Lịch sử trồng lúa Việt Nam
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Lịch sử trồng lúa Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
lich_su_trong_lua_viet_nam.pdf
Nội dung text: Lịch sử trồng lúa Việt Nam
- Trần Văn Đạt ii
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam Tiến Sĩ TRẦN VĂN ĐẠT Nguyên Chánh Chuyên Gia Lúa Gạo và Thư Ký Điều Hành Ủy Ban Lúa Gạo Quốc Tế Tổ Chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc, Rome, Italy LỊCH SỬ TRỒNG LÚA VIỆT NAM NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG iii
- Trần Văn Đạt iv
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam MỤC LỤC Trang LỜI GIỚI THIỆU ix LỜI MỞ ĐẦU xi PHẦN I: CÂY LÚA VIỆT NAM 1 Chƣơng 1. Tầm quan trọng ngành trồng lúa 3 Chƣơng 2. Nguồn gốc cây lúa Việt Nam , 17 1. Xếp loại lúa 18 2. Nguồn gốc cây lúa Việt Nam 19 Chƣơng 3. Tiến hóa cây lúa và các loại lúa 33 1. Tiến trình phát triển của cây lúa 34 2. Các loại lúa ở Việt Nam 40 Chƣơng 4. Những nông dân đầu tiên tại Việt Nam 62 1. Mở đầu 62 2. Dấu hiệu xuất hiện nền nông nghiệp sơ khai tại Việt Nam 63 PHẦN II: LỊCH SỬ TRỒNG LÚA VIỆT NAM 73 Chƣơng 5. Thời nguyên thủy: Hái lƣợm, thuần dƣỡng v
- Trần Văn Đạt và trồng lúa rẫy 75 1. Giai đoạn săn bắt-hái lƣợm và nông nghiệp sơ khai (18.000 đến 7.000 năm trƣớc) 79 2. Giai đoạn trồng lúa rẫy sơ kỳ (cách nay 7.000-5.000 năm) 86 Chƣơng 6: Thời Cổ Đại: Phát triển trồng lúa nƣớc 101 (Hùng Vƣơng - An Dƣơng Vƣơng: 4.000 - 2.180 năm trƣớc) 1. Giai đoạn trồng lúa rẫy và lúa nƣớc sơ kỳ (cách nay 4.500-3.500 năm) 102 2. Giai đoạn phát triển trồng lúa nƣớc 112 Nền văn hóa Đông Sơn 112 Nền văn minh lúa nƣớc 117 3. Thử ƣớc tính năng suất và diện tích trồng lúa thời cận Công Nguyên 126 Chƣơng 7. Thời Bắc thuộc và Độc Lập: Trồng lúa cổ truyền 131 (180 tr CN-1884) 1. Giai đoạn trồng lúa thời Bắc thuộc (179 tr CN - 938 sau CN) 132 2. Giai đoạn phát triển sản xuất lúa gạo thời kỳ Độc Lập (939 - 1884 sau CN) 135 Chƣơng 8. Thời Pháp thuộc: Phát triển trồng lúa cải tiến 157 1. Ngành nghiên cứu lúa gạo và giáo dục nông nghiệp thời Pháp thuộc 158 2. Cơ cấu xã hội ngành trồng lúa 162 3. Sản xuất lúa gạo thời Pháp thuộc 169 Chƣơng 9. Từ 1954 đến Cách Mạng Xanh và Đổi Mới: Phát triển sản xuất lúa hiện đại 177 vi
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam 1. Các thời kỳ phát triển sản xuất lúa 178 2. Trình độ nông dân và đặc tính nông hộ trồng lúa 189 3. Tiến bộ kỹ thuật 193 PHẦN III. TIẾN HÓA SẢN XUẤT VÀ THỊ TRƢỜNG LÚA GẠO 197 Chƣơng 10: Các hệ sinh thái trồng lúa và tiến hóa 199 1. Ngành trồng lúa rẫy và tiến hóa 200 2. Ngành trồng lúa nƣớc trời 206 3. Lúa tƣới tiêu và thách thức 217 Chƣơng 11: Tiến hóa qui trình sản xuất lúa 223 1. Vụ lúa qua các thời đại 224 2. Các giống lúa từ văn hóa Bắc Sơn đến nay 225 3. Tiến hóa công cụ sản xuất lúa 241 4. Phát triển thủy nông 247 5. Tiến hóa chăm sóc và bảo vệ lúa 259 6. Tiến hóa canh tác lúa từ thời Cổ Đại đến nay 275 7. Tiến hóa diện tích và năng suất lúa 285 Chƣơng 12: Tiến hóa kỹ thuật sản xuất lúa 293 1. Nông nghiệp chính xác 294 2. Kiểm tra lúa 301 3. Thu hẹp khoảng cách năng suất lúa 303 4. Áp dụng các kỹ thuật tân tiến 305 5. Công nghệ sinh học trong ngành trồng lúa 313 Chƣơng 13. Tiến hóa thu hoạch và hậu thu hoạch lúa 323 1. Vấn đề hậu thu hoạch: chất lƣợng và thất thoát lúa 324 vii
- Trần Văn Đạt 2. Gặt lúa 326 3. Đập lúa 330 4. Phơi sấy lúa 332 5. Xay chà lúa 338 6. Tồn trữ lúa 341 7. Sử dụng và biến chế lúa gạo 346 Chƣơng 14. Tiến hóa chánh sách sản xuất và thị trƣờng lúa gạo 359 1. Tiến hóa chánh sách sản xuất lúa gạo 360 2. Tiến hóa thƣơng mại nội địa 367 3. Giai đoạn xuất khẩu lúa gạo thật sự thời tiền chiến 373 4. Giai đoạn nhập khẩu lúa gạo thật 377 5. Giai đoạn tái xuất khẩu lúa gạo thật sự thời Đổi Mới kinh tế 378 KẾT LUẬN 383 ENGLISH SUMMARY 389 PHỤ BẢN 437 - Phụ bản 1: Khảo cổ học Việt Nam:Biến đổi khí hậu và biển tiến - biển lùi 439 - Phụ bản 2: Cuộc Cách Mạng Xanh tại Việt Nam 455 - Phụ bản 3: Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa ở Việt Nam, 1961-2009 474 - Phụ bản 4: Diện tích, năng suất và sản lƣợng theo địa phƣơng của Việt Nam, 2008 476 - Phụ bản 5: Dân số Việt Nam ở thành thị và nông thôn, 1950-2050 479 - Phụ bản 6: Thay đổi khẩu phần (gạo) tại Việt Nam và thế giới từ 1961 đến 2007 480 - Phụ bản 7: Việt Nam: diện tích, dân số, mật độ, nông thôn, thành thị theo từng địa phƣơng, 2008 482 CHỮ VIẾT TẮT 487 viii
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam LỜI GIỚI THIỆU Từ thời đại lập quốc đến ngày nay, dân tộc Việt trƣờng tồn là nhờ lúa gạo. Thực vậy, câu tục ngữ „Sống vì gạo, bạo vì tiền‟ đã nói lên hai nhu cầu thiết yếu trong nền kinh tế. Xƣa kia, giống lúa là các giống cổ truyền, loại „rơm nhiều thóc ít‟. Lúc đó dân số không đông thế mà đã xảy ra nhiều nạn đói. Ngày nay, với đô thị hóa, diện tích đất trồng lúa ngày càng bị thu hẹp nên phải tăng năng suất trên diện tích canh tác. Với sự biến đổi khí hậu do khí nhà kính gây nên, nhiều hệ sinh thái sẽ bị biến đổi: nơi này cƣờng độ khô nóng kéo dài hơn, nơi kia nƣớc mặn sẽ xâm nhập sớm hơn, sâu hơn và cao hơn với nhiều vùng đất thấp bị ngập. Nhƣ vậy, cây lúa cũng phải có giống thích nghi với các điều kiện sinh thái khác: cần giống thích nghi với nƣớc sâu, cần giống lúa kháng hạn hơn, ít nhu cầu về nƣớc hơn. Tóm lại, vẫn còn nhiều thách thức về lúa gạo trƣớc mắt. Điều này đòi hỏi các nhà nông học phải lai tạo các giống mới thích nghi với các điều kiện sinh thái khác. Với công nghệ di truyền ngày càng tinh vi, khoa học đã khảo cứu bản đồ genome của cây lúa và từ đó biết tính chất của mỗi gen trong tế bào cây lúa, kéo theo triễn vọng lai giống với ít bất trắc hơn, nhanh chóng hơn. Nếu ix
- Trần Văn Đạt không có các giống lúa „rơm ít, thóc nhiều‟ nhƣ ngày nay thì nhân loại đã phải chịu đựng những nạn đói khủng khiếp. Tôi đã gặp tác giả lúc còn làm việc ở Phi châu, cùng đi thăm các ruộng lúa và cũng có gặp tác giả ở Rome, lúc Tiến sĩ Đạt làm việc tại cơ quan Lƣơng Nông Quốc Tế. Ở cƣơng vị sau này, tác giả đã đi nhiều nơi trên thế giới nên đã tiếp xúc đƣợc nhiều nguồn tƣ liệu về lúa trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Hiện nay, tác giả về hƣu, nhƣng vẫn muốn cống hiến những gì thu thập trong đời mình, thực là một việc văn hoá thiết thực và bổ ích. Bổ ích vì truyền lại các tri thức cho thế hệ tiếp nối; thiết thực vì lúa gạo là lƣơng thực chủ chốt con ngƣời Á đông. Sách này dẫn chứng nhiều tài liệu, nhiều hình ảnh nên rất phong phú và đóng góp các kiến thức tích lũy trong cuộc đời chuyên viên. Xin trân trọng giới thiệu với độc giả bốn phƣơng một quyển sách rất giá trị. Thái Công Tụng Nguyên Giám Đốc Viện Khảo Cứu (trước 1975), Nguyên Giáo Sư Trung Tâm Quốc Gia Giáo Dục Nông Nghiệp (trước 1975), x
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam LỜI MỞ ĐẦU Lúa gạo có tầm quan trọng lớn trong nền kinh tế và an ninh lƣơng thực ở Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới. Vì thế, ngày 16-12- 2002 Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố tại diễn đàn New York, Hoa Kỳ: Năm 2004 là Năm Lúa Gạo Quốc Tế và gọi Lúa Gạo là Lẽ Sống con ngƣời. Trong hơn hai thập niên qua, Việt Nam đã đạt đƣợc những bƣớc tiến bộ vững chắc và thành công lớn trong sản xuất loại thực phẩm chiến lƣợc này không những thỏa mãn nhu cầu nội địa, còn đƣa đất nƣớc trở lại vị trí xuất khẩu thứ hai thị trƣờng quốc tế. Tuy nhiên, đời sống nông dân trồng lúa chƣa đƣợc cải thiện tƣơng xứng. Sự hình thành của ngành lúa gạo ngày nay là do chuỗi nỗ lực phấn đấu và sáng tạo vô tận của dân tộc qua nhiều thời đại. Tuy nhiên, vì các cuộc xâm lăng thô bạo và chiến tranh tàn phá, chúng ta còn lƣu giữ quá ít thông tin và tƣ liệu liên quan đến quá trình phát triển lâu dài của cây Hòa Thảo quan trọng này. Quyển sách Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam đƣợc soạn thảo với mục đích đóng góp làm sáng tỏ phần nào nguồn gốc và lịch sử tiến hóa kỹ thuật, qui trình sản xuất và hậu thu hoạch của ngành trồng lúa nƣớc ta; nhƣng hãy còn nhiều giới hạn, cần cập nhựt và bổ túc nhiều mặt, đặc biệt từ các thành quả nghiên cứu, khám phá mới trong ngành khảo cổ học Việt Nam và Đông Nam Á. xi
- Trần Văn Đạt Quyển sách đƣợc biên soạn từ các thành quả khảo cổ học thu thập trong và ngoài nƣớc hơn thế kỷ qua và những công trình nghiên cứu lịch sử, với nhiều thông tin mới về nguồn gốc, xuất hiện và tiến hóa của nền nông nghiệp lúa từ thời đại Đá Mới đến thời đại Kim Khí, Cổ Đại và Hiện Đại. Nội dung quyển sách đƣợc tổ chức và trình bày với 3 Phần chủ lực, gồm 14 Chƣơng cùng các Phụ Bản nhƣ sau: Phần 1: Cây lúa Việt Nam: gồm có tầm quan trọng, nguồn gốc, phân bố và sự tiến hóa cây lúa, và những nông dân đầu tiên ở Việt Nam. Phần 2: Lịch sử trồng lúa ở Việt Nam: gồm giai đoạn từ săn bắt-hái lƣợm đến thuần hóa và trồng lúa rẫy qua các nền văn hóa khảo cổ học Hòa Bình, Bắc Sơn, Đa Bút-Quỳnh Văn, và Cầu Sắt- Suối Linh; trồng lúa rẫy và lúa nước trong các nền văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu và Gò Mun; phát triển lúa nước trong thời đại Hùng Vƣơng-An Dƣơng Vƣơng; trồng lúa cổ truyền thời kỳ Bắc thuộc và Độc Lập; trồng lúa cải tiến thời Pháp thuộc; và sản xuất lúa hiện đại trong cuộc Cách Mạng Xanh và Đổi Mới kinh tế. Phần 3: Tiến hóa sản xuất và thị trƣờng lúa gạo, chủ yếu hƣớng về tiến hóa hệ sinh thái trồng lúa, qui trình sản xuất, thu hoạch và hậu thu hoạch, thị trƣờng và chính sách lúa gạo ở Việt Nam theo thời gian và không gian. Lịch sử ngành lúa gạo là một lãnh vực khá rộng lớn, còn nhiều ẩn số chƣa có đủ chìa khóa giải đáp chi tiết đến nơi đến chốn; cho nên, cần nhiều thời gian và tham gia đóng góp của các nhà khảo cổ học, nhà văn hóa giáo dục, sử gia, nghiên cứu gia và các nghiên cứu sinh trong nƣớc. Riêng quyển sách này chỉ tập trung vào một số lãnh vực chuyên môn nhỏ hẹp, chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết về nội dung và hình thức. Tác giả mong nhận đƣợc các thông tin chính xác và ý kiến xây dựng của độc giả để tài liệu đƣợc súc tích và phong phú hơn. Trần Văn Đạt, Ph.D. California, 15-8-2010 xii
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam PHẦN I: CÂY LÚA VIỆT NAM 1
- Trần Văn Đạt 2
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam CHƢƠNG 1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA NGÀNH TRỒNG LÚA 1. TỔNG QUAN 2. LÚA GẠO TRONG AN NINH LƢƠNG THỰC VÀ KINH TẾ QUỐC GIA 3. LÚA GẠO VÀ NGUỒN DINH DƢỠNG CỦA DÂN TỘC 4. LÚA GẠO VÀ NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC 5. NĂM LÚA GẠO QUỐC TẾ 6. KẾT LUẬN 1. TỔNG QUAN Năm 2008, thế giới có 115 nƣớc trồng lúa và sản xuất khoảng gần 700 triệu tấn thóc mỗi năm. Đa số nông dân là thành phần nghèo, họ sản xuất lúa chủ yếu cho tiêu thụ gia đình và hy vọng số lúa còn lại bán ra thị trƣờng để kiếm ngân khoản cho các chi tiêu khác. Lúa gạo là thức ăn căn bản của 36 quốc gia và cung cấp từ 20 đến 70% nguồn năng lƣợng quan trọng mỗi ngày cho hơn phân nửa dân thế giới, đặc biệt tại nhiều nƣớc Á Châu. Cây lúa là một loại thảo mộc đa năng, có thể sinh sống và chịu đựng nhiều điều kiện môi trƣờng khắc nghiệt nhƣ nƣớc ngập nhiều tháng, nƣớc mặn, đất phèn và các loại đất có vấn đề; nên thƣờng đƣợc dùng làm màu “tiền phong” trong các công trình khai khẩn đất mới và trở thành lƣơng thực truyền thống của nhiều dân tộc. Ngành trồng lúa còn cung cấp hàng triệu việc làm ở nông thôn, đóng góp vào sự lớn mạnh của nhiều dân tộc và chi phối trực tiếp vào đời sống thịnh vƣợng của ngƣời sản xuất. Cũng vì thế, cây lúa là loại thảo mộc duy nhứt đã đƣợc Liên Hiệp Quốc và thế giới vinh danh vào năm 2004 trên diễn đàn quốc tế ở New York, Hoa Kỳ và nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, cây lƣơng thực này đóng vai trò tối quan trọng trong an ninh thực phẩm và có sự tƣơng quan chặt chẽ với đà 3
- Trần Văn Đạt tiến hóa, lịch sử và đời sống văn hóa dân tộc trong hàng ngàn năm qua. Từ cuối thời đại Đá Mới cách nay độ 6-5 thiên kỷ, các nhóm trồng lúa rẫy đã xuất hiện khắp nƣớc giúp cho đời sống cƣ dân bớt di chuyển kiếm thức ăn và ổn định hơn; đó là bƣớc ngoặc quan trọng cho tiến hóa và phát triển con ngƣời và đất nƣớc sau này. Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc và Độc Lập quân chủ, lúa gạo còn là nguồn thuế quan trọng cho ngân khố nhà nƣớc, ngoài cung cấp lƣơng thực căn bản cho ngƣời dân. Dƣới thời Pháp Thuộc, thực dân đã sử dụng triệt để nhân lực bản địa khai thác đồng bằng sông Cửu Long tăng gia sản xuất lúa gạo để phục vụ xuất khẩu. Vào thời kỳ Đổi Mới kinh tế và cuộc Cách Mạng Xanh trong hơn hai thập niên vừa qua (kể từ 1988), ngành sản xuất lúa gạo mới thật sự phát triển nhanh chóng, đƣa đất nƣớc trở lại địa vị xuất khẩu và mang về hàng năm số ngoại tệ đáng kể; nhƣng cùng lúc giá lúa gạo nội địa và thế giới liên tục sút giảm cùng với lòng tham của thƣơng lái-doanh nghiệp làm cho đời sống nông dân gặp nhiều khó khăn, nhứt là những vùng sản dƣ thừa. Tình trạng này không những chỉ xảy ra ở Việt Nam còn thấy ở đa số các nƣớc trồng lúa châu Á, ngoại trừ Nhựt Bổn, Đại Hàn và Đài Loan, vì họ có chƣơng trình bao cấp lớn lao nhà nƣớc. Do đó, ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam phải thay đổi cơ cấu như thế nào để tăng sức cạnh tranh kinh tế, cải thiện đời sống nông dân và nông thôn, bảo vệ môi trường lành mạnh và đáp ứng biến đổi khí hậu trong xu hướng toàn cầu hóa và thương mại tự do hiện nay? Sức ép này càng lớn hơn sau khi đất nƣớc trở thành hội viên thứ 150 của Tổ Chức WTO năm 2007. 2. LÚA GẠO TRONG AN NINH LƢƠNG THỰC VÀ KINH TẾ QUỐC GIA Việt Nam vốn là một xứ nông nghiệp lấy lúa gạo làm căn bản của nền kinh tế. Hiện nay, nƣớc ta có gần 33 triệu ha đất đai, trong đó có 9,6 triệu đất nông nghiệp mà cây lúa chiếm đến 4 triệu ha, đồng cỏ 642.000 ha và rừng 12,4 triệu ha (FAO, 2007 và Tổng Cục Thống Kê, 2008). Khoảng 73% dân chúng còn sống với nghề nông gồm có lúa gạo, bắp, cây có củ và rể, hoa màu phụ, cây ăn quả, cây công nghệ, chăn nuôi, ngƣ nghiệp và lâm nghiệp. Trong 2008, nền nông nghiệp đã đóng góp vào GDP cả nƣớc với 22,2% (Tổng Cục Thống 4
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam Kê, 2008). Trong đó, ngành lúa gạo và ngƣ nghiệp gần đây đã mang ngoại tệ cho đất nƣớc hàng năm với hàng tỉ Mỹ kim mỗi ngành. Trong khoảng thời gian từ 1989 đến 2009, ngành xuất khẩu lúa gạo Việt Nam luôn chiếm vị thế thứ hai hoặc ba trên thị trƣờng thế giới, đã đem về đất nƣớc tổng số ngoại tệ gần 20 tỉ Mỹ kim. Lúa gạo đã có quá trình phát triển lâu dài để trở thành loại lƣơng thực cơ bản của dân tộc. Cây lúa có mặt tại Viêt Nam từ thời tiền sử và trở nên phổ biến rộng rãi trong xã hội Văn Lang, do loài thảo mộc này sản xuất lƣơng thực có hiệu quả cao so với các cây lƣơng thực khác. Thật vậy, cây lúa có thể sống để sản xuất trong bất cứ điều kiện khí hậu và môi trƣờng khó khăn, từ đất cao thiếu nƣớc đến các đầm lầy trũng thấp, từ đất phì nhiêu đến các loại đất phèn, mặn, than bùn. Ngoài ra, hạt lúa còn có khả năng tồn trữ lâu dài, giúp đảm bảo an ninh lƣơng thực quốc gia. Do đó, cây lúa đã thay thế dần các cây đậu, củ, kê, lúa miến, ốc, sò , những loại lƣơng thực quan trọng của thời đại hái lƣợm tiền sử và sơ sử. Tiếp theo, các triều đại quân chủ luôn khuyến khích khẩn hoang để bành trƣớng sản xuất, với mục đích vừa nuôi dân và thu thuế cho nhà nƣớc. Trong quá trình phát triển quốc gia, tình trạng xã hội bất ổn thƣờng xảy ra ở thành thị lớn và những nơi dân cƣ đông đảo chỉ vì các cơn sốt giá cả lúa gạo trên thị trƣờng, khí hậu bất thƣờng hoặc gian thƣơng thao túng. Vào thời nhà Nguyễn, vua Minh Mạng đã giới hạn bán lúa gạo cho nƣớc ngoài chỉ nhằm giữ giá thấp trong nƣớc để tránh dân nổi loạn. Năm 1929, tỉnh Nghệ An đã có độ 500 ngƣời chết đói. Đến 1945, Việt Nam có nạn đói trầm trọng xảy ra làm thiệt mạng 2 triệu ngƣời, chỉ vì không có gạo để mua. Vào tháng 4-5/2008, xứ ta lại xuất hiện cơn “sốt gạo ảo” làm ngƣời dân thành thị và nhà nƣớc lo lắng không ít trong lúc thế giới đang lâm vào cuộc khủng hoảng lƣơng thực. Từ tháng 11-2007, đặc biệt 2008-2009 thế giới bƣớc vào cuộc suy thoái kinh tế-tài chánh trầm trọng nhứt trong hơn 70 năm qua, làm cho nhiều nƣớc gồm cả Việt Nam điêu đứng; nhƣng ngành nông nghiệp, nhứt là xuất khẩu lúa gạo, thủy sản đã trở nên vị cứu tinh giúp quốc gia phục hồi nhanh chóng! 5
- Trần Văn Đạt 3. LÚA GẠO VÀ NGUỒN DINH DƢỠNG CỦA DÂN TỘC Lúa gạo là nguồn năng lƣợng lớn của nhân loại, riêng hơn 2 tỉ ngƣời châu Á, gạo cung cấp từ 60 đến 70% calories (Juliano, 2003). Hiện nay lúa gạo ngày càng trở nên phổ biến sâu rộng ở các lục địa khác, nhƣ châu Mỹ, Trung Đông và nhất là châu Phi, vì loại thực phẩm này đƣợc xem nhƣ thức ăn bổ dƣỡng lành mạnh cho sức khoẻ và thích hợp cho đa dạng hóa thức ăn hàng ngày. Khẩu phần gạo hàng năm cho mỗi đầu ngƣời châu Á thay đổi từ 50 đến hơn 180 kg, bình quân 78 kg. Những nƣớc trồng lúa nghèo càng dùng nhiều cơm gạo để có đủ năng lƣợng chủ yếu cho sinh hoạt con ngƣời. Năm 2007, Việt Nam là xứ có khẩu phần gạo lớn nhứt thế giới, kế đến Lào và Bangladesh (Xem Phụ bản 6: Thay đổi khẩu phần tại Việt Nam và thế giới, 1961-2007). Tại Việt Nam, lúa gạo đã trở thành thức ăn cơ bản dân tộc ít nhứt từ thời vua Hùng Vƣơng thứ VI khi Ông chọn Hoàng Tử Lang Liêu làm ngƣời kế vị mình trong môt cuộc thi nấu thức ăn giữa 22 Hoàng Tử. Hoàng Tử Lang Liêu chọn nấu bánh chƣng và bánh dày tƣợng trƣng cho Trời và Đất, và gạo nếp là loại lƣơng thực chính của dân tộc. Tuy nhiên, các loại lƣơng thực khác nhƣ khoai, đậu, tôm cá, sò hến, thú rừng vẫn còn giữ vai trò quan trọng lúc bấy giờ. Do đó, khẩu phần gạo cho mỗi đầu ngƣời còn thấp. Số khẩu phần này tăng lên theo thời gian và ngành sản xuất lúa gạo trong nƣớc lớn mạnh theo từng thời đại. Trong thời Bắc thuộc với chính sách cai trị bóc lột hà khắc, ngƣời dân ăn không đủ no, mặc không đủ ấm trong khi phải làm việc nặng nhọc, không kể những thành phần thống trị bản xứ. Đến thời kỳ Độc Lập về sau, dù trong chế độ phong kiến thực dân, ngƣời dân cũng hƣởng đƣợc hai hoặc ba bữa cơm mỗi ngày, tùy theo tình trạng khí hậu mỗi năm và đƣợc mùa hay thất mùa. Dĩ nhiên, cũng có thành phần nghèo khó chỉ một bữa cơm cháo mỗi ngày với rau cải và cá mắm. Khẩu phần thật sự có thống kê của ngƣời Việt Nam đã thay đổi từ 142,2 kg gạo/ngƣời/năm trong 1961 tăng lên 146,7 kg năm 1970, xuống 132,2 kg năm 1980, tăng lên 150,3 năm 1990, 168,4 kg năm 2000 và 165,6 kg năm 2007, chứng minh đa số ngƣời dân vẫn còn nghèo. Ngoài ra, gạo và phó sản còn dùng để chế biến thức ăn, thời cổ sơ có bánh chƣng, bánh dày, rƣợu, xôi và ngày nay có thêm bánh ếch, bánh tét, bánh phồng, bánh tráng, bún, cơm rƣợu, cớm 6
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam dẹp, gạo thính, bột gạo, bánh phòng tôm, thức ăn nhanh, dầu, hoặc các thức uống Gạo là loại thực phẩm carbohydrate hỗn tạp, chứa tinh bột (80%), một thành phần chủ lực cung cấp nhiều năng lƣợng, protein (7,5%), nƣớc (12%), vitamin và các chất khoáng (0,5%) cần thiết cho cơ thể (Bảng 1). Bảng 1: Thành phần dinh dƣỡng của 100 g gạo trắng, gạo lứt và nếp ___ Thành phần Gạo trắng Gạo lứt Gạo nếp dinh dƣỡng ___ Năng lƣợng, kcal 361 362 355 Nƣớc, g 10,2 11,2 11,7 Chất béo, g 0,8 2,4 0,6 Chất sợi, g 0,6 2,8 0 Carbohydrate, g 82,0 87,7 81 Protein, g 6,0 7,4 6,3 Vitamin B-1, mg 0,07 0,26 0,08 Vitamin B-2, mg, 0,02 0,04 0,03 Niacin, mg 1,8 5,5 1,8 Calcium, mg 8 12 7 Phosphorus, mg 87 255 63 Kali, mg 111 326 0 Chất muối, mg 31 12 0 ___ Nguồn: Juliano and Villareal, 1993 Tinh bột chứa trong hạt gạo dƣới hình thức carbohydrate (carb) và trong con ngƣời dƣới dạng glucogen, gồm có loại carb đơn giản nhƣ chất đƣờng glucose, fructose, lactose và sucrose; và loại carb hỗn tạp là một chuỗi phân tử glucose nối kết nhau chứa nhiều chất sợi. Tinh bột cung cấp phần lớn năng lƣợng cho con ngƣời. Gạo trắng chứa carb rất cao, độ 82 gram trong mỗi 100 gram. Do đó, 90% năng lƣợng gạo do carb cung cấp (Juliano, 2003). Trong tinh bột có hai thành phần - amylose và amylopectin. Hai loại 7
- Trần Văn Đạt tinh bột này ảnh hƣởng rất nhiều đến hạt cơm sau khi nấu, nhƣng không ảnh hƣởng đến giá trị dinh dƣỡng. Hạt gạo có nhiều chất amylose sẽ làm cho hạt cơm cứng và hạt chứa ít amylose, nghĩa là nhiều amylopectin làm cơm dẽo hơn. Nếp chứa từ 0-10% amylose (hay 10-100% amylopectin) là thức ăn chính của ngƣời Lào, ngƣời Thái ở vùng Đông Bắc Thái Lan và nhiều dân tộc thiểu số ở các vùng đồi núi Việt Nam. Gạo Japonica có từ 14-16% amylose cho cơm dẽo và dính nhau, là thức ăn căn bản của vùng ôn đới, nhƣ Nhựt Bổn, Đại Hàn, Bắc Triều Tiên và miền bắc Trung Quốc (độ 30% diện tích). Đa số gạo thơm có 21-23% amylose nên gạo không dẽo lắm mà cũng không cứng lắm sau khi nguội, ngoại trừ gạo Basmati với hạt cơm rời nhau. Các loại gạo truyền thống của ngƣời Đông Nam Á có khoảng 21-25% amylose. Chỉ số đƣờng huyết (glycemic index) hay GI giúp đo ảnh hƣởng của tinh bột carb đến lƣợng đƣờng trong máu. GI của gạo tùy thuộc hàm lƣợng amylose, mức độ xay chà, thời gian và cách nấu chín hạt gạo. Chất carb bị tiêu hóa nhanh cho nhiều đƣờng (glucose) trong máu hay GI cao. Trái lại, chất carb bị tiêu hóa chậm cho đƣờng trong máu ít hơn hay GI thấp. Do đó, gạo chín sẳn (pre- cooked) có GI cao hơn gạo thƣờng. Gạo chứa nhiều amylose (ít amylopectin) có GI thấp hơn loại gạo có ít amylose (nhiều amylopectin). Vì thế gạo nếp và gạo hạt tròn Japonica có GI cao hơn gạo hạt dài Indica, gạo trắng hạt dài và gạo Basmati trắng với bách phân amylose gần giống nhau, không khác nhiều về chỉ số hóa đƣờng GI (Bảng 2). Chỉ số đƣờng huyết thấp dƣới 55, trung bình 56-69 và cao trên 70. Protein: Gạo là loại thức ăn dễ tiêu hóa và cung cấp loại protein tốt cho con ngƣời. Chất protein cung cấp các phân tử amino acid để thành lập mô bì, tạo ra enzym, kích thích tố và chất kháng sinh. Chỉ số giá trị sử dụng protein thật sự của gạo là 63, so với 49 cho lúa mì và 36 cho bắp (căn cứ trên protein của trứng là 100) (Chandler, 1979). 8
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam Bảng 2: Chỉ số đƣờng huyết GI của vài loại gạo chính Loại gạo Gạo trắng Gạo lứt Gạo chín sẳn Hạt tròn 76 62 Cao hơn (Japonica) Hạt dài 50-60 48 76 (Indica) Basmati 57 - 67-68 Nếp 75-98 - - Nguồn: Glycemic index foundation (www.glycemicindex.com/). Vitamin: Cũng giống nhƣ các loại ngũ cốc khác, lúa gạo không chứa các loại vitamin A, C hay D, nhƣng có vitamin B-1, vitamin B-2, niacin, vitamin E, ít chất sắt và kẽm và nhiều chất khoáng Mg, P, K, Ca. Thiamin là vitamin B1 giúp tiêu hóa chất đƣờng glucose để sản xuất năng lƣợng, vì thế hỗ trợ cho các tế bào thần kinh, hoạt động của tim và khẩu vị. Vitamin B1 không thể dự trữ trong cơ thể nên phải cung cấp hàng ngày. Gạo trắng cung cấp 0,07 mg B1/100 gram. Riboflavin: Gạo chứa ít chất riboflavin hay vitamin B2, rất cần thiết cho sản xuất năng lƣợng và nuôi dƣỡng bì mô của mắt và da. Gạo trắng chứa 0,02 mg B2/100 gram. Niacin là yếu tố cần thiết để phân tách chất glucose cho năng lƣợng, da và hoạt động bình thƣờng của hệ thần kinh. Gạo trắng chứa 1,8 mg Niacin/100 gram. Vitamin E là một loại sinh tố tan trong mỡ, giúp cho vitamin A và các chất béo chống oxyd hóa trong tế bào và bảo vệ sự hủy hoại bì mô của cơ thể. 9
- Trần Văn Đạt Ngoài ra, gạo còn cung cấp những chất khoáng cần thiết cho cơ thể với ít chất sắt (thành phần của hồng huyết cầu và enzym) và kẽm (giúp chống oxyd hóa trong máu, thành phần của enzym trong tăng trƣởng, phân chia tế bào), nhƣng nhiều chất P (giúp xƣơng, răng, biến hóa trong cơ thể), K (cho tổng hợp protein, hoạt động enzym), Ca (giúp xƣơng, răng và điều hòa cơ thể), muối (giữ cân bằng chất lõng trong cơ thể, hoạt động bình thƣờng của hệ thần kinh và bắp thịt) (Bảng 3). Bảng 3: Vitamin, chất vi lƣợng của lúa, gạo lứt, gạo trắng và phó sản ở 14% ẩm độ. Nă Thia Ribo Niaci Ca P Phy Sắt Kẽ Loại ng mine flavin n (m (g) tin P (mg m gạo lƣợ (mg) (mg) (mg) g) (g) ) (m ng g) (kc al) Lúa 378 0,33 0,11 5,6 80 0,39 0,21 6,0 3,1 Lứt 385 0,61 0,14 5,3 50 0,43 0,27 5,2 2,8 Gạo 373 0,11 0,06 2,4 30 0,15 0,07 2,8 2,3 Cám 476 2,40 0,43 49,9 120 2,50 2,20 43,0 25, 8 Trấu 332 0,.21 0,07 4,2 130 0,07 9,5 4,0 Nguồn: Juliano and Villareal, 1993 Rất tiếc rằng hạt lúa khi xay chà thành gạo đánh mất nhiều vitamin và các chất vi lƣợng quan trọng khác. Sau khi xay chà, gạo vẫn còn giữ nhiều chất protein so với các loại ngũ cốc khác; tuy nhiên chất protein thô của hạt lúa kém hơn. Lysine là loại amino acid bị giới hạn lớn nhất, nhƣng cấu tạo 4% của protein gạo, gấp đôi so với bắp không vỏ. Các amino acid khác nhƣ theonine và methionine cũng cao hơn ngũ cốc khác, dù thế các loại amino acid này cũng không đủ cho nhu cầu hàng ngày của con ngƣời, nên cần phải bổ túc thêm. Nhiều chuyên gia dinh dƣỡng khuyến cáo dùng gạo lứt để ăn hàng ngày, nhƣng rất ít ngƣời áp dụng vì hạt gạo lứt không thích hợp cho tồn trữ lâu dài do chứa nhiều chất dầu trong cám dễ sinh ra vị hôi, có hại cho sức khoẻ con ngƣời nếu giữ lâu. Ngoài ra, ăn nhiều gạo lứt có thể làm cho bao tử khó chịu. Ăn cơm 10
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam trắng lâu ngày đã trở thành thói quen của đa số dân chúng dùng gạo. Một số dân tộc khác nhƣ miền Nam Ấn Độ, Bangladesh, Sri Lanka, Nigeria, Ghana lại thích dùng loại gạo hấp có nhiều chất bổ dƣỡng hơn gạo trắng. Lúa hấp chiếm độ 20% tổng sản lƣợng thế giới. Lúa gạo giữ vai trò thiết yếu trong tình trạng dinh dƣỡng và sức khoẻ của những ngƣời ăn cơm hàng ngày. Trong những xứ tiêu thụ gạo, các thức ăn hàng ngày có rất ít chất mỡ, vôi, sắt, riboflavin và ascorbic acid. Vì thế các nƣớc dùng lúa gạo hàng ngày mà không bổ túc thêm các loại thức ăn khác thƣờng thiếu chất protein (cho trẻ con) làm cho số tử vong cao; thiếu vitamin A ở phần lớn trẻ con gây ra bệnh mù mắt; thiếu chất sắt gây ra bệnh thiếu máu ở trẻ con từ 5- 12 tuổi và phụ nữ trong thời kỳ thai nghén; thiếu chất iod gây bệnh bƣớu cổ; thiếu một số chất khác nhƣ thiamin, riboflavin thƣờng xảy ra ở những vùng ăn gạo trắng hơn là vùng ăn gạo hấp, gây ra bệnh phù thũng. Do đó, trong các chƣơng trình phát triển và an ninh lƣơng thực, không thể quên chú ý đến chất lƣợng lúa gạo liên hệ đến sức khoẻ con ngƣời. Cần đẩy mạnh công tác cải thiện di truyền lúa để có đƣợc tình trạng dinh dƣỡng tốt hơn, qua phƣơng pháp lai tạo truyền thống hoặc công nghệ sinh học nhƣ gạo vàng cung cấp vitamin A. Hơn 70% gạo cung cấp cho giới tiêu thụ ở Mỹ chứa thêm các chất vi lƣợng nhƣ folic acid, thiamin, niacin và sắt dƣới hình thức gạo hấp. Thành phần các chất dinh dƣỡng và bần tố của gạo, các phó sản đƣợc ghi trong Bảng 2 và 3. 4. LÚA GẠO VÀ NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC Ngoài sự đóng góp vào an ninh lƣơng thực, ruộng lúa còn tạo nên phong cảnh thiên nhiên xinh đẹp, xanh mát hoặc vàng mƣợt thu hút các cuộc du lịch sinh thái và là nơi giải trí lành mạnh cho dân thành thị; cho nên đóng góp bằng nhiều cách vào sự thịnh vƣợng của cộng đồng nông thôn. Ở Sapa, các thửa ruộng bậc thang bình lặng và thơ mộng đã góp phần làm tăng vẻ đẹp của vùng rừng núi. Nhƣng phần lớn nông dân trồng lúa trên thế giới hiện nay còn kém mở mang và nghèo khó! 11
- Trần Văn Đạt Cây lúa đã có mặt hàng thiên kỷ trên đất nƣớc này nên đã trở thành yếu tố cần thiết, không thể tách rời đời sống và văn minh dân tộc. Ở Việt Nam có nền văn minh lúa khô và văn minh lúa nƣớc với các vùng sinh thái tƣơng phản. Nƣớc ta có đến 54 sắc tộc, mà mỗi sắc tộc có nền văn hóa riêng rẻ và màu sắc cá biệt; làm cho nền văn hóa lúa đa diện đa màu từ đồi núi cao đến các thung lũng, đồng bằng dài vô tận. Lúa gạo hiện diện trong các lễ hội cổ truyền, trong các cuộc hành lễ tôn giáo, tập tục, văn chƣơng dân tộc, thơ phú, họa phẩm, ca nhạc, và dĩ nhiên trong nhà bếp của mọi gia đình nƣớc ta. Những lễ hội thƣờng đƣợc tổ chức vào đầu mùa lúa hoặc mùa gạo mới. Các buổi lễ lâu đời nhất còn đƣợc ghi nhận trong sách sử của Trung Quốc. Vào khoảng gần 5.000 năm trƣớc, Vua Thần Nông của Tàu đã dự lễ gieo hạt giống ngũ cốc: lúa, lúa mì, khoai lang và hai loại lúa mè (millet). Nhà vua tự tay gieo hạt giống và sau đó các quần thần tiếp tục gieo hạt để mở đầu cho vụ mùa mỗi năm. Ở Việt Nam, lễ Tịch Điền đã đƣợc tổ chức vào đầu mùa mƣa, còn gọi lễ Hạ Điền, từ triều đại Hùng Vƣơng, cách nay độ 4.000-3.000 năm đến Lê Hoàn vào đầu thế kỷ XI, và đặc biệt quan tâm bởi triều đại nhà Nguyễn vào thế kỷ XIX. Đầu thế kỷ XXI, Việt Nam lại cổ xúy lễ hội này. Ngoài ra, còn có lễ Thƣợng Điền, Tết Cơm Mới (hay lễ Thƣờng Tân vào tháng 10 âm lịch) để lấy phẩm vật đầu mùa cúng thần linh phò hộ và tạ ơn trời đất Các hội hè liên quan đến lúa gạo cũng là những dịp để tăng cƣờng sự liên đới xã hội, gồm có các cuộc thăm viếng gia đình, bạn bè, những trò chơi, thể thao và ngay cả cho giới thanh nam, thanh nữ có cơ hội gặp gỡ và tình tự. Vào mùa cấy, có những cuộc thi đua hò hát và những tiếng hò nƣơng theo gió vang vội khắp đồng áng, đến làng mạc Rủ nhau bước xuống ruộng vàng, Nơi lộng tiếng hát nơi vang tiếng cười. Đến mùa gặt, ngoài đồng ruộng rộn ràng với kẻ gặt, ngƣời đập lúa hoặc gom lúa, gánh thóc về làng trông rất nhộn nhịp vui vẻ. Trong những đêm trăng sáng, tiếng chày giã gạo và tiếng trẻ con vui cƣời, hò hát vang lên khắp xóm thôn Vào những lúc ấy, nhà nông quên hết ngày tháng dầm mƣa giải nắng, vất vả ngoài đồng. 12
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam Sáng trăng giã gạo ngoài trời, Cám bay phảng phất nhớ người đàng xa. Ngày xƣa, lúa nếp là lƣơng thực chính của cƣ dân đất Việt, nhƣng ngày nay nếp chỉ là đặc sản dùng trong các lễ hội truyền thống, ngày giỗ gia đình, ngoài làm xôi nấu rƣợu và các thức ăn khác. Ở Việt Nam có bánh chƣng, bánh dày nhân dịp Tết. Trong các lễ cƣới tân thời, ngƣời ta rải gạo vào cô dâu chú rễ để cầu chúc họ đƣợc hạnh phúc bền lâu. Các loại lúa thơm hảo hạng rất quý vì hiếm có và giá đắt nên chỉ có giới thƣợng lƣu, vua chúa thời xƣa và ngƣời giàu mới có khả năng dùng loại gạo này trong các bữa ăn hàng ngày. Các giới trung lƣu và nghèo khó chỉ dùng đến gạo thơm trong những dịp đặc biệt nhƣ những ngày Tết, kỵ cơm hoặc chiêu đãi khách quý. Ngoài ra, hệ thống sản xuất lúa gạo còn giữ vai trò bảo tồn đất và nƣớc trong thời gian lâu dài. Ruộng đƣợc trồng lúa hàng ngàn năm vẫn còn tồn tại ngày nay, nhờ nhiều loại vi sinh vật cung cấp chất dinh dƣỡng trong đất. Các kỹ thuật ruộng bậc thang, làm bờ bao, san bằng mặt đất và đánh bùn trong canh tác lúa giúp đất giữ nƣớc lâu dài, không bị chảy tràn hoặc thẩm thấu vào lòng đất. Những kỹ thuật này giúp kiểm soát xói mòn đất đai, di chuyển chất bùn, trong khi đó làm dễ dàng cho hoạt động làm đất, diệt cỏ, làm tăng gia các chất dinh dƣỡng sẵn sàng cho cây lúa sử dụng và giúp tránh phần nào nắng hạn hoặc lụt lội. Ruộng lúa còn giữ vai trò quan trọng trong các cuộc khai khẩn đất mới, đặc biệt ở những vùng đất đai có vấn đề nhƣ đất mặn, đất phèn và đất than bùn vì cây lúa là loại cây thực phẩm đa năng có thể chịu đựng điều kiện môi trƣờng thiên nhiên khắc nghiệt nhƣ thế. Hơn nữa, các hệ đa dạng sinh học nhƣ lúa-chăn nuôi gia súc, cá, tôm, ếch nhái cung cấp thêm protein, vitamin và các chất khoáng trong thức ăn con ngƣời. Hệ thống trồng lúa còn sản xuất các phó sản trấu, rơm rạ là loại năng lƣợng tái sử dụng, làm phân compost, thức ăn gia súc, vật dụng xây cất, v.v. và có vai trò quan trọng giữ chất Carbon trong đất. Ngoài ra, ruộng lúa còn tạo nên phong cảnh thiên nhiên xinh đẹp, hữu tình thu hút các du khách đô thị (IRC, 2003). 13
- Trần Văn Đạt 5. NĂM LÚA GẠO QUỐC TẾ Vào ngày 16-12-2002, phiên họp thứ 57 hàng niên của Hội Đồng Khoáng Đại Liên Hiệp Quốc (LHQ) ở New York đã tuyên bố năm 2004 là Năm Lúa Gạo Quốc tế (Năm LGQT) và yêu cầu Tổ Chức FAO giúp thực hiện Năm LGQT với hợp tác của các cơ quan quốc tế liên hệ, các cơ quan phi chính phủ và lãnh vực tƣ nhân. Lời tuyên bố LHQ về Năm LGQT là kết quả của những nỗ lực liên tục từ 1999 của tổ Chức FAO và Viện Nghiên Cứu Lúa Gạo Quốc Tế (IRRI), với nhiệt tình hỗ trợ của nƣớc Philippines và 43 quốc gia khác trên thế giới gồm cả Việt Nam (Trần Văn Đạt, 2005). Sự tuyên bố về Năm LGQT cho một loại màu duy nhứt, là hiện tƣợng hiếm thấy trong lịch sử LHQ. LHQ đã nhìn nhận rằng ”Cần tập trung sự chú ý của thế giới vào vai trò của cây lúa trong cung cấp an ninh lương thực và xóa đói giảm nghèo trong nỗ lực hoàn thành mục tiêu phát triển đồng thuận quốc tế, gồm cả các mục tiêu đề ra trong Tuyên Bố Thiên Niên Kỷ năm 2000” (FAO, 2005). Do đó, mục đích chính của Năm LGQT, trong ngắn hạn, là làm tăng gia hiểu biết của thế giới về các khó khăn, thử thách và những cơ hội sẵn có của ngành sản xuất lúa gạo cũng nhƣ sự liên hệ của thực phẩm này đến tình trạng an ninh lƣơng thực, nghèo khó, bền vững sản xuất và lành mạnh môi trƣờng trên thế giới. Trong trung và dài hạn, mục tiêu của Năm LGQT nhằm kêu gọi sự hỗ trợ của các nƣớc tiến bộ cho các lãnh vực nghiên cứu và phát triển, và các nƣớc trồng lúa thực hiện các chƣơng trình và dự án giải quyết các khó khăn nhằm cải tiến năng suất, tăng gia sản xuất bền vững, nâng cao lợi tức và thịnh vƣợng của nông dân trong khi bảo vệ môi trƣờng và tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ sắp tới. 6. KẾT LUẬN Cây lúa đã không thể tách rời từ các nền văn hóa của đất nƣớc. Lúa gạo là sự sống, biểu tƣợng cho nền văn minh sống thực của các dân tộc trồng lúa. Loài thảo mộc này đã trở thành ngƣời bạn thân thƣơng gắn bó, trải qua các giai đoạn khó khăn và thịnh vƣợng suốt quá trình lịch sử xây dựng đất nƣớc. Những nền văn minh lúa khô, lúa nƣớc xuất hiện từ thời tiền sử đến thời cổ đại, cách nay ít nhứt 6.000-3.000 năm. Truyền thống văn hóa với hiện diện lúa gạo đã ăn 14
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam sâu vào tận cội nguồn mỗi ngƣời Việt Nam. Cây lúa đã đóng góp vào sự sinh tồn của những dân tộc gắn liền với loại thảo mộc này. Có hàng trăm ngàn sinh mạng phải chịu chết oan uổng vì các nạn đói đã có lúc hoành hành dữ dội trong nƣớc. Cây lúa còn là chủ nhân của hàng triệu việc làm, đã đóng góp rất lớn vào sự lớn mạnh của nền kinh tế, xã hội; hơn nữa, còn giúp bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên, môi trƣờng nếu đƣợc con ngƣời quản lý thích đáng. Thật vậy, cây lúa đã thể hiện dƣới nhiều hình thức hữu ích - năng động, đa dạng và đa năng có mặt ngàn đời với loài ngƣời. Trên thế giới, lúa gạo không những là một loại lƣơng thực hàng đầu trong các chiến lƣợc chống nạn đói kém, nghèo khổ và bệnh tật, còn góp phần to lớn vào phong phú đa dạng sinh học và cũng là thành tố thiết yếu của gia tài văn hóa bản địa và thế giới. Nhƣng gần đây, sản xuất lúa gạo thế giới đang đối diện với một số vấn đề cấp bách: dân số tiếp tục gia tăng, nguồn tài nguyên thiên nhiên đất và nƣớc suy giảm, biến đổi khí hậu toàn cầu và mức độ sản xuất chậm lại so với cuộc Cách Mạng Xanh vừa qua (FAO, 2005). Các thử thách này không thể đối phó riêng rẻ bởi một cơ quan hoặc tổ chức duy nhứt nào để đi đến thành công, mà cần sự hợp tác và liên đới chặt chẽ tất cả các giới liên hệ trên thế giới. Vì thế, LHQ và nhiều nƣớc hội viên đã long trọng tổ chức đón chào Năm Lúa Gạo Quốc Tế-2004. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Chandler, R.F. 1979. Rice in the Tropics: A guide to the development of national programs. Westview Press/Boulder, Colorado, pp 256. 2. IRC. 2003. International Rice Commission (IRC) Newsletter, Vol. 52, Special Issue for the International Year of Rice - 2004, FAO, Rome, pp 46. 3. FAO. 2004 và 2007. FAOSTAT (www.fao.org). 15
- Trần Văn Đạt 4. FAO. 2005. Rice is life - International Year of Rice 2004 and its implementation, FAO, Rome, pp 133. 5. Juliano, B.O. 2003. Rice chemistry and quality. Philrice, Philippines, pp 480. 6. Juliano, B.O. and Villareal, C.P. 1993. Grain quality evaluation of world rices. IRRI, Philippines. 7. Tổng Cục Thống Kê (GSO). 2008. Số liệu thống kê - Nông nghiệp 8. Trần Văn Đạt, 2005. Sản xuất lúa gạo thế giới: Hiện trạng và khuynh hướng phát triển trong thế kỷ 21. NXB Nông Nghiệp, tr.7-9. 16
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam CHƢƠNG 2 NGUỒN GỐC CÂY LÚA VIỆT NAM 1. TỔNG QUAN 2. XẾP LOẠI LÚA 3. NGUỒN GỐC CÂY LÚA VIỆT NAM 4. KẾT LUẬN 1. TỔNG QUAN Nguồn gốc và phân bố cây lúa luôn là đề tài tranh luận nóng bõng của các nhà khoa học và khảo cổ học thế giới. Tuy nhiên, gần đây nhờ các kỹ thuật và khoa học tiến bộ đã giúp làm sáng tỏ một số vấn đề tranh chấp. Những kỹ thuật di truyền, công nghệ sinh học, phƣơng pháp đồng vị phóng xạ, cùng các phân tích khoa học đã giúp các nhà nghiên cứu mang ra ánh sáng nhiều vấn đề khảo cổ chƣa đƣợc rõ ràng. Vào tháng 2 năm 2006, một nhóm khảo cổ hỗn hợp Việt, Úc và Nhựt đã khai quật một nghĩa địa cổ có niên đại từ 3.500 đến 4.000 năm ở Mân Bạc, khoảng 90 cây số phía nam Hà Nội. Ông Marc Oxenham, một nhà khảo cổ học của Trƣờng Đại Học Quốc Gia Úc cho rằng những dấu hiệu sơ khởi khám phá từ các nghĩa địa trên cho thấy nền nông nghiệp Việt Nam hiện nay có thể do các di dân từ phƣơng Bắc mang đến hơn là do cƣ dân bản xứ đã biết trồng trọt từ lâu. Ý kiến này không đồng thuận với kết luận của các cuộc nghiên cứu khác trong nƣớc và thế giới hơn thế kỷ vừa qua, vì các lý do sau đây: (i) Nền nông nghiệp sơ khai đã xuất hiện ở vùng Đông Nam Á cách nay khoảng 8-10 thiên kỷ hoặc xa hơn, trong nền văn hóa Hòa Bình; (ii) Các bộ lạc trồng lúa đã xuất hiện ở các nƣớc 17
- Trần Văn Đạt Đông Nam Á vào khoảng 5.000-6.000 năm trƣớc trong nền văn hóa Bắc Sơn; (iii) Nền nông nghiệp, nhứt là nông nghiệp nhiệt đới, chỉ có thể xuất hiện, tiến hóa và phát triển mạnh ở vùng có khí hậu ấm áp và ẩm ƣớt. Nhiều nhà khảo cổ học cho rằng miền thƣợng du Bắc Bộ là một trong những trung tâm nguyên thủy của cây lúa trồng ngày nay (Chang, 1985). Cho nên, nguồn gốc của nền nông nghiệp, nhứt là ngành lúa gạo, không nhứt thiết bắt nguồn từ phƣơng Bắc, trái lại, có thể do cƣ dân lâu đời đã bắt đầu nền nông nghiệp sơ khai vào giữa thời đại Đá Mới. Cuộc khai quật nghĩa địa Mân Bạc xác nhận cƣ dân ở Việt Nam trong thời đại Hùng Vƣơng đã có giao thoa giữa giống Mã Lai bản địa và Mông Cổ di cƣ từ miền nam sông Dƣơng Tử (nƣớc Sở, nƣớc Việt ). Sau đây là tóm lƣợc các công trình nghiên cứu chính về nguồn gốc và phân bố cây lúa trồng. Trên quả địa cầu này, chỉ có ngƣời dân châu Á và châu Phi biết thuần dƣỡng lúa dại thành lúa trồng hiện nay. Đó là lúa châu Á (Oryza sativa) và lúa châu Phi (Oryza glaberrima) có hai nguồn gốc, phát triển và phân phối riêng biệt. Tùy theo khí hậu, cây lúa châu Á đƣợc phân ra làm 3 nhóm khác nhau - lúa Indica ở vùng nhiệt đới, lúa Japonica (hay Sinica) ở vùng ôn đới và Javanica (còn gọi Japonica nhiệt đới) ở Indonesia, trung gian giữa 2 thứ lúa kia. 2. XẾP LOẠI LÚA Cây lúa trồng thuộc họ Poaceae (Graminea hay họ Hòa Thảo), phụ họ Pryzoideae, tộc Oryzae, dòng Oryza, loài Oryza sativa và Oryza glaberrima. Loài Oryza sativa là lúa trồng ở châu Á và Oryza glaberrima lúa trồng ở châu Phi. Ngoài ra, còn có hơn 20 loài lúa dại sống rải rác trên thế giới nhƣ Đông Nam Á, Nam Á, Úc Châu, New Guinea, Phi Châu, Trung và Nam Mỹ. Sự xếp loại cho cây lúa trải qua một thời gian hơn 200 năm, với rất nhiều tranh luận giữa các nhà nghiên cứu vì không có hệ thống xếp loại duy nhứt đƣợc đặt ra. Do đó, có nhiều loài lúa dại đƣợc xếp cùng tên hoặc lẫn lộn nhau, tùy theo các nhà nghiên cứu, ngoại trừ hai loài lúa trồng (sativa và glaberrima) và 7 loài lúa dại (australiensis, eichingeri, latifolia, minuta, schlechteri, ridleyi và brachyantha) (Nayar, 1973). 18
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam Chẳng hạn, loài spontanea và perennis đƣợc xem nhƣ rất gần với lúa trồng sativa; nên có tên thay đổi rất thƣờng: loài oryza dƣới dạng spontanea, hàng niên, xem nhƣ một loài độc lập O. fatua, hay O. sativa var. fatua hoặc O. rufipogon (Sampath, 1962). Loài đa niên O. perennis đƣơc xem nhƣ O. rufipogon Griff và loài hàng niên nhƣ O. nivara Sharma et Shastry. Vào 1753, ông Lineaeus, ngƣời đầu tiên đã mô tả và xếp loài lúa sativa trong dòng Oryza. Pilger (1915) tìm đƣợc và mô tả loài thứ hai, schlechteri từ mẫu thu thập đƣợc bởi Schlechter vào năm 1907 ở miền bắc Tân Guinea (Nayar, 1973). Bà Prodoehl (1922) đã viết bản thảo chi tiết cho giống lúa này và 17 loài đƣợc mô tả khá chi tiết. Sau đó, dòng Oryza đƣợc đặc biệt quan tâm đến với rất nhiều chi tiết bởi nhiều nhà nghiên cứu, nhƣ Roscheviez (1931), Chevalier (1932), Sasaki (1935), Morinaga (1943), Chatterjee (1948), Sampath (1961, 1962, 1964), Tateoka (1963, 1964), Chang (1964), Shastry 1965, và Sharma và Shastry (1965, 1971), Sharma (1973) và Nayar (1973). Trong đó, ông Morinaga (1943, 1954) là ngƣời đầu tiên đã sử dụng kỹ thuật phân tích genome để định danh các loài lúa dại. Công trình nghiên cứu dựa trên cơ sở khoa học này (sự tiếp hợp của các nhiễm sắc thể giống nhau) đã giúp phân tích các loài lúa đƣợc chính xác hơn. 3. NGUỒN GỐC CÂY LÚA VIỆT NAM Trên thế giới có hai loại lúa trồng quan trọng: lúa châu Á và lúa châu Phi. Cây lúa châu Á hiện chiếm ƣu thế trong khâu sản xuất, tiêu thụ và thị trƣờng thế giới vì tiềm thế năng suất cao gấp 2-3 lần lúa châu Phi. Nguồn gốc và phân phối của cây lúa châu Á khó có thể xác định rõ ràng vì cây lúa đƣợc con ngƣời thuần dƣỡng và canh tác từ thời tiền sử. Nhiều nghiên cứu đƣợc thực hiện từ gần cuối thế kỷ XIX đến nay đã giúp chúng ta có đƣợc vốn hiểu biết khá rộng từ nhiều góc cạnh của vấn đề, cũng nhƣ giúp chúng ta có nhiều tin tƣởng hơn cho một số giả thuyết về nguồn gốc và phân bố cây lúa trồng. 19
- Trần Văn Đạt Nguồn gốc của cây lúa trồng là đề tài thảo luận sôi nổi từ lâu, đặc biệt từ hai nƣớc: Trung Quốc và Ấn Độ. Có rất nhiều chuyên gia đã nghiên cứu và đề nghị nhiều địa điểm nguồn gốc khác nhau tùy theo lề lối suy luận, phƣơng pháp khảo cứu và các tƣ liệu thu thập đƣợc từ lịch sử, công trình khảo cứu hoặc dân gian. Cho đến thập niên 1950, các nghiên cứu mới có cơ sở vững chắc hơn khi kỹ thuật di truyền tế bào đƣợc áp dụng. Địa điểm nguồn gốc xuất phát cây lúa trồng đầu tiên phải hội đủ 4 tiêu chuẩn sau đây: (i) Tổ tiên trực tiếp của cây lúa hay lúa dại phải hiện diện hoặc đã xuất hiện nơi đó; (ii) Di chỉ khảo cổ xác nhận cây lúa đã đƣợc trồng nơi đó; (iii) Sự hiện diện loài nguyên thủy của cây lúa trồng; và (iv) Biến đổi di truyền giữa lúa trồng và lúa dại phải khác biệt ở nơi đó. Có nhiều giả thuyết về nguồn gốc của cây lúa trồng hiện nay, nhƣng một cách tổng thể, 4 giả thuyết sau đây đƣợc các nhà khảo cứu đề cập đến nhiều nhứt: nguồn gốc Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Nam Á và đa trung tâm. 3.1. Giả thuyết nguồn gốc Trung Quốc Vào năm 1882, de Candolle đã dựa vào tài liệu của Bretschneider và Stanislav Julien đề cập về một nghi lễ tôn giáo đặt ra bởi hoàng đế Thần Nông (2800-2700 trƣớc Công Nguyên - CN) và cho rằng cây lúa trồng ở Trung Quốc sớm hơn Ấn Độ. Trong nghi lễ này, Hoàng Đế và các quan cao cấp đã gieo 5 loại hạt (ngũ cốc): lúa, khoai ngọt, lúa mì và hai loại hạt kê. Do đó, ông de Candolle và nhiều ngƣời khác cho rằng các loại hạt giống trên xuất xứ từ Trung Quốc. Ông Chatterjee (1947, 1948) lúc đầu cho rằng cây lúa xuất xứ từ Ấn Độ vì ngƣời Ả Rập lần đầu tiên biết đến cây lúa từ Ấn Độ. Sau đó, Chatterjee thay đổi lập trƣờng khi tìm thấy tên thông thƣờng Oryza gần giống với chữ Hy Lạp Oruza và chữ Tamil Arisi và tất cả chữ này đều bắt nguồn từ chữ Ou-lizz, có nghĩa là lúa ở tiếng thổ ngữ Nengpo của ngƣời Tàu, cộng thêm tục lệ nghi lễ gieo lúa ở đời Thần Nông. Tuy nhiên, chữ dùng cho cây lúa trong triều đại nhà 20
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam Chu đã liên quan đến thổ ngữ của miền biển Trung Quốc, Đông Dƣơng và Thái Lan. Ông Ting (1949) đề nghị rằng cây lúa xuất phát từ Trung Quốc, vì loại thảo mộc này đã đƣợc nói đến lần đầu tiên trong văn học dƣới thời Thần Nông (3000 tr CN) và trong thời đại Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn (2600-2200 tr CN). Ting cho biết hạt lúa và lá lúa đƣợc tìm thấy trong cuộc khai quật Yan-shao 2600 tr CN và cũng tìm thấy bộ xƣơng (1400-1122 tr BC) có khắc đặc tính cây lúa. Ông cũng báo cáo đã tìm đƣợc mày lúa và hạt lúa ở địa điểm khai quật cách Uckan 150 km trong vùng thung lũng sông Hoàng Hà. Ông cho rằng hạt lúa có liên hệ với “O. sativa f. spontanea ssp. Keng Ting”. Hạt lúa có chiều dài 6,97 mm và chiều rộng 3,47 mm với mày có lông, hạt có đuôi. Vài di tích khảo cổ lúa đƣợc tìm thấy lần đầu tiên ở vài nơi của nền văn hóa Lungshnoid. Các di vật khác đƣợc báo cáo ở thiên niên kỷ thứ III và IV tr CN. Mẫu lúa trồng cổ nhứt thuộc loại Indica đƣợc tìm thấy ở cuộc khai quật tại Ho-mu-tu, phía đông Trung Quốc vào niên đại 5008 117 tr CN hay cách nay khoảng 7.000 năm. Theo Bellwood (2005:116), cuộc nghiên cứu gần đây ở động Xianrendong và Diaotonghuan, đông bắc tỉnh Jiangxi cho biết phytoliths1 lúa dại đã có mặt cách nay khoảng 13.000 năm; nhƣng trong thời kỳ lạnh giá và khô khan “Tiểu hạn” (Younger Dryas: 13.000-11.500 năm) lúa dại vắng mặt, đã làm cho các nhà nghiên cứu Trung Quốc xét lại phytoliths lúa mà họ cho rằng một phần do thuần dƣỡng khoảng 8.000-9.000 năm! (Zhao, 1998, Lu et al., 2.000). 3.2. Giả thuyết nguồn gốc Ấn Độ Ông Watt (1892) viết rất nhiều sách về lúa, đã tìm thấy vài loài lúa dại ở India nhƣ rufipogon (hàng niên và đa niên) và Porterssia coarctata. Lúa gạo cũng đƣợc sử dụng ở nhiều nghi lễ trong xứ này. Do đó, Ông kết luận rằng cây lúa trồng có thể xuất phát từ bán đảo 1 Phytoliths là những vật vi tế trong một số thảo mộc, gồm họ Hòa thảo, đậu, sắn, cây gỗ , được cấu tạo bằng chất silica hoặc dưới dạng calcium oxalate không bị hủy hại với thời gian, nên được dùng trong khảo cổ học để xác định loại thảo mộc và niên đại. 21
- Trần Văn Đạt Ấn Độ và lan rộng đến các nơi khác. Ramiah và Ghose (1961) ủng hộ lý thuyết của Watt. Cây lúa đến Trung Quốc vào khoảng 3000 trƣớc CN từ Nam Á và Đông Nam Á. Ông Vavilov (1951) cho rằng Ấn Độ có thể là trung tâm nguồn gốc cây lúa và sau đó đƣợc truyền sang Trung Quốc. Roschevicz (1931) tin rằng Africa là nguồn gốc cây lúa sativa vì lục địa này có nhiều loài lúa dại hơn Châu Á và lúa trồng có thể tự xuất hiện ở Ấn Độ, Trung Quốc và Đông Dƣơng. Ông Gustchin (1938) đề nghị rằng cây lúa có thể xuất hiện đầu tiên ở cả hai bên triền núi Hymalaya. Những hạt lúa hóa thạch đƣợc tìm thấy ở Hastinapur (Uttar Pradesh) có niên đại phóng xạ cách nay từ 2.700 đến 3.000 năm (Chowdhury and Ghosh, 1953). Ở Ấn Độ, di vật lâu đời của lúa đƣợc tìm thấy ở vỏ trấu trộn với đất sét (vật dụng kiến trúc) tại Lothal (Quận Ahmedabad, Gujarat) đƣợc xác định niên đại 2.300 tr CN. Mƣời một mẫu lúa trên 2000 năm đƣợc tìm thấy ở nhiều nơi và đƣợc báo cáo ở Ấn Độ. Hai mẫu lúa cổ xƣa thuộc nền văn minh Harappan nổi tiếng ở Ấn Độ khoảng 2200-1700 tr CN (Nayar, 1973). Di vật cổ nhứt là hạt lúa và trấu đƣợc tìm thấy trên đồ gốm và phân bò ở Koldihwa, Uttar Pradhesh, có niên đại phóng xạ 6.570 và 4.530 B.C. (Vishnu-Mittre 1976; Sharma et al. 1980). 3.3. Giả thuyết nguồn gốc vùng núi Đông Nam Á Trong vùng Đông Nam Á gồm cả Việt Nam, còn rất ít công cuộc khai quật trên diện tích rộng lớn để nghiên cứu so với các hoạt động khảo cổ qui mô tại hai quốc gia lớn: Trung Quốc và Ấn Độ; cho nên, các giả thuyết và công cuộc khảo cổ học của vùng này chƣa có tiếng vang nhiều để tạo ra sức thuyết phục đối với các nhà khảo cổ học khác trên thế giới. Ngoài ra, trong thiên niên kỷ từ X đến VI các vùng đồng bằng trũng thấp ở ven biển Thái Bình Dƣơng và Ấn Độ Dƣơng bị biển tiến xâm nhập có lúc lên đến 5 m trên mực nƣớc biển hiện nay; nên làm ngập lụt, cuốn trôi nhiều di vật trong thời gian 4.000 ngàn năm đó. 22
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam Trong thế kỷ 20, nhiều nhà nghiên cứu đƣa ra giả thuyết nguồn gốc cây lúa trồng ở vùng Đông Nam Á, bên cạnh giả thuyết về Trung Quốc và Ấn Độ. Ông Hamada (1949) và Burkill (1953) xem Đông Dƣơng là trung tâm xuất hiện của cây lúa vì cây lúa phân hóa sâu rộng hơn hết ở vùng này. Ông Vavilov (1951) cho rằng một số hoa màu gồm cả lúa bắt nguồn từ trung tâm Hindustan, gồm có Ấn Độ Assam và Myanmar (Miến Điện). Ông Barrau (1966) cho rằng cây lúa có thể đã đƣợc thuần hóa ở vùng Ấn Độ - Thái Bình Dƣơng vì có rất nhiều lúa dại nổi tiếng ở vùng này. Trong 1952, nhà địa chất học Carl Sawer đƣa giả thuyết thảo mộc đầu tiên trên thế giới đƣợc thuần dƣỡng ở Đông Nam Á. Ông Solheim II, Giáo Sƣ nhân chủng học và học trò Chester Gorman thuộc Đại Học Hawaii muốn chứng minh giả thuyết này qua nhiều cuộc khai quật tại miền bắc Thái Lan, đặc biệt ở Non Nok Tha. Họ khám phá dấu tích hạt và trấu trên gốm có niên đại ít nhứt 6.000 năm và đồng ý với Ông Sawer nền nông nghiệp sơ khai xuất hiện trong nền văn hóa Hòa Bình cách nay ít nhứt 8.000 năm tại miền bắc biên giới Thái Lan và Miến Điện, tuy nhiên cần phải khảo cứu thêm để đánh giá xác nhận (Solheim II, 1967 và 1971). Ông Moringa (1972) nêu giả thuyết rằng cây lúa có thể bắt nguồn từ vùng núi non và thung lũng Đông Nam Á hơn là từ Ấn Độ, vì nhiều nền văn hóa cổ xƣa xuất phát từ vùng núi non này. Sau khi lai giống giữa những giống lúa ở chân núi Hymalaya nhƣ Nepal, Bhutan và Shikkimu với các giống lúa ở 6 vùng sinh thái nhƣ (i) japonica ở vùng ôn đới; (ii) aus (hè-thu), (iii) boro (đông-xuân), (iv) aman (mùa) ở vịnh Bengal; (v) tjereh và (vi) bulu (javanica) ở Indonesia, Ông ta suy đoán rằng lúa trồng xuất phát từ miền đông nam chân núi Hymalaya và bành trƣớng đến 6 vùng sinh thái trên. Lúa aus, boro, aman và tjereh thuộc nhóm lúa indica. 23
- Trần Văn Đạt Ông Chang (1976), sau khi quan sát 34.000 giống lúa thế giới ở ngân hàng gien của IRRI, nhận thấy rằng có biến đổi rộng lớn trong các đặc tính và sinh thái của các giống lúa thu thập ở vùng núi non Đông Nam Á, gồm có Nepal, Shikkim, Assam (Ấn Độ), Bangladesh, Bắc Myanmar, Bắc Thái Lan, Bắc Lào và Tây Nam Trung Quốc. Ông Nakagahra (1976) căn cứ trên nghiên cứu về sự phân bố của 12 loại lúa isozymes từ các vùng khác nhau ở châu Á, nhận thấy có biến đổi lớn của các giống lúa từ Assam đến Laos và cho rằng nguồn gốc cây lúa trồng ở vùng núi non Đông Nam Á nhƣ Myanmar, Thái Lan và Vân Nam của Trung Quốc. Ông Higham (1989) báo cáo vỏ trấu và liềm gặt lúa bằng vỏ sò đƣợc tìm thấy ở Khok Phanom Di gần vùng vịnh Thái Lan có niên đại phóng xạ 6.000-4.000 tr. CN. Ông Watanabe (1997), sau khi nghiên cứu trên các vỏ trấu trong các lâu đài xƣa cổ đổ nát để tìm lộ trình của lúa ở Á Châu, cho rằng trung tâm nguồn gốc trồng lúa ở vùng Assam-Vân Nam. 3.4. Giả thuyết đa trung tâm Thông thƣờng công tác nghiên cứu về địa danh và thời gian của nguồn gốc cây lúa căn cứ trên các di chỉ khảo cổ, lịch sử, ngôn ngữ học và chứng cớ thực vật học. Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào một vài sự kiện mà kết luận thì không thể chính xác và khoa học, do các nguyên nhân sau đây: (i) Căn cứ vào nghi lễ gieo lúa xa xƣa ở Trung Quốc để kết luận về nguồn gốc của cây lúa, lúa mì, khoai ngọt bắt nguồn từ nƣớc này thì không đƣợc chỉnh lắm, vì các hạt giống này có thể xuất xứ từ các nơi khác hơn Trung Quốc. Thí dụ, cây lúa mì đƣợc biết xuất phát từ Trung Đông, khoai ngọt xuất xứ từ Nam Mỹ. (ii) Di tích khảo cổ đƣợc sử dụng nhiều nhứt trong quá khứ cho các nghiên cứu về nguồn gốc thảo mộc. Tuy nhiên, các vùng có khí hậu ấm áp và ẩm ƣớt nhƣ Đông Nam Á với khí hậu gió mùa rất khó giữ đƣợc các mẫu di vật khảo cổ lâu dài, so với các vùng có khí hậu ôn đới hoặc 24
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam lạnh và khô hơn nhƣ châu thổ sông Hoàng Hà, Trung Quốc. Nếu chỉ căn cứ vào niên đại của các di vật khảo cổ tìm đƣợc, khả năng ƣớc đoán về nguồn gốc có thể sai lầm lớn. Chẳng hạn, trong năm 2003, Đại Hàn khám phá nhiều hạt gạo cháy ở tỉnh Chungbuk có niên đại phóng xạ khoảng 15.000 năm (IRC, 2003); nhƣng nƣớc này không thể là trung tâm nguồn gốc của cây lúa trồng châu Á. (iii) Ngoài ra, các tranh luận nêu trên thƣờng căn cứ trên số lƣợng mẫu lúa nghiên cứu còn rất giới hạn. (iv) Sự khác biệt tên lúa dại của loài O. sativa có thể gây ra suy đoán nhầm lẫn. (v) Các mẫu lúa dại thật sự không còn nữa vì do sự lai giống thiên nhiên giữa các lúa trồng và các loại lúa dại hàng niên. (vi) Không áp dụng các biện pháp tổng hợp trong công việc nghiên cứu. Do đó, ông Chang (1985), chuyên gia di truyền lúa của IRRI, xem xét lại tất cả tin liệu và các dữ kiện từ khoa học, khảo cổ, sinh học tiến hóa, hệ thống sinh học và lịch sử nông nghiệp để đƣa ra kết luận rằng lúa trồng ở châu Á có thể bắt nguồn từ nhiều địa điểm một cách độc lập và đồng bộ, vì những nơi này hiện có nhiều loài lúa dại và lúa trồng cùng sống trong một môi trƣờng. Những địa điểm này khởi đầu từ đồng bằng sông Ganges đến miền bắc Myanmar, miền đông bắc Thái Lan, bắc Lào, bắc Việt Nam, miền nam và tây nam Trung Quốc, và những vùng lân cận khác. Xin nhắc lại rằng ông Morinaga (1955) cũng nêu giả thuyết đa nguồn của cây lúa trồng vì nhiều biến đổi di truyền của cây lúa ở Châu Á. Điều này cũng có thể suy diễn cho nền nông nghiệp sơ khai xuất hiện độc lập, vì sự di chuyển xuyên quốc gia hoặc lục địa còn rất giới hạn trong thời kỳ cách nay 10-8 thiên kỷ. Tại Việt Nam, lúa dại rất phong phú và hiện diện rải rác khắp lãnh thỗ, từ Miền Nam đến Miền Trung và Miền Bắc. Lúa dại đa niên O. rufipogon và lúa dại hàng niên O. Nivara là những loài nguyên thủy, tổ tiên của các giống lúa trồng ngày nay Indica và Japonica, đã hiện diện lâu đời ở nƣớc ta. Đó là một trong những yếu 25
- Trần Văn Đạt tố quan trọng xác nhận cây lúa có nguồn gốc ở Việt Nam. Giáo Sƣ Phạm Hoàng Hộ cũng tin tƣởng Miền Bắc Việt Nam là một trung tâm nguồn gốc lúa trồng của thế giới (Liên lạc cá nhân, 2000) (Trần Văn Đạt, 2005). Để có thông tin nhiều hơn, xin xem thêm Chương 3: Tiến hóa cây lúa và các loại lúa. Theo các thành tựu khảo cổ học Việt Nam, nền văn hóa Hòa Bình đã xuất hiện ít nhứt cách nay 10.000-8.000 năm (Viện Khảo Cổ Học, 1998). Nhiều nhà khảo cổ học thế giới cho rằng Việt Nam có thể đóng một phần vai trò sáng lập nền nông nghiệp sơ khai, nhứt là di chỉ Đa Bút và Cái Bèo có niên đại đƣợc xác nhận cách nay ít nhứt 6.500 năm (Bellwood, 2005). Bà Colani (1926), nhà khảo cổ học khám phá nền văn hóa Hòa Bình, đã tìm đƣợc ở hang động của di chỉ Bắc Sơn một mảnh đá có khắc hình lá họ Hòa Thảo (lá dài với những gân song song), và cho rằng đó lá lúa (Hình 1) (Theo Bùi Huy Đáp, 1980). Hình 1: Hình lá cây thuộc họ Hòa Thảo (B) trên đầu mũi nhọn (A) (theo M. Colani) 26
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam Tại Việt Nam, lần đầu tiên các nhà khảo cổ học tìm thấy những hạt gạo cháy tại di chỉ Đồng Đậu (tỉnh Vĩnh Phúc) khai quật 1962, có niên đại phóng xạ 3.050 ± 100 năm (Hình 2) (Viện Khảo Cổ Học, 1999), nhiều hạt lúa có hình dạng khác nhau ở di chỉ Gò Mun có tuổi carbon 1.120 ± 100 tr. CN (Sakurai, 1987), và dấu vết phấn hoa của một dòng lúa nƣớc đƣợc tìm thấy ở di chỉ Tràng Kênh (Hải Phòng) có niên đại phóng xạ 3.405 ± 50 năm (Nguyễn Phan Quang và Võ Xuân Đàn, 2000). Hình 2: Hạt gạo cháy vào thời kỳ văn hóa Đồng Đậu (3.000 năm trƣớc) (Ảnh: N. K. Quỳnh) Tuy nhiên, các di vật khảo cổ học thu thập đƣợc đến nay còn giới hạn, do phạm vi khai quật các di chỉ còn nhỏ hẹp và phƣơng pháp nghiên cứu còn cổ xƣa. Dù thế, thành quả của hơn một thế kỷ khảo cổ học trong nƣớc và các nƣớc láng giềng trong vùng Đông Nam Á cùng với nghiên cứu công phu của Viện Nghiên Cứu Lúa Quốc Tế ở Philippines đã giúp chúng ta tin tƣởng thêm về 27
- Trần Văn Đạt nguồn gốc độc lập, bản địa của nông nghiệp, đặc biệt ngành trồng lúa. Miền Thƣợng và Trung du Bắc Việt là một trong những trung tâm nguồn gốc lúa trồng Châu Á. Từ đó, cây lúa bành trƣớng về phƣơng Nam theo dân di cƣ và giới thƣơng mại. Ngoài ra, di chỉ Đa Bút có nền văn hóa duyên hải sớm hơn các nền văn hóa lục địa, với xuất hiện đồ gốm sớm, biết chăn nuôi, làm vƣờn và có thể trồng lúa, nhờ giao thƣơng với các nƣớc trong vùng và hải đảo. Ở Miền Nam, có nền nông nghiệp cuốc đá chuyên trồng lúa nƣơng và lúa nƣớc ở Miền Đông Nam Bộ cách nay ít nhứt 5.000-4.000 năm, và nông nghiệp phãng trồng lúa nƣớc ở Miền Tây trong nền văn hóa Óc Eo và tiền Óc Eo cách nay ít nhứt 2.600 năm. 4. KẾT LUẬN Tóm lại, cây lúa có đời sống rất đa dạng trên khắp thế giới, ngoại trừ những nơi băng giá, ao hồ, sông ngòi, biển cả và sa mạc. Do đó, loại thảo mộc này trở nên cây lƣơng thực quan trọng cho hơn phân nửa dân tộc thế giới, sau hàng ngàn năm tiến hóa phát triển; nhƣng nguồn gốc vẫn còn là đề tài tranh cải của nhiều giới liên hệ, nhứt là các nhà khảo cổ học và khoa học gia địa phƣơng và quốc tế. Trong hơn thế kỷ qua, nhiều chuyên gia Trung Quốc và Ấn Độ cố tranh luận để thuyết phục nguồn gốc cây lúa trồng châu Á xuất hiện sớm ở nƣớc mình. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cho biết nguồn gốc cây lúa trồng có thể xuất phát từ nhiều trung tâm khác nhau trong vùng Châu Á, có tính cách độc lập và đồng bộ. Loài lúa trồng sativa có thể xuất phát sớm trong nền văn hóa Hòa Bình ở nhiều nơi khác nhau, từ đồng bằng sông Ganges, Ấn Độ đến miền thƣợng du Bắc Việt. Dù thế, chúng ta hy vọng rằng với những kỹ thuật mới nhƣ phân tích phythollis (ngoài bào tử phấn hoa), các cuộc khai quật sâu rộng hơn và sự quan tâm nhiều hơn của ngành khảo cổ học trong nƣớc đối với lịch sử nông nghiệp sẽ giúp tìm thấy các vết tích lúa gạo xa xƣa hơn kết quả hiện có. 28
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. Barrau, J. 1966. The Indo-Pacific area as a centre of origin and domestication of plants. Symp. Ethnobot., Centen. Celebrations Peabody Mus. Natur. Hist., Yale Univ., New Haven, Conn. Cited in K.C. Chang (1970). 2. Bellwood, P. 2005. First Farmers: The Origins of Agricultural Societies. Blackwell Publishing, Victoria, Australia, 360 pages. 3. Bùi Huy Đáp. 1980. Các giống lúa ở Việt Nam. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 563 trang. 4. Burkill, I.H.1953. Habits of man and the origins of cultivated species of the Old World. Proc. Linn. Soc. London 164: 12-41. 5. Chang, T.T. 1964. Present knowledge of rice genetics and cytogenetics. Tech. Bull. 1: 96, IRRI, Los Banos, Philippines. 6. Chang, T.T. 1976. The rice culture. Philosophical Transactions of the Royal Society. London, B, 275:143-157. 7. Chang, T.T. 1985. Crop history and genetic conservation: Rice - A case study. Iowa State Journal of Research, Vol 59 (4): 425-455. 8. Chatterjee, D. 1947. Botany of wild and cultivated rices. Nature , London, 160: 234-237. 9. Chatterjee, D. 1948. A modified key and enumeration of the species of Oryza Linn. Indian J. Agr. Sci. 18: 185-192. 10. Chevalier, A. 1932. Nouvelle contribution à l‟ étude systématique des Oryza. Rev. Bot. Appl. Agr. Trop. 12: 1014-1032. 11. Chowdhury, K.A. and Ghosh, S.S. 1953. Rice in ancient in India. Sci. Cult.19: 207-209. 12. Colani, M. 1926. Découverte du paléolithique dans la province de Hoabinh, L’Anthropolopie, vol XXVI, Paris, France. 13. de Candolle. 1883. Origines des plantes cultivées. Bibliothèque scientifique internationale. Paris. 14. Ghosh, S. S. 1961. Further records of rice (Oryza ssp.) from ancient India. Indian Forest. 87: 295-301. 29
- Trần Văn Đạt 15. Gustchin, G.G. 1938. Le riz: origine et histoire de sa culture. Riz Rizicult. 12:61-96. 16. Hamada, H.1949. Consideration on the origins of rice cultivation. Nippon Saku-motsu Gakkai Kiji, 18: 106-107. 17. Higham, C. F. W. 1989. Rice cultivation and the growth of Southeast Asian civilization. Endeavour 13: 82-8. 18. IRC (International Rice Commission). 2003. World oldest rice found. IRC Newsletter (Special Edition), FAO, Rome, vol. 52: 42. 19. Lu, H, Lieu, Z, Wu, N. et al. 2002. Rice domestication and climate change: phytoliths evidence from East China. Boreas 31:378-85. 20. Morinaga, T. 1943. Cytogenetical studies on Oryza sativa L. VI. The cytogenetics of F1 hybrid of O. minuta Presl. and O. latifolia Desv. Jap. J Bot. 12:347-357. 21. Morinaga, T. 1954. Classification of rice varieties on the basis of affinity. In Studies on Rice Breeding. Jap. J. Breed. Suppl. 4:1-14. 22. Morinaga, T. 1955. History of Japonese rice. Norin, Kyokai, Tokyo (trong Matsuo, 1997). 23. Morinaga, T. 1972. Japanese rice and its introduction from abroad. In Morinaga, T., Kihara, H., Tshukuba, J and Ueno, M. eds. History of Biology in Japan of dawn of its civilization, Yokendo, Tokyo (trong Matsuo, 1997). 24. Nakagahra, M. 1976. The differentiation of cultivated rice based on geographical distribution of marker genes. Current Advances in Breeding, 17: 35-44 (trong Matsuo, 1997). 25. Nayar, N. M. 1973. Origin and cytogenetics of rice. Advances in Genetics, vol 17, Academic Press Inc., New York and London. 26. Nguyễn Phan Quang & Võ Xuân Đàn. 2.000. Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến name 1884. NXB Sài Gòn, 479 trang. 27. Ramiah, K. and Ghose, R. L.1951. Origine and distribution of rice. Indian, J. Gent. Plant Breed. 11: 7-13. 28. Pilger, R. 1915. Neue und weniger bekannte Graminee aus Papuasien. Bot. Jaarb. 52: 167-176 (trong Nayar, 1973). 30
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam 29. Prodoehl, A. 1922. Oryzae monographice describuntur. Bot Arch. 1: 211-224, 231-255. 30. Roscheviez, R. J. 1931. A contribution to the study of rice. Tr. Prikl. Bot. Genet. Selek. 27(4): 3-133 (in Russ.) 31. Sakurai, Y. 1987. Reclamation history at the Song Coi (Tongking) delta of Vietnam. In History of Asian Rice, Shogakukan, Tokyo, 235-276. 32. Sampath, S. 1961. Notes on taxonomy of the genus Oryza . Shokubutsugaku Zasshi 74: 269-270. 33. Sampath, S. 1962. The genus Oryza: Its taxonomy and relationships. Oryza 1 (1): 1-29. 34. Sampath, S. 1964. Suggestions for a revision of the genus Oryza. In Rice Genetics and Cytogenetics, Proc. Symp., Los Banos, Philippines, Elsevier, Amsterdam, p 22-23. 35. Sasaki, T. 1935. On the distribution of species in the genus Oryza. In Papers on Crop Science Commemorating Prof. S. Kikkawa‟s 25 years of Service, p 631-750 (in Japanese) (in Nayar, 1973). 36. Sharma, S. D. and Shastry, S.V.S. 1965. Taxonomic studies in genus Oryza IV. The Ceylones Oryza spp. Affin O. officinalis Wal. ex Wall. Indian J. Gentics, 25:168-1172. 37. Sharma, S. D. and Shastry, S.V.S. 1971. Phylogenetic studies in genus Oryza I. Primitive characters. Riso, 20:127-136. 38. Sharma S. D.1973. Evolution in genus Oryza. In Advancing Frontiers in Cytogenetics. Hindustan Publishing Corp., New Delhi, p 5-10. 39. Shastry, S.V.S. 1965. Genomic differentiation in the genus Oryza. Indian J. Genet., 26: 258-282. 40. Solheim II, W.G. 1967. Two pottery traditions of late prehistoric times in Southeast Asia. Historical Archeological and Linguistic Studies on Southern China, Southeast Asia and the Hong Kong region. Ed. F. S. Drake. Hong Kong University Press, Hong Kong 1967, p. 15-22. 41. Solheim II, W.G. 1971. New light on a forgotten past. National Geographic, Vol. 139, No. 3. 42. Tateoka, T. 1963. Taxonomic studies of the genus Oryza. III. Key to the species and their enumeration. Shokubutsugaku Zasshi 76: 165-173. 31
- Trần Văn Đạt 43. Tateoka, T. 1964. Taxonomic studies of the genus Oryza. Rice genetics and Cytogenetics, Proc. Symp., Los Banos, Philippines, Elsevier, Amsterdam, p 15-21. 44. Ting, Y .1949. Origin of rice cultivation in China. Coll. Agr. Sun. Yat. Sen. Univ., Agron. Bull., Ser. III No. 7: 18 (in Chinese). 45. Trần Văn Đạt. 2005. Sản xuất lúa gạo trên thế giới: Hiện trạng và khuynh hướng phát triển trong thế kỷ 21. NXB Nông Nghiệp, Hà Nội, 502 tr. 46. Viện Khảo Cổ Học. 1998. Khảo cổ học Việt Nam, Tập I: Thời đại đá Việt Nam. NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 457 tr. 47. Viện Khảo Cổ Học, 1999. Thời Đại Kim Khí Nam Bộ. Khảo Cổ Việt Nam, Tập II. NXB Khoa Học Xã Hội, tr. 349- 398. 48. Vavilov, N. I. 1951. The Origin, Variation, Immunity and Breeding of Cultivated Plants, Chronica Botanica, Waltham, Massachusette, pp 364. 49. Vishnu-Mittre. 1976. Discussion. In Early history of agriculture, Philosophical Transactions of Royal Society of London B275: 141. 50. Watanabe, Y. 1997. Phylogeny and geographical distribution of genus Oryza. Science of the Rice Plant, Vol. 3: Genetics, Food and Agricutlutre Policy Research Center, p. 29-39. 51. Watt, G. 1892. Rice. In Dictionary of Economic Products of India, Superintendent, Gov. Printing, Calcutta, 5: 498- 653. 52. Zhao, Z. 1998. The Middle Zangtze region in China is one place where rice was domesticated. Antiquity 72:885-96. 32
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam CHƢƠNG 3 TIẾN HÓA CÂY LÚA VÀ CÁC LOẠI LÚA 1. TỔNG QUAN 2. TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CÂY LÚA 3. CÁC LOẠI LÚA Ở VIỆT NAM 4. KẾT LUẬN 1. TỔNG QUAN Ở Việt Nam, cây lúa dại có thể hiện diện cách nay ít nhứt 10.000- 8.000 năm trong nền Văn Hóa Hòa Bình, khi nền nông nghiệp sơ khai vừa xuất hiện. Đây là cuộc Cách Mạng Xanh đầu tiên của nhân loại. Ngoài cuộc sống hàng ngày với săn bắt, các cƣ dân biết hái lƣợm các cây có củ nhƣ khoai từ, cây đậu, cây lúa để có thêm thức ăn hàng ngày. Cây lúa dại đƣợc thuần dƣỡng cả ngàn năm để tiến đến sản suất có hệ thống nhƣ nghề canh tác lúa rẫy du canh. Loại Hòa Thảo này tiến hóa và phát triển không ngừng dƣới sức tác động con ngƣời và môi trƣờng, qua các nền văn hóa Bắc Sơn, Phùng Nguyên, Đông Sơn, thời kỳ Bắc thuộc, Độc Lập, Pháp thuộc, đến cuộc Cách Mạng Xanh vừa chấm dứt trong nƣớc. Sự tiến hóa của cây lúa đƣợc nhận biết dễ dàng nhứt qua hình dạng từ cây lúa dại cao giàn, ít chồi, lá dài nhỏ màu xanh lợt cong rũ xuống đất, và hạt dễ rụng khi chín tiến hóa thành cây lúa rẫy, lúa nƣớc; trở nên cây lúa cổ truyền không thay đổi hình dạng nhiều lắm; sau đó đƣọc con ngƣời tuyển chọn, lai tạo giống để trở thành cây lúa cải tiến; và bƣớc tiến hóa cuối cùng do khám phá gien lùn để trở nên cây lúa hiện đại thấp giàn, lá thẳng đứng, màu xanh đậm, phản ứng đạm cao, nhiều chồi, không đổ ngã, hạt ít rụng và năng suất cao. 33
- Trần Văn Đạt Hiện nay, cây lúa có mặt từ Nam ra Bắc, từ vùng đồng bằng đến các miền đồi núi, từ các vùng nƣớc mặn, phèn đến nƣớc ngọt, từ nơi ngập nƣớc đến các vùng khô ráo, từ ruộng lúa nổi của đồng bằng sông Cửu Long đến ruộng bậc thang ở vùng Sapa, và cây lúa có thể đƣợc trồng quanh năm, với các hình dạng cây lá, hạt lúa khác nhau và tiếp nối thay đổi không ngừng theo thời gian và không gian. 2. TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CÂY LÚA Cây lúa Oryza có thể bắt nguồn từ siêu lục địa nguyên thủy Gondwanaland cách nay 130 triệu năm và phân chia nhiều loài khi lục địa này tách rời nhau. Cây lúa đƣợc biết hiện diện chính xác trên địa cầu cách nay ít nhứt 15.000 năm, do một nhóm nghiên cứu Đại Học Quốc Gia Chungbuk, Đại Hàn khám phá nhiều hạt gạo cháy tại làng Sorori, tỉnh Chungbuk trong năm 2003, có niên đại phóng sạ cổ xƣa nhứt hiện nay (IRC, 2003) (Hình 1). Loài lúa dại đƣợc con ngƣời thuần dƣỡng ven những đầm lầy và nƣơng rẫy gần nơi cứ trú. Dƣới các ảnh hƣởng của môi trƣờng khắc nghiệt nhƣ khô hạn hoặc nhiệt độ thay đổi quá lớn, một số lúa dại nguyên thủy đa niên đã dần dần trở nên loài lúa hàng niên để thích ứng với phong thổ địa phƣơng. Cây lúa dại đã trở thành cây lúa trồng ngày nay và năng suất tăng từ vài chục kilô vào thời lập quốc lên 5,2 tấn lúa/ha năm 2009. Sự tiến hóa này đƣợc thể hiện qua 3 quá trình: tiến hóa từ gien lúa, tiến hóa do môi trƣờng và tiến hóa nhân tạo. 2.1. Tiến hóa từ gien lúa Từ lúa dại thành lúa trồng: Vào 1892, Watt đã đề nghị rằng sự tiến hóa này đƣợc hình thành bằng cách giảm bớt và biến thái hình dạng của cây, hạt mất đuôi, và mày lúa bên dƣới rút ngắn nhƣng rộng hơn. Bây giờ sự tiến hóa này đƣợc biết rõ ràng hơn và sự thay đổi có thể xác định chính xác, gồm có sự thay đổi thói quen từ cây có lá cong oằn thành lá thẳng đứng và gom sát lại; từ hạt dễ rụng thành không rụng, từ gié lúa rời rạc thành gom chặt, tăng trọng lƣợng và số hạt trên mỗi gié lúa, từ trấu đen trở nên nâu hay vàng óng, từ lớp bì mô (pericarp) đỏ thành trắng (Nayar, 1958). Ngoài ra, đặc tính của tiến hóa còn thể hiện qua sự biến đổi từ cây lúa đa niên thành hàng niên và từ sự thụ phấn chéo một phần trở nên tự thụ phấn ƣu thế. 34
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam Hình 1: Hạt gạo cổ xƣa nhứt cách nay 15.000 năm, tìm thấy ở Đại Hàn năm 2003 ( Một số chuyên gia đã nghiên cứu sự tiến hóa của các giống Oryza và phân biệt ra làm 3 giai đoạn: từ lúa dại tiến hóa theo thời gian và không gian, bằng đột biến hoặc dị biến để trở thành loài lúa cải tiến và phải trải qua giai đoạn trung gian lâu dài. Loài lúa dại ban sơ thích sống nơi rừng rú hoặc nơi có bóng râm, ít ánh sáng và những vùng đất dễ thoát nƣớc. Ngƣợc lại, loài lúa cải tiến thích sống ngoài ánh sáng và phát triển mạnh mẽ nên thân lúa to hơn, lá rộng và sống trong nƣớc (Porterès, 1950; Sharma và Shastry, 1971). Thời gian tiến hóa từ loài cây dại đến có hệ thống sản xuất cây trồng trải qua khoảng 1.000 năm (Nguyễn Sinh-BBC News, 2007). Sự tiến hóa của cây lúa loài Oryza đƣợc phác họa trong Hình 2. Loài Oryza sativa có thể tiến hóa từ O. nivara, loài lúa dại hàng niên, hiện có nhiều trong vùng Đông Nam Á; và loài lúa dại nivara này có thể phát sinh do tiến trình phát triển của loài O. rufipogon, một loại lúa dại đa niên phổ biến ở Châu Á, xuyên qua quá trình thuần dƣỡng bởi thiên nhiên và con ngƣời. Sự thuần dƣỡng lúa dại có thể tiến hóa do trùng điệp lai tạo và tuyển chọn thiên nhiên (Oka and Morishima, 1997) hoặc do nhiều chu kỳ 35
- Trần Văn Đạt chuyên biệt - lai giống (Harlan, 1966 và 1975). Ở Việt Nam, lúa hoang O. nivara xuất hiện nhiều ở đồng bằng sông Cửu Long và nhiều nơi khác và O. rufipogon đƣợc tìm thấy nhiều nơi (Bùi Huy Đáp, 1980; Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2001). Do thích ứng với phong thổ, đặc biệt về nhiệt độ, lúa O. sativa lại tiếp tục tiến hóa làm ba nhóm: Indica thích hợp với khí hậu nhiệt đới, Japonica (hay Sinica) thích ứng với khí hậu ôn đới và cho năng suất cao, và javanica có đặc tính trung gian ở giữa hai loài trên. Siêu lục địa Gondwanaland Tổ tiên chung Nam và Đông Nam Á Tây Phi Châu Lúa dại đa niên O. rufipogon O. longistaminata Lúa dại hàng niên O. nivara O. breviligulata Lúa trồng O. Sativa O. sativa O. glaberrima Indica Japonica ôn đới nhiệt đới Hình 2: Sơ đồ tƣợng trƣng cho tiến trình chuyên biệt của hai loại lúa trồng thế giới (Khush, 1997) 2.2. Tiến hóa do môi trƣờng Dƣới các ảnh hƣởng của môi trƣờng khắc nghiệt nhƣ khô hạn hoặc nhiệt độ thay đổi quá lớn, nhiều loài lúa dại nguyên thủy đa niên đã trở thành loài lúa hàng niên để thích ứng với phong thổ địa phƣơng, khí hậu gió mùa. Về phƣơng diện sinh thái và địa dƣ, cây lúa châu Á đã tiến hóa lâu dài để thích ứng với các môi trƣờng khác nhau và 36
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam trở thành 3 nhóm chính: Indica, Japonica (hay Sinica) và Javanica (Japonica nhiệt đới). Hiện nay lúa Indica đƣợc trồng trên 80% diện tích trồng lúa trên thế giới và cung cấp thức ăn cho hơn 3 tỷ ngƣời, chủ yếu các nƣớc đang phát triển. Lúa Japonica độ 11% và Javanica độ 9%. Ba loại lúa này khác nhau về hình dạng của cây, thân, lá và hạt, thành phần cấu tạo hạt, đặc biệt chất amylose và amylopectin, khả năng chống hạn, kháng lạnh, v.v. (Bảng 1). - Lúa Japonica (hay Sinica): Có hạt tròn, ngắn, ít amylose (14-17%), thƣờng không có đuôi, gié ngắn, nhiều chồi thẳng đứng, cây thấp giàn, dễ chịu lạnh và không kháng hạn. Lúa japonica đƣợc trồng ở các vùng ôn đới. - Lúa Indica: Có hạt dài thon, nhiều chất amylose (trên 21%), không có đuôi, gié trung bình, thân cây tỏa rộng, cao giàn, không chịu lạnh và có thể chịu hạn hán. Lúa indica rất phổ biến ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. - Lúa Javanica (Japonica nhiệt đới): Có tính chất trung gian giữa lúa Japonica và lúa Indica. Loại lúa này có hạt to rộng, chất amylose cao, thƣờng có đuôi, trấu có lông dài, ít chồi, gié dài, thân cây dày thẳng đứng, cây rất cao giàn, không chịu lạnh, chịu hạn hán. Lúa javanica đƣợc trồng ở Indonesia, chủ yếu Java và Sumatra. Ngoài ra, trong thập niên 1980, Glaszmann (1987) đã áp dụng kỹ thuật phân tích “isozyme loci” trong nghiên cứu sâu hơn giữa các nhóm lúa nói trên. Ông đã có thể phân biệt O. sativa ra làm 6 nhóm: Nhóm I (thuộc indica), II, III, IV, V và VI (thuộc japonica); nhƣng nhóm II và III gần giống với nhóm I (indica) và nhóm IV và V gần giống nhóm VI (japonica). Đa số các giống lúa thơm nhƣ Basmati 370, Khao dawk mali 105 và lúa rẫy thiên về nhóm VI. 37
- Trần Văn Đạt Bảng 1: Đặc tính của các loài lúa Japonica (hay sinica), Javanica và Indica Đặc tính Japonica Javanica Indica 1. Hình dạng hạt lúa Ngắn Rộng Thon và nhỏ 2. Chiều dài phiến lá Ngắn Dài Dài No.2 3. Góc của lá cờ và Nhỏ Nhỏ Rộng thân 4. Cấu trúc của các Trung bình thành phần cây lúa Rộng Nhỏ 5. Lá cờ Ngắn, hẹp Dài, rộng Dài, hẹp 6. Số chồi Nhiều Ít Nhiều 7. Loại chồi Thẳng Thẳng Tỏa rộng đứng đứng 8. Lông của lá lúa Không có Ít Nhiều hơn 9. Lông của mày lúa Dầy đặc Dầy đặc Thƣa 10. Đuôi lúa Thƣờng Thƣờng có Thƣờng không có không có 11. Hạt lúa rụng Khó Khó Dễ 12. Chiều dài gié lúa Ngắn Dài Trung bình 13. Nhánh của gié lúa Ít Nhiều Trung bình 14. Tỉ trọng gié lúa Cao Trung bình Trung bình 15. Sức nặng của gié lúa Nặng Nặng Nhẹ 16. Chiều cao cây lúa Ngắn Cao hơn Cao 17. Độ ngã Khó ngã Trung bình Dễ ngã 18. Sức nẩy mầm Chậm Nhanh Nhanh 19. Chịu lạnh Cao Ít chịu lạnh Không chịu lạnh 20. Chịu hạn Ít Cao Cao Nguồn: Theo Matsuo (1952) và Chandraratna (1964) 2.3. Tiến hóa do con ngƣời Vào thời đại nông nghiệp sơ khai trong nền Văn Hóa Hòa Bình, cây lúa dại đƣợc con ngƣời thuần dƣỡng quanh những đầm lầy và những 38
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam vùng đất cao gần nơi cứ trú. Ban đầu, con ngƣời lƣợm các hạt chín của cây lúa dại để ăn, sau đó họ hái các hạt bắt đầu chín còn trên cây. Qua nhiều năm tháng, họ biết lựa các gié lúa hạt to và những cây lúa có ít hạt bị rơi rụng khi chín. Sau cùng, họ có khuynh hƣớng tuyển lựa những cây lúa tốt, với nhiều gié, hạt nặng to để dành trồng lại mùa sau; tác động này làm cho cây lúa ngày càng cải tiến hơn để sản xuất nhiều hơn. Ngoài ra, sự thụ tinh chéo của cây lúa, dù ít độ 5-10%, cũng tạo nên những giống lúa mới. Cho đến thế kỷ XVIII, nhờ kỹ thuật lai tạo, cây lúa vốn từ ít chồi đã trở nên nhiều chồi trong điều kiện môi trƣờng thuận lợi, gié lúa từ ít hạt (30-40 hạt/gié) trở nên nhiều hạt (100-300 hạt/gié), cây lúa bị nhiều quang cảm trở nên ít hoặc không quang cảm, từ dài ngày (135-210 ngày) trở nên ngắn ngày (80-100 ngày), cây lúa ít phản ứng đạm trở nên phản ứng đạm cao, cây lúa có chỉ số thu hoạch thấp (0,2-0,3) trở nên cao (0,4-0,6), và cuối cùng năng suất lúa từ thấp (vài chục kg/ha) tăng lên năng suất cao (10.000 - 11.000 kg/ha) trong điều kiện khí hậu nhiệt đới. Hiện nay, các nhà nghiên cứu lúa đang nỗ lực lai tạo giống siêu lúa có năng suất từ 13-15 t/ha. Công nghệ sinh học càng tiến bộ cây lúa càng biến đổi nhiều hơn theo nhu cầu nhân loại. Chẳng hạn, cây lúa chẳng bao giờ sản xuất hạt gạo vàng, nay đã có thể cho hạt màu vàng chứa nhiều tiền sinh tố A, nhờ kỹ thuật biến đổi gien. 2.4. Năng suất tiến hóa Năng suất lúa tiến triển chậm chạp theo thời gian, từ thời tiền sử đến hiện đại, từ lúa hoang dại đến lúa trồng, và từ trình độ man dã đến văn minh kỹ thuật. Chẳng hạn, ở Trung Quốc, năng suất tăng từ 0,34 t/ha truớc năm 206 BC lên 0,59 t/ha trong 220-265 sau CN; 0,85 t/ha trong 581-906; 1,45 t/ha trong 1260-1368; và 1,61 t/ha trong 1644-1911. Trong khi đó, ở Nhựt Bổn, năng suất tăng nhanh hơn: từ 1,01 t/ha trong 800-900 sau CN lên 1,92 t/ha trong 1720- 1840; 2,60 t/ha trong 1893-1897; và 3,10 t/ha trong 1903-1907 (Bảng 2). Quả đây là những bƣớc tiến nhảy vọt trong lãnh vực nông nghiệp vào thế kỷ XVIII - XIX và đầu thế kỷ XX, nên có thể gọi đây là những cuộc Cách Mạng Xanh của Nhựt Bổn. Ở Việt Nam, năng suất bình quân ƣớc tính vào đầu CN khoảng 500 kg lúa/ha, tăng lên độ 1 t/ha vào thế kỷ X (chấm dứt đô 39
- Trần Văn Đạt hộ Nam Hán) nhờ dung hòa với kỹ thuật Trung Quốc, 1,2 t/ha vào đầu Pháp thuộc do cải thiện hạt giống và chăm sóc, khoảng 2 t/ha vào đầu cuộc Cách Mạng Xanh (1968) do sử dụng kỹ thuật Tây Phƣơng và 5,2 t/ha vào năm 2009 do phối hợp cải tiến di truyền (với gien lúa lùn) của giống cao năng, sử dụng chất nông hóa và thủy lợi. Bảng 2: Năng suất lúa tại Trung Quốc và Nhựt Bổn trong các thế kỷ qua (t/ha). Năm Trung Quốc Năm Nhựt Bổn Trƣớc 206 tr 0,34 CN 206 tr CN - 206 0,40 sau CN 220-265 0,59 265-317 0,74 800-900 1,01 317-420 0,83 1550 1,65 581-906 0,85 1720 1,92 960-1279 1,04 1840 1,92 1260-1368 1,45 1878-1887 1,85 1368-1644 1,95 1893-1897 2,60 1644-1911 1,61 1903-1907 3,10 Nguồn: Theo Greenland, 1997. 3. CÁC LOẠI LÚA Ở VIỆT NAM Trong hơn 100 năm qua, số giống lúa địa phƣơng từ 1.200-2.000 giống vào đầu thế kỷ XX tăng lên hơn 10.000 giống hiện nay, chứng tỏ rằng lúa địa phƣơng đang tiến hóa theo thời gian và không gian khá nhanh, nhƣng cũng có nhiều giống lúa trùng nhau nhƣng khác tên và đã thích ứng với phong thổ địa phƣơng. Về mặt tiêu thụ, có nhiều loại lúa gạo khác nhau đƣợc tìm thấy trên thị trƣờng nhƣ: Lúa dại, lúa nếp, lúa thơm, lúa gạo màu dinh dƣỡng, lúa nổi, lúa hữu cơ, lúa GAP và lúa nhập nội (Xem thêm Chương 11:Tiến hóa qui trình sản xuất lúa - Các giống lúa). 40
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam 3.1. Lúa dại Lúa dại, còn gọi là lúa ma hay lúa trời, lúa hoang sống thiên nhiên ở vùng đất hoang vu, các đầm lầy nƣớc ngập, mƣơng rạch, ao hồ; hoặc xâm nhập vào các ruộng lúa gieo thẳng nhiều năm (lúa cỏ). Lúa dại còn là một nguồn cung cấp thực phẩm cho Hình 3: Đập lúa dại (Ảnh: Lâm Tấn một số địa phƣơng, nhƣ miền Tài) núi, đồng bằng sông Cửu Long. Huyện Tam Nông, vùng trũng nhứt của Đồng Tháp Mƣời thuộc Vƣờn Quốc Gia Tràm Chim, là nơi duy nhứt còn khoảng 200 ha lúa ma (Oryza rufipogon) hoặc ít hơn. Vào mùa nƣớc nổi rút đi, dân địa phƣơng đi hái lúa ma từ khuya đến sáng sớm (nếu trễ hạt rụng nên gọi lúa ma) với chiếc xuồng nhỏ có tấm mê bồ cao 1 thƣớc để che lúa khi dùng gậy hay dầm đập mạnh vào bông lúa làm hạt rơi vào xuồng (Hình 3). Viện Lúa Ô Môn đã tạo giống AS 996 (OM 2431) từ loại lúa ma này và IR 64. Tại Việt Nam, lúa dại hiện diện rải rác khắp lãnh thổ. Sự phân phối của một số giống lúa dại nhƣ Oryza rufipogon, Oryza nivara, Oryza officinalis, Oryza granulata đƣợc ghi nhận trong Bảng 3. Lúa dại xuất hiện nhiều nơi trên thế giới (Bảng 4). Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy 21 loài lúa dại trên thế giới, bên cạnh 2 giống lúa trồng của châu Á (Oryza sativa) và châu Phi (Oryza glaberrima). Lúa dại hiện đƣợc các nhà khoa học đặc biệt lƣu ý, vì chúng cung cấp một số gien quý giá cho các cuộc lai tạo giống mới hoặc sử dụng trong công nghệ sinh học, nhằm chống kháng sâu bệnh và các môi trƣờng khó khăn, nhƣ mặn, phèn, hạn hán, lũ lụt, v.v. O. nivara có gien kháng lúa cỏ lùn; O. longistaminata, O. officinalis có gien kháng bệnh bạc lá; O. minuta có gien kháng bệnh cháy lá, rầy nâu; O. rufipogon có gien chịu đựng phèn chua, v.v. 41
- Trần Văn Đạt Bảng 3: Phân phối các giống lúa dại ở Việt Nam (Tài liệu thu thập từ 1998) Loài Genome Phân phối AA Thung lũng Điện Biên Phủ, cao Oryza rufipogon nguyên Trung Phần, vùng bờ biển miền nam Trung Phần, và đồng bằng sông Cửu Long Oryza nivara AA Cao nguyên Trung Phần Oryza officinalis CC Cao nguyên Trung Phần, đồng bằng sông Cửu Long Oryza granulata Chƣa biết Tây bắc, Đông bắc, vài nơi ở cao nguyên Trung Phần Nguồn: Nguyễn Hữu Nghĩa et al., 2001a. Lúa dại có các đặc tính nổi bật nhƣ: tự thụ tinh bán phần, thụ phấn chéo cao, hạt chín sớm, không đều và dễ rụng, quang cảm cao, hƣu miên dài và mọc mầm không đồng đều. Trong khi lúa trồng có năng suất cao hơn và ổn định, tự thụ phấn cao, hạt chín đều và ít rụng, ít hƣu miên, quang cảm thay đổi từ ít đến nhiều tùy theo môi trƣờng và lề lối canh tác, và mọc mầm đều đặn (Bảng 5). Thông thƣờng lúa dại đƣợc phân làm hai loại (Nayar, 1973): - Lúa dại đa niên là loại lúa nƣớc sống ở nhiều vùng khác nhau, cây thẳng và bông lúa nhánh thƣa, mang các hạt lúa mỏng, xéo nghiêng và đỉnh hạt có đuôi. Bao phấn chỉ bằng hai phần ba hoặc hơn chiều dài hoa lúa. Lúa dại này giống nhƣ rufipogon đa niên. - Lúa dại hàng niên là cây lúa thẳng đứng hoặc oằn cong, mang các gié lúa với hình dạng và kích thƣớc khác nhau. Các hạt lúa có chiều dài và hình dạng khác nhau, nhƣng thƣờng dài hơn rộng và hầu hết có đuôi. Bao phấn của chúng chỉ bằng phân nửa hoặc ngắn hơn chiều dài hoa lúa. Lúa dại này giống nhƣ rufipogon hàng niên. 42
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam Ngoài ra, còn có loại “lúa cỏ” sống chung với lúa ruộng hoặc vùng kế cận, gây ra thất thoát lúa sau khi thu hoạch, ảnh hƣởng đến chất lƣợng lúa gạo nếu quần thể cao. Loại lúa này còn gọi là “lúa đỏ” ở châu Á, châu Phi, châu Âu và châu Mỹ. Hạt lúa cỏ rụng sớm hơn lúa trồng và sẽ mọc mầm lại mùa sau. Lúa cỏ có thụ phấn chéo cao với lúa trồng trong cùng thửa ruộng, vì thế, lúa trồng và lúa cỏ rất khó phân biệt nhau cho đến trƣớc khi trổ bông. Đặc tính của loại lúa cỏ này có tính chất trung gian giữa lúa trồng và lúa dại. 3.2. Lúa nếp Lúa nếp thƣờng có từ 0 đến 10% amylose. Ở Việt Nam, nếp chiếm độ 10% sản lƣợng lúa, giá cao hơn lúa thƣờng và đƣợc dân chúng sử dụng trong những dịp lễ lộc, cúng bái, với các sản phẩm nhƣ xôi vò, xôi gấc, xôi hoa cau, hoặc bánh chƣng, bánh dày, rƣợu đế. Dân tộc miền núi thƣờng ăn nếp. Trên thế giới, chỉ có dân tộc Lào và ngƣời Thái (gốc Lào) ở miền đông bắc Thái Lan dùng nếp làm thức ăn căn bản. Trong thế kỷ 18, Ông Lê Quý Đôn đã ghi nhận một số giống lúa nếp ở vùng bờ biển trong quyển sách Phủ biên tạp lục. Ông đã mô tả 70 giống lúa cổ truyền trong đó có 29 giống nếp. Một số giống nếp này là nếp Cái, nếp Hoa vàng, nếp hạt to, nếp Tầm xuân, nếp Kỳ lân, nếp Suất, nếp Hạt cau, nếp Hƣơng bầu, nếp Ông lão, nếp Trân, nếp Than mà nhiều giống còn đƣợc trồng đến ngày nay. 3.3. Lúa thơm Lúa thơm thƣờng cho năng suất thấp độ 2-3 t/ha, nhƣng giá lúa cao gấp 2 hoặc 3 lần loại lúa thƣờng. Mùi thơm của loại lúa này là do gen “fgr” chi phối đƣợc tìm thấy trên nhiễm sắc thể số 8 ở khoảng cách 4,5cm (Ahn et al., 1992). Lúa thơm có số lƣợng lớn chất hóa học 2-acetyl-1-pyrroline với mùi thơm nhƣ loại bắp nổ (popcorn) (Buttery et al., 1983). Mùi thơm của các giống lúa thơm tùy thuộc vào điều kiện môi trƣờng, nhƣ đất đai, khí hậu. Chẳng hạn, Nàng thơm Chợ Đào chỉ có mùi thơm ở vùng Chợ Đào thuộc tỉnh Long An, nếu đƣợc trồng ở Cần Thơ sẽ không còn mùi thơm nữa. Trong thời Pháp thuộc, nhóm lúa thơm có hạt gạo dài, trong và thơm, cung cấp một số lƣợng lớn để xuất khẩu qua Trung Quốc. Nổi tiếng nhất ở miền Bắc là Tám thơm, cây thấp, cứng, gié trung bình, chịu lạnh, nhƣng ở vùng đất phì nhiêu có nhiều gié. Sau đó là Tám Xoan, thân cao hơn, gié dài có nhiều hạt lúa. Hai giống lúa này 43
- Trần Văn Đạt luôn đƣợc trồng ở đất màu mỡ và có năng suất cao độ 2-3 t/ha (Dumont, 1995). Các giống lúa thơm khác ở miền Bắc đƣợc tìm thấy nhƣ Bác Thơm 7, Chi Ƣu Hƣơng, Tám Thơm đột biến Bảng 4: Các loài lúa Oryza, nhiễm sắc thể, nhóm genome và sự phân bố Loài lúa Oryza X=1 Nhóm Phân bố 2 genome O. alta Swallen 48 CCDD Trung và Nam Mỹ O. australiensis 24 EE Châu Úc Domin O. barthii Chev 24 AGAG Tây và Đông châu Phi (O. breviligulata) 24 FF Tây và Trung châu Phi O. brachyantha A. 24, CC, BBCC Tây, Đông và Chev. & Roehr. 48 Trung châu Phi O. eichingeri A. Peter 24 AGAG Đông và Tây châu Phi O. glaberrima Steud. 48 CCDD Tây châu Phi O. grandiglumis 48 CCDD Nam Mỹ (Doell) Prod. O. granulata Ness & 24 ACUACU Trung và Nam Mỹ Arn. Ex Hook f. O. glumaepatula 48 CCDD Châu Phi Steud. (O. perennis 24 AA Trung và Nam Mỹ subsp. cubensis) O. latifolia Desv. 24 A1A1 Châu Úc, Trung và Nam Mỹ O. longiglumis Jansen 48 MMRR+ Đông Nam Á, Nam Trung Quốc, New Guinea O. longgistaminata A. 24 AA Châu Phi Chev. & Roehr (O. barthii) O. meridionalis N.Q. Ng 44
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam O. meyeriana (Zoll. & 48 BBCC Đông Nam Á Morrill ex Steud.) Baill 24 AA Nam và Đông Nam Á và Nam Trung Quốc 24 CC Nam và Đông Nam Á và Nam Trung Quốc, New Guinea O. minuta J.S. Presl ex 48, BBCC, BB Châu Phi, C.B. Presl. 24 Philippines O. nivara Sharma & 48, AA Đông Nam Châu Á, Shastry (O. fatua, O. 24 AA Nam và Đông Nam sativa f. I) Á và Nam Trung Quốc O. officinalis Wall. ex 24 AA Châu Á Watt O. punctata Kotschy 24 BB New Guinea, châu ex Steud. Phi O. ridleyi Hook f. 48 MMRR+ Đông Nam Á O. rufipogon W. 24 AA Đông Nam Á và Griffith (O. perennis, Nam Á O. fatua, O. perennis subsp. balunga) O. sativa L. 24 AA Nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới O. schlechteri Pilger 24 SS New Guinea Nguồn: Chang, 1985; Sharma, 1973; và Watanabe, 1997. 45
- Trần Văn Đạt Bảng 5: Đặc tính thích ứng của cây lúa trồng và lúa dại Đặc tính Lúa trồng Lúa dại Chỗ cây mọc Điều khiển bởi ngƣời Tự sống ở đầm lầy, trồng, Cây cho hạt bất định Cây lúa cho hạt Chỗ đặc biệt Cung cấp bởi ngƣời, Tự sinh tự hủy cày cấy, làm cỏ, tƣới nƣớc, bảo vệ Cách thích ứng Năng suất cao và ổn Chịu đựng khó khăn, có định khả năng sinh tồn và cạnh tranh Phân phối tài Chủ yếu cho sản xuất Tùy sách lƣợc sản xuất nguyên hạt nhiều hay ít Sinh sản Tự sinh sản hoặc Ít hay nhiều tùy theo trồng hàng niên sách lƣợc Thụ phấn Tự thụ tinh ƣu thế Tự thụ tinh biến đổi Hạt rơi rụng Hạt rơi rụng ít Hạt rơi rụng nhiều tự nhiên Hưu miên Ít, mọc mầm đều Cao, mọc mầm không đồng đều Ảnh hưởng quang Thay đổi từ ít đến Thƣờng cao cảm nhiều Hình dáng thay Thƣờng ít Thƣờng cao đổi Hạt chín Đồng đều Kéo dài thời gian lâu hơn Nguồn: Oka và Morishima, 1997 Ở miền Nam, giống lúa nổi tiếng là Nàng thơm Chợ Đào, còn gọi là lúa hạt lựu vì có đốm bạc bụng. Nàng thơm Chợ Đào có thân cao, gié nhỏ, trọng lƣợng 1000 hạt từ 19 đến 29 gr (bình quân 22 gr). Năng suất trung bình là 2-3 t/ha (Nguyễn Hữu Nghĩa et al., 2000 b). Ngoài ra, còn có các giống lúa thơm nổi tiếng khác nhƣ lúa Móng chim, Nàng hương, Nanh chồn (Bà rịa), Tàu hương, Thơm 46
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam sớm, Thơm lùn, Thơm Bình Chánh, Nàng Thơm Nhà Bè, lúa Huyết rồng (Long An) Ở miền Trung và Tây Nguyên, có các giống lúa thơm nổi tiếng nhƣ lúa Ngự, Cúc thơm, Thái thơm, Nếp than, Nếp trắng, Bake dẽo, Nếp cải hoa vàng. Hai giống lúa thơm nổi tiếng nhứt ở miền Trung là De An Cựu và lúa Ngự, nhƣng nay không còn tìm thấy nữa. Lúa thơm ở Tây Nguyên có trọng lƣợng 1000 hạt cao, trên 25 gr (Nguyễn Hữu Nghĩa et al., 2001 b). Còn có các giống lúa thơm khác nhƣ Bake dẽo, Cúc thơm, Thái thơm, Tám thơm Thanh Hóa, v.v. Hiện nay, có nhiều giống lúa thơm đƣợc du nhập vào Việt Nam, nhƣ Basmati 370, Basmati mutant (Ấn Độ), Khao Dawk Mali 105, Jasmine (Thái Lan), Jasmine 85 (USA), VD10, VD20 (Đài Loan), IR 841 (IRRI, Philippines), Bác thơm, Quế hương chiêm, Qua dạ hương, Chi ưu hương (Trung Quốc), v.v. Lúa Basmati là giống lúa thơm nổi tiếng nhất trong các giống lúa này. Lúa Basmati gốc ở Ấn Độ, Pakistan và Nepal, đƣợc trồng độ 2 triệu ha trên thế giới hàng năm. Gạo thơm này có hạt nhỏ, dài từ 6,8 - 7,0 mm, tỉ lệ chiều dài và chiều rộng từ 3,5 đến 3,7 và có hàm lƣợng amylose trung bình 20 - 22%. Gạo Basmati sau khi nấu nở dài ra, nhƣng vẫn thon và hạt cơm mềm rời nhau sau nhiều giờ. Hai đặc tính chính của Basmati là mùi thơm và cơm nở dài; đặc tính sau này bị chi phối bởi nhiều gien nên gây khó khăn trong tạo giống truyền gien (Khush, 2001). 3.4. Lúa gạo màu dinh dƣỡng Ngoài loại gạo trắng truyền thống, còn có gạo màu rất bổ dƣỡng cho sức khoẻ con ngƣời. Gạo màu là do số lƣợng lớn của nhiễm sắc chất anthocyanin tích tụ trong những lớp khác nhau của vỏ, bì mô, và lớp aleurone của hạt gạo. Trung Quốc hàng năm thu hoạch độ 400.000 ha lúa màu. Gạo màu thƣờng đƣợc dùng trong những ngày lễ hội và trong kỹ nghệ biến chế nhƣ bánh, thức ăn nhẹ, há cảo ngọt, bánh biscuit, bún, bánh Tết và rƣợu. Ở Việt Nam cũng có gạo màu, nhƣng ít đƣợc phổ biến, nhƣ gạo nếp than, gạo huyết rồng - Lúa có gạo đỏ: Những loại gạo đỏ đƣợc tìm thấy trong nhiều nƣớc châu Á. Hạt gạo đỏ chứa chất sắt và kẽm cao, trong khi 47
- Trần Văn Đạt gạo tím có rất nhiều chất vi lƣợng đồng, magnesium, calcium, molybdenum và vitamin C, B1, B6 và B12. Nhóm gạo đỏ này phần lớn thuộc loại lúa dại với lớp cám bên ngoài màu đỏ. Nhiều giống lúa dại có lớp cám màu đỏ. Loại lúa đỏ đƣợc tìm thấy nhiều ở đồng bằng sông Cửu Long, ở những vùng có đất phèn. Đồng Tháp Mƣời, tỉnh Long An, có gạo đỏ gọi là gạo “Huyết rồng” ăn rất ngon và bổ dƣỡng, có thể sản xuất nhiều để xuất khẩu. Cơm Huyết rồng có mùi thơm, càng nhai càng có vị ngọt, béo bùi. Những giống lúa đỏ có đặc tính chống chịu cao môi trƣờng khó khăn, bất lợi nhƣ đất kém phì nhiêu và đất núi đồi. - Lúa có gạo đen: Gạo đen là loại gạo đặc biệt đƣợc sử dụng nhiều và tìm thấy ở các nƣớc châu Á. Trung Quốc là nƣớc có nhiều giống lúa đen hơn hết, tiếp theo Sri Lanka, Indonesia, India, Philippines, Bangladesh và Việt Nam. Gạo đen thƣờng tìm thấy ở loại phôi nhủ đục sáp của các nhóm indica và japonica. Ở Việt Nam, gạo tím hay đen đƣợc dùng làm thuốc và cho tín ngƣỡng, chỉ đƣợc trồng ở các vùng núi, dƣới dạng gạo tẻ hoặc nếp. “Nếp Đen, còn có tên nếp Than, sắc tím, nước cốt đen, dùng nhuộm màu hồng, khi ăn không cần giã, lấy chõ xôi hấp cho chín, nhơn khi còn nóng rưới mỡ heo, lá hành và muối trắng, trộn cho đều, mùi vị rất ngọt và giòn.” (trong Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức). Gạo đen của Trung Quốc chứa 37,6% protein; 22,4% chất béo và 17,8% chất sợi, giá trị sức khỏe của gạo đen đƣợc đánh giá cao. Gạo đen đặc sản còn giàu lysin, vitamin B, sắt, kẽm, calci, và phospho (Trần Văn Đạt, 2005). - Lúa có gạo vàng: Vì loại vitamin A không có sẵn trong các hạt gạo thiên nhiên, nên các nhà khoa học phải sử dụng công nghệ sinh học để sáng chế ra loại gạo vàng chứa tiền sinh tố A. Gạo vàng là một thực phẩm biến đổi di truyền mới đƣợc chế tạo bởi đội ngũ khoa học Thụy Sĩ và Đức, đƣợc hƣớng dẫn do Giáo sƣ Ingo Potrykus và Dr. Peter Beyer vào thập niên 1990s. Lúa vàng này đƣợc phóng thích vào tháng 5 - 2000, sau đó một số viện nghiên cứu lúa trên thế giới, gồm cả Việt Nam tiếp tục khảo nghiệm và phổ biến trong điều kiện địa phƣơng. Gạo vàng chứa tiền sinh tố A (b- carotene) và một số lƣợng lớn chất sắt. Các nhà khoa học đã đƣa 7 gen lạ vào giống lúa TP 309 để tạo ra màu vàng của hạt gạo. Loại gạo này có thể giúp các trẻ con thiếu dinh dƣỡng ở các nƣớc đang 48
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam phát triển khắc phục đƣợc bệnh mù mắt do thiếu vitamin A và bệnh thiếu máu do thiếu chất sắt khi dùng lúa gạo làm thức ăn căn bản, nếu thử nghiệm địa phƣơng đạt kết quả tốt và đƣợc phổ biến rộng rãi. Hiện nay có độ 400 triệu trẻ em bị mù mắt. Ở các nƣớc tiến bộ, thức ăn chính là thịt nên tạo nhiều chất mỡ cholesterol trong máu, có thể gây ra tai biến nghẽn mạch máu ở tim và óc. Nếu họ dùng thêm nhiều thức ăn có chất carbohydrate (lúa mì, khoai tây, gạo ) làm cho tình trạng “mỡ” (triglicerides) trong máu nhiều hơn; cho nên, gần đây giới tiêu thụ trong các nƣớc này có khuynh hƣớng giảm bớt chất carb. Trái lại, ngƣời dân các nƣớc đang phát triển còn thiếu năng lƣợng trong những bữa ăn hàng ngày, nên lúa gạo và những loại ngũ cốc khác rất cần thiết cho sức khoẻ con ngƣời. 3.5. Lúa nổi Lúa nổi hay lúa sạ đƣợc trồng nhiều ở các tỉnh An Giang (Long Xuyên, Châu Đốc), Kiên Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang và Long An từ đầu thế kỷ XX. Nhờ phát triển hệ thống thủy lợi, lúa nổi đã trở nên kém quan trọng vì diện tích trồng đã bị thu hẹp rất nhiều và bị thay thế bằng lúa cao năng. Lúa nổi là loại lúa sống ở mực nƣớc sâu (còn gọi là lúa nƣớc sâu), với thân lúa có thể vƣợt lóng tăng chiều cao theo mực nƣớc trong ruộng (có giống lúa tăng 30 cm/ngày); cho nên thân lúa có thể dài từ 1 đến 5 m. Năng suất lúa nổi thấp từ 1,0 đến 2,5 t/ha, tùy theo vũ lƣợng vào lúc đầu mùa gieo hạt. Đặc tính chung của các giống lúa nổi là chất lƣơng gạo thấp vì lẫn lộn với gạo đỏ của lúa dại do phƣơng pháp sạ thẳng gây nên. Vì thế, giá lúa nổi trên thị trƣờng rất thấp và ngƣời trồng lúa nổi thƣờng nghèo, nếu nông trại nhỏ. Ở những vùng dƣ thừa lúa gạo, lúa nổi thƣờng dùng để phục vụ ngành chăn nuôi. Lúa nổi đƣợc trồng nhiều ở một số nƣớc châu Á nhƣ Ấn Độ, Bangladesh, Cambodia, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam; và ở châu Phi, nhƣ Mali, Guinea, Guiea Bissau, Nigeria, Senegal và Sierra Leone. Cả hai loại lúa Oryza sativa và Oryza glaberrima có những giống lúa nổi với quang cảm cao, chu kỳ sinh trƣởng dài từ 6 đến 8 tháng (Xem thêm Chương 10: Các hệ sinh thái trồng lúa và tiến hóa). 3.6. Lúa hữu cơ 49
- Trần Văn Đạt Lúa hữu cơ là một loại nông sản mới có thể tạo ra một thị trƣờng tiêu thụ lớn và mới mẻ trên thế giới, vì các giới giàu có quan tâm đến sức khoẻ và giới môi sinh chú ý đến ảnh hƣởng tiêu cực do sử dụng các kỹ thuật tân tiến và khoa học trong sản xuất thực phẩm. Lúa và các nông sản hữu cơ là một loại thực phẩm mới đƣợc các nƣớc tiến bộ cổ võ sản xuất, vì có khuynh hƣớng khuyến khích sử dụng tài nguyên thiên nhiên lâu bền và bảo đảm cung cấp chất dinh dƣỡng an toàn cho con ngƣời. Đây là một thị trƣờng có tiềm năng rất to lớn ở những nƣớc đã tiến bộ và những nƣớc đang phát triển có mức sống kinh tế cao. Hiện nay, nhiều nơi ở Việt Nam cũng sản xuất lúa gạo hữu cơ cho giới tiêu thụ thƣợng lƣu trong nƣớc và xuất khẩu, nhƣng chƣa đƣợc tổ chức qui mô và rộng rãi. Vấn đề khó khăn hơn hết đƣợc các giới liên hệ đặt ra là làm sao xác nhận đúng loại nông sản hữu cơ, và cải tiến năng suất cùng chất lƣợng của loại này. Hơn nữa, có nhiều quốc gia đã thiết lập riêng rẽ các tiêu chuẩn và luật lệ của họ cho sản xuất, biến chế và thị trƣờng của các sản phẩm hữu cơ. Ủy Ban Codex FAO/WHO về nhãn hiệu thực phẩm đã nhận thấy cần có một định nghĩa rõ ràng về “hữu cơ” để đƣa ra các hƣớng dẫn cho sản xuất, biến chế, nhãn hiệu và thị trƣờng. Vào tháng 6-1999, Ủy Ban Thực Phẩm Codex FAO/WHO đã họp và chấp nhận nhƣ sau: “Nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống sản xuất tổng hợp, nhằm cổ võ và khuyến khích sự lành mạnh của hệ thống nông sinh, gồm đa dạng sinh thái, chu kỳ và các sinh hoạt sinh học đất đai. Loại nông nghiệp này nhấn mạnh vào cách quản lý thiên về sử dụng các đầu vào phi-nông nghiệp, trong khi chú trọng đến điều kiện cấp vùng và thích ứng từng địa phương. Điều này được thực hiện bằng cách dùng, ở nơi nào có thể, các phương pháp nông học, sinh học và cơ động để hoàn thành nhiệm vụ đặc biệt trong hệ thống này.” (FAO/WHO Codex Alimentarius Commission, 1999, trong de Haen, 1999). Ngành sản xuất thực phẩm hữu cơ đã xuất hiện nhiều năm, nhƣng gần đây mức cầu vƣợt cung tại nhiều nƣớc phát triển; cho nên nhiều nƣớc phải nhập khẩu để thỏa mãn nhu cầu của giới tiêu thụ. Do đó, một thị trƣờng mới trong nông nghiệp đang mở rộng cửa cho các nƣớc đang phát triển trên thế giới tham gia. Những cuộc 50
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam khảo sát gần đây cho thấy rằng ngƣời tiêu thụ hữu cơ thƣờng nghi ngờ vào sản phẩm hữu cơ thực sự đƣợc nhập nội dù có nhãn hiệu cầu chứng rõ ràng. Cho nên, muốn thành công trong xuất khẩu nông sản hữu cơ cần có nhiều cố gắng để có đƣợc nhiều lòng tin của giới tiêu thụ với các sản phẩm hội đủ tiêu chuẩn vệ sinh và giá cả cạnh tranh. Trong trƣờng hợp này, hợp tác với các ngành thƣơng mãi địa phƣơng để có những nhãn hiệu tƣơng tự để ngƣời tiêu thụ dễ chấp nhận. Ngoài ra, cần chú ý đến các khuynh hƣớng gần đây trong lãnh vực hữu cơ nhƣ: Giới tiêu thụ tin tƣởng vào các siêu thị nhỏ chuyên bán sản phẩm hữu cơ, đóng bao bì bằng những chất sinh học dễ tiêu hủy, sản phẩm hữu cơ tiện dụng (nhƣ salad đóng bao), thƣơng mãi bằng Internet, bán thức ăn hữu cơ ở những canteens và quán công cộng. 3.7. Lúa GAP Trong thế kỷ 21, ngành nông nghiệp ngoài đảm bảo an ninh lƣơng thực quốc gia, còn cần phải đáp ứng điều kiện môi trƣờng sản xuất lành mạnh bền vững và mang lợi ích kinh tế xã hội đến mọi ngƣời. Do đó, những thách thức lớn của nông nghiệp hiện nay và tƣơng lai là (1) cải tiến an ninh lƣơng thực, đời sống nông thôn và lợi tức nông dân; (2) thỏa mãn nhu cầu tăng gia và đa dạng cho lƣơng thực an toàn và sản phẩm khác; và (3) bảo vệ và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Thực Hành Nông Nghiệp Tốt, còn gọi GAP2 (Good Agricultural Practices), là một giải pháp nông nghiệp dùng để đối ứng với các thách thức nêu trên. GAP từ đâu? Cơ Quan Lƣơng Nông Quốc Tế (FAO) đã thảo luận và phát triển GAP từ giữa thập niên 1990. Ban đầu, ngƣời ta muốn dùng cụm từ BAP (Best Agricultural Practices - Thực Hành Nông Nghiệp Tốt Nhứt), nhƣng bị chỉ trích quá lý tƣởng, nên cuối cùng mọi ngƣời đồng ý với tên GAP có vẻ khiêm nhƣờng và thực tế hơn. Tiếp theo là một loạt hội họp tƣ vấn tham khảo để tìm hiểu, thỏa thuận về nguyên tắc, hƣớng dẫn và biện pháp áp dụng GAP. Khóa họp thứ 17 của Ủy Ban Nông Nghiệp FAO (Committee of Agriculture hay 2 Thông tin được trich và bổ túc theo tài liệu GAP của FAO (www.fao.org), www.eurepgap.org và www.supera-kvaliteta.com. 51
- Trần Văn Đạt COAG) trong tháng 4-2003 đã khuyến cáo FAO tiếp tục thảo luận và phát triển quan niệm GAP, đặc biệt làm tăng sự chú ý của những giới liên hệ, trao đổi thông tin, phân tích kinh tế, lập dự án thí điểm, hỗ trợ kỹ thuật, huấn luyện, với đặc biệt quan tâm đến nhu cầu của các nƣớc đang phát triển. Ngày 10-12/11/2003, một cuộc họp chuyên gia tƣ vấn quốc tế về GAP đƣợc tổ chức ở Rome để xem xét lại và xác nhận quan niệm GAP, cung cấp hƣớng dẫn về các vấn đề quan tâm, tìm ra các chiến lƣợc áp dụng và khuyến cáo FAO về phát triển và thực hiện quan niệm GAP trong các ngành nông nghiệp. GAP là gì? Theo FAO/COAG 2003 GAP paper, Thực Hành Nông Nghiệp Tốt là “những thực hành chú ý đến bền vững môi trường, kinh tế và xã hội trong quá trình sản xuất ngoài đồng ruộng, và tạo ra các thực phẩm an toàn có chất lượng, và các sản phẩm không phải là lương thực.” Cuộc họp chuyên gia tƣ vấn quốc tế về GAP trên đã đồng ý mô tả và định nghĩa quan niệm GAP gồm những diện nhƣ sau: Ba “trụ” bền vững: GAP phải có kinh tế cao, bền vững môi trường, và xã hội chấp nhận, gồm cả thực phẩm an toàn và chất lượng, với chú trọng sản phẩm đầu tiên trong khung cơ chế và khuyến khích, quan tâm đến những luật lệ bắt buộc hoặc tự nguyện trong thực hành và hướng dẫn nông nghiệp. Hiện nay quan niệm GAP đã tiến hóa khá nhiều, vì đƣợc nhiều giới nhƣ ngƣời sản xuất, kỹ nghệ thực phẩm, hiệp hội, cơ quan chính phủ, NGOs đang làm ra các tiêu chuẩn khác nhau cho các hoạt động nông nghiệp đối với nhiều hoa màu, thú vật, thủy sản Mục tiêu của họ là để đáp ứng đòi hỏi các chuẩn mực của thƣơng mại, cơ quan chính quyền. Cho nên, mục đích của các qui tắc, chuẩn mực và qui định GAP gồm có: (i) Bảo đảm thành phẩm an toàn và chất lƣợng trong hệ thống sản xuất lƣơng thực, (ii) Nắm bắt ƣu thế thị trƣờng mới bằng cách sửa đổi mặt quản trị cung cấp, 52
- Lịch Sử Trồng Lúa Việt Nam (iii) Cải thiện sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, sức khoẻ ngƣời làm việc và điều kiện làm việc, và/hoặc (iv) Tạo ra cơ hội thị trƣờng mới cho nông dân và giới xuất khẩu trong các nƣớc đang phát triển. Do đó, tiêu chuẩn GAP của lãnh vực tƣ và công phải bao gồm 3 trụ chính: lợi tức kinh tế tốt, bền vững môi trƣờng, xã hội có thể chấp nhận gồm cả lƣơng thực an toàn chất lƣợng; nhƣng trên thực tế biến đổi khá nhiều ở từng quốc gia và địa phƣơng. Áp dụng quan niệm GAP Áp dụng GAP vì thế thay đổi tùy theo từng đối tƣợng, điều kiện địa phƣơng và đòi hỏi của giới tiêu thụ và nhà nƣớc, nhƣng phải bao gồm tất cả các giai đoạn từ sản xuất đến thị trƣờng và tiêu thụ. Trong thực hành, kiến thức về nguyên tắc nông học cơ bản cần phải có để áp dụng đúng quan niệm GAP trong quản lý sản xuất nông sản. Phƣơng pháp Kiểm Tra Màu (Crop Checks), đặc biệt Kiểm Tra Lúa (Rice Checks) là một hình thức GAP, nhằm tăng gia hiệu năng sản suất, lợi tức nông dân và bảo vệ môi trƣờng. Để áp dụng GAP trong ngành sản xuất nông nghiệp nói chung và lúa gạo nói riêng, cần phải chú ý đến các lãnh vực sau đây trong khi luôn quan tâm đến 3 trụ chính nêu trên: Đất đai, nƣớc, màu, bảo vệ mùa màng, thu hoạch, chế biến và tồn trữ, quản lý năng lƣợng và chất thải, con ngƣời (hạnh phúc, sức khoẻ và an toàn), loài hoang dã, và phong cảnh. Hiện nay, công nghiệp hóa sản xuất nông nghiệp sử dụng nhiều chất hóa học, nhƣ chất kích thích tố, chất gia vị, thuốc sát trùng, sát khuẩn, chất kháng sinh đang làm cho giới tiêu thụ thực phẩm lo sợ; do đó trên thế giới có nhiều cơ quan tƣ hoặc công sáng tạo ra các tiêu chuẩn để kiểm soát chất lƣợng và bảo vệ sức khỏe con ngƣời. Ở Châu Âu, tiêu chuẩn thƣơng mại EUREPGAP (European Retail Product and Good Agricultural Practice) đƣợc khởi sự từ 1997, là một loại chuẩn mực rất thông dụng liên hệ đến sản xuất rau cải và trái cây, nhằm kiểm soát điều kiện sản xuất, cơ chế kiểm tra và chứng nhận sản phẩm. Hội Nghị Toàn Cầu đƣợc tổ chức ở Thái Lan trong 9-2007 đã chấp nhận đổi EUREPGAP thành 53
- Trần Văn Đạt GLOBALGAP, hƣớng đến tất cả nông dân, không kể sản xuất lớn hay nhỏ. Mục tiêu của GLOBAGAP là giúp các nhà bán lẻ và giới tiêu thụ tin tƣởng rằng mọi biện pháp kiểm tra đƣợc áp dụng để sản phẩm an toàn cho sức khỏe ngƣời dùng. Năm nguyên tắc chính của GLOBAGAP gồm có: Sản xuất nông sản có chất lƣợng cao Bảo vệ môi trƣờng Sử dụng nguồn năng lƣợng thiên nhiên tối hảo Yễm trợ sản xuất nông nghiệp có mức kinh tế chấp nhận Cải tiến điều kiện sống của cộng đồng địa phƣơng. 3.8. Lúa nhập nội Công tác trao đổi giống lúa ở Việt Nam đã có cách đây ít nhứt hai ngàn năm. Theo sử liệu, dân Lạc Việt đã du nhập giống lúa Chiêm của ngƣời Champa vào khoảng đầu thế kỷ I để trồng vụ Đông-Xuân và nhờ đó họ bắt đầu làm lúa hai vụ mỗi năm. Cách đây hơn ngàn năm (1010 sau CN), do hạn hán ở Trung Quốc, vua nhà Tống cho du nhập giống lúa Chiêm, loại lúa sớm của Việt Nam để trồng kịp thời vụ (Ho, 1969). Nhờ vào du nhập giống lúa ngoại quốc, trong xứ có thêm nhiều giống lúa làm đa dạng sinh thái. Vào buổi đầu thời thực dân Pháp, mục tiêu chính của du nhập các giống lúa ngoại quốc là do nhu cầu xuất khẩu lúa gạo thời bấy giờ để cải thiện chất lƣợng và năng suất. Sự du nhập các giống lúa cải thiện từ các nƣớc láng giềng đã có từ lâu, nhƣ giống lúa Neang Veng 339 E 23, Prey keo E 53, Puang Ngeon E 49, Tunsart Những thí nghiệm về các giống lúa ngoại quốc đầu tiên từ Ấn Độ và Bengal đƣợc ngƣời Pháp thực hiện ở Nam Kỳ vào năm 1878; nhƣng không có kết quả. Thí nghiệm giống lúa du nhập đƣợc tiếp tục vào năm 1892 bởi Phòng Thƣơng Mại Sài Gòn với các giống lúa của Miến Điện; và vào năm 1895 bởi Sở Nông Nghiệp Nam Kỳ với các giống lúa của đảo Java (Capus, 1918). Đến năm 1914, giống lúa có chất lƣợng cao, nhƣ giống Caroline, gốc Mỹ, đƣợc du nhập từ Indonesia cho chƣơng trình cải thiện giống (Carle, 1927). Lúc bấy giờ, một số các giống du nhập đƣợc tuyển chọn và đƣợc canh tác đại trà, đã thay thế nhiều giống lúa cổ truyền trong nƣớc. Từ 1945 đến 1954, một số giống lúa Trung Quốc ngắn ngày (100-110 ngày) đã đƣợc du nhập vào Việt Nam. Trong thời gian 54



