Bài giảng Bệnh cây nông nghiệp
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Bệnh cây nông nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
bai_giang_benh_cay_nong_nghiep.pdf
Nội dung text: Bài giảng Bệnh cây nông nghiệp
- DỰ ÁN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM - HÀ LAN BỆNH CÂY NÔNG NGHIỆP (Bài giảng cho ngành Công nghệ Rau – Hoa – Quả và Cảnh quan) Biên soạn TS. Hà Viết Cường Hà Nội – 2008 Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 1
- Mục lục PHẦN I. BỆNH CÂY ĐẠI CƢƠNG . .9 Chƣơng 1. Giới thiệu . 10 1. Đối tượng của bệnh cây học 10 2. Tác hại của bệnh cây 10 3. Định nghĩa bệnh cây 11 4. Các nhóm (loại) bệnh cây 12 5. Phân loại bệnh cây theo tác nhân gây bệnh 12 5.1. Bệnh truyền nhiễm (bệnh hữu sinh): gây ra bởi các sinh vật sống và có khả năng lan truyền. Bệnh truyền nhiễm bao gồm 12 5.2. Bệnh không truyền nhiễm (bệnh phi sinh): Gây ra bởi các yếu tố môi trường bất lợi và không có khả năng lan truyền 12 6. Các nhóm tác nhân (sinh vật) chính gây bệnh cây 13 6.1. Nấm và vi sinh vật giống nấm 13 6.2. Vi khuẩn gây bệnh cây 13 6.3. Virus gây bệnh cây 13 6.4. Mollicutes (Phytoplasma và Spiroplasma) 14 6.5. Viroid 14 6.6. Tuyến trùng hại thực vật 14 7. Một số khái niệm về khả năng gây bệnh của vi sinh vật gây bệnh 14 7.1. Phân loại tác nhân gây bệnh theo tính ký sinh 14 7.2. Phân loại tác nhân gây bệnh theo phương thức sử dụng nguồn dinh dưỡng. 15 7.3. Tính gây bệnh và tính độc của vi sinh vật gây bệnh 15 7.4. Tính chuyên hóa của vi sinh vật gây bệnh 16 Chƣơng 2. Ảnh hƣởng của bệnh đến các chức năng sinh lý của cây 17 1. Ảnh hưởng của bệnh đến các chức năng sinh lý của cây 17 1.1. Biến đổi chức năng quang hợp 17 1.2. Biến đổi chức năng hô hấp 17 1.3. Biến đổi tính thấm của màng tế bào 17 1.4. Biến đổi sự thoát hơi nước qua bề mặt lá 17 1.5. Biến đổi vận chuyển nước 17 1.6. Biến đổi vận chuyển các sản phẩm đồng hóa 18 1.7. Biến đổi sự chuyển hóa đạm, gluxit 18 1.8. Biến đổi cân bằng chất điều hòa sinh trưởng trong cây 18 2. Triệu chứng bệnh cây 18 2.1. Định nghĩa 18 Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 2
- 2.2. Các loại triệu chứng 18 3. Dấu hiệu bệnh 20 3.1. Định nghĩa 20 3.2. Các loại dấu hiệu 20 Chƣơng 3. Chẩn đoán bệnh cây 21 1. Định nghĩa 21 2. Qui tắc Koch 21 3. Các phương pháp chẩn đoán 21 3.1. Chẩn đoán dựa trên triệu chứng bệnh 21 3.2. Chẩn đoán dựa trên dấu hiệu bệnh (= kiểm tra vi sinh vật gây bệnh trên cây) 21 3.3. Chẩn đoán dựa trên phân ly nuôi cấy tác nhân gây bệnh (phương pháp sinh học) 22 3.4. Chẩn đoán dựa trên huyết thanh học 22 3.5. Chẩn đoán dựa trên các kỹ thuật sinh học phân tử 22 Chƣơng 4. Dịch bệnh cây 23 1. Khái niệm và thuật ngữ 23 1.1. Dịch bệnh 23 1.2. Nguồn bệnh (inoculum) 24 1.3. Nguồn bệnh sơ cấp và thứ cấp (primary/secondary inoculum) 24 1.4. Tam giác bệnh (disease triangular) 24 1.5. Tứ diện bệnh (disease pyramid) 25 1.6. Chu kỳ bệnh (disease cycle) 25 2. Phân loại dịch bệnh 27 2.1. Tính chu kỳ của dịch bệnh 27 2.2. Dịch bệnh đơn chu kỳ 27 2.2.1 Khái niệm 27 2.3. Dịch bệnh đa chu kỳ 28 2.4. Dịch bệnh hỗn hợp 29 2.5. Dịch bệnh đa vụ (polyetic epidemic) 29 3. Thành phần của dịch bệnh 30 3.1. Các yếu tố của cây ký chủ 31 3.1.1 Mức độ kháng hay mẫn cảm di truyền 31 3.1.2 Mức độ đồng nhất di truyền 31 3.1.3 Loại cây trồng 32 3.1.4 Tuổi cây 32 3.2. Các yếu tố của tác nhân gây bệnh 33 3.2.1 Mức độ độc 33 Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 3
- 3.2.2 Lượng nguồn bệnh 33 3.2.3 Kiểu sinh sản của tác nhân gây bệnh 33 3.2.4 Sinh thái của tác nhân gây bệnh 34 3.2.5 Kiểu lan truyền của tác nhân gây bệnh 34 3.3. Các yếu tố môi trường 35 3.3.1 Nhiệt độ 35 3.3.2 Độ ẩm (moisture) 35 Chƣơng 5. Phòng trừ bệnh cây . 37 1. Các nguyên lý quản lý bệnh hiện đại 37 1.1. Các chiến thuật giảm nguồn bệnh sơ cấp 37 1.2. Các chiến thuật giảm tốc độ tăng bệnh 37 1.3. Các chiến thuật làm giảm thời gian dịch bệnh 37 2. Một số biện pháp cụ thể 38 2.1. Biện pháp sử dụng giống chống bệnh và giống sạch bệnh 38 2.2. Biện pháp canh tác 38 2.3. Biện pháp sinh học 38 2.4. Biện pháp cơ lý học 39 2.5. Biện pháp kiểm dịch thực vật 39 2.6. Biện pháp hoá học 39 2.6.1 Đinh nghĩa 39 2.6.2 Ưu điểm (3 ưu điểm chính) 39 2.6.3 Nhược điểm 39 2.6.4 Các khái niệm về chất độc 39 2.6.5 Phân loại thuốc trừ bệnh 40 2.6.6 Thành phần của thuốc 41 2.6.7 Các dạng chế phẩm thường dùng: 41 2.6.8 Phương pháp sử dụng thuốc 41 2.6.9 Nguyên tắc sử dụng thuốc đúng 42 2.6.10 Thuốc trừ bệnh (nấm và vi khuẩn) 42 2.6.11 Các nhóm thuốc bệnh 43 PHẦN II. BỆNH CÂY CHUYÊN KHOA .47 Chƣơng 6. Nấm và bệnh nấm 48 1. Đặc điểm chung 48 2. Biến thái của nấm 48 3. Sinh sản của nấm 49 3.1. Sinh sản từ cơ quan sinh trưởng 49 Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 4
- 3.2. Sinh sản vô tính 49 3.3. Sinh sản hữu tính của nấm 50 3.3.1 Sinh sản hữu tính đẳng giao 50 3.4. Vai trò của sinh sản vô tính và hữu tính của nấm 50 4. Chu kỳ phát triển của nấm 51 5. Dinh dưỡng gây bệnh 51 5.1. Quá trình xâm nhiễm của nấm và vai trò của ngoại cảnh 51 5.2. Dinh dưỡng ký sinh của nấm 52 6. Phân loại nấm gây bệnh cây (tham khảo) 53 A. VI SINH VẬT GIỒNG NẤM 53 I. GIỚI PROTOZOA 53 Gồm các vi sinh vật đơn bào hoặc đa bào đơn giản, dạng hợp bào (nguyên bào), một số dinh dưỡng kiểu thực bào. 53 Ngành: Plasmodiophoromycota 53 Lớp Plasmodiophoromyces (mốc nhầy nội ký sinh) 53 Bộ Plasmodiophorales: Ký sinh chuyên tính; tạo thể nguyên bào bên trong tế bào rễ và thân; tạo bào tử động 2 lông roi 53 B. NẦM THẬT 54 Lớp Hyphomycetes: cành bào tử phân sinh mọc riêng rẽ, thành cụm, thành thể đệm hoặc thành bó cành 58 Bộ Moniliales (Hyphales): cành bào tử phân sinh mọc riêng rẽ, thành cụm, thành thể nệm hoặc thành bó cành 58 Lớp Coelomycetes: cành bào tử phân sinh hình thành trong đĩa cành hoặc quả cành 59 7. Một số ví dụ nấm và bệnh nấm hại rau – hoa – quả 60 7.1. Phytophthora infestans (bệnh mốc sương cà chua, khoai tây) 60 7.1.1 Triệu chứng/dấu hiệu 60 7.1.2 Nguyên nhân gây bệnh 60 7.1.3 Đặc điểm phát sinh phát triển 61 7.1.4 Biện pháp phòng trừ 62 7.2. Sclerotium rolfsii (bệnh héo rũ gốc mốc trắng) 63 7.2.1 Triệu chứng/dấu hiệu 63 7.2.2 Nguyên nhân gây bệnh 63 7.2.3 Đặc điểm phát sinh phát triển 63 7.2.4 Phòng trừ 64 7.3. Rhizoctonia solani (bệnh lở cổ rễ) 65 7.3.1 Triệu chứng 65 7.3.2 Nguyên nhân gây bệnh 65 Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 5
- 7.3.3 Đặc điểm phát sinh phát triển 65 7.3.4 Biện pháp phòng trừ 66 7.4. Fusarium oxysporum f sp. lycopersici (héo Fusarium cà chua) 67 7.4.1 Triệu chứng/dấu hiệu 67 7.4.2 Nguyên nhân gây bệnh 67 7.4.3 Đặc điểm phát sinh phát triển 67 7.4.4 Biện pháp phòng trừ 68 7.5. Uromyces appendiculatus = U. phaseoli (gỉ sắt đậu đỗ) 69 7.5.1 Triệu chứng/dấu hiệu 69 7.5.2 Nguyên nhân 69 7.5.3 Phát sinh phát triển 69 7.5.4 Phòng trừ 70 7.6. Colletotrichum gloeosporioides (bệnh thán thư xoài và nhiều cây khác) 71 7.6.1 Triệu chứng /dấu hiệu 71 7.6.2 Nguyên nhân gây bệnh 71 7.6.3 Phát sinh phát triển 72 7.6.4 Phòng trừ 72 Chƣơng 7. Virus và bệnh virus 73 1. Giới thiệu 73 2. Định nghĩa virus 73 2.1. Định nghĩa 73 2.2. Hai quan điểm về bản chất sống của virus 73 3. Hình thái virus 74 4. Cấu tạo virus 74 5. Sinh sản (tái sinh) của virus 75 6. Cơ chế gây bệnh 76 7. Xâm nhiễm và truyền lan của virus 76 8. Phân loại virus 77 8.1. Cách tiết tên virus và tên loài virus 77 8.2. Cơ sở phân loại 77 8.3. Hệ thống phân loại 78 9. Triệu chứng bệnh virus 79 9.1. Các hiện tượng biến màu và chết hoại 79 9.2. Các hiện tượng biến dạng 79 10. Một số ví dụ bệnh virus hại rau hoa quả 80 10.1. Các begomovirus gây bệnh xoăn vàng lá cà chua 80 Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 6
- 10.1.1 Triệu chứng bệnh 80 10.1.2 Nguyên nhân gây bệnh 80 10.1.3 Phát sinh phát triển 81 10.1.4 Phòng trừ bệnh xoăn vàng lá 81 10.2. Tobacco mosaic virus (TMV) 83 10.2.1 Triệu chứng 83 10.2.2 Nguyên nhân 83 10.2.3 Phát sinh phát triển 83 10.2.4 Biện pháp phòng trừ 84 10.3. Papaya ringspot virus (PRSV) 85 10.3.1 Triệu chứng 85 10.3.2 Nguyên nhân 85 10.3.3 Phát sinh phát triển 85 10.3.4 Phòng chống 85 Chƣơng 8. Vi khuẩn và bệnh vi khuẩn .86 1. Giới thiệu 86 2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của vi khuẩn (bacteria) 86 2.1. Hình thái 86 2.2. Cấu tạo 86 3. Đặc điểm sinh sản, gây bệnh của vi khuẩn 87 3.1. Sinh sản 87 3.2. Dinh dưỡng gây bệnh 87 3.3. Xâm nhiễm, truyền lan 87 3.4. Triệu chứng bệnh vi khuẩn 88 4. Phân loại (tham khảo) 88 5. Các ví dụ vi khuẩn và bệnh vi khuẩn hại rau – hoa – quả 89 5.1. Ralstonia solanacearum (Bệnh héo xanh vi khuẩn) 89 5.1.1 Triệu chứng/dấu hiệu 89 5.1.2 Nguyên nhân 89 5.1.3 Phát sinh và phát triển 90 5.1.4 Phòng trừ 91 5.2. Xanthomonas citri (Bệnh loét cam) 92 5.2.1 Triệu chứng 92 5.2.2 Nguyên nhân gây bệnh 92 5.2.3 Phát sinh phát triển 92 5.2.4 Biện pháp phòng trừ 93 Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 7
- 5.3. Bệnh vàng lá cam (= bệnh huanglongbing (HLB) = greening) 94 5.3.1 Triệu chứng 94 5.3.2 Tác nhân gây bệnh 95 5.3.3 Phát sinh phát triển 95 5.3.4 Biện pháp phòng trừ 95 Chƣơng 9. Tuyến trùng và bệnh tuyến trùng 96 1. Khái niệm chung về tuyến trùng thực vật 96 1.1. Đặc điểm chung 96 1.1.1 Hình thái 96 1.1.2 Cấu tạo 96 1.1.3 Sinh sản 96 1.2. Sinh thái 97 1.3. Triệu chứng gây hại 97 1.4. Hệ thống phân loại tuyến trùng 97 2. Ví dụ bệnh do tuyến trùng 99 2.1. Bệnh tuyến trùng nốt sưng rễ (Meloidogyne spp.) 99 2.1.1 Triệu chứng/dấu hiệu 99 2.1.2 Nguyên nhân gây bệnh 99 2.1.3 Phát sinh phát triển bệnh 99 2.1.4 Phòng trừ 100 Chƣơng trình thực hành và bài tập .104 Tài liệu tham khảo 119 Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 8
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan PHẦN I. BỆNH CÂY ĐẠI CƢƠNG (Các khái niệm cơ bản) Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 9
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan Chƣơng 1. Giới thiệu 1. Đối tƣợng của bệnh cây học Bệnh cây học = Plant Pathology = Phytopathology (phyto = cây, pathos = bệnh, logos = nghiên cứu). Bệnh cây học là một chuyên ngành khoa học có tính tổng hợp cao. Nó sử dụng và kết hợp kiến thức của nhiều ngành khoa học, đặc biệt là thực vật học, giải phẫu thực vật, nấm học, vi khuẩn học, virus học, tuyến trùng học, sinh lý thực vật, di truyền, sinh học phân tử, khoa học đất, nông học, sinh hóa, hóa học, vật lý, khí tượng Bệnh cây học nghiên cứu (i) các tác nhân hữu sinh và vô sinh (các yếu tố môi trường) gây bệnh cây; (ii) cơ chế mà các tác nhân kể trên gây bệnh trên cây; và (iii) các biện pháp nhằm phòng chống bệnh và giảm thiệt hại do bệnh. Mặc dù tác nhân gây bệnh có thể là vô sinh hay hữu sinh thì các nhà bệnh cây học quan tâm nhiều hơn đến các nhóm tác nhân có bản chất sinh học như nấm, vi khuẩn, virus, tuyến trùng. Cụ thể, bệnh cây học nghiên cứu: Nguyên nhân gây bệnh hay tác nhân gây bệnh (pathogens): đặc điểm hình thái, sinh học, phân loại, cách chẩn đoán Tƣơng tác giữa tác nhân gây bệnh và cây (plant – pathogen interaction): Cơ chế tấn công của tác nhân gây bệnh, cơ chế phòng thủ của cây đối với sự tấn công này, sự phát triển bệnh ở qui mô cá thể, hậu quả của mối quan hệ tương tác chẳng hạn triệu chứng biểu hiện. Dịch tễ học (epidemiology): sự phát sinh, phát triển bệnh trên qui mô quần thể, phát tán bệnh, chu kỳ bệnh, dự báo bệnh, mô hình dịch bệnh. Phòng chống: Nguyên lý, các phương pháp. 2. Tác hại của bệnh cây Cây trồng bị tấn công bởi côn trùng, các tác nhân gây bệnh và cỏ dại. Thiệt hại sản lượng nông sản hàng năm ước tính toàn thế giới do 3 nhóm đối tượng này gây ra là khoảng 36.5 %, trong đó côn trùng chiếm 10.2 %, cỏ dại chiếm 12.2 % và bệnh hại chiếm 14.1 % (tƣơng đƣơng 220 tỷ USD). Về mặt lịch sử, các vụ dịch bệnh mốc sương khoai tây (Phytophthora infestans) đã làm khoảng 1.5 triệu người chết ở Aixơlen vào những năm 1845-1847. Ở Việt Nam, nhiều bệnh nguy hiểm hại cây trồng thường xuyên xuất hiên, gây tổn thất lớn nếu không phòng trừ. Một số ví dụ là bệnh đạo ôn (do nấm Pyricularia oryzae), khô vằn (do nấm Rhizoctonia solani), bạc lá (do vi khuẩn Xanthomonas oryzae) hại lúa; bênh xoăn vàng lá (do begomovirus), bệnh héo xanh (do vi khuẩn Ralstonia solanacearum) trên cà chua; bệnh vàng lá Huanglongbing (do vi khuẩn Ca. Liberibacter asiaticus), thối gốc rễ + chảy gôm (do nấm trứng Phytophthora spp.) trên cây có múi. Đặc biệt, hiện nay bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá do virus đang gây hại lớn đối với sản xuất lúa tại miền Nam. Tóm lại, tác hại của bệnh cây thể hiện ở các mặt sau đây: Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 10
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan Làm giảm rõ rệt năng suất thu hoạch của cây trồng (do cây bị bệnh có thể chết; một số bộ phận của cây như củ, quả, hạt, lá bị hủy hoại; cây bị bệnh sinh trưởng và phát triển kém dẫn tới làm giảm sút năng suất) Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 11
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan Làm giảm phẩm chất nông sản khi thu hoạch và cất trữ (chủ yếu là làm giảm giá trị dinh dưỡng, giá trị sử dụng, giá trị thẩm mỹ hàng hóa, chất lượng chế biến), giảm sức sống, chất lượng của hạt giống, cây con giống, hom giống, v.v Làm ảnh hưởng đến đất đai trồng trọt, cơ cấu giống cây trồng, chế độ luân canh, tính chất hoạt động của thành phần vi sinh vật đất, nhất là khi sử dụng nhiều thuốc hóa học độc hại để phòng trừ bệnh, xử lý đất trồng. Một số bệnh hại nông sản còn sinh ra những độc tố có ảnh hưởng xấu trực tiếp đến sức khỏe và đời sống con người, và gia súc khi sử dụng. Độc tố Aflatoxin của bệnh mốc vàng hại lạc (Aspergillus flavus) có thể gây bệnh ung thư gan của người và động vật. Hậu quả trên là do tác hại của quá trình bệnh lý xảy ra ở trong cây làm phá hủy các chức năng sinh lý và cấu tạo của cây. 3. Định nghĩa bệnh cây Một cây khỏe hay cây bình thường là cây thực hiện tốt nhất các chức năng sinh lý được qui định bởi tiềm năng di truyền của nó. Các chức năng này bao gồm: Quang hợp Hô hấp Vận chuyển (nước, khoáng, dinh dưỡng) Trao đổi chất (đường, đạm, chất béo ) Dự trữ Sinh sản Định nghĩa bệnh cây (plant disease). Có nhiều định nghĩa về bệnh cây. Dưới đây là 3 định nghĩa bệnh cây. Định nghĩa 1. (Giáo trình bệnh cây NN, 2007). “Bệnh cây là trạng thái không bình thường có quá trình bệnh lý biến động liên túc xảy ra ở trong cây do các yếu tố ngoại cảnh không phù hợp hoặc ký sinh vật gây ra, dẫn đến sự phá huỷ chức năng sinh lý, cấu tạo, giảm sút năng suất, phẩm chất cây trồng” Định nghĩa 2. (Agrios, 2005). Bệnh cây là một loạt các phản ứng nhìn thấy hoặc không nhìn thấy của tế bào hoặc mô đối với một sinh vật gây bệnh hoăc yếu tố môi trường dẫn tới các thay đổi bất lợi về hình dạng, chức năng, sự thống nhất của cây. Sự thay đổi bất lợi này có thể dẫn tới sự suy yếu hoặc chết của các bộ phận cây hoặc toàn bộ cây. Định nghĩa 3. (Bos, 1995). Bệnh cây là sự kích thích có tính tổn thương, liên tục bởi một tác nhân gây bệnh hoặc yếu tố môi trường làm hủy hoại chức năng của mô và tế bào ký chủ dẫn tới phát triển triệu chứng. Có thể thấy 3 điểm chú ý khi xét 1 bệnh cây: Nguyên nhân gây bệnh cây: là yếu tố hữu sinh (vi sinh vật) hoặc phi sinh (môi trường). Có sự tương tác giữa tác nhân gây bệnh và cây. Mối tương tác này là liên tục. Hậu quả của mối tương tác này là sự suy giảm hoặc mất chức năng sinh lý của tế bào và mô cây, được biểu hiện bằng triệu chứng nhìn thấy hoặc không nhìn thấy. Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 12
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan 4. Các nhóm (loại) bệnh cây Có hàng chục ngàn các loại bệnh cây khác nhau ảnh hưởng đến cây trồng và cây dại. Trung bình, mỗi loại cây bị ảnh hưởng bởi hàng hàng trăm loại bệnh khác nhau. Bệnh cây có thể được phân nhóm theo nhiều cách khác nhau. Phân nhóm theo triệu chứng: bệnh thối rễ, bệnh héo, bệnh đốm lá, bệnh gỉ sắt . Phân nhóm theo bộ phân cây bị ảnh hưởng: bệnh hại rễ, bệnh hại thân, bệnh hại lá, bệnh hại hạt Phân nhóm theo loại cây trồng: bệnh hại cây lương thực, cây rau, cây ăn quả Phân nhóm theo điều kiện canh tác: bệnh hại cây ngoài đồng, trong nhà lưới, nhà kính Phân nhóm theo điều kiện khí hậu: bệnh cây vùng nhiệt đới, bệnh cây vùng ôn đới Phân nhóm theo tác nhân gây bệnh: bệnh do nấm, bệnh do vi khuẩn, bệnh do virus, bệnh do tuyến trùng, bệnh do lạnh, bệnh do nhiễm độc đất 5. Phân loại bệnh cây theo tác nhân gây bệnh Bệnh cây có thể được phân nhóm theo tác nhân gây bệnh. Một ưu điểm nổi bật của cách phân nhóm theo tác nhân gây bệnh là nó cho biết nguyên nhân của bệnh, qua đó gợi ý sự phát sinh, phát triển của bệnh cũng như biện pháp phòng trừ. Theo cách này, bệnh cây có thể được phân nhóm như sau. 5.1. Bệnh truyền nhiễm (bệnh hữu sinh): gây ra bởi các sinh vật sống và có khả năng lan truyền. Bệnh truyền nhiễm bao gồm: Bệnh do nấm và vi sinh vật giống nấm Bệnh do vi sinh vật tiền nhân (vi khuẩn và mollicutes) Bệnh do virus và viroid Bệnh do tuyến trùng (nematode) Bệnh do thực vật thượng đẳng ký sinh và tảo Bệnh do động vật nguyên sinh (protozoa) 5.2. Bệnh không truyền nhiễm (bệnh phi sinh): Gây ra bởi các yếu tố môi trường bất lợi và không có khả năng lan truyền. Bệnh do nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp Bệnh do độ ẩm đất quá cao hoặc quá thấp Bệnh do thiếu hoặc thừa ánh sáng Bệnh do thiếu oxy Bệnh do không khí ô nhiễm Bệnh do thiếu dinh dưỡng Bệnh do nhiễm độc các nguyên tố khoáng đa lượng và vi lượng Bệnh do đất chua hoặc đất phèn (pH đất) Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 13
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan Bệnh do nhiễm độc thuốc trừ dịch hại Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 14
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan Bệnh do áp dụng kỹ thuật canh tác không phù hợp. 6. Các nhóm tác nhân (sinh vật) chính gây bệnh cây 6.1. Nấm và vi sinh vật giống nấm Nấm gây bệnh cây là một nhóm vi sinh vật đa dạng với hơn 10.000 loài. Một số loài trước đây được xem là nấm bậc thấp nay được xếp vào giới Protozoa (ví dụ: nấm Myxomycetes và Plasmodiophoromycetes) hoặc vào giới Chromista (ví dụ: nấm noãn Oomycetes). Mặc dù vậy, do sự gần gũi của chúng với nấm thật (cả về hình thái, tiến hoá và tính chất gây bệnh) nên vẫn được nghiên cứu chung với nấm và còn được gọi là các sinh vật giống nấm. Nấm và VSV giống nấm có đặc điểm chung sau: Trên 80% số bệnh hại cây trồng là do nấm và VSV giống nấm gây ra. Phần lớn nấm và VSV giống nấm có cơ quan sinh trưởng dạng sợi (hyphae), hợp thành một tản nấm (mycelium) Sợi nấm đa bào còn sợi của VSV giống nấm đơn bào, phân nhánh. Không có diệp lục, dị dưỡng Sinh sản tạo ra bào tử (rất đa dạng về cách hình thành, hình thái, màu sắc) Tế bào sợi nấm có vách tế bào, nhân; tế bào chất có không bào và các bào quan. Các ví dụ về nấm gây bệnh cây là nấm đạo ôn lúa (Pyricularia oryzae), nấm khô vằn lúa (Rhizoctonia solani) Các ví dụ về VSV giống nấm là mốc nhầy sưng rễ bắp cải (Plasmodiophora brassicae), nấm noãn gây bệnh mốc sương cà chua khoai tây (Phytophthora infestans) 6.2. Vi khuẩn gây bệnh cây Có khoản 100 loài vi khuẩn gây bệnh cây. Các vi khuẩn gây bệnh cây có đặc điểm chung sau Là vi sinh vật tiền nhân: đơn bào, không có nhân thật, bộ gien DNA nằm tự do trong tế bào chất Phần lớn tế bào được bao bọc bởi một màng tế bào chất bên trong và một vách tế bào vững chắc bên ngoài (tạo ra hình dạng cố định của vi khuẩn). Một nhóm vi khuẩn đặc biệt không có vách tế bào gọi là mollicus (gồm Phytoplasma và Spiroplasma) Phần lớn có lông roi (ở một đầu hoặc phân bố khắp tế bào) Sinh sản bằng phân đôi Một số ví dụ về vi khuẩn gây bệnh cây là: vi khuẩn bạc lá lúa (Xanthomonas oryzae pv. oryzae), vi khuẩn héo xanh cà chua (Ralstonia solanacearum). 6.3. Virus gây bệnh cây Có khoảng hơn 1000 loài virus gây bệnh cây. Virus gây bệnh cây có một số đặc điểm chung sau Virus là tác nhân gây bệnh đặc biệt không có cấu tạo tế bào Phân tử virus thường chỉ gồm hai thành phần chính là axit nucleic và protein. Axit nucleic của đa số virut thực vật là ARN, một số ít là ADN. Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 15
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan A xít nucleic nằm ở bên trong, thường được bao bọc bằng một lớp vỏ ngoài protein. Phân tử virus có kích thước rất nhỏ ( thông thường là vài chục tới vài trăm nm) nên chỉ có thể quan sát được bằng kính hiển vi điện tử (độ phóng đại tối thiểu 100.000). Một số ví dụ về virus gây bệnh cây là Virus khảm lá thuốc lá (tobacco mosaic virus, TMV) Virus đốm hình nhẫn đu đủ (pappaya ringspot virus, PRSV) 6.4. Mollicutes (Phytoplasma và Spiroplasma) Là một nhóm vi khuẩn hại thực vật đặc biệt có 1 số đặc điểm riêng biệt sau: Tế bào thiếu lớp vách (cell wall) rắn chắc bên ngoài. Không thể nuôi cấy được trên môi trường nhân tạo (phytoplasma) hoặc có thể nuôi cấy được (Spiroplasma) Tồn tại ở tế bào mạch phloem (chủ yếu ở tế bào mạch rây) Một số ví dụ về phytoplasma và spiroplasma hại thực vật là Ca. Phytoplasma asteris hại nhiều cây Spiroplasma citri gây bệnh stubborn trên cây có múi. 6.5. Viroid Viroid là nhóm tác nhân gây bênh cây có cấu tạo đơn giản nhât. Viroid là các phân tử RNA sợi vòng đơn, không có vỏ protein, tự tái sinh trong tế bào ký chủ thực vật. Một số ví dụ là Potato spindle tuber viroid (PSTVd) gây bệnh củ khoai tây hình thoi Avocado sunblotch viroid (ASBVd) gây bệnh bỏng nắng quả bơ 6.6. Tuyến trùng hại thực vật Có hàng trăm loài tuyến trùng hại cây. Chúng có một số đặc điểm chung sau: Là nhóm động vật hạ đẳng thuốc ngành giun tròn Đa số hình giun kim chia thành đầu, thân và đuôi. Cơ thể thường dài 0,2 - 1mm, đôi khi có loài dài tới khoảng 12 mm. Một số loài có con cái phình to. Tấn công cây trồng bằng cách dùng kim chích hút để hút dinh dưỡng Một số ví dụ về tuyến trùng hại cây là: Tuyến trùng nốt sưng (hại nhiều loại cây): Meloidogyne spp. Tuyến trùng xoắn ngọn lá lúa (Aphelenchoides besseyi) 7. Một số khái niệm về khả năng gây bệnh của vi sinh vật gây bệnh 7.1. Phân loại tác nhân gây bệnh theo tính ký sinh Quan hệ giữa cây trồng và vi sinh vật gây bệnh là quan hệ ký sinh. Tính ký sinh là hình thức quan hệ giữa hai sinh vật mà một sinh vật này ( vật ký sinh) sống bám và sử dụng các nguồn thức ăn ở một sinh vật kia (ký chủ) để sống. Căn cứ vào mức độ ký sinh, vi sinh vật gây bệnh có được chia một cách tương đối làm 4 loại như sau: Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 16
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan Ký sinh chuyên tính (obligate parasite): chỉ có khả năng sử dụng các vật chất hữu cơ sẵn có trong tế bào sống. VD nấm gỉ sắt, sương mai, phấn trắng hoặc virus. Các ký sinh chuyên tính, nhìn chung, không thể nuôi cấy được trên môi trường nhân tạo. Bán ký sinh (hoại sinh có điều kiện = facultative saprophyte): sống ký sinh trên tế bào sống là chủ yếu nhưng vẫn có khả năng sống trên tàn dư, mô suy nhược hoặc đã chết. Nhiều loài nấm gây bệnh cây thuộc nhóm này như Cercospora, Colletotrichum Bán hoại sinh (ký sinh có điều kiện = facultative parasite): chủ yếu sống trên tế bào suy nhược, đã chết, trên tàn dư cây trồng, trên đất, trên hạt, quả, nhưng có thể ký sinh trên tế bào sống. Vd. nấm mốc Aspergillus, nấm Botrytis. Hoại sinh (saprophyte): chỉ có thể sống ở các tế bào cây đã chết, tàn dư, đất. Các loại này ý nghĩa lớn trong phân giải vật chất hữu cơ trong đất trồng. Một số là những vi sinh vật đối kháng, có thể được sử dụng trong việc phòng ngừa bệnh cây (biện pháp sinh học). Sự phân chia ra bốn loại mức độ ký sinh nói trên chỉ có tính chất rất tương đối, và trong những thay đổi về ngoại cảnh và cây trồng chúng có thể thay đổi chuyển hóa đi. 7.2. Phân loại tác nhân gây bệnh theo phƣơng thức sử dụng nguồn dinh dƣỡng. Theo phương thức sử dụng nguồn dinh dương, tác nhân gây bệnh có thể được chia thành 3 nhóm: Nhóm sinh dưỡng (biotroph): sử dụng nguồn thức ăn từ mô ký chủ sống. Các ví dụ điển hình là nấm sương mai (Peronospora manshurica gây bệnh sương mai đậu tương), gỉ sắt và và phấn trắng (Erysiphe cichoracearum). Nhóm sinh dưỡng, nhìn chung có phổ ký chủ hẹp, và không giết chết tế bào ký chủ ngay sau khi xâm nhiễm; mà thay vào đó, chúng để tế bào sống càng lâu càng tốt vì chúng phụ thuộc vào quá trình trao đổi chất nguyên vẹn của tế bào ký chủ để thực hiện quá trình dinh dưỡng và sinh sản. Điều này tạo cơ hội cho ký chủ có thể thiết lập được các phản ứng phòng thủ liên quan tới gen kháng. Đối với nấm thuộc nhóm sinh dưỡng, phương thức hấp thụ dinh dưỡng thường được thực hiện nhờ vòi hút (haustorium). Mô bị chết hoại hình thành chỉ sau khi nấm đã hoàn thành quá trình sinh sản. Nhóm hoại dưỡng (necrotroph): sử dụng nguồn thức ăn từ mô chết hoặc đang chết. Các ví dụ điển hình là nấm Botrytis cinerea, Alternaria brassicicola, Rhizoctonia solani. Nhóm hoại dưỡng, nhìn chung có phổ ký chủ rộng hơn nhiều và ngay sau khi xâm nhiễm, chúng ngay lập tức giết chết tế bào ký chủ rất sớm và tạo một loạt các độc tố mà chúng dường như thúc đẩy tế bào chết. Vì tế bào ký chủ bị chết rất sớm nên nhìn chung tế bào không đủ thời gian để thiết lập các phản ứng phòng thủ thông qua gen kháng. Tuy nhiên các mô xung quanh vết chết hoại có thể tạo được phản ứng kháng nhờ các chất khuyếch tán ra từ vết bệnh. Bán sinh dưỡng (semi-biotroph). Một số vi sinh vật có kiểu sinh dưỡng hỗn hợp. Ví dụ vi khuẩn Pseudomonas syringae có lúc được xem như thuộc nhóm sinh dưỡng, có lúc lại được xem như thuộc nhóm hoại dưỡng. Vi khuẩn xâm nhập vào cây qua tổn thương cơ giới hoặc khí khổng. Trong giai đoạn đầu của sự nhiễm bệnh, vi khuẩn không giết chết tế bào ký chủ nhưng về sau vi khuẩn sẽ giết chết tế bào. 7.3. Tính gây bệnh và tính độc của vi sinh vật gây bệnh Tính gây bệnh (pathogenicity/pathogenic): là khả năng gây ra bệnh trên cây của một tác nhân. Đây là một khái niệm chất lượng có nghĩa một tác nhân chỉ có thể gây bệnh hoặc không gây bệnh. Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 17
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan Tính độc (virulence/virulent): là mức độ của tính gây bệnh. Đây là khái niệm số lượng có nghĩa một tác nhân có tính gây bệnh với mức độ độc khác nhau. 7.4. Tính chuyên hóa của vi sinh vật gây bệnh Một loài cây hoặc một tập đoàn gồm những loài cây khác nhau do một loài ký sinh nào đó gây ra bệnh gọi là "phổ ký chủ" hay "phạm vi ký chủ" của loài ký sinh đó. Khả năng chọn lọc, thích ứng của một loài ký sinh trên một phạm vi ký chủ nhất định gọi là tính chuyên hóa của ký sinh vật. Một số tác nhân gây bệnh có tính chuyên hóa rộng tức có phạm vi ký chủ rộng. Ví dụ nấm Rhizoctonia solani, vi khuẩn Ralstonia solanacearum, virus khảm lá dưa chuột (cucumber mosaic virus, CMV) là những tác nhân gây hại trên rất nhiều loài cây. Một số tác nhân gây bệnh lại có tính chuyên hóa hẹp tức có phổ ký chủ hẹp. Ví dụ nấm ung thư ngô (Puccinia maydis) chỉ gây hại trên ngô; nấm noãn Phytophthora infestans chỉ gây hại trên cà chua, khoai tây; vi khuẩn Xanthomonas oryzae chỉ gây hại trên lúa. Nếu tác nhân gây bệnh chỉ thích ứng lây bệnh vào loại mô hay loại cơ quan nhất định (nhu mô, mô mạch dẫn, lá, rễ, quả) thì gọi là "tính chuyên hóa mô", "tính chuyên hóa cơ quan". Ví dụ vi khuẩn Ralstonia solanacearum hại mạch dẫn còn vi khuẩn Xanthomonas citri hại nhu mô) Nếu chỉ thích ứng lây bệnh trên các cơ quan ở một giai đoạn, tuổi sinh lý nhất định nào đó thì gọi là "tính chuyên hóa giai đoạn" hoặc "tính chuyên hóa tuổi sinh lý". Ví dụ nấm Botrytis cinera hại chủ yếu mô già còn nấm Pythium thường hại cây con. Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 18
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan Chƣơng 2. Ảnh hƣởng của bệnh đến các chức năng sinh lý của cây 1. Ảnh hƣởng của bệnh đến các chức năng sinh lý của cây. 1.1. Biến đổi chức năng quang hợp Quang hợp là 1 chức năng sinh lý cơ bản của cây xanh. Quang hợp là quá trình chuyển năng lượng ánh sáng mặt trời nhờ sự tham gia của diệp lục thành năng lượng hóa học dùng cho các hoạt động sống của cây. Quang hợp: 6CO2 + 6H2O → C6H12O6 + 6O2 Cường độ quang hợp giảm sút khi cây bị bệnh. Các lý do có thể là: Làm giảm hàm lượng diệp lục (VD. các bệnh với triệu chứng biến màu, chết hoại lá). Làm giảm cường độ ánh sáng (VD. các nấm muội đen, phấn trắng che phủ lá) Làm giảm diện tích tiếp nhận ánh sáng (VD. các bệnh làm biến dạng lá như một số bệnh virus). Ngoài ra, ở một số bệnh nấm, các độc tố do nấm tạo ra như tentoxin, tabtoxin ức chế các enzym cần thiết cho quang hợp. 1.2. Biến đổi chức năng hô hấp Hô hấp là quá trình ngược lại quang hợp. Hô hấp là quá trình chuyển hóa năng lượng dự trữ trong các phân tử gluxit hoặc chất béo thành các liên kết cao năng (của ATP) sẵn sàng sử dụng cho các phản ứng sinh hóa của tế bào. Hô hấp: C6H12O6 + 6O2 → 6CO2 + 6H2O Khi cây bị bệnh, cường độ hô hấp nhìn chung tăng nhanh, về sau giảm mạnh. Lý do cường độ hô hấp tăng nhanh lúc đầu là: Cây tăng cường các hoạt động phòng thủ (tạo nhiều enzyme, các hợp chất phenolic ) Tế bào bị bệnh sử dụng năng lượng không hiệu quả. 1.3. Biến đổi tính thấm của màng tế bào Tính thẩm thấu của màng tế bào bị biến đổi dẫn tới không kiểm soát được sự lưu thông các chất vào và ra tế bào. Trong nhiều trường hợp, tính thấm của màng bị biến đổi mạnh do tác động của độc tố. 1.4. Biến đổi sự thoát hơi nƣớc qua bề mặt lá Cường độ thoát hơi nước của cây bệnh có thể tăng lên do hậu quả của sự phá vỡ độ thẩm thấu của màng tế bào, sự tổn thương của lớp tế bào vệ bề mặt (lớp tế bào biểu bì, tầng cutin), sự hoạt động bất bình thường của bề mặt lỗ khí khổng. VD 1. Nấm Oidium (bệnh phấn trắng bầu bí) phá hủy tầng cutin và tế bào biểu bì; VD 2. Nấm Puccinia maydis (bệnh gỉ sắt ngô) phá hủy nhiều khí khổng. 1.5. Biến đổi vận chuyển nƣớc Nhiều bệnh làm cho sự vận chuyển nước của cây bị giảm sút rõ rệt do rễ bị tổn thương hoặc mạch xylem bị vít tắc. Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 19
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan VD1. Nấm Fusarium solani f. sp. phaseoli gây thối rễ và gốc cây họ đậu dẫn tới cây không thể hút được nước. VD2. Vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây bệnh héo xanh cà chua phát triển rất mạnh trong mạch xylem của cây bệnh dẫn tới cản trở sự vận chuyển nước 1.6. Biến đổi vận chuyển các sản phẩm đồng hóa. Nhiều tác nhân gây bệnh khu trú gây bệnh ở mạch phloem hoặc tạo ra các tổn thương ở phần vỏ thân dẫn tới mạch phloem bị hủy hoại. Hậu quả của bệnh là làm suy yếu hoặc cản trở sự vận chuyển sản phẩm hữu cơ được tổng hợp từ lá. VD. Vi khuẩn loét cam (Xanthomonas citri) tạo ra các vết loét bao quanh thân. 1.7. Biến đổi sự chuyển hóa đạm, gluxit. Lượng đạm, gluxit tổng số bị giảm sút (do tăng tốc độ dị hóa) Acit amin tự do tăng (cần cho dinh dưỡng của tác nhân gây bệnh) 1.8. Biến đổi cân bằng chất điều hòa sinh trƣởng trong cây Một số tác nhân gây bệnh có thể cảm ứng cây tổng hợp nhiều chất điều hòa sinh trưởng chẳng hạn vi khuẩn Agrobacterium tumerfaciens gây bệnh u sưng nhiều loài cây đã chuyển vùng T-DNA của vi khuẩn chứa nhiều gen tổng hợp chất điều hòa sinh trưởng vào bộ gen của cây như Auxin (tăng kích thước tế bào), Cytokinin (tăng phân chia tế bào). 2. Triệu chứng bệnh cây 2.1. Định nghĩa Triệu chứng bệnh cây có thể được định nghĩa như sau: Triệu chứng là biểu hiện phản ứng của cây đối với bệnh. Triệu chứng là các biến đổi bên ngoài hoặc bên trong của cây bị bệnh. 2.2. Các loại triệu chứng Một số bệnh cây có thể tạo “triệu chứng hệ thống” nếu bệnh biểu toàn cây. Thông thường, trong trường hợp này, tác nhân gây hại có mặt khắp trong cây hoặc gây hại ở phần gốc rễ. Trái lại, có những bệnh tạo ra “triệu chứng cục bộ” nếu bệnh chỉ biểu hiện ở một phần mô nào đó trên cây. Trong trường hợp này, thông thường tác nhân gây bệnh chỉ gới hạn ở phần mô bị bệnh. Một tác nhân gây bệnh có thể tạo ra nhiều loại triệu chứng khác nhau, tùy thuộc loài cây, giống cây, tính kháng của cây, tính độc của bản thân tác nhân gây bệnh, điều kiện ngoại cảnh Trái lại nhiều tác nhân gây bệnh, thậm chí thuộc các nhóm khác hẳn nhau về mặt phân loại, có thể tạo ra các triệu chứng giống nhau. Dưới đây là một số loại triệu chứng bệnh cây chính và phổ biến Thối hỏng: mô bệnh bị hủy hoại, thường gặp ở các bộ phân cây có nhiều nước, tinh bột (quả cà chua, củ khoai tây, lá bắp cải ). Thối hỏng có thể chia thành: Thối nhũn (thối ướt, thối mềm): mô bệnh là một khối nhũn nhão, thường có mùi khó ngửi. VD bệnh thối nhũn bắp cải (Erwinia carotovora) Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 20
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan Thối khô: Mô bệnh rắn cứng, giữ được hình dạng lâu. VD bệnh thối khô củ khoai tây (Fusarium solani) Vết đốm: từng bộ phận mô bị huỷ hoại. Tuỳ thuộc kiểu gây hại và hình dạng vết bệnh mà có những dạng sau: Đốm sọc: Vết bệnh bị giới hạn dọc theo gân lá. Thường gặp ở cây 1 lá mầm (lúa, ngô ) có gân song song . VD bệnh đốm sọc vi khuẩn lá lúa (Xanthomonas oryzicola) Đốm góc: Vết bệnh bị giới hạn giữa các mạng lưới gân lá. Thường gặp ở cây 2 lá mầm (lạc, bông, đậu tương) có gân mạng lưới. VD bệnh giác ban bông (X. malvacearum) Đốm vòng: Vết bệnh có những vòng, vân đồng tâm. VD bệnh đốm vòng cải bắp (Alternaria brassicae), bệnh chấm xám chè (Pestalotia theae) Lở loét: vết bệnh thường thấy ở thân, cành, quả. Biểu bì nứt vỡ, có gờ, mô bệnh hoá bần. VD bệnh loét cây có múi (Xanthomonas citri) Tàn lụi. Vết bệnh thường không có hình dạng cố định mà thường phát triển theo sự phát triển của tác nhân gây bệnh trong mô ký chủ. VD bệnh mốc sương cà chua khoai tây (Phytophthora infestans) Biến dạng: Bộ phận bị biến đổi, hình dạng khác thường Xoăn cuốn lá: Do gân lá, phiến lá phát triển bất thường. Triệu chứng này thường do virus gây ra (cần chú ý phân biệt với triệu chứng do côn trùng, nhện) . VD bệnh xoăn vàng lá cà chua (phức hợp loài begomovirus) U sưng o Vết bệnh là một khối bào tử gây bệnh (chú ý: u sưng là triệu chứng nhưng khối bào tử bên trong là dấu hiệu). VD bệnh phấn đen (ung thư) ngô: Ustilago maydis o Mô cây bị vi sinh vật kích thích dẫn tới phát triển quá mức về số lượng và kích thước. VD bệnh sưng rễ bắp cải (Plasmodiophora brassicae), bệnh tuyến trùng nốt sưng (rễ) cà chua, thuốc lá (Meloidogyne spp.) Biến màu: Thường do virus gây ra: Khảm lá (hoa lá): lá chỗ xanh đậm, xanh nhạt, vàng xen kẽ nhau (thường có ranh giới rõ rệt). VD bệnh khảm lá thuốc lá (Tobacco mosaic virus-TMV), khảm lá bí ngô (Papaya ringspot virus – PRSV-W), đốm hình nhẫn đu đủ (Papaya ringspot virus – PRSV-P) Biến vàng: Lá biến màu vàng, gân có thể giữ màu xanh (cần phân biệt với các hiện tượng mất cân bằng dinh dưỡng, đặc biệt vi lượng hoặc già sinh lý của cây). VD bệnh biến vàng bí ngô (Squash leaf curl China virus virus –SLCCNV) Héo úa: Bộ phận rễ, gốc thân hoặc mạch dẫn bị vi sinh vật tấn công. Héo vàng: Cây héo từ từ lá vàng dần rồi chết. Thường do nấm gây ra. VD bệnh héo Fusarium cà chua (Fusarium oxysporum f.sp. lycopersici) Héo xanh (thường do vi khuẩn): Vi khuẩn gây hại làm tắc bó mạch xylem (dẫn nước) dẫn tới cây héo rất nhanh. VD bệnh héo vi khuẩn (héo xanh) cà chua, khoai tây, lạc (Ralstonia solanacearum) Chảy gôm: Gốc, thân, cành cây bệnh có lớp nhựa (gôm) tiết ra. Hiện tượng chảy gôm là phản ứng của cây đối với các tác nhân gây bệnh và thường gặp ở cây thân gỗ. VD bệnh chảy gôm cây có múi (Phytophthora parasitica, P. citrophthora ) Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 21
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan 3. Dấu hiệu bệnh 3.1. Định nghĩa Dấu hiệu bệnh có thể được định nghĩa như sau: Dấu hiệu là sự có mặt vật lý của tác nhân gây bệnh. Dấu hiệu là tác nhân gây bệnh (hoặc bộ phận hoặc sản phẩm của nó) có thể quan sát được trên cây bệnh 3.2. Các loại dấu hiệu Dấu hiệu bệnh, như vậy, có thể là Lớp nấm trên bề mặt vết bệnh. VD lớp nấm muội đen (Capnodia citri) trên bề mặt cây có múi bị bệnh muội đen; lớp nấm trắng (Sclerotium rolfsii) ở gốc cây cà chua, lạc bị bệnh héo rũ gốc mốc trắng. Hạch nấm trên bề mặt vết bệnh. VD hạch nấm (Rhizoctonia solani) trên bề mặt thân, lá lúa bị bệnh khô vằn. Các cơ quan sinh sản và sản phẩm của sự sinh sản trên bề mặt vết bệnh. VD các cành bào tử phân sinh và bào tử phân sinh của nấm Pyicularia oryzae trên vết bệnh đạo ôn lúa, các ổ bào tử nấm gỉ sắt. Dịch vi khuẩn tiết ra từ mô bệnh. VD. Bệnh héo xanh vi khuẩn Ralstonia solani; bệnh bạc lá lúa (Xanthomonas oryzae). Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 22
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan Chƣơng 3. Chẩn đoán bệnh cây 1. Định nghĩa Chẩn đoán bệnh cây là xác định chính xác nguyên nhân bệnh. 2. Qui tắc Koch Triệu chứng và dấu hiệu phải được thấy trên tất cả các cây bị bệnh. Tác nhân gây bệnh phải được phân lập từ cây bệnh và nuôi cấy trên môi trường hoặc nhiễm trên ký chủ mẫn cảm. Tác nhân gây bệnh từ 2 được lây nhiễm trên cây khỏe. Triệu chứng và dấu hiệu trên cây lây nhiễm phải giống như cây bênh ban đầu (mục 1) và tác nhân gây bệnh phải giống như ở mục 2 3. Các phƣơng pháp chẩn đoán 3.1. Chẩn đoán dựa trên triệu chứng bệnh Định nghĩa: là phương pháp chẩn đoán dựa vào các triệu chứng đặc trưng của bệnh đã thể hiện ra bên ngoài trên cây hoặc bộ phận bị bệnh. Đối với 1 số bệnh thì việc chẩn đoán theo triệu chứng bệnh là một phương pháp nhanh chóng và khá chính xác nếu bệnh có triệu chứng đặc trưng và duy nhất (ví dụ bệnh chùn ngọn chuối do virus BBTV (banana bunchy top virus)). Tuy nhiên, vì nhiều tác nhân gây bệnh khác nhau có thể tạo ra cùng một triệu chứng và một tác nhân gây bệnh có thể tạo ra nhiều triệu chứng khác nhau tùy thuộc loài/giống cây, chủng tác nhân gây bệnh và điều kiện ngoại cảnh nên trong nhiều trường hợp, chẩn đoán bằng triệu chứng rất khó hoặc không thể (ví dụ bệnh vàng lá greenning trên cây có múi) 3.2. Chẩn đoán dựa trên dấu hiệu bệnh (= kiểm tra vi sinh vật gây bệnh trên cây) Định nghĩa: là phương pháp kiểm tra trực tiếp vi sinh vật gây bệnh từ mô bệnh không qua nuôi cấy nhân tạo. Phương pháp thường phải sử dụng kính hiển vi. Ưu điểm: Nhanh; đơn giản, có thể cho kết quả chính xác Nhược: Phải được thực hiện trong phòng thí nghiệm, phải có thiết bị (kính hiển vi, hóa chất) Nhiều trường hợp không quan sát thấy vsv. Mẫu phải cần để ẩm (vd trong hộp Petri) để thúc đẩy VSV gây bệnh hình thành cấu trúc có thể quan sát được. Việc để ẩm có thể thúc đẩy sự phát triển của các VSV hoại sinh. Đối với bệnh virus, mẫu phải xử lý đặc biệt để quan sát dưới kính hiển vi điện tử Nhiều trường hợp, trên vết bệnh có nhiều tác nhân gây bệnh khác nhau dẫn tới khó đánh giá. Nhiều trường hợp, tác nhân gây bệnh tồn tại trong mô nên phải nhuộm mô mới có thể quan sát được. Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 23
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan 3.3. Chẩn đoán dựa trên phân ly nuôi cấy tác nhân gây bệnh (phƣơng pháp sinh học) Định nghĩa: là chẩn đoán dựa chủ yếu vào việc phân ly nuôi cấy tác nhân gây bệnh trên môi trường nhân tạo. Thường áp dụng cho bệnh nấm và vi khuẩn. Kỹ thuật thường sử dụng là kỹ thuật cấy mô bệnh hoặc kỹ thuật pha loãng. Đối với việc chẩn đoán bệnh ở hạt giống ngoài phương pháp rửa, ly tâm để quan sát phát hiện dưới kính hiển vi còn có thể dùng phương pháp gieo cách ly để căn cứ vào sự xuất hiện triệu chứng bệnh trên cây non mới mọc mà xác định nguyên nhân. Đối với bệnh virus, do không thể nuôi cấy được nên người ta có thể dùng phương pháp cây chỉ thị để chẩn đoán. Cây chỉ thị là cây mẫn cảm và tạo ra triệu chứng đặc trưng đối với một loại virus nhất định. Ưu điểm: Tương đối đơn giản Cho phép phân lập thuần khiết tác nhân gây bệnh. Nhược điểm: Trong nhiều trường hợp, khi phân lập tác nhân gây bệnh trên môi trường nhân tạo, người ta có thể bắt gặp nhiều loại vi sinh vật khác nhau. Để chẩn đoán chính xác, phải tuân theo qui tắc Koch. Một số loại tác nhân ký sinh chuyên tính (ví dụ nấm gỉ sắt, phấn trắng) không thể nuôi cấy trên môi trường nhân tạo được 3.4. Chẩn đoán dựa trên huyết thanh học Định nghĩa: Dựa trên phản ứng đặc hiệu giữa kháng nguyên và kháng thể. Khi kháng nguyên (ví dụ phân tử virus, các hợp chất protein của nấm, vi khuẩn) được tiêm vào cơ thể của động vật máu nóng (thỏ, chuột ) thì cơ thể các động vật này sẽ hình thành các kháng thể đặc hiệu với nó. Do tính đặc hiệu, các kháng thể này sẽ được sử dụng để chẩn đoán. Hiện nay, nhiều kỹ thuật chẩn đoán huyết thanh học, đặc biệt là thử nghiệm miễn dịch liên kết men (ELISA), đang được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán tác nhân gây bệnh cây, đặc biệt là virus 3.5. Chẩn đoán dựa trên các kỹ thuật sinh học phân tử Hiện nay, nhiều kỹ thuật sinh học phân tử đang được sử dụng để chẩn đoán bệnh hại cây trồng. Một trong các kỹ thuật phổ biến là phản ứng trùng hợp chuỗi PCR (Polymerase Chain Reaction). Kỹ thuật PCR có thể áp dụng cho tất cả các đối tượng tác nhân gây bệnh. Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 24
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan Chƣơng 4. Dịch bệnh cây 1. Khái niệm và thuật ngữ 1.1. Dịch bệnh Dịch bệnh (Epidemic) là sự thay đổi cường độ bệnh trong một quần thể ký chủ theo không gian và thời gian. Sự “thay đổi” ngụ ý một quá trình động, thường là gia tăng; “bệnh” ngụ ý dịch bệnh học giải quyết vấn đề bệnh chứ không chỉ nhằm vào tác nhân gây bệnh hay cây ký chủ; “quần thể ký chủ” cho thấy dich bệnh học nghiên cứu trên qui mô quần thể chứ không phải cá thể. Như vậy, dịch bệnh cũng có thể được định nghĩa là động thái thay đổi bệnh của một quần thể theo không gian và thời gian (hình1) Bệnh Thời gian Hình 1. Động thái thay đổi bệnh cây theo thời gian (trái) và không gian (phải) Theo định nghĩa trên, dịch bệnh không có nghĩa là biểu thị mức độ bệnh cao hoặc lan truyền rộng. Một dịch bệnh có thể “dương” nếu mức độ bệnh tăng (nhanh hoặc chậm) nhưng cũng có thể “âm” nếu mức độ bệnh giảm theo thời gian. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, do thói quen, thuật ngữ dich bênh – epidemic thường được sử dụng không chính xác chỉ một một bệnh lan truyền rộng hoặc phát triển nhanh chóng hoặc có mức độ bệnh cao. Một số thuật ngữ liên quan khác bao gồm: Dịch diện rộng (pandemic) là dịch bệnh xảy ra trên một diện tích lớn, ví dụ một lục địa hoặc toàn cầu. Dịch cấp tính (outbreak) là dịch bệnh xảy ra bất thình lình, thường trên qui mô nhỏ. Dịch mãn tính (endemic) là dịch bệnh xảy ra nhưng mức độ bệnh không thay đổi. Nghiên cứu dịch bệnh kể cả các yếu tố ảnh hưởng được gọi là dịch bệnh học (epidemiology). Dịch bệnh học nghiên cứu đồng thời quần thể tác nhân gây bệnh và ký chủ của nó khi chúng xuất hiện trong một môi trường liên quan (tức là tam giác bệnh). Dịch bệnh học, tuy nhiên, cũng phải giải thích các yếu tố hữu sinh và vô sinh khác, chẳng hạn một môi trường bị ảnh hưởng mạnh bởi các hoạt động của con người, đặc biệt khi nó liên quan đến các biện pháp quản lý bệnh. Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 25
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan Dịch bệnh cây, xuất hiện hàng năm trên hầu hết cây trồng tại nhiều phần của thế giới. Hầu hết các vụ dịch là khá cục bộ và gây thiệt hại ít hoặc trung bình. Một số vụ dịch được kiểm soát một cách tự nhiên, chẳng hạn nhờ thay đổi điều kiện thời tiết. Các vụ dich khác thì bị kiểm soát nhờ áp dụng các biện pháp phòng chống, chủ yếu là hóa học. Đôi khi, một số vụ dịch vượt khỏi tầm kiểm soát, trở lên lan truyền rất rộng hoặc nghiêm trọng trên một loài cây nào đó. 1.2. Nguồn bệnh (inoculum) Định nghĩa. Nguồn bệnh là tác nhân gây bệnh hay bất cứ phần của tác nhân gây bệnh có thể nhiễm bệnh. Nguồn bệnh của nấm: là sợi nấm, các loại bào tử (vô tính, hữu tính, bào tử hình thành từ sợi nấm như bào tử hậu), hạch nấm. Nguồn bệnh của vi khuẩn: là tế bào vi khuẩn nguyên vẹn Nguồn bệnh của virus: là phân tử virus nguyên vẹn (chú ý vector mang virus) Nguồn bệnh của tuyến trùng: cá thể tuyến trùng hoặc trứng. 1.3. Nguồn bệnh sơ cấp và thứ cấp (primary/secondary inoculum) Nguồn bênh sơ cấp là nguồn bệnh nhiễm bệnh trên cây vào đầu vụ trồng (gọi là sự nhiễm bệnh sơ cấp). Nguồn bệnh thứ cấp là nguồn bệnh hình thành từ sự nhiễm bệnh sơ cấp và tạo ra sự nhiễm bệnh thứ cấp. Nguồn bệnh thứ cấp, thường hình thành vào cuối vụ, tồn tại qua thời gian chuyển vụ để trở thành nguồn bệnh sơ cấp vụ tới được gọi là dạng bảo tồn, có thể tồn tại trong đất, tàn dư cây bệnh, cây ký chủ phụ, vector truyền bệnh, vật liệu giống (hạt, củ hom ). 1.4. Tam giác bệnh (disease triangular) Bệnh hình thành và phát triển nhờ sự tương tác giữa tác nhân gây bênh và cây ký chủ dưới ảnh hưởng của môi trường. Mối quan hệ giữa 3 thành phần bệnh có thể được biểu diễn bằng một hình tam giác gọi là tam giác bệnh (hình 2). Chiều dài mỗi cạnh của tam giác đặc trưng cho tổng các điều kiện của mỗi thành phần thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của bệnh. Diện tích của tam giác đặc trưng cho số lượng bệnh có thể đo được nhờ tỷ lệ bệnh hoặc chỉ số bệnh. Ký chủ Môi trƣờng Tổng các điều kiện Tổng các điều kiện thuận lợi cho tính thuận lợi cho bệnh mẫn cảm của ký chủ Lƣợng bệnh xuất hiện và phát triển TLB, CSB Tác nhân gây bệnh Tổng các điều kiện thuận lợi cho tính gây bệnh và tính độc Hình 2. Tam giác bệnh Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 26
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan 1.5. Tứ diện bệnh (disease pyramid) Bệnh và dịch bệnh là một quá trình động. Do vậy, ngoài 3 thành phần của tam giác bệnh thì thời gian (cả thời điểm và thời lượng) cũng đóng vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của bệnh cũng như dịch bệnh. Thời gian có thể ảnh hưởng tới một hoặc tất cả 3 thành phần bệnh, chẳng hạn cây ký chủ chỉ mẫn cảm vào một giai đoạn nào đó của năm Ngoài ra, con người trực tiếp hoặc gián tiếp luôn can thiệp vào bệnh và dịch bệnh bằng cách điều khiển thời gian (thay đổi lịch trồng ), ký chủ (tạo tính kháng ), môi trường (kỹ thuật canh tác ) và tác nhân gây bệnh (phòng chống ). Sự tương tác và mối quan hệ của cả 5 thành phần trên có thể được biểu diễn bằng một hình tứ diện gọi là tứ diện bệnh hay hình tháp bệnh (hình 3) với đáy là tam giác bệnh, đường thẳng xuyên tâm là thời gian và đỉnh là con người. Bằng cách này, con người có thể kiểm soát được tất cả 4 thành phần còn lại. Thời gian Môi trường Ký chủ Tác nhân gây bệnh Hình 3. Tứ diện bệnh 1.6. Chu kỳ bệnh (disease cycle) Đối với tất cả các bệnh truyền nhiễm, chu kỳ bệnh là một chuỗi các sự kiện (riêng biệt hoặc gối lên nhau) xuất hiện liên tục dẫn tới sự phát triển và tồn tại của bệnh và tác nhân gây bệnh. Chu kỳ bệnh liên quan tới sự thay đổi của cây ký chủ và tác nhân gây bệnh cũng như nối kết các thời kỳ trong một vụ trồng và từ vụ này sang vụ khác (hình 4). Cần phân biệt khái niệm chu kỳ bệnh với chu kỳ xâm nhiễm (vòng đời). Chu kỳ xâm nhiễm là sự lặp lại sự nhiễm bệnh của nguồn bệnh. Mặc dù đôi khi khái niệm chu kỳ bệnh được hiểu theo nghĩa chu kỳ xâm nhiễm nhưng hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau. Trong khi chu kỳ xâm nhiễm liên quan chủ yếu tới bản thân tác nhân gây bệnh thì chu kỳ bệnh liên quan tới sự xuất hiện, phát triển và tồn tại của bệnh như là một hàm của tác nhân gây bệnh. Trong một vụ trồng chỉ có một chu kỳ bệnh nhƣng trong một chu kỳ bệnh có thể có rất nhiều chu kỳ xâm nhiễm (ví dụ điển hình là sự nhiễm bệnh thứ cấp (lặp lại) của bênh đạo ôn lúa hay bênh mốc sương cà chua, khoai tây). Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 27
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan Xâm nhập Nhiễm bệnh Phát tán nguồn bệnh thứ cấp Sinh trưởng/sinh sản, Tiếp xúc hình thành triệu khả nhiễm chứng/dấu hiệu và nguồn bệnh thứ cấp Hình thành và Qua vụ Dạng bảo tồn phát tán nguồn (ngủ nghỉ) nguồn bệnh bênh sơ cấp Hình 4. Chu kỳ bệnh Một số sự kiện: T iếp xúc khả nhiễm (inoculation): Là sự tiếp xúc đầu tiên của nguồn bệnh tại vị trí có thể nhiễm bệnh. Xâm nhập (penetration): Sự xâm nhập của tác nhân gây bệnh vào cây. Sự xâm hập này có thể chủ động (tự xuyên thủng biểu bì) hoặc thụ động. Nấm (chủ động hoặc thụ động) Trực tiếp (chủ động bằng lực cơ học và enzym): bào tử nảy mầm thành ống mầm; ống - mầm sẽ hình thành một cấu trúc đặc biệt gọi là giác bám (vòi bám, vòi áp, đĩa áp) và tạo ra tiếp đế xâm nhập (vòi xâm nhập, móc xâm nhập) xuyên qua bề mặt ký chủ (ví dụ nấm P. infestans) Qua lỗ mở tự nhiên (thụ động): khí khổng, thủy khổng, bì khổng (bào tử nấm Cercospora, - gỉ sắt) Qua các vết thương cơ giới, các vết nứt tự nhiên (thụ động) giữa rễ bên và rễ chính (ví dụ - nấm F. oxysporum gây bệnh héo Fusarium cà chua, khoai tây). Virus (hoàn toàn thụ động) - Qua vết thương cơ giới: virus từ lá bệnh xâm nhập vào lá khỏe nhờ cọ xát tạo vết thương. Qua môi giới: môi giới truyền bệnh chích nạp virus từ cây bệnh rồi truyền trực tiếp sang - cây khỏe Vi khuẩn (hoàn toàn thụ động) Vi khuẩn xâm nhập vào cây qua các vết thương xây xát, hoặc các lỗ hở tự nhiên (khí - khổng, thủy khổng), mắt củ Tuyến trùng (phần lớn chủ động) Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 28
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan Sự n hiễm bệnh ( inf ection) : Là quá trình tác nhân gây bệnh thiết lập được quan hệ dinh dưỡng với ký chủ. Tiếp theo là quá trình sinh trưởng và sinh sản của tác nhân gây bệnh cả bên trong và ngoài mô và dẫn tới triệu chứng/dấu hiệu. T hời kỳ ủ bệnh ( incubation period) là thời gian từ khi tác nhân tiếp xúc khả nhiễm tới khi biểu hiện triệu chứng đầu tiên. 2. Phân loại dịch bệnh 2.1. Tính chu kỳ của dịch bệnh Như đã trình bày trong phần chu kỳ bệnh, dịch bệnh cây có tính chu kỳ. Các chu kỳ bệnh lặp lại sự phát triển của tác nhân gây bệnh trong mối quan hệ với môi trường và cây ký chủ. Nguồn bệnh xâm nhập vào cây ký chủ, gây bệnh và hình thành nguồn bệnh mới và có thể tiếp tục một quá trình phát tán, xâm nhập và gây bệnh mới. Sự lặp lại chu kỳ bệnh cũng chính là sự lặp lại dịch. Dựa theo tính chu kỳ, có các loại dịch bệnh sau: 2.2. Dịch bệnh đơn chu kỳ 2.2.1 Khái niệm Các tác nhân gây bệnh chỉ tạo ra một chu kỳ nhiễm bệnh trên một vụ trồng được gọi là các tác nhân gây bệnh đơn chu kỳ (monocycle pathogens). Bệnh do chúng gây ra gọi là bệnh đơn chu kỳ (monocycle disease) và dịch bệnh do chúng gây ra gọi là dịch bệnh đơn chu kỳ (monocycle epidemic) (hình5). Dịch bệnh đơn chu trình có đặc điểm là bệnh và dịch bệnh hình thành chỉ từ nguồn bệnh sơ cấp. Tác nhân gây bệnh vẫn có thể hình thành nguồn bệnh trên hoặc trong cây nhưng không tạo ra sự nhiễm bệnh mới trong vụ trồng. Một trong những lý do là Nguồn bệnh vẫn được hìn h th ành nhưng không sẵn sàng cho sự nhiễm bệnh . Nhiều tác nhân gây bệnh nhóm nấm đất, đặc biệt là các bệnh gây héo mạch dẫn tạo ra các dịch bệnh đơn chu kỳ. Vd. bệnh héo Fusarium (F. oxysporum f. sp. lycopersici) hại cà chua. Bào tử nấm tồn tại trong đất. Khi băt đầu vụ trồng, bào tử nấm tiếp xúc và xâm nhập vào cây qua rễ. Nấm gây bệnh trong rễ, phát triển hệ thống bên trong cây và tạo nhiều bào tử trong mạch dẫn và trên bề mặt lá. Tuy nhiên, bào tử không được giải phóng ra ngoài trong vụ trồng mà chỉ có thể được giải phóng ra trên tàn dư cây bệnh bị phân hủy sau thu hoạch và tiếp tục tồn tại trong đất, trở thành nguồn bệnh sơ cấp (và duy nhất) cho vụ trồng tới. Nhiễm bệnh sơ cấp Nguồn Qua đông, bệnh sơ cấp chuyển vụ Hình 5. Chu kỳ bệnh của dịch bệnh đơn chu kỳ Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 29
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan 2.3. Dịch bệnh đa chu kỳ Các tác nhân gây bệnh tạo ra nhiều chu kỳ nhiễm bệnh (xâm nhiễm lặp lại) trên một vụ trồng được gọi là các tác nhân gây bệnh đa chu kỳ (polycycle pathogens). Bệnh do chúng gây ra gọi là bệnh đa chu kỳ (polycycle disease) và dịch bệnh do chúng gây ra gọi là dịch bệnh đa chu kỳ (polycycle epidemic) (hình 6). Dịch bệnh đa chu kỳ có một số đặc điểm sau: Đối với dịch bệnh đa chu kỳ, sự nhiễm bệnh đầu vụ (nhiễm bệnh sơ cấp) là bởi nguồn bệnh sơ cấp. Trong vụ trồng, nguồn bệnh thứ cấp liên tục hình thành, phát tán và gây ra nhiều đợi nhiễm bệnh thứ cấp. Các dịch bệnh đa chu kỳ thường tạo ra các vụ dịch cấp tính nếu các điều kiện ngoại cảnh và ký chủ thuận lợi. Một số ví dụ điển hình về các loại bệnh và dịch bệnh đa chu kỳ là: Bệnh m ốc sương cà chua, khoai tây (Phytophthora infestans): Bọc động bào tử (sporangium) và bào tử động (zoospore) liên tục được tạo ra khi nhiệt độ thấp, ẩm độ cao và phát tán dễ dàng nhờ gió, nước để gây ra các vụ dịch nghiêm trọng. Một chu kỳ nhiễm bệnh của nấm có thời gian khoảng 5 ngày. Bệnh đạo ôn lú a (Pyricularia oryzae): bào tử phân sinh hình thành liên tục và gây bệnh nghiêm trọng trong điều kiện trời âm u, nhiều sương mù. Một chu kỳ nhiễm bệnh đạo ôn tại Đồng bằng Sông Cửu long có thời gian khoảng 2 tuần. Mặc dù ở bệnh đơn chu kỳ, cường độ bệnh có thể rất cao, tương tự như đối với bệnh đa chu kỳ nhưng về khía cạnh động thái bệnh, chúng khác xa nhau. Điều này dẫn tới sự khác nhau về mô hình dịch bệnh và cuối cùng là chiến lược kiểm soát. Nhiễm bệnh sơ cấp Nguồn bệnh Nhiễm bệnh Nguồn bệnh sơ cấp thứ cấp thứ cấp Qua đông, chuyển vụ Hình 6. Chu kỳ bệnh của dịch bệnh đa chu kỳ Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 30
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan 2.4. Dịch bệnh hỗn hợp Không phải tất cả các dịch bệnh đều có thể phân biệt rõ ràng là đơn chu kỳ hay đa chu kỳ. Đối với một số bệnh nấm có thể tồn tại cả 2 pha dịch bệnh đơn chu kỳ và đa chu kỳ. Hai pha này có thể riêng biệt hoặc xuất hiện đồng thời. Ví dụ: Bệnh ghẻ táo (Venturia inaequalis). Nấm tạo bào tử túi trên tàn dư lá bệnh qua đông. Vào mùa xuân, bào tử túi được giải phóng trong vòng 1,5 đến 2 tháng và xâm nhiễm vào lá mới mọc. Vì bào tử túi không hình thành tiếp trên lá cho tới mùa xuân năm sau nên đối với bào tử túi, dịch bệnh có thể được xem là đơn chu kỳ. Tuy nhiên, trên vết bệnh hình thành từ sự xâm nhiễm của bào tử túi, nấm lại tạo ra các bào tử phân sinh. Bào tử phân sinh liên tiếp tạo ra các chu kỳ xâm nhiễm mới. Như vậy trên nền dịch bệnh đơn chu kỳ (đối với bào tử túi) cũng xuất hiện cả dịch bệnh đa chu kỳ (hình 7) Hình 7. Chu kỳ bệnh ghẻ táo (V. inequalis) 2.5. Dịch bệnh đa vụ (polyetic epidemic) Nhìn chung, ở vùng ôn đới, thường chỉ có một vụ trồng trong một năm, do vậy thuật ngữ “đơn chu kỳ” hay “đa chu kỳ” được tính trên số chu kỳ nhiễm bệnh trong năm. Trái lại, ở vùng các vùng nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới, thường có nhiều vụ trồng trong năm, do vậy thuật ngữ “đơn chu kỳ” hay “đa chu kỳ” được tính trên số chu kỳ nhiễm bệnh trong một vụ trồng. Đối với cây trồng lâu năm (chẳng hạn cây ăn quả) hoặc cây trồng hàng năm nhưng trồng độc canh năm này sang năm khác thì việc đánh giá dịch bệnh cần phải được xem xét qua nhiều mùa sinh trưởng. Đối với các trường hợp này, nguồn bệnh từ mùa sinh trưởng trước sẽ trở nên rất quan trọng trong mùa tới và thực sự có sự tích lũy nguồn bệnh qua các năm. Khác với vùng ôn đới, ở vùng nhiệt đới, không có sự tách bạch rõ ràng giữa các mùa và do đó dịch bệnh có thể diễn tiến liên tục nhiều năm trên các cây như chuối, cà phê, cao Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 31
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan su Các dịch bệnh đối với các tình huống này được gọi là dịch đa vụ (polyetic epidemics) bất kể liệu tác nhân gây bệnh là đơn chu kỳ hay đa chu kỳ trong một mùa sinh trưởng. Ví dụ dịch đa vụ với tác nhân gây bệnh đa chu kỳ (hình 8): bệnh đốm đen Sigatoka trên chuối (Mycosphaerella fijiensis). Đây là bệnh hại lá nguy hiểm nhất trên chuối. Bệnh phân bố chủ yếu ở các nước vành đai xích đạo. Nấm tạo cả 2 loại bào tử vô tính (Pseudocercospora fijiensis) và giai đoạn hữu tính (Mycosphaerella fijiensis). Cả 2 loại bào tử đều đóng vai trò trong dịch bệnh. Tuy nhiên, bào tử phân sinh hình thành ít hơn nhiều và phát tán chủ yếu nhờ giọt nước mưa bắn tóe. Trái lại, bào tử túi hình thành nhiều hơn nhiều và chịu trách nhiệm lan truyền bệnh qua khoảng cách xa do phát tán nhờ gió (khoảng vài trăm km). Bào tử phân sinh hình thành sớm trên vết bệnh còn bào tử túi hình thành muộn hơn trên vết bệnh. Sự hình thành của cả 2 loại bào tử đều yêu cầu độ ẩm cao (bão hòa hoặc có màng nước). Cả 2 loại bào tử đều tạo nhiều chu kỳ nhiễm bệnh thứ cấp, đặc biệt trong mùa mưa (có độ ẩm cao). Nấm xâm nhiễm chủ yếu trên lá non. Hình 8. Chu kỳ bệnh Sigatoka đen 3. Thành phần của dịch bệnh Dịch bệnh là kết quả của sự tương tác các yếu tố dẫn tới bệnh bao gồm: cây ký chủ, tác nhân gây bệnh và điều kiện môi trường trong một khoảng thời gian nhất định. Con người có thể vô tình gây ra dịch bệnh, nhưng thông thường hơn, kiểm soát được dịch bệnh nhờ áp dụng các biện pháp phòng chống thích hợp (tứ giác bệnh). Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 32
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan 3.1. Các yếu tố của cây ký chủ 3.1.1 Mức độ kháng hay mẫn cảm di truyền. Cây ký chủ chống lại tác nhân gây bệnh nhờ biểu hiện của tính kháng do kiểu gen của ký chủ qui định. Tính kháng (resistance) là khả năng của cây loại bỏ hoặc khắc phục hoàn toàn, hoặc ở mức độ nào đó, ảnh hưởng của tác nhân gây bệnh hoặc các yếu tố gây hại. Miễn dịch (immunity): là dạng cực kháng, có nghĩa tác nhân gây bệnh không thể gây bệnh cho cây Tính kháng điều khiển bởi đặc tính di truyền của cây ký chủ gọi là tính kháng thực. Tính kháng thực của cây ký chủ có thể chia làm 2 loại là tính kháng ngang (horizontal resistace) và tính kháng dọc (vertical resistance). Tính kháng ngang (hình 9). Tính kháng ngang thường do nhiều gen qui định (nên còn được gọi là tính kháng đa gen), mỗi gen đóng góp một mức độ nhỏ vào tính kháng (nên còn được gọi là tính kháng gen thứ), di truyền theo qui luật di truyền số lượng (nên còn được gọi là tính kháng số lượng). Cây có tính kháng ngang có thể chống được nhiều chủng tác nhân gây bệnh nhưng mức kháng nhìn chung không cao. Tính kháng ngang nhìn chung bền vững. Tính kháng dọc (hình 9). Tính kháng dọc thường do một hoặc một vài gen qui định (nên còn được gọi là tính kháng đơn gen). Các gen này thường được gọi là gen kháng R qui định tính kháng (nên còn được gọi là tính kháng gen chủ). Cây có tính kháng dọc chỉ có thể chống được các chủng tương thích của tác nhân gây bệnh (nên còn được gọi là tính kháng đặc hiệu chủng). Tính kháng dọc, mặc dù rất hiệu quả chống lại các chủng tương ứng của tác nhân gây bệnh nhưng nhìn chung không bền vững. Tính kháng có thể bị mất nếu xuất hiện trong quần thể tác nhân gây bệnh các chủng mới không tương thích (từ nơi khác tới hoặc chủng bị kháng đột biến) có khả năng gây bệnh. Giống A Mức kháng Kháng dọc Tính kháng dọc Mức Tính kháng ngang kháng ngang Nhiễm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 10 chủng tác nhân gây Hình 9. Minh họa tính kháng và mức kháng ngang, dọc của giống A với với 10 chủng tác nhân gây bệnh 3.1.2 Mức độ đồng nhất di truyền. Khi các cây ký chủ đồng nhất về mặt di truyền, đặc biệt khi xét tới các gen kháng bệnh, được trồng trên một diện tích lớn, thì sẽ có một khả năng lớn là một chủng tác nhân gây Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 33
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan bệnh mới sẽ xuất hiện và tấn công các cây ký chủ này, dẫn tới một vụ dịch. Do đồng nhất về di truyền, tốc độ phát triển dịch bệnh cao nhất, nhìn chung, bắt gặp ở các cây trồng nhân giống vô tính (Vd khoai tây, mía ); tốc độ trung bình bắt gặp ở các cây trồng tự thụ (Vd lạc ); và tốc độ thấp nhất bắt gặp ở các cây giao phấn (Vd ngô ). Điều nay giải thích tại sao hầu hết các dịch bệnh trên các quần thể thực vật tự nhiên, vốn có kiểu gen rất không đồng nhất, lại phát triển khá chậm. Trong trồng trọt, người ta có thể làm giảm sự phát triển của dịch bệnh bằng cách tạo ra sự đa dạng di truyền của một loài cây trồng. Phương pháp đơn giản nhất để tạo ra sự đa dạng này là hỗn hợp giống (cultivar mixture). Hỗn hợp giống là hỗn hợp các giống có các đặc điểm khác nhau kể cả tính kháng bệnh nhưng tương tự nhau về các đặc trưng nông học như thời gian sinh trưởng, phát triển, chất lượng và hình dạng hạt Hỗn hợp giống không chống hoàn toàn được bệnh nhưng làm giảm đáng kể tốc độ phát triển bệnh nhờ 4 cơ chế: (i) Khoảng cách giữa các cây mẫn cảm tăng dẫn tới giảm tốc độ phát tán. (ii) Tương tự, tạo ra rào cản vật lý là các cây của giống có tính kháng cao. (iii) Tạo tính kháng tạo được do chủng không độc gây ra. (iv) Thay đổi vi khí hậu theo hướng bất lợi cho bệnh. Vd. trong một thí nghiệm hỗn hợp giống giữa 1 giống lúa nếp (mẫn cảm với nấm đạo ôn, có chiều cao cao hơn 35-40 cm) và 1 giống lúa tẻ, số ngày với ẩm độ 100% vào 8 giờ sáng trên ruộng thí nghiệm đã giảm từ 20 ngày xuống còn khoảng 2 ngày và diện tích lá lúa nếp bị phủ sương đã giảm từ 84% xuống 36% Kết quả là tỷ lệ bệnh trên giống lúa nếp đã giảm 90%. 3.1.3 Loại cây trồng Nhìn chung, đối với bệnh hại cây hàng năm (ngô, lúa, rau, bông ) hoặc bệnh hại lá, hoa, quả cây thân gỗ, thì dịch bệnh phát triển nhanh, thường trong khoảng vài tuần. Trái lại, đối với bệnh hại thân, cành cây than gỗ lâu năm (cây ăn quả, cây rừng) thì dịch bệnh nhìn chung phát triển chậm, nhiều khi phải mất hàng năm. 3.1.4 Tuổi cây Cây thay đổi phản ứng (mẫn cảm hay kháng) với bệnh theo tuổi. Sự thay đổi tính kháng theo tuổi được gọi là tính kháng giai đoạn (ontogenic resistance). Đối với một số bệnh, ví dụ bệnh chết rạp cây con (do Pythium), sương mai, xoăn lá đào (Uncinula necator), than đen (vd đen đọt mía), gỉ sắt, nhiều bệnh virus, cây ký chủ chỉ mẫn cảm ở giai đoạn sinh trưởng và trở lên kháng bệnh ở giai đoạn trưởng thành (kiểu Ia và Ib, hình 10). Với một số bệnh, chẳng hạn bệnh gỉ sắt và virus, cây thực sự khá kháng bệnh khi còn rất non, trở lên mẫn cảm hơn vào giai đoạn sinh trưởng và kháng bệnh lần nữa khi cây đã sinh trưởng đầy đủ (kiểu Ia, hình 10). Ở một số bệnh khác, chẳng hạn các bệnh hại hoa, quả do nấm Botrytis, Penicillium, Monilinia, Glomerella và tất cả các bệnh sau thu hoạch, bộ phận cây kể trên kháng bệnh suốt giai đoạn sinh trưởng và đầu giai đoạn trưởng thành nhưng mẫn cảm khi gần thu hoạch (kiểu II, hình 10). Ở một số bệnh, ví dụ bệnh mốc sương khoai tây (Phytophthora infestans) và bệnh đốm vòng cà chua (Alternaria solani), cây mẫn cảm ở đầu giai đoạn sinh trưởng, tương đối kháng ở đầu giai đoạn trưởng thành và mẫn cảm lại vào cuối giai đoạn trưởng thành (kiểu III, hình 10). Như vậy, tùy thuộc vào tổ hợp ký sinh – ký chủ, tuổi cây ở thời điểm tiếp xúc với tác nhân gây bệnh có thể ảnh hưởng đáng kể đến sự nhiễm bệnh và dịch bệnh. Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 34
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan Giai đoạn sinh trưởng Giai đoạn trưởng thành 1 (a) I (b) 0 Tính 1 mẫn II cảm 0 1 III 0 Giai đoạn phát triển của cây Hình10. Thay đổi tính mẫn cảm theo tuổi cây. Ở kiểu I, cây chỉ mẫn cảm khi tốc độ sinh trưởng tối đa (Ia) hoặc ở giai đoạn đầu sinh trưởng (Ib). Ở kiểu II, cây mẫn cảm chỉ khi đã trưởng thành và tính mẫn cảm tăng dần theo thời gian tới ra hoa. Ở kiểu III, cây mẫn cảm khi còn rất non hoặc khi đã thành thục 3.2. Các yếu tố của tác nhân gây bệnh 3.2.1 Mức độ độc. Tác nhân gây bệnh độc có khả năng xâm nhiễm ký chủ nhanh chóng, đảm bảo hình thành nhanh chóng số lượng lớn nguồn bệnh. Chú ý thuật ngữ: Tính gây bệnh (pathogenicity/pathogenic): là khả năng gây ra bệnh trên cây của một tác nhân. Đây là một khái niệm chất lượng có nghĩa một tác nhân chỉ có thể gây bệnh hoặc không gây bệnh. Tính độc (virulence/virulent): là mức độ của tính gây bệnh. Đây là khái niệm số lượng có nghĩa một tác nhân có tính gây bệnh với mức độ độc khác nhau. 3.2.2 Lƣợng nguồn bệnh. Số lượng nguồn bệnh gần cây ký chủ càng lớn thì lượng nguồn bệnh tiếp xúc với ký chủ càng nhiều và càng sớm, do vậy tăng cơ hội cho dịch bệnh hình thành và phát triển. 3.2.3 Kiểu sinh sản của tác nhân gây bệnh Tất cả các loại tác nhân gây bênh đều tạo con cháu. Hầu hết các loài nấm, vi khuẩn và virus tạo một số lượng rất lớn con cháu; trong khi đó, một số ít các loài nấm, tất cả các loài tuyến trùng và thực vật ký sinh bậc cao tạo số lượng tương đối ít con cháu. Một số loài nấm, vi khuẩn và virus có chu kỳ sinh sản ngắn và do đó là các tác nhân gây bệnh đa chu trình (polycyclic pathogens), có nghĩa chúng có thể tạo nhiều thế hệ trong một mùa vụ. Các tác nhân gây bệnh đa chu trình, bao gồm các nấm gây bệnh gỉ sắt, sương mai, đốm lá là nguyên nhân của hầu hết các vụ dịch bất thình lình và thảm khốc trên thế giới. Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 35
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan Một số loại nấm lan truyền qua đất, ví dụ Fusarium và Verticillium, và hầu hết các loài tuyến trùng thường tạo một hoặc một vài (lên tới 4) chu kỳ sinh sản qua một mùa vụ. Đối với nhóm tác nhân gây bệnh này, số lượng con cháu ít, và đặc biệt, kiểu phát tán nguồn bệnh đã hạn chế khả năng của chúng gây dịch bệnh nhanh chóng và trên diện rộng trong một mùa vụ. Chúng thường gây các vụ dịch cục bộ và phát triển chậm. Một số tác nhân gây bệnh, ví dụ nấm than đen, cần tới cả vụ để hoàn thành vòng đời. Nhóm này cũng tạo dịch bênh phát triển chậm. 3.2.4 Sinh thái của tác nhân gây bệnh. Về sinh thái, đặc biệt khi xét tới vị trí hình thành và bảo tồn nguồn bệnh, tác nhân gây bệnh có thể chia thành 4 nhóm: (1) Nhóm tác nhân gây bệnh truyền qua không khí (air-borne): là nhóm tác nhân gây bệnh hình thành nguồn bệnh trên bộ phận thuộc phần trên mặt đât của cây ký chủ. Các loại nấm đốm lá, ví dụ điển hình là nấm đạo ôn lúa, thuộc nhóm này. (2) Nhóm tác nhân gây bệnh truyền qua đất (soil-borne): là nhóm tác nhân gây bệnh hình thành nguồn bệnh trên hoặc trong mô bệnh ở phần gốc thân, rễ. Nguồn bệnh thường được giải phóng vào trong đất và, nhìn chung, lan truyền chậm. Nhóm này gồm nhiều loại nấm (còn được gọi là nấm đất) (vd: phần lớn nấm Phytophthora, Rhizoctonia, Scleotium ), vi khuẩn (Ralstonia ), tuyến trùng (Meloidogyne ). (3) Nhóm tác nhân gây bệnh truyền qua hạt giống (seed-borne/transmission): Là nhóm tác nhân gây bệnh hình thành nguồn bệnh trên hoặc trong hạt hoặc vật liệu giống như củ giống, hom giống. (Chú ý phân biệt 2 khái niệm seed-borne và seed transmission: seed-borne: tác nhân tồn tại trên hạt, có thể ảnh hưởng tới chất lượng hạt nhưng chưa chắc đã truyền bệnh sang cây con; seed transmission: phải truyền bệnh sang cây con) (4) Nhóm phụ thuộc vector: Là nhóm tác nhân gây bệnh hình thành nguồn bệnh bên trong cây. Do vậy, tác nhân gây gây bệnh thường chỉ lan truyền nhờ vector truyền bệnh. Virus và một số nấm, vi khuẩn hại mạch dẫn (héo dưa chuột – Erwinia tracheiphila) thuộc nhóm này. Cần chú ý là sự phân chia này là tương đối. Nhiều tác nhân gây bệnh có thể vừa thuộc nhóm truyền qua không khí, vừa thuộc nhóm truyền qua hạt (vd: nấm đạo ôn); vừa thuộc nhóm truyền qua không khí, vừa thuộc nhóm truyền qua đất (vd: nấm khô vằn). 3.2.5 Kiểu lan truyền của tác nhân gây bệnh Nguồn bệnh của tác nhân gây bệnh có thể lan truyền nhờ gió, nước tưới, nước mưa, đất, vector truyền bệnh và các hoạt động canh tác của con người. Các kiểu lan truyền này ảnh hưởng lớn tới tốc độ phát triển theo thời gian và không gian của dịch bệnh. Nhờ gió. Nguồn bệnh (thường là bào tử) của các tác nhân gây bệnh nhóm truyền qua không khí, chẳng hạn nhóm nấm gây bệnh gỉ sắt, sương mai, phấn trắng, nhiều bệnh đốm lá, có thể dễ dàng giải phóng ra không khí và nhờ gió phát tán qua các khoảng cách từ vài cm tới nhiều km. Nhờ vector. Đây là kiểu phát tán chủ yếu của virus, của vi khuẩn biệt dưỡng (fastidious bacteria) như vi khuẩn Candidatus liberobacter asiaticus gây bệnh greening (truyền bằng rầy chổng cánh Diaphorina citri), vi khuẩn thiếu vách (mollicut = phytoplasma, spiroplasma) như Sugarcane white leaf phytoplasma gây bệnh trắng lá mía truyền bằng nhiều loài rầy lá, đặc biệt 2 loài Matsumuratettix hiroglyphicus và M. flavovittatus. Một số vi khuẩn hại mach dẫn cũng phát tán nhờ vector; chẳng hạn vi khuẩn Erwinia tracheiphila gây bệnh héo vi khuẩn bầu bí phát tán nhờ bọ rùa (Acalymma vittata và Diabrotica undcimpunctata). Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 36
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan Nhờ nước mưa. Phần lớn bệnh vi khuẩn (vd X.o. pv. oryzae gây bệnh bạc lá lúa) và một số nấm như nấm thán thư (Colletotrichum) phát tán nhờ nước mưa. Giọt nước mưa bắn tóe trên vết bệnh có thể giúp tác nhân gây bệnh phát tán qua khoảng cách ngắn nhưng dòng nước mưa có thể giúp nguồn bệnh phát tán xa hơn. (Chú ý đối với bệnh thán thư: mặc dù thuộc nhóm khí sinh nhưng bào tử hình thành trong ổ bào tử = đĩa cành rất dính nên không phát tán dễ dàng nhờ gió) Nhờ đất. Do đặc điểm vật lý của đất, nguồn bệnh của nhóm địa sinh không dễ dàng phát tán qua đất. Sự di chuyển chủ động của vi khuẩn hoặc tuyến trùng có thể thuận lợi hơn khi đất ẩm (có màng nước trong đất) mặc dù khoảng cách di chuyển thường ngắn. Do vậy dịch bệnh do nhóm này gây ra thường cục bộ và không phát triển nhanh. Cần chú ý là sự phân chia này là tương đối. Nhiều tác nhân gây bệnh có thể có nhiều kiểu phát tán khác nhau. Ví dụ dịch bệnh thối hạch bắp cải do nấm Sclerotinia sclerotiorum có thể cục bộ nếu nguồn bệnh chỉ là hạch nấm tồn tại trong đất nhưng có thể rất rộng nếu bào tử túi hình thành nhiều và phát tán nhờ gió. 3.3. Các yếu tố môi trƣờng Phần lớn bệnh cây xuất hiện bất cứ khi nào và bất cứ ở đâu khi cây được trồng nhưng thường không phát triển thành các vụ dịch cấp tính và lan truyền rộng. Lý do là điều kiện môi trường có ảnh hưởng lớn tới cây ký chủ (sự có mặt của cây, giai đoạn sinh trưởng, mức độ mẫn cảm bệnh, khả năng đề kháng ) và tới tác nhân gây bệnh (khả năng bảo tồn, tốc độ và kiểu sinh sản, kiểu lan truyền, hướng và khoảng cách phát tán, khả năng xâm nhập ). Các yếu tố ngoại cảnh có ảnh nhất tới sự phát triển dịch bệnh là nhiệt độ, độ ẩm. 3.3.1 Nhiệt độ Ảnh hưởng của nhiệt độ lên sự phát triển của bệnh phụ thuộc tổ hợp ký sinh – ký chủ. Bệnh phát triển nhanh nhất tức có thời gian nhắn nhất để hoàn thành chu kỳ xâm nhiễm thường xuất hiện khi nhiệt độ là tối thích cho tác nhân gây bệnh nhưng ở phía trên hoặc phía dưới nhiệt độ tối thích cho sự phát triển của ký chủ (giảm tính kháng của cây ký chủ). Ở nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao so với nhiệt độ tối thích của tác nhân gây bệnh, hoặc ở nhiệt độ gần với nhiệt đội tối thích cho ký chủ thì bệnh phát triển chậm hơn. Vd. đối với nấm gỉ sắt lúa mỳ (Puccinia graminis f.sp. triciti), thời gian để nấm hoàn thành một chu kỳ xâm nhiễm (từ hạ bào tử lây nhiễm – hạ bào tử mới): 22 ngày ở 5 OC; 15 ngày ở 10 OC; và 5-6 ngày ở 23 OC; 3.3.2 Độ ẩm (moisture) Độ ẩm dưới dạng mưa, nước tưới, sương, độ ẩm không khí là yếu tố quan trọng đối với phần lớn các dịch bệnh nấm (tàn lụi, sương mai, đốm lá, gỉ sắt và thán thư), vi khuẩn (đốm lá, tàn lụi và thối ướt) và tuyến trùng. Ảnh hưởng của độ ẩm đến dịch bệnh thể hiện ở: Độ ẩm cao làm tăng độ mọng nước của mô cây, do đó tạo điều kiện cho tác nhân gây bệnh xâm nhập. Ảnh hưởng đến sự hình thành, thời gian sống và đặc biệt là tốc độ nảy mầm bào tử. Hầu như tất cả các loại bào tử nấm khi nẩy mầm đều yêu cầu độ ẩm cao, thậm chí có màng nước. Một số loại nấm, thậm chí phát triển rất tốt trong điều kiện khô như nấm phấn trắng thì khi bào tử nấm nảy mầm vẫn cần độ ẩm cao. Ví dụ 1: bào tử nấm đạo ôn nảy mầm tự do trong nước và yêu cầu độ ẩm để bào tử nảy mầm là >92%. Vd 2: Đối với bệnh ghẻ táo, thời gian bề mặt lá, quả bị ướt trong vòng ít nhất 9 giờ là yêu cầu bắt buộc để nấm có thể xâm nhiễm được, thậm chí ở nhiệt độ tối thích. Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 37
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan Ảnh hưởng đến sự giải phóng bào tử. Phần lớn các loài nấm yêu cầu độ ẩm bão hòa trên bề mặt ký chủ hoặc độ ẩm không khí cao để giải phóng và nảy mầm bào tử. Ngay sau khi xâm nhập được vào bên trong và thiết lập được quan hệ dinh dưỡng với ký chủ, nấm sẽ không cần sự có mặt của ẩm. Một số loại nấm, vd Phytophthora infestans và các loại nấm sương mai phải yêu cầu độ ẩm cao hoặc bề mặt lá bị ướt suốt toàn bộ dịch bệnh. Đối với những bệnh này, mặc dù bào tử có thể giải phóng sau một thời gian ngắn nếu lá bị ướt thì sự sinh trưởng và sinh bào tử của nấm cũng như biểu hiện triệu chứng sẽ dừng lại ngay sau khi thời tiết khô nóng xuất hiện. Phần lớn nấm (và vi khuẩn) hại phần cây trên mặt đất yêu cầu có màng nước để xâm nhiễm thì bào tử của nấm phấn trắng có thể nảy mầm, xâm nhập và gây bệnh khi chỉ cần ẩm độ không khí cao. Tuy nhiên, đối với nấm phấn trắng, nếu bề mặt lá bị ướt, sự nảy mầm bào tử và nhiễm bệnh sẽ giảm. Đối với một số loài nấm phấn trắng, sự nhiễm bệnh mạnh nhất khi độ ẩm tương đối thấp (50 -70%). Đối với các bệnh hại phần cây dưới hoặc giáp mặt đất, cường độ bệnh tỷ lệ thuận với hàm lượng nước trong đất và cao nhất khi nước bão hòa. Nước trong đất chủ yếu ảnh hưởng đến sự sinh sản và di chuyển của nguồn bệnh (vd động bào tử nấm Phytophthora, Pythium). Hàm lượng nước trong đất tăng cũng làm giảm khả năng phòng thủ của cây do thiếu oxy trong đât. Nhiều loại nấm đất (Phytophthorra, Rhizoctonia, Sclerotinia, Sclerotium), một số vi khuẩn (Erwinia và Pseudomonas) và hầu hết tuyến trùng gây triệu chứng nặng nhất trên đất ướt không bị ngập. Một số loại nấm như Fusarium solani, Mcrophomina phaseoli phát triển tốt trên đất khô hơn. Ảnh hưởng đến tốc độ nhân lên của vi khuẩn. Phần lớn các bệnh vi khuẩn ưa thích điều kiện ẩm độ cao. Vi khuẩn có thể phát tán dễ dàng nhờ giọt nước mưa bắn tóe. Ngoài ra, vi khuẩn khi xâm nhập vào cây dù qua vết thương cơ giới hay lỗ mở tự nhiên đều yêu cầu có màng nước. Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 38
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan Chƣơng 5. Phòng trừ bệnh cây 1. Các nguyên lý quản lý bệnh hiện đại 1.1. Các chiến thuật giảm nguồn bệnh sơ cấp Tránh bệnh (Avoidance): giảm mức độ bệnh bằng cách chọn lựa mùa vụ hay vị trí có lượng nguồn bệnh thấp hoặc điều kiện môi trường không thuận lợi cho sự nhiễm bệnh Loại trừ nguồn bệnh (Exclusion): giảm lượng nguồn bệnh được đưa vào từ nơi khác Tiêu hủy nguồn bệnh (Eradication): giảm sự hình thành nguồn bệnh ban đầu bằng cách tiêu hủy hoặc bất hoạt nguồn bệnh ban đầu (Vd: vệ sinh đồng ruộng, loại bỏ nguồn gốc phát sinh nguồn bệnh, loại bỏ ký chủ phụ ) Bảo vệ cây (Protection): giảm mức độ nguồn bệnh ban dầu bằng thuốc hóa học hoăc các cách tương tự Kháng bệnh (Resistance): dùng giống kháng bệnh, đặc biệt các giống kháng sự nhiễm bệnh ban đầu Chữa bênh (Therapy): xử lý nhiệt, hóa chất và/hoặc nuôi cấy mô để tạo vật liệu giống sạch bệnh được chứng nhận. 1.2. Các chiến thuật giảm tốc độ tăng bệnh Tránh bệnh (Avoidance): giảm tốc độ hình thành nguồn bệnh, tốc độ nhiễm bệnh, tốc độ phát triển của tác nhân gây bệnh bằng cách chọn thời vị trí hoặc vị trí có điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi cho bệnh Loại trừ bệnh (Exclusion): giảm việc đưa nguồn bệnh mới từ nguồn bênh ngoài trong vụ trồng Tiêu hủy bệnh (Eradication): giảm tốc độ hình thành nguồn bệnh trong suốt vụ trồng bằng cách tiêu hủy cây bệnh hay bất hoạt nguồn bệnh thứ cấp. Bảo vệ cây (Protection): giảm tốc độ xâm nhiễm bằng thuốc hóa học hoặc tương tự. Kháng bệnh (Resistance): dùng các giống cây trồng có khả năng giảm tốc độ hình thành nguồn bệnh, tốc độ xâm nhiễm và tốc độ phát triển của tác nhân gây bệnh. Chữa bệnh (Therapy): chữa cây đã bị nhiễm bệnh hoặc giảm khả năng hình thành nguồn bệnh. 1.3. Các chiến thuật làm giảm thời gian dịch bệnh Tránh bệnh (Avoidance): trồng các giống chin sớm hoặc trồng ở thời vụ thúc đẩy cây sinh trưởng phát triển nhanh. Loại trừ nguồn bệnh (Exclusion): làm chậm việc đưa nguồn bệnh từ bên ngoài bằng kiểm dịch Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 39
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan 2. Một số biện pháp cụ thể 2.1. Biện pháp sử dụng giống chống bệnh và giống sạch bệnh Chọn tạo các giống chống một loại bệnh hoặc chống một nhóm bệnh có tác dụng giải quyết căn bản vấn đề bệnh hại trong một thời gian khá lâu dài, giảm tổn thất và giảm chi phí cho các biện pháp phòng trừ khác, là biện pháp có hiệu quả kinh tế cao. Cần xây dựng bộ giống thích hợp đa gen kháng, năng suất cao cho từng vùng, áp dụng các biện pháp thâm canh để giống không thoái hoá, qua đó ngăn ngừa sự hình thành các chủng ký sinh mới có tính độc cao thích nghi dần với giống chống bệnh và hạn chế các yếu tố làm mất dần tính kháng của giống. Mặt khác, sử dụng giống không mang bệnh để gieo trồng có tác dụng phòng trừ bệnh trên đồng ruộng rất lớn. Do vậy, việc dùng giống chống bệnh, giống sạch bệnh có chất lượng tốt để gieo trồng sẽ tránh được bệnh, bảo đảm năng suất cao, giảm chi phí BVTV, an toàn sản phẩm và môi trường. 2.2. Biện pháp canh tác Những biện pháp kỹ thuật trồng trọt có tác dụng làm cho cây sinh trưởng, phát triển tốt, đạt năng suất cao, đồng thời hạn chế, tiêu diệt bệnh hại, bảo vệ cây gọi là những biện pháp cách tác phòng trừ bệnh cây. Biện pháp canh tác bao gồm: luân canh cây trồng, kỹ thuật làm đất, phân bón, thời vụ, nước tưới, vệ sinh đồng ruộng 2.3. Biện pháp sinh học Biện pháp sinh học là biện pháp dùng các vi sinh vật có ích (gọi là vi sinh vật đối kháng) hoặc các chất kháng sinh do chúng sản sinh ra hoặc các chất chiết có nguồn gốc tự nhiên để diệt các vật ký sinh gây bệnh cây. Vi sinh vật đối kháng thường được nghiên cứu là nấm hoặc vi khuẩn. Cơ chế để một VSV đối kháng chống lại tác nhân gây bệnh là Ký sinh trực tiếp tác nhân gây bệnh. Cạnh tranh dinh dưỡng với tác nhân gây bệnh. Tiết độc tố (kháng sinh) đầu độc tác nhân gây bệnh. Cải thiện hệ VSV đất làm cây sinh trưởng tốt dẫn tới tăng tính kháng bệnh. Biện pháp sinh học có ưu điểm an toàn cho cây, người và gia súc, không gây ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, biện pháp này mặc dù được nghiên cứu nhiều nhưng hiện chỉ có một số ít vi sinh vật đối kháng có khả năng ứng dụng trong thực tiễn vì: Khả năng tiêu diệt tác nhân gây bệnh chậm Không áp dụng được mọi nơi Khó bảo quản. Giá thành nhìn chung cao Khó tạo hiệu lực đồng nhất và ổn định. Một VSV đối kháng hiên đang được sử dụng rộng rãi là nấm Trichoderma. Tác nhân này có thể được sử dụng để trừ nhiều loại nấm đất như Rhizoctonia, Sclerotium. Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 40
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan 2.4. Biện pháp cơ lý học Bao gồm chọn lọc hạt giống tốt, nhổ bỏ cây bệnh, cắt bỏ cành lá bị bệnh, nhổ bỏ cây ký chủ phụ, xử lý hạt giống bằng nhiệt độ (500C trong 18 20 phút), khử trùng đất bằng hơi nóng, nước nóng, ánh nắng, tia tử ngoại. 2.5. Biện pháp kiểm dịch thực vật Biện pháp kiểm dịch thực vật có vai trò quan trọng nhằm phát hiện, ngăn chặn và tiêu diệt triệt để, hoặc nghiêm cấm đưa các dịch hại thuộc đối tượng kiểm dịch từ vùng này đến vùng khác của một nước hoặc từ nước này đến nước khác. Ở nước ta Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh về kiểm dịch thực vật và có một hệ thống kiểm dịch thực vật hoàn chỉnh. 2.6. Biện pháp hoá học 2.6.1 Đinh nghĩa. Biện pháp hoá học phòng trừ bệnh cây là việc dùng các thuốc hoá học (gồm các hợp chất vô cơ, hữu cơ, các chất kháng sinh) có tác dụng trực tiếp tiêu diệt hoặc ức chế vi sinh vật gây bệnh cây. Hiện nay, biện pháp hóa học vẫn đang được sử dụng ở Việt Nam như là biện pháp quan trọng nhất để phòng chống bệnh hại. 2.6.2 Ưu điểm (3 ƣu điểm chính) Diệt được dịch hại nhanh. Chặn được dịch hại trong thời gian ngắn. Hiệu quả rõ rệt và trực tiếp. Trong nhiều trường hợp, đem lại hiệu quả kinh tế tốt, nâng cao năng suất và phẩm chất nông sản. Có thể áp dụng được ở nhiều vùng khác nhau. 2.6.3 Nhƣợc điểm. Việc lạm dụng thuốc hóa học có thể gây các hậu quả sau Thuốc hóa học sử dụng trên qui mô lớn có thể gây mất cân bằng sinh thái. Ảnh hưởng đến sinh vật có ích Hình thành tính kháng thuốc Tạo quần thể dịch hại mới Ô nhiễm môi trường Dư lượng thuốc trong nông sản có thể gây nguy hiểm cho người và động vật Ngoài ra, hiệu quả sử dụng thuốc còn phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, cách sử dụng. Có thể làm tăng giá thành 2.6.4 Các khái niệm về chất độc Chất độc: Là những chất khi xâm nhập vào cơ thể sinh vật với một lượng nhỏ cũng có thể gây nên sự ngộ độc, phá hủy nghiêm trọng chức năng của cơ thể hoặc làm cơ thể bị chết Tính độc: Là khả năng gây độc của một chất đối với cơ thể sinh vật ở một liều lượng nhất định. Độ độc: Là mức độ của tính độc được biểu thị bằng liều lượng của chất độc cần có để gây được một tác động nhất định trên cơ thể sinh vật. Liều lượng: Là lượng chất độc được tính bằng g hay mg cần để gây được một tác động nhất định trên cơ thể sinh vật. Vì các cá thể khác nhau về độ lớn và mức độmẫn cảm thuốc nên độ độc thường được diễn tả bằng lượng chất độc cần thiết / đơn vị khối lượng cơ thể Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 41
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan (mg/kg hay µg/g). Có nhiều cách chia liều lượng, nhưng các loại liều lượng sau thường được sử dụng để đánh giá độ độc: Liều lượng gây chết trung bình (LD50) là liều lượng chất độc gây chết 50 % số lượng cá thể thí nghiệm. LD50 thường được dùng để so sánh và phân loại chất độc theo độ độc. Liều lượng gây chết (liều chí tử) là liều lượng chất độc gây ra cho cơ thể những biến đổi không thể hồi phục dẫn tới chết Liều lượng dưới liều gây chết là liều lượng gây ra sự biến đổi chức năng của cơ thể nhưng chưa dẫn tới chết Thuốc trừ dịch hại: Định nghĩa của Cục bảo vệ môi trường Mỹ (EPA): Thuốc trừ dịch hại là các hợp chất hay hỗn hợp các hợp chất có tác dụng ngăn chặn, tiêu diệt, đẩy lùi hoặc làm giảm nhẹ bất kỳ loài dịch hại nào Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật: bao gồm các hoạt chất và phụ gia ở dạng hợp chất ban đầu và các sản phẩm chuyển hóa trung gian và sản phẩm phân giải ở dạng tự do hoặc liên kết với nội chất thực vật có hại tới sức khỏe người và động vật máu nóng. Dư lượng được tính bằng µg (hay mg) hợp chất độc / kg nông sản. Thời gian cách ly: Là thời gian tính từ ngày cây trồng hoặc sản phẩm được xử lý thuốc lần cuối cùng cho đến ngày được thu hoạch nông sản làm lương thực thực phẩm mà không tổn hại đến cơ thể. 2.6.5 Phân loại thuốc trừ bệnh Theo đối tượng phòng chống: Thuốc trừ nấm (fungicide). Thuốc trừ vi khuẩn (bacteriocide) Thuốc trừ tuyến trùng (nematocide) Theo con đường xâm nhập vào cây trồng: Thuốc nội hấp: có khả năng xâm nhập vào cây qua thân, lá, rễ và có thể di chuyển trong cây. Di chuyển lên phía trên gọi là dịch chuyển hướng ngọn; xuống phía dưới gọi là dịch chuyển hướng gốc. Thuốc tiếp xúc (thuốc bảo vệ bề mặt): không có khả năng thấm sâu vào trong cây. Theo tính đặc hiệu của thuốc đối với các quá trình sinh hóa của tác nhân gây bệnh Thuốc tác động không đặc hiệu: có thể tương tác với nhiều quá trình sinh hóa của tác nhân gây bệnh. Ưu điểm của thuốc là không tạo tính kháng thuốc. Phần lớn các thuốc tiếp xúc thuộc nhóm này. Ví dụ các thuốc chứa Cu, Mancozeb. Thuốc tác động đặc hiệu: chỉ tác động đến một hoặc một số ít quá trình sinh hóa của tác nhân gây bệnh. Ưu điểm: tránh được các tác động không đặc hiệu đến cây (độc cho cây), thường được sử dụng với liều lượng nhỏ hơn so với thuốc không đặc hiệu. Nhược: dễ tạo tính kháng thuốc. Phần lớn các thuốc nội hấp cũng là các thuốc tác động đặc hiệu. Theo nguồn gốc và thành phần hóa học Thuốc vô cơ Thuốc hữu cơ (chứa các bon): lân hữu cơ, cacbamate, pyrethroit Dầu khoáng Thuốc thảo mộc Thuốc sinh học Thuốc kháng sinh Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 42
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan Theo tính chọn lọc đối với tác nhân gây bệnh(phổ tác động) Thuốc chọn lọc: trừ một hoặc một nhóm đối tượng có quan hệ gần gũi Thuốc không chọn lọc (thuốc phổ rộng): trừ nhiều nhóm đối tượng khác nhau 2.6.6 Thành phần của thuốc Chất hoạt động (ai): là thuốc nguyên chất – là thành phần gây hiệu lực chính đối với dịch hại. Thuốc kỹ thuật sản xuất từ nhà máy thường chứa có hàm lượng chất hoạt động rất cao (trên 90 %) Chất phụ gia: tuỳ theo từng dạng chế phẩm thuốc bảo vệ thực vật mà chất phụ gia có thể là chất độn, dung môi, chất tạo nhũ, chất tẩm ướt, chất bám dính, v.v các chất này góp phần làm loãng và cải thiện cơ lý tính của thuốc, giúp thuốc trải đều và bám dính tốt trên bề mặt vật khi xử lý thuốc. 2.6.7 Các dạng chế phẩm thƣờng dùng: Thuốc bột thấm nước (WP), ví dụ Zinep 80WP Thuốc dạng kem khô (DF), ví dụ Kocide 61,4DF; Thuốc dạng kem nhão (FL), ví dụ Oxy clorua đồng 20FL; Thuốc nhũ dầu (EC), ví dụ Hinosan 40EC; Thuốc dạng hạt (G), ví dụ Kitazin 10G; Thuốc dạng lỏng tan (L), ví dụ Validacin 3L. Dạng thuốc hạt (G) rắc trực tiếp vào ruộng đủ ẩm, còn các dạng khác phải hoà vào nước để phun lên cây. 2.6.8 Phƣơng pháp sử dụng thuốc: Có nhiều phương pháp sử dụng thuốc khác nhau tuỳ thuộc vào dạng chế phẩm thuốc, vị trí bảo tồn và xâm nhiễm của tác nhân gây bệnh, trạng thái và giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây. 1. Rắc thuốc hạt: sử dụng chế phẩm dạng hạt, rắc đều vào đất hoặc trên mặt ruộng ví dụ rắc thuốc hạt Kitazin 10H vào ruộng lúa nước để phòng chống bệnh đạo ôn. 2. Phun thuốc bột: dùng chế phẩm ở dạng bột khô phun cho thuốc bám dính đều lên trên thân lá cây. Phun bột không phải dùng nước, năng suất lao động cao nhưng khi gặp gió to thuốc dễ bị cuốn đi xa, hoặc cây rung làm rơi các hạt thuốc khỏi lá. 3. Phun lỏng: dùng các chế phẩm WP, EC, FL, DE, L hoà vào nước để phun, thuốc bám dính và bao phủ tốt trên bề mặt vật được phun. Phương pháp phun lỏng được chia thành các loại sau: 4. P hun nước: dùng bình bơm tay hoặc động cơ có áp suất thấp, khi phun nước thuốc tạo thành các giọt nhỏ có đường kính > 150 m. Đây là cách đang được áp dụng phổ biến nhất ở Việt nam 5. Phun sương: dùng máy bơm có áp suất cao tạo ra các giọt nước thuốc có đường kính 50 150m. 6. Phun mù: dùng các loại máy bơm có khả năng tạo ra các giọt nước thuốc đường kính rất nhỏ < 50m. Đối với cây trồng hàng năm (lúa, ngô, đậu, rau v.v ) khi hệ số diện tích lá ổn định thì phun nước cần 600 đến 1.000 lít/ha, phun sương cần 200 đến 300lít/ha, phun mù cần 4 hay 6 đến 50 lít/ha. 7. Xử lý giống: Xử ký khô là phương pháp trộn hạt giống với thuốc bột khô, để thuốc bột bám dính, bao phủ kín một lớp thuốc trên vỏ hạt. Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 43
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan Xử lý nửa khô: dùng nước thuốc ở nồng độ tương đối cao, phun ướt đều và đảo đều hạt giống, sau đó gom lại thành đống, ủ một thời gian nhất định. Xử lý ướt: là phương pháp ngâm hạt giống trong dung dịch nước thuốc trong một thời gian nhất định. Sau khi xử lý thuốc phải rửa, đãi sạch thuốc khỏi hạt giống rồi mới đem hạt giống để ngâm ủ hoặc gieo. 8. Xử lý đất: là phương pháp dùng thuốc để hun, bón, tưới vào đất để tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh cây tồn tại ở trong đất. Hiện nay phương pháp này chỉ được áp dụng trong phạm vi hẹp khi cần thiết. 9. Xông hơi: là phương pháp sử dụng các loại hoá chất có khả năng bay hơi làm cho bầu không khí bao quanh dịch hại bị nhiễm độc và thuốc gây độc cho dịch hại. Nơi xông hơi phải kín để sau một thời gian nhất định hơi thuốc đạt đến nồng độ đủ diệt dịch hại. 2.6.9 Nguyên tắc sử dụng thuốc đúng Sử dụng thuốc phải tuân theo nguyên tắc 4 đúng: 1. Dùng đúng thuốc: căn cứ vào đối tượng dịch hại cần phòng trừ và cây trồng cần bảo vệ. Ví dụ các thuốc có tính độc cao và bền vững thì không nên phun trên cây rau, lương thực.Loại thuốc có tác dụng chọn l để chọn và sử dụng đúng loại thuốc và dạng chế phẩm thuốc. 2. Dùng thuốc đúng lúc: Dùng thuốc khi: Đối tượng dịch hại còn phân bố ở diện hẹp, chẳng hạn bệnh mới ở dạng ổ bệnh. Bệnh mới chớm phát hoặc phun trước khi bệnh xuất hiện. Ví dụ, nhiều thuốc bệnh chỉ có tác dụng phòng bệnh (bảo vệ cây trước khi VSV xâm nhập). Tránh phun thuốc vào giai đoạn hay thời điểm cây mẫn cảm thuốc như lúc cây ra hoa. Không phun thuốc khi thời tiết không thích hợp như khi nắng to hay trước cơn mưa. 3. Dùng thuốc đúng liều lượng, nồng độ: Liều lượng thuốc dùng thường được tính theo gam a.i hoặc kg a.i/ha từ đó tính ra lượng thuốc chế phẩm cần dùng. Nồng độ nước thuốc dùng phụ thuộc vào lượng chế phẩm và lượng nước dùng, như vậy cần tính toán để cân hoặc đong cho chính xác. Dùng nước sạch để pha thuốc, khuấy đều, sau đó đổ nước thuốc vào bình hoặc vào máy để phun. Tuy nhiên, trên bao bì sản phẩm thương mại trên thị trường hiện nay, liều lượng sử dụng thường được ghi là lượng thuốc thương phẩm/ đơn vị diện tích 4. Đúng kỹ thuật: Phải phun rải đúng lượng thuốc quy định. Thuốc phải được rải, phun đồng đều trên diện tích hoặc trên bề mặt vật phun. Nếu xử lý giống thuốc phải được trộn đều với hạt giống hoặc bộ phận làm giống (củ giống, hom giống v.v ) 2.6.10 Thuốc trừ bệnh (nấm và vi khuẩn) Cơ chế tác động của thuốc đối với nấm và vi khuẩn 1. Tăng cƣờng tính kháng của cây: Cây phản ứng lại sự tấn công của VSV bằng cách tạo ra các phản ứng kháng. Một số hợp chất hóa học đã được biết làm tăng tính kháng của cây. Ví dụ: Fosetyl nhôm (aliette) và đặc biệt là Bion (tạo tính kháng tập nhiễm hệ thống). 2. Gây độc trực tiếp lên VSV gây bệnh: Thuốc trừ bệnh có nhiều nhóm với các đặc tính khác nhau do đó tác động của chúng cũng khác nhau. Phần lớn thuốc trừ bệnh tác động trực tiếp vào qúa trình xâm nhiễm gây bệnh, vào quá trình trao đổi chất vào sự hình thành màng và các cấu trúc khác của tế bào: Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 44
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan Các ion đồng của các thuốc chứa đồng tương tác với nhóm -SH của axit amin và gây biến tính protein và enzim. Nhiều thuốc hữu cơ khác (ví dụ các hợp chất dị vòng) cũng có tác động tương tự, hoặc tương tác với nhóm –SH hoặc với nhóm -NH2 làm mất hoạt tính và phá huỷ cấu trúc enzim của ký sinh vật. Các hợp chất thuỷ ngân vô cơ sẽ làm ngưng tụ keo nguyên sinh chất, các hợp chất thuỷ ngân hữu cơ sẽ kết hợp với các phân tử axit amin trong tế bào hoặc amilaza, cytocromoxydaza và hệ enzim có chứa nhóm sunfuhidrin do đó các chức năng sống của tế bào vật ký sinh bị phá huỷ. Một số loại thuốc trừ nấm và những sản phẩm phân giải của nó phản ứng với các kim loại là chất xúc tác trong qúa trình sinh lý sinh hoá của tế bào nấm. Các kim loại trong thành phần của enzim bị thay thế bởi các kim loại của thuốc như Cu, Zn, nên enzim của nấm bị phá huỷ. Nhiều thuốc lân hữu cơ nội hấp (VD kitazin và edifenfos) và kháng sinh ức chế sự tổng hợp chitin, sterol – là cấu trúc màng tế bào nấm. 2.6.11 Các nhóm thuốc bệnh 1. Nhóm thuốc chứa đồng - Thuốc Boocdo: thuốc Boocdo là hỗn hợp của đồng sulfat và nước vôi đặc với phản ứng sau: 3CuSO4 + 3Ca(OH)2 CuSO4 .3Cu(OH)2 + 3CaSO4 Để pha 100 lít thuốc Boocdo nồng độ 1% cần tiến hành như sau: cân 1kg CuSO4 hoà vào 80 lít nước (gọi là dung dịch sulfat đồng loãng), 1kg CaO hoặc 1,5 1,8kg Ca(OH)2 hoà vào 20 lít nước (gọi là nước vôi đặc). Đổ từ từ dung dịch đồng loãng vào nước vôi đặc, vừa đổ vừa khuấy đều, nước Boocdo có màu xanh, dùng giấy do pH hoặc giấy quỳ để đo pH nước thuốc, nếu pH ở mức trung tính hay hơi kiềm là được. Cũng có thể dùng chiếc đinh đã được màu sáng (sạch gỉ) nhúng vào nước thuốc10 15 phút, nhấc đinh ra, nếu đinh vẫn có màu sáng bình thường chứng tỏ nước thuốc ở mức pH trung tính hoặc kiềm, nếu trên đinh có màu vàng xám chứng tỏ nước thuốc có pH thấp (chua), phải thêm vôi vào để đưa pH nước thuốc về mức trung tính hoặc hơi kiềm. Thuốc Boocdo ở nồng độ 0,5 1% có hiệu lực trừ bệnh mốc sương cà chua, khoai tây (do nấm Phytophthora infestans), gỉ sắt cà phê (do nấm Hemilia vastarix), phồng lá chè (do nấm Exbasidiim vexans), giác ban bông (Xanthomonas malvacearum), bệnh chất xám lá chè (Pestalozzia theae), bệnh đốm lá đậu tương (Septoria glycines), đốm nâu cam quýt (Septoria spp), loét cam quýt (Xanthomonas citri), bệnh Sigatoka hại chuối (Cercospora musae). - Oxyclorua đồng [3Cu(OH)2 . CuCl2 . H2O] Thuốc được gia công ở dạng nhão chứa 30% đồng, pha nước thuốc 1 1,5%. Dạng bột thấm nước 15 18% đồng, dạng huyền phù 18% đồng, pha nước thuốc 1 3%. Dạng bột thấm nước 45 50% đồng, pha nước thuốc 0,3 0,75% dùng để phun. Tác dụng phòng trừ các bệnh như thuốc Boocdo. 2. Nhóm thuốc chứa lƣu huỳnh * Thuốc lưu huỳnh vô cơ - Lưu huỳnh nguyên tố: (Microthiol special, Kumulus) được gia công thành dạng lưu huỳnh bột 80WP, hoà nước ở nồng độ 0,2 0,3% trừ bệnh sẹo hại cam quýt, phấn trắng hại nho, bầu bí dưa, nhện đỏ hại chè. - Hợp chất can xi polysunfua: nước cốt vôi lưu huỳnh sản xuất theo phương pháp công nghiệp với tiêu chuẩn là 15 18 gam polysunfua canxi trong 100ml dung môi. Có thể tự pha chế và nấu 2 phần lưu huỳnh với một phần vôi sống với 10 phần nước, nước cốt nấu được đạt 25 – 32 độ Bômê và được pha loãng vào nước ở 0,3 - 10 độ Bômê để trừ bệnh phấn trắng hại cây. Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 45
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan * Thuốc lưu huỳnh hữu cơ - Zineb: Zineb 80WP dùng 2,89kg/ha để trừ bệnh mốc sương cà chua, khoai tây. Thuốc được pha với nước ở nồng đọ 0,2% trừ bệnh sương mai thuốc lá (Peronospora tabaci), hành tỏi. ở nồng độ 0,25% trừ bệnh gỉ sắt hại cây cảnh. - TMTD (Thiuram, Thiram, Thianosan): C6H12N2S4 Thuốc bột 85% dùng để xử lý khô hạt giống cà chua (0,6% theo trọng lượng hạt); đậu đỗ (0,4%); củ cải (0,5%); hành tỏi (0,2%); lạc, ngô, khoai tây (0,2 0,4%). Thuốc bột thấm nước dùng nồng độ 0,2 0,3% để trừ các bệnh nấm gây bệnh thối rễ, nấm hạch, lở cổ rễ, sương mai, thán thư. - Thiophanate – Methyl (Topsin M, Cercosin): C12H14N4O4S2 Thuốc có tác dụng nội hấp, chế phẩm Topsin M 70WP dùng trừ bệnh sẹo cam (Elsinoe fawcetti), bệnh mốc xanh quả cam (Penicillium italicum), bệnh phấn trắng, thối quả nho, thối quả đu đủ, xoài (nồng độ dùng 50 100 gam chế phẩm/100lít nước); trừ bệnh thối quả dưa chuột, dưa lê, dưa hấu, cà, cà chua, cải bắp, hành, xà lách dùng 500 700g a.i/ha; ngoài ra còn dùng trừ nấm Botrytis, Sclerotinia 3. Những hợp chất dị vòng - Benlate (Fudazol, Benomyl):C14H18N4O3 Benlate là thuốc trừ nấm nội hấp, phổ tác động rộng, liều lượng dùng cho rau là 140 550g a.i/ha cho cây ăn quả, cây công nghiệp là 550 1.100g a.i/ha. Benlate 50WP dùng ở nồng độ 0,05% trừ bệnh phấn trắng hoa hồng, cây ăn quả, nho dâu tây; ở nồng độ 0,1% dùng để phun trừ bệnh thối nhũn su hào, bắp cải, vết đen cây cảnh. Thuốc còn được dùng để xử lý hạt giống hành, hạt giống hoa (2kg/hạt). - Carbendazim(Carbendazole, BCM): C9H9N3O3 Thuốc có tác dụng nội hấp, tiếp xúc yếu. Thuốc có hiệu lực cao đối với nhóm nấm Ascomycetes, Basidiomycetes hại rau, cây ăn quả. Thuốc được sản xuất ở dạng chế phẩm sữa 20%, 50%. Thuốc bột thấm nước 50%, 60% - Bayleton (Triadimefon): C14H18CIN3O2 Thuốc có tác dụng nội hấp, trừ nấm phấn trắng, gỉ sắt cho ngũ cốc, cà phê, nho, cây ăn quả v.v lượng dùng 250g a.i/ha - Baycor (Bitertanol): C20H23N3O2 Thuốc có tác dụng tiếp xúc, dùng 0,15 0,25kg a.i/ha trừ bệnh đốm lá lạc, gỉ sắt bông, gỉ sắt lạc, dùng 0,125 0,375kg a.i/ha trừ nấm Cercospora spp., nấm Colletotrichum lindemuthianum, nấm phấn trắng Erysiphe spp., gỉ sắt đậu tương. - Tilt (Propoconazole, Radar, Desmel): C15H17Cl2O2 Thuốc có tác dụng nội hấp, dùng để trừ bệnh cho nhiều loại cây trồng. Dạng chế phẩm Tilt 250FC được dùng ở lượng 0,5 1lít/ha để trừ bệnh khô vằn, tiêm lửa, đốm nâu, đạo ôn hại lúa, 0,75 1lít/ha trừ bệnh đốm lá lạc, gỉ sắt ngô. Thuốc còn được dùng để trừ bệnh thối quả cây ăn quả, phấn trắng, gỉ sắt hại lúa mì, lúa mạch. - Sumi – 8 (Sumi – eight, Diniconazole): C15H17Cl2N3O2 Thuốc có tác dụng nội hấp. Dạng chế phẩm Sumi – eight 12,5WP được dùng rộng rãi để trừ bệnh. Pha nước ở nồng độ 0,016 0,03% phun trừ bệnh phấn trắng, đốm nâu hại nho. Dùng 62,5 125g a.i/ha trừ bệnh phấn trắng lúa mì, lúa mạch; 25 50g a.i/ha để trừ nấm gỉ sắt trên lúa mì, lúa mạch. Trừ bệnh đốm lá lạc dùng 50 100g a.i/ha. Pha nước thuốc 0,91% trừ bệnh phấn trắng cây con dưa hấu, dưa chuột, bệnh thối quả cà chua. Dùng 75 125g a.i/ha trừ bệnh đốm lá chuối. - Anvil (Hexaconazole) : C14H17Cl2N3O Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 46
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan Thuốc có tác dụng nội hấp, trừ được nhiều loại nấm bệnh. Dạng chế phẩm thuốc: Anvil 5SC Anvil 50L. Thường dùng 30 100g a.i/ha trừ nấm phấn trắng và bệnh gây thối quả nho; dùng 20 50 50g a.i/ha trừ đốm lá lạc; dùng 30 100g a.i/ha trừ gỉ sắt, đốm lá cà phê, đốm lá chuối; dùng 20 50 g a.i/ha trừ các bệnh phồng lá chè, gỉ sắt, phấn trắng hại cây quả, hoa, dùng 50 100 g a.i/ha trừ bệnh khô vằn hại lúa. 4. Thuốc lân hữu cơ Kitazin P (Jprobenfos, IBP): C13H21O3PS Thuốc có tác dụng nội hấp, dùng để phòng từ bệnh đốm nâu, đạo ôn, khô vằn hại lúa. Dạng chế phẩm Kitazin 50EC dùng 1 1,2 lít/ha, Kitazin 10H dùng 30 35kg/ha. Kitazin còn có tác dụng diệt rày nâu ở tuổi nhỏ, có tác dụng làm cứng cây lúa. Hinosan (Edifenphos, EDDP): C14H15O2PS2 Thuốc có tác dụng nội hấp, dùng để phòng trừ bệnh đạo ôn, hiệu lực trừ đạo ôn lá cao hơn đạo ôn cổ bông, trừ bệnh tiêm lửa, đôm nâu, khô vằn hại lúa. Thuốc còn có tác dụng trừ rầy nâu tuổi nhỏ. Dạng chế phẩm Hinosan 50EC dùng 1 lít/ha. - Aliette (Fosetyl – aluminium): C6H18AlO9P3 Thuốc có tác dụng nội hấp, dạng chế phẩm Aliette 80WP pha với nước nồng độ 0,3% phun trừ bệnh chết ẻo hồ tiêu; nồng độ 0,25% phun trừ bệnh thối nõn dứa, trừ nấm Phytophthora trên cao su, cam quýt, cây ăn quả khác, nấm Pseudoperonospora, Peronospora, Bremia, Pythium hại dưa hấu, dưa chuột, hành tây, cây con thuốc lá. 5. Thuốc kháng sinh - Validacin (Validamycin A): C20H35NO13 Chế từ chất kháng sinh của Streptomyces hygroscopicus var. limoneus Thuốc được dùng để trừ nấm Rhizoctonia solani hại khoai tây, bông, bệnh khô vằn lúa. Dạng chế phẩn Validacin 3L dùng 1,5 1,7 lít/ha trừ bệnh khô vằn lúa, 1,7 2 lít/ha trừ bệnh khô vằn ngô. Để trừ bệnh khô vằn cổ bông lúa cần phun thuốc trước khi lúa trổ 5 7 ngày. - Kasumin (Kasugamycin) : C14H28ClN3O10 Chế từ kháng sinh của Streptomyces kasugaensis. Thuốc kỹ thuật ở dạng tinh thể, tan trong nước. Thuốc được sản xuất thành dạng dung dịch 2%, dạng bột thấm nước 2% và 5% dạng hạt 2% và dạng hỗn hợp có tên là Kasuran 50WP (5% Kasumin + 75,6% đồng oxy clorua – 45% đồng kim loại) pha nước ở nồng độ 0,1% để phòng trừ bệnh phấn trắng, bệnh thối dưa chuột, dưa hấu, một số bệnh vi khuẩn và nấm hại chè, cam, chanh, cà chua, khoai tây. Kasurabcide (1,2% kasumin _ 20% Fthalide) dạng bột thấm nước dùng 1,5kg/ha trừ đạo ôn, đốm sọc vi khuẩn hại lúa. 6. Một số thuốc khác Monceren (Pecycron): C19H21ClN2O Thuốc được dùng để trừ bệnh khô vằn hại lúa, trừ bệnh lở cổ rễ cây con rau, bông, khoai tây, cây cảnh do nấm Rhixoctonia solani. Thuốc ở dạng chế phẩm 25WP được dùng với lượng 0,8kg/ha. - Rovral (Iprodione): C13H13Cl2N3O3 Rovral 50WP dùng ở nồng độ 0,1 0,2% trừ nấm Botrytis hại nho, sà lách, bắp cải, cây cảnh, cây hoa, trừ nấm Alternaria, Fusarium, Helminthosporium, Rhizoctonia hại rau, cây ăn quả. Dùng lượng 1,5 1,7kg/ha trừ bệnh khô vằn hại lúa. - Daconil (Chlorothalonil, Bravo): C18Cl4N2 Daconil W – 75 pha nước ở nồng độ 0,125 0,25% phun phòng trừ bệnh thối nhĩn, đốm lá, gỉ sắt, phấn trắng, sương mai cho rau, dưa chuột, dưa hấu, khoai tây, cà chua, lạc, Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 47
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan đốm lá chuối, bệnh loét cam quýt. ở nồng độ 0,5% trừ bệnh gỉ sắt cà phê; ngoài ra còn dùng trừ bệnh đốm nâu, khô vằn lúa. - Fuji – 1 (Isoprothiolane, Fudiolan): C12H18O4S2 Thuốc có tác dụng nội hấp, dùng trừ bệnh đạo ôn hại lúa, thuốc còn diệt rầy nâu tuổi nhỏ. - Morestan (Quinomethionate, Chinomethionat, Oxythioquinox): C10H6N2O2S2 Morestan 25WP được dùng 1kg/ha trừ nhện đỏ hại bông; ở nồng độ 0,03 0,05% trừ nấm phấn trắng, nhện đỏ hại dưa chuột, nấm phấn trắng hại cây hoa cây cảnh, nho, lúa mỳ, lúa mạch. - Rhidomil MZ 72WP: thuốc nội hấp phòng trừ các bệnh nấm sương mai, Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 48
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan PHẦN II. BỆNH CÂY CHUYÊN KHOA (Một số bệnh chính hại Rau – Hoa – Quả) Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 49
- Ngành công nghệ Rau Hoa Quả và Cảnh quan Chƣơng 6. Nấm và bệnh nấm Có 2 nhóm nấm thật (fungi) và các vi sinh vật giống nấm (ví dụ các loại tác nhân gây bệnh sương mai) gây bệnh cây. Mặc dù chúng khác xa nhau về tiến hóa, và do đó khác nhau về phân loại, nhưng do có đặc điểm hình thái và tính chất gây bệnh cây rất giống nhau nên thường được nghiên cứu chung với nhau. Hiện nay, do chưa có thuật ngữ tiếng Việt thích hợp đối với nhóm VSV giống nấm nên trong tài liệu này sẽ được gọi chung là nấm. 1. Đặc điểm chung 1. Khoảng hơn 100.000 loài nấm đã được ghi nhận, trong đó khảng 10.000 loài là các tác nhân gây bệnh cây. 2. Trên 80% số bệnh hại cây trồng là do nấm gây ra. 3. Là loại vi sinh vật nhân thật (Karyote): Tế bào có nhân thật (hạch nhân và màng nhân). Tế bào sợi nấm có vách tế bào, nhân; tế bào chất có không bào và các bào quan. 4. Cấu tạo vách tế bào của nấm và các vi sinh vật giống nấm khác nhau: Nấm thật : vách tế bào gồm 1 lớp chitin (là các chuỗi N-acetyl-D-glucosamine không phân nhánh), 1 lớp β-1,3-glucan và 1 lớp mannoproteins (glycoprotein chứa đường mannose) VSV giống nấm (vd các nấm sương mai): vách tế bào không có chitin nhưng được cấu tạo bởi cellulose và glucan. 5. Phần lớn nấm có cơ quan sinh trưởng dạng sợi. Các sợi nấm đơn (hyphae) tập hợp thành tản nấm (mycelium) 6. Sợi nấm có thể đa bào hoặc đơn bào; chỉ trừ một vài loại nấm cổ sinh có dạng nguyên sinh bào plasmodium. 7. Không có diệp lục, cơ thể dị dưỡng. 8. Sinh sản tạo ra bào tử. Các bào tử vô tính chủ yếu của nấm là bào tử bọc (Sporangiospore), bào tử động (Zoospore, có lông roi) và bào tử phân sinh (Conidium), được sinh ra từ các cơ quan sinh sản vô tính tương ứng là bọc bào tử (Sporangium) và cành bào tử phân sinh (Conidiophore). Những loại bào tử này là mầm bệnh xâm nhiễm, lây lan trên đồng ruộng. Các bào tử hữu tính chủ yếu của nấm là các loại bào tử trứng (Oospore), bào tử tiếp hợp (Zygospore), bào tử túi (Ascospore) và bào tử đảm (Basidiospore) được sinh ra do các cơ quan sinh sản hữu tính có các giao tử đực và cái phối giao với nhau. Các loại bào tử hữu tính có sức sống cao, là dạng bảo tồn lâu dài của nấm từ năm trước tới năm sau. 2. Biến thái của nấm Các biến đổi hình thái khác với sợi nấm được gọi là biến thái của nấm: Bó sợi: (Rhizomorphe): Là hình thức biến thái đơn giản, bó sợi gồm nhiều sợi nấm xếp sít song song tạo ra những bó sợi to nhỏ khác nhau, bên ngoài gồm những tế bào có màu tương đối thẫm vỏ dày.Ví dụ: nấm Armillaria hại cây thân gỗ. Hạch nấm (Sclerotia): Hạch nấm là hình thức biến thái trong đó tế bào sợi nấm phình to, hóa vách dày, thường có màu đậm, đan kết nén ép chặt lại với nhau. Tùy loại nấm, hạch nấm có có kích thước, hình dạng, màu sắc và cấu trúc khác nhau: có loại nhỏ li ti như hạt Lớp Học Phần VNUA – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Page 50



