nữ thất học các cơ chế hoạt động cụ thể của các yếu tố có số ca sinh sống gấp hai lần phụ nữ đã học kinh tế - xã hội có tác động đến mức sinh. Có qua bậc trung học hay cao hơn. 8 yếu tố ảnh hưởng do Bongaarts xây dựng, chia làm 3 nhóm lớn: Những khác biệt này phần nào thể hiện mức sinh sẽ biến động như thế nào trong tương lai Các yếu tố trực tiếp khi dân số trở nên đô thị hóa hơn và có trình 1. Tỷ lệ kết hôn độ học vấn cao hơn. Trong tương lai, mức dao động của TFR (khoảng 0,5 ca sinh sống trên Các yếu tố kiểm soát mức sinh trong hôn mỗi phụ nữ) xung quanh mức sinh thay thế có nhân có chủ định vẻ nghiêng về xu hướng giảm hơn là tăng. 2. Sử dụng các biện pháp tránh thai 3. Nạo phá thai Các yếu tố kiểm soát mức sinh trong hôn nhân 4. Vô sinh trong thời kỳ cho con bú 36 Lý do là vì trong các “hồ sơ thai sản” do những người thực 5. Tần suất giao hợp hiện phỏng vấn thu thập, một số ca sinh sống không được ghi nhận. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, có 6. Vô sinh khả năng là có những thiên lệch về mặt phương pháp 7. Thai chết lưu luận, dẫn đến việc ước tính TFR quá cao. Chẳng hạn, trong Điều tra DHS của Inđônêxia, xem ra số phụ nữ độc 8. Độ dài chu kỳ sinh sản thân không được thống kê đầy đủ trong danh sách hộ gia đình, làm cho mẫu số trong phép tính TFR quá nhỏ. Xem tài liệu của Hull và Hartanto, sắp xuất bản). 32 Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020
  33. “Đặc điểm cơ bản của các yếu tố ảnh hưởng và ORC Macro 2003: 61). Bảng 6 thể hiện là có tác động trực tiếp đối với mức sinh. Nếu tình trạng hôn nhân của phụ nữ theo độ tuổi, một yếu tố ảnh hưởng nào đó, chẳng hạn như theo Điều tra DHS 2002. Ở nhóm tuổi 30-34, tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai thay đổi, tỷ lệ phụ nữ chưa bao giờ kết hôn giảm xuống thì mức sinh cũng sẽ thay đổi theo (giả định còn 7,7; ở nhóm tuổi 35-39, 89,7% hiện đang rằng các yếu tố ảnh hưởng khác không đổi), kết hôn. Chỉ có 5,1% phụ nữ đến tuổi 50 vẫn trong khi điều này không xảy ra đối với trường chưa kết hôn. Hôn nhân là lựa chọn gần như hợp yếu tố ảnh hưởng khác như thu nhập và phổ biến ở Việt Nam. giáo dục. Vì thế, những khác biệt về mức sinh giữa các nhóm dân số và xu hướng mức sinh Căn cứ vào dữ liệu tổng điều tra và điều tra theo thời gian luôn luôn có thể được gắn với PCFPS, TCTK đã xác định trong một vài thập những biến động của một hay nhiều yếu tố kỷ gần đây, tỷ lệ phụ nữ chưa bao giờ kết hôn ảnh hưởng”. (Bongaarts 1978: 105-106). gần như không thay đổi, trừ nhóm ít tuổi nhất có giảm không đáng kể; tỷ lệ phụ nữ đã từng Các nghiên cứu trên các mô hình sinh sản và kết hôn giảm từ 11,4% xuống còn 6,1% trong nghiên cứu so sánh trong ba thập kỷ đã chỉ nhóm 15-19 tuổi, và từ 57,5 xuống 45,4 trong ra rằng những khác biệt đáng kể về mức sinh nhóm 20-24 tuổi (xem biểu đồ 10). Điều đáng trong các nhóm dân cư có thể được giải thích ngạc nhiên là không có sự thay đổi nào đáng phần lớn bởi sự chênh lệch giữa 4 yếu tố, kể về độ tuổi trung bình khi kết hôn lần đầu đó là: tỷ lệ kết hôn, tỷ lệ sử dụng biện pháp (SMAM) của phụ nữ: 23,2 tuổi vào thời điểm tránh thai, nạo phá thai và vô sinh trong thời 1989 và 2006 (với dao động nhẹ được ghi kỳ cho con bú (Bongaarts 2003). Sau đây, nhận trong những năm xen giữa hai thời điểm chúng tôi sẽ phân tích các xu hướng hiện nay này)37. Tuy vậy, phụ nữ thành thị vẫn kết hôn của từng biến trong điều kiện của Việt Nam, muộn hơn phụ nữ nông thôn trung bình là 2 trước hết với biến tỷ lệ kết hôn. năm (ở 24,7 tuổi đối với phụ nữ thành thị so với 22,6 tuổi đối với phụ nữ nông thôn vào Tỷ lệ kết hôn “Giống như nhiều nước trên thế giới, ở Việt 37 Điều tra DHS 2002 cũng cho kết quả tương tự, tuổi Nam hôn nhân là thời điểm phụ nữ bắt đầu kết hôn trung bình của phụ nữ ổn định ở khoảng 21 phải đối diện với rủi ro của sinh nở” (NCPFC tuổi đối với các nhóm tuổi từ 25-29 đến 45-49. Bảng 6. Phân bổ tỷ lệ phần trăm phụ nữ theo tình trạng hôn nhân và nhóm tuổi, 2002 Tuổi Độc thân Đã lập Góa vợ/ Ly hôn K h ô n g Tổng gia đình chồng chung sống 15-19 95,8 4,1 0,0 0,0 0,1 100,0 20-24 52,2 46,4 0,0 0,8 0,5 100,0 25-29 18,1 80,0 0,2 1,2 0,5 100,0 30-34 7,7 88,8 0,9 1,7 1,0 100,0 35-39 5,5 89,7 2,1 2,1 0,6 100,0 40-44 7,2 85,7 3,4 2,6 1,1 100,0 45-49 5,1 82,0 7,0 3,4 2,5 100,0 Tổng 32,0 64,1 1,6 1,5 0,8 100,0 Nguồn: NCPFC và ORC Macro (2003: 61). Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020 33
  34. Biểu đồ 10. Phần trăm phụ nữ đã con bú thì giai đoạn vô kinh sau sinh - giai kết hôn, 1989-2006 đoạn khó có khả năng có thai cũng sẽ ngắn lại, song khi mà đại đa số phụ nữ trong dân 100 cư sử dụng các biện pháp tránh thai thì tác 75 động tới mức sinh của yếu tố này rất có thể sẽ không đáng kể. 50 25 4.4 Sử dụng các biện pháp 0 tránh thai (BPTT) 1989 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Cơ chế chủ yếu cho việc giảm mức sinh của Năm điều tra dân số dân số Việt Nam cho đến nay chính là việc sử dụng các BPTT. Điều tra DHS 2002 khẳng 15-19 20-24 45-49 định rằng gần như tất cả phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ đều biết ít nhất một BPTT. Bảng 7 Nguồn: TCTK (2007: 27). cho thấy tỷ lệ sử dụng các BPTT của phụ nữ hiện đã kết hôn trong Điều tra DHS 2002 thời điểm năm 2006). Trong khi đó, SMAM của theo độ tuổi và theo một số đặc điểm cơ bản: nam giới tăng từ 24,5 lên 26,6 tuổi trong cùng tỷ lệ phụ nữ đã kết hôn đang ở độ tuổi sinh kỳ, 1989-2006. sản (CMWRA) đang sử dụng các biện pháp tránh thai là 78,5% trong đó 56,7% sử dụng Ở nhiều nước đang phát triển, xu hướng kết BPTT hiện đại. Một điều đáng lưu ý là có tới hôn ngày càng muộn có vai trò quan trọng 21,8%38 CMWRA đang sử dụng BPTT truyền trong việc giảm mức sinh, song điều này có thống (tính vòng kinh hoặc xuất tinh ngoài) vẻ diễn ra khá chậm ở Việt Nam. Tuy nhiên, CPR năm 2002 (tất cả các BPTT - kể cả hiện với quá trình đô thị hóa tiếp tục tăng trong 10 đại và truyền thống) là cao hơn 3% so với năm tới, chúng ta có thể dự báo rằng độ tuổi Điều tra DHS 1997. kết hôn lần đầu trung bình đối với phụ nữ sẽ tăng, làm cho thời điểm sinh con muộn hơn và Một vấn đề khác cũng đáng lưu ý là có sự TFR cũng sẽ thấp hơn. chênh lệch không đáng kể về CPR (của bất kỳ BPTT nào) giữa phụ nữ thành thị và nông Vô sinh trong thời kỳ cho con bú thôn. Mặt khác, lại có sự chênh lệch tới 15% giữa nhóm có CPR cao nhất (là nhóm có trình Khả năng có thai là rất thấp trong giai đoạn độ tốt nghiệp phổ thông cơ sở) và nhóm có vô kinh sau sinh (thời gian từ sau sinh đến CPR thấp nhất (là nhóm thất học); tương tự trước khi có kinh trở lại). Độ dài của giai đoạn giữa vùng có CPR cao nhất (là vùng Đồng này được quyết định bởi độ dài và mức độ bằng Bắc bộ) và khu vực có CPR thấp nhất cho con bú nhiều hay ít. Phụ nữ cũng “không (là vùng Tây Nguyên). sẵn sàng” đối với việc mang thai sau sinh, trong giai đoạn trước khi có quan hệ tình dục Một điều đáng quan tâm là phụ nữ có trình trở lại. Ở những nền văn hóa mà người ta độ tốt nghiệp phổ thông trung học (hay cao quan niệm cần kiêng quan hệ tình dục một hơn) lại có CPR thấp hơn so với những người thời gian dài sau sinh, mức sinh có thể bị tác chỉ mới tốt nghiệp phổ thông cơ sở. Thêm động đáng kể. Tuy nhiên, theo dữ liệu điều vào đó, có tới 24,4% phụ nữ tốt nghiệp phổ tra DHS 2002, thời kỳ kiêng quan hệ tình dục thông cơ sở và 25,1% phụ nữ tốt nghiệp phổ sau sinh trung bình chỉ là 4 tháng. Thời gian thông trung học (hay cao hơn) đang sử dụng vô kinh sau sinh trung bình là gần 8 tháng. một BPTT truyền thống39. CPR của phụ nữ Đây chính là một yếu tố quan trọng trong có hai con sống là 88,8%, mặc dù tỷ lệ này việc hạn chế có thai sau sinh. có giảm xuống một chút ở những phụ nữ có Không có dữ liệu tin cậy nào về tình hình nuôi 38 Chênh lệch giữa 78,5 % sử dụng bất kỳ BPTT nào và con bằng sữa mẹ ở Việt Nam, song có thể giả 56,7 % sử dụng bất kỳ BPTT hiện đại nào. định rằng đó không phải là một yếu tố quan 39 Cần nghiên cứu nguyên nhân tại sao vẫn còn nhiều trọng góp phần tạo nên mức giảm sinh hiện cặp vợ chồng còn sử dụng các biện pháp truyền thống, nay. Nếu các bà mẹ rút ngắn thời gian cho phải chăng đó là do họ không hài lòng với các dịch vụ hoặc với các phương pháp tránh thai hiện đại. 34 Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020
  35. Bảng 7. CPR trong số phụ nữ đã kết hôn theo độ tuổi và đặc điểm cơ bản, 2002 Tuổi Bất kỳ biện Bất kỳ biện pháp Hiện không pháp nào hiện đại nào sử dụng 15-19 22,8 14,1 77,2 20-24 57,7 44,5 42,3 25-29 73,4 56,9 26,6 30-34 83,1 63,3 16,9 35-39 90,2 65,0 9,8 40-44 88,8 60,1 11,2 45-49 68,2 42,3 31,8 Nơi cư trú Thành thị 79,1 54,9 20,9 Nông thôn 78,4 57,1 21,6 Trình độ học vấn Thất học 65,7 53,9 34,3 Một phần tiểu học 76,1 57,7 23,9 Tốt nghiệp tiểu học 77,7 56,4 22,3 Tốt nghiệp trung học cơ sở 82,8 58,4 17,2 Tốt nghiệp phổ thông 79,2 54,1 20,8 trung học trở lên Vùng Đồng bằng Bắc bộ 78,4 56,6 21,6 Đông Bắc 82,8 59,4 17,2 Tây Bắc 79,8 57,3 20,2 Bắc Trung bộ 77,2 58,7 22,8 Nam Trung bộ 66,3 41,6 33,7 Tây Nguyên 75,7 52,9 24,3 Đông Nam bộ 76,7 56,6 23,3 Đồng bằng Sông Cửu Long Số con còn sống 0 6,7 3,8 93,3 1 67,6 46,6 32,4 2 88,8 66,6 11,2 3 86,7 61,0 13,3 4+ 79,6 56,5 20,4 Tổng 78,5 56,7 21,5 Nguồn: NCPFC và ORC Macro (2003: 40). Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020 35
  36. khoảng cách giữa 2 lần sinh dài hơn40. BPTT Rất có khả năng TAR ở mức 0,62 là một ước được sử dụng phổ biến nhất ở Việt Nam là tính quá thấp. Thu thập được thông tin chính đặt vòng tránh thai (IUD), chiếm tới 38% xác về tỷ lệ nạo phá thai là một việc rất khó số phụ nữ đã kết hôn theo kết quả điều tra khăn. Ở Việt Nam, do việc nạo phá thai là hợp năm 2002; BPTT phổ biến thứ hai là xuất pháp và không còn có sự kỳ thị đối với việc tinh ngoài (14%). Triệt sản nữ, bao cao su và này (ít nhất là ở những phụ nữ đã kết hôn) thuốc uống tránh thai, mỗi biện pháp chiếm nên các số liệu có thể đáng tin cậy hơn so với trên dưới 6% tổng số phụ nữ đã kết hôn; nhiều nước khác trong khu vực. Tuy vậy, tỷ lệ dưới 1% sử dụng triệt sản nam và thuốc tiêm nạo phá thai ước tính trong các cuộc điều tra tránh thai. Trong các năm 1997 đến 2002, tỷ DHS trước đây ở Việt Nam chỉ bằng 1/5 tỷ lệ lệ sử dụng IUD giảm nhẹ trong khi tỷ lệ sử ước tính của Bộ Y tế dựa trên thống kê riêng dụng thuốc uống tránh thai tăng nhẹ (NCPFC của họ42. Nạo phá thai ở phụ nữ chưa bao giờ và ORC Macro 2003: 39). kết hôn cũng được ước tính là khoảng 10% tổng số ca nạo phá thai ở Việt Nam43. Tỷ lệ Điều tra PCFPS đã thống kê tỷ lệ sử dụng nạo phá thai trong Bảng 9 được ước tính với các BPTT trong thập kỷ này. Bảng 8 cho thấy hệ số tăng lên từ kết quả điều tra ở nhóm phụ CPR tiếp tục tăng chậm, có giảm chút ít trong nữ đã từng kết hôn để bù trừ cho nhóm phụ những năm giữa của thập kỷ. Ngày càng có nữ chưa bao giờ kết hôn. thêm nhiều phụ nữ đang dần dần chuyển từ việc sử dụng các BPTT truyền thống sang các Điều tra DHS cũng cho thấy trong 3 năm BPTT hiện đại. Điều tra DHS và PCFPS đều có trước cuộc điều tra, 22% số phụ nữ mang kết quả gần giống nhau về CPR (tất cả các thai đã phá thai, bằng kỹ thuật điều hòa kinh BPTT) tại thời điểm năm 2002, song lại có sự nguyệt (17%) hoặc nạo phá thai (5%). chênh lệch đáng kể về tỷ lệ sử dụng các BPTT truyền thống và các BPTT hiện đại. Điểm này Là một biện pháp kiểm soát mức sinh trong cần được nghiên cứu thêm. hôn nhân có chủ định, nạo phá thai có vai trò đáng kể, tuy vẫn ít hơn so với vai trò của việc sử dụng các BPTT, trong việc giảm mức sinh. 4.5 Nạo phá thai Phần lớn các ca nạo phá thai của phụ nữ có gia đình (64%) xảy ra ở những người đang sử dụng Chấm dứt sự mang thai một cách có chủ định có các BPTT (có nghĩa là họ bị “vỡ kế hoạch”); thể điều chỉnh được việc sinh con. “Ở Việt Nam, một nửa trong số này là ở những người đang nạo phá thai là hợp pháp và có thể được thực hiện sử dụng các BPTT truyền thống44. ở các cơ sở y tế công lập và tư nhân. Có hai kỹ thuật được sử dụng để chấm dứt sự mang thai, đó là; điều hòa kinh nguyệt (hút chân không) đối với thai dưới 5 tuần kể từ ngày thụ thai và nạo phá thai đối với thai dưới, đôi khi sau 12 tuần ” (NCPFC và ORC Macro 2003: 56). 42 Thêm vào đó, điều tra DHS chỉ hỏi các câu hỏi về phụ nữ đã từng lập gia đình trong khi thống kê của Bộ Y tế chỉ lấy từ các cơ sở y tế công lập; vị thành niên và Bảng 9 liệt kê các dữ liệu Điều tra DHS 2002 phụ nữ độc thân thường chọn các cơ sở y tế tư nhân về tỷ lệ nạo phá thai (TAR)41 ở phụ nữ đã để được nạo phá thai. Trong nghiên cứu toàn cầu về vấn đề nạo phá thai, Viện Alan Guttmacher (1999) từng kết hôn trong nhóm tuổi 15-49 trong ước tính TAR của Việt Nam là 2,50 ca nạo phá thai/ thời gian 5 năm trước thời điểm điều tra phân phụ nữ vào năm 1996, so với 0,79 của Trung Quốc, theo đặc điểm cơ bản. Bảng này cũng cho 0,69 của Mỹ, 0,48 của Singapo - trong thực tế, trong số 26 nước được khảo sát, chỉ có Nga có TAR cao hơn thấy số ca nạo phá thai trung bình của phụ (= 2,56). Tỷ lệ trung bình của thế giới là 1,05. Tài nữ đã từng kết hôn trong nhóm tuổi 40-49. liệu của WHO, UNICEF, UNFPA và Ngân hàng Thế giới (2007) có phân tích những hạn chế của tỷ lệ này và khoảng tin cậy rất lớn gắn với chúng. 40 Vấn đề này cũng cần phải được nghiên cứu thêm. Một 43 Số liệu này được đề cập trong NCPFC và ORC Macro số cán bộ tại một số địa phương lo lắng về số cặp vợ (2003) nhưng không trích dẫn nguồn. Điều tra DHS chồng có “con thứ 3” mà họ quan sát được, song đây không phỏng vấn những phụ nữ chưa bao giờ kết hôn không phải là hiện tượng phổ biến trong cả nước, vì về chủ đề này. thực tế tỷ lệ áp dụng các biện pháp KHHGĐ của các 44 Đa số những người được hỏi cho biết họ nạo phá thai cặp vợ chồng là rất cao. là vì bị vỡ kế hoạch (có thai ngoài ý muốn hoặc không 41 TAR tương tự như TFR ở chỗ nó cho biết tổng số ca đúng lúc) và trong số những trường hợp có thai ngoài chấm dứt sự mang thai (điều hòa kinh nguyệt và nạo ý muốn, khoảng 50% tiến hành nạo phá thai. Xem tài phá thai) một phụ nữ có thể có trong cả cuộc đời nếu liệu Linh (2006) để tìm hiểu sâu hơn một số vấn đề người phụ nữ đó thực hiện chấm dứt sự mang thai ở liên quan đến các yếu tố quyết định việc mang thai sẽ tỷ lệ đặc trưng theo độ tuổi hiện tại. kết thúc bằng một ca nạo phá thai hay một ca sinh. 36 Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020
  37. Bảng 8. CPR, các biện pháp tránh thai hiện đại và truyền thống, 2002-2007 Bất kỳ biện pháp Bất kỳ biện pháp Biện pháp truyền Năm nào hiện đại nào thống 2002 76,9 64,7 12,2 2003 75,3 63,5 11,8 2004 75,7 64,6 11,1 2005 76,9 65,8 11,1 2006 78,0 67,1 10,8 2007 79,0 68,2 10,8 Nguồn: PCFPS. Bảng 9. Tỷ lệ nạo phá thai, Việt Nam, dữ liệu năm 2002 Tổng tỷ lệ nạo phá thai Số ca nạo phá thai trung (toàn bộ phụ nữ từ bình của phụ nữ đã từng 15-49 tuổi, trong thời kết hôn, trong nhóm tuổi gian 5 năm trước thời 40-49 điểm điều tra) Nơi cư trú Thành thị 0,49 0,50 Nông thôn 0,65 0,39 Trình độ học vấn Thất học 0,63 0,14 Một phần tiểu học 0,52 0,25 Tốt nghiệp tiểu học 0,58 0,35 Tốt nghiệp trung học cơ sở 0,72 0,54 Tốt nghiệp phổ thông 0,59 0,57 trung học trở lên Khu vực Vùng núi phía Bắc 1,35 0,66 Đồng bằng Bắc bộ 0,84 0,63 Bắc Trung bộ 0,52 0,33 Ven biển Trung bộ 0,09 0,07 Tây nguyên 0,27 0,31 Đông Nam bộ 0,31 0,23 Đồng bằng Sông Cửu Long 0,27 0,25 Tổng 0,62 0,42 Nguồn: NCPFC và ORC Macro (2003: 58). Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020 37
  38. 4.6 Tỷ số giới tính khi sinh Tổng điều tra 1999 (Bélanger và những người khác - 2003). Guilmoto đã chỉ ra rằng trong Một vấn đề chính sách lớn nổi lên trong thập khi nghiên cứu định tính về tâm lý thích con kỷ vừa qua là việc nạo phá thai chọn lọc giới trai hơn con gái của Bélanger (2006) tại tỉnh tính. Theo kết quả Điều tra PCFPS tỷ số giới Hà Tây “đã không khẳng định được việc dẫn tính khi sinh (SRB) trong giai đoạn 2000- tới tỷ lệ nạo phá thai lựa chọn giới tính cao 2005 đã dao động giữa 104 (năm 2002) và vào năm 2000-2002, thì một số nghiên cứu 110 (năm 2005); năm 2006 con số này tăng gần đây được thực hiện năm 2007 lại khẳng lên 112 ca sinh bé trai sống trên 100 ca sinh định điều này (ISDS 2007). Mặc dù tỷ lệ này bé gái sống. Tỷ số này ở mức “bình thường” ở Việt Nam mới gần đây tăng cao hơn so với là từ 104 đến 106. các nước châu Á khác, song đang tăng với mức độ khá nhanh”. Một giả định mà các phương tiện thông tin đại chúng, quan chức chính phủ và người dân Cho dù thế nào, vấn đề SRB cần được nghiên hay nói đến là mất cân bằng giới tính khi sinh cứu cặn kẽ hơn. Một điều có thể nhận thấy là cao của Việt Nam hiện nay là do nạo phá thai niềm tin và các thực hành dẫn đến tình trạng chọn lọc giới tính. Tâm lý thích con trai hơn SRB cao không nhất quán trong cả nước và con gái hiện vẫn tồn tại bởi yếu tố văn hóa dữ liệu về SRB phân bổ theo vùng hay theo truyền thống và công nghệ phát hiện sớm tỉnh của Bộ Y tế (dựa trên dữ liệu từ các giới tính thai nhi có thể tiếp cận dễ dàng ở thẻ khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ dưới 6 mọi nơi. Việc phát hiện sớm giới tính thai nhi tuổi) không có vẻ đáng tin cậy. Các kết quả bị luật pháp nghiêm cấm song rõ ràng là điều của cuộc Tổng điều tra dân số 2009 sẽ giúp này không có hiệu lực (hay thậm chí không phân tích kỹ hơn về SRB. thể thực thi). SRB cao xem ra không phải là “lỗi ghi chép”, tức là không phải do số ca sinh bé trai được báo cáo đầy đủ hơn so với số ca 4.7 Những xu hướng hiện sinh bé gái trong cuộc điều tra45. nay của tỷ suất tăng dân số tự nhiên Guilmoto (2008: 12), sau khi rà soát các dữ liệu, đã kết luận rằng: “Dữ liệu mới nhất Như đã đề cập trong chương trước và chương từ điều tra PCSFP 2007, cho thấy SRB năm này, báo cáo đã lần lượt phân tích mức giảm 2006 cao hơn hẳn so với mức bình thường ở về sinh và tử bằng cách sử dụng các số liệu những nơi khác trên thế giới, đồng thời cũng ước tính của TCTK trong thập kỷ vừa qua. Từ cao hơn hẳn SRB tại Việt Nam trước năm đó báo cáo có thể đánh giá các kết quả và ý 2000. Mặc dù SRB của Việt Nam hiện nay nghĩa của chúng đối với việc ước tính tỷ suất thấp hơn so với SRB của Trung Quốc và một tăng dân số tự nhiên. TCTK sử dụng các số số bang của Ấn Độ như Punjab, Gujarat hay liệu ước tính tỷ suất chết và sinh đặc trưng Haryana – song nó chứng tỏ sự tồn tại không theo tuổi (từ các dữ liệu tổng điều tra và điều thể phủ nhận của việc lựa chọn giới tính thai tra PCFPS, sử dụng các thuật toán ước tính nhi của các bậc cha mẹ”. gián tiếp) để tính tỷ suất tăng dân số tự nhiên. Bảng 10 cho thấy kết quả của cuộc Tổng điều Trong thực tế, một số nhà nghiên cứu khác tra lần trước và những cuộc điều tra thực hiện đã phát hiện từ sớm hơn nữa bằng chứng của trong khoảng thời gian từ 2003 - 2007. việc cha mẹ lựa chọn giới tính thai nhi qua dữ liệu điều tra DHS 1997 (Le 2006)46 hay của 46 Trong nghiên cứu phân tích kết quả điều tra DHS 1997, Le (2006: 57) viết: “ Dữ liệu cho thấy có một xu hướng rõ ràng trong việc phụ nữ và các cặp vợ chồng Việt Nam ‘thích con trai hơn’. Những phụ nữ đã từng nạo phá thai có trung bình 1,5 con trai sống so với 1,0 con trai sống ở những phụ nữ quyết định sinh con mà không nạo phá thai. Mức chênh lệch này cũng liên quan đến quyết định thực hiện điều hòa kinh nguyệt/nạo phá thai – những phụ nữ chọn điều hòa kinh nguyệt/nạo phá thai đã có trung bình 2,8 45 Điều tra MICS 2006 cho thấy trong khi chỉ có 87,6 % trẻ lần sinh sống so với 2,1 lần sinh sống ở những phụ em dưới 5 tuổi có đăng ký khai sinh, không có “chênh nữ quyết định vẫn sinh con dù là ngoài dự kiến. Tuy lệch đáng kể nào về số trường hợp khai sinh giữa hai nhiên, số bé gái sống lại không có liên hệ gì với quyết giới” (TCTK 2007: 101). định điều hòa kinh nguyệt hay nạo phá thai ” 38 Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020
  39. Bảng 10. CBR, CDR và tỷ suất tăng dân số tự nhiên, 1998 và 2002-2006 Tỷ suất tăng Năm điều tra/ Năm tham CBR CDR dân số tự tổng điều tra chiếu nhiên 1999 1998 19,9 5,7 1,42 2003 2002 17,5 5,8 1,17 2004 2003 19,2 5,4 1,38 2005 2004 18,6 5,3 1,33 2006 2005 17,4 5,3 1,21 2007 2006 16,9 5,3 1,16 Nguồn: TCTK. Cần lưu ý rằng những con số này chỉ là ước và IMR. CDR không biến động nhiều lắm so tính. Do không có một hệ thống đăng ký sinh với mức trung bình cả nước là 5,3 trên 1.000, tử quốc gia (tức là hệ thống theo dõi tất cả song khi xem xét tỷ suất chết sơ sinh (một các trường hợp sinh và chết) với dữ liệu tin tỷ suất chết đặc trưng theo độ tuổi) thì biên cậy, và thực tế là các cuộc điều tra không thể độ dao động lại lớn hơn (từ 8 đến 30 so với có khả năng thống kê được hết các trường trung bình cả nước là 16 trên 1.000 ca sinh hợp sinh và chết, người ta phải sử dụng các sống). Tương tự như vậy, nhìn vào mức sinh, thuật toán ước tính gián tiếp để tính các tỷ chúng ta thấy mức độ dao động của TFR lớn suất sinh và chết này. Các dữ liệu trong Bảng hơn nhiều so với CDR: phụ nữ ở Tây Nguyên 10 là những ước tính tin cậy nhất mà báo trung bình có TFR cao hơn một so với TFR cáo có cho đến nay. Như đã lưu ý ở Chương của phụ nữ ở Đông Nam Bộ. 3, các thuật toán ước tính gián tiếp có thể đã đánh giá thấp mức chết. Có thể suy ra là giá Đồng bằng Bắc Bộ và Đồng bằng sông Cửu trị thực của tỷ suất tăng tự nhiên như vậy sẽ Long chiếm hơn 40% dân số cả nước. Đây thấp hơn so với giá trị ước tính. cũng là những khu vực có mật độ dân số cao nhất, đặc biệt là Đồng bằng Bắc Bộ (1.244 Một điều quan trọng cũng cần lưu ý là những người/km2). Hai vùng đồng bằng và khu vực tỷ suất sinh và chết này thay đổi đáng kể Bắc Trung Bộ có tỷ suất tăng tự nhiên hàng giữa các vùng, miền (và giữa các nhóm dân năm thấp nhất, mặc dù tỷ suất tăng dân số số xã hội và kinh tế khác nhau). Bảng 11 thực tế (gồm cả di cư) có thể khác biệt một liệt kê các ước tính năm 2006 của TCTK đối cách đáng kể. với các tỷ suất cơ bản theo 8 khu vực. Biến động về mức chết được thể hiện bằng CDR Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020 39
  40. Bảng 11. Ước tính các chỉ số dân số cơ bản của Việt Nam, dữ liệu 2006 Tỷ lệ % Dân số CBR TFR CDR IMR tăng Mật Khu vực % thành (‘000) 2005 2005 2005 2005 tự độ thị nhiên Đồng bằng 18.162,7 21,7 16,5 2,1 5,6 11 1,09 1,244 24,9 Bắc bộ Đông Bắc 9.432,4 11,2 18,7 2,2 6,3 24 1,25 146 18,9 Tây Bắc 2.595,9 3,1 22,6 2,4 5,5 30 1,71 74 13,9 Bắc 10.652,3 12,7 17,6 2,5 6,2 22 1,14 210 13,7 Trung bộ Ven biển Nam 7.110,7 8,5 19,1 2,3 4,9 18 1,42 219 30,1 Trung bộ Tây nguyên 4.840,9 5,8 22,8 2,8 4,4 28 1,84 91 28,1 Đông 13.721,5 16,4 16,4 1,8 4,2 8 1,22 403 54,7 Nam bộ Đồng bằng Sông Cửu 17.375,8 20,7 17,1 1,9 5,1 11 1,20 441 20,7 Long Việt Nam 83.892,2 100,0 17,4 2,1 5,3 16 1,21 258 27,1 (cả nước) Nguồn: TCTK (2007). 40 Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020
  41. Chương 5: Di cư và đô thị hóa 5.1 Những dòng di cư chủ yếu ở Việt Nam Tổng điều tra năm 1999 cho thấy có gần 4,5 triệu người (tức là 6,5% dân số) đã từng thay đổi nơi cư trú (xã hay phường) trong vòng 5 năm trước thời điểm điều tra, trong đó 55% di cư trong nội bộ một tỉnh và 45% di cư đến các tỉnh khác47. Khoảng 1,6 triệu người di cư từ nông thôn ra thành thị48. Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương tiếp nhận người di cư nhiều nhất cả nước với 410.533 người nhập cư trong 5 năm; 2006a, 2006b, 2006c). Mẫu điều tra bao Hà Nội tiếp nhận 114.617 người trong cùng gồm 5.000 người di cư và 5.000 người không thời gian này. Kết quả Tổng điều tra 1999 di cư tại một số địa phương tiếp nhận người còn ghi nhận những dòng di cư lớn tới các di cư đại diện cho ba khu vực nói trên: Hà khu công nghiệp thuộc khu vực Đông Bắc bộ Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đại diện cho và Đông Nam bộ; và các khu sản xuất nông các thành phố lớn; Vùng kinh tế Đông Bắc bộ nghiệp ở Tây Nguyên. Những vùng có nhiều và Vùng Công nghiệp Đông Nam bộ đại diện người ra đi nhất là Đông Bắc bộ và Đồng cho các khu công nghiệp; và Tây Nguyên đại bằng Bắc bộ. Theo số liệu TĐTDS 1999, nếu diện cho các (TCTK 2005: 13). xét về quy mô thì dòng di cư nhỏ nhất là từ “Trong cuộc điều tra, người di cư được định thành thị về nông thôn; dòng di cư lớn nhất nghĩa là người có độ tuổi từ 15 đến 59, đã di là từ nông thôn đến nông thôn; từ nông thôn chuyển từ một quận/huyện khác đến quận/ đến thành thị và từ thành thị đến thành thị huyện đang cư trú trong vòng 5 năm trước gần như tương đương, song dòng di cư từ thời điểm điều tra và đã cư trú tại quận/huyện nông thôn ra thành thị đạt đỉnh trong nhóm mới này ít nhất là một tháng. Tuy nhiên, một tuổi 20-25 (dòng di cư từ thành thị đến người di chuyển từ một quận/huyện nào đó thành thị trong nhóm trên 30 tuổi lớn hơn sang một quận/huyện khác thuộc nội đô Hà dòng di cư từ nông thôn ra thành thị trong Nội hoặc Thành phố Hồ Chí Minh trong vòng cùng nhóm tuổi). Trên 50% tổng số người di 5 năm trước thời điểm điều tra thì lại được cư có tuổi dưới 25. coi là người không di cư. Những người từ Kết quả Tổng điều tra 1999 cũng cho thấy 15-59 tuổi đã cư trú trong cùng một quận/ trong giai đoạn 1994-1999, trong nhóm tuổi huyện trong ít nhất 5 năm cũng được coi là 20-24 (tức là nhóm di cư lớn nhất), phụ nữ người không di cư” (TCTK 2005: 14). chiếm đa số (chiếm 17% tổng số phụ nữ Gần 70% số người di cư được điều tra năm thuộc nhóm tuổi này) so với nam giới (11%). 2004 cho biết họ di cư vì những lý do kinh Đặc điểm này còn thấy rõ nét hơn ở dòng di tế: 41% là để tìm việc làm và 30% là để cải cư từ nông thôn ra thành thị. thiện điều kiện sống. Tuy nhiên, tỷ lệ này có Điều tra di cư Việt Nam 2004 (VMS) cung thể phản ánh chưa hết tầm quan trọng của cấp những dữ liệu quý báu về tình hình di các lý do kinh tế vì trong 13% số người di cư cư trong nước (TCTK 2005; TCTK và UNFPA vì lý do gia đình có thể sẽ bao gồm những người di cư cùng hoặc di cư để đoàn tụ với người nhà đã di cư vì các lý do kinh tế. Đa 47 Ngoài ra còn có bằng chứng cho thấy có rất nhiều số những người di cư đều có việc làm trước người di cư tạm thời và theo mùa vụ (Djamba, Goldstein và Goldstein 1999). khi họ di cư; thất nghiệp không phải là lý do 48 Xem tóm tắt trong tài liệu UNFPA (2007a). di cư chủ yếu. Người di cư từ các khu vực Dân số và phát triển tại Việt Nam: Hướng tới một chiến lược mới, 2011-2020 41