Hình họa nghiên cứu trong mối quan hệ với đào tạo chuyên khoa

pdf 104 trang ngocly 27/05/2021 620
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Hình họa nghiên cứu trong mối quan hệ với đào tạo chuyên khoa", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfhinh_hoa_nghien_cuu_trong_moi_quan_he_voi_dao_tao_chuyen_kho.pdf

Nội dung text: Hình họa nghiên cứu trong mối quan hệ với đào tạo chuyên khoa

  1. HÌNH HỌA NGHIÊN CỨU TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI ĐÀO TẠO CHUYÊN KHOA TS. Họa sỹ Nguyễn Nghĩa Phương ình họa nghiên cứu là một trong những phương tiện cơ bản trong việc miêu tả và nhận thức thế giới bằng nghệ thuật tạo Hhình. Với sự hỗ trợ của hình hoạ chúng ta có thể nghiên cứu con người và thiên nhiên. Hình họa giúp chúng ta biểu hiện những ý tưởng và bố cục đã nung nấu trong quá trình sáng tạo tác phẩm mỹ thuật có hình. Các hoạ sỹ, nhà điêu khắc, thậm chí kiến trúc sư đều cần một quá trình tập luyện vẽ hình hoạ một cách nghiêm túc, chặt chẽ và phù hợp. Sở hữu một kiến thức và tay nghề chuyên nghiệp về hình họa là đôi cánh cho những chuyến bay của cảm xúc và óc tưởng tượng trong sáng tác mỹ thuật. Đó là điều kiện quan trọng và hết sức cần thiết để phát triển những ý tưởng tạo hình độc đáo, bất ngờ. Những điều trên thể hiện vai trò và ý nghĩa của nghiên cứu hình hoạ từ tĩnh vật đến phong cảnh và mẫu người sống trong các kiểu thức nghệ thuật trọng hình kể từ thời kỳ Phục Hưng1 Đối với nghệ thuật Trừu tượng hay một số hình thức đương đại thì vấn đề hình họa nghiên cứu có thể được 138 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 139
  2. nhìn từ góc độ khác. Trong phạm vi chuyên đề về vấn đề hình họa trong trình lao động khoa học, đôi khi rất nghiêm ngặt bên cạnh việc duy trì trường mỹ thuật (theo mô hình truyền thống), bài viết này được giới sự hưng phấn, cảm xúc bay bổng của họa sỹ. Để hoàn thiện kỹ năng thực hạn hình họa đối với nghệ thuật có hình và tập trung vào mối quan hệ hiện trọn vẹn quá trình đó thì ngoài cảm xúc nghệ sỹ, khả năng sáng tạo giữa phương pháp, quy trình thực hiện hình họa nghiên cứu với mục thì đức tính cẩn trọng, kiên trì, đầu óc tổ chức công việc một cách khoa tiêu đào tạo chuyên khoa mỹ thuật. học là những yêu cầu hàng đầu. Những yếu tố đó, trừ khi là bản tính cá Liệu chúng ta có nên đặt câu hỏi rằng, đối với mỗi chuyên khoa đào nhân, liệu có rèn luyện được? Bằng thời gian và phương pháp hợp lý tạo mỹ thuật (hội họa, điêu khắc hay đồ họa) có cần một cách tiếp cận hình trong thực hiện hệ thống các bài tập luyện hình họa ở trường thì câu trả họa riêng, phù hợp không? Câu hỏi này có thể không còn tồn tại ở những lời tích cực là khả dĩ. Phương pháp hợp lý có thể có nhiều, nhưng lựa nơi nào đó ngoài biên giới Việt Nam. Nhưng dù sao thì mọi câu hỏi ít nhiều chọn một quy trình và những chất liệu, kỹ thuật đúng sẽ là điều kiện tiên đều bổ ích trong bất kỳ lĩnh vực lao động nào của con người. Với khoa học, quyết của một kết quả tốt đẹp. Để hiểu cơ bản ngôn ngữ đồ họa, để nắm bắt những kỹ năng nền tảng thể hiện tác phẩm đồ họa tạo hình thì kỹ sự nghi vấn, hoài nghi là phần không thể thiếu và chúng luôn đóng vai trò thuật vẽ chì trong nghiên cứu hình họa đen trắng là phương tiện lý động lực, chất xúc tác cho sáng tạo và đổi mới. Trong giáo dục-đào tạo tưởng. Vậy than thì sao? Than cũng là chất liệu vẽ trên giấy và kỹ thuật cũng vậy. vẽ than được xem là một trong các kỹ thuật đồ họa. Nhưng khác, thậm Vẽ hình họa nghiên cứu là phần quan trọng trong hệ thống đào tạo chí ngược lại với chì (kể cả chì than), than rất dễ và nhanh chuyển nét ở các trường mỹ thuật theo mô hình truyền thống. Mục đích của bộ môn thành mảng sắc độ đậm nhạt gợi khối mềm mại và ảo giác không gian này là hỗ trợ sáng tác tác phẩm mỹ thuật hoàn chỉnh, trong đó nắm bắt chiều sâu cụ thể mang nhiều tính chất của hội họa. Vẽ chì đòi hỏi khả cấu trúc của đối tượng, diễn biến tâm lý của con người trong tương quan năng tổ chức nét, luyện tính kiên trì; khả năng nhận thức, khai thác vẻ không gian và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp là hai phần cơ bản, chính đẹp của giấy và cách ứng xử với từng loại giấy (trong khi vẽ than có thể yếu nhất. Đương nhiên trong bộ môn này luôn có hai phương pháp là vẽ nhanh, mạnh, di nhoè làm triệt tiêu sự hiện diện của màu giấy). Đến nghiên cứu hình họa đen-trắng và nghiên cứu hình họa màu. Rèn luyện đây cần nhấn mạnh rằng, giấy là chất liệu nền chính của tranh đồ họa, kỹ năng và tạo dựng thói quen hành vi nghề nghiệp cho một họa sỹ chính nó xác định sự khác biệt của nghệ thuật này với hội họa. Để một tương lai cần một quá trình dài. Trong khi đó chương trình học hình họa bức vẽ chì “sạch sẽ” về kỹ thuật, toát lên thẩm mỹ đặc thù của chất liệu nghiên cứu ở các trường mỹ thuật truyền thống luôn chiếm một thời thì phải tuân thủ kỹ thuật vẽ nghiêm ngặt là đi từ trắng đến đen, từ sáng lượng lớn, kéo dài gần hết khoá học 5 năm hoặc 6 năm. Đây là điều kiện đến đậm. Vẽ than có thể đi từ sáng đến đậm hay ngược lại, giống như tốt và rất phù hợp để thực hiện mục tiêu tạo dựng kinh nghiệm sáng tác, khi vẽ sơn dầu hay chất liệu tương đồng, người vẽ có thể “nặn” hình kỹ năng và thói quen hành vi nghề nghiệp cho họa sỹ chuyên nghiệp bằng cách quệt đi, bôi lại và tuỳ hứng dùng màu sáng hay đậm trước đều tương lai. không ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng cũng như vẻ đẹp chất liệu. Thể Sáng tác tranh đồ họa, đặc biệt là tranh in, đồng nghĩa với quá hiện tác phẩm đồ họa thông thường phải đi từ trắng của giấy. Trong một 140 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 141
  3. bức tranh đồ hoạ vẽ tay việc tẩy xoá hay vẽ đi vẽ lại nhiều một phần nào tranh sống động và sắc xảo hơn, xử lý chi tiết tốt hơn) và dùng tẩy ở giai đó đều làm giảm hoặc mất giá trị của nó. Một nét mực, chì sáp bị đi đoạn cuối. Và đến đây, nếu ai nghĩ người viết có ý so sánh hơn kém giữa “nhầm chỗ” trên giấy hay bản đá là không thể cứu vãn. Khi khắc tranh, kỹ thuật vẽ chì (hay các chất liệu tương đồng) và than thì thật sự là một một nét khắc sai trên bản kim loại, gỗ hay cao su không thể làm lại. Tinh hiểu lầm đáng tiếc. Những tổng kết trên chỉ duy nhất nhằm mục đích thần tập trung, cảm giác chính xác, đức tính cẩn trọng của hoạ sỹ đồ họa chung vì sự hợp lý hoá trong gắn kết việc dạy và học hình hoạ với đào cần được luyện rèn ngay từ khi học nghề và bằng phương pháp đúng đắn tạo chuyên khoa ở trường mỹ thuật. Đương nhiên, trong hình họa có ở nơi đào tạo. Tại một số trường mỹ thuật ở châu Âu, sinh viên học đồ phương pháp vẽ đen trắng và phương pháp vẽ màu. họa được luyện hình họa theo chương trình riêng, nhằm xây dựng Trong nghệ thuật học hiện đại, các tác phẩm thể hiện bằng màu những kiến thức và kỹ năng thực hành đặc thù của chuyên ngành. Sau nước, phấn màu và guát được xem xét ở phần nghệ thuật đồ họa, mặc khi trải qua những bước đầu về nguyên lý thể hiện hình họa nghiên cứu, dù còn ý kiến cho rằng chúng cũng có thể là tác phẩm hội họa bởi chúng sinh viên tiến hành các bài chép hình họa các bộ phận trên đầu người có màu, ngôn ngữ của chúng không hẳn là nét mà chủ yếu là mảng, nó từ mẫu tranh khắc nét. Tiếp theo là phần vẽ nhằm luyện độ chuẩn xác không hướng đến sự tương phản đồ họa mà là tổng hoà màu sắc. Tuy của mắt, cảm giác về tỷ lệ và tích luỹ kinh nghiệm diễn khối trong không nhiên, về kỹ thuật thì phấn màu được vẽ theo cách gạch chồng lớp tuyến gian. Tất cả chỉ được thể hiện bằng kỹ thuật vẽ bút chì. Ở giai đoạn cuối tính như kỹ thuật vẽ chì. Điểm căn bản để xác định tranh màu nước của phần nghiên cứu hình hoạ người học được hướng dẫn luyện khả thuộc nghệ thuật đồ họa nằm ở nền giấy và kỹ thuật vẽ theo lối nhuộm năng quan sát và thể hiện nhanh, chuẩn xác các sắc thái chuyển động giấy bằng màu sắc của màu nước. Nghĩa là nó không hướng tới tính đậm của mẫu, tinh thần biểu cảm của mẫu bằng kỹ thuật vẽ nét viền là chính. đặc của mảng màu như sơn dầu hay acrylic, mà biểu hiện tính trong suốt Trong phần này chất liệu sử dụng là các hoạ phẩm khó tẩy xoá như san- của các lớp màu đặt chồng nhau trong sự tôn trọng tính phát quang của ghin, mực. Giai đoạn này đưa yêu cầu thể hiện chính xác về cấu trúc giải giấy. Khi làm việc với màu nước thì ứng xử với giấy là điều quan trọng, phẫu cơ thể người về thứ yếu. Nó tập trung nâng cao tính cẩn trọng và mức độ hiểu giấy tỷ lệ thuận với hiệu quả thẩm mỹ của bức tranh. Kỹ kỹ năng đặt nét chính xác, có tổ chức trên khuôn khổ giấy; nâng cao thuật tạo đậm nhạt bằng màu nước mang đầy đủ những đặc trưng của kinh nghiệm nắm bắt, thể hiện những đặc tính biểu hiện của nét cho kỹ thuật vẽ tranh đồ hoạ và làm tranh khắc – theo trình tự một chiều từ người học. Qua đây chúng ta thấy rằng, song song với sự phức tạp dần sáng đến đậm. Phương pháp tạo màu thứ yếu bằng cách đặt chồng các của mẫu vẽ thì yêu cầu về cách tiếp cận mẫu cũng như kỹ năng thể hiện màu gốc (có độ trong nhất định) trên giấy của kỹ thuật vẽ màu nước và cũng cao dần, tiệm cận dần với một tác phẩm đồ họa độc lập, trong quá kỹ thuật in màu trong tranh in là giống nhau. Qua những liên kết vừa trình nghiên cứu hình hoạ của sinh viên. Trong nghiên cứu hình họa ở nêu, mà chủ yếu là mối quan hệ hữu cơ với giấy, có thể thấy màu nước khoa Đồ hoạ không khuyến khích dùng than vẽ ở hai giai đoạn đầu (chỉ thuộc các chất liệu và kỹ thuật đồ họa hay ít ra cũng mang nhiều tính dùng bút chì vì, xét ở khía cạnh hình thù bên ngoài, đầu bút chì rất gần chất đồ hoạ hơn. với đầu nhọn sắc của dao khắc, điều khiển chì thành thục giúp khắc Xuất phát từ nền tảng trên trong quan niệm về chất liệu và kỹ thuật 142 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 143
  4. vẽ màu nước, nhiều cơ sở đào tạo mỹ thuật trên thế giới đưa màu nước nghề nghiệp thuộc về chuẩn mực phổ biến đòi hỏi phải có ở mỗi họa sỹ, thành một chất liệu thể hiện hình họa nghiên cứu, đặc biệt đó là chất là điều kiện cần thiết để trở thành một người chuyên nghiệp trong sáng liệu bắt buộc, đôi khi là duy nhất đối với các sinh viên học đồ họa. Hơn tác đồ họa. Chúng cần và phải được xây dựng, rèn luyện ngay từ thời kỳ nữa, hình họa màu nước vốn đã có lịch sử lâu đời của mình. Từ cuối thời hình thành nhân cách người họa sỹ – thời kỳ học ở trường. Bên cạnh Trung Cổ, đặc biệt từ thời Phục hưng ở châu Âu, màu nước đã là chất một số bài học khác, hình họa, với chức năng là môn học cơ bản và liệu để điểm màu cho những hình họa hay hình ảnh minh hoạ vẽ nét chiếm nhiều thời gian nhất, với phương pháp dạy và học phù hợp, sẽ trở bằng “ngòi bút” lông vũ. Từ đó bắt đầu truyền thống vẽ hình bằng màu thành “lò luyện” tốt để “rèn đúc” những yếu tố tạo nên một họa sỹ nước - tiền thân của hình họa màu nước theo nghĩa hiện đại. Vẫn nằm chuyên khoa chuyên nghiệp. trong các nhiệm vụ mục tiêu rèn luyện kỹ năng và thái độ nghề nghiệp N.N.P cho họa sỹ đồ hoạ tương lai, kỹ thuật vẽ màu nước xây dựng tâm lý cẩn Chú thích: trọng, đức tính kiên trì và những kinh nghiệm hiểu biết về chất nền 1. Môn học hình hoạ nghiên cứu rất phổ biến ở các trường mỹ thuật trên thế giới có chương trình đào tạo theo mô hình truyền thống được xây dựng trên nền tảng kiến thức và (giấy) trong sáng tác tác phẩm đồ họa. Màu nước, cũng như các loại quan niệm mỹ học hàn lâm châu Âu mà sự khởi xướng của chúng được đánh dấu từ thời kỳ mực, không thể tẩy xoá khi đã được “nhuộm” vào giấy. Trong thực hiện Phục hưng. Chính vì vậy hình họa nghiên cứu được đề cập ở bài này là dạng hình họa mang một bức hình hoạ nghiên cứu bằng màu nước, người vẽ phải tĩnh tâm, tính hàn lâm. tuân thủ các bước đặt màu một cách chính xác, khắt khe và theo trật tự màu sáng trước, màu đậm sau, phải đảm bảo mặt giấy không trầy xước. Nếu làm khác đi bức hình họa sẽ không đạt vẻ đẹp cần thiết của nó và của chất liệu. Quy trình hoàn thành bức hình hoạ như vậy rất gần với các bước chế bản và in tranh khắc. Bên cạnh đó quá trình tiếp xúc, xử lý các độ khô, ẩm của nhiều loại giấy khác nhau là con đường tích luỹ kinh nghiệm tốt nhất cho việc làm chủ các loại giấy và khai thác vẻ đẹp của chúng trong sáng tác tranh in. Nghệ thuật đồ họa nói chung và đồ hoạ tạo hình nói riêng là nghệ thuật trên giấy. Thẩm mỹ của nghệ thuật đồ họa tạo hình biểu hiện qua ngôn ngữ của đường nét, chấm, mảng tương phản. Tác phẩm đồ họa tạo hình, đặc biệt là tranh in khắc là kết quả của quá trình sáng tác giàu cảm xúc và ý tưởng song hành với quá trình lao động kiên trì, cẩn trọng theo từng bước nghiêm ngặt. Những rung động tâm hồn, những ý tưởng độc đáo thuộc về riêng mỗi nghệ sỹ. Những nguyên tắc, đức tính và kỹ năng Bài tượng lột da năm thứ I, của Vũ Huy Thông 144 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 145
  5. NHỮNG BẤT CẬP TRONG VIỆC DẠY HÌNH HOẠ Ở VIỆT NAM ThS. Họa sỹ Phạm Bình Chương ội họa Việt Nam trong những năm qua tuy có những bước chuyển quan trọng, song nhìn tổng thể trong mối quan hệ với Hkhu vực và thế giới, chúng ta không thể phủ nhận được sự yếu kém nhất định mà bất cứ ai cũng thấy được, đó là chủ đề nghèo nàn, cấu trúc lỏng lẻo, không gian thiếu chiều sâu và đặc biệt là yếu tố hình (form) thường không được chú trọng. Đã đến lúc không thể lấy cái gọi là bản sắc, hay bản tính để biện hộ cho những yếu kém này, đôi khi nguy hiểm hơn, một số người còn ngộ nhận đây là những “điểm mạnh” của hội họa Việt Nam. Nên nhớ rằng trong các thành tố tạo hình, hình là yếu tố biểu đạt tư duy, ý tưởng, còn cái mà chúng ta tự hào về điểm mạnh của mình là màu đẹp hay bút pháp khoáng đạt chỉ chiếm không quá 30% sự thành công của một bức tranh. (Chúng chỉ là những thành tố biểu đạt tình cảm hoặc trang trí mà thôi). Vậy tại sao người Việt Nam lại không giỏi về hình? Môn hình họa, môn học chính về khả năng tạo hình của chúng ta học được đào tạo như thế nào? Nó có phải môn quyết định để học vẽ chính xác? 146 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 147
  6. Tại Việt Nam, hình họa vẫn được coi là môn chính với thời lượng họa sẽ dễ bị sai hướng hoặc không chuẩn mực. Định nghĩa hình họa chiếm gần nửa thời gian học. Giáo viên giỏi, từng là sinh viên xuất sắc. chỉ đơn giản là: Đầu thi vào, hình họa có hệ số 2. Tất cả đã chứng minh chúng ta không Hình họa: là môn học vẽ chính xác vật thể trong không gian lên hề coi thường môn này. Tại trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, hình họa mặt phẳng 2 chiều theo đúng những gì quan sát được. là niềm tự hào và có thể gọi là “thương hiệu Yết Kiêu” với phong cách Để phân biệt với toàn bộ các môn drawing đã nêu trên, hình họa rất hội họa. Tuy nhiên lại có một số nghịch lý tồn tại: có những điều kiện riêng: Các học sinh xuất sắc về hình họa đều không theo được nghề. Tất Là môn vẽ chính xác sự vật theo sự nhìn. cả đều chuyển làm nghề khác hoặc hoạt động nghệ thuật theo loại hình Hay còn gọi là vẽ chính xác theo quy luật thị giác, tức là phải giống khác. Đơn cử: khóa 32 là khóa đặc biệt vì có nhiều sinh viên giỏi hình như ảnh trong võng mạc. Nhiều môn khác có tính chính xác cao nhưng họa, luôn đạt điểm A+, nhưng trong 8 sinh viên suất sắc thì chỉ có 1 lại được thể hiện theo quy luật khác. Ví dụ môn vẽ kỹ thuật có kiểu vẽ người theo được nghề. Trong khi đó ngược lại, 1 trường hợp ở khóa 34 có kỹ với từng chi tiết song lại có hệ thống trục đo để quy định các chiều điểm hình họa rất thấp, phải học lại tới 4 năm thì sau khi ra trường lại trở không gian. Tức là không bao giờ chúng ta nhìn được sự vật như vậy. thành họa sỹ nổi tiếng với phong cách Hiện thực. Phải có vật mẫu tồn tại thật trong không gian làm đối tượng. Các giảng viên môn hình họa có rất ít người sáng tác theo phong Nhiều bản vẽ kiến trúc có cách nhìn theo điểm nhìn như mắt, ví dụ dạng cách hiện thực hoặc có hình. bản vẽ phối cảnh, khiến người xem có cảm giác như thật, vậy đó có phải Các bài học chuyên khoa có xu hướng xa hiện thực. Phong cách là hình họa? Thực ra đây là cách dựng hình điểm tụ của môn luật xa gần, trang trí hoặc biểu hiện là thói quen chung của sinh viên khi lựa chọn không có hình mẫu thật mà dựa vào các thông số kỹ thuật nên không để thể hiện. thể gọi là hình họa. Một bản vẽ chép lại một bức tranh, ảnh cũng không Dù có hơn 80 năm tuổi đời nhưng trường chưa giáo trình hình họa. phải là hình họa vì vật mẫu (bức ảnh) thuộc không gian 2 chiều. Đây là Tất cả các tồn tại trên cho thấy đến lúc chúng ta phải trả lời câu dạng chép từ mặt phẳng sang mặt phẳng. hỏi: hình họa là gì? Học hình họa để làm gì và học như thế nào? Tuy nhiên không phải cứ vắng bóng mẫu là không phải hình họa. A. Lý thuyết chung của môn hình họa: Giáo trình hình họa của Trung Quốc có một loại bài tập vẽ chân dung 1. Hình họa là gì: theo trí nhớ song quá trình làm không khác bài vẽ theo mẫu thực là bao, Hình họa là một định nghĩa tuy dễ mà khó. Nếu chỉ đơn thuần sản phẩm cuối cùng cũng đạt đến 90% độ chính xác và đó vẫn là hình dịch từ drawing thì sẽ có nhiều môn vẽ trở thành hình họa như vẽ kỹ họa theo đúng nghĩa vì lúc này vật mẫu nằm trong não bộ. thuật, vẽ ký họa, vẽ đồ họa, hoạt hình, thậm chí cả vẽ ngoệch ngoạc Sản phẩm hoàn thiện sẽ có xuất hiện nét hoặc không còn nét. (doodle) cũng là một “bộ môn” của hình họa nếu thế, một bài Đây là điểm khác biệt lớn. Với các môn drawing khác, đường nét bắt nghiên cứu kỹ bằng sơn dầu thì sẽ không được gọi là hình họa vì sơn buộc phải xuất hiện và là ngôn ngữ chính. Nhưng với hình họa, đường dầu thuộc painting. Nếu không định nghĩa chuẩn xác, việc học hình nét chỉ là phương tiện thuận lợi nhất diễn tả thông tin ghi nhận được. 148 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 149
  7. Khi đạt tới độ hoàn thiện, yếu tố nét, sẽ còn hoặc không còn, hoặc rất 3. Học hình họa như thế nào? khó phát hiện. Các bài vẽ chì kỹ, mực nho, sơn dầu đều không có nét. 3.1. Cơ sở khoa học của môn hình họa: Là môn vẽ theo phương Với các điều kiện trên, chúng ta đã loại trừ toàn bộ các môn draw- pháp thấu thị, thực hiện chiếu hình ảnh lên mặt phẳng thông qua mắt ing khác ra khỏi định nghĩa hình họa, trừ môn ký họa. Tôi sẽ nói sự khác bằng các phép đo. Do vậy hình ảnh thể hiện trên mặt phẳng rất chính biệt này sau. xác, tương đương một bức ảnh chụp (cùng nguyên lý). 2. Học hình họa để làm gì? 3.2. Cách xây dựng một bài hình họa: Học cách nhìn nhận, xác định đối tượng trong môi trường không Vẽ hình họa gồm 2 công đoạn: gian và khả năng phân tích, đánh giá đối tượng đó theo các ngôn ngữ - Dựng hình: Người vẽ xác định các điểm quan trọng của đối tượng của mỹ thuật. bằng cách đo rồi vẽ lại lên mặt phẳng (giấy). Các điểm này được nối lại Vẽ hình chính xác trên mặt phẳng, tạo được khối, chất của đối bằng các đoạn thẳng. Tổng hợp các đoạn thẳng sẽ tạo nên hình. Các tượng và sự chiếm chỗ đối tượng trong không gian. đường cong, lượn được sinh ra từ các đoạn thẳng nhỏ hơn. Học phương pháp nghiên cứu, cách làm việc khoa học: xây dựng - Tạo khối: Chia nhỏ hình bằng các diện (plant), sau đó tìm sắc độ bài theo trình tự, quy luật, chọn phương tiện thích hợp (chất liệu) để thể cho từng diện. Các sắc độ khác nhau sẽ cho cảm giác về khối (cub) và hiện, nhằm đạt tới độ chuẩn cao nhất. không gian. Các bề mặt lồi lõm cũng được sinh ra từ các diện phẳng. Rèn luyện sự kiên nhẫn, khả năng tập trung. Triệt tiêu dần các chi tiết thừa như nét viền, nét phác Là cơ sở để sáng tạo, biểu đạt ý tưởng, tạo hình theo cá tính. Bài hình họa hoàn chỉnh sẽ cho thông tin về hình ảnh đối tượng tương đối đầy đủ cả về hình khối, chất, sự chiếm chỗ đối tượng đó trong Đưa kiến thức, kỹ năng vào việc giải quyết cấu trúc hình khối, không gian. Vậy cách vẽ hình họa giống như quy trình đẽo tượng của không gian trong sáng tác. môn điêu khắc, tức là đi từ thô đến tinh, từ đơn giản đến phức tạp. Đây Cách đánh giá một bài hình họa: cũng là lý thuyết nền tảng của môn đồ họa vi tính 3D - tạo hình khối Phải có độ chuẩn xác về hình tương đương một bức ảnh chụp. bằng các diện phẳng rồi chia nhỏ từng diện để đạt tới độ chuẩn xác. Phải mang lại thông tin đầy đủ về đối tượng: hình dáng, cấu trúc, Hình họa có phải là ký họa? chất liệu, màu sắc Mặc dù ký họa khá giống với hình họa cả về hình thức lẫn cách vẽ Phải gây được sự hấp dẫn, lôi cuốn người xem. (có mẫu), song với phương pháp vẽ nêu trên, ta thấy cách vẽ của hình Phải có đủ điều kiện để chuyển thể sang các chất liệu khác. Vd: từ họa hoàn toàn khác với ký họa. Kết cấu hình của hình họa được tạo bởi chì sang sơn dầu, từ sơn dầu sang lụa các đường và điểm (vector), tức là các đường nét khách quan, dựa vào đo Bằng chứng: hầu hết các danh họa đều vững vàng, giỏi hình họa. đạc mà có, trong khi với ký họa, hình được tạo lập bởi các đường chủ Giai đoạn hội họa phát triển rực rỡ cũng là giai đoạn môn hình họa được quan, hình thành do tay đưa (free hand), dựa vào trực cảm và kinh khai sinh và phát triển. Giai đoạn hình họa thoái trào (đương đại) cũng nghiệm là chính. Với môn hình họa, ta gọi là dựng hình, còn ký họa ta là lúc hội họa giá vẽ không còn là độc tôn. gọi vẽ hình. Ký họa thường được dùng vào mục đích nào đó, thường là 150 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 151
  8. tư liệu cho một bức tranh. Rất nhiều bản vẽ của Leonardo da Vinci được B. Những hạn chế về môn hình họa tại Việt Nam: cho là hình họa nhưng thực tế đó là ký họa, mặc dù độ kỹ có thể hơn 1. Nội dung đơn điệu: Suốt các khóa học 5 năm tại trường mỹ hình họa, như seri về ngựa hay giải phẫu. Một bài hình họa thường thuật, các tiết học vẽ người chiếm đa số, phần lớn là mẫu khỏa thân. Các không dùng vào việc gì ngoài mục đích tập luyện kỹ năng. Những kỹ học sinh dự bị đại học (luyện thi) cũng bắt đầu làm quen với môn hình năng này sẽ được áp dụng một cách tự nhiên vào các bài tập khác. Hơn họa bằng việc vẽ người (do yêu cầu của bài thi). Phải chăng hình họa là nữa ký họa thường được tập trung diễn tả thế dáng độc lập, còn hình họa vẽ mẫu nuy (nude)? lại quan tâm tới đối tượng và không gian xung quanh. Thực tế, đối tượng nghiên cứu của hình họa là vật mẫu (model). Do Hình họa có phải là một tác phẩm độc lập? vậy bất kỳ cái gì có thể tồn tại trong không gian đều là đối tượng nghiên Tất nhiên, nếu nó đẹp. Song đó chỉ là thành công ngoài dự kiến. cứu của môn hình họa. Tuy nhiên tại sao vẽ người lại quan trọng đến Không họa sỹ nào lại vẽ một bài hình họa với hy vọng nó sẽ là một tác thế. Nếu trả lời nhanh thì khỏi phải bàn, như: con người là sản phẩm của phẩm, hoặc để tham gia triển lãm (trừ khi đó là triển lãm chuyên đề). tạo hóa, là vẻ đẹp hoàn mỹ, vẽ người có tính ứng dụng cao vì mục đích Đẳng cấp của một tác phẩm cao hơn một bài hình họa rất nhiều. Tranh của nghệ thuật là diễn tả vẻ đẹp con người Câu trả lời này đúng nhưng của Leonar da Vinci là vô giá, nhưng hình họa của ông lại “có giá” với chưa đủ. Thời cổ đại, người ta lý tưởng hóa con người tới mức như thần mức có thể mua được (5 đến 7 triệu dola). Đó cũng là mức giá các bức thánh và thuyết địa tâm đã khẳng định con người là trung tâm vũ trụ. hình họa đen trắng của Rembrant, Dali Hội họa đã có thời gian dài đề cao vẻ đẹp tuyệt đối của con người. Nhưng Vì sao hình họa lại dùng đường nét? ngày nay cái đẹp được hiểu rộng hơn và mọi sự vật trong thiên nhiên Mục đích chính của hình họa không phải biểu diễn đường nét như cũng đều là đối tượng nghiên cứu cái đẹp. Con người cũng vô cùng đa môn đồ họa mà dùng nó để tả hình khối. Có nhiều cách để tả hình khối dạng, người đẹp, người xấu, địa vị cao thấp đều có thể lên tranh Điển như dùng chấm, mảng, nhưng đường nét có tính ổn định cao hơn. Trước hình là những bức tranh người phì nộn của Lucian frued đang làm công tiên, nét khẳng định hình ảnh của sự vật tách biệt khỏi không gian. Khi chúng bị thôi miên và đó không bao giờ được coi sản phẩm của tạo hóa đánh bóng, những nét vạch cạnh nhau (hatching) hoặc đan mắt cáo mà có thể gọi là “hàng lỗi” của tạo hóa. Những loạt ảnh bà già nhăn nheo (cross hatching) sẽ tạo ra độ xám mà ta gọi là sắc độ (tone). Mật độ nét móm mém của Việt Nam cũng liên tiếp nhận những giải thưởng quốc càng dầy, sắc độ càng sẫm. Do đó ta dễ dàng tìm được sắc độ mong tế. Vì sao? Vậy chúng ta cũng nên tìm hiểu thấu đáo những vẻ đẹp không muốn. Hướng của nét cũng gây ảo giác về khối. Chất liệu chì, chì than chuẩn mực đó theo phân tích chuyên nghành hội họa, thay vì những còn có một đặc tính mà các loại bút khác không làm được, đó là có thể ngợi ca văn học hay triết học càng làm cản trở công chúng muốn tìm tạo được độ đậm hay mờ tùy vào độ ấn của tay. Tất nhiên, dù sao với lối hiểu nghệ thuật. vẽ này thì hình họa thuộc môn đồ họa. Khi vẽ sơn dầu, lý thuyết nền Trong nghệ thuật, một trong những yếu tố dễ gây hấp dẫn là chất tảng của hình họa không thay đổi, chỉ thay đổi về kỹ thuật sử dụng chất cảm. Nếu một bức vẽ gợi ra chất liệu mà người xem có thể cảm nhận liệu, thay gạch nét bằng đắp mảng (tache). Lúc này hình họa thuộc bộ được bằng mắt đã có thể gọi là thành công. Ví dụ chúng ta say mê làn môn hội họa. da mịn màng trong các tác phẩm của Ingrer thì chúng ta cũng thấy thú 152 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 153
  9. vị không kém cái làn da chẩy xệ trong tranh Freud hay làn da nhăn nheo ở Việt Nam vẽ người bán khỏa thân bằng than, trong khi các học sinh dự như gốc cây cổ thụ trong ảnh của Lê Hồng Linh (người có 197 giải bị ở Thái lan vẽ chai nước, ipod, lon coca đập bẹp bằng chì với đầy đủ chi thưởng nhiếp ảnh). Do vậy việc nghiên cứu hình họa về con người cũng tiết. Một sự so sánh khác thú vị hơn: cái lọ hoa trong một bức tranh hiện không hẳn là nhằm nghiên cứu vẻ đẹp con người mà là nghiên cứu sự thực của Việt Nam và cái lọ hoa trong phim hoạt hình Tom và Jerry, cái đa dạng của chất cảm. Con người có đầy đủ đặc tính của một đối tượng nào đạt đến độ căng hơn? Đáp án: độc giả tự trả lời. nghiên cứu: là một cơ thể sống với hình khối phức tạp, tự nhiên, có các 2. Chất liệu nghèo nàn: lớp trong lớp ngoài như xương, cơ, da. Chất phong phú: chất da căng, Nói tới hình họa chuẩn mực, chất liệu thích hợp nhất là chì và chì da sát xương, da trùng, da nhăn , chất lông mao: tóc, râu Màu sắc vô than với đầy đủ ưu điểm của chúng. Nhưng tại trường, các bài vẽ chì cùng tinh tế, với các độ chuyển sắc trong cùng một màu da: màu của quá ít, phần lớn sinh viên được dùng 1 chất liệu cơ bản cho cả 5 năm mặt, chân tay thì nóng, màu của đùi, bụng thì lạnh, v.v Chúng ta thử học: than. Mặc dù than được đưa vào vẽ hình họa từ thời Đông Dương, phân tích bất kỳ đối tượng nào khác cũng thấy có hạn chế. Ví dụ đồ dùng song lối vẽ thời đó tương đối giống vẽ chì. Trên thế giới, than cũng được thì chất đơn điệu và hình khối cũng không thoát khỏi cơ bản. Động vật dùng như một chất liệu chính thức, song không phổ biến. Than có thì không thể ngồi tĩnh, và chất vẫn bị đơn điệu như lông mao, lông vũ. nhiều ưu điểm: Vẽ nghiên cứu cơ thể người là nghiên cứu với mức độ cao nhất và Tạo sắc độ nhanh: chỉ đặt nằm viên than trên giấy và di chuyển ta không có giới hạn. Chúng ta có thể bỏ ra cả đời người nghiên cứu mà đã có một mảng đậm thay vì dùng hàng trăm nét gạch. không hết. Khi thực hành nhuần nhuyễn rồi thì người nghiên cứu có thể Tạo chất đẹp: than có nhiều cách diễn chất như di, đắp, gạch, chùi ứng dụng vào bất kỳ đối tượng nào để mô tả một cách chuẩn xác, với hoặc kết hợp cả các cách thức trên. Cách vẽ than dùng ngón tay sẽ tạo những kỹ năng có được là đầu óc phân tích, sự khéo léo của tay và sự nên bút pháp rất giống với nét đưa của bút lông nên phong cách gần với cảm nhận về khối, không gian. Tuy nhiên để vẽ được cơ thể người, người hội họa. Đặc biệt than rất thích hợp tả chất da thịt. nghiên cứu phải đi qua từng bước từ vẽ các hình khối đơn giản đến các Than có độ đậm mạnh: độ đậm nhất của chì (8B) không thể so vật mẫu phức tạp hơn. Vậy với phần này có thể đi tới kết luận: nghiên sánh được với than vì chất chì có độ bóng. Các bài vẽ than đặt cạnh bài cứu hình họa là nghiên cứu cách biểu hiện vật thể có khối diện lên mặt chì trông sẽ nổi trội hơn, bắt mắt hơn. phẳng bằng các chất liệu khác nhau. Đối tượng nghiên cứu đi từ đơn Rẻ: với sinh viên, đây là sự thuận lợi mang tính quyết định. giản tới phức tạp, từ các khối cơ bản, đồ vật, động vật và cuối cùng là Những ưu điểm trên đã khiến than gần như là phương tiện chủ đạo con người. suốt 5 năm học. Nhưng chúng ta quên mất những nhược điểm của than, Chúng ta đã làm cái việc khó quá sớm là vẽ người từ năm thứ nhất, cũng giống như nhiều nhà nghiên cứu quên đi nhược điểm của chất liệu với quán tính từ giai đoạn dự bị cho nên thực ra rất ít bài đạt đến độ hoàn sơn mài mà luôn cổ xúy là quốc họa Việt Nam khi chỉ nhìn thấy ưu điểm thiện về sự chân thực, trong khi đó việc vẽ một cái nồi inox hay một của nó. Sau đây là những nhược điểm cơ bản của than: miếng vải nhăn nhúm xem ra lại quá khó với bất cứ sinh viên nào vì đã Khó chính xác: vì nét của than quá to so với nét chì nên không thể bao giờ được thử đâu. Một sự so sánh thú vị: các học sinh dự bị đại học có một bản hình hoàn chỉnh trước khi đi bóng, Những mảng diện do tay 154 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 155
  10. cũng tạo nên các ranh giới ngẫu nhiên, khó theo ý muốn. viên trong sáng tác. Đó là lý do tại sao các sinh viên xuất sắc lại không Khó thâm diễn: Với ngón tay di thì không thể tả các diện nhỏ. theo được nghề. Trở lại với trường hợp khóa 34, việc sinh viên này luôn Đừng hy vọng xem chân dung hay bàn tay, bàn chân ở các bài than. Hơn đạt điểm thấp là do sử dụng chất liệu chì. Có thể do thời gian không phù nữa vẽ than rất khó chủ động sắc độ vì động tác đắp vào, lấy ra phụ thuộc hợp hoặc không có người hướng dẫn cụ thể, lại thêm việc chì bị lạc lõng rất nhiều vào sức khỏe, thời tiết. giữa các bài than nên các bài của anh không thuyết phục. Là người học Khó chuyển thể: những hiệu quả đẹp mắt do than tạo lên một cách cùng lớp, tôi phát hiện mong muốn của anh: thâm diễn đối tượng. Sau dễ dàng lại vô cùng khó khi chép lại bằng chất liệu khác vì những sự này ra trường anh tiếp tục đi sâu phong cách tả thực và đã thành công. khác biệt quá lớn về chất cũng như cách vẽ. Thực ra nhanh không phải là tiêu chí đặt ra cho môn hình họa. Thời gian Khó thích ứng với mọi đối tượng: nhiều sinh viên không thể vẽ 1 tuần là không thích hợp với các bài vẽ than, vẽ một bài thì quá lâu, 2 than được bởi tay có mồ hôi, chỉ một vết quệt nhẹ cũng có thể đi ngay bài thì lại thiếu, do đó xảy ra tình trạng học sinh không biết làm gì, lại mảng than vừa bôi. Vẽ than cần quá nhiều lực như độ di, tẩy nên người đi chơi gây lãng phí thời gian học. Ngoài ra, việc vẽ than đã làm cho vẽ phải có phong cách mạnh mẽ, dứt khoát, không thích hợp với những chương trình thiếu các bài vẽ khối cơ bản, đồ vật. người có thể lực yếu. 3. Tiêu chí chưa thực sự chuẩn xác: Về tiêu chí đánh giá một bài Hạn chế về diễn tả chất liệu: mặc dù than có nhiều cách diễn chất hình họa, căn cứ vào các bài điểm cao cũng như các bài được in trong xong chỉ thích hợp tả chất mềm, khối tự nhiên như da thịt. Than khó có các ấn phẩm của trường, tôi thấy có một số vấn đề: thể tả khối căng hình học (hình trụ, hình lập phương) hoặc các chất Không đặt vấn đề chuẩn mực lên hàng đầu: các bài được coi là tiêu liệu cứng như gỗ, đá chuẩn thường hời hợt, buông nhiều chi tiết. Có thể xem những bài được Dễ bẩn: Độ rụng của than, đặc biệt trong những ngày hanh dễ gây chọn trong cuốn Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội 1925 - 2005 (Nxb Mỹ bẩn cho lớp. Than bám đầy tay người vẽ cũng gây bất tiện trong quá thuật, 2005), ta thấy phần lớn các bài này thường có bút pháp phóng trình làm việc. khoáng dứt khoát, song lại giống như một bài ký họa nhiều hơn khi Hai hạn chế về nội dung và chất liệu đã phần nào giải thích các câu đường nét là yếu tố chính, cấu trúc hình không chuẩn và thiếu nhiều chi hỏi nên ra ở phần đầu. Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam chỉ coi hình tiết, (xem các trang 189, 192). Tiêu chí về hình họa đã dễ dãi hơn so với họa là vẽ người khỏa thân và chọn 1 chất liệu để thể hiện các bài đen các giai đoạn trước, có thể so sánh với các bài được in trong cuốn Trường trắng, và áp dụng cho cả 5 năm học. Song với than, tính phát triển rất Đại học Mỹ thuật Hà Nội 1925- 2000 (Nxb Mỹ thuật, 2000). kém, tính đột biến dường như không có. Học sinh thường đạt tới độ chín Không quan tâm tới không gian: để trắng nền là điều phổ biến, vào năm thứ 3, tới năm thứ 4 thì chững lại. Ta thấy rõ những giới hạn thậm chí chân đế (ghế, sàn ) cũng gần như không được vẽ hoặc vẽ sơ của than là không thể đi sâu, và bút pháp tuy hay nhưng lại dễ giống sài. Nhiều sinh viên có thói quen tẩy sạch nền trước khi chấm bài. Đây nhau và bị lặp lại. Những người không thích ứng với chất liệu này sẽ là tiêu chí vô cùng thiếu sót với môn hình họa như đã nêu ở trên (là môn ngày bị lụt, không còn cơ hội tiến bộ. Khi ra trường, những kỹ thuật học biểu hiện không gian). Nếu chỉ vẽ hình, sinh viên thiếu đi thói quen chùi, đắp gọt đầy hứng thú của than không giúp gì cho những cựu sinh tạo không gian trong sáng tác. Tại Nga, cách bày mẫu rất khác: người được 156 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 157
  11. đặt trong một không gian như thật, có đồ đạc, đồ dùng và có cả chủ đề, Với môn luật xa gần: đặt ra các bài tập có nhân vật trong bối cảnh nội dung nên một bài hình họa đôi khi giống một bức tranh. và phải đặt tiêu chí đúng cả về hình và luật xa gần. Học sinh sẽ có quán 4, Không có sự liên hệ giữa hình họa và các môn khác: tính về việc diễn tả không gian trong sáng tác. Với môn sáng tác: Hình họa không phải là một trong những bước C. Giải pháp cho môn hình họa cấp đại học: tiến hành xây dựng một tác phẩm. Nó có giá trị riêng nhưng mọi kỹ Qua những phân tích ở trên, chúng ta phải thừa nhận hình họa là năng lại được áp dụng dễ dàng vào các môn khác. Người giỏi hình họa bộ môn nghiên cứu vì tính khoa học của nó. Hình họa là môn chính của đương nhiên giỏi ký họa. Nhưng nếu chỉ học hình họa mà không áp mỹ thuật, cũng là môn kinh điển, do vậy không có cập nhật, không có dụng kỹ năng vào các môn khác, ta không trở thành một họa sỹ. Để xây cải cách và việc học tập các nước có nền giáo dục cơ bản tốt là điều nên dựng tác phẩm kinh điển, có các bước tiến hành sau: làm. Môn này cân bằng với những môn mang tính sáng tạo (sáng tác) hay cập nhật (đồ họa vi tính, video art ). Thừa nhận hình họa là môn Tìm ý tưởng, bố cục (draft). nghiên cứu, chúng ta phải giải quyết các bước cho quá trình nghiên cứu Tìm hình, đậm nhạt, ký họa từng khu vực rồi ghép lại.(sketch) như đặt mục tiêu, phân cấp các giai đoạn và phải có thời gian cho cả quá Làm bản nét tổng thể (drawing). trình cũng như từng giai đoạn hợp lý. (Không thể cứ 1 tuần 1 bài khổ Ao Can hình lên toan rồi hoàn thiện (painting). như hiện nay). Những việc cần làm ngay: Bất kể thời nào, đây là quy trình mẫu mực nhất để xây dựng những 1. Khẳng định tiêu chí: tác phẩm mang tính hoàn thiện (fini). Ngay cả tại các trường phổ thông Là môn nghiên cứu, vậy càng đi sâu càng tốt. Đặt tiêu chí về tính quốc tế, học sinh đã trình bày báo cáo kết quả học tập rất khoa học, (với chuẩn xác, khúc triết một cách nghiêm túc sẽ có ích về lâu dài. Nên lấy môn mỹ thuật và cả với một số môn học khác) như công bố nguồn tư tiêu chí hình họa của Nga và Trung Quốc làm thước đo (là những nước liệu, các bản vẽ nháp, ký họa, bản vẽ đen trắng và cuối cùng là bài hoàn có nền giáo dục cơ bản vững chắc và gần gũi với Việt Nam). thành, tất cả được trình bày trên một tấm pano. Nếu bài chuyên khoa 2. Biên soạn một giáo trình xuyên suốt 5 năm học: (thực ra là bài sáng tác, vì bây giờ trường đã bỏ chuyên khoa) được xây Một giáo trình hình họa đầy đủ là vô cùng quan trọng với một dựng đúng với quy trình trên thì hình họa sẽ như một công cụ đắc lực trường đại học có 85 năm tuổi đời. Giáo trình phải có hệ thống lý thuyết, bổ trợ, và học sinh cảm thấy niềm vui với môn này. Ta sẽ lại thấy tác phương pháp luận vững chắc và các bài tập thực hành cụ thể, các thủ dụng của than trong khâu làm phác thảo như tìm bố cục, tìm đậm nhạt, pháp kỹ thuật với hình minh họa rõ ràng. Nhìn tổng quan, phải có sự mảng miếng Trước đây Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam vào giai khác biệt giữa các năm theo tiến trình từ dễ đến khó, từ đơn giản đến đoạn Đông Dương và những khóa đầu của đại học, các sinh viên được phức tạp. Mỗi năm phải có một tiêu chí khác nhau. Trước khi đi sâu vào tạo điều kiện đặt mẫu vẽ để phục vụ bài tốt nghiệp, nên chăng hiện nay từng bài phải nêu rõ mục đích, kỹ thuật và phải có bài mẫu. Ví dụ: cũng như vậy. Năm thứ 1: nghiên cứu vẽ các khối cơ bản và tượng phạt mảng, bắt Với môn giải phẫu: nên kết hợp với giáo viên dạy giải phẫu để đặt đầu làm quen với tượng có chi tiết. Chúng ta không thể sốt ruột vì lâu ra những bài tập có cả hình và các lớp xương, cơ Học sinh sẽ thuộc nay trường không còn hệ sơ cấp hay trung cấp, nên năm thứ 1 gọi là sơ cấu tạo cơ thể người một cách sâu sắc và chủ động hơn trong thể hiện. hay trung đều được. 158 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 159
  12. Năm thứ 2: nghiên cứu vẽ các đồ vật quen thuộc, tượng có chi tiết 4. Các hoạt động ngoại khóa: và bắt đầu làm quen với người. Tổ chức định kỳ các cuộc triển lãm chuyên đề, có trao giải thưởng. Năm thứ 3: vẽ người mọi độ tuổi, khỏa thân và mặc quần áo cùng Kết luận nội thất, đồ dùng. Chú trọng vào khối tự thân chứ không nên sa đà vào Chúng ta đang ở vào giai đoạn hậu hiện đại, khi các loại hình nghệ diễn tả ánh sáng. thuật ngày càng phong phú, đến mức có cảm giác ai cũng có thể làm Năm thứ 4: vẽ người trong các điều kiện ánh sáng khác nhau: ánh được nghệ thuật. Nhiều trường mỹ thuật trên thế giới đã cắt giảm hình sáng tự nhiên, ánh sáng nhân tạo, ánh sáng đa chiều. Có các dạng bài họa, thậm chí bỏ hẳn môn này. Tuy nhiên, ta phải biết rõ những trường đặc tả vào chi tiết như chân dung, bàn tay đó đào tạo cái gì, và có những điểm mạnh gì bù vào sự khiếm khuyết của Năm thứ 5: nghiên cứu các thể nghiệm biến dạng hình thể từ đồ hình họa. (Có nhiều trường coi sự nắm vững hình họa là điều tất yếu, vật đến người. Sinh viên phải tạo hình theo cá tính dựa trên mẫu thật nên không dạy, học sinh phải học thêm ngoài. Môn tạo hình 3D ngày (như hình họa của Picasso, Egon Schiele, Modigliani, Dali ). nay đã tạo ra những con người như thật hay các tác phẩm điêu khắc ảo không khác tượng của Donatello là mấy, và với trình độ như vậy thì mới Lưu ý: thời gian cho từng bài cũng như chất liệu, khổ bài là khác nên bỏ qua hình họa). nhau tùy vào nội dung và mục đích. Có bài 1 tháng, có bài chỉ 2 ngày. Có một điều lạ là chưa bao giờ công chúng lại cần các tác phẩm “có Có bài khổ A3 là vừa đủ. hình” như hiện nay. Những bức tượng quái gở của Damien Hirst lại có 3. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng: hình thể rất đẹp, thậm chí là rất thật (động vật ngâm dung dịch, nhồi Chất liệu: học sinh được làm quen và thực hành với mọi chất liệu: bông). Các seri tranh Người cười của Nhạc Mẫn Quân quá thật về khối, Với bài đen trắng: chì, chì than, chì màu, than, mực nho, bút sắt không gian. Hay Lucial Freud vẫn bán những “ bài hình họa” của mình Về giấy: cung cấp các loại giấy khác nhau: giấy đen, giấy trắng, giấy có với giá vài triệu đô la. Chính giai đoạn Hiện đại mới chối bỏ hình thể tự màu Với bài màu: bột màu, sáp, màu nước, phấn màu, sơn dầu nhiên và Hậu hiện đại đang làm công việc “chống” lại điều đó. Hậu Nhiệm vụ của học sinh là phải học tất cả các chất liệu, sau đó hiện đại quan tâm nhiều tới ý tưởng, quan niệm thay vì hình thức mang mỗi người tự chọn các chất liệu thích hợp để sử dụng trong suốt quá tính cá nhân như Hiện đại, do vậy hình (form) chính là công cụ đắc lực trình học. để truyền tải ý tưởng. Đó là lý do ngày nay ảnh (photo) được sử dụng Không gian học tập: Phòng học chuẩn với các nguồn sáng khác nhiều trong các tác phẩm đương đại. Tác phẩm càng muốn gây “sốc” nhau như ánh sáng tự nhiên, ánh sáng nhân tạo: đèn, nến. Hướng của (tiêu chí của hậu hiện đại) bao nhiêu thì càng cần yếu tố hiện thực bấy nguồn sáng cũng phải được thay đổi: nghiêng, chếch, ngược Phải có nhiêu. Chúng ta đang coi trọng hình họa và hãy chuẩn hóa môn này tới đủ ghế ngồi cho từng sinh viên vì nếu không ngồi ghế không thể vẽ lâu mức có thể làm được, như vậy mới hy vọng vào một thế hệ họa sỹ mới vững vàng trong nghề và có nhiều đột phá về sáng tạo. được. Đạo cụ cũng phong phú: vải, trang phục, đồ nội thất, đồ dùng Mỗi lớp phải có 1 tủ khá rộng chứa đạo cụ.(mỗi lớp quản lý toàn bộ đồ P.B.C đạc, cuối năm bàn giao lại nhà trường khỏi phải đi mượn mất thời gian). 160 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 161
  13. HÌNH HỌA TRONG CHƯƠNG TRÌNH, GIÁO TRÌNH CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NGÀNH MỸ THUẬT Họa sỹ Triệu Khắc Lễ ăm 2002 tôi được cử làm trưởng tiểu ban xây dựng chương trình CĐSP ngành Mỹ thuật, và ở trong nhóm chuyên gia tư vấn viết Ngiáo trình của dự án “Đào tạo giáo viên THCS có trình độ CĐSP”. Với các ngành học khác việc xây dựng chương trình viết giáo trình có những thuận lợi nhất định bởi đã tương đối ổn định, bài bản: đội ngũ chuyên gia có trình độ, kinh nghiệm và nhất là nguồn tư liệu tham khảo khá phong phú, được cập nhật khá thường xuyên. Chỉ cần chỉnh sửa theo yêu cầu của chương trình, giáo trình mới là phải mang tính thiết thực và hiệu quả, đáp ứng yêu cầu thực hành, ứng dụng thực tiễn nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong học tập của giáo sinh. Còn với Mỹ thuật thì có quá nhiều khó khăn bởi hầu như chưa có chương trình định hình, mỗi trường một vẻ và chương trình thường cấu tạo theo niên chế; giáo trình có rất ít và còn sơ lược - Nguồn tư liệu tham khảo hầu như không có gì. Khung thời gian quy định chung cho tất cả chương trình các ngành học với khối lượng kiến thức toàn khóa gồm 174 đơn vị học trình; được 162 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 163
  14. phân phối cho các môn đại cương, tự chọn và nghiệp vụ là 99 đ.v.h.t; cho hay không. Câu trả lời của chúng tôi là có: Hình họa còn giữ vai trò, tác các chuyên ngành 75 đ.v.h.t và được cấu tạo thành các chương trình: động tích cực đến quá trình học tập và sáng tác mỹ thuật. Chương trình dạy một môn mỹ thuật: 75 đ.v.h.t (CT 1 môn) Cơ sở lý luận và thực tiễn để chứng minh là: Chương trình dạy hai môn, môn chính là Mỹ thuật: 45 đ.v.h.t (CT I) Hình họa là môn học cơ bản, có nhiệm vụ nghiên cứu về cấu trúc, Chương trình dạy hai môn, môn phụ là môn Mỹ thuật: 30 đ.v.h.t (CT II) hình khối, tỷ lệ, tương quan đậm nhạt, sáng tối của đối tượng khách Trong “Khung chương trình đào tạo giáo viên THCS có trình độ quan tồn tại trong giới tự nhiên. Mọi vật trong giới tự nhiên, dù đơn giản CĐSP- Hệ tập trung. “Mỹ thuật phải đào tạo giáo viên dạy 2 môn. Song hay phức tạp đều có hình thể, đều nằm trong cấu trúc của các hình khối từ phân tích thực tiễn dậy học môn Mỹ thuật ở trường phổ thông (THPT cơ bản. Hình họa là môn học giúp phát triển khả năng quan sát, nhận không học), tiểu ban Mỹ thuật kiên định đề nghị được xây dựng chương xét, phân tích và kỹ năng thể hiện, nghiên cứu mẫu thực; là sự kết hợp trình 1 môn, từ đó rút ra để xây dựng CT I và CT II. Cách xây dựng hài hòa giữa lý trí và tình cảm của người vẽ với đối tượng. Nói một cách chương trình 3 cấp tạo sự mềm dẻo và thuận lợi cho việc triển khai đào khác, hình họa là cánh cửa đầu tiên để người học nghiên cứu và khám tạo; vừa chấp hành quy định của Bộ, vừa đáp ứng nhu cầu của cơ sở. Tiểu phá thực tế, luôn có mặt và tác động đến các môn học khác trong Mỹ ban cũng có giải trình, để dạy học tốt môn Mỹ thuật ở THCS, chương thuật. Thực tế cho thấy, các họa sỹ nổi tiếng trên thế giới và trong nước, trình 1 môn mới đảm bảo được chất lượng đào tạo. Tháng 6 năm 2004, thời đại nào cũng là những người vẽ hình họa vững vàng. Trước khi trở Bộ trưởng Bộ GD- ĐT đã ký quyết định ban hành “Chương trình khung thành người sáng lập ra các trào lưu mỹ thuật hiện đại Picasso, Dali, Cao đẳng Sư phạm ngành Mỹ thuật” với CT I là chương trình chính thức; Vangogh, họ đều là những họa sỹ nghiên cứu thực tế, nghiên cứu mẫu CT I môn và CT II nằm ở phụ lục để các cơ sở đào tạo, tùy theo thực tiễn người rất nghiêm túc, cơ bản, vững vàng. giáo dục của địa phương sử dụng. Các trường Mỹ thuật ở Việt Nam, từ thời kỳ “Mỹ thuật Đông Dương” Việc lựa chọn, phân bổ quỹ thời gian cho mỗi môn học cũng được luôn đề cao vị trí, vai trò của Hình họa trong chương trình đào tạo. Quỹ đưa ra thảo luận, trao đổi và lấy ý kiến của một số trường sư phạm, giáo thời gian dành cho môn học khá nhiều; trong tuyển sinh có trường xác viên mỹ thuật có kinh nghiệm để đi đến kết luận cuối cùng. Các thành định Hình họa được tính hệ số cao hơn các môn thi khác (Hệ số 2). viên trong tiểu ban soạn thảo dễ dàng đi đến sự nhất trí về vai trò, vị trí Hình họa đã thấm sâu vào nếp nghĩ và hoạt động nghệ thuật của của môn Hình họa cấu tạo trong chương trình. Mặc dù qua đó, qua làm họa sỹ, đa số cho rằng hình vững, hình đẹp là cơ sở tạo nên thành công việc với chuyên gia nước ngoài, nghiên cứu chương trình và thực tiễn của tác phẩm: giúp họa sỹ tự tin hơn trong sáng tạo nghệ thuật. Ngày khảo sát tại một số nước có nền giáo dục tiên tiến, hiện đại thì nơi có, nay, dù kỹ thuật của các phương tiện của công nghệ thông tin ngày càng nơi không cấu tạo môn Hình họa trong chương trình Mỹ thuật bậc đại phong phú, phát triển cao; hỗ trợ rất nhiều cho học tập, thu nhận tài liệu học. Câu hỏi đặt ra là, Hình họa có còn là môn học cơ bản, có vai trò và sáng tác song vẫn không thể thay thế được rèn luyện cơ bản, nghiên quan trọng trong học tập và sáng tạo nghệ thuật ở giai đoạn hiện nay cứu hình họa tại thực tế. Máy ảnh rất cần song đó chỉ là một khoảnh 164 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 165
  15. khắc nhất định của tự nhiên do máy móc ghi lại. Còn vẽ thì khác, đó là + Về lý thuyết: Trình bày những kiến thức cần thiết có quan hệ cả một quá trình tìm hiểu, phân tích, giao lưu tình cảm của người vẽ với trực tiếp đến kiến thức, kỹ năng thực hiện bài vẽ trong học phần; thường đối tượng: từ đó khám phá và thể hiện cái đẹp của hiện thực, của người được trình bày ngắn gọn nhưng đầy đủ, kèm theo là hình hoặc bài vẽ mẫu thông qua cảm xúc, sáng tạo của người vẽ. minh họa - yêu cầu giáo viên chuẩn bị tài liệu, đồ dùng dậy học và sử Một trong các yêu cầu của chương trình mới là phải gắn với chương dụng phương pháp dạy học. trình Mỹ thuật của giáo dục phổ thông và liên thông lên đại học; bồi + Về thực hành: Hình họa là môn học mang nhiều yếu tố thực dưỡng phương pháp tự học, tự nghiên cứu để giáo sinh vừa đảm nhận hành. Các bài vẽ được sắp xếp với nội dung, yêu cầu cụ thể về vai trò của tốt nhiệm vụ dạy học ở THCS, vừa có điều kiện tiếp tục nâng cao trình bài, nhóm bài. Phần hướng dẫn kết hợp hình vẽ minh họa với phân tích, độ cả về chuyên môn lẫn nhiệm vụ sư phạm khi ra trường. Môn hình diễn giải: chủ yếu hướng dẫn kỹ năng thực hành và làm thế nào để hoàn họa, ngoài việc đáp ứng kiến thức, kỹ năng khi dạy các bài trong phân thành bài vẽ đúng yêu cầu. môn “Vẽ theo mẫu”. Hình họa tốt giúp giáo viên kỹ năng vẽ hình thị Phương pháp dạy - học và hình thức tổ chức học tập phạm, làm đồ dùng dậy học và tổ chức các hoạt động chuyên môn trong + Hình họa là môn học mang tính tích hợp cao, cần có những đổi trường THCS tốt hơn. Ngoài ra còn giúp giáo sinh rất nhiều khi học các mới về phương pháp dạy - học, bởi nếu chỉ nhìn vào nội dung chuyên môn học khác bởi tính tích hợp và hỗ trợ trong chương trình mỹ thuật. môn sẽ không thấy có gì đổi mới. Theo định hướng về đổi mới “Chương Giáo sinh có điều kiện rèn luyện để đáp ứng tốt yêu cầu dạy học ở trường trình đào tạo giáo viên THCS có trình độ CĐSP”, khi đề cập đến phương THCS, tiếp tục học tập nâng cao trình độ. pháp đã nhấn mạnh đến phương pháp học, mà cốt lõi là phương pháp tự Vì thế, môn Hình họa được phân bổ quỹ thời gian khá nhiều trong học, kể cả điều kiện khi có thầy hướng dẫn. Nếu rèn luyện cho người học chương trình với 21/75 đ.v.h.t ở chương trình 1 môn, 18/45 đ.v.h.t ở có được phương pháp, thói quen, ý chí tự học sẽ tạo ra sự chuyển biến chương trình I (CT I) và 9/30 ở chương trình II (CT II). từ học tập thụ động sang chủ động, sáng tạo. Vì thế trong giáo trình, + Một số điểm bổ sung: nhằm cung cấp thêm những kiến thức có ngoài phương pháp cơ bản còn giới thiệu nhiều phương pháp vẽ khác để tính chuyên môn sâu, được lựa chọn và đưa vào với lượng cần thiết, phù chứng minh cho kết quả cuối cùng của bài vẽ đạt được, giới thiệu mối hợp với trình độ giáo sinh. Đây là phần học thêm, tự học. quan hệ và vai trò của hình họa đối với trang trí, bố cục tranh Việc lồng + Các bài tham khảo: Trình bày cách sắp xếp bố cục, phương pháp ghép giữa môn Giải phẫu tạo hình, Luật xa gần cũng được gắn kết vào dựng hình và bút pháp trong diễn tả nhằm giới thiệu sự phong phú, đa mỗi bài học cụ thể. Sử dụng công nghệ thông tin được khuyến khích để dạng của vẽ hình họa. hỗ trợ và tăng cường hiệu quả cho giảng dạy của giáo viên. Tháng 8 năm + Câu hỏi củng cố và hướng dẫn thực hiện: nhấn mạnh một số nội 2006, chúng tôi đã tổ chức một hội thảo toàn quốc về vai trò của công dung kiến thức, kỹ năng cần nhớ; cách thực hiện các yêu cầu của học phần. nghệ thông tin trong đổi mới “Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học Với mỗi chương: có cấu trúc tương đồng để tạo sự nhất quán chung. mỹ thuật” tại thành phố Đà Nẵng, với sự có mặt của gần 40 trường trên 166 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 167
  16. toàn quốc trong 3 ngày. Bên cạnh các bài giảng của báo cáo viên được Còn các giáo trình ngành Mỹ thuật cũng đã được tái bản một hai lần. Khi chuẩn bị khá công phu thì báo cáo của các trường CĐSP Quảng Nam, viết những dòng này tôi vẫn nghĩ rằng “Tiểu ban Mỹ thuật” đã xác định Nghệ An, thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Bình, Hải Dương, Đồng Tháp, đúng về vị trí và vai trò của môn Hình họa, sử dụng công nghệ thông tin Lào Cai, Quảng Ninh đã gợi mở rất nhiều khả năng ứng dụng CNTT hỗ một cách hợp lý tạo cho bài giảng phong phú và hấp dẫn. Cũng cần cởi trợ dạy - học, trong đó có môn hình họa. Việc ứng dụng CNTT sẽ giúp mở hơn trong việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên, trên cơ sở một giáo viên khai thác rất tốt nguồn tư liệu ở các kênh thông tin khác nhau, số tiêu chí cơ bản, cần nhấn mạnh đến năng lực sáng tạo, cách vẽ riêng biên tập và thiết kế bài dạy theo hướng lồng ghép và tích hợp, tăng và vai trò mỹ cảm thể hiện trong bài vẽ. Có như vậy, Hình họa mới tạo cường hiệu quả trong truyền thụ kiến thức và tác động mạnh đến được hứng thú, sự say mê, sáng tạo của sinh viên trong học tập. phương pháp tự học, đến nhận thức của sinh viên. Tuy nhiên, Hội thảo T.K.L cũng xác nhận chỉ nên phát huy mặt tích cực và sử dụng CNTT như một công cụ hỗ trợ phương pháp dạy - học. Người thầy trong dậy Mỹ thuật (nói chung), Hình họa (nói riêng) mới có vai trò quyết định, nếu người thầy yếu về chuyên môn và nghiệp vụ thì CNTT lại là công cụ tạo điều kiện cho sự máy móc, công thức, khô cứng và ỷ lại trong phương pháp dạy - học. + Giáo trình cũng gợi ý về hình thức tổ chức dạy - học môn Hình họa, từ việc vận dụng sáng tạo cách dạy truyền nghề với phương pháp cơ bản, chính quy đông người. Sự phối hợp hoạt động giữa thầy và trò trong giờ học sao cho vừa đảm bảo được tính chuyên môn, vừa là nghiệp vụ sư phạm. Đồng thời, cũng gợi ý những phương hướng để giáo sinh tự học, tự nghiên cứu. + Cuối cùng, giáo trình cũng đưa ra các tiêu chí đánh giá để giáo sinh có thể tự đánh giá và tổ chức đánh giá lẫn nhau kết quả học tập. Trên cơ sở đánh giá của học sinh, giáo viên sẽ là người trọng tài hướng dẫn, phân tích và rút ra những nhận xét, đánh giá cuối cùng. Chương trình “Cao đẳng sư phạm ngành Mỹ thuật” hiện tồn tại với 3 chương trình khác nhau nên chất lượng không thể gọi là đồng đều. Điều đó được phản ánh rõ trong kết quả dạy - học môn Mỹ thuật ở THCS. 168 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 169
  17. Phần 3 NHỮNG KINH NGHIỆM CỦA THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM TRONG VIỆC DUY TRÌ VÀ PHÁT TRIỂN MÔN HỌC HÌNH HỌA TRONG BỐI CẢNH GIÁO DỤC MỸ THUẬT HIỆN NAY 1. Mối quan hệ giữa nghiên cứu Hình họa và sáng tác (Tr. 173) ThS. Họa sỹ Chu Anh Phương 2. Khai thác nhịp điệu trong nghiên cứu Hình họa (Tr. 179) Họa sỹ Phạm Thanh Liêm 3. Vai trò của Hình họa đối với người sáng tác và phê bình mỹ thuật (Tr. 185) NNC. Nguyễn Hữu Đức 4. Nghiên cứu Hình họa ở Nga (Tr. 191) Họa sỹ Hoàng Anh 5. Chương trình dạy Đại học của trường Nghệ thuật thị giác và truyền thông - UQÀM, Canada (Tr. 195) TS. Họa sỹ Đặng Bích Ngân 170 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 171
  18. MỐI QUAN HỆ GIỮA NGHIÊN CỨU HÌNH HỌA VÀ SÁNG TÁC ThS. Họa sỹ Chu Anh Phương ôn học Hình hoạ chiếm thời gian nhiều nhất và là môn học cơ bản quan trọng trong chương trình học của sinh viên trường MMỹ thuật. Từ khi thành lập Trường Mỹ thuật Đông Dương nay là trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, qua nhiều thời kì, các hệ đào tạo từ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học và ngay cả đào tạo Cao học Mỹ thuật thì môn học nghiên cứu Hình hoạ cũng luôn được quan tâm, chú trọng và dành nhiều thời gian. Qua bao thế hệ thầy trò, gắn liền với tên tuổi trường “Yết Kiêu”, với những thành tựu, đóng góp, trải nghiệm, đến giai đoạn hiện nay, một “Thế giới phẳng” cùng với tốc độ phát triển của Khoa học, Công nghệ thông tin, nhịp sống nhu cầu thẩm mỹ cũng có những biến đổi. Trước vấn đề xã hội hoá giáo dục, sự thay đổi về thời gian đào tạo, trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam cũng không nằm ngoài sự phát triển chung của toàn xã hội Từ hiện thực đó, nảy sinh nhiều ý kiến khác nhau về môn học nghiên cứu hình hoạ trong nhà trường hiện nay. Tôi chỉ xin có một số ý kiến về vai trò của môn Hình hoạ trong mối quan hệ giữa nghiên cứu hình họa và quá trình sáng tác. Trong cuốn “60 năm thành lập Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội 172 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 173
  19. 1925-1990”, phần chương trình Hình hoạ có nêu ra mục đích, yêu cầu (Nhằm kích thích khả năng tìm tòi, phân tích, nghiên cứu sâu của sinh viên). của môn học Hình hoạ: Một số dạng bài gợi ý: “Hình hoạ nghiên cứu là nội dung cơ bản của Hội họa, nhằm tạo Dạng bài vẽ tả chân (hình, tỉ lệ, thế dáng mảng, khối, không gian, cho sinh viên có khả năng nghiên cứu sâu về tỉ lệ, hình thức, vóc dáng, ánh sáng v.v ) đặc điểm, trạng thái của người và vật trong tương quan với không gian, Dạng bài Hình hoạ tập trung nhấn mạnh một yếu tố trội: với môi trường bằng đậm nhạt, bằng màu sắc”. Nhấn mạnh nét (hình hoạ nét). “Qua quá trình nghiên cứu, diễn tả, sinh viên sẽ nắm bắt được Nhấn mạnh cấu trúc, hình diện những nguyên tắc cơ bản của Hội hoạ đen trắng và sơn dầu, đồng thời Nhấn mạnh tương quan ánh sáng, đậm nhạt, chất cảm v.v nâng cao được nhận thức thẩm mỹ, từ đó sinh viên có thể xây dựng Dạng bài vẽ theo trí nhớ (giúp người vẽ tập ghi nhớ, khái quát và thể hiện được hình tượng các nhân vật trong tranh vững chắc và những nét đặc trưng nhất, những ấn tượng nổi bậi nhất của đối tượng sinh động.” theo cách cảm nhận riêng của cá nhân, ít bị lệ thuộc và chi phối hơn so Qua đây, chúng ta thấy rõ mục đích, yêu cầu, tầm quan trọng của với vẽ trước mẫu). việc vẽ nghiên cứu Hình hoạ cũng như việc định hướng cho môn học Dạng bài khái quát những đặc điểm của đối tượng mẫu trong hình hoạ đã được khẳng định. Vấn đề chúng ta cần quan tâm là học Hình những cấu trúc tối giản. Tập xây dựng, biểu đạt một cách sáng tạo hoạ như thế nào để hiệu quả nhất và phục vụ tốt nhất cho việc sáng tác những tương quan được gợi ý từ mẫu thật thành một trật tự những sau này? Có lẽ, mục đích của nó không chỉ dừng lại ở việc xây dựng hình mảng diện, chiều hướng, đường nét thuần túy Đưa các hình thái tự tượng nhân vật trong tranh, mà thực tế nó còn có những tác dụng toàn nhiên của sự vật khách quan quy về các hình thức trừu tượng diện và sâu sắc hơn? Để quá trình học Hình hoạ thực sự là cầu nối giữa Xem lại quá trình học của sinh viên Mỹ thuật, những năm đầu đòi nghiên cứu cơ bản và sáng tạo, chúng ta cần có một phương pháp, một hỏi phải nắm vững, chắc về tỉ lệ, đặc điểm mẫu, cách xử lý không gian, cách học phù hợp. Trong chương trình Hình hoạ, có thể tạm chia thành chủ động về bố cục trên bài vẽ. Ngay trong quá trình thực hiện những 3 nội dung sau: yêu cầu của một bài hình hoạ cơ bản, mỗi sinh viên, với mỗi cách nhìn, Chép, phân tích tác phẩm của các danh hoạ, các trường phái Nghệ thuật, cách cảm nhận và biểu đạt khác nhau Từ những đối tượng cụ thể trong tìm hiểu quy luật, phong cách Nghệ thuật, bút pháp, từ đó rút ra bài học. một không gian cụ thể, sinh viên thể hiện theo cách hiểu với những Điều chỉnh và nâng cao yêu cầu đối với từng giai đoạn học hình hoạ rung động của riêng mình mà vẫn ra những đặc điểm của đối tượng, thể cho phù hợp. hiện chất cảm, không gian, màu sắc thực tế bằng chất liệu của hội hoạ Giai đoạn 1: Học cơ bản, nắm chắc cách sử dụng chất liệu, mối đó cũng là bước đầu của quá trình sáng tạo. quan hệ về tương quan Thông qua những bài học cụ thể từ đơn giản đến phức tạp, người Giai đoạn 2: Chủ động, thể hiện rõ quan điểm, thái độ của người vẽ được tiếp cận dần với tư duy sáng tác. Trước mỗi đối tượng cụ thể, vẽ, tìm tòi thể hiện những hình thức biểu đạt mới tiếp cận dần với tư người vẽ bước đầu khái quát những nét đặc trưng tiêu biểu về cấu trúc duy sáng tác. hình thể, tỉ lệ, tương quan đậm nhạt, màu sắc tìm ra những kết cấu Đa dạng hoá các dạng bài tập Hình họa và yêu cầu đối với từng dạng bài điển hình được gợi ý từ đối tượng. có thể thiết lập một trật tự không gian 174 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 175
  20. hoàn toàn chủ động, có thể chỉ dùng nét, chỉ dùng mảng, màu Từ vẽ chất liệu. Nếu là lụa, sơn dầu, sơn mài hay khắc gỗ thì miếng hình đó sẽ giống thật, sự thật nhìn thấy, đến vẽ theo cái hiểu, theo cảm nhận Đưa như thế nào? Sử dụng không gian ra sao? Lúc đó người vẽ sẽ gần với từ hình thức tự nhiên của đối tượng cụ thể trở thành các hình thức trừu sự sáng tạo nhiều hơn, bản thân một hình đẹp nó đã vượt qua cái đúng tượng Biểu đạt đối tượng bằng một số rất hạn chế những ngôn ngữ tạo rồi, một “From” hình đẹp, một khuôn mặt đẹp, một hoà sắc đẹp, một hình, đi sâu khai thác một khía cạnh, một góc độ, một đặc điểm nổi bật khoảng hở giữa tay và thân đẹp Có lúc, người vẽ chỉ mải diễn tả những bằng cách giản lược tối đa các yếu tố tạo hình (ví dụ: chỉ dùng nét vẽ để chi tiết mẫu mà không chú ý đến khoảng không gian còn lại tức là phần thể hiện cả không gian, ánh sáng, hình khối ). nền trong bài mà coi đó như là một phần riêng biệt. Như vậy, cách học Khi nghiên cứu hình hoạ cũng có nghĩa là người vẽ đem trạng thái là yếu tố then chốt giúp cho môn Hình họa có thể phát huy được tác tinh thần của bản thân chuyển hoá thành những biểu hiện của nghệ dụng hay chỉ là sự sao chép không hơn. Có thể nói, những người vẽ thuật. Khi được rèn luyện về tay nghề cũng như quan điểm thẩm mỹ, nghiên cứu Hình hoạ tốt thường có điều kiện để sáng tác tốt. cùng với cảm hứng sáng tạo Lúc đó các yếu tố tạo hình sẽ có mối quan Trong quá trình học Hình hoạ, tự người học đã thẩm thấu trong hệ tự nhiên, không bị ràng buộc, chi phối trên bài vẽ Một bài hình hoạ mình một cách nhìn, một quan niệm, một kiến thức về văn hoá tạo đẹp có thể coi như một tác phẩm đẹp. Qua những đối tượng mẫu khác hình, năng lực thẩm mĩ được nâng lên. Từ những bài vẽ nghiên cứu đối nhau, người vẽ phải chủ động tìm cho mình một cách thể hiện phù hợp tượng cụ thể, hình thành tư duy sáng tác. Qua đó ta thấy cái hay, cái với trạng thái tinh thần mẫu. Có thể dẫn câu chuyện hoạ sỹ Nguyễn quan trọng của vẽ nghiên cứu Hình hoạ. Không phải tự nhiên mà môn Sáng vẽ chân dung người em làm nghề giáo là một ví dụ. Mọi người tới học Hình hoạ lại là môn chính, là thế mạnh đặc thù của sinh viên xem, thấy bút pháp mạnh mẽ, phóng khoáng đã rất thán phục. Vậy mà chuyên về Mỹ thuật. sau đó lại đã thấy Nguyễn Sáng thay vào một bút pháp giản dị, chân thật, Trong việc giảng dạy và học tập Mỹ thuật, trường Đại học Mỹ thuật nhẹ nhàng hơn. Ông nói: em tôi là nhà giáo, như vậy sẽ hợp hơn, đúng Việt Nam luôn là một trung tâm đào Mỹ thuật lớn của cả nước. Với nhiều hơn làm bao người yêu mến nghệ thuật vừa nể phục, vừa tiếc cho tác kinh nghiệm và kết quả đã qua, trong sự phát triển của toàn xã hội và phẩm đã bị xoá đi. nhu cầu cụ thể hiện nay, đòi hỏi chúng ta cần phải có sự bàn luận, xem Trong thực tế đời sống Mỹ thuật, có một số trường hợp vẽ Hình họa xét về cách thức, mục tiêu đào tạo nói chung và môn học nghiên cứu tốt, nhưng khi sáng tác thì khô cứng, kém sáng tạo. Một số khác vẽ Hình hình hoạ nói riêng, tránh lãng phí thời gian đào tạo, đặt ra yêu cầu cụ hoạ chưa hay lắm nhưng lại vẫn có thể có tác phẩm tốt. Vì thế, không thể: học nghiên cứu hình hoạ để làm gì? Học như thế nào? Chương trình ít ý kiến cho rằng không thực sự cần thiết phải học Hình hoạ?. và phân bố thời gian ra sao với những đối tượng khác nhau? Từ đó sẽ có Theo tôi, điều quan trọng không phải là có học Hình họa hay không cách dạy và học cho phù hợp, nhằm trang bị cho sinh viên từ những kiến mà là học như thế nào. Có một số sinh viên ngay đến năm cuối, khi vẽ thức cơ bản về hình hoạ nói riêng cho đến những kiến thức về văn hoá Hình hoạ vẫn bị ở tình trạng chép mẫu, chưa có sự chủ động về hình, về tạo hình nói chung Qua đó, thấy rõ mối quan hệ, sự cần thiết của việc màu, về nét, về khối chất và không gian thể hiện. Một phần do năng lực, nghiên cứu hình hoạ đến quá trình sáng tác, xác định cách nghiên cứu một phần chưa ý thức được cách học, cách nghiên cứu mẫu. hình hoạ cho phù hợp và hiệu quả nhất. Khi vẽ nghiên cứu hình hoạ đen trắng cũng có thể liên tưởng tới C.A.P 176 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 177
  21. KHAI THÁC NHỊP ĐIỆU TRONG NGHIÊN CỨU HÌNH HỌA Họa sỹ Phạm Thanh Liêm hững ai đã từng cầm bút vẽ đã từng qua các trường, các lớp mỹ thuật đều nhận thấy tầm quan trọng, tầm cơ bản của “vấn đề Nhình họa”. Trong các trường đào tạo mỹ thuật, việc dạy và học môn Hình họa đã được xác định rõ ràng từ đầu: là môn cơ bản (dạy cơ bản và học cơ bản), nhằm tạo cho người học có khả năng nghiên cứu về tỷ lệ, về hình thái, về vóc dáng, về cảm giác không gian, về đặc điểm của đối tượng mẫu, với phương tiện biểu hiện bằng chì, than, màu trên giấy hoặc toan vải. Môn học này được gọi là Hình họa nghiên cứu (Study drawing). Mục tiêu cốt lõi và duy nhất của “vấn đề hình họa trong đào tạo mỹ thuật” là việc rèn luyện sao cho thành thục, tinh thông kỹ năng diễn tả hình, khối cùng với rèn luyện, nâng tầm thị hiếu thẩm mỹ. Để sau khi hoàn thành khóa học, người học viên, sinh viên có đủ khả năng tự mình thể hiện được hình tượng nhân vật, hình tượng nghệ thuật giàu tính thẩm mỹ trên tác phẩm tranh, tượng một cách vững vàng, hấp dẫn. Học tập, nghiên cứu hình họa có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối 178 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 179
  22. với từng cá nhân. Ta biết giờ đây ở Mỹ và vài nước khác như Singapore, dễ làm cho người vẽ rối mắt, lúng túng. Vậy làm sao nhận dạng, phát Nhật Bản đã xuất hiện những xưởng vẽ, lớp vẽ có không khí sôi động hiện, nắm bắt một cách thuận lợi, nhanh nhạy những thành tố trên theo như quán bar, mà ở đó người mẫu không ở tư thế ngồi cứng nhắc trong quy luật thẩm mỹ, để rồi thể hiện chúng lên mặt giấy, mặt vải toan? sự im ắng, tĩnh lặng, mà người mẫu luôn ở trạng thái động, có lúc đầu lộn Phải chăng chiếc chìa khóa đa năng ở đây dùng để mở cánh cửa xuống đất, hai chân chĩa thẳng lên trời. Người vẽ uống cocktail để nét bút vào lĩnh vực nghiên cứu hình họa, nghiên cứu người mẫu, vật mẫu một trượt theo âm thanh của nhạc rock, người mẫu cũng nhấm nháp cocktail cách thuận lợi và hiệu nghiệm, đó là yếu tố “nhịp điệu” – chìa khóa cùng âm nhạc sôi động. Ý tưởng của việc lập xưởng vẽ kiểu này là để bày “nhịp điệu” – kênh “nhịp điệu”. Bởi yếu tố “nhịp điệu” là một quy luật tỏ quan điểm đi ngược lại cách học vẽ sách vở, cổ điển. Họ cho rằng nó diễn ra trong thế giới tự nhiên, diễn ra trong đời sống con người, trong năng động hơn các buổi học vẽ theo kiểu truyền thống. Nhưng có lẽ cách đời sống nghệ thuật, nó gây nên xúc cảm thẩm mỹ, xúc cảm về cái Đẹp. chung nhất, hiệu quả nhất vẫn là cách vẽ nghiên cứu người mẫu thật, vật Nghiên cứu hình họa “trong đào tạo mỹ thuật” là công việc dạy và mẫu thật theo một trình tự, từng bước: từ hình thể đơn giản đến hình thể học vẽ hình ảnh tồn tại trong không gian, ở dạng khối. Nghĩa là nghiên phức hợp. cứu, khám phá khối nổi, nhưng lại được biểu hiện nó trên mặt phẳng của Điều khó khăn nhất, những cũng đầy hứng thú, đam mê và cũng vật liệu giấy hoặc toan vải. (Khác với nặn tượng). Rất khác với việc nhận sẽ rút ra được nhiều bài học hữu ích nhất cho việc hành nghề sau này, thức, cảm thụ và biểu hiện của họa hình trong toán học - của hình học đó là việc vẽ hình họa nghiên cứu người mẫu trực tiếp. Vì con người là phẳng. Do vậy yếu tố “nhịp điệu” càng phải được nhận thức, quan tâm, một kiệt tác của tạo hóa. khai thác có được sự đồng điệu để nắm bắt, khai thác tối đa yếu tố “nhịp Nền tảng của môn học hình họa cơ bản trong đào tạo mỹ thuật từ điệu”, được biểu hiện toàn diện ở đối tượng mẫu. xưa tới nay, và có lẽ cả về sau này, vẫn phải qua từng bước. Bước thứ nhất Ví dụ như vẽ một mẫu nam, ngồi trên ghế tựa, quan sát ta thấy: từ là dựng hình có cấu trúc chặt chẽ, tỷ lệ chuẩn xác các bộ phận, biểu hiện đỉnh đầu đến bàn chân là cả một tổng thể của cấu trúc khối, với nhiều đúng dáng vóc, tư thế của mẫu. Bước thứ hai: diễn tả tương quan đậm tiết tấu, nhịp điệu lặp đi lặp lại của đường thẳng đứng, đường nằm nhạt, tạo cảm giác không gian, cảm giác khối nổi, tạo chất cảm như ở ngang; đường nghiêng phải, đường nghiêng trái; đường cong, đường mẫu. Nếu vẽ mầu phải tạo được hòa sắc, điều phối độ nóng lạnh tinh tế, thẳng; góc nhọn, góc tù; nét mờ, nét đậm v.v Về khoảng cách không nhuần nhị. gian ta nhận thấy tiết tấu theo nhịp điệu của các điểm xa, điểm gần - của Tất cả những điều nêu trên đây trong việc nghiên cứu vẽ hình họa, mảng đậm, mảng nhạt - của chỗ tối, chỗ lồi - chỗ hiện, chỗ ẩn - của người học vẽ nếu sẵn có chút ít năng khiếu, qua nỗ lực bản thân từng khoảng có và khoảng trống - của vùng sáng, vùng tối bước, tất yếu sẽ thực hiện được một bức hình họa bình thường, suôn sẻ. Riêng về màu sắc, quan sát mẫu nam ngồi, ta thấy biểu hiện “nhịp Nhưng ở đây muốn đặt ra và trình bày một khía cạnh khác trong điệu” của hệ thống màu nóng, màu lạnh như sau: phần đầu, mặt, cổ việc dạy và học hình họa. nghiêng về màu nâu nóng. Phần ngực, bụng nghiêng về màu lạnh, sáng. Đứng trước đối tượng mẫu (vật hoặc người) có mối tương quan về Hai bàn tay lặp lại màu nâu nóng. Phần đùi, cẳng chân lặp lại màu lạnh, hình khối, đường nét, đậm nhạt, xa gần, màu sắc, chất cảm rất phức tạp, sáng. Cuối cùng hai bàn chân lặp lại màu nâu nóng. 180 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 181
  23. Về độ tươi, trầm - trong, đục - thắm, xỉn v.v của màu sắc trên hẳn yếu tố thẩm mỹ. Do vậy thành quả tạo nên, có thể rất kỳ công người mẫu cũng biểu hiện một tiết tấu, nhịp điệu như vậy. nhưng đó không thể gọi là tác phẩm nghệ thuật được. Qua đây ta thấy rằng: kết quả của bức vẽ hình họa là tổng thể của Việc khai thác, ứng dụng yếu tố “nhịp điệu” - chìa khóa “nhịp yếu tố “nhịp điệu” đã tạo nên hiệu ứng vận động, chuyển hướng, đối lập, điệu” - kênh “nhịp điệu” vào công việc giảng dạy và học tập, nghiên cứu cân bằng, xen kẽ, luyến láy bởi hình khối, đường nét, ánh sáng, màu sắc hình họa trong đào tạo mỹ thuật là một “kênh” mang tính bao trùm, được phản ánh từ đối tượng mẫu vẽ. tổng hợp rất tinh tế, giúp người học hứng thú thực hiện các bài tập đạt Nắm được yếu tố “nhịp điệu” giống như nắm được chiếc đũa chỉ hiệu quả tạo hình mang đậm mỹ cảm. Đồng thời là nền tảng hữu ích huy của người nhạc trưởng. Khi chiếc đũa chỉ huy vung lên, thì tức khắc cho việc sáng tác nên tác phẩm hàm chứa tính thẩm mỹ cao, khi sinh mọi âm thanh hỗn tạp được dồn xếp, điều chỉnh về đúng vị trí theo một viên tốt nghiệp ra trường. trật tự sinh động của bản hợp xướng, chinh phục người nghe. P.T.L Sau những năm nghiên cứu hình họa cơ bản, người học tiếp nhận sâu sắc, nắm vững cách nhìn, cách diễn đạt thuần thục bằng “kênh nhịp điệu”. Đến khi ra trường sẽ có bản lĩnh, để ứng dụng một cách hiệu quả vào việc sáng tác đa dạng ở nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau. Chẳng hạn như thể loại hội họa trừu tượng hoặc vô hình thể thì người vẽ lúc này chỉ còn dùng yếu tố “nhịp điệu”, kênh “nhịp điệu” để kết cấu, để xây dựng, để điều tiết, làm nên tác phẩm bằng tiết tấu của nóng, lạnh - của tươi, trầm - của cứng, mềm - của dày, thưa - của sáng, tối - của chấm, vạch - của nhám, mịn v.v Ứng dụng sang nghệ thuật đương đại như: sắp đặt, trình diễn, động hình, ánh sáng v.v yếu tố “nhịp điệu” được vận dụng, khai thác ở các khía cạnh: động, tĩnh - nhanh, chậm - cao, thấp - ngắn, dài - rộng, hẹp để người nghệ sỹ tạo dựng nên tác phẩm có không gian rộng lớn, hoành tráng. Nếu không thông qua việc rèn luyện, nghiên cứu hình họa cơ bản, không rèn luyện khả năng tinh nhạy của thị giác, không nắm được yếu tố “nhịp điệu” trong quy luật thẩm mỹ nghệ thuật thì người “nghệ sỹ” khi sáng tạo tác phẩm trừu tượng, tác phẩm vô hình thể, tác phẩm sắp đặt, trình diễn, nghệ thuật đương đại dễ mất chỗ dựa, mất phương hướng sáng tạo hình tượng, dẫn tới việc: bôi, quét, bày, đặt, nhảy, múa, nằm, bò một cách tùy tiện, bâng quơ, may rủi, tự nhiên chủ nghĩa, thiếu 182 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 183
  24. VAI TRÒ CỦA HÌNH HOẠ ĐỐI VỚI NGUỜI SÁNG TÁC VÀ PHÊ BÌNH MỸ THUẬT NNC. Nguyễn Hữu Đức rong bài viết này, tác giả không có tham vọng đi sâu vào nghiên cứu khái niệm hình hoạ, mà chỉ đề cập đến vai trò của hình hoạ đối với Tngười sáng tác và mối gắn kết giữa tác phẩm và người làm phê bình Mỹ thuật thông qua vai trò của hình hoạ. 1. Có thể nói, qua mỗi lần tiếp xúc văn hoá với ngoại quốc, người Việt luôn ý thức không ngừng tiếp nhận những yếu tố mới lạ một cách có sàng lọc, làm phong phú thêm vốn văn hoá - nghệ thuật của mình. Tiếp xúc với văn hoá Trung Hoa, ta có chữ Nôm (chữ Quốc ngữ lần 1 - do Hàn Thuyên tạo lập), nghệ thuật thư Pháp; Tiếp xúc với văn hoá Liên Xô, ta có nghệ thuật Xã hội Chủ nghĩa; Tiếp xúc với văn hoá Pháp, ta có thơ mới, chữ Quốc ngữ (lần 2 - do Alexand de Rhord tạo lập), âm nhạc bác học, nghệ thuật Ấn tượng Sau thời gian vận động tích cực của hoạ sỹ Victor Tardieu, năm 1925, chính quyền Pháp quyết định cho phép thành lập trường Mỹ thuật Đông Dương (tiền thân của trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam), đánh dấu mốc lịch sử của nền Mỹ thuật hiện đại Việt Nam. Kể từ thời 184 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 185
  25. điểm này, bên cạnh Mỹ thuật dân gian truyền thống mang đậm yếu tố Hiện tại, nếu sinh viên khoa Hội hoạ, trong 5 năm học, có khoảng 1.800 phương Đông, các nghệ sỹ Việt Nam đã từng bước làm quen với cách tiết hình hoạ, sinh viên khoa Sư phạm Mỹ thuật, trong 4 năm học, có nhìn và phương pháp đào tạo về nghệ thuật tạo hình của phương Tây. khoảng 1.050 tiết hình hoạ, thì sinh viên khoa Lý luận và Lịch sử Mỹ Tuy nhiên, điều lo lắng thường trực, đối với một dân tộc nói chung và thuật, trong 5 năm học, chỉ có 150 tiết hình hoạ mà thôi. Một số người giới nghệ sỹ nói riêng, là nghệ thuật vong bản. Điều lo lắng ấy khiến nước ngoài thường hỏi “sao sinh viên Việt Nam học hình hoạ nhiều thế? nhiều hoạ sỹ đã lặng lẽ trở về với truyền thống (từ lối thể hiện cho đến Đơn giản, bởi họ chưa hiểu thực trạng, hầu hết sinh viên của ta sau khi chất liệu), điển hình phải kể đến Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Gia Trí, thi đỗ vào trường mới có cơ hội nghiên cứu sâu môn học này. Xem lại Nguyễn Tư Nghiêm, Đặng Thị Khuê những bài hình hoạ hiện lưu ở trường cho thấy, mỗi giai đoạn đều có những thay đổi, so với bài hình hoạ trước đây nhân vật thường được tả Dù thế nào, chất liệu, kỹ thuật, hình thức thể hiện quyết không kỹ, thì bài hình hoạ của sinh viên hiện nay thường nhấn mạnh tổng thể bao giờ có lỗi. Có chăng là do cá tính, lòng yêu nghề và bút pháp của và diễn tả không gian quanh nhân vật nhiều hơn. nghệ sỹ chưa đủ mạnh, vốn văn hoá còn hạn chế và sự gắn bó với đời sống chưa thật sâu sắc để “thổi hồn” vào tác phẩm mà thôi. Suy cho Vậy môn hình hoạ nghiên cứu có giúp ích nhiều đối với người sáng cùng, truyền thống sẽ là cái hôm nay đang được chấp nhận. Lịch sử tác và người làm phê bình Mỹ thuật? nghệ thuật thế giới chính là lịch sử của những cuộc cách mạng về chất Dân gian thường nói: “Không thầy đố mày làm nên”. Xuyên suốt liệu và bút pháp, hình thức thể hiện. Là người Việt, ai chẳng yêu thích lịch sử Mỹ thuật thế giới, hầu hết các danh hoạ đều bước ra từ mái trường thơ lục bát (thể thơ độc đáo của người Việt) của Nguyễn Du, nhưng Nghệ thuật hoặc từ xưởng hoạ nào đó do những người thầy giỏi hướng cũng rất hài lòng với thơ mới (hình thức ảnh hưởng thơ Pháp) của Xuân dẫn. Nói đến hình hoạ, đa số người sáng tác thú nhận, nó rất hữu ích, Diệu; ta yêu mến dân ca, nhưng cũng cảm thấy rạo rực khi hát Quốc ca; dù trực tiếp hay gián tiếp. Họ cho rằng, một bài hình hoạ đen trắng vẽ ta thích thú với tranh dân gian và điêu khắc đình làng, nhưng cũng vô mẫu khoả thân thôi cũng đồng thời thể hiện đầy đủ các yếu tố như: cấu cùng ngưỡng mộ những tác phẩm giá vẽ và tượng tròn của các bậc tiền trúc, tỉ lệ, bố cục, độ sáng tối, sắc đậm nhạt, nét nhấn nét buông, ánh nhân ở trong nước và trên thế giới. Nếu hình họa được hiểu theo nghĩa sáng, chất cảm Do đó, việc nghiên cứu hình hoạ là vô cùng cần thiết. đơn giản là chép hình, thì người Trung Hoa đã thực hành cách thức này Nghệ thuật từ thời Phục hưng cho đến trường phái Trừu tượng sau này, từ rất sớm, ít nhất là từ khi “Lục pháp luận” của Tạ Hách ra đời (khoảng đều không nằm ngoài những yếu tố hình hoạ kể trên, mặc dù mức độ thế kỷ 6), mặc dù nó chưa trở thành môn hình hoạ nghiên cứu độc lập khai thác các yếu tố này có phần khác nhau. Nếu nghệ thuật Phục hưng như phương Tây. chú trọng về tỉ lệ thực, vờn khối; nghệ thuật Ấn tượng nhấn mạnh ánh sáng ngoài trời và sự biến chuyển về thời gian; nghệ thuật Dã thú đề cao 2. Xin trở lại với vấn đề hình hoạ nghiên cứu ở trường Đại học sự tương phản của màu sắc, mà xem nhẹ về hình; thì nghệ thuật Trừu Mỹ thuật Việt Nam. tượng lại tìm đến vẻ đẹp của đường nét và màu sắc, mà phớt lờ hoặc Môn học này từ lâu (có lẽ từ ngày thành lập Trường?) đã trở thành khước từ hình. Suy cho cùng, các trường phái này vẫn không thể hoàn môn chính đối với sinh viên Mỹ thuật, đặc biệt là chuyên ngành Hội hoạ. toàn thoát khỏi yếu tố của hình hoạ, ngay cả nghệ thuật Trừu tượng vẫn 186 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 187
  26. phải coi trọng bố cục, độ đậm nhạt và tổ hợp các đường hướng. - công việc mà trước đây hoàn toàn thủ công - nhưng không có nghĩa Ai đó từng nói đại ý: “khi sáng tác nên cố quên đi những gì đã học”. người sử dụng máy tính không cần biết đến những nguyên lý về cộng trừ hay cấu trúc ngữ pháp, từ vựng. Bên cạnh việc cần phải biết nguyên Tuy nhiên, sự quên có ý thức ấy chỉ là quên “bề nổi” mà thôi, còn phần lý tạo hình thông qua hình hoạ, người làm phê bình còn nắm rõ được “chìm sâu” vào vô thức thì nó vẫn tồn tại - giống như khi ta xoá một file những thuật ngữ cơ bản gắn liền với chất liệu và tác phẩm để từ đó có nào đó trên màn hình máy vi tính, thì nội dung của nó vẫn hiện diện cơ sở xem xét, đánh giá tác phẩm một cách xác thực hơn. trong bộ nhớ. Nghiên cứu hình hoạ chính là tìm đến nguyên lý tạo hình. Khi đã nắm vững nguyên lý này, thì dù có ý thức hay vô thức lúc sáng Ngày nay, với tốc độ phát triển chóng mặt của công nghệ số, ta có tác, nó vẫn có thể can thiệp quá đáng (đối với người quá lệ thuộc nó) thể lấy được rất nhiều tư liệu trong thời gian ngắn, tuy nhiên để biến hoặc gián tiếp dẫn dụ (đối với người vượt thoát khỏi nó) lôi kéo xúc cảm chúng thành tác phẩm lại cần sự “đậm đặc” cảm xúc của nghệ sỹ. Máy và tư duy của người nghệ sỹ. Một bài hình hoạ đúng thì chưa chắc đã móc không thay được cảm xúc. Lý trí thuần tuý cũng không làm nên đẹp, và ngược lại, một bài hình hoạ đẹp thì không nhất thiết phải đúng. nghệ thuật. “Sự khôn ngoan”, “hời hợt” hay “gợi cảm” “sâu sắc” sẽ lộ rõ Xem tranh vẽ phố của Bùi Xuân Phái với những mái nhà xô lệch, ta có trong từng tác phẩm, mà công chúng cũng dễ dàng nhận diện chứ cảm giác thích thú và nhận thấy ông là “kiến trúc sư tồi” (nếu nhìn theo không phải chờ đến người làm phê bình Mỹ thuật. Đấy là vai trò của hình hoạ đối với nghệ thuật giá vẽ, còn đối với các loại hình nghệ thuật đương con mắt căn ke) nhưng là một hoạ sỹ thật tuyệt (nếu nhìn theo con mắt đại thì vai trò của hình hoạ đối với người sáng tác và người làm phê bình hội hoạ). Phải chăng “cái đẹp” trong nghệ thuật luôn vận hành theo quy đến đâu, có lẽ vẫn còn là vấn đề mà tất cả chúng ta băn khoăn, chưa có luật, là sự kết hợp giữa yếu tố hữu lý và phi lý, giữa cái thực và cái hư lời giải đáp. mà liều lượng của những yếu tố ấy hoàn toàn phụ thuộc vào biệt tài cảm nhận của từng nghệ sỹ. Tóm lại, hình hoạ đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với người học Mỹ thuật. Nó không chỉ giúp người sáng tác hiểu được nguyên lý tạo 3. Đấy là hình hoạ đối với người sáng tác, còn hình hoạ đối hình cơ bản, mà còn giúp người làm phê bình căn cứ vào nguyên lý ấy với người làm phê bình mỹ thuật thì sao? cùng với cảm nhận chủ quan của mình để xem xét, đánh giá tác phẩm. Có người cho rằng, chỉ người sáng tác là cần quan tâm đến hình Tuy nhiên, bên cạnh việc giảng dạy hình hoạ, phải chăng trường Đại học hoạ, còn người làm phê bình Mỹ thuật thì không nhất thiết. Quan điểm Mỹ thuật cần quan tâm nhiều hơn nữa đến vốn mỹ thuật cổ và nghề này dẫn đến sự tách biệt, thiếu gắn kết giữa thực hành với lý thuyết, giữa truyền thống, bằng cách hướng dẫn sinh viên không chỉ chép lại, mà tác phẩm với người làm phê bình. Như trên đã đề cập, người làm phê (nếu có thể) cho sinh viên thực hành trên chất liệu thực như làm gốm, bình Mỹ thuật luôn lấy tác phẩm làm đối tượng nghiên cứu, mà cái “cốt” tạc lại một số phù điêu, làm vóc sơn mài Bởi lẽ, truyền thống luôn là là nguyên lý tạo hình được xây dựng thông qua nghiên cứu hình hoạ. Nói nền tảng cho mọi sáng tạo đích thực. cách khác, những nguyên lý tạo hình này có mối liên kết ngầm xuyên N.H.Đ suốt từ tác phẩm đến người làm phê bình và công chúng. Giống như việc ngày nay, máy vi tính có thể giúp chúng ta làm tính, viết thư từ, văn bản 188 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 189
  27. NGHIÊN CỨU HÌNH HỌA Ở NGA Họa sỹ Hoàng Anh ình họa không chỉ là một trong các loại hình của nghệ thuật tạo hình mà còn là nền tảng của tất cả các nghệ thuật tạo hình theo HChủ nghĩa Hiện thực, là sự đảm bảo, mở ra cho họa sỹ một khả năng vô biên và sự tự do trong việc thực hiện những ý tưởng nghệ thuật. Học tập, nghiên cứu hình họa là điều bắt buộc đối với sinh viên trong các trường mỹ thuật ở Nga. Toàn bộ quá trình tiếp nhận, tích lũy các kiến thức hàn lâm luôn đi cùng với việc giải quyết các hoạt động sáng tạo, nghiên cứu và nhận thức thế giới xung quanh, từ đó đưa chúng thành những hình tượng nghệ thuật. Trong quá trình giảng dạy môn hình họa, các trường mỹ thuật ở Nga luôn chú trọng cho sinh viên có ý thức, quan niệm đúng và sáng tạo đối với các di sản nghệ thuật (trường phái theo Chủ nghĩa Hiện thực Nga và thế giới). Đào tạo cho họa sỹ tương lai kỹ năng hiểu biết cấu trúc của hình và phát triển từ đó kỹ năng thể hiện một cách ý thức trong không gian. Để làm được điều đó sinh viên được trang bị kiến thức về giải phẫu, phối cảnh, kỹ thuật sử dụng chất liệu vẽ. Ngoài ra sinh viên được đào tạo 190 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 191
  28. khả năng khắc họa hình trong không gian bằng phương pháp hình họa, áo, trong các điều kiện chiếu sáng khác nhau. Sự chú ý đặc biệt được trong quá trình hoàn thành bài nghiên cứu lần lượt phải tuân thủ các dành cho đặc điểm mẫu, ngoài ra còn phải quan tâm đến sự hoàn thiện bước: (đẩy sâu các chi tiết chân dung và bàn tay). Ở cả năm 1 và năm 2 người Đặt hình trên giấy tỷ lệ của phần hình và phần nền, mầu tối và mẫu được đặt trên những phông nền là những mầu cơ bản giúp cho sinh sáng, nhịp điệu và chuyển động. viên dễ dàng phân tích sự va đập của mầu sắc, sự ảnh hưởng của vật mẫu Xây dựng hình một cách có cấu trúc và chuyển động với sự đặt tỷ lệ. được đặt trong các phông nền khác nhau dưới sự tương tác của ánh sáng Luận giải các hình dạng (những thuộc tính của nó) bằng những (hình họa mầu). đường nét sáng, tối mầu sắc. Mục đích của năm thứ 2 là hiểu sâu hơn về hình, cấu trúc cơ thể Kết quả là bài nghiên cứu ở đây, yêu cầu truyền đạt tính tạo hình người nên các bài nghiên cứu nhiều thời gian hơn, đan xen với những mẫu thực ở hình thức sống động, chắt lọc với ngôn ngữ tạo hình cao. Bài bài vẽ ngắn hạn từ những quan điểm khác nhau (vẫn mẫu đó) và phác vẽ phải đi từ cái chung đến cái cụ thể, từ cụ thể đến chính thể (chi tiết thảo theo trí tưởng tượng. Ở năm này sinh viên lần lượt học cách nghiên ở điều kiện chỉnh thể) và logic, sự vươn lên không ngừng đến sự biểu cứu hình họa với các chất liệu khác nhau (chì than, sang ghi, sơn dầu diễn hình, sự nghiêm túc, rõ ràng với tất cả các thuộc tính về chuyển tông sắc tông, đen - trắng, nâu van dich - trắng). Đây là những bài tập động, vật chất có nội dung. bắt buộc giúp cho sinh viên kĩ năng có thể làm việc với nhiều loại chất Ở tất cả các năm học, sinh viên được dành một số giờ học để vẽ các liệu khác nhau. bài ít thời gian, vẽ theo trí nhớ, vẽ theo yêu cầu của giảng viên. Copy các Kết thúc năm thứ 2 coi như kết thúc phần đại cương. Các sinh viên nghiên cứu của các họa sỹ bậc thầy để phát huy khả năng hiểu hình, sự sẽ có nguyện vọng và được xét vào học tại các xưởng khác nhau. Các chuyển động của đường nét. xưởng này mang tên các giáo sư chủ xưởng (sự xét tuyển do mỗi giáo sư Kết quả đào tạo hình họa ở những năm học đầu tiên (năm 1, 2) yêu chủ xưởng của mỗi sinh viên có nguyện vọng). Các xưởng này mang cầu sinh viên phải nắm được các kỹ năng, phương pháp của hình họa và những phong cách khác nhau do sự ảnh hưởng của giáo sư chủ xưởng dựa trên cơ sở kiến thức các kỹ năng đó làm bài có độ sâu và khó hơn ở đó. Những sinh viên được xét vào cùng một xưởng có tính cách gần với năm 3, 4, 5. Năm 1, 2 được coi là 2 năm đại cương. nhau trong sáng tạo và nghiên cứu, quan trọng hơn giữa thầy và trò có Ở năm thứ nhất đối tượng nghiên cứu là chân dung người, sinh cùng một hướng đi, quan hệ thầy trò hết sức gần gũi. Sinh viên hoàn viên được nghiên cứu cấu tạo đầu người, vẽ nó ở các góc độ, đạt tới sự toàn tin tưởng và kính trọng người thầy mà họ đã chọn, người sẽ hướng nghiên cứu kỹ về mặt cấu trúc, bản chất. Tất cả những kiến thức đó đều dẫn họ cho đến khi ra trường. là cơ sở để sau này làm việc với nhóm chân dung. Dưới sự chỉ đạo chung của giáo sư chủ xưởng và hai giáo sư phụ Với năm thứ hai đối tượng nghiên cứu chủ yếu của hình họa đen trách về hình họa và hội họa (hình họa sơn dầu) sinh viên năm thứ 3, trắng là thân hình con người: mẫu khỏa thân, nghiên cứu bàn tay, bàn 4, 5 làm việc chung với nhau. Vì vậy sự trao đổi và học tập kinh nghiệm chân, và quay lại làm việc với chân dung. Hình họa mầu của năm thứ 2 lẫn nhau dưới sự hướng dẫn của thầy là một môi trường tốt thúc đẩy tinh với yêu cầu tạo hình bán thân cơ thể người, mẫu khỏa thân và mặc quần thần cho mỗi sinh viên nhất là những sinh viên mới vào xưởng. 192 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 193
  29. Năm thứ 4, 5 các bài nghiên cứu nhiều thời gian đan xen với những bài vẽ nhanh với thế dáng phức tạp được đặt trong những không gian khác nhau. Sự so sánh các đặc điểm chân dung và mối liên hệ kết cấu tạo hình giữa chúng. Công việc với các tư thế nhóm nhằm chuẩn bị cho họa sỹ tương lai việc giải bài toán với các bức tranh. Để hoàn thành những bài nghiên cứu sinh viên phải làm phác thảo từ mẫu thực cho các ý tưởng của mình trong bài thể hiện. Ngoài những bài tập xuyên suốt quá trình nghiên cứu hình họa của sinh viên. Các trường mỹ thuật ở Nga còn đặc biệt chú ý tới sự đóng góp xây dựng ý kiến giữa các giảng viên. Giữa mỗi học kỳ của một năm học sẽ có một đợt xem bài của sinh viên. Ý nghĩa của nó không chỉ là góp ý cho sinh viên làm việc tốt hơn mà đây còn là dịp các giảng viên rút kinh nghiệm với nhau trong quá trình bày mẫu và hướng dẫn sinh viên. Làm cho chất lượng giảng dạy được nâng cao. Nhà trường cũng chú trọng tới sự thúc đẩy tinh thần học tập nghiên cứu của sinh viên. Hàng năm tổ bộ môn hình họa đều tổ chức các cuộc thi dành cho những bài nghiên cứu tốt của sinh viên, những bài này được lưu lại trong suốt quá trình một năm của toàn trường và được tổ chức triển lãm vào cuối năm chọn ra top 10 người vẽ hình họa tốt nhất, từ thứ nhất đến thứ mười. Bài vẽ nghiên cứu đứng vị trí thứ nhất sẽ được nhà trường lưu lại và treo trong bảo tàng của trường. Đây cũng là một phòng giáo cụ trực quan đầy sống động và bổ ích cho sinh viên trong quá trình nghiên cứu môn hình họa. H.A 194 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 195
  30. CHƯƠNG TRÌNH DẠY ĐẠI HỌC CỦA TRƯỜNG NGHỆ THUẬT THỊ GIÁC VÀ TRUYỀN THÔNG - UQÀM, CANADA TS. Họa sỹ Đặng Thị Bích Ngân rường Nghệ thuật Thị giác và Truyền thông (NTTG & NTTT) tiền thân là Trường Mỹ thuật Montréal, năm 1969 được sát nhập vào TTrường Đại học Tổng hợp Québec ở Montréal. Trường nằm trên phố Sainte-Catherine thuộc tòa nhà (pavillon) Judith-Jasmin. “Nơi đây đặc biệt tốt, luôn cách tân và năng động về đào tạo trong lĩnh vực sáng tác và giảng dạy NTTG & NTTT. Chất lượng đào tạo nghệ sỹ chuyên sâu, tập trung vào những hoạt động sáng tác, giảng dạy, nghiên cứu qua thực hành và các phương pháp sư phạm. Bên cạnh đó thu nhận được những hoạt động và tiến triển của môi trường nghệ thuật. Chương trình vừa thực hành vừa kết hợp với lý thuyết, sinh viên biết cách đặt vấn đề và đưa ra các dự án, cho phép họ phát triển và tự bình luận về những thành tựu nghệ thuật của họ”. Trường Nghệ thuật Thị giác và Truyền thông là một trong những trường đại học có tuổi đời cao nhất Canada, có mối liên kết giáo dục với châu Âu, châu Phi, châu Á và Nam Mỹ. Chất lượng giáo dục được xếp hạng ưu trong các trường đại học thuộc Bắc Mỹ. 196 Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật Hình họa trong đào tạo Mỹ thuật 197