Bài giảng Sự phát triển thể chất trẻ em lứa tuổi mầm non
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Sự phát triển thể chất trẻ em lứa tuổi mầm non", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
bai_giang_su_phat_trien_the_chat_tre_em_lua_tuoi_mam_non.pdf
Nội dung text: Bài giảng Sự phát triển thể chất trẻ em lứa tuổi mầm non
- TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG KHOA SƯ PHẠM TỰ NHIÊN ThS. TRẦN NGỌC HẢI BÀI GIẢNG SỰ PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT TRẺ EM LỨA TUỔI MẦM NON (Dùng cho bậc Cao đẳng, ngành Giáo dục Mầm non) Quảng Ngãi, 2014 1
- BÀI MỞ ĐẦU 1. Nội dung bài giảng Sự phát triển thể chất trẻ em lứa tuổi mầm non là môn học nghiên cứu quá trình phát triển các chỉ số thể chất diễn ra trong cơ thể trẻ em ở lứa tuổi mầm non. Nhằm đáp ứng các nhu cầu đặt ra trong chương trình đào tạo Cao đẳng Sư phạm mới được ban hành đối với ngành Giáo dục mầm non. Giúp sinh viên không chỉ nắm vững các kiến thức cơ bản về quá trình phát triển thể chất của trẻ em lứa tuổi mầm non mà còn giúp sinh viên khi ra trường có thể vận dụng những kiến thức của môn học này trong việc nuôi, dạy trẻ một cách khoa học. Để các em có thể phát triển toàn diện về các mặt đức, trí, thể, mĩ. 2. Mục tiêu bài giảng * Kiến thức - Các thời kỳ phát triển cơ thể trẻ em để có cách chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hợp lý - Đặc điểm sinh lý của các hệ cơ quan trong cơ thể để có biện pháp bảo vệ các cơ quan đó - Cơ thể trẻ em có sự phát triển theo lứa tuổi * Kĩ năng Sinh viên khi ra trường có thể chăm sóc và giáo dục trẻ một cách hợp lý. Tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển hoàn thiện cơ thể trẻ. * Thái độ Có tinh thần, ý thức, thái độ chăm sóc trẻ; giáo dục trẻ để trẻ em phát triển toàn diện về thể chất. 2
- Chương 1. CẤU TẠO CHUNG CỦA CƠ THỂ TRẺ EM * Mục tiêu - Biết được một cách khái quát về cấu tạo của cơ thể con người, những đặc điểm về cấu tạo và chức năng thể hiện sự thống nhất của cơ thể trẻ em. - Hiểu được các qui luật và các đặc điểm của quá trình sinh trưởng, phát triển của trẻ em. 1.1. Cơ thể con người là một khối thống nhất 1.1.1. Sự thống nhất về đơn vị cấu tạo Tất cả các cơ quan, bộ phận trong cơ thể người đều được cấu tạo từ tế bào. 1.1.1.1. Tế bào: mỗi tế bào có 3 thành phần cơ bản Hình 1. Cấu tạo chung của tế bào - Màng tế bào: bao bọc bên ngoài tế bào, gồm 2 thành phần chính là lớp lipit kép ở giữa với 2 đầu ưa nước quay ra ngoài và 2 đuôi kị nước quay vào giữa. Bên ngoài là 2 lớp protein. Ngoài ra còn có protein bám lỗ, protein xuyên màng. Trên màng có những lỗ nhỏ chỉ cho những chất cần thiết đi qua, nên màng có tính thấm chọn lọc gọi là màng bán thấm. Chức năng: + Giữ cho hình dạng tế bào ổn định. 3
- + Bảo vệ tế bào. + Thực hiện quá trình trao đổi chất giữa bên trong và bên ngoài tế bào - Nhân: nằm trong tế bào chất, được ngăn cách với tế bào chất bằng màng nhân có cấu tạo giống màng tế bào. Bên trong nhân có nhiễm sắc thể, mỗi nhiễm sắc thể có các thành phần: ADN, ARN, protein loại histon và phi histon. Trong đó ADN là nơi chứa đựng thông tin di truyền. - Tế bào chất: là chất dịch chứa đầy bên trong tế bào. Trong tế bào chất có nhiều bào quan (cơ quan tử): ti thể, lạp thể, bộ máy gôngi Mỗi bào quan thực hiện một chức năng nhất định, đảm bảo cho sự phát triển và tồn tại của tế bào. 1.1.1.2. Mô: là hệ thống các tế bào liên kết với nhau để tạo ra một cấu trúc có nguồn gốc phát sinh chung và cùng thực hiện một chức năng nhất định. Gồm có: mô biểu bì, mô liên kết, mô cơ, mô thần kinh. - Mô biểu bì: bao phủ bề mặt cơ thể hoặc lát các cơ quan bên trong có nhiệm vụ bảo vệ, hấp thu, chuyển hóa các chất. - Mô liên kết: có nhiều loại, mỗi mô có cấu tạo và chức năng khác nhau như mô máu, mô mỡ, mô sụn, mô xương - Mô cơ: được cấu tạo từ các tế bào cơ, chức năng chủ yếu là vận động. Có 3 loại mô cơ: + Mô cơ vân: hoạt động theo ý muốn của con người. + Mô cơ trơn: hoạt động không theo ý muốn của con người. + Mô cơ tim: cấu tạo giống cơ vân nhưng hoạt động giống cơ trơn, giữa các tế bào không có vách ngăn nên chúng là những hợp bào. - Mô thần kinh: có cấu tạo từ các nơ ron. Có chức năng điều khiển, phối hợp hoạt động giữa các cơ quan trong cơ thể và giữa cơ thể với môi trường. 1.1.1.3. Cơ quan: các loại mô liên kết với nhau theo những những cách xác định để tạo thành cơ quan: miệng, ruột, dạ dày 4
- 1.1.1.4. Hệ cơ quan: các cơ quan có cùng chức năng sẽ tập hợp với nhau theo một cách nhất định để tạo thành hệ cơ quan. Ở người có 8 hệ cơ quan: hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ tiêu hóa, hệ bài tiết, hệ vận động, hệ thần kinh, hệ sinh dục và hệ nội tiết. 1.1.1.5. Cơ thể: các hệ cơ quan sắp xếp theo một cách nhất định để tạo thành một cơ thể hoàn chỉnh. 1.1.2. Sự thống nhất giữa cấu tạo và chức năng Mỗi cơ quan, bộ phận trong cơ thể đều có cấu tạo phù hợp với chức năng mà nó đảm nhận. 1.1.3. Sự thống nhất giữa đồng hóa và dị hóa - Đồng hóa là quá trình tổng hợp nên những chất hữu cơ đặc trưng cho cơ thể, đồng thời tích lũy năng lượng cho cơ thể. - Dị hóa là quá trình phân giải các chất, giải phóng năng lượng cho cơ thể hoạt động. Như vậy, đồng hóa và dị hóa là hai quá trình trái ngược nhau nhưng thống nhất với nhau. Quá trình đồng hóa cung cấp vật chất cho dị hóa và quá trình dị hóa cung cấp năng lượng cho đồng hóa. 1.1.4. Sự thống nhất giữa các cơ quan, hệ cơ quan trong cơ thể Trong cơ thể, các cơ quan, hệ cơ quan luôn phối hợp với nhau. Nếu cơ quan, hệ cơ quan nào bị tổn thương thì các cơ quan, hệ cơ quan khác và cơ thể cũng bị ảnh hưởng. 1.2. Quá trình phát triển cơ thể trẻ em 1.2.1. Khái niệm về sinh trưởng và phát triển 1.2.1.1. Sinh trưởng: là sự biến đổi về mặt số lượng của cơ thể nhờ sự thay đổi số lượng, kích thước tế bào dẫn đến sự gia tăng kính thước, khối lượng cơ thể. 1.2.1.2. Phát triển: là sự thay đổi về số lượng và chất lượng cơ thể. Gồm 3 yếu tố: sinh trưởng, phân hóa cơ quan và tạo thành hình dáng đặc trưng cho cơ thể. 5
- 1.2.2. Sự phân hóa các cơ quan Xảy ra ngay thời kỳ phát triển của phôi thai. Các cơ quan, bộ phận trong cơ thể phát triển không đồng đều. Cơ quan nào cần thiết thì phát triển trước, hoàn thiện sớm và ngược lại. 1.2.3. Sự tạo thành hình dáng đặc trưng Hình dáng đặc trưng của cơ thể trẻ em chỉ được hoàn thiện khi các cơ quan, hệ cơ quan phát triển hoàn chỉnh và trưởng thành sinh dục. Toàn bộ quá trình sinh trưởng và phát triển cơ thể được thực hiện theo những quy luật nhất định. 1.3. Các chỉ số đánh giá sự phát triển thể chất trẻ em 1.3.1. Các chỉ số thể chất của trẻ em Thể chất không chỉ về mặt thể xác mà còn về mặt tinh thần của trẻ. Thể chất của trẻ em gồm nhiều yếu tố hợp thành. - Tầm vóc và hình dáng cơ thể: phản ánh quá trình phát triển về mặt hình thái và cấu trúc của cơ thể. Các chỉ số này gồm số đo khối lượng cơ thể, kích thước cơ thể và các bộ phận như chiều cao, vòng ngực, vòng đầu, vòng đùi và tỉ lệ giữa các cơ quan bộ phận đó. Từ đó có thể suy ra các chỉ số tổng hợp khác như: chỉ số pinet, BMI, QVC - Thể lực của cơ thể: thể hiện qua khả năng hoạt động của các hệ cơ quan trong cơ thể. - Năng lực thích ứng: thể hiện qua hoạt động của hệ thần kinh, qua các trạng thái tâm lý, tinh thần của con người. Ở các chỉ số hình thái cơ bản, ngoài việc tính giá trị trung bình ( ) người ta còn tính độ lệch chuẩn (SD) của các giá trị trung bình đó. Nếu chỉ số nằmX trong giới hạn là bình thường. Nếu nằm ngoài là không bình thường. Nếu nằm ngoài X ± SD là dạng bệnh lý, cần có sự canX thi± ệSDp của người lớn trong công tác nuôi dạy Xtrẻ±. 2SD 1.3.2. Một số chỉ số thể chất của trẻ em lứa tuổi mầm non 1.3.2.1. Chiều cao: thể hiện đặc điểm lứa tuổi, giới tính, chủng tộc, điều kiện sống 6
- - Từ khi sinh → 1 tuổi: tăng khoảng 23 → 25 cm = 1.5 lúc mới sinh. - Từ 1 → 3 tuổi : tăng 7.5 cm/năm. - Từ 3 → 6 tuổi : tăng 6 cm/năm. Nhìn chung, trẻ em từ lúc mới sinh đến 6 tuổi chiều cao tăng trung bình 9.53 cm/năm, sau đó chiều cao tăng chậm dần ở lứa tuổi mầm non. Công thức chung: X = 75 cm + 5 n. Trong đó: X: chiều cao đứng (cm). n: số tuổi (năm) 1.3.2.2. Khối lượng cơ thể: thể hiện đặc điểm lứa tuổi, giới tính, chủng tộc, điều kiện sống Công thức chung cho trẻ từ 2 đến 10 tuổi: X = 9 + 1.5 (n-1) hoặc X = 9.5 + 2 (n-1). Trong đó: X là khối lượng cơ thể (kg). n là số tuổi (năm). Trẻ sơ sinh: 3 đến 3.2 kg. Trẻ 4 tháng: tăng gấp đôi. Trẻ 1.5 tuổi: tăng gấp 3. Trẻ 3 tuổi: tăng gấp 4. Trong 3 năm đầu khối lượng cơ thể trẻ em tăng nhanh trung bình 3 kg/năm, từ 3 đến 6 tuổi khối lượng tăng chậm hơn trung bình: 1.5 kg/năm. 1.3.2.3. Chỉ số khối (BMI): phản ánh mức độ dinh dưỡng của trẻ em. BMI = khối lượng cơ thể : (chiều cao đứng)2 Trong đó: - Khối lượng cơ thể (kg) - Chiều cao đứng (m) Trẻ em gầy thì chỉ số BMI nhỏ và ngược lại trẻ em béo phì thì chỉ số BMI quá lớn. 7
- Từ lúc mới sinh đến 5 tháng tuổi: BMI tăng do khối lượng cơ thể tăng nhanh hơn so với chiều cao. Từ 5 tháng đến 6 tuổi BMI tăng chậm do khối lượng cơ thể tăng chậm hơn so với chiều cao. 1.3.2.4. Vòng ngực và vòng đầu - Vòng ngực: trẻ sơ sinh đến 1 tuổi: vòng ngực tăng nhanh: khoảng 1.5 lần. Trong 3 năm đầu vòng ngực tăng 6 cm/năm. Từ 3 đến 6 tuổi tăng chậm hơn khoảng 1 cm/năm. - Vòng đầu: trẻ em sơ sinh đến 1 tuổi: vòng đầu tăng nhanh, khoảng 1.5 lần. Trong 3 năm đầu, vòng đầu tăng 6 cm/năm. Từ 3 đến 6 tuổi, tăng chậm hơn khoảng 0.6 cm/năm. 1.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất trẻ em lứa tuổi mầm non - Dinh dưỡng: nuôi dưỡng, chăm sóc tốt trẻ sẽ phát triển nhanh và ngược lại. - Di truyền: sự phát triển về đặc điểm hình thái của trẻ chịu ảnh hưởng lớn của yếu tố di truyền của bố mẹ, nòi giống, dân tộc Những sai lệch về di truyền ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của trẻ (bệnh Down). - Điều kiện sống: điều kiện sống thuận lợi giúp trẻ phát triển nhanh và ngược lại. - Phương pháp và hình thức giáo dục: giúp trẻ phát triển sớm, hài hòa, nhanh nhẹn, toàn diện. 1.4. Các quy luật sinh trưởng và phát triển của trẻ em 1.4.1. Quy luật phát triển theo giai đoạn Quá trình phát triển cơ thể người gồm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có đặc điểm và tốc độ phát triển riêng. Ở những giai đoạn khác nhau, tốc độ sinh trưởng và phát triển của các cơ quan, bộ phận là không giống nhau. Ví dụ: chiều dài đầu so với chiều dài thân. Trẻ sơ sinh: chiều dài đầu / chiều dài thân = 1/4. Trẻ 2 tuổi: chiều dài đầu / chiều dài thân = 1/5. Trẻ 6 tuổi: chiều dài đầu / chiều dài thân = 1/6. Trẻ 12 tuổi: chiều dài đầu / chiều dài thân = 1/7. 8
- Người lớn: chiều dài đầu / chiều dài thân = 1/8. Như vậy chiều dài thân phát triển nhanh hơn chiều dài đầu. Trẻ sơ sinh vòng đầu lớn hơn vòng ngực 1 cm, sau đó vòng ngực lớn nhanh hơn vòng đầu. Trẻ lớn hơn 7 tuổi vòng ngực vượt xa vòng đầu vì hệ cơ ngực phát triển do vận động và tập luyện. 1.4.2. Quy luật phát triển không đồng thì và không đồng tốc Ở người có giai đoạn sinh trưởng nhanh xen kẽ với giai đoạn sinh trưởng chậm. Trong những năm đầu quá trình sinh trưởng diễn ra nhanh sau đó giảm dần. Đến thời kỳ trưởng thành sinh dục tốc độ sinh trưởng lại tăng nhanh rõ rệt. Ở trẻ em lứa tuổi mầm non chiều cao tăng 5 đến 6 cm/năm, khối lượng tăng 1 đến 2 kg/năm, vòng ngực 1 đến 1.4 cm/năm, vòng đầu 0.5 đến 0.6 cm/năm. Trong quá trình phát triển cơ quan, bộ phận nào cần thiết thì phát triển và hoàn chỉnh trước và ngược lại. Thậm chí trong cùng một cơ quan cũng có phần phát triển trước phần phát triển sau. Ví dụ: hệ thần kinh phần hướng tâm phát triển trước để trẻ tiếp nhận thế giới bên ngoài tương đối chính xác còn phần ly tâm thì phát triển sau. 1.4.3. Hiện tượng tăng tốc Là hiện tượng tăng kích thước cơ thể và trưởng thành sinh dục sớm. Trẻ em hiện nay có chiều cao tốt hơn và khối lượng cơ thể lớn hơn so với trẻ em cùng lứa tuổi ở những thế kỷ trước, tuổi dậy thì cũng đến sớm hơn từ 2 đến 3 năm. Nguyên nhân: - Dinh dưỡng - Điều kiện sống: khí hậu, môi trường, chiến tranh, y tế - Giáo dục - Lai giữa các chủng tộc 1.5. Các giai đoạn phát triển của trẻ em 1.5.1. Giai đoạn phôi thai Tính từ lúc trứng + tinh trùng tạo thành hợp tử đến khi sinh ra. 1.5.1.1. Các giai đoạn của quá trình phát triển phôi thai - Giai đoạn phôi: tính từ lúc trứng được thụ tinh đến khi thai được 3 tháng. 9
- Sau khi thụ tinh hợp tử phân chia nhiều lần tạo thành các phôi bào có kích thước bé dần. Sau đó phôi sẽ có 2 lớp tế bào: lớp tế bào ở cực động vật sẽ phát triển thành lá phôi, sau 8 ngày sẽ phát triển thành túi phôi; lớp tế bào ở cực thực vật sẽ phát triển thành lá nuôi có nhiệm vụ nuôi thai sau này. - Các đặc điểm sinh lý của thai nhi Khi chưa hình thành nhau thai, thai sống nhờ dịch dinh dưỡng bao quanh trứng và túi noãn hoàng. Sau khi hình thành nhau thai, máu trong cơ thể mẹ qua động mạch rốn cung cấp chất dinh dưỡng, oxy cho thai phát triển, đồng thời chất cặn bã sẽ theo tĩnh mạch rốn về cơ thể mẹ. Trong thời kỳ này các cơ quan, bộ phận được phân hóa và hoàn chỉnh dần như: hệ tuần hoàn, hệ thần kinh. Các phản xạ vận động cũng bắt đầu xuất hiện: quay đầu, co cơ 1.5.2. Phát triển sau phôi thai Tính từ lúc sinh ra đến khi chết bao gồm các giai đoạn sau: 1.5.2.1. Giai đoạn sơ sinh: tính từ lúc lọt lòng đến 10 ngày. Giai đoạn này trẻ phải thích nghi với sự thay đổi đột ngột của môi trường sống, chịu mọi ảnh hưởng của môi trường xung quanh tác động lên cơ thể. Do sự thay đổi chế độ dinh dưỡng nên nước tiểu có màu vàng sẫm, nhiều cặn đỏ, phân có màu đen, nhão. Phản xạ của trẻ đơn giản: bú, mút, ho 1.5.2.2. Giai đoạn cho bú: từ lúc sinh đến 12 tháng. Giai đoạn này trẻ sống chủ yếu dựa vào nguồn dinh dưỡng là sữa mẹ. Các quá trình chuyển hóa diễn ra rất mạnh. Chiều cao, khối lượng tăng đáng kể. Do tiếp nhận nguồn kháng thể từ sữa mẹ nên trẻ dưới 3 tháng thường không mắc các bệnh lây nhiễm. Trẻ từ 5 đến 6 tháng có thể biết ngồi, bắt đầu mọc răng làm trẻ nóng, sốt trẻ có thể ăn dặm thêm cháo bột Từ 6 đến 12 tháng trẻ chập chững đứng thẳng và chập chững biết đi, ăn được nhiều loại thức ăn nhưng thường rối loạn tiêu hóa. 1.5.2.3. Giai đoạn tuổi thơ sớm hay vườn trẻ: từ 1 đến 3 tuổi. Giai đoạn này các cơ quan, hệ cơ quan phát triển mạnh và tiến tới hoàn chỉnh như hệ thần kinh, hệ vận động. Trẻ biết đứng, biết đi, hình thành các phản xạ có điều kiện đơn giản. Nhịp hô hấp giảm 10
- từ 45 đến 50 lần/phút/trẻ sơ sinh còn 24 đến 25 lần/phút. Nhịp tim cũng giảm từ 140 đến 150 lần/phút/trẻ sơ sinh còn 90 đến 100 lần/phút. Hai mươi răng sữa mọc đầy đủ. Trẻ ăn được nhiều loại thức ăn làm cho hệ tiêu hóa phát triển, chiều dài ruột tăng, chiều cao, khối lượng cơ thể tăng. Chiều cao tăng 8 - 10 cm/năm, khối lượng tăng 4 - 6 kg/năm, tỉ lệ chiều dài đầu/chiều dài thân giảm còn 1/5. 1.5.2.4. Tuổi thơ đầu tiên: từ 3 - 6 tuổi. Chiều cao và khối lượng cơ thể tăng chậm. Chiều cao tăng 6 - 7 cm/năm, khối lượng tăng 1 - 2 kg/năm. Não bộ phát triển mạnh từ lúc 3 tuổi, khối lượng tăng gấp 3 lần mới sinh và đạt 80% so với người trưởng thành. Tỉ lệ chiều dài đầu/chiều dài thân giảm còn 1/6. Giai đoạn đầu vốn từ của trẻ khoảng 200 - 400 từ được hình thành trên cơ sở bắt chước. Sau đó vốn từ của trẻ tăng nhanh, trẻ bắt đầu đi học khả năng tư duy và trí tuệ cũng hình thành. Bé trai thích những trò chơi mạnh mẽ, bé gái thích những trò chơi thiên về chăm sóc, tình cảm. 1.5.2.5. Tuổi học sinh nhỏ: từ 6 - 11 tuổi. Đây là giai đoạn chuyển tiếp về sinh lý và hình thái. Răng vĩnh viễn xuất hiện thay thế hoàn toàn răng sữa. Hệ tiêu hóa hoàn thiện. Chiều cao tăng 4 - 5 cm/năm, khối lượng cơ thể tăng 2 - 3 kg/năm. Cơ tay và chân phát triển các động tác mạnh mẽ nhưng không khéo léo vì cơ bàn tay, ngón tay còn yếu. Từ 9 - 10 tuổi trở đi các động tác mới tinh vi, chính xác được. Giai đoạn này trẻ hình thành nhận thức cá nhân và các đặc điểm sinh lý quan trọng khi tiếp xúc với môi trường xung quanh. 1.5.2.6. Tuổi học sinh lớn (tuổi dậy thì): từ 11 - 15 tuổi. Giai đoạn này xuất hiện những thay đổi lớn về hình thái - sinh lý cơ thể. Chiều cao tăng 5 - 8 cm/năm, khối lượng cơ thể tăng 4 - 8 kg/năm, chiều cao tăng do các xương dài phát triển nhưng xương lồng ngực chưa phát triển nên trẻ em gầy, nhịp thở khó khăn. Sự phối hợp các động tác chưa tốt nên trẻ thường vụng về, nóng tính. Hệ tuần hoàn phát triển chưa đồng bộ, kích thước của tim tăng nhưng hệ mạch phát triển chậm nên huyết áp của trẻ cao. Nhịp tim bị rối loạn do hệ tuần hoàn chưa đáp ứng đủ nhu cầu về máu cho các hệ cơ quan khác đang phát triển nên trẻ thường nhanh mệt khi làm việc. Não bị thiếu oxy nên làm việc không tốt, trẻ thường kém thông minh, kém nhạy cảm, trí nhớ bị giảm sút. Hệ nội tiết 11
- phát triển và hoàn chỉnh hóa hoạt động làm xuất hiện những đặc điểm sinh dục thứ phát: bé trai vỡ tiếng, mọc râu, lông; bé gái tuyến vú phát triển, xuất hiện kinh nguyệt lần đầu. Câu hỏi ôn tập 1. Tại sao nói cơ thể con người là một khối thống nhất? 2. Sinh trưởng và phát triển là gì? Nêu những đặc điểm cơ bản đặc trưng cho quá trình sinh trưởng và phát triển. 3. Cho ví dụ chứng minh qui luật không đồng thì và không đồng tốc trong quá trình sinh trưởng và phát triển của các bộ phận, cơ quan trong cơ thể. 4. Trình bày đặc điểm phát triển của trẻ em qua các giai đoạn. 12
- Chương 2. MÁU VÀ BẠCH HUYẾT * Mục tiêu - Trình bày được những kiến thức cơ bản về cấu tạo và chức năng của các thành phần của máu. Qua đó hiểu rõ vai trò của từng thành phần máu đối với đời sống trẻ em. - Biết được những kiến thức cơ bản về các tính chất của máu trẻ em như cơ chế đông máu, nhóm máu và giải thích được cơ sở sinh lí học của các biện pháp cầm máu khi trẻ bị chấn thương. 2.1. Chức năng của máu Máu lưu thông khắp cơ thể để thực hiện các chức năng: - Dinh dưỡng: máu đem những chất dinh dưỡng đến cho tế bào: glucoz, axit amin, axit béo - Hô hấp: vận chuyển khí oxy đến tế bào và đưa CO2 ra khỏi tế bào. - Bài tiết: vận chuyển các chất cặn bã do quá trình chuyển hóa của tế bào như urê, axit lactic đến hệ bài tiết để thải khỏi cơ thể. - Điều chỉnh hoạt động của các cơ quan khác: máu mang các chất của tuyến nội tiết tiết ra (hormol) đến các cơ quan để ức chế hoặc kích thích hoạt động của các cơ quan đó. - Điều hòa thân nhiệt: máu chứa nhiều nước nên làm tăng hoặc giảm nhiệt độ cơ thể rất nhanh. - Bảo vệ: trong máu có bạch cầu và kháng thể có khả năng tiêu diệt các tác nhân gây bệnh để bảo vệ cơ thể. 2.2. Khối lượng, tỉ trọng của máu 2.2.1. Khối lượng Khối lượng máu trẻ em/khối lượng cơ thể lớn hơn khối lượng máu người lớn/khối lượng cơ thể. Khối lượng máu thay đổi tùy theo trạng thái cơ thể. Chỉ có khoảng 55 - 60% lượng máu được lưu thông trong các hệ mạch, 40 - 45% lượng máu còn lại được lưu trữ ở lách (16%), gan (20%), các mao mạch dưới da (10%). Tỉ lệ giữa lượng máu 13
- lưu thông và máu dự trữ thay đổi tùy theo trạng thái cơ thể. Nếu mất đột ngột một lượng máu khoảng 30% khối lượng sẽ nguy hiểm đến tính mạng vì huyết áp giảm đột ngột. 2.2.2. Tỉ trọng Tỉ trọng máu trẻ em lớn hơn người lớn. - Trẻ sơ sinh: 1.060 - 1.080 - Trẻ 1 tháng: 1.052 - 1.063 - Người lớn: nữ:1.050 - 1.056, nam: 1.055 - 1.062 2.3. Các thành phần của máu Nếu để máu lắng, máu sẽ có các phần. Phía trên là huyết tương có màu vàng nhạt, trong suốt, chiếm 55 - 60% thể tích. Phía dưới là hồng cầu. Ở giữa là bạch cầu và tiểu cầu. 2.3.1. Huyết tương Là dung môi hòa tan các chất. Chứa 90% nước, 7% protein trong đó có fibrin là chất sinh sợi huyết tham gia vào quá trình đông máu và một số loại protein tham gia vào cơ chế miễn dịch của cơ thể, 1% muối khoáng nhưng chủ yếu là NaCl, 0.1% đường, còn lại là những thành phần khác. 2.3.2. Hồng cầu Là tế bào hình đĩa, lõm 2 mặt, không có nhân, không sinh sản. Người Việt Nam hồng cầu có kích thước 7.5 x 2.3 . Số lượng hồng cầu/đơn vị thể tích máu ở trẻ em lớn hơn người lớn. Ngoài ra số lượμngm hồng cầu còn thay đổi theo trạng thái sinh lý của cơ thể. - Thời gian sống: 30 - 40 ngày - Thành phần quan trọng nhất của hồng cầu là huyết cầu tố (Hemoglobin) (Hb) chiếm 35% khối lượng (phần còn lại là nước 60%, các chất khác 5%) tạo nên màu đỏ của hồng cầu và đảm nhận chức năng hô hấp. Mỗi Hb gồm có 2 phần: + Phần globin gồm 4 chuỗi polypeptit nằm ở ngoài. 14
- + Nhân hem là nguyên tố Fe nằm ở trung tâm có 4 liên kết với 4 chuỗi polypeptit của phần globin ở ngoài. Hàm lượng Hb biến động theo tuổi, trong 3 tháng đầu hàm lượng Hb trong máu cao sau đó giảm dần, đến 3 tuổi hàm lượng Hb tăng từ từ, đến 14 - 15 tuổi tương đương người lớn. - Cơ quan sinh sản: tủy đỏ xương dài. - Nơi chết: gan, lách. 2.3.3. Bạch cầu Là những tế bào có nhân, chuyển động được. Lớn hơn nhưng nhẹ hơn hồng cầu (5 - 15 ). Có khả năng thực bào nên chức năng chính là bảo vệ cơ thể. Ở trẻ em số n. S lượng bạchμm cầu/đơn vị thể tích lớn hơn người lớn, sau đó giảm dầ ố lượng bạch cầu thay đổi: số lượng tăng khi cơ thể bị nhiễm khuẩn, sau khi ăn, lao động nặng, trẻ khóc, bà mẹ mang thai; số lượng giảm khi nhiễm độc, chất phóng xạ, tuổi già. - Nơi sinh: tủy đỏ xương dài, gan, lách, hạch bạch huyết. - Nơi chết: mọi nơi trong cơ thể. Ở những vết thương: bạch cầu + vi khuẩn → mủ. - Thời gian sống: 2 - 200 ngày có thể dao động tùy từng loại : 2 giờ (bạch cầu ưa axit, 200 ngày (bạch cầu lympho). - Bạch cầu có 2 loại: + Bạch cầu không hạt: bạch cầu lympho, bạch cầu mono. + Bạch cầu có hạt: bạch cầu trung tính, bạch cầu ưa axit, bạch cầu ưa kiềm. Dựa vào tỉ lệ % các loại bạch cầu mà ta có công thức bạch cầu. 2.3.4. Tiểu cầu Là những thể nhỏ, không nhân, hình dáng không ổn định. Đường kính 2 - 4 , thời gian sống 4 - 6 ngày. Số lượng thay đổi theo lứa tuổi, ở trẻ em số lượng μ timểu cầu/đơn vị thể tích lớn hơn người lớn. - Nơi sinh: tủy xương. - Chức năng: gây đông máu, đóng miệng các vết thương. 15
- 2.4. Đặc điểm máu trẻ em 2.4.1. Đặc điểm tạo máu trẻ em - Khi thai 3 tuần: cơ quan tạo máu là lá phôi giữa. - Khi thai 2 tháng: cơ quan tạo máu là gan, lách, hạch bạch huyết. - Khi thai 5 tháng: cơ quan tạo máu là tủy xương. - Sau khi sinh: cơ quan tạo máu là tủy xương. 2.4.2. Đặc điểm về thành phần, tính chất máu trẻ em - Lượng chất vô cơ trong máu trẻ em tương đương người lớn nhưng lượng chất hữu cơ thì thay đổi theo tuổi, - Độ nhớt máu máu trẻ em lớn hơn người lớn vì máu trẻ em có tế bào máu nhiều nên máu đặc, quánh hơn → độ nhớt lớn hơn. - Hồng cầu: trẻ sơ sinh số lượng nhiều 5 - 6 triệu/mm3, sau đó giảm nhanh gây nên hiện tượng vàng da sinh lý ở trẻ mới sinh 2 - 3 ngày. Trẻ nhỏ hơn 1 tuổi hồng cầu giảm còn 3.2 - 3.5 triệu/mm3 do cơ thể lớn nhanh máu tạo không đủ. Trẻ lớn hơn 3 tuổi số lượng hồng cầu ổn định như người lớn. - Bạch cầu: số lượng bạch cầu trẻ em lớn hơn người lớn (so với 1 đơn vị thể tích). + Trẻ sơ sinh: 2.104 - 3.104/mm3. + Trẻ nhỏ hơn 1 tuổi: 104 - 1,2.104/mm3. + Trẻ lớn hơn 1 tuổi: 6.103 - 8.103 /mm3 tương đương người lớn. - Tiểu cầu: + Trẻ sơ sinh: 105/mm3. + Trẻ lớn hơn 1 tuổi: 15.104 - 30.104/mm3 tương đương người lớn. 2.5. Tính chất của máu 2.5.1. Sự đông máu Là phản ứng bảo vệ của cơ thể giữ cho cơ thể đỡ mất máu khi bị tổn thương. Máu trong hệ mạch luôn ở thể lỏng vì thành mạch trơn nên tiểu cầu không vỡ và những tế bào lát thành mạch tiết ra chất chống đông. Quá trình đông máu được tóm tắt thành 3 giai đoạn: 16
- - Khi bị tổn thương, tiểu cầu vỡ, tiết ra enzim tromboplastin. - Tromboplastin và Ca2+ biến chất protrombin trong huyết tương thành trombin. - Trombin và Ca2+ biến chất fibrinogen thành fibrin (sợi huyết). Fibrin liên kết thành mạng lưới và kết với các yếu tố hữu hình khác (hồng cầu, bạch cầu) hình thành cục máu đông, phần còn lại là huyết thanh. 2.5.2. Các nhóm máu ở người Cuối thế kỷ 17, người ta đã truyền máu, có trường hợp cho kết quả tốt nhưng đôi khi gây đông máu ở người nhận. Đến năm 1890, người ta phát hiện trong máu có những chất gây ngưng kết hồng cầu của người khác. Sau đó người ta xác định có 4 nhóm máu chính: O, A, B, AB. Tên gọi nhóm máu là tên ngưng kết nguyên có mặt trên màng hồng cầu. Có 2 loại ngưng kết nguyên A và B và 2 loại ngưng kết tố có trong huyết tương là à . Tên nhóm máuα v Kiβ ểu gen HC có ngưng kết nguyên Huyết tương có ngưng kết tố A AA, AO A B BB, BO B β AB AB A và B 0 α O OO O à Sự đông máu xảy ra khi A gặp , B gặp . Trong máu người αkhôngv β bao giờ tồn tại cả A và , B và . α β Sơ đồαtruyền máu:β A O AB B 17
- Nhóm máu Nhận Cho A A, O A, AB B B,O B, AB AB O, A, B, AB AB O O O, A, B, AB 2.5.3. Nhóm máu Rh Người có kháng nguyên Rh gọi là Rh+ thì không có kháng thể Rh. Người không có kháng nguyên Rh gọi là Rh- thì có kháng thể Rh. Nếu Rh+ gặp Rh- thì gây đông máu. Người Việt Nam: 99,93% là Rh+, 0,07% là Rh-. Nếu người mẹ là Rh-, bố là Rh+ thì con là Rh+ (vì Rh+ là trội). Khi người mẹ là Rh- mang thai, máu của người mẹ sẽ sản xuất ra kháng thể Rh- chống lại kháng nguyên Rh+ của con. Trong những lần mang thai đầu lượng kháng thể Rh- của mẹ sản xuất còn ít nên thai sống sót. Những lần mang thai sau kháng thể Rh- của mẹ sản xuất nhiều làm ngưng kết máu của thai nhi gây sẩy thai, đẻ non hoặc lưu thai. 2.6. Nước mô và bạch huyết 2.6.1. Nước mô Là chất dịch trong suốt, hơi quánh lấp đầy các khoảng gian bào, chiếm 15% khối lượng cơ thể. Có khả năng vận chuyển oxy và chất dinh dưỡng từ mao mạch vào tế bào và CO2 cùng chất thải ra khỏi tế bào để bài xuất ra ngoài. 2.6.2. Bạch huyết Là chất dịch trong suốt, màu vàng nhạt chiếm 1/5 khối lượng cơ thể. Thành phần gồm có: 4% là protein, 1% glucoz, 1% muối khoáng chủ yếu là NaCl còn lại là nước. Bạch huyết di chuyển trong mạch bạch huyết có chức năng vận chuyển protein từ mô vào máu, vận chuyển axit béo và glyxerin từ ruột đến tĩnh mạch chủ rồi đổ về tim. 2.7. Miễn dịch. HIV/AIDS 2.7.1. Khái niệm 18
- Là trạng thái bảo vệ đặc biệt của cơ thể chống lại các yếu tố gây bệnh khi chúng thâm nhập vào cơ thể. Có 2 hệ miễn dịch: 2.7.2. Miễn dịch không đặc trưng - Da: là hàng rào vật lý tin cậy, chống nhiễm trùng. Trong chất nhờn và mồ hôi của da có chứa axit lactic, lizozim có khả năng tiêu diệt vi khuẩn, nấm bám trên da. - Interferon: là hệ miễn dịch chống lại các tác nhân gây bệnh trong máu trước khi chúng đến các cơ quan. Nếu vi khuẩn, virut lọt vào tới tế bào thì tế bào cũng sản xuất protein đặc biệt có khả năng kìm hãm sự sinh sôi, nảy nở của chúng. 2.7.3. Miễn dịch đặc trưng Có chức năng nhận biết và tiêu diệt các kháng nguyên lạ lọt vào cơ thể, đó là các dạng bạch cầu lympho và các kháng thể đặc hiệu. 2.7.4. Các loại miễn dịch 2.7.4.1. Miễn dịch tự nhiên (bẩm sinh): chủ yếu là miễn dịch không đặc trưng có sẵn từ khi sinh ra và mang tính chất di truyền giữa các cá thể cùng loài. Nhiều loài động vật không mắc bệnh của người và ngược lại: gà không mắc bệnh than, trâu bò không mắc bệnh giang mai, thương hàn của người. 2.7.4.2. Miễn dịch nhân tạo * Miễn dịch chủ động - Miễn dịch chủ động tự nhiên: trong quá trình sống sau khi cơ thể mắc một loại bệnh nào đó nếu khỏi bệnh, cơ thể sẽ miễn dịch với bệnh đó: sởi, uốn ván, quai bị - Miễn dịch chủ động nhân tạo: sau khi tiêm vaccin, cơ thể sẽ miễn dịch với bệnh đó nhưng với thời gian ngắn hơn. * Miễn dịch bị động - Miễn dịch bị động tự nhiên: do mẹ truyền sang con trong thời gian mang thai hoặc sữa mẹ đặc biệt là sữa đầu. - Miễn dịch bị động nhân tạo: khi cơ thể bị nhiễm bệnh, người ta tiêm huyết thanh để cơ thể có ngay kháng thể chống lại mầm bệnh. Huyết thanh có tác dụng nhất thời và bị đào thải ngay nên không tạo được miễn dịch lâu. 19
- 2.7.5. HIV/AIDS AIDS (Acquired Immuno Deficiency Symdrome) là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do virut HIV (Human Immuno Deficiency Virut) gây nên. Khi vào cơ thể HIV sẽ tấn công vào các loại bạch cầu làm hoạt động của hệ miễn dịch giảm dần và cuối cùng mất hẳn khả năng chống bệnh và chuyển sang giai đoạn AIDS. Do đó bất kỳ một tác nhân gây bệnh nào cũng có khả năng tấn công và gây bệnh cho cơ thể gọi là các bệnh cơ hội. Thường là các bệnh lao, thương hàn, tiêu chảy, viêm phổi, bệnh nhiễm khuẩn ngoài da HIV lây lan qua 3 đường: - Quan hệ tình dục với người nhiễm HIV/AIDS. - Tiêm chích ma túy. - Mẹ truyền sang con. Câu hỏi ôn tập 1. Trình bày chức năng và các thành phần của máu. 2. Quá trình đông máu diễn ra như thế nào? Vai trò của quá trình đông máu đối với việc bảo vệ cơ thể trẻ em. 3. Nhóm máu là gì? Cách xác định nhóm máu và ứng dụng của chúng trong việc truyền máu. 4. Miễn dịch là gì? Cơ sở miễn dịch của các phương pháp phòng chống bệnh. 20
- Chương 3. HỆ TUẦN HOÀN * Mục tiêu - Trình bày được những kiến thức cơ bản về cấu tạo, chức năng và cơ chế hoạt động của hệ tuần hoàn của trẻ em. - Biết được những kiến thức cơ bản về chu kì hoạt động tim, huyết áp và vòng tuần hoàn để vận dụng vào công tác nuôi dạy trẻ. 3.1. Cấu tạo của hệ tuần hoàn 3.1.1. Cấu tạo của tim Tim nằm trong lồng ngực đỉnh lệch về bên trái. Ở trẻ sơ sinh tim hơi tròn, nằm ngang, Đến 1 tuổi tim nằm chéo nghiêng và chếch sang trái. Đến 4 tuổi tim nằm ở vị trí giống người lớn và có hình chóp nón. - Kích thước: tim trẻ em phát triển theo tuổi, trẻ sơ sinh tim có khối lượng khoảng 0.9% khối lượng cơ thể, ở người lớn: 0.5% khối lượng cơ thể. Khoảng 250 đến 300 g tương đương nắm tay người lớn - Tim là một túi cơ rỗng, nửa bên trái chứa máu đỏ, nửa bên phải chứa máu thẫm. Mỗi nửa có 2 buồng: phía trên là tâm nhĩ, phía dưới là tâm thất. Vậy tim có 4 ngăn: tâm nhĩ phải, tâm nhĩ trái, tâm thất phải, tâm thất trái. - Hệ thống van tim: giữa tâm nhĩ và tâm thất có van nhĩ - thất giúp cho máu ở tâm thất không tràn ngược vào tâm nhĩ khi tâm thất co. Bên trái là van 2 lá, bên phải là van 3 lá. Giữa tâm thất và động mạch cũng như giữa tâm nhĩ và tĩnh mạch có van tổ chim. Có tác dụng ngăn không cho máu từ động mạch chảy ngược lại tâm thất cũng như từ tâm nhĩ vào tĩnh mạch. - Thành tim: có 3 lớp. Ngoài cùng là màng liên kết, ở giữa là lớp cơ dày, trong cùng là lớp nội mô. Thành của tâm thất dày hơn tâm nhĩ để phù hợp với chức năng đẩy máu vào động mạch. Thành của tâm thất trái dày hơn thành của tâm thất phải. 21
- - Cơ tim: có cấu tạo hợp bào (do giữa các tế bào mất các vách ngăn). Nên cơ tim có cấu tạo giống cơ vân nhưng hoạt động giống như cơ trơn là không theo ý muốn của con người. Ngoài ra tim còn có khả năng co bóp tự động nhờ các hạch (nút). + Hạch xoang: phát và dẫn xung động nhịp tim. + Hạch nhĩ thất: dẫn truyền xung động từ tâm nhĩ xuống tâm thất. + Bó Hiss: chi phối hoạt động của cơ tâm thất. - Tính hưng phấn: trong thời gian tim co, tim không trả lời bất kỳ các kích thích nào nên gọi là giai đoạn trơ tuyệt đối. Trong thời gian tim giãn, tim có thể trả lời kích thích bằng một lần co phụ gọi là giai đoạn trơ tương đối. Lần co phụ gọi là ngoại tâm thu. Sau đó, thời gian tim nghỉ nhiều hơn gọi là thời gian nghỉ bù. 3.1.2. Cấu tạo của mạch máu 3.1.2.1. Động mạch: dẫn máu từ tim đến các cơ quan. Có khả năng co bóp giúp máu chảy thành dòng liên tục. Ở trẻ em lòng động mạch lớn hơn người lớn, động mạch chủ nhỏ hơn động mạch phổi. Sau đó động mạch chủ phát triển nhanh hơn, đến 12 tuổi động mạch chủ bằng động mạch phổi. Ở người lớn động mạch chủ lớn hơn động mạch phổi. 3.1.2.2. Tĩnh mạch: dẫn máu từ các cơ quan về tim, thành tĩnh mạch mỏng hơn động mạch và ít có khả năng co bóp. 3.1.2.3. Mao mạch: là những mạch nhỏ nối liền tiểu động mạch với tiểu tĩnh mạch. Là nơi thực hiện chức năng trao đổi chất giữa máu và các tế bào. Mao mạch có lòng rất hẹp nên máu chảy rất chậm khoảng 0.5 mm/s. Tuy mao mạch có thiết diện nhỏ nhưng số lượng nhiều nên tổng thiết diện là rất lớn làm vận tốc máu giảm. Thành mao mạch có một lớp tế bào thích nghi với chức năng trao đổi chất. Chất dinh dưỡng và oxy từ máu vào tế bào cũng như chất cặn bã và CO2 từ tế bào vào máu. Ở trẻ em động mạch và tĩnh mạch có kích thước tương đương nhau. Sau đó kích thước của tĩnh mạch tăng nhanh hơn, đến tuổi trưởng thành kích thước tĩnh mạch rộng gấp 2 lần động mạch. 22
- 3.2. Hoạt động của tim 3.2.1. Chu kỳ tim Tim co giãn theo từng giai đoạn nhịp nhàng, các giai đoạn này được lặp đi lặp lại nhiều lần gọi là chu kỳ tim. Ở người lớn tim đập khoảng 75 lần/phút, thời gian mỗi chu kỳ là 0,8 s gồm 3 pha: - Pha tâm nhĩ co (nhĩ thu): khi tim đầy máu 2 tâm nhĩ co, áp suất trong tâm nhĩ lớn hơn áp suất trong tâm thất làm mở van nhĩ thất. Máu từ tâm nhĩ chảy xuống tâm thất. Giai đoạn này mất 0.1 s. - Pha tâm thất co (thất thu): 2 tâm nhĩ giãn, 2 tâm thất co, áp suất trong tâm thất lớn hơn áp suất trong tâm nhĩ làm đóng van nhĩ thất và mở van tổ chim. Máu từ tâm thất dồn vào động mạch. Cuối kỳ áp suất trong tâm nhĩ giảm làm đóng van tổ chim. Giai đoạn này mất 0.3 s. - Giai đoạn tâm trương (nghỉ chung): kéo dài 0.4 s là thời kỳ cả tâm thất và tâm nhĩ đều giãn. Máu từ tĩnh mạch dồn vào tâm nhĩ, máu từ tâm nhĩ dồn từ từ xuống tâm thất để chuẩn bị cho chu kỳ tiếp theo. Như vậy, trong một chu kỳ tim, tâm nhĩ co 0.1 s nghỉ 0.7 s tâm thất co 0.3 s nghỉ 0.5s, thời gian nghỉ chung là 0.4 s. * Tiếng tim: mỗi chu kỳ tim có 2 tiếng. Sở dĩ có tiếng tim là do hoạt động của các van. - Tiếng tâm thu: khi 2 tâm thất co, áp suất trong tâm thất lớn hơn áp suất trong tâm nhĩ làm đóng van nhĩ thất gây tiếng đập trầm dài. - Tiếng tâm trương: khi máu từ tâm thất chảy vào động mạch sau đó áp suất trong tâm thất nhỏ hơn áp suất trong động mạch làm van tổ chim đóng lại gây tiếng đập cao ngắn. 3.2.2. Tần số tim (nhịp tim) Là số lần tim co bóp trong một phút, nhịp tim trẻ em lớn hơn người lớn. - Trẻ 1 tháng: 120 - 140 lần/phút. - Trẻ 2 - 4 tuổi: 90 - 120 lần/phút. 23
- - Trẻ 5 - 6 tuổi: 80 - 110 lần/phút. - Người lớn: 65 - 75 lần/phút. Ngoài ra, nhịp tim còn phụ thuộc vào: nữ > nam, mùa hè > mùa đông, buổi chiều > buổi sáng, làm việc > nghỉ, trạng thái tâm sinh lý của trẻ. Nhịp tim = nhịp mạch. 3.3. Vòng tuần hoàn Ở thời kỳ thai nhi tim hoạt động vào tháng thứ 3 nhưng hệ tiêu hóa và hệ hô hấp chưa hoạt động. Sự trao đổi khí và chất dinh dưỡng được thực hiện qua nhau thai nên vòng tuần hoàn chưa hoàn chỉnh. Khi trẻ ra đời phổi chính thức hoạt động, vòng tuần hoàn chưa được chia thành 2 vòng. - Vòng tuần hoàn lớn: dẫn máu từ tâm thất trái theo động mạch đến các cơ quan rồi theo tĩnh mạch đổ vào tâm nhĩ phải. Vòng tuần hoàn này mang oxy và chất dinh dưỡng đến các cơ quan, đồng thời thu gom chất cặn bã và CO2 thải ra ngoài qua hệ bài tiết và hệ hô hấp. - Vòng tuần hoàn nhỏ: máu từ tâm nhĩ phải dồn xuống tâm thất phải, theo động mạch phổi lên phổi rồi theo tĩnh mạch phổi đổ về tâm nhĩ trái sau đó xuống tâm thất trái. Vòng tuần hoàn này mang máu thẫm (giàu CO2) từ tâm nhĩ phải đến phổi để trao đổi khí ở phổi (thải CO2 nhận O2). Sau khi nhận O2 máu trở nên đỏ tươi và trở về tâm nhĩ trái rồi xuống tâm thất trái để thực hiện vòng tuần hoàn lớn tiếp theo. 3.4. Huyết áp Là áp lực của máu tác động lên thành mạch. Là kết quả tổng hợp của các yếu tố: sức co bóp của tim, sự chun giãn, co bóp của thành mạch, khối lượng máu, độ quánh của máu. Huyết áp thay đổi theo từng giai đoạn của chu kỳ tim. - Huyết áp tối đa: là áp lực của tác động lên thành mạch khi tim co (tâm thu). Huyết áp tối đa khoảng 90 - 140 mmHg (trung bình = 120 mmHg). - Huyết áp tối thiểu (tâm trương): là áp lực của máu tác động lên thành mạch trong thời kỳ tim giãn. Huyết áp tối thiểu khoảng 50 – 90 mmHg (trung bình = 70 mmHg). 24
- Hình 3. Vòng tuần hoàn Ở người huyết áp thay đổi theo giới tính, lứa tuổi, trạng thái sinh lý, chế độ làm việc. Huyết áp giảm dần từ động mạch lớn (gần tim) → động mạch vừa → động mạch nhỏ → mao mạch. Huyết áp của nữ cao hơn nam, trẻ em thấp hơn người lớn vì lòng động mạch của trẻ em rộng, tim đập yếu. 25
- Trẻ sơ sinh: 45 - 76 mmHg. Trẻ nhỏ hơn 1 tuổi: 50 - 90 mmHg. Người lớn: 70 – 140 mmHg. Ngoài ra, huyết áp tăng khi lao động nặng, căn thẳng, lo sợ, hồi hộp. Huyết áp giảm khi nghỉ ngơi, ngủ 3.5. Điều hòa hoạt động tim mạch - Điều hòa bằng thần kinh + Dây thần kinh giao cảm: làm tim đập nhanh, thành mạch co lại. + Dây thần kinh phó giao cảm: ngược lại. - Điều hòa bằng thể dịch: + Adrenalin: làm tim đập nhanh, thành mạch co lại. + Axetincolin: ngược lại 3.6. Tuần hoàn bạch huyết Ở người có 2 mạch bạch huyết lớn là mạch ngực trái và mạch cổ. Hai mạch này nhận bạch huyết ở các mạch bạch huyết nhỏ rồi đổ vào tĩnh mạch chủ trên rồi đổ vào tim. Dòng bạch huyết chảy tương đối chậm, có khoảng 1200 - 1600 ml dịch bạch huyết/ngày đổ vào vòng tuần hoàn máu. Câu hỏi ôn tập 1. Trình bày cấu tạo chung của hệ tuần hoàn trẻ em. 2. Trình bày đặc điểm cấu tạo và hoạt động của tim ở trẻ em. 3. Một chu kì tim diễn ra như thế nào? Vai trò của các van tim trong việc tuần hoàn máu. 4. Muốn phòng ngừa một số bệnh về tim mạch nên làm thế nào? Tại sao? 26
- Chương 4. HỆ HÔ HẤP * Mục tiêu - Biết được cấu tạo của hệ hô hấp ở trẻ em và cơ chế trao đổi khí của hệ hô hấp. - Hiểu được vai trò của hô hấp đối với trẻ em và biết ứng dụng cách vệ sinh hệ hô hấp trong công tác nuôi dạy trẻ. 4.1. Cấu tạo của hệ hô hấp 4.1.1. Hệ thống ống dẫn khí Dẫn không khí từ ngoài vào phổi và ngược lại. Gồm khoang mũi, thanh quản, khí quản, phế quản. 4.1.1.1. Khoang mũi: là phần đầu của hệ hô hấp gồm lỗ mũi và hố mũi. Trong khoang mũi có lông mũi, niêm mạc mũi, hệ thống mao mạch, tuyến nhầy, dây thần kinh khứu giác. Các bộ phận này có chức năng: - Lọc sạch không khí nhờ lông mũi và tuyến nhầy - Sưởi ấm và đảm bảo độ ẩm không khí nhờ hệ thống mao mạch. - Nhận được mùi nhờ tổ chức thần kinh khướu giác. Ở trẻ em, khoang mũi ngắn, hẹp. Không khí hít vào chưa được sưởi ấm và lọc sạch. Chức năng bảo vệ của niêm mạc còn yếu, nên trẻ dễ sỗ mũi, ngạt mũi. Sau khoang mũi là hầu, nơi giao nhau của đường tiêu hóa và đường hô hấp. Phần dưới của hầu có 2 ống: ống phía trước là ống dẫn khí của thanh quản, ống phía sau là thực quản. Nên khi mũi bị viêm thì có thể thở bằng miệng. Hai bên thành hầu có các tuyến amidal là nơi tập trung các lympho bào có khả năng tiêu diệt vi khuẩn đột nhập vào miệng. Gồm có tuyến amidal vòm (VA) và amidal khẩu cái. 4.1.1.2. Thanh quản: gồm nhiều mảnh sụn liên kết với nhau. Lớn nhất là sụn giáp, phía trên có sụn thanh nhiệt đậy thanh quản khi nuốt thức ăn để thức ăn không lọt vào khí quản. Ở thanh quản có các cơ và dây thanh âm. Khe hở giữa các dây thanh âm gọi là khe thanh môn nên thanh quản còn tham gia vào chức năng phát âm. 27
- Ở trẻ em, thanh quản hẹp và xương sụn mềm, có nhiều mao mạch nên trẻ dễ bị viêm dẫn đến khó thở. Trẻ dưới 6 tuổi khe thanh môn ngắn, hẹp nên âm trẻ cao hơn người lớn. Đến tuổi dậy thì, ở nam thanh quản dài, khe thanh môn rộng nên giọng trầm, vang. Ở nữ thanh quản ngắn, khe thanh môn hẹp nên giọng cao và trong. 4.1.1.3. Khí quản và phế quản: khí quản tiếp theo thanh quản. Có hình trụ gồm khoảng 20 vòng sụn hình chữ C, đầu dưới chia thành 2 phế quản đi vào phổi. Mặt trong của khí quản được lót bởi một lớp niêm mạc có nhiều lông rung động và nhiều tuyến nhầy có nhiệm vụ bảo vệ đường hô hấp chống vi khuẩn, bụi và vật lạ lọt vào. Ở trẻ em, khí quản và phế quản còn nhỏ, tổ chức đàn hồi kém, vòng sụn mềm, dễ biến dạng. Trong niêm mạc có nhiều mao mạch nên trẻ dễ bị viêm nhiễm, phù nề. Hình 4. Cấu tạo của hệ hô hấp 28
- 4.1.2. Phổi Phổi nằm trong lồng ngực. Là nơi thực hiện chức năng trao đổi khí với môi trường. Gồm 2 lá phổi: bên phải chia làm 3 thùy, bên trái chia thành 2 thùy. Các thùy được chia thành các tiểu thùy → tiểu phế quản → phế quản tận → ống túi phổi → phế nang. Phế nang có đường kính từ 0.1 đến 0.3 mm, dày 0.7 có nhiều sợi đàn hồi nên có thể phồng lên xẹp xuống. Bao quanh phế nang là hệ thμmống mao mạch dày đặc để thực hiện chức năng trao đổi khí. Trẻ sơ sinh có khoảng 30 triệu phế nang, trẻ 7 tuổi có 300 triệu, người lớn có 600 – 700 triệu. Khối lượng: trẻ sơ sinh: 50 g, trẻ một tuổi: 300 g, trẻ 12 tuổi: 500 g, người lớn 1 - 1.5 kg. Thể tích: trẻ sơ sinh: 70 cm3, 10 tuổi: 700 cm3, người lớn: 1400 cm3. Phổi được bao bọc bởi màng phổi, mỗi màng phổi có 2 lá: lá thành ở ngoài và lá tạng ở trong. Giữa 2 lá có một lớp dịch mỏng có tác dụng giảm ma sát giữa 2 lá và tránh sự va chạm của phổi vào lồng ngực. 4.2. Cơ chế hoạt động của hệ hô hấp 4.2.1. Động tác thở 4.2.1.1. Sự hít vào: được thực hiện nhờ sự co của cơ liên sườn và cơ hoành làm lồng ngực và phổi giãn. Áp suất trong phổi nhỏ hơn áp suất không khí: không khí từ ngoài vào phổi. 4.2.1.1. Sự thở ra: các cơ giãn, thể tích lồng ngực giảm. Áp suất trong phổi trong phổi lớn hơn áp suất không khí: không khí từ phổi ra ngoài. - Khi hít vào rồi thở ra bình thường có khoảng 500 ml khí được vận chuyển gọi là khí lưu thông. Nhưng lượng khí này không đến phế nang tất cả vì còn khoảng 150 ml nằm lại trong đường hô hấp. - Khi hít vào bình thường, nếu cố gắng hít vào tận lực sẽ đưa thêm vào phổi khoảng 1500 ml khí nữa gọi là khí bổ túc. - Khi thở ra bình thường, nếu cố gắng thì thở ra hết sức sẽ đẩy ra ngoài khoảng 1500 ml khí nữa gọi là khí dự trữ. Còn lại trong phổi 1500 ml khí gọi là khí cặn. 29
- - Nếu hít vào cố gắng rồi thở ra tận lực ta được khoảng 3000 – 3500 ml khí ở nam, 2500 – 3000 ml khí ở nữ gọi là dung tích sống của phổi. Dung tích sống (VC) = khí lưu thông + khí bổ túc + khí dự trữ. Ở trẻ em dung tích sống của phổi nhỏ hơn rất nhiều so với người lớn. Nên cần luyện tập thường xuyên để nâng cao dung tích sống, tăng cường thể lực cho trẻ. 4.2.2. Trao đổi khí ở phổi và tế bào 4.2.2.1. Sự trao đổi khí ở phổi: được thực hiện qua bề mặt của phế nang giữa máu trong mao mạch và không khí từ ngoài vào. Máu từ tế bào theo tĩnh mạch về tim rồi theo động mạch phổi lên phổi. Máu này nghèo O2 nhưng nhiều CO2 so với không khí ở phế nang. Theo nguyên tắc khuếch tán không khí đi từ nơi có nồng độ cao đến nơi có nồng độ thấp: O2 từ phế nang vào máu, CO2 từ máu vào phế nang. 4.2.2.2. Sự trao đổi khí ở tế bào: máu nhận khí O2 từ phổi theo tĩnh mạch phổi về tim rồi theo động mạch đến các tế bào. Tại tế bào do quá trình oxy hóa nên nồng độ CO2 cao, nồng độ O2 thấp. Còn máu ở động mạch nồng độ CO2 thấp, nồng độ O2 cao nên xảy ra hiện tượng khuếch tán: O2 từ máu vào tế bào, CO2 từ tế bào vào máu. Sau khi được trao đổi khí máu trở nên đỏ thẫm. Chúng theo tĩnh mạch về tim rồi theo động mạch phổi lên phổi để thực hiện quá trình trao đổi khí tiếp theo ở phổi. 4.3. Điều hòa hoạt động hô hấp Khi hít vào phổi bị căng gây kích thích các đầu mút dây thần kinh trong phổi làm xuất hiện luồng xung động thần kinh hướng tâm truyền về trung khu hô hấp ở hành tủy gây phản xạ ngừng co cơ hít vào. Khi thở ra phổi xẹp gây kích thích các đầu dây thần kinh ở phổi gây phản xạ làm cơ điều khiển sự hít vào co. Đây là phản xạ không điều kiện. 4.4. Vệ sinh hệ hô hấp - Hướng dẫn trẻ thở bằng mũi, không thở bằng miệng. - Khi ngủ cần mở rộng cửa, phòng thông thoáng khí. 30
- - Khi làm việc cần hít thở không khí trong lành, giáo dục trẻ bảo vệ môi trường xung quanh. Câu hỏi ôn tập 1. Hệ hô hấp gồm những bộ phận nào? Các bộ phận của hệ hô hấp có cấu tạo phù hợp với chức năng của nó như thế nào? 2. Trình bày sự trao đổi khí ở phổi và tế bào. 3. Trình bày đặc điểm cấu tạo hệ hô hấp ở trẻ em. 4. Dung tích sống là gì? Làm thế nào để tăng dung tích sống ở trẻ em? 31
- Chương 5. HỆ TIÊU HÓA * Mục tiêu - Trình bày được những đặc điểm cấu tạo cơ bản của ống tiêu hóa và các tuyến tiêu hóa phù hợp với chức năng của chúng. - Hiểu được bản chất của quá trình tiêu hóa và sự hấp thu thức ăn. - Biết được đặc điểm và cách vệ sinh hệ tiêu hóa ở trẻ em để áp dụng vào việc nuôi dạy trẻ. 5.1. Cấu tạo của hệ tiêu hóa 5.1.1. Ống tiêu hóa 5.1.1.1. Khoang miệng: gồm răng và lưỡi. - Răng: cắn, xé, nghiền thức ăn. Ở người có 2 thế hệ răng: răng sữa ở trẻ em và răng chính thức. Ở trẻ em răng sữa mọc từ tháng thứ 5 - 6 đến 2 tuổi thì đủ 20 răng. Gồm 4*2 răng cửa + 2*2 răng nanh + 4*2 răng hàm. Trẻ từ 5 - 7 tuổi răng chính thức thay thế cho răng sữa đến khi đủ 32 chiếc. Gồm 3 loại: 4*2 răng cửa + 2*2 răng nanh + 10*2 răng hàm. Tùy theo chức năng mà răng có hình dạng khác nhau: răng cửa hình cái đục làm nhiệm vụ cắt thức ăn. Răng nanh nhọn có nhiệm vụ cắn, xé thức ăn. Răng hàm phẳng có mấu lồi để nghiền thức ăn. Phủ mặt ngoài của răng là men răng cứng, bền chắc để bảo vệ răng, tiếp theo là ngà răng. Bên trong là tủy răng gồm các mô liên kết, mạch máu, nhánh thần kinh. - Lưỡi: là một khối cơ vân chắc, mềm dẻo có chức năng trộn thức ăn và đẩy thức ăn xuống thực quản. Ngoài ra lưỡi còn là cơ quan vị giác và phát âm. Trên bề mặt lưỡi có nhiều chồi vị giác, mạch máu và dây thần kinh. 5.1.1.2. Hầu và thực quản: - Hầu: là một ống ngắn, nối tiếp với khoang miệng và thực quản. - Thực quản: là một ống cơ dài nối với hầu có nhiệm vụ đẩy thức ăn xuống dạ dày. Thành thực quản có 3 lớp: ngoài cùng là lớp thanh mạc, trong là lớp cơ trơn, bên trong là lớp niêm mạc có các tuyến tiết dịch nhầy làm trơn thức ăn. 32
- Hình 5. Cấu tạo của hệ tiêu hóa 33
- Ở trẻ em lòng thức quản hẹp nên trẻ dễ bị nghẹn. Chiều dài ngắn nên trẻ dễ bị nôn sau khi ăn. Chiều dài và đường kính của thực quản cũng tăng dần theo tuổi. 5.2.1.3. Dạ dày: là đoạn phình to của ống tiêu hóa. Phía trên nối với thực quản qua tâm vị, phía dưới nối với ruột non qua môn vị. Dạ dày được chia thành 3 vùng: phía trên là thượng vị, ở giữa là thân vị, ở dưới là hang vị. Thành dạ dày có 3 lớp: ngoài cùng là lớp thanh mạc, ở giữa là lớp cơ, bên trong là lớp niêm mạc tiết ra dịch vị và axit HCl. Ở trẻ em dạ dày hình tròn, nằm ngang, lớp cơ mỏng và yếu nên trẻ em thường hay bị nôn sau khi ăn. 5.2.1.4. Ruột: - Ruột non: là nơi tiêu hóa và hấp thu thức ăn chính của hệ tiêu hóa. Là đoạn dài nhất của ống tiêu hóa: gấp 6 lần chiều cao cơ thể. Gồm 3 phần: tá tràng, hổng tràng và hồi tràng. Thành ruột có 3 lớp: lớp thanh mạc ở ngoài liên kết với màng treo ruột để giữ ruột đúng vị trí trong ổ bụng. Lớp cơ trơn ở giữa tạo nên cử động nhu động đẩy thức ăn đi xuống theo từng đợt song. Lớp niêm mạc ở trong cùng phủ đầy nhung mao để tăng diện tích tiếp xúc với thức ăn (20 - 40 nhung mao/mm2). Ngoài ra còn có các tuyến tiết dịch nhầy, dịch ruột, hệ thống thần kinh, mạch máu, mạch bạch huyết. Ở trẻ em, niêm mạc ruột chưa bền chắc nên trẻ em dễ bị viêm ruột. Màng treo ruột còn dài nên trẻ dễ bị lồng ruột, xoắn ruột. - Ruột già: là phần cuối của ống tiêu hóa gồm manh tràng (ruột tịt) (cuối manh tràng là ruột thừa), ruột già chính thức và ruột thẳng (trực tràng). Ruột thẳng là nơi dự trữ phân. Ruột già có chức năng hấp thu nước và lên men nhờ hệ vi sinh vật lên men thối rồi thải bã. Cuối cùng là hậu môn (có cơ vân và cơ trơn). Ở trẻ em, trực tràng tương đối dài, lớp niêm mạc còn lỏng lẻo nên trẻ dễ bị sa trực tràng, táo bón. Ruột thừa của trẻ không ở vị trí cố định nên khó chẩn đoán khi trẻ bị viêm ruột thừa. 5.1.2. Tuyến tiêu hóa. 34
- 5.1.2.1.Tuyến nước bọt: tiết nước bọt đổ vào khoang miệng. Có 3 đôi: đôi mang tai, đôi trên hàm, đôi dưới lưỡi. Có tác dụng làm thức ăn nhão, biến thành viên trơn dễ nuốt. Ngoài ra, nước bọt còn tiêu hóa một phần tinh bột thành đường mantoz. 5.1.2.2.Tuyến gan: là tuyến lớn nhất trong cơ thể. Gan tiết ra mật dự trữ trong túi mật có tác dụng tiêu hóa thức ăn. Ngoài ra gan là nơi trung hòa các chất độc, tiêu hủy hồng cầu già và là nơi dự trữ glycogen trong cơ thể. Ở trẻ em, gan chưa phát triển hoàn chỉnh, nặng khoảng 4% khối lượng cơ thể (người lớn 2.4%). 5.1.2.3.Tuyến tụy: nằm ở đoạn đầu ruột non, là một tuyến pha vừa có chức năng ngoại tiết lẫn nội tiết. - Nội tiết: tiết hormol để điều chỉnh hàm lượng đường trong máu. - Ngoại tiết: tiết ra dịch tụy đổ vào ruột non để tiêu hóa thức ăn thành những chất đơn giản mà cơ thể hấp thu được. Trong dịch tụy của trẻ em có đủ enzim tiêu hóa: protein, lipit, saccarit. 5.2. Sự tiêu hóa thức ăn 5.2.1. Tiêu hóa ở khoang miệng - Biến đổi lí học: nhờ động tác nhai của răng và sự chuyển động của xương hàm dưới. Giúp thức ăn nhuyễn, ngấm với nước bọt và biến thành viên trơn để nuốt xuống dạ dày. - Biến đổi hóa học: nhờ enzim amilaza biến đổi một phần tinh bột chín thành đường mantoz. 5.2.2. Tiêu hóa ở dạ dày - Biến đổi lý học: dạ dày co bóp để nghiền thức ăn và trộn thức ăn ngấm đều với dịch vị rồi đẩy thức ăn xuống ruột từ từ. Thời gian lưu trữ thức ăn ở dạ dày phụ thuộc vào từng loại thức ăn, giới tinh, tâm lý, bệnh lý: glucoz 3 - 4 h, protein 5 - 6 h, lipit 6 - 8 h, sữa mẹ 2 - 2.5 h, sữa bò 3 - 4 h. Khi ăn thức ăn không phù hợp thì môn vị đóng lại, dạ dày co bóp mạnh để đẩy thức ăn ra ngoài miệng gây ra hiện tượng nôn. - Biến đổi hóa học: nhờ tác dụng của dịch vị và HCl. 35
- + HCl: tạo môi trường axit cho men pepsin hoạt động, diệt khuẩn, sát trùng, gây đóng hoặc mở môn vị. + Men pepsin: protein → peptit → axit amin +Men prezua: có trong dịch vị trẻ em vì men này hoạt động trong môi trường pH = 5 - 6. Trẻ em càng lớn độ pH trong dạ dày càng giảm, men này mất tác dụng. Khi pH = 1.5 thì men pepsin thay thế cho prezua. Chức năng: tiêu hóa sữa mẹ. + Men lipaza: lipit → axit béo + glyxerin Ở dạ dày không có men tiêu hóa saccarit nhưng saccarit vẫn được tiêu hóa nhờ enzim amylaza có trong nước bọt được nuốt xuống dạ dày. 5.2.3. Tiêu hóa ở ruột non - Tiêu hóa lý học: nhờ sự co bóp của ruột non thức ăn được nhào trộn và ngấm đều với dịch tiêu hóa và đẩy từ từ xuống dưới. Thức ăn được lưu giữ ở đây khoảng 3 - 5 h. - Tiêu hóa hóa học: + Dịch tụy: có đầy đủ enzim tiêu hóa protein, lipit, saccarit Ngoài ra mỗi hợp chất hữu cơ còn nhiều loại enzim khác tham gia. + Dịch ruột: do các tế bào niêm mạc ruột bài tiết có tác dụng như dịch tụy. + Dịch mật: không có enzim tiêu hóa. Có tác dụng làm tăng sự hoạt động của các men có trong dịch tụy, dịch ruột và nhũ tương hóa lipit thành các giọt rất nhỏ để men lipaza hoạt động. 5.2.4. Tiêu hóa ở ruột già Ruột già có cử động nhu động để đẩy chất cặn bã xuống ruột thẳng và cử động phản nhu động để lưu giữ các chất lâu hơn. Ở ruột già không có men tiêu hóa chỉ có vi khuẩn lên men thối và vi khuẩn tổng hợp vitamin K, và vitamin B12. 5.3. Sự hấp thu thức ăn 5.3.1. Các bộ phận hấp thu thức ăn - Khoang miệng : hấp thu rượu, một số loại thuốc. - Dạ dày: hấp thu nước, muối khoáng, rượu. 36
- - Ruột non: hấp thu mạnh nhất nhờ các tế bào lông ruột. Trong tế bào lông ruột có mạng lưới mao mạch và mạch bạch huyết. Các chất dinh dưỡng hòa tan như axit amin, saccarit, nước, muối khoáng, một số vitamin được hấp thu vào máu. Glyxerin , axit béo, một số vitamin được hấp thu vào mạch bạch huyết. - Ruột già: hấp thu nước, một số muối khoáng, một số loại thuốc, vitamin K, B12 và thải bã. 5.3.2. Các cơ chế hấp thu thức ăn - Cơ chế thụ động: chất dinh dưỡng khuếch tán qua màng tế bào từ nơi có nồng độ cao đến nơi có nồng độ thấp. Cơ chế này không tiêu hao năng lượng. - Cơ chế chủ động: chất dinh dưỡng được hấp thu nhanh và ngược chiều gradien nồng độ (từ thấp đến cao). Cơ chế này đòi hỏi tiêu hao năng lượng. Trẻ em có khả năng hấp thu một số protein chưa được phân giải như globulin. Nhờ đó trẻ em có thể hấp thu protein của sữa mẹ, trong đó có nhiều kháng thể để tạo ra miễn dịch cho cơ thể. 5.4. Vệ sinh hệ tiêu hóa - Ăn uống hợp vệ sinh, rửa tay trước khi ăn, dụng cụ ăn sạch sẽ. - Vệ sinh răng miệng đúng cách sau khi ăn và trước khi đi ngủ - Ăn uống điều độ, đúng giờ, đủ lượng - Đảm bảo ăn toàn vệ sinh thực phẩm, rửa sạch, nấu chín, che đậy cẩn thận tránh ruồi, gián , chuột. - Ăn chậm, nhai kỹ, tâm lý thoải mái khi ăn, cần có thời gian nghỉ sau khi ăn. - Xây dựng khẩu phần ăn hợp lý, đủ lượng, đủ chất. Câu hỏi ôn tập 1. Trình bày đặc điểm cấu tạo của hệ tiêu hóa. 2. Các bộ phận nào trong ống tiêu hóa có khả năng tiêu hóa và hấp thu thức ăn? 3. Trình bày đặc điểm cấu tạo của hệ tiêu hóa ở trẻ em. Tại sao trẻ thường bị nôn sau khi ăn? 37
- Chương 6. HỆ BÀI TIẾT * Mục tiêu - Biết được cấu tạo của hệ bài tiết nước tiểu. - Trình bày được sự hình thành và bài xuất nước tiểu ở người. - Hiểu được đặc điểm và cách vệ sinh cơ quan bài tiết nước tiểu ở trẻ em. 6.1. Cấu tạo của hệ tiết niệu 6.1.1. Cấu tạo của thận Gồm 2 quả thận hình hạt đậu nằm ở 2 bên cột sống ở vùng thắt lưng. Thận phải nằm thấp hơn thận trái. Phần ngoài là vỏ thận màu nâu sẫm, bên trong là tủy thận màu trắng đục. Mỗi quả thận có khoảng 1 triệu đơn vị thận gọi là nephroon. Mỗi nephroon gồm 2 phần: cầu thận và ống thận. - Cầu thận: nằm ở vỏ thận gồm búi mao mạch và nang bao man (Bowman). - Ống thận: ống lượn gần, ống lượn xa, quai Henle, ống góp. - Hệ mạch: rất phức tạp, máu từ động mạch chủ → động mạch thận → mao mạch thận →tĩnh mạch nhỏ → tĩnh mạch thận → tĩnh mạch chủ → tim. 6.1.2. Niệu quản Là ống dẫn nước tiểu từ thận đến bàng quang, l = 25 cm, d = 3.5 mm. 6.1.3. Bàng quang Là túi chứa nước tiểu, thành bàng quang có 3 lớp. Lớp giữa là lớp cơ trơn nên có độ đàn hồi cao, bền. Tại cổ bàng quang có 2 loại cơ thắt: cơ vân và cơ trơn. - Cơ trơn: hoạt động tự động - Cơ vân: hoạt động có ý thức dưới sự diều khiển của vỏ não nên phản xạ tiểu tiện theo ý muốn. 6.1.4. Niệu đạo Là ống dẫn nước tiểu từ bàng quang ra ngoài. 38
- Hình 6. Cấu tạo của hệ bài tiết 6.2. Quá trình hình thành nước tiểu Ở người mỗi ngày có khoảng 800 - 900 lít máu chảy qua thận. 6.2.1. Quá trình lọc ở cầu thận Ở nang bao man, do áp suất của máu lớn hơn áp suất trong nang bao man. Nước và chất hòa tan thấm qua thành mạch vào nang bao man tạo thành nước tiểu loại 1 có thành phần gần giống huyết tương. Ở người mỗi ngày lọc được 180 - 190 lít nước tiểu loại 1. 6.2.2. Quá trình tái hấp thu ở ống thận Ở người, mỗi ngày chỉ thải 1 - 2 lít nước tiểu. Như vậy ở ống thận đã xảy ra quá trình tái hấp thu nước rất mạnh khoảng 188 l/ngày. Ngoài nước, ống thận còn hấp thu 39
- một số chất như glucoz, axit amin, protein, Na+, K+, Ca2+ để trả lại cho máu. Những chất chưa hấp thu được thải ra ngoài gồm: ure, uric, phenol để tạo thành nước tiểu chính thức. 6.2.3. Quá trình bài xuất nước tiểu Nước tiểu được bài xuất ra bên ngoài theo chu kỳ và là hoạt động phức tạp. Bóng đái có thể tích 500 ml nhưng khi đạt đến 200 – 250 ml, P = 150 mmHg sẽ kích thích thụ quan tạo xung động thần kinh truyền về trung khu phản xạ tiểu tiện ở tủy sống. Trung khu này chịu sự chi phối của não bộ và gây cảm giác buồn đi tiểu. Tại cổ bàng quang có 2 loại cơ thắt: cơ trơn đóng mở tự động, cơ vân hoạt động theo ý muốn của con người. Nên người lớn có thể chủ động nhịn đi tiểu. Phản xạ tiểu tiện do vỏ não chỉ huy làm mở cơ vân và nước tiểu bài xuất ra bên ngoài. Thận lọc khoảng 1.5 - 2 l nước tiểu/ngày. Lượng nước tiểu có thể thay đổi phụ thuộc và lượng nước đưa vào cơ thể và lượng mồ hôi tiết ra và khi sử dụng một số chất lợi tiểu. Khi tủy sống bị tổn thương hoặc khi bị hôn mê, phản xạ tiểu tiện sẽ diễn ra tự động gây ra hiện tượng đái dầm. Có 2 loại: - Đái dầm nguyên phát là do: + Bàng quang chưa phát triển. + Hệ thần kinh còn yếu, trung khu phản xạ tiểu tiện chưa hoàn thiện. Loại này không cần can thiệp của biện pháp y tế. - Đái dầm thứ phát là do: + Ăn, uống nhiều trước khi đi ngủ. + Sự rối loạn thần kinh – tâm lý của trẻ. + Dị tật bẩm sinh cơ quan bài tiết. + Rối loạn hormol . + Di truyền, gen gây đái dầm nằm trên cặp nhiễm sắc thể số 13. + Ban ngày trẻ vui chơi quá sức, ban đêm trẻ mệt ngủ sâu nên hệ thần kinh bị ức chế. 40
- 6.3. Vệ sinh hệ tiết niệu - Chăm sóc, vệ sinh thường xuyên, nhẹ nhàng để tránh tổn thương, nhiễm khuẩn. - Thành lập phản xạ có điều kiện về tiểu tiện cho bé sau bữa ăn hoặc trước khi đi ngủ. - Khi trẻ mắc chứng đái dầm cần theo dõi chặt chẽ chế độ nghỉ ngơi, ăn uống cho trẻ. Không làm trẻ sợ hãi, xấu hổ hoặc trừng phạt trẻ. Nếu không có kết quả thì cần sự can thiệp của y tế. 6.4. Một số dạng bài tiết khác Ngoài bài tiết qua thận, ở người còn có sự bài tiết mồ hôi và chất nhờn qua da. Ở người có khoảng 25 triệu tuyến mồ hôi phân bố không đều. Khi nhiệt độ môi trường tăng hoặc khi trẻ hoạt động nhiều thì mồ hôi được tiết ra nhiều. Thành phần của mồ hôi như nước tiểu nhưng loãng hơn và có mùi đặc trưng ở mỗi người. Trong chất nhờn có lipit, axit béo và rượu của chúng. Chất nhờn giúp cho da, lông, tóc mịn màng. Câu hỏi ôn tập 1. Trình bày cấu tạo của hệ bài tiết nước tiểu. 2. Sự hình thành và bài xuất nước tiểu ở người diễn ra như thế nào? 3. Tại sao một số trẻ hay bị đái dầm nguyên phát? Cách ứng xử với trẻ bị mắc chứng đái dầm. 4. Các biện pháp vệ sinh hệ bài tiết cho trẻ và cơ sở sinh lí học của các biện pháp đó. 41
- Chương 7. TRAO ĐỔI CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG * Mục tiêu - Biết được nhu cầu về sự chuyển hóa các chất: protein, lipit, saccarit, nước và muối khoáng ở cơ thể trẻ em. - Hiểu được nhu cầu về các loại vitamin chính ở cơ thể trẻ em để có biện pháp nuôi dưỡng trẻ đúng đắn. 7.1. Đại cương về trao đổi chất và năng lượng 7.1.1. Đồng hóa Là quá trình tổng hợp chất sống đặc trưng cho cơ thể từ những chất dinh dưỡng. Quá trình này tích lũy năng lượng cho cơ thể. 7.1.2. Dị hóa Là quá trình phân giải một phần chất sống để giải phóng năng lượng. Năng lượng này dùng để sản xuất ra công hoặc tổng hợp nên chất mới. 7.2. Chuyển hóa các chất cơ bản trong cơ thể 7.2.1. Chuyển hóa saccarit 7.2.1.1. Thành phần cấu tạo: saccarit là hợp chất hữu cơ gồm 3 nguyên tố C, H, O theo tỉ lệ C : 2H : O. Có 2 loại: - Monosaccarit: glucoz, fructoz, galactoz. Công thức C6H12O6 - Polysaccarit: tinh bột, xenluloz, glicogen. Công thức (C6H10O5)n. 7.2.1.2. Vai trò - Là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho cơ thể: 60% năng lượng. Oxy hóa hoàn toàn 1g saccarit thu được 16.9 KJ. - Tham gia cấu tạo chất và kiến tạo màng tế bào. + Là thành phần cấu tạo của ADN, ARN: đường 5C: C5H10O4, C5H10O5 + Có trong hormol, trong thành phần lipit phức tạp: glucolipit, glucoprotein. 42
- + Tham gia cấu trúc màng tế bào: chủ yếu là saccarit phức tạp chiếm khoảng 5% trong cấu trúc màng tế bào. - Là chất dự trữ quan trọng trong cơ thể: glycogen ở gan và cơ. 7.2.1.3. Sự chuyển hóa saccarit: saccarit được hấp thu vào máu dưới dạng đường đơn giản glucoz. Glucoz nhiều sẽ được tích lũy trong gan và cơ dưới dạng glycogen. Khi cơ thể cần thì glycogen sẽ được phân giải thành glucoz. Glucoz sẽ đi vào máu đến các cơ quan. Saccarit có nhiều trong quả, hạt, củ, đường. Nếu hàm lượng saccarit lấy từ thức ăn không đủ thì cơ thể sẽ chuyển hóa thành protein, lipit thành saccarit. Ở trẻ em nhu cầu saccarit tương đối cao và tăng dần theo tuổi. 7.2.2. Chuyển hóa lipit 7.2.2.1. Thành phần cấu tạo: lipit là hợp chất hữu cơ gồm 3 nguyên tố H, C, O. Mỗi phân tử lipit gồm 1 phân tử glyxerin liên kết với 3 phân tử axit béo. Lipit trong cơ thể tồn tại ở các dạng: triglyxerit, photpholipit, colesterol, steroit 7.2.2.2. Vai trò của lipit - Là nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể. Oxy hóa hoàn toàn 1g lipit thu được 39 KJ. - Là thành phần cấu trúc cơ bản của màng tế bào và các bào quan. - Là nguồn năng lượng dự trữ trong cơ thể (nữ nhiều hơn nam). Lipit bao quanh nội quan tránh những tác động cơ học, giữ nhiệt cho cơ thể. - Là dung môi hòa tan các chất. Đảm bảo sự vận chuyển, lưu thông hấp thu các chất hòa tan trong chất béo: vitamin A, D, K, E. - Chuyển hóa thành những chất điều hòa sinh học: steroit → hormol sinh dục. 7.2.2.3. Chuyển hóa lipit trong cơ thể: lipit được hấp thu dưới dạng glyxerin và axit béo. Hai chất này được lông ruột hấp thu rồi phần lớn theo mạch bạch huyết (70%) về tim rồi đến tế bào. Tại tế bào chúng sẽ tổng hợp thành lipit đặc trưng và cần thiết. Lipit có thể liên kết với protein để xây dựng màng tế bào. Glyxerin có thể chuyển thành glycogen. Lipit thừa sẽ được tích lũy dưới dạng mỡ trong các mô mỡ nằm dưới da. 43
- Thức ăn chứa nhiều lipit là dầu thực vật, mỡ động vật. Ở trẻ em, sự hấp thu lipit diễn ra rất mạnh và nhu cầu lipit cũng tăng dần theo tuổi. 7.2.3. Chuyển hóa protein 7.2.3.1.Thành phần cấu tạo: protein là hợp chất hữu cơ gồm các nguyên tố C, H, O, N. Ngoài ra còn có P, S. Các phân tử protein có cấu trúc phức tạp và kích thước lớn. Đơn vị cấu tạo nên phân tử protein là axit amin. Các axit amin liên kết với nhau bằng liên kết peptit để tạo nên chuỗi polypeptit → protein. Mỗi axit amin có 3 thành phần: nhóm amin (NH2), nhóm cacboxyl (COOH) và gốc R. Tùy theo thành phần, số lượng, trật tự sắp xếp và tỉ lệ các axit amin mà tạo nên vô số loại phân tử protein khác nhau. 7.2.3.2. Vai trò của protein: là chất sống quan trọng nhất của cơ thể. - Cấu trúc: là nguyên liệu để xây dựng nên tất cả các chất sống từ cấu trúc siêu hiển vi → hiển vi → tế bào → cơ thể. - Xúc tác: là các enzim xúc tác cho các phản ứng sinh học. - Vận tải: hemoglobin vận chuyển O2 đến tế bào và vận chuyển CO2 đến phổi rồi ra ngoài. - Bảo vệ: protein gây đông máu, kháng thể bảo vệ cơ thể. - Dự trữ dinh dưỡng: cung cấp chất dinh dưỡng cho cơ thể hoạt động. 7.2.3.3. Chuyển hóa protein: sản phẩm cuối cùng của sự tiêu hóa protein của thức ăn là axit amin. Axit amin hấp thu vào máu → gan → tế bào. Tại đây chúng sẽ tổng hợp nên protein đặc trưng cho tế bào. Trong hơn 20 loại axit amin có 10 axit amin mà cơ thể không tự tổng hợp được gọi là axit amin không thay thế. Ở tất cả protein động vật phần lớn đều đầy đủ axit amin không thay thế nên giá trị dinh dưỡng cao hơn. Còn ở protein thực vật (trừ khoai tây, đậu nành) đều thiếu axit amin không thay thế nên giá trị dinh dưỡng không cao. Thức ăn động vật chứa nhiều protein là thịt, cá, trứng, sữa. Thức ăn thực vật nhiều protein là các loại đậu, nấm Nhu cầu protein của trẻ em cao hơn người lớn và tăng dần theo tuổi. 7.3. Các vitamin 7.3.1. Phân loại 44
- - Tan trong nước: nhóm B, C - Tan trong dầu: A, D, E, K 7.3.2. Vitamin A (retinol) Là vitamin quan trọng nhất đối với trẻ em. Vitamin A cần cho mắt, sự phát triển của da, xương. Khi thiếu vitamin A, thị giác kém phát triển, mắc các bệnh về mắt, khô da, chậm lớn, dễ mắc bệnh truyền nhiễm. Vitamin A có nhiều trong dầu cá, gan, lòng đỏ, các quả chín có màu đỏ: gấc, đu đủ, cà rốt, ớt, bí đỏ Nhu cầu vitamin ở trẻ em 2 - 2.5 mmg/ngày. 7.3.3. Vitamin B1 (tiamin) Có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa protein, lipit. Nếu thiếu vitamin B1, quá trình chuyển hóa bị rối loạn, gây bệnh phù thũng, mệt mỏi, kém ăn, chậm lớn, rối loạn thần kinh. Vitamin B1 có nhiều trong men bia, cám gạo, hạt ngũ cốc, trứng cá, gan Nhu cầu ở trẻ em 0.5 mg/ngày. 7.3.4. Vitamin B2 (riboflavin) Tham gia tổng hợp sắc tố thị giác rodopxin, tổng hợp hemoglobin. Tham gia chuyển hóa protein, lipit, bảo vệ da. Thiếu vitamin B2, trẻ em chậm lớn, tổn thương hệ thần kinh, rụng lông, tóc, viêm da, viêm cầu mắt, thiếu máu Vitamin B2 có nhiều trong men bia, ngũ cốc, sữa, trứng, thịt Nhu cầu vitamin B2 ở trẻ em 0.8 mg/ngày. 7.3.5. Vitamin B6 (pyridoxine ) Tham gia vào hoạt động của hệ thần kinh, chuyển hóa protein, saccarit Thiếu vitamin B6, trẻ em bị bệnh thần kinh, tổn thương da, run giật Vitamin B6 có nhiều trong men bia, ngô, đậu, cám, thịt bò, cá Nhu cầu ở trẻ em 1 mg/ngày. 7.3.6. Vitamin B12 (cobalamin) Có tác dụng ức chế việc tổng hợp collesterol. Làm giảm hàm lượng collesterol trong máu, tham gia trao đổi chất ở mô thần kinh. Thiếu vitamin B12, quá trình trao đổi chất ở trẻ bị rối loạn, da vàng, khó thở, thiếu máu, rối loạn thần kinh. Vitamin B12 có nhiều trong gan, thịt bò, cá Nguồn thức ăn thực vật rất ít vitamin B12. Nhu cầu vitamin B12 ở trẻ em 1 mg/ngày. 45
- 7.3.7. Vitamin C (axit ascorbic ) Dễ bị phân hủy ở nhiệt độ cao. Vitamin C cần cho sự tổng hợp protein, tổng hợp chất hữu cơ trong xương, tham gia quá trình tổng hợp saccarit. Tăng cường phản ứng miễn dịch và sức đề kháng của cơ thể. Thiếu vitamin C gây thiếu máu, suy nhược cơ thể, chảy máu lợi răng, đổ máu cam, vết thương lâu thành sẹo. Vitamin C có nhiều trong rau quả tươi, sữa, gan Nhu cầu vitamin C ở trẻ em 20 mg/ngày. 7.3.8. Vitamin D (canxiferol ) Là loại vitamin mà cơ thể có thể tự tổng hợp được. Ở người có tiền vitamin D nằm ở dưới da. Dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời thì tiền vitamin D chuyển thành vitamin D. Vitamin D tham gia vào quá trình chuyển hóa Ca, P. Khi thiếu vitamin D hoặc sống nơi thiếu ánh sáng mặt trời thì trẻ em bị còi xương, chậm lớn, chậm mọc răng, răng mau hỏng. Vitamin D có nhiều trong men bia, trứng, dầu cá, sữa, lúa mạch Nhu cầu vitamin D ở trẻ em 20 mg/ngày. 7.3.9. Vitamin E (tocopherol ) Có vai trò quan trọng trong sinh sản, đặc biệt là chức năng sinh đẻ và sự phát triển của thai nhi. Chống lại sự biến tính của tế bào sinh dục, làm chậm sự lão hóa của tế bào. Thiếu vitamin E dễ gây sẩy thai, lưu thai, giảm khả năng sinh sản, thoái hóa tế bào sinh dục, mất bản năng sinh sản, viêm cơ thiếu máu. Vitamin E có nhiều trong các loại rau, mầm lúa, mầm đậu, thịt, lòng đỏ trứng Bà mẹ mang thai cần tăng cường hàm lượng vitamin E mỗi ngày. 7.3.10. Vitamin K (phylloquinon) Tham gia tổng hợp các yếu tố gây đông máu (protrombin thành trombin). Bình thường vi khuẩn đường ruột cung cấp đủ vitamin K cho cơ thể. Ngoài ra, vitamin K có nhiều trong men bia, ngũ cốc, lòng đỏ trứng, thịt, sữa Nhu cầu vitamin K ở trẻ em khoảng 2 mg/ngày. 7.4. Chuyển hóa nước và muối khoáng 7.4.1. Chuyển hóa nước 7.4.1.1. Vai trò của nước 46
- - Là dung môi hòa tan các chất. - Giúp cơ thể vận chuyển, hấp thu các chất dinh dưỡng, muối khoáng. - Vận chuyển, bài tiết những chất cặn bã. - Thực hiện các phản ứng thủy phân, phản ứng oxy hóa khử. - Điều hòa nhiệt độ cơ thể. 7.4.1.2. Sự trao đổi nước trong cơ thể: trong cơ thể nước tồn tại ở 2 dạng chủ yếu: nước tự do và nước liên kết. - Nước tự do: nằm trong hoặc ngoài tế bào, là lượng nước trao đổi thường xuyên. - Nước liên kết: nằm trong thành phần của các chất: protein, lipit, saccarit. Lượng nước này chỉ được giải phóng khi các chất bị oxy hóa. Ở người trưởng thành, lượng nước chiếm hơn 50% khối lượng cơ thể. Ở trẻ em, lượng nước chiếm một tỉ lệ lớn hơn. Phần lớn nước nằm trong tế bào (70%), ngoài tế bào (19%), phần còn lại nằm trong máu, các chất dịch. - Ở các mô, cơ quan cũng có lượng nước khác nhau: ít nhất ở mô xương, men răng; cao nhất ở chất xám của não, thận. - Nước thải khỏi cơ thể qua bài tiết, hơi thở, phân. - Nguồn cung cấp nước cho cơ thể là nước uống, thức ăn, sự oxy hóa các chất. 7.4.2. Trao đổi muối khoáng - Muối khoáng có vai trò quan trọng đối với quá trình sinh trưởng và phát triển của trẻ em: + Cần cho sự phát triển của xương, hệ thần kinh, cơ. + Duy trì ổn định áp suất thẩm thấu. Cân bằng axit – kiềm trong máu, trong tế bào, mô. + Tham gia vào hoạt động thần kinh, quá trình đông máu. + Thành phần chủ yếu của nhiều loại enzim, vitamin. - Nhu cầu về từng loại muối khoáng đối với cơ thể trẻ em là tương đối lớn và không giống nhau. + Các chất khoáng cần nhiều: Na. K, P, Mg, S, Cl. 47
- + Các chất khoáng cần ít: Fe. Cu, I, Zn, Flo, Cr. Cơ thể trẻ em cần nhiều chất khoáng: Ca, P cần thiết cho xương, răng, Fe tạo hồng cầu, Ca cần cho quá trình đông máu. Nhiều nguyên tố cần thiết cho sự tổng hợp enzim, vitamin: Co, Cu, Zn, Flo Ngoài ra, chất khoáng còn tham gia xúc tác cho nhiều phản ứng hóa học trong cơ thể. 7.4.3. Trao đổi năng lượng trong cơ thể Kết quả của các quá trình trao đổi protein, lipit, saccarit là sinh ra năng lượng cho cơ thể. Quá trình trao đổi năng lượng là sự chuyển hóa năng lượng trong các hợp chất hữu cơ thành các dạng năng lượng khác. Nhiệt năng, cơ năng, điện năng để tổng hợp chất sống mới, sinh công, sinh nhiệt. Gần 75% năng lượng biến thành nhiệt năng, phần năng lượng dự trữ được tích lũy trong hợp chất ATP. Nhu cầu năng lượng phụ thuộc vào trạng thái cơ thể, lứa tuổi, giới tính, khí hậu, khối lượng cơ thể. 7.4.4. Cơ sở sinh lí của khẩu phần thức ăn Khi lập khẩu phần năng lượng cho trẻ em cần đảm bảo đủ nhu cầu về lượng và chất. 7.4.4.1. Nhu cầu về chất: những chất cần thiết đối với trẻ em là: protein, lipit, saccarit, vitamin, nước, muối khoáng Nhu cầu về chất dinh dưỡng, phụ thuộc vào giới tính, lứa tuổi, tình trạng sinh lí và hoạt động của trẻ em. 7.4.4.2. Nhu cầu về lượng: đối với trẻ em nhu cầu năng lượng phải cao hơn năng lượng tiêu hao hằng ngày vì trẻ em cần tích lũy năng lượng cho cơ thể phát triển. Khi tính nhu cầu về năng lượng cần cung cấp phải tính thêm năng lượng tiêu hao khi oxy hóa chất đó và tỉ lệ hấp thu của cơ thể đối với từng chất. Câu hỏi ôn tập 1. Trình bày sự chuyển hóa các chất: protein, lipit, saccarit, nước và muối khoáng ở trẻ em. 2. Trình bày vai trò và nhu cầu các loại vitamin chính ở trẻ em 48
- Chương 8. HỆ SINH DỤC * Mục tiêu - Trình bày được đặc điểm cấu tạo và chức năng của cơ quan sinh dục nam, nữ. - Biết được chu kì kinh nguyệt và giải thích được tại sao khi có thai thì không có kinh. - Hiểu được các biện pháp giữ gìn vệ sinh hệ sinh dục để áp dụng vào công tác nuôi dạy trẻ. 8.1. Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục nam và nữ 8.1.1. Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục nam Hình 8.1. Cấu tạo cơ quan sinh dục nam 49
- 8.1.1.1. Tinh hoàn: gồm 1 đôi tuyến hình trứng nằm trong da gọi là bìu. Gồm nhiều thùy, mỗi thùy có 3 - 4 ống sinh tinh dài, cong queo là nơi sinh ra tinh trùng. 8.1.1.2. Ống dẫn tinh: có một đôi nối với túi chứa tinh và nhập với tuyến tiền liệt tạo thành ống phóng tinh. 8.1.1.3. Tuyến tiền liệt: tiết ra chất lỏng màu trắng + tinh trùng → tinh dịch. 8.1.1.4. Túi chứa tinh: gồm 2 túi là nơi dự trữ tinh trùng. 8.1.1.5. Dương vật: là cơ quan niệu - sinh dục, thân hình trụ hơi dẹp bên gồm nhiều tổ chức cương cứng. 8.1.2. Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục nữ Hình 8.2. Cấu tạo cơ quan sinh dục nữ 8.1.2.1. Buồng trứng: gồm một đôi tuyến nằm 2 bên tử cung chứa nhiều nang trứng đến thời kì rụng trứng mỗi nang trứng cho ra một trứng. 8.1.2.2. Ống dẫn trứng: gồm một đầu loe thành phễu để hứng trứng đầu kia thông với tử cung. 8.1.2.3. Tử cung: là nơi tiếp nhận và nuôi dưỡng trứng nên gọi là dạ con. Phần trên thông với ống dẫn trứng, phần dưới thông với âm đạo. 8.1.2.4. Âm đạo: là một ống dài chừng 25 cm thông với tử cung và âm hộ. 50
- 8.1.2.5. Âm hộ: là bộ phận sinh dục ngoài của nữ. Phía trên có lỗ niệu, phía dưới là lỗ âm đạo có màng trinh ngăn cách giữa bộ phận sinh dục ngoài và trong. Phía trên lỗ niệu là âm vật có nhiều đầu mút dây thần kinh. 8.2. Tế bào sinh dục đực và tế bào sinh dục cái. 8.2.1. Tế bào sinh dục đực (tinh trùng) - Đầu: có thể đỉnh, nhân, bao enzim. - Giữa: chứa ti thể cung cấp năng lượng cho tinh trùng hoạt động. - Đuôi: giúp tinh trùng chuyển động. 8.2.2. Tế bào sinh dục cái (trứng) Có kích thước lớn khoảng 100 - 150 chứa một ít noãn hoàng để nuôi hợp tử u. trong giai đoạn đầ μ 8.3. Sự sản sinh tinh trùng và trứng – chu kỳ kinh nguyệt 8.3.1. Sự sản sinh tinh trùng Được thực hiện trong ống sinh tinh của tinh hoàn. Tinh nguyên bào (2n) → tinh bào cấp 1 (2n) → 2 tinh bào cấp 2 (n kép) → 4 tinh tử (n) → 4 tinh trùng (n). Tinh trùng theo ống dẫn tinh đến dự trữ ở túi tinh. Con người có khả năng sản sinh tinh trùng quanh năm, suốt đời (từ lúc dậy thì) và phụ thuộc vào nhiều yếu tố đặc biệt là hormol. 8.3.2. Sự sản sinh trứng Được thực hiện ở buồng trứng, do các nang trứng phát triển thành. Noãn nguyên bào (2n) → noãn bào cấp 1 (2n) → noãn bào cấp 2 (n kép) → 1 trứng (n) + 3 thể cực (n). Khi trứng chín, nang trứng phồng lên, vỡ ra giải phóng trứng ra khỏi buồng trứng. Trứng được sản sinh từ tuổi dậy thì cho đến lúc mãn kinh. Ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản thường có 1 trứng chín và rụng/tháng. Trong cuộc đời người phụ nữ sản sinh khoảng 350 - 400 trứng. 51
- 8.3.3. Chu kỳ kinh nguyệt Mỗi chu kì khoảng 28 - 30 ngày gồm 2 giai đoạn: - Giai đoạn 1: tuyến yên tiết FSH và LH kích thích nang trứng phát triển và tăng tiết oestrogen. Lớp niêm mạc tử cung dày lên chứa nhiều mạch máu. Khoảng giữa kỳ thì trứng rụng (ngày 14 - 16) thường là 1 trứng. - Giai đoạn 2: khi trứng rụng, nang trứng biến thành thể vàng. Thể vàng tiết progesterol kích thích sự phát triển của lớp niêm mạc trong tử cung đồng thời ức chế tuyến yên tiết FSH và LH. Nên trong thời gian thể vàng tồn tại không có 1 nang trứng nào chín và rụng. Nếu trứng được thụ tinh trứng sẽ nuôi thể vàng nên thể vàng tồn tại suốt thời kì mang thai. Nên khi mang thai thì không xuất hiện kinh. Nếu trứng không thụ tinh, thể vàng teo đi, lượng hormol progesterol giảm dần. Các mao mạch trong tử cung xoắn lại làm vỡ thành mạch. Máu cùng với các yếu tố nuôi dưỡng trứng bị đẩy ra ngoài làm xuất hiện kinh nguyệt. Lượng máu mất khoảng 100 - 200 ml trong 3 - 5 ngày. Đồng thời khi hormol progesterol hết, tuyến yên không bị ức chế. Nó sẽ tăng cường tiết FSH và LH kích thích một nang trứng chín và rụng để thực hiện một chu kỳ tiếp theo. 8.4. Sự thụ tinh và thụ thai 8.4.1. Sự thụ tinh Sau khi trứng rụng, trứng rơi vào phễu của ống dẫn trứng rồi di chuyển theo ống dẫn trứng. Quá trình thụ tinh diễn ra ở 1/3 phía phễu ống dẫn trứng khi trứng gặp tinh trùng ở đó. Khi gặp trứng, đầu của tinh trùng tiết ra enzim hyaluronidaza có tác dụng hòa tan màng trứng nơi tinh trùng tiếp xúc. Khi phần đầu của tinh trùng chui qua màng trứng thì màng trứng khép lại cắt đứt phần đuôi của tinh trùng đồng thời không cho tinh trùng khác xâm nhập vào. Sau đó nhân tinh trùng tiến lại nhân của trứng và kết hợp để tạo thành hợp tử. 8.4.2. Sự hình thành và phát triển của nhau thai Sau khi thụ tinh, hợp tử bắt đầu phân bào và di chuyển xuống tử cung rồi làm tổ ở đó, phát triển và lớn dần lên. Hai tuần đầu phôi phát triển nhờ chất dinh dưỡng lấy từ 52
- dịch tử cung và noãn hoàng. Sau đó nhau thai hình thành, đảm bảo sự trao đổi chất cho thai nhi. Đến cuối tháng 1 thai bắt đầu hình thành cơ quan. Cuối tháng 2 mầm mống cơ quan đã được biệt hóa xong. Thai 3 tháng các cơ quan bắt đầu hoạt động. Thai 4 tháng xương được hình thành và hệ tiêu hóa hoạt động. Lông tơ phủ đầy thân vào tháng 7 đến cuối tháng 8 lớp lông đó mới rụng. Tinh hoàn rơi vào bìu và các cơ quan tiếp tục phát triển và hoàn thiện. Thời gian mang thai khoảng 280 ngày. 8.5. Giáo dục giới tính cho trẻ - Phương pháp giáo dục đúng đắn, phù hợp với lứa tuổi. - Chăm sóc cho trẻ về vệ sinh. - Trả lời khôn khéo, hợp lí các câu hỏi của trẻ. 8.6. Vệ sinh hệ sinh dục - Cung cấp cho trẻ những hiểu biết khoa học về giới tính. - Hình thành cho bé trai thói quen ngủ không nằm co quắp, không kích thích cơ quan sinh dục, giữ vệ sinh cơ quan sinh dục hàng ngày. - Giải thích cho bé gái biết hiện tượng dậy thì, có kĩ xão và thói quen giữ gìn vệ sinh kinh nguyệt. Câu hỏi ôn tập 1. Trình bày đặc điểm cấu tạo của cơ quan sinh dục nam. 2. Trình bày đặc điểm cấu tạo của cơ quan sinh dục nữ. 3. Chu kì kinh nguyệt diễn ra như thế nào? 4. Nêu các biện pháp vệ sinh hệ sinh dục và giáo dục giới tính cho trẻ mầm non. 53
- Chương 9. CÁC TUYẾN NỘI TIÊT * Mục tiêu - Trình bày được vai trò của hormol trong cơ chế điều tiết hoạt động của cơ thể. - Biết được vai trò của các tuyến nội tiết chính đối với sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể trẻ em. 9.1. Đại cương về nội tiết 9.1.1. Đặc điểm cấu tạo của tuyến nội tiết - Không có ống dẫn. - Kích thước nhỏ. - Có hệ thống mạch máu rất phong phú. 9.1.2. Đặc điểm của hormol Hormol là do tuyến nội tiết ra, phần lớn có bản chất protein. Hormol có những đặc điểm sau: - Mỗi hormol đều do một tuyến nội tiết nhất định nào đó tiết ra. - Mỗi loại hormol chỉ có ảnh hưởng tới hoạt động của một nhóm cơ quan nhất định được gọi là cơ quan đích. - Dễ bị phân hủy nên tác dụng không kéo dài. - Không mang tính đặc trưng cho loài. Mỗi hormol có thể có tác dụng với nhiều loài. 9.1.3. Vai trò của hormol - Tham gia kiến tạo và phát triển cơ thể. Giúp cho cơ thể sinh trưởng và phát triển được bình thường: hormol sinh trưởng của tuyến yên, hormol sinh dục. - Điều tiết hoạt động của các cơ quan và hệ cơ quan trong cơ thể - Điều hòa quá trình trao đổi chất và năng lượng trong cơ thể: glycogen ↔ glucoz. 54
- 9.2. Chức năng của từng tuyến nội tiết 9.2.1. Tuyến yên 9.2.1.1. Đặc điểm chung: tuy chỉ nhỏ bằng hạt đậu xanh nhưng là tuyến quan trọng của cơ thể. Tiết hormol điều khiển nhiều hoạt động của cơ thể: sinh trưởng, phát triển, rụng trứng, tiết sữa và chi phối các tuyến khác. Khối lượng 34 – 60 mg ở người lớn và 10 - 15 mg ở trẻ sơ sinh. Có 3 thùy. 9.2.1.2. Các hormol của tuyến yên * Hormol thùy trước - Hormol sinh trưởng somatotropin (STH): có vai trò đối với sự sinh trưởng của cơ thể. Nếu số lượng STH ít chiều cao không phát triển, nếu STH thừa thì xuất hiện triệu chứg khổng lồ. - Adrenocoocticotropin (ACTH): kích thích hoạt động của tuyến trên thận tăng cường tổng hợp coocticosreroit. - Tireotropin: kích thích hoạt động của tuyến giáp. - Prolan A: kích thích tạo hormol sinh dục nam, nữ. * Hormol thùy giữa melanotropin (MSH): kích thích tạo sắc tố đen trên da. * Hormol thùy sau: - Oxytoxin: tăng cường co bóp dạ con, điều hòa tiết sữa. - Vazoprexin: tăng huyết áp, giảm tiết niệu. 9.2.2. Tuyến giáp 9.2.2.1. Đặc điểm chung: nằm ở 2 phía bên dưới hầu và thanh quản, trên khí quản. Khối lượng : 20 g. Tiết hormol chính là tiroxin mọi hoạt động của tuyến giáp chịu sự chi phối của tuyến yên thông qua hormol TSH. 9.2.2.2. Chức năng: điều tiết quá trình chuyển hóa I2 trong cơ thể. - Thiểu năng tuyến giáp: do chức năng của tuyến giáp giảm nên các tế bào tuyến phải tăng sinh để bù đắp sự thiếu hụt hormol. Gây triệu chứng mệt mỏi, ăn không ngon, rối loạn hoạt động thần kinh, trí nhớ giảm sút, rối loạn chức năng sinh dục, tim đập yếu, phù nề. 55
- - Ưu năng tuyến giáp: do thừa hormol tiroxin làm xuất hiện bệnh Bazedo, bướu lồi mắt Người bệnh xuất hiện bướu cổ, mắt lồi, tim đập nhanh. 9.2.3. Tuyến cận giáp 9.2.3.1. Đặc điểm chung: gồm khoảng 2 - 8 cấu trúc nhỏ nằm rải rác 2 bên bề mặt sau của tuyến giáp. Khối lượng: 3 g. 9.2.3.2. Chức năng: ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa Ca, P trong cơ thể. Đảm bảo hàm lượng Ca, P trong máu. Nếu hormol tuyến này dư thừa sẽ gây hiện tượng loãng xương do Ca, P bị đào thải qua nước tiểu. Nếu thiếu sẽ làm cơ thanh quản bị xẹp, bệnh nhân khó thở thiếu oxy trong máu. 9.2.4. Tuyến tụy 9.2.4.1. Đặc điểm chung: có màu xám đỏ, nằm trong ổ bụng, chia thành nhiều thùy ôm lấy tá tràng. Khối lượng khoảng 60 - 100 g. Tuyến tụy là một tuyến pha vừa nội tiết vừa ngoại tiết. 9.2.4.2. Chức năng nội tiết: tiết 2 loại hormol là insulin và glucagon điều chỉnh hàm lượng đường trong máu 9.2.5. Tuyến trên thận 9.2.5.1. Đặc điểm chung: nằm trên chóp 2 quả thận. Khối lượng khoảng 1/28 khối lượng quả thận, gồm 2 phần: phần tủy và phần vỏ. 9.2.5.2. Chức năng * Phần tủy: tiết adrenalin và noradrenalin. - Adrenalin: làm co mạch, tăng đường huyết, tăng huyết áp, tăng nhịp tim. - Noradrenalin: giảm nhịp tim, giảm huyết áp, hạ đường huyết. * Phần vỏ: tiết hormol thúc đẩy sự chuyển hóa protein thành saccarit, điều hòa Na, K, tác động đến hormol sinh dục. 9.2.6. Tuyến sinh dục 9.2.6.1. Tuyến sinh dục nam: tuyến chính là tinh hoàn, chức năng nội tiết là tiết hormol thuộc nhóm androgen để hình thành đặc điểm sinh dục ở nam giới. 56
- 9.2.6.2. Tuyến sinh dục nữ: tuyến chính là buồng trứng, chức năng nội tiết là tiết hormol thuộc nhóm oestrogen để hình thành những đặc điểm sinh dục nữ thứ phát. Câu hỏi ôn tập 1. Trình bày đặc điểm và vai trò của hormol đối với cơ thể. 2. Tuyến yên gồm mấy phần? Đặc điểm của các bệnh xuất hiện khi dư thừa hoặc thiếu hụt hormol của tuyến yên. 3. Nêu vị trí và đặc điểm của tuyến giáp. Chức năng của tuyến giáp. Đặc điểm của các bệnh xuất hiện khi dư thừa hoặc thiếu hụt hormol của tuyến giáp. 57
- Chương 10. SINH LÝ VẬN ĐỘNG * Mục tiêu - Trình bày được các kiến thức cơ bản về cấu tạo và chức phận của hệ vận động. - Hiểu được các đặc điểm phát triển của hệ vận động để áp dụng vào việc nuôi dạy trẻ em. 10.1. Hệ xương 10.1.1. Vai trò - Là cái khung của cơ thể, giúp cơ thể có một hình dáng ổn định trong không gian. - Tạo các xoang trống bảo vệ các cơ quan bên trong. - Cùng với hệ cơ thực hiện chức năng vận động. - Sinh ra hồng cầu, dự trữ muối Ca, P và những muối khác cho cơ thể. 10.1.2. Cấu tạo của hệ xương 10.1.2.1. Thành phần hóa học của xương: gồm chất vô cơ và chất hữu cơ - Chất hữu cơ: gọi là chất cốt giao chiếm 1/3 bộ xương - Chất vô cơ: chủ yếu là muối Ca, P chiếm 2/3 bộ xương Tỷ lệ 2 thành phần này thay đổi từng xương, tuổi, chế độ ăn Ví dụ: - Xương đùi chịu sức nặng của toàn cơ thể nên lượng chất vô cơ nhiều hơn. - Xương trẻ em chất hữu cơ nhiều hơn chất vô cơ nên xương có tính đàn hồi. Cơ thể càng trưởng thành lượng chất hữu cơ giảm, lượng chất vô cơ tăng. Nên người già xương cứng, giòn, dễ gãy, khó liền vết gãy. - Chế độ ăn thiếu Ca, vitamin A, D xương chậm phát triển. 10.1.2.2. Cấu tạo của xương: được cấu tạo từ 200 xương khác nhau. Các xương riêng biệt được nối với nhau bởi dây chằng và các khớp. Xương được tạo thành từ mô xương và những tổ chức khác. Bên trong là mô xương cứng, 2 đầu xương là mô xương xốp. Bên trong các xương dài chứa tủy xương có chức năng tạo máu cho cơ thể. 58
- Hình 10.1. Cấu tạo bộ xương người 59
- 10.1.2.3. Khớp xương: có 3 kiểu: - Khớp không động: các xương khớp với nhau cố định kiểu cài răng lược như xương hộp sọ, một số xương mặt. Khi cơ co xương này không cử động. - Khớp bán động: giữa 2 đầu xương khớp với nhau có một đĩa sụn làm hạn chế sự cử động của xương: khớp đốt sống. - Khớp động: là khớp phổ biến nhất: khớp vai, khớp háng, khuỷu tay, cổ tay 10.1.2.4. Bộ xương của người: chia thành 3 phần: xương thân, xương chi, xương đầu. * Xương thân: gồm xương cột sống và xương lồng ngực. - Xương cột sống: là khung nâng đỡ cơ thể, bảo vệ tủy sống. Gồm 33 - 34 đốt sống xếp chồng lên nhau, giữa các đốt sống có đĩa sụn. Có 5 đoạn: 7 đốt cổ + 12 đốt ngực + 5 đốt thắt lưng + 5 đốt cùng + 4 - 5 đốt cụt. - Xương lồng ngực: bảo vệ nội quan. Tham gia vào quá trình hô hấp gồm 12 đôi xương sườn phía trước nối với xương ức, phía sau nối với cột sống. * Xương chi: gồm xương tay và xương chân - Xương tay: gồm xương bả vai, xương đai vai, xương đòn, xương cánh tay, xương cẳng tay và xương bàn tay. - Xương chân: gồm xương dai hông, xương đùi, xương cẳng chân và xương bàn chân. Hầu hết các khớp của xương chi là khớp động nên xương chi cử động rất linh hoạt. * Xương đầu: gồm xương sọ và xương mặt - Xương sọ: gồm 8 xương nối với nhau bởi khớp bất động. - Xương mặt: gồm 13 xương nối với nhau bởi khớp bất động, chỉ có xương hàm dưới là cử động được. Xương đầu có nhiều hốc để chứa các cơ quan: tai, mắt, miệng 10.1.3. Sự phát triển xương của trẻ em Khi thai được 5 tuần tuổi mô sụn được hình thành. Đến tuần thứ 6 mô xương hình thành thay thế dần cho mô sụn. Trẻ sơ sinh bộ xương còn nhiều sụn. Trên hộp sọ còn nhiều chỗ chưa được xương hóa tạo thành các thóp. Thóp lớn là thóp trán chỉ được hóa 60
- xương hoàn toàn lúc 2 tuổi, các thóp nhỏ hơn như thóp chẩm, thóp bướm được hóa xương sớm hơn. Xương sọ phát triển nhanh trong những năm đầu. Đến 3 tuổi dung tích hộp sọ bằng 80% so với người lớn. Xương cột sống của trẻ sơ sinh chưa ổn định. Lúc đầu thẳng có nhiều sụn sau đó mới có dáng cong và hóa xương dần. Lồng ngực trẻ em có dạng tròn sau đó chuyển sang dẹt theo hướng trước sau. Khung chậu của bé trai và bé gái lúc đầu giống nhau. Sau đó xương chậu bé gái phát triển mạnh hơn để làm chức năng sinh đẻ. 10.2. Hệ cơ 10.2.1. Chức năng của hệ cơ - Cùng với hệ cơ thực hiện chức năng vận động. - Quyết định hình dáng cơ thể. - Thực hiện các chức năng: tiêu hóa, hô hấp, tuần hoàn, phát âm 10.2.2. Cấu tạo của cơ Hình 10.2. Cấu tạo của hệ cơ 61
- 10.2.2.1. Cơ trơn: lát mặt trong đường tiêu hóa, hô hấp, niệu-sinh dục, thành mạch máu. Mỗi sợi cơ trơn là một tế bào hình thoi có nhân ở giữa. Cơ trơn hoạt động không theo ý muốn của con người. 10.2.2.2. Cơ tim: có cấu tạo giống cơ vân nhưng các sợi cơ phân nhánh nhiều hơn tạo thành quả tim của người. Cơ tim hoạt động giống cơ trơn. 10.2.2.3. Cơ vân: ở người lớn cơ vân chiếm 42% khối lượng cơ thể nằm ở 2 chi, toàn thân, phần đầu và phần cuối của ống tiêu hóa. Gồm 2 phần: phần thịt và phần gân Phần thịt gồm nhiều sợi cơ xếp song song thành bó. Nhiều bó nhỏ tập hợp thành bó lớn gọi là bắp cơ. Bắp cơ nối với xương qua phần gân. Trong cơ có nhiều mạch máu và sợi thần kinh. Cơ vân hoạt động theo ý muốn của con người và có cấu tạo hợp bào do các tế bào vách ngăn ở giữa. 10.2.3. Đặc điểm và sự phát triển cơ trẻ em Mầm mống của cơ xuất hiện và bắt đầu co rút khi thai được 2 tuần tuổi. Cơ của trẻ em có hàm lượng nước cao, chất dinh dưỡng ít nên lực co cơ yếu và chóng mệt. Đến 16 - 17 tuổi hệ cơ mới phát triển hoàn chỉnh giống như người lớn. Sự phát triển của hệ cơ còn phụ thuộc vào giới tính. Trẻ dưới 9 tuổi lực cơ của nam > nữ, trẻ từ 10 - 12 tuổi hệ cơ cả nữ phát triển nhanh hơn, từ 13 - 15 tuổi hệ cơ của nam phát triển mạnh nên lực cơ của nam mạnh hơn của nữ. Câu hỏi ôn tập 1. Bộ xương người gồm mấy phần? Nêu cấu tạo và các yếu tố thành phần của từng phần. 2. Thành phần hóa học cơ bản của xương gồm những chất gì? 3. Đặc điểm cấu tạo và phát triển xương của trẻ em. Các yếu tố ảnh hưởng đến cấu tạo và sự phát triển xương của trẻ em. 4. Đặc điểm cấu tạo và phát triển cơ của trẻ em. Các yếu tố ảnh hưởng đến cấu tạo và sự phát triển cơ của trẻ em 62
- Chương 11. HỆ THẦN KINH * Mục tiêu - Trình bày được những đặc điểm cơ bản về cấu tạo và chức phận của hệ thần kinh. - Biết được các đặc điểm phát triển về mặt cấu tạo và chức phận của hệ thần kinh trong quá trình phát triển của trẻ em. 11.1. Nơ ron Là đơn vị cấu trúc và chức năng của hệ thần kinh. Chúng là những tế bào đã được biệt hóa của cơ thể. 11.1.1. Đặc điểm cấu tạo 11.1.1.1. Thân: có hình dạng, kích thước khác nhau (hình sao, cầu, tháp ). Trong thân có thể Nissl nên thân có màu xám. Những nơi tập trung của thân tạo thành chất xám của hệ thần kinh. Trong thân chứa nhân của nơron. 11.1.1.2. Tua ngắn: xuất phát từ thân của nơron gồm nhiều sợi ngắn tập trung thành chùm tỏa ra xung quanh. 11.1.1.3. Sợi trục: là một sợi dài từ 2 - 2 mm đầu tận cùng chia thành nhiều nhánh. Mỗi nhánh có một cúc tận cùng chứa μtrungm gian dẫn truyền xung động thần kinh. Nếu sợi trục có bao mielin bao bọc ngắt quãng thì khoảng không có bao mielin gọi là eo ranvier. Những sợi có mielin tạo thành chất trắng của hệ thần kinh. 11.1.1.4. Xynap: là nơi tiếp xúc giữa đầu tận cùng của tế bào thần kinh này với tua ngắn của tế bào thần kinh khác. Trong xynap chứa chất trung gian dẫn truyền xung động thần kinh. 11.1.2. Chức năng của nơron Dẫn truyền xung động thần kinh từ trục ngắn qua thân đến sợi trục rồi chuyển sang tua ngắn của nơron khác nhờ chất trung gian trong xynap. Tốc độ dẫn truyền xung động phụ thuộc vào đặc điểm cấu tạo của nơron. Những sợi có đường kính lớn dẫn truyền nhanh hơn những sợi có đường kính nhỏ. Các sợi có màng mielin tốc độ dẫn 63
- truyền nhanh vì xung động thần kinh được truyền theo kiểu nhảy cóc qua các eo ranvier. Những sợi không có eo ranvier xung động thần kinh được truyền liên tục nên tốc độ chậm hơn. Ở trẻ em tốc độ dẫn truyền hưng phấn rất chậm. Đến 2 - 3 tuổi các sợi thần kinh cơ bản đã được mielin hóa xong nên tốc độ dẫn truyền tương đương người lớn nhưng sự hưng phấn không kéo dài. Nên ở trẻ em sự tập trung chú ý của chúng không bền vững. 11.2. Cấu tạo và chức năng của hệ thần kinh - Hệ thần kinh ngoại biên: dây thần kinh + hạch thần kinh + cơ quan thụ cảm. - Hệ thần kinh trung ương: não bộ + tủy sống. 11.2.1. Hệ thần kinh ngoại biên 11.2.1.1. Cơ quan thụ cảm: là đầu tận cùng của các sợi thần kinh, có nhiệm vụ tiếp nhận kích thích tạo thành xung động thần kinh. 11.2.1.2. Dây thần kinh: là một bó sợi thần kinh được bao bọc chung bằng màng mielin. Dây thần kinh sọ xuất phát từ não có 12 đôi. Dây thần kinh tủy xuất phát từ tủy sống có 31 đôi. Dựa vào chức năng người ta chia thành 3 loại: - Dây hướng tâm: dẫn truyền xung động thần kinh từ các cơ quan thụ cảm về trung ương thần kinh (dây thần kinh sọ số I, II, VIII, rễ sau của tủy sống). - Dây li tâm: dẫn truyền xung động thần kinh từ trung ương thần kinh đến các cơ quan thụ cảm (dây thần kinh sọ số III, VI, XI, XII, rễ trước của tủy sống). - Dây pha: thực hiện cả 2 chức năng trên. 11.2.2. Bộ phận trung ương thần kinh 11.2.2.1. Tủy sống: * Cấu tạo: dài chừng 45 cm. Phía trên tiếp giáp với hành tủy, tận cùng ở ngang thắt lưng thứ I - II ở người trưởng thành. Nếu cắt ngang qua tủy sống ta thấy rõ 2 phần: - Phần chất trắng nằm ngoài gồm những sợi thần kinh chạy dọc cột sống. 64
- - Phần chất xám nằm trong có hình cánh bướm gồm những thân thần kinh và tua ngắn tạo nên. * Chức năng: - Điều khiển phản xạ vận động của cơ thể. - Điều tiết hoạt động của các cơ quan: tuần hoàn, tiêu hóa, hô hấp, niệu - sinh dục Hình 11. 1. Cấu tạo cắt ngang của tủy sống 11.2.2.2. Não bộ * Hành tủy - Cấu tạo: là nơi tiếp giáp với tủy sống dài khoảng 28 mm có chất xám ở trong, chất trắng ở ngoài là đường đi của mọi dẫn truyền lên xuống giữa não bộ và tủy sống. Từ hành tủy xuất phát 4 đôi dây thần kinh não từ IX → XII. - Chức năng: điều khiển hoạt động tuần hoàn, tiêu hóa, hô hấp. 65
- Hình 11. 2. Cấu tạo chung của não *Tiểu não - Cấu tạo: có 2 thùy nằm dưới bán cầu não phía sau hành tủy. Bề mặt của tiểu não có nhiều nếp nhăn chia tiểu não thành nhiều thùy. - Chức năng: điều khiển sự phối hợp hoạt động giữa tay và chân, giữ cho cơ thể được thăng bằng. * Não giữa - Cấu tạo: nằm phía trên hành tủy có chất xám ở ngoài, chất trắng ở trong. - Chức năng: điều khiển các hoạt động tinh vi của tay, những phản xạ định hướng về thị giác, thính giác như liếc mắt, quay đầu về phía ánh sáng, tiếng động * Não trung gian - Cấu tạo: là nơi tiếp giáp giữa não giữa và 2 bán cầu não. - Chức năng: là trạm dừng của mọi đường thần kinh cảm giác trước khi lên vỏ não. Là trung tâm của các phản xạ: đau, cảm xúc, điều hòa thân nhiệt, nội tiết, dinh dưỡng 66
- * Bán cầu não - Cấu tạo: là phần lớn nhất (chiếm 80% khối lượng não), quan trọng nhất của hệ thần kinh trung ương. Gồm 2 nửa trái và phải nối liền nhau qua thể chai. Có nhiều khúc cuộn và nếp nhăn giúp diện tích của vỏ não tăng lên rất nhiều (1700 - 2000 cm2). Có 2 lớp: + Lớp chất xám bao quanh 2 bán cầu gọi là vỏ não, nơi tập trung của nhiều nơron (khoảng 100 tỉ, dày 3 - 4 mm). + Lớp chất trắng nằm trong được cấu tạo bởi các sợi thần kinh. Làm thành hệ thống dẫn truyền nối liền giữa não bộ và tủy sống với các cơ quan khác trong cơ thể. - Chức năng: là trung tâm của phản xạ có điều kiện, tình cảm, tâm lý, trí khôn, tư duy trừu tượng, hiểu tiếng nói, chữ viết, vận động 11.3. Đặc điểm phát triển hệ thần kinh trẻ em Ở phôi người hệ thần kinh phát triển sớm lúc phôi được 2 tuần rưỡi. Sau đó phần trước phát triển mạnh thành não bộ, phần sau phát triển thành tủy sống. Khi ra đời hệ thần kinh đã có cấu tạo đầy đủ, số lượng nơron ở vỏ não đã ổn định. Nhờ đó trẻ em đã có phản xạ không điều kiện bẩm sinh: bú, nắm, định hướng ánh sáng, tiếng động, đau, 11.3.1. Sự biến đổi của não bộ Trẻ sơ sinh não có khối lượng 400 g. Đến 6 tháng tuổi khối lượng tăng gấp đôi. Đến 3 tuổi khối lượng não đã tương đương người lớn (1300 g). Đến tuổi trưởng thành khối lượng não không đổi. Ở vỏ não có sự phát triển mạnh của đường dẫn truyền. Đến 7 tuổi vỏ não của trẻ em cơ bản giống người lớn. Số lượng nơron không tăng nhưng có sự phân hóa mạnh và lớn lên. làm diện tích của vỏ não tăng lên rất nhiều. Chủ yếu là nhiều khúc cuộn và lõm sâu vào. Sự mielin hóa các sợi thần kinh diễn ra vào tháng thứ 4 của giai đoạn thai. Đến 2 - 3 tuổi thì hoàn tất giúp cho vận tốc dẫn truyền xung động thần kinh tăng từ 10 - 12 lần. 67
- 11.3.2. Sự biến đổi của tủy sống Trong giai đoạn phôi tháng thứ nhất tủy sống nằm suốt cột sống. Trong quá trình phát triển tủy sống phát triển chậm hơn cột sống. Ở trẻ mới sinh tủy sống nằm ngang thắt lưng thứ III. Đến giai đoạn trưởng thành tủy sống nằm ngang thắt lưng thứ I - II. Câu hỏi ôn tập 1. Trình bày đặc điểm cấu tạo và chức phận của tủy sống. 2. Trình bày đặc điểm cấu tạo và chức phận của não bộ. 3. Trình bày đặc điểm phát triển của hệ thần kinh ở trẻ em. 68
- Chương 12. CƠ QUAN PHÂN TÍCH * Mục tiêu - Biết được các đặc điểm cơ bản về mặt cấu tạo và chức phận của các cơ quan phân tích. - Hiểu được sự phát triển của các cơ quan phân tích trong quá trình phát triển trẻ em - Biết cách vận dụng các kiến thức của chương vào việc giáo dục trẻ em. 12.1. Đại cương về các cơ quan phân tích 12.1.1. Đặc điểm cấu tạo: Mỗi cơ quan phân tích gồm 3 phần: - Cơ quan cảm nhận: là đầu tận cùng của các nơron đã được chuyên hóa có khả năng nhạy cảm với một kích thích nhất định. Ví dụ: mắt nhận ánh sáng, tai nhận âm thanh - Bộ phận dẫn truyền: là dây thần kinh hướng tâm có nhiệm vụ dẫn truyền hưng phấn từ cơ quan nhận cảm về trung ương. - Bộ phận trung ương: nằm trên vỏ não, mỗi cơ quan phân tích có một vùng tương ứng trên vỏ não. 12.1.2. Vai trò - Giúp cơ thể tiếp nhận được những thông tin từ môi trường để đáp ứng kịp thời. - Mỗi cơ quan phân tích giúp cơ thể nhận biết được một đặc tính riêng rẽ của sự vật hiện tượng. Các cơ quan phân tích phối hợp với nhau cho chúng ta một thông tin đầy đủ về sự vật, hiện tượng đó. - Khi một cơ quan bị tổn thương, mất tác dụng thì các cơ quan khác được tăng cường để thay thế một phần cơ quan bị tổn thương. 12.2. Cấu tạo và chức năng của các cơ quan phân tích 12.2.1. Da 69
- 12.2.1.1. Cấu tạo chung của da: bề mặt da là một vùng thụ cảm lớn. Thụ quan của da có 3 loại: xúc giác, nhiệt độ (nóng, lạnh) và đau. Các thụ quan phân bố không đồng đều trên bề mặt da. - Thụ quan xúc giác: có cấu tạo khác nhau và phụ thuộc vào mức độ phủ lông trên bề mặt. - Thụ quan nhiệt độ: có 2 loại chuyên kích thích lạnh và chuyên kích thích nóng. - Thụ quan đau: là các tận cùng thần kinh nằm giữa các tế bào biểu mô. 12.2.1.2. Chức năng của da: - Xúc giác: tiếp thu các kích thích cơ học, nhận biết về độ lớn, hình dạng của vật. - Cảm giác về nhiệt độ: thu nhận kích thích về nhiệt. - Thụ cảm đau: bảo vệ cơ thể dưới tác động của kích thích gây tổn thương cho cơ thể. 12.2.2. Cơ quan phân tích thính giác 12.2.2.1. Cấu tạo: - Bộ phận dẫn truyền: đôi dây thần kinh thính giác (đôi dây thần kinh sọ số VIII). - Bộ phận trung ương: vùng thính giác ở thùy thái dương. - Bộ phận nhận cảm: tai. Gồm tai ngoài, tai giữa, tai trong + Tai ngoài: gồm có vành tai thu và định hướng âm thanh. Ống tai truyền âm thanh vào tai giữa. Màng nhĩ rung lên khi có tiếng động và âm thanh. + Tai giữa: gồm khoang tai giữa, ống eustach, chuỗi xương tai. * Khoang tai giữa: nằm trong hốc xương thái dương nối với vùng mũi họng qua ống eustach giúp giảm sức căng áp suất giữa tai ngoài và tai giữa. * Chuỗi xương tai: xương búa, xương đe, xương bàn đạp. Những xương này nối với màng nhĩ nhờ đó âm thanh được khuếch đại lên nhiều lần. Khi áp lực không khí giữa tai giữa và tai ngoài cân bằng màng nhĩ rung động bình thường. Nếu áp lực 2 bên chênh lệch (bên ngoài > bên trong) thì màng có thể bị rách. Để cân bằng áp lực cần nuốt nước bọt. + Tai trong: gồm một hệ thống mê lộ. Có 2 phần: 70
- * Phần trên gồm 3 ống bán khuyên nằm trên 3 mặt phẳng vuông góc với nhau và thông với tiền đình tạo cảm giác thăng bằng trong không gian. * Ốc tai: là phần xoắn trôn ốc gồm 2.5 vòng. Trong đó chứa cơ quan corti thu nhận âm thanh. Cơ quan corti gồm nhiều dây mảnh, mỗi dây nối với một dây thần kinh thính giác. Hình 12.1. Cấu tạo của tai 12.2.2.2. Chức năng: - Tai là cơ quan thu nhận âm thanh, tai người chỉ thu nhận âm thanh với tần số nhất định: 16 - 20000 Hz. - Điều chỉnh cảm giác thăng bằng: là bộ phận tiền đình nằm trong tai trong. 12.2.2.3. Đặc điểm cơ quan phân tích thính giác ở trẻ em: cơ quan phân tích của trẻ hình thành rất sớm ngay thời kỳ đầu của phát triển phôi thai. Trẻ sơ sinh đã có khả năng định hướng âm thanh. Có khả năng thu nhận âm thanh với tần số cao hơn người 71
- lớn. Ống eustach ngắn, rộng, nằm ngang nên trẻ dễ bị viêm tai giữa nhất là khi nhiễm trùng vùng hầu. 12.2.3. Cơ quan phân tích thị giác 12.2.3.1. Cấu tạo Hình 12.2. Cấu tạo của mắt 72
- - Bộ phận dẫn truyền: đôi dây thần kinh thị giác (đôi dây thần kinh sọ số II). - Bộ phận trung ương: trung khu thị giác nằm ở thùy chẩm của bán cầu não. - Bộ phận nhận cảm: mắt gồm cầu mắt và các phần phụ của mắt. + Các phần phụ: lông mày, lông mi có tác dụng cản mồ hôi, bụi và các vật nhỏ không cho chúng rơi vào mắt. Tuyến lệ tiết nước mắt để rửa sạch mắt, sát khuẩn. + Cầu mắt: có dạng hình cầu, đường kính 24 mm trước lồi sau lõm. Phía ngoài có 3 lớp màng: màng cứng, màng mạch, màng lưới. Bên trong có thể thủy tinh, chất dịch và nhân mắt. 12.2.3.2. Cơ chế cảm thụ ánh sáng: mắt là một hệ thống quang học. Khi ánh sáng của vật phản chiếu vào mắt thì tạo được một ảnh nhỏ, ngược chiều. Nhờ vỏ não phân tích ta biết được hình ảnh của vật. Ở người có 2 loại tế bào nhận ánh sáng: tế bào que thu nhận ánh sáng yếu (ban tối), tế bào nón thu nhận ánh sáng mạnh (ban ngày). Những tế bào này có khả năng biến kích thích ánh sáng thành hưng phấn thần kinh vì chúng chứa rodopxin ở tế bào que và iodopxin ở tế bào nón. Ngoài ánh sáng: rodopxin → opxin + retinen Retinen là dẫn xuất của vitamin A. Khi retinen tách khỏi opxin làm xuất hiện hưng phấn thần kinh thị giác. Trong tối thì ngược lại: opxin + retinen → rodopxin Người bị bệnh quáng gà là do rối loạn tế bào que nên cần bổ sung lượng vitamin A cần thiết cho cơ thể. 12.2.3.3. Cơ chế nhìn màu: ở người có 3 loại tế bào nón. Mỗi loại cảm nhận một bước sóng nhất định. Gồm 3 màu: đỏ, lục, tím. Ba loại tế bào này hưng phấn với tỉ lệ khác nhau cho ta cảm giác màu khác nhau. Nếu mất khả năng cảm nhận ánh sáng gọi là bệnh mù màu. Ở người thường gặp bệnh đantôn không phân biệt được màu đỏ với màu lục. 73
- 12.2.3.4. Sự điều tiết của mắt: muốn nhìn rõ vật thì vật đó phải hiện lên trên màng lưới. Nếu vật ở trước hoặc sau màng lưới thì mắt phải điều tiết bằng cách thay đổi độ cong của thủy tinh thể. Nếu vật ở gần thì ảnh hiện sau màng lưới nên thủy tinh thể phồng lên và ngược lại nếu vật ở xa thì ảnh hiện trước màng lưới nên thủy tinh thể xẹp xuống. 12.2.3.5. Các tật của mắt: - Cận thị: mắt có khả năng nhìn gần. Do đường kính trước sau của mắt quá lớn hoặc do thủy tinh thể phồng quá. Nên ảnh hiện trước màng lưới, những vật ở gần mới hiện trên màng lưới. Người cận phải đeo kính lõm (kính phân kỳ). - Viễn thị: mắt có khả năng nhìn xa. Do đường kính trước sau của mắt quá nhỏ hoặc do thủy tinh thể xẹp quá. Nên ảnh hiện sau màng lưới, những vật ở xa mới hiện trên màng lưới. Trường hợp này thường gặp ở người già do khả năng điều tiết của mắt kém thủy tinh thể không phồng lên như lúc trẻ. Người viễn thị phải đeo kính lồi (kính hội tụ). - Loạn thị: hình ảnh của vật bị bóp méo theo những cách khác nhau do độ cong của giác mạc và thủy tinh thể không đều. Người bị bệnh phải sử dụng kính riêng cho từng trường hợp cụ thể. 12.2.3.6. Đặc điểm phát triển thị giác của trẻ: trong thời kỳ phát triển phôi thai, các yếu tố thần kinh thị giác xuất hiện vào tháng thứ 3 đến tháng thứ 9 thì hoàn chỉnh. Khi ra đời cảm nhận ánh sáng của trẻ được đánh giá qua phản xạ đồng tử, nháy mắt và ngước lên. 12.2.4. Cơ quan phân tích khứu giác 12.2.4.1. Cấu tạo: - Bộ phận dẫn truyền: là đôi dây thần kinh khứu giác (dây thần kinh sọ số I). - Bộ phận trung ương: vùng khứu giác dưới thùy trán của bán cầu não. - Bộ phận nhận cảm: những tế bào khứu giác nằm trong màng nhầy xoang mũi. Vùng khứu giác rộng khoảng 5 cm2 chứa khoảng 16 triệu tế bào. Các tế bào này có nhiều tiêm mao nhờ đó mà diện tích tiếp xúc với không khí đạt tới 5 m2 74
- 12.2.4.2. Cơ chế cảm thụ mùi: con người có thể cảm nhận được mùi vị với nồng độ rất -5 -9 thấp như ête: 10 g/lít không khí, H2S: 10 g/lít không khí. Khả năng nhận được mùi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trạng thái của cơ thể, điều kiện sống. Nếu chúng ta tiếp xúc nhiều với mùi đó thì sẽ không nghe mùi đó nữa hoặc khi niêm mạc bị viêm nhiễm, trung khu khứu giác bị tổn thương gây hiện tượng “điếc mũi”. 12.2.4.3. Đặc điểm phát triển khứu giác trẻ: ở thai nhi niêm mạc khứu giác xuất hiện vào tháng thứ 2. Các phản xạ mùi có được sau khi sinh 4 tuần đến 5 - 6 tuổi thì tương đương người lớn. 12.2.5. Cơ quan phân tích vị giác 12.2.5.1 Cấu tạo: - Bộ phận dẫn truyền: các đôi dây thần kinh sọ số V, VII, IX, XI. - Bộ phận trung ương: thùy đỉnh của bán cầu đại não. - Bộ phận nhận cảm: những chồi vị giác nằm rải rác trên bề mặt lưỡi. 12.2.5.2. Cơ chế cảm thụ vị giác: có 4 loại vị giác cơ bản là ngọt, đắng, chua, mặn. Những chất này tác động lên cơ quan vị giác khi được hòa tan trong chất lỏng đặc biệt là nước bọt (nếu lưỡi khô thì không có cảm giác về vị). Độ nhạy về vị giác đối với lưỡi là không giống nhau: đầu lưỡi nhạy cảm với vị ngọt, gốc lưỡi nhạy cảm với vị đắng, mép lưỡi nhạy cảm với vị chua, 2 bên bờ lưỡi nhạy cảm với vị mặn. Ngoài ra cảm giác về vị giác còn phụ thuộc vào trạng thái sức khỏe của cơ thể. 12.2.5.3. Đặc điểm phát triển vị giác ở trẻ: trẻ em có thể phân biệt được 4 vị giác cơ bản, đến 6 tuổi thì tương đương người lớn. Câu hỏi ôn tập 1. Nêu đặc điểm cấu tạo và cơ chế cảm thụ ánh sáng của cơ quan phân tích thị giác. 2. Nêu đặc điểm cấu tạo và chức năng của cơ quan phân tích thính giác. 3. Trình bày các tật của mắt và cách phòng tránh các tật của mắt. 4. Trình bày sự phát triển của các cơ quan phân tích trong quá trình phát triển trẻ em. 75



