Bài giảng Tiếng Việt 3 - Võ Duy Ấn

pdf 67 trang ngocly 30 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Tiếng Việt 3 - Võ Duy Ấn", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfbai_giang_tieng_viet_3_vo_duy_an.pdf

Nội dung text: Bài giảng Tiếng Việt 3 - Võ Duy Ấn

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG KHOA SƯ PHẠM TỰ NHIÊN BÀI GIẢNG TIẾNG VIỆT 3 DÙNG CHO HỆ CĐ NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC GV : VÕ DUY ẤN 0
  2. LỜI NÓI ĐẦU Học phần “Tiếng Việt 3” được soạn theo QĐ số 705/QĐ-ĐH-PVĐ ngày 07/9/2012 của Hiệu trưởng trường Đại học Phạm Văn Đồng về việc ban hành chương trình đào tạo trình độ cao đẳng ngành Giáo dục tiểu học. Bài giảng “Tiếng Việt 3” được dùng làm tài liệu học tập và nghiên cứu của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học hệ Cao đẳng chính quy khi học tập học phần này và các học phần có liên quan. Mục tiêu chung của học phần này: Học xong học phần này, sinh viên có được các phẩm chất và năng lực sau: Giúp sinh viên hiểu một số vấn đề về ngữ nghĩa và ngữ dụng trong Tiếng Việt: Ngữ cảnh và việc phân tích. Câu và phát ngôn. Hàm ngôn trong giao tiếp. Mục tiêu cuối cùng của Ngữ dụng học là người học sử dụng được ngôn ngữ một cách hiệu quả, đạt được mục đích giao tiếp. - Khái niệm, vị trí về từ Hán Việt, các kiểu từ Hán Việt, phương pháp giải nghĩa từ Hán Việt. - Những vấn đề cơ bản về từ Hán Việt trong SGK Tiếng Việt cấp Tiểu học. - Bổ túc vốn từ Hán Việt qua bình giảng từ ngữ trong một số bài thơ văn chữ Hán - góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Tiếng Việt ở Tiểu học. - Giải nghĩa được từ Hán Việt, biết lựa chọn và sử dụng tốt từ Hán Việt trong hoạt động học tập, giao tiếp của mình. - Có khả năng hướng dẫn học sinh Tiểu học bước đầu nhận diện, lựa chọn, sử dụng từ Hán Việt đúng nghĩa, đúng văn cảnh. Giáo dục học sinh ý thức học tập, tiếp thu từ Hán Việt góp phần phát triển tiếng nói của dân tộc. - Có ý thức được tầm quan trọng của việc hiểu đúng, dùng đúng từ Hán Việt trong giao tiếp, góp phần làm giàu đẹp thêm tiếng Việt, tăng hiệu quả giao tiếp ngôn ngữ của người Việt. Học phần “Tiếng Việt 3” có thời lượng 2 tín chỉ gồm 2 chương. Chương 1. Một số vấn đề về ngữ nghĩa và ngữ dụng trong Tiếng Việt. (10 tiết) Chương 2. Chuyên đề về từ Hán Việt. (20 tiết) Chúng tôi đã tham khảo tài liệu của các tác giả, để soạn ra bài giảng này nhằm cố gắng cho đơn giản và dễ hiểu hơn. Bài giảng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ các thầy cô và sinh viên trong nhà trường. Xin chân thành cảm ơn. QUY ƯỚC VỀ VIẾT TẮT - NDH: Ngữ dụng học - GT: Giáo trình - NNH: Ngôn ngữ học 1
  3. Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NGỮ NGHĨA VÀ NGỮ DỤNG 1.1. Ngữ dụng học. Ngữ nghĩa, Ngữ dụng tiếng Việt 1.1.1. Vài nét về lịch sử ngữ dụng học (NDH) Là một chuyên ngành mới của ngôn ngữ học miêu tả, NDH giúp chúng ta nhận biết được các đơn vị sản phẩm của ngôn ngữ hình thành trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, các đặc điểm và những qui tắc chi phối chúng. Đồng thời NDH còn giúp chúng ta thấy hoạt động giao tiếp đã chi phối cấu trúc của ngôn ngữ như thế nào. NDH là một cơ sở ngôn ngữ học mà nhiều quốc gia trên thế giới lấy làm căn cứ để tổ chức việc dạy học và học bản ngữ cũng như tiếng nước ngoài (theo quan điểm giao tiếp) từ bậc tiểu học đến trung học phổ thông. Năm 1938 thường được coi là mốc ra đời của ngành NDH. Trong công trình “ Những cơ sở của lý thuyết ký hiệu”, nhà ký hiệu học Mỹ Charles William. Morris lần đầu tiên đã phân biệt ký hiệu học thành 3 ngành: Kết học, Nghĩa học và Dụng học. Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu. Ngành dụng học trong ngôn ngữ học được gọi là Ngữ dụng học. + Kết học: Là phương diện liên kết tín hiệu với tín hiệu trong một thông điệp, ta biết rằng trong một hệ thống tín hiệu, không phải các tín hiệu liên kết với nhau theo bất kỳ quy tắc nào cũng cho ta một thông điệp có thể lĩnh hội được. VD: trong một hệ thống đèn đường với 3 tín hiệu “đỏ”, “xanh”, “vàng” và quy tắc kết hợp đó là “đỏ”, “xanh”, “vàng” mới là quy tắc cho phép, nếu 3 tín hiệu trên kết hợp theo một quy tắc khác: “đỏ”, “xanh” hoặc “vàng”, “xanh” thì chắc chắn sự giao thông trên đường phố sẽ rối loạn và tai nạn giao thông sẽ xảy ra. + Nghĩa học: Là phương diện của những quan hệ giữa tín hiệu với hiện thực được nói tới trong thông điệp. Trong cuộc sống hiện nay, chúng ta dùng rất nhiều tín hiệu: tiếng kẻng báo giờ học, biển vẽ trên đường giao thông, ký hiệu toán học, hóa học con người thường dùng một cái gì đó làm tín hiệu thay thế cho một cái khác hoặc thay thế cho một khái niệm trừu tượng.→ Tín hiệu là một yếu tố vật chất kích thích vào giác quan của con người, làm cho người ta tri giác được và thông qua đó để biết về một cái gì đó. Tín hiệu phải thỏa mãn các điều kiện sau: * Phải là dạng vật chất (con người cảm nhận được bằng các giác quan) * Phải gợi ra cái gì khác không phải nó. * Một vật nào đó chỉ trở thành tín hiệu khi nó nằm trong hệ thống, nếu không, không thể trở thành tín hiệu. VD: Đèn đỏ nằm trong hệ thống đèn đường. Đèn đỏ để trang trí. (Tiếng Việt tập 1, tr: 17-NXB Giáo dục 1995) Không nên đồng nhất nghĩa học của tín hiệu học với ngữ nghĩa học thông thường. Trong khi đối tượng của ngữ nghĩa học- ngữ nghĩa được hiểu rộng rãi và khá mơ hồ thì nghĩa học của tín hiệu học chỉ quan tâm đến những nội dung miêu tả nào 2
  4. đánh giá được theo tiêu chuẩn đúng-sai của logíc học VD: ta có 2 câu - Trời mưa. (1) - Trời cứ mưa. (2) thì nghĩa học (chỉ) quan tâm tới nội dung miêu tả của câu (2) vì chúng ta có thể kết luận được nó đúng hay sai (nếu khi nói, ngoài trời đang mưa thì (2) đúng; trời đang nắng thì (2) sai) mà không quan tâm tới tình trạng “mưa cứ tiếp tục bất chấp sự bực dọc, khó chịu vì nó của người nói” do từ cứ diễn đạt. Ngữ nghĩa học trái lại không chỉ nghiên cứu nghĩa miêu tả của (2) mà còn nghiên cứu cả ý nghĩa “tình thái” của từ cứ nói trên. + Dụng học: Nghiên cứu quan hệ giữa tín hiệu với người lý giải chúng Thời kỳ đầu của tín hiệu học, kết học, nghĩa học, dụng học tách rời nhau. Hiện nay các nhà nghiên cứu nhận thấy trong thực tế chúng thống nhất với nhau, trong kết học, nghĩa học có dụng học, cũng như trong nghĩa học có kết học, dụng học. Cũng vậy trong dụng học có kết học, có nghĩa học. Một thông điệp nào đó, một câu chẳng hạn cần được nghiên cứu cả ba phương diện: kết học, nghĩa học, dụng học. Nghĩa đích thực của một thông điệp là sự thống nhất của ba lĩnh vực đó. - Trên thế giới, trong gần 3 thập kỷ qua, nhất là từ những năm 70 của thế kỷ XX trở lại đây NDH đã phát triển vô cùng mạnh mẽ và ngày càng có vị trí đặc biệt trong ngôn ngữ học. Ngày nay không một công trình ngôn ngữ học nào lại không ít nhiều đề cập đến NDH. - Ở Việt Nam, từ năm 1989, môn NDH trở thành môn học bắt buộc đối với sinh viên năm cuối và sinh viên ngành ngôn ngữ học các trường ĐHKHXH và NV, Đại học sư phạm. Tuy vào Việt ngữ học chưa bao lâu nhưng từ 1990 đến nay, NDH từng bước đã góp phần vào việc đổi mới chương trình Tiếng Việt và Ngữ văn Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông. Chương trình Tiếng Việt Tiểu học và Ngữ văn Trung học cơ sở từ năm 2000 đều lấy việc 4 kỹ năng nghe, đọc, nói, viết cho học sinh làm mục tiêu chủ yếu. Để thực hiện tốt mục tiêu đó, Giáo viên cần làm chủ ở một chừng mực nhất định những tri thức và kỹ năng NDH. Tri thức và kỹ năng NDH cũng hỗ trợ đắc lực cho việc lý giải tác phẩm văn học bởi vì theo một cách hiểu nào đấy, tác phẩm văn học cũng là một loại sản phẩm của hoạt động giao tiếp đặc thù: giao tiếp văn học. 1.1.2. Ngữ dụng học là gì? VD1: Giả định ta có câu sau đây: Tiến tặng Mai cuốn “Tắt đèn”. Nghe câu nói đó, liệu chúng ta có dám đảm bảo rằng chúng ta đã hiểu đúng đắn nó chưa? Có thể trả lời rằng chưa nếu chúng ta không nắm được ít ra là những hiểu biết sau đây: a) Câu nói này do ai nói ra? Nói ra trong hoàn cảnh nào? Vì sao lại nói nó ra? Nói ra để nhằm mục đích gì? b) Tiến, Mai là ai? Quan hệ Tiến - Mai như thế nào và quan hệ giữa người nói câu nói đó với Tiến và Mai ra sao? Nếu câu nói đó do Tiến nói ra (trường hợp này thì 3
  5. Tiến là ngôi thứ nhất và ngôi đóng vai nói - là chủ ngữ) thì ý nghĩa của nó thế nào? Nếu như nó do Mai nói ra (trường hợp này thì Mai là ngôi thứ nhất, ngôi đóng vai nói nhưng về quan hệ cú pháp là bổ ngữ) thì ý nghĩa ra sao? c) Câu nói này được nói ra để trả lời cho câu hỏi nào trong các câu hỏi sau: - Tiến làm gì? - Ai tặng Mai cuốn “Tắt đèn” ? - Tiến tặng cho Mai cái gì ? - Tiến tặng cho ai cuốn “Tắt đèn” ? Khi câu nói đó được dùng để trả lời cho từng câu hỏi trên thì ý nghĩa của nó có khác nhau không? Khác nhau như thế nào? d) So sánh câu nói trên với các câu sau: - Chính Tiến tặng cho Mai cuốn “Tắt đèn”. - Chính Mai được Tiến tặng cuốn “Tắt đèn”. - Chính cuốn “Tắt đèn” được Tiến tặng cho Mai. Thì giữa nó và các câu sau có gì đồng nhất? Có gì khác biệt về ý nghĩa? VD 2: Giả định, ta có đoạn đối thoại sau đây: A: - Anh đến chỗ tôi ngay bây giờ nhé ! B: - Dạ! Nhưng thưa anh, tôi phải ra ga cho kịp chuyến tàu Hải Phòng sáng ạ ! A: - Thế hả ? Vậy thứ 6 này thì thế nào? Ngoài nghĩa trực tiếp, ta còn có thể suy ra : 1. Đây là đoạn đối thoại còn dang dở, chưa kết thúc (do kinh nghiệm giao tiếp, ta thấy thiếu nghi thức mở đầu và kết thúc đối thoại). 2. A và B không ở một nơi mà cách xa nhau, nhưng không quá xa (vì “đến ngay”) (có khả năng giữa A và B cùng ở một thành phố hoặc thị trấn ). 3. A yêu cầu đến ngay, nhưng B không trả lời trực tiếp yêu cầu đó mà ngầm ẩn anh ta không thể thực hiện yêu cầu đó. 4. Cuộc nói chuyện vào buổi sáng. Khoảng 7h30’ - 8h30’ do giờ khởi hành của tàu Hải Phòng (nếu địa điểm là Hà Nội). 5. Cuộc hội thoại không phải là thứ 5 (nếu thứ 5 thì ta sẽ dùng “ngày mai”). 6. Thời han cuộc hẹn là trong phạm vi một tuần (do cách dùng “thứ 6 này”). Từ các ví dụ trên đây cho thấy: Trước đây, khi nghiên cứu về câu ta thường chú ý về mặt tĩnh của câu, các dẫn liệu đưa ra thường là những câu độc lập, ít gắn với ngữ cảnh. Những hạn chế của việc nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ, đặc biệt là dạy cú pháp theo quan điểm độc lập với ngữ cảnh, có nghĩa là dạy câu (câu đơn, câu ghép, cả dạy văn bản nữa) không tính đến các điều kiện trong đó nó được tạo ra và được hiểu. Kế thừa và phát triển những kết quả đã có, ngôn ngữ học hiện đại khi nghiên cứu về câu, đã chú ý hơn về mặt động của câu, xem xét câu gắn với ngữ cảnh. Ngôn ngữ hiểu theo nghĩa hiện nay, không chỉ bao gồm các quan hệ tĩnh tại giữa các yếu tố và 4
  6. các giá trị tĩnh tại của yếu tố mà còn bao gồm cả các hành động sản sinh ra các đơn vị và chính các đơn vị trong giao tiếp, bao gồm cả các quy tắc tạo lập và các quy tắc thuyết giải các đơn vị hình thành trong giao tiếp. Có nhiều định nghĩa khác nhau về NDH. Tuy nhiên, cần thống nhất quan điểm: NDH là những tri thức không thể bỏ qua khi miêu tả, lý giải các sự kiện ngôn ngữ cả về hình thức, về cấu trúc và nội dung. Dĩ nhiên, đối tượng hàng đầu của NDH là hoạt động giao tiếp, trước hết là hoạt động hội thoại. Không có NDH, chẳng những không lý giải được hoạt động giao tiếp mà còn không lý giải được đầy đủ bản chất của yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ. *Định nghĩa NDH - NDH là một lĩnh vực nghiên cứu mới của NNH, nghiên cứu quan hệ giữa ngôn ngữ và các sản phẩm của ngôn ngữ với ngữ cảnh, đặc biệt với nhân vật, với hoàn cảnh giao tiếp và với các hoạt động giao tiếp, thực sự của ngôn ngữ trong xã hội (GT giản yếu về NDH, Đỗ Hữu Châu, trang 12). - NHD là chuyên ngành mới của NNH (ngôn ngữ học) nghiên cứu và miêu tả các quy tắc, phương châm và hiệu quả của hành vi sử dụng ngôn ngữ, lấy đối thoại (hội thoại) làm trọng tâm. (GT phong cách học Tiếng Việt, Nguyễn Thái Hòa, sách Dự án Đào tạo GVTHCS, NXB ĐHSP, H, 2005, trang 158). - NDH là một phân ngành của NNH miêu tả đồng đại nghiên cứu quan hệ giữa ngôn ngữ và các sản phẩm của ngôn ngữ với ngữ cảnh trong hoạt động giao tiếp bằng lời. NDH nó không độc lập với ngôn ngữ mà thống nhất với ngôn ngữ, chi phối không chỉ các sản phẩm của ngôn ngữ mà chi phối cả quan hệ, cấu trúc nội tại của ngôn ngữ. (GT Ngữ dụng học, Đào tạo GVTHCS, Đỗ Hữu Châu B ĐHSP, 2007, trang 31). Như vậy, Ngữ dụng học với các bộ môn quen thuộc (ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa nghĩa, ngữ pháp, văn bản ) phải thống hợp với Ngữ dụng học vì trong các đơn vị của từng bộ phận đó đã có sẵn các yếu tố ngữ dụng. Nói tổng quát, Ngữ dụng học nghiên cứu khi nói năng, người nói đã xác định đích, xây dựng niềm tin, đặt kế hoạch và dự định sử dụng các hành động ngôn ngữ gì để có thể nói ít mà người nghe có thể suy ý từ lời nói theo câu chữ của mình ở ngoài câu chữ được nói ra trong phát ngôn, trong diễn ngôn của mình. 1.1.3. Ngữ nghĩa, Ngữ dụng tiếng Việt - Ngữ dụng học là một phân môn của ngôn ngữ học đồng đại nghiên cứu quan hệ giữa ngôn ngữ và ngữ cảnh, cũng tức là nghiên cứu ngôn ngữ trong hoạt động thực hiện chức năng giao tiếp. Mà đã nói đến giao tiếp là phải nói đến ngữ nghĩa. Không có ngữ nghĩa thì không thể có giao tiếp. - Theo định nghĩa Ngữ dụng học: các nhân tố Ngữ dụng là một bộ phận không thể tách rời trong cấu trúc hình thức và nội dung hình vị, trong từ, trong các kiểu câu và của các ngôn bản. Các nhân tố Ngữ dụng học có mặt khắp nơi trong ngôn ngữ và trong hoạt động ngôn ngữ. Ngữ dụng học có mặt trong ngôn ngữ, trong câu. Không có câu nào mà không chịu sự chi phối của các yếu tố ngữ dụng. 5
  7. Tóm lại: Mục tiêu cuối cùng của Ngữ dụng học là muốn người ta sử dụng được ngôn ngữ một cách hiệu quả, đạt được mục đích giao tiếp: xuất phát từ mục đích giao tiếp, người nói căn cứ vào những đặc điểm của ngữ cảnh (đặc biệt là đặc điểm của đối ngôn, của hoàn cảnh giao tiếp) để xác định nội dung, cách thức giao tiếp, xây dựng nên chiến lược giao tiếp với những hành động ở lời cụ thể; diễn ngôn được tạo ra có thể có nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn với những biểu thức chiếu vật phù hợp, có lập luận chặt chẽ thuyết phục, phù hợp với các quy tắc hội thoại. Ngữ dụng học tiếng Việt sẽ trình bày những vấn đề Ngữ dụng học cơ bản sau: a. Nghĩa của từ (Sinh viên tự nghiên cứu trong giáo trình [10], tr: 5 đến tr:20). b. Ngữ cảnh và việc phân tích ngữ nghĩa. c. Câu và phát ngôn, d. Hàm ngôn trong giao tiếp. 1.2. Ngữ cảnh và việc phân tích ngữ nghĩa 1.2.1. Khái niệm ngữ cảnh: Trong hoạt động giao tiếp, từ được sử dụng trong những hoàn cảnh cụ thể nhất định nhằm phục vụ cho những nhiệm vụ giao tiếp nhất định để đạt tới những hiệu quả và mục đích giao tiếp nhất định. VD: Bài “Hội nghị Diên Hồng” (TV3 - Tập 2) Trong đó hoạt động giao tiếp diễn ra: Nhân vật: Vua Nhân Tông - Các bô lão đời Trần. Hoàn cảnh: Đất nước có giặc ngoại xâm. Nội dung : Sách lược ứng phó với giặc Mông Cổ. Mục đích: Tìm giải pháp: đánh giặc. Như vậy, ta thấy hoạt động giao tiếp luôn luôn chịu sự tác động của các nhân tố giao tiếp như: nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp, cùng với các nhiệm vụ giao tiếp và mục đích giao tiếp nhất định. Tất cả các nhân tố đó tạo nên ngữ cảnh của hoạt động giao tiếp. Trong văn bản, một phần của ngữ cảnh được trình bày, được miêu tả hay kể lại thông qua lời của người viết (Ví dụ: Vua Nhân Tông trịnh trọng hỏi các bô lão Mọi người xôn xao tranh nhau nói ). Ngữ cảnh là gì? Là toàn bộ những điều cho ta biết về các nhân tố của hoạt động giao tiếp như: Nhân vật giao tiếp, nội dung giao tiếp (hiện thực được nói tới, vấn đề được đề cập đến ), hoàn cảnh giao tiếp (rộng và hẹp) và cả mục đích giao tiếp. Trong văn bản, ngữ cảnh được biểu hiện qua ngôn ngữ giao tiếp của nhân vật và ngôn ngữ miêu tả hay kể lại của tác giả. Như thế ngữ cảnh vừa bao gồm các tình huống giao tiếp trong hiện thực, vừa bao gồm các văn cảnh trong văn bản (các từ ngữ và các câu văn hiện diện trong văn bản). 1.2.2. Vai trò của ngữ cảnh và việc phân tích ngữ nghĩa 1.2.2.1. Vai trò của ngữ cảnh: Sự hiện thực hoá nghĩa của từ trong ngữ cảnh (sự chiếu 6
  8. vật). Từ ngữ trong hệ thống ngôn ngữ, khi chưa được sử dụng vào hoạt động giao tiếp, tồn tại như một vật liệu để tạo nên các sản phẩm. Đồng thời chúng còn như một yếu tố trừu tượng, chưa bộc lộ rõ các thuộc tính cụ thể. Lấy ví dụ từ cấy trong tiếng Việt. Ở ngoài hoạt động giao tiếp cấy mới có nghĩa là “cắm cây giống xuống đất để cho nó tiếp tục sinh trưởng và mang lại lợi ích cho con người”. Rõ ràng đó là hoạt động của con người và là hoạt động thuộc phạm vi canh tác, trồng trọt. Nhưng từ cấy còn chưa cho ta biết cụ thể về nhiều phương diện khác nữa của cái hoạt động đó, chẳng hạn như hoạt động đó do ai thực hiện, thực hiện như thế nào, ở đâu, bao giờ, để làm gì nhiều thông tin xung quanh cái hoạt động cấy còn chưa được cung cấp. Chính vì thế nghĩa của từ khi chưa được dùng trong hoạt động giao tiếp còn mang tính trừu tượng, khái quát. Cho nên khi được sử dụng vào hoạt động giao tiếp để tạo nên câu, tạo nên văn bản, từ mới hiện thực hoá các thuộc tính của mình, trong đó có ý nghĩa (nghĩa của từ dần dần được cụ thể hóa ở các mức độ khác nhau). Sự hiện thực hóa ý nghĩa như thế của từ được gọi là sự quy chiếu hay sự chiếu vật. Nhờ thế nghĩa của từ không còn chung chung, trừu tượng mà trở nên cụ thể, xác định. +Trong ngôn ngữ có những từ đồng âm (âm thanh giống nhau nhưng ý nghĩa khác nhau). Ở ngoài ngữ cảnh, ta khó phân biệt các từ đồng âm với nhau vì ý nghĩa là yêu tố bên trong, chưa bộc lộ ra ngoài. Khi được dùng trong ngữ cảnh, nghĩa của từ được hiện thực hoá, do đó người nghe (đọc) xác định rõ đó là từ nào trong số các từ đồng âm. VD : Từ “Hội nghị Diên Hồng”, có câu: “Nên hòa hay nên đánh? Ở ngoài ngữ cảnh, có 2 từ “hòa” đồng âm. hòa 1: - Làm tan ra trong chất lỏng (hoà mực) - Lẫn vào nhau đến mức nhập làm một (mồ hôi hòa nước mắt). hòa 2: - Thôi không tiến hành chiến tranh chống nhau (hoà hay chiến). - Đạt kết quả trận đấu không ai thắng, ai thua (hòa 1-1). - Quan hệ không có xung đột nhau (làm hòa với nhau). Trong ngữ cảnh nói trên, rõ ràng có sự hiện thực hóa của từ hòa 2 với nét nghĩa thứ nhất, ngữ cảnh đó không thể cho phép sử dụng từ hòa 1 với bất kỳ ý nghĩa nào của nó. Đánh: có 27 nghĩa (Theo từ điển tiếng việt - GS Hoàng Phê). Trong ngữ cảnh này, từ “đánh” được hiện thực hoá theo nghĩa thứ 2: “Làm cho (kẻ địch) phải chịu tác động của vũ khí và nói chung của một sức mạnh vật chất bị huỷ diệt hoặc bị tổn thất”. (Từ điển tiếng Việt, NXB KHXH, 1985, trang 306). + Có những trường hợp, từ được dùng trong ngữ cảnh với một nghĩa mới, còn các nét nghĩa khác là cũ. Tuy chỉ có một nét nghĩa vốn có còn giữ lại, nhưng dựa vào đó, người nghe hay người đọc vẫn lĩnh hội được điều người nói muốn biểu hiện. 7
  9. VD 1: Với đôi cánh đẫm nắng trời Bầy ong bay đến trọn đời tìm hoa. Đẫm: thấm nhiều nước  hấp thụ nhiều (nắng trời). Sự hiện thực hoá về nghĩa của từ “ Đẫm” ở đây diễn ra đồng thời với sự chuyển nghĩa. VD 2: Ngoài thềm rất mỏng (Trần Đăng Khoa) Mang đến những tình cảm mới mẻ, những tưởng tượng kỳ thú. Tạo khả năng diễn đạt mới: thính giác xúc giác. + Có nhiều trường hợp việc hiện thực hoá nghĩa của từ diễn ra đồng thời với sự mở rộng hoặc thu hẹp nghĩa của từ. VD 1: - Hòn Đất nổi lên trên Hòn Me và Hòn Sóc Ngữ cảnh này - “Con voi của Trần Hưng Đạo” thu hẹp nghĩa VD 2: -Nước Việt Nam từ máu lửa Rũ bùn đứng dậy sáng loà (Đất nước - Nguyễn Đình Thi) -Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay (Tố Hữu) Ngữ cảnh trên: Mở rộng nghĩa. Như vậy, trong ngữ cảnh - nghĩa của từ được cụ thể hoá. Sự cụ thể hoá này cho ta biết từ ứng với đối tượng cụ thể nào trong hiện thực khách quan, nghĩa là từ được quy chiếu vào đối tượng nào. Đó là sự quy chiếu hoặc sự chiếu vật. + Có trường hợp từ được dùng không cần có yếu tố bổ sung ý nghĩa, nhưng dựa vào ngữ cảnh ta vẫn hiểu từ chỉ đối tượng cụ thể nào. VD: Bệ hạ, Vua (Hội nghị Diên Hồng) đều chỉ Trần Nhân Tông: + Có những trường hợp, muốn quy chiếu vào một đối tượng cụ thể trong hiện thực khách quan, từ lại cần có yếu tố bổ sung ý nghĩa. Khi đó, các từ tạo thành cụm từ và có chức năng chiếu vật. VD: Chỉ trong vài hôm mà chim chóc ở khu rừng nằm dọc bên một cái hồ lớn đã về đông đủ. Như thế, sự chiếu vật thể hiện mối quan hệ của từ với ngữ cảnh. Ngữ cảnh hiện thực hoá ý nghĩa cho từ, đồng thời từ thể hiện một nghĩa cụ thể trong ngữ cảnh. 1.2.2.2. Việc phân tích nghĩa của từ trong ngữ cảnh - Xác định nghĩa của các từ đồng âm trong ngữ cảnh: Ngữ cảnh vừa làm nảy sinh các nghĩa khác nhau của từ đồng âm, vừa giúp ta phân biệt các nghĩa này. VD 1: Bà già đi chợ Cầu Đông Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng? 8
  10. Thầy bói xem quẻ nói rằng: Lợi thì có lợi nhưng răng không còn. (Ca dao) Ta thấy từ lợi xuất hiện 3 lần, nhưng hiện thực hóa các nghĩa khác nhau. Vd 2: Còn trời, còn nước, còn non Còn cô bán rượu anh còn say sưa. Giàu đâu những kẻ ngủ trưa Sang đâu những kẻ say sưa tối ngày. (Ca dao) - Có thể trong ngữ cảnh, nghĩa gốc của từ được thu hẹp hoặc mở rộng. Nếu từ vốn có nhiều nghĩa thì cần xác định trong ngữ cảnh, nghĩa nào được hiện thực hoá và được hiện thực hoá cụ thể như thế nào. Ví dụ: Trên mặt suối có những hòn đá nổi (Tài liệu 10, tr: 30) - Khi được dùng trong ngữ cảnh với nghĩa chuyển, việc phân tích nghĩa của từ phải thể hiện mối quan hệ với nghĩa gốc vừa chỉ ra những nét nghĩa mới nảy sinh do ngữ cảnh và phủ hợp với ngữ cảnh. Ví dụ: Nhà ai vừa chín quả đầu Đã nghe xóm trước vườn sau thơm lừng (Tài liệu 10, tr: 31) Trong ngữ cảnh: Cảm thấy rõ rệt mùi thơm lừng của sầu riêng đầu mùa tỏa ra khắp mọi nơi nghĩa chuyển đổi (từ khứu giác sang thính giác), tạo hiệu quả nghệ thuật. - Phân tích nghĩa còn bao gồm còn bao gồm cả việc phân tích nghĩa biểu cảm. Ví dụ: Trâu ăn cho no Cỏ non ngọt xớt Nước mương trong vắt Mời trâu xuống đầm. (Tài liệu 10, tr: 32) Các từ trên thể hiện tình cảm âu yếm, trìu mến của bé đối với trâu. - Phân tích nghĩa còn là xem xét hiệu quả và giá trị sử dụng của từ. Điều này được đánh giá bằng mức độ phù hợp với ngữ cảnh, của hoàn cảnh giao tiếp. Ví dụ: Mía san sát như thành, cây nọ lấn cây kia mà mọc. Thế mía như nước vỡ bờ, đuổi ra khỏi giang san của nó lúa, ngô, khoai, đậu, mọi giống cây trồng khác. Mía bủa vây lấy những gốc cọ, dường như cọ sợ mía tấn công, ngọn cọ nào cũng cố vút lên cao tít. Có khi đến hàng chục cây số, mía chen chúc nhau không một kẽ hở nào => Tạo hiệu quả giao tiếp: Khắc họa khí thế mạnh mẽ, sức sống mãnh liệt của đồng mía, của kinh tế Cu Ba. 1.2.3. Từ trong Từ điển và Từ trong ngữ cảnh Chức năng cơ bản của từ điển là cung cấp thông tin, phục vụ giao tiếp, hướng 9
  11. dẫn-giáo dục ngôn ngữ, góp phần chuẩn hóa ngôn ngữ và phục vụ nghiên cứu. Từ điển có những đặc điểm riêng, khác biệt với các loại sách khác, vừa là một sản phẩm khoa học, lại vừa là một loại sách công cụ, từ điển phải đồng thời đảm bảo hai tính chất cơ bản là tính khoa học và tính tiện dùng, ngoài ra còn có tính tư tưởng. Trong thực tế, nghĩa của từ được hiện thực hoá trong ngữ cảnh. Bởi nghĩa trong ngữ cảnh không hoàn toàn trùng với nghĩa của từ trong hệ thống ngôn ngữ (nghĩa được trình bày trong từ điển). 1.2.3.1. Từ trong từ điển: Nghĩa của từ trong từ điển thực chất là sự hiểu biết của ta về nghĩa của từ mà thôi. VD: Từ “Cây” - là một tín hiệu (2 mặt: Hình thức vật chất âm thanh và nội dung ý nghĩa - gắn bó như hai mặt của một tờ giấy), nó phải “nói lên”, phải được sử dụng quy chiếu về một cái gì đó. 1.2.3.2. Từ trong ngữ cảnh: Khi dùng ngôn ngữ để giao tiếp, người ta nói ra những câu, những phát ngôn chứ không phải là những từ rời rạc. Tại đó, các từ kết hợp với nhau theo những quy tắc và chuẩn mực của ngôn ngữ. Cũng trong câu hoặc phát ngôn cụ thể, người ta mới biết được rằng: tại trường hợp, hoàn cảnh cụ thể này, từ có nghĩa gì (tức là nó bộc lộ nghĩa nào trong số các nghĩa của nó). VD 1: Từ “chắc” chỉ một từ, không biết được nghĩa nào của từ này. Từng nghĩa một của từ này sẽ xuất hiện rõ ràng trong từng phát ngôn cụ thể, như: Lúa đã chắc hạt; nhà xây rất chắc: lời nói chắc như đinh đóng cột; ông này chắc đã có con lớn; Anh làm thế, dễ người ta không biết đấy chắc VD 2: Từ “chân” với tư cách là đơn vị của ngôn ngữ có 6 nghĩa khác nhau (Theo từ điển Tiếng Việt, 1988), mang tính khái quát, như một tổng thể chung. Chỉ đi vào những phát ngôn cụ thể. - Mong cho chân cứng đá mềm (ca dao) - Chân đi chữ bát, mắt thì hướng thiên. - Những bàn chân từ than bụi lầy bùn (Tố Hữu) Thì 1 trong 6 nghĩa của từ này mới được bộc lộ, được cụ thể hoá và được xác định. Như vậy, khi đó vào hoạt động ngôn ngữ, khác khi nằm trong hệ thống ngôn ngữ, nghĩa của từ được thực hiện hoá, cụ thể hoá và được xác định. Lúc đó, các thành phần nghĩa trong cơ cấu nghĩa của từ sẽ giảm chất trừu tượng và khái quát đến mức tối thiểu để đạt tới tính xác định, tính cụ thể ở mức tối đa. 1.3. Câu và phát ngôn 1.3.1. Khái quát về 3 bình diện của câu: Ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Mỗi tín hiệu có thể được xem xét từ 3 phương diện: Kết học, Nghĩa học, Dụng học. 10
  12. Câu là sản phẩm được tạo ra từ các tín hiệu ngôn ngữ cũng cần được xem xét từ 3 bình diện đó: Tương ứng với: Kết học là bình diện Ngữ pháp Nghĩa học là bình diện Ngữ nghĩa Dụng học là bình diện Ngữ dụng - Bình diện ngữ pháp Bao gồm những cách thức và quy tắc kết hợp các từ ngữ để tạo câu, các đặc điểm và chức năng của các thành phần câu, các kiểu cấu tạo với các mô hình cấu trúc của chúng. Trong tiếng Việt, các vấn đề cần nghiên cứu ở bình diện này: - Cụm từ (ngữ) và cấu tạo các loại cụm từ. - Các thành phần chính (C, V) và thành phần phụ của câu. - Các kiểu câu (Câu đơn, câu ghép, c. phức) VD 1: (Tài liệu 10, tr:35) Lúc đó. Học sinh lớp 5A // đang thi môn toán Về ngữ pháp câu này có 5 thành phần sau) TN chỉ thời gian (lúc đó), từ trung tâm trong chủ ngữ (học sinh), định ngữ (lớp 5A), từ trung tâm trong vị ngữ (thi), bổ ngữ cho động từ thi (môn toán - đi sau), đang - đi trước) VD 2: Chiều nay, sinh viên lớp Văn // học thể dục. Về bình diện kết học, câu trên được phân tích như sau: - Chiều nay: Trạng ngữ chỉ thời gian - Sinh viên: Từ trung tâm trong chủ ngữ - lớp Văn: Định ngữ cho danh từ sinh viên - học: Từ trung tâm trong vị ngữ - thể dục: Bổ ngữ đối tượng của động từ học. - Bình diện ngữ nghĩa Là bình diện của các mối quan hệ giữa câu, các bộ phận của câu với hiện thực được nổi tới trong câu. Mỗi câu thường tương ứng với một sự kiện, tham gia vào sự kiện đó có thể có một hoặc một vài nhân tố (được gọi là các tham tố hoặc các tham thể). Sự kiện được ghi bằng động từ hoặc tính từ, gọi chung là vị từ, tham tố hoặc tham thể được gọi tên bằng danh từ, cụm danh từ hoặc đại từ. Tất cả sự kiện trong hiện thực đó tạo nên nghĩa sự vật hay nghĩa miêu tả của câu. Ngoài ra, nghĩa của câu còn bao gồm nghĩa tình thái và nghĩa ngữ dụng. Trong VD 1 ở trên, nghĩa sự vật của câu bao gồm các bộ phận sau: + sự kiện (hoạt động): thi + chủ thể của hoạt động: học sinh lớp 5A 11
  13. + đối tượng (khách thể) của hoạt động: môn toán + thời gian hoạt động: lúc đó Như vậy, ngữ nghĩa của câu (nghĩa sự vật) là sự phản ánh sự kiện trong hiện thực. Các thành phần câu tương ứng với các nhân tố tham gia trong sự kiện đó. - Bình diện ngữ dụng Thể hiện qua mối quan hệ giữa câu với người sử dụng (cả người nói và người nghe) với việc sử dụng câu trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định. Trong đó, người nói không chỉ thể hiện rõ tình cảm, thái độ của mình đối với người nghe, sự kiện được nói tới, mà còn thể hiện rõ mục đích. Nói về cái gì? Nói cái gì? Nhằm đạt mục đích gì? Hoặc: qua câu đó hàm ý nói đến một điều gì khác? Ta cần quan tâm đến cấu trúc thông báo của câu: - Phần đề: Là cái được nói đến trong câu (chủ đề của câu). Nó là điểm xuất phát cho hoạt động thông báo ở trong câu. - Phần thuyết: Là nội dung nói về phần đề (phần miêu tả, giải thích cho sự vật nêu ở phần đề), chứa đựng trong tâm thông báo của câu. Câu không thể không có phần thuyết, trong khi có thể không có phần đề. Ví dụ: Tuấn đang học toán , Cháy! Đề Thuyết Thuyết Nam ngồi học bài còn Tuấn đi đá bóng Đề Thuyết Đề Thuyết + Trong câu đơn đặc biệt, không có đề ngữ thì không có phần đề, chỉ có phần thuyết. Ví dụ: Toàn những gánh đạn (Nguyễn Đình Thi), Thuyết - Tiến lên. Thuyết + Trong câu đơn hai thành phần (C-V), không có đề ngữ thì chủ ngữ là phần đề. Ví dụ: Em trông ngày chiến thắng. (Trần Hữu Thung) Đề + Trong câu đơn đặc biệt và câu đơn hai thành phần có đề ngữ thì đề ngữ làm phần đề. Ví dụ: Nhà bà ấy có hàng dãy ở khắp các phố. (Nguyễn Công Hoan) Đề + Trong những câu ghép chính phụ và những câu ghép khác hàm chứa chính phụ, vế đi trước làm phần đề, vế đi sau làm phần thuyết. Ví dụ: Vì trời mưa to nên tôi không đi xem. Đề + Trong những câu ghép đẳng lập và câu ghép hàm chứa đẳng lập, mỗi vế có cấu trúc đề - thuyết riêng của mình. 12
  14. Ví dụ: Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược. (Tục ngữ) Đề thuyết Đề thuyết Tóm lại: Trong ngôn ngữ học, người ta thấy câu cần được nghiên cứu cả 3 bình diện trên. Tuy 3 bình diện này rành mạch về phương diện nghiên cứu nhưng trong thực tiễn ngôn ngữ có thể hòa quyện vào nhau và được biểu hiện theo lối tích hợp trong một biểu thức ngôn từ nào đó. Trong nhiều trường hợp phần đề trùng với bộ phận CN của câu, phần thuyết trùng với bộ phận VN. VD: Tuấn (đang) học toán +Về kết học: C V BN +Về nghĩa học TTCT (Tham thể chủ thể) Vị từ TTĐT (Tham thể đối tượng) +Về dụng học Đề Thuyết Sinh viên tham khảo: (Tài liệu 7, tr 128-133) 1.3.2. Sự hiện thực hoá của câu trong ngôn bản Câu và phát ngôn là những tên gọi khác nhau của một đơn vị tồn tại trên 2 bình diện: Ngôn ngữ và lời nói. *Xác định câu với tư cách là đơn vị trong hệ thống NN. Câu là một khái niệm chỉ cái mô hình cấu trúc trừu tượng. Nó mang tính khái quát và thuộc lĩnh vực NN. (Tài liệu 10, tr: 42) *Phát ngôn: Là sự hiện thực hoá cụ thể của một mô hình cấu trúc câu trong những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau. VD 1: Từ một mô hình cấu trúc câu (mà con người tích lũy được trong quá trình giao tiếp) như: C - V - B, trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể hoặc khác nhau, người ta có thể tạo ra các sản phẩm là vô số các phát ngôn khác nhau (khác nhau về số lượng, từ ngữ, ngữ nghĩa, mục đích giao tiếp, cấu trúc thông báo) như sau: - Công nhân đang xây nhà chung cư. - Học sinh lớp 5A đã làm xong bài toán - Nông dân gặt lứa. - Bác sĩ nha khoa đang khám răng cho trẻ em. VD 2: Từ mô hình cấu trúc câu: TN, C - V , có thể sản sinh ra rất nhiều phát ngôn: - Ngày mai, học sinh đi tham quan biển Mỹ Khê. - Ngoài sân, lũ trẻ đang nô đùa - Mệt mỏi, cụ nói từng hơi một. - Có trường hợp cùng một thành phần từ ngữ (cùng một số từ ngữ), cùng một sự kiện của hiện thực được phản ánh (cùng nghĩa sự vật) nhưng người nói diễn đạt thành các phát ngôn khác nhau (Tài liệu 10, tr. 43) 13
  15. VD: Từ mô hình cấu trúc câu: C-V-B Có thể vận dụng để tạo nên các sản phẩm: - Em vừa viết xong bức thư khẳng định - Em chưa viết xong bức thư phủ định - Em cần viết xong bức thư à? hỏi - Có trường hợp, các phát ngôn được hiện thực hoá từ cùng một mô hình cấu trúc ngữ pháp, trên cơ sở của cùng một cấu trúc sự kiện (nghĩa sự vật), nhưng các phát ngôn vẫn khác nhau về thành phần từ ngữ có mặt (hay vắng mặt) và về thứ tự sắp xếp của chúng (Tài liệu 10, tr: 43) Tóm lai: Từ một mô hình cấu trúc ngữ pháp của câu có thể hiện thực hoá thành nhiều phát ngôn khác nhau. Các phát ngôn được tạo ra trong giao tiếp có thể hoàn toàn khác nhau về tất cả các phương diện, nhưng cũng có thể giống nhau ở các mức độ nào đó xét theo một trong 3 bình diện: Ngữ pháp, Ngữ nghĩa, Ngữ dụng. Mỗi phát ngôn là một sản phẩm cụ thể được tạo ra trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể nhằm thực hiện một nhiệm vụ, một mục đích giao tiếp cụ thể. 1.3.3. Mục đích nói của câu và hành động ngôn ngữ (Sinh viên nghiên cứu tài liệu 10, tr: 47) 1.3.3.1. Khi nói (và cả khi viết) một câu, người nói (viết) thực hiện một hoặc một vài hành động ngôn ngữ (ngoài hành động tạo lập câu). Hơn nữa, mỗi hành động ngôn ngữ như vậy gắn với một mục đích nhất định. 1.3.3.2. Câu thường được xem xét theo cấu tạo ngữ pháp và theo mục đích nói. Theo mục đích nói người ta thường xác định bốn loại câu: Tường thuật, nghi vấn, cầu khiến, câu cảm và mỗi loại câu như vậy thường được xác định theo mục đích khái quát và những phương tiện hình thức để biểu hiện. Trong thực tế giao tiếp bằng lời nói có nhiều biểu hiện đa dạng và phức tạp hơn. Thể hiện ở các trường hợp sau: + Có trường hợp cùng thuộc về một trong bốn loại câu trên, nhưng các câu thực hiện những hành động cụ thể với các mục đích cụ thể khác nhau, tùy theo hoàn cảnh giao tiếp nhất định. + Có những trường hợp, một câu thuộc một trong bốn loại kể trên nhưng đồng thời thực hiện một vài hành động ngôn ngữ, nhằm vào một vài mục đích cụ thể khác nhau. VD: Anh đừng giễu tôi: Hành động đáp lời, phản đối, cũng nhằm mục đích ngăn cấm sự mỉa mai của Thỏ với Rùa. (Tài liệu 10, tr 50) + Có trường hợp, một câu xét theo các phương diện hình thức (từ ngữ, ngữ điệu, trật tự từ) thì thuộc về một trong bốn loại câu khái quát kể trên (tường thuật, nghi vấn, cầu khiến, cảm thán) nhưng xét theo hành động và mục đích trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể thì câu đó là nhằm một mục đích khác, không giống với hình thức bên ngoài. VD: “Vợ chồng chúng mày liệu bảo nhau làm ăn. Rồi may ra ông giời cho khá Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời ? ” (Vợ nhặt- Kim Lân) => Hình thức: Câu hỏi -» thực chất: Khuyên nhủ, phủ định, động viên. 1.3.3.3. Đối với ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp, cần phân biệt 14
  16. - Hành động ngôn ngữ trực tiếp. - Hành động ngôn ngữ gián tiếp. + Hành động và mục đích của hành động NN được trực tiếp bộc lộ trong câu, có sự thống nhất với các phương tiện hình thức của câu. (Tài liệu 10, tr 52) + Trái lại, người nói không trực tiếp biểu hiện hành động NN và mục đích nói của câu bằng hình thức tiêu biểu của nó. Có thể người ta dùng hình thức của loại câu này để thực hiện hành động và mục đích thuộc loại câu khác. VD: Dùng câu nghi vấn để bộc lộ cảm xúc ngạc nhiên. “Chao ôi! Chợ gì mà lạ lùng thế này? Một con ba ba to gần bằng cái nong ( )” (Đoàn Giỏi) 1.3.4. Phát ngôn và lập luận trong ngôn bản 1.3.4.1.Khái niệm về lập luận Trong cuộc sống, con người luôn luôn cần dùng tới lập luận. Dùng lập luận để chứng minh một điều gì đó, để thanh minh, để giải thích điều gì đó. Để thuyết phục người khác tin vào một sự kiện và cũng có thể lập luận để bác bẻ một ý kiến khác. (Tài liệu 2, tr: 163) VD 1: So sánh 2 cách nói sau đây: 1. Hà học rất chăm nên đậu tốt nghiệp loại xuất sắc. 2. - Hà rất chăm - Hà đậu tốt nghiệp loại xuất sắc Nhận xét: Giống: Về nội dung Khác: Cách nói (1) có 2 sự kiện có quan hệ nhân quả - kết quả. Cách nói (2) 2 câu đơn, 2 sự kiện riêng biệt không quan hệ với nhau => Cách nói (1) là lập luận (sự kiện 1: luận cứ, sự kiện 2: Kết luận). Khi giao tiếp, người nói (viết) thường biểu lộ ý kiến của mình. Những ý kiến đó quy tụ thành kết luận về một số vấn đề nào đó. Quá trình người nói trình bày các ý kiến để dần dần đi đến môt kết luận nhất định được gọi là lập luận. VD 2: Nó ham chơi bóng đá quá nên thường không thuộc bài. Trong lập luận thường có 2 phần: *Phần trình bày các luận cứ (lý do, căn cứ, lí lẽ) *Phần nêu kết luận. VD: Trong một cuộc hội thoại có những lời như sau: A- Đi Hà Nội với mình đi B- Mình không đi đâu. Trời đang mưa với lại mình đang còn mệt. B đã đưa ra kết luận: Mình không đi đâu. Lí lẽ mà B viện ra để biện hộ cho kết luận đó là trời mưa và đang còn mệt. Các lí lẽ đưa ra được gọi là luận cứ Vậy lập luận là việc đưa ra một hoặc một vài luận cứ nhằm dẫn dắt người nghe 15
  17. (đọc) đến một kết luận nào đấy mà người nói (viết) muốn đạt tới. 1.3.4.2. Lập luận là hành động NN, có thể nằm trong giới hạn của một câu (thường là câu ghép), hoặc trong sự liên hệ của một vài câu trong đoạn hoặc có thể trong phạm vi của cả một ngôn bản. Một lập luận có thể có một luận cứ và một kết luận hoặc có một số luận cứ và một số kết luận (Tài liệu 10, tr: 56,57) 1.3.4.3. Các kết luận có thể đứng ở trước các luận cứ, có thể đứng sau hay ở giữa các luận cứ. (Lấy ví dụ trên để dẫn chứng) - Các luận cứ trong lập luận có thể được biểu hiện một cách tường minh bằng các từ ngữ trong câu (câu ghép) hoặc bằng các câu trong một đoạn văn. Cũng có khi kết luận chỉ được hàm ý để người nghe tự rút ra. VD : Trước lời rủ của A, B có thể chỉ nói: - Trời đang mưa hoặc – Mình đang mệt. là A tự rút ra kết luận mà B muốn nêu ra. - Về mặt kiểu câu, luận cứ hay kết luận có thể là một trong bốn kiểu câu: Tường thuật, nghi vấn, cầu khiến, cảm thán (Tài liệu 10, tr: 61, 62) - Ở các luận cứ và kết luận thường được dùng các từ ngữ phục vụ cho lập luận. Trong một câu dùng làm luận cứ, người nói hay viết thường dùng các từ để chuẩn bị hướng tới một kết luận, các từ này không phục vụ cho trình bày nội dung miêu tả, ý nghĩa sự vật của câu mà tạo ra tiềm năng lập luận của nó các từ đó gọi là tác tử. Chẳng hạn như: chỉ, những, vả, vả lại, hơn nữa (Tài liệu10, tr: 62, 63, 64) 1.3.4. 4. Xét về tính chất của các luận cứ và các mối quan hệ giữa các luận cứ trong một lập luận, có thể thấy: - Có những luận cứ đồng loại và các luận cứ khác loại: + Các luận cứ đồng loại: Nêu các nội dung thuộc cùng một lĩnh vực, một phạm vi, thuộc cùng một phạm trù. Ví dụ: Chiếc áo này vải tốt, giá lại rẻ mua đi. Ta thấy lập luận này đưa ra 2 luận cứ: (chiếc áo này vải tốt, giá rẻ. Các luận cứ đó đều đồng loại với nhau. Có nghĩa là cùng nêu ra những đặc điểm về chiếc áo do đó nó đồng loại với việc mua áo) + Các luận cứ khác loại: Có nội dung không cùng lĩnh vực, phạm trù. Ví dụ: Trong đoạn hội thoại, để rủ Bác Lê cùng đi ra nước ngoài, Bác Hồ đã nêu các luận cứ khác nhau. Có luận cứ thuộc về mục đích (xem các nước thế nào, để trở về giúp đồng bào), có luận cứ thuộc về các tình huống có thể xảy ra (ốm đau) - Các luận cứ có hiệu lực lập luận khác nhau đối với kết luận. Khi trong lập luận có nhiều luận cứ thì có thể có luận cứ có hiệu lực mạnh, có sức quyết định hơn để dẫn đến kết luận, còn luận cứ khác có hiệu lực kém hơn. (VD, Tài liệu 1, tr: 67) - Xét theo chiều hướng dẫn tới kết luận, có thể phân biệt: Các luận cứ đồng hướng. Các luận cứ không đồng hướng. Trong các luận cứ được nêu ra, có thể có luận cứ phục vụ cho việc rút ra kết luận. Nhưng lại có những luận cứ hướng tới việc phủ định kết luận. 16
  18. Vi dụ: Chiếc áo này tuy cũ nhưng còn tốt mua được đấy. Ta thấy, ở đây áo cũ nghịch hướng với còn tốt nhưng kết luận là tích cực: mua được. Tóm lại: Hiệu lực lập luận của các luận cứ phụ thuộc vào sự đánh giá, vào quan niệm của người nói hoặc của chủ thể hành động trong từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Đó chính là cơ sở, nguyên cớ của những tranh luận với những quan niệm và cách đánh giá khác nhau đối với cùng một số sự kiện, quan hệ trong hiện thực. Sinh viên tham khảo: (Tài liệu 1, tr: 79-118) 1.4. Hàm ngôn trong giao tiếp 1.4.1. Hàm ngôn và hiển ngôn. Khái niệm về tiền giả định và hàm ngôn Trong hoạt động giao tiếp, nghĩa của câu thường được phân biệt thành hai phương diện: 1.4.1.1. Nghĩa hiển ngôn (nghĩa tường minh) Là phần nghĩa được biểu hiện bằng chính các từ ngữ và kết cấu ngữ pháp của câu. Nghĩa này luôn có mặt và được cảm nhận một cách trực tiếp ngay cả khi câu độc lập với ngữ cảnh. Nghĩa hiển ngôn của câu lại được phân biệt thành hai phần nghĩa. - Nghĩa sự vật (Nghĩa miêu tả, nghĩa biểu hiện): Là nghĩa phản ánh sự vật, hiện tượng, trạng thái hay quan hệ trong hiện thực. Nghĩa này của câu có cơ sở từ hiện thực được phản ánh. - Nghĩa tình thái: Là thành tố nghĩa chỉ ý nghĩa (ý muốn, ý chí), thái độ, tình cảm của người nói đối với điều được nói ra và đối với người nghe. Nghĩa tình thái biểu hiện ở 2 phương diện. +Tình thái của hành động ngôn ngữ: Là chủ định, cái đích của người nói (kể về sự việc, trả lời, khẳng định, phủ định, hỏi, sai khiến, mời, chào, bộc lộ cảm xúc ). +Tình thái của câu - phát ngôn: Là cách đánh giá, thái độ của người nói đối với sự thể (vật liệu, hiện tượng) được nói đến trong phát ngôn, với người nghe. VD 1: Anh Chí đi đâu đấy? (Chí Phèo - Nam Cao) Chứa tình thái hỏi: Câu hỏi Tình thái của phát ngôn: Hỏi với thái độ kẻ cả của Bá Kiến VD 2: Rừng cây im lặng quá. (Đoàn Giỏi) Nghĩa miêu tả: Phản ánh trạng thái im lìm, yên tĩnh của rừng cây. Nghĩa tình thái: + Tình thái của hành động ngôn ngữ: Khẳng định một hiện thực + Tình thái của câu-phát ngôn: Từ quá nhấn mạnh cái yên tĩnh của rừng cây và thể hiện tâm trạng vừa tò mò, vừa thích thú của người nói. VD 3: Nào bác cháu ta lên đường. 17
  19. Nghĩa miêu tả: Chứa ý nghĩa về việc “Bác cháu đường” và việc này chưa xảy ra. Nghĩa tình thái: + Tình thái của hành động ngôn ngữ: Chứa thái độ của người nói đối với sự việc “lên đường” là sốt sắng, hồ hởi. + Tình thái của câu-phát ngôn: Thái độ thân tình, cởi mở của người nói qua cách dùng cụm từ “bác cháu ta” VD 4: Ông giáo hút thuốc đi (Lão Hạc - Nam Cao). Nghĩa miêu tả: Chỉ sự việc: Lão Hạc mời ông giáo hút thuốc Nghĩa tình thái: + Tình thái của hành động ngôn ngữ: Chứa tình thái mời: câu cầu khiến. + Tình thái của câu-phát ngôn: Thái độ kính trọng và thân tình của Lão Hạt đối với ông giáo. 1.4.1.2. Nghĩa hàm ngôn (hàm ẩn): Là nghĩa được suy ra từ nghĩa hiển ngôn của câu và hoàn cảnh giao tiếp. Do đó, nghĩa này luôn luôn có mối quan hệ với hoàn cảnh giao tiếp. VD: (Tài liêu 10, tr: 80) Nghĩa hàm ngôn của câu lại được phân biệt thành hai loại nghĩa. - Nghĩa tiền giả định (TGĐ): Là toàn bộ những hiểu biết cần thiết được giả định là đã có trước khi nói một câu. Người nói đã biết và giả định rằng người nghe cũng đã biết điều đó nên không cần nói ra một cách tường minh. + Hàm ý: Là nghĩa không được biểu hiện trực tiếp mà được nói (viết) ngụ ý trong câu, còn người nghe (đọc) suy ra từ nghĩa hiển ngôn và hoàn cảnh giao tiếp. VD 1: Anh ấy đi mua thuốc cho con Nghĩa tiền giả định của câu: - Anh ấy là một người đàn ông đã có con - Con của anh ấy không khoẻ, chắc là ốm - Anh ấy đến nơi bán thuốc để mua Hàm ý của câu: -Anh ấy rất yêu thương và chăm lo cho con cái. 1.4.1.2.1. Các loại tiền giả định: (Tài liệu 10. Tr: 82) Tiền giả định của câu có 2 loại: - Những tiền giả định là các tri thức phổ thông, các tri thức chung có tính chất “bách khoa” mà mỗi người đã tích luỹ được từ lúc ra đời, bằng con đường tiếp xúc xã hội hoặc học hỏi trong nhà trường, sách vở. VD1: “Mùa lá rụng trong vườn” (Ma Văn Kháng) => Mùa thu VD 2 : Khi nghe câu “Hôm nay, bà ấy đưa đứa con nhỏ đi bệnh viện”, trong trường hợp thông thường ta cũng đã biết được một số điều mà câu không cần nói ra như sau: 18
  20. - Bà ấy có nhiều con - Con nhỏ bà ấy chắc đang ốm - Đứa nhỏ ốm chưa lâu - Bệnh viện là nơi khám và chữa bệnh. - Những tiền giả định liên quan đến những hoàn cảnh giao tiếp. VD: Một người ngồi trên xe bỗng nói câu: - Dừng xe lại! Câu này chỉ có thể “có lý”, có nghĩa hiểu được với điều kiện nó tiền giả định là: + Có một chiếc xe + Xe đang chạy + Câu nói đó nói với người có khả năng điều khiển xe, người này cũng ở trên xe. Các tiền giả định ở trên rõ ràng gắn với hoàn cảnh giao tiếp, nếu không ở trong hoàn cảnh giao tiếp này thì câu đó cũng vô nghĩa. 1.4.1.2.2. Các đặc điểm của nghĩa tiền giả định - Khi câu chuyển đổi mục đích phát ngôn, thì bộ phận nghĩa tình thái trong nghĩa tường minh của câu thay đổi, nhưng nghĩa tiền giả định không thay đổi. VD: -Dừng xe lại! (câu cầu khiến) - Dừng xe lại à? (câu hỏi) - Dừng xe lại rồi. (câu kể) - Đừng dừng xe lại ! (câu cầu khiến, phủ định) Các phát ngôn này khác nhau về mục đích giao tiếp nhưng có chung tiền giả định: - Có một chiếc xe - Chiếc xe đó chạy - Có người có khả năng điều khiển xe - Tiền giả định tuy không trực tiếp nói ra trong câu, tuy không phải là mục đích thông báo của câu nhưng nó phải có quan hệ với các yếu tố ngôn ngữ trong câu, phải có dấu hiệu ngôn ngữ làm căn cứ. VD: Hôm nay, bà ấy đưa đứa con nhỏ đi bệnh viện. Căn cứ vào các dấu hiệu ngôn ngữ sau để biết các TGĐ: - “Bà ấy, đứa con” bà là phụ nữ đã có con - “Đứa con nhỏ” bà ấy không chỉ một con - “Đưa đi bệnh viện” con nhỏ bà ấy bị ốm - “Hôm nay” con bà ấy ốm chưa lâu Trong một ngôn bản, điều được nói một cách tường minh trong câu đi trước là 19
  21. TGĐ trong câu đi sau. VD: Một bà mẹ mua mận (Tài liệu 10. Tr: 85) - Thông thường, TGĐ là một điều đúng trong khi nghĩa tường minh của câu có thể đúng hoặc không đúng. VD: (Tài liệu 10, tr: 86) 1.4.1.2.3. Các đặc điểm của hàm ý (hàm ngôn, ẩn ý) VD: (Tài liệu 10, tr: 86-87) để rút ra các đặc điểm. - Hàm ý không được biểu hiện trực tiếp, không phải là nghĩa tường minh. - Hàm ý được người nói (viết) ngụ ý trong câu, còn người nghe (đọc) suy ra từ nghĩa tường minh và hoàn cảnh giao tiếp của câu (không kể những nghĩa mà người nói không có ngụ ý, nhưng người nghe lại suy diễn ra) - Hàm ý phụ thuộc rất sâu sắc vào hoàn cảnh giao tiếp. *Khác với TGĐ: - Hàm ý tuy không được biểu hiện trực tiếp, nhưng lại có giá trị thông báo, và nhiều khi nó là mục đích quan trọng nhất của sự giao tiếp. Người nói không muốn biểu hiện trực tiếp hàm ý có thể vì nhiều lý do khác nhau. Vì lịch sự, vì không tiện nói trực tiếp, vì không muốn chịu trách nhiệm, vì muốn mỉa mai thâm thúy, vì muốn người nghe thấm thía sâu sắc khi nhận ra hàm ý, vì muốn tạo ấn tượng mạnh mẽ - Về mặt biểu hiện ngôn ngữ: + Hàm ý không nhất thiết phải có dấu hiệu ngôn ngữ trong câu. + Hàm ý thay đổi khi câu và nghĩa tường minh của nó thay đổi từ khẳng định sang phủ định, hoặc từ câu kể sang câu hỏi, câu mệnh lệnh (VD, tài liệu10, tr: 89) + Hàm ý có thể được tường minh hoá bằng cách biểu hiện từ ngữ và nối vào ngay trong cùng câu nói đó. Tất nhiên lúc đó, câu không còn hàm ý, hoặc mất một phần hàm ý. VD: Con voi của Trần Hưng Đạo (Tài liệu 10, tr: 90) *Những căn cứ để nhận biết câu có hàm ý: Hàm ý là nghĩa phụ thuộc rất sát sao vào hoàn cảnh giao tiếp. Để hình thành nghĩa hàm ý cho câu thì một mặt người nói phải tôn trọng các quy tắc hội thoại (luân phiên lượt lời, liên kết hội thoại, cộng tác, tôn trọng thể diện của người hội thoại, nguyên tắc khiêm tốn – Tài liệu 1) mặt khác lại phải cố ý vi phạm chúng và giả định rằng người nghe cũng ý thức được chỗ vi phạm đó mà suy ra hàm ý. VD: A- Cậu có biết Thắng hiện giờ ở đâu không? B- Có chiếc SH dựng trước nhà cái Thúy đấy. Thay vì dùng hành động hỏi đáp trả lời cho câu hỏi, B lại dùng một câu xác tin (miêu tả), B đã vi phạm một cách cố ý quy tắc hội thoại. Phát ngôn của B ngầm trả lời cho A biết rằng Thắng hiện nay đang có mặt ở phòng của Thúy bởi vì cả A và B đều biết Thắng có chiếc xe SH. Hàm ý là Thắng đang ở phòng của Thúy. Một số trường hợp thường gặp: 20
  22. + Nhiều khi người nói lại cố ý nói ra những điều tưởng chừng không có thông tin gì mới, hay là những điều quá hiển nhiên, ai cũng biết rồi. Chính sự cố ý như vậy, trong hoàn cảnh giao tiếp nhất định lại chứa hàm ý. VD 1: Tướng giặc (hỏi Yết Kiêu): - Mi là ai? Yết Kiêu (trả lời): Ta là Yết Kiêu, một chàng trai đất Việt => Thái độ cứng rắn, khẳng khái, tự hào, coi khinh địch. VD 2: “Tiền bạc chỉ là tiền bạc” => Tiền bạc tuy quý nhưng không thay thế cho tình cảm, danh dự: + Có khi người ta cố ý nói trệch ra ngoài để tạo ra hàm ý của câu. VD: Trong đoạn hội thoại giữa Bác Hồ và bác Lê. (Tài liệu 10, tr: 93) + Việc cố ý nói không đầy đủ là cơ sở để tạo ra hàm ý của câu. VD 1: Câu chuyện giữa thuyền trưởng và thuyền phó. (Tài liệu 10, tr: 93) VD 2: Những câu như “Trước đây, cô ấy làm việc ở đây ” hàm ý: nay cô ấy không còn làm việc ở đây nữa. + Cả những cách nói lửng quen thuộc với việc dùng các từ huống chi, nữa là đều để cho người nghe tự rút ra hàm ý. VD: Anh nó còn chưa đủ tuổi, huống chi nó. + Những cách nói mỉa: Thường dùng trong những hoàn cảnh mà người ta khó lòng chờ đợi một lời khen, nó còn được nói với một ngữ điệu riêng, khác với ngữ điệu của lời khen thông thường và có những tình thái từ kèm theo như: đấy nhỉ, lắm đấy, chưa, cơ, mà VD: Đẹp mặt thật! Đem mà triển lãm được đấy! + Các câu thể hiện các hành động ngôn ngữ gián tiếp nói chung, đều có hàm ý. VD: (Tài liệu 10, tr: 95) Ông vui vẻ nói: - A Cổ hả? Lớn tướng rồi nhỉ? Bố cháu có gửi pin đài lên cho ông không? (chào) (khen) -Thưa ông, có ạ! Sinh viên tham khảo: (Tài liệu 1, tr: 119-138) 1.4.4. Hàm ngôn và việc phân tích văn bản nghệ thuật Các văn bản nghệ thuật có đặc điểm là không bộc lộ trực tiếp tư tưởng tình cảm. Ngoài nghĩa tường minh, nhiều khi, nghĩa hàm ẩn (hàm ngôn) có vai trò quan trọng hơn nhiều và là mục đích giao tiếp cuối cùng của văn bản. 1.4.4.1. Nghĩa hàm ẩn trong văn bản nghệ thuật, trong nhiều trường hợp được suy ra từ các hình tượng nghệ thuật mà các từ ngữ dùng trong câu, trong văn bản tạo nên. Các hình tượng này có tính chất cụ thể, nhưng dễ tạo nên những sự liên tưởng và tưởng 21
  23. tượng để người đọc suy ra nghĩa hàm ẩn. VD: “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” ảnh hưởng của môi trường (tự nhiên và xã hội) nên lựa chọn môi trường sống, nên chọn người để kết bạn, để chung sống. 1.4.4.2. Có trường hợp văn bản nghệ thuật không nói hết ý mà bỏ lửng, người đọc căn cứ vào các từ ngữ, kết cấu ngữ pháp, vào nghĩa tường minh mà hiểu ra nghĩa hàm ẩn. VD: “Bài hát trồng cây” (Tài liệu 10, tr: 97). Việc trồng cây luôn mang lại nhiều lợi ích về vật chất và tinh thần Các em nên thường xuyên trồng cây. 1.4.4.3. Trong nhiều trường hợp, muốn phân tích và suy ra nghĩa hàm ẩn của câu và của văn bản nghệ thuật còn cần dựa vào hoàn cảnh giao tiếp. + Có trường hợp câu có nghĩa hàm ẩn trong mọi hoàn cảnh giao tiếp. VD: Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng. + Có trường hợp hoàn cảnh giao tiếp được trình bày trong bản thân văn bản. Ví dụ: Đêm trăng thanh, anh mới hỏi nàng: “Tre non đủ lá đan sàng, nên chăng?” 1.4.4.4. Muốn hiểu, cảm nhận sâu xa tất cả các ý tưởng của văn bản nghệ thuật cần đặt (nó) vào hoàn cảnh ra đời. Ví dụ: Bài thơ “Hạt gạo làng ta” của Trần Đăng Khoa: Thời chống Mỹ ca ngợi công sức lao động của người nông dân làm ra hạt gạo, nhắc nhở mọi người trân trọng, yêu quý hạt gạo. 22
  24. Câu hỏi luyện tập – Thực hành 1. Phân tích sự hiện thực hoá nghĩa của từ “sáng” trong ngữ cảnh. “Nơi hầm tối lại là nơi sáng nhất” (Đất quê ta mênh mông- Dương Hương Ly) Đáp án: - Sáng (từ điển): Ánh sáng toả ra trong không gian khiến cho có thể nhìn thấy mọi vật. => Cảm nhận trái tim bao la, sự hy sinh cao cả của những người chiến sĩ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, lý tưởng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng 2. Phân tích sự hiện thực hóa nghĩa của các từ được in nghiên trong đoan thơ sau: Đường nở ngực, những hàng dương liễu nhỏ Đã lên xanh như tóc tuổi mười lăm Xuân ơi xuân, em mới đến dăm năm Mà đất nước đã tưng bừng ngày hội. (Tố Hữu) Đáp án: - Đường: Vừa chỉ những con đường thực mới làm sau 9 năm chống Pháp, vừa chỉ hành trình của cách mạng, của đất nước. - Nở: Niềm tự hào, kiêu hãnh, sự bề thế của cơ sở vật chất ban đầu. - Xuân: Vừa chỉ mùa xuân của đất trời, vừa chỉ chế độ mới. - Tuổi 15: Vừa là tuổi thực của các cô gái vừa là tuổi 15 cách mạng (1945- 1960) 3. Phân tích nghĩa của từ “máu lửa ” và “rũ bùn ” trong 2 câu thơ: Nước Việt Nam từ máu lửa Rũ bùn đứng dậy sáng loà (Đất nước – Nguyễn Đình Thi) 4. Hãy phân tích các câu sau về cả 3 phương diện: Kết học, nghĩa học, dụng học: a- Mẹ giặt áo cho con Đáp án: Mẹ giặt áo cho con Kết học: C V BN1 BN2 Nghĩa học: TTCT Vi từ (HĐ) TTĐT cảnh hưống (thể được lợi) Dụng học: Đề Thuyết - Viết tắt: Vị từ HĐ (Vị từ hoạt động), KH (kết học), NH (nghĩa học), DH (dụng học), TTĐT (tham thể đối tượng), TTCT (tham thể chủ thể), CH (cảnh huống) 23
  25. b) Ông tôi chặt cây bưởi KH: C V BN NH: TTCT Vi từ HĐ TTĐT ↓ ↓ DH: Đề Thuyết c) Chiếc áo này rất đẹp KH: C V NH: TTCT Vi từ (tính chất) DH: Đề Thuyết d) Cháu biếu bà một chiếc áo KH: C V BN1 BN2 NH: TTCT VT (HĐ) TT tiếp nhân TTĐT DH: Đề Thuyết e) Hôm nay, lớp em học toán KH: TN C V BN NH: CH (thời điểm) TTCT Vi từ (HĐ) TTĐT DH: Đề Thuyết 5. Với chủ đề “Nhà trường” hoặc “Học sinh” hãy xây dựng: Một lập luận gồm 3 luận cứ đồng hướng và 1 kết luận. 6. Hãy tìm nghĩa tường minh, tiền giả định và hàm ngôn trong các câu sau: a. Tan học cô giáo bảo học trò: - Bao giờ tạnh mưa mới về! Đáp án: + Nghĩa tường minh: Khi nào hết mưa mới về. + Tiền giả định: - Trời đang mưa. 24
  26. - Học sinh không có áo mưa. - Học sinh còn nhỏ. + Hàm ngôn: - Cô giáo có ý ngăn cản, khuyên nhủ học sinh chưa nên về lúc này. - Tỏ sự quan tâm, lo lắng đối với học sinh. b. Vũ hội làm chúng ta quên rằng bây giờ đã 12 giờ đêm rồi. Đáp án: + Nghĩa tường minh : Vũ hội đã kéo dài đến 12 giờ đêm. + Tiền giả định : - Có một cuộc vũ hội. - Vũ hội tổ chức vào ban đêm. - Vào ban đêm cần nhớ không nên thức quá khuya. - Đôi với sinh hoạt thông thường của người Việt Nam, 12 giờ đêm đã là quá khuya rồi. + Hàm ngôn (HN): - Chúng ta cần phải giải tán thôi. - Vũ hội thành công, chứng cớ là mọi người đã quên cả mệt mỏi và giờ giấc. 7. Phân tích nghĩa hiển ngôn và hàm ngôn trong văn chương a. Bài ca dao : Em tưởng nước giếng sâu Em nối sợi gầu dài Ai ngờ giếng cạn Tiếc hoài sợi dây Hiển ngôn: Kể lại chuyện đã làm: cho là giếng sâu, phải nối dây gầu cho dài, hóa ra giếng cạn, thật phí công nối dây. Hàm ngôn: Người con gái tự trách: Tiếc công sức của mình và trách móc người con trai. b. Chuyến này không phá xong giặc Nguyên, thề không về đến bến sông này nữa ! (TV3 -T2- CCDG) Hiển ngôn: Lời thề quyết phá tan giặc Nguyên của Trần Hưng Đạo. Hàm ngôn: - Đây là trận chiến đấu một mất, một còn. - Trần Hưng Đạo thà chết chứ không chịu thất bại trở về. - Hô hào tinh thần quyết tử của quân sĩ. - Biểu lộ lòng yêu quý, chí phục thù cho con voi có công và có nghĩa. 8. Yêu cầu sinh viên: Phân tích nghĩa hiển ngôn, hàm ngôn trong các bài ca dao sau: a. Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng 25
  27. “Tre non đủ lá đan sàng, nên chăng?” b . Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh họa đồ. c. Trúc xinh trúc mọc đầu đình Em xinh em đứng một mình cũng xinh 26
  28. Chương 2 CHUYÊN ĐỀ VỀ TỪ HÁN VIỆT 2.1. Khái quát về từ Hán Việt 2.1.1. Khái niệm về từ Hán Việt và các đặc điểm 2.1.1.1. Khái niệm về từ Hán Việt Từ Hán Việt (HV) là một trong các loại từ gốc Hán, có vỏ ngữ âm là âm Hán Việt, được mượn vào kho từ vựng tiếng Việt sau thế kỷ X và trở thành một bộ phận của từ vựng tiếng Việt, nếu là đơn tiết thì thường là từ cổ, khó hiểu, có thể tự do kết hợp hay không tự do kết hợp với từ khác, nếu là song tiết thì được cấu tạo theo cú pháp Hán có phong cách trang trọng, cổ kính đối lập với phong cách từ thuần Việt: cụ thể, dân dã. 2.1.1.2. Đặc điểm của từ Hán Việt Các đặc điểm trên sẽ được giải thích rõ hơn như sau: a) Từ HV là một trong các loại từ gốc Hán Loại trừ những từ gốc Nam Á hay gốc Việt được người Hán phiên âm dựa vào âm Hán, người Việt lại đọc theo âm HV, những từ này không thể coi là từ HV vì nó chỉ phiên âm từ Việt. Ví dụ: - Cảm lãm là phiên âm từ klảm (trảm) - Phù lưu là phiên âm từ blàu (trầu) - Mị Nương là phiên âm từ (menang) (Tài liệu10, tr:121) b) Từ HV phải có vỏ ngữ âm là âm HV Đòi hỏi này đã tách từ HV ra khỏi các từ tiền HV (từ HV thượng cổ) ở thời Bắc thuộc đã được du nhập vào vốn từ tiếng Việt một cách lẻ tẻ, chủ yếu là trong sinh hoạt. VD: Tiền HV HV bay phi bố phụ cờ kỳ đời đại đuổi truy hạp hợp đúng trúng béo phì di dời mùa vụ Đồng thời xác định rõ từ HV gồm các từ gốc Hán du nhập vào tiếng Việt từ thế kỷ X trở về sau hoặc du nhập trước đó nhưng đến thế kỷ X đổi hình thức ngữ âm HV 27
  29. cho đến tận thế kỷ XVIII, XIX, thậm chí thế kỷ XX, các từ du nhập trước thường là từ Văn học trong các thư tịnh Nho, Phật, Lão như: trung, nhân, trí túc, thanh tịnh, nhân, quả trong đó phần nhiều là từ đơn tiết song cũng có những từ song tiết. Những từ du nhập vào tiếng Việt sau thế kỷ XVIII cho đến gần đây thường gắn với ý thức hệ và thiết chế tư sản và vô sản và nền đại công nghiệp, theo với đà tiến lên của khoa học lớp từ này vẫn tiếp tục sản sinh ở tiếng Việt hoặc theo phương thức vay mượn, ví dụ: điện thoại, tự dộng hóa, cơ giới hóa, thủy văn, khí tượng , hoặc theo cách ghép từ riêng của người Việt, ví dụ: đa hệ, ủy ban, quốc hội, nghệ sĩ, vô tuyến truyền hình c) Các từ HV đơn tiết sẽ tách thành 2 nhóm - Nhóm 1: do được sử dụng nhiều hơn, được Việt hoá nhiều hơn, không có ranh giới khu biệt với từ thuần Việt trong phạm vi hành chức, có thể độc lập kết hợp với các từ khác. VD: trung, hiếu, nghĩa, tâm, sách,bút chẳng hạn: Có hiếu với cha mẹ. Chữ hiếu thì để cho cha Chữ trung phần mẹ đôi ta chữ tình. - Nhóm 2: Có nghĩa trọn vẹn, là từ đơn tiết trong tiếng Hán vào tiếng Việt, khi cần tách bạch có thể dùng độc lập, ít có khả năng kết hợp tự do với các từ Việt. VD: quốc, gia, vương, thất, nhất, nhị, tam Người Việt nào cũng biết chữ nhất là 1, nhị là 2, gia là nhà, quốc là nước nhưng các chữ trên không bao giờ đứng một mình làm thành từ. Chẳng hạn: + Ta chỉ nói tôi yêu nước, chứ không nói tôi yêu quốc + Ta chỉ nói tôi có nhà, chứ không nói tôi có gia + Ta chỉ nói tôi có một vợ hai con, chứ không nói tôi nhất vợ nhị con d) Từ song tiết HV: (Tài liệu 7, tr: 69, tài liệu10, tr: 123). Phần lớn từ HV là từ đa tiết, chủ yếu là từ song tiết. Về mặt cấu tạo, từ bao giờ cũng được cấu tạo theo cứ pháp Hán. Các cách cấu tạo từ hay gặp trong từ Hán Việt: - Kết cấu chính- phụ: khác với tiếng Việt, bộ phận chính quan trọng thường đặt phía sau. VD: công viên, nam giới, thiên tử, độc giả, triều đình (bổ ngữ danh từ) Bàng quan, bi quan, liệt kê, tiên tiến, ngụy biện (bổ ngữ động từ) - Kết cấu đẳng lập: Các yếu tố có vai trò ngữ pháp ngang nhau, hoặc đồng nghĩa, hoặc gần nghĩa, hoặc liên quan với nhau trong cùng một trường nghĩa nhất định, thành tố sau vẫn có vai trò quan trọng hơn thành tố đứng trước. VD: + phụ nữ, phụ lão, nhân dân, nhi đồng (Danh - Danh) + phong phú, huy hoàng, trang nghiêm (Tính - tính) + giáo dục, chiến đấu, kiến trúc, thương vong (Động- động) Những kết hợp đẳng lập trên vì mượn tiếng Hán nên nói chung không thể tùy tiện đảo ngược vị trí, (trừ một số từ có thể đảo vị trí của các yếu tố cấu tạo mà nghĩa không thay đổi như: tàn bạo = bạo tàn, giản đơn = đơn giản, tranh đấu = đấu tranh, li biệt = biệt li) khác với từ thuần Việt (cửa nhà - nhà cửa, cha mẹ - mẹ cha, quần áo - áo quần, 28
  30. trong sạch - sạch trong, bé nhỏ - nhỏ bé) đ) Từ Hán Việt có nhiều từ mang phong cách trang trọng, cổ kính, bác học, đối lập với phong cách giản dị, dân dã của từ thuần Việt. Đây chính là tiêu chí để phân biệt một bên là từ Hán việt thực sự và một bên là từ gốc Hán đã được Việt hóa. Có thể giải thích bằng các nguyên nhân sau: - Những từ Hán Việt du nhập vào tiếng Việt trong giai đoạn đầu phần lớn nằm trong thư tịch Hán cổ (kinh, sử, tử, tập), những từ này phần lớn là những từ trừu tượng thuộc về các lĩnh vực triết học, lịch sử, văn học Tiếng Việt do sự tiếp xúc lâu đời với tiếng Hán và do cách đọc Hán Việt thuận tiện cho việc tiếp thu từ Hán nên có xu hướng vay mượn từ trừu tượng Hán Việt, chẳng hạn Tiếng Việt đã có từ vợ và chồng nhưng việc dựng vợ gả chồng lại mượn từ giá thú hay gia thất. Người Việt lúc đầu tiếp thu từ Hán Việt còn có khả năng nhận thức ấy nhưng sau này cách viết từ HV bằng chữ Hán đã được thay thế bằng chữ quốc ngữ và kiểu tư duy thị giác đã bị mất đi, những người không tinh thông Hán học không còn khả năng nhận thức trực tiếp. Từ Hán Việt trở nên mù mờ khó hiểu, trở thành một thứ giống như ngoại ngữ. - Lớp từ Hán Việt cũ do du nhập vào tiếng Việt sớm nên cũng xuất hiện sớm trong các sáng tác bằng chữ Nôm, tức là những tác phẩm cổ, những từ này do đó tạo ra một phog cách cổ kính, trang nghiêm khác với lời ăn tiếng nói thường ngày. VD: Trong “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi có các từ: ngư phủ, cửu trùng, tề gia, tam sinh, hồng nhan, đọan trường - Từ Hán Việt có sự gián cách rõ rệt giữa âm thanh và ý nghĩa, do đó người Việt không nắm bắt được rành mạch ý nghĩa của từ như: Phong (trong phong tục, phong cách, phong khí), thảo (trong thảo đường, thảo lư, thảo khấu ) thì nó tạo nên phong cách ẩn hiện, thấp thoáng, nó không cụ thể, gần gũi như từ thuần Việt. 2.1.2. Nguồn gốc và quá trình hình thành từ Hán Việt 2.1.2.1. Nguyên nhân có lớp từ HV - Do sự gần kề về địa lý, Việt nam và Trung Quốc là hai nước gần nhau, có một dãi dài biên giới (đường bộ và đường biển) tiếp giáp nhau tới hàng ngàn ki-lô-mét. Đây là điều kiện thuận lợi cho các quan hệ giao lưu, tiếp xúc giữa người dân hai nước, trong đó có ngôn ngữ, sự tiếp xúc giữa ngôn ngữ Hán và ngôn ngữ Việt bắt đầu từ thời thượng cổ. - Việt Nam sớm bị phong kiến phương Bắc đô hộ (người Hán xâm lược) và đã trải qua thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc: Âm mưu của phong kiến phương Bắc là đồng hóa dân tộc Việt Nam bằng chính sách đồng hóa. Do đó ngôn ngữ văn hóa Hán ồ ạt xâm nhập nước ta, chiếm vị thế áp đảo và rất muốn thay thế vai trò ngôn ngữ bản địa. Có thể nhận ra chính sách đồng hóa dân tộc, trong đó có đồng hóa ngôn ngữ và văn hóa Âu Lạc, đã thành sách lược và mục tiêu của Triệu Đà: “Dĩ thi thư nhi hóa huấn quốc tục, dĩ nhân nghĩa cố kết nhân tâm” (tạm dịch: “Lấy thơ văn để giáo hóa phong tục, tập quán đất nước; lấy nhân nghĩa để kết nối lòng người”) (Nguyễn văn Khang - Từ ngoại lai trong tiếng Việt, tr: 65) - Giữa tiếng Hán và tiếng Việt có nhiều điểm gần gũi. Cùng là ngôn ngữ đơn lập, cùng có nhiều thanh điệu, cùng có nhiều nguyên âm, phụ âm tương đồng nên việc vay mượn từ Hán ngữ vẫn thuận lợi hơn việc vay mượn từ vốn từ ngôn ngữ Ấn Âu vốn thuộc loại hình ngôn ngữ Ấn Âu. 29
  31. Với bản lĩnh kiên cường và bản sắc vững vàng, dân tộc ta đã vận dụng tài trí thông minh sáng tạo để bảo vệ, phát triển tiếng nói và nền văn hoá dân tộc, tận dụng kho chữ Hán đồ sộ đã được Việt hoá về mặt âm đọc và phần nào đó về mặt ý nghĩa, phạm vi sử dụng để tạo ra từ HV. 2.1.2.2. Quá tình hình thành của từ Hán Việt Quá trình Việt hoá từ gốc Hán diễn ra liên tục suốt từ những thế kỷ đầu Công nguyên, trải qua thời kỳ phong kiến phương Bắc đô hộ đến thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến độc lập và đến nay. a) Thời thượng cổ Với địa lý gần kề, thời kỳ này đã diễn ra sự giao lưu tiếp xúc ngôn ngữ cùng với sự giao lưu tiếp xúc văn hoá, kinh tế về nhiều mặt giữa 2 dân tộc Việt - Trung. Chủ yếu là sự giao lưu tiếp xúc giữa cư dân miền Bắc nước ta với cư dân vùng người Hán như trao đổi vật phẩm: Trống đồng Đông Sơn được phát hiện trên đất Trung Quốc, các sản phẩm mang dấu ấn văn hoá Trung Quốc trong các di chỉ khảo cổ học tiền sử Việt Nam; kinh nghiệm tổ chức cuộc sống, làm ăn Ngoài ra ta còn thấy từ Hán vào Việt Nam còn có con đường truyền khẩu, con đường không chính thức qua giáo dục mà chỉ do sự tiếp xúc với người Hán phần lớn là cư dân phía nam Trung Quốc (các nhà nghiên cứu gọi con đường này là con đường không chính thức, con đường vay mượn của bình dân). Từ Hán vào tiếng Việt bằng con đường này có số lượng không đáng kể, mảng từ này chỉ giới hạn trong một phạm vi hẹp (thường là tên gọi vài thức ăn, vật dụng hoặc một số tập tục của Hoa kiều ở Việt Nam) chẳng hạn: Từ Nghĩa Bò bía gỏi cuốn (bằng bánh tráng mỏng) Xí quách món xương heo Lạp xưởng món thịt nhồi ruột heo Thèo lèo kẹo thập cẩm, kẹo mè Quày tủ để bán hàng hóa Tiệm cửa hàng (Số) dách nhất, tuyệt, số một Xúi quẩy xui xẻo Lì xì cho tiền lấy may Phì lủ lão mập, ông mập, cha mập Hầm bầng làng cộng hết tất cả Xíu mại thịt ba rọi (Từ vựng gốc Hán trong Tiếng Việt, tr: 64,371) b) Thời Bắc thuộc Là thời kỳ xảy ra sự giao lưu tiếp xúc ảnh hưởng sâu đậm nhất của ngôn ngữ Hán và ngôn ngữ Việt. Bắt đầu từ khi Triệu Đà đem quân xâm lược, tiêu diệt nước Âu Lạc của An Dương Vương (179 TCN), sáp nhập vào lãnh thổ Nam Việt (miền Nam Trung 30
  32. Quốc ngày nay). + Tiếng Hán và chữ Hán được sử dụng ở nước ta (Giao Châu) như một ngôn ngữ chính thống trong việc giao dịch giữa các quan lại cai trị với các chức sắc địa phương qua các loại thư, tấu, biểu, chương. + Tiếng Hán lúc này đóng vai trò một sinh ngữ được sử dụng để thực hiện những cuộc giao tiếp trực tiếp giữa người Việt và người Hán. Người Việt trong các làng, xã vẫn sử dụng tiếng mẹ đẻ - tiếng Việt cổ khác tiếng Việt hiện nay có một loại chữ viết “như con nòng nọc” (Nguyễn Văn Khang-Từ ngoại lai trong Tiếng Việt, tr: 74). c) Thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến độc lập Năm 938 với chiến thắng lẫy lừng trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đã xây dựng nên nền tự chủ. Nhưng các vương triều Đại Việt vẫn phải dùng chữ Hán làm ngôn ngữ chính thống trong cơ quan hành chính và trong khoa cử đến tận thế kỷ XIX. Đến thời kỳ này chữ Hán không còn đóng vai trò là sinh ngữ, nó được đọc theo hệ thống ngữ âm bắt nguồn từ tiếng Hán, biến đổi phù hợp với quy luật ngữ âm và bộ máy cấu âm của người Việt gọi là âm Hán Việt. Nó được người Việt dùng để đọc các văn bản nói chung, văn thơ nói riêng do người Việt, người Hán viết ra ở tất cả các thời Tiên Tần, Lưỡng Hán (Tây Hán, Đông Hán), Nguyên, Minh, Thanh, từ thời Đinh - Lê đến cuối đời Nguyễn. d) Giai đoạn từ 1858 đến tháng 8-1945 Địa vị chính thống của tiếng Hán bị lung lay khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (1858). Triều đình nhà Nguyễn đầu hàng, dâng nước ta cho thực dân Pháp. Pháp giữ quyền cai trị Việt Nam. Cùng với sự củng cố chính quyền, Pháp bãi bỏ chế độ thi cử truyền thống ở Việt Nam. Trong văn bản hành chính Nhà nước, trong trường học, tiếng Pháp giành quyền chính thống. Tầng lớp Hán học tàn lụi dần. Thời kỳ này, người biết tiếng Hán là tầng lớp sĩ phu của chế độ cũ còn lại và các nho sĩ đã thất thế. Song sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán Việt vẫn chưa bị cắt đứt hoàn toàn. Đặc biệt cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các sĩ phu yêu nước Việt Nam vẫn tiếp nhận tư tưởng tiến bộ của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, Tôn Trung Sơn và chủ nghĩa Mác - Lê Nin qua sách báo chữ Hán. e) Cách mạng tháng Tám đến nay Cách mạng tháng Tám thắng lợi đã đem lại địa vị chính thống cho Tiếng Việt trong mọi mặt của đời sống xã hội. Với biết bao biến cố xã hội nhưng cho đến ngày nay, sự giao lưu tiếp xúc ngôn ngữ Hán Việt vẫn tiếp tục và để lại những dấu ấn, hệ quả đậm nét trong tiếng Việt. Trong kho từ vựng tiếng Việt vẫn tiếp tục xuất hiện những từ HV: vũ trụ, hội thảo, ngoại nhập, nội nhập, siêu dẫn, siêu tốc, công nghệ 2.1.2.3. Hệ quả của việc tiếp xúc ngôn ngữ Hán Việt Sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán Việt trong suốt thời gian dài, đã làm nảy sinh một số hiện tượng ngôn ngữ đáng chú ý. - Cách đọc chữ Hán ở Việt Nam. Là một trong những quốc gia có nền văn minh sớm nhất nhân loại, chữ Hán xuất hiện từ rất sớm “chữ Hán ra đời khi xã hội Trung Quốc cổ đại đã phát triển đến một trình độ nhất định, với chế độ công xã thị tộc, trên cơ sở nông nghiệp và các hoạt động 31
  33. văn hóa đã tiến bộ” (Lê Nguyễn Lưu - Từ chữ Hán đến chữ Nôm, tr: 6), “vào khoảng 1500 đến 1200 năm trước Công Nguyên” (Đặng Đức Siêu- Dạy và học từ Hán Việt ở trường phổ thông, tr: 25) là thứ chữ tượng hình “vẽ ngay sự vật để gợi tên gọi”, ở Trung Quốc bản địa, chữ Hán có những cách đọc khác nhau. Tiếng Hán ở Giao Châu (miền Bắc Việt Nam) thời Bắc thuộc cũng được coi là một phương ngữ của tiếng Hán tuy có chịu tác động của cách nói của người Việt Nam. Qua các giai đoạn lịch sử, tiếng Hán ở Trung Quốc có sự thay đổi về ngữ âm nên cách đọc cũng thay đổi và cách đọc tiếng Hán ở Giao Châu ở thế kỷ VIII-IX cũng bị thay đổi theo đó là cách đọc theo hệ thống ngữ âm tiếng Hán giai đoạn sau của tiếng Hán Trung cổ. (chẳng hạn vào từ đầu Công nguyên đến thời kỳ tự chủ, tiếng Hán được sử dụng ở Giao Châu được đọc theo hệ thống âm Hán thượng cổ đến gần thời tự chủ tiếng Hán mới được đọc theo hệ thống âm Hán trung cổ) Đến thời kỳ quốc gia phong kiến độc lập, từ thế kỷ X trở đi, tiếng Hán ở Việt Nam hoàn toàn cách ly khỏi tiếng Hán bản địa. Sau thế kỷ X, cho dù tiếng Hán bản địa của các triều đại Nguyên, Minh, Thanh vẫn tiếp tục diễn biến nhưng nó không còn tác động trực tiếp đến tiếng Hán ở Việt Nam. Tiếng Hán ở Việt Nam giai đoạn này chịu sự chi phối của tiếng Việt làm cho cách đọc tiếng Hán dựa trên hệ thống ngữ âm đời Đường dần dần biến dạng, mà dưới ảnh hưởng của các quy luật biến đổi của ngữ âm tiếng Việt và bộ máy cấu âm của người Việt đã tạo thành cách đọc riêng của người Việt, gọi là cách đọc Hán Việt. Trong khi đó tiếng Hán ở Trung Hoa tiếp tục biến đổi thành âm Bắc Kinh ngày nay. - Sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa hai thứ tiếng Hán Việt về mặt từ vựng Đây là sự ảnh hưởng hai chiều. Trong vốn từ Hán có tiếp nhận một số từ tiếng Việt. VD: Do Trung Hoa không có loại cây, quả trám nên phải ghi âm tên Việt bằng hai chữ cảm+ lãm, cau = tân + lang, trầu = phù lưu Ngược lại tiếng Việt của chúng ta có nhiều từ mượn tiếng Hán từ thời thượng cổ được gọi là từ gốc Hán được mượn từ trước lúc có cách đọc Hán Việt (hiện nay còn dấu vết trong tiếng Việt), có những từ mượn đọc theo cách đọc Hán Việt “cách đọc chữ Hán của người Việt bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán đời Đường, chịu sự chi phối của hệ thống ngữ âm tiếng Việt được gọi là từ Hán Việt” Từ gốc Hán Từ mượn (từ Hán Việt) giếng tỉnh sen liên tuổi tuế tìm tầm râu tu chúa chủ mây vân múa vũ (Theo An Chi- An Ninh Thế Giới- số 1915 năm 2010- Xét về ngữ âm học lịch sử thì một số từ hoặc hình vị Hán Việt hiện có phụ âm đầu v- lại vốn là những yếu tố xưa 32
  34. kia có phụ âm đầu m. Ví dụ: mùi - vị, mùa - vụ, múa - vũ, mong - vọng, muôn - vạn, muộn - vãn) Tóm lại: Từ Hán Việt là từ gốc Hán đọc theo cách đọc của người Việt bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm cuối đời Đường, chịu sự chi phối của hệ thống ngữ âm tiếng Việt. Như vậy, cách đọc Hán Việt là sản phẩm lịch sử của sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán và Việt ở thời kỳ thứ hai, thời kỳ nhà nước độc lập và tự chủ. Cách đọc này đã hình thành, phát triển và tồn tại đến ngày nay. (Lê Xuân Thại- Từ Hán Việt và việc giảng dạy từ Hán Việt, tr: 11) - Sự xuất hiện của chữ Nôm Chữ Nôm là chữ của người Việt dựa trên cơ sở chữ Hán và có âm đọc Hán Việt để ghi âm tiếng Việt, là thành quả lớn lao của dân tộc trong thời kỳ Trung đại. “là kết quả của lòng tự hào dân tộc về ngôn ngữ và về văn hóa, là biểu hiện tiềm năng của tiếng Việt. Nhà Hồ một triều đại đã có nhiều ý tưởng cải cách xã hội, đã bắt đầu dùng chữ Nôm và tiếng Việt như là một phương tiện giáo dục. Hơn ba thế kỷ sau, Quang Trung nâng ý tưởng này lên thành một tầm cao mới, dùng chữ Nôm để ra đề thi, dùng chữ Nôm trong việc cai trị ” (Mấy vấn đề về tiếng Việt hiện đại-NXB Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr: 32) Nhờ có chữ Nôm, việc xây dựng và phát triển hệ thống ngôn ngữ văn học của tiếng Việt đã đạt được những thành quả to lớn, nhiều áng thơ văn bất hủ còn lưu truyền trong dân gian: Truyện Kiều của Nguyễn Du, bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, Thơ Quốc Âm thời Hồng Đức của Nguyễn Trãi 2.1.3. Vị trí, vai trò của từ Hán Việt trong từ vựng tiếng Việt. Việc sử dụng từ Hán Việt. Vị trí của từ HV trong từ vựng tiếng Việt và trong hoạt động giao tiếp của ngựời Việt. (Sinh viên đọc tài liệu 7, tr: 72-74) 2.1.3.1. Từ vay mượn trong tiếng Việt - Theo thống kê, trên thế giới hiện nay có khoảng trên 6800 ngôn ngữ và dường như không có ngôn ngữ nào mà trong hệ thống từ vựng của mình lại không có hiện tượng vay mượn. Nói cách khác, vay mượn từ vựng là hiện tượng phổ biến của mọi ngôn ngữ. Mức độ về số lượng các đơn vị từ vựng vay mượn giữa các ngôn ngữ có thể khác nhau. VD: Trong từ vựng tiếng Anh có tới 56% đơn vị từ vựng nước ngoài. Trong từ vựng tiếng Thụy Điển có tới 75% đơn vị từ vựng nước ngoài. Trong từ vựng tiếng An-ba-ni có tới 90% đơn vị từ vựng nước ngoài. Trong từ vựng tiếng Ai-len có 1% đơn vị từ vựng nước ngoài. Trong từ vựng tiếng Đức có tới 1/4 đơn vị từ vựng nước ngoài. Như vậy bất kỳ ngôn ngữ nào trên thế giới cũng đều được hình thành, xây dựng bằng nhiều lớp từ khác nhau đó là: + Lớp từ bản ngữ - lớp từ thuần + Lớp từ có nguồn gốc ngoại lai - lớp từ vay mượn 33
  35. - Từ vay mượn trong tiếng Việt là những từ tiếng Việt vay mượn của các ngôn ngữ khác nhưng đã “Việt hóa” để có hình thức ngữ âm, đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa phù hợp với hệ thống ngữ âm, ngữ pháp của tiếng Việt. - Tiếng Việt vay mượn tiếng Mường, tiếng Thái, Môn Khơmer (ba tiếng trên thuộc dòng ngôn ngữ Nam Á và vào tiếng Việt từ lâu nên không coi là từ vay mượn nữa) và vay mượn nhiều ở tiếng Hán, tiếng Pháp chúng được gọi là từ vay mượn được chia thành hai lớp nhỏ: + Lớp từ ngữ gốc Hán + Lớp từ ngữ Ấn Âu 2.1.3.2. Từ Hán Việt trong các từ vay mượn - Trong tiếng Việt, từ vay mượn được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ chia làm hai lớp nhỏ hơn: + Lớp các từ gốc Hán + Lớp các từ gốc Ấn Âu - Lớp từ gốc Hán là tất cả những từ Hán Việt có nguồn gốc lịch sử là tiếng Hán, bao gồm: Các từ Hán cổ và từ Hán Việt + Từ Hán cổ: (Tài liệu 10 gọi là Tiền Hán Việt) là những từ gốc Hán được du nhập vào tiếng Việt ở giai đoạn một và được đồng hóa mạnh nên không còn xa lạ với người Việt nữa. Ví dụ: buồng, mùa, chè, chém, chìm, hè, hẹn + Từ Hán Việt: là những từ vay mượn của tiếng Hán nhưng đã “Việt hóa” âm đọc và phần nào về ý nghĩa, phạm vi sử dụng cho phù hợp với hoạt động giao tiếp của người Việt. Ta có thể đối chiếu cách đọc một số từ theo âm Hán (đời Đường) và âm Hán Việt đã được Việt hóa. VD: Âm Hán Âm Hán Việt tông đông phung phong xống tống Ngoài ra từ Hán Việt còn bao gồm những từ không phải là gốc Hán mà mượn của ngôn ngữ khác rồi người Việt mượn lại đọc theo âm Hán Việt. VD: + Các từ có nguồn gốc từ Nhật Bản: đại bản doanh, kinh tế, mỹ thuật, biến chứng, cộng hòa. + Các từ có nguồn gốc Ấn Độ: Phật, nát bàn, Di lặc, Thích ca mâu ni. + Các từ có nguồn gốc Châu Âu: câu lạc bộ, Mạc Tư Khoa, Anh Cát lợi. Tóm lại: - Từ HV chiếm tỷ lệ khá cao trong kho tàng từ vựng tiếng Việt, trong giao tiếp ngôn ngữ của người Việt. Do vị thế địa lý và hoàn cảnh lịch sử , trong tiếng Việt có một lớp từ ngữ gốc Hán rất phong phú về mặt số lượng, có giá trị về nhiều mặt. Từ HV chiếm khoảng 70 đến 75% tổng số từ ngữ tiếng Việt (nếu tính từ gốc Hán thì con số còn nhiều hơn thế). Trải qua sàng lọc trong quá trình lịch sử, chúng đã trở thành một bộ phận của tiếng Việt và 34
  36. của văn học Việt Nam, nói chung là của văn hoá Việt Nam. - Từ HV có tần số xuất hiện lớn ở tất cả các lĩnh vực hoạt động giao tiếp của người Việt: chính trị, văn hoá, khoa học, kỹ thuật, quân sự, y tế, ngoại giao. Lớp từ này không những không có khả năng lấn át ngôn ngữ bản địa, ngược lại đã góp phần tích cực vào việc làm cho tiếng Việt thêm giàu có, tinh tế, chuẩn xác, uyển chuyển, đủ khả năng đáp ứng một cách tốt nhất mọi yêu cầu do cuộc sống văn hoá - xã hội phát triển đề ra. - Có năng lực sản sinh rất mạnh, là lớp từ văn hoá trong văn bản bút ngữ của tiếng Việt hiện đại. Hiện nay, từ HV vẫn đang được phát huy tích cực trong khung cảnh, điều kiện mới, và trong sự định hướng đúng đắn của tất cả chúng ta. Dùng từ HV đúng lúc, đúng chỗ là làm cho tiếng Việt thêm giàu, thêm đẹp. 2.1.4. Giá trị phong cách (giá trị biểu đạt của từ Hán Việt) a) Từ HV tạo sắc thái tao nhã, hoặc tránh gây ấn tượng ghê rợn cho người đọc, người nghe. VD: Về việc lựa chọn sử dụng giữa các từ Thuần Việt Hán Việt thiêu hoả táng xác chết thi hài, tử thi đi lính nhập ngũ trẻ con nhi đồng ăn mày hành khất b) Từ Hán Việt tạo sắc thái trang trọng, đặc biệt phù hợp với các trường hợp giao tiếp lễ nghi. Trong một số trường hợp đặc biệt ta không thể dùng từ thuần Việt mà bắt buộc sử dụng từ Hán Việt để biểu đạt một khái niệm, một nội dung nào đó. VD: Nói (viết) Không thể nói (viết) Ngày Quốc tế phụ nữ Ngày Quốc tế đàn bà Quốc gia độc lập Nước đứng môt mình Thủ tướng cùng phu nhân Thủ tướng cùng vợ Hoặc: Lệ và nước mắt là 2 từ ngữ đồng nghĩa Thông thường người ta chỉ nói nước mắt, nhưng trong một số trường hợp dùng lệ vẫn hay hơn, có giá trị nghệ thuật hơn do tính trang trọng của từ HV như: - Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều! - Nghe hồn Nguyễn Trãi phiêu diêu (Tố Hữu) Và: Luận cương đến Bác Hồ. Và người đã khóc, Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lê Nin 35
  37. Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp. Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin. (Chế Lan Viên) + Do sắc thái trang trọng của từ ngữ Hán Việt mà người Việt Nam thích dùng từ ngữ HV đặt tên cho địa danh, cho người. Người ta thích lấy tên là Sơn, là Hải, là Thảo, là Diệp chứ ít ai lấy tên là Núi, là Biển, là Cỏ, là Lá mặc dù chúng có nghĩa như nhau. Nhưng cũng có người lấy tên là Tấm, là Cám, là Nụ những cái tên nghe rất bình dị, thân thương. VD: Địa danh: Thăng Long, Tràng An, Đa Phúc, Nhân Mục. c) Từ Hán Việt còn giúp ta cảm nhận được hình ảnh của thế giới khái niệm im lìm, bất động, góp phần, tạo sắc thái cổ khi tạo hình ảnh, nhân vật, cuộc sống xã hội xưa, trái lại, từ thuần Việt cung cấp cho ta hình ảnh sinh động của thế giới thực tế. Sự đối lập này được các nhà văn khai thác. Cũng tả buổi chiều, có thuyền, có nước, có tác giả bâng khuâng nhưng trong bài Thu điếu của Nguyễn Khuyến toàn dùng từ thuần Việt để gợi lên một mùa thu có thực và một nông thôn thực tế quê nhà. Dùng từ Hán Việt vào đây thì cái cảm giác thân quen, gần gũi sẽ mất đi Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Sóng biếc theo làn hơi gợn tí Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo Tựa gối ôm cần lâu chẳng được Cá đâu đớp động dưới chân bèo. (Nguyễn Khuyến) Một nông thôn bình dị, đẹp, nên thơ trong cảnh bình dị, nghèo, nhưng rất đỗi thân yêu. Chính từ thuần Việt tạo nên âm hưởng ấy. Trái lại, Bà Huyện Thanh Quan trong bài Chiều hôm nhớ nhà, đẩy lùi bức tranh vào thế giới của tâm tưởng, của ý niệm. Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn, Tiếng ốc xa đưa, vẳng trống dồn. Gác mái ngư ông về viễn phố, Gõ sừng mục tử lại cô thôn. Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi, Dặm liễu sương sa khách bước dồn. Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ, 36
  38. Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn. Các từ HV: hoàng hôn, ngư ông, viễn phố, mục tử, cô thôn, chương đài, lữ thứ, hàn ôn - được tác giả dùng trong bài thơ đã đưa người đọc, người nghe vào thế giới muôn đời: thế giới của tâm tưởng, hoài niệm. Trên đời, chỉ có những ông chài, những thôn vắng, những trẻ chăn trâu, những bến xe, những người ở đài cao, những người khách trọ, cảnh ấm lạnh của cuộc đời. Làm gì có những ngư ông. những viễn phô', những mục tử những cô thôn. Làm gì có những Chương Đài, những lữ thứ, nỗi hàn ôn. Không những thế, các từ HV đều đặt vào vị trí quyết định giá trị câu thơ: cuối vần để gây tiếng vọng trong tâm hồn ta. Cuối nhịp để bắt người đọc dừng lại ở đây. - Từ Hán Việt góp phần vào việc tạo sắc thái cổ khi tái tạo hình ảnh các nhân vật và cuộc sống xã hội ngày xưa, đưa người đọc, người nghe trở về cái không khí của quá khứ. Đó là các từ ngữ Hán Việt này ngày nay không được dùng trong cuộc sống thường nhật nhưng nó đã gắn bó một thời trong lời ăn tiếng nói của người xưa. Đó là giá trị phong cách của các từ như: hoàng thượng, hoàng hậu, trẫm, khanh, hoàng tử, công chúa, xa giá, ngự triều, bái yết, bình thân, vấn an, giai nhân, tiểu thư. VD: “Yết Kiêu đến kinh đô Thăng Long yết kiến vua Trần Nhân Tông. Nhà vua: Trẫm cho nhà ngươi nhận lấy một loại binh khí. Yết Kiêu: Thần chỉ xin một chiếc dùi sắt. Nhà vua: Để làm gì? Yết Kiêu: Để dùi thủng chiếc thuyền của giặc vì thần có thể lặn hàng giờ dưới nước. Nhà vua: Người dân thường mà phi thường. Trẫm muốn biết ai dạy ngươi? Yết Kiêu: Dạ, tâu bệ hạ, người đó là cha thần. (Nguyễn Huy Tưởng - Chuyện hay sử cũ) 2.1.5. Các kiểu từ Hán Việt và cách nhận diện từ Hán Việt 2.1.5.1. Xác định định nghĩa từ Hán Việt mượn nguyên khối Từ Hán Việt mượn nguyên khối là những từ gốc Hán được vay mượn vào kho từ vựng tiếng Việt. Nó có đặc điểm: - Có thể là từ đơn tiết, đa tiết, thành ngữ, tục ngữ Hán Việt. - Trong hoạt động giao tiếp, nó chỉ biến đổi âm đọc còn giữ nguyên ngữ nghĩa, ngữ pháp. Ví dụ: thiên, địa, giang, sơn, đức, trí, nhân, nghĩa, giang sơn, phong tục, ái quốc, độc lập, hải phận, phi cơ, Danh gia vọng tộc, Danh chính ngôn thuận, Kính lão đắc thọ, ngôn dị hành nan, Bĩ cực thái lai, Tâm đầu ý hợp 2.1.5.2. Xác định định nghĩa, đặc điểm của từ Hán Việt – Việt hóa. - Từ Hán Việt-Việt hóa là những từ gốc Hán được Việt hóa (cải tổ về mặt ngữ âm) tới hai lần nên nguồn gốc của chúng bị mờ hẳn đi, chúng đi sâu hơn vào tiếng Việt. 37
  39. VD: kê (gà); kính (gương); vũ (mưa); tim (tâm); tìm (tầm), cận (gần); kiếm (gươm) (Ghi chú: trong ngoặc là Đường âm, ngoài ngoặc là Hán âm) + Trước hết chúng được Việt hóa về mặt ngữ âm: Sự cải tổ về mặt ngữ âm của từ Hán Việt-Việt hóa không chỉ về mặt âm đọc mà còn thể hiện ở sự rút ngắn từ lại. Ví dụ: cử nhân cử (ông cử, cậu cử) hồng huyết cầu hồng cầu bạch huyết cầu bạch cầu tú tài tú (anh tú, ông tú) mĩ nghệ phẩm mĩ phẩm vật lý học vật lý tuyên truyền huấn luyện tuyên huấn + Về mặt ý nghĩa: Từ Hán Việt- Việt hóa được dùng với một vài nét nghĩa trong số nhiều nghĩa của từ gốc Hán. VD: Từ nhất trong gốc Hán có hơn 10 nghĩa nhưng khi vào tiếng Việt nó chỉ giữ lại nét nghĩa “thứ tự trên hết” trong hạng nhất; xếp thứ nhất; giỏi nhất. Đôi khi trong tổ hợp từ vay mượn nguyên khối từ gốc Hán nó mới giữ ý nghĩa số từ ‘một” trong “nhất cử nhất động”; “nhất cử lưỡng tiện” Cũng có khi nghĩa của từ Hán Việt-Việt hóa đổi hẳn so với nghĩa của từ gốc Hán.VD: Từ hán Việt Nghĩa gốc Hán Nghĩa Hán Việt-Việt hóa đáo để đến đáy, tận cùng độc ác, ghê gớm sung sướng đầy đủ, thông suốt sướng, hạnh phúc phong lưu phong thái, phong cách dư dật, nhàn hạ phóng túng, buông thả - Từ Hán Việt-Việt hóa có những từ có khả năng hoạt động độc lập tự do rất lớn. Tới mức có lẽ trừ những người có vốn Hán học và những nhà nghiên cứu ra không mấy ai còn chú ý cảm nhận đến nguồn gốc Hán của chúng, lầm tưởng chúng là từ thuần Việt. Ví dụ: gan, gươm, ghi, bút, ông, bà 2.1.5.3. Cách nhận diện từ Hán Việt - Căn cứ vào khái niệm, đặc điểm của từ HV. (đã trình bày ở phần trên) - Căn cứ vào từ thuần Việt tương đương. Bất cứ một yếu tố HV nào cũng đều có khả năng dẫn ra một yếu tố Việt tương đương. Ví dụ: Yếu tố Hán Việt Từ thuần Việt ngoại ngoài trung trong lâm rừng 38
  40. giang sông sơn núi khứ đi lại đến thị nhìn thính nghe “Trường hợp những từ Hán Việt có từ Việt tương đương thì được Tam thiên tự định nghĩa bằng từ Việt tương đương. Số lượng từ này chiếm 85% tổng số ba nghìn tự. Ví dụ: thiên: trời, địa: đất, cử: cất, tồn: còn, tử: con, tôn: cháu, lục: sáu, tam: ba, gia: nhà Tuy nhiên có trường hợp không có từ tương đương. Đây là tính tất yếu của hiện tượng vay mượn diễn ra trong bất kỳ một ngôn ngữ nào theo phương thức “thiếu thì vay”. Ví dụ: tuyết, xuân, hạ, thu, đông, độc lập, tự do, dân chủ, hòa bình ” (Nguyễn Văn Khang- Từ ngoại lai trong tiếng Việt, tr: 137-138) “Về sự lựa chọn từ Hán Việt và thuần Việt tương đương ở các nhóm điều tra, sự lựa chọn có kết quả khuynh hướng ưu tiên dùng các từ thuần Việt. Đi vào chi tiết có một số khác biệt đáng chú ý. Giữa Khán giả - người xem đa số chọn khán giả Độc giả - người đọc đa số chọn người đọc Thính giả - người nghe tương đương Mỹ nhân - người đẹp đa số chọn người đẹp Aí quốc - yêu nước đa số chọn yêu nước Tri ân - biết ơn đa số chọn biết ơn Cung chúc tân xuân - chúc mừng năm mới đa số chọn chúc mừng năm mới” - Căn cứ vào khả năng sản sinh và tính độc lập của các yếu tố cấu tạo. + Phần lớn các yếu tố Hán Việt không thể sử dụng độc lập như một từ: Ví dụ: giang là sông, ta chỉ có thể nói (viết) “Giang sơn ta giàu đẹp hùng vỹ” mà không thế nói (viết) “Đây là con giang dài nhất Việt Nam”. Thiên là trời, ta chỉ có thể nói “Hôm nay trời đẹp quá” mà không thể nói “Hôm nay thiên đẹp quá”. Nhưng các yếu tố HV lại có sức sản sinh rất lớn để tạo ra các từ nhiều âm tiết (từ ghép HV) có khả năng biểu đạt những ý niệm khái quát. Ví dụ: Từ yếu tố thiên [ 天] (trời) ta có thể tạo ra các từ như thiên nhiên, thiên địa, thiên phú, thiên tai, thiên tài, thiên hà, thiên tử, thiên tính Từ yếu tố thiên [千] (nghìn) ta có thể tạo ra các từ như thiên tuế, thiên cổ, thiên kỉ, thiên niên kỉ Từ yếu tố hải [ 海] (biển) hải đăng, hải quân, hải đảo, hải sản, hải âu 39
  41. Lưu ý: Tiếng Hán có hiện tượng đồng âm rất lớn, nhiều từ khác nhau có cách viết khác nhau nhưng cách đọc giống nhau. Người biết chữ Hán khó nhầm lẫn nhưng với người không biết chữ Hán dễ xảy ra nhầm lẫn. VD: Phong trào: sự việc diễn ra sôi nổi trong một thời kỳ. Phong lưu: dư dật, nhàn hạ. Phong tư: dáng vẻ đẹp. Phong Phong bao: đóng kín lại. Cuồng phong: gió dữ dội. Phong phú: nhiều, giàu có. Thu phong: gió mùa thu. Do đó, khi tìm hiểu từ HV, cần tìm hiểu thêm hiện tượng đồng âm của nhóm các yếu tố HV: Dùng từ điển HV để tra cứu, lấy chữ Hán làm căn cứ để phân biệt, tìm hiểu từ Hán Việt theo quan hệ cấu tạo từ. Hoặc: một từ trong văn bản tiếng Việt không có chữ Hán ghi lại thì đó không phải là từ gốc Hán. 2.1.5.4. Các phương pháp giải nghĩa từ HV a) Giải nghĩa từ HV bằng cách thuyết minh các yếu tố cấu tạo và quan hệ của chúng (chiết tự) Từ Hán Việt vốn có nguồn gốc ngoại lai và yếu tố Hán Việt còn thường xuyên có hiện tượng đồng âm khiến cho người sử dụng đễ bị lẫn lộn. Hiện nay trong lời nói thông thường hàng ngày thậm chí trên sách báo vẫn thấy có hiện tượng dùng sai hoặc sai nghĩa một số từ Hán Việt. VD: gái mại dâm gái mãi dâm Khuyến mãi khuyến mại Ở đây, người sử dụng không phân biệt được mại và mãi. Trong từ Hán Việt mãi có nghĩa là mua, còn mại có nghĩa là bán. Bên cạnh người ta hay hiểu lầm hoặc phân biệt không rạch ròi các từ Hán Việt gần âm, gần nghĩa do chỗ các từ đó có những yếu tố chung trong cấu tạo. VD: bàn hoàn: nghĩ quanh, nghĩ quẩn. bàng hoàng: nỗi choáng váng, sững sờ, tâm thần bất định. biện bạch: trình bày lí lẽ, sự việc để mong được thông cảm. biện bác: dùng lí lẽ để tranh luận. Để hiểu được đúng nghĩa từ Hán Việt, dùng từ Hán Việt phù hợp, ta có thể sử dụng một số phương pháp. - Nghĩa các yếu tố Hán Việt Khi tiếp nhận từ Hán Việt là chúng ta tiếp nhận cả các thành tố cấu tạo từ: các yếu tố Hán Việt. Yếu tố Hán Việt là yếu tố gốc Hán, một âm tiết, phát âm theo cách đọc Hán Việt, dùng để cấu tạo từ. Một yếu tố Hán Việt tương ứng với một chữ Hán. Ví dụ: 40
  42. Yếu tố Hán Việt Chữ Hán Nghĩa vương 王 vua lâm 林 rừng sơn 山 núi thiên 天 trời - Nghĩa của các từ ghép Hán Việt và nghĩa của các thành ngữ, tục ngữ Hán Việt. Đa số từ HV là từ ghép. Các thành ngữ, tục ngữ thường được hình thành theo phương thức kết hợp nghĩa, hợp kết. Vì vậy để hiểu nghĩa của chúng trong một số trường hợp cụ thể, ta có thể dùng cách chiết tự; tách các từ đó thành từ tổ (tiếng) để tìm hiểu nghĩa của chúng. VD: +Từ ghép Hán Việt tâm sự: nỗi lòng (tâm: lòng, sự: nỗi) thí sinh: học trò thi (thí: thi , sinh: học trò) hải đăng: đèn biển (hải: biển, đăng: đèn) hạnh phúc: vui vẻ, sung sướng (hạnh: may mắn, phúc: điều tốt lành). tổ quốc: đất nước của ông cha từ xưa để lại (tổ: ông cha xưa, quốc: nước) + Thành ngữ Hán Việt - Tri kỉ, tri bỉ (tri : biết, kỉ: mình, bỉ: người khác) nghĩa là biết được tình hình của mình, cũng biết được tình hình của địch, như vậy thì có thể đánh trận nào thắng trận ấy biết người biết ta. - Tứ đại đồng đường (tứ; bốn, đại: đời, đồng: cùng, đường: nhà) bốn đời đều ở chung trong một nhà. - Ưu thời mẫn thế (ưu: buồn phiền, lo; thời: thời cuộc, mẫn: lo, thương xót, thế: đời) lo lắng việc đời, thương đời. - Tiên ưu hậu lạc (tiên: trước, ưu: lo, hậu: sau, lạc: vui) lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. + Tục ngữ Hán Việt - Dục tốc tắc bất đạt (dục: muốn, tốc; nhanh, tắc: thì, bất: không, đạt: kết quả ) Làm việc gì chớ có nóng vội, cần phải tuần tự mà tiến mới có thể đạt được mục đích. - Ngôn dị hành nan (ngôn: nói, dị: dễ, hành: làm, nan: khó) nói (thì) dễ, làm (thì) khó - Nhân định thắng thiên ( nhân: người, định: quyết tâm, quyết chí, thắng: thắng (có kết quả), thiên: trời) ý chí quyết tâm của con người, có thể thắng được sức mạnh của tự nhiên. b) Giải nghĩa bằng văn cảnh, ngữ cảnh Có nhiều từ ghép, thành ngữ, tục ngữ HV không thể giải nghĩa được bằng cách 41
  43. thuyết minh cấu tạo, quan hệ giữa chúng như trên. Bởi vì có nhiều từ ghép Hán Việt mà nghĩa gốc bị mờ đi, không dễ nhận biết; có những thành ngữ, tục ngữ ngoài nghĩa đen, nghĩa trực tiếp còn có nghĩa bóng hoặc chúng có nguồn gốc từ một điển tích, điển cố (câu truyện dân gian). Vì vậy để hiểu được nghĩa của chúng, ta cần phải đưa từ vào trong một nhóm từ, một câu, một bài hoặc phải tìm hiểu nguồn gốc, điển tích, điển cố chứa nó để hiểu được một cách chính xác định giá trị biểu đạt của nó. VD 1: Tái ông thất mã (Tái ông mất ngựa) Dựa trên câu chuyện sau đây: Thượng tái ông có con ngựa quỳ tự nhiên biến mất, nhiều người đến hỏi thăm, ông nói với họ biết đâu đó lại là điều phúc. Quả nhiên, ít hôm sau ngựa quý quay về và kéo theo mấy con ngựa khác về cùng. Ông lại nói với mọi người biết đâu đó lại là điều hoạ. Và đúng vậy, con trai ông mải mê phi ngựa chẳng may ngã gãy chân, Thượng Tái ông lại nói với mọi người biết đâu đó là là điều phúc. Ít lâu sau có giặc, trai trẻ trong làng đều phải ra trận, nhiều người chẳng bao giờ trở về nữa, riêng con trai ông vì tàn tật mà được ở lại và sống sót. (Hoàng Văn Hành- Kể chuyện thành ngữ tục ngữ, NXB khoa học xã hội 2002, tr: 355) Thành ngữ này có nghĩa: Sự may rủi không sao lường trước được, trong cái may có thể có cái rủi, trong cái rủi có thể có cái may. Cách nói này trở thành lời động viên, an ủi người gặp nạn. Có lẽ trong ý thức của người Việt, trước tai họa của người khác, người ta thường dành những lời an ủi và trước phước lộc của kẻ khác không ai nỡ lòng nghĩ tới tai họa và sự rủi ro cho họ. VD 2: Tang bồng hồ thỉ (hồ thỉ tang bồng): tang: dâu, bồng: cỏ bồng, hồ: cái cung, thỉ: mũi tên. Tương truyền người Hán xưa, khi đẻ con trai, gia đình đứa trẻ làm cung bằng gỗ dâu, tên bằng cỏ bồng rồi bắn mũi tên đi bốn hướng bắc, nam, đông, tây và một mũi tên lên trời, một mũi tên xuống đất, với hàm ý là đứa bé lớn lên sẽ tung hoành khắp nơi. Thành ngữ này có nghĩa: tỏ rõ chí khí của đấng nam nhi, tung hoành khắp mọi nơi, mọi chốn. Như vậy, nhiều thành ngữ tục ngữ Hán Việt được hình thành trên những câu truyện dân gian, câu truyện lịch sử (điển tích). Bằng việc kể lại ta giúp cho người tìm hiểu thành ngữ, tục ngữ Hán Việt hiểu được nghĩa của nó sâu sắc hơn. c) Giải nghĩa bằng đối chiếu với từ thuần Việt tương đương Lý do: Vốn từ tiếng Việt tiếp nhận một số lượng từ Hán Việt khá lớn. Khi nền văn học Nôm hình thành, nhiều từ HV được Việt hoá hoặc được thay thế bằng những từ tương ứng. Vì vậy trong một số trường hợp cụ thể ta có thể dùng từ thuần Việt đối chiếu với các từ HV tương đương để giải nghĩa từ HV. VD: Hán Việt Thuần Viêt 42
  44. ngư phủ ông chài cửu trùng chín (từng, lớp) gia phong nếp nhà phát tâm mở lòng thanh tịnh trong sạch, yên tĩnh hồng trần bụi hồng Thành ngữ Hán Việt Thành ngữ thuần Việt Bách chiến bách thắn Trăm trận trăm thắng Cao lương mĩ vị Của ngon vật lạ Kim chi ngọc diệp Cành vàng lá ngọc Bán tín bán nghi Nửa tin nửa ngờ Tục ngữ Hán Việt Tục ngữ thuần Việt Thực túc binh cường Nước giàu, dân mạnh Tóm lại: Điều kiện để sử dụng từ Hán Việt có hiệu quả: - Có vốn từ HV phong phú - Nắm được cách nhận diện từ HV trong các văn bản, trong lời nói. - Nắm được nghĩa của từ HV bằng việc sử dụng thành thạo các phương pháp giải nghĩa từ HV. - Biết lựa chọn, sử dụng từ HV phù hợp với lời nói, lời viết trong hoạt động giao tiếp cụ thể. + Muốn sử dụng tốt từ ngữ HV trước hết phải hiểu đúng âm và nghĩa của chúng. + Sử dụng từ HV còn cần phải dùng đúng sắc thái phong cách của từ ngữ HV. + Trong việc sử dụng từ ngữ Hán Việt không thể không chú ý đến một xu thế tích cực và lành mạnh là xu thế Việt hoá từ ngữ HV. Việt hoá từ ngữ Hán Việt có thể theo 2 cách Đổi các yếu tố Hán Việt bằng yếu tố thuần Việt: Đổi trật tự các yếu tố cấu tạo hoặc trật tự từ theo trật tự ngữ pháp tiếng Việt. 2.2. Từ Hán Việt trong chương trình Tiểu học 2.2.1. Nhìn chung về việc giảng dạy từ Hán việt ở nhà trường (Tài liệu 10, tr:127) Trong tiếng Việt có khoảng 70-75% từ Hán Việt, nếu tính từ gốc Hán thì tỷ lệ còn cao hơn. Thế nhưng, trong nhà trường, ngoài xã hội, trên các phương tiện thông tin đại chúng, việc sử dụng từ Hán Việt vẫn còn chưa tốt, chưa đúng nguyên nhân: Ta chưa coi trọng việc giảng dạy từ Hán Việt trong nhà trường. Việc dùng từ Hán Việt hiện nay mang tính tự phát hơn là tự giác. 43
  45. Tiếng Hán và tiếng Việt có chung loại hình là đơn lập và đơn tiết tính, trong từ không chia ra căn tố và chi tố, do đó khi cả hai viết bằng chữ quốc ngữ thì rất dễ nhầm. Do đó, người Việt nói chung và học sinh nói riêng mắc nhiều lỗi trong cách dùng từ Hán việt. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh tuỳ lứa tuổi nhận diện hình thức từ Hán Việt về các mặt: - Ngữ âm. - Ngữ pháp. - Khả năng kết hợp. + Việc giảng dạy từ Hán Việt ở Tiểu học. - Học sinh Tiểu học: Có thể học và hiểu từ Hán Việt không phải chỉ thông qua sự phân tích mà qua kinh nghiệm giao tiếp và sử dụng. Các em có thể làm quen dần từng bước để nâng cao dần cảm thức ngôn ngữ của các em đối với từ Hán Việt. Cụ thể: - Đưa ra các từ từ dễ đến khó. - Nâng cao dần cảm thức ngôn ngữ từ Hán Việt (giúp học sinh hiểu nghĩa từ Hán Việt, tập đặt câu với từng từ Hán Việt). - Phân tích các yếu tố Hán Việt một cách đơn giản. - Giáo viên Tiểu học: cần có những hiểu biết chung tương đối đầy đủ về từ Hán Việt và nắm được nghĩa các từ Hán Việt ở sách giáo khoa (Tiếng Việt) để tiến hành giảng dạy một cách có ý thức cho học sinh. 2.2.2. Một số vần đề cơ bản về từ Hán Việt trong sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học 2.2.2.1. Tìm hiểu khả năng sử dụng từ Hán Việt của học sinh Tiểu học + Lớp 1: Chủ yếu giao tiếp với những người trong gia đình, cô giáo, bạn bè bằng những câu nói đơn giản, dễ hiểu, ít sử dụng từ Hán Việt. + Lớp 2: Các em học sinh được tiếp xúc, nắm, hiểu nghĩa của từ Hán Việt qua các bài tập đọc, chính tả, kể chuyện, được sắp xếp theo các chủ điểm : Em là học sinh, Bạn bè, Trường học, Thầy cô, Anh em, Bốn mùa, Bạn trong nhà, Muông thú, Sông biển, Cây cối, Bác hồ, Nhân dân, Mỗi chủ điểm có ít nhất từ 4- 5 đến 9-10 từ, tăng dần về sau theo thời gian, mở rộng theo chủ điểm, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và khả năng nhận thức của các em. + Lớp 3: Học sinh tiếp nhận từ Hán Việt theo các chủ điểm được mở rộng ra quan hệ xã hội với các lĩnh vực Tổ quốc, thiên nhiên, văn hoá , nghệ thuật: Măng non, Mái ấm, Tới trường, Cộng đồng, Anh em một nhà số lượng từ Hán Việt được tăng lên : từ 15-20 từ trong một chủ điểm qua các bài tập đọc, chính tả, kể chụyện. + Lớp 4-5: Học sinh nhận số lượng từ Hán Việt nhiều hơn vẫn qua các bài tập đọc, chính tả, kể chuyện, tập sử dụng từ Hán Việt (tiết luyện từ và câu) theo mức độ yêu cầu cao hơn. Số lượng từ tăng lên, mở rộng theo các chủ điểm gắn với những lĩnh vực, khái niệm trừu tượng hơn. VD: Vẻ đẹp muôn loài, tình yêu cuộc sống 2.2.2.2. Tìm hiểu từ Hán Việt trong SGK Tiếng Việt (NXB GD-2005) 44
  46. a- Tìm hiểu từ Hán Việt trong Sách Giáo Khoa (SGK) Tiếng Việt 2 (NXB GD 2005). Các từ Hán Việt: ôn tồn, tự thuật, sáng kiến, thi sĩ, kỳ diệu, thông minh, xúc động, hi sinh, tựu trường, phê bình, long vương, bất động, màu nhiệm, nhân hậu, hiếu thảo, công bằng, kim hoàn, tín hiệu, tựu trường, trung thu, kháng chiến, hòa bình Yêu cầu: Tìm và giải nghĩa các từ Hán việt có trong SGK TV 2. b- Tìm hiểu từ Hán Việt trong SGK Tiếng Việt 3 Các từ Hán Việt: ngoại xâm, đô hộ, giáp phục, thống thiết, bảo tồn, nhập tâm, tri thức, khổ công, phát minh, chứng kiến, đại tài, ngự giá, thi hào, ứng tác, thiên hạ, hiển linh, thanh lịch, thượng võ, trường quyền, truyền thống, phi công, dân chủ, sưu tầm, đối thủ, bình yên vô sự Yêu cầu: - Tìm, giải nghĩa các từ Hán việt trong văn bản “Đối đáp với Vua” (TV3,Tập 2 – Tr: 50). - Tìm, giải nghĩa (20-25) từ Hán Việt trong TV3. c- Tìm hiểu từ Hán Việt trong SGK Lớp 4 Các từ Hán Việt: mai phục, thủy tộc, huyền thoại, vườn ngự uyển, di sản, di chiếu, thái hậu, phò tá, gián nghị đại phu, hiển minh, cuồng phong, trường sinh, phi thường, thịnh vượng, độc chiếm, cơ đồ, kiệt xuất, huyền ảo, thượng võ, bình an vô sự, trung bình, yết kiến, trung thành, trung nghĩa, trung thực, trung thu, trung hậu, trung kiên, trung tâm, tự trọng Yêu cầu: - Chỉ ra, giải nghĩa các từ Hán Việt trong văn bản “Người tìm đường lên các vì sao” (TV4, Tập 1, trang 25). - Đọc, chỉ ra, giải nghĩa các từ Hán Việt có trong những câu thơ sau: Chỉ còn truyện cổ thiết tha. Cho tôi nhận mặt ông cha của mình Rất công bằng, rất thông minh Vừa độ lượng lại đa tình, đa mang (TV4, Tập 1, tr: 28) - Thống kê, giải nghĩa các từ Hán việt trong TV 4. d- Tìm hiểu từ Hán Việt trong SGK Tiếng Việt 5 Các từ Hán Việt: cơ đồ, hoàn cầu, kiến thiết, truyền thuyết, công trường, điểm tâm, chuyên gia, đồng nghiệp, văn hiến, Quốc tử Giám, chứng tích, hành tinh, công lí, công phá, hào phóng, ban công, tổng tuyển cử, hành trình, tân kì, cầu viện, thảo quả, phục hồi, tự lập, xã tắc, cát cứ, đặc tiến, tinh kỳ, thiên triều, chư hầu, nhân danh, danh lợi Yêu cầu: 1. Xác định, giải nghĩa các từ Hán Việt trong “Một chuyên gia máy xúc” (TV5, Tập 1, tr: 45). 2. Xác định, giải nghĩa các từ Hán Việt trong SGK Tiếng việt 5 45
  47. Nhận xét: - Số lượng từ Hán việt được sử dụng trong SGK TV5 tăng lên, gắn liền với các chủ điểm có tính chất khái quát, trừu tượng hơn. Lý do: So với học sinh lớp 2,3,4 học sinh lớp 5 phát triển hơn cả về tâm lỷ và khả năng nhận thức . Mục đích: Việc cung cấp các từ Hán Việt này cho học sinh lớp 5 nhằm tăng cường, củng cố vốn từ Hán Việt và rèn luyện khả năng sử dụng từ Hán Việt vào hoạt động học tập, giao tiếp ngôn ngữ cho học sinh. 2.2.3. Những vấn đề về phương pháp dạng học lớp từ Hán Việt cho học sinh Tiểu học (Các phương pháp giải nghĩa từ Hán Việt) 2.2.3.1. Các phương pháp giải nghĩa từ Hán Việt (Tham khảo mục: 2.1.5 - Việc sử dụng từ Hán Việt) Các phương pháp giải nghĩa từ Hán Việt. a) Giải nghĩa từ Hán Việt bàng cách thuyết minh các yếu tố cấu tạo và quan hệ của chúng (chiết tự). b) Giải nghĩa bằng văn cảnh, ngữ cảnh. c) Giải nghĩa bằng đối chiếu với từ thuần Việt tương đương. 2.2.3.2. Cách thức giúp học sinh Tiểu học nắm, hiểu, sử dụng từ Hán Việt tốt nhất, có hiệu quả nhất. a- Cách thức giúp học sinh nắm, hiểu, sử dụng từ Hán Việt tốt nhất: Tuỳ từng từ Hán Việt để lựa chọn phương pháp giải nghĩa thích hợp, như: + Dùng phương pháp chiết tự : (tách từ để tìm hiểu nghĩa cụ thể). Ví dụ: giang : sông giang sơn đất nước sơn : núi đại : to (lớn) đại phong gió lớn phong: gió hải : biển hải đăng đèn biển đăng: đèn Hoặc: hạnh phúc, tổ quốc + Đặt từ Hán Việt vào văn cảnh, ngữ cảnh cụ thể để giải nghĩa các từ: Ví dụ : hy sinh, gia đình, xung kích, năng suất. + Tìm các yếu tố, từ thuần Việt tương đương để giải thích: Ví dụ 1: Từ thuần Việt Từ Hán Việt 46
  48. Núi Sơn Biển hải Sông giang Ví dụ 2: Thành ngữ: Trăm phát trăm trúng Bách phát bách trúng Của ngon vật lạ Cao lương mỹ vị Cành vàng lá ngọc Kim chi ngọc diệp. b- Cách thức giúp học sinh Tiểu học nắm, hiểu, sử dụng từ Hán Việt có hiệu quả nhất Thông qua các giờ dạy tiếng Việt, các môn học khác trong nhà trường, các hoạt động đoàn thể, xã hội khác, tạo môi trường giao tiếp, kích thích nhu cầu giao tiếp, tạo điều kiện cho các em được lựa chọn, sử dụng từ Hán Việt trong hoạt động tạo ra lời nói, lời viết. Ví dụ: Ra đề: Hãy kể về một kỉ niệm khó quên về tình bạn trong đó có sử dụng các từ: “ Thông minh, phê bình, công bằng” 47
  49. Câu hỏi bài tập-Thực hành 1. Chỉ ra giá trị biểu đạt của việc sử dụng từ thuần Việt, Hán Việt trong văn bản nghệ thuật sau: Thăng Long thành hoài cổ (Bà huyện Thanh Quan) Tạo hoá gây chi cuộc hí trường Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, Nền cũ lâu đài bóng tịch dương Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, Nước còn cau mặt với tang thương. Ngàn năm gương cũ soi kim cổ, Cảnh đấy người đây luống đoạn trường. Cả bài chỉ có 8 chữ Hán Việt, mà cả 8 chữ ấy đều ở cuối câu. Nghệ thuật là sự lựa chọn cực kỳ công phu. Bằng cách này Bà huyện Thanh Quan kéo ta về cõi vĩnh viễn của ý niệm và nỗi u hoài của nhà thơ là nỗi u hoài của cái kiếp người không biết đến tháng năm, thời đại, không có sự cách biệt giữa tôi với anh. 2. Giải thích các thành ngữ và tục ngữ Hán Việt sau đây a) Thành ngữ: - An cư lạc nghiệp (an: yên, cư: ở, lạc: vui, nghiệp: nghề) sinh sống yên ổn, làm ăn vui vẻ. - Bạch diện thư sinh (bạch: trắng, diện: mặt, thư sinh: học trò) chỉ người học trò còn non trẻ thiếu kinh nghiệm. - Bán thân bất toại (bán: nửa, thân: người, bất: không, toại: theo ý muốn) bị liệt nửa người. - Cao lương mỹ vị (cao: béo, lương: lương thực, mĩ vị: mùi vị thơm ngon): Các món ăn ngon, quý, sang trọng. - Danh gia vọng tộc (vọng: có tiếng tăm): gia đình, gia tộc có danh tiếng. - Điệu hổ ly sơn (điệu: điều, li: rời khỏi, sơn: núi) tách kẻ mạnh ra khỏi hoàn cảnh có lợi để dễ bề chinh phục hoặc tiêu diệt, ví như đưa hổ ra khỏi rừng, nơi có nhiều lợi thế với hổ để vây bắt hoặc bắn giết. - Kính nhi viễn chi (kính: kính trọng, nhi: mà, viễn: xa, chi: đại từ thay thế cho đối tượng vừa nói trước đó) tôn trọng, ngưỡng mộ nhưng rất xa vời, chỉ có thể đứng xa mà chiêm ngưỡng, không thể gẫn gũi được. - Ôn cố tri tân (ôn: nhắc lại, nhớ lại, học lại. Cố: cũ, tri: biết, tân:mới): ôn lại cái cũ, cái đã qua để hiểu rõ hơn, biết cách ứng xử đúng đắn với cái mới; cái hiện tại. - Tận mục sở thị (mục: mắt, sở: trợ từ, thị: nhìn thấy) tận mắt trông thấy. - Thiên la địa võng (la: lưới bắt chim, võng: lưới bắt cá). Nghĩa đen là giăng lưới 48