Bài giảng Khái quát văn học Việt Nam 1945-1975

ppt 32 trang ngocly 100 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Khái quát văn học Việt Nam 1945-1975", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pptbai_giang_khai_quat_van_hoc_viet_nam_1945_1975.ppt

Nội dung text: Bài giảng Khái quát văn học Việt Nam 1945-1975

  1. KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM 1945-1975
  2. I. Bối cảnh xã hội, lịch sử và văn hóa ❑ Sự lãnh đạo của Đảng với đường lối văn nghệ xuyên suốt là yếu tố trọng yếu chấm dứt sự phân hóa phức tạp của văn hóa và văn học nước ta những năm trước 45, tạo nên một nền văn nghệ khá thống nhất về tư tưởng. ❑ Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ suốt 30 năm đã tác động sâu sắc, toàn diện tới đời sống tinh thần nói chung và đời sống văn học nói riêng. ❑ Nền kinh tế chậm phát triển, điều kiện giao lưu văn hóa bị hạn chế đã có ảnh hưởng không nhỏ đến văn học.
  3. II. Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu Chặng 1: Kháng chiến chống Pháp (1945- 1954) ▪ Nội dung chủ đạo: 1945-1946: Đây là thời kỳ văn học chuyển mình. Văn học cách mạng là trào lưu chủ đạo, chi phối, nhưng vẫn còn đan xen với những xu hướng văn học khác. 1946-1954: Văn học gắn bó sâu sắc với đời sống cách mạng và kháng chiến; hướng tới khám phá sức mạnh và phẩm chất tốt đẹp của quần chúng công nông binh; thể hiện niềm tự hào dân tộc và niềm tin vào tương lai tất thắng của kháng chiến.
  4. “Cái giờ nghiêm trọng của đời mày đang điểm. Bây giờ hoặc là không bao giờ nữa, mày phải cương quyết. Không có thứ nhân đạo nào cấm mày không được tàn nhẫn ngay với mày. Mày hãy diệt hết những con người cũ ở trong mày đi – những con người mà mày mệnh danh là cố nhân, theo một cái cố tật ưa du dương với kỷ niệm. Đào thải, chưa đủ. Phải tàn sát. Giết, giết hết. Thò đứa nào ở dĩ vãng hiện về đòi hỏi bất cứ một tí gì của mày bây giờ, là mày phải giết ngay. Mày phải tự hoại nội tâm của mày đi đã. Mà hãy lấy mày ra làm lửa mà đốt cháy hết những phong cảnh cũ của tâm tưởng mày” Chàng chạy ra đường. Ngoài đường, cuộc Cách Mệnh đang bước dài trên khắp ngả phố. Trên các cửa sổ mở, gió đời lùa cờ máu bay theo một chiều Nguyễn thấy mệt mỏi trong lòng và trên thân chàng thì xót nhức vô cùng. Thì ra, lúc ở nhà ra đi, chàng vừa chịu xong một cái nhục hình. Lý trí đã lột hết lượt da trên mình Nguyễn Cái luồng gió ban nãy thổi cờ máu, thổi mãi vào thịt non Nguyễn đang se dần lại. Nguyễn thèm đến một con rắn mỗi năm thoát xác một lần Trích “Lột xác” (1946) Nguyễn Tuân
  5. II. Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu Chặng 1: Kháng chiến chống Pháp (1945- 1954) ▪ Những thành tựu chủ yếu: a/ Văn xuôi: + Mở đầu cho văn xuôi kháng chiến là truyện ngắn và ký (Một lần tới thủ đô - Trần Đăng, Đôi mắt, Ở rừng - Nam Cao, Làng - Kim Lân, Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài ) + Từ 1951 mới xuất hiện những tác phẩm tiểu thuyết dày dặn (Vùng mỏ - Võ Huy Tâm, Đất nước đứng lên – Nguyên Ngọc ) b/ Thơ: + Đạt được những thành tựu bước đầu về cách tân nghệ thuật, phát triển lối thơ tự do (Màu tím hoa sim – Hữu Loan, Tình sông núi, Nhớ máu - Trần Mai Ninh, Không nói, Đêm mít tinh - Nguyễn Đình Thi ) và lối thơ dân tộc (Cá nước, Bầm ơi - Tố Hữu )
  6. Ơ cái gió Tuy Hoà Cái gió chuyên cần Và phóng túng. Và Khánh Hoà vĩ đại! Gió đi ngang, đi dọc, Mắt ta căng lên Gió trẻ lại - lưng chừng Cả mặt Gió nghĩ Cả người, Gió cười, Cả hồn ta sát tới Gió reo lên lồng lộng. Nhìn mi! Ta có nhớ Tôi đã thấy lòng tôi dậy Những con người Rồi đây Đã bước vào bất tử! Còn mấy bước tới Nha Trang Ơ, những người! - A, gần lắm! Đen như mực, đặc thành keo TRẦN MAI NINH Ta gần máu, Tròn một củ (1917-1947) Ta gần người, Hay những người gầy sắt lại Ta gần quyết liệt. Mặt rẹt một đường gươm Lạnh gáy Ơi hỡi Nha Trang! Lòng bàn tay Cái đô thành vĩ đại Khắc ấn chuỗi dao găm. Biết bao người niệm đọc tên mi. Chân bọc sắt, Mắt khoét thủng đêm dày Nhớ máu – Trần Mai Ninh
  7. NHỚ Ba năm rồi gửi lại quê hương. Mái lều gianh, Hồng Nguyên Tiếng mõ đêm trường, Luống cày đất đỏ Lũ chúng tôi Ít nhiều người vợ trẻ Bọn người tứ xứ, Mòn chân bên cối gạo canh khuya Gặp nhau từ hồi chưa biết chữ Chúng tôi đi Biết nhau từ buổi “một hai” Nắng mưa sờn mép ba lô, Súng bắn chưa quen, Tháng năm bạn cùng thôn xóm. Quân sự mươi bài Nghỉ lại lưng đèo Lòng vẫn cười vui kháng chiến Nằm trên dốc nắng. Lột sắt đường tàu, Kì hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng. Rèn thêm đao kiếm, Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa. Áo vải chân không, - Đằng nớ vợ chưa? Đi lùng giặc đánh. - Đằng nớ? - Tớ còn chờ độc lập. Cả lũ cười vang bên ruộng bắp, Nhìn o thôn nữ cuối nương dâu.
  8. NHỚ Hồng Nguyên [ ] Bếp lửa rung rung đôi vai đồng chí Chúng tôi đi mang cuộc đời lưu động, - Thưa trong nớ hiện chừ vô cùng gian khổ, Đồng bào ta phải kháng chiến ra ri. Qua nhiều nơi không nhớ hết tên làng. Đã nghỉ lại rất nhiều nhà dân chúng Đêm đó chúng tôi đi Tôi nhớ bờ tre gió lộng Nòng súng nghiêng nghiêng, Làng xuôi xóm ngược mái rạ như nhau Đường mòn thấp thoáng Có nắng chiều đột kích mấy hàng cau. Trong điếm nhỏ, Có tiếng gà gáy xóm, Mươi người trai tráng, Có “Khai hội, yêu cầu, chất vấn!” Sờ chuôi lựu đạn. Có mẹ hiền bắt rận cho những đứa con xa. Ngồi thổi nùn rơm Thức vừa rạng sáng. Trăng lên tập hợp hát om nhà. Nhìn trời sương nhẩm bước chúng tôi đi Tôi nhớ Chúng tôi đi nhớ nhất câu ni: Giường kê cánh cửa, Dân chúng cầm tay lắc lắc: Bếp lửa khoai vùi “Độc lập nhớ rẽ viền chơi ví chắc!” Đồng chí nứ vui vui, Đồng chí nứ dạy tôi dăm tối chữ, Đồng chí mô nhớ nữa, Kể chuyện Bình – Trị – Thiên, Cho bầy tôi nghe ví,
  9. KHÔNG NÓI Dừng chân trong mưa bay Liếp nhà ai ánh lửa Nguyễn Đình Thi Yên lặng đứng trước nhau Dừng chân trong mưa bay Em em nhìn đi đâu ướt đầm mái tóc Em sao em không nói Em em nhìn đi đâu Mưa rơi ướt mái đầu Mỗi đứa một khăn gói Môi em đôi mắt Còn ôm đây Ngày nào lần gặp sau Nhìn em nữa Ngập ngừng không dám hỏi Chuyến này chắc lại lâu Phút giây Đoàn thể gọi Chiều mờ gió hút Chiều mờ gió hút Em Nào đồng chí - bắt tay Bóng nhỏ Đường lầy. Em Bóng nhỏ 1948 Đường lầy.
  10. BẦM ƠI Tố Hữu Nhớ thương con bầm yên tâm nhé Ai về thăm mẹ quê ta Bầm của con, mẹ Vệ quốc quân. Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm Con đi xa cũng như gần Anh em đồng chí quây quần là con. Bầm ơi có rét không bầm! Bầm yêu con, yêu luôn đồng chí Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn Bầm quý con, bầm quý anh em. Bầm ra ruộng cấy bầm run Bầm ơi, liền khúc ruột mềm Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non Có con có mẹ, còn thêm đồng bào Mạ non bầm cấy mấy đon Con đi mỗi bước gian lao Ruột gan bầm lại thương con mấy lần. Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm! Mưa phùn ướt áo tứ thân Bao bà cụ từ tâm như mẹ Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu! Yêu quý con như đẻ con ra. Cho con nào áo nào quà Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều Cho củi con sưởi, cho nhà con ngơi. Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe! Con đi, con lớn lên rồi Con đi trăm núi ngàn khe Chỉ thương bầm ở nhà ngồi nhớ con! Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm Nhớ con, bầm nhé đừng buồn Giặc tan, con lại sớm hôm cùng bầm. Con đi đánh giặc mười năm Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi. Mẹ già tóc bạc hoa râm Con ra tiền tuyến xa xôi Chiều nay chắc cũng nghe thầm tiếng con Yêu bầm yêu nước, cả đôi mẹ hiền.
  11. II. Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu Chặng 1: Kháng chiến chống Pháp (1945- 1954) Giai đoạn này chứng kiến sự hình thành của NỀN VĂN NGHỆ MỚI: Văn học bật lên từ cuộc sống đời thường nhộn nhịp và gian khổ của kháng chiến, khắc họa hình ảnh nhân dân kháng chiến.
  12. II. Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu Chặng 2: Kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam và xây dựng XHCN ở miền Bắc (1955- 1964) ▪ Nội dung bao trùm: Hình ảnh con người mới xã hội chủ nghĩa. ▪ Những thành tựu chủ yếu: a/ Văn xuôi: mở rộng đề tài - Đề tài kháng chiến chống Pháp (Sống mãi với thủ đô - Nguyễn Huy Tưởng, Cao điểm cuối cùng - Hữu Mai ) - Đề tài hiện thực đời sống trước cách mạng tháng Tám (Vợ nhặt - Kim Lân, Vỡ bờ - Nguyễn Đình Thi, Cửa biển – Nguyên Hồng ) - Đề tài công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn với sự đổi đời của con người (Sông Đà - Nguyễn Tuân, Mùa lạc - Nguyễn Khải, Cái sân gạch - Đào Vũ )
  13. II. Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu Chặng 2: Kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam và xây dựng XHCN ở miền Bắc (1955- 1964) ▪ Những thành tựu chủ yếu: b/ Thơ: tiếp tục đẩy mạnh những tìm tòi, đổi mới về nghệ thuật. Thơ tự do ngày càng mở rộng, phong phú về hình thức (Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên)
  14. Xanh biếc màu xanh, bể như hàng nghìn mùa thu qua còn để tâm hồn nằm đọng lại Sóng như hàng nghìn trưa xanh trời đã tan xanh ra thành bể và thôi không trở lại làm trời Nếu núi là con trai thì bể là phần yểu điệu nhất của quê hương đã biến thành con gái Mỗi đêm hè, da thịt sóng sinh sôi. (Cành phong lan bể - Chế Lan Viên)
  15. Quê hương Giang Nam Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ “Ai bảo chăn trâu là khổ?” Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao Hòa bình tôi trở về đây Những ngày trốn học Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày Đuổi bướm cầu ao Lại gặp em Mẹ bắt được Thẹn thùng nép sau cánh cửa Chưa đánh roi nào đã khóc! Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ Có cô bé nhà bên Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!) Nhìn tôi cười khúc khích Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi Cách mạng bùng lên Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng Rồi kháng chiến trường kỳ Hôm nay nhận được tin em Quê tôi đầy bóng giặc Không tin được dù đó là sự thật Từ biệt mẹ, tôi đi Giặc bắn em rồi, quăng mất xác Cô bé nhà bên – (có ai ngờ) Chỉ vì em là du kích, em ơi! Cũng vào du kích Đau xé lòng anh, chết nửa con người! Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!) Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm Giữa cuộc hành quân không nói được một lời Có những ngày trốn học bị đòn roi Đơn vị đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi Có một phần xương thịt của em tôi.
  16. II. Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu Chặng 3: Toàn quốc chống Mỹ (1965 - 1975) ▪ Nội dung chủ đạo: phản ánh cuộc kháng chiến chống Mỹ và xây dựng hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ. ▪ Những thành tựu chủ yếu: a/ Văn xuôi: Truyện và ký phát triển mạnh ở cả 2 miền Nam Bắc nhằm phản ánh chính xác và kịp thời hiện thực kháng chiến (Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi – Nguyễn Tuân, Người mẹ cầm súng – Nguyễn Thi, Hòn Đất – Anh Đức ) b/ Thơ: + Đào sâu chất hiện thực, suy tưởng, chính luận. + Hình thành một lớp nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ (Bằng Việt, Nguyễn Duy, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Khoa Điềm ) + Thơ tự do và trường ca là hai thể loại phát triển mạnh mẽ.
  17. BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH Không có kính không phải vì xe không có kính Không có kính, ừ thì có bụi, Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi Bụi phun tóc trắng như người già Ung dung buồng lái ta ngồi, Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng. Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha. Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Không có kính, ừ thì ướt áo Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Như sa, như ùa vào buồng lái. Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi. Những chiếc xe từ trong bom rơi Ðã về đây họp thành tiểu đội Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi. Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm. Không có kính, rồi xe không có đèn, Không có mui xe, thùng xe có xước, Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim. PHẠM TIẾN DUẬT (1941-2007)
  18. LƯU QUANG VŨ (1948-1988) – XUÂN QUỲNH (1942-1988)
  19. Tiếng gà trưa Xuân Quỳnh Trên đường hành quân xa Tiếng gà trưa Dừng chân bên xóm nhỏ Có tiếng bà vẫn mắng: Tiếng gà ai nhảy ổ: - Gà đẻ mà mày nhìn "Cục cục tác cục ta" Rồi sau này lang mặt! Nghe xao động nắng trưa Cháu về lấy gương soi Nghe bàn chân đỡ mỏi Lòng dại thơ lo lắng Nghe gọi về tuổi thơ Ôi cái quần chéo go Tiếng gà trưa Ống rộng dài quét đất Tiếng gà trưa Tay bà khum soi trứng Cái áo cánh chúc bâu Ổ rơm hồng những trứng Dành từng quả chắt chiu Đi qua nghe sột soạt Này con gà mái tơ Cho con gà mái ấp Khắp mình hoa đốm trắng Tiếng gà trưa Này con gà mái vàng Cứ hàng năm hàng năm Mang bao nhiêu hạnh phúc Lông óng như màu nắng Khi gió mùa đông tới Đêm cháu về nằm mơ Bà lo đàn gà toi Giấc ngủ hồng sắc trứng Mong trời đừng sương muối Để cuối năm bán gà Cháu được quần áo mới Cháu chiến đấu hôm nay Vì lòng yêu tổ quốc Vì xóm làng thân thuộc Bà ơi, cũng vì bà Vì tiếng gà cục tác Ổ trứng hồng tuổi thơ.
  20. HẠT GẠO LÀNG TA Hạt gạo làng ta Hạt gạo làng ta Hạt gạo làng ta Có bão tháng bảy Những năm bom Mỹ Trút trên mái nhà Có vị phù sa Có mưa tháng ba Giọt mồ hôi sa Những năm khẩu súng Của sông Kinh Thầy Những trưa tháng sáu Theo người đi xa Có hương sen thơm Nước như ai nấu Những năm băng đạn Vàng như lúa đồng Trong hồ nước đầy Chết cả cá cờ Cua ngoi lên bờ Bát cơm mùa gặt Có lời mẹ hát Thơm hào giao thông Mẹ em xuống cấy Ngọt bùi đắng cay. Hạt gạo làng ta Có công các bạn Sớm nào chống hạn Vục mẻ miệng gàu Trưa nào bắt sâu Lúa cao rát mặt Chiều nào gánh phân Quang trành quét đất Hạt gạo làng ta Gửi ra tiền tuyến Gửi về phương xa Em vui em hát Hạt vàng làng ta. TRẦN ĐĂNG KHOA (1958-)
  21. III. Những đặc điểm cơ bản 1. Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước ▪ Mô hình nhà văn – chiến sĩ ▪ Nội dung phản ánh những vấn đề lớn lao, trọng đại nhất của đất nước và cách mạng (tất cả các nội dung đời tư đều được nhìn nhận lại từ góc độ này) ▪ Sự hình thành CÁI TÔI QUẦN CHÚNG (cái tôi cá nhân tan hòa vào tập thể, nhân dân, phát ngôn nhân danh dân tộc, thời đại và nhân loại tiến bộ)
  22. Là thi sĩ phải là hồn cao khiết, Chí kiên cường và sứ mệnh cao siêu; Ca tự do, tiến bộ với tình yêu - Yêu nhân loại, hòa bình và công lý - Cao giọng hát những bài ca chính khí Của anh hùng đã vì nước quên mình, Sống quang vinh mà chết cũng quang vinh, Của Bãi Sậy, Thái Nguyên và Yên Bái [ ] Là thi sĩ nghĩa là cao khúc họa Cuộc đấu tranh vĩ đại của hoàn cầu Chống hung tàn xâm lược khắp năm châu, Trên trái đất dựng cao cờ dân chủ. Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ, Mỗi vần thơ: bom đạn phá cường quyền, Và lúc cần, quẳng bút lấy long tuyền. Là thi sĩ – Sóng Hồng
  23. Hãy nhìn đây! Nhìn ta phút này! Ôi không chỉ là ta với con gái nhỏ trong tay Ta là Hôm nay Và con ta, Ê-mi-ly ơi, con là Mãi mãi! Ta đứng đây, Với trái tim vĩ đại Của trăm triệu con người Nước Mỹ. Để đốt sáng đến chân trời Một ngọn đèn Công lý. Emily, con – Tố Hữu
  24. III. Những đặc điểm cơ bản 1. Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước 2. Nền văn học hướng về đại chúng ▪ Quần chúng là nguồn bổ sung cho lực lượng sáng tác ▪ Quần chúng là đối tượng phản ánh của văn học ▪ Quần chúng là đối tượng phục vụ của văn học
  25. III. Những đặc điểm cơ bản 1. Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước 2. Nền văn học hướng về đại chúng 3. Nền văn học mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn ▪ Khuynh hướng sử thi: là khuynh hướng xây dựng những tượng đài thiêng liêng, lớn lao, đại diện cho sức mạnh của cộng đồng - Đề tài: những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và tính chất toàn dân tộc - Nhân vật chính: những con người đại diện cho tinh hoa, khí phách, phẩm chất, ý chí toàn dân tộc, tiêu biểu cho lí tưởng dân tộc - Lời văn : ngợi ca, tráng lệ, hào hùng
  26. III. Những đặc điểm cơ bản 1. Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước 2. Nền văn học hướng về đại chúng 3. Nền văn học mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn ▪ Cảm hứng lãng mạn: là cảm hứng khẳng định cái tôi dạt dào tình cảm cách mạng - Niềm tin yêu mãnh liệt vào tương lai đất nước và dân tộc - Xu hướng xây dựng những hình ảnh đẹp đẽ, bay bổng, nâng đỡ con người vượt qua thực tế gian khổ.
  27. DÁNG ĐỨNG VIỆT NAM Lê Anh Xuân Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ thăng Anh chẳng để lại gì cho Anh trước lúc lên Và Anh chết trong khi đang đứng bắn đường Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng. Chỉ để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ Chợt thấy Anh, giặc hốt hoảng xin hàng Anh là chiến sĩ Giải phóng quân. Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn Bởi Anh chết rồi, nhưng lòng dũng cảm Tên Anh đã thành tên đất nước Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công. Ôi anh Giải phóng quân! Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhứt Anh tên gì hỡi Anh yêu quý Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân. Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng 3.1968 Như đôi dép dưới chân Anh giẫm lên bao xác Mỹ Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong
  28. Ta đi giữa ban ngày Ai qua Phú Thọ Trên đường cái, ung dung ta bước. Ai xuôi Trung Hà Đường ta rộng thênh thang tám thước Ai về Hưng Hóa Đường Bắc Sơn, Đình Cả, Thái Nguyên Ai xuống khu Ba Đường qua Tây Bắc, đường lên Điện Biên Ai vào khu Bốn Đường cách mạng, dài theo kháng chiến Đường ta đó, tự do cuồn cuộn Đến hôm nay đường xuôi về biển Bốt đồn Tây đã cuốn sạch rồi! Mới tinh khôi màu đất đỏ tươi Sông Thao nô nức sóng dồi Ai về Hà Nội thì xuôi cùng thuyền. Đẹp vô cùng, Tổ quốc ta ơi! Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt Ờ, đã chín năm rồi đấy nhỉ! Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát Kháng chiến ba ngàn ngày không nghỉ Chuyến phà rào rạt bến nước Bình Ca Bắp chân, đầu gối vẫn săn gân. Ngẩng đầu lên: Trong sáng tuyệt trần Tháng Tám mùa thu xanh thẳm Mây nhởn nhơ bay Hôm nay ngày đẹp lắm! Mây của ta, trời thẳm của ta Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà! Ta đi tới – Tố Hữu
  29. CUỘC CHIA LY MÀU ĐỎ Nguyễn Mỹ Ðó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ Tươi như cánh nhạn lai hồng Ngày mai sẽ là ngày sum họp Trưa một ngày sắp ngả sang đông Ðã toả sáng những tâm hồn cao đẹp! Thu, bỗng nắng vàng lên rực rỡ: Nắng vẫn còn ngời trên những mắt lá si Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ Và người chồng ấy đã ra đi Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa Chồng của cô sắp sửa đi xa Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế Cùng đi với nhiều đồng chí nữa Cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ Chiếc áo đỏ rực như than lửa Gió nói tôi nghe những tiếng thì thào Cháy không nguôi trước cảnh chia li "Khi Tổ quốc cần, họ biết sống xa nhau " Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy. Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy Không che được nước mắt cô đã chảy Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy Những giọt long lanh nóng bỏng sáng ngời Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi Chảy trên bình minh đang hé giữa làn môi Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người Và rạng đông đang bừng trên nét mặt Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp - Một rạng đông với màu hồng ngọc Một làng xa giữa đêm gió rét Cây si xanh gọi họ đến ngồi Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi Trong bóng rợp của mình, nói tới ngày mai Như chưa hề có cuộc chia ly