Bài giảng Di tích và thắng cảnh ở Việt Nam

pdf 114 trang ngocly 130 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Di tích và thắng cảnh ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfbai_giang_di_tich_va_thang_canh_o_viet_nam.pdf

Nội dung text: Bài giảng Di tích và thắng cảnh ở Việt Nam

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ KHOA QUỐC TẾ HỌC BÀI GIẢNG HỌC PHẦN DI TÍCH VÀ THẮNG CẢNH Ở VIỆT NAM (Tài liệu dùng cho sinh viên người nước ngoài Chuyên ngành: Tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam) Biên soạn: Nguyễn Ngọc Chinh (Lưu hành nội bộ) Đà Nẵng, tháng 11 năm 2015 1
  2. Lời nói đầu Tập bài giảng cho học phần “Di tích và thắng cảnh ở Việt Nam” là tập bài giảng bao gồm 8 bài được giảng dạy bao gồm lý thuyết, thảo luận và đi thực tế trong 30 tiết (2 tín chỉ), gồm: Dẫn nhập - 4 tiết; Đặc điểm và vai trò của hệ thống di tích, danh thắng Việt Nam - 4 tiết; Hệ biểu tượng trong hệ thống di tích danh thắng Việt Nam - 4 tiết; Một số di tích danh thắng tiêu biểu Bắc bộ - 4 tiết; Một số di tích danh thắng tiêu biểu Trung bộ - 4 tiết; Một số di tích danh thắng tiêu biểu Nam bộ - 2 tiết; Một số di tích danh thắng tiêu biểu của Đà Nẵng - Quảng Nam - 2 tiết; Giải pháp bảo tồn và phát triển di tích danh thắng - 2 tiết; và Ôn tập thảo luận - 4 tiết. Mỗi bài, ngoài phần lý thuyết, còn có phần bài tập nhằm củng cố kiến thức đã học. Đây là tập bài giảng được tích lũy, bổ sung và điều chỉnh qua quá trình lên lớp, giảng dạy sinh viên ngành Tiếng Việt và Văn hóa học các khóa 2008, 2009, 2010, 2011 và 2012. Trong quá trình biên tập chắc hẳn còn những thiếu sót và sẽ được hiệu chỉnh trong những lần tiếp theo. Người biên soạn PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chinh 2
  3. MỤC LỤC Dẫn nhập 4 Đặc điểm và vai trò của hệ thống di tích, danh thắng Việt Nam 10 Hệ biểu tượng trong hệ thống di tích danh thắng Việt Nam 20 Một số di tích danh thắng tiêu biểu Bắc bộ 29 Một số di tích danh thắng tiêu biểu Trung bộ 46 Một số di tích danh thắng tiêu biểu Nam bộ 51 Một số di tích danh thắng tiêu biểu của Đà Nẵng – Quảng Nam 55 Giải pháp bảo tồn và phát triển di tích danh thắng 96 Tài liệu tham khảo 124 3
  4. Bài 1 (4 tiết) DẪN NHẬP 1.Di tích là gì Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử Di tích: Cái của thời xưa còn để lại (tr 246, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học, 1997) 2.Di tích lịch sử, di tích văn hoá, di tích cách mạng, di tích khảo cổ, di tích kiến trúc nghệ thuật Di tích lịch sử - văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học. Di tích lịch sử - văn hoá phải có một trong các tiêu chí sau đây: Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như đền Hùng, Cổ Loa, cố đô Hoa Lư, chùa Thiên Mụ, Cột cờ Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như khu di tích lịch sử Kim Liên, đền Kiếp Bạc, Đền Mẫu Đợi, Lam Kinh, đền Đồng Nhân Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ, Địa đạo Củ Chi, khu di tích lịch sử cách mạng Pắc Bó Năm 2014, ở Việt Nam có hơn 32.839 di tích, trong đó hơn 3.591 di tích quốc gia, 4.404 di tích cấp tỉnh. Trong số di tích cấp quóc gia có 62 di tích đặc biệt, 8 di sản thế giới. Di tích lịch sử chiếm 51.2% số di tích được xếp hạng. Di tích cách mạng - kháng chiến là một bộ phận cấu thành hệ thống các di tích lịch sử - văn hoá, tuy nhiên, nó có những điểm khác với các di tích tôn giáo tín ngưỡng như đình, đền, chùa, miếu ở chỗ: đó là những địa điểm cụ thể, công trình kiến trúc có sẵn (nhà ở, đường phố ), là những công trình được con người tạo nên phù hợp với mục đích sử dụng (địa đạo, hầm bí mật ) gắn liền với những sự kiện cụ thể, nhân vật lịch sử cụ thể mà trở thành di tích. Loại hình di tích này rất đa dạng, phong phú, có mặt ở khắp mọi nơi, khó nhận biết, đồng thời cũng rất dễ bị lãng quên, dễ biến dạng theo mục đích sử dụng, theo thời tiết và theo thời gian. Bởi vậy các di tích này vừa khó bảo tồn vừa khó phát huy tác dụng nếu không được quan tâm đặc biệt. Di tích khảo cổ là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của các văn hoá khảo cổ. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như Hoàng thành Thăng Long, hang Con Moong, di chỉ Đông Sơn, động Người 4
  5. Xưa, thánh địa Mỹ Sơn. Năm 2010, di tích khảo cổ chiếm 1,3% các di tích được xếp hạng. Di tích kiến trúc nghệ thuật là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể kiến trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến trúc của dân tộc. Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử. Các di tích tiêu biểu loại này như phố cổ Hội An, nhà thờ Phát Diệm, chùa Keo, Năm 2010, di tích kiến trúc nghệ thuật chiếm 44.2% tổng số di tích được xếp hạng. 3.Thắng cảnh là gì Di tích thắng cảnh (danh lam thắng cảnh) là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học. Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây: Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu. Các di tích quốc gia đặc biệt tiêu biểu thuộc loại này như 3 danh lam thắng cảnh Tràng An - Tam Cốc - Bích Động, vịnh Hạ Long, động Phong Nha. Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như vịnh Hạ Long, cao nguyên Đồng Văn, các vườn quốc gia và khu dự trữ sinh quyển thế giới ở Việt Nam. Danh lam thắng cảnh chiếm khoảng 3.3% số di tích được xếp hạng. Ở mỗi quốc gia, cùng với những di tích lịch sử - văn hóa, không nhiều thì ít, còn những giá trị văn hóa do thiên nhiên ban tặng, đó là các danh lam thắng cảnh. Về cụm từ danh lam thắng cảnh, trước hết, chữ lam được gọi rút gọn từ chữ tăng già lam, hoặc tịnh lam, có nghĩa là ngôi chùa. Ở thời Lý, các ngôi chùa được phân ra làm ba hạng: Đại danh lam (chùa nổi tiếng nhất), trung danh lam (chùa nổi tiếng vừa) và tiểu danh lam (chùa ít nổi tiếng). Cũng ở thời Lý, nơi nào có núi cao, cảnh đẹp, thường được dựng chùa thờ phật. Từ đó hình thành nên khái niệm danh lam thắng cảnh, như vậy danh lam thắng cảnh là nơi có cảnh đẹp và chùa nổi tiếng. Cho đến nay, phần lớn các danh lam thắng cảnh ở nước ta đều có chùa thờ phật. 4.Di tích và thắng cảnh trên thế giới và ở Việt Nam 4.1.Di tích và thắng cảnh ở Việt Nam Căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh (gọi chung là di tích) được chia thành: Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh. 5
  6. Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia. Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Việt Nam) quyết định xếp hạng di tích quốc gia. Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia. Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; quyết định việc đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới. Di tích quốc gia đặc biệt ở Việt Nam gồm: Cố đô Hoa Lư, Di tích Pác Bó, Dinh Độc Lập, Hoàng thành Thăng Long, Khu căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Khu di tích ATK Thái Nguyên , Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ, Khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc, Khu di tích khởi nghĩa Yên Thế, Khu di tích Kim Liên, Khu di tích Phủ Chủ tịch, Khu di tích Tân Trào, Khu lưu niệm chủ tịch Tôn Đức Thắng, Nhà tù Côn Đảo, Quần thể di tích Cố đô Huế, Thành nhà Hồ, Thánh địa Mỹ Sơn, Thắng cảnh Tràng An - Tam Cốc - Bích Động, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Vịnh Hạ Long, Đô thị cổ Hội An và Đền Hùng. Trong trường hợp di tích đã được xếp hạng mà sau đó có đủ căn cứ xác định là không đủ tiêu chuẩn hoặc bị huỷ hoại không có khả năng phục hồi thì người có thẩm quyền quyết định xếp hạng di tích nào có quyền ra quyết định huỷ bỏ xếp hạng đối với di tích đó. 4.2.Thống kê di tích Việt Nam theo địa phương Số di Số di Tổng di Thời gian Ghi STT Tên tỉnh tích tích tích cập nhật chú Quốc gia cấp tỉnh 1 An Giang 26 46 1198 2010 2 Bà Rịa - Vũng Tàu 31 14 150 2014 3 Bạc Liêu 10 35 130 2014 4 Bắc Giang 99 539 2237 2014 5 Bắc Kạn 12 33 160 2014 6 Bắc Ninh 197 226 1259 2014 7 Bến Tre 15 22 2015 8 Bình Dương 12 38 500 2015 9 Bình Định 33 50 231 2008 10 Bình Phước 9 3 12 2009 11 Bình Thuận 24 20 300 2012 12 Cà Mau 9 17 2015 13 Cao Bằng 26 36 226 2008 6
  7. Số di Số di Tổng di Thời gian Ghi STT Tên tỉnh tích tích tích cập nhật chú Quốc gia cấp tỉnh 14 Cần Thơ 4 16 20 2009 15 Đà Nẵng 16 37 200 2011 16 Đăk Lăk 12 4 58 2012 17 Đăk Nông 9 1 2014 18 Điện Biên 7 10 2014 19 Đồng Nai 27 19 1800 2013 20 Đồng Tháp 13 50 91 2015 21 Gia Lai 13 3 30 2009 22 Hà Giang 15 2 36 2010 23 Hà Nam 69 54 1784 2010 24 Hà Nội 1196 1156 5175 2015 25 Hà Tĩnh 75 393 500 2015 26 Hải Dương 146 89 1098 2009 27 Hải Phòng 110 208 236 2009 28 Hậu Giang 9 6 188 2015 29 Hòa Bình 41 27 295 2015 30 Hưng Yên 159 88 1210 2010 31 Khánh Hòa 13 98 1091 2009 32 Kiên Giang 22 13 200 2009 33 Kon Tum 5 8 2014 34 Lai Châu 4 14 2014 35 Lạng Sơn 23 95 581 2013 36 Lào Cai 15 11 50 2015 37 Lâm Đồng 20 10 2013 38 Long An 16 65 186 2009 39 Nam Định 74 125 1655 2010 40 Nghệ An 50 70 1000 2010 41 Ninh Bình 103 235 1879 2015 42 Ninh Thuận 14 27 233 2014 43 Phú Thọ 73 218 1372 2014 44 Phú Yên 18 21 2014 45 Quảng Bình 45 34 150 2010 7
  8. Số di Số di Tổng di Thời gian Ghi STT Tên tỉnh tích tích tích cập nhật chú Quốc gia cấp tỉnh 46 Quảng Nam 60 300 500 2015 47 Quảng Ngãi 28 76 199 2014 48 Quảng Ninh 60 44 626 2010 49 Quảng Trị 29 160 489 2010 50 Sóc Trăng 8 22 300 2010 51 Sơn La 11 34 64 2010 52 Tây Ninh 22 54 365 2010 53 Thái Bình 91 349 1400 2007 54 Thái Nguyên 36 70 780 2010 55 Thanh Hóa 136 441 1535 2009 56 Thừa Thiên - Huế 32 88 902 2010 57 Tiền Giang 20 86 106 2010 58 TP. Hồ Chí Minh 54 91 400 2010 59 Trà Vinh 12 16 533 2015 60 Tuyên Quang 88 55 498 2010 61 Vĩnh Long 10 36 450 2014 62 Vĩnh Phúc 65 222 1264 2010 63 Yên Bái 10 34 500 2013 CỘNG 4.3.Thống kê theo loại di tích Di tích là chùa: Theo thống kê của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tới 2015, cả nước hiện có 14.775 ngôi chùa và 44.498 vị tăng, ni. Di tích thời Hùng Vương: Theo thống kê của Cục Văn hoá cơ sở - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 2010, Việt Nam có 1417 di tích thời vua Hùng và các nhân vật liên quan đến thời đại Hùng Vương như Sơn Tinh, Thần Cao Sơn, Thần Quý Minh, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, Riêng địa bàn 2 tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc đã có trên 600 nơi thờ. 4.3.Bảo tồn di tích Vấn đề bảo tồn di tích và kinh phí bảo tồn thường gây tranh luận tại Việt Nam. Nhiều di tích không được bảo quản đúng mức, gây hư hỏng nghiêm trọng hay bị sửa lại khác xa mẫu cổ. Nhiều di tích như Thác Voi, Thác Liên Khương, Công ty cổ phần khai thác chỉ rào thác, kinh doanh bán vé thu tiền vào cổng mà không tu bổ và đến 8
  9. cuối năm 2007 thì rao sang nhượng dự án, kiếm lời thêm 3 tỷ đồng. Thành nhà Hồ bị Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa tôn tạo "không đúng cách" và vá víu. Theo ý kiến của các chuyên gia Đức thuộc tổ chức Dự án bảo tồn, trùng tu và đào tạo Đức (GCREP) : "Ở Việt Nam, với những di tích bị hư hại nhiều, người ta thường bỏ đi và xây lại mới. Còn theo kinh nghiệm của chúng tôi, không phải cái gì cũng cần tu tạo lại 100%, có những thứ không tu tạo được thì giữ nguyên". 4.4.Di tích và thắng cảnh thế giới Di sản văn hoá thế giới: - Các tiêu chuẩn của văn hoá thế giới (6 tiêu chuẩn). + Là các tác phẩm nghệ thuật độc nhất vô nhị, tác phẩm hàng đầu của tài năng con người. + Có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật cấu tạo không gian trong một thời kỳ nhất định, trong một khung cảnh văn hoá nhất định. + Chứng cớ xác thực cho một nền văn minh đã bị biến mất. + Cung cấp một ví dụ hùng hồn về một thể loại xây dựng hoặc kiến trúc phản ánh một giai đoạn lịch sử có ý nghĩa. + Cung cấp một ví dụ hùng hồn về một dạng nhà truyền thống nói lên được một nền văn hoá có nguy cơ bị huỷ hoại trước những biến động không thể cưỡng lại được. + Có mối quan hệ trực tiếp với sự kiện, tín ngưỡng đáp ứng được những tiêu chuẩn xác thực về ý tưởng sáng tạo, về vật liệu, về cách tạo lập cũng như về vị trí. - Nhìn chung, các di sản văn hoá thế giới là kết tinh cao nhất của những sáng tạo văn hoá một dân tộc. Bất cứ một quốc gia nào nếu có những di tích được công nhận là di sản văn hoá thế giới thì không những là một tôn vinh lớn cho dân tộc ấy, mà còn là nguồn tài nguyên quý giá, có sức hút khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tế. Hết năm 2014, trên toàn thế giới Hội đồng di sản thế giới đã công nhận được 1007 di sản ở trên 157 quốc gia, trong đó 779 là di sản văn hóa, 197 – di sản tự nhiên, 31 – hỗn hợp (vừa văn hóa vừa tự nhiên). Nước ta có 8 di sản thế giới, trong đó có 5 di sản văn hoá gồm cố đô Huế (công nhận năm 1993), tháp Chàm Mỹ Sơn (1999), đô thị cổ Hội An (1999) nhã nhạc cung đình Huế (2003), cồng chiêng Tây Nguyên (2005), 2 di sản tự nhiên gồm vịnh Hạ Long (1994) và Phong Nha – Kẻ Bàng (2003) và 1 di sản hỗn hợp là Quần thể danh thắng Tràng An. Trong số các di sản thế giới phải kể tới 7 kỳ quan do bàn tay khối óc con người tạo ra tập trung ở những nôi của nền văn minh nhân loại. Đây là 7 kỳ quan kỳ diệu được khắc mốc ghi tên từ thế kỷ VI sau công nguyên, như những chứng tích điển hình. Cụ thể là: 1. Kim tự tháp Ai Cập. 9
  10. 2. Vườn treo Babilon (Irắc). 3. Tượng khổng lồ Hêliốt trên đảo Rốt (Hy lạp). 4. Lăng mộ vua Môdôn ở Halicacnasơ (Thổ Nhĩ Kỳ). 5. Đền thờ nữ thần Actêmis ở Ephedo (Thổ Nhĩ Kỳ). 6. Tượng thần Rớt trong ngôi đền tại Olympia (Hy Lạp). 7. Ngọn hải đăng ở Alêcxanđria (Ai Cập). Trong 7 kỳ quan trên, chỉ còn kim tự tháp Ai Cập là vẫn tồn tại. 5. Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của di tích và danh thắng - Gắn với địa điểm, quá trình dựng nước và giữa nước: khu di tích Đền Hùng; - Gắn với thân thế, sự nghiệp của các anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa: Kim Liên (Nghệ An), Côn Sơn-Kiếp Bạc (Chí Linh-Hải Dương); - Gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của cách mạng, kháng chiến: ATK Tân Trào, Định Hóa, Điện Biên Phủ, Địa đạo Vịnh Mốc, Căn cứ Trung ương cục miền Nam; - Gắn phát triển lịch sử tộc người, quốc gia, dân tộc: Núi Đọ (Thanh Hóa), thành Thăng Long; - Gắn với giai đoạn lịch sử: di tích Cố đô Huế. Câu hỏi Bài 1 1. Di tích là gì? 2. Thắng cảnh là gì ? 3. Khái niệm di sản ? Di sản văn hóa ? Di sản thiên nhiên ? 4. Thành tố di sản văn hóa là gì ? 5. Tiêu chí của di tích là gì ? Tiêu chí của danh lam thắng cảnh là gì ? 6. Giá trị của hệ di tích, thắng cảnh ? 7. Đặc điểm vai trò, giá trị của di tích, thắng cảnh ? 8. Các loại di tích lịch sử, văn hóa ? 9. Yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng di tích và thắng cảnh? 10. Có bao nhiêu di sản trên thế giới? Kể từng loại? 11. Việt Nam có bao nhiêu di sản thế giới? Kể tên từng loại? 10
  11. Bài 2 (4 tiết) ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG DI TÍCH, DANH THẮNG VIỆT NAM 1. Đặc điểm của hệ thống di tích, danh thắng Việt Nam 1.1. Đặc điểm tự thân - Hệ thống di tích danh thắng có quy mô vừa và nhỏ, phân bố tương đối tập trung và thường gắn với các khu dân cư. - Chủ yếu vươn theo chiều rộng, chiều ngang, trang trí điêu khắc dày đặc, thiên nhiên được phản ánh đa dạng sinh động. - Chủ yếu tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ. - Hệ thống di tích lịch sử mang trên mình nhiều dấu ấn lịch sử. 1.2. Đặc điểm xã hội - Xã hội Việt Nam phong kiến với nền kinh tế tiểu nông, gắn bó mật thiết với nông thôn, nông dân. Người dân chủ yếu sống theo hương ước, phong tục tập quán hình thành nên đặc sắc của văn hóa nông nghiệp. - Trong quá trình xây dựng nền văn hóa thì có quá trình giao thoa và tiếp biến văn hóa với nhiều quốc gia. Văn hóa Việt Nam, thời phong kiến nói chung cũng như di tích lịch sử văn hóa nói riêng, là kết quả của một quá trình phát triển lâu dài, có những cái cải biến, cóp nhặt về văn hóa từ bên ngoài để tạo nên những giá trị văn hóa nội sinh. 1.3. Đặc điểm khác 1. Dấu ấn cội nguồn, 2. Dấu ấn lịch sử dựng và giữ nước, 3. Dấu ấn lối sống, 4. Dấu ấn gắn với tôn giáo tín ngưỡng, 5. Bản sắc Việt Nam, 6. Phong cách phương Đông, 7. Tâm hồn và lối sống Việt Nam. 2. Vai trò của di tích và thắng cảnh - Quảng cáo đất nước con người - Phát triển du lịch -> phát triển kinh tế xã hội - Hội nhập quốc tế và khu vực - Nâng cao vị thế của 1 quốc gia - Nâng cao hiểu biết vùng miền cho người dân 3. Giá trị của hệ thống di tích lịch sử - văn hóa - Giá trị tự nhiên, không gian, cảnh quan, môi trường 11
  12. - Giá trị lịch sử, huyền thoại - Giá trị tâm linh, tinh thần - Giá trị nghệ thuật, văn hóa, xã hội - Giá trị kinh tế 4. Hệ thống di tích lịch sử văn hóa Việt Nam 4.1.Di tích khảo cổ / Di chỉ : gồm có di tích cư trú và di tích mộ táng a) Di tích cư trú - Di chỉ hang động có người nguyên thủy sinh sống (hang động); - Di chỉ cư trú có thành lũy quân sự; - Di chỉ cư trú chưa có / không có thành lũy quân sự. b) Di chỉ mộ táng - Di chỉ mộ thuyền; - Di chỉ mộ chum, vò; - Di chỉ hầm mộ Hán; - Di chỉ mộ hợp chất. 4.2. Di tích lịch sử - Di tích ghi dấu về dân tộc học: nhà Gươl, nhà rông; - Di tích ghi dấu về các sự kiện chính trị đặc biệt; - Ghi dấu chiến công của quân và dân Việt Nam, chủ yếu gắn với các thời kì kháng chiến; - Ghi dấu tội ác của kẻ thù; - Nơi lưu giữ, tưởng niệm những người hy sinh : thành cổ Quảng Trị 4.3. Di tích kiến trúc - Kiến trúc đình làng; - Di tích tôn giáo: chùa, tháp, nhà thờ ; - Di tích đạo giáo: quán, đền ; - Di tích gắn với Nho giáo: Văn Miếu, Khổng Miếu ; - Di tích thành lũy quân sự; - Di tích Lăng mộ; - Di tích cầu, cống, giếng cổ: giếng Chăm; - Di tích cung điện; - Di tích văn hóa dân gian: đền, miếu, phủ, am, điện 4.4. Danh lam thắng cảnh Ở mỗi quốc gia, cùng với những di tích lịch sử - văn hóa, không nhiều thì ít, còn những giá trị văn hóa do thiên nhiên ban tặng, đó là các danh lam thắng cảnh. Về cụm từ danh lam thắng cảnh, trước hết, chữ lam được gọi rút gọn từ chữ tăng già lam, hoặc tịnh lam, có nghĩa là ngôi chùa. Ở thời Lý, các ngôi chùa được phân 12
  13. ra làm ba hạng: Đại danh lam (chùa nổi tiếng nhất), trung danh lam (chùa nổi tiếng vừa) và tiểu danh lam (chùa ít nổi tiếng). Cũng ở thời Lý, nơi nào có núi cao, cảnh đẹp, thường được dựng chùa thờ phật. Từ đó hình thành nên khái niệm danh lam thắng cảnh, như vậy danh lam thắng cảnh là nơi có cảnh đẹp và chùa nổi tiếng. Cho đến nay, phần lớn các danh lam thắng cảnh ở nước ta đều có chùa thờ phật. Di tích lịch sử còn gọi là danh thắng, bao gồm những khu vực thiên nhiên có phong cảnh đẹp, có khí hậu thời tiết thủy văn, hệ sinh thái tốt cho sức khỏe con người được sắp đặt bởi bàn tay con người cùng với sự nỗ lực kiến tạo của con người; Quần thể các danh thắng thiên nhiên bao gồm: hệ thống rừng quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên-sinh quyển, khu dự trữ sinh học, bảo tồn các loài thú bị lâm nguy; Quần thể di tích và danh thắng: khu văn hóa – lịch sử; Hệ thống danh thắng thiên nhiên đơn lẻ. 5. Phân bổ di tích thắng cảnh ở Việt Nam Thống kê theo địa phương: 63 tỉnh thành, có: - Cấp Quốc gia: 3.591 - Cấp Tỉnh: 4.404 Tổng: 32.839 Trong số 62 di tích quốc gia đặc biệt quan trọng của Việt Nam sau 5 đợt xếp hạng có: 05 di tích danh lam thắng cảnh: Vịnh Hạ Long, Hồ Ba Bể, Vườn quốc gia Cát Tiên và Quần thể danh thắng Tràng An-Tam Cốc-Bích Động và Quần đảo Cát Bà. 01 di tích khảo cổ và kiến trúc nghệ thuật: Óc Eo - Ba Thê 01 Di tích khảo cổ Cát Tiên. 02 di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh: Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng và Yên Tử 02 di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật và khảo cổ: Thành nhà Hồ và Cổ Loa. 02 di tích lịch sử và khảo cổ: Khu trung tâm Hoàng Thành Thăng Long và di tích Gò Tháp (Đồng Tháp) 07 di tích kiến trúc nghệ thuật: Chùa Keo, Đô thị cổ Hội An, Khu đền tháp Mỹ Sơn, Đình Tây Đằng, Chùa Bút Tháp, Đền Sóc, Chùa Tây Phương. 10 di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật: Cố đô Hoa Lư, Quần thể kiến trúc Cố đô Huế, Côn Sơn - Kiếp Bạc, Đền Trần-Chùa Phổ Minh, Lam Kinh, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Chùa Dâu, Chùa Thầy, Đền Bà Triệu, Phố Hiến, Chùa Phật Tích. 31 di tích còn lại là các di tích lịch sử đơn thuần. Thủ tướng Chính phủ là người ra quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt đồng thời quyết định việc đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp 13
  14. Quốc (UNESCO) xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới.[1] Các di tích quốc gia đặc biệt đợt 1, 2 Ngày 12 tháng 8 năm 2009, lần đầu tiên 10 di tích quốc gia đặc biệt của Việt Nam được công nhận. Tháng 3/2012, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch có văn bản đề nghị Thủ tướng Chính phủ Việt Nam xem xét xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt đợt 2 cho 13 di tích, danh lam thắng cảnh Việt Nam trên cơ sở xem xét đề nghị của các địa phương và ý kiến thống nhất của Hội đồng Di sản văn hoá quốc gia. Ngày 10/5/2012 Thủ tướng ra quyết định xếp hạng 13 di tích quốc gia đặc biệt, nâng tổng số lên 23 di tích. Loại hình Năm STT Tên di tích Địa phương di tích công nhận 1 An toàn khu Định Hóa Thái Nguyên Di tích lịch sử 2012 Căn cứ Trung ương Cục 2 Tây Ninh Di tích lịch sử 2012 miền Nam Chiến trường Điện Biên 3 Điện Biên Di tích lịch sử 2009 Phủ Di tích lịch sử và 4 Cố đô Hoa Lư Ninh Bình kiến trúc nghệ 2012 thuật Di tích lịch sử và 5 Côn Sơn - Kiếp Bạc Hải Dương kiến trúc nghệ 2012 thuật Di tích lịch sử và Thành phố Hồ 6 Dinh Độc Lập kiến trúc nghệ 2009 Chí Minh thuật 7 Đền Hùng Phú Thọ Di tích lịch sử 2009 Di tích kiến trúc 8 Đô thị cổ Hội An Quảng Nam 2009 nghệ thuật Di tích kiến trúc 9 Khu đền tháp Mỹ Sơn Quảng Nam 2009 nghệ thuật Khu lưu niệm Chủ tịch 10 Hồ Chí Minh tại Kim Nghệ An Di tích lịch sử 2012 Liên 14
  15. Loại hình Năm STT Tên di tích Địa phương di tích công nhận Khu lưu niệm Chủ tịch 11 Hồ Chí Minh tại Phủ Hà Nội Di tích lịch sử 2009 Chủ tịch Khu lưu niệm Chủ tịch 12 Tôn Đức Thắng tại Mỹ An Giang Di tích lịch sử 2012 Hòa Hưng Khu trung tâm Hoàng Di tích lịch sử và 13 Hà Nội 2009 Thành Thăng Long khảo cổ Bà Rịa - Vũng 14 Nhà tù Côn Đảo Di tích lịch sử 2012 Tàu Những địa điểm khởi 15 Bắc Giang Di tích lịch sử 2012 nghĩa Yên Thế 16 Pác Bó Cao Bằng Di tích lịch sử 2012 Di tích lịch sử và Quần thể kiến trúc Cố Thừa Thiên 17 kiến trúc nghệ 2009 đô Huế Huế thuật 18 Tân Trào Tuyên Quang Di tích lịch sử 2012 Di tích lịch sử, 19 Thành nhà Hồ Thanh Hóa kiến trúc nghệ 2012 thuật và khảo cổ Tràng An - Tam Cốc - Danh lam thắng 20 Ninh Bình 2012 Bích Động cảnh Di tích lịch sử và Văn Miếu - Quốc Tử 21 Hà Nội kiến trúc nghệ 2012 Giám thuật Danh lam thắng 22 Vịnh Hạ Long Quảng Ninh 2009 cảnh Di tích lịch sử và Vườn quốc gia Phong 23 Quảng Bình danh lam thắng 2009 Nha - Kẻ Bàng cảnh 15
  16. 11 di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt đợt 3 (ngày 1/10/2012) gồm: 1. Danh lam thắng cảnh Hồ Ba Bể (huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn) 2. Di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Yên Tử (thành phố Uông Bí, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh) 3. Di tích lịch sử Bạch Đằng (thị xã Quảng Yên, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh) 4. Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Đền Trần và Chùa Phổ Minh (thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định) 5. Di tích kiến trúc nghệ thuật Chùa Keo (huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình) 6. Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Lam Kinh (huyện Thọ Xuân, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa) 7. Di tích lịch sử Đại thi hào Nguyễn Du (huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh) 8. Di tích khảo cổ và kiến trúc nghệ thuật Óc Eo - Ba Thê (huyện Thoại Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh An Giang) 9. Di tích lịch sử và khảo cổ Gò Tháp (huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp) 10. Di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật và khảo cổ Cổ Loa (huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội) 11. Danh lam thắng cảnh Vườn Quốc gia Cát Tiên (tỉnh Bình Phước, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Lâm Đồng)./. Các di tích quốc gia đặc biệt đợt 4 14 di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt đợt 4 (ngày 11/12/2013) gồm: 1. Di tích kiến trúc nghệ thuật Đình Tây Đằng (huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội) 2. Di tích lịch sử Đền Hai Bà Trưng (huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội) 3. Di tích lịch sử Đền Hát Môn (huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội) 4. Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Đền Ngọc Sơn và khu vực Hồ Hoàn Kiếm (quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội) 5. Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Phù Đổng (huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội) 6. Danh lam thắng cảnh Quần đảo Cát Bà (huyện Cát Hải, Thành phố Hải Phòng) 7. Di tích lịch sử Khu di tích nhà Trần ở Đông Triều (huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh) 8. Di tích kiến trúc nghệ thuật Chùa Bút Tháp (huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) 9. Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Chùa Dâu (huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) 10. Di tích lịch sử Rừng Trần Hưng Đạo (huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng) 16
  17. 11. Di tích lịch sử Chiến thắng Chương Thiện (TP. Vị Thanh và huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang). 12. Di tích lịch sử Thành cổ Quảng Trị và những địa điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm năm 1972 (thị xã Quảng Trị, huyện Hải Lăng và huyện Triệu Phong, tỉnhQuảng Trị) 13. Di tích lịch sử Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải (huyện Vĩnh Linh và Gio Linh, tỉnh Quảng Trị) 14. Di tích lịch sử Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh (các tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đắk Nông, Bình Phước); Các di tích quốc gia đặc biệt đợt 5 14 di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt đợt 5, tháng 31/12/2014 gồm:[7] 1. Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Chùa Thầy và khu núi đá Sài Sơn, Hoàng Xá, Phượng Cách (huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội) 2. Di tích kiến trúc nghệ thuật Đền Sóc (huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội) 3. Di tích kiến trúc nghệ thuật Chùa Tây Phương (huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội) 4. Di tích lịch sử Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Lý (thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) 5. Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Chùa Phật Tích (huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) 6. Di tích lịch sử Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần (huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình) 7. Di tích lịch sử Khu đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt (huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) 8. Di tích lịch sử Địa điểm Chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút (huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang) 9. Di tích lịch sử Nhà tù Sơn La (thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La) 10. Di tích lịch sử Trại giam Phú Quốc (huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang) 11. Di tích lịch sử Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh (huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị) 12. Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Khu di tích Bà Triệu (huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa) 13. Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Khu di tích Phố Hiến (thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên) 14. Di tích khảo cổ Cát Tiên (huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng). 17
  18. Câu hỏi ôn tập 1. Các đặc điểm di tích và thắng cảnh VN? 2. Vai trò của hệ thống di tích và thắng cảnh Việt Nam 3. Giá trị của di tích, danh thắng 4. Di tích khảo cổ là gì? Ví dụ? 5. Di tích lịch sử là gì? Ví dụ? 6. Di tích kiến trúc là gì? Ví dụ? 7. Hãy kể tên những di tích tiêu biểu/đặc biệt của VN? 8. Sự phân bổ di tích ở Việt Nam: Có bao nhiêu DT quốc gia, bao nhiêu DT cấp tỉnh/thành phố? 9. Có bao nhiêu tỉnh, thành phố ở VN? Hãy kể tên? 18
  19. Bài 3 (4 tiết) HỆ BIỂU TƯỢNG TRONG HỆ THỐNG DI TÍCH DANH THẮNG VIỆT NAM 1.Niên hiệu, niên đại Niên hiệu là tên gọi của một triều đại phong kiến hay một thể chế chính trị cầm quyền, cũng có thể là tên gọi vắn tắt của một vị vua. Niên đại là thời gian cụ thể mà trong khoảng thời gian đó đã diễn ra các sự kiện như xây dựng một công trình, một sự kiện 2.Màu sắc và vật chủ Stt Phương hướng Màu sắc Vật chủ Hành 1 Đông Xanh Thanh Long Mộc 2 Tây Trắng Bạch Hổ Kim 3 Nam Đỏ Chu Tước Hỏa 4 Bắc Đen Huyền Vũ Thủy 5 Trung ương Vàng Con người Thổ 3.Vị trí và hướng của công trình - Chọn hướng theo tiêu chuẩn phong thủy nhằm mục đích có địa linh để sinh nhân kiệt, nhân khang vật thịnh, âm phù dương thịnh 3.1.Tiền án Địa hình, địa vật án ngữ che chắn phía trước, bảo vệ từ trước gọi là tiền án. Vật che chắn được chọn thường là núi, đồi, gò, đồng, hòn giả sơn, bức bình phong cũng có thể là hồ ao, đầm nước để cân bằng âm dương theo quan niệm “tụ thủy”. Tiền án cũng có thể là minh đường :con đường dẫn tới công trình nhưng không được đâm thẳng vào di tích mà phải từ bên phải hoặc bên trái rẽ/quẹo vào di tích. 3.2. Hậu chẩm Đất phía sau, thế đất phải cao, vững chắc để làm chỗ dựa. Có thể là đồi núi 3.3. Tả - hữu Núi đồi, các roi đất, gò, đống phải có hướng chầu về di tích theo quan niệm “Tả thanh long hữu bạch hổ”. Trục công trình hướng về phía nam theo nguyên tắc: “Gia ái hổ mộ ái long”. 3.4. Các hướng di tích - Hướng Nam : là hướng cơ bản của các tòa thành cổ, các trung tâm chính trị, hành chính thời phong kiến. Hướng Nam là hướng của đế vương, của thánh nhân, của sự sang quý: 19
  20. + “Lấy vợ hiền hòa làm nhà hướng Nam” + “Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ” - Hướng Đông: là hướng mặt trời mọc, nguồn gốc của sự sống. Các di tích của người Chăm có cửa quay về hướng Đông với ý nguyện trường sinh bất tử. - Hướng Tây: là hướng mặt trời lặn, hướng của quá khứ, hướng dành cho người chết nên cũng là hưỡng của mồ mả. Đối với tín đồ Thiên Chúa giáo, hương Tây là hướng của nhà thờ, còn đối với người Tây Nguyên đây là hướng có cánh rừng thiêng dành cho người chết. - Hướng Bắc: hướng giá rét, hướng ứng với quẻ Càn. 4. Linh vật 4.1. Tứ linh Long, Ly, Quy, Phượng/Phụng: 4 con vật linh thiêng Rồng đứng đầu vạn tộc và tượng trưng cho vương quyền – thần quyền, biểu trưng cho nhà vua và nó là thế giới của tầng trên. Đối với cư dân nông nghiệp thì rồng tượng trưng cho nguồn nước, cho ước muốn mưa thuận gió hòa. 4.2. Ngựa và voi Ngựa và voi chính là công cụ của thần thánh. Voi được gắn cho âm tính, cho sự hiền lành tốt bụng, luôn sẵn sàng phục vụ. Đối với Phật giáo, voi được đưa vào Phật điện để cỏng một vị Phật biểu trưng cho lý tính tuyệt đối. Voi cũng là hóa thân ban đầu của Phật. Tượng voi phủ phục trước sân các lăng mộ, đền miếu có ý nghĩa sẵn sàng phục vụ. Ngựa: thờ ngựa trong các di tích có ý nghĩa rút ngắn khoảng cách giữa thần và người. Đối với Phật giáo, ngựa còn biểu tượng cho ánh sáng, cho sự trung thành, thẳng thắn. 4.3. Chó đá Dân gian quan niệm nơi chó nằm là tốt. Chó tượng trưng cho sự trung thành, có khả năng xua đuổi tà ma bảo vệ con người. “Con không chê cha mẹ khó Chó không chê chủ nghèo” 4.4. Gà Gà tượng trưng cho dương tính, sự quang minh chính đại. Gà trống thờ trong các di tích được tôn là Thần Kê. Theo cuốn sách “Văn âm quảng ký” thì gà có 5 cái đức: văn, võ, nhân, tín, dũng. 20
  21. 4.5. Dơi Dơi biểu tượng cho lưỡng nghi, hòa hợp âm dương. Thờ dơi là thờ phúc (hình con dơi khi dang cánh giống chữ phúc). 5 con dơi gọi là “ngũ phúc”: phú, quý, thọ, khang, ninh. 4.6. Cá Chép Biểu trưng cho sự học hành và thành đạt. Thờ cá cũng là cầu mong sự no đủ, dư thừa. “Mồng bốn các vị ăn thề Mồng tám cá về cá vượt vũ môn” Cá chép còn gọi là cá Gáy, thần của Táo Quân. 4.7. Cóc, ếch, chẫu chuộc, chão chàng, ễnh ương Đại diện cho thế lực siêu nhiên, biểu trưng cho sự điềm tĩnh, tốt bụng, cho sự học vấn. Tranh Đông Hồ có bức Thầy đồ Cóc Trên trống đồng Đông Sơn, cóc biểu trưng cho nguồn nước. Trong sách vở Nho giáo, hình ảnh cóc đội đài nghiêng biểu tượng cho học vấn và tôn vinh sự học hành. 4.8. Con Quỳ Người Trung Hoa coi con quỳ là linh thú sống trên núi. Trên các hương án, sập gụ, đỉnh đồng, rương hòm nơi đền miếu đều có con quỳ: trấn yểm ma quỷ, bảo vệ thần thánh. 4.9. Thao thiết Mặt bợm thường được gắn ở các then cửa, quai, rương hòm. 5. Hình tượng cỏ cây Người Việt Nam với nền kinh tế nông nghiệp truyền thống rất coi trọng chữ “hòa”: hòa hợp với thiên nhiên. Mục đích vươn tới của cư dân nông nghiệp cũng là chữ hòa giữa con người và tự nhiên. Vậy nên, cỏ cây thực vật có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của người dân. Gồm có ba dạng : Những cây đại thụ. Những cây đại thụ là một thành tố không thể thiếu trong các di tích, là một phần của di tích chứng kiến sự thăng trầm của di tích và nhiều khi nó cũng chính là di tích. Những cây đại thụ: - đại diện cho người quân tử, đại trượng phu; - là nơi trú sở của thần linh “mộc thần, mộc linh”; - nơi trú ngụ của những linh hồn bơ vơ; - cây cao là con đường thăng giáng của thánh thần, gạch nối giữa trời và đất; Những cây cao khẳng khiu, gầy guộc nhưng nhiều cành 21
  22. Cây cao là mạch nối, dẫn sinh khí của trời và đất cho sự vận động. Những cây này được cho là mang tính thiêng vì nó hút về mình linh khí nối tầng trên và tầng dưới với nhau. Những cây lùm, bụi rậm tượng trưng cho thế giới âm ti địa ngục và gắn với các vị thần bé nhỏ, nơi trú ngụ của những linh hồn bơ vơ, cô hồn Một số cây tiêu biểu : - Cây bồ đề: đối với người Việt nó là cây thiêng gắn với phật tích nên được trồng trong chùa. - Cây đa: là cây chủ đạo của một vùng đất nước, được thiêng hóa trong tâm thức của người dân. Cây đa là biểu tượng của làng quê Việt nhưng cũng là nơi trú ngụ của cô hồn, trú sở của thần linh - Cây si: bền vững, trường tồn - Cây tùng: bất diệt (biến di của cây tùng là cây thông) - Cây me: xanh tươi trường tồn, thường xuất hiện ở làng của người Chăm - Bông sen: xuất hiện trong các ngôi chùa vì nó gắn bó với đạo Phật (tượng phật ngồi trên đài sen) - Hoa Mẫu Đơn: thường xuất hiện trong các đền quán tượng trưng cho thế giới thần tiên. Hoa có màu đỏ tượng trưng cho sự no ấm, phú quý. Hoa còn tượng trưng cho người đàn bà đẹp. Hoa mẫu đơn trong nhà là cầu mong “phúc mãn đường” (phúc tới đầy nhà). Nó được suy tôn là chúa của các loài hoa. - Cây tre, cây trúc : kiên cường, bất khuất tượng trưng cho người quân tử, đồng thời gắn bó mật thiết với người dân, biểu tượng của làng quê. - Hoa đào, hoa mai: tượng trưng cho tự nhiên, mùa xuân, sinh sôi nảy nở. Hoa đào còn được coi là trừ được ma quỷ. - Cây cau, cây dừa: là những cây được người Việt và người Chăm thờ. Với người Việt, trầu cau gắn với hôn nhân, là sự hòa hợp âm dương, là chất xúc tác trong giao tiếp, thể hiện sự no đủ. Cây cau còn tượng trưng cho sự hiên ngang của con người. - Cây quất : tượng trưng cho kẻ nô bộc, người hầu hạ trong nhà. Trồng cây quất trong nhà là muốn có được kẻ hầu người hạ, thể hiện sự giàu sang phú quý. 6. Đồ thờ Đồ thờ là những vật gắn với tôn giáo tín ngưỡng của người Việt, có giá trị về mặt văn hóa, làm phong phú bộ mặt văn hóa và nghệ thuật dân tộc. Đồ thờ gồm có hai loại : - Đồ thờ nhân cách - Đồ thờ phi nhân cách 6.1. Đồ thờ nhân cách /tượng thờ 6.1.1. Tượng thờ Phật giáo 22
  23. Người Việt thờ Phật theo lối thế gian, bình dân nên trong chùa cần có biểu tượng, đồ thờ làm đường dẫn vào tâm đạo đồng thời tạo sự trang nghiêm sùng kính của con người. Thực chất tượng thờ là nhằm nói về những lẽ đạo, từ tượng và thần tích tượng là những bài học dạy làm người theo tư tưởng Phật giáo. Người đệ tử đi chùa thường ngước mắt chiêm ngưỡng những pho tượng như tìm đến với Như Lai. Tượng thờ có hệ thống từ trong ra ngoài, sự sắp đặt bao giờ cũng kèm theo một nội dung ý nghĩa. Từ trong ra ngoài tượng được sắp xếp theo những lớp lang sau: - Bộ tượng Tam Thế Phật ngự ở trên cao và sâu nhất trong chính điện, tên đầy đủ là “Tam Thế thường trụ diệu pháp thân” - Lớp tượng thứ hai là Di Đà Tam Tôn /Di Đà tiếp dẫn: A Di Đà Phật ngồi ở giữa, bên trái là Quan Thế Âm Bồ Tát, bên phải là Đại Thế Chí Bồ Tát. Nhiều ngôi chùa Việt Nam, tượng A Di Đà không ngồi mà đứng gọi là A Di Đà phát quang, cả tượng Quan Thế Âm và Đại Thế Chí cũng đứng. - Lớp tiếp theo là Hoa Nghiêm Tam Thánh gồm tượng Thích Ca Mâu Ni ngồi ở giữa gọi là Hoa Nghiêm ngồi trong đài sen trong tư thế kiết già, trợ thủ là hai Bồ Tát Văn Hiền và Phổ Hiền. - Bộ tượng Tuyết Sơn gồm Thích Ca Mâu Ni ngồi ở giữa, thị tả hai bên là tượng hai đệ tử thân thiết : Ca Diếp là tổ thứ nhất và A Nan Đà là tổ thứ hai. - Di Lặc Tam Tôn hình dạng béo tốt, mặt cười hớn hở. Di Lặc còn gọi là Đấng Tử Tôn như là một vị cứu thế. - Tiếp theo là tượng Cửu Long Thích Ca sơ sinh thường đứng hàng thứ năm trong chính điện. Có chùa thay bằng tượng Ngọc Hoàng Thượng Đế và Nam Tào – Bắc Đẩu. Tượng Cửu Long Thích Ca thường cởi trần mặc váy ngắn, tay trái chỉ lên trời, tay phải chỉ xuống đất thể hiện sự hài hòa âm dương, ý nghĩa của sự xuất thế của một thánh nhân. “Thiên thượng địa hạ duy ngã độc tôn”. - Quan Âm Tọa Sơn, Quan Âm Nam Hải thường đặt trong thượng điện. Bên trái là Quan Âm Nam Hải, bên phải là Quan Âm Tống Tử / Tọa Sơn, “thiên thủ thiên nhãn” ở trung tâm chính điện. Thị giả cho Quan Âm có Kim Đồng, Ngọc Nữ. - Thập Điện Diêm Vương được đặt ở hai bên sườn của thượng điện phục trang theo lối nhà vua gồm Tân Quảng Vương, Sở Giang Vương, Diêm La Vương, Ngũ Quan Vương, Biến Thành Vương, Thái Sơn Vương, Bình Đẳng Vương, Đô Thị Vương, Chuyển Luân Vương - Địa Tạng Bồ Tát đầu đội mũ tỳ lư, áo cà sa - Thổ Địa là ông già râu bạc màu trắng, phục trang quan lại - Tượng Kim Cương Hộ Pháp : Khuyến Thiện và Trừng Ác, hình thức võ tướng, đầu đội mũ kim khôi, có chức năng bảo vệ phật pháp. Có hai hệ tượng Kim Cương trong các ngôi chùa Việt: 23
  24. + Bát Bộ Kim Cương gồm Thanh Trì Tai, Tích Độc Thần, Hoàng Tùy Cầu, Bạch Tịnh Thủy, Xích Thanh Hỏa, Đinh Trì Tai, Tử Hiền, Đại Lực Thần. + Hai vị Khuyến Thiện và Trừng Ác : hình dáng khá to lớn, nhiều khi ngồi trên lưng con lân - Tượng Đức Ông hình dạng quan văn ngồi trên bệ, hai bên có hai tượng phụ tá là Già Lam và Chân Tể. Bàn thờ thường đặt bên trái nơi khách hành hương đi vào thường gặp. Lễ ở bàn thờ ngài mang ý nghĩa như một hình thức xin phép trước khi vào. - Tượng Thánh Tăng / A Nan Đà đặt đối xứng bàn thờ Đức Ông. Hỗ trợ cho thánh tăng có Diêm Nhiên. Đại sĩ A Nan Đà đại diện cho tất cả các sư sãi. - Tượng Tổ Huyền Đăng / Thập Bát La Hán - Tượng hậu chùa là những tượng được thờ ở nhà hậu hoặc ở hai bên tường ngồi của tiền đường. Gồm tượng Tổ chùa thờ những vị tăng qua đời tại chùa, nơi thờ gọi là nhà tổ; Điện Mẫu phản ánh tín ngưỡng đa thần của người Việt, một dạng sinh hoạt “tiền Phật hậu Mẫu” Các vị Phật và một số Bồ Tát có mảng sơn màu tử kim (vàng rồng) để biểu hiện về sự đã đạt đạo. Một số vị khác thì có màu hồng phấn vì các vị còn phải lăn lộn nhiều để cứu vớt chúng sinh. Hầu như toàn bộ tượng Phật và Bồ Tát đều để chân trần để mỗi bước đi tránh giẫm chết những sinh vật bé nhỏ. Tất cả các tượng Phật của Việt Nam trừ tượng Di Lặc đều được thể hiện dưới dạng tóc kết các cuộn hình ốc, trên đầu thường có cái bướu nhục kháo – biểu tượng gắn với trí tuệ, giác ngộ, siêu thoát. Tất cả các tượng phật đều được ngồi ở hàng chính giữa riêng bộ Tam Thế thì dàng hàng ngang, các tượng Bồ Tát đều vấn tóc lên đỉnh và được bao bằng thiên quang (một hình thức kết hợp giữa mũ và khăn). Cũng có khi chỉ là vấn khăn hay là đội mũ tỳ lư khất phật. Tượng Bồ Tát thì tay của các vị có các dạng kết ấn như ấn liên hoa, mật phùng, vô úy, gia trì bổn tôn, cam lồ, thuyết pháp, cứu độ Nhìn chung các pho tượng Bồ Tát đều mang tính nổi bật về trí tuệ và từ bi. 6.1.2. Tượng thờ Đạo giáo/Đạo quán Có hai dạng quán : - Quán không có tượng thờ: Bích Câu đạo quán gắn với nhân vật Từ Thức, nặng yếu tố thần tiên. - Quán như chùa có các đặc điểm sau: + Tượng Lão giáo và tượng Phật + Chứa chủ yếu các yếu tố thần linh lão giáo Trung Hoa * Hệ thống tượng thờ Lão giáo gồm + Tượng Tam Thanh gồm Nguyên Thủy Thiên Tôn, Linh Bảo Đạo Quân, Thái Thượng Lão Quân đặt trên chính điện cao nhất, phục trang theo lối đạo sĩ ngồi trên bệ 24
  25. có trang trí rồng lân, các bức tượng về phục trang còn nhận diện được như tóc búi lên đỉnh, áo thụng, buông chân trên bệ + Tượng Thánh Phụ bên tả và Thánh Mẫu bên hữu; + Tượng Ngọc Hoàng Thượng Đế đội mũ bình thiên; + Một số di tích còn có thêm bộ tượng gọi là Tứ Trấn, Cửu Diện Tinh Quân (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, mặt trời, mặt trăng, hổ phù, kế đô) đặt ở bên tường của thượng điện. Tùy từng ngôi đền của từng địa phương mà có thêm một số vị thần được phối thờ chung. 6.1.3. Tượng thờ ở đình làng Phổ biến ở các đình làng là ngai và bài vị : biểu tượng của sự thờ phụng. Ở đình ít có tượng. Đối tượng thờ chủ yếu là nhân thần : thành hoàng làng. Có một vài ngôi đình có tượng và tượng này cũng gắn với nhân thần song nó còn là biểu hiện của sự kết hợp với đạo giáo. 6.1.4. Tượng mồ Tượng mồ cũng nằm trong tượng thờ nhân cách nhưng xuất hiện ở các lăng mộ, có các dạng như: + Tượng người và linh thú ở lăng mộ vua chúa Việt (lăng Khải Định); + Tượng người và thú ở các nhà mồ Tây Nguyên. 6.1.5. Tượng thờ văn miếu Tượng thờ mang tính chất kỉ niệm người đã sáng lập ra học thuyết Nho giáo và những học trò đã vận dụng xuất sắc học thuyết này. Hệ thống tượng thờ ít, chủ yếu ở Văn Miếu – Hà Nội gồm có tượng Khổng Tử và Tứ Phối 6.2. Đồ thờ phi nhân cách / vật thờ 6.2.1. Bàn thờ Bàn thờ được coi là biểu tượng của thế giới bên trên, có nhiều dạng khác nhau như nhang án, sập thờ, ỷ thờ và nhiều hiện vật khác. + Nhang án: bằng đá, gỗ, gốm, phổ biến ở chùa là nhang án đá hoa sen hình hộp chữ nhật + Đồ thờ chính trên hương án gồm hương, nến, cành kỳ nam, bệ Tam Sơn. Đình, đền thì có đỉnh đồng hoặc lư tròn ba chân. + Cách xếp đặt bàn thờ theo nguyên tắt cổ xưa là “đông bình tây quả”. Hoa quả đặt trên mâm bồng gồm ngũ quả tượng trưng cho năm phương mà chúng sinh quần tụ đồng thời mang tâm thức Phật giáo: hạnh phúc từ nhà Phật tỏa đi năm phương. Nải chuối tượng trưng cho bàn tay phật. 25
  26. + Ở hai góc của bàn thờ có hai lọ hoa với hai cành hoa cúc vạn thọ tượng trưng cho ngày và đêm. Khám thờ, ngai, bài vị biểu hiện uy quyền nhằm tôn vinh các vị thần. Một số đồ thờ tiêu biểu : + Bát hương; + Đèn thờ - bộ tam sự, ngũ sự; + Ngai thờ; + Sập thờ; + Khám thờ; + Những đồ thờ riêng. Đồ thờ có liên quan : + Những đồ thờ phụ, trang trí gần bàn thờ; + Mỗi loại hình di tích có cách sắp xếp khác nhau’  Chùa: thủ xích, thiền trượng, một số pháp khí;  Các đền đình: lỗ bộ, chấp kích, bộ bát bửu Một vài vật thờ tiêu biểu : Đồ bát bửu: bát bửu là tám đồ quý sử dụng trong lễ rước để tăng uy nghi việc thần có mặt trong chùa, đình. Có các hình tượng sau: Quạt vả, gươm, đàn, hòm sách, chủ phất, bút lông Gậy như ý, cuốn thư, lẵng hoa, bầu rượu, quạt vả, pho sách Đôi sáo, tì bà, quạt vả, chiếc khánh, lẵng hoa, pho sách Nói chung trong lễ nghi ta muốn thông qua bát bửu để bày tỏ ước muốn, cầu xin những điều tốt lành. - Đồ chấp kích - vũ khí gắn với thần linh như qua, đại đao, long câu, gậy, phủ việt, kiếm, thường đặt hai bên điện thờ. Chấp kích có thể bằng gỗ, đồng và được cắm vào giá. Khi ở điện thờ nó làm tăng lên uy quyền của vị thần. - Đồ lỗ bộ là một số vũ khí thiêng dùng để rước các thần có công và linh thiêng như hai thanh mác trường, cờ tiết mao, hai phủ việt, dùi đồng, hai biển “tĩnh túc” và “hồi tị”, tay văn, tay võ - Lọng là vật sử dụng để tôn cao thần trong đám rước. Tùy theo cấp bậc mà có số lượng, màu sắc, hình dáng và kích thước khác nhau Những linh vật mang tính cách đồ thờ: - Chùa là nơi kiểm soát tâm hồn kẻ hành hương, những linh vật nơi đây như voi, trâu, tê giác, ngựa, lân các linh vật nằm trên đài sen với ý nghĩa giải thoát tự nhiên. - Các lăng mộ của vua chúa có những linh vật truyền thống như chó, hổ 26
  27. - Linh vật gắn trực tiếp với đồ thờ là phượng, hạc. Phượng là biểu tượng của thánh nhân và vũ trụ, mang sức mạnh siêu phàm, trên bàn thờ nó được đồng nhất với thánh nhân. Phượng được tạc để đứng trên hồ sen. + Trong nhiều di tích đình, đền hạc đứng trên lưng rùa, hạc biểu hiện cho tầng trên và rùa biểu hiện cho tầng dưới tạo nên thế kết hợp âm dương đối đãi. Miệng hạc ngậm hạt tròn tượng trưng cho viên ngọc pháp. Ở giữa đôi hạc có một đỉnh đồng, mỗi chân đỉnh có trang trí một con quỳ một đầu một chân, khi nó xuất hiện là điềm báo thánh nhân xuất thế. Hai tai đỉnh đồng chạm hổ phù. + Linh vật gắn với nho giáo: rồng (bên trái), hổ (bên phải) biểu thị sự hội tụ của các tri thức và đề cao thần thánh. + Linh vật gắn với đạo Mẫu là năm con hổ tượng trưng cho năm phương của thế giới trần gian. - Kiệu thờ: có nhiều loại kiệu khác nhau như kiệu bát công, kiệu long đình, kiệu võng Trong đám rước nó là vật chính, vượt cao hơn hẳn dòng người. - Chuông: chuông thường gắn với các ngôi chùa nhưng trong quá trình phát triển nó cũng bước ra các di tích khác như đền, đình Chuông có nhiều loại nhưng phổ biến có loại đại hồng chung, bảo chúng chung, gia trì chung - Bảng, khánh: là một món pháp khí của đạo Phật, dùng cả ngày lẫn đêm ở các tùng lâm, tu viện, học viện phật học - Mõ: bằng gỗ, nhiều hình dạng khác nhau nhưng phổ biến là hình cá. - Trống thờ: trống lớn / trống đại / trống sấm và trông nhỏ / trống lệnh. - Trụ thờ bằng đá hay thạch trụ hình lư hương - Đồ mã: xuất phát từ quan niệm của người Việt, làm đẹp bàn thờ là tôn sùng thần linh, gắn với quan niệm trần sao âm vậy. Đồ mã gồm có nón tứ phụ, vàng tứ phủ; đồ mã lễ gồm voi, ngựa, thuyền rồng, mũ bình thiên, mũ ngũ phương, mũ Nam Tào Bắc Đẩu - Chùm “sơn trang” khối hình cây cối, rủ lá như cây liễu năm mã hình nhân cho ba miền Trời, Đất, Nước. Câu hỏi Bài 3 1. Niên hiệu là gì? Niên đại là gì? Ví dụ? 2. Vị trí và hướng của công trình di tích, thắng cảnh là gì? 3. Linh vật trong các di tích thắng cảnh là gì? (Động vật và thực vật) 4. Hình tượng cây ở di tích, thắng cảnh Việt Nam? 5. Đồ thờ nhân cách là gì? Ví dụ? 6. Đồ thờ phi nhân cách là gì? Ví dụ? 27
  28. BÀI 4 (4 tiết) MỘT SỐ DI TÍCH DANH THẮNG TIÊU BIỂU BẮC BỘ Năm Di tích Tỉnh Huyện Mục / Hạng công Ghi chú nhận 1.Khu Di Tích Côn Hải Chí Linh lịch sử, đặc biệt Sơn - Kiếp Bạc Dương 2.Đền Hùng Phú Thọ Việt Trì lịch sử, đặc biệt 3.Chiến trường Điện lịch sử cách Điện Biên Điện Biên Phủ Biên Phủ mạng, đặc biệt Di sản Quảng Thắng cảnh, đặc 4.Vịnh Hạ Long Hạ Long 1962 UNESCO Ninh biệt từ 1994 5.Phủ Chủ tịch Hà Nội Ba Đình lịch sử, đặc biệt 1975 6.Hoàng thành Hà Nội Ba Đình lịch sử, đặc biệt Thăng Long 7.Động và chùa Ninh Hoa Lư lịch sử, đặc biệt Bích Động Bình 8.Quần thể danh Ninh thắng cảnh, đặc Hoa Lư thắng Tràng An Bình biệt Ninh thắng cảnh, đặc 9.Tam Cốc Hoa Lư Bình biệt 1. Đền Hùng 1.1.Giới thiệu Đền Hùng là tên gọi khái quát quần thể đền chùa thờ phụng các Vua Hùng và tôn thất của nhà vua trên núi Nghĩa Lĩnh, gắn với lễ hội Đền Hùng được tổ chức tại địa điểm đó hàng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch. Hiện nay, theo các tài liệu khoa học đã công bố đa số đều thống nhất nền móng kiến trúc đền Hùng bắt đầu được xây dựng từ thời vua Đinh Tiên Hoàng trị vì. Đến thời Hậu Lê (thế kỷ 15) được xây dựng hoàn chỉnh theo quy mô như hiện tại. 28
  29. Lăng Hùng vương trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh 1.2. Vị trí Quần thể di tích đền Hùng nằm từ chân núi đến đỉnh ngọn núi Nghĩa Lĩnh cao 175 mét (núi có những tên gọi như Núi Cả, Nghĩa Lĩnh, Nghĩa Cương, Hy Cương, Hy Sơn, Bảo Thiếu Lĩnh, Bảo Thiếu Sơn), thuộc địa phận xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, trong khu rừng được bảo vệ nghiêm ngặt giáp giới với những xã thuộc huyện Lâm Thao, Phù Ninh và vùng ngoại ô thành phố Việt Trì, cách trung tâm thành phố Việt Trì khoảng 10 km. Khu vực đền Hùng ngày nay nằm trong địa phận của kinh đô Phong Châu của quốc gia Văn Lang cổ xưa. Theo cuốn Ngọc phả Hùng Vương, đương thời các Vua Hùng đã cho xây dựng điện Kính Thiên tại khu vực núi Nghĩa Lĩnh này. 1.3. Quá trình phát triển Đền Hùng được Bộ Văn hóa thông tin xếp hạng là khu di tích đặc biệt của quốc gia vào năm 1962. Đến năm 1967, Chính phủ Việt Nam đã quyết định khoanh vùng xây dựng khu rừng cấm Đền Hùng. Ngày 8 tháng 2 năm 1994, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt dự án quy hoạch tổng thể Khu di tích lịch sử Đền Hùng lần thứ nhất, tạo tiền đề cho việc đầu tư xây dựng nhiều công trình hạng mục trong khu di tích. Ngày 6 tháng 1 năm 2001, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 82/2001/NĐ-CP, quy định về quy mô, nghi lễ tổ chức giỗ Tổ Hùng Vương và lễ hội Đền Hùng hàng năm. Ngày 10 tháng 3 trở thành ngày quốc lễ, ngày giỗ Tổ Hùng Vương. Khu di tích lịch sử Đền Hùng đã không ngừng lớn mạnh, được thể hiện sâu sắc và rõ nét hơn qua hàng loạt công trình kiến trúc văn hóa đầu tư xây dựng. Nổi bật nhất 29
  30. là từ sau Quyết định số 84/2004/QĐ-TTg ngày 30 tháng 3 năm 2004 về việc phê duyệt quy hoạch phát triển Khu di tích lịch sử Đền Hùng đến năm 2015. Nhiều công trình tiếp tục được xây dựng tại khu di tích Đền Hùng như Đền thờ Lạc Long Quân, đường hành lễ tại trung tâm lễ hội, trụ sở làm việc và nhà tiếp đón khách của khu di tích, đài tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ Trước sự phát triển và quy mô ngày càng lớn, đòi hỏi phải có một bộ máy quản lý tương xứng. Ngày 23 tháng 2 năm 2005, UBND tỉnh Phú Thọ đã ban hành Quyết định số 525/2005/QĐ-UB về việc nâng cấp Ban quản lý Khu di tích Đền Hùng thuộc Sở Văn hóa thông tin Phú Thọ thành Khu di tích lịch sử Đền Hùng trực thuộc UBND tỉnh. Ngày 6 tháng 12 năm 2012, UNESCO công nhận Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại với những yếu tố thuộc đời sống tâm linh của người Việt Nam đã tồn tại từ hàng nghìn năm nay, thể hiện nền tảng tinh thần đại đoàn kết dân tộc và gắn kết cộng đồng. Tính độc đáo của tín ngưỡng này thể hiện rất rõ ở yếu tố thờ Hùng Vương chính là thờ Quốc tổ. Đây là hiện tượng văn hóa không phải dân tộc nào cũng có. 1.4. Một số di tích chính trong Đền Hùng Đền Hạ Cổng dẫn lên khu DT đền Đền Giếng Hùng Đền Trung Đền Thượng 1. Đền Hạ: Tương truyền là nơi Âu Cơ sinh hạ bọc trăm trứng, sau nở thành 100 người con. 2. Nhà bia: Nhà bia nằm ngay cạnh đền Hạ có kiến trúc hình lục giác với 6 mái. Trong nay đặt tấm bia đá khắc dòng chữ quốc ngữ: "Các Vua Hùng đã có công dựng 30
  31. nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước". Đây là câu nói nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến thăm Đền Hùng ngày 19 tháng 9 năm1954. 3. Chùa Thiên Quang: còn gọi là Thiên quang thiền tự, tọa lạc gần đền Hạ. 4. Đền Trung: Tương truyền là nơi các Vua Hùng cùng các Lạc hầu, Lạc tướng du ngoạn Nghĩa Lĩnh ngắm cảnh và họp bàn việc nước. 5. Đền Thượng: Đền được đặt trên đỉnh núi, nơi ngày xưa theo truyền thuyết cácVua Hùng thường lên tiến hành các nghi lễ, tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp thờ trời đất, thờ thần lúa, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, nhân khang vật thịnh. Ngoài cổng đền có dòng đại tự: "Nam Việt triệu tổ" (tổ tiên của Việt Nam). 6. Cột đá thề: Bên phía tay trái đền Thượng có một cột đá gọi là cột đá thề, tương truyền do Thục Phándựng lên khi được Vua Hùng thứ 18 truyền ngôi để thề nguyện bảo vệ non sông đất nước mà Hùng Vương trao lại và đời đời hương khói trông nom miếu vũ họ Vương. 7. Lăng Hùng Vương (Hùng Vương lăng) tương truyền là mộ của Vua Hùng thứ 6. Lăng mộ nằm ở phía đông đền Thượng, mặt quay theo hướng Đông Nam. Xưa đây là một mộ đất, thời Tự Đức năm thứ 27 (năm 1870) đã cho xây mộ dựng lăng. Thời Khải Định tháng 7 (năm 1922) trùng tu lại. 8. Đền Giếng: Tương truyền là nơi công chúa Tiên Dung và công chúa Ngọc Hoa (con gái của Vua Hùng thứ 18) thường soi gương, vấn tóc khi theo cha đi kinh lý qua vùng này. Đền được xây dựng vào thế kỷ thứ 18. 9. Đền Tổ mẫu Âu Cơ: Là một ngôi đền mới, được bắt đầu xây dựng vào năm 2001 và khánh thành tháng 12 năm 2004. Đền được xây dựng trên núi Ốc Sơn (núi Vặn). 1.5. Hành trình của du khách Khu di tích lịch sử đền Hùng bao gồm bốn đền chính là đền Hạ, đền Trung, đền Thượng và đền Giếng. Từ những bậc đầu tiên dưới chân núi, du khách sẽ qua cánh cổng, bước nhiều bậc đá lên thắp hương và thăm thú các đền, kết thúc tại đền Thượng trên đỉnh Nghĩa Lĩnh, nơi có lăng mộ vua Hùng thứ 6. 1.6. Lễ hội đền Hùng Văn học dân gian Việt Nam nói về lễ hội đền Hùng như sau: Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba Lễ hội đền Hùng còn gọi là Giỗ tổ Hùng Vương là một lễ hội lớn mang tầm vóc quốc gia ở Việt Nam, tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn công lao lập nước của các vua Hùng, những vị vua đầu tiên của dân tộc. Lễ hội diễn ra vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, tuy nhiên, lễ hội thực chất đã diễn ra từ hàng tuần trước đó với những phong tục như đâm đuống (đánh trống đồng) của dân tộc Mường, hành hương tưởng niệm các vua 31
  32. Hùng, và kết thúc vào ngày 10 tháng 3 âm lịch với lễ rước kiệu và dâng hương trên đền Thượng. Lễ hội đền Hùng hiện được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nâng lên thành giỗ quốc Tổ tổ chức lớn vào những năm chẵn. Có 2 lễ được cử hành cùng thời điểm ngày chính hội: Lễ rước kiệu vua: Đám rước kiệu với màu sắc sặc sỡ của bạt ngàn cờ, hoa, lọng, kiệu, trang phục truyền thống xuất phát từ dưới chân núi rồi lần lượt qua các đền để tới đền Thượng, nơi làm lễ dâng hương. Đám rước như một con rồng uốn lượn trên những bậc đá dưới những tán lá cây để tới đỉnh núi Thiêng. Lễ dâng hương: Người hành hương tới đền Hùng chủ yếu vì nhu cầu của đời sống tâm linh. Mỗi người đều thắp lên vài nén hương khi tới đất Tổ để nhờ làn khói thơm nói hộ những điều tâm niệm của mình với tổ tiên. Trong tâm hồn người Việt thì mỗi nắm đất, gốc cây nơi đây đều linh thiêng và chẳng có gì khó hiểu khi nhìn thấy những gốc cây, hốc đá cắm đỏ những chân hương. Phần hội có nhiều trò chơi dân gian đặc sắc. Đó là những cuộc thi hát xoan (tức hát ghẹo), một hình thức dân ca đặc biệt của Phú Thọ, những cuộc thi vật, thi kéo co, hay thi bơi trải ở ngã ba sông Bạch Hạc, nơi các vua Hùng luyện tập các đoàn thủy binh luyện chiến. Từ năm 2001, giỗ tổ Hùng Vương trở thành quốc lễ. Từ ngày 10/3/ 2007 âm lịch hàng năm là ngày nghỉ lễ. Lê hội đền Hùng những năm lẻ sẽ do tỉnh Phú Thọ đứng ra tổ chức. Các năm chẵn sẽ có quy mô ở các cấp trung ương. Lễ hội đền Hùng không chỉ diễn ra ở khu di tích lịch sử đền Hùng Phú Thọ mà sẽ diễn ra ở nhiều địa phương trong cả nước như thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đà Nẵng.v.v 2. Côn Sơn – Kiếp Bạc Khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc là một trong 62 di tích quốc gia đặc biệt quan trọng của Việt Nam. Quần thể di tích này thuộc địa bàn thị xã Chí Linh tỉnh Hải Dương. Nơi đây gồm quần thể các di tích lịch sử liên quan đến những chiến công lẫy lừng trong ba lần quân dân thời Trần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII và trong cuộc kháng chiến 10 năm của nghĩa quân Lam Sơn chống quân Minh ở thế kỷ XV. Đây là nơi gắn liền với thân thế, sự nghiệp của các vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo cùng với nhiều danh nhân văn hoá của dân tộc: Trần Nguyên Đán, Pháp Loa, Huyền Quang Điểm nhấn của khu di tích này là chùa Côn Sơnvà đền Kiếp Bạc Ngày 18/6/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 920/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn Khu di tích lịch sử - văn hóa Côn Sơn – Kiếp Bạc gắn với phát triển du lịch, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Trong dịp Lễ hội mùa thu năm 2012, Khu Di tích lịch sử - văn hóa Côn Sơn - Kiếp Bạc đã được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt. 32
  33. 2.1. Chùa Côn Sơn Chính điện chùa Côn Sơn Chùa Côn Sơn tên chữ là "Thiên Tư Phúc Tự", nghĩa là chùa được trời ban cho phước lành. Chùa kiến trúc theo kiểu chữ công, gồm Tiền đường, Thiêu lương, Thượng điện là nơi thờ Phật, trong đó có những tượng Phật từ thời Lê cao tới 3 mét. Tiếp đến nhà Tổ là nơi thờ các vị tổ có công tu nghiệp đối với chùa: Điều ngư Trúc Lâm Trần Nhân Tông, Thiền sư Pháp Loa và Thiền sư Huyền Quang. Đường vào Tam quan lát gạch, chạy dài dưới hàng thông trăm năm phong trần xen lẫn những tán vải thiều xum xuê xanh thẫm. Tam quan được tôn tạo năm 1995, kiểu cổ, có 2 tầng 8 mái với các hoạ tiết hoa lá, mây tản cách điệu của nền nghệ thuật kiến trúc thời Lê. Sân chùa có 4 nhà bia. Chùa nằm dưới chân núi Côn Sơn. Tương truyền nơi đây là nơi hun gỗ làm than và đã từng diễn ra trận hoả công hun giặc, dẹp loạn 12 sứ quân của Đinh Bộ Lĩnh ở thế kỷ X. Nên ngoài tên gọi Côn Sơn, núi còn có tên là Kỳ Lân hay núi Hun. Chùa "Thiên Tư Phúc Tự" trong dân gian quen gọi theo tên núi là chùa Côn Sơn hay còn gọi là Chùa Hun. Thiền sư Huyền Quang vị tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm - một thiền phái mang màu sắc dân tộc Việt Nam đã về tu ở chùa Côn Sơn. Tại Côn Sơn Huyền Quang cho lập đài Cửu phẩm liên hoa, biên tập kinh sách, làm giảng chủ thuyết pháp phát triển đạo phái không ngừng. Ngày 22 tháng giêng năm Giáp Tuất (1334) Thiền sư Huyền Quang viên tịch tại Côn Sơn. Vua Trần Minh Tông đã cấp cho ruộng để thờ và cho xây tháp tổ sau chùa, đặc phong Tự Tháp "Huyền Quang tôn giả". Chùa Côn Sơn có từ thời Trần (truyền thuyết cho rằng Chùa có từ thời Đinh), năm Khai Hựu nguyên niên (1329), được Pháp Loa tôn tạo với quy mô lớn. Dấu vết của lần trùng tu này còn hiện diện đến nay. Nguyễn Trãi từng làm Đề cử chùa Côn Sơn. Chùa Côn Sơn xưa nay là danh lam cổ tích của đất nước, hiện còn nhiều dấu tích và cổ vật có giá trị. 2.2. Đền Kiếp Bạc Kiếp Bạc là tên ghép của hai làng Vạn Yên (làng Kiếp) và Dược Sơn (làng Bạc). Nơi đây là thung lũng trù phú, xung quanh có dãy núi Rồng bao bọc tạo. Vào thế 33
  34. kỷ 13, đây là nơi đóng quân và là phủ đệ của Trần Hưng Ðạo, người anh hùng dân tộc, người chỉ huy quân sự tối cao trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông. Ðền thờ Trần Hưng Đạo được dựng vào đầu thế kỷ 14, trên một khu đất ở trung tâm thung lũng Kiếp Bạc. Trong đền hiện còn 7 pho tượng bằng đồng: tượng Trần Hưng Ðạo, phu nhân, 2 con gái, Phạm Ngũ Lão, Nam Tào, Bắc Ðẩu và 4 bài vị thờ 4 con trai. Hàng năm, hội đền được tổ chức vào ngày mất của Trần Hưng Ðạo (ngày 20 tháng 8 âm lịch). 2.3. Đền thờ Nguyễn Trãi Đền thờ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn - Hải Dương Đền thờ Nguyễn Trãi khởi công xây dựng ngày 14-12-2000, trên khuôn viên đất rộng gần 10.000 mét vuông, tại chân núi Ngũ Nhạc, nằm trong khu vực Thanh Hư Động và gần nơi ngày xưa từng có đền thờ bà Trần thị Thái, thân mẫu củaNguyễn Trãi. Phía bên phải là dòng suối Côn Sơn chảy từ Bắc xuống Nam, uốn lượn từ phải qua trái, ôm lấy khu Đền. Đền thờ chính, hai nhà Tả vu, Hữu vu, Nghi môn nội, Nghi môn Ngoại, Nhà Bia, Am hoá vàng, cầu vào cổng chính, cầu qua suối Côn Sơn theo kiểu thượng gia hạ kiều để lên Thạch Bàn, nhà từ đền, hệ thống sân vườn, đường cấp thoát nước Ngôi đền chính tưa lưng vào Tổ Sơn, hai bên tì vào hai dãy núi Ngũ Nhạc và Kỳ Lân là tả Thanh long và hữu Bạch hổ. Phía trước có hồ nước rộng, tiếp theo là núi Trúc Thôn đối diện với núi Phượng Hoàng. Xa xa là dãy núi An Lạc. Đền thờ Nguyễn Trãi là công trình trọng điểm nằm trong quần thể khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc, kiến trúc theo truyền thống và rất độc đáo; với một nguồn lớn kinh phí cùng với những người có tâm đức, các Nghệ nhân và những người thợ khéo tay, cần mẫn lao động hơn 2.500 ngày để có được công trình hôm nay, thoả mãn cao nhất nhu cầu du lịch gắn với lịch sử và tâm linh của các thế hệ mai sau. Tại gian tiền tế của đền Kiếp Bạc hiện còn trưng bày 2 đoạn xương ống chân voi. Tương truyền đây là con voi chiến của Hưng Đạo Đại Vương - Trần Quốc Tuấn trong khi ra trận bị sa lầy tại cánh đồng gần tỉnh Thái Bình, mặc dù quân sỹ dốc sức làm mọi cách để cứu voi khỏi bị sa lầy nhưng vẫn không cứu nổi, Trần Hưng Đạo đành phải bỏ voi lại để tiếp tục tiến quân ra chiến trường và có chỉ gươm xuống đất thề sẽ quay lại cứu voi khi 34
  35. thắng trận. Thắng trận trở về đến cánh đồng nơi voi bị sa lầy nhưng con voi đã chết vì bị chìm lún xuống bùn. Tương truyền 2 ống xương chân voi hiện đang đặt tại gian tiền tế đền Kiếp Bạc là xương của con voi trung thành của Đức Thánh Hưng Đạo Đại Vương. 2.4. Đền thờ Trần Nguyên Hãn Đền thờ Trần Nguyên Hãn nằm trên đền thờ Nguyễn Trãi, cũng ở ven suối. Trần Nguyên Hãn là đại công thần nhà Lê và là em con cậu ruột của Nguyễn Trãi. 2.5. Đền thờ Trần Nguyên Đán Nằm ở phía trên cả đền thờ Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn, gần thượng nguồn suối Côn Sơn. Trần Nguyên Đán là ông Nguyễn Trãi. Các đền này đều rất đẹp và hợp thành một quần thể mới hoàn toàn hòa hợp với quần thể chùa Côn Sơn cũ. Năm 1385, Trần Nguyên Đán cùng vợ đưa cháu ngoại Nguyễn Trãi về sống tại Côn Sơn. Ông nuôi dạy Nguyễn Trãi trưởng thành. Tại Côn Sơn ông cùng vợ trồng rừng thông, bãi giễ và xây dựng quần thể kiến trúc trong núi. Động Thanh Hư là công trình quy mô, hoành tráng với nhiều hạng mục kiến trúc hoà với thiên nhiên, trong đó có các nơi "Nghỉ ngơi, chơi ngắm" là thẳng cảnh tiêu biểu mà từ lâu đã trở thành địa danh, di tích nổi tiếng, đi vào thi ca sử sách ở nhiều thời đại. Năm 1390, Quan Đại Tư Đồ Trần Nguyên Đán tạ thế tại Côn Sơn. Vua Trần nhớ công đức của ông, sắc chỉ cho nhân dân lập đền, tạc tượng thờ Người tướng quốc tại Côn Sơn. Trải qua năm tháng Đền thờ xưa không còn. Năm 2005, tỉnh Hải Dương xây dựng Đền Thanh Hư trên nền nhà cũ của Ông giữa rừng tùng bách tại Côn Sơn. Đền Thanh Hư kiến trúc theo chữ Đinh, toà Tiên bái chồng diêm cổ các hai tầng tám mái uy nghi. Đền tựa núi Ngũ Nhạc, Minh Đường hướng đông nam, hồ Côn Sơn nơi tụ phong, tụ thuỷ; núi An Lạc làm Tiền Án, dãy An Sinh thế long chầu. Trong Đền hệ thống hoành phi, câu đối, đồ thờ bài trí theo nghi thức truyền thống. Tượng Quan Đại Tư Đồ thần thái uy nghiêm, nhân từ. 3. Vịnh Hạ Long 3.1. Giới thiệu (Vịnh nơi rồng đáp xuống) là một vịnh nhỏ thuộc phần bờ Tây vịnh Bắc Bộ tại khu vực biển Đông BắcViệt Nam, bao gồm vùng biển đảo thuộc thành phố Hạ Long, thành phố Cẩm Phả và một phần của huyện đảo Vân Đồn của tỉnh Quảng Ninh. Là trung tâm của một khu vực rộng lớn có những yếu tố ít nhiều tương đồng về địa chất, địa mạo, cảnh quan, khí hậuvà văn hóa, với vịnh Bái Tử Long phía Đông Bắc và quần đảo Cát Bà phía Tây Nam, vịnh Hạ Long giới hạn trong diện tích khoảng 1.553 km² bao gồm 1.969 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn là đảo đá vôi, trong đó vùng lõi của Vịnh có diện tích 335 km² quần tụ dày đặc 775 hòn đảo. Lịch sử kiến tạo địa chất đá vôi của Vịnh đã trải qua khoảng 500 triệu năm với những hoàn cảnh cổ địa lý rất 35
  36. khác nhau; và quá trình tiến hóa carxtơ đầy đủ trải qua trên 20 triệu năm với sự kết hợp các yếu tố như tầng đá vôi dày, khí hậu nóng ẩm và tiến trình nâng kiến tạo chậm chạp trên tổng thể. Sự kết hợp của môi trường, khí hậu, địa chất, địa mạo, đã khiến vịnh Hạ Long trở thành quần tụ của đa dạng sinh học bao gồm hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và hệ sinh thái biển và ven bờ với nhiều tiểu hệ sinh thái[3]. 14 loài thực vật đặc hữu[4] và khoảng 60 loài động vật đặc hữu đã được phát hiện trong số hàng ngàn động, thực vật quần cư tại Vịnh. 3.2. Điều kiện tự nhiên và xã hội Vị trí Là một vịnh nhỏ, bộ phận của vịnh Bắc Bộ, Vịnh Hạ Long được giới hạn với phía Đông Bắc giáp vịnh Bái Tử Long; phía Tây Nam giáp quần đảo Cát Bà; phía Tây và Tây Bắc giáp đất liền bằng đường bờ biển khoảng 120 km kéo dài từ thị xã Quảng Yên, qua thành phố Hạ Long, thành phố Cẩm Phả đến hết huyện đảo Vân Đồn; phía Đông Nam và phía Nam hướng ra vịnh Bắc Bộ. Trong diện tích 1.553 km² gồm vùng lõi và vùng đệm, nằm tại các tọa độ từ 106°58'-107°22' Đông và 20°45'-20°50' Bắc, vịnh Hạ Long bao gồm 1.969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa được đặt tên. Môi trường và khí hậu Vịnh Hạ Long là vùng biển đảo có khí hậu phân hóa 2 mùa rõ rệt: mùa hạ nóng ẩm với nhiệt độ khoảng 27-29 °C vàmùa đông khô lạnh với nhiệt độ 16-18 °C, nhiệt độ trung bình năm dao động trong khoảng 15-25 °C. Lượng mưa trên vịnh Hạ Long vào khoảng từ 2.000mm–2.200mm tuy có tài liệu chi tiết hóa lượng mưa là 1.680mm với khoảng trên 300mm vào mùa nóng nhất trong năm (từ tháng 6 đến tháng 8) và dưới 30mm vào mùa khô nhất trong năm (từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau). Hệ thủy triều tại vịnh Hạ Long rất đặc trưng với mức triều cường vào khoảng 3,5-4m/ngày. Độ mặn trong nước biển trên vùng Vịnh dao động từ 31 đến 34.5MT vào mùa khô nhưng vào mùa mưa, mức này có thể thấp hơn. Mực nước biển trong vùng Vịnh khá cạn, có độ sâu chỉ khoảng 6m đến 10m và các đảo đều không lưu giữ nước bề mặt. Dân số Trong số 1.969 đảo của Hạ Long hiện nay chỉ có khoảng 40 đảo là có dân sinh sống, những đảo này có quy mô từ vài chục đến hàng ngàn hecta tập trung chủ yếu ở phía Đông và Đông Nam vịnh Hạ Long[7]. Mấy chục năm gần đây, nhiều vạn chài sống trôi nổi trên mặt nước, bắt đầu lên một số đảo định cư biến những đảo hoang sơ trở thành trù phú như đảo Sa Tô (thành phố Hạ Long), đảo Thắng Lợi (huyện đảo Vân Đồn). Dân số trên vịnh Hạ Long hiện nay khoảng 1.540 người, tập trung chủ yếu ở các làng đánh cá Cửa Vạn, Ba Hang, Cặp Dè (thuộcphường Hùng Thắng, thành phố 36
  37. Hạ Long). Cư dân vùng Vịnh phần lớn sống trên thuyền, trên nhà bè để thuận tiện cho việc đánh bắt, nuôi trồng và lai tạo các giống thủy sản, hải sản. Ngày nay đời sống của cư dân Vịnh Hạ Long đã phát triển do kinh doanh dịch vụ du lịch. 3.3. Cảnh quan Cảnh quan đá, nước và bầu trời trên vịnh Hạ Long Vùng di sản trên vịnh Hạ Long được thế giới công nhận (vùng lõi) có diện tích 434 km², như một hình tam giác với ba đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía Tây), hồ Ba Hầm (phía Nam) và đảo Cống Tây (phía Đông), bao gồm 775 đảo với nhiều hang động, bãi tắm. Vùng kế bên (vùng đệm), là di tích danh thắng quốc gia đã được bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam xếp hạng từ năm 1962. Địa hình Hạ Long là đảo, núi xen kẽ giữa các trũng biển, là vùng đất mặn có sú vẹt mọc và những đảo đá vôi vách đứng tạo nên những vẻ đẹp tương phản, kết hợp hài hòa, sinh động các yếu tố: đá, nước và bầu trời. Biển và đảo Các đảo ở vịnh Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung ở hai vùng chính là vùng phía Đông Nam Vịnh Bái Tử Long và vùng phía Tây Nam vịnh Hạ Long. Theo thống kê của ban quản lý vịnh Hạ Long, trong tổng số 1.969 đảo của vịnh Hạ Long có đến 1.921 đảo đá với nhiều đảo có độ cao khoảng 200m. Đây là hình ảnh cổ xưa nhất của địa hình có tuổi kiến tạo địa chất từ 250-280 triệu năm về trước, là kết quả của quá trình vận động nâng lên, hạ xuống nhiều lần từ lục địa thành trũng biển. Quá trình carxtơ bào mòn, phong hóa gần như hoàn toàn tạo ra một vịnh Hạ Long độc nhất vô nhị, với hàng ngàn đảo đá nhiều hình thù, dáng vẻ khác nhau lô nhô trên mặt biển, trong một diện tích không lớn của vùng Vịnh. Vùng tập trung các đảo đá có phong cảnh ngoạn mục và nhiều hang động đẹp là vùng trung tâm Di sản Thiên nhiên vịnh Hạ Long, bao gồm phần lớn vịnh Hạ Long (vùng lõi), một phần vịnh Bái Tử Long và vịnh Lan Hạ thuộc quần đảo Cát Bà (vùng đệm). Hòn Con Cóc: Hòn Con Cóc nằm cách cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 12 km về phía Đông Nam, trên vùng vịnh Hạ Long. Đây là hòn núi đá rất đẹp có góc nghiêng và hình dáng như một con cóc ngồi xổm giữa biển nước, cao khoảng 9m. 37
  38. Hòn Gà Chọi: Hòn Gà Chọi Là một trong những hòn đảo nổi tiếng trên vịnh Hạ Long, hòn Gà Chọi (hay đôi khi gọi là Hòn Trống Mái) nằm gần hòn Đỉnh Hương ở phía Tây Nam của Vịnh, cách cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 5 km. Đây là cụm gồm 2 đảo có hình thù giống như một đôi gà, một trống một mái, có chiều cao khoảng hơn 10m với chân thót lại ở tư thế rất chênh vênh. Là biểu tượng trên logo của vịnh Hạ Long, hòn Gà Chọi cũng là biểu tượng trong sách hướng dẫn du lịch Việt Nam nói chung. Đảo Ngọc Vừng: Đảo Ngọc Vừng nằm cách cảng tàu du lịch khoảng 34 km, thuộc huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, có đặc điểm là một trong số ít đảo đất trên vùng vịnh Hạ Long. Xung quanh đảo có nhiều bãi biển đẹp, có núi Vạn Xuân cao 182m và có di chỉ khảo cổ thuộc văn hoá Hạ Long rộng 45.000m². Đảo Ngọc Vừng rộng 12 km², có người ở, có bến cảng cổ Cống Yên thuộc hệ thống thương cảng cổ Vân Ðồn từ thế kỷ 11, và có di tích thành cổ nhà Mạc, thành nhà Nguyễn. Phía đông của đảo có bãi cát dài tới hàng kilômét với cát trắng trải ra tới tận bến tàu. Khu vực này tương truyền trước kia có nhiều ngọc trai, đêm đêm phát sáng cả một vùng trời biển, nên có một số đảo mang tên đảo Ngọc như đảo Ngọc Vừng (ngọc phát sáng), hay Minh Châu (ngọc châu, ngọc sáng). Trước kia cư dân trên đảo sống bằng nghề đánh bắt hải sản và khai thác ngọc trai. Ngày nay cư dân ở đây vẫn còn mò trai lấy ngọc, đồng thời nghề nuôi trai lấy ngọc cũng đang phát triển mạnh. Hang động Không chỉ những biến đổi của những đảo đá màu xanh đen trên mặt nước biếc vùng Vịnh hấp dẫn du khách, trên những chiếc thuyền dơi màu nâu đỏ xuất phát từ bến tàu Hạ Long bắt đầu hành trình ngoạn cảnh, những khám phá lại tiếp tục khi du khách lên đảo, thăm thú những hang động ẩn chứa nhiều chứng tích lịch sử. Những hang động tại Hạ Long, theo các nhà thám hiểm địa chất người Pháp, khi nghiên cứu về vịnh Hạ Long đầu thế kỷ 20, khẳng định rằng hầu hết trong số chúng đều được kiến tạo trong thế Pleistocen kéo dài từ 2 triệu đến 11 ngàn năm trước, nằm trong 3 nhóm hang ngầm cổ, hang nền carxtơ và các hàm ếch biển. Hang Sửng Sốt: 38
  39. Thạch nhũ trong hang Sửng Sốt Hang Sửng Sốt, hay động Sửng Sốt nằm trên đảo Bồ Hòn ở trung tâm vịnh Hạ Long, được người Pháp đặt tên "Grotte des surprises" (động của những kỳ quan). Ðây là một hang động rộng và đẹp vào bậc nhất của vịnh Hạ Long. Nằm ở vùng trung tâm du lịch của Vịnh với hệ thống trong tuyến du lịch bao gồm bãi tắm Ti Tốp - hang Bồ Nâu - động Mê Cung-hang Luồn - hang Sửng Sốt. Vị trí và diện tích: Hang Sửng Sốt là một hang dạng ống, nằm ở độ cao 25m so với mực nước biển hiện tại. Diện tích khoảng 10.000m2, chiều dài hơn 200m, chỗ rộng nhất 80m, khoảng cách lớn nhất từ nền tới trần hang xấp xỉ 20m. Hang được chia thành 2 ngăn chính. Động Thiên Cung: Cách thành phố Hạ Long khoảng 8 km và cách bến tàu du lịch 4 km là đảo Vạn Cảnh, còn gọi là đảo Canh Độc có tọa độ 107°00'54" và 20°54'78". Trong sách Đại Nam nhất thống chí có ghi: hòn Canh Độc lưng chừng đảo có động rộng rãi chứa được vài ngàn người, gần đó có hòn Cặp Gà, Hòn Mèo, Hòn La Ngày nay, qua khảo cứu, đảo Vạn Cảnh có đỉnh cao 189m, hình dáng như một chiếc ngai ôm hai hang động là hang Đầu Gỗ nằm chênh vênh trên cao và động Thiên Cung ở cách mép nước không xa. Hang Đầu Gỗ và động Thiên Cung cách nhau chừng 100m, được thông nhau bằng những lối đi quanh co, uốn lượn dưới tán lá rừng. Động Thiên Cung nằm ở lưng chừng đảo Canh Độc, ở độ cao 25m so với mực nước biển. Du khách vừa bước vào cửa động Thiên Cung, lòng động đột ngột mở ra không gian có tiết diện hình tứ giác với chiều dài hơn 130 mét, với những măng đá như một đền đài mỹ lệ. Vách động cao và thẳng đứng được bao bọc bởi nhữngnhũ đá và trên mỗi vách động ấy thiên nhiên đã khảm nhiều hình thù kỳ lạ, hấp dẫn người xem. Đó là 4 cột trụ to lớn giữa động mà từ chân cột tới đỉnh đều được chạm nổi nhiều hình thù kỳ lạ như chim cá, cảnh sinh hoạt của con người, hoa lá cành; là những thạch nhũ mang hình tượng Nam Tào, Bắc Đẩu, tiên nữ múa hát; là trần hang với những điêu khắc người, chim, hoa, muông thú đang dự tiệc, hoàn toàn do bàn tay nhào nặn của tạo hóa tác thành qua hàng vạn năm. Cửa động nhỏ hẹp được giấu kín trong lòng núi nhưng càng đi vào bên trong, lòng động càng mở lớn và rộng, dẫn dắt người xem đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. 39
  40. Một góc vịnh Hạ long với biểu tượng Hòn Gà Chọi (ngoài cùng bên trái) Địa chất địa mạo Kiến tạo đá vôi kiểu Phong Tùng, một trong hai kiểu địa hình carxtơ đặc thù trên vịnh Hạ Long Các tiềm năng của vịnh Hạ Long Tiềm năng du lịch, nghiên cứu Với các giá trị ngoại hạng về cảnh quan và địa chất, địa mạo, lại là trung tâm của khu vực có nhiều yếu tố đồng dạng bao gồm vịnh Bái Tử Long phía Đông Bắc, quần đảo Cát Bà với vịnh Cát Bà và vịnh Lan Hạ phía Tây Nam, vịnh Hạ Long hội tụ những điều kiện thuận lợi để phát triển ngành kinh tế du lịch với loại hình đa dạng. Đến vịnh Hạ Long, du khách có thể tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, tham quan ngắm cảnh, tắm biển, bơi thuyền, thả dù, lặn khám phá rặng san hô, câu cá giải trí. Hiện nay, khách đến vịnh Hạ Long chủ yếu tham quan ngắm cảnh, tắm biển và bơi thuyền. Các loại hình du lịch du thuyền tại vịnh Hạ Long bao gồm tham quan Vịnh ban ngày, đi tour buổi chiều ngắm hoàng hôn trên Vịnh, du thuyền đêm để ngắm cảnh Vịnh về đêm kết hợp với câu cá mực, thậm chí có thể tự chèo thuyền để khám phá Vịnh. Trong những năm tới, ngành du lịch sẽ mở thêm nhiều tuyến điểm tham quan và tăng thêm nhiều loại hình du lịch khác. Dự kiến đến năm 2010, Quảng Ninh sẽ là một trong những điểm du lịch lớn nhất cả nước. Quá trình đô thị hóa thành phố Hạ Long đang diễn ra mạnh mẽ về mọi mặt là một tiền đề vững chắc để phát triển du lịch. Hiện thành phố Hạ Long có khoảng 300 khách sạn từ 1 sao đến 5 sao với 4500 phòng nghỉ và nhiều khách sạn mini cơ bản đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch. Sự tăng trưởng về số lượng khách ở Hạ Long được đánh giá là nhanh nhất ở Việt Nam trong những năm gần đây. Năm 1996, vịnh Hạ Long đón 236 lượt khách, thì năm 2003 vịnh Hạ Long đón tới 1.306.919 lượt 40
  41. khách. Năm 2005, lượng khách đến vùng Vịnh ước đạt 1,5 đến 1,8 triệu, và đến năm 2010 dự đoán vịnh Hạ Long sẽ là điểm đón tiếp 5-6 triệu lượt khách. Tuy nhiên, đã không đạt được. Là một trong 2 vịnh biển đẹp nhất Việt Nam bên cạnh vịnh Nha Trang, vịnh Hạ Long là nơi thường xuyên đón tiếp các tàu du lịch quốc tế chọn làm điểm dừng tham quan. Tiềm năng cảng biển và giao thông thủy Bên đặc điểm là vịnh kín ít chịu tác động của sóng gió, vịnh Hạ Long cũng có hệ thống luồng lạch tự nhiên dày đặc và cửa sông ít bị bồi lắng. Điều kiện thuận lợi này cho phép xây dựng hệ thống giao thông cảng biển lớn bên cạnh cảng nước sâu Cái Lân (Hạ Long) và Cửa Ông (Cẩm Phả). Ngoài ra, Quảng Ninh còn có một hệ thống cảng phụ trợ như: Mũi Chùa, Vạn Gia, Nam Cầu Trắng. Mục tiêu đến năm 2010 sẽ xây dựng hoàn chỉnh cảng Cái Lân với 7 cầu cảng, công suất hơn 14 triệu tấn cho phép tiếp nhận tàu trọng tải trên 5 vạn tấn. Tiềm năng thủy hải sản Vùng biển Quảng Ninh nói chung và vùng biển vịnh Hạ Long nói riêng chứa đựng nhiều hệ sinh thái có giá trị đa dạng sinh học, trữ lượng hải sản lớn. Vùng Vịnh thích hợp cho việc nuôi trồng và đánh bắt hải sản do có các điều kiện thuận lợi: khí hậu tốt, diện tích bãi triều lớn, nước trong, ngư trường ven bờ và ngoài khơi có trữ lượng hải sản cao và đa dạng với cá song, cá giò, sò, tôm, bào ngư, trai ngọc các loại. Di sản Việt Nam và thế giới Di sản quốc gia Việt Nam Năm 1962, vịnh Hạ Long được Bộ Văn hóa-Thông tin Việt Nam xếp hạng di tích danh thắng cấp quốc gia với diện tích 1553 km² bao gồm 1969 hòn đảo. Các đảo trong vùng vịnh Hạ Long được quy hoạch là khu bảo tồn các di tích văn hoá-lịch sử và cảnh quan quốc gia, theo Quyết định Số 313/VH-VP của Bộ Văn hoá-Thông tin Việt Nam ngày 28 tháng 4 năm 1962 (ADB 1999). Các đảo này cũng có trong danh sách các khu rừng đặc dụng theo Quyết định Số 194/CT, ngày 9 tháng 8 năm 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ). Năm 1995, vịnh Hạ Long, cùng với đảo Cát Bà, được Phân viện Hải dương học Hải Phòng đề nghị đưa vào danh sách hệ thống các khu bảo tồn biển. Năm 1999, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB 1999) đề xuất thành lập một khu bảo vệ có tên là Khu cảnh quan thiên nhiên vịnh Hạ Long rộng 155.300 ha[5], tuy nhiên hiện nay vẫn chưa thực hiện được. Di sản thế giới lần 1: giá trị thẩm mỹ Ngày 21 tháng 12 năm 1991 Chính phủ Việt Nam cho phép xây dựng hồ sơ về cảnh quan vịnh Hạ Long để trình Hội đồng Di sản Thế giới xét duyệt di sản thiên 41
  42. nhiên thế giới. Năm 1993, hồ sơ khoa học về vịnh Hạ Long được hoàn tất và chuyển đến UNESCO để xem xét. Trong quá trình hoàn chỉnh hồ sơ, UNESCO lần lượt cử các đoàn chuyên gia đến Quảng Ninh khảo sát, hướng dẫn, nghiên cứu, thẩm định hồ sơ tại chỗ. Hồ sơ vịnh Hạ Long được chấp nhận đưa vào xem xét tại hội nghị lần thứ 18 của Hội đồng Di sản Thế giới. Ngày 17 tháng 12 năm 1994, trong kỳ họp thứ 18 tại Phuket, Thái Lan, Ủy ban Di sản Thế giới đã công nhận vịnh Hạ Long vào danh mục di sản thiên nhiên thế giới với giá trị ngoại hạng toàn cầu về mặt thẩm mĩ (tiêu chí vii)[36], theo tiêu chuẩn của Công ước Quốc tế về bảo vệ Di sản tự nhiên và văn hóa của thế giới. Di sản thế giới lần 2: giá trị địa chất địa mạo Đầu năm 1998, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long đã đề nghị TS. Trần Đức Thạnh ở Phân Viện Hải dương học tại Hải Phòng (nay là Viện Tài nguyên và Môi trường biển thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) tiến hành nghiên cứu và đánh giá các giá trị địa chất và khả năng trình UNESCO công nhận Vịnh Hạ Long là di sản Thế giới theo tiêu chí địa chất học. Kết quả nghiên cứu cho thấy tính khả thi cao của việc trình UNESCO công nhận Di sản Địa chất Vịnh Hạ Long và cần phải nghiên cứu bổ sung chi tiết về địa mạo caxtơ. Tháng 9 năm 1998, theo đề nghị của Ban quản lý vịnh Hạ Long và IUCN, Tiến sĩ Tony Waltham, chuyên gia địa chất học, trường Đại học Trent Nottingham đã tiến hành nghiên cứu địa mạo vùng đá vôi caxtơ vịnh Hạ Long với sự trợ giúp của TS.Trần Đức Thạnh. Tiến sĩ Waltham Tony đã gửi bản báo cáo về giá trị địa mạo caxtơ vịnh Hạ Long tới UNESCO tại Paris, Văn phòng IUCN tại Thụy Sĩ và Hà Nội, đồng gửi Ban quản lý vịnh Hạ Long. Ngày 25 tháng 2 năm 1999, sau khi nhận được báo cáo của Tiến sĩ Tony Waltham, UNESCO đã gửi thư tới Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam và Ban quản lý vịnh Hạ Long yêu cầu xúc tiến việc chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO công nhận về giá trị địa chất, địa mạo vùng đá vôi vịnh Hạ Long. Tới tháng 7 năm 1999, hồ sơ trình Hội đồng Di sản Thế giới để công nhận vịnh Hạ Long về giá trị địa chất với tư vấn khoa học của TS.Trần Đức Thạnh đã hoàn tất và được gửi đến Trung tâm Di sản thế giới tại Paris. Tháng 12 năm 1999 tại hội nghị lần thứ 23 Hội đồng Di sản Thế giới họp tại thành phố Marrakech của Maroc, Hội đồng Di sản Thế giới đã đưa việc thẩm định hồ sơ để công nhận giá trị địa chất vịnh Hạ Long vào năm 2000. Tháng 3 năm 2000 Giáo sư Erery Hamilton Smith, chuyên gia của tổ chức IUCN được cử đến Hạ Long để thẩm định. Tháng 7 năm 2000, kỳ họp giữa năm của Trung tâm Di sản thế giới tại Paris đã chính thức đề nghị Ủy ban Di sản Thế giới công nhận vịnh Hạ Long là Di sản thế giới bởi giá trị toàn cầu về địa chất, địa mạo, theo tiêu chuẩn viii của UNESCO "là ví dụ nổi bật đại diện cho các giai đoạn của lịch 42
  43. sử Trái Đất, bao gồm bằng chứng sự sống, các tiến triển địa chất đáng kể đang diễn ra trong quá trình diễn biến của các kiến tạo địa chất hay các đặc điểm địa chất và địa văn". Ngày 2 tháng 12 năm 2000, căn cứ Công ước Quốc tế về bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới và kết quả xét duyệt hồ sơ địa chất vịnh Hạ Long, tại Hội nghị lần thứ 24 của Hội đồng Di sản Thế giới tại thành phố Cairns, Queensland, Úc, Hội đồng Di sản Thế giới đã công nhận vịnh Hạ Long là di sản thế giới lần thứ 2 theo tiêu chuẩn (viii) về giá trị địa chất với hai giá trị nổi bật toàn cầu về lịch sử địa chất và địa mạo caxtơ. Đề cử di sản thế giới lần thứ 3 Hiện nay, tỉnh Quảng Ninh đang xúc tiến đệ trình UNESCO công nhận Vịnh Hạ Long là Di sản thế giới lần thứ 3, dựa trên những giá trị về khảo cổ học và đa dạng sinh học trong vùng Vịnh. Bình chọn trong Bảy Kì quan Thiên nhiên Mới của Thế giới Vấn đề bảo tồn Khai thác du lịch trên vịnh Hạ Long và sự tác động của nó với cảnh quan khu vực Công tác bảo tồn Trong những động thái nhằm ngăn chặn sự tác động tiêu cực của con người đến thiên nhiên vùng vịnh Hạ Long, chính quyền tỉnh Quảng Ninh đã cấm các loại xuồng máy cao tốc phục vụ du khách trong khu vực Vịnh để bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học trong vùng Vịnh. Ngoài ra, tỉnh Quảng Ninh cũng thực hiện di dời các hộ dân sinh sống trên các vạn chài vào đất liền để bảo vệ môi trường nước của vịnh Hạ Long; đồng thời cấm bốc dỡ than đá trong khu vực di sản để chống ô nhiễm bụi than và bùn than cho Vịnh theo khuyến cáo của UNESCO. Tại Vịnh, một số người dân đã có ý thức tự nguyện giữ gìn cảnh quan, thông qua việc lập tổ hợp tác tự nguyện thu gom và xử lý rác thải. Sự tương đồng về cảnh quan, địa chất địa mạo, đa dạng sinh học, cũng như những giá trị văn hóa, khảo cổ của toàn vùng, bao gồm không chỉ vịnh Hạ Long mà còn cả quần đảo Cát Bà và vùng biển đảo vịnh Bái Tử Long khiến những nghiên cứu khoa học địa chất, khảo cổ, văn hóa, và những hoạt động du lịch, khai thác hải sản v.v. không còn bó hẹp trong phạm vi vùng Vịnh. Đã có những ý kiến cho rằng cần xem xét 43
  44. việc mở rộng ngoại biên của khu vực bảo tồn, không chỉ giới hạn trong diện tích nhỏ hẹp của vùng vịnh Hạ Long hiện nay mà còn bao quát cả vùng biển đảo có những yếu tố đồng dạng, kéo dài từ Quần đảo Cát Bà lên sát biên giới Việt Trung. Với chiều dài khoảng 300 km và chiều rộng khoảng 60 km, toàn bộ khu vực này có thể được nhìn nhận và bảo tồn như một vùng sinh thái đặc biệt về biển của Việt Nam. Câu hỏi Bài 3 1. Hãy miêu tả di tích thắng cảnh miền Bắc? 2. Hãy miêu tả di tích Đền Hùng. 3. Hãy miêu tả di tích Côn Sơn Kiếp Bạc. 4. Hãy miêu tả di tích Tràng An. 5. Hãy miêu tả thắng cảnh Vịnh Hạ Long. 44
  45. BÀI 5 (4 tiết) MỘT SỐ DI TÍCH DANH THẮNG TIÊU BIỂU TRUNG BỘ Các di tích, danh thắng tiêu biểu ở miền Trung Việt Nam Năm Mục / Di tích Tỉnh Huyện công Ghi chú Hạng nhận nghệ Di sản 1. Phố cổ Quảng Nam Hội An thuật, UNESCO Hội An đặc biệt 1999 Di sản 2.Cố đô Thừa Thiên- lịch sử, Huế UNESCO Huế Huế đặc biệt từ 1993 lịch sử 3.Khu Kim cách Nghệ An Nam Đàn 1979 Liên mạng, đặc biệt nghệ Di sản 4.Thánh địa Quảng Nam Duy Xuyên thuật, UNESCO Mỹ Sơn đặc biệt 1999 lịch sử, kiến trúc 5.Thành nhà Thanh Hóa Vĩnh Lộc nghệ thuật 1962 Hồ và khảo cổ, đặc biệt 6.Vườn thắng Di sản Bố Trạch, Phong Nha Quảng Bình cảnh, UNESCO Minh Hóa - Kẻ Bàng đặc biệt 2003 7.Thành cổ Thị xã lịch sử, Quảng Trị 1994 17 Quảng Trị Quảng Trị đặc biệt 1. Phố cổ Hội An Phố cổ Hội An là một đô thị cổ nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, thuộc vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam, Việt Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 30 km về phía Nam. Nhờ những yếu tố địa lý và khí hậu thuận lợi, Hội An từng là một thương 45
  46. cảng quốc tế sầm uất, nơi gặp gỡ của những thuyền buôn Nhật Bản, Trung Quốc và phương Tây trong suốt thế kỷ 17 và 18. Trước thời kỳ này, nơi đây cũng từng có những dấu tích của thương cảng Chăm Pa hay được nhắc đến cùng con đường tơ lụa trên biển. Thế kỷ 19, do giao thông đường thủy ở đây không còn thuận tiện, cảng thị Hội An dần suy thoái, nhường chỗ cho Đà Nẵng khi đó đang được người Pháp xây dựng. Hội An may mắn không bị tàn phá trong hai cuộc chiến tranh và tránh được quá trình đô thị hóa ồ ạt cuối thế kỷ 20. Bắt đầu từ thập niên 1980, những giá trị kiến trúc và văn hóa của phố cổ Hội An dần được giới học giả và cả du khách chú ý, khiến nơi đây trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn của Việt Nam. Đô thị cổ Hội An ngày nay là một điển hình đặc biệt về cảng thị truyền thống ở Đông Nam Á được bảo tồn nguyên vẹn và chu đáo. Phần lớn những ngôi nhà ở đây là những kiến trúc truyền thống có niên đại từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, phần bố dọc theo những trục phố nhỏ hẹp. Nằm xen kẽ giữa các ngôi nhà phố, những công trình kiến trúc tôn giáo,tín ngưỡng minh chứng cho quá trình hình thành, phát triển và cả suy tàn của đô thị. Hội An cũng là vùng đất ghi nhiều dấu ấn của sự pha trộn, giao thoa văn hóa. Các hội quán, đền miếu mang dấu tích của người Hoa nằm bên những ngôi nhà phố truyền thống của người Việt và những ngôi nhà mang phong cách kiến trúc Pháp. Bên cạnh những giá trị văn hóa qua các công trình kiến trúc, Hội An còn lưu giữ một nền văn hóa phi vật thể đa dạng và phong phú. Cuộc sống thường nhật của cư dân phố cổ với những phong tục tập quán, sinh hoạt tín ngưỡng, nghệ thuật dân gian, lễ hội văn hóa vẫn đang được bảo tồn và phát triển. Hội An được xem như một bảo tàng sống về kiến trúc và lối sống đô thị. Với những giá trị nổi bật, tại kỳ họp lần thứ 23 cuối năm 1999 (ngày 4 tháng 12 năm 1999), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã công nhận đô thị cổ Hội An là một di sản văn hóa thế giới, dựa trên hai tiêu chí: Hội An là biểu hiện vật thể nổi bật của sự kết hợp các nền văn hóa qua các thời kỳ trong một thương cảng quốc tế. Hội An là điển hình tiêu biểu về một cảng thị châu Á truyền thống được bảo tồn một cách hoàn hảo. 46
  47. 2. Cố đô Huế Quần thể di tích Cố đô Huế hay Quần thể di tích Huế là những di tích lịch sử - văn hoá do triều Nguyễn chủ trương xây dựng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20 trên địa bàn kinh đô Huế xưa; nay thuộc phạm vi thành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế, Việt Nam. Phần lớn các di tíchnày nay thuộc sự quản lý của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới vào ngày 11 tháng 12 năm 1993. Hiện tại, cố đô Huế đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam đưa vào danh sách xếp hạng 62 di tích quốc gia đặc biệt quan trọng. Quần thể di tích Cố đô Huế có thể phân chia thành các cụm công trình gồm các cụm công trình ngoài Kinh thành Huế và trong Kinh thành Huế. Kinh Thành Huế là tòa thành ở cố đô Huế, nơi đóng đô của vương triều nhà Nguyễn trong suốt 140 năm từ 1805 đến 1945. Hiện nay Kinh thành Huế là một trong số các di tích thuộc cụm Quần thể di tích Cố đô Huế đượcUNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới. Kinh thành Huế được vua Gia Long tiến hành khảo sát từ năm 1803, khởi công xây dựng từ 1805 và hoàn chỉnh vào năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng. Hiện nay, Kinh thành Huế có vị trí trong bản đồ Huế như sau: phía nam giáp đường Trần Hưng Đạo và, Lê Duẩn; phía tây giáp đường Lê Duẩn; phía bắc giáp đường Tăng Bạt Hổ; phía đông giáp đường Phan Đăng Lưu. Bên trong kinh thành, được giới hạn theo bản đồ thuộc các đường như sau: phía nam là đường Ông Ích Khiêm; phía tây là đường Tôn Thất Thiệp; phía bắc là đường Lương Ngọc Quyến và phía đông là đường Xuân 68. Lăng Minh Mạng còn gọi là Hiếu Lăng (孝陵, do vua Thiệu Trị cho xây dựng), nằm trên núi Cẩm Khê, gần ngã ba Bằng Lãng là nơi hội lưu của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch hợp thành sông Hương, cách cố đô Huế 12 km. Lăng Minh Mạng 47
  48. được xây dựng từ năm 1840 đến năm 1843 thì hoàn thành, huy động tới mười nghìn thợ và lính. Điện Thái Hòa 3. Thánh địa Mỹ Sơn Thánh địa Mỹ Sơn thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 69 km và cách thành cổ Trà Kiệu khoảng 20 km, là tổ hợp bao gồm nhiều đền đài Chăm Pa, trong một thung lũng đường kính khoảng 2 km, bao quanh bởi đồi núi. Đây từng là nơi tổ chức cúng tế của vương triều Chăm pa cũng như là lăng mộ của các vị vua Chăm pa hay hoàng thân, quốc thích. Thánh địa Mỹ Sơn được coi là một trong những trung tâm đền đài chính của Ấn Độ giáo ở khu vực Đông Nam Á và là di sản duy nhất của thể loại này tại Việt Nam. Thông thường người ta hay so sánh Thánh địa này với các tổ hợp đền đài chính khác ở Đông Nam Á như Borobudur Java, Indonesia), Pagan (Myanma), Angkor Wat (Campuchia) và Ayutthaya (Thái Lan). Từ năm 1999, Thánh địa Mỹ Sơn đã được UNESCO chọn là một trong các di sản thế giới tân thời và hiện đại tại phiên họp thứ 23 của Ủy ban di sản thế giới theo tiêu chuẩn C (II) như là một ví dụ điển hình về trao đổi văn hoá và theo tiêu chuẩn C (III) như là bằng chứng duy nhất của nền văn minh châu Á đã biến mất. Hiện nay, nơi đây đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam đưa vào danh sách xếp hạng 23 di tích quốc gia đặc biệt quan trọng. 48
  49. Câu hỏi Bài 5 7. Hãy miêu tả các di tích, thắng cảnh miền Trung Việt Nam? 8. So sánh đặc điểm kiến trúc giữa di tích thắng cảnh của miền Trung với miền Bắc? 49
  50. BÀI 6 (2 tiết) MỘT SỐ DI TÍCH DANH THẮNG TIÊU BIỂU NAM BỘ Dinh Độc Lập (tên gọi trước đây là dinh Norodom, ngày nay còn gọi là dinh Thống Nhất hay hội trường Thống Nhất) là một công trình kiến trúc ở Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay, nó đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt. Năm 1858, Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng mở đầu cuộc chiến tranh xâm chiếm Việt Nam. Năm 1867, Pháp chiếm xong lục tỉnh Nam kỳ (Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên). Ngày 23 tháng 2 năm 1868, ông Thống đốc Nam Kỳ Lagrandière đã làm lễ đặt viên đá đầu tiên khởi công xây dựng Dinh Thống đốc Nam Kỳ mới tại Sài Gòn thay cho dinh cũ được dựng bằng gỗ vào năm 1863. Dinh mới được xây dựng theo đồ án do kiến trúc sưHermite phác thảo (người phác thảo đồ án Tòa thị sảnh Hongkong). Viên đá lịch sử này là khối đá lấy ở Biên Hòa, hình vuông rộng mỗi cạnh 50 cm, có lỗ bên trong chứa những đồng tiền hiện hành thuở ấy bằng vàng, bạc, đồng có chạm hình Napoleon đệ tam. Dinh Norodom thời Pháp thuộc Công trình này được xây cất trên một diện tích rộng 12 ha, bao gồm một dinh thự lớn với mặt tiền rộng 80 m, bên trong có phòng khách chứa 800 người, và một khuôn viên rộng với nhiều cây xanh và thảm cỏ. Phần lớn vật tư xây dựng dinh được chở từ Pháp sang. Do chiến tranh Pháp-Phổ 1870 nên công trình này kéo dài đến 1871 mới xong. Sau khi xây dựng xong, dinh được đặt tên là dinh Norodom và đại lộ trước dinh cũng được gọi là đại lộ Norodom, lấy theo tên của Quốc vương Campuchia lúc bấy giờ là Norodom (1834-1904). Từ 1871 đến 1887, dinh được dành cho Thống đốc Nam kỳ (Gouverneur de la Cochinchine) nên gọi là dinh Thống đốc. Từ 1887 đến 1945, các Toàn quyền Đông Dương (Gouverneur-général de l'Indochine Française) đã sử dụng dinh thự này làm nơi ở và làm việc nên dinh gọi là dinh Toàn quyền. Nơi ở và làm việc của các Thống đốc chuyển sang một dinh thự gần đó. 50
  51. Hội trường Thống Nhất ngày nay Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, Dinh Norodom trở thành nơi làm việc của chính quyền Nhật ở Việt Nam. Nhưng đến tháng 9 năm 1945, Nhật thất bại trongThế chiến II, Pháp trở lại chiếm Nam bộ, Dinh Norodom trở lại thành trụ sở làm việc của Pháp ở Việt Nam Dinh Độc Lập thời Việt Nam Cộng hòa Sau năm 1954, người Pháp rút khỏi Việt Nam. Việt Nam bị chia cắt thành 2 quốc gia, miền Bắc là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, còn miền Nam là nước Quốc Gia Việt Nam (sau thành Việt Nam Cộng Hòa). Ngày 7 tháng 9 năm 1954 Dinh Norodom được bàn giao giữa đại diện Pháp, tướng 5 sao Paul Ely, và đại diện Quốc gia Việt Nam, Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Năm 1955, sau một cuộc trưng cầu dân ý, Thủ tướng Ngô Đình Diệm phế truất Quốc trưởng Bảo Đại và lên làm Tổng thống. Ông quyết định đổi tên dinh này thành Dinh Độc Lập. Từ đó Dinh Độc Lập trở thành nơi đại diện cho chính quyền cũng như nơi ở của tổng thống và là nơi chứng kiến nhiều biến cố chính trị. Thời kỳ này, Dinh Độc Lập còn được gọi là Dinh Tổng thống. Theo thuật phong thủy của Dinh được đặt ở vị trí đầu rồng, nên Dinh cũng còn được gọi là Phủ đầu rồng. Dinh đã xuất hiện trên giấy bạc 200 đồng của Việt Nam Cộng hòa. Ngày 27 tháng 2 năm 1962, hai viên phi công thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc, lái 2 máy bay AD-6 ném bom làm sập toàn bộ phần chính cánh trái của dinh. (xem thêm: Vụ đánh bom Dinh tổng thống Việt Nam Cộng Hòa năm 1962). Do không thể khôi phục lại, ông Ngô Đình Diệm đã cho san bằng và xây một dinh thự mới ngay trên nền đất cũ theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người Việt Nam đầu tiên đạt giải Khôi nguyên La Mã. Dinh Độc Lập mới được khởi công xây dựng ngày 1 tháng 7 năm 1962. Trong thời gian xây dựng, gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm tạm thời chuyển sang sống tạiDinh Gia Long (nay là Bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh). Công trình đang xây dựng dở dang thì ông Ngô Đình Diệm bị phe đảo chính ám sát ngày 2 tháng 51
  52. 11 năm1963. Do vậy, ngày khánh thành dinh, 31 tháng 10 năm 1966, người chủ tọa buổi lễ là ông Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia. Từ ngày này, Dinh Độc Lập mới xây trở thành nơi ở và làm việc của tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu sống ở dinh này từ tháng 10 năm1967 đến ngày 21 tháng 4 năm 1975. Bia kỷ niệm ngày khánh thành Dinh Độc Lập Ngày 8 tháng 4 năm 1975, chiếc máy bay F-5E do Nguyễn Thành Trung lái, xuất phát từ Biên Hòa, đã ném bom Dinh, gây hư hại không đáng kể. Lúc 10 giờ 45 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, xe tăng T54B mang số hiệu 843 của Quân đội Nhân dân Việt Nam dưới quyền chỉ huy của Trung úy Bùi Quang Thận đã húc nghiêng cổng phụ của Dinh Độc Lập, tiếp đó xe tăng T54 mang số hiệu 390 do Vũ Đăng Toàn chỉ huy đã húc tung cổng chính tiến thẳng vào dinh. Lúc 11 giờ 30 phút cùng ngày, Trung úy Quân Giải phóngBùi Quang Thận, đại đội trưởng, chỉ huy xe 843, đã hạ lá cờ Việt Nam Cộng Hòa trên nóc dinh xuống, kéo lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lên, kết thúc 20 năm cuộc chiến tranh Việt Nam. Sau năm 1975 Sau hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất hai miền Nam Bắc thành một đất nước Việt Nam thống nhất diễn ra tại dinh Độc Lập vào tháng 11 năm 1975. Cơ quan hiện quản lý di tích văn hoá Dinh Độc Lập có tên là Hội trường Thống Nhất thuộc Cục Hành chính Quản trị II - Văn phòng Chính phủ. Đây là di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng được đông đảo du khách trong nước và nước ngoài đến tham quan. Nơi này được đặc cách xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 77A/VHQĐ ngày 25/6/1976 của Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch) của chính quyền Việt Nam hiện nay. Ngày nay, Dinh Độc Lập trở thành một trong những địa điểm du lịch không thể thiếu của mỗi người dân khi tới Thành phố Hồ Chí Minh. Không chỉ có ý nghĩa về lịch sử mà Dinh Độc Lập còn thể hiện nét kiến trúc tiêu biểu của Việt Nam thời kì những thập niên 60. 52
  53. Đặc điểm Dinh được kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế xây dựng trên diện tích 4.500 m², diện tích sử dụng 20.000 m², gồm 3 tầng chính, 1 sân thượng, 2 gác lửng, tầng nền, 2 tầng hầm và một sân thượng cho máy bay trực thăng đáp xuống. Hơn 100 căn phòng của Dinh được trang trí theo phong cách khác nhau tùy theo mục đích sử dụng bao gồm các phòng khánh tiết, phòng họp hội đồng nội các, phòng làm việc của Tổng thống và của Phó Tổng thống, phòng trình ủy nhiệm thư, phòng đại yến, v.v chưa kể các phần khác như hồ sen bán nguyệt hai bên thềm đi vào chánh điện, bao lơn, hành lang Dinh cao 26m, tọa lạc trong khuôn viên rộng 12 ha rợp bóng cây. Bên ngoài hàng rào phía trước và phía sau Dinh là 2 công viên cây xanh. Giữa những năm 1960, đây là công trình có quy mô lớn nhất miền Nam và có chi phí xây dựng cao nhất (150.000 lượng vàng). Các hệ thống phụ trợ bên trong Dinh hiện đại: điều hòa không khí, phòng chống cháy, thông tin liên lạc, nhà kho. Tầng hầm chịu được oanh kích của bom lớn và pháo. Mặt tiền của Dinh được trang trí cách điệu các đốt mành trúc phỏng theo phong cách các bức mành tại các ngôi nhà Việt và họa tiết các ngôi chùa cổ tại Việt Nam. Các phòng của Dinh được trang trí nhiều tác phẩm non sông cẩm tú, tranh sơn mài, tranh sơn dầu. Câu hỏi Bài 6 Hãy miêu tả Di tích quốc gia đặc biệt “Dinh Độc lập”: lịch sử hình thành, đặc điểm (cấu trúc), ảnh hưởng. 53
  54. BÀI 7 (2 tiết) MỘT SỐ DI TÍCH DANH THẮNG TIÊU BIỂU CỦA ĐÀ NẴNG – QUẢNG NAM 1. Các di tích lịch sử - văn hoá tiêu biểu của Đà Nẵng Theo thống kê của Trung tâm Quản lý Di sản văn hóa Đà Nẵng, hiện nay thành phố Đà Nẵng có 55 di tích cấp tỉnh/thành phố và 16 di tích cấp quốc gia. Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hiện có một số di tích tiêu biểu sau: 1.1. Di tích Ngũ Hành Sơn Di tích thắng cảnh Ngũ Hành Sơn là một cụm núi đá vôi thấp nằm trên một dải các ven biển thuộc phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng về phía Đông - Nam khoảng 7km. Ngũ Hành Sơn có 6 ngọn núi: Thuỷ Sơn và Mộc Sơn ở phía Đông, còn Thổ Sơn, Kim Sơn, Dương và Âm Hoả Sơn ở phía Tây đường tỉnh lộ Đà Nẵng - Hội An, nằm trên khu đất dài khoảng 2km, rộng khoảng 800m, phía Đông có biển Đông, Phía Tây có sông Cổ Cò (Sách Đại Nam Nhất thống chí gọi là Lộ Cảnh Giang), phía Nam là phường Hoà Quý, phía bắc là phường Khuê Mỹ. Theo tài liệu địa chất thì ban đầu Ngũ Hành Sơn là những hòn đảo trên biển đông, gió và nước đã xâm thực tạo thành những hang động, do quá trình biển lùi, nhóm đảo này được nối liền với lục địa và trở thành 6 ngọn núi như ngày nay. Núi Ngũ Hành Sơn không cao lắm, ngọn Thuỷ Sơn cao nhất chỉ có 106m, sườn núi dốc đứng cheo leo, cây cỏ lơ thơ. Chân núi hình bầu dục, chiều dài nằm theo hướng Đông – Tây. Tuy có 6 ngọn núi khác nhau về kích thước, nhưng hình dạng na ná giống nhau. Nhìn từ xa núi có màu lục nhạt, xanh tím, tím xám mỗi buổi một màu, mỗi mùa một sắc, thay đổi theo sự phản chiếu của ánh sáng mặt trời. Đá ở đây là loại cẩm thạch (marbre), sáng đục màu trắng sữa, hồng phấn, xám có vân đỏ, nâu đen, xanh đậm không cứng lắm, thợ đá địa phương dùng tạc tượng và đồ mỹ nghệ trang trí Người Tây phương trong những chuyến vượt biển sang vào năm 1749 đã gọi nhóm núi này là “Montagne de Singes” tức núi Khỉ (vì trước kia có nhiều khỉ ở). Vào năm 1845 họ gọi đây là “Rocher de Faifo” (Núi Faifo) và sau cùng có tên gọi là “Montagne de Touran (Núi Đà Nẵng) hoặc “Montagne de Marbre” (Núi đá Cẩm thạch). 54
  55. Hình: Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng Các nhà nho trong xứ đặt tên núi bằng Hán tự: “Ngũ Uẩn Sơn” (Núi năm chòm) ghi trong một bi ký ở Thuỷ Sơn; “Phổ Đà Sơn” khắc trên một tảng đá ở Dương Hoả Sơn, “Ngũ Chỉ” (năm ngón tay) theo tài liệu nhà chùa. Năm 1837, trong một chuyến viếng thăm núi, vua Minh Mạng đã dựa theo nguyên lý của Khổng Giáo đặt tên nhóm núi này là “Ngũ Hành Sơn”, duy trì tên gọi từ thời Gia Long là Kim Sơn, Mộc Sơn, Thuỷ Sơn, Hoả Sơn và Thổ Sơn, riêng Hoả Sơn có hai ngọn kề nhau là Dương Hoả Sơn và Âm Hoả Sơn. Thông thường, người dân xứ Quảng gọi nôm na là hòn “Non Nước”. Tháng 6 năm 1825, lần đầu tiên vua Minh Mạng đến viếng Ngũ Hành Sơn, nhà vua đã cho xây dựng chùa Tam Thai, điện Hóa Nghiêm. Năm 1826 Minh Mạng lại cho đúc 9 tượng phật và 3 chiếc chuông lớn cho chùa Tam Thai và sau các lần viếng thăm, vua đều cho xây dựng và tu sửa các chùa miếu. Năm ngọn núi Ngũ Hành Sơn đó là: * Ngọn Thủy Sơn Ngọn núi Thủy Sơn còn gọi là Hòn Non Nước, trong nhóm Ngũ Hành Sơn, thì Thủy Sơn là cao hơn hết (106m) và có nhiều cảnh đẹp tập trung ở nơi đây. Núi có 3 đỉnh: Thượng Thai (là nơi có chùa Tam Thai), Trung Thai (là nơi có nhiều hang động như động Vân Thông), Hạ Thai (là khu vực chùa Linh Ứng), có 2 đường lên núi: một đường ở hướng Tây - Nam dẫn lên chùa Tam Thai, một đường ở phía đông có 108 bậc cấp, dẫn lên chùa Linh Ứng. Trên ngọn Thủy Sơn có các chùa và hang động sau: + Chùa Tam Thai Theo tài liệu Hán - Nôm còn lưu lại như văn bia "Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật" ở động Hoa Nghiêm có thể đoán định chùa Tam Thai được xây dựng vào những năm giữa thế kỷ thứ XVII, sau này khi vua Minh Mạng nhân chuyến viếng thăm Ngũ Hành 55
  56. Sơn vào năm 1825 (Minh Mạng năm thứ 6), thì đã cho xây dựng, tu bổ lại chùa Tam Thai, đồng thời cũng cho đúc các tượng phật và 03 cổ chuông lớn. Đến năm 1901 một trận bão dữ dội đã tàn phá toàn bộ ngôi chùa, mãi đến 1907 ngôi chùa mới được xây dựng lại theo kiểu chữ nhất, mái chùa lợp ngói lưu ly tròn, phía trên nóc trang trí hình Lưỡng Long chầu Nguyệt. Trong chùa trước kia thờ phật Di Lặc (tượng đồng) ở giữa, bên trái là tượng Quan Công bằng gỗ, bên phải là tượng Hộ Pháp bằng đồng, tượng Tả Phù, Hữu Bật ở hai bên cửa ra vào cùng với Thập bát La Hán. Hiện nay chùa thờ 4 vị thần: Phật A Di Đà, Quan Thế Âm Bồ Tát, Phật Thích Ca, Văn Thù Bồ Tát và một số tượng Hộ Pháp, Tiêu Diện Phía bắc sân chùa là Hành Cung, đây là nơi các vua tạm nghỉ khi thăm chùa. Bên phải sân chùa là nhà thờ tổ, phía trước nhà thờ tổ lên mấy bậc cấp là đến Vọng Giang Đài, đứng nơi đây có thể nhìn bao quát vùng đất Ngũ Hành Sơn, với cảnh đẹp của đồng ruộng và sông ngòi, tại đây có tấm bia bằng sa thạch ghi 3 chữ Hán lớn “Vọng Giang Đài” và mấy chữ nhỏ ghi năm dựng bia “Minh Mạng thập bát niên thất nguyệt cát nhật” tức bia được lập vào ngày tốt, tháng 7 năm Minh Mạng thứ 18 (1837). Dưới chân đài về phía tây là tháp Phổ Đồng và chùa Từ tâm. + Chùa Linh Ứng Cũng như chùa Tam Thai, chùa Linh Ứng tọa lạc trên ngọn Thủy Sơn, đây cũng là ngôi chùa cổ. Dưới thời vua Cảnh Hưng triều Lê, có một vị ẩn sĩ đến tụ tại động Tằng chơn, ngài dựng một am nhỏ bằng tranh gọi là “Dưỡng Chơn am”, một thời gian sau dựng lại thành một gian nhà tranh gọi là “Dưỡng Chơn đường”. Khi Gia Long đến viếng Ngũ Hành Sơn, nhà vua đã cho xây dựng ngôi chùa tại đây, đặt tên là “Ngự chế Ứng Chơn Tự” được coi là quốc tự, do Bảo Đại đại sư làm trụ trì. Đến thời Thiệu Trị, chùa được đổi tên là “Linh Ứng Tự”. Cũng như chùa Tam Thai, chùa Linh Ứng cũng bị tàn phá bởi một trận bão năm 1901, sau đó được xây dựng lại. Trong chùa thờ Phật Thích Ca, Phật Di Lặc, Phật A Di Đà, Văn thù Bồ tát, Phổ hiền Bồ tát, Thập bát La hán Bên Phải chùa Linh Ứng có một mỏm đá nhô ra, nơi đây có tấm bia bằng sa thạch, khắc 3 chữ lớn “Vọng Hải Đài” và mấy chữ Hán nhỏ “Minh Mạng thập bát niên thất nguyệt cát nhật” tức bai được lập vào ngày tốt, tháng 7 năm Minh Mạng thứ 18 (1837). Từ đây nhìn ra biển đông bao la, thấp thoáng ngoài khơi xa là Cù lao Chàm. + Động Hoa Nghiêm Từ cổng sau chùa Tam Thai, rẽ bên trái là đường dẫn đến động Hóa Nghiêm và động Huyền Không, trước khi vào động có cổng xây bằng vôi vữa khắc 3 chữ Hán “Phổ Đà Sơn”, trong động có thờ tượng Quan Thế Âm cao gần vòm động Hóa Nghiêm. Trong động Hóa Nghiêm còn có một tấm bia ghi lại công đức những người có lòng hảo tâm từ các địa phương khác nhau, đóng đóng góp xây dựng chùa và các 56