Tâm linh và suy nghĩ (Phần 2)

pdf 127 trang ngocly 40 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tâm linh và suy nghĩ (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdftam_linh_va_suy_nghi_phan_2.pdf

Nội dung text: Tâm linh và suy nghĩ (Phần 2)

  1. XII. CON NGƯỜI BẢN LĨNH, HIỂU BIẾT, TỰ TIN Khó có thể nói thế nào là bản lĩnh, hiểu biết trước bức màn bí mật, huyền bí của Tâm linh và sự mênh mông, diệu kỳ của Khoa học. Ai cũng có lý đúng khi đi theo thiên hướng, ý thích và thực hành công việc của mình. Không phải dễ dàng bảo người duy tâm, mê tín dị đoan không tin vào tâm linh, thánh thần, ma quỷ. Cũng không thể bắt nhà khoa học và người không duy tâm đi vào con đường mê tín dị đoan. Thế thì cái gì cũng vừa vừa, phai phải tương đối được chăng? Người tin vào tâm linh cũng có bản lĩnh và hiểu biết tâm linh, người theo khoa học cũng có hiểu biết và bản lĩnh khoa học. Ai theo hướng nào thì đi theo hướng ấy. Người cứ hầu theo giá đồng, giá bóng, đổ tiền ra mua giấy tiền, vàng, mã về cúng rồi đốt vẫn thoải mái tinh thần. Người cứ bỏ tiền ra mà sách vở, nghiên cứu công trình khoa học cho thành công cũng thấy rất vui. Có ai bắt ai phải làm như mình đâu và cũng có ai nghe ai đâu, việc ai người ấy làm, cứ tự tin, cứ thoải mái như thế, vẫn làm ăn, vẫn sinh sống, chắc gì ai hơn ai? Thế mới có chuyện người này bảo người kia là chẳng biết cái gì, “Có thờ, có thiêng có kiêng có lành. Liệu hồn có ngày đấy!”. Người kia thì: “Ôi dào, chỉ mê tín dị đoan, mất thời gian, tốn tiền của, đồng bóng linh tinh. Chẳng làm gì cũng có sao đâu!”. Cứ thế, suốt đời này qua đời khác tranh luận vẫn thế thôi. Kết cục bảo, cái gì cũng có “lòng tin”, có “khoa học” của nó và đó là quyền tự do của mỗi con người! Ai thích cúng bái, tử vi, bói toán, bát quái, phong thủy thì cứ mời thầy cúng về nhà. Ai vô thần thì không cần quan tâm cái gì. Ai yêu thích sách vở thì tìm đọc, nghiên cứu sách vở. Ai yêu khoa học thì sáng tạo, phát minh Trên thực tế từng có chuyện cứ mệnh danh là “tâm linh”, đồng bóng thì quyên góp rất nhanh được rất nhiều tiền, có người sẵn sàng cúng tiến hàng chục triệu đồng không đắn đo, do dự. Thế nhưng nói đến đóng góp xây dựng trường học, trạm xá, cầu, đường phục vụ dân sinh thì thật khó khăn, thu mãi không đủ tiền, có khi công trình
  2. đành bỏ dở. Tuỳ theo nhận thức, hiểu biết và bản lĩnh của mỗi cá nhân mà tự tin hay không tự tin, làm hay không làm cái gì. Ai theo tâm linh thì đặt niềm tin vào tín ngưỡng. Ai mê tín dị đoan thì suy diễn và thần thánh hoá lên. Ai duy vật biện chứng khoa học thì mọi việc là bình thường và chỉ là khoa học. Sự hiểu biết và quan niệm khác nhau sẽ hướng theo hành động khác nhau. Nghiêng về phía nào thái quá có khi lại trở thành cực đoan, bác bỏ. Vì vậy, bản lĩnh con người sẽ thử thách trước nhận thức, hiểu biết và thiên hướng của họ. Để giải quyết sự khác biệt giữa hai xu hướng chúng ta cần trả lời những câu hỏi: Có thần thánh, ma quỷ hay không? Những hiện tượng thực tế như thế là gì? Cần đối xử với mọi sự việc xảy ra như thế nào? Thần thánh, ma quỷ đều là khái niệm siêu hình, không có thực. Hoặc là thần thánh hoá đức tin về cái gì đó mà ngưỡng mộ như vĩ nhân, anh hùng, thiên tài trong thực tế. Người xưa hình tượng hoá thần thánh, ma quỷ từ siêu nhân, siêu hình mang tính giáo dục hướng thiện và ngăn ngừa tội ác. Khi những quan niệm, nếp sống, lối sống lâu dài trở thành phong tục, tập quán, lễ nghi, tín ngưỡng dân gian và một số trong đó được thần thánh hoá lên. Những hành động anh hùng, năng lực siêu phàm của vĩ nhân mang giá trị đạo đức lớn lao được tôn vinh và thần thánh hoá lên thành thánh thần trong tâm linh người đời. Những hiện tượng thiên nhiên kỳ thú hay bạo liệt cũng được con người thần thánh hoá trở nên kỳ diệu. Những khả năng ngoại cảm, giác quan thứ sáu, giấc mơ, chiêm bao, ảo giác kết hợp với tâm lý, bệnh tật ám ảnh vào sự sợ hãi mà bị ma quỷ hoá vào quan niệm của con người. Thời kỳ nguyên thủy xa xưa không có tôn giáo, đình chùa, nhà thờ, am miếu và không có khái niệm Phật, Thánh, ma quỷ. Quá trình vận động của cuộc sống con người nảy sinh mâu thuẫn lợi ích cá nhân, bệnh tật cùng với bạo liệt của thiên nhiên mà hình thành những cách thức giáo dục tính thiện và răn đe tội ác. Thế là những cá nhân tiêu biểu về đạo đức được tôn vinh lên, thần thánh hoá vào đời sống, xã hội. Điển hình như Đức Phật Thích Ca, Chúa Giêsu cùng những đồ đệ, tín đồ với sự ra đời Đạo Phật và Đạo Thiên Chúa. Đạo Hồi và các đạo khác trên thế giới cũng hình thành với những điển hình vị Thánh của họ. Vĩ nhân, lãnh tụ thiên tài, anh hùng dân tộc kiệt suất được người đời sùng tín tôn lên là những vị “Thánh”. Huyền
  3. thoại, truyền thuyết, thần linh cũng được đưa vào tâm linh giáo hoá điều thiện, diệt trừ tà ác. Tất cả những điển hình từ đời sống thực tế, bản thân họ bằng đạo đức, tài năng với hoài bão làm điều nhân nghĩa, có ích cho đời, cho nhân thế. Họ sống với đức tin và hành động bằng ý chí hướng thiện, có khi rất giản dị, không nghĩ rằng sẽ trở thành “Thánh, Thần” như người đời sau tôn vinh, thêu dệt. Nhưng vì uy tín lớn lao của những vĩ nhân, thiên tài, lãnh tụ, anh hùng mà các đồ đệ, học trò, rồi người đời sau và ngày nay là những người làm công tác tuyên huấn, tuyên truyền cứ thế tôn vinh, đề cao và thần thánh hoá về họ trở nên vĩ đại, siêu phàm mà thành biểu tượng tôn sùng, linh thiêng như những thánh, thần thành tín ngưỡng tâm linh trong cộng đồng người. Lịch sử loài người từ hàng trăm triệu năm xa xưa là đời sống hồng hoang, vô tư, không có áp lực của Thánh Thần, Ma Quỷ thì làm gì có khái niệm tâm linh. Các tôn giáo, đạo giáo chỉ phát nguồn từ trước Công Nguyên, cách đây mấy ngàn năm khi cộng đồng người có ý thức về nhu cầu giáo dục trong xã hội. Rồi từ có tiếng nói, ngôn ngữ, chữ viết đã tạo ra bước ngoặt lịch sử phát triển của loài người. Hình thức tôn giáo ra đời, các phong tục tập quán đúc kết, phát triển và tâm linh cũng hình thành theo. Đạo Phật được truyền vào Việt Nam từ khoảng thế kỷ thứ III đến thứ II TCN, sau này mới phát triển và những người theo đạo Phật mới theo tín ngưỡng đạo Phật. Đạo Thiên Chúa cũng chỉ mới có ở Việt Nam cách mấy trăm năm, từ khoảng thế kỷ XVI khi những người buôn phương Tây đặt chân lên vùng ven biển nước ta, một số người theo đạo Phật ở một số vùng chuyển sang theo đạo Công giáo và cũng bỏ luôn tín ngưỡng đạo Phật. Mọi sự kiện, hiện tượng tinh thần đều do con người nghĩ ra, tạo nên. Không có hoạt động, suy diễn của con người thì không có gì cả. Từ Hồng hoang Nguyên thủy vô tư, trong sáng, không có quan niệm thánh thần, ma quỷ, không chùa chiền, nhà thờ, đình, miếu, đến khi có ý thức, chịu sự tác động của thiên nhiên, bệnh tật và suy diễn dần dần hình thành khái niệm thần thánh, ma quỷ. Những quan niệm lành mạnh, tích cực, hướng thiện trở thành tín ngưỡng tốt đẹp, những tham vọng, ám ảnh tiêu cực, sợ hãi là mầm mống của mê tín dị đoan, ma quỷ. Điều chúng ta dễ nhận ra, ví như loài tinh tinh, vượn người, là loài động vật “gần với” con người nhất, nhưng do không có ý thức,
  4. tiếng nói và mặc dù sống trong hoang dã núi rừng, đêm tối, vẫn không bao giờ có “khái niệm” tâm linh, không có “ý thức” thần thánh, ma quỷ mà làm cho nó trở nên “sợ hãi”, “mê tín dị đoan”! Người thiếu hiểu biết và kém bản lĩnh thường bất lực trước sự huyền bí của thần quyền, sợ hãi trước siêu linh mà sinh mê tín dị đoan. Người hiểu biết, vững vàng thì coi là những hiện tượng bình thường, khoa học hay kỳ lạ để xử lý hay đón nhận thanh thản như là sự đương nhiên. Người theo đạo này thờ thần này, người theo đạo khác lại thờ thần khác. Theo đạo thờ cúng thì nhà nào cũng dành nơi thờ cúng gia tiên, thần thánh. Theo Phật thì tụng kinh niệm Phật ở chùa, chết đem chôn, quy “linh hồn” vào chùa theo Phật về cõi Niết Bàn, sau cải táng lấy hài cốt chôn sang chỗ khác. Theo Đức Chúa thì vào nhà thờ cầu kinh, xưng tội, rửa tội, chết chôn không cải táng nữa, “linh hồn” theo Chúa lên Thiên Đàng. Trong nhà người theo Công giáo không có bàn thờ cúng gia tiên. Trong nhà người theo thờ cúng không có hình ảnh Chúa. Chẳng có người đạo này làm theo đạo kia mà có sao đâu? Họ vẫn sống yên bình, người biết làm ăn bên nào cũng giầu, người tốt và kẻ bất lương thì bên nào chả có. Người bên nào bị bệnh cũng phải đến bệnh viện khám chữa mới khỏi, bệnh tật hiểm nghèo thì theo đạo gì cũng chết. Chưa nói đến bất đồng tôn giáo, sắc tộc gây ra chiến tranh liên miên, người chết vô kể, chùa chiền, nhà thờ bị bom đạn tàn phá, tượng Thánh, tượng Phật đổ vỡ tan tành, Cha cũng chết, Sư cũng thương vong mà có thần thánh nào linh thiêng ngăn lại được đâu. Như vậy, là do con người gây ra, làm nên nhân tâm hay tội ác chứ làm gì có ma quỷ, thánh thần. Có điều cần lưu ý rằng, người ta sinh ra đâu có thiên hướng, tâm lý và có môi trường giáo dục, học hành như nhau. Cho nên, người không có điều kiện tiếp xúc với tri thức học hành, hiểu biết hạn chế họ chỉ đơn giản làm theo những gì tác động, ám ảnh hoặc theo hội chứng số đông, kể cả bị “thôi miên” theo những tác động tâm linh, vô thức, trong đó có mê tín dị đoan. Còn khi tri thức, hiểu biết vượt lên tầm cao thì trước một hiện tượng, một vấn đề người ta hiểu ngay nó là cái gì. Vì thế, duy tâm, mê tín không thể phân biệt được mông muội và văn minh, khoa học cao siêu. Nhưng xã hội an bình, phát triển khoa học, văn minh thì tất cả ai cũng muốn được hưởng. Chẳng ai mong sống đời mông muội, lạc
  5. hậu, cổ xưa. Vậy ta tin vào đâu, vào cái gì? Phải chăng là tri thức hiểu biết, nhân tâm, bản lĩnh, lòng hướng thiện của con người cùng nhịp sống văn minh thời đại, sẽ là sự an bình, hạnh phúc và phát triển xã hội cho tất cả chúng ta.
  6. XIII. ANH HÙNG, THIÊN TÀI VÀ ĐỊA LINH NHÂN KIỆT Người xưa từng nói “địa linh nhân kiệt”, đất nước sản sinh nhân tài. Xét về lịch sử dân tộc, quốc gia minh chứng hùng hồn cho chân lý khoa học ấy. “Địa linh nhân kiệt” là hình tượng hoá về ý nghĩa đất linh thiêng tất sinh ra anh hùng, hào kiệt, được tổng kết để thành quan niệm tâm linh. “Thời thế tạo anh hùng” là hoàn cảnh, điều kiện xuất hiện anh hùng, thiên tài, lại mang logic khoa học. “Anh hùng làm nên lịch sử” là vĩ nhân, thiên tài làm rạng danh đất nước non sông. Các yếu tố con người, đất nước, gia đình, xã hội hợp thành hệ quả tất yếu vừa là tâm linh cũng vừa là khoa học cùng lúc thăng hoa. Con người khi sinh ra đã mang khí chất “tiên thiên” của trời đất, âm dương ngay từ bào thai trong lòng cha mẹ (ngày nay là di truyền gen, ADN), rồi do ăn uống tạo nên thể chất cộng với môi trường, giáo dục mà hình thành nên thiên hướng cuộc đời. Người có thể chất bẩm sinh thông minh, cùng với thiên hướng về sự hoạt động nào đó, sau này gặp điều kiện, hoàn cảnh phù hợp của xã hội sẽ đi theo và thành đạt cho sự nghiệp ấy. Các anh hùng kiệt xuất, danh nhân văn hoá, tướng tài, bác học đều có nguồn gốc của thiên thời, địa lợi, nhân hoà cùng những biến cố của lịch sử, xã hội và ý chí mà nên. Thực tiễn cho thấy rằng, bẩm sinh thông minh chỉ là cơ sở ban đầu, thông minh mà không dầy công kiên trì học hành, rèn luyện cũng khó thành công. Anh hùng, thiên tài chỉ xuất hiện ở những người đặc biệt thông thái, khao khát ước mơ, dũng cảm và hướng thiện. Tài năng xuất chúng với những sáng tạo diệu kỳ của họ nhiều khi làm cho người đời ngạc nhiên, coi như những thiên thần trong cổ tích. Cho nên trong một gia đình, dòng họ, quốc gia không phải ai cũng trở thành kiệt xuất, có kẻ còn hoang tưởng ngộ nhận thiên tài mà hành động dị thường, ngớ ngẩn, thậm chí đớn hèn, bất trị, hại dân, nổi loạn, phản quốc.
  7. Người thông minh sống trên đất nước có truyền thống văn hiến, thượng võ và yêu nước hàng ngàn năm hun đúc cho lòng kiên trung ái quốc, nên khi giặc giã ngoại xâm đã khơi dậy tinh thần quyết chiến và mưu lược thiên tài mà trở thành quân sư, tướng lĩnh, lãnh tụ tài ba, thu phục nhân tâm, đánh thắng kẻ thù. Hồn thiêng đất nước, núi sông cùng tư chất thông minh và thiên hướng của lòng yêu nước, quả cảm đã tạo dựng phẩm chất anh hùng cho con người làm nên lịch sử. Đất nước của lòng nhân nghĩa, thơ ca, dân ca trữ tình nuôi dưỡng tâm hồn con người qua nhiều thế hệ mà có được kho tàng ca dao, tục ngữ, dân ca và sản sinh những áng hùng văn “Nam quốc sơn hà Nam đế cư ”, “Bình Ngô đại cáo”, thiên tài Đại thi hào Nguyễn Du với thi phẩm Truyện Kiều bất hủ và “Di chúc” của chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho đất nước muôn đời. Lòng yêu nước, tinh thần lạc quan, tâm hồn lãng mạn cách mạng trong cuộc chiến tranh nhân dân gian khổ, trường kỳ đã hình thành đội ngũ nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ nổi tiếng và thần đồng thơ, với những tác phẩm sống mãi với thời gian, góp phần làm nên thiên anh hùng ca của dân tộc Việt Nam thế kỷ XX. Lịch sử Việt Nam là lịch sử anh hùng. Dân tộc Việt Nam là dân tộc giàu lòng nhân nghĩa. Trải qua hàng ngàn năm, từ thời đại Hùng Vương dựng nước cho đến thời đại Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam đã tiến hành biết bao cuộc trường chinh gian khổ, vinh quang đấu tranh dựng nước và giữ nước. Lịch sử đã chứng minh các thế hệ người Việt Nam, từ đời này qua đời khác, thế hệ này đến thế hệ khác ra sức lao động, sáng tạo dựng xây quê hương và anh dũng đứng lên chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc. Phẩm chất yêu nước cao quý lấy “nhân nghĩa thắng hung tàn” và đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, với những chiến công chói lọi đã làm nên giá trị văn hóa, nhân văn Việt Nam trong cộng đồng quốc tế. Không một dân tộc nào trên thế giới như dân tộc Việt Nam có Truyền thuyết lịch sử Hùng Vương, con Lạc, cháu Hồng, cả nước có chung ngày giỗ Tổ mồng 10 tháng 3 Âm lịch hàng năm. Không có dân tộc nào như dân tộc Việt Nam anh hùng, kiên cường đương đầu trước mọi họa xâm lăng hung bạo nhất, giành được quyền Độc lập, Tự do, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước. Địa linh ấy, nguyên khí ấy tất sinh ra những anh hùng kiệt xuất
  8. làm rạng danh đất nước, non sông. Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Tuệ Tĩnh, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hải Thượng Lãn Ông, Lê Quý Đôn, Quang Trung, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp đều là những anh hùng, nhân kiệt, thiên tài được sản sinh từ địa linh đất nước và hoàn cảnh của lịch sử dân tộc Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969) là lãnh tụ thiên tài, anh hùng giải phóng dân tộc, vĩ nhân kiệt xuất, danh nhân văn hoá thế giới. Người ra đi khắp năm châu, hy sinh những riêng tư của mình để tìm ra con đường cứu dân cứu nước. Cuộc đời đầy huyền thoại, vĩ đại nhưng rất giản dị của Hồ Chí Minh đã trở thành biểu tượng vinh quang gắn liền với lịch sử dân tộc Việt Nam. “Non sông đất nước Việt Nam đã sinh ra Hồ Chủ Tịch và chính Người đã làm rạng rỡ cho non sông, đất nước ta” (Điếu văn của Ban chấp hành Trung ương Đảng CSVN, tại lễ truy điệu Hồ Chủ Tịch năm 1969). Nhân dân Việt Nam tôn vinh Hồ Chí Minh là vị Thánh cứu tinh đưa dân tộc Việt Nam từ nô lệ, mất nước trở thành một dân tộc anh hùng cùng những chiến công vinh quang, hiển hách mang tầm thời đại, giành độc lập non sông. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, văn võ song toàn, với nghệ thuật quân sự thiên tài và phẩm chất phi thường, đã có công rất lớn trong thực hiện chiến tranh nhân dân đặc sắc, góp phần làm nên chiến công vĩ đại của dân tộc Việt Nam đánh bại những thế lực hùng mạnh là Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ trong thế kỷ XX. Ông là một trong những tướng tài lừng danh trong lịch sử thế giới của thời hiện đại.
  9. Bia Tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội (nguồn Trang chủ hình ảnh Google - Bia Văn Miếu) Địa linh còn hội tụ tri thức ngàn đời vào hoàn cảnh thực tiễn của đất nước. Truyền thống hiếu học trên quê hương, đất nước thanh bình càng là điều kiện cho các tài năng phát triển. Nền giáo dục Việt Nam sau chiến tranh được phát huy những nhân tố tốt đẹp cùng với giao lưu, tiếp thu thành quả tiên tiến trên thế giới tạo cơ hội cho trí tuệ thăng hoa. Tuổi trẻ Việt Nam đã giành giải cao tại các kỳ thi Toán, Vật lý, Hoá học, Robot quốc tế, đưa Việt Nam trở thành một trong những cường quốc Toán học trên thế giới. Đây là cái gốc ban đầu để cho các tài năng phát triển mai sau. Khi có điều kiện và phải có điều kiện thì tài năng ấy mới tiếp tục trên con đường chinh phục đỉnh cao tri thức nhân loại. Đó là trường hợp nghệ sĩ nhân dân Đặng Thái Sơn, giành giải nhất cuộc thi Piano quốc tế, trở thành giáo sư của ngành nghệ thuật khi còn rất trẻ, tiếp tục công tác và giảng dạy âm nhạc ở nước ngoài. Tài năng trẻ Ngô Bảo Châu sau hai lần đoạt huy chương vàng tại kỳ thi Toán quốc tế, tiếp tục học tập ở nơi có nền toán học phát triển, được giáo sư giỏi hướng dẫn, giúp đỡ mà nghiên cứu
  10. thành công xuất sắc, vinh dự là người Việt Nam đầu tiên đoạt giải thưởng Fields toán học danh giá toàn cầu. Hàng loạt văn bia Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội, trường Đại học đầu tiên của Việt Nam và những tài năng trẻ thành đạt hôm nay hợp thành dòng giống “nguyên khí quốc gia”, niềm tự hào của đất nước muôn đời. Đất nước sản sinh ra những nhân tài, và chính những nhân tài đã làm rạng danh đất nước, dân tộc, non sông. Anh hùng, thiên tài không phải thiên thần trên trời bay xuống mà là con người và do chính con người làm nên. Tư chất thông minh bẩm sinh đặc biệt, cùng với ý chí, thiên hướng kiên định, sáng tạo, có khi còn thêm năng lực ngoại cảm đã tạo nên thiên tài lỗi lạc. Các nhà khoa học đã từng khám phá bí ẩn bộ não của Albert Einstein, một trong những thiên tài vĩ đại nhất thế kỷ XX. Ngay sau khi qua đời 7 giờ, bộ não của ông đã được lấy ra đưa đi xét nghiệm, nghiên cứu. Người ta thấy bộ não của Einstein, tế bào thần kinh vùng đệm chứa tới 73%, hơn hẳn những bộ não bình thường. Phần đỉnh bên trong nếp cuộn não ở thuỳ trán của nhà khoa học bị khuyết và cho rằng đây là nguồn gốc kích thích các nơron thần kinh giúp cho linh cảm ông linh hoạt hơn. Bản thân thiên tài này cũng cho biết là có khả năng tư duy nhanh hơn là nói. Các nhân vật lừng danh về công trạng hay tội ác trên thế giới cũng được khoa học quan tâm nghiên cứu về tâm lý, sinh lý, thần kinh để giải mã cho những bí ẩn, kỳ lạ về con người. Cũng có thể coi những anh hùng, thiên tài ngày nay là hiện tượng ngoại cảm thăng hoa về tâm linh, thời cuộc và khoa học hiện đại. Thiên tài nhiều khi đồng nghĩa với thiên hướng thái quá mà quên đi hoặc mất đi một số tư duy, hành động thông thường. Vì thế mà có nhà bác học thiên tài với phát minh vĩ đại lại mắc những khiếm khuyết dị thường. Sự say mê trong tư duy sáng tạo phát minh cho một công trình mà quên cả đường về hoặc nơi ăn chốn ở lại vô cùng luộm thuộm. Nhà bác học nổi tiếng Archimede trong khi ngâm mình vào bồn nước tắm, chợt thấy nước dềnh lên đã quên mặc quần áo, cứ thế vừa chạy ra đường phố về nơi làm việc vừa kêu lên: “Tìm thấy rồi! Tìm thấy rồi!”. Sau đó ông đã phát triển điều bất ngờ này thành định luật
  11. Archimede trong Vật lý. Ông còn tìm tòi nghiên cứu ra một số vũ khí mới như chế tạo hệ thống gương hội tụ, máy ném đá để đánh giặc. Khi thành Xi-ra-quy-dơ thất thủ, bọn đế quốc La Mã xâm lược đi lùng nhà bác học. Chúng bắt gặp nhà bác học đang ngồi nghiên cứu những hình vẽ trên mặt đất, liền túm lấy ông. Không nghĩ gì đến nguy hiểm tính mạng, Archimede chỉ thét lên: “Không được xoá các hình vẽ của ta! ”. Ông bị chém gục ngay bên công trình đang dang dở. Về phong thủy, địa khí và cảm xạ, những giao thoa khí, chất, không gian cũng tác động vào sự sống làm cho con người mệt mỏi, trầm uất hay sảng khoái, thăng hoa mà trở thành linh khí. Linh khí ở nơi nào tốt thì con người nơi ấy sẽ là thông thái. Vì thế mà nơi này có nhiều người học hành giỏi giang, thành đạt, nơi kia lắm người bệnh tật, ốm đau. Linh khí cũng góp một phần làm nên “địa linh nhân kiệt”, hỗ trợ cho năng lực thiên tài. Thời nào có thiên tài của thời ấy. Xã hội nào có anh hùng của xã hội ấy. Đất nước nào có anh hùng và thiên tài của đất nước ấy. Quốc gia phong kiến cổ xưa có các đạo sĩ, quân sư, hiền triết. Đất nước loạn lạc, lâm nguy xuất hiện lãnh tụ, tướng tài. Thời đại xã hội văn minh, phát triển thiên tài khoa học. Loài người trên hành tinh ở thời đại khoa học, công nghệ thông minh hôm nay, mãi mãi ghi nhớ công lao vĩ đại, vô cùng lớn lao của người hùng huyền thoại William Henry Bill Gates, doanh nhân người Mỹ, tác giả và chủ tịch tập đoàn Microsoft, một trong những người làm thay đổi thế giới hiện đại bằng sa lộ thông tin, trở thành một trong những tỷ phú giàu nhất hành tinh. Ông đã giành phần lớn gia tài có được để làm từ thiện trên khắp thế giới. Steve Paul Jobs, là người khổng lồ, cha đẻ của công nghệ thông tin, lừng danh thế giới. Với biểu tượng “quả táo cắn dở” ông đã làm say mê đến điên đảo thế giới bằng cuộc cách mạng trong công nghệ và cũng đem đến những sản phẩm máy tính, di động tinh xảo, thông minh, hữu dụng, hấp dẫn, cuốn hút cả nhân loại bằng trí tuệ siêu việt của con người. Và còn nhiều nhà khoa học phát minh, làm nên những điều kỳ diệu về Vũ trụ, Công nghệ Thông tin, Kỹ thuật số, Robot, Y, Dược, vật liệu minh chứng cho những thiên tài của thời đại mới. Thiên tài phát sinh là do thời cuộc và còn có đất dụng mới được phát huy. Đất nước nguy biến sản sinh ra lãnh tụ kiệt xuất, người tài. Không có chiến tranh không có đại tướng giỏi. Mưu lược trận đồ mới
  12. có quân sư, ngoại giao xuất sắc, tài năng. Vấn đề đặt ra, thế nào là người tài và ai có thể biết được người tài. Phát hiện ra người tài, rồi nuôi dưỡng, sử dụng và phát huy ra sao cho đất nước? Người tài biết sử dụng nhân tài càng thêm đắc dụng. Điều rất tránh là sự ngộ nhận người tài. Có hàng ngàn giáo sư, tiến sĩ được vinh danh nhưng không có công trình nào sáng tạo, phát minh công bố ra thế giới và chức vị giáo sư cũng không gắn với đề tài nghiên cứu khoa học đứng trên bục giảng, thì thật đáng buồn! Thiên tài là có uy danh lớn thu phục được nhân tâm, khi nguy biến mới thành sức mạnh. Lúc đất nước thanh bình, dễ sinh lòng chủ quan, tham lam, ích kỷ, không chịu phục nhau, dễ sinh đại hoạ. Đó là điều suy ngẫm về thiên tài, để trở thành “nguyên khí quốc gia”. Không có gì huyền bí trong xuất hiện những anh hùng dân tộc, thiên tài, danh nhân văn hoá. Truyền thống đất nước, gia đình, hoàn cảnh lịch sử, môi trường, xã hội, điều kiện giáo dục cùng với sự kiên nhẫn, cần cù tạo nên những nhân tố khoa học đột biến của “địa linh nhân kiệt”, niềm tự hào của mỗi quốc gia.
  13. XIV. GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG VĂN HOÁ TỐT ĐẸP CỦA DÂN TỘC Lịch sử hàng ngàn năm của đất nước Việt Nam là lịch sử văn minh nông nghiệp, nhân nghĩa, bất khuất, anh hùng, đồng thời cũng sản sinh một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc. Những phong tục, tập quán, lễ nghi được hình thành qua đời sống, sinh hoạt của con người lâu dần trở thành truyền thống văn hoá của cư dân, cộng đồng dân tộc. Từ ứng xử đến tín ngưỡng dân gian đều mang ý nghĩa nhân văn, tốt đẹp nhằm giáo dục, cảm hoá cho con người sống vui tươi, lành mạnh, hướng thiện mà loại bỏ đi những gian tham, độc ác. Trải qua hàng ngàn năm, phong tục, tập quán ngày càng hoàn thiện, phát huy trong đời sống cộng đồng, trở thành tinh hoa truyền thống văn hoá sâu sắc, độc đáo của dân tộc Việt Nam.
  14. Lễ hội chùa Cổ Lễ, Trực Ninh, Nam Định (ảnh Trần Quốc Hưng) Truyền thống nhân văn, yêu nước, phong tục thờ cúng tổ tiên, tâm linh chốn đình chùa, giao hoà văn hoá nơi không gian lễ hội, tập quán cưới hỏi, tang lễ, đối nhân xử thế, duyên dáng áo dài, trang phục màu sắc đồng bào các dân tộc thiểu số, ngôn ngữ, chữ viết, ca dao, dân ca, tục ngữ, văn học, kiến trúc, nghệ thuật hợp thành kho tàng quý báu của nền văn hoá phong phú, đa dạng giàu bản sắc tâm hồn con người Việt Nam. Lòng thiết tha yêu nước, yêu thiên nhiên, giữ gìn đạo đức trong sáng, thủy chung, nhân ái, đoàn kết với cộng đồng, sẵn sàng cống hiến hy sinh cho sự nghiệp lớn, xây dựng, bảo vệ và hướng tới tương lai phồn vinh của Tổ quốc là đặc trưng của văn hoá Việt Nam. Văn hoá được đúc kết từ tinh hoa ngàn đời của dân tộc. Đã là tinh hoa tức là những điều tốt đẹp, chứ không thể là hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan. Những gì trái với tốt đẹp đều không phải là văn hoá. Vì vậy, truyền thống văn hoá tốt đẹp cần được giữ gìn, phát huy và hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan cần loại bỏ. Đất nước thanh bình, chung tay, đoàn kết xây dựng quê hương,
  15. cộng đồng vui tươi lành mạnh. Tổ quốc lâm nguy thì phát huy phẩm chất nhân nghĩa, anh hùng đứng lên đánh giặc. Cùng giống nòi “con cháu Rồng Tiên”, hướng về Hùng Vương đất Tổ, thương yêu, đoàn kết “chị ngã em nâng”, “thương người như thể thương thân”, “bầu ơi thương với bí cùng”. Yêu đất nước, quê hương qua từng câu dân ca, quan họ. Học lẽ sống ở đời bằng ca dao, tục ngữ, ngụ ngôn. Duyên dáng với tà áo dài, tươi duyên trầu cau cưới hỏi. Lành mạnh tâm hồn nơi chốn tâm linh, vui vẻ lạc quan hoà cùng tín ngưỡng. Thăng hoa khoa học vẫn giữ cốt cách Việt Nam. Đi xa đất nước vẫn nhớ quê nhà, hát cùng bạn bè vẫn mang hồn Việt Ôi, đất nước, quê hương, ta yêu ta quý vô cùng. Đó là văn hoá Việt Nam. Và chúng ta đều ý thức được rằng: “Mê tín dị đoan, hủ tục làm kìm hãm, thủ tiêu thăng hoa đổi mới” và “mất bản sắc văn hoá dân tộc cũng là mất hết!” Ngày nay xu thế “Toàn cầu hoá” với nhịp sống công nghiệp hiện đại cũng mang theo những trào lưu văn hoá “ngoại nhập” ảnh hưởng nhiều đến phong cách, lối sống tuổi trẻ và xã hội. Cùng với những tinh hoa tốt đẹp cũng có không ít loại hình không phù hợp với thuần phong mỹ tục, tập quán văn hoá Việt Nam. Đây là cơ hội để văn hoá “dân tộc và hiện đại” nhưng cũng đầy thách thức để giữ gìn bản sắc độc đáo Việt Nam. Trong tiến trình dựng xây, đổi mới, đi lên và hội nhập cùng cộng đồng quốc tế, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước vẫn tôn trọng tự do tín ngưỡng, chủ trương “dân tộc và hiện đại”, “hội nhập chứ không hoà tan” nhằm tiếp thu những tinh hoa nhân loại và luôn luôn giữ gìn, phát huy truyền thống văn hoá của dân tộc. Chúng ta có quyền tự hào dù đi đến đâu cũng giữ gìn được cốt cách, phong tục tốt đẹp của người Việt Nam.
  16. XV. KHOA HỌC, KỸ THUẬT PHÁT TRIỂN Chúng ta đã và đang sống trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI, điều kiện khoa học, kỹ thuật hiện đại phát triển. Mỗi con người ngày nay được thừa hưởng thành quả của những sáng tạo, phát minh khoa học ngày càng vĩ đại, thông minh với gia tốc rất nhanh. Để lại phía sau những hình ảnh hoang tàn, lạc hậu, cổ hủ, xa xưa, bứt phá, thay dần vào là sản phẩm văn minh, to đẹp, hiện đại là cả quá trình ấp ủ, thay đổi của tâm thức con người. Qua hàng tỷ năm ngủ yên trong tiền sử, đến cách đây khoảng chục nghìn năm khởi nguồn cho một số nền văn minh cổ xưa kéo dài cho đến vài trăm năm trở lại đây, bắt đầu khoa học kỹ thuật mới phát triển khi xuất hiện hàng loạt các nhà bác học thiên tài với những phát minh khoa học vật lý, hoá học vĩ đại. Thế kỷ XX đánh dấu những bước nhảy vọt về khoa học, công nghệ nối tiếp cho sự bùng nổ những phát minh sáng tạo kỹ thuật tinh vi, công nghệ thông minh, vật liệu mới làm thay đổi bộ mặt toàn cầu. Thế kỷ XXI, sẽ là thế kỷ phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật của nền văn minh. Những phát minh khoa học vĩ đại từ bộ óc thiên tài của con người cho những công trình đặc biệt, kỳ lạ phục vụ thiết thực đời sống, xã hội, góp phần cải tạo thế giới, tạo nên sự kỳ diệu của nhân loại hướng tới tương lai. Sáng tạo bắt nguồn từ ý thức sống, kinh nghiệm lao động, rồi tác động của thiên nhiên, khí hậu làm manh nha những sáng kiến ban đầu. Quá trình đúc kết, con người muốn khám phá những hiện tượng của tự nhiên, sự sống mà nghiên cứu nhằm giải thích và tìm cách ứng dụng vào đời sống, thế là bắt đầu cho những sáng tạo, phát minh. Đó là tất yếu của yêu cầu đời sống, xã hội và lòng say mê của những người có thiên hướng khám phá, chứng minh, là mầm mống ra đời những thiên tài khoa học vĩ đại. Từ 500.000 năm TCN tìm ra ngọn lửa, rồi sau đó sáng tạo đòn bẩy, bánh xe, giấy cho đến thế kỷ XIII trở lại đây hàng loạt phát minh của các nhà khoa học ra đời: La bàn, súng đạn, vật lý, hoá học, máy
  17. móc, xe lửa, máy bay, tàu thủy, ra đa, tên lửa, điện tín, chất dẻo, máy chữ, điện, điện thoại, phát thanh, vô tuyến truyền hình, nguyên tử, laser, máy tính, tàu vũ trụ, gen, ADN, ghép tạng, tế bào gốc, kỹ thuật số, nano, cáp quang, con chíp, robot, người máy, điện thoại di động thông minh, vi tính, internet, kỹ thuật hình ảnh 3D, vật liệu mới với rất nhiều nhà khoa học nhận giải Nobel về Vật lý, Hoá học và giải thưởng Fields về Toán học. Trong các công trình phát minh khoa học, có những công trình to lớn, vĩ đại như tàu ngầm nguyên tử, tàu vũ trụ, thủy điện, nhà máy điện hạt nhân, đồng thời cũng có những kỹ thuật cực kỳ tinh xảo, tinh vi, nhỏ gọn như phần mềm, vi mạch, thẻ nhớ, nano, con chíp Những viên thuốc nhỏ xíu, thông minh đi theo dạ dày, mạch máu vào sâu bên trong cơ thể định vị và chữa bệnh cho con người. Kỹ thuật gen, ADN, tế bào gốc để chữa bệnh và làm cho con người thông minh, trẻ lại. Vệ tinh nhân tạo viễn thông, cáp quang nối mạng thông tin toàn cầu. Kính viễn vọng quan sát không gian vũ trụ. Các con tàu vũ trụ khám phá để tìm sự sống ở các hành tinh xa xôi. Camera soi thấu vào diễn biến cơ thể, chẩn đoán bệnh tật con người. Những chiếc điện thoại di động nhỏ xíu, thông minh, thiết bị kỹ thuật số với nhiều ứng dụng thực tế. Trong tương lai, còn dự báo nhiều phát minh khoa học vô cùng kỳ thú, độc đáo, hữu ích ra đời, tất cả sẽ phục vụ cho đời sống, xã hội văn minh. Khoa học hiện đại phát triển, phát minh chỉ có bóng dáng yếu tố tâm linh khoa học, không có tâm linh mê tín dị đoan. Từ những sáng kiến, cải tiến nhỏ cho đến các công trình nghiên cứu khoa học vĩ đại đều không phải thánh thần hay thượng đế, siêu nhiên, siêu hình nào chỉ bảo mà chính con người thông minh say mê nghiên cứu làm thành. Phát minh khoa học có thể góp phần chứng minh hoặc giải thích được những huyền bí của tâm linh siêu hình. Thực tế cho thấy, những người quá nặng đầu óc về tâm linh mê tín dị đoan thì cuộc sống cứ luẩn quẩn, lo âu, cầu mong thần linh, thượng đế, thậm chí mê muội, sợ hãi chẳng dám làm gì, có khi còn sinh bệnh tật, vì vậy mà hạn chế hoặc làm mất đi sự thăng hoa của trí tuệ và thiên hướng bứt phá khoa học hiện đại. Di thức tâm linh còn bị biến tướng thành mê tín dị đoan và theo đuổi dai dẳng cả vào nếp sống văn minh ngày nay, gây ra những phiền hà, rắc rối cho đời sống đương đại. Còn với các nhà khoa học say mê nghiên cứu thì công trình của họ thật sự hữu ích, phục vụ đời sống
  18. con người, mang lại hiệu quả thiết thực cho xã hội. Kể cả mê tín dị đoan cũng tận hưởng và lợi dụng thành quả khoa học, công nghệ hiện đại để lung lạc tinh thần con người, mong cầu bất chính, thậm chí gây mất trật tự, an ninh. Khoa học, kỹ thuật hiện đại phát triển mang lại lơị ích vô cùng to lớn nhưng cũng được cảnh báo về mặt trái của nó. Những lò phản ứng hạt nhân ứng dụng vào nhiều lĩnh vực, làm ra dòng điện hạt nhân, nhưng tiềm ẩn hiểm hoạ của bom nguyên tử, rò rỉ nhà máy hạt nhân. Những hoá chất độc hại thải ra từ những khu công nghiệp, rác thải từ mọi nguồn vật liệu phế thải, chất độc hại vào sinh vật, thực vật nuôi trồng đe doạ đến sự sống, con người. Thảm hoạ nổ nhà máy điện nguyên tử hạt nhân Chernobyl (Ukraina) kinh hoàng nhất trong lịch sử nhân loại năm 1986 và tai hoạ kép động đất, sóng thần dữ dội làm rò rỉ phóng xạ hạt nhân ở nhà máy điện hạt nhân Fukushima (Nhật Bản) tháng 3 năm 2011 là cảnh báo lớn nhất toàn cầu về khoa học với an toàn sự sống loài người. Một công trường, khu công nghiệp càng rộng lớn thì càng thu hẹp đất đai trồng trọt, khí, chất độc càng thải ra nhiều. Cả nước thành công nghiệp hoá hiện đại, nếu không tính toán kỹ, xử lý triệt để nguy cơ hậu hoạ về bầu trời và mặt đất cũng đồng thời phải đối mặt với tương lai đầy tiềm ẩn rủi ro.
  19. XVI. CON NGƯỜI THỜI VĂN MINH, HIỆN ĐẠI Nhãn quan thời đại Từ kỷ nguyên bình minh của lịch sử loài người trên trái đất, trải qua hàng triệu năm, cho đến ngày nay, con người đã sống qua nhiều thời đại. Từ trong Hồng hoang Nguyên thủy cổ xưa, tiến hoá dần theo thời gian, chịu sự tác động của thiên nhiên, thay đổi môi trường, con người đều phải thích nghi với điều kiện sống. Từ vô thức tự do của nguyên thủy, đến cuộc sống cộng đồng, tiến lên lao động có ý thức, tổ chức, có tiếng nói để giao tiếp, rồi phát triển công cụ lao động sản xuất (đồ đá, đồ sắt, đồ đồng ). Từ cuộc sống bầy đàn, rồi trong các công xã, tới có nhà nước, khai phá đất đai canh tác nông nghiệp, thủ công, tiến lên phát triển công nghiệp, cho đến khoa học hiện đại ngày nay và hướng tới nền văn minh trong tương lai. Quá trình liên tiếp ấy đã và đang làm thay đổi kỳ diệu về tri thức, lối sống, đưa con người từ bị động, ấu trĩ đến chủ động, làm chủ và rèn luyện tác phong công nghiệp, thông thái, văn minh. Hãy không phân chia thời đại theo thời gian Công Nguyên, Kỷ Nguyên hay theo niên đại, Lịch pháp Đông, Tây của các nhà nghiên cứu phân chia, mà tạm khái niệm về sự tiến hoá của con người cùng tâm thức qua hàng triệu năm hoặc xa hơn nữa cho đến ngày nay. Có ba giai đoạn vừa như có giới hạn nhưng cũng như có sự giao thoa, chuyển tiếp; Vừa hữu hình lại vừa vô hình như Tâm linh và Khoa học luôn luôn song hành ảnh hưởng vào nhau. Đó là thời kỳ mông muội - hồng hoang; Thời kỳ bình minh của ý thức và Thời kỳ phát triển khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại. Hay có thể coi là: Thời kỳ vô thức; Thời kỳ ý thức, manh nha, khởi nguồn của tâm linh, khoa học và Thời kỳ trí tuệ thông minh. Thời kỳ vô thức
  20. Trong xã hội nguyên thủy, con người sống trong vô tư với những tác động của tự nhiên. Họ sống phó mặc với thiên nhiên, bệnh tật, dã thú, sống hoang sơ với hang động, núi rừng, chống chọi vô thức với mọi biến cố. Họ sống chưa có ý thức, chưa có ngôn ngữ, tiếng nói mà chỉ hành xử theo bản năng, không có ý thức về sự sợ hãi và không có khái niệm tâm linh. Họ sống cuộc sống bầy đàn, lao động thô sơ, ăn lông, ở lỗ. Thời kỳ của những con người rất đáng yêu với cuộc sống vô tư trong sáng và cũng rất đáng thương khi họ phải chống chọi với những khắc nghiệt của thiên nhiên, bệnh tật, với tai hoạ của thú rừng. Môi trường sống sơ khai, trong lành với rừng xanh, núi thẳm, sông nước tự nhiên. Hàng triệu năm trong hoang vu, yên bình trôi đi cho đến khi tiến hoá dần lên từ lao động và manh nha ý thức. Thời kỳ ý thức Khi con người có ý thức dần lên qua lao động, sinh hoạt thì cũng bắt đầu ý thức được sự sợ hãi và biết đến phòng, tránh. Sự sợ hãi, bệnh tật và tâm lý giải phóng sự sợ hãi cũng làm cho con người tìm cách hoá giải bằng các hình thức trấn an tinh thần, tìm thuốc chữa bệnh, thậm chí kể cả tâm lý dựng lên, bịa đặt ra làm cho tâm thức được giải thoát. Đồng thời với sự phát triển tinh khôn là cuộc đấu tranh sinh tồn làm nảy sinh lợi ích, tham lam, ích kỷ, tội ác. Người ta lại tính đến những giải pháp phát huy phần nhân bản của cái “thiện” và giáo dục, đề phòng, cải hoá cái “ác”. Và hình thức hữu hiệu để cải hoá con người là tạo dựng các hình tượng điển hình, đền, chùa, am, miếu, nhà thờ. Khi con người tiếp cận tới đó là đã tự giáo dục đức tính tốt lành và cũng làm lương tâm cắn rứt mà tan đi những ý đồ tội lỗi. Tạo ra sự tôn nghiêm, linh thiêng để thực hành giáo dục quả là những sáng tạo kỳ diệu, đầy nhân văn của người xưa. Thế nhưng có kẻ lại lợi dụng để mưu cầu bất chính, gian tham, ích kỷ lại làm mất đi bản chất ý nghĩa tốt đẹp, mà là mầm mống nhuốm màu sắc của duy tâm, mê tín, dị đoan, tội ác. Xã hội cũ, văn hoá, khoa học chưa phát triển, ngoài lao động thủ công, người ta cũng chỉ biết đến nơi chùa chiền, thờ cúng để thanh tâm, cầu an lạc, thái bình, phòng trừ gian ác, tội phạm. Chỉ có một số tông đồ, đạo sĩ là người chuyên tâm nghiên cứu, sáng tạo và thực
  21. hành nghi lễ tâm linh. Trong số này nhiều người “đức tâm, quả phúc” lành mạnh, vô tư, nhưng cũng có kẻ mệnh danh, dựng chuyện làm lung lạc tinh thần con người bằng bùa, ngải, bói toán và thần thánh hoá thần linh, ma quỷ! Những bệnh tật quái dị, tâm thần hoang tưởng, ảo giác, bịa đặt, dựng chuyện càng làm cho bức màn mê tín, dị đoan, huyền bí, hoang đường lây lan, phát triển. Đây là thời kỳ con người có phát triển ý thức, biết lao động và có sáng tạo làm nên biết bao công trình khoa học phục vụ đời sống tiến bộ, văn minh của con người. Tuy nhiên những lao động, sáng tạo chủ yếu phục vụ cuộc sống giản đơn, đặc biệt là phục vụ tín ngưỡng tâm linh, thờ cúng và cả mê tín dị đoan. Văn hoá chùa chiền, tín ngưỡng đua nhau nở rộ để lại những kiệt tác nghệ thuật tinh tế, đặc sắc và đi vào tâm thức con người cho đến ngày nay; Đồng thời cũng ăn sâu vào di thức tinh thần những mê tín dị đoan, hoang đường khó dứt bỏ. Thời kỳ trí tuệ thông minh Có mầm mống ngay từ khi ý thức con người phát triển. Rồi những biến đổi kỳ diệu của bộ não con người đã tạo ra những khám phá đột biến khoa học. Trong xã hội vẫn song hành tồn tại những di thức tâm linh siêu hình, nhưng khám phá khoa học lại không bị ràng buộc bởi tâm linh siêu hình mà bứt phá bằng thiên hướng thăng hoa của khoa học. Một bộ óc thiên tài, một phát minh khoa học xuất chúng ở một cá nhân có kinh nghiệm hoặc ở một tài năng còn rất trẻ là những người say mê nghiên cứu, phát minh khoa học, chứ không phải là từ cầu xin thánh thần, thượng đế. Thành tựu của họ là những sáng tạo khoa học ứng dụng cho thực tế cuộc sống bằng những sản phẩm thông minh, không hề có yếu tố siêu hình nào trong đó. Phát minh ra nguyên tử, ti vi, công nghệ thông tin, điện thoại di động, mạng Internet lại là những nhà khoa học, những chuyên gia tài giỏi, những tài năng đặc biệt, thông minh lỗi lạc tuổi còn rất trẻ. Họ không phải do cầu cúng, tụng niệm, không xem ngày, giờ, không lệ thuộc phong thủy, bát quái - càn khôn, không tử vi, bói toán thế mà những phát minh khoa học để đời làm thay đổi thế giới và vô cùng hữu ích cho đời sống con người. Trong tương lai sẽ còn chứng kiến những phát minh khoa học vĩ đại do cống hiến của những bộ óc thiên tài. Thời gian của họ dành cho sách vở, nghiên cứu và sáng tạo, phát minh cùng với tâm linh khoa học thăng hoa.
  22. Sống trong thời đại “toàn cầu hoá” của phát triển khoa học công nghệ tiên tiến với những phương tiện thông tin đa dạng, phong phú, ngày nay đã và đang mở ra kỷ nguyên mới của con người hiện đại. Đó là hạnh phúc mà mỗi chúng ta cần nắm bắt nhanh lấy để được tận hưởng những thành quả thông minh nhất từ nền văn minh, hiện đại của nhân loại, toàn cầu. Tác phong, nếp sống công nghiệp Sự vận động của xã hội là môi trường tác động đến tâm lý, tư duy, hành động của con người. Mọi sự chậm chạp là hậu quả của ý thức và vận động trì trệ. Xã hội xưa, con người thụ động, lao động giản đơn là nguyên nhân dẫn đến tác phong trì trệ, chậm chạp và chính trì trệ làm mất đi sự năng động, sáng tạo, phát minh. Trong môi trường xã hội phát triển cạnh tranh sẽ bứt phá dần đi sự trì trệ. Những nước có nền văn minh sớm, công nghiệp phát triển cũng tạo cho con người nếp nghĩ linh hoạt, nhịp sống năng động, sáng tạo lên rất nhiều. Cuộc sống thu mình, ẩn dật, chiêm nghiệm quẩn quanh là nét điển hình của phong thái, nếp sống nông nghiệp người Á Đông xưa. Chính vì vậy đã ảnh hưởng đến sự năng động bứt phá, tiếp cận với khoa học mà chìm vào nhịp sống vô thường, tâm thức luẩn quẩn, không có ý thức phát triển về khoa học hiện đại. Xã hội văn minh, con người sống và làm việc rất khác biệt. Người ta có kế hoạch cụ thể, chính xác cho từng công việc, từng giờ. Tác phong của họ rất nhanh, từ thời gian chuẩn bị khi ra đường và lúc bắt đầu việc làm cho đến kết thúc công việc đều rất khoa học, hợp lý. Thời gian trên tàu hoả, xe ôtô, tàu điện ngầm đến nơi làm việc, họ cũng tranh thủ xem sách báo để nâng cao kiến thức hiểu biết, cập nhật thông tin và rất có ý thức giữ gìn trật tự, vệ sinh, tôn trọng nếp sống văn minh, lịch sự. Khi làm việc thì tập trung cao độ năng lực sáng tạo để có hiệu quả cao nhất cho công việc và còn nghiên cứu phát minh khoa học. Người có tác phong công nghiệp là người không bao giờ cho phép mình chậm chạp, không “mũ ni che tai”, không ngồi chơi, xơi nước, không lãng phí thời gian, không nói chuyện phiếm tào lao trong khi làm việc, không làm cả ngày không được một việc. Họ là người của liên tục hành động có hiệu quả cao và luôn luôn sáng tạo trong mọi
  23. việc mình làm. Đây là ưu điểm tập trung cho công việc nhưng lại bị coi là không quan tâm đến những lặt vặt trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày. Nhanh, chính xác như người phương Tây Năm 1984, tác giả có dịp cùng đoàn nhà báo của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Việt Nam, gồm các nhà báo trẻ của Chương trình Phát thanh - Truyền hình Thanh niên, báo Tiền phong, báo Tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh sang Liên bang CHXHCN Xô Viết (Liên Xô cũ) tham dự “Hội nghị báo chí thanh niên các nước XHCN” do Đoàn TNCS Lê Nin Liên Xô tổ chức. Liên Xô thời đó còn là đất nước hùng cường, đất nước của thơ ca, thiên đường của biểu tượng hoà bình. Từ Thủ đô Hà Nội, Việt Nam, sau 14 giờ bay, chúng tôi dặt chân đến sân bay quốc tế, Thủ đô Matxcơva trong cái lạnh giá của miền Đông Bắc Âu. Chiếc xe ca lớn của Đoàn TNCS Lê Nin, Liên Xô ra tận chân cầu thang máy bay đón đoàn nhà báo Việt Nam đưa về Trường Đoàn thanh niên Côm Xô Môn đúng giờ đã định bắt đầu cho cả quá trình công tác và làm việc rất khoa học theo chương trình của các bạn Liên Xô. Hàng ngày, từ giờ ăn sáng, giờ lên xe đến giờ làm việc, tất cả đều rất chính xác, đúng giờ. Trong đó có chương trình đi đến thành phố thủ đô Vi Nhút (Vilnius) gặp gỡ với Đoàn TNCS của nước CHXHCN Lít Va (lúc đó còn thuộc Liên Xô). Trên chuyến tàu hoả từ Thủ đô Matxcơva rất văn minh, sạch sẽ, sau 8 giờ hành trình qua gần 1000km tới thành phố Vi Nhut rất đúng giờ, các bạn đại diện của đoàn TNCS Lít Va đã có mặt trên sân ga đón chúng tôi. Thời gian làm việc ở Liên Xô 22 ngày với rất nhiều hoạt động, làm việc, học tập, hội thảo, giải trí và đi lại bằng xe ôtô, tàu hoả, tàu điện ngầm, tất cả đều linh hoạt, khoa học, chất lượng theo đúng chương trình đã định. Đất nước Liên Xô vĩ đại từng trải qua chiến tranh tàn khốc, hàng chục triệu người con của đất nước Xô Viết anh hùng đã ngã xuống, anh dũng hy sinh cho cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Nhưng những di sản tinh thần, những lâu đài tráng lệ cổ xưa vẫn được bảo tồn cùng với sự đổi thay kỳ diệu của công nghiệp và phát triển đô thị văn minh với những tuyến tàu điện ngầm hiện đại, những nhà ga lộng lẫy như những cung điện nguy nga trong khắp lòng thủ đô Maxcova. Chuyến công tác tại Liên Xô đã để lại trong chúng tôi ấn tượng sâu sắc về tác phong công nghiệp nhanh, chính xác, hiệu quả của các bạn Đoàn TNCS Lê Nin trên đất nước Liên bang Xô Viết tươi đẹp, hùng cường.
  24. Tỉ mỉ, cụ thể như người Nhật Trần Thanh Bình là một bạn trẻ tốt nghiệp đại học Bách Khoa Hà Nội loại giỏi, đã từng làm việc cho các công ty nước ngoài của Mỹ và Nhật Bản. Bình cho biết rằng, làm việc với người Mỹ học được ở họ tác phong công nghiệp rất nhanh, chính xác, hiện đại còn ở người Nhật vừa khoa học vừa rất tỉ mỉ, cụ thể, chu đáo. Khi làm việc với người Nhật thì: “Ông đã có tính rất cẩn thận rồi đấy nhưng đối với người Nhật thì chưa là cái gì!”. Làm việc gì, những người quản lý người Nhật đều yêu cầu phải rất tỉ mỉ, cụ thể. Ví dụ: Anh chuẩn bị ngày mai đi công tác, người quản lý hỏi ngay hoặc ở xa sẽ điện thoại hỏi cụ thể, tỷ mỷ như thế này: Anh đã chuẩn bị những gì, cụ thể thế nào, đồ dùng, vật dụng mang theo những gì. Sáng mai mấy giờ dậy, chuẩn bị bao nhiêu phút, mấy giờ ra khỏi nhà, ra khỏi nhà thì đi bằng phương tiện gì, nếu không có xe ôtô thì đi bằng cách nào. Bao lâu thì sẽ đến nơi, đến rồi gặp ai, nếu không gặp được sẽ làm thế nào. Làm việc thì giải quyết như thế nào, kết quả cụ thể ra sao, có vướng mắc gì không và đã giải quyết như thế nào. Bao giờ xong việc, khi nào về, vé máy bay thế nào, nếu chưa mua được vé máy bay thì giải quyết như thế nào, dự tính khoảng bao giờ sẽ về tới cơ quan Qua đây, chúng ta thấy tại sao đất nước Nhật Bản sau chiến tranh với hậu quả rất nặng nề của hai quả bom nguyên tử Mỹ ném xuống hủy diệt hai thành phố Hyrôsima, Nagasaky, đất nước luôn hứng chị hậu quả kinh hoàng của động đất mà nhanh chóng phục hồi, vươn lên hàng đầu về phát triển khoa học công nghệ với hàng loạt sản phẩm tiên tiến, hiện đại và đứng vào tốp các nước có nền kinh tế phát triển nhất thế giới. Nhân cách kiên trì, nhân hậu và sáng tạo của người Nhật vượt lên trong khó khăn, thảm khốc làm cho cả thế giới phải kính nể, ngạc nhiên. Tác phong công nghiệp là sự cách mạng về ý thức tư tưởng, chuyển hoá hành động con người từ lạc hậu, thô sơ đến văn minh, hiện đại. Người có tác phong công nghiệp là điển hình của con người thời đại mới. Phát triển toàn diện Khái niệm phát triển toàn diện bao hàm ý nghĩa con người phải học tập, rèn luyện, phấn đấu, tự hoàn thiện mình về mọi mặt để có
  25. hiểu biết toàn diện và có thể làm được nhiều việc. Hay nói gọn là rèn luyện và phát triển về Trí - Thể - Mỹ, tức là trí tuệ tinh thần, sức khoẻ và cảm nhận, thực hành cái đẹp. Đây là yêu cầu, là mục tiêu và cũng là hạnh phúc của con người thời đại mới khi đạt được ba chuẩn mực này. Đạt về Trí là con người vươn lên có tinh thần trong sáng, thánh thiện, trí tuệ thông minh, uyên bác, học hành thành đạt, có bản lĩnh, chính kiến hướng thiện cho cộng đồng và dân tộc mình. Đạt về Thể là con người có sức khoẻ, không bệnh tật, có thể lực xung mãn, sức khoẻ dồi dào, ăn uống theo khoa học dinh dưỡng, duy trì nếp thường xuyên rèn luyện thân thể để tăng cường sức khoẻ, phòng chống bệnh tật, giúp cho thanh thản, khoẻ cả về tinh thần và thể chất. Đạt về Mỹ là hiểu biết, cảm thụ được vẻ đẹp tinh thần thăng hoa và cái đẹp của nghệ thuật cao siêu, tinh tế, chân chính, hoặc có thể thực hành sáng tạo ra cái đẹp Tổng hoà như vậy quả là việc không dễ ai đạt được. Nhưng qua kiên trì học tập, nghiên cứu với lòng ham mê cao độ nhiều người đạt được những ước mơ, khát vọng và trở thành thiên tài, danh nhân văn hoá thế giới. Nhiều người có khả năng làm được nhiều việc hoặc chưa làm được hay không làm được nhiều việc, nhưng hiểu biết và cảm thụ được khá tinh tế, sâu sắc về những lĩnh vực ấy. Thực tế từng chứng minh, một người làm khoa học có thể biết làm thơ, vẽ tranh, một người viết văn có thể làm thơ hay vẽ tranh, một vận động viên thể thao thành tích cao có thể vẽ tranh, làm thơ Vấn đề ở đây không chỉ có tố chất bẩm sinh thiên tài, có sức khoẻ dẻo dai, biết làm và làm được nhiều việc mà còn là tinh thần, đạo đức thanh cao, đức độ vì nhân sinh ở họ nữa. Vấn đề cần thiết đối với tuổi trẻ, nhất là cán bộ Đoàn thanh niên, cán bộ thanh niên hiện nay là gì? Đó là những hiểu biết toàn diện và có thể làm được nhiều việc. Trước hết là nói được, tức là biết thuyết trình trước tập thể, đám đông nhiều người. Muốn chinh phục được người nghe thì phải có kiến thức rộng về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, giọng nói truyền cảm, có duyên, có khi còn hài hước nữa và lý giải vấn đề hay mới thu hút được người nghe. Viết được, tức là thực hiện hoàn chỉnh các văn bản hội họp, báo cáo, tổng kết. Hiểu biết về văn hoá, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật và nếu có thể làm được một số việc về các lĩnh vực này càng hay. Tức là biết cảm thụ văn hoá, nghệ thuật và có thể sáng tác thơ, vẽ tranh, viết văn, sáng tác bài hát Tác phong công nghiệp, miệng nói tay làm, chứ không “một tấc đến trời!”. Nói là văn thì phải biết viết văn, là thơ thì phải biết làm thơ, là vẽ thì
  26. phải vẽ tranh, là báo thì phải viết bài đăng báo, là thầy thuốc thì phải biết khám bệnh và làm thuốc chữa bệnh cho mọi người. Hoặc một người học, làm chuyên sâu giỏi một nghề, hiểu biết nhiều lĩnh vực, kết hợp hài hoà “học một biết mười” và “nhất nghệ tinh nhất thân vinh”. Tuổi trẻ ngày nay được học khá toàn diện các kiến thức tổng hợp trong trường phổ thông, đến khi vào đại học lại được học chuyên sâu ngành học. Cho nên nếu ý thức thật tốt cho việc học tập ngay từ khi bắt đầu cắp sách đến trường, các bạn trẻ thật sự có kiến thức rất toàn diện về văn hoá, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, là cái vốn quý báu cho lập nghiệp cuộc đời mình. Điều vô cùng quan trọng bởi họ chính là “nguyên khí quốc gia”, những người có hiểu biết, có bản lĩnh làm thay đổi tiến trình, thiết chế văn hoá, xã hội, là chủ nhân của đất nước văn minh trong tương lai. Cảm thụ văn hoá, nghệ thuật Văn hoá, nghệ thuật là bao gồm rất nhiều lĩnh vực văn hoá vật thể, phi vật thể, truyền thống, hiện đại của dân tộc, quốc gia, rộng ra là cả nền văn minh truyền thống và hiện đại của thế giới. Đó là giá trị văn hoá tinh thần, ngôn ngữ, tiếng nói, lối sống, nếp sống, phong tục, tập quán, lễ nghi, nghệ thuật, văn học, thơ ca, hội hoạ, tạo hình, âm nhạc, bảo tồn, bảo tàng, văn nghệ dân gian, nghệ thuật truyền thống mà mỗi người cần hiểu biết, cảm nhận và tự hào. Phải khởi nguồn từ tình yêu văn hoá, nghệ thuật mà học tập, nghiên cứu bồi đắp cho cảm xúc nhạy cảm, thâm sâu để nâng lên tâm hồn lãng mạn của người nghệ sĩ mới có thể tiếp cận được với sự huyền diệu về cái hay, cái đẹp của giá trị văn hoá, nghệ thuật nhân văn. Văn hoá, nghệ thuật dân gian được đúc kết từ ngàn đời qua truyền thuyết, cổ tích, thần thoại, trường ca dân gian cho đến những áng thơ, văn sáng tạo trong thực tế cuộc sống của con người đương đại. Những khuôn vàng, thước ngọc của hùng văn, lời hịch, tiểu thuyết, trường ca làm rung động lòng người. Chúng ta trân trọng, yêu mến những giá trị nghệ thuật và nhân văn đỉnh cao trong những thiên tiểu thuyết, thơ ca nổi tiếng, chiêm
  27. ngưỡng các kỳ quan trên thế giới, những kiệt tác hội hoạ, điêu khắc, những công trình kiến trúc, nghệ thuật đặc sắc của các nghệ sĩ thiên tài. Giá trị tinh thần của văn hoá, nghệ thuật càng tinh tế, cao siêu càng nâng cao tâm hồn lãng mạn lên thánh thiện, cảm hoá lòng người thêm tin yêu cuộc sống. Thẩm mỹ, nhân văn của văn học Tác phẩm văn xuôi có giá trị thẩm mỹ cao, tính nhân văn sâu sắc từ trong cốt truyện, bố cục nội dung và nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, là tác phẩm hay, là kiệt tác để đời. Trong lịch sử văn học Việt Nam và văn học thế giới rất nhiều nhà văn xuất sắc có những tác phẩm văn xuôi đồ sộ, vĩ đại. Tên tuổi của những thiên tài về văn học cùng với tác phẩm bất hủ của họ sống mãi với thời gian trong lòng nhân loại. Đó là những trường thiên tiểu thuyết, kịch, truyện ngắn, tuỳ bút, bút ký, ký sự, phóng sự truyền cảm có sức thu hút, cảm hoá, lay động lòng người. Người đời say mê, tôn vinh tác phẩm, tác giả và quốc gia, có khi rất nhớ tên tác phẩm mà không nhớ tên tác giả, hoặc nhớ tên tác giả mà không nhớ tên tác phẩm. Dù thế nào thì đó cũng là vinh quang cho di sản tinh thần trong lòng công chúng: Chiến tranh và hoà bình (Lep Tonxtoi), Sông Đông êm đềm (Solokhov), Những người khốn khổ (Victor Hugo), Nghìn lẻ một đêm (Văn học Ảrập), Đông Chu liệt quốc (Sái Nguyên Phóng), Hồng lâu mộng (Tào Tuyết Cần), Tây du ký (Ngô Thừa Ân), Tam quốc diễn nghĩa (La Quán Trung), Thủy Hử (Thi Nại Am), Thép đã tôi thế đấy (Ostrovxki), Hăm lét (Sếchxpia), Tấn trò đời (Ban Zac), Trường ca Ta go - Ấn Độ, Kép Tư Bền, Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan), Chí Phèo, Sống mòn (Nam Cao), Giông tố, Số đỏ (Vũ Trọng Phụng), Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), Đất rừng phương Nam (Đoàn Giỏi), Sông Đà (Nguyễn Tuân), Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi), Hòn đất (Anh Đức), Bão biển (Chu Văn), Chiếc lược ngà (Nguyễn Sáng), Thời xa vắng (Lê Lựu), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Chèo Tào Mạt, Kịch Lưu Quang Vũ Văn học hư cấu hay ký sự, phóng sự, ghi chép đều xuất phát từ cuộc sống thực tiễn về thiên nhiên, đất nước, con người. Mỗi tác phẩm không chỉ để đọc, để giải trí mà mang đến cho người đọc giá trị nhân văn sâu sắc, cảm nhận êm đềm hay dữ dội, chuyển hoá trong tâm hồn những rung động, say mê. Điển hình trong văn học là những
  28. tinh hoa được chắt lọc, tạo dựng, phản ánh sinh động qua tài năng của các nhà văn mà đi vào lòng người và sống mãi với thời gian. Nghệ thuật là hư cấu, sáng tạo, nhưng có chuẩn mực của văn hoá, hết sức nhân văn, tôn trọng và còn định hướng thẩm mỹ người đọc. Không biết tại sao, có người (nhất là một số người viết trẻ hiện nay), viết toàn những cốt truyện ly kỳ, rắc rối hoặc linh tinh, vớ vẩn, thậm chí đảo lộn cả luân thường đạo lý, gây phản cảm, chẳng để lại gì trong lòng công chúng. Trong cuộc trường chinh gian khổ, vinh quang xây dựng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, cả nước lên đường đánh giặc, trong đó có những người chiến sĩ hành quân ra mặt trận. Ngày vượt qua mưa bom, bão đạn, đêm lội suối, xuyên rừng trong ánh trăng sao vằng vặc. Nắmg lửa, gió giông, mưa rừng, bão bể, vòng lá nguỵ trang, ba lô, súng đạn, các anh chẳng ngại gian lao, chống chọi với bệnh tật, thương vong và sốt rét rừng, ra đi chiến đấu vì nền độc lập tự do của Tổ quốc. Có khi cơn sốt rét rừng ập đến, người chiến sĩ phải nằm trên cánh võng giữa rừng sâu và đoàn quân vẫn tiếp tục xuyên rừng ra trận. Một thời gian sau, trong rừng già cây lá um tùm, chỉ còn lại bộ xương và những hành trang của người chiến sĩ nằm nguyên trên cánh võng! Chiến tranh là gian khổ, hy sinh là thử thách lòng yêu nước, ý chí trung kiên của mỗi con người trước vận mệnh của non sông, dân tộc. Nếu nhà văn chỉ mô tả những vất vả gian nan, những đau thương, mất mát thì sẽ làm nhụt đi ý chí, ai còn muốn ra đi đánh giặc? Nhưng khắc hoạ những đêm hành quân âm vang tiếng hát, nhịp hành quân rầm rập băng rừng, đêm đêm nằm trên cánh võng đu đưa, đọc thư người yêu, nhìn lên bầu trời qua những vòm cây, kẽ lá như sàng những vì sao. Ôi, cuộc sống thân thương mà yêu quý, gian khổ mà lãng mạn, vui tươi. Cùng với bước chân các anh trên mọi nẻo đường Tổ quốc là tình cảm của hậu phương thân yêu và hy vọng. Tác phẩm văn chương đã làm thức dậy trong lòng người chiến sĩ tình yêu cuộc sống, tình yêu đất nước bao la để tăng thêm sức mạnh tiếp tục cuộc trường chinh giải phóng đất nước. Đất nước trong chiến tranh đang cần nhân lực, vật lực phục vụ chiến trường. Nhà văn cũng góp phần mình vào cuộc chiến bằng giá trị tinh thần, động viên, cổ vũ tổng lực chiến tranh nhân dân của toàn dân tộc. Rất nhiều nhà văn đã trở thành chiến sĩ thực thụ trong hàng ngũ những binh đoàn tiến vào trận đánh ác liệt trước quân thù. Và
  29. cũng rất nhiều thiên tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký, phóng sự, ký sự đặc sắc đã ra đời phản ánh chân thực, nóng hổi không gian ác liệt của chiến tranh. Khi đất nước được giải phóng, quê hương trở lại thanh bình, mọi người chung tay dựng xây Tổ quốc, lại cần có những tác phẩm lớn, những biên niên sử viết về chiến tranh đã qua để giáo dục lòng tự hào, sự nghiệp vinh quang của lớp lớp ông, cha chiến đấu, hy sinh cho nền độc lập tự do của đất nước. Những tác phẩm lúc này lại rất cần mô tả về hiện thực tàn khốc của chiến tranh, những hy sinh, mất mát, đau thương của con người để tôn vinh phẩm chất anh hùng của một thời binh lửa. Tình yêu thủy chung và trách nhiệm to lớn của hậu phương đã làm nên sức mạnh diệu kỳ trong cuộc chiến tranh nhân dân, chính nghĩa, thiên anh hùng ca lãng mạn của dân tộc Việt Nam thế kỷ XX. Và cũng rất cần những tác phẩm hay viết về điển hình cuộc sống, con người hàng ngày diễn ra phong phú trong công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước tiến lên văn minh, hiện đại để sống mãi trong lòng công chúng. Có biết bao cốt truyện hay về tình yêu, cuộc đời đầy nhân bản và mang tính giáo dục cao cả trong cuộc sống đương đại hôm nay. Văn chương đích thực là vậy và phải như vậy mới hoàn thành sứ mệnh của văn chương đối với đất nước, quê hương, dân tộc của mình. Tâm hồn thơ, ca Thơ là tiếng lòng, là cảm xúc sâu lắng, vô biên, là sự rung động mãnh liệt từ tâm hồn, trái tim của con người. Thơ là lời tri âm thầm kín, riêng tư, hay sục sôi, bùng cháy trong tâm can ở mỗi cuộc đời. Lời thơ có khi giản dị qua vần điệu của ngôn từ, ghi lại những cảm xúc rung động, chân thành như “diễn ca”, giãi bày tâm tư, tình cảm của con người trước hiện thực và biến thiên của cuộc sống. Hay bất chợt những ý tứ, hình tượng hiện lên, hình thành chất thơ thực sự, làm nên giá trị đích thực của thơ ca. Hồn thơ rung lên mãnh liệt, tứ thơ sâu sắc, hình tượng, ngôn ngữ biểu cảm, hàm xúc, chứa nhiều ý nghĩa, làm cho ta cảm nhận lắng đọng tuyệt vời, lung linh mãi trong tâm trí. Mỗi cấu tứ sâu xa, hay ngẫu hứng tức thời, có khi chỉ như những dòng “nhật ký”; nhưng cũng có khi tạo nên tác phẩm thơ ca có
  30. giá trị nghệ thuật cao siêu, giàu chất nhân văn. Đó là tâm huyết và trí tuệ thăng hoa trong tâm hồn người nghệ sĩ những lúc cảm xúc vui, buồn Hãy dung hoà cảm xúc tình cảm và cảm nhận rung động thật chân thành, để đọc, để thưởng thức, để hoà tiếng lòng cùng nhiệt huyết của tâm hồn, tri âm cùng các tác phẩm thơ ca. Đất nước Việt Nam là đất nước của tâm hồn thi ca, ca dao, dân ca, tục ngữ, lời ru, của câu hò, điệu lý, của “Truyện Kiều” nên người Việt Nam rất yêu thơ ca và cũng rất thích làm thơ. Nhiều người Việt Nam làm thơ, có người làm thơ hay, trở thành những thi nhân với tác phẩm thơ ca bất hủ, để đời. Thơ phản ánh tình yêu cuộc sống, tình yêu đất nước, tình yêu con người. Thơ ca ngợi giá trị lao động, dựng xây và là vũ khí đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. Thơ như hoa thơm, trái ngọt mang đến cho đời nồng ấm, ngọt ngào và chia sẻ phiền muộn, ưu tư. Xưa nói đến thơ, các nhà hiền triết thường hay nói về “bầu rượu, túi thơ” Khi tâm hồn con người lâng lâng, dâng trào, nhìn đất, nhìn trời, nhìn đời đầy cảm xúc mà nảy ra những ý tứ thơ hay. Và nhiều khi người ta hay nói vui rằng “thi sĩ là tâm hồn treo ngược cành cây” là thế. Nói đến giá trị nghệ thuật và tâm hồn thi ca là nói đến tính dân gian, tính bác học, thẩm mỹ nghệ thuật; Là cảm xúc rung động tâm hồn, hình tượng ngôn ngữ và cấu tứ của tác phẩm. Không có cảm xúc rung động tâm hồn, không thể làm thơ. Không có hình tượng ngôn ngữ, không thể có thơ hay. Không có cấu tứ tinh tế, sâu sắc, không thể làm nên giá trị tác phẩm thơ ca đi vào công chúng muôn đời. Tiếp cận với thơ ca còn phải hiểu về từng thể loại: Ca dao, thơ lục bát, thơ Đường, song thất lục bát, thất ngôn, tứ tuyệt, thơ truyền thống, thơ hiện đại, thơ tự do mà rung động tâm hồn theo nhịp điệu của từng thể loại mới thấy cái hay, cái đẹp của tác phẩm thơ ca. Vậy thì làm thơ cho thật đích thực hay cũng không phải dễ dàng. Nhưng đọc thơ ca mà cảm nhận được cái hay, cái đẹp cũng là một giá trị tinh thần và làm phong phú tâm hồn cho mỗi con người. Người ta còn cảm thụ thơ ca bằng cách lẩy, ngâm, đọc, thể hiện trên nền nhạc làm cho sức truyền cảm của thơ ca thêm phong phú, hiệu quả với bản thân mình hoặc chuyển tải thưởng thức tới người nghe.
  31. Thơ ca không chỉ phản ánh tư tưởng, tình cảm con người, mà còn mang thông điệp của thời đại, là vũ khí đấu tranh cho lý tưởng, công bằng xã hội, làm tròn sứ mệnh giải phóng cho quê hương, đất nước, như Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại, nhà thơ cách mạng đã nói: “Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong” Sau chiến tranh, một thế hệ người mới ra đời, trong đó có một số thích làm thơ. Họ lớn lên trong xã hội mới trên đất nước hoà bình, tiếp cận với công cuộc đổi mới và cũng muốn bứt phá, đổi mới luôn cho thơ ca. Những bài thơ mệnh danh “đổi mới” nên bỏ luôn thể loại truyền thống, cứ thế mà sáng tác, cho ra đời những câu, chữ trục trặc, liên tục hoặc xuống dòng, xuống dòng, đứt quãng rất khó đọc. Nội dung thì nói thẳng, đi thẳng vào đời sống thực tế, bản ngã, riêng tư, trần trụi, bạo liệt đúng như nhịp sống, lối sống hiện đại của tuổi trẻ ngày nay. Đọc xong, người đọc không hiểu tác giả nói gì và cũng chẳng có rung động trong lòng cái gì, cũng chẳng cảm thụ được gì, chẳng nhớ gì nữa, thậm chí còn thấy tốn giấy, mất thời gian, rất bực mình. Thế là tác giả cùng bài thơ cũng chết luôn vào nhịp sống của kinh tế thị trường, hối hả, bon chen và mất tiêu đâu mất! Người ta còn sáng tạo ra những loại thơ thư hoạ, thơ sắp đặt, trình diễn chỉ để cho một nhóm nhỏ người cùng sở thích. Nó trừu tượng, có khi rắc rối trở nên khó hiểu cho đông đảo công chúng. Những thi sĩ, nhà thơ thiên tài đã để cho đời những tác phẩm thơ ca tuyệt diệu: Puskin, Lemontov, Ximônôp, Êxênhin, Eptusenco, Ongabecgon, Aragong, Hai nơ, Tago, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Huy Cận, Hàn Mạc Tử Những tác phẩm thơ ca: Kiều, Lục Vân Tiên, Tống Trân Cúc Hoa, Nhật ký trong tù, Từ ấy, Việt Bắc, Gió Lộng, Thề non nước, Quê Hương, Thăm lúa, Đêm nay Bác không ngủ, Lên miền Tây, Đồng chí, Chúng con chiến đấu cho người sống mãi Việt Nam ơi, Đất nước, Trường ca mặt đường khát vọng, Tây tiến, Màu tím hoa Sim, Sông Đuống, Núi đôi, Ngọn đèn đứng gác, Dáng đứng Việt Nam, Lửa đèn, Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây, Tiểu đội xe không kính, Gửi em cô thanh niên xung phong, Tre Việt Nam, Hương Thầm, Vàm Cỏ
  32. Đông đi vào lòng người, để lại những cảm xúc tươi đẹp, xao xuyến, lung linh. Truyện Kiều (Đoạn trường Tân thanh) của thi sĩ thiên tài Nguyễn Du là kiệt tác thơ nôm Việt Nam bất hủ và được người đời vinh danh ông là Đại thi hào dân tộc. Tài năng của Nguyễn Du đã tôn vinh ngôn ngữ tiếng Việt lên tầm cao mới, đặc sắc và vô cùng huyền diệu, truyền cảm. Mỗi câu, mỗi từ trong thi phẩm truyện Kiều đều là một điển tích về nhân sinh, thời cuộc, con người. Truyện Kiều thấm đậm văn hoá dân gian và biểu cảm rung động phong phú trong tâm hồn. Người Việt Nam yêu thích, trân trọng truyện Kiều và lấy truyện Kiều làm cẩm nang cho đạo lý, lẽ sống ở đời mà ngân nga, suy ngẫm. Trăm năm trong cõi người ta Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng Lời quê chắp nhặt dông dài Mua vui cũng được một vài trống canh. Hiếm có một tác phẩm văn học nào lại được người đời của nhiều thế hệ thuộc nhiều, có khi thuộc cả tác phẩm dài hàng nghìn câu như truyện Kiều. Bởi vì nó hay, dễ đọc, dễ đi vào lòng người và dễ nhớ. Với những tác phẩm giá trị để đời, năm 1965, nhân kỷ niệm 200 năm Đại thi hào Nguyễn Du, Unesco đã vinh danh ông là “Danh nhân văn hoá thế giới”. Bài thơ “Từ ấy” của nhà thơ cách mạng nổi tiếng Tố Hữu được tác giả viết vào những năm 30 của thế kỷ XX, thành lập Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước làm cách mạng. Sự ra đời của Đảng, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh thiên tài, vĩ đại như một luồng gió mới xua đi bóng đêm nô lệ, như ánh mặt trời chiếu rọi xua tan mây mù cho nhân dân đứng lên đấu tranh giành tự do độc lập. Gắn cùng
  33. với nhân dân trong hoàn cảnh đó, Tố Hữu cũng như bừng tỉnh trong tâm hồn, hướng cuộc đời đi theo Đảng để làm cách mạng. Cùng với nhân dân, từ đấy Tố Hữu bắt đầu một cuộc đời mới, tin tưởng lạc quan trên con đường cách mạng của Đảng, của dân tộc. Từ trong tâm hồn nhà thơ rung lên cảm xúc hạnh phúc của đời mình và dòng thơ tuôn chảy theo những hình tượng biểu cảm, chân thành. Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lý chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hươmg và rộn tiếng chim. Cảm xúc từ khổ thơ đầu mở ra, xuyên suốt cho cả bài thơ là tình nhân ái, cảm thông với nỗi khổ của đồng bào mình. Đồng thời ở hai khổ thơ tiếp theo như đặt ra câu hỏi vì đâu và cũng tự nhắn với lòng mình, với mọi người hãy cùng nhau liên kết tình thân yêu máu thịt anh em một nhà, trong niềm tin rằng từ nay đã có chân trời mới, tươi sáng trên con đường giải phóng khỏi lầm than. Tôi buộc lòng tôi với mọi người Để tình trang trải với trăm nơi Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh cõi đời. Tôi đã là con của vạn nhà Là em của vạn kiếp phôi pha Là anh của vạn đầu em nhỏ Không áo cơm, cù bất cù bơ Bài thơ đã nói lên ước mơ, khát vọng của con người và của dân tộc nên đi vào lòng người. Cảm xúc dâng trào, ngôn ngữ chải chuốt, hình tượng đẹp làm cho bài thơ dễ thuộc, dễ nhớ. Vì vậy mà một thời
  34. chiến tranh, binh lửa bài thơ được mọi người đón nhận và trở thành hành trang trong mỗi bạn trẻ trên khắp nẻo đường lao động, xây dựng và chiến đấu giải phóng đất nước. Bài thơ “Tre Việt Nam” của nhà thơ Nguyễn Duy là một bài thơ hay của thể thơ lục bát, đậm đà chất liệu dân ca, ca dao nhưng lại được “đổi mới” trong nghệ thuật thi pháp thể hiện. Tre xanh Xanh tự bao giờ Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh Thân gầy guộc, lá mong manh Mà sao nên luỹ, nên thành tre ơi Ở đâu tre cũng xanh tươi Cho dù cát sỏi đá vôi bạc màu Có gì đâu, có gì đâu Mỡ màu ít chất dồn lâu hoá thành Rễ siêng không ngại đất nghèo Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù Vươn mình trong gió tre đu Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành êu nhiều nắng nỏ trời xanh Tre kia bỗng ngại khuất mình bóng râm Bão bùng thân bọc lấy thân Tay vin tay níu tre gần nhau thêm
  35. Thương nhau tre chẳng ở riêng Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người Cho dù thân gẫy cành rơi Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho con Loài tre không chịu mọc cong Mới lên đã thẳng như chông lạ thường Lưng trần phơi nắng phơi sương Có manh áo cộc tre nhường cho măng Măng non là búp măng non Đã mang dáng thẳng, thân tròn của tre Năm qua đi, tháng qua đi Tre già măng mọc có gì lạ đâu Mai sau Mai sau Mai sau Đất xanh, tre mãi xanh màu tre xanh! Bài thơ lý giải về “Cây tre Việt Nam” thật tài tình và giàu cảm xúc hình tượng. Từ cây tre bình thường, giản dị ở khắp làng quê, được tác giả nhân cách hoá, phi thường hoá thành biểu tượng khái quát cốt cách, tâm hồn với những phẩm chất cao quý của con người và dân tộc Việt Nam. Với những hình ảnh, ngôn từ thật giản dị, dân gian và nghệ thuật biểu cảm đặc sắc, Nguyễn Duy đưa tình cảm con người về với cảm xúc thật lắng sâu của hiện thực. Nói về cây tre nhưng lại khắc hoạ
  36. về phẩm chất kiên cường, tình đoàn kết thương yêu, lòng nhân ái của con người Việt Nam trong cộng đồng dân tộc Việt. Cảm xúc êm trôi, bập bùng, uyển chuyển của thơ lục bát truyền thống được đổi mới thi pháp thể hiện đã gieo vào lòng người đọc cảm nhận khác thường. Phương pháp ngắt nhịp, xuống nhịp, điệp từ làm nên cái lạ, cái hay đặc biệt cho bài thơ. Bài thơ “Tre Việt Nam” đã góp phần xứng đáng đưa nhà thơ Nguyễn Duy trở thành nhà thơ đặc sắc về thể loại thơ lục bát. Giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ đã vượt lên thành một trong những tác phẩm độc đáo của thơ ca Việt Nam hiện đại. Bài thơ “Tre Việt Nam” đã được đưa vào chương trình văn học của sách giáo khoa giáo dục trong nhà trường phổ thông Việt Nam. Cùng với những tác phẩm thơ ca phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó có thơ lục bát, Nguyễn Duy đã giành giải nhất cuộc thi thơ tuần báo Văn Nghệ năm 1973, tặng thưởng loại A về thơ của Hội nhà văn năm 1985 và vinh dự nhận giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007. Chúng ta lại đến với đề tài tình yêu trong bài thơ “áo đỏ”: Áo đỏ Em đi giữa phố đông Cây xanh như cũng ánh lên hồng. Em đi lửa cháy trong bao mắt Anh biến thành tro Em biết không? Đọc bài thơ tình này của nhà thơ Vũ Quần Phương, thấy trước hết tác giả mượn cớ cho người con gái mặc cái áo màu đỏ (hoặc cũng có thể bất chợt trong thực tế gặp cô gái mặc áo đỏ trên đường), để chủ ý làm nên bất ngờ cho tứ bài thơ. Chỉ một màu đỏ của áo Em đi giữa phố đông người nhộn nhịp dễ trở nên chú ý. Không những thế mà cảm nhận của nhà thơ hình dung ra phản xạ của màu đỏ còn ánh hồng lên tất cả màu xanh cây cỏ bên đường thì thật diệu kỳ. Diệu kỳ hơn nữa là màu đỏ áo Em rực rỡ càng làm cho mọi người chú ý nhìn theo hoặc vô tình ánh đỏ như ngọn lửa cháy trong mắt họ. Nhưng tất cả mới là giới hạn của tự nhiên, cho đến khi cảm nhận ấy được nâng lên mức đắm say mà Anh nhìn màu đỏ nơi Em càng trở nên rạo rực. Màu đỏ áo Em không chỉ là thực thể màu đỏ trong mắt Anh mà nó đã
  37. đốt bùng cháy lên ngọn lửa tâm hồn, tình yêu của lòng Anh, làm cho Anh biến thành tro Em biết không Tứ thơ kết cục bất ngờ làm nên bài thơ hay, ngắn nhưng cháy bỏng tình yêu, ghi sâu vào tâm tưởng người đọc. Truyền thống tốt đẹp hàng nghìn năm được phát huy trong công cuộc kháng chiến và dựng xây đã hình thành một lớp người thiết tha yêu đất nước, quê hương, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh cho nền độc lập của dân tộc. Văn hoá nhân nghĩa, anh hùng Việt Nam đã thăng hoa cho tài năng các trí sĩ, nghệ sĩ và hàng loạt nhà thơ yêu nước, cách mạng chân chính với những tác phẩm thơ ca góp phần làm rạng danh non sông, Tổ quốc. Những chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Tản Đà rồi các nhà cách mạng và các nhà thơ đi theo cách mạng: Hồ Chí Minh, Sóng Hồng, Tố Hữu, Thanh Hải, Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Quang Dũng, Giang Nam, Tế Hanh, Thế Lữ, Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử, Nông Quốc Chấn, Thu Bồn, Chính Hữu, Trần Hữu Thung, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Anh Thơ, Phạm Hổ, Lưu Trùng Dương, Bùi Minh Quốc đến Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Vũ Quần Phương, Lưu Quang Vũ, Lê Anh Xuân, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Đoàn Thị Lam Luyến, Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa, Hoài Vũ, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Duy và rất nhiều tên tuổi khác với những sáng tác về mọi lĩnh vực, mọi thể loại, mọi đối tượng ra đời trên thi đàn đất Việt. Đó là đội ngũ những nhà thơ đã góp phần xứng đáng cùng cả nước hoàn thành sứ mệnh lịch sử vinh quang của dân tộc, đưa đất nước Việt Nam trong những năm của thế kỷ XX với bao biến cố oai hùng trong lịch sử, vượt lên giành độc lập. Cảm thụ âm nhạc Âm nhạc là âm thanh có nhạc điệu. Chúng ta thử tưởng tượng, một người đem nhốt vào một phòng kín hoàn toàn cách biệt, im lìm, tĩnh lặng tuyệt đối không có âm thanh trong một thời gian thì khó chịu đến mức nào. Một đứa trẻ sơ sinh cho vào căn phòng như vậy chắc chắn sẽ trở thành điếc, câm, ngớ ngẩn. Như vậy, âm thanh tác động rất mạnh và hiệu quả đến trí tuệ và đời sống con người. Âm thanh là những tiếng động, tiếng ồn, tiếng lao xao của gió, rì
  38. rào của cây, tiếng rên rỉ của côn trùng, tiếng hót líu lô của những bầy chim và tiếng nói con người có khi hỗn tạp, có khi ngân lên thành giai điệu âm vang, trầm hùng, lảnh lót. Tiếng động, tiếng ồn đơn điệu mới chỉ là âm thanh, nhưng khi cất lên vang ngân, trầm bổng thì hình thành nhạc điệu. Âm thanh và nhạc điệu kết hợp thành hoà tấu âm nhạc có sức truyền cảm đến nhận thức của con người. Âm nhạc có khi rung lên từ trong tâm khảm mà ngân thành tiếng hát tự nhiên. Những điệu hò, điệu lý, làn điệu dân ca cứ thế mà ngân nga ở các làng quê, trong các luỹ tre làng, trên những dòng sông, trong lễ hội dân gian. Và biến tấu giai điệu cùng những lời ca mà thành bài hát nói lên tình yêu thiên nhiên, ca ngợi non sông, đất nước và khát vọng hạnh phúc của con người. Người xưa đã biết tận dụng những vật liệu chế tác thành các âm thanh khác nhau để đơn tấu như sáo, đàn bầu, trống, mõ, phách, sinh tiền, hay hoà tấu nhiều nhạc cụ khác nhau cho sinh động như bát âm (8 loại vật liệu dùng làm nhạc cụ: Bào, Đất, Da, Gỗ, Đá, Kim, Ty, Trúc). Bào là quả bầu già, ghép một số ống trúc trong vỏ bầu để thổi thành tiếng. Thổ là đất nung, tròn, đường kính khoảng 10 đến 15cm, trên nhọn, đáy bằng, có 6 lỗ để thổi thành tiếng. Cách là da, làm trống và bịt các bầu đàn, nhị. Kim là kim loại, đồng để đúc chuông, chiêng, khánh và các nhạc cụ khác. Mộc là gỗ dùng làm các bộ gõ như mõ, phách, sinh tiền. Thạch là đá quý, dùng làm khánh và các nhạc cụ bằng đá. Ty là sợi tơ, tóc, lông đuôi ngựa (ngày nay có dây kim loại) dùng làm dây đàn và vĩ kéo của đàn tỳ bà, nhị, Violon. Trúc là ống trúc, ống tre dùng làm sáo, tiêu, khèn. Ngày nay có các bộ dây, bộ gỗ, bộ đồng, bộ gõ và dụng cụ âm nhạc đã được sáng tạo bằng kỹ thuật cao, dựa vào sự phối hợp âm thanh với điện tử thành những thiết bị hoà âm rất hiện đại như đàn Ghi ta điện, Oóc, Pianô Âm nhạc có sức lan truyền, cảm hoá từ trong cảm xúc, tâm hồn, tạo nên sức mạnh vô biên cho tâm thức và hành động của con người. Vì vậy khi nghe âm nhạc, thưởng thức âm nhạc là phải biết cảm thụ sự truyền cảm đặc biệt trong tâm hồn mới thấy được cái hay, cái đẹp và sức mạnh của nghệ thuật âm nhạc. Khi các nhạc cụ dân ca, chèo cổ, đàn ca tài tử hoà vào nhau, tấu lên làm cho người nghe đã thấy xao xuyến, lâng lâng trong tâm hồn, rạo rực trong tâm trí. Rồi lời ca hoà với âm thanh càng cuốn hút, thăng hoa trong tâm tưởng con người mà trở nên huyền diệu, vui, buồn cùng nhạc điệu. Hoặc chỉ hát ngân lên những câu dân ca, làn điệu hát chèo cũng đã rung động tâm hồn trong nghệ thuật sâu xa.
  39. Những làn điệu chèo, điệu dân ca Cây trúc xinh, Cò lả, Lới lơ, Xẩm xoan, Nhịp qua cầu, Trống cơm, Nhã nhạc cung đình, Đờn ca tài tử làm cho tâm hồn con người vui tươi, trong sáng, lâng lâng. Những làn, điệu Đường trường tiếng đàn, Hoài tình, Vãn cầm, Sa lệch chênh, Du xuân, Vọng cổ, Dạ cổ hoài Nam có khi làm cho người ta bùi ngùi rơi nước mắt. Chúng ta hãy thưởng thức lời dân ca sau đây: Tình tính tang tang tính tình Cô nàng rằng ấy cô nàng ơi Rằng có nhớ nhớ hay không rằng có nhớ nhớ hay không ? Đây là bài dân ca đồng bằng Bắc Bộ mô tả về cuộc tỏ tình của đôi trai gái khi gặp nhau trên đường, hoặc ở hội làng. Ngày xưa, trong xã hội phong kiến Việt Nam, việc tự tìm yêu nhau là rất khó (nam nữ thụ thụ bất thân). Chỉ nhân dịp đi chơi, đi trẩy hội mới có thể được gặp nhau, nhìn nhau và nhân cơ hội mà tỏ tình. Câu dân ca trên đây là thành quả của cơ hội trời cho khi Chàng được dịp gặp Nàng mà thoả nỗi nhớ mong. Chàng trai làng áo dài, tóc búi, gặp Nàng khăn mỏ quạ, áo tứ thân, đội nón quai thao. Tình trong như đã, mặt ngoài còn e mà e thẹn ngập ngừng (chứ không táo tợn như tuổi trẻ này nay đâu!). Thế nên Chàng từ từ tiến lên ra lời cũng rất ngập ngừng Tình tính tang rồi lại lui trở lại Tang tính tình đứng vào vị trí cũ, như chưa dám liều lĩnh, mà dò hỏi tử tế trong âm điệu dịu êm từ tốn của Tang tính tình Trong trường hợp này mà Tang tính tính thì thật táo tợn, trong tư thế xông tới, mất hết cả duyên thầm mà hỏng việc và Nàng cũng đến bỏ chạy vì cử chỉ vô duyên của anh chàng háo sắc này thôi! Chúng ta thấy âm điệu, lời ca trong hoàn cảnh lúc này thật là tuyệt diệu. Và khi đứng vào vị trí cũ rồi, Chàng lại mới dám ướm hỏi Ấy cô Nàng rằng Ấy cô Nàng ơi Rằng có nhớ nhớ hay không Rằng có nhớ nhớ hay không Láy đi láy lại Rằng có nhớ nhớ hay không rồi Chàng chờ đợi Nàng sẽ trả lời bằng lời lẽ yêu thương hay chối từ để tuỳ cơ mà ứng biến. Nhưng trước một con người lịch lãm, tế nhị, chân thành như vậy, làm sao Nàng có thể chối từ? Tình yêu êm đềm, lung linh, xao xuyến, nhớ nhung thật là
  40. đẹp. Chỉ qua một đoạn dân ca mà chúng ta đã thấy cái tài, cái lãng mạn, uyên thâm trong nền văn hoá dân gian của ông cha ta từ bao đời trước. Trở về với âm nhạc hiện đại, có rất nhiều tác phẩm âm nhạc nổi tiếng xúc động lòng người, có sức mạnh lan toả trở thành những bản tình ca bất hủ, những ca khúc cách mạng đi vào lịch sử góp phần làm nên chiến công vĩ đại trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của dân tộc Việt Nam nhân nghĩa, anh hùng. Chúng ta tự hào thừa hưởng một nền âm nhạc dân tộc đậm đà và phát triển hiện đại, với những tác giả tài danh cùng các tác phẩm âm nhạc để đời trong thế kỷ XX đánh giặc và kiến quốc. Đồng thời với sự phát triển của đất nước, nền âm nhạc Việt Nam cũng phát triển theo đường lối hiện đại và giữ gìn bản sắc dân tộc. Cùng những tác phẩm âm nhạc truyền thống dân tộc là những ca khúc mới, hợp xướng, giao hưởng, nhạc không lời ra đời làm phong phú đời sống âm nhạc cách mạng (còn gọi là nhạc đỏ), đương đại Việt Nam đổi mới với những nhạc sĩ nổi tiếng: Đỗ Nhuận, Văn Cao, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Văn Thương, Lưu Hữu Phước, Trần Kiết Tường, Hoàng Việt, Trọng Bằng, Huy Thục, Huy Du, Nguyễn Tài Tuệ, Tô Hải, Văn Ký, Nguyễn Văn Tý, Hoàng Vân, Bùi Đức Hạnh, Trần Chung, Văn Dung, Thanh Phúc, Nguyễn Đức Toàn, Phan Huỳnh Điểu, Phạm Tuyên, Phong Nhã, Thuận Yến, Trần Hoàn, Trịnh Công Sơn, Phan Thanh Nam, Trần Tiến, Trần Long Ẩn, Nguyễn Tài Tuệ, Phan Nhân, Hoàng Hiệp, An Thuyên, Phó Đức Phương, Hồ Bắc, Thái Cơ, Tân Huyền, Trần Thanh Tùng, Tôn Thất Lập, Diệp Minh Tuyền Những ca khúc ca ngợi non sông, đất nước Việt Nam anh hùng, ca ngợi Đảng CSVN quang vinh, Bác Hồ vĩ đại: “Việt Nam quê hương tôi”, “Ca ngợi Đảng cộng sản Việt Nam”, “Đảng là cuộc sống của tôi”, “Việt Nam ơi mùa Xuân đến rồi”, “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người”, “Tiếng hát giữa rừng Pắc Bó”, “Việt Nam trên đường chúng ta đi”, “Hành quân xa”, “Chiến thắng Điện Biên”, “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân”, “Bình Trị Thiên khói lửa”, “Tiến về Sài Gòn”, “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” mãi mãi đi cùng năm tháng. Những bản tình ca và tình ca cách mạng: “Bài ca hy vọng”, “Tình
  41. trong lá thiếp”, “Câu hò bên bến Hiền Lương”, “Tình ca”, “Vàm Cỏ Đông”, “Xa khơi”, “Tình ca Tây Bắc”, “Trước ngày hội bắn”, “Quảng Bình quê ta ơi”, “Người đi xây hồ Kẻ Gỗ”, “Huế thương”, “Con kênh xanh xanh”, “Gửi em ở cuối sông Hồng”, “Dòng sông quê anh, dòng sông quê em”, “Làng Quan họ quê tôi”, “Dáng đứng Bến Tre” với những giọng ca truyền cảm, một thời làm xao xuyến trái tim, xúc động lòng người. Trong căn phòng tĩnh lặng, bản nhạc “Du kích Sông Thao” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận ngân lên: Hồng Hà mênh mông trôi cát tới chân làng quê Cuối sông chiều bến ai về có thấy làn gió xanh rì bát ngát đồng lúa ven bờ đê Hồng Hà trôi xuôi đưa nước trên ngàn về khơi Sông Thao ngoài bến Việt Trì có những chàng áo nâu về say mê dòng nước vui tràn trề Giai điệu, tiết tấu bài hát êm êm, tha thiết cùng với lời ca giàu hình tượng về dòng sông, với phối bè rất hiệu quả, làm cho chúng ta hình dung tưởng tượng ra trước mắt mình một dòng sông mênh mông mang theo phù sa màu đỏ đang êm đềm trôi về xuôi. Hai bên bờ là nương dâu, bãi mía rì rào trong gió. Giai điệu cứ lặp lại êm trôi, mô tả hình ảnh dòng sông quê hương lãng mạn và thật đẹp. Rồi đến khi biến tấu sôi nổi như dòng sông cuộn chảy thì sức sống của dòng sông bỗng mãnh liệt vô cùng. Dòng sông trên đất nước Việt Nam ta đẹp lắm. Hãy yêu mến, giữ gìn lấy dòng sông yêu dấu để bồi đắp cho sức sống muôn đời của dân tộc. Dòng sông là nguồn nước, nguồn sống sinh sôi. Dòng sông uốn lượn tô đẹp quê hương, làng xóm, cần phải bảo vệ dòng sông cho sự thanh bình của đất nước, quê hương. Vậy mà bỗng nhiên, quân giặc kéo đến, trút bom đạn xuống dòng sông, tàn phá bờ ngô, bãi mía ven sông. Tiếng vũ khí chiến tranh xé tan bầu không khí êm đềm, bom đạn tàn phá bờ sông. Bao đau thương trùm lên dòng sông quê hương đất nước. Hãy đồng lòng cùng nhau vùng lên chiến đấu, đánh đuổi quân giặc bạo tàn, cho dòng sông trở lại êm trôi, thân thiết. Nhạc điệu, lời ca không có tiếng bom rơi, đạn nổ, không kêu gọi, động viên, chỉ êm đềm tha thiết nhưng thấm sâu, đã biến tình yêu dòng sông thành ý chí căm thù giặc xâm lăng, quyết đứng lên chiến
  42. đấu dành độc lập, tự do cho non sông, đất nước để cho dòng sông mãi mãi thơ mộng, êm đềm. Càng nghe bản nhạc càng lắng sâu vào lòng người một tình yêu đất nước bao la. Hiệu quả của tác phẩm âm nhạc thật là to lớn, kỳ diệu, vô biên. Chúng ta lại nghe tiếng hát vút lên giữa đại ngàn núi non hùng vĩ của người chiến sĩ biên phòng trên biên cương núi rừng Tổ quốc qua hợp xướng “Tiếng hát người chiến sĩ biên thuỳ” nổi tiếng của nhạc sĩ Tô Hải. Khi giọng ca lĩnh xướng cất lên Chương I Chương II Chương III Chiều chiều dừng chân đỉnh non sườn núi Ngắm trông xa xa về phía chân trời Quê hương yêu dấu, bao người chờ trông Những đêm trăng rằm tiếng ca vang lừng cùng người xa vắng đập lúa dưới trăng Hình ảnh người chiến sĩ biên thuỳ cưỡi ngựa trên miền biên giới được khắc hoạ rất đẹp trên đại ngàn núi cao, rừng thẳm. Anh đang chắc tay súng đứng ở biên cương giữ gìn biên giới mà lòng luôn hướng về quê nhà yêu dấu với mẹ già, vợ con, người yêu ngày đêm mong nhớ. Nếu giọng ca lĩnh xướng chỉ hát lên lời ca trên đây không thôi thì nỗi lòng người chiến sĩ cảm thấy cô đơn. Nhưng dưới nền lĩnh xướng là dàn âm thanh, hợp xướng tạo tiếng rì rào của núi rừng, sự rộn ràng của của cuộc sống quê hương làm cho bản nhạc thăng hoa, vững chắc. Nghệ thuật phối âm, phối khí đã khắc hoạ trong tâm khảm người nghe hình ảnh người chiến sĩ biên phòng trên biên cương, dưới xa kia có núi rừng, quê hương, hậu phương luôn là chỗ dựa vững vàng cho anh và nhắn nhủ anh rằng, hãy yên tâm mà giữ gìn đất nước. Toàn bộ bản nhạc gồm bốn chương: Chương I, Cảnh đẹp tươi, hùng vĩ của thiên nhiên núi rừng biên giới; Chương II, Trên đường biên giới và cuộc sống gian khổ, hy sinh, đầy lãng mạn của người chiến sĩ biên phòng; Chương III, Tiếng gọi quê hương và lòng yêu thương, nỗi nhớ quê nhà; Chương IV, Quyết tâm chiến đấu bảo vệ biên cương Tổ quốc, giữ vững hoà bình. Theo tác giả thì: “Muốn viết một cái gì đó để đời, để đời với chính mình”. Các nhà nghiên cứu về âm nhạc đã đánh giá: “Đây là tác phẩm âm nhạc lớn nhất, xúc động nhất và hay nhất về người chiến sĩ biên phòng, là bản tình ca hùng tráng bằng âm thanh về người chiến sĩ
  43. biên thuỳ và cuộc sống đầy gian khổ, hy sinh nhưng cũng đầy lạc quan của họ ở vùng biên cương núi rừng xa xôi, đẹp tươi của đất nước mến yêu”. Tác phẩm âm nhạc có sức trường tồn phụ thuộc vào tài năng xuất chúng, thăng hoa của nhạc sĩ về giai điệu tiết tấu âm nhạc, ý nghĩa của lời ca và quan trọng là thể hiện tác phẩm. Đó là phối âm, phối khí và giọng hát chuyển tải tác phẩm âm nhạc. Nhạc sĩ sáng tác ra bản nhạc rất hay, nhưng phối âm, phối khí (nhạc đệm), hoặc người hát (nghệ sĩ, ca sĩ) hát không tốt sẽ không thể nào chuyển tải đến người nghe giai điệu và lời ca rung động lòng người. Vì thế mà có tác phẩm âm nhạc nghe nhạc cũng hay, lời cũng hay và ca sĩ hát cũng rất hay là thế. Trong thực tế từ chất giọng trời cho, có người hát hay được nhiều bài, nhưng có người hát bài hát này hay, bài hát khác lại thể hiện không hay bằng người khác hát. Đã có thời không ai hát bài hát “Tôi - Người thợ lò” hay hơn nghệ sĩ Trần Khánh. Bài hát “Tiểu đoàn 307” và “Tầm Vu” không ai hát hay bằng nghệ sĩ nhân dân Quốc Hương. Nghệ sĩ nhân dân Thu Hiền “sinh ra là để hát dân ca” và những bài hát mang chất liệu dân ca. Nghệ sĩ nhân dân Tường Vi luyến láy, xử lý âm vực rất tài tình khi thể hiện bài hát “Cánh chim báo tin vui” và “Chiếc đàn Ta Lư”. Bộ ba nghệ sĩ nhân dân Quý Dương, Trung Kiên, Trần Hiếu thể hiện thành công nhiều ca khúc cách mạng nổi tiếng. Giọng hát nghệ sĩ Tân Nhân đã nâng bài hát “Xa khơi” lên rất đặc sắc. Hai nghệ sĩ nhân dân Trung Đức - Thu Hiền hát rất hay bài hát “Chào em cô gái Lam Hồng”. Cặp đôi nghệ sĩ Mạnh Hà cùng Thu Hà song ca rất đặc sắc bài hát “Bài ca xây dựng” và nhiều bài hát khác. Nghệ sĩ Song Thao thể hiện rất thành công bài hát “Trông cây lại nhớ tới người”. Nghệ sĩ nhân dân Lê Dung với bài hát “Bài ca hy vọng”, “Người Hà Nội” truyền cảm, lắng sâu Tiếp đến các nghệ sĩ lớp sau như Trọng Tấn, Đăng Dương, Việt Hoàn, Tạ Minh Tâm và rất nhiều ca sĩ khác, phong cách biểu diễn thật chững chạc, văn hoá, hào hoa, thánh thiện. Chúng ta còn có một bộ phận âm nhạc Tiền chiến, là dòng tân nhạc đầu tiên của Việt Nam mang âm hưởng trữ tình lãng mạn xuất hiện vào cuối những năm 1930 (trước cách mạng tháng 8-1945), với những nhạc sĩ tiên phong Nguyễn Xuân Khoát, Lê Thương, Văn Cao, Đặng Thế Phong, Phạm Duy, Thẩm Oánh, Văn Chung, Doãn Mẫn, Lê Yên, Hoàng Quý, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Tô Vũ cùng những tác phẩm nổi tiếng Bình Minh, Mầu thời gian, Bản đàn xuân, Một ngày xanh, Hòn vọng phu, Trương Chi, Thiên Thai, Suối Mơ, Đêm Thu, Giọt mưa Thu, Con thuyền không bến, Tình Kỹ nữ, Bến Xuân,
  44. Cung đàn xưa, Bóng ai qua thềm, Biệt ly, Tiếng hát đêm Thu, Vườn xuân, Lời người ra đi qua những giọng hát nổi tiếng một thời Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly, Duy Trác, Sĩ Phú, Hà Thanh, Hoàng Oanh Từ sau năm 1975, hoàn thành sự nghiệp giải phóng đất nước, trong điều kiện hoà bình, đổi mới, phát triển kinh tế và hướng tới hội nhập, những trào lưu văn hoá ngoại lai cũng xâm nhập vào đất nước ta làm cho đời sống vật chất và tinh thần cũng thay đổi. Lớp trẻ sinh ra và lớn lên không còn trong chiến tranh, nên nhận thức và thị hiếu văn hoá nói chung và âm nhạc nói riêng cũng “đổi mới” so với ông cha xưa. Đó là tất yếu của lịch sử, xã hội và đời sống kinh tế thị trường, hội nhập. Vì vậy, chỉ một số rất ít tác giả tâm huyết với những sáng tác lớn, chính thống về đất nước, con người còn phần lớn chỉ là những sản phẩm quẩn quanh tình yêu ủy mỵ, tan vỡ, đớn đau, giải trí đơn thuần, thậm chí là những chuyện riêng tư với những công chúng trẻ của thời hội nhập! Bài hát được nhạc sĩ sáng tác hay nhưng phải được nghệ sĩ hát cảm nhận và chuyển tải từ trong sâu thẳm trái tim, tâm hồn ra giọng hát mới tạo ra hiệu quả cảm hoá, rung động lòng người. Đồng thời người nghe, dù không biết nhạc lý cũng phải biết lắng nghe, cảm nhận, thưởng thức, thẩm thấu, rung động vào tận trái tim, tâm hồn thì mới thấy được giá trị của tác phẩm âm nhạc. Những năm qua và hiện nay trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, với nhiều chương trình giới thiệu các loại hình âm nhạc đã và đang làm rất tốt việc hướng dẫn, định hướng thẩm mỹ âm nhạc cho thính giả thông qua các chương trình trên sóng AM và FM: Những bài ca đi cùng năm tháng, Ký ức âm thanh, Tình khúc thế kỷ, Cảm nhận của thính giả về những ca khúc nhiều người yêu thích, Bài hát theo yêu cầu của thính giả, Bài hát dân ca đôi điều cảm nhận, Tìm hiểu cái hay cái đẹp của dân ca, âm nhạc cổ truyền Việt Nam, Bàn tròn âm nhạc, Chương trình dạy hát hàng tuần Điều đáng buồn là hiện nay, trên các sân khấu ca nhạc, thường thấy các ca sĩ trẻ từ trong cánh gà đầu tóc húi cua hoặc bù xù hoặc lại trọc lốc tiến ra sân khấu, hoặc áo quần hở hang rất phản cảm với thuần phong mỹ tục Việt Nam, mặt nghênh nghênh, tay chỉ chỉ, chân loắng ngoắng, dậm dật, uốn éo theo nhạc mà rên rỉ, ủy mỵ, rồi rống lên và giãy đành đạch, có khi còn cúi rạp xuống đất, bật ngửa mặt lên trời. Cứ thế, mà xoay, mà lắc, mà rên, mà hét. Tiếng hát nghe như chỉ
  45. bật ra khỏi cổ họng, khỏi mồm mà phát ra, cứ như ăn đấu, làm khoán. Lời ca thì rên rỉ, ủy mỵ, tan nát, tuyệt vọng, đau buồn và toàn là: “Anh yêu em, em yêu anh, tình đã chết rồi, còn gì đâu! Rồi buồn đau, khốn khổ, không yêu được nhau thì chết đây!” Thậm chí đã có trường hợp báo chí phải lên án ca sĩ không mấy tài năng, đang hát “rất máu” trên sân khấu thì vung bay micro ra sân khấu văng cả xuống khán giả mà tiếng hát vẫn hừng hực phát ra loa, thì ra tội hát nhép theo băng đĩa, làm cho khán giả rất bực mình. Một trong những yêu cầu của giọng hát là “tròn vành rõ chữ”, thì chỉ nghe thấy nhạc khua ầm ĩ lên còn lời chẳng nghe rõ ra làm sao. Hát xong, tính giá tiền ngất ngưởng và quên ngay, còn đi chơi kiểu khác, thế thôi! Đâu có còn tình yêu cuộc sống, đất nước, con người, đâu có sự rung động và truyền cảm từ sâu thẳm trái tim, tâm hồn để lưu giữ trong lòng người âm hưởng sâu sắc, lung linh. Đã thế, lại còn đạo diễn cho vũ đoàn này, đội múa nọ minh hoạ nghe đến kêu, nhưng khi múa, lượn chẳng ăn khớp gì với nhạc cảm và nội dung bài hát. Có khi một bài hát rất nghiêm trang, thành kính mà cũng múa minh hoạ, nâng bế nhau, loạn xạ, rối tinh cả lên, thật là phản cảm. Ấy thế mà cứ đánh bóng mình, tạo ra những hình ảnh hở hang, phản văn hoá, trái thuần phong mỹ tục Việt Nam, rồi mệnh danh, tung hứng là những ngôi “sao”! Cho nên khi xem lại những chương trình “Giai điệu Tổ Quốc”, “Những bài hát sống mãi với thời gian”, “Những ca khúc đi cùng năm tháng” do những nghệ sĩ nhân dân nổi tiếng một thời trình diễn, có minh hoạ bằng phim ảnh hoặc không có minh hoạ mà truyền cảm, xúc động vô cùng. Đành rằng, mỗi thời có âm nhạc và công chúng của thời đó, nhưng ngày nay vẫn có những tác phẩm hay về đất nước, con người và vẫn có những nghệ sĩ thể hiện rất thành công mang lại thẩm mỹ nghệ thuật cho âm nhạc, giai điệu hay, lời ca đẹp, phong cách biểu diễn vui tươi, thanh lịch, phản ánh khát vọng lý tưởng của tuổi trẻ vươn tới chân - thiện - mỹ. Những ca khúc “Mùa hè xanh” về phong trào Thanh niên tình nguyện, “Ngọn lửa tuổi 20” về tấm gương anh hùng liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm và các tác giả Vũ Hoàng, Phạm Đăng Khương, Nguyễn Thanh Bình, ban nhạc “Bức Tường”; Đặc biệt là sự vô tư, cống hiến hết mình vì nghệ thuật cho tiếng hát tình yêu đại ngàn Tây Nguyên của nghệ sĩ nhân dân Y Moan minh chứng cho âm nhạc của tuổi trẻ thời đại mới vui tươi, lành mạnh. Đây có lẽ một phần là do lỗi của đào tạo, hướng dẫn nâng cao thẩm mỹ âm nhạc ở các nhà trường, nhạc viện, những chương trình tổ chức âm nhạc và
  46. các phương tiện thông tin đại chúng. Còn nếu chỉ nói rằng: Thời xưa khác, thị hiếu lớp trẻ bây giờ khác, thì đành chịu thua thôi! Âm nhạc có nhiều thể loại, trường phái qua nhiều thời kỳ, dân tộc, quốc gia: Dân ca, quan họ, nhạc cổ truyền, nhạc cung đình, cổ điển, lãng mạn, thính phòng, nhạc mới (tân nhạc), nhạc thịnh hành, nhạc dân tộc, đương đại, nhạc trẻ, thiếu nhi với phương cách thể hiện đơn ca, hợp ca, đồng ca, điệp khúc, hát bè, giao hưởng, hợp xướng, độc tấu, hoà tấu không lời. Trên thế giới còn có các loại nhạc đồng quê, jazz, pop, rock, valse, chachacha, tanggo với những giai điệu tiết tấu khác lạ, phong cách thể hiện rất khác nhau mang bản sắc theo vùng miền, dân tộc hết sức đa dạng, phong phú mà mỗi người cũng nên thưởng thức để nâng cao hiểu biết và thư giãn tâm hồn. Sắc màu hội hoạ Trong một lần tình cờ, tác giả thấy trong đống rác có hai tấm bưu thiếp nhỏ, khổ 15x10, in hình hai cảnh, liền nhặt lên ngắm nghía. Một tấm hình màu xanh chụp cảnh núi rừng, suối chảy xô vào lèn đá nước bắn tung lên bọt trắng xoá. Một tấm hình màu hoàng hôn chiều tà trên bờ biển và một bóng người đứng trên cát thoải, nhìn ra xa về phía chân trời. Càng nhìn hai bức hình càng gợi lên cảm xúc trong tâm hồn và tự hỏi: Hai tấm hình đẹp thế này mà sao ai lại vô tình vứt bỏ nó đi? Chủ đề của tấm hình thứ nhất là cảnh rừng núi toàn gam màu xanh - lạnh. Nếu chụp với mặt hồ phẳng lặng trong không gian núi rừng yên tĩnh của màu xanh thì tấm hình gợi cho ta tâm lý buồn và lạnh lắm. Nhưng nhìn vào dòng nước suối chảy xô vào lèn đá làm cho nước bắn tung lên bọt trắng xoá lại là chủ điểm của bức hình. Chủ điểm “động” này đã làm cho cảm giác người xem không còn tĩnh lặng nữa mà trở lên sống động, vui tươi, mạnh mẽ. Càng ngắm bức hình càng thấy đẹp, thấy xao xuyến trong lòng. Cảnh núi rừng hùng vĩ hiện lên trước mắt, tuy toàn gam màu lạnh xanh, nhưng như nghe thấy tiếng suối chảy rì rào, dội vào lèn đá xối xả mà nảy sinh cảm xúc tâm hồn. Cảnh núi rừng xanh - màu lạnh: Cái sâu thẳm rừng xanh là yên tĩnh
  47. Trong êm đềm tiếng suối vẫn dội lên. Và ngân lên trong lòng xúc động bâng khuâng: Rừng xanh như yên tĩnh Mặc thời gian trôi qua Nhưng âm thanh rất mạnh Quanh năm suối ngân nga Chủ đề tấm hình thứ hai toàn cảnh hoàng hôn màu vàng đỏ tím. Ở tấm hình này, nếu chỉ ngắm bóng một người đứng trên bãi biển nhìn ra xa tít phía chân trời hoàng hôn chiều tím thì thấy thật cô đơn và cũng rất buồn. Nhưng càng nhìn bức hình toàn gam màu nóng vàng đỏ tím của hoàng hôn càng thấy ấm lên trong lòng cảm giác khác lạ, lâng lâng. Hoàng hôn chiều - màu nóng: Cái mênh mông khi chiều về cảnh lặng Trong bao trùm màu đỏ rực hoàng hôn. Và hoà sâu vào tâm thức, khát vọng của con người: Thương nhau, sao để mình buồn? Cho hoàng hôn xuống tâm hồn cô đơn Ước gì đời sẽ đẹp hơn Thì hoàng hôn tắt vẫn còn ban mai Như vậy, hình ảnh, chủ đề, chủ điểm và gam màu của cảnh đã tác động làm chuyển hoá cảm giác của con người. Đó là ngôn ngữ về đường nét, bố cục và màu sắc của hội hoạ. Vì thế, trong hội hoạ người ta dùng nghệ thuật đường nét và màu sắc để biểu cảm và sáng tạo các tác phẩm hội hoạ. Khi cổ vũ tinh thần thường dùng nét vẽ cách điệu, to khoẻ và gam màu nóng vàng, đỏ như tranh cổ động chiến đấu,
  48. trang trí đại hội, hội nghị màu đỏ tượng trưng cho niềm vui, chiến thắng. Thể hiện những cảnh vui tươi, êm đềm thường dùng gam màu lạnh hoặc phối hợp hài hoà để chuyển tải ý đồ của người nghệ sĩ, hoạ sĩ như trang trí nhà hàng, đám cưới Đau buồn thì dùng màu đen, tối Hoặc có khi do bệnh tật hay thiên hướng mà người hoạ sĩ cũng vẽ ra những bức tranh bị ảnh hưởng từ thiên hướng và bệnh tật. Hoạ sĩ lừng danh Vin cent Van Gogh, người Hà Lan, theo trường phái ấn tượng, bị nghèo khổ, bệnh tật. Các giả thuyết cho rằng ông tự cắt tai mình và tự tử, bị đạn chết năm 37 tuổi (?). Do bệnh về mắt mà trong tranh ông vẽ có những bức màu vàng rất bất thường. Hoạ sĩ thiên tài, Isaac Iliyich Levitan, người Nga, gốc Do Thái (sinh này 30-8- 1860, mất ngày 4-8-1900), bậc thầy về vẽ phong cảnh. Trong tranh của ông rất ít thấy bóng người, trong đó có bức tranh “Mùa thu vàng” nổi tiếng thế giới. Những hoạ sĩ thiên tài đã dùng nghệ thuật của hội hoạ mà sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật sống động, tuyệt vời. Xem những bức tranh của họ ta như thấy vừa hư hư của nghệ thuật vừa sống động thực thực thật như thực tế ngoài đời. Nếu là cảnh thì như đất trời, gió mưa, núi rừng đang chuyển động; Là người thì trong đôi mắt như đang sắp chớp, nụ cười như đang nở tươi trên môi và con người đang vận động cùng hành vi, động tác. Với bút lông, màu nước hai hoạ sĩ tài hoa của Trung Quốc, Từ Bi Hồng (thế kỷ XV) và Vương Thành Hỷ (thế kỷ XX), đã chấm phá thủy mạc thành hai bức “Tranh ngựa” và “Giấc mộng ngọt ngào” đầy sống động. Leonardo Da Vinci, hoạ sĩ thiên tài Italia (thế kỷ XV) với tác phẩm tranh sơn dầu màu “Nàng La Joconde” với đôi mắt huyền diệu như biết nói và nụ cười đầy bí ẩn trên môi. Hoạ sĩ Giorgione, Italia (thế kỷ XV) với tác phẩm tranh sơn dầu màu “Thần vệ nữ”. Kram Skoi, hoạ sĩ Nga (thế kỷ XIX) với tác phẩm tranh sơn dầu màu “Người đàn bà xa lạ” và nhiều hoạ sĩ tài năng khác để lại cho đời những bức tranh nổi tiếng của nghệ thuật hội hoạ, tạo hình thế giới. Các hoạ sĩ tài năng của Việt Nam như: Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Văn Tỵ và nhiều hoạ sĩ đương đại đã để lại những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao cho nền mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX. Nghệ thuật hội hoạ được ứng dụng vào tất cả các lĩnh vực đời sống, xã hội, con người. Hội hoạ ca ngợi tình yêu thương, hạnh phúc, động viên, cổ vũ con người say mê lao động, lạc quan, tin yêu cuộc sống. Hội hoạ phản ánh công cuộc dựng xây, kiến thiết và là vũ khí
  49. đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Hội hoạ tác động vào tâm lý, sinh lý, chuyển hoá lối sống, hành vi con người hướng tới thẩm mỹ nhân văn tốt đẹp. Không phải ngẫu nhiên mà trên những băng rôn, khẩu hiệu cho sự kiện chính trị hay đại hội, hội nghị thể hiện bằng phông chữ đứng đắn, nghiêm trang, chững chạc với bố cục khoẻ khoắn, nền màu nóng vàng, đỏ nhằm cổ vũ, động viên tinh thần hăng hái, tiến lên và thường dùng màu lạnh để thể hiện những cảnh mô tả sự thanh bình, mát mẻ. Đi trong đêm mùa Đông lạnh giá, dưới ánh điện màu vàng và nhìn vào những cửa hàng treo đèn lồng màu đỏ ta thấy cảm giác ấm lên. Ngày mùa Hè nóng nực, trong ánh đèn huỳnh quang hoặc đến với màu xanh núi rừng, biển cả làm cho con người thư giãn dễ chịu biết bao. Vậy thì người có tư chất nóng nảy hãy nên ở nhà có nội thất thông thoáng, ánh sáng, trang trí hài hoà theo gam màu lạnh. Người có thần thái nhu mỳ hãy ở ngôi nhà có nội thất, ánh sáng, đường nét tạo nên sự khoẻ khoắn và ấm áp của màu nóng. Hoặc pha trộn cả hai cho thêm sinh động và phù hợp với nhiều người. Đó là nghệ thuật của màu sắc hài hoà vào phong thủy trong thiết kế kiến trúc nhà ở phù hợp cho hoàn cảnh mỗi người. Tuy nhiên, quan niệm về màu sắc cũng có chỗ khác nhau giữa phương Đông và phương Tây. Phương Đông coi màu đỏ, màu vàng đại diện cho mạnh mẽ, quyền lực, linh thiêng, vui tươi, hạnh phúc nên thường dùng trong kiến trúc đình chùa, vật dụng thờ cúng (sơn son thếp vàng), cung điện, trang phục vua chúa, cưới hỏi trong khi đó phương Tây lại không như vậy, mà họ ưa dùng những màu nhẹ nhàng, nhã nhặn Thật lý thú về văn hoá màu sắc được thể hiện trong đời sống hàng ngày qua những hiện tượng thường gặp: Gặp may thì nói: Hôm nay “đỏ” quá! Việc không ra gì thì: Ôi, sao “đen” thế! ốm đau gì mà xanh xao vậy? Gọi tuổi trẻ là tuổi xanh. Cô gái ấy hồng nhan bạc mệnh! Nhạc xanh, nhạc đỏ, nhạc vàng Trong các đình chùa, nhà thờ, các nghệ sĩ đã để lại những tác phẩm mỹ thuật, điêu khắc, tạo hình tượng, tranh đặc sắc. Mỗi pho tượng trong chùa là một kiệt tác tạo hình đầy sống động và giàu chất nhân văn. Đi vào chùa đắm mình trong nghệ thuật điêu khắc, trang trí, đầu đao mái chùa, hoành phi, câu đối, bắt gặp linh hồn trong từng pho tượng, chúng ta càng cảm nhận và biết ơn những người nghệ sĩ
  50. tài hoa đã làm sống động cho không gian linh thiêng của văn hoá chùa chiền. Mỗi khi đi ra đường quan sát pano, áp phích, biển hiệu ngoài mặt phố, đến với các triển lãm, bảo tàng, phòng tranh chúng ta cảm nhận thấy muôn vàn biểu cảm của nghệ thuật ngôn ngữ hội hoạ làm cho tâm hồn thêm thăng hoa, cuộc đời phong phú và ý nghĩa biết bao. Mỹ thuật hội hoạ bao gồm nhiều loại hình: Tranh tạo hình, ký hoạ, chân dung, tĩnh vật, trang trí, tượng, điêu khắc, phù điêu bằng nhiều chất liệu: màu nước, bột màu, màu dầu, sơn mài, gò đồng, xi măng, đất, đá, gốm, sứ, cây, cỏ, hoa, lá và có nhiều trường phái: Tả thực, siêu thực, cách điệu, tranh trừu tượng Mỗi thể loại, chất liệu, trường phái đều có thế mạnh và sức truyền cảm riêng đến con người bằng tài năng của người hoạ sĩ. Tổng hoà thơ - nhạc - hoạ Chiến tranh Việt Nam chống Mỹ những năm 70 của thế kỷ XX đẩy lên thời kỳ ác liệt nhất. Cả nước tổng động viên dồn sức cho cuộc chiến cuối cùng giành độc lập tự do cho dân tộc. Mùa Đông năm 1972, tại khu sơ tán của đơn vị xăng xe thuộc binh đoàn lính thợ ở xóm Muồng, xã Vân Sơn, chân núi Ba Vì, tỉnh Hà Tây, trời rét như cắt da cắt thịt. Tiểu đội của binh nhất, tiểu đội phó Đức Thịnh được phân về bản Mường, ở nhà bầm Mỉnh. Bầm có một đứa con trai cũng đã tình nguyện tòng quân lên đường vào chiến trường miền Nam chiến đấu. Bầm không biết chữ nên mỗi khi người con gửi thư về, Bầm lại nhờ Thịnh đọc cho nghe và viết thư gửi đi cho con. Cũng vì vậy mà Bầm rất thương các chiến sĩ xa nhà và coi như con của Bầm. Một đêm mùa Đông trời rét căm căm, Thịnh cùng tiểu đội trưởng Quý nằm trên nhà sàn nghe gió thổi vi vút luồn dưới sàn nhà mà không sao ngủ được. Cả hai đang thao thức thì bỗng thấy Bầm Mỉnh mang tấm chăn của Bầm rón rén bước đến trùm lên cho cả hai người. Thịnh bỗng giật mình, ngước lên Bầm và hỏi: “Bầm không ngủ à Bầm?”. Bầm nói: “Bầm còn chút việc, các con cứ ngủ đi cho ấm, ngày mai còn đi làm nhiệm vụ”. Thế rồi Thịnh cứ nhìn theo bóng dáng Bầm bước tới bếp lửa nhà sàn ngồi và thổi bùng ngọn lửa lên sưởi ấm. Càng nhìn ngọn lửa bùng cháy trong đêm đông ánh lên gương mặt hiền dịu, đăm chiêu của Bầm, Thịnh càng thao thức về
  51. hình ảnh người mẹ hiện lên đẹp quá, mãi mới dần trôi vào trong giấc ngủ. Sớm hôm sau, Thịnh liền lấy bút viết lên dòng cảm xúc về Bầm và bài thơ “Lòng Bầm” cứ tuôn trào theo ngòi bút. Bầm có một đứa con trai cũng đã ra tiền tuyến Tôi đến ở nhà, Bầm càng mến càng thương Những đêm Đông trời lạnh giá sương Nhà sàn gió se thao thức Bầm đốt ngọn lửa hồng xua cơn lạnh buốt Lấy chăn riêng trùm kín chỗ tôi nằm Tôi giật mình: - Bầm không ngủ à, Bầm? - Con cứ ngủ, Bầm còn chút việc. Hơi ấm tấm lòng tôi ngủ lúc nào không biết Chỉ có mình Bầm bên bếp đỏ than Lửa ấm lòng, Bầm đang nghĩ về con Những đứa con xa nhà Bầm nào tính ai hơn Bài thơ chỉ có thế, nhưng là cả hình ảnh về người mẹ đức độ hy sinh, tảo tần nuôi con khôn lớn và thương yêu những đứa con yêu quý của mình. Những đứa con xa nhà nằm ở đây trong cái rét của nhà sàn nơi núi rừng mà thao thức không sao ngủ được, càng làm cho lòng Bầm se lại nỗi nhớ thương như đứa con xa vắng của Bầm. Rồi Bầm lấy tấm chăn của mình trùm đắp cho các con và thổi bùng bếp lửa xua cơn lạnh buốt của đêm Đông cũng là sưởi ấm lên cái lạnh buốt trong lòng Bầm nhớ thương con da diết. Ôi, tấm lòng người mẹ bao la và ấm áp vô cùng, đã sưởi ấm cho những người chiến sĩ đi vào giấc ngủ, để ngày mai còn ra đi chiến đấu. Chỉ còn mình Bầm bên bếp đỏ than trong đêm khuya lạnh mà nghĩ về những đứa con đang xa nhà kia, Bầm nào có suy tính ai hơn,
  52. tất cả cũng như đứa con trai của Bầm đang xa Bầm vậy. Tình Mẹ bao la cũng như biểu tượng của người “Mẹ Tổ quốc Việt Nam”, càng động viên cho chúng con có thêm sức mạnh để tiếp tục lên đường chiến đấu, cho đất nước ngày mai sạch bóng quân thù, cho quê hương thanh bình, cho con lại trở về bên tình thương yêu và nỗi nhớ mong của Mẹ. Hình ảnh người mẹ đẹp tuyệt vời, với gương mặt dịu hiền đầy chịu đựng, nhớ thương con. Lửa bếp nhà sàn bập bùng cháy lên trong đêm ánh vào gương mặt người mẹ rực rỡ như một tượng đài vô cùng huyền diệu. Hình ảnh rất thực đã làm rung động tâm hồn người chiến sĩ thành những vần thơ. Bài thơ cũng khắc hoạ nên bức tranh tuyệt đẹp chân dung người mẹ bên bếp lửa nhà sàn cạnh những đứa con chiến sĩ ngủ ngon trước ngày vào trận đánh tiêu diệt quân thù, giành tự do độc lập cho quê hương, đất nước. Vần thơ cũng ngân lên thành giai điệu trong tâm hồn làm nên nhịp điệu thơ ca. Thực tế hào hùng của cuộc sống đã cho ta tác phẩm thơ ca. Qua bài thơ, hoạ sĩ có thể vẽ thành bức tranh sơn dầu tuyệt đẹp và nghệ sĩ ngâm thơ có thể ngân trên nền nhạc đệm tâm hồn thơ về người Mẹ Việt Nam vĩ đại, anh hùng, là ngọn nguồn cho mọi chiến công vinh quang của đất nước. Hoặc từ một bức tranh, nhà thơ có thể sáng tác thành thơ, người nhạc sĩ có thể sáng tác thành bài hát, hoạ sĩ và nhà thơ cũng có thể vẽ thành bức tranh và sáng tác ra bài thơ hay. Các nhạc sĩ cũng thường phổ thơ thành bài hát và lời các bài hát thường có nhịp điệu của thơ ca. Đó là sự tổng hoà kỳ diệu của nghệ thuật thơ - nhạc - hoạ với thực tiễn đời sống tâm hồn con người trước những hiện thực sinh động của cuộc sống. Nghệ thuật điện ảnh Điện ảnh qua hai trăm năm thai nghén, tranh cãi, để có một phát minh kỳ diệu và ra đời buổi chiếu bóng đầu tiên của người thợ ảnh Luymie ở Paris, nước Pháp vào chiều tối ngày 28-12- 1895, tại “Tiệm Cafê lớn”, đường Capuxin, làm chấn động thế giới. Lần đầu tiên, chiếc máy quay chiếu lộ 16 hình trong một giây (tốc độ chuẩn của thế giới sau đó là 24 hình/giây), thực hiện nguyên lý “hình lưu trên võng mạc” và phóng hình ảnh lên màn bạc, với độ lớn gấp vài ba trăm lần, cho phép hàng trăm người xem cùng lúc, được đặt tên là Xinêmatôgráp (máy ghi chuyển động). Đồng thời máy của Luymie