Thi nhân Việt Nam (Phần 2)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Thi nhân Việt Nam (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
thi_nhan_viet_nam_phan_2.pdf
Nội dung text: Thi nhân Việt Nam (Phần 2)
- THI NHÂN VIỆT NAM HUY CẬN Cù Huy Cận sinh ngày 31 mai 1919. Quê quán: làng Ân Phú, huyện Hƣơng Sơn (Hà Tĩnh). Học lớp năm trƣờng tổng, lớp tƣ đến khi đậu tú tài tây ở Huế. Hiện học Trƣờng Cao đẳng Nơng lâm. Hồi 1936, cĩ viết giúp Tràng An, Sơng Hƣơng (ký Hán Quỳ). Từ 1938, đăng thơ ở Ngày nay. Đã xuất bản: Lửa thiêng (Đời nay, Hà Nội - 1940) Đã cĩ hồi ngƣời ta tƣởng muốn làm thơ hay phải là ngƣời hay khĩc và thi nhân mỗi lần cầm bút là một lần phải “nắng khăn lau mắt lệ”. Nhƣng buồn mãi cũng chán. Trên tao đàn Việt Nam bỗng phe phẩy một ngọn giĩ yêu đời, tuy khơng thổi tan những đám mây sầu u ám, song cũng đã mấy lần ngân lên những tiếng reo vui. Ngƣời thính tai sẽ nhận thấy trong những tiếng kia cịn biết bao nhiêu vui gƣợng, nhƣng dầu sao sự cố gắng đau đớn của cả một lớp ngƣời đi tìm vui, cái cảnh ấy ai thấy mà chẳng động lịng? Than ơi! Ngày vui ngắn ngủi, chƣa đƣợc mấy năm nỗi buồn đã trở về, thảm đạm và nặng nề hơn xƣa. Nĩ đã trở về trong tập Lửa Thiêng. Với những tính cách khác hẳn. Cái buồn Lửa Thiêng là cúi buồn tỏa ra từ hồn một ngƣời cơ hồ khơng biết đến ngoại cảnh. Cĩ ngƣời muốn làm thơ phải tìm những cảnh nên thơ. Huy Cận khơng thể. Nguồn thơ đã sẵn trong lịng, đời thi nhân khơng cần cĩ nhiều chuyện. Huy Cận cĩ lẽ đã sống một cuộc đời rất bình thƣờng, nhƣng ngƣời luơn luơn lắng nghe mình sống để ghi lấy cái nhịp nhàng lặng lẽ của thế giới bên trong. Ai đã so sánh “Las Mocedades del Cid” của Guillen de Castro với “le Cid” của Corneille hay “Kim | HUY CẬN 131
- THI NHÂN VIỆT NAM Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân với “Đoạn trƣờng tân thanh” của Nguyễn Du đều nhận thấy trong “Đoạn trƣờng tân thanh” và trong “le Cid” nhiều tình mà ít chuyện. Nếu ta so sánh thơ Huy Cận với thơ hồi trƣớc, ta cũng sẽ thấy nhƣ thế. Huy Cận đi lƣợm lặt những chút buồn rơi rác để rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo não. Ngƣời đời sẽ ngạc nhiên vì khơng ngờ với một ít cát bụi tầm thƣờng thi nhân lại cĩ thể đúc thành bao nhiêu châu ngọc. Ai cĩ ngờ những bƣớc chân đã tan trên đƣờng kia cịn ghi lại trong văn thơ những dấu tích hẳn khơng bao giờ tan đƣợc: Thơi đã tan rồi vạn gĩt hƣơng Của ngƣời đẹp tới tự trăm phƣơng. Tan rồi những bƣớc khơng hị hẹn Đã bƣớc trùng nhau một ngả đƣờng. Lại cĩ khi suối buồn thƣơng cứ tự trong thâm tâm – chảy ra lai láng khơng vƣớng chút bụi trần: Ơi! Nắng vàng sao mà nhớ nhung! Cĩ ai đàn lẻ để tơ chùng? Cĩ ai tiễn biệt nơi xa ấy Xui bƣớc chân đây cũng ngại ngùng Phải tinh lắm mới thấy rõ lịng mình nhƣ thế giữa cái ồ ạt, cái rộn rịp của cuộc đời hằng ngày. Đây cĩ lẽ là một điều Huy Cận đã học đƣợc trong thơ Pháp. Nhƣng với trí quan sát rèn luyện trong nền học mới, Huy Cận đã làm một việc táo bạo: tim về những cảnh xƣa, nơi bao nhiêu ngƣời đã sa lầy - tơi muốn nĩi sa vào khuơn sáo. Ngƣời nĩi cùng ta nỗi buồn nơi quán chật đèo cao, nỗi buồn của sơng dài trời rộng, nỗi buồn của ngƣời lữ thứ dừng ngựa trên non, buồn đêm mƣa, buồn nhớ bạn. Và cũng nhƣ ngƣời đã làm thơ với những cái hình nhƣ khơng cĩ gì nên thơ, ngƣời tìm ra thơ trong những chốn ta tƣởng khơng cịn cĩ thơ nữa. Ngƣời đã gọi dậy cái hồn buồn của Đơng Á, ngƣời đã khơi lại cái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này. Huy Cận triền miên trong cảnh xƣa, trị chuyện với ngƣời xƣa, luơn luơn đi về trên con đƣờng thời gian vơ tận. Cĩ lúc hình nhƣ thi nhân, khơng phân biệt mộng với thực, ngày trƣớc với ngày nay. Cảnh trƣớc mắt mơ màng nhƣ đã thấy ở một kiếp nào, tình mới nhĩm ngƣời tƣởng chừng đã hẹn đâu “từ vạn kỷ”. | HUY CẬN 132
- THI NHÂN VIỆT NAM Nhƣng con đƣờng về quá khứ đi càng xa, càng cơ tịch; tứ bề càng vắng lặng, mênh mơng. Cĩ lẽ thi nhân trong cuộc viễn du đã cĩ lần nhác thấy cái xa thẳm của thời gian và khơng gian, cĩ lẽ ngƣời đã nghe trong hồn hơi giĩ lạnh buốt từ vơ cùng đƣa đến. Một Pascal hay một Hugo trong lúc đĩ sẽ rùng mình, sẽ hốt hoảng. Vời cái điềm đạm của ngƣời phƣơng Đơng thời trƣớc, Huy Cận chỉ lặng lẽ buồn: Một chiếc linh hồn nhỏ: Mang mang thiên cổ sầu. Tơi nhớ lại cái buồn của một thi nhân khác, Trần Tử Ngang, ngàn năm trƣớc, căng đã cĩ một cuộc viễn du tƣơng tự nhƣ thế: Ai ngƣời trƣớc đã qua? Ai ngƣời sau chƣa đẻ? Nghĩ trời đất vơ cùng Một mình tuơn giọt lệ1. Tuy nhiên điềm đạm đến đâu ngƣời ta cũng khơng thể một mình đứng trƣớc vơ cùng. Ngƣời ta cần phải nƣơng tựa vào một cái gì cho đỡ lẻ loi: một lịng tin hay, ít nữa, một tình yêu, theo nghĩa thơng thƣờng và chân chính của chữ yêu. Huy Cận cĩ lẽ đã thiếu tình yêu, mà Thƣợng đế của ngƣời lại chỉ là một cái bĩng để gửi ít câu thơ thì đƣợc, để an ủi thì khơng. Cho nên ngƣời thấy mình lạc lồi giữa cái mênh mơng của đất trời, cái xa vắng của thời gian. Lời thơ vì thế buồn rƣời rƣợi. Nhƣng thƣơng nhất là những đoạn thơ vui (chẳng hạn bài “Tình tự). Ta thấy một ngƣời hiền lành lắm và non dại lắm, vui hấp tấp, vui cuống quýt, vì trong lúc vui ngƣời cũng biết buồn đƣơng chờ mình đâu đĩ. Nhƣng thƣơng hay mến cĩ làm gì. Thƣơng mến khơng đủ làm tan nỗi bơ vơ. Khoảng trống trong lịng thi nhân họa tình yêu mới lấp đƣợc muơn một. Cĩ ngƣời sẽ bảo thơ Huy Cận già. Già vì buồn, già vì hay kể lể những chuyện xƣa. Nhƣng trong đời ngƣời ta cịn cĩ tuổi nào hay buồn hơn tuổi hai mƣơi2. Cịn cĩ tuổi nào hay vẩn vơ hơn. Tơi thấy thơ Huy Cận trẻ lắm. Huy Cận đã đƣa tơi về 1 Theo bản dịch của Ơ. Võ Liêm Sơn trong Cơ lâu mộng. Nguyên văn chữ Hán: Tiền bất kiến cổ nhân Hậu kiến bất lai giả Niệm thiên địa chi du du Độc thƣơng nhiên nhi lệ hạ. 2 Tuổi hai mƣơi, khơng phải là hai mƣơi tuổi. | HUY CẬN 133
- THI NHÂN VIỆT NAM khoảng đời tơi bảy tám năm trƣớc. Tơi bùi ngùi thƣơng chàng niên thiếu hồi bấy giờ đã sống luơn mấy năm trong hiu quạnh. Chàng cũng mang một tấm lịng chứa chan yêu dấu đi tìm tình yêu trong tình bạn. Và vì thế chàng cũng đã đi lầm đƣờng. Chàng thấy cảnh trời đẹp, chàng gặp những tâm hồn cao quý, chàng đƣợc vơ số mến thƣơng. Nhƣng đẹp làm gì, cao quý làm gì, thƣơng mến làm gì, nếu lịng chàng khơng hề đĩn đƣợc ít hƣơng ân ái. Vũ trụ bao la quá, lịng chàng giá lạnh quá, chàng muốn quên mình, quên hết thảy trong tình yêu của một ngƣời, vơ luận ngƣời nào. Chàng gõ cửa hết nơi nọ chốn này song bao nhiêu tâm tƣ đều đĩng kín. * Nỗi lịng xƣa, nay sực tỉnh. Đọc thơ Huy Cận tơi đã gặp lại một ngƣời em. Chỉ một ngƣời em? Khơng. Năm tháng dầu đi qua, đời tơi dầu cĩ khác, nhƣng tuổi hai mƣơi đã thực chết trong lịng tơi? Mars 1941 BUỒN ĐÊM MƢA Đêm mƣa làm nhớ khơng gian, Lịng run thêm lạnh nỗi hàn bao la Tai nƣơng nƣớc giọt mái nhà Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn. Nghe đi rời rạc trong hồn Những chân xa vắng dặm mịn lẻ loi Rơi rơi dìu dịu rơi rơi Trăm muơn giọt nhẹ nối lời vu vơ Tƣơng tƣ hƣớng lạc, phƣơng mờ Trở nghiêng gối mộng, hững hờ nằm nghe. | HUY CẬN 134
- THI NHÂN VIỆT NAM Giĩ về, lịng rộng khơng che, Hơi may hiu hắt bốn bề tâm tƣ (Lửa Thiêng) TÌNH TỰ Sáng hơm nay hồn em nhƣ tủ áo, Ý trong veo là lƣợt xếp từng đơi. Áo đẹp chƣa anh! Hoa thắm thêu đời, Áo mơ ƣớc anh bận giùm chiếc nhé. Vàng rạng cùng xanh, hồng cƣời với tía, Xin mời anh chọn hình sắc yêu đƣơng. Hồn em đây đủ muơn ánh nghê thƣờng, Anh hãy bận hồn em màu sáng chĩi. Anh cĩ biết, hơm nay là ngày hội Của lịng ta. Em trần thiết, trang hồng. Anh đã về; em nghe dƣới chân vang Hoa lá nở với chuơng rền giọng thắm. Thủa chờ đợi, ơi, thời gian rét lắm, Đời tàn rơi cùng sao rụng canh thâu; Và trăng lu xế nửa mái tình sầu, Giĩ than thơ biết mấy lời van vỉ? Lịng em nhớ lịng anh từ vạn kỷ, Gặp hơm nay nhƣng hẹn đã ngàn xƣa. Yêu giữa đời mà hồn ở trong mơ, | HUY CẬN 135
- THI NHÂN VIỆT NAM Tình rộng quá, đời khơng biên giới nữa. Đây cửa mộng lịng em, anh hãy mở; Màu thanh thiên rời rợi, giĩ long lanh: Hồn nhớ thƣơng em dệt áo dâng anh. (Lửa thiêng) ĐI GIỮA ĐƢỜNG THƠM (Lửa Thiêng) Đƣờng trong làng: hoa dại với mùi rơm Ngƣời cùng tơi đi dạo giữa đƣờng thơm, Lịng giắt sẵn ít hƣơng hoa tƣởng tƣợng. Đất thêu nắng, bĩng tre, rồi bĩng phƣợng Lần lƣợt buơng màn nhẹ vƣớng chân lâu: Lên bề cao hay đi xuống bề sâu? Khơng biết nữa. - Cĩ chút gì làm ngợp Trong khơng khí hƣơng với màu hịa hợp Một buổi trƣa khơng biết ở thời nào, Nhƣ buổi trƣa nhè nhẹ trong ca dao, Cĩ cu gáy, cĩ bƣớm vàng nữa chứ, Mà đơi lứa đứng bên vƣờn tình tự. Buổi trƣa này xƣa kia ta đã đi, Phải cùng chăng? Lịng nhớ rõ làm chi! Chân bên chân, hồn bên hồn, yên lặng, Ngƣời cùng tơi đi giữa dƣờng rải nắng, Trí vơ tƣ cho da thở hƣơng tình. Ngƣời khẽ nắm tay, tơi khẽ nghiêng mình Nhƣ sắp nĩi, nhƣng mà khơng; - khĩm trúc | HUY CẬN 136
- THI NHÂN VIỆT NAM Vừa động lá, ta nhận vào một lúc Cả khơng gian hồn hậu rất thơm tho; Giĩ hƣơng đƣa mùi, dìu dịu phất phơ Trong cảnh lặng, vẫn đƣa mùi giĩ thoảng Trí bâng quơ nghĩ thống nhƣng buồn nhiều: “Chân hết đƣờng thì lịng cũng hết yêu”. Chân đang bƣớc bỗng e dè dừng lại - Ở giữa đƣờng làng, mùi rơm, hoa dại ĐẸP XƢA Ngập ngừng mép núi quanh co, Lƣng đèo quán dựng, mƣa lị mái ngang Vi vu giĩ hút nẻo vàng; Một trời thu rộng mấy hàng mây nao. Dừng cƣơng nghỉ ngựa non cao Dặm xa lữ thứ kẻ nào héo hon Đi rồi, khuất ngựa sau non; Nhỏ thƣa tràng đạc tiếng cịn tịch liêu Trơ vơ buồn lọt quán chiều, Mái nghiêng nghiêng gửi buồn theo hút ngƣời. (Lửa Thiêng) | HUY CẬN 137
- THI NHÂN VIỆT NAM TRÀNG GIANG Bâng khuâng trời rộng nhớ sơng dài H.C. Sĩng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuơi mái nƣớc song song, Thuyền về nƣớc lại, sầu trăm ngả; Củi một cành khơ lạc mấy dịng. Lơ thơ cịn nhỏ giọt đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều, Nắng xuống, trời lên sâu chĩt vĩt; Sơng dài, trời rộng, bến cơ liêu. Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng; Mênh mơng khơng một chuyến đị ngang. Khơng cầu gợi chút niềm thân mật. Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ: bĩng chiều sa. Lịng quê dợn dợn vời con nƣớc, Khơng khĩi hồng hơn cũng nhớ nhà. (Lửa Thiêng) | HUY CẬN 138
- THI NHÂN VIỆT NAM VẠN LÝ TÌNH Ngƣời ở bên trời, ta ở đây; Chờ mong phƣơng nọ, ngĩng phƣơng nầy. Tƣơng tƣ đơi chốn, tình ngàn dặm, Vạn lý sầu lên núi tiếp mây. Nắng đã xế về bên xứ bạn; Chiều mƣa trên bãi, nƣớc sơng đầy. Trơng vời bốn phía khơng nguơi nhớ, Dơi động hồng hơn thấp thống bay. Cơn giĩ hiu hiu buồn tiễn biệt, Xa nhau chỉ biết nhớ vơi ngày. Chiếu chăn khơng ấm ngƣời nằm một - Thƣơng bạn chiều hơm, sầu gối tay. (Lửa Thiêng) NHẠC SẦU Ai chết đĩ? Nhạc buồn chi lắm thế! Chiều mồ cơi, đĩi rét mƣớt ngồi đƣờng; Phố đìu hiu màu đá cũ lên sƣơng. Sƣơng hay chính bụi phai tàn lả tả? Từng tiếng lệ: ấy mộng sầu úa lá. Chim vui đâu? Cây đã gãy vài cành. Ơi chiều buồn! Sao nắng quá mong manh! | HUY CẬN 139
- THI NHÂN VIỆT NAM Mơi tái nhạt nào cƣời mà héo vậy! Ai chết đĩ? Trục xoay và bánh đẩy, Xe tang đi về tận thế giới nào? Chiều đơng tàn, lạnh xuống tự trời cao, Khơng lửa ấm, chắc hồn buồn lắm đĩ. Thê lƣơng vậy mà ai đành lìa bỏ Trần gian sao? Đây thành phố đang quen, Nhƣng chốc rồi nẻo vắng đã xa miền Đƣờng sá lạ thơi lạnh lùng biết mấy! Và ngựa đi, đi nhịp đầm, chớ nhảy Kẻo thân đau, chƣa quên nệm đƣờng đời. Ai đi đƣa, xin đƣa đến tận nơi, Chớ quay lại nửa đƣờng mà làm tủi Ngƣời đã chết. - Một vài ba đầu cúi, Dăm bảy lịng thƣơng xĩt đến bên mồ Để cho hồn khi sắp xuống hƣ vơ Cịn đƣợc thấy trên mặt ngƣời ấm áp Hình dáng cuộc đời từ đây xa tắp. Xe tang đi, xin đƣờng chớ gập ghềnh! Khơng gian ơi, xin hẹp bớt mơng mênh, Ảo não quá trời buổi chiều vĩnh biệt! Và ngƣời nữa, tiếng giĩ buồn thê thiết Xin lặng giùm cho nhẹ bớt cơ đơn. Hàng cờ đen là bĩng quạ chập chờn Báo tin xấu, dẫn hồn ngƣời đã xế Ai chết đĩ? Nhạc buồn chi lắm thế! Kèn đám ma hay ấy tiếng đau thƣơng | HUY CẬN 140
- THI NHÂN VIỆT NAM Của cuộc đời? Ai rút tự trong xƣơng Tiếng nức nở gởi giĩ đƣờng quạnh quẽ! Sầu chi lắm trời ơi! Chiều tận thế! (Lửa Thiêng) NGẬM NGÙI Nắng chia nửa bãi; chiều rồi Vƣờn hoang trinh nữ xếp đơi lá rầu. Sợi buồn con nhện dăng mau; Em ơi! Hãy ngủ anh hầu quạt đây. Lịng anh mở với quạt này; Trăm con chim mộng về bay đầu giƣờng. Ngủ đi em, mộng bình thƣờng! Ru em sẵn tiếng thùy dƣơng mấy bờ Cây dài bĩng xế ngẩn ngơ - Hồn em đã chín mấy mùa thƣơng đau? Tay anh em hãy tựa đầu, Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi (Lửa Thiêng) THƯ RỪNG Bỗng dƣng buồn bã khơng gian, Mây bay lũng thấp dăng màn âm u. | HUY CẬN 141
- THI NHÂN VIỆT NAM Nai cao gĩt lẫn trong mù Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về. Sắc trời trơi nhạt dƣới khe; Chim đi lá rụng, cành nghe lạnh lùng. Sầu thu lên vút, song song Với cây hiu quạnh, với lịng quạnh hiu. Non xanh ngây cả buồn chiều - Nhân gian e cũng tiêu điều dƣới kia. (Lửa Thiêng) ÁO TRẮNG Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong. Hơm xƣa em đến, mắt nhƣ lịng. Nở bừng ánh sáng. Em đi đến, Gĩt ngọc dồn hƣơng, bƣớc tỏa hồng. Em đẹp bàn tay ngĩn ngĩn thon; Em duyên đơi má nắng hoe trịn. Em lùa giĩ biếc vào trong tĩc Thổi lại phịng anh cả núi non. Em nĩi anh nghe tiếng lẫn lời; Hồn em anh thở ở trong hơi. | HUY CẬN 142
- THI NHÂN VIỆT NAM Nắng thơ dệt sáng trên tà áo, Lá nhỏ mừng vui phất cửa ngồi. Đơi lứa thần tiên suốt một ngày. Em ban hạnh phúc chứa đầy tay. Dịu dàng áo trắng trong nhƣ suối Tỏa phất đơi hồn cánh mộng bay, (Lửa Thiêng) CHIỂU XUÂN Xuân gội tràn đầy Giữa lịng hoan lạc, Trên mình hoa cây Nắng vàng lạt lạt - Ngày đi chầy chầy Hai hàng cây xanh Đâm chồi hy vọng Ơi duyên tốt lành. Én ngàn đƣa võng - Hƣơng đồng lên hanh. Kề bên đƣờng mịn - Mƣa Đơng đã tạnh | HUY CẬN 143
- THI NHÂN VIỆT NAM - Cỏ mọc bờ non Chiều xuân tƣơi mạnh - Giĩ bay vào hồn. Cĩ bàn tay cao Trút bình ấm dịu Từ phƣơng xa nào Ngƣời cơ yểu điệu Nghe mình nao nao Nhạc vƣơn lên trời: Đời măng đang dậy Tƣng bừng muơn nơi Mái rừng giĩ hẩy Chiều xuân đầy lời. (Lửa Thiêng) | HUY CẬN 144
- THI NHÂN VIỆT NAM TẾ HANH Họ Trần. Sinh ngày 15 tháng 5 năm Tân Dậu (1921) ở làng Đơng Yên, phủ Bình Sơn (Quảng Ngãi). Chánh quán: làng Giao Thủy, cách làng kia một con sơng. Đậu sơ học rồi ra Huế học trƣờng Khải Định, ở đĩ quen Huy Cận và đƣợc Huy Cận chỉ vẽ cho nhiều. Hiện học năm thứ hai ban trung học. Những bài thơ trích sau đây rút trong tập Nghẹn ngào đã đƣợc giải khuyến khích của Tự lực văn đồn năm 1939. Tơi thấy Tế Hanh là một ngƣời tinh lắm. Tế Hanh đã ghi đƣợc đơi nét rất thần tình về cảnh sinh hoạt chốn quê hƣơng. Ngƣời nghe thấy cả những điều khơng hình sắc, khơng thanh âm nhƣ “mảnh hồn làng” trên “cánh buồm giƣơng”, nhƣ tiếng hát của hƣơng đồng quyến rũ con đƣờng quê nho nhỏ. Thơ Tế Hanh đƣa ta vào một thế giới rất gần gũi thƣờng ta chỉ thấy một cách mờ mờ, cái thế giới những tình cảm ta đã âm thầm cho cảnh vật: sự mỏi mệt say sƣa của con thuyền lúc trở về bến, nỗi khổ đau chất chứa trên toa tàu nặng trĩu, những vui buồn sầu tủi của một con đƣờng. Tế Hanh luơn nĩi đến những con đƣờng. Cũng phải. Trên những con đƣờng ngƣng lại biết bao nhiêu bâng khuâng hồi hộp! Nhƣng Tế Hanh sở dĩ nhìn đời một cách sâu sắc nhƣ thế là vì ngƣời sẵn cĩ một tâm hồn tha thiết. Hơm đầu tơi gặp ngƣời thiếu niên ấy, ngƣời rụt rè ngƣợng nghịu nhƣ một chàng rể mới. Nhƣng tơi vẫn nhớ đơi mắt. Đơi mắt nống nàn lạ. Tơi nghĩ ở một ngƣời | TẾ HANH 145
- THI NHÂN VIỆT NAM nhƣ thế những điều cảm xúc, những nỗi đau xĩt sẽ quá mực thƣờng và cĩ khi khác thƣờng. Nhƣ khi yêu, ngƣời thấy: Kìa em, lên! Rực rỡ bốn phƣơng trời; Đơi mắt to ném lửa sáng nơi nơi; Vừng trán rộng, hào quang lịa chĩi rực. Ta thấy sáng! Hồn phiêu diêu thốt tục, Lịng lâng lâng khơng muốn ƣớc mơ chi, Mắt lim dim đầu cúi gục chân quỳ Tuy lời thơ cịn cĩ gì lệch với hồn thơ nhƣng khơng cĩ một tâm hồn đắm đuối khơng thể viết nên những lời nhƣ thế. Khi thất vọng thi nhân ƣớc cho ngƣời yêu chết đi để đƣợc ngồi trên mồ nhỏ từng giọt nƣớc mắt thấm xuống tấm thân lạnh lẽo. Tệ hơn nữa, ngƣời muốn hƣởng cái thú tàn nhẫn đƣợc thấy ngƣời yêu “đau quằn quại”, đƣợc nghe tiếng khĩc của ngƣời yêu, tiếng khĩc: Rách đau thƣơng nhƣ lụa xé tơi bời. Chúng ta sẽ ngạc nhiên và băn khoăn khơng biết ở những chỗ sâu kín trong lịng ta cĩ gì giống nhƣ thế khơng. Dầu sao, sự thành thực của thi nhân khơng thể ngờ đƣợc. Nhƣng tơi chƣa muốn nĩi nhiều về Tế Hanh. Tế Hanh cịn trẻ lắm và cũng mới bƣớc vào làng thơ, chƣa cĩ thể biết rõ những con đƣờng ngƣời sẽ đi. Avrin 1941 QUÊ HƢƠNG Làng tơi ở vốn làm nghề chài lƣới: Nƣớc bao vây, cách biển nửa ngày sơng. Khi trời trong, giĩ nhẹ, sớm mai hồng, Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá: Chiếc thuyền nhẹ băng nhƣ con tuấn mã | TẾ HANH 146
- THI NHÂN VIỆT NAM Phăng mái chèo, mạnh mẽ vƣợt trƣờng giang. Cánh buồm giƣơng to nhƣ mảnh hồn làng Rƣớn thân trắng bao la thâu gĩp giĩ Ngày hơm sau, ồn ào trên bên đỗ Khắp dân làng tấp nập đĩn ghe về. “Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe”, Những con cá tƣơi ngon thân bạc trắng. Dân chài lƣới, làn da ngăm rám nắng, Cả thân hình nồng thở vị xa xăm; Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. Nay xa cách lịng tơi luơn tƣởng nhớ Màu nƣớc xanh, cá bạc, chiếc buồm vơi, Thống con thuyền rẽ sĩng chạy ra khơi, Tơi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá! (Nghẹn ngào) LỜI CON ĐƢỜNG QUÊ Tơi, con đƣờng nhỏ chạy lang thang Kéo nỗi buồn khơng dạo khắp làng, Đến cuối thơn kia hơi cỏ vƣớng, Hƣơng đồng quyến rũ hát lên vang. Từ đấy mình tơi cỏ mọc đầy, | TẾ HANH 147
- THI NHÂN VIỆT NAM Giọc lịng hoa dại ngát hƣơng lây. Tơi ơm đám lúa, quanh nƣơng sắn, Bao cái ao rêu nƣớc đục lầy Những buổi mai tƣơi nắng chĩi xa Hồn tơi lĩng lánh ánh dƣơng sa, Những chiều êm ả tơi thƣ thái Nhƣ kẻ nơng phu trở lại nhà. Tơi đã từng đau với nắng hè: Da tơi rạn nứt bởi khơ se, Đã từng điêu đứng khi mƣa lụt: Tơi lở, thân tơi rã bốn bề. San sẻ cùng ngƣời nỗi ấm no Khi mùa màng đƣợc, nỗi buồn lo Khi mùa màng mất, tơi ngây cả Với những tình quê buổi hẹn hị. Và thế đời tơi hết cái buồn Trong làng. Cực khổ đắm say luơn, Tơi thâu tê tái trong da thịt Hƣơng đất, hƣơng đồng chẳng ngớt tuơn. (Nghẹn ngào) | TẾ HANH 148
- THI NHÂN VIỆT NAM VU VƠ Những ngày nghỉ học tơi hay tới Đĩn chuyến tàu đi, đến những ga, Tơi đứng bơ vơ xem tiễn biệt, Lịng buồn đau xĩt nỗi chia xa. Tơi thấy tơi thƣơng những chiếc tàu Ngàn đời khơng đủ sức đi mau: Cĩ chi vƣớng víu trong hơi mây, Mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau. Bánh nghiến lăn lăn quá nặng nề; Khĩi phì nhƣ nghẹn nỗi đau tê; Lâu lâu cịi rúc nghe rền rĩ: Lịng của ngƣời đi réo kẻ về. Kẻ về khơng nĩi bƣớc vƣơng vƣơng Thƣơng nhớ lan xa mấy dặm trƣờng Lẽo đẽo tơi về theo bƣớc họ, Tâm hồn ngơ ngẩn nhớ muơn phƣơng. (Nghẹn ngào) AO ƢỚC Anh là kẻ say mê nhƣng nhút nhát, | TẾ HANH 149
- THI NHÂN VIỆT NAM Khơng hiểu giùm em lại nỡ cho anh Là khơng yêu, là một kẻ vơ tình; Anh tức quá đem lịng ao ƣớc tệ: Nếu em chết chắc là anh cĩ thể Tỏ mối tình lặng lẽ, quá sâu thâm; Anh tìm nơi em nghỉ giấc ngàn năm Ngồi điên dại, sầu nhƣ cầy liễu rũ. Anh khơng uống, anh khơng ăn, khơng ngủ, Anh khĩc than, than khĩc đến bao giờ Nƣớc mắt anh lầy lội cả nấm mồ, Nhỏ từng giọt xuống thân em lạnh lẽo. Rồi anh chết, anh chết sầu, chết héo; Linh hồn anh thất thểu dõi hồn em. - Và ở đâu kia, ở cõi đời đêm Chắc em chẳng nghi ngờ tình anh nữa (Nghẹn ngào) | TẾ HANH 150
- THI NHÂN VIỆT NAM YẾN LAN Chính tên là Lâm Thanh Sang. Sinh năm 1918 ở làng An Ngãi, phủ An Nhơn (Bình Định). Chỉ học quanh mấy trƣờng trong tỉnh. Đã đăng thơ; Phụ nữ, Tiểu thuyết thứ năm, Nghệ thuật. Hai bài trích dƣới đây rút trong tập Bến My Lăng chƣa xuất bản. Xuân Diệu cĩ hai câu thiệt hay: Con đƣờng nhỏ nhỏ, giĩ xiêu xiêu, Lả lả cành hoang nắng trở chiều. Chính là hai câu tả cảnh. Nhƣng cảnh nhƣ muốn theo lời thơ mà tan ra. Nĩ chỉ mất một tí rõ ràng để đƣợc thêm rất nhiều thơ mộng. Yến Lan cũng làm thơ lối ấy, nhƣng Yên Lan đi quá xa. Xem thơ Yến Lan tơi mơ màng nhƣ đi trong mây mù. Khi đầu thi cũng hay hay, nhƣng dần lâu cơ hồ ngạt thở. Chỉ thấy mờ mờ những con đƣờng chảy, êm nhƣ những dịng sơng, và nhất là cái vừng trăng vẫn thƣờng ám ảnh các nhà thơ Bình Định. Ngồi ra chịu khơng biết sau màn mây mù ấy cĩ gì khơng. | YẾN LAN 151
- THI NHÂN VIỆT NAM Dƣới đây tơi chỉ trích vài bài mà cái khơng khí lạ lạ nhƣng nhẹ nhàng dễ khiến ngƣời ta thích. Octobre 1941 BẾN MY LĂNG Bến My Lăng nằm khơng, thuyền đợi khách, Rƣợu hết rồi, ơng lái chẳng buơng câu. Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách, Ơng lái buồn để giĩ lén mơn râu. Ơng khơng muốn run ngƣời ra tiếng địch, Chở mãi hồn lên tắm bên trăng cao. Vì đìu hiu, đìu hiu, trời tĩnh mịch, Trời võ vàng, trời thiếu những vì sao. Trơi quanh thuyền, những lá vàng quá lạnh Tơ vƣơng trời, nhƣng chỉ giải trăng trăng. Chiều nghi ngút dài trơi về nẻo quạnh, Để đêm buồn vây phủ bên My Lăng. Nhƣng đêm kia đến một chàng kỵ mã, Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lƣu ly, Chàng gọi đị, gọi đị nhƣ hối hả Sợ trăng vàng rơi khuất lối chƣa đi. Ơng lão vẫn say trăng, đầu gối sách, Để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng. Tiếng gọi đị, gọi đị nhƣ ốn trách, | YẾN LAN 152
- THI NHÂN VIỆT NAM Gọi đị thơi run rẩy cả ngành trăng. Bến My Lăng cịn lạnh, bến My Lăng Ơng lái buồn đợi khách suốt bao trăng. (Bến My Lăng) NHỚ Một buổi trong rừng chim “hít cơ” Dịu dàng buơng nhẹ xuống hƣ vơ Những tràng ngọc tiếng lâng trong giĩ, Theo những dịng mây chảy lặng lờ. Tơi nhớ trên đƣờng bao vảy lá, Mà thu vàng rụng giữa ngày khơ! Ừ sao khơng nhớ ngƣời trai trẻ, Trị chuyện cùng tơi dƣới ánh trăng? (Đêm qua tan hội trong làng cuối, Khi đứng bên cầu buộc dải khăn) (Bến My Lăng) | YẾN LAN 153
- THI NHÂN VIỆT NAM PHẠM HẦU Con quan nguyên thƣợng thƣ Phạm Liệu. Sinh ngày 2 mars 1920 ở Trừng Giang, phủ Điện Bàn (Quảng Nam), Học trƣờng Quốc học Huế, trƣờng Mỹ thuật Hà Nội. Đã đăng thơ: Tao đàn, Mùa gặt mới. Lần đầu tơi xem thơ Phạm Hầu trên tạp chí “Tao đàn”, những bài thơ in bằng một thứ chữ chắc chắn, đậm nét. Lần ấy tơi bỏ qua. Hơm nay đại khái cũng những bài thơ ấy, tơi lại thích. Sự thay đổi đĩ tơi tin rằng một phần cũng vì những bài tơi xem hơm nay đều do tay tác giả chép bằng một lối chữ khác hẳn lối chữ “Tao đàn” ngày trƣớc. Những chữ mảnh khảnh, nhỏ nét, nằm trên trang giấy nhƣ cịn e thẹn, ngập ngừng. Lối chữ này đã giúp tơi hiểu Phạm Hầu dễ dàng hơn. Ở đời cĩ những ngƣời nĩi to bƣớc vững. Phạm Hầu quyết khơng phải trong hạng ấy. Ở giữa đời, Phạm Hầu là một cái bĩng, chân đi khơng để dấu trên đƣờng đi. Ngƣời cịn mãi sống với mình và con ngƣời ta tƣởng khơng cĩ gì là một ngƣời giàu vơ vạn. Lịng ngƣời là một vọng hải đài1, ngƣời chỉ việc đứng trên đài lịng mà ngắm: qua lại thiếu gì mây sớm giĩ chiều. Một buổi trƣa bình yên ngƣời thấy: Cĩ cái gì chuyển thay đây với đĩ, Một cái gì lên xuống mãi khơng thơi. Lắng càng lâu càng nghe mãi xa xơi 1 Xem bài “Vọng hải đài” trích theo dây. | PHẠM HẦU 154
- THI NHÂN VIỆT NAM Một tiếng nhẹ trong tiếng nào nhẹ nữa. Cho đến khi yêu, ngƣời vẫn ƣa nhìn lịng mình hơn nhìn nhan sắc ngƣời yêu: Gặp tình cờ song chẳng biết vì đâu Chân em trắng vậy mà lịng anh lạnh. Cái màu trắng kia tƣởng ở trong lịng ngƣời thơ nhiều hơn là trên chân ngƣời đẹp. Thơ nhƣ thế mà in ra bằng một thứ chữ chắc chắn, đậm nét thì thực lệch lạc cả. Hồn thơ là một cái gì rất mong manh, cĩ khi chỉ một tí cũng đủ làm tiêu tan hết. Khơng lẽ mỗi bài thơ - khơng, mỗi câu thơ - in một thứ chữ, nhƣng phải nhƣ thế mới cĩ nghĩa. Octobre 1941 CHIỀU BUỒN Tơi đã dám cầu xin hai giọt lệ Trên mi nàng huyền bí vẻ say mê. Cho điệu buồn man mác tự đâu về Đƣa ngọn cỏ theo chiều mây lặng lẽ. Cho tơi đƣợc nghiêng kề nàng thỏ thẻ Vì lời yêu rên siết ẩn trong tơi Chỉ khi buồn may mới thống ra thơi Mà hƣơng lệ đĩ là trang sổ quý. Buồn len lỏi trên đầu cây thi vị Gieo lệ vàng trên ngấn nắng chiều trơi; Tơi kề nàng mơi chạy kiếm làn mơi, Lời tơi lặn trên mơi nàng rung động. | PHẠM HẦU 155
- THI NHÂN VIỆT NAM Yêu đƣơng đến tất cả chiều mơ mộng Buồn nhẹ nhàng trong làn khĩi thu khơng, Buồn mơn man trên đầu tĩc rối bong Và vơ vẩn bên đơi ngƣời vơ tội. Nàng và tơi, nhánh sầu chung rễ cội, Kề vai nhau khi lệ với chiều rơi. Khi giọt sƣơng âu yếm nhỏ lên ngƣời, Nàng và tơi là hai dịng lệ nổi. (Tao đàn) VỌNG HẢI ĐÀI Chẳng biết trong lịng ghi những ai? Thềm son từng dội gĩt vân hài. Hỡi ơi! Ngƣời chỉ là, du khách Giây phút dừng chán vọng hải đài. Cơn giĩ nào lên cĩ một chiều Ai ngờ thổi tạt mối tình kiêu Tháng ngày đi rƣớc tƣơng tƣ lại Làm rã chân thành sắp sửa xiêu. Trống trải trên đài đu khách qua Mây ngày vơ vẩn, giĩ đêm là. Muơn đời e hãy cịn vƣơng vấn Một sắc khơng bờ trên biển xa. | PHẠM HẦU 156
- THI NHÂN VIỆT NAM Lịng xiêu xiêu, hồn nức hƣơng mai. Rạng đơng về thức giấc hoa nhài. Đƣa tay ta vẫy ngồi vơ tận Chẳng biết xa lịng cĩ những ai? (Tao đàn) | PHẠM HẦU 157
- THI NHÂN VIỆT NAM XUÂN TÂM Chính lên là Phan Hạp. Sinh ngày 1 ler janvier 1916 ở làng Bảo An, phủ Điện Bàn (Quảng Nam). Học trƣờng Chaigneau, trƣờng Quốc học (Huế). Cĩ bằng thành chung. Hiện làm việc ở sở kho bạc Tourane. Đã đăng thơ: Tân văn, Sơng Hƣơng. Đã xuất bản: Lời tim non (194l) Học trị trong Quảng ra thi Thấy cơ gái Huế chân đi khơng đành. Tơi khơng rõ Xuân Tâm, ngƣời học trị Quảng ấy, cĩ phải lịng một cơ gái Huế khơng? Nhƣng cảnh Huế cũng là một cơ gái và cơ gái này đã quyến rũ lịng non trẻ của Xuân Tâm. Mặc dầu cảnh Huế cơ hồ Xuân Tâm khơng nĩi đến, khơng khí sơng Hƣơng núi Ngự vẫn man mác trong thơ Xuân Tâm. Tìm kiếm Xuân Tâm hồi, tơi chỉ thấy một ít Xuân Diệu, một ít Huy Cận và rất nhiều Huế. Một Xuân Diệu khơng tha thiết, một Huy Cận khơng buồn mênh mơng, một xứ Huế khơng cĩ cúi bâng khuâng của Phan Văn Dật, cái vẻ tài hoa của Nguyễn Đình Thƣ, cái dáng non yêu của Mộng Huyền, cái vẻ ngây thơ của Thu Hồng, cái ẩn ƣớc của Thanh Tịnh. Huế ở đây trong sạch, đứng đắn và nhất là cĩ chừng mực. Nhà văn sĩ Pháp Pujarniscle viết về Huế cĩ câu: “Thành phố mỉm cƣời khi thƣơng đau, thở than khi vui vẻ1. Quả cĩ 1 Ville ó le deuil sourit ó la joie soupire. | XUÂN TÂM 158
- THI NHÂN VIỆT NAM thế. Vui hay buồn ở Xuân Tâm đều cĩ vẻ dịu dàng, vừa phải. Ta hãy xem khi ngƣời buồn: Đám cƣới, ngƣời ta vui vẻ nhỉ; Pháo tràng gieo đỏ, tiệc liên miên; Riêng tơi đi tránh buồn và nghĩ; - Cảnh ấy nào đâu phải cảnh tiên và khi vui: Thấy chiều, hớn hở tơi ra đĩn Nhƣ đứa trẻ con thấy mẹ về, Chiều buồn, chiều đẹp, chiều mơn trớn, Chiều ru êm ái khúc lịng tê. Vui hay buồn cũng phảng phất nhƣ nhau. Cịn khi Xuân Tâm giận dữ thì thực buồn cƣời: ngƣời nhƣ Xuân Tâm cĩ lẽ khơng giận dữ đƣợc. Ngƣời mến tình yêu, ghét dục vọng. Muốn giữ vẻ thiêng liêng cho tình yêu, ngƣời hung hăng quát tháo: Ơi khốn nạn! Ơi điên rồ! Giận tức! Đuổi đi mau Xác thịt, đuổi đi mau! Dắt nĩ ra, ném nĩ xuống dƣới lầu Đẹp đẽ và nguy nga tình Yêu mến Tơi tƣởng tƣợng cái cƣời ranh mãnh của Xác thịt, trong khi bị nhà thơ đuổi. Nĩ biết cái ngƣời hét nhiều và nĩi nhiều ấy chỉ tức giận vờ, và đã ân cần bảo “dắt nĩ ra” thì chẳng cĩ gan nào ném nĩ đâu! Đứng trƣớc cuộc đời, Xuân Tâm cĩ vẻ dè dặt. Cảnh trời hay tình ngƣời, Xuân Tâm chỉ muốn hƣờng ở xa xa. Cĩ khi mơ tƣởng cảnh Đế Thiên, ngƣời thấy những tƣợng đá thử thách Thời gian. Nhƣng Thời gian chịu thua: Mƣa khơng tuơn, giĩ lặng, sấm khơng vang. Trời nhạt nhạt sắp buơng lời thân thiện. Ấy bất cứ đề gì lời thơ văn một giọng nhẹ nhẹ, êm êm. Nĩ chậm chậm đi vào hồn ta nhƣ một buổi chiều Xuân Diệu. Octobre 1941 | XUÂN TÂM 159
- THI NHÂN VIỆT NAM XA LẠ Chân ngắn quá khơng đi cùng trái đất Để mắt nhìn cảnh lạ trải bên đƣờng. Hãy bằng lịng tấm tranh đĩng trên tƣờng Và hình ảnh muơn màu in lá sách. Mùi giấy mới thơm tho và trong sạch Thế hƣơng hoa ngào ngạt chốn xa vời Đây con tàu lƣớt sĩng giữa mù khơi, Mang với nĩ vui mừng hay chán, nản; Nơi quê cũ, đứng trên bờ hải cảng, Cĩ tình lang trơng ngĩng quả tim yêu; Mỗi chấm đen là hy vọng ít nhiều, Mỗi làn khĩi là một trời luyến ái Đây băng tuyết, giữa mù Á Đơng tê tái, Rơi, rơi, rơi và bao phủ đồng quê; Con đƣờng làng hiu quạnh ngủ say mê, Cây trắng xĩa, cửa nhà đều trắng xĩa Ngƣời ta tƣởng lạc lồi vào đồng mả, Chung quanh mình vây kín bức màn tang Đây hồng hơn. Vài tia nắng gần tàn Cịn sáng sĩt trên đồi cây xanh đậm; Lũ xe gỗ nặng nề bị chậm chậm Chở nho về. Mấy thiếu nữ xinh tƣơi, Chân bƣớc theo và mơi nở nụ cƣời, | XUÂN TÂM 160
- THI NHÂN VIỆT NAM Đơi má chín hơn buồng nho chín thắm Đây dịng suối reo cƣời. Đua lội tắm, Đồn tiên nga để lộ tấm thân ngà; Nƣớc hơn chân Sƣơng thoa phấn màu da, Hoa cỏ mởn tranh nhau cài mái tĩc Cặp ngỗng trắng xinh xinh nhƣ bạch ngọc Ngẩng cổ nhìn, say đắm đẹp thần tiên Đây nghênh ngang, pho tƣợng đá Đế Thiên Lăn trịng mắt trịn xoe, đang đố thách Thời gian thử gội phai màu cẩm thạch Nhƣng Thời gian khuất phục muốn xin hàng; Mƣa khơng tuơn, giĩ lặng, sấm khơng vang, Trời nhạt nhạt sắp buơng lời thân thiện Bao cảnh ấy trong trí tơi hiển hiện, Nối bật lên trƣớc mắt nhắm lờ đờ Mỗi khi thèm xa lạ, tơi ngồi mơ, Và mở cửa thả hồn đi du lịch (Lời tim non) NGHỈ HÈ Sung sƣơng quá, giờ cuối cùng đã hết, Đồn trai non hớn hở rủ nhau về. Chín mƣơi ngày nhảy nhĩt ở miền quê, Ơi tất cả mùa xuân trong mùa hạ! | XUÂN TÂM 161
- THI NHÂN VIỆT NAM Một nét mặt, trăm tiếng cƣời rộn rã, Lời trên mơi chen chúc nổi nghìn câu. Chờ đêm nay; sáng sớm bƣớc lên tàu, Ăn chẳng đƣợc, lịng nơn nao khĩ ngủ. Trong khoảnh khắc sách, bài là giấy cũ, Nhớ làm chi. Thầy mẹ đợi, em trơng Trên đƣờng làng huyết phƣợng nở thành bơng, Và vƣờn rộng nhiều trái cây ngon ngọt. Kiểm sốt kỹ, cĩ khi cịn thiếu sĩt; Rƣơng chật rồi, khĩ nhốt cả niềm vui. Tay bắt tay, hồn khơng chút bùi ngùi, Các bạn hỡi, trời mai đầy ánh sáng. (Lời tim non) | XUÂN TÂM 162
- THI NHÂN VIỆT NAM THU HỒNG Sinh ngày 19 juillet, ở Turane. Chánh quán; làng Thần Phù, huyện Hƣơng Thủy (Thừa Thiên). Học trƣờng Tourane, trƣờng Đồng Khánh, Huế. Đã xuất bản: Sĩng thơ (1940) Ngƣời ta vẫn nĩi giọng Huế phải nghe từ miệng con gái Huế mới cĩ duyên. Lần thứ nhất trên thi đàn ta đƣợc nghe giọng một ngƣời gái Huế, mà lại là một ngƣời trong hồng tộc: Tơn nữ Thu Hồng. Giả Thu Hồng chịu làm những câu trơn tru mà trống rỗng, chắc chẳng khĩ gì. Ai mà khơng làm đƣợc những câu trơn tru, trống rỗng? Nhƣng ngƣời cĩ cái ý muốn rất dáng quý là diễn đúng hình dáng riêng của hồn mình. Cĩ phải vì thế mà giọng nĩi của ngƣời cĩ vẻ ngọng nghịu rất ít cĩ trong thơ ca. Ngọng nghịu khi ơn lại quãng đời thơ ấu đã đành; ngọng nghịu cả những khi ca ngợi cảnh trời: Cảnh đẹp cứ dàn thêm bƣớc bƣớc, Lời ngợi khen mỗi phút lại thay thay. Những tình ý ngƣời lớn trong giọng nĩi trẻ con ấy thực dễ thƣơng. Thực ra Thu Hồng cũng chỉ trẻ con ở cái giọng. Khi ngƣời ta muốn sống hồi trong thời thơ ấu, hẳn ngƣời ta khơng cịn thơ ấu nữa. Ngƣời thiếu nữ ấy đã biết tình yêu là “mầm chán nấn” và ngƣời ƣớc ao: Mầm chán nản chớ len vào niên thiếu, Chớ len vào sớm quá, tội em mà! Em nghe nhƣ thời ấy vẫn cịn va, Em chầm chậm để mong cịn xa mãi; Hãy là hoa, xin hãy khoan là trái: Hoa nồng hƣơng mà trái lắm khi chua. Ta tƣởng nghe những lời Xuân Diệu. Nhiều chỗ khác cũng xui ta nghĩ đến Xuân Diệu, nhất là khi Thu Hồng bãn khoăn muốn cắt nghĩa tình yêu. Bốn câu thơ của | THU HỒNG 163
- THI NHÂN VIỆT NAM ngƣời khơng bĩng bảy, khơng tinh vi nhƣ bốn câu thơ Xuân Diệu1 nhƣng cũng thật thà dễ thƣơng: Chỉ biết hơm xƣa, một buổi chiều, Cùng ngƣời trị chuyện chẳng bao nhiêu. Ngƣời đi, tơi thấy sao mong nhớ! Và cảm quanh mình nỗi tịch liêu. Xem thơ Thu Hồng, tơi cịn nghĩ đến vài ngƣời nữa, nhất là Nam Trân. Thu Hồng đã học đƣợc của Nam Trân cái lời ghi chép những hình sắc xứ Huế và ngịi bút của nữ sĩ đã vẽ nên đơi bức tranh nho nhỏ, cĩ lẽ chƣa đƣợc nổi nhƣng cĩ một vẻ linh hoạt riêng: Đêm. Trăng rạng rỡ soi Thuyền ai thong thả trơi Đàn hát chảy theo nƣớc, Khơng gian bỗng nơ cƣời! Ở xứ này, nĩi đến những thiếu nữ làm thơ ngƣời ta thƣờng mỉm cƣời. Hình nhƣ thơ là một cái gì to chuyện lắm. Thu Hồng đã tránh đƣợc cái mỉm cƣời mai mỉa ấy vì ngƣời rất bình dị, rất hồn nhiên, khơng lúc nào ra vẻ muốn làm cho to chuyện. Septembre 1941 TƠ LÕNG VỚI ĐẸP Kìa trăng vỡ trong hồ khi nƣớc động, Sĩng lao xao lấp lống, ánh xa ngời. Và búp hoa nghểnh dậy đĩn hƣơng trời, Cây tuơn bĩng, lửng lơi, đị chẳng lƣớt! Cảnh đẹp cứ dàn thêm bƣớc bƣớc, 1 Làm sao cắt nghĩa đƣợc tình yêu! Cĩ nghĩa gì đâu, một buổi chiều Nĩ chiếm hồn ta bằng nắng nhạt, Bằng mây nhẹ nhẹ, giĩ hiu hiu | THU HỒNG 164
- THI NHÂN VIỆT NAM Lời ngợi khen mỗi phút lại thay thay. * Tơ lịng với đẹp đêm nay Rộn ràng thổn thức vì say nhiệm mầu. (Sĩng thơ) ÊM ĐỀM Hồi tƣởng nhiều mai, dƣới ánh dƣơng, Em vừa tỉnh giấc, dậy bên giƣờng, Mẹ em đơi mắt đầy âu yếm, Vây bọc chim khua, rộn giấc hƣờng. Vạn buổi êm trời, dịu mát hƣơng Chƣa bằng đơi mắt chứa yêu đƣơng! Mẹ hiền tựa cửa, khi chờ ngĩng, Em thấy lịng vui, lƣớt dặm đƣờng. Cũng cĩ nhiều đêm, giĩ rít vang, Mẹ em ơm nặng thức trong màn, Em ngồi mở sách ngƣời xƣa ƣớc, Nếu cĩ thì em cũng ƣớc tràn. Nếu cĩ thì em: “ƣớc mẹ lành, Cha cho nhiều bánh với nhiều tranh, Cây me cao quá, bên vƣờn bắc, Nghiêng xuống cho em bẻ một cành”. | THU HỒNG 165
- THI NHÂN VIỆT NAM Cĩ lắm hồng hơn, mải cợt đùa, Quên rằng bãi bể sĩng chiều khua. Và nhà cơm đợi, chờ em vắng, Em sắp hàng năm, để chạy đua. Rồi đến, trăng nhơ mới vội về, Cha cƣời, song cũng chỉ roi đe: “Mai cịn chơi chậm thì con liệu Sắm sửa vài mo để đĩn che”. Ai cĩ nhƣ em, một ấu thời? Đi tìm bƣớm bắt để nuơi chơi, Búp bê đem tắm hơ cho ấm, Lửa bén vèo! Thơi, cháy mất rồi! Rõ là em cũng quá lơi thơi, Ai chả cịn ghi quãng ấu thời, Đằng đằng đƣờng trƣờng cơn giĩ bụi, Duy cịn ơn lại những ngày vui. (Sĩng thơ) MẢNH HỔN THƠ Em muốn thơ em hồn tồn vui, Đừng sầu lá rụng, khĩc hoa rơi, Đừng than thở, tiếc ngày qua chĩng. Ƣớc nguyện đành khơng đạt nguyện rồi! | THU HỒNG 166
- THI NHÂN VIỆT NAM Ơ hay! Đâu thốt khỏi triền miên, Hồn lặng trong mê, ý dậy phiền. Đời ít khi vui, hồi cảm xúc, Thƣơng sen lẫn lộn sống trên bùn! Cho nên nhiều lúc, muốn thơ cƣời, Chợt nghĩ quanh mà bút bỗng rơi! Ơm mảnh hồn thơ, dƣờng ốn hận, Em dùng thổn thức, dãi nên lời. (Sĩng thơ) | THU HỒNG 167
- THI NHÂN VIỆT NAM BÀNG BÁ LÂN Sinh năm 1912 (tháng chạp năm Nhâm Tí) ở phốTân Ninh, Phủ Lạng Thƣơng (Bắc Giang). Chánh quán: làng Đơn Thƣ, phủ Bình Lục (Hà Nam). Học trƣờng Vơi (Bắc Giang), trƣờng Phủ Lý, trƣờng Phủ Lạng Thƣơng, trƣờng Bảo hộ Hà Nội. Cĩ bằng thành chung. Đã xuất bản: Tiếng thơng reo (1934), Xƣa (hợp tác với Anh Thơ, 1941). Hai bài trích sau đây rút trong tập Tiếng sáo diều chƣa xuất bản. Đồng quê xứ Bắc đã gây cảm hứng cho nhiều nhà thơ. Nhƣng mỗi nhà thơ xúc cảm một cách riêng. Nguyễn Bính nhà quê hơn cả nên chỉ ƣa sống trong tình quê mà ít để ý đến cảnh quê. Anh Thơ khơng nhà quê một tí nào. Anh Thơ là một ngƣời thành thị đi du ngoạn, nên chỉ thấy cảnh quê1. Bàng Bá Lân gần Anh Thơ hơn gần Nguyễn Bính. Bàng Bá Lân cũng ít sống trong tình quê nhƣng ngƣời hiểu cảnh quê 1 Tơi khơng muốn nĩi đến Đồn Văn Cừ ở đây. | BÀNG BÁ LÂN 168
- THI NHÂN VIỆT NAM hơn Anh Thơ; hiểu hơn vì mến hơn. Thơ Bàng Bá Lân và “Bức tranh quê” đều là những bơng hoa khả ái từ xa mới đƣa về, nhƣng bơng hoa Bàng Bá Lân ra chiều đã thuộc thủy thỏ hơn, cho nên sắc hƣơng nĩ cũng khác. Bàng Bá Lân khơng cĩ cái tỉ mỉ của Anh Thơ, khơng nhìn đủ hình dáng đời quê nhƣ Anh Thơ. Anh Thơ cĩ khi nhìn cảnh khơng mến cảnh, Bàng Bá Lân cĩ khi lại mến cảnh quên nhìn, nhƣng đã lƣu ý đến cảnh nào, Bàng Bá Lân thƣờng lƣu luyến cảnh ấy. Nhƣ khi ngƣời tả một buổi sáng: Cổng làng rộng mở. Ồn ào, Nơng phu lững thững đi vào nắng mai. ta thấy rõ ngƣời mến cảnh ấy lắm: lịng ngƣời cùng rộng mở với cổng làng và cùng vui với nơng phu trong nắng sớm. Bởi thế cĩ lúc ngƣời đã cảm đƣợc hồn quê vẫn bàng bạc sau cảnh vật. Tơi khơng biết làm thế nào nĩi cho ra điều này. Âu là cứ trích ít câu thơ của Bàng Bá Lân: Quán cũ nằm lƣời trong sĩng nắng, Bà hàng thƣa khách ngả thiu thiu, Nghe mồ hơi chảy đầm nhƣ tắm Đứng lặng trong mây một cánh diều. Cả cái hồn lặng lẽ ngây ngất của đồng quê dƣới nắng trƣa nhƣ ngƣng lại trong mấy câu ấy. Một lần khác, tả cảnh trƣa hè trong một gian nhà tranh tịch mịch, ngƣời viết: Bụi nằm lâu chán xã nhà Nhẹ nhàng rơi phủ bàn thờ buồn thiu. Mƣời bốn chữ, chữ nào cũng mang nặng một chút hồn! Thiết tƣởng ngƣời ta khơng thể đi sâu vào cảnh vật xứ quê hơn nữa. Ấy cũng vì Bàng Bá Lân sau khi đã hấp thụ ở thành thị một nền học khá, liền về ở nhà quê luơn. Ngƣời sống cuộc đời thong dong một ơng chủ trại, thì giờ để làm ruộng ít hơn là để làm thơ. Chuyện mộng của nhiều ngƣời, với Bàng Bá Lân đã thành chuyện thực. Cĩ nhiều ngƣời thanh niên làm gì thì làm vẫn ao ƣớc thú điền viên, cái thú thân yêu của nhà nho ngày trƣớc. Họ khơng đủ can đảm sống lam lũ nhƣ những ngƣời dân quê thực. Nhƣng thành thị thì họ chán ghét lắm rồi. Họ tức tối mỗi lần nghĩ đã đƣa giọt máu trong sạch và cƣờng tráng của ơng cha đến nơi hẹn hị của bệnh tật, của tội lỗi. | BÀNG BÁ LÂN 169
- THI NHÂN VIỆT NAM Octobre 1941 TRƢA HÈ Dƣới gốc đa già, trong vũng bĩng, Nằm mát đàn trâu ngẫm nghĩ nhai. Ve ve rung cánh ruồi say nắng; Gà gáy trong thơn những tiếng dài. Trời lơ cao vút khơng buơng giĩ; Đồng cỏ cào phơ cánh lƣợt hồng. Êm đềm sĩng lụa trơi trên lúa; Nhạc ngựa đƣờng xa rắc tiếng đồng. Quán cũ nằm lƣời trong sĩng nắng, Bà hàng thƣa khách ngả thiu thiu, Nghe mồ hơi chảy đầm nhƣ tắm Đứng lặng trong mây một cánh diều. Cành thƣa, nắng tƣơi, chim khơng đứng; Quả chín bâng khuâng rụng trƣớc hè. Vài cơ về chợ buơng quang thúng Sửa lại vành khăn dƣới bĩng tre. Thời gian dừng bƣớc trên đồng vắng; Lá ngập ngừng sa nhẹ lƣớt ao. Nhƣ mơ đƣờng khĩi trên trời nắng; Trƣờng học làng kia tiếng trống vào. (Tiếng sáo diều) | BÀNG BÁ LÂN 170
- THI NHÂN VIỆT NAM CỔNG LÀNG Chiều hơm đĩn mát cổng làng, Giĩ hiu hiu đẩy mây vàng êm trơi. Đồng quê vƣờn lƣợn chân trời, Đƣờng quê quanh quất bao ngƣời về thơn. Sáng hồng lơ lửng mây son, Mặt trời thức giấc, véo von chim chào. Cổng làng rộng mở, ồn ào, Nơng phu lững thững đi vào nắng mai. Trƣa hè bĩng lặng nắng oi, Mái gà cục cục tìm mồi dắt con. Cổng làng vài chị gái non Dừng chân uể oải chờ cơn giĩ nồm. Những khi giĩ lạnh mƣa buồn, Cổng làng im ỉm bên đƣờng lội trơn. Nhƣng khi trắng sáng chập chờn, Kìa bao nhiêu bĩng trên đƣờng thƣớt tha. Ngày mùa lúa chín thơm đƣa Rồi Đơng gầy chết, Xuân chƣa vội vàng. Mừng xuân ngày hội cổng làng Là nơi chen chúc bao nàng ngây thơ. * | BÀNG BÁ LÂN 171
- THI NHÂN VIỆT NAM Ngày nay dù ở nơi xa. Nhƣng khi về đến cây đa đầu làng, Thì bao nhiêu cảnh mơ màng Hiện ra khi thống cổng làng trong tre. (Tiếng sáo diều). | BÀNG BÁ LÂN 172
- THI NHÂN VIỆT NAM NAM TRÂN Chính tên là Nguyễn Học Sỹ. Sinh ngày 15 février 1907 ở làng Phú Thứ Thƣợng, huyện Đại Lộc (Quảng Nam). Học chữ Hán đến 12 tuổi và đã tập làm những lối văn trƣờng ốc. Sau học trƣờng Quốc học Huế, trƣờng Bảo hộ Hà Nội. Cĩ bằng tú tài bản xứ. Hiện làm tham tá tịa Khâm xứ Huế. Đã đăng thơ: An Nam tạp chí Phong hĩa, Tràng An. Đã xuất bản: Huế Đẹp và Thơ, tập đầu (1939). Huế đẹp, Huế nên thơ. Ai chẳng nĩi thế? Ai chẳng thấy thế? Nhƣng sao hình ảnh Huế trong thi ca lại tầm thƣờng thế? Cĩ lẽ cảnh Huế quá huyền diệu, quá mơ màng khơng biết tả thế nào cho thốt sáo. Cũng cĩ lẽ ngắm cảnh Huế, ngƣời ta khĩ tránh đƣợc cái buồn vơ vẩn nĩ là khí vị riêng của xứ này và lịng ngƣời ta khơng đủ thản nhiên để ghì lấy hình sắc riêng của mỗi uật. Kể cĩ ít câu của Thu Hồng và hai câu này của Quỳnh Dao cũng đƣợc: Một hàng tơn nữ cƣời trong nĩn, Sống mở lịng ra đĩn bĩng yêu. Nhƣng tả cảnh Huế chƣa ai bằng Nam Trân. Nam Trân khơng rơi vào khuơn sáo là vì ngƣời khơng mơ màng cũng khơng buồn vơ vẩn. Ở Huế mà ghét Nam ai, | NAM TRÂN 173
- THI NHÂN VIỆT NAM nội chừng ấy cũng đã lạ1. Ngƣời chỉ thản nhiên nhìn cảnh vật chung quanh và ghi lại bằng những nét già giặn. Thơ Nam Trân thƣờng mỗi bài là một bức tranh nhỏ trong ấy thế nào cũng cĩ ít điều nhận xét đặc sắc. Thỉnh thoảng ngƣời cũng ghép vào trong cảnh một ít tình. Nhƣng dầu ngƣời cĩ nĩi đến tình yêu, lời thơ vẫn mực thƣớc, vẫn khơng mất vẻ thản nhiên. Điều ấy thấy ngay ở bài đầu quyển Huế, Đẹp và Thơ2; một mẩu cảnh xinh xinh, một chút tình phảng phất trong những vần nhịp nhàng và lặng lẽ nhƣ dịng Hƣơng thủy trong veo. “Sĩng lịng” thi nhân cĩ xao động cũng chỉ trong khoảnh khắc nhƣ mặt nƣớc sơng kia mà thơi. Y thơ nhẹ nhàng, điệu thơ uyển chuyển. Ta nên để ý bài này sáu câu trên thất ngơn mà bốn câu dƣới lục bát. Thất ngơn tả vẻ thản nhiên của ngƣời đẹp, lúc bạt tả chút xao động trong lịng ngƣời thơ. Một cảnh hai tỉnh, nên thơ cùng một bài hai điệu. Về âm điệu, thơ Nam Trân thực dồi dào. Thi nhân khơng theo điệu nào nhất định. Trƣớc mỗi cảnh, mỗi tình, ngƣời lại cố tạo ra một điệu thơ cho thích hợp. Câu thơ luơn luơn biến hĩa; số chữ thay đổi từ một đến mƣời. Điệu thơ, đĩ là điều tối quan hệ với Nam Trân; ngƣời luơn luơn tìm kiếm, vì ngƣời nghĩ rằng chỉ cĩ lƣời mới chịu nằm hồi trong một khuơn khổ. Nhƣng điệu thơ cũng nhƣ tứ thơ, ở Nam Trân đều là kết quả của sự đắn đo kỹ lƣỡng, sự suy tính siêng năng. Nam Trân luơn luơn tự chủ ngịi bút của mình một cách chắc chắn, khơng bao giờ phĩng cho nĩ đi theo những nhạc điệu âm thầm một đơi khi vẫn thao thức trong lịng ta. Cho nên muốn thƣởng thức thơ Nam Trân ta cũng phải luyện lấy tâm trí cho bình thản. Hãy xếp thơ Nam Trân lại những lúc lịng ta cĩ chuyện xơn xao. Lối thơ tả chân vốn xƣa ta khơng cĩ. Đây đĩ rải rác cũng nhặt đƣợc đơi câu, nhƣng đến Nam Trân mới biệt thành một lối. Nam Trân đã tìm ra một khoảnh đất mới và ở đĩ ngƣời đã dựng lên - ý chừng để sát nhập làng thơ Việt - cái cảnh núi Ngự sơng Hƣơng. Thiết tƣởng vì tình lảng giềng đất Quảng Nam khơng thể gửi ra xứ Huế mĩn quà nào quý hơn nữa: lần thứ nhất những vẻ đẹp xứ này đƣợc diễn ra thơ. Octobre 1941 1 Xem bài “Giận khúc Nam ai” trích theo đây. 2 Tức bài “Đẹp và Thơ” trích theo đây. | NAM TRÂN 174
- THI NHÂN VIỆT NAM ĐẸP VÀ THƠ (Cơ gái Kim Luơng) Thuyền nan đủng đỉnh sau hàng phƣợng, Cơ gái Kim Luơng yểu diệu chèo. Tơi xuống thuyền cơ, cơ chẳng biết Rằng Thơ thấy Đẹp phải tìm theo. Thuyền qua đến bến; cơ lui lại, Vẩy chiếc chèo ngang: giọt nƣớc gieo Đăm đăm mắt mỏi vì chèo, Chèo cơ quấy nƣớc trong veo giữa dịng Biết khơng? Cơ hỡi, biết khơng? Chèo cơ cịn quấy, sĩng lịng cịn xao! (Huế, Đẹp và Thơ) HUẾ, NGÀY HÈ Lửa hạ bừng bừng cháy Làn ma trốt trốt bay. Tiếng ve rè rè mãi Đánh đổ giấc ngủ ngày. Đƣờng sá ít ngƣời đi, Bụi cây lắm kẻ núp. Xơ xác quán nƣớc chè, Ra, vào ngƣời tấp nập. Phe phẩy chiếc quạt tre, | NAM TRÂN 175
- THI NHÂN VIỆT NAM Chú nài ngồi đầu voi Thỉnh thoảng giơ tay bẻ Năm ba chùm nhãn cịi. Huế phƣợng, nhƣ giọt huyết, Rỏ xuống phủ lề đƣờng. Mặt trời gay gay đỏ Nhuộm đỏ gĩc sơng Hƣơng. (Huế, Đẹp và Thơ) HUẾ, ĐÊM HÈ Trời nĩng băm bốn độ. Đèn, sao khắp đế đơ. Mặt trăng vàng, trỏn trẻn Nấp sau nhánh phƣợng khơ. Ba nhịp cầu Tràng Tiền Đứng dày ngƣời hĩng mát; Ngọn giĩ Thuận An lên, Áo quần kêu sột sạt. Đủng đỉnh chiếc thuyền nan Qua, lại bến sơng Hƣơng Tiếng đờn chen tiếng hát, Thánh thĩt điệu Nam Bƣờng. Hai tay xách hai vịm, | NAM TRÂN 176
- THI NHÂN VIỆT NAM Một vài mụ le te, Tiếng non rao lảnh lĩi: Chốc chốc: “Ai ăn chè?” (Huế, Đẹp và Thơ) TRƢỚC CHÙA THIÊN MỤ1 Êm êm dịng nƣớc Hƣơng Giang chảy, Xúm xít thuyền con chỗ ba, bảy. Tiếng hát ngƣ ơng đẫm bĩng cây Nhƣ luồng khĩi, nhẹ, lên, lên mãi. Tháp cao dịm nƣớc: vết meo trơi. Đồi thấp sừng trăng dõi dõi soi. Mờ ớ, xa xa gà gáy sáng Trong Chùa cảnh cảnh tiếng chuơng hồi. (Huế, Đẹp và Thơ) MÙA ĐƠNG Cánh đồng An Cựu Lá bàng Nhƣ lá vàng Rụng. Ơ! Đìu hiu Cảnh chiều 1 Phỏng theo điệu bài “Đằng vƣơng các” của Vƣơng Bột. | NAM TRÂN 177
- THI NHÂN VIỆT NAM Đơng! Ruộng ngập: mênh mơng Nƣớc phẳng cị bay, yên lặng, Quanh đồng. Thi tứ viển vơng: Thần Tƣởng tƣợng Nhƣ đàn cị đĩi lƣợn Đồng khơng. (Huế, Đẹp và Thơ) GIẬN KHƯC NAM AI Đừng kể nữa những mảnh tình tan tác. Hãy đứng lên, Nhạc sĩ, với tơi, đi! Tơi ghét anh mê giọng hát sầu bi Và tung mãi tâm hồn thừa truỵ lạc. Hãy đứng dậy! Vứt chiếc cầm ảo não! Tơi cần nghe những khúc nhạc rất hùng - Thét ngựa lịng phi mãi chẳng chồn chân Sáng nhƣ gƣơm tuốt, mạnh nhƣ luồng bão. Ơi! Nhạc sĩ, thật anh ngƣời thậm tệ: Quan hồi chi những lối hát mê ly, Những câu ca khơng Đẹp lại khơng Thì Của kỹ nữ vọc cuộc đời ê chệ? | NAM TRÂN 178
- THI NHÂN VIỆT NAM Hãy cung kính nhƣợng các ngài tuổi tác Những bản đờn, nhịp hát thiếu tinh thần. Hãy ra nghe sĩng vỗ, ngắm mây vần Rồi sáng chế cho tơi vài điệu khác. (Huế, Đẹp và Thơ) NẮNG THU Hai bài hát ngơ nghê và êm ái, Bên sƣờn non, mục tử cỡi trâu về. Nắng chiều rây vàng bột xuống dân quê, Lúa chín đỏ theo giĩ nồm sáp mái. Trên suối nhỏ, chiếc cầu tre hẻo lánh Tốp ngƣời qua, lẩy bẩy vịn thanh ngang. Lũ trẻ con sung sƣớng nổ cƣời vang Đùa với bĩng chảy theo dịng nƣớc lạnh. Dãy núi tím bỗng thay màu xanh ngắt Rồi ố lần trong giây khắc nhá nhem, Âm thầm cảnh vật vào Đêm: Vết ráng đỏ, tiếng cịi xa cùng tắt. (Huế, Đẹp và Thơ) | NAM TRÂN 179
- THI NHÂN VIỆT NAM ĐỒN VĂN CỪ Những hình ảnh cuộc đời Việt Nam xƣa cịn lƣu lại trong thời nay chẳng bao lâu sẽ mất hết. Nếu ta khơng gấp gấp ghi chép lấy thi rồi chẳng cịn biết tìm kiếm vào đâu. Gần đây đã cĩ một ít nhà viết tiểu thuyết ƣa thuật chuyện đồng quê, nơi nƣơng náu cuối cùng của dĩ vãng. Nhƣng đời sống ở đồng quê cĩ một nhịp nhàng riêng, thể văn tiểu thuyết khơng diễn ra đƣợc. Phải cĩ thơ. Trong các nhà thơ đồng quê, khơng ai cĩ ngịi bút dồi dào mà rực rỡ nhƣ Đồn Văn Cừ. Những bức tranh trong thơ Đồn Văn Cừ khơng phải chỉ đơn sơ vài nét nhƣ các bức tranh xƣa của Á Đơng. Bức tranh nào cũng đầy rẫy sự sống và rộn rịp những hình sắc tƣơi vui. Mỗi bức tranh là một thế giới linh hoạt. Ngƣời xem tranh hoa mắt vì những nét những màu hình nhƣ rối rít cả lại; nhƣng nhìn kỹ thì màu nào nét nào cũng ngộ nghĩnh vui vui. Đây, trong chợ Tết, bên cạnh thầy khĩa đƣơng gị lƣng viết: Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm, Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ. Kia, giữa đám hội nhà quê: Chiếc ơ đen lẳng lặng tiến ra cầu, Tìm đến chiếc san màu bay trƣớc giĩ. Đồn Văn Cừ đã biết nhận xét rất tinh lại sẵn hồn thơ phong phú, hai điều thƣờng ít đi với nhau. Phải cĩ hồn thơ mới thấy đƣợc dƣới ánh bình minh. Tia nắng tía nhảy hồi trong ruộng lúa. Thỉnh thoảng giữa những câu tả chân chặt chẽ, chen vào một câu bất ngờ, vụt ngời lên nhƣ một luồng sáng chen giữa bức tranh: Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ, | ĐỒN VĂN CỪ 180
- THI NHÂN VIỆT NAM Nƣớc thời gian gội tĩc trắng phau phau. Và bao giờ cuối bài thơ cũng cĩ một vài câu khêu gợi. Cuối bài “Chợ Tết”: Ánh dƣơng vàng trên cỏ kéo lê thê, Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ. Cuối bài “Đám cƣới màu xuân”: Chỉ cịn nghe văng vẳng tiếng chim xuân Ca ánh ỏi trên cành xanh tắm nắng. Những câu ấy đều khép lại một thế giới và mở ra một thế giới: khép một thế giới thực, mở một thế giới mộng. Cảnh trƣớc mắt vừa tan thì tình trong lịng cũng vừa nhĩm. Mắt ta khơng thấy gì nữa nhƣng lịng ta bỗng bâng khuâng. Đồn Văn Cừ trƣớc sau đăng báo chỉ cĩ sáu bảy bài thơ. Bài nào cũng hay. Cũng cĩ bài đăng Ngày nay số thƣờng, nhƣng nghĩ đến Đồn Văn Cừ là tơi lại nghĩ đến Tết. Cái tên Đồn Văn Cừ trong trí tơi đã lẫn với màu bánh chƣng, mùi thuốc pháo, vị mứt gừng. Cứ mỗi lúc xuân về ngƣời lại gửi trên báo một chuỗi cƣời ngũ sắc. Tiếng cƣời ta cịn nghe văng vẳng thì ngƣời đã biến đâu rồi và ta đành chờ mùa xuân khác. Thế rồi báo chết, tăm tích ngƣời cũng mất. Cho đến hơm nay, viết mấy lời giới thiệu thơ Đồn Văn Cừ, tơi vẫn chƣa biết gì thêm về con ngƣời ấy.1 Octobre 1941 CHỢ TẾT Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi, Sƣơng hồng lam ơm ấp nĩc nhà gianh, Trên con đƣờng viền trắng mép đồi xanh, Ngƣời các ấp tƣng bừng ra chợ Tết. Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc; Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon, 1 Khi quyển sách này đƣa in chúng tơi vẫn chƣa biết gì thêm về Ơ. Đồn Văn Cừ tuy đã hỏi rất nhiều ngƣời. Vậy xin mạn pháp ơng trích mấy bài thơ. Ơng ở đâu, làm ơn cho chúng tơi biết. | ĐỒN VĂN CỪ 181
- THI NHÂN VIỆT NAM Vài cụ già chống gậy bƣớc lom khom, Cơ yếm thắm che mơi cƣời lặng lẽ, Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ. Hai ngƣời thơn gánh lợn chạy đi đầu, Con bị vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau. Sƣơng trắng rỏ đầu cành nhƣ giọt sữa, Tia nắng tía nhảy hồi trong ruộng lúa. Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh, Đồi thoa son nằm dƣới ánh bình minh. * Ngƣời mua bán ra vào đầy cổng chợ. Con trâu đứng vờ dim hai mắt ngủ, Để lắng nghe ngƣời khách nĩi bơ bơ. Anh hàng tranh kĩu kịt quảy đơi bồ, Tìm đến chỗ đơng ngƣời ngồi dở bán. Một thầy khĩa gị lƣng trên cánh phản, Tay mài nghiên hí hốy viết thơ xuân. Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm, Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ. Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ, Nƣớc thời gian gội tĩc trắng phau phau. Chú hoa man đầu chít chiếc khăn nâu, Ngồi xếp lại đống vàng trên mặt chiếu. Áo cụ lý bị ngƣời chen sấn kéo, Khăn trên đầu đƣơng chít cũng tung ra. Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh gà Quên cả chị bên đƣờng đang đứng gọi. Mấy cơ gái ơm nhau cƣời rũ rợi, | ĐỒN VĂN CỪ 182
- THI NHÂN VIỆT NAM Cạnh anh chàng bán pháo dƣới cây đa, Những mẹt cam đỏ chĩt tựa son pha, Thúng gạo nếp đong đầy nhƣ núi tuyết, Con gà trống mào thâm nhƣ cục tiết, Một ngƣời mua cầm cẳng dốc lên xem. * Chợ tƣng bừng nhƣ thế đến gần đêm. Khi chuơng tối bên chùa văng vẳng đánh, Trên con đƣờng đi các làng hẻo lánh, Những ngƣời quê lũ lƣợt trở ra về. Ánh dƣơng vàng trên cỏ kéo lê thê, Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ. (Ngày nay) ĐÁM CƢỚI MÙA XUÂN Ngày ửng hồng sau màn sƣơng gấm mỏng, Nắng dát vàng trên bãi cỏ non xanh. Dịp cầu xa lồng bĩng nƣớc long lanh, Đàn cị trắng dăng hàng bay phấp phới. Trên cành cây, bỗng một con chim gọi Lũ ngƣời đi lí nhí một hàng đen Trên con đƣờng cát trắng cỏ lam viền. Họ thong thả tiến theo chiều giĩ thổi, Dƣới bầu trời trong veo khơng mảy bụi, Giữa cánh đồng phơn phớt tựa màu nhung. Một cụ già râu tĩc trắng nhƣ bơng, | ĐỒN VĂN CỪ 183
- THI NHÂN VIỆT NAM Mặc áo đỏ, cầm hƣơng đi trƣớc đám. Dăm sáu cụ áo mền bơng đỏ sẫm, Quần nâu hồng, chống gậy bƣớc theo nhau. Hàng ơ đen thong thả tiến lên sau. Kế những chiếc mâm đồng che lụa đỏ. Bọn trai tơ mặt mày coi hán hở, Quần lụa chùng, nĩn dứa, áo sa huê. Một vài bà thanh lịch kiểu nhà quê, Đầu nĩn nghệ, tay cầm khăn mặt đỏ. Bà cụ lão lom khom bên cháu nhỏ, Túi đựng trầu chăm chắm giữ trong tay. Thằng bé em mẹ ẵm, má hây hây, Đầu cạo nhẵn, áo vàng, quần nâu sẫm. Cơ bé để cút chè ngƣời xẫm mẫm, Đi theo bà váy lĩnh, dép quai cong. Một chị sen đầu đội chiếc khăn hồng Đặt trên cái hịm da đen bĩng lộng. Ngƣời cơ dâu hơm nay coi chống lộn, Vành khuyên vàng, áo mớ, nĩn quai thao. Các bạn cơ bằng tuổi cũng xinh sao, Hai má thắm, ngây thơ nhìn trời biếc. Dăm bảy cơ phủ mình trong những chiếc Áo đồng lầm, yếm đỏ, thắt lƣng xanh. * Một lúc sau đi tới chỗ vịng quanh, Nếp chùa trắng in hình trên trời thắm, Thì cả bọn dần dần cũng khuất lẩn Sau trái đồi lấp lánh ánh sƣơng ngân. | ĐỒN VĂN CỪ 184
- THI NHÂN VIỆT NAM Chỉ cịn nghe văng vẳng tiếng chim xuân Ca ánh ỏi trên cành xanh tắm nắng. (Ngày nay) ĐÁM HỘI Mùa xuân ấy, ơng tơi lên tận tỉnh Đĩn tơi về xem hội ở làng bên. Suốt ngày đêm chuơng trống đánh vang rền, Ngƣời lớn, bé mê man về hát bội. Những thằng cu tha hồ khoe áo mới Và tha hồ nơ nức kéo đi xem. Các cụ già uống rƣợu mãi gần đêm, Tổ tơm điếm chơi đều khơng biết chán. Những con bé áo xanh địi chị ẵm Để đi theo đám rƣớc lƣợn quanh làng. Các bà đồng khăn đỏ chạy loăng quăng. Đĩn các khách thập phƣơng về dự hội, Một chiếc kiệu đƣơng đi dừng bƣớc lại, Rồi thình lình quay tít mãi nhƣ bay. Một bà già kính cẩn chắp hai tay, Đứng với mãi theo đám ngƣời bí mật. Trên bãi cỏ dƣới trời xuân bát ngát, Một chị đƣơng đu ngửa tít trên khơng. Cụ lý già đứng lại ngửng đầu trơng, Mắt hấp háy nhìn qua đơi mục kỉnh. Mấy cơ gái nép gần hai chú lính. Má đỏ nhừ bẽn lẽn đứng ốm nhau, | ĐỒN VĂN CỪ 185
- THI NHÂN VIỆT NAM Chiếc ơ đen lẳng lặng tiến ra cầu, Tìm đến chiếc san màu bay trƣớc giĩ. Bác nhà quê kiễng chân nhìn ngấp ngĩ, Rồi reo lên cho ai nấy cùng trơng Đồn trải dài vùn vụt giữa dịng sơng Ngƣời lơ nhơ chèo trên làn nƣớc lạnh. Bọn đơ vật trƣớc đình thi sức mạnh, Mình cởi trần gân cốt nổi nhƣ lƣơn; Tiếng reo hị khuyến khích dậy từng cơn Lần tiếng trống bên đƣờng khua rộn rã. Bên mấy chiếc khăn vuơng hình mỏ quạ, Đứng chen vào chiếc mũ trắng nghênh ngang. Bọn trai quê bá cổ cạnh cơ hàng Vờ mua bán để tìm câu chuyện gẫu. Một chú xẩm dạo đàn bên chiếc chậu, Mắt lờ mờ nghe ngĩng tiếng gieo tiền. Thằng bé em địi mẹ bế lên đền, Xem các cụ trong làng ra cử tế; Tiếng chiêng trống chen từng hồi lặng lẽ, Những bĩng ngƣời trịnh trọng khẽ đi lên, Những cánh tay áo thụng với mơ huyền, Đang diễn lại cả một thời quá khứ Mà đất nƣớc non sơng cùng cây cỏ Cịn thuộc quyền sở hữu của Linh thiêng Khi tế xong một cụ đứng trên thềm, Giơ bánh pháo cho ngƣời kia lại đốt. Bọn trai gái đứng xem đều chạy rạt, Một thằng cu sỡ hãi khĩc bi be. | ĐỒN VĂN CỪ 186
- THI NHÂN VIỆT NAM * Ngƣời đi xem nhiều đám đã ra về Trên đƣờng vắng lá đề rơi lác đác, Ốc xa rúc từng hồi trong xĩm mạc, Trời đỏ hồng sau những trái đồi xanh, Đàn chim hơm nhớn nhác gọi trên cành, Vệt tháp trắng in dài trên đồng vắng, Tiếng chuơng tơi nhặt khoan trong yên lặng, Lẫn trống chèo văng vẳng phía làng xa Của đám dân nơ nức dƣới trăng tà (Ngày nay) TRĂNG HÈ Tiếng võng trong nhà kẽo kẹt đƣa, Đầu thềm con chĩ ngủ lơ mơ. Bĩng cây lơi lả bên hàng dậu, Đêm vắng, ngƣời im, cảnh lặng tờ. Ơng lão nằm chơi ở giữa sân, Tàu cau lấp lống ánh trăng ngân. Thằng cu đứng vịn bên thành chõng, Ngắm bĩng con mèo quyện dƣới chân. Bên giếng, dăm cơ gái xứ quê Từng đàn vui vẻ rủ nhau về, Trên vai nặng trĩu đơi thùng nƣớc. Kĩu kịt đi vào lối cổng tre. | ĐỒN VĂN CỪ 187
- THI NHÂN VIỆT NAM Trong xĩm giờ lâu quá nửa đêm, Tiếng chày giã gạo đã ngừng im. Trăng tà hạ xuống ngang đầu núi, Đom đĩm bay qua dải nƣớc đen. Tiếng ốc trên chịi rúc thiết tha, Giĩ lay cĩt két rặng tre già. Sao trời từng chiếc rơi thành lệ, Sƣơng khĩi bên đồng ủ bĩng mơ. (Ngày nay) | ĐỒN VĂN CỪ 188
- THI NHÂN VIỆT NAM ANH THƠ Chính tên là Vƣơng Kiều Ân - Vƣơng họ cha, Kiều họ mẹ. Sinh tháng janvier 1919 tại Ninh Giang. Học từ năm lên bảy, năm 12 tuổi mới lên lớp ba (Hải Dƣơng, Thái Bình, Bắc Giang). Bỏ học sau một buổi bị cơ giáo phạt quỳ. Đăng thơ: Hanoi báo (ký Hồng Anh), Tiểu thuyết thứ năm. Ngày nay, Phụ nữ. Đƣợc giải thƣởng khuyến khích về thơ của Tự lực văn đồn năm 1939. Đã xuất bản: Bức tranh quê (Đời nay, Hà Nội 1941). Xƣa (hợp tác với Bàng Bá Lân, 1941). Một hơm tơi nhận đƣợc bức thƣ đề: M. Hồi Thanh, professeur, L’instituteur Thuận Hĩa. Tơi đã khơng dám khinh thƣờng ngƣời viết thƣ mà lại cịn kính phục thêm nữa. Vì tơi biết ngƣời viết thƣ là một nữ thi sĩ cĩ danh: Anh Thơ. Đã đành hay thơ Việt khơng cần phải giỏi tiếng Pháp. Nhƣng trong tình thế nƣớc ta bây giờ một ngƣời thiếu niên muốn cĩ một nền học vấn vừa vừa mà khơng cần đến tiếng Pháp quả là một điều thiên nan vạn nan. Cứ xem văn của Anh Thơ ai cũng phải bảo là ngƣời cĩ học. Thế mà cái lối viết rõ ràng và chắc chắn ấy, Anh Thơ khơng từng học đƣợc trong tiếng Pháp. Càng kính phục ngƣời, ta càng mừng cho nền quốc văn. Quốc văn ta ngày một thêm phong phú và hiện nay đã cĩ thể làm lợi khí đào luyện tinh thần cho một ngƣời nhƣ Anh Thơ. Tơi vừa nĩi đền lối viết của tác giả Bức tranh quê, tập thơ này cũng thuộc về lối thơ của ngƣời cĩ học. Vẫn biết làm thơ đạo tình khơng phải bao giờ cũng là ngƣời | ANH THƠ 189
- THI NHÂN VIỆT NAM ít học, nhƣng thƣờng ngƣời ít học chỉ cĩ thể làm thơ đạo tình. Phải là ngƣời cĩ học mới cĩ thể đƣa vào thơ cái cảnh: Chĩ lè lƣỡi ngồi thừ nhìn cũi đĩng, Lợn trĩi nằm hồng hộc thở căng dây. Anh Thơ từ lâu chỉ chuyên lối thơ tả cảnh, mà lại tả những cảnh rất tầm thƣờng, một phiên chợ, một đứa bé quét sân, một vài mụ đàn bà ngồi bắt chấy. Thơ của ngƣời biệt hẳn ra một lối. Cĩ kẻ sẽ cho Anh Thơ là ngƣời vơ tình. Nhƣng cĩ thiếu nữ nào hai mƣơi tuổi mà lại vơ tình? Anh Thơ bắt đầu cũng đã làm những bài kể nỗi lịng mình. Hẳn ngƣời đã tập luyện nhiều lắm mới cĩ thể đi đến cái thản nhiên, cái dửng dƣng mà độc giả Bức tranh quê ắt phải lấy làm lạ. Nhiều lúc tơi tƣởng ngƣời đã đi quá xa. Tranh quê cĩ bức chỉ là bức ảnh; cái thản nhiên hàm súc của nghệ sĩ đã nhƣờng chỗ cho cái thản nhiên trống rỗng của nhà nghề. Theo gĩt thi nhân đến đĩ, ta thấy uất ức khĩ thở: ngƣời dẫn ta vào một thế giới tù túng rồi khơng cho ta mơ tƣởng đến một trời đất nào khác nữa. Khơng, thơ phải là một tia sáng nối cõi thực và cõi mộng, mặt đất với các vì sao. Thơ khơng cốt tả mà cốt gợi, gợi cảnh cũng nhƣ gợi tình. Cho nên mỗi lần Anh Thơ chịu đi ra ngồi lối tù túng đĩ để nhìn cảnh vật một cách sâu sắc hơn, Lời thơ bỗng trở nên rộng rãi khơng ngờ và ta thấy khoan khối biết bao. Sau câu thơ ta mơ hồ thấy một cái gì: cĩ lẽ là hồn thi nhân. Nhƣ khi ngƣời tả cảnh bến đị trƣa hè: Mây đi vắng, trời xanh buồn rộng rãi Sơng im dịng đọng nắng đứng khơng trơi. hay tả cảnh một buổi sáng trong trẻo: Giĩ man mát bờ tre rung tiếng sẻ, Trời hồng hồng đáy nƣớc lắng son mây. Làn khĩi xám từ nĩc nhà lặng lẽ Vƣơn mình lên nhƣ tỉnh giấc mơ say. Cảnh trong thơ cũng bất tất phải mênh mơng. Một cái vỏ ốc đủ khiến ta nghe cả tiếng sĩng biển rào rạt. Chỉ cĩ ít bơng hoa mƣớp, một lũ chuồn chuồn mà Anh Thơ gợi nên cả cái khơng khí thu: Hoa mƣớp rụng từng đĩa vàng rải rác; Lũ chuồn chuồn nhớ nắng ngẩn ngơ bay, | ANH THƠ 190
- THI NHÂN VIỆT NAM Thƣờng ngƣời cũng khơng cần đến những cảnh vốn sẵn nên thơ nhƣ thế. Với một vài điều nhỏ nhặt hầu nhƣ thơ lậu, ngƣời hé mở cho ta một cảnh trời. Chỗ này, giữa đám ngƣời ồn ào và đơng đúc, vài ơng thầy bĩi lặng lẽ đi, Bƣớc gậy lần nhƣ những bƣớc chiêm bao. Chỗ kia, đêm ba mƣơi Tết, chung quanh nồi bánh chƣng sồi sùng sục: Đĩ nhớn mơ chiếc váy sồi đen nhức, Bà lão nằm tính tuổi sắp thêm năm. Cho hay, vơ cùng chỉ cĩ thế giới bên trong. Và hình sắc đẹp là những hình sắc khéo dẫn ngƣời ta vào thế giới ấy. Aỏt 1941 CHIỀU XUÂN Mƣa đổ bụi êm êm trên bến vắng, Đị biếng lƣời nằm mặc nƣớc sơng trơi; Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng Bên chịm xoan hoa tím rụng tơi bời. Ngồi đƣờng đê cỏ non tràn biếc cỏ, Đàn sáo đen xà xuống mổ vu vơ; Mấy cánh bƣớm rập rờn trơi trƣớc giĩ, Những trâu bị thong thả cúi ăn mƣa. Trong đồng lúa xanh rờn và ƣớt lặng, Lũ cị con chốc chốc vụt bay ra, Làm giật mình một cơ nàng yếm thắm Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa. (Bức tranh quê) | ANH THƠ 191
- THI NHÂN VIỆT NAM TRƢA HÈ Trời trong biếc khơng qua mây gợn trắng, Giĩ nồm nam lộng thổi cánh diều xa. Hoa lựu nở đầy một vƣờn đỏ nắng, Lừ bƣớm vàng lơ đãng lƣớt bay qua. Trong thơn vắng, tiếng gà xao xác gáy, Các bà già đƣa võng hát, thiu thiu Những đĩ con ngồi buồn tê bắt chấy Bên đàn ruồi rạc nắng hết hơi kêu. Ngồi đê thẳm, khơng ngƣời đi vắng vẻ, Lũ chuồn chuồn giỡn nắng đuổi nhau bay. Nhƣng thỉnh thoảng tiếng nhạc đồng buồn tẻ Của vài ngƣời cỡi ngựa đến xua ngay. (Bức tranh quê) RẰM THÁNG BẢY Giĩ hiu hắt gieo vàng muơn cánh lá, Trời âm u mây xám bĩng sƣơng chiều, Làng xĩm ngập nhà nhà trong khĩi tỏa, Vẳng đƣa lời khĩc mả lạnh hiu hiu. | ANH THƠ 192
- THI NHÂN VIỆT NAM Trong chùa, điện hƣơng đèn nghi ngút sáng, Tiếng mõ, chuơng hịa nhịp trống bên đình. Lời cầu cúng truyền theo làn khĩi thoảng Quyến cơ hồn nƣơng giĩ lại nghe kinh. Ngồi đê rộng bồ đài nghiêng đổ cháo Lễ chúng sinh từng bọn một ăn mày. Cùng lẳng lặng nhƣ bĩng ma buồn não Dắt nhau tìm nơi cúng để xin may. (Bức tranh quê) BẾN ĐÕ NGÀY XƢA Tre rũ rợi ven bờ chen ƣớt át, Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mƣa. Và dầm mƣa dịng sơng trơi rào rạt Mặc con thuyền cắm lái đậu trơ vơ. Trên bến vắng, đắm mình trong lạnh lẽo, Vài quán hàng khơng khách đứng xo ro, Một bác lái ghé buồm vào hút điếu Mặc bà hàng sù sụ sặc hơi, ho. Ngồi đƣờng lội họa hoằn ngƣời đến chợ Thúng đội đầu nhƣ đội cả trời mƣa. Và họa hoằn một con thuyền ghé chở Rồi âm thầm bến lại lặng trong mƣa. (Bức tranh quê) | ANH THƠ 193
- THI NHÂN VIỆT NAM HÀN MẶC TỬ Chính tên là Nguyễn Trọng Trí. Sinh ngày 22 Septembre 1912 ở Lệ Mỹ (Đồng Hới), mất ngày 11 novembre 1940. Trú ngụ ở Quy Nhơn từ nhỏ. Nhà nghèo, cha mất sớm. Học trƣờng Quy Nhơn đến năm thứ ba. Làm sở Đạc điền một độ; bị đau rồi mất việc. Vào Nam làm báo ít lâu lại trở về Quy Nhơn. Kế đĩ mắc bệnh hủi, đƣa vào nhà thƣơng Quy Hịa rồi mất ở đĩ. Làm thơ từ ngày mƣời sáu tuổi (lấy hiệu là Phong Trần rồi Lệ Thanh). Đến năm 1936, khi chủ trƣơng tờ phụ trƣơng văn chƣơng báo Saigon mới đổi hiệu là Hàn Mặc Tử1. Đã đăng thơ: Phụ nữ tân văn, Saigon, Trong khuê phịng, Đơng Dƣơng tuần báo, Ngƣời mới. Đã xuất bản: Gái quê (1936) Tơi đã nghe ngƣời ta mạt sát Hàn Mặc Tử nhiều lắm. Cĩ ngƣời bảo: “Hàn Mặc Tử? Thơ với thẩn gì! Tồn nĩi nhảm. Cĩ ngƣời cịn nghiêm khắc hơn nữa: “Thơ gì mà rắc rối thế! Mình tƣởng cĩ ý nghĩa khuất khúc, cứ đọc đi đọc lại hồi, thì ra nĩ lừa mình”. Xuân Diệu cĩ lẽ cũng nghĩ đến Hàn Mặc Tử trong khi viết đoạn này: “Hãy so sánh thái độ can đảm kia (thái độ những nhà chân thi sĩ) với những cách đột nhiên mà khĩc, đột nhiên mà cƣời, chân vừa nhảy, miệng vừa kêu: tơi điên 1 Hai chữ “hàn mặc” trong từ điển khơng cĩ, chỉ cĩ “hàn mặc” nghĩa là văn chƣơng. | HÀN MẶC TỬ 194
- THI NHÂN VIỆT NAM đây! Tơi điên đây! - Điên cũng khơng dễ làm nhƣ ngƣời ta tƣởng đâu. Nếu khơng biết điên, tốt hơn là cứ tỉnh táo nhƣ thƣờng mà yên lặng sống”1. Nhƣng tơi cũng đã nghe những ngƣời ca tụng Hàn Mặc Tử. Trong ý họ, thi ca Việt Nam chỉ cĩ Hàn Mặc Tử. Bao nhiêu thơ Hàn Mặc Tử làm ra họ đều chép lại và thuộc hết. Mà thuộc hết thơ Hàn Mặc Tử đâu cĩ phải chuyện dễ. Đã khúc mắc mà lại nhiều: tất cả đều sáu bảy tập. Học thuộc hết và chọn những lúc đêm khuya thanh vắng họ sẽ cao giọng, ngâm một mình. Bài thơ đã biến thành bài kinh và ngƣời thơ đã trở nên một vị giáo chủ. Chế Lan Viên nĩi quả quyết: “Tơi xin hứa hẹn với các ngƣời rằng, mai sau, những cái tầm thƣờng, mực thƣớc kia sẽ tan đi, và cịn lại của cái thời kỳ này, chút gì đáng kể đĩ là Hàn Mặc Tử”2. Ngĩt một tháng trời tơi đã đọc thơ Hàn Mặc Tử3. Tơi đã theo Hàn Mặc Tử từ lối thơ Đƣờng đến vở kịch bằng thơ Quần tiên hội. Và tơi đã mệt lả. Chính nhƣ lời Hàn Mặc Tử nĩi trong bài tựa Thơ điên, vƣờn thơ của ngƣời rộng rinh khơng bờ bến, càng đi xa càng ớn lạnh. Bây giờ đã ra khỏi cái thế giới kỳ dị ấy và đã trở về với cuộc đời tầm thƣờng mà ý nhị, tơi thử xếp đặt lại những cảm tƣởng hỗn độn của tơi. THƠ ĐƢỜNG LUẬT. - Theo Ơ. Quách Tấn4 Phan Sào Nam hồi trƣớc xem thơ Đƣờng luật Hàn Mặc Tử cĩ viết trên báo đại khái nĩi: “Từ về nƣớc đến nay, tơi đƣợc xem thơ quốc âm cũng khá nhiều, song chƣa gặp đƣợc bài nào hay đến thế 5 Ơi hồng nam nhạn bắc, ƣớc ao cĩ ngày gặp gỡ để bắt tay nhau cƣời lên một tiếng lớn ấy là thỏa hồn thơ đĩ”. Thơ Đƣờng luật Hàn Mặc Tử làm ra nhiều nhƣng bị thất lạc gần hết, tơi khơng đƣợc xem mấy bài. Song trong những bài tơi đƣợc xem tơi cũng đã gặp ít câu hay, chẳng hạn nhƣ: Nằm gắng đã khơng thành mộng đƣợc Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thơi. Dầu sao tơi vẫn nghĩ cái khuơn khổ bĩ buộc của luật Đƣờng cĩ lẽ khơng tiện cho sự nảy nở một nguồn thơ dào dạt và lạ lùng nhƣ nguồn thơ Hàn Mặc Tử. GÁI QUÊ. - Nhiều bài cĩ thể là của ai cũng đƣợc. Cịn thì tả tình quê trong cảnh quê. Lời thơ dễ dàng, tứ thơ bình dị. Nhƣng tình ở đây khơng cĩ cái vẻ mơ 1 “Thơ của ngƣời” (Ngày nay ra ngày 7-8-1938). 2 Ngƣời mới số 5 ra ngày 23-11-1940. 3 Do Ơ. Trần Thanh Địch cho mƣợn. 4 Ngƣời mới số 6 ra ngày 30-11-1940. 5 Chỉ ba bài “Thức khuya”, “Chùa hoang”, “Gái ở chùa” của Hàn Mặc Tử mà Phan Sào Nam đã họa lại cả ba. | HÀN MẶC TỬ 195
- THI NHÂN VIỆT NAM màng thanh sạch nhƣ mối tình ta vẫn quen đặt vào trong khung cảnh những vƣờn tre, những đồi thơng. Ấy là một thứ tình nồng nàn, lơi lả, rạo rực, đầy hình ảnh khêu gợi. Ơ. Phạm Văn Ký đề tựa tập thơ ấy là phải lắm: Gái quê và Une voix sur la voie đều bắt nguồn trong tình dục. THƠ ĐIÊN. - Thơ điên gồm cĩ ba tập: 1) Hƣơng thơm. 2) Mật đắng. 3) Máu cuồng và hồn điên. HƢƠNG THƠM. - Ta bắt đầu bƣớc vào một nơi ánh trăng, ánh nắng, tình yêu và cả ngƣời yêu đều nhƣ muốn biến ra hƣơng khĩi. Một trời tình ái mới dựng lên đâu đây. Tuy cĩ đơi vần đẹp, cảm giác chung nhạt tẻ thế nào. MẬT ĐẮNG. - Ta vẫn đi trong mờ mờ. Nhƣng thỉnh thoảng một luồng sáng lạ chĩi cả mắt. Nguồn sáng tỏa ra từ một linh hồn vơ cùng khổ não. Ta bắt gặp dấu tích cịn hoi hĩp của một tình duyên vừa chết yểu. Thất vọng trong tình yêu, chuyện ấy trong thơ ta khơng thiếu gì, nhƣng thƣờng là một thứ buồn dầu cĩ thấm thía vẫn dịu dịu. Chỉ trong thơ Hàn Mặc Tử mới thấy một nỗi đau thƣơng mãnh liệt nhƣ thế. Lời thơ nhƣ dính máu. MÁU CUỒNG VÀ HỒN ĐIÊN. - Đến đây ta đã hồn tồn ra khỏi cái thế giới thực và cả thế giới mộng của ta. Xa lắm rồi. Ta thấy những gì chung quanh ta? Trăng, tồn trăng, một ánh trăng gắt gao, ghê tởm, linh động nhƣ một ngƣời hay đúng hơn nhƣ một yêu tinh. Trăng ở đây cũng ghen, cũng giận, cũng cay nghiệt, cũng trơ tráo và cũng náo nức dục tình. Hàn Mặc Tử đi trong trăng, há miệng cho máu tung ra làm biển cả, cho hồn văng ra, và rú lên những tiếng ghê ngƣời Ta rùng mình, ngơ ngác, ta đã lục lọi khắp trong đáy lịng ta, ta khơng thấy cĩ tí gì giống cái cảnh trƣớc mắt. Trời đất này thực của riêng Hàn Mặc Tử ta khơng hiểu đƣợc và chắc cũng khơng bao giờ ai hiểu đƣợc. Nghĩ thế ta bỗng thƣơng con ngƣời cơ độc. Đã cơ độc ở kiếp này và e cịn cơ độc đến muơn kiếp. Hàn Mặc Tử chắc cũng biết thế nên lúc sinh thời ngƣời đã nguyền với Chúa sẽ khơng bao giờ cho xuất bản Thơ điên. Một tác phẩm nhƣ thế, ta khơng cĩ thẻ nĩi hay hay dở, nĩ đã ra ngồi vịng nhân gian, Nhân gian khơng cĩ quyền phê phán. Ta chỉ biết trong văn thơ cổ kim khơng cĩ gì kinh dị hơn. Ta chỉ biết ta đƣơng đứng trƣớc một ngƣời sƣợng sần vì bệnh hoạn, điên cuồng vì đã quá đau khổ trong tình yêu. Cuộc tình duyên ra đời với tập Hƣơng thơm, hấp hối với tập Mật đắng, đến đây thì đã chết thiệt rồi, nhƣng khí lạnh cịn tỏa lên nghi ngút. | HÀN MẶC TỬ 196
- THI NHÂN VIỆT NAM Một nhà chuyên mơn nghiên cứu những trang thái kỳ dị của tâm linh ngƣời ta xem tập Máu cuồng và Hồn điên cĩ lẽ sẽ đƣợm đƣợc nhiều tài liệu hơn một nhà phê bình văn nghệ. Tuy thế, đây đĩ ta gặp những câu rất hay. Nhƣ tả cảnh đồi núi một đêm trăng, cĩ câu: Ngả nghiêng đồi cao bọc trăng ngủ Đầy mình lốm đốm những hào quang. Lên chơi trăng, cĩ câu: Ta bay lên! Ta bay lên! Giĩ tiễn đƣa ta tới nguyệt thiềm. Ta ở cõi cao nhìn trở xuống: Lâng lâng mây khĩi quyện trăng đêm. Đọc những câu ấy cĩ cái thú vị ở xứ lạ gặp ngƣời quen, vì đĩ là những cảm giác ta cĩ thể cĩ. Lại cĩ khi những cảm giác ở ta rất thƣờng mà trong trí Hàn Mặc Tử rất dễ sợ. Một đám mây in hình dƣới đồng nƣớc, thành ra: Mây chết đuối ở dịng sơng vắng lặng Trơi thây về xa tận cõi vơ biên. Cái ý muốn mƣợn lời thơ để tả tâm sự mình cũng trở nên điên cuồng và đau đớn dị thƣờng: Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút; Mỗi lời thơ đều dính não cân ta. Bao nét chữ quay cuồng nhƣ máu vọt, Nhƣ mê man chết điếng cả làn da. Cứ để ta ngất ngƣ trong vũng huyết, Trải niềm đau trên mảnh giấy mong manh; Đừng nắm lại nguồn thơ ta đƣơng siết, Cả lịng ta trong mổ chữ rung rinh. Tơi chỉ trích ra vài đoạn cĩ thể thích đƣợc. Cịn bao nhiêu đoạn nữa tuy ta khơng thích vì nĩ khơng cĩ gì hợp với lịng ta, nhƣng ta cũng biết rằng với Hàn | HÀN MẶC TỬ 197
- THI NHÂN VIỆT NAM Mặc Tử hẳn là những câu tuyệt diệu. Nĩ đã tả đúng tâm trạng của tác giả. Lời thơ cĩ vẻ thành thực, thiết tha lắm. XUÂN NHƢ Ý. Mùa xuân Hàn Mặc Tử nĩi đây cĩ khi ở đâu hồi trời đất mới dựng lên, cĩ khi ra đời một lần với Chúa Jésus, cĩ khi hình nhƣ chỉ là mùa xuân đầu năm. Nhƣng dầu sao cũng khơng phải là một mùa xuân thƣờng với những màu sắc, những hình dáng ta vẫn quen biết. Đây là một mùa xuân trong tƣởng tƣợng, một mùa xuân theo ý muốn của thi nhân, đầy đây những lời kinh cầu nguyện, những hƣơng đức hạnh, hoa phẩm tiết, nhạc thiêng liêng, cùng ánh trăng, ánh thơ. Nhất là ánh thơ. Với Hàn Mặc Tử thơ cĩ một sự quan hệ phi thƣờng. Thơ chẳng những để ca tụng Thƣợng đế mà cũng để nĩi ngƣời ta với Thƣợng đế, để ban ơn phƣớc cho cả thiên hạ. Cho tiên mỗi lần thi sĩ há miệng - sao lại há miệng? - cho thơ trào ra, là chín từng mây náo động, muơn vì tinh tú xơn xao. Ngƣời ta sẽ thấy: Đƣờng thơ bay sáng láng nhƣ sao sa Trên lụa trắng mƣời hai hàng chữ ngọc Thêu nhƣ thêu rồng phƣợng kết Tinh hoa. Hình nhƣ trong các thi phẩm xƣa nay cĩ tính cách tơn giáo khơng cĩ gì giống nhƣ vậy. Hàn Mặc Tử đã dựng riêng một ngơi đền để thờ Chúa. Thiếu lịng tin, tơi chỉ là một du khách bỡ ngỡ khơng thể cũng quỳ lạy với thi nhân. Nhƣng lịng tơi cĩ dửng dƣng, trí tơi làm sao khơng ngợp vì cái vẻ huy hồng, trang trọng, linh lung, huyền ảo của lâu đài kia? Cĩ những câu thơ đẹp một cách lạ lùng, đọc lên nhƣ rƣới vào hồn một nguồn sáng láng. Xuân nhƣ ý rõ ràng là tập thơ hay nhất của Hàn Mặc Tử. Với Hàn Mặc Tử Chúa gần lắm. Ngƣời đã tìm lại những rung cảm mạnh mẽ của các tín đồ đời Thƣợng cổ. Ta thấy phảng phất cái khơng khí Athalie. Cho nên mặc dầu thỉnh thoảng cịn sĩt lại một hai dấu tích Phật giáo, chắc những ngƣời đồng đạo chẳng vì thế mà làm khĩ dễ chi với dị thảo của thi nhân. Huống chi thơ Hàn Mặc Tử ra đời, điều ấy chứng minh rằng đạo Thiên chúa ở xứ này đã tạo ra một cái khơng khí cĩ thể kết tinh lại thành thơ. Tơi tin rằng chỉ những tình cảm cĩ thể diễn ra thơ mới thiệt là những tình cảm đã thấm tận đáy hồn đồn thể. THƢỢNG THANH KHÍ, - Một vài bài đặc sắc ghi lại những cảnh đã thấy trong chiêm bao, ở đâu giữa khoảng các vì tinh tú trên kia. Đại khái khơng khác cảnh Xuân nhƣ ý mấy, chỉ thiếu tính cách tơn giáo. Huyền bí nhƣng khơng thiêng liêng. | HÀN MẶC TỬ 198
- THI NHÂN VIỆT NAM CẢM CHÂU DUYÊN. - Một hai năm trƣớc khi mất, sự tình cờ đƣa đến trong đời Hàn Mặc Tử hình ảnh một giai nhân cĩ cái tên khả ái: nàng Thƣơng Thƣơng. Nàng Thƣơng Thƣơng cĩ lẽ chỉ yêu thơ Hàn Mặc Tử và Hàn Mặc Tử hình nhƣ cũng khơng biết gì hơn hai chữ Thƣơng Thƣơng. Nhƣng nhƣ thế cùng đủ để thi nhân đƣa nàng vào “tháp thơ”. Nàng sẽ luơn luơn đi về trong những giấc mơ của ngƣời. Cĩ khi ngƣời mơ thấy mình là Tƣ Mã Tƣơng Nhƣ đƣơng nghe lời Trác Văn Quán năn nỉ: Đã mê rồi! Tƣ Mã chàng ơi! Ngƣời thiếp lao đao sƣợng cả ngƣời. Ơi! Ơi! Hãm bớt cung cầm lại, Lịng say đơi má cũng say thơi. Song những phút mơ khối lạc ấy cĩ đƣợc là bao. Tỉnh dậy, ngƣời thấy: Sao trìu mến thân yêu đâu vắng cả? Trơ vơ buồn và khơng biết kêu ai! Bức thƣ kia sao chẳng viết cho dài, Cho khăng khít nồng nàn thêm chút nữa. Ta tƣởng nghe lời than của Huy Cận. Nhƣng cuộc đời đau thƣơng kia đã đến lúc tàn, và nguồn thơ kia cũng đã đến lúc cạn. Hàn Mặc Tử chốc chốc lại ra ngồi biên giới thơ, lạc vào thế giới đồng bĩng. DUYÊN KỲ NGỘ và QUAN TIÊN HỘI. - Mối tình đối với nàng Thƣơng Thƣơng cịn khiến Hàn Mặc Tử viết ra hai vở kịch bằng thơ này nữa. Quần tiên hội viết chƣa xong và khơng cĩ gì. Duyên kỳ ngộ hay hơn nhiều. Đây là một giấc mơ tình ái, ngắn ngủi nhƣng xinh tƣơi, đặt vào một khung cảnh tuyệt diệu. Thi nhân dẫn ta đến một chốn nƣớc non thanh sạch chƣa từng in dấu chân ngƣời, ở đĩ tiếng chim hĩt, tiếng suối reo, tiếng tiêu ngân đều biến thành những lời thơ tình tứ. Ở đĩ Hàn Mặc Tử sẽ gặp Thƣơng Thƣơng mà ngƣời khơng mong đƣợc gặp ở kiếp này. Nàng sẽ nĩi với ngƣời những lời nồng nàn âu yếm khiến chim nƣớc đều say sƣa. Nhƣng rồi ngƣời sẽ cùng tiếng tiêu cùng đi nhƣ vụt nhớ đến cái nghiệp nặng nề đƣơng chờ ngƣời nơi trần thế. Và giữa lúc nàng gục đầu khĩc, cảnh tiên lại rộn rã tiếng suối ca. Trong thi phẩm Hàn Mặc Tử cĩ lẽ tập này là trong trẻo hơn cả. Cịn từ thơ Đƣờng luật với những câu: | HÀN MẶC TỬ 199
- THI NHÂN VIỆT NAM Bĩng nguyệt leo song sờ sẫm gối; Giĩ thu lọt cửa cọ mài chăn. cho đến Gái quê, Thơ điên, Xuân nhƣ ý và các tập khác, lời thơ thƣờng vẩn đục. * * * Tơi đã nĩi hết cảm tƣởng của tơi trong lúc đọc thơ Hàn Mặc Tử. Khơng cĩ bao giờ tơi thấy cái việc phê bình thơ tàn ác nhƣ lúc này. Tơi nghĩ đến ngƣời đã sống trong một túp lều tranh phải lấy bì thƣ và giấy nhựt trình che mái nhà cho đỡ dột. Mỗi bữa cơm đƣa đến ngƣời khơng sao nuốt đƣợc vì ăn khơ quá, cảnh cơ hàn ấy và chứng bệnh kinh khủng đã bắt ngƣời chịu bao nhiêu phũ phàng, bao nhiêu ruồng rẫy. Sau cùng ngƣời bị vứt hẳn ra ngồi cuộc đời, bị giữ riêng một nơi, xa hết thảy mọi ngƣời thân thích. Tơi nghĩ đến bao nhiêu năm ngƣời bĩ tay nhìn cả thể phách lẫn linh hồn cùng tan rã Một ngƣời đau khổ nhƣờng ấy, lúc sống ta hững hờ bỏ quên, bây giờ mất rồi ta xúm lại kẻ chê ngƣời khen. Chê hay khen tơi đều thấy cĩ gì bất nhẫn. Mai 1941 BẼN LẼN Trăng nằm sĩng sỗi trên cành liễu, Đợi giĩ đơng về để lả lơi Hoa lá ngây tình khơng muốn động, Lịng em hồi hộp chị Hằng ơi Trong khĩm vi lau hồi hộp mãi: Tiếng lịng ai nĩi? Sao im đi? Ơ kìa, bĩng nguyệt trần truồng tắm, Lộ cái khuơn vàng dƣới đáy khe | HÀN MẶC TỬ 200
- THI NHÂN VIỆT NAM Vơ tình để giĩ hơn lên má, Bẽn lẽn làm sao, lúc nửa đêm Em sợ lang quân em biết đƣợc, Nghi ngờ đến cái tiết trinh em (Gái quê) TÌNH QUÊ Trƣớc sân anh thơ thẩn, Đăm đăm trơng nhạn về; Mây chiều cịn phiêu bạt Lang thang trên đồi quê; Giĩ chiều quên ngừng lại; Dịng nƣớc luơn trơi đi Ngàn lau khơng tiếng nĩi; Lịng anh dƣờng đê mê, Cách nhau ngàn vạn dặm, Nhớ chi đến trăng thề; Dầu ai khơng mong đợi, Dầu ai khơng lắng nghe Tiếng buồn trong sƣơng đục, Tiếng hờn trong lũy tre, Dƣới trời thu man mác, Bàng bạc khắp sơn khê, Dầu ai trên bờ liễu, Dầu ai dƣới cành lê Với ngày xanh hờ hững, Cố quên tình phu thê, | HÀN MẶC TỬ 201
- THI NHÂN VIỆT NAM Trong khi nhìn mây nƣớc, Lịng xuân cũng não nề (Gái quê) MÙA XUÂN CHÍN Trong làn nắng ửng: khĩi mơ tan, Đơi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Sột soạt giĩ trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý. Bĩng xuân sang. Sĩng cỏ xanh tƣơi gợn tới trời. Ba cơ thơn nữ hát trên đồi; - Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, Cĩ kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi Tiếng ca vắt vẻo lƣng chừng núi, Hổn hển nhƣ lời của nƣớc mây Thầm thì với ai ngồi dƣới trúc, Nghe ra ý vị và thơ ngây Khách xa gặp lúc mùa xuân chín, Lịng trí bâng khuâng sực nhớ làng. - Chị ấy năm nay cịn gánh thĩc Dọc bờ sơng trắng nắng chang chang? (Hƣơng thơm) | HÀN MẶC TỬ 202
- THI NHÂN VIỆT NAM TRƢỜNG TƢƠNG TƢ Hiểu gì khơng, ý nghĩa của trời thơ? Của hƣơng hoa trong trăng lờn lợt bảy, Của lời câm, muơn vì sao áy náy, Hiểu gì khơng, em hỡi! Hiểu gì khơng? Anh ngâm nga để mở rộng của lịng Cho trăng xuân tràn trề say chới với, Cho nắng hƣờng vấn vƣơng muơn ngàn sợi; Cho em buồn, trời đất ứa sƣơng khuya, Để em buồn, để em nghiệm cho ra Cái gì kết lại mới thành tinh tú? Và uyên ƣơng bởi đâu khơng đồn tụ? Và tình duyên sao lại dở dang chi? Và vì đâu, giĩ gọi giật lời đi? - Lời đi qua, một chiều trong kẽ lá, Một mùi thơm mới nửa chừng sa ngã, Anh nếm rồi, ý vị của làn mơ? * Lệ Kiều ơi! Em cịn giữ ý thơ Trong đơi mắt mùa thu trong leo lẻo? Ở xa xơi lặng nhìn anh khơ héo, Bên kia trời, hãy chụp cả hồn anh. Hãy van lơn ở dƣới chân Bàn Thành, Cho yêu ma muơn năm vùng trở dậy, Náo khơng gian cho lửa lịng bùng cháy, Và để cho kinh động đến ngƣời tiên, Đang say sƣa ở thế giới Hão huyền, | HÀN MẶC TỬ 203
- THI NHÂN VIỆT NAM Đang trửng giỡn ở bên sơng Ngân biếc Anh rõ trƣớc sẽ cĩ ngày cách biệt, Ngĩ nhƣ gần nhƣng vẫn thiệt xa khơi! Lau mắt đi đừng cho lệ đầy vơi. Hãy mƣờng tƣợng một ngƣời thơ đang sống Trong im lìm lẻ loi trong dãy động, - Cũng hình nhƣ, em hỡi, động Huyền Khơng! Mà đêm nghe tiếng khĩc ở đáy lịng, Ở trong phổi, trong tim, trong hồn nữa. Em cố nghĩ ra một chiều vàng úa, Lá trên cành héo hắt, giĩ ngừng ru: “Một khối tình nức nở giữa âm u, “Một hồn đau rã lần theo hƣơng khĩi, “Một bài thơ cháy tan trong nắng dọi, “Một lời run hoi hĩp giữa khơng trung, “Cả niềm yêu, ý nhớ, cả một vùng, “Hĩa thành vũng máu đào trong ác lặn”. Đấy là tất cả ngƣời anh tiêu tán Cùng Trăng Sao bàng bạc xứ Say mơ Cùng tình em tha thiết nhƣ văn thơ Ràng rịt mãi cho đến ngày tận thế. (Mật đắng) AVE MARIA Nhƣ song lộc triều nguyên: ơn phƣớc cả, Dâng cao dần thần nhạc sáng hơn trăng, | HÀN MẶC TỬ 204
- THI NHÂN VIỆT NAM Thơm tho bay cho đến cõi Thiên Đàng, Huyền diệu biến thành muốn kinh trọng thể. Và Tổng Lãnh Thiên Thần quỳ lạy MẸ. Tung hơ câu đƣờng hạ ngớp châu sa. Hƣơng xơng lên lời ca ngợi sum hịa; Trí miêu duệ của muơn vì rất thánh. MARIA! Linh hồn tơi ớn lạnh. Run nhƣ run thần tử thấy long nhan, Run nhƣ run hơi thở chạm tơ vàng, Nhƣng lịng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến. Lạy Bà là Đấng tinh truyền thanh vẹn Giàu nhân đức, giàu muốn hộc từ bi, Cho tơi dâng lời cảm tạ phị nguy Cơn lâm luỵ vừa trải qua dƣới thế. Tơi cảm động rƣng rƣng hai dịng lệ: Dịng thao thao bất tuyệt của nguồn thơ. Bút tơi reo nhƣ châu ngọc đền vua; Trí tơi hớp bao nhiêu là khí vị Và trong miệng ngậm câu ca huyền bí, Và trong tay nắm một nạm hào quang Tơi no rồi, ơn võ lộ hịa chan. Tâu lạy Bà, Bà rất nhiều phép lạ, Ngọc Nhƣ ý vơ tri cịn biết cả, Huống chi tơi là Thánh thể kết tinh. | HÀN MẶC TỬ 205
- THI NHÂN VIỆT NAM Tơi ƣa nhìn Bắc Đẩu rạng bình minh, Chiêu cùng hết khắp ba ngàn thế giới Sáng nhiều quá cho thanh âm vời vợi, Thơm dƣờng bao cho miệng lƣỡi khơng khen. Hỡi Sứ thần Thiên Chúa Gabriel Khi Ngƣời xuống truyền tin cho Thánh Nữ, Ngƣời cĩ nghe xơn xao muơn tinh tú? Ngƣời cĩ nghe náo động cả muơn trời? Ngƣời cĩ nghe thơ mầu nhiệm ra đời Để ca tụng, - bằng hoa hƣơng sáng láng, Bằng tràng hạt, bằng Sao Mai chiếu rạng Một đêm xuân là rất đỗi anh linh? Đây rồi! Đây rồi! Chuỗi ngọc vàng kinh, Thơ cầu nguyện là thơ quân tử ý Trƣợng phu lời và tơng đồ triết lý, Là Nguồn Trăng yêu mến Nữ Đồng Trinh, Là Nguồn Đau chầu luỵ Nữ Đồng Trinh Cho tơi tháp hai hàng cây bạch lạp, Khĩi nghiêm trang sẻ dâng lên tràn ngập Cả hàn giang, cả màu sắc thiên khơng, Lút trí khơn và ám ảnh hƣơng lịng Cho sốt sắng, cho đê mê nguyền ƣớc Tấu lạy Bà, lạy Bà đầy ơn phƣớc, | HÀN MẶC TỬ 206
- THI NHÂN VIỆT NAM Cho tình tơi nguyên vẹn tợ trăng rằm, Thơ trong trắng nhƣ một khối băng tâm Luơn luơn reo trong hồn, trong mạch máu; Cho vỡ lở cả muốn ngàn tinh đẩu, Cho đê mê âm nhạc và thanh hƣơng Chìm hay tên ngọc, đá biết tuổi vàng, Lịng vua chúa cũng nhƣ lịng lê thứ Sẽ ngây ngất bởi chƣng thơ đầy ứ Nguồn thiêng liêng yêu chuộng MẸ SẦU BI. Phƣợng Trì! Phƣợng Trì! Phƣợng Trì! Phƣợng Trì! Thơ tơi bay suốt một đời chƣa thấu Hồn tơi bay đến bao giờ mới đậu Trên Triều thiên ngời chĩi vạn hào quang? (Xuân nhƣ ý) ĐÊM XUÂN CẦU NGUYỆ N Tặng cả và thiên hạ Trời hơm nay bình an nhƣ nguyệt bạch, Đƣơng trăng xa, ánh sáng tuyệt vời bay Đây là hƣơng quý trọng thấm trong mây Ngời phép lạ của đức tin kiều diễm:1 Câu tán tạ, khơng khen long cả phiếm: 1 Nhơn đức trọn tình (Lời chú Hàn Mặc Tử). | HÀN MẶC TỬ 207
- THI NHÂN VIỆT NAM Bút Xuân Thu1 mùa nhạc đến vừa khi Khắp mƣời phƣơng điềm lạ trổ hồi nghi: Cây bằng gấm và lịng sơng tồn ngọc; Và đầu hơm một vì sao liền mọc Ở phƣơng Nam mầu nhiệm biết ngần mơ! Vì muơn kinh dồn dập cõi thơm tho, Thêm nghĩa lý sáng trƣng nhƣ thất bảo. Ta chấp hai tay lạy quỳ hồn hảo, Ngửa trơng cao, cầu nguyện trắng khơng gian2 Để vừa dâng, vừa hiệp bốn mùa xuân Nở một lƣợt giầu sang hơn Thƣợng Đế. * Đã no nê, đã bƣa rồi, thế hệ Của phƣờng trai mê mẩn khí thanh cao; Phƣợng hồng bay trong một tối trăng sao Mà ánh sáng khơng cịn khiêm nhƣợng nữa; Đƣơng cầu xin, ọc thơ ra dƣờng sữa. Ta ngất đi trong khối lạc của hồn đau Trên chín tầng diêu động cả trân châu Dƣờng sống lại muơn ngàn hoa phẩm tiết, Nhịp song đơi: này đây, cung cầm nguyệt Ƣớp lời thơ thành phƣớc lộc của đƣờng tu. Tơi van lơn, thầm nguyện chúa Giê Su Ban ơn, xuống cho mùa xuân hơn phối, Xin tha thứ những câu thơ tội lỗi 1 Ý nĩi sự ngợi khen cĩ văn vẻ nhƣ trong sách Xuân Thu (Lời chú Hàn Mặc Tử). 2 Ý nĩi cầu nguyện rất sốt sắng cảm động đƣợc mầu sắc của khơng gian, biến từ sắc xám hay đen ra trắng, hoặc nĩi cầu nguyện từ đầu hơm tới sang bạch. | HÀN MẶC TỬ 208
- THI NHÂN VIỆT NAM Của bàn tay thi sĩ kẻ lên trăng: Trong bao đêm xao xuyến vũng sơng Hằng. (Xuân nhƣ ý) RA ĐỜI Một chiều xanh, - một chiều xanh huyền hoặc, Sáng bao la vây lút cõi thiên khơng; Xuất thế gian1 chƣa cĩ tại trong lịng, Muơn ý tứ say chìm nơi Bát Giác, Hƣơng cám dỗ mê ngƣời trong khối lạc. A!A!A! Thiên địa đắm hoang mang - Là đƣơng khi thờ lạy cả Thiên Đàng, Bay những tiếng: tung hơ Thánh đức. Muơn thần phẩm trong lâng lâng chầu chực, Ánh hào quang chan chĩi ngất lƣu ly! Ơi, cao sang khơn ví trọng ai bì, Trên nƣớc cả cĩ vơ vàn châu báu. Trí rất ngớp, bởi chƣng xuân hồn hậu, Đã ra đời, theo lịnh của Ngơi Hai. Ơi thánh tai,2 thánh tai, và thánh tai! Cả trời bỗng nổi lên muơn điệu nhạc, 1 Phật giáo chia thế giới làm hai cõi: Thế gian và Xuất thế gian, tức là thế giới hữu hình và thế giới vơ vi, đây so sánh xuất thế gian với cõi thanh tịnh của long. (Lời chú của Hàn Mặc Tử). 2 Danh từ biểu lộ sự hoan hỉ và cung kình đối với Thiên chúa (Lời chú của Hàn Mặc Tử). | HÀN MẶC TỬ 209
- THI NHÂN VIỆT NAM Rất trọng vọng, rất thơm tho, man mác, Rất phƣơng phi1 trên hết cả anh hoa. Xuân ra đời! Điềm ngọc ấm nhƣ ngà, Thơ cĩ tuổi và chiêm bao cĩ tích, Và tâm tƣ cĩ một điều rất thích, Khơng nĩi ra vì sợ bớt say sƣa! - “Chàng ơi!2 Chàng ơi, sự lạ đêm qua! Mùa xuân tới, mà khơng ai biết cả ” (Xuân nhƣ ý) Chúng tơi cịn muốn trích ít bài nữa. Nhƣng Ơ. Quách Tấn, ngƣời giữ bản quyền thơ Hàn Mặc Tử, yêu cầu chúng tơi chỉ trích năm bài thơ trở xuống trong những tập chƣa in thành sách. 1 Tiếng nhạc trên Trời rất mầu nhiệm, hình dung đƣợc cả sự phƣơng phi. 2 Chàng đây là thi sĩ, khơng phải chàng của thiếp. | HÀN MẶC TỬ 210
- THI NHÂN VIỆT NAM CHẾ LAN VIÊN1 Sinh năm 1920. Quê ở Bình Định. Học trƣờng Quy Nhơn. Cĩ bằng thành chung. Đã đăng thơ: Tin vân, Tiểu thuyết thứ bảy, Phụ nữ, Trong khuê phịng, Ngƣời mới. Đã xuất bản: Điêu tàn (1937) Tơi cầm bút viết bài này thì văng vẳng bên tai tơi giọng ca Nam Bình đƣa sang từ nhà bên cạnh. Giọng ca âm thầm ai ốn, mỗi lần tơi nghe lại khiến lịng tơi bồn chồn, chân tay tơi rời rã. Cũng lạ! Bị chinh phục đến tiêu diệt mà cảm đƣợc lịng những kẻ đã diệt mình một cách sâu sắc nhƣ thế dễ chỉ cĩ dân tộc Chiêm Thành. Những nhạc cơng của chúng ta luơn luơn ca nỗi ốn hờn của họ. Bao nhiêu thi nhân của ta bị ám ảnh vì những nỗi buồn thƣơng của họ. Chúng ta lại cịn dành riêng cho họ một nhà thơ, để vì họ giải giùm những nơi uất ức bao nhiêu năm nhƣ nghẹn ngào trên núi sơng này. Vong linh đau khổ của nịi giống họ đã nhập vào Chế Lan Viên, cho nên, dầu khơng phải ngƣời họ Chế. Chế Lan Viên vẫn là một nhà thơ Chiêm Thành. Quyển Điêu tàn đã đột ngột xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam nhƣ một niềm kinh dị. 1 Chế Lan Viên khơng ƣng cho chúng tơi để tên thật và in ảnh của ngƣời. | CHẾ LAN VIÊN 211
- THI NHÂN VIỆT NAM Nĩ dựng lên một thế giới đầy sọ dừa, xƣơng máu, cùng yêu ma. Chỗ này một yêu tinh nghe tiếng trống cầm canh chợt nhớ nơi trần thế: Rồi lấy ra một khớp xƣơng rợn trắng Nút bao dịng huyết đẫm khí tanh hơi Tìm những “miếng trần gian” trong tủy cạn Rồi say sƣa, vang cất tiếng reo cƣời. Chỗ kia trong Những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn Muơn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi. Đừng ai hỏi những cảnh ấy thi nhân đã thấy ở đâu. “Hãy nghĩ lại! Cĩ ai thấy, vào buổi chiều, rụng ở trong tháp một viên gạch cũ mà hỏi: Viên gach ấy chu vi, diện tích bao nhiêu? Đúc từ đời nào? ở đâu? Bởi ai? Và để làm gì?”. Chế Lan Viên đã trả lời trƣớc nhƣ vậy1. Ta hãy theo dõi thi nhân trong cái thế giới lạ lùng ấy. Cĩ khi ngồi trên bờ bể Chế Lan Viên bàng hồng tự hỏi: Ai kêu ta trong cùng thẳm. Hƣ vơ? Ai réo gọi trong muơn sao chới với? Và say sƣa nhớ lại một đêm ái ân giữa khoảng các vì sao. Cĩ khi Chế Lan Viên điên cuồng. ngụp lặn trong ánh vàng hỗn độn Cho trăng ghì, trăng riết cả làn da. Lại cĩ khi lặng đứng suốt đêm với một bĩng ma hay nhìn một chiếc quan tài đi qua mà tƣởng thi thể của mình nằm trong đĩ. Hẳn cĩ ngƣời sẽ nghĩ: Thơ muốn hay chứ muốn lạ thì khĩ gì, cứ nĩi trái sự thực là đƣợc. Sự thực ngƣời ta ngủ trong nhà thì cứ việc nĩi ngƣời ta ngủ trong sao. Đừng tƣởng! Lịch sử văn học cổ kim khơng từng cĩ hai Bồ Tùng Linh. Nĩi láo đành dễ, nhƣng cái khĩ là nĩi láo mà vẫn khơng biết mình nĩi láo; cái khĩ là cĩ thể tin lời mình nĩi. Mà Chế Lan Viên tin lời mình ghê lắm. Khi Chế Lan Viên kêu: Hồn của ai trú ẩn ở đầu ta? 1 Trong tựa Điêu tàn. | CHẾ LAN VIÊN 212
- THI NHÂN VIỆT NAM Ý của ai trào lên trong đáy ĩc, Để bay đi theo tiếng cƣời, điệu khĩc? tơi nhất quyết thi nhân thành thực hơn tơi khi tơi nĩi, chẳng hạn: tờ giấy kia trắng. Vì câu nĩi của tơi là một câu nĩi hờ hững, xuất tự tri giác, tơi vẫn tin mà khơng để vào đĩ tất cả lịng tin. Chế Lan Viên, trái lại, đã để trong tiếng kêu hốt hoảng của mình, một lịng tin đau đớn. Ấy, ngƣời thƣờng cĩ những nỗi đau đớn tựa hồ vơ lý vậy mà thành thực vơ cùng. Trong một năm ngƣời ƣa nhất mùa thu. Mùa thu qua đƣợc một ngày ngƣời đã nhớ: Ơ hay, tơi lại nhớ thu rồi Mùa thu rớm máu rơi từng chút Trong lá bàng thu đỏ ngập trời. Đƣờng về thu trƣớc xa lăm lắm, Mà kẻ đi về chỉ một tơi! Nếu một nỗi đau đớn nhƣ thế mà cĩ thể cho là bày đặt thì ở đời này khơng cịn gì tin đƣợc nữa. Một lần khác, cũng nhớ thu, Chế Lan Viên than: Chao ơi! Mong nhớ! Ơi mong nhớ Một cánh chim thu lạc cuối ngàn. Nỗi mong nhớ ở đây đã thành thực, mà cịn to lớn lạ lùng. Con ngƣời này quả là ngƣời của trời đất, của bốn phƣơng, khơng thể lấy kích tấc thƣờng mà hịng đo đƣợc. Ƣa mùa thu, ghét mùa xuân, trong khi xuân đến, ngƣời muốn: Ai đâu trở lại mùa thu trƣớc Nhặt lấy cho tơi những lá vàng? Với của hoa tƣơi muơn cánh rã Về đây, đem chắn nẻo xuân sang! Ý muốn ngơng cuồng, ngộ nghĩnh? Đã đành. Trong cái ngộ nghĩnh, cái ngơng cuồng ấy tơi cịn thấy một sức mạnh phi thƣờng. Chắn một luồng giĩ, chắn một dịng sơng, chắn những đợt sĩng hung hăng ngồi biển cả, nhƣng mà “chắn nẻo xuân sang”. Sao ngƣời ta lại cĩ thể nghĩ đƣợc nhƣ thế. | CHẾ LAN VIÊN 213
- THI NHÂN VIỆT NAM Ngày xƣa Tản Đà chán nản than: Đêm thu buồn lắm, chị Hằng đi! Trần giới em nay chán nữa rồi! Cái chán nản hiền lành của ngƣời Việt. Nĩ khác xa cái chán nản gay gắt, não nùng của Chế Lan Viên: Trời hỡi trời! Hơm nay ta chán hết Những sắc màu hình ảnh của Trần gian. Cĩ phải một cái chán nản mạnh mẽ và to lớn dị thƣờng! Ngƣời ta chán đời ngƣời ta cầu một mảnh vƣờn hay hơn một chút nữa, một khoảnh núi để sống riêng. Chế Lan Viên trốn đời lại nghĩ đến một vì sao! Hãy cho tơi một tinh cầu giá lạnh, Một vì sao trơ trọi cuối trời xa! Để nơi ấy tháng ngày tơi lẩn tránh Những ƣu phiền, đau khổ với buồn lo1. Cái mạnh mẽ, cái to lớn ấy, những đau thƣơng vơ lý mà da diết ấy, cái thế giới lạ lùng và rùng rợn ấy, ai cĩ ngờ ở trong tâm trí một cậu bé mƣời lăm mƣời sáu tuổi. Cậu bé ấy đã khiến bao ngƣời ngạc nhiên. Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỷ hai mƣơi, nĩ đứng sững nhƣ một cái tháp Chàm, chắc chắn và lẻ loi, bí mật. Chúng ta, ngƣời đồng bằng, thỉnh thoảng trèo lên đĩ - cĩ ngƣời trèo đuối sức mà trầm ngâm và xem gạch rụng, nghe tiếng rên rỉ của ma Hời cũng hay, nhƣng triền miên trong đĩ khơng nên. Riêng tơi, mỗi lần nấn ná trên ấy quá lâu, đầu tơi chống váng: khơng cịn biết mình là ngƣời hay là ma. Và tơi sung sƣớng biết bao lúc thốt giấc mơ dữ dội, tơi trở xuống, thấy chim vẫn kêu, ngƣời ta vẫn hát, cuộc đời vẫn bình dị, trời xa vẫn trong xanh. Octobre 1941 1 Tiếc câu sau này khơng xứng với mấy câu trên. | CHẾ LAN VIÊN 214
- THI NHÂN VIỆT NAM THỜI OANH LIỆT1 Rồi cả một thời xƣa tan tác đổ. Dấu oai linh hùng vĩ thấy gì đâu? Thời gian chảy, đá mịn, sơng núi lở, Lịng ta luơn cịn mãi vết thƣơng đau! Vẻ rực rỡ đã tàn bao năm trƣớc, Bao năm sau cịn dội tiếng kêu thƣơng, Sầu hận cũ tim ta ai biết đƣợc. Ngƣời vui tƣơi ta mãi mãi căm hờn, Ta đã khĩc, ta vẫn cịn phải khĩc Cả thời xƣa cho đến cả thời nay. Ngày phải tàn, ánh dƣơng rồi phải tắt, Vỡ tan đi, đến cả quả cầu đây. Mà thân ta phải nào khơng tiêu diệt Ở trần gian và ở trí muơn ngƣời? Trong những lúc cịn xa xơi cõi chết, Cứ khĩc đi những cảnh ở chân trời. Lệ ta nay muơn năm sau cịn an ủi Linh hồn ta ở tận đáy mồ sâu. Ngƣời thuở khác biết ai cịn tƣởng tới2 1 Bài này khơng biết đăng ở báo nào, chúng tơi chỉ chép theo trí nhớ, hai câu cuối quên mất. 2 Theo bản “Thơ mới 1932-1945. Tác giả và Tác phẩm”. NXB Hội Nhà văn, 1999, trang 840 cĩ thêm hai câu cuối này. | CHẾ LAN VIÊN 215
- THI NHÂN VIỆT NAM Mà thầm gieo cho những đĩa hoa sầu. TA Sao ở đâu mọc lên trong đáy giếng Lạnh nhƣ hồn u tơi vạn yêu ma? Hồn của ai trú ẩn ở đầu ta? Ý của ai trào lên trong đáy ĩc, Để bay đi theo tiếng cƣời điệu khĩc? Biết làm sao giữ mãi đƣợc ta đây, Thịt cứ chìu theo thú dục chua cay! Máu cứ chảy theo nhịp cuồng kẻ khác! Mắt theo dõi Tinh hoa bao màu sắc! Đau đớn thay cho đến cả linh hồn Cứ bay tìm Chán Nản với U Buồn. Để đỉnh sọ trơ vơ tràn ý thịt! Mà phải đâu đã đến ngày tiêu diệt! Ai bảo giùm: Ta cĩ cĩ Ta khơng? (Điêu tàn) TRÊN ĐƢỜNG VỀ | CHẾ LAN VIÊN 216
- THI NHÂN VIỆT NAM Một ngày biếc thị thành ta rời bỏ Quay về xem non nƣớc giống dân Hời: Đây, những Tháp gầy mịn vì mong đợi, Những đền xƣa đổ nát dƣới Thời gian, Những sơng vắng lê mình trong bĩng tối, Những tƣợng Chàm lở lĩi rỉ rên than. Đây, những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn, Muơn Ma Hời sờ soạng dắt nhau đi; Những rừng thẳm bĩng chiều lan hỗn độn, Lừng hƣơng đƣa, rộn rã tiếng từ quy! Đây, chiến địa nơi đơi bên giao trận, Muơn cơ hồn tử sĩ hét gầm vang. Máu Chàm cuộn tháng ngày niềm ốn hận, Xƣơng Chàm luơn rào rạt nỗi căm hờn. Đây, những cảnh thái bình trong Chiêm quốc, Những cơ thơn vàng nhuộm nắng chiều tƣơi; Những Chiêm nữ nhẹ nhàng quay lại ấp, Áo hồng nâu phủ phất xõa lời vui. Đây, điện các huy hồng trong ánh nắng, Những đền đài tuyệt mỹ dƣới trời xanh. Đây, chiến thuyền nằm mơ trên sơng lặng; Bầy voi thiêng trầm mặc dạo bên thành. | CHẾ LAN VIÊN 217
- THI NHÂN VIỆT NAM Đây, trong ánh ngọc lƣu ly mờ ảo Vua quan Chiêm say đắm thịt da ngà, Những Chiêm nữ, mơ màng trong tiếng sáo, Cùng nhịp nhàng, uyển chuyển uốn mình hoa. Những cảnh ấy trên Đƣờng về ta đã gặp, Tháng ngày qua ám ảnh mãi khơng thơi. Và từ đấy lịng ta luơn tràn ngập Nỗi buồn thƣơng nhớ tiếc giống dân Hịi. (Điêu tàn) ĐÊM TÀN Ta cùng Nàng nhìn nhau khơng tiếng nĩi, Sợ lời than lay đổ cả đêm sâu, Đơi hơi thở tìm nhau trong bĩng tối, Đĩi linh hồn chìm đắm bể u Sầu. “- Chiêm nƣơng đi, cƣời lên đi em hỡi! Cho lịng anh quên một chút buồn lo! Nhìn chi em chân trời xa vịi vọi, Nhớ chi em sầu hận nƣớc Chàm ta? Này, em trơng một vì sao đang rụng; Hãy nghiêng mình mà tránh đi, nghe em! | CHẾ LAN VIÊN 218
- THI NHÂN VIỆT NAM Chắc cĩ lẽ linh hồn ta lay động Khi vội vàng trở lại nƣớc non Chiêm”. Lời chƣa dứt, bĩng đêm đã vụt biến! Tình chƣa nồng, đã sắp phải phơi pha! Trên trần gian vừng ơ kia đã đến Gỡ hồn nàng ra khỏi mảnh hồn ta. (Điêu tàn) HỒN TRƠI Cơ em ơi! Đàng xa cây tỏa bĩng, Sao cơ khơng ngồi đợi giấc mơ nồng? Đến chi đây, cho thân cơ rung động Lớp hồn tơi êm rải khắp trời trong? Đừng hát nữa! Tiếng cơ trong trẻo quá Khiến hồn tơi tê liệt khĩ bay cao. Này, im đi, nhìn xem, trong kẽ lá. Một mặt trời giả dáng một vì sao. Ngồi xa xa, khơng, ngồi xa xa nữa, Thấy khơng cơ, ánh nắng kéo hồn tơi? Đến những chốn êm đềm nhƣ hơi thở, Nồng tƣơi nhƣ suối máu lúc ban mai. Cơ bảo: Hồn cĩ hay khơng trở lại Một khi trơi vào giữa giấc mơ cuồng? | CHẾ LAN VIÊN 219
- THI NHÂN VIỆT NAM - Cơ, cơ ơi, hồn tơi trở lại Với lịng điên, ý chết, Với tình thƣơng. (Đêm tàn) THU Chao ơi! Thu đã tới rồi sao? Thu trƣớc vừa qua mới độ nào! Mới độ nào đây, hoa rạn vỡ, Nắng hồng chồng ấp dãy bàng cao. Cũng mới độ nào trong giĩ lộng, Nến lau bừng sáng núi lau xanh, Bƣớm vàng nhẹ nhẹ bay ngang bĩng Những khĩm tre cao rũ trƣớc thành. Thu đến đây! Chừ, mới nĩi răng? Chừ đây, buồn giận biết sao ngăn? Tìm cho những cánh hoa đang rụng, Tơi kiếm trong hoa chút sắc tàn! Tìm cho những nét thơ xanh cũ Trong những tờ thơ lá võ vàng! Ai nỡ tìm mơi ngƣời quả phụ Sắc mầu hầu nhạt cả tình xuân? Trời ơi! Chán Nản đƣơng vây phủ | CHẾ LAN VIÊN 220
- THI NHÂN VIỆT NAM Ý tƣởng hồn tơi giữa cõi Tang! (Đêm tàn) XUÂN Tơi cĩ chờ đâu, cĩ đợi đâu; Đem chi xuân lại gợi thêm sầu? - Với tơi tất cả nhƣ vơ nghĩa, Tất cả khơng ngồi nghĩa khổ đau! Ai đâu trả lại mùa thu trƣớc Nhặt lấy cho tơi những lá vàng? Với của hoa tƣơi, muơn cánh rã, Về đây, đem chắn nẻo xuân sang! Ai biết hồn tơi say mộng ảo Ý thu gĩp lại cản tình xuân? Cĩ một ngƣời nghèo khơng biết Tết Mang lì chiếc áo độ thu tàn! Cĩ đứa trẻ thơ khơng biết khĩc Vơ tình bỗng nĩi tiếng cƣời ran! Chao ơi! Mong nhớ! Ơi mong nhớ | CHẾ LAN VIÊN 221
- THI NHÂN VIỆT NAM Một cánh chim thu lạc cuối ngàn. (Đêm tàn) Ngồi Điêu tàn, Chế Lan Viên cịn cĩ đăng ít nhiều thơ ở các báo, xin trích ra đây một bài nhẹ nhàng và kín đáo, khác hẳn các bài khác cùng một tác giả. TRƢA ĐƠN GIẢN Trƣa quanh vƣờn. Và võng giĩ an lành Ngang phịng trƣa, ru hồn nhẹ cây xanh. Trƣa quanh gốc. Và mộng hiền của bĩng Bỗng run theo lá run theo nhịp võng. Trƣa lên trời. Và xanh thẳm, bầu trời, Bỗng mê ly, nằm thấy, trắng, mây trơi Trƣa! Một ít trƣa, lạc vào lăng tẩm Nhập làm hồn những tƣợng xƣa u thảm. Trƣa, theo tàu, bƣớc xuống những sân ga Dựng buồm lên xa gửi đến Muơn Xa. Đầy trƣa hiện hình trong căn trƣờng nhỏ Đƣa tay lên thoa những hàng kính vỡ. Trƣa gọi kêu, nâng ngực giĩ lên trời: Bên vú trái trịn, lá bỗng run mơi, * Tiếng ai ca, buồn theo song cửa sổ: - “Nâng khơng gian trƣa đặt giữa lịng ngƣời‟'. (Ngƣời mới) | CHẾ LAN VIÊN 222
- THI NHÂN VIỆT NAM BÍCH KHÊ Chính tên là Lê Quang Lƣơng. Quê quán: Thu Xà (Quảng Ngãi). Đã đăng thơ: Tiếng dân, Tiểu thuyết thứ năm, Ngƣời mới, (ký Lê Mộng Thu hoặc Bích Khê). Đã xuất bản: Tinh huyết (1939) Tơi đã gặp trong Tinh huyết những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam: Ơ! Hay buồn vƣơng cây ngơ đồng Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mơng. hay mấy câu này trong bài “Tranh lõa thể”: Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố Nữ, Ơ tiên nƣơng! Nàng lại ngự nơi này? Nàng ở mơ? Xiêm áo bỏ đâu đây? Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm. Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm? Nàng là hƣơng hay nhan sắc lên hƣơng? Mắt ngời châu rung ánh sĩng nghê thƣờng; Lệ tích lại sắp tuơn hàng đũa ngọc. Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tĩc, Vài chút trăng say đọng ở làn mơi. Mấy câu ấy đã đƣợc Hàn Mặc Tử phẩm bình bằng những lời xứng đáng; “Thi sĩ Bích Khê là ngƣời cĩ đơi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nhìn, vào thực tế” thi sự thực sẽ thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xơ sang địa hạt huyền diệu Ở “Tranh lõa thế”, sự trần truồng dâm đãng đã nhƣờng lại cho ý vị nên thơ của hƣơng, của nhạc, của trăng, của tuyết. Quả nhiên là một sự khơng khen, thanh tao quá đến ngọt lịm cả ngƣời và cả thơ1. 1 Tựa Tinh huyết. | BÍCH KHÊ 223
- THI NHÂN VIỆT NAM Vừa bƣớc vào đã thấy vàng ngọc sáng ngời nhƣ thế, ai khơng tin đây là biệt thự một nhà triệu phú. Huống chi chủ nhân cịn nĩi: “Khơng, quý gì những vật mọn ấy! Kho tàng của tơi chính ở trong mấy phịng kia”1. Nhƣng tơi chƣa thể nĩi nhiều về Bích Khê. Tơi đã đọc khơng biết mấy chục lần bài Duy Tân2. Tơi thấy trong đĩ cĩ những câu thật đẹp. Nhƣng tơi khơng dám chắc bài thơ đã nĩi hết cùng tơi những nỗi niềm riêng của nĩ. Hình nhƣ vẫn cịn gì nữa Cịn các bài khác hoặc chƣa xem hoặc mới đọc cĩ đơi ba lần. Mà thơ Bích Khê, đọc đơi ba lần thì cũng nhƣ chƣa đọc. Novembre 1941 DUY TÂN Đƣờng kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới Của lời thơ lĩng đẹp. Hạt châu trong3 Hạt châu trong ngịi nhỏ giọt vơ lịng4 Tràn âm hƣởng nhƣ chiều thu sĩng nắng Trong vịm xanh. Màu cƣới màu, bình lặng, Cây phƣơng phi: chiếu sáng ngả sang mờ Vì hình dung những sắc mát, non, tơ, Nhƣ mặt trời lọc qua khĩm liễu, một Hồng hơn. Ơi đàn mơi, chim báu tới: Chữ biến hình ảnh mới, lúc trong ngâm, Chữ điêu khắc, tỉa nghệ thuật sầu câm, 1 Trong một bức thƣ gửi cho chúng tơi đề ngày 7-1-1941, Bích Khê nĩi rằng ba bài thơ ngƣời thích nhất là “Duy Tân”, “Nấm mộ Bích Khê”, Giờ trút linh hồn”. Trong một bức thƣ khác đề ngày 25-10-1941, Bích Khê lại nĩi ngƣời thích bài thơ “Xuân tƣợng trƣng” hơn cả. 2 Trích theo đây. 3 Mới sửa. Trên Ngƣời mới: “Của lời thơ lĩng đẹp. Tiếng ƣơm hƣơng. Tiếng ƣơm hƣơng hịa nhạc vận du dƣơng. 4 Nt. | BÍCH KHÊ 224
- THI NHÂN VIỆT NAM Đầy thẩm mỹ nhƣ một pho thần tƣợng. Lúc trong ngâm, giữa kho vàng mộng tƣởng, Múa song song khiêu vũ dƣới đêm hồng: (Những con cừu tim trẻ mƣớt nhƣ lơng Men da thịt lên làn sa lụa mỏng, Mỗi con cừu bốc lên men hy vọng ) Thơ nhịp nhàng ý nhị nhịp theo Thơ. Tơi cắn vào trái bổ vỏ xanh mơ, Tìm chất quý thơm tinh mùi khối lạc Bằng hơi mộng, trong hàm răng, tản mác Mộng? Thiên tài? - Trên hỗn độn khỏa thân Đẹp tỉ mỉ, hỡi Rung động truyền thần, Rịng âm nhạc của lịng trai ấp mái, Ngƣời họa diệu với thiên nhiên, ân ái Buồn, và Xanh trời. (Tơi trơi với bờ Êm biếc - khĩc với thu: lời úa ngơ Vàng Khi cách biệt - giữa hồn xây mộ - Tình hơm qua - dài hơm nay thƣơng nhớ, Im lặng nhìn bơng ý, lặng lờ lên Những sáng hình thanh khí ) Giữa mênh mơng. Đƣờng nhiếp ảnh, sắc khua màu - Tiếng thở, Hỡi Hội họa, đến muơn đời nức nở. Ta nhịp nhàng ý nhị nhịp theo Ta. Lởi nối lời bố thí lộc Tinh hoa Của Âm điệu, mơ màng run bẩy bẩy, | BÍCH KHÊ 225
- THI NHÂN VIỆT NAM Một hỗn độn đẹp xơ bồ say dậy Bằng cảm tình, bằng hình ảnh, yêu thƣơng, Và mới mẻ - trên viện cổ đơng phƣơng! (Ai cĩ nghe sức tiềm tàng bí mật?) Thơ lõa thể! - Giai nhân tuần trăng mật, Nữ thần ơi! Ta! Nơ lệ bên ngƣời! (Ngƣời mới) XUÂN TƢỢNG TRƢNG1 Hỡi Lời ca man đại. Điệu nhạc thở hơi rừng, - Đêm nay, xuân đã lại Thuần túy và tƣợng trƣng - Nâng lên núm vú đồi Sữa trăng nhi nhỉ giọt; Bay qua cụm liễu phơi Những cƣờm tay điểm hột Sƣơng. - Phất phơ lau lách, Khe uốn mình giai nhân: Đƣờng non khéo điêu khác Những dáng hình khỏa thân: Lụa mây nẩy vàng chạm, Tia ngọc bén màu ngân. 1 Chúng tơi trích bài này vì chiều theo lời yêu cầu của ơng Bích Khê. | BÍCH KHÊ 226
- THI NHÂN VIỆT NAM Chủ xuân đƣơng triển lãm! Lời ca nhƣ hạc theo Giĩ lên. (Tình múa reo Những điệu vàng châu báu, Đƣờng cĩ con chim báu Rỉa cánh trên ngai lịng) Xịe xịe màu lơng cơng, Vƣờn thơm khua sác mát: Rồng uốn vĩc tùng cong! Áo bạch mai khốt khốt; Mơi đào chờ khối lạc Hồn tơi nhƣ đỉnh hƣơng Bốc lên mình thánh giá! Ý xuân mát đến xƣơng Ngậm tuyết phun lã chã! (Ngƣời mới) | BÍCH KHÊ 227
- THI NHÂN VIỆT NAM J.LEIBA Chính tên là Lê Văn Bái. Sinh năm 1912 ở Yên Bái. Chánh quán: làng Nam Trực, phủ Nam Trực (Nam Định). Học trƣờng Bảo hộ Hà Nội đến năm thứ ba rồi bỏ đi theo một bọn giang hồ mại võ trĩt một năm, Sau về quê học chữ Hán. Năm 1935, đậu thánh chung, rồi vào ngạch thƣ ký tịa sứ Bắc Kỳ. Vì đau nặng, nên đƣợc phép nghỉ dài hạn. Đã viết giúp: Ngọ báo, Loa, Tin văn, L‟Annam nouveau. Tiểu thuyết thứ bảy, Ích hữu, Việt báo, Nam Cƣờng (ký Thanh Tùng Tử và sau J.Leiba). Thơ đăng báo Loa với một tên ký chẳng Việt Nam tí nào, thế mà vừa ra đời Leiba liền đƣợc ngƣời ta thích. Ngƣời ta thích những vần thơ cĩ giọng Đƣờng rõ rệt, mà lại nĩi đƣợc nỗi lịng riêng của ngƣời thời nay. Trong khuơn khổ xƣa, cái hƣơng vị mới ấy rất dễ say ngƣời. Thơ Leiba ra đời (1934) giữa lúc ai nấy đều thấy mình nhƣ trẻ lại. Các nhà thơ đƣơng thời, Thế Lữ, Đơng Hồ, Thái Can, kẻ trƣớc ngƣời sau, đều tả bằng những nét âu yếm nỗi lịng của ngƣời thiếu nữ lúc mới bén tình yêu. Nhƣng khơng ai nĩi đƣợc đầy đủ nhƣ tác giả bài “Năm qua”1 những giai đoạn của một cuộc yêu đƣơng nhĩm lên từ hồi tĩc cịn bỏ xõa. ít ai nĩi đƣợc nhƣ Leiba những vui buồn của ngƣời xuân nữ. Những câu nhƣ: Hoa tặng vừa tàn bơng thƣợc dƣợc, Tìm chàng bỗng vắng, bĩng chàng xa hay là: Sầu đối gƣơng loan, bĩng lạ ngƣời, Chàng khơng lại nữa, đẹp cùng ai? cĩ thể để ngang với những câu tuyệt hay trong thơ cổ. Hồi ấy là hồi đẹp nhất trong đời thơ Leiba, về sau thơ Leiba khơng đƣợc hồn nhiên nhƣ thế nữa. Khơng rõ những gì đã đến trong đời thi nhân, nhƣng lời thơ 1 Trích theo đây. | J.LEIBA 228



