Giáo trình Định mức kỹ thuật và đơn giá
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Định mức kỹ thuật và đơn giá", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
giao_trinh_dinh_muc_ky_thuat_va_don_gia.pdf
Nội dung text: Giáo trình Định mức kỹ thuật và đơn giá
- LỜI NÓI ĐẦU Để phục vụ công tác giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành kinh tế xây dựng thủy lợi và làm tài liệu tham khảo cho các kỹ sư kinh tế thủy lợi, các cán bộ nghiên cứu, các cán bộ quản lý xây dựng cơ bản trong ngành, bài giảng định mức kỹ thuật và đơn giá – dự toán trong xây dựng được biên soạn gồm hai phần với mười chương. Tác giả với mong muốn giúp bạn đọc có được một số kiến thức cơ bản trong tổ chức lao động và quản lý xây dựng cơ bản phù hợp với cơ chế định giá và quản lý xây dựng hiện hành, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của ngành trong công cuộc đổi mới của đất nước nói chung và đổi mới trong công tác quản lý xây dựng cơ bản nói riêng. Tuy đã có nhiều cố gắng song bài giảng chưa đề cập hết mọi vấn đề và chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Vậy mong được sự góp ý bổ sung và xây dựng của bạn đọc, Tác giả xin chân thành cảm ơn. 1
- MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1 PHẦN 1 ĐỊNH MỨC KỸ THUẬT TRONG XÂY DỰNG 6 CHƯƠNG 1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ NỘI DUNG ĐỊNH MỨC KỸ THUẬT TRONG XÂY DỰNG 6 1.1 NHữNG KHÁI NIệM CƠ BảN VÀ PHÂN LOạI ĐịNH MứC Kỹ THUậT 6 1.1.1 Những khái niệm cơ bản 6 1.1.2 Phân loại định mức kỹ thuật 7 1.2 VAI TRÒ, NHIệM Vụ CủA ĐịNH MứC Kỹ THUậT LAO ĐộNG 7 1.3 QUÁ TRÌNH XÂY DựNG, SảN PHẩM XÂY DựNG 9 1.3.1 Quá trình xây dựng và cơ cấu của quá trình xây dựng 9 1.3.2 Sản phẩm xây dựng 12 CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỜI GIAN LÀM VIỆC - CÁC ĐỊNH MỨC 14 KỸ THUẬT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14 2.1 PHÂN TÍCH CHI PHÍ THờI GIAN LÀM VIệC 14 2.1.1 Thời gian làm việc của công nhân 15 2.1.2 Phân tích thời gian sử dụng máy: 17 2.2 CÁC ĐịNH MứC Kỹ THUậT VÀ MốI LIÊN Hệ GIữA CHÚNG 20 2.2.1 Định mức thời gian và định mức lao động : 20 2.2.2 Định mức sản lượng: 21 2.2.3 Định mức thời gian sử dụng máy: 22 2.2.4 Định mức năng suất của máy: 22 2.3 CÁC NHÂN Tố ảNH HƯởNG ĐếN NĂNG SUấT LAO ĐộNG VÀ CÁC CHỉ TIÊU ĐÁNH GIÁ MứC Độ THựC HIệN CÁC ĐịNH MứC 22 2.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động : 22 2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá mức độ thực hiện các định mức : 23 2.4 CÁC KHÁI NIệM LIÊN QUAN ĐếN QUÁ TRÌNH XÂY LắP 23 2.5 CÁC PHƯƠNG PHÁP XÂY DựNG ĐịNH MứC 25 2.5.1 Phương pháp phân tích định mức kỹ thuật 25 2.5.2 Phương pháp tổng hợp định mức : 25 CHƯƠNG 3 CÁC PHƯƠNG PHÁP QUAN SÁT, CHỈNH LÝ SỐ LIỆU KHI NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG 27 3.1 NGHIÊN CứU QUÁ TRÌNH XÂY DựNG VÀ CÁC HÌNH THứC QUAN SÁT 27 3.1.1 Phân loại hình thức quan sát 27 3.1.2 Các công tác chuẩn bị trước khi tiến hành quan sát 28 3.2 CÔNG Cụ NGHIÊN CứU THờI GIAN LÀM VIệC 31 3.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP QUAN SÁT 32 3.3.1 Phương pháp thống kê kỹ thuật 32 3.3.2 Phương pháp chụp ảnh quá trình 34 3.3.3 Phương pháp bấm giờ 35 3.4 CHỉNH LÝ KếT QUả QUAN SÁT ĐịNH MứC 37 3.4.1 Chỉnh lý kết quả quan sát bằng phương pháp chụp ảnh quá trình : 37 3.4.2 Chỉnh lý kết quả quan sát bằng phương pháp bấm giờ : 38 2
- CHƯƠNG 4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TỔN THẤT VÀ LÃNG PHÍ THỜI GIAN TRONG XÂY DỰNG 43 4.1 PHÂN LOạI CÁC TổN THấT VÀ LÃNG PHÍ THờI GIAN TRONG XÂY DựNG 44 4.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CứU CHO TừNG LOạI TổN THấT THờI GIAN 45 4.2.1 Phương pháp nghiên cứu tổn thất thời gian trọn ca : 45 4.2.2 Phương pháp nghiên cứu tổn thất thời gian làm việc không trọn ca (nội bộ ca) 46 4.2.3 Tổng kết tổn thất và lãng phí thời gian 47 4.3 CHụP ảNH NGÀY LÀM VIệC VÀ THờI GIAN Sử DụNG MÁY 47 4.3.1 Phương pháp chụp ảnh ngày làm việc và thời gian sử dụng máy 47 4.3.2 Cách xác định số lần chụp ảnh ngày làm việc: 51 CHƯƠNG 5 LẬP ĐỊNH MỨC KỸ THUẬT LAO ĐỘNG 54 5.1 TÍNH TOÁN ĐịNH MứC CHO CÔNG TÁC TÁC NGHIệP 54 5.2 TÍNH TOÁN ĐịNH MứC CHO CÔNG TÁC CHUẩN Bị, CÔNG TÁC KếT THÚC 56 5.3 TÍNH TOÁN ĐịNH MứC THờI GIAN NGHỉ GIảI LAO VÀ NHU CầU CÁ NHÂN 57 5.4 TÍNH TOÁN ĐịNH MứC THờI GIAN NGừNG VIệC VÌ LÝ DO Kỹ THUậT THI CÔNG 58 5.5 TÍNH ĐịNH MứC LAO ĐộNG CHO MộT ĐƠN Vị SảN PHẩM 59 CHƯƠNG 6 XÂY DỰNG ĐỊNH MỨC THỜI GIAN SỬ DỤNG MÁY 60 6.1 XÁC ĐịNH NĂNG SUấT CủA MÁY SAU MộT GIờ LÀM VIệC THUầN TUÝ VÀ LIÊN TụC 60 6.2 NộI DUNG CHủ YếU CủA GIAI ĐOạN THIếT Kế THÀNH PHầN Tổ CÔNG NHÂN 61 6.3 MộT Số VÍ Dụ VÀ CÔNG THứC TÍNH ĐịNH MứC CHO MộT Số LOạI MÁY CHÍNH 63 6.3.1 Định mức cho máy trộn bê tông : 63 6.3.2 Định mức cho máy xúc gầu thuận : 65 6.3.3 Định mức cho máy băng truyền 65 CHƯƠNG 7 ĐỊNH MỨC VẬT LIỆU TRONG XÂY DỰNG 66 7.1 NHIệM Vụ CủA ĐịNH MứC TIÊU DÙNG VậT LIệU TRONG XÂY DựNG 66 7.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP XÂY DựNG ĐịNH MứC TIÊU DÙNG VậT LIệU 67 7.3 NHữNG BIệN PHÁP CƠ BảN Để NÂNG CAO VIệC Sử DụNG VậT LIệU 68 7.3.1 Nhóm biện pháp liên quan đến quá trình vận chuyển: 68 7.3.2 Nhóm biện pháp liên quan đến việc bảo quản trong kho: 68 7.3.3 Nhóm biện pháp liên quan đến quá trình gia công vật liệu: 69 7.3.4 Nhóm biện pháp liên quan đến việc lắp đặt vật liệu vào công trình: 69 PHẦN 2 ĐƠN GIÁ - DỰ TOÁN TRONG XÂY DỰNG 69 CHƯƠNG 8 ĐƠN GIÁ XÂY DỰNG 69 8.1 KHÁI NIệM, PHÂN LOạI, NộI DUNG CủA ĐƠN GIÁ XÂY DựNG 69 8.1.1 Khái niệm: 69 8.1.2 Phân loại đơn giá xây dựng 70 8.1.2.1 Phân theo mức độ tổng hợp của đơn vị tính đơn giá 70 8.1.2.2 Phân theo phạm vi sử dụng: 70 8.1.3 Nội dung của đơn giá xây dựng 71 8.1.3.1 Chi phí vật liệu 71 8.1.3.2 Chi phí nhân công 71 8.1.3.3 Chi phí máy thi công 71 8.2 NGUYÊN TắC LậP ĐƠN GIÁ XÂY DựNG 71 8.3 CĂN Cứ LậP ĐƠN GIÁ XÂY DựNG 72 3
- 8.4 TRÌNH Tự LậP ĐƠN GIÁ XÂY DựNG 73 8.4.1 Trình tự lập đơn giá chi tiết 73 8.4.2 Trình tự lập đơn giá chi tiết dầy đủ 73 8.5 PHƯƠNG PHÁP TÍNH ĐƠN GIÁ XÂY DựNG 73 8.5.1 Tính toán đơn giá chi tiết: 73 8.5.2 Tính toán đơn giá chi tiết đầy đủ 75 8.5.3 Tổng hợp kết quả tính toán và ban hành áp dụng 76 CHƯƠNG 9 GIÁ DỰ TOÁN VẬT LIỆU XÂY DỰNG 76 9.1 GIÁ MUA VậT LIệU : 76 9.2. CHI PHÍ LƯU THÔNG 77 9.2.1 Chi phí vận chuyển : 77 9.2.2 Chi phí lưu thông khác : 78 9.3 CHI PHÍ TạI HIệN TRƯờNG XÂY LắP: 79 CHƯƠNG 10 DỰ TOÁN TRONG XÂY DỰNG 81 10.1 CÁC KHÁI NIệM GIÁ Cả, Ý NGHĨA VÀ VAI TRÒ CủA Dự TOÁN TRONG XÂY DựNG 81 10.1.1 Các khái niệm 81 10.1.2 Đặc điểm sản phẩm xây dựng ảnh hưởng đến giá xây dựng 82 10.1.3 Ý nghĩa và vai trò của dự toán trong xây dựng 83 10.2 TổNG MứC ĐầU TƯ 84 10.2.1 Nội dung tổng mức đầu tư dự án đầu tư xây dựng công trình 84 10.2.2 Phương pháp xác định tổng mưc đầu tư 85 10.2.2.1 Phương pháp xác định theo thiết kế cơ sở của dự án 85 10.2.2.2. Xác định chi phí thiết bị 85 10.2.2.3. Xác định chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 86 10.2.2.4. Xác định chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng và các chi phí khác 86 10.2.2.5. Xác định chi phí dự phòng 86 10.2.3 Phương pháp tính theo diện tích hoặc công suất sản xuất, năng lực phục vụ của công trình và giá xây dựng tổng hợp, suất vốn đầu tư xây dựng công trình 87 10.2.3.1. Xác định chi phí xây dựng 87 10.2.3.2. Xác định chi phí thiết bị 88 10.2.3.3. Xác định các chi phí khác 88 10.2.4. Phương pháp xác định theo số liệu của dự án có các công trình xây dựng có chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật tương tự đã thực hiện 88 10.2.4.1. Trường hợp có đầy đủ thông tin, số liệu 88 10.2.4.2. Trường hợp với nguồn số liệu 89 10.2.5. Phương pháp kết hợp để xác định tổng mức đầu tư 89 10.3 Dự TOÁN CÔNG TRÌNH (TổNG Dự TOÁN) 89 10.3.1 Nội dung dự toán xây dựng công trình 89 10.3.1.1 Chi phí xây dựng (Dự toán xây lắp): (GXD) 89 10.3.1.2 Chi phí thiết bị: (GTB) 90 10.3.1.3 Chi phí quản lý dự án: (GQLDA) 90 10.3.1.4 Chi phí tư vấn: (GTV) 90 10.3.1.5 Chi phí khác (GK): 91 10.3.1.6 Chi phí dự phòng: (GDP) 91 10.3.2 Các căn cứ lập dự toán công trình: 91 10.3.3 Phương pháp lập dự toán công trình 91 10.3.3.1. Xác định chi phí xây dựng (GXD) 92 10.3.3.2. Xác định chi phí thiết bị (GTB) 93 4
- 10.3.3.3. Xác định chi phí quản lý dự án (GQLDA) 94 11.3.3.4. Xác định chi phí tư vấn đầu tư xây dựng (GTV) 94 10.3.3.5. Xác định chi phí khác (GK) 94 10.3.3.6. Xác định chi phí dự phòng (GDP) 95 10.4 CHI PHÍ XÂY DựNG CÔNG TRÌNH (Dự TOÁN XÂY LắP) 96 10.4.1. Nội dung 96 10.4.2 Căn cứ để tính chi phí xây dựng: 99 10.4.3 Trình tự chung tiến hành lập chi phí xây dựng 99 10.4.4 Phương pháp tính chi phí xây dựng 99 10.4.4.1 Chi phí xây dựng công trình tính theo đơn giá chi tiết (Đơn giá xây dựng cơ bản khu vực) 99 10.4.4.2 Chi phí xây dựng công trình tính theo đơn giá chi tiết đầy đủ (Đơn giá lập tại thời điểm tính toán) hoặc tính theo đơn giá chiết tính 104 10.4.5 TINH TOAN KHốI LƯợNG CONG TRINH 104 5
- PHẦN 1 ĐỊNH MỨC KỸ THUẬT TRONG XÂY DỰNG CHƯƠNG 1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ NỘI DUNG ĐỊNH MỨC KỸ THUẬT TRONG XÂY DỰNG 1.1 Những khái niệm cơ bản và phân loại định mức kỹ thuật 1.1.1 Những khái niệm cơ bản Với phương châm không ngừng tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã và hạ giá thành sản phẩm là điều kiện chủ yếu và quyết định để nền kinh tế phát triển và lớn mạnh. Sự hoàn thiện về tổ chức lao động, phương thức quản lý trong ngành xây dựng là một trong những điều kiện quan trọng để nâng cao không ngừng năng suất lao động, tạo ra nhiều sản phẩm hợp thị hiếu và chất lượng cao đáp ứng mọi nhu cầu cho xã hội trong nền kinh tế thị trường. Mục đích cơ bản của sự hợp lý hoá tổ chức lao động là tiết kiệm lao động, tiết kiệm vật tư, bằng phương thức nâng cao hiệu suất sử dụng máy móc, thiết bị và công cụ lao động, đồng thời giả m chi phí lao động sống cho việc tạo ra một đơn vị sản phẩm. Bộ phận chính để thực hiện tổ chức lao động hợp lý là công tác định mức kỹ thuật lao động, được xây dựng trên cơ sở những thành tựu mới của khoa học kỹ thuật và những kinh nghiệm sản xuất tiên tiến. Định mức kỹ thuật có tác dụng rất quan trọng đối với việc nâng cao trình độ thi công và hạ thấp giá thành công trình, là một công cụ không thể thiếu được trong công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản. Người ta có thể đưa ra các cách định nghĩa khác nhau về định mức kỹ thuật như sau: - Định mức kỹ thuật là tiêu chuẩn do Nhà nước, địa phương, doanh nghiệp hoặc công trường quy định, nó phản ánh trình độ sản xuất của các ngành nghề trong từng giai đoạn nhất định. Định mức kỹ thuật trong xây dựng dùng để khống chế việc sử dụng tiền vốn, vật tư, thiết bị, máy móc, nhân lực một cách hợp lý. Trong sản xuất xây dựng thì định mức kỹ thuật là tiêu chuẩn biểu thị mối quan hệ giữa sự tiêu dùng nguồn tài nguyên (nhân lực, vật liệu, máy móc thiết bị xây dựng ) với số lượng sản phẩm có chất lượ ng, hợp quy cách trong điều kiện tổ chức thi công hợp lý. - Xác định được chính xác hao phí thời gian lao động, thời gian sử dụng máy, khối lượng vật liệu cần thiết để hoàn thành một sản phẩm xây dựng (một đơn vị công tác xây lắp) nào đó, gọi là định mức kỹ thuật, là nhiệm vụ của công tác định mức kỹ thuật trong xây dựng. - Các định mức được lập ra trên cơ sở chia quá trình sản xuất thành các bộ phận, loại bỏ những phần thừa và hợp lý hoá các bước công việc, biến quá trình sản xuất thành tiêu chuẩn, dùng các phương pháp khoa học kỹ thuật để thu thập số liệu, xử lý và xác định tính hợp lý của nó, những định mức như thế có căn cứ khoa học lỹ thuật thì được gọi là định mức kỹ thuật. 6
- 1.1.2 Phân loại định mức kỹ thuật a) Phân theo yếu tố chi phí - Định mức lao động : Định mức lao động là mức quy định lượng lao động cần thiết để hoàn thành một đơn vị công tác xây lắp nào đó trong điều kiện tổ chức kỹ thuật nhất định với công nhân có trình độ chuyên môn tương ứng. - Định mức thời gian : Định mức thời gian là mức quy định thời gian làm việc cần thiết để hoàn thành một đơn vị công tác xây lắp nào đó trong điều kiện tổ chức kỹ thuật và công nghệ thi công nhất định. - Định mức tiêu dùng vật liệu : Định mức vật liệu là mức hao phí vật liệu quy định cần thiết để hoàn thành một đơn vị công tác xây lắp nào đó. b) Phân theo hình thức trình bày - Định mức lao động - Định mức sản lượng : là mức quy định lượng sản phẩm đạt chất lượng, hợp quy cách được tạo thành bởi quá trình sản xuất sau một đơn vị thời gian làm việc. c) Phân theo mục đích phục vụ cho công tác quản lý - Định mức sản xuất (định mức thi công) : là định mức phục vụ cho công tác quản lý, điều hành trong quá trình thi công. - Định mức dự toán xây dựng cơ bản : là định mức dùng để lập đơn giá dự toán xây dựng cơ bản, phục vụ công tác quản lý đầu tư xây dựng. d) Phân theo phạm vi ứng dụng - Định mức thống nhất : là định mức được áp dụng chung cho cả nước. - Định mức ngành : là định mức chỉ được áp dụng riêng cho từng ngành. - Định mức khu vực : là định mức chỉ được áp dụng riêng cho từng khu vực (Tỉnh, Thành phố, Đặc khu). - Định mức nội bộ : là định mức chỉ áp dụng trong nội bộ như Tổng công ty, Công ty, Xí nghiệp, Nhá máy, Công trường 1.2 Vai trò, nhiệm vụ của định mức kỹ thuật lao động 1.2.1 Vai trò của định mức kỹ thuật lao động trong việc tổ chức lao động và kế hoạch hóa sản xuất. Định mức kỹ thuật lao động có vai trò rất quan trọng đối với việc tổ chức lao động và kế hoạch hóa sản xuất của các doanh nghiệp xây dựng. Tất cả các hoạt động như tổ chức lao động hợp lý nhằm phân phối các công việc theo sự thống nhất của quá trình thi công, 7
- theo khối lượng, tính chất phức tạp và khả năng thực hiện của nó . Sự bố trí công nhân theo nơi làm việc phù hợp với trình độ của họ và cấp bậc công việc. Việc xác định hình thức tổ chức lao động hợp lý cho các loại công việc khác nhau (cá nhân, nhóm, tổ ) và tổ chức nơi làm việc. Sự cấu tạo hợp lý ca kíp và nội quy sản xuất. Việc áp dụng những phương pháp lao động tiên tiến và tổ chức thi đua xã hội chủ nghĩa v.v đều trực tiếp hay gián tiếp gắn liền với định mức lao động. Định mức kỹ thuật lao động là cơ sở của sự hoàn thiện tổ chức lao động trong các doanh nghiệp và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Định mức kỹ thuật lao động có ý nghĩa đặc biệt đối với kế hoạch hoá sản xuất của doanh nghiệp. Kế hoạch của các doanh nghiệp được lập ra trên cơ sở toàn bộ hệ thống định mức: định mức lao dộng, định mức sử dụng máy móc thiết bị, định mức tiêu dùng nguyên vật liệu, định mức về tổ chức quá trình sản xuất và tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm Nội dung Nhiệm vụ của công tác định mức kỹ thuật là dùng phương pháp khoa học để nghiên cứu sự quan hệ giữa số lượng sản phẩm với sự tiêu hao cần thiết về nhân lực và vật lực, định ra một tiêu chuẩn hợp lý trong sản xuất xây dựng, không ngừng tăng năng suất lao động và giảm giá thành xây dựng. Nhiệm vụ cơ bản của công tác định mức kỹ thuật lao động là phát hiện và sử dụng một cách đầy đủ nhất mọi khả năng tiềm tàng trong quá trình sản xuất để ngày càng hoàn thiện và phát triển nền sản xuất xã hội, đồng thời không ngừng nâng cao năng suất lao động. Nhiệm vụ đó đã xác định nội dung sau đây của định mức kỹ thuật lao động trong các doanh nghiệp xây dựng. - Nghiên cứu tổ chức quá trình sản xuất, tổ chức lao động và chi phí thời gian làm việc của công nhân với mục đích hoàn thiện và đưa vào sản xuất những hình thức tổ chức lao động hợp lý, làm phương hướng cho việc nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm và cải thiện điều kiện lao động. - Xác định chi phí thời gian của công nhân cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ công tác (định mức thời gian) hay số lượng sản phẩm cần tạo ra trong một thời gian nhất định (định mức sản lượng) thích ứng với điều kiện kỹ thuật và tổ chức sản xuất hiện tại. - Tạo điều kiện tổ chức tiền lương của công nhân phù hợp với nguyên tắc phân phối theo số lượng và chất lượng lao động. - Nghiên cứu phương pháp lao động tiên tiến tạo điều kiện phổ biến chúng một cách rộng rãi. Nguyên tắc của công tác định mức kỹ thuật lao động. Quan điểm của nhà nước với định mức : Định mức kỹ thuật lao động cần biểu thị chi phí xã hội cần thiết về thời gian lao động của công nhân với một trình độ sản xuất, tổ chức lao động nào đó và xuất phát 8
- không chỉ về số lượng là bao nhiêu mà còn biểu thị trách nhiệm đối với lao động của người tham gia sản xuất. - Tính chất khoa học và tiên tiến của định mức : Định mức lao động cần nâng cao không ngừng năng suất lao động trên cơ sở sử dụng đầy đủ khả năng sản xuất của máy móc thiết bị và thời gian làm việc của công nhân. Nó cần được xây dựng trên cơ sở áp dụng một cách có kết quả vào sản xuất những tiến bộ khoa học kỹ thuật, những kinh nghiệm sản xuất tiên tiến và sự tổ chức hợp lý. - Tính hiện thực của định mức : Định mức phải được xây dựng trên cơ sở phân tích nghiên cứu chính xác và khách quan những điều kiện sản xuất có đầy đủ biện pháp tổ chức kỹ thuật đảm bảo thực hiện và phải thu hút được đông đảo quần chúng tham gia xây dựng và thực hiện. - Sự bao hàm của định mức đối với tất cả các loại lao động : Cần phải tiến hành xây dựng định mức cho tất cả các loại lao động thuộc các bộ phận trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Có như vậy mới đảm bảo giải quyết được toàn bộ các vấn đề về tổ chức sản xuất tổ chức lao động và tiền lương, kế hoạch hoá lao động - Sự thống nhất trong nền kinh tế quốc dân : Đối với những công việc như nhau, thực hiện trong những điều kiện tương tự , cần xác định những định mức như nhau nhằm mục đích tuân theo đúng sự tương quan với tiền lương trả cho lao động. 1.3 Quá trình xây dựng, sản phẩm xây dựng 1.3.1 Quá trình xây dựng và cơ cấu của quá trình xây dựng a) Phân loại quá trình xây dựng Quá trình xây dựng trước hết là quá trình lao động, tức là hoạt động có ích của con người, trong quá trình đó có sự giúp đỡ của máy móc thiết bị, con người tác động và biến đổi các đối tượng lao động thành những sản phẩm vật chất cho xã hội. Trong xây dựng Thủy lợi sản phẩm vật chất là những hồ chứa nước, những hệ thống kênh mương , những trạm bơm tưới tiêu, những tuyến đê bao mới xây dựng hoặc xây dựng lại. Quá trình xây dựng bao gồm nhiều loại công tác khác nhau như công tác đất, công tác bê tông, công tác xây gạch đá, công tác lắp gép kết cấu bê tông đúc sẵn, công tác lắp đặt thiết bị máy móc mỗi công tác hoàn thành sẽ tạo ra sản phẩm tương ứng. Nghiên cứu quá trình xây dựng là xuất phát điểm của công tác định mức kỹ thuật. Mục đích của việc nghiên cứu quá trình xây dựng là để tổ chức quá trình đó hợp lý, đảm bảo cho các công tác được phối hợp chặt chẽ với nhau, tổ chức lao động hợp lý đúng đắn, nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của công nhân, sử dụng tối đa công suất của máy móc thiết bị, làm cho năng suất lao động được không ngừng nâng cao. Mỗi quá trình xây dựng có đặc điểm, tính chất khác nhau, đặc tính của mỗi quá trình tuỳ thuộc vào loại sản phẩm xây dựng, vật liệu, chi tiết, kết cấu và biện pháp thi công. 9
- - Tuỳ thuộc vào loại sản phẩm xây dựng và vật liệu, chi tiết sử dụng trong quá trình chế tạo ra nó, các quá trình xây dựng có thể phân loại như sau : + Quá trình phục vụ: Là quá trình thực hiện những công tác tổ chức phục vụ cho nơi làm việc, cung cấp đầy đủ, kịp thời nguyên vật liệu, bán thành phẩm, các công cụ, dụng cụ lao động, nhằm đảm bảo cho quá trình xây dựng được liên tục. Quá trình phục vụ chia làm 2 loại : Phục vụ công nghệ: Chế tạo, sửa chữa các công cụ, dụng cụ, cung cấp đến nơi làm việc. Chuẩn bị vật liệu và bán thành phẩm , cung cấp điện, nước, chất đốt + Quá trình vận tải : Bao gồm quá trình xếp dỡ, vận chuyển vật liệu và chi tiết đến nơi làm việc và trong phạm vi làm việc. + Quá trình xây lắp : là quá trình trực tiếp xây dựng và lắp đặt các kết cấu bộ phận công trình hay hoàn thành các công tác riêng biệt. Quá trình xây lắp được chia thành: Quá trình xây dựng: bao gồm việc xây dựng các kết cấu từ những vật liệu, chi tiết, mà trong quá trình thực hiện có thể làm thay đổi hình dáng, tính chất của chúng. Ví dụ: Quá trình xây tường , quá trình bê tông cốt thép móng, quá trình lát mái kênh Quá trình lắp đặt : Sản phẩm của quá trình này tạo ra bằng cách lắp gép các chi tiết, cấu kiện gia công sẵn mà trong quá trình thực hiện không làm thay đổi hình dáng, tính chất của chúng. Ví dụ: Quá trình lắp ghép pa nen, quá trình lắp đặt ống cống, quá trình lắp dựng vì kéo thép + Quá trình hoàn thiện: là những quá trình để hình thành lớp bảo vệ kết cấu và tạo dáng kiến trúc bề mặt sản phẩm. Ví dụ : Quá trình trát tường, quá trình trồng cỏ mái đập - Tuỳ theo ý nghĩa thực hiện quá trình xây dựng có thể phân loại như sau: + Quá trình chính : là quá trình trực tiếp tạo ra sản phẩm chính. Ví dụ: quá trình bê tông cống, quá trình xây tường cánh, quá trình xây đá tường chắn + Quá trình phụ : là quá trình không trực tiếp tạo ra sản phẩm chính mà chỉ có tác dụng phục vụ, hỗ trợ cho việc hoàn thành quá trình chính. Ví dụ: quá trình đào kênh dẫn dòng, quá trình tiêu nước hố móng, quá trình lắp giàn giáo, quá trình làm đường thi công + Quá trình chuẩn bị : là quá trình liên quan đến việc tổ chức các điều kiện cần thiết để hoàn thành các công tác chính và phụ. Ví dụ: chuẩn bị mặt bằng xây dựng, lấy mốc cắm tuyến, tập kết thiết bị máy móc, vật liệu đến công trường - Tuỳ theo sự diễn biến của quá trình người ta phân quá trình xây dựng như sau: + Quá trình chu kỳ : là quá trình được thực hiện bởi sự lặp đi lặp lại của các phần tử chu kỳ sau một thời gian và trình tự nhất định. Kết quả của mỗi một chu kỳ là tạo ra một số lượng sản phẩm như nhau. Trong quá trình chu kỳ có thể có một số phần tử không chu kỳ. Ví dụ: quá trình đào hố móng bằng máy xúc một gầu, các phần tử chu kỳ là lấy đất vào 10
- gầu, nâng gầu, quay gầu về vị trí đổ, đổ đất, quay gầu và hạ gầu về vị trí đào, còn phần tử không chu kỳ là việc di chuyển máy xúc trong hố móng. + Quá trình không chu kỳ : là quá trình mà khi thực hiện tất cả các phần tử của quá trình không lặp lại sau một thời gian và trình tự nhất định, sản phẩm hoàn thành thường không bằng nhau. - Tuỳ theo biện pháp thi công quá trình xây dựng được phân như sau: + Quá trình thủ công: là quá trình mà người công nhân thực hiện bằng năng lượng của chính mình không có hoặc có sử dụng các công cụ lao động thi công. Ví dụ: đào đất bằng thủ công, xây tường gạch chỉ, đóng cọc tre + Quá trình bán cơ giới hoá : là quá trình trong đó một phần các bước công việc được thực hiện bằng máy, một phần khác thực hiện bằng thủ công hay sử dụng các công cụ lao động. Ví dụ: quá trình đổ bê tông tại chỗ trộn và đầm bằng máy, quá trình lắp ghép cấu kiện bê tông đúc sẵn bằng cần cẩu + Quá trình cơ giới hoá : là quá trình mà tất cả các bước công việc của chúng đều do máy thực hiện , công nhân chỉ làm nhiệm vụ điều khiển máy hoạt động theo đúng quy trình công nghệ thi công. Ví dụ: quá trình đào đất bằng máy xúc, quá trình đào và vận chuyển đất bằng máy cạp Trong công tác đắp đất (thi công đập đất, đắp đê) có quá trình cơ giới hoá tổng hợp (dây chuyền CGH) sử dụng một tổ hợp xe máy gồm máy đào, ô tô vận chuyển, máy san, máy đầm. + Quá trình tự động hoá : là quá trình mà tất cả các bước công việc do một hay một số máy thực hiện không có sự tham gia của công nhân. Quá trình được thực hiện theo một chương trình đã lập sẵn với quy trình công nghệ và cả về mặt tổ chức. - Tuỳ theo hình thức tổ chức lao động quá trình xây dựng được phân loại như sau: + Quá trình đơn lẻ : là một quá trình do một công nhân thực hiện. Ví dụ: quá trình hàn điện. + Quá trình tập thể (tổ, đội) : là quá trình do một số công nhân thực hiện. Ví dụ: Quá trình xây tường, quá trình lắp gép cấu kiện bê tông đúc sẵn b) Cơ cấu của quá trình xây dựng Để giải quyết các nhiệm vụ của công tác định mức kỹ thuật lao động như xây dựng định mức mới, nghiên cứu phương pháp lao động tiên tiến vv Việc nghiên cứu quá trình xây dựng được tiến hành bằng cách phân chia quá trình xây dựng thành những bộ phận cấu thành của nó. Việc nghiên cứu như vậy cho phép xác định được những tính chất quy luật ảnh hưởng đến trị số chi phí lao động và chi phí thời gian sử dụng máy. Các thành phần trong cơ cấu quá trình xây dựng bao gồm : - Quá trình tổng hợp: là đơn vị lớn nhất của quá trình thi công bao gồm mộ t số quá trình giản đơn và các quá trình giản đơn này có quan hệ mật thiết trong công nghệ và tổ chức thi công nhằm tạo ra sản phẩm cuối cùng. 11
- - Quá trình đơn giản: là một bộ phận của quá trình tổng hợp bao gồm một số phần việc có liên quan chặt chẽ trong công nghệ và tổ chức thi công. - Phần việc ( trong cơ khí gọi là nguyên công) : là một bộ phận của quá trình đơn giản. Ví dụ: Quá trình bê tông cốt thép là quá trình tổng hợp bao gồm các quá trình đơn giản: - Cốt thép (kg) - Ván khuôn (m2) (Sản phẩm cuối cùng m3 BT thành phẩm) - Đổ bê tông (m3) Đổ bê tông là quá trình đơn giản bao gồm các phần việc: - Trộn BT (m3) - Vận chuyển BT (m3) - Đổ BT (m3) - Đầm BT (m3) Phần việc có đặc tính là không thể phân chia về mặt tổ chức thi công, không thay đổi về công nhân, công cụ lao động và đối tượng lao động. Nhưng theo cơ cấu về lao động thì có thể tiếp tục phân chia phần việc ra như sau: - Thao tác: là một bộ phận của phần việc bao gồm một số động tác trọn vẹn của một vài bộ phận cơ thể một công nhân hoạt động. Ví dụ: Đưa máy đầm vào vị trí đầm. - Động tác: là một bộ phận của thao tác bao gồm một số cử động liên tiếp của một vài bộ phận của cơ thể một công nhân. Ví dụ: - Nhấc máy đầm lên, đưa máy đầm vào vị trí. - Cử động: là một sự di chuyển bất kỳ nào đó của cơ thể một công nhân - Cử động là đơn vị nhỏ nhất khi phân chia các quá trình lao động ra bộ phận hợp thành. Ví dụ : Đưa tay về máy đầm - các ngón tay cầm lấy máy đầm 1.3.2 Sản phẩm xây dựng Sản phẩm của quá trình xây dựng là kết quả của sự thay đổi vị trí trong không gian hay của sự thay đổi hình giáng, kích thước, đặc tính cơ lý của các đối tượng lao động. Trong công tác định mức kỹ thuật sản phẩm xây dựng được phân chia thành các loại sau: - Sản phẩm ban đầu : là kết quả hoàn thành của một phần việc. Sản phẩm ban đầu có thể tính bằng đơn vị đo hiện vật hoặc đo bằng số lượng phần việc đã hoàn thành. Ví dụ: quá trình xây tường 22cm bằng gạch chỉ gồm các phần việc và khi hoàn thành mỗi phần việc sẽ tạo ra sản phẩm ban đầu : + Vận chuyển gạch : sản phẩm ban đầu là số viên gạch đã vận chuyển + Trộn và vận chuyển vữa : sản phẩm ban đầu là số lít vữa đã trộn và vận chuyển + Căng dây mức : sản phẩm ban đầu là số lần chuyển dây + Xây : sản phẩm ban đầu là số m3 tường đã xây thô 12
- - Sản phẩm hoàn thành: là kết quả của việc hoàn thành một quá trình xây dựng đơn giản. Sản phẩm được tính bằng đơn vị đo hiện vật. Ví dụ : quá trình xây tường 22cm - sản phẩm hoàn thành là m3 tường xây. - Sản phẩm cuối cùng: là kết quả hoàn thành của một quá trình tổng hợp. Khái niệm sản phẩm cuối cùng thường liên quan với việc hoàn thành một bộ phận kết cấu hay một phần của công trình. Ví dụ: quá trình bê tông cốt thép tràn xả lũ - sản phẩm cuối cùng là m3 bê tông tràn. - Sản phẩm chu kỳ: là kết quả của việc hoàn thành một chu kỳ của quá trình. Ví dụ: quá trình lắp gép cấu kiện bê tông đúc sẵn bằng cần cẩu - sản phẩm một chu kỳ làm việc của cần cẩu là số lượng tấm pa nen đã cẩu lắp. Các đơn vị đo sản phẩm ban đầu có thể khác đơn vị đo sản phẩm hoàn thành và các đơn vị đo sản phẩm hoàn thành cũng có thể khác các đơn vị đo sản phẩm cuối cùng. Mối quan hệ giữa các đơn vị này được xác định bằng hệ số chuyển đổi đơn vị. - Hệ số chuyển đổi đơn vị đo sản phẩm quá trình xây dựng: là số lượng sản phẩm ban đầu tính cho một đơn vị đo của sản phẩm hoàn thành hay là số lượng sả n phẩm hoàn thành tính cho một đơn vị đo của sản phẩm cuối cùng. Ví dụ: Quá trình xây tường 22 cm bằng gạch chỉ gồm các phần việc và các sản phẩm ban đầu là: - Vận chuyển gạch : 300 viên - Trộn và vận chuyển vữa : 165 lít - Căng dây mức : 3 lần - Xây : 0,57 m3 Tính chuyển cho một đơn vị đo sản phẩm hoàn thành. k1 = 300/0.57 = 526 k2 = 165/0.57 = 290 k3 = 3/0.57 = 5 k4 = 0.57/0.57 = 1 Như vậy có nghĩa là muốn xây 1m3 tường dày 22 cm thì phải vận chuyển 526 viên gạch, trộn và vận chuyển 290 lít vữa, căng dây mức 5.26 lần và xây 1m3 tường gạch . - Hệ số cơ cấu: Khi nghiên cứu các quá trình để xây dựng định mức có những quá trình giống nhau về mặt tổ chức và kỹ thuật thi công nhưng cũng có những điểm khác nhau mà không thể thể hiện được đầy đủ vì vậy người ta đưa ra hệ số cơ cấu để phản ánh tính chất khác đó. Ví dụ: Tiến hành lắp ghép 140 m3 tường trong đó có 124 m3 trong điều kiện bình thường và 16 m3 trong điều kiện khó khăn hơn (các tấm ở góc) N1 = = 0,89 89% lắp ghép bình thường 13
- N2 = = = lắp ghép ở góc Câu hỏi 1. Nhiệm vụ của công tác định mức kỹ thuật là gì ? 2. Quá trình xây dựng và cơ cấu của quá trình xây dựng ? 3. Sản phẩm xây dựng là gì ? có mấy loại sản phẩm xây dựng ? CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỜI GIAN LÀM VIỆC - CÁC ĐỊNH MỨC KỸ THUẬT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Phân tích chi phí thời gian làm việc Nhiệm vụ quan trọng của công tác định mức kỹ thuật lao động trong xây dựng là hoàn thiện quá trình xây dựng, nâng cao hiệu quả thời gian làm việc của công nhân và máy móc thiết bị xây dựng, xác định các định mức có căn cứ khoa học về chi phí lao động. Để giải quyết nhiệm vụ này, cần nghiên cứu một cách có hệ thống chi phí thời gian làm việc của công nhân và thời gian sử dụng máy. Nghiên cứu thời gian làm việc của công nhân là phương pháp hợp lý nhất, trên cơ sở đó lập dự án quá trình lao động, hoàn thiện các định mức thời gian, nghiên cứu và tổng hợp các kinh nghiệm sản xuất tiên tiến. Nghiên cứu chi phí thực tế về thời gian làm việc của công nhân và thời gian sử dụng máy, nghiên cứu những thời gian tổn thất của công nhân, thời gian chết của máy và nguyên nhân của sự tổn thất đó, nghiên cứu biện pháp để khắc phục chúng nhằm nâng cao năng suất lao động. Để đạt được mục đích đó ta cần phân loại chi phí thời gian thành từng nhóm với yêu cầu phải nêu lên được sự tham gia của công nhân và máy móc thiết bị trong việc hoàn thành nhiệm vụ sản xuất phân biệt thời gian công tác và thời gian gián đoạn, nêu rõ chi phí thời gian cần thiết, hợp lý để hoàn thành nhiệm vụ của sản xuất. Trong sản xuất toàn bộ thời gian làm việc được chia thành thời gian định mức và thời gian không được định mức. Thời gian định mức bao gồm những thời gian cần thiết để thực hiện nhiệm vụ sản xuất đã cho. Vì vậy nó nằm trong định mức kỹ thuật lao động . Thời gian không được định mức bao gồm những thời gian ngừng làm việc sinh ra do thiếu sót về tổ chức kỹ thuật hoặc do vi phạm kỹ luật lao động. Do đó nó không nằm trong định mức kỹ thuật lao động. 14
- 2.1.1 Thời gian làm việc của công nhân a) Thời gian có định mức: Là thời gian làm việc cần thiết cho sản xuất thực hiện nhiệm vụ được giao. - Thời gian làm việc phù hợp với nhiệm vụ: là thời gian hao phí cho những công tác chuẩn bị, thu dọn chỗ làm việc, trực tiếp làm việc thực hiện nhiệm vụ được giao với kỹ thuật thi công đúng và chất lượng sản phẩm hợp quy cách. +Thời gian chuẩn bị - kết thúc: là thời gian hao phí để làm các công việc chuẩn bị lúc bắt đầu ca và công tác kết thúc công việc lúc cuối ca. Thời gian chuẩn kết gồm hai loại: . Loại chuẩn kết cho ca làm việc: . Loại chuẩn kết cho cả đợt nhiệm vụ +Thời gian tác nghiệp: là thời gian trực tiếp tạo ra sản phẩm đúng quy cách theo một quy trình thi công đúng trong điều kiện tổ chức thi công hợp lý nó bao gồm: t a i ậ m ng ờ c ừ lu ứ c ủ gian gian ỹ Th do vi ệ ph ạ ng k nh m nh c đị ệ đị i ng ờ ừ i gian gian i do ng vi gian gian ờ Th nhân i gian làm vi làm gian i ng ừ nguyên nguyên ờ Th ng không quy không quy i gian không không gian i ỹ t ờ i ng ậ ờ c k công nhân ừ Th ứ gian gian Th do t ổ thu ng ch phân tích th tích phân đồ ơ i i c c c ng ờ ệ ệ ớ ệ cho vi gian gian công Th p v nh ữ a công a công ợ ủ h làm vi làm vi c Hình 1 : S không phù không phù 15
- i c ng ờ ệ ấ vi công Th không nh ữ gian cho cho gian ự u t ầ Nhu Nhu nhiên c ự i ỉ ỉ nh ờ i lao i lao u t ng và ả ả gian gian ngh ầ Th Ngh ừ và nhu và nhu c gi gi c quy đị t i ỹ đượ ậ ng ờ i gian ng gian i ỉ ừ ờ c gian gian Th thu do k ứ ng Th ngh thi công thi công nh m p đị ệ ụ h Tác p nghi có gian i ờ p i p ệ p Th ờ ệ ợ Tác Th ngi chính nghi gian tác tác gian c phù h c phù ụ ệ ả m i t ệ m v ớ ệ v đợ nhi Cho c Cho nhi t ế i gian làm vi làm gian i i n c ờ ẩ ờ ệ - k - làm vi gian gian Th thúc Th ị chu Cho ca ca Cho b Thời gian tác nghiệp chính: là thời gian tiêu hao để thực hiện các thao tác chủ yếu trong quá trình thi công trực tiếp làm thay đổi hình dạng, kích thước, thành phần vị trí của sản phẩm. Thời gian tác nghiệp phụ: là thời gian làm việc có tính chất phụ cho thời gian tác nghiệp chính. Thời gian ngừng và nghỉ được quy định: là thời gian ngừng việc được xác định với một quy trình thi công đúng, có kể đến nhu cầu cá nhân và ngừng việc vì lý do kỹ thuật. Nó bao gồm: + Thời gian ngừng việc do kỹ thuật thi công: là thời gian ngừng việc do điều kiện kỹ thuật thi công bắt buộc phải ngừng. Ngừng do tổ chức sản xuất: mặc dầu tổ chức sản xuất đã hợp lý song không thể tránh khỏi những nẩy sinh trong lúc thi công. 16
- Ngừng vì lý do kỹ thuật thi công: do quy trình công nghệ bắt buộc. Ví dụ: Thời gian cần cẩu ngừng để công nhân định vị và liên kết cấu kiện khi đang cẩu lắp + Thời gian nghỉ giải lao và nhu cầu tự nhiên của công nhân. Thời gian công nhân nghỉ giải lao. Thời gian công nhân phải quyết nhu cầu tự nhiên. b) Thời gian không định mức: Là thời gian hao phí có ích hoặc không có ích cho sản xuất nhưng không được nhiệm vụ quy định. - Thời gian làm việc không phù hợp với nhiệm vụ: là thời gian người công nhân vẫn phải làm việc nhưng không được nhiệm vụ quy định. + Thời gian cho những việc không thấy trước: là thời gian hao phí có ích cho sản xuất nhưng không được nhiệm vụ quy định. Thời gian làm việc không thấy trước là loại thời gian thường bị động gây ảnh hưởng đến năng suất lao động do trên quan điểm định mức ta loại trừ loại thời gian này. + Thời gian cho những công việc thừa: là hao phí thời gian không do quy trình công nghệ quy định, có làm việc nhưng không có sản phẩm. Ví dụ: Phá đi làm lại, làm thừa yêu cầu chất lượng (trộn bê tông quá lâu theo quy định, đầm đất quá kỹ so với yêu cầu thiết kế). - Thời gian ngừng việc không được quy định: là thời gian ngừng việc do phá vỡ các quy trình thi công bình thường, phải nghỉ việc không có lý do chính đáng. + Thờ i gian ngừng do tổ chức kỹ thuật tồi ( thiếu vật liệu, thiếu chỗ làm việc, thiếu dụng cụ, thiếu cán bộ hướng dẫn ). + Thời gian ngừng do nguyên nhân khách quan: là thời gian một công nhân nghỉ việc do điều kiện thời tiết (mưa to, bão lớn ). + Thời gian ngừng do vi phạm luật kỹ luật lao động: ( đi muộn, về sớm, bỏ đi chơi trong giờ làm việc. 2.1.2 Phân tích thời gian sử dụng máy: Thời gian sử dụng máy cũng bao gồm 2 loại : thời gan có định mức và thời gian không định mức. a) Thời gian có định mức : Bao gồm thời gian máy chạy phù hợp với nhiệm vụ và thời gian máy ngừng được quy định. 17
- 18 Thời gian không định mức Thời gian máy ngừng việc không hợp lý Do Do Do nguyên nguyên công nhân tổ nhân nhân lái chức khách máy vi kỹ thuật quan phạm Hình 2 : Sơ đồ phân tích thời gian sử dụng máy
- y i y ng ạ cho Máy ch công nh ữ p v ớ ụ m v ệ nhi ng máy ng máy i gian máy ch ạ y ng ờ ạ d ụ cho không phù h ợ phù không Máy ch Th công ử nh ữ u ầ ự t i gian s Công ờ nhân có nhu c Th ng ừ ilao i lao p lý ả ả ngh ỉ ngh ỉ nhân nhân Công ợ Ng gi gi vì công ng h ng nh ừ đị m ỹ t, ng ă o ậ ừ ả c b thu ứ sóc k Ng vì ch đượ c quy nh m ỹ c đị i gian máy ng ứ ng ờ t và ừ ậ vì ch Th ổ Ng t thu lý do k lý do i gian có ờ i p y Th ờ ợ ạ máy gian ch Th không không y phù h y phù ụ ủ t đ i ấ i m v ả ớ y t ệ v ầ Ch không không đ nhi i t i gian máy ch ạ u i y ấ ờ ủ ệ ờ y có ả t đ ạ đầ máy hi gian Ch Th Th ch Thời gian máy chạy phù hợp với nhiệm vụ: là thời gian máy làm việc để hoàn thành công tác phù hợp với nhiệm vụ công tác được giao với quy trình công nghệ đúng và chất lượng sản phẩm hợp quy cách. + Thời gian máy chạy có hiệu quả : là thời gian máy trực tiếp làm ra sản phẩm . Thời gian máy chất tải đầy đủ : là thời gian máy được sử dụng đầy đủ tải trọng phù hợp với đặc điểm kết cấu và với điều kiện cụ thể của nó. Thí dụ : Tải trọng của vật nâng tương ứng với tải trọng quy định theo tầm với của cần cẩu, khối lượng đất xúc trong gầu của máy xúc tương ứng với dung tích của gầu và tính chất của đất. 19
- . Thời gian máy chất tải không đầy đủ : là thời gian máy sử dụng không hết tải trọng quy định. Trường hợp này có thể do tính chất công việc (vận chuyển hàng cồng kềnh, trọng lượng nhẹ ). + Thời gian máy chạy không có hiệu quả : là thời gian máy không trực tiếp làm ra sản phẩm nhưng không thể thiếu được, như thời gian máy lùi, thời gian xe vận chuyển đến nơi làm việc, ô tô vận chuyển hàng một chiều, cần cẩu chạy không đến vị trí lấy tấm bê tông - Thời gian máy ngừng hợp lý được quy định: là thời gian máy ngừng việc do tính chất của quá trình sản xuất, do bảo dưỡng máy hoặc do công nhân điều khiển máy nghỉ giải lao và giải quyết nhu cầu cá nhân. + Thời gian máy ngừng việc vì lý do thi công (do quy trình công nghệ): là thời gian máy ngừng việc do tính chất của quá trình thi công quy định ( cần cẩu phải dừng khi công nhân móc cấu kiện, khi công nhân định vị và liên kết tấm cấu kiện) + Thời gian máy ngừng làm việc do bảo dưỡng máy: là thời gian máy phải dừng để người công nhân lái máy kiểm tra máy móc, tra dầu mỡ + Thời gian máy ngừng việc do công nhân lái máy nghỉ giải lao và giải quyết nhu cầu cá nhân. b) Thời gian không định mức: Bao gồm thời gian máy chạy không phù hợp với nhiệm vụ và thời gian máy ngừng không hợp lý. - Thời gian máy chạy không phù hợp với nhiệm vụ: + Thời gian máy làm công tác không thấy trước: là thời gian máy là việc có ích cho sản xuất nhưng do phá vỡ quy trình công nghệ hoặc do lỗi của công nhân hay lỗi của cán bộ kỹ thuật mà máy móc phải làm việc nhưng không thuộc về nhiệm vụ được giao. + Thời gian máy làm công tác thừa: là thời gian máy móc vẫn phải làm việc nhưng không làm tăng sản phẩm ( máy trộn bê tông quá thời gian yêu cầu). - Thời gian máy ngừng không hợp lý: + Thời gian máy ngừng việc do tổ chức sản xuất kém: là thời gian mà máy phải ngừng việc do thiếu mặt bằng công tác, thiếu vật liệu + Thời gian máy ngừng việc do nguyên nhân khách quan: là thời gian máy ngừng việc do mưa, bão, mất điện + Thời gian máy ngừng việc do thợ lái máy vi phạm kỷ luật lao động như đi muộn, về sớm, nghỉ việc không lý do 2.2 Các định mức kỹ thuật và mối liên hệ giữa chúng 2.2.1 Định mức thời gian và định mức lao động : Định mức thời gian (lao động) là mức thời gian (lao động) hao phí quy định để nhận được một đơn vị sản phẩm với chất lượng hợp quy cách do người công nhân có nghề nghiệp và trình độ nghề phù hợp thực hiện trong những điều kiện tổ chức kỹ thuật tiêu 20
- chuẩn với việc sử dụng tư liệu sản xuất có hiệu quả, sử dụng tổ chức lao động hợp lý, thực hiện đúng quy trình công nghệ. Định mức thời gian và định mức lao động khác nhau là đơn vị tính định mức thời gian là giờ, phút, ca làm việc còn đơn vị tính định mức lao động là người - giờ, người - phút, người - ca. Định mức thời gian: là nghiên cứu về mặt tốc độ. Định mức lao động: là nghiên cứu về mức hao phí lao động, có nghĩa là có kể đến số công nhân tham gia vào quá trình sản xuất. Mối quan hệ giữa định mức thời gian và định mức lao động : Đ Đ = ld ( 2 - 1) tgn K Đlđ = Đtgn . K ( 2 - 2 ) Trong đó : Đ tgn : định mức thời gian cho nhóm công nhân; Đlđ : định mức lao động; K : số công nhân trong nhóm; Nếu K = 1 thì Đtg = Đlđ Ví dụ: Để sản xuất ra một sản phẩm Đ tgn = 3 phút Đ lđ = 3 công nhân x 3 phút = 9 người - phút Đtg và Đlđ bằng nhau chỉ khi có một người công nhân tham gia quá trình sản xuất. Đ lđ = 1 người x 3 phút = 3 người - phút. 2.2.2 Định mức sản lượng: Là số sản phẩm quy định nhận được trên một đơn vị thời gian với chất lượng hợp quy cách do những công nhân có nghề và trình độ nghề phù hợp thực hiện trong điều kiện tổ chức kỹ thuật tiêu chuẩn, sử dụng có hiệu quả các tư liệu sản xuất và tổ chức lao động hợp lý, thực hiện theo đúng quy trình công nghệ. Định mức sản lượng được xác định qua Đtg hay Đ lđ bằng các công thức: Tca Đld = (2 - 3) Đtgc Tca Đsl = (2 - 4) Đld Tca Đs ln = (2 - 5) Đtgn TKca . Đs ln = (2 - 6) Đld 21
- Trong đó : Đsl : định mức sản lượng của một công nhân trong 1 ca; Đsln: định mức sản lượng của một nhóm công nhân trong 1 ca; Tca : thời gian ca làm việc tính bằng giờ; Đtgc : định mức thời gian cho một công nhân tính bằng giờ. 2.2.3 Định mức thời gian sử dụng máy: Là mức thời gian hao phí quy định cho máy để tạo ra một đơn vị sản phẩm với chất lượng hợp quy cách trong những điều kiện tổ chức kỹ thuật tiêu chuẩn, thực hiện đúng quy trình công nghệ. Định mức thời gian sử dụng máy biểu thị bằng giờ máy, ca máy. Ví dụ quá trình đào đất kênh mương bằng máy đào gầu thuận có dung tích gầu V=0.8 m3 đất cấp II, định mức thời gian để đào 100 m3 là 0.352 ca máy (2.816 giờ máy) 2.2.4 Định mức năng suất của máy: Là số lượng sản phẩm cần thiết do máy hoàn thành sau một đơn vị thời gian trong những điều kiện tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ đúng đắn. Ví dụ: định mức năng suất của máy đào ở ví dụ trên là 35.5 m3/ giờ máy. Mối liên hệ giữa định mức thời gian và định mức năng suất của máy: Tca Đtg = (2 - 7) Đnsca 1 Đtg = (2 - 8) Đnsg Tca Đnsca = (2 - 9) Đtg 1 Đnsg = (2- 10) Đtg Trong đó : Đtg : định mức thời gian sử dụng máy tính bằng giờ; Đnsca : định mức năng suất của máy trong 1 ca; Đnsg : định mức năng suất của máy trong 1 giờ. 2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động và các chỉ tiêu đánh giá mức độ thực hiện các định mức 2.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động : - Phương pháp tổ chức sản xuất. - Trình độ nghề nghiệp của công nhân . - Hệ thống trả lương lao động. - Thái độ giác ngộ của công nhân đối với lao động. 22
- - Đặc điểm khối lượng công tác và đặc điểm kết cấu. - Yêu cầu về chất lượng sản phẩm. - Tình trạng máy móc, công cụ và thiết bị lao động. - Đặc điểm của vật liệu vv 2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá mức độ thực hiện các định mức : - Hệ số (%) đạt mức Kđ là tỷ lệ so sánh giữa sản lượng thực tế với sản lượng định mức. Stt Kd = .100 (2 - 11) Sdm Trong đó : Stt : sản lượng thực tế; Sdm : sản lượng định mức. Do Đsl = 1 / Đtg nên ta có thể viết : Sdm Kd = (2 - 12) Stt - Hệ số (%) Vượt mức Kv : là tỷ lệ vượt mức của sản lượng thực tế với sản lượng định mức. SSt− dm Kv = .100 (2 - 13) Sdm Trong đó : Stt : là sản lượng thực tế; Sdm : là sản lượng định mức. TTdm− tt Kv = .100 (2 - 14) Ttt Trong đó : Tdm : là thời gian định mức; Ttt : là thời gian thực tế. 2.4 Các khái niệm liên quan đến quá trình xây lắp Chỗ làm việc: là khoảng không gian vừa đủ để cho công nhân tham gia vào quá trình sản xuất trong đó công cụ lao động, đối tượng lao động, sản phẩm làm ra được sắp xếp hợp lý để sao cho việc di chuyển của người công nhân là tiện nhất. Phần tử: khi quan sát xây dựng định mức người ta đưa ra khái niệm phần tử để chỉ các bộ phận của quá trình bị chia nhỏi . V ệc phân chia phần tử có tính chất độc lập tương ứng với cơ cấu của quá trình. Phần tử có thể trùng với bộ phận cơ cấu của quá trình (thao tác, phần việc) nhưng cũng có khi ta liên hợp 2, 3 thao tác hoặc phần việc thành một phần tử. Khi chia quá trình ra các phần tử thì phải xác định được sản phẩm của phần tử. 23
- Điểm ghi: là điểm phân chia ranh giới về mặt thời gian nó chính là điểm kết thúc phần tử đầu và bắt đầu sang phần tử tiếp theo hoặc trong quá trình làm việc mà có sự thay đổi về thành phần, số lượng công nhân của các phần tử thì cũng xuất hiện điểm ghi. Ví dụ : Quá trình làm việc của máy xúc: Điểm mốc: - Xúc đất - Đầy gầu. - Nâng quay - Vị trí đỗ. - Đổ đất - Đổ hết đất. - Quay lại vị trí ban đầu - Vị trí xúc Ví dụ: Quá trình xây tường 22 cm 7.00 (3CN) 7.05 (7CN) 7.10 Vận chuyển gạch Nhân tố ảnh hưởng: là tình trạng hay sự việc nào đó có ảnh hưởng tới đại lượng hao phí thời gian, những ảnh hưởng đó có thể diễn tả bằng số hoặc bằng lời hoặc cả bằng số và bằng lời. Ví dụ: - Nhân tố ảnh hưởng diễn tả bằng số: trọng lượng tấm tường là hai tấn. - Nhân tố ảnh hưởng diễn tả bằng lời: vì kéo thép , xây móng đá hộc. - Nhân tố ảnh hưởng diễn tả bằng số và lời: xây móng đá hộc ở độ sâu 2m. Đặc tính của quá trình: là tập hợp các nhân tố ảnh hưởng đặc trưng cho một quá trình sản xuất nhất định. Ta có thể dựa vào đặc tính của một quá trình để phân biệt quá trình này khác với quá trình kia. Khi quan sát định mức thì đặc tính của quá trình được ghi vào phiếu, gọi là phiếu đặc tính quá trình. Điều kiện tiêu chuẩn của quá trình xây dựng : là đặc tính của quá trình nhưng đã được tiêu chuẩn hoá cụ thể cho từng quá trình - Điều đó có nghĩa là đã quy định rõ cho từng nội dung đã ghi ở phiếu đặc tính của quá trình, nó bao gồm những nội dung cụ thể sau: Thời gian địa điểm nơi quan sát Thành phần, số lượng, cấp bậc của công nhân phải được bố trí phù hợp với nhiệm vụ của công việc Quy định cụ thể chủng loại, quy cách, chất lưọng vật liệu. Ví dụ: Vật liệu xây tường : + Gạch chỉ đặc nhà máy loại A M > 75 + Vữa tam hợp M50 Phương pháp tổ chức sản xuất. Kỹ thuật thi công được áp dụng. Các biện pháp kỹ thuật an toàn lao động. 24
- Điều kiện tiêu chuẩn của quá trình được thiết kế ra phải phản ánh đúng và đầy đủ những nội dung đã ghi ở phiếu đặc tính quá trình . Mỗi một trị số định mức đều được thiết kế một điều kiện tiêu chuẩn kèm theo. 2.5 Các phương pháp xây dựng định mức 2.5.1 Phương pháp phân tích định mức kỹ thuật Với phương pháp này các định mức được tính toán trên cơ sở được phân tích tỉ mỉ quy trình công nghệ (kỹ thuật thi công) của mỗi phần việc và các bộ phận hợp thành của nó, nghiên cứu các điều kiện tổ chức kỹ thuật tiêu chuẩn của quá trình. Trong một số trường hợp cần nghiên cứu từng bộ phận hợp thành của thời gian định mức, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thời hạn của nó trong các điều kiện sản xuất cụ thể, tìm cách giải quyết đúng đắn nhất nhằm đảm bảo chi phí thời gian nhỏ nhất. Sau khi đã tiến hành phân tích kỹ lưỡng tất cả các điều kiện sản xuất gắn liền với việc thực hiện các phần việc định mức thì tiến hành dự trù chế độ công tác hợp lý của máy móc, thiết bị, dự định thành phần hợp lý và liên tục của các bộ phận riêng biệt của phần việc. Sau đó dự thảo các biện pháp tổ chức kỹ thuật và kinh tế nhằm đảm bảo sự áp dụng chế độ công tác của máy móc thiết bị đã được vạch ra và xác định trình tự công việc. Cuối cùng là tính toán tất cả các bộ phận thời gian định mức kỹ thuật (thời gian tác nghiệp, chuẩn kết, ngừng vì lý do kỹ thuật, nghỉ giải lao và nhu cầu tự nhiên). Phương pháp phân tích định mức kỹ thuật có 2 loại : Phương pháp phân tích tính toán Phương pháp phân tích nghiên cứu (phương pháp thực nghiệm) Phương pháp phân tích tính toán: các bộ phận thời gian định mức được xác định trên cơ sở các tài liệu gốc, các bản thiết kế, thi công mẫu và các số liệu về định mức đã có trước. Riêng đối với công việc bằng máy thời gian tác nghiệp chính có trong công thức tính toán riêng phù hợp với chế độ làm việc của máy đó. Phương pháp phân tích nghiên cứu : Thời hạn của tất cả các bộ phận của thời gian định mức xác định trên cơ sở quan sát chụp ảnh quá trình, tiến hành trong các điều kiện tổ chức kỹ thuật và kinh tế hợp lý nhất đối với công trình cụ thể với việc sử dụng triệt để các kinh nghiệm công tác tiên tiến. Sự khác nhau của phương pháp này với phương pháp phân tích tính toán là ở chỗ những tài liệu gốc để tính toán định mức là những tài liệu quan sát thực tế trên hiện trường tại nơi làm việc . Đây là phương pháp cơ bản của công tác định mức trong xây dựng . Nó cho phép không chỉ xác định các định mức có căn cứ kỹ thuật mà còn hoàn thiện việc tổ chức lao động, sản xuất ở nơi làm việc . Đây là phương pháp cơ bản của công tác định mức trong xây dựng. 2.5.2 Phương pháp tổng hợp định mức : 25
- Là phương pháp định mức thời gian cho một quá trình (một công tác xây lắp) nào đó thiếu sự phân chia các bộ phận hợp thành của nó. Có 2 loại : - Phương pháp thống kê kinh nghiệm : là phương pháp xây dựng định mức trên cơ sở những kinh nghiệm tích luỹ được của ban chỉ đạo, nhân viên định mức và các công nhân tiên tiến, hay trên cơ sở tổng hợp và phân tích những số liệu thống kê được về hao phí thời gian lao động cho một quá trình trong thời kỳ trước. Từ đó căn cứ vào điều kiện sản xuất, tình hình quản lý, điều chỉnh và xác định lại trị số định mức theo phương pháp bình quân số học. Phương pháp này đơn giản dễ làm, tốn ít công sức, thường đáp ứng được yêu cầu trước mắt và trên chừng mực nhất định đã đúc kết được kinh nghiệm tốt của cán bộ công nhân. Nhưng phương pháp này không có căn cứ khoa học vì nó loại trừ sự nghiên cứu phân tích chi phí thời gian làm việc, sự điều tra khả năng sản xuất của thiết bị và sự sử dụng đầy đủ các lực lượng tiềm tàng để tăng năng suất lao động (như khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật mới, sự nâng cao trình độ văn hoá, kỹ thuật của cán bộ và công nhân ) và không cân nhắc trên mức độ cần thiết các kinh nghiệm công tác và thành tích của công nhân tiên tiến. Vì vậy nó không đảm bảo tính chất tiên tiến của định mức. Mặt khác chính cũng do thiếu phân tích một cách cụ thể điều kiện sản xuất hiện tại, nên không phát hiện được khả năng tiềm tàng để tăng năng suất lao động, không đề ra những biện pháp tổ chức kỹ thuật để đảm bảo thực hiện định mức, do đó hạn chế tính chât hiện thực của nó. Xác định định mức theo phương pháp này dựa vào yếu tố chủ quan và phụ thuộc vào tính chất ngẫu nhiên của sự việc trong khi xây dựng định mức nên không chính xác. Định mức thống kê kinh nghiệm không những không khuyến khích được mà còn làm trở ngại đến việc tiếp tục nâng cao năng suất lao động. Do đó nó không được sử dụng rộng rãi trong sản xuất. - Phương pháp so sánh định mức lao động: Thực chất phương pháp này là xác định định mức lao động của các quá trình (công tác xây lắp) bằng cách so sánh với những quá trình tương tự, có nội dung quá trình thi công và các điều kiện tổ chức kỹ thuật để thực hiện giống nhau và những quá trình này đã có định mức đã được tính toán bằng phương pháp phân tích định mức. Để nâng cao chất lượng định mức và để tạo khả năng cho chúng tiến gần đến các định mức có căn cứ khoa học, khi tính toán định mức bằng phương pháp này cần phải cố gắng áp dụng những điều kiện sản xuất của quá trình mẫu. Đối với phương pháp này độ chính xác thấp nhưng sự tốn kém về thời gian và công sức thì nó lại tốn kém ít nhất. Câu hỏi 1/ Phân tích thời gian làm việc của công nhân ? 26
- 2/ Phân tích thời gian làm việc của máy? 3/ Các định mức kỹ thuật và mối liên hệ giữa chúng ? 4/ Các khái niệm liên quan đến quá trình xây lắp ? 5/ Các phương pháp xây dựng định mức ? CHƯƠNG 3 CÁC PHƯƠNG PHÁP QUAN SÁT, CHỈNH LÝ SỐ LIỆU KHI NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG 3.1 Nghiên cứu quá trình xây dựng và các hình thức quan sát Nghiên cứu quá trình xây dựng bằng phương pháp định mức kỹ thuật là phần cơ bản của công tác định mức kỹ thuật nói chung . Nghiên cứu chi phí thời gian làm việc được thực hiện bằng cách tiến hành quan sát, kết quả thu lượm được là các tài liệu cơ bản sau : Các trị số thời gian làm việc đã nghiên cứu. Số lượng sản phẩm đã hoàn thành trong thời gian nghiên cứu. Đặc tính cụ thể của quá trình xây dựng đã nghiên cứu. 3.1.1 Phân loại hình thức quan sát Theo mục đích nghiên cứu quá trình xây dựng có thể phân làm 2 loại quan sát cơ bản : - Quan sát để chấn chỉnh tổ chức : Được tiến hành để thu thập các tài liệu cho phép vạch ra các phương pháp lao động tiên tiến hay tạo điều kiện để xác định chi phí hữu ích và tổn thất thời gian làm việc. Loại quan sát này theo quy định được tiến hành bằng phương pháp chụp ảnh ngày làm việc. - Quan sát để định mức : Được tiến hành với mục đích tính toán mức độ thực hiện các định mức hiện hành hay để thu thập các tài liệu để xây dựng định mức mới. Nhờ loại quan sát này có thể nhận được các chỉ tiêu về chi phí lao động trên một đơn vị sản phẩm, kèm theo các đặc tính của điều kiện sản xuất có quan hệ với các chỉ tiêu tương ứng. Phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu, phương thức thực hiện và kết quả yêu cầu có thể áp dụng các phương pháp sau: + Phương pháp thống kê kỹ thuật : được áp dụng chủ yếu để thu thập những tài liệu về mức độ thực hiện các định mức hiện hành . Độ chính xác của tính toán chi phí thời gian là 5 phút. + Phương pháp chụp ảnh quá trình : được sử dụng để nghiên cứu tất cả các loại chi phí thời gian làm việc. Độ chính xác của tính toán chi phí thời gian từ 0.5 đến 5 giây. + Phương pháp bấm giờ : thường dùng để nghiên cứu thời hạn của các bộ phận lặp đi lặp lại của các công tác chủ yếu. Độ chính xác của tính toán chi phí thời gian đến 0.1 giây. 27
- + Phương pháp quay phim : dùng để nghiên cứu các thao tác lao động , nó cho phép xác định với độ chính xác cao chi phí thời gian làm việc và lao động theo các bộ phận của quá trình và ghi lại tất cả các đặc điểm của quá trình . + Phương pháp quan sát theo thời điểm : sử dụng để nghiên cứu mức độ sử dụng toàn bộ thời gian làm việc trong ca . Nó cho phép quan sát đồng thời đồng thời một số lượng lớn các đối tượng nghiên cứu và trong một thời gian nhận được những tài liệu đáng tin cậy về mức độ sử dụng thời gian của máy và của công nhân trong ca làm việc. + Phương pháp chụp ảnh ngày làm việc : được áp dụng để nghiên cứu tổn thất thời gian làm việc trong ca, tìm nguyên nhân và đề ra các biện pháp để loại trừ chúng. Bảng 3-1 : Bảng lựa chọn phương pháp quan sát Mục đích Phương pháp quan sát Tính chất và mức độ chính xác nghiên cứu và ghi chép thời gian của việc thống kê chi phí thời gian Lập định mức Ghi số, đồ Cá nhân 5 - 60 giây nghiên cứu phương Chụp ảnh thị quá trình pháp lao động tiên Hỗn hợp Nhóm 0.5 - 1 phút tiến. Xác định mức Bấm giờ (chọn lọc, liên độ hoàn thành định Cá nhân 0.5 - 1 phút tục) mức Thống kê kỹ thuật Nhóm 5 - 10 phút Cải tiến việc sử Ghi số, đồ Cá nhân 5 - 60 giây dụng thời gian làm Chụp ảnh thị quá trình việc Hỗn hợp Nhóm 0.5 - 1 phút 3.1.2 Các công tác chuẩn bị trước khi tiến hành quan sát Thành lập tổ định mức : Tổ định mức là những người có chuyên môn đã được trang bị nghiệp vụ kỹ thuật cũng như ý thức về chính trị tư tưởng. Chuẩn bị các dụng cụ, phương tiện để quan sát : Nghiên cứu một cách toàn diện quá trình xây dựng định mức : Việc nghiên cứu có thể dựa vào các tài liệu thiết kế , bản vẽ thi công đồng thời kết hợp với nghiên cứu tại hiện trường. Kết quả của việc nghiên cứu là phải xác định được dây chuyền thi công hợp lý, cũng như nhu cầu về công cụ, dụng cụ, vật liệu của quá trình. Lựa chọn đối tượng quan sát : Đối tượng quan sát (khu vực xây dựng, loại công tác, máy móc, công nhân) cần đặc trưng cho trình độ tổ chức kỹ thuật tiên tiến và đáp ứng với yêu cầu tổ chức lao động hợp lý. 28
- Công nhân được chọn để quan sát phải là những công nhân có trình độ nghề nghiệp phù hợp với công việc, nắm vững kỹ thuật và quy trình công nghệ công việc của mình và luôn luôn hoàn thành các định mức hiện hành. Tất nhiên không nên chọn những công nhân đạt năng suất quá cao. Mô tả các điều kiện tổ chức kỹ thuật của quá trình : Các điều kiện tổ chức kỹ thuật của quá trình bao gồm : đặc tính củ a máy móc thiết bị, đặc tính sản phẩm, quy cách vật liệu, kết cấu, thành phần công nhân và chế độ trả lương đối với họ, phương pháp thi công và tổ chức sản xuất, lao động tại nơi làm việc Cần mô tả các điều kiện một cách tỉ mỉ vì chất lượng của tài liệu định mức phụ thuộc nhiều vào sự đầy đủ, đúng đắn và chính xác của việc mô tả các điều kiện tổ chức kỹ thuật của quá trình. Tất cả các điều kiện tổ chức kỹ thuật của quá trình được phản ánh vào biểu “đặc tính của quá trình”. Nội dung của biểu này bao gồm : Ngày tháng quan sát, thời hạn trong ca, nhiệt độ, áp suất, các tài liệu về công nhân (tuổi, nghề nghiệp, cấp bậc, chế độ tiền lương nhịp điệu công tác ) mô tả chi tiết các loại vật liệu, công cụ, dụng cu, máy móc thiết bị sử dụng, đặc tính và chất lượng của sản phẩm, mô tả nơi làm việc, tổ chức và kỹ thuật của quá trình trong đó cần đặc biệt chú ý mô tả công tác tổ chức và kỹ thuật của quá trình. - Phân chia quá trình ra các phần tử, xác định điểm ghi, chọn đơn vị đo sản phẩm. Khi quan sát để xây dựng định mức các quá trình xây dựng thường được chia nhỏ ra thành các phần tử cấu thành tương ứng với phần việc hoặc thao tác, tuỳ tính chất của quá trình và mục đích nghiên cứu. Kết quả của việc phân chia này là “bản danh mục các phần tử”. Danh mục các phần tử cần phải đầy đủ và đảm bảo đo đếm sản phẩm được dễ dàng. Danh mục các phần tử công tác của máy và công nhân phục vụ máy phải được lập riêng. Các điểm ghi cần xác định rõ ràng, tránh nhầm lẫn thời gian của phần tử này với phần tử khác. Đơn vị đo sản phẩm của các phần tử cần chọn một cách cụ thể, biểu thị được khối lượng sản phẩm tương ứng và có thể dùng kỹ thuật đo đếm đơn giản, bảo đảm mức độ chính xác yêu cầu. - Lựa chọn hình thức quan sát : Việc lựa chọn hình thức quan sát phụ thuộc vào mục đích quan sát, tính chất của quá trình xây dựng và khả năng nghiên cứu của hình thức đó. Phương pháp thống kê kỹ thuật tương đối đơn giản có thể quan sát một lúc nhiều công việc. Tuy nhiên phương pháp này không cho phép phân tích quá trình được nghiên cứu theo các yếu tố và các chỉ tiêu thống kê thời gian không chính xác. Vì vậy phương pháp thống kê kỹ thuật chỉ được hạn chế trong việc xác định mức độ hoàn thành các định mức hiện hành, không thể sử dụng để lập định mức, nghiên cứu lao động tiên tiến. 29
- Chụp ảnh quá trình là phương pháp tổng hợp nhất, có thể dùng để tiến hành phần lớn các công tác nghiên cứu, hạn chế của phương pháp này là khối lượng lao động của công tác quan sát và xử lý số liệu quan sát được khá lớn, do đó giá trị của 1 đơn vị sản phẩm định mức cũng tương đối cao. Phương pháp bấm giờ có đặc điểm là mức độ chính xác của việc ghi chép thời gian cao, có thể nghiên cứu các yếu tố có thời gian ngắn, tính kinh tế của phương pháp này tương đối cao do khối lượng lao động dùng trong công tác quan sát ít. Do vậy, trong thực tế xây dựng định mức đối với các quá trình xây lắp không chu kỳ, hoặc quá trình xây lắp có chu kỳ nhưng thời hạn của chu kỳ tương đối lớn (5 phút trở lên) thì thường sử dụng phương pháp chụp ảnh quá trình. Tuỳ thuộc vào số lượng đối tượng quan sát và mức độ chính xác của việc ghi chép thời gian mà có thể sử dụng các hình thức Chụp ảnh đồ thị, ghi số, hỗn hợp. Đối với quá trình xây lắp có chu kỳ, và thời gian của chu kỳ tương đối ngắn (dưới 5 phút) và có các tỷ lệ bộ phận không lớn lắm (chỉ chiếm khoảng 20% chi phí lao động của quá trình) thì dùng kết hợp cả 2 phương pháp chụp ảnh quá trình và bấm giờ. Chụp ảnh quá trình để xác định định mức phần không chu kỳ của quá trình, bấm giờ để xác định định mức phần có chu kỳ của quá trình. - Xác định khối lượng quan sát : (Số lần quan sát và độ lâu quan sát) Để đảm bảo mức độ đúng đắn khi xây dựng định mức cần phải tiến hành một số lần quan sát nhất định và mỗi một lần quan sát phải có một độ lâu nhất định. Số lần quan sát phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc tính của quá trình xây lắp, số lượng các dạng khác nhau của quá trình, tính chất của các nhân tố ảnh hưởng. Ngoài ra còn phụ thuộc vào ý nghĩa kinh tế của quá trình, phương pháp quan sát, đặc điểm của việc đo đếm sản phẩm. Bảng 3-2 : Bảng quy định tạm thời số lượng quan sát cần thiết cho phương pháp chụp ảnh quá trình và bấm giờ. Số lượng các dạng khác Số lần quan sát cần thiết nhau của quá trình được Khi các nhân tố ảnh hưởng Khi các nhân tố ảnh nghiên cứu biểu thị bằng mô tả hưởng biểu thị bằng số 1 - 2 4 - 5 3 3 5 - 6 3 - 4 4 6 - 7 4 - 5 5 7 - 8 5 - 6 Độ lâu của mỗi lần quan sát phụ thuộc vào phương pháp quan sát. Đối với phương pháp chụp ảnh quá trình, độ lâu quan sát thông thường quy định là 1 ca làm việc. 30
- Nếu sản phẩm cuối cùng của quá trình có thể đo được trong khoảng 1/2 ca và đối với quá trình đó đã có định mức về công tác chuẩn kết, nghỉ giải lao và nhu cầu tự nhiên, ngừng do yêu cầu kỹ thuật thì thời hạn 1 lần chụp ảnh có thể rút ngắn. Nếu sản phẩm của quá trình không có khả năng đo được trong 1 ca làm việc thì thời hạn 1 lần chụp ảnh sẽ kéo dài đến thời điểm mà xuất hiện sản phẩm cuối cùng. Đối với phương pháp bấm giờ, mỗi lần quan sát cần số lượng chu kỳ tối thiểu được quy định (Bảng 3-3) Bảng 3-3 : Bảng quy định tạm thời số lượng chu kỳ tối thiểu cần thiết Thời hạn trung bình của 1 chu kỳ 1 2 5 10 >10 (phút) Số chu kỳ cần quan sát 21 15 10 7 5 Riêng đối với những quá trình có ý nghĩa kinh tế lớn (có lượng lao động lớn) thì số lượng đo thời gian được xác định bổ sung dựa vào hệ số phân tán của dãy số bấm giờ (Kp) hệ số này được xác định bởi tỷ số giữa trị số lớn nhất và trị số nhỏ nhất của dãy số bấm giờ, bảng 3-4 Bảng 3-4 Hệ số phân tán (Kp) 1.75 2 2.25 2.5 3 Số chu kỳ cần quan sát 10 13 15 18 23 Lập chương trình kế hoạch nghiên cứu 3.2 Công cụ nghiên cứu thời gian làm việc Kết quả của chụp ảnh, bấm giờ là những tài liệu ban đầu quan trọng nhất để khởi thảo những định mức tiên tiến, cũng như để khởi thảo các biện pháp tổ chức - kỹ thuật nhằm khắc phục những nguyên nhân gây ra tổn thất thời gian làm việc và nâng cao năng suất lao động. Vì vậy một trong những khâu quan trọng trong công tác chuẩn bị đó là dụng cụ để đo thời gian. Dụng cụ đo thời gian phải đảm bảo một số điều kiện sau : Sự đúng đắn của việc đo thời gian. Thuận tiện khi sử dụng, không làm căng thẳng về thị giác và thần kinh của nhân viên định mức. Có khả năng tập trung sự quan tâm của nhân viên định mức vào việc theo dõi nghiên cứu quá trình xây dựng. 31
- Đơn giản hoá kỹ thuật đo và giảm bớt khâu tính toán và ghi chép. Thuận tiện và đơn giản việc ghi chép và đăng ký các thời điểm đo dược và việc xử lý kết quả quan sát. Công cụ phổ biến nhất được sử dụng để đo chi phí thời gian làm việc khi quan sát là đồng hồ bấm giây. Ngoài ra để ghi chép kết quả đo được người ta còn dùng biểu đồ bấm giờ. Để nhận được những tài liệu bổ sung, xác định rõ thêm kết quả quan sát người ta dùng các công cụ kiểm tra . Những dụng cụ này đăng ký tự động thời hạn của công việc và các thời gian ngừng của máy móc, thiết bị mà không cần sự tham gia trực tiếp của người quan sát. Khi cần nghiên cứu những diễn biến của những quá trình phức tạp người ta dùng các công cụ quay phim, chụp ảng chuyên môn. 3.3 Các phương pháp quan sát 3.3.1 Phương pháp thống kê kỹ thuật Phương pháp thống kê kỹ thuật là phương pháp được áp dụng rộng rãi khi tiến hành việc quan sát nhằm xác định mức độ hoàn thành các định mức thi công hiện hành. Khi quan sát cần chú ý đảm bảo cho thành phần thực tế của công tác phù hợp với thành phần tiêu chuẩn của định mức cần kiểm tra, và công việc được thực hiện trong điều kiện tổ chức lao động và sản xuất bình thường . Việc xác định mức độ hoàn thành định mức, theo quy định, được tiến hành trong suốt ca làm việc . Đối với quá trình xây dựng mà thời hạn sản xuất của sản phẩm lớn hơn 1 ca, thì việc thống kê sự hoàn thành định mức được tiến hành trong cả thời kỳ đó. Kết quả quan sát được ghi chép vào biểu mẫu “Thống kê kỹ thuật” (TK), nội dung của biểu mẫu gồm 6 phần : Phần I : Nêu những tài liệu về công nhân như tên đội, đội trưởng, nghề nghiệp, số lượng công nhân và cấp bậc. Phần II : là biểu đồ quan sát, trên biểu đồ có chia thành từng khoang nhỏ mỗi khoang ứng với 10 phút . Chi phí thời gian được chia thành 2 nhóm chi phí định mức (đ) và chi phí không được định mức - tổn thất thời gian làm việc (t). Kết quả quan sát xác định được chỉ tiêu chi phí thời gian làm việc được định mức và không được định mức tính theo ngày công (Cột 3,4,5 biểu đồ ghi chép thời gian). Phần III : Tính toán khối lượng công tác hoàn thành theo mỗi quá trình xây dựng, được quan sát, hoặc theo mỗi tổ , đội đã được quan sát, trong phần này trình bày các công thức tính toán và kết quả. Phần IV : Trình bày sự sai lệch so với định mức, phân tích những nguyên nhân gây ra những sai lệch về sản lượng so với định mức thi công hiện hành theo các khía cạnh: Máy móc công cụ, vật liệu, sản phẩm, tổ chức lao động và sản xuất, thành phần công tác 32
- Phần V : là kết quả quan sát, nêu rõ thời gian được định mức tương ứngvới khối lượng công tác đã hoàn thành và chi phí thời gian theo tài liệu quan sát được. So sánh 2 chỉ tiêu đó xác định được mức độ hoàn thành định mức thi công. Phần VI : Trình bày những kiến nghị thích hợp. Trong trường hợp cần thiết , cùng với kết quả xác định mức độ hoàn thành định mức thi công còn thuyết minh rõ các điều kiện tổ chức kỹu th ật của quá trình xây dựng và các nhân tố khác có liên quan. Biểu mẩu số 1 Biểu thống kê kỹ thuật Tên xí nghiệp Tổ chức xây dựng và đối tượng Ngày, tháng TK KT Tên quá trình : I. Tài liệu về công nhân: Tên đội (tô) Số lượng công nhân Theo cấp bậc Nghề nghiệp 1 2 3 4 5 6 7 II. Biểu đồ ghi chép thời gian Chỉ Tổng chi phí thời tiêu Biểu đồ ghi chép thời gian gian Cộng Tổng cộng (ngà Ngày (%) y công 6 7 8 9 13 công 14 ) (1) (3) (4) (5) đ 2 4 3 4 4 2 1 4 t a b c Ghi chú : a : đến muộn b : làm việc riêng c : do thiếu vật liệu III. Tính toán khối lượng đã hoàn thành. 33
- Công thức tính toán Kết quả tính toán IV. Sai lệch so với định mức Do máy móc, Do vật liệu và sản Do tổ chức lao Do thành phần Do nguyên nhân công cụ, dụng cụ phẩm động và sản xuất công nghệ khác V. Kết quả quan sát : Số Theo định mức Theo quan sát % thực hiện hiệu Khối (giờ công) (giờ công) định mức trên lượng Đơn Tổng Ghi định sản 1 đơn vị Chi phí Không Kể cả vị đo thời chú mức phẩm đã sản Cộng được định kể tổn tổn gian Q. hiện làm phẩm mức thất thất sát hành 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 VI. Kết luận : 3.3.2 Phương pháp chụp ảnh quá trình Phương pháp chụp ảnh quá trình dùng để nghiên cứu tất cả các loại chi phí thời gian làm việc và chỉ ra những tài liệu cần thiết để xây dựng định mức mới. Phương pháp này được xây dựng rộng rãi nhất trong xây dựng cả khi quan sát để chấn chỉnh tổ chức cũng như khi quan sát để định mức. Chụp ảnh quá trình cho cá nhân áp dụng khi lao động của 1 công nhân có thể tạo ra được sản phẩm. Chụp ảnh quá trình cho nhóm áp dụng khi sản phẩm của quá trình là kết quả lao động của 1 số công nhân cùng phối hợp thực hiện. Công việc ghi chép thời gian được áp dụng một trong 3 phương pháp sau đây : Chụp ảnh ghi số Chụp ảnh đồ thị Chụp ảnh hỗn hợp Chụp ảnh ghi số : Số liệu thu thập được ghi vào phiếu “chụp ảnh ghi số” CA/GS (Biểu mẫu số 2) 34
- Trước khi quan sát điền sẵn cột 1 “số hiệu phần tử”, cột 2 “tên phần tử”. Trong quá trình quan sát, các phần tử xuất hiện được ghi lần lượt vào cột 4 bằng số hiệu tương ứng, thời gian kết thúc của phần tử đó được ghi vào cột 5 và 6, số lượng sản phẩm được ghi vào cột 8 và cột 9. Các cột từ 10 - 15 tương tự như cột 4 - 9 được sử dụng để thống kê thời gian và công tác của công nhân thứ 2 nếu có. Sau khi quan sát tiến hành chỉnh lý cho từng tờ phiếu . Ban đầu tính thời gian xảy ra của từng phần tử sau mỗi lần xuất hiện, bằng cách lấy thời gian kết thúc của phần tử đó trừ đi thời gian kết thúc của phần tử kề liền xuất hiện trước nó, kết quả ghi vào cột 7 và cột 13. Sau đó tính tổng thời gian chi phí của từng phần tử theo từng công nhân riêng biệt rồi ghi vào cột 3. Trường hợp quan sát đồng thời 2 công nhân thì cột này được ghi dưới dạng phân số, tử số tương ứng với công nhân thứ nhất, mẫu số - công nhân thứ 2. Tổng của cột 3 phải bằng tổng của cột 7 và cột 13. Nếu không bằng nhau chứng tỏ việc tính toán không đúng cần kiểm tra lại. Chụp ảnh ghi số (Biểu mẫu số 3) được sử dụng để quan sát công việc của máy hoặc của một hay 2 công nhân khi cần độ chính xác lớn (5 -15 giây). Chụp ảnh đồ thị : Số liệu thu thập ghi vào phiếu “chụp ảnh đồ thị” CA/ĐT (Biểu mẩu số 3) Trước khi quan sát sơ bộ điền sẵn nội dung cột 1,2. Trong quá trình quan sát thời hạn xảy ra của từng phần tử được biểu thị bằng những đoạn thẳng trên biểu đồ có chia thành từng khoang nhỏ, mỗi khoang tương ứng với 1 phút. Đối với mỗi công nhân biểu thị mỗi đường đồ thị khác nhau. Việc chỉnh lý trên tờ phiếu tiến hành như sau : ứng với từng phần tử và từng công nhân tính tổng số các khoang trên biểu đồ và ghi vào cột 4,5. Chính trị số này biểu thị chi phí thời gian theo từng phần tử của từng công nhân. Số lượng sản phẩm của từng phần tử đã hoàn thành theo từng công nhân được ghi vào cột 6,7. Ưu việt của chụp ảnh đồ thị so với chụp ảnh ghi số : Việc ghi chép chi phí thời gian rõ ràng, giảm nhẹ cho việc phân tích, chỉnh lý kết quả quan sát. Kỹ thuật ghi chép đơn giản. Việc chỉnh lý kết quả quan sát đơn giản, tốn ít thời gian. Có thể quan sát đồng thời công việc của 1-3 công nhân và kết quả số liệu thu được của từng công nhân riêng biệt, độ chính xác 0.5-1 phút. c) Chụp ảnh hỗn hợp : Sử dụng để khi tiến hành quan sát đồng thời 1 nhóm có 3 công nhân trở lên, khi đó không thể dùng phương thức ghi chép chụp ảnh ghi số hoặc đồ thị được. Với phương pháp chụp ảnh hỗn hợp số liệu thu được ghi chép trên phiếu “chụp ảnh hỗn hợp” (Biểu mẫu số 4). Công việc ghi chép tiến hành tương tự như chụp ảnh đồ thị. 3.3.3 Phương pháp bấm giờ 35
- Phương pháp bấm giờ sử dụng để nghiên cứu thời hạn của những bộ phận lặp đi lặp lại của các bộ phận chủ yếu. Độ chính xác có thể từ 1 giây đến 0.1 giây. Có 2 phương pháp đo thời gian : bấm giờ chọn lọc và bấm giờ liên tục. a) Phương pháp bấm giờ chọn lọc : Là phương pháp đo chi phí thời gian lần lượt theo từng phần tử một. Khi quan sát chỉ đo chi phí thời gian của phần tử đã chọn. Sau khi nghiên cứu xong phần tử này thì mới chuyển sang nghiên cứu phần tử khác . Để ghi chép thời gian khi bấm giờ chọn lọc sử dụng biểu mẫu BG/CL (biểu mẩu số 5) . Trước khi quan sát, sơ bộ điền nội dung cột 1,2. Trong quá trình quan sát, sử dụng đồng hồ bấm giờ để đo thời hạn xảy ra của từng phần tử sau mỗi chu kỳ và ghi chỉ tiêu đó vào các dòng và cột tương ứng của biểu đồ theo thứ tự quan sát. b) Phương pháp bấm giờ liên tục : Là phương pháp đo chi phí thời gian đồng thời cho tất cả các phần tử của quá trình nghiên cứu. Khi quan sát có thể đo được liên tục thời hạn của các phần tử kề liền nhau trong chu kỳ, do đó rút ngắn được thời gian quan sát, đồng thời giảm bớt mức độ sai số do giảm được số lần bấm nút đồng hồ. Kết quả số liệu thu thập được ghi vào biểu mẫu BGLT (Biểu mẩu số 6). Do thời gian chi phí của từng phần tử có thể rút ngắn, nếu đo thời hạn theo từng phần tử thì kết quả dễ bị sai sót, đồng thời để giảm bớth ẳsự căng t ng cho nhân viên định mức khi thực hiện bấm giờ liên tục, có thể gộp các phần tử thành từng nhóm phần tử và tiến hành đo chi phí thời gian cho từng nhóm đó. Sau đó dùng phương pháp tính toán để tách hao phí thời gian cho từng phần tử riêng biệt. Các phần tử của quá trình phải xuất hiện liên tục kề tiếp nhau theo chu trình khép kín. Ví dụ : Nghiên cứu quá trình gồm 4 phần tử : a,b,c,d ta gộp các phần tử lại với nhau thành từng nhóm mỗi nhóm có 3 phần tử như sau: a + b + c = A b + c + d = B c + d + a = C d + a + b = D 3a + 3b + 3c + 3d = A + B + C + D 3 (a + b + c + d) = A + B + C + D đặt a + b + c + d = S 3S = A + B + C + D 36
- S = A + B + C + D 3 Sau khi quan sát sẽ thu được kết quả hao phí thời gian của từng nhóm A, B, C, D từ đó ta suy ra S . Sau đó ta tính toán hao phí thời gian từng phần tử riêng biệt như sau: a = S - B ; b = S - C ; c = S - D ; d = S - A Ví dụ bằng số : a + b + c = A = 46// b + c + d = B = 45// c + d + a = C = 47// d + a + b = D = 42// 3 (a + b + c + d) = 3 S = 180// S = = 60’ Do đó : a = S - B = 60// - 45// = 15// ; b = S - C = 60// - 47// = 13// c = S - D = 60// - 42// = 18// ; d = S - A = 60// - 46// = 14// 3.4 Chỉnh lý kết quả quan sát định mức 3.4.1 Chỉnh lý kết quả quan sát bằng phương pháp chụp ảnh quá trình : Chỉnh lý cho từng tờ phiếu quan sát bằng cách tổng hợp chi phí thời gian hợp lệ và số lượng sản phẩm hợp quy cách của từng phần tử đã ghi chép được trên từng tờ phiếu quan sát, sau đó tuỳ thuộc vào tính chất của các quá trình xây dựng (không chu kỳ hay chu kỳ) Các kết quả tính toán này sẽ được trình bày vào các biểu chỉnh lý riêng biệt, từ đó xác định được tổng số chi phí thời gian cho từng phần tử và số lượng sản phẩm của từng phần tử nhận được sau mỗi lần quan sát. Đối với quá trình không chu kỳ sử dụng biểu “chính lý kết quả quan sát cho quá trình không chu kỳ” (Biểu mẩu số 7) Đối với quá trình chu kỳ sử dụng biểu “chỉnh lý kết quả quan sát cho quá trình chu kỳ” (biểu mẩu số 8). Kết quả cuối cùng của việc chỉnh lý là xác định chỉ tiêu số lượng sản phẩm của phần tử tính cho 1 giờ làm việc thuần tuý (đối với quá trình không chu kỳ) hoặc chỉ tiêu số chu kỳ sau 1 giờ làm việc thuần tuý (đối với quá trình chu kỳ). Số lượng sản phẩm của phần tử tính cho 1 giờ làm việc thuần tuý được xác định như sau: 60.Q . S = i (3 - 1) Ti Trong đó : Qi : số lượng sản phẩm của phần tử i nhận được sau mỗi lần quan sát; 37
- Ti : tổng chi phí thời gian để thực hiện phần tử i sau mỗi lần quan sát (phút). Số chu kỳ sau 1 giờ làm việc thuần tuý được xác định theo công thức: 3600.n m = (3 - 2) ∑Ti Trong đó : n : số chu kỳ đã thực hiện được sau mỗi lần quan sát; Ti : chi phí thời gian để thực hiện phần tử i sau mỗi chu kỳ (giây). 3.4.2 Chỉnh lý kết quả quan sát bằng phương pháp bấm giờ : Sau mỗi lần bấm giờ kết quả thu được là một dãy số biểu thị những lượng thời gian đã tiêu hao cho 1 phần tử nào đó của quá trình - gọi là dãy số bấm giờ. Mức độ phân bố của dãy số bấm giờ có thể biểu thị bằng hệ số phân tán (Kpt) tmax K pt = (3 - 3) tmin Việc đánh giá sự đúng đắn của dãy số được tiến hành như sau : Loại trừ những con số quá lạc hậu của dãy số. Những con số này có thể do bấm giờ không chính xác hoặc do những nguyên nhân khác. Sắp xếp dãy số theo thứ tự từ bé đến lớn và tính hệ số phân tán của dãy số. Có 3 trường hợp sẽ xảy ra : + Nếu Kpt ≤ 1.3 có thể coi dãy số là hợp lý, không cần kiểm tra nữa. + Nếu 1.3 < Kpt ≤ 2 thì kiểm tra bổ sung bằng phương pháp tìm trị số giới hạn. Nội dung của phương pháp này là : giả sử loại trừ con số lớn nhất hoặc con số bé nhất của dãy số, rồi tính trị số giới hạn lớn nhất và bé nhất cho phép theo công thức : t− t []t = ∑ i n +K() t − t (3 - 4) max n −1 limn= 1 1 t− t []t = ∑ i 1 −K() t − t (3 - 5) min n −1 lim n 2 Trong đó : t1 , t2 tn-1 , tn là các trị số của dãy số xếp theo thứ tự tăng dần; Klim : hệ số phụ thuộc vào số lượng các con số của dãy số (không tính đến số đã dự định loại trừ). Giá trị Klim được xác định theo bảng sau : Bảng giá trị Klim theo số lượng trị số trong dãy số Số lượng trị số của dãy số Klim Số lượng trị số của dãy số Klim 4 1.4 9-10 1.0 5 1.3 11-15 0.9 6 1.2 16-30 0.8 7 - 8 1.1 31-50 0.7 38
- + Nếu số lớn nhất hoặc bé nhất của dãy số định loại trừ nằm ngoài khoảng gới hạn [tmax] , [tmin] thì ta loại trừ những số đó. Ngược lại nếu những số đó nằm trong khoảng giới hạn của dãy số thì ta vẫn giữ lại. + Nếu Kpt > 2 thì kiểm tra bổ sung bằng phương pháp tìm độ lệch quân phương tương đối (phương pháp toán xác suất) 2 1 ∑()ti− t tb ett = ± (3 - 6) ttb n( n − 1) hay công thức 2 2 1 n()()∑∑ ti − ti ett = ± (3 - 7) ∑ti n −1 Trong đó : e tt : độ lệch quân phương tương đối thực tế của dãy số; ttb : trị số trung bình của dãy số; 2 (S ti) : bình phương của tổng các trị số trong dãy số; 2 Sti : Tổng bình phương các trị số trong dãy; n : số con số trong dãy số. Ngoài ra có thể tính theo công thức gần đúng sau: 1 ()tmax − tmin ett = ϕ (3 - 8) ttb n Trong đó j là hệ số phụ thuộc vào số lượng các trị số trong dãy số, xác định theo bảng : n 5 10 15 20 30 j 0.9 1.0 1.08 1.15 1.3 Sau khi tính được độ lệch quân phương tương đối thực tế của dãy số ett ta đem so sánh với độ lệch quân phương tương đối cho phép [e]. [e] cho ở bảng sau : Số phần tử của quá trình [e] ≤ 5 7 > 5 10 ≥ 10 12 39
- Nếu ett [e] thì loại bỏ con số lớn nhất hoặc nhỏ nhất của dãy số và kiểm tra lại dãy số mới. Việc loại bỏ căn cứ vào 2 hệ số sau: 2 ∑ti − t1 ∑ti − t1∑ ti K1 = và Kn = 2 (3 – 9) ∑ti− t n tn∑∑ t i− t i Nếu : Ki Kn thì loại bỏ số lớn nhất. Sau khi loại bỏ 1 trong 2 số lớn nhất hoặc bé nhất. Nếu dãy số mới có Kpt ≤ 2 thì tiếp tục chỉnh lý theo trị số giới hạn. Nếu dãy số mới có Kpt > 2 thì tiếp tục chỉnh lý bằng phương pháp độ lệch quân phương tương đối. Trường hợp sau khi kiểm tra lại ett vẫn lớn hơn [e] thì tiếp tục loại bỏ thêm những con số có sai lệch lớn nhất so với trị số trung bình và tiếp tục kiểm tra dãy số mới cho đến khi nào đạt yêu cầu thì thôi. Chú ý : Nếu dãy số có từ 5 đến 15 con số thì số con số loại bỏ không được lớn hơn 2. Nếu số lượng con số trong dãy số nhiều hơn thì số con số bị loại bỏ cũng không được vượt quá 10% tổng số các con số trong dãy số . Ví dụ : Chỉnh lý dãy số bấm giờ 1 quá trình gồm 4 phần tử lặp đi lặp lại gồm 10 trị số : 20 , 25 , 18 , 19 , 22 , 13 , 25 , 24 , 32 , 22 Giải : 32 K = =2.462 > 2 ⎯⎯→ áp dụng phương pháp độ lệch quân phương pt 13 Sắp xếp các giá trị của dãy số theo thứ tự tăng dần và xác định trị số trung bình: 13+ 18 + 19 + 20 + 22+ 22+ 24+ 25+ 25+ 32 T = = 22 tb 10 Xác định độ lệch quân phương tương đối : áp dụng công thức (4 - 6) 2 Lập bảng để tính ti , D và D 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 S Ký hiệu ti 13 18 19 20 22 22 24 25 25 32 220 S ti D = ti - ttb -9 -4 -3 -2 0 0 2 3 3 10 0 S D i 40
- 2 2 D 81 16 9 4 0 0 4 9 9 100 232 S D 1 232 e ± = +0.073 = 7.3% tt 22 10.9 Như vậy ett = 7,3 > [e] = 7% Xác định : K1 và Kn S ti - t1 220 - 13 207 K1 = = = = 1.1 S ti - tn 220 - 32 188 2 S ti - t1 S ti 5027 - 13 . 220 2212 Kn = = = = 1.13 2 tn S ti - S ti 32 . 220 - 5072 1968 Ta có Kn > K1 nên loại bỏ số bé nhất là 13 Dãy số mới : 18 19 20 22 22 24 25 25 32 Kiểm tra lại hệ số phân tán Kpt : 32 Kpt = = 1.78 < 2 áp dụng phương pháp trị số giới hạn 18 Giả sử loại bỏ trị số nhỏ nhất 18 hoặc trị số lớn nhất 32 của dãy số và tính [tma x ], [tmin ] 207 - 32 [tma x ] = + 1.1 ( 25 - 18 ) = 29.57 9 - 1 207 - 18 [tmin ] = - 1.1 ( 32 - 19) = 9.32 9 - 1 Như vậy ta loại trừ trị số lớn nhất là 32 Dãy số mới tiếp theo là : 18 19 20 22 22 24 25 25 Xác định chi phí thời gian bình quân cho một đơn vị sản phẩm : Chỉ tiêu này được xác định trên cơ sở tổng hợp các bản chỉnh lý kết quả quan sát của tất cả các lần quan sát và có thể thực hiện bằng phương pháp tính trị số bình quân. Các chỉ tiêu chi phí thời gian bình quân được xác định bằng một trong các công thức tính trị số bình quân sau đây : 41
- n n n ttb = (1) ; ttb = (2) ; ttb = (3) (3 - 10) Qi S Si 1 S STi Ttbi Trong đó : ttb : hao phí thời gian trung bình cho 1 đơn vị sản phẩm của từng phần tử sau các lần quan sát; n : số lần quan sát; Qi : số lượng sản phẩm của phần tử nào đó nhận được sau mỗi lần quan sát. Riêng đối với chụp ảnh quá trình của quá trình có chu kỳ, hoặc bấm giờ thì Si là số chu kỳ của quá trình đó trong lần quan sát hay chính là số lượng các trị số trong dãy số; Ti : tổng thời gian tiêu hao cho mỗi lần quan sát; Si : số lượng sản phẩm của mỗi phần tử nào đó (hay số chu kỳ thực hiện hoặc số lượng các trị số trong dãy số), tính cho 1 đơn vị thời gian quan sát, thường tính cho 60 phút; Ttbi : thời gian hao phí trung bình của 1 đơn vị sản phẩm phần tử nào đó tính cho 1 lần quan sát. Ngoài ra còn có thể dùng công thức tính bình quân : S Ti ttb = (4) ( 3 - 11 ) S Si Nhưng chỉ với điều kiện là thời gian quan sát của các lần quan sát phải bằng nhau. Ví dụ : Sau 5 lần quan sát đối với 1 quá trình sản xuất thu được kết quả sau : Số liệu các lần quan sát Các chỉ tiêu 1 2 3 4 5 Độ lâu quan sát 60/ 90/ 120/ 150/ 180/ Hao phí thời gian trung bình cho 1 đơn vị sản phẩm trong mỗi lần quan sát. 2 2.4 3 4 6 Số sản phẩm nhận được 30 37.5 40 37.5 30 Để tính hao phí thời gian trung bình cho 1 đơn vị sản phẩm sau tất cả các lần quan sát có thể dùng 1 trong 4 công thức tính bình quân trên và đều cho kết quả giống nhau : Dùng công thức (1) : n 5 ttb = = = 3 phút Qi 30 37.5 40 37.5 30 42
- S + + + + Ti 60 90 120 150 180 Dùng công thức (2) : n 5 ttb = = = 0.05 giờ = 3 phút S Si 30 + 25 + 20 + 15 + 10 Dùng công thức (3) : n 5 ttb = = = 3 phút Qi 1 1 1 1 1 S + + + + Ti 2 2.4 3 4 6 Công thức (4) không dùng được cho trường hợp này vì độ lâu quan sát của các lần quan sát không bằng nhau. Câu hỏi 1/ Quá trình xây dựng và các hình thức quan sát 2/ Các phương pháp quan sát thu thập số liệu ? 3/ Các phương pháp xử lý số liệu quan sát ? 4/ Tính toán chi phí thời gian bình quân ? CHƯƠNG 4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TỔN THẤT VÀ LÃNG PHÍ THỜI GIAN TRONG XÂY DỰNG Một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy việc tăng năng suất lao động trong xây dựng là hợp lý hoá và chấn chỉnh việc sử dụng thời gian làm việc của công nhân, máy móc và thiết bị xây dựng nhằm giảm bớt tối đa những tổn thất và lãng phí thời gian. Trên cơ sở tiến hành điều tra chuyên môn có thể xác định được mức độ và nguyên nhân của những tổn thất thời gian làm việc. Phân tích các nguyên nhân và tìm các biện pháp sản xuất để trừ bỏ chúng. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu chúng ta cần tiến hành giải quyết các vấn đề: Phân loại các loại tổn thất và lãng phí thời gian (TG) Xác định các phương pháp nghiên cứu cho từng loại tổn thất và lãng phí TG. 43
- Vận dụng lý thuyết toán học để đảm bảo tính chính xác, đồng thời tốn ít công sức, thời gian. Xác định công thức tính toán để đánh giá hiệu quả tăng năng suất lao động, hạ giá thành xây dựng do giảm bớt được tổn thất và lãng phí thời gian. 4.1 Phân loại các tổn thất và lãng phí thời gian trong xây dựng Tổng số ngày làm việc theo lịch trong năm được chia làm 2 loại : Ngày làm việc theo chế độ. Ngày nghỉ theo chế độ. Những ngày không có mặt bao gồm ngày vắng mặt cho phép theo luật lao động và kế hoạch quy định và ngày vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc vượt quá tiêu chuẩn quy định. Ngày có mặt làm việc bao gồm ngày làm việc có ích và ngày tổn thất (ngừng việc do tổ chức sản xuấ t kém, do vi phạm kỷ luật lao động, hoặc tiêu phí cho các công tác thừa phi sản xuất đối với ngành xây dựng còn có những tổn thất không thể tránh khỏi do nguyên nhân khách quan như thời tiết xấu, mưa bão ). Trong ngày làm việc có ích bao gồm thời gian làm việc có ích và thời gian tổn thất (tổn thất thời gian không trọn ca). Thời gian tổn thất này có thể thấy rõ như đi chậm về sớm, ngừng việc do tổ chức sản xuất, lao động không đúng, hoặc do vi phạm kỷ luật lao động và có thể không thấy rõ như làm lại các sản phẩm bị hỏng, làm những công tác phi sản xuất, công tác thừa, làm các nghĩa vụ đối với nhà nước, xã hội v.v Như vậy thời gian tổn thất của công nhân trong quá trình sử dụng thời gian lao động bao gồm: Ngày vắng mặt không có lý do chính đáng. Ngày tổn thất. Thời gian tổn thất : + Tổn thất thấy rõ. + Tổn thất không thấy rõ (ẩn tàng). Trong thực tế những thời gian tổn thất này khó có thể tránh khỏi, song với biện pháp tổ chức sản xuất và lao động hợp lý, đúng đắn, phương thức quản lý và sử dụng lao động phù hợp thì sẽ hạn chế và giảm bớt chúng xuống mức tối thiểu. Số ngày trong năm (theo lịch) Số ngày làm việc Ngày thứ bảy, chủ nhật và theo chế độ ngày lễ 44
- Ngày có mặt Ngày vắng mặt Không có lý do Có lý do Ngày Ngày tổn chính chính làm việc thất trọn ca đáng hoặc đáng quá tiêu chuẩn Thời Thời gian gian làm tổn việc có thất ích Hình 4.1 : Sơ đồ tình hình sử dụng thời gian của công nhân trong một năm 4.2 Phương pháp nghiên cứu cho từng loại tổn thất thời gian 4.2.1 Phương pháp nghiên cứu tổn thất thời gian trọn ca : Tổn thất thời gian trọn ca được nghiên cứu dựa trên các tài liệu sau : Bảng chấm công. Các tài liệu kiểm tra định kỳ tại chỗ. Các chỉ tiêu kế hoặch về sử dụng thời gian hàng năm (nghỉ phép, ốm đau, hội họp, học tập ). Các báo cáo thống kê tháng trước và trong tháng tiến hành kiểm tra. Tổn thất thời gian làm việc trọn ca được xác định bằng người - ca bao gồm các thành phần sau : + Ngừng việc trọn ca do tổ chức sản xuất tồi. + Nghỉ phép quá tiêu chuẩn quy định. + Vi phạm kỷ luật lao động. + Nghỉ do ốm (vượt quá chỉ tiêu kế hoạch quy định). + Không có mặt vì thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước và xã hội. + Không có mặt vì những nguyên nhân khác. Chỉ tiêu tổng hợp tổn thất thời gian làm việc trọn ca của công nhân tính bằng % theo công thức sau : p .100 45
- Ptrọn ca = ( 4 - 1 ) A + p Trong đó : Ptrọn ca : tổng số tổn thất thời gian làm việc trọn ca; p : số lượng tổn thất thời gian tính theo người - ca; A : tổng số người - ca đã thực hiện trong tháng tiến hành kiểm tra. 4.2.2 Phương pháp nghiên cứu tổn thất thời gian làm việc không trọn ca (nội bộ ca) - Tổn thất thời gian làm việc thấy rõ: được nghiên cứu chủ yếu bằng phương pháp chụp ảnh ngày làm việc. Đối tượng nghiên cứu là các loại nghề và các loại máy móc thi công chủ yếu trên công trường. Khoảng thời gian quan sát phải bằng thời gian của 1 ca . Nếu công trường làm việc 2 ca thì chụp ảnh ngày làm việc cũng tiến hành cho tất cả các ca đó. Đồng thời phải được tiến hành lặp đi lặp lại nhiều lần. Tổn thất thời gian làm việc thấy rõ bao gồm các loại sau: + Công tác thừa: làm lại những phần thi công hỏng do lỗi của công nhân, cán bộ kỹ thuật hoặc do các nguyên nhân khác. + Ngừng việc ngoài quy định. Do tổ chức lao động và sản xuất không tốt; Do các nguyên nhân ngẫu nhiên như bị mất điện nước đột ngột Do vi phạm kỷ luật lao động. - Tổn thất thời gian làm việc không thấy rõ: được phát hiện căn cứ vào các lần kiểm tra định kỳ tại chổ Tổn thất thời gian làm việc không thấy rõ được phân như sau: + Vì tổ chức lao động và sản xuất không đúng . + Tổn thất do chất lượng vật liệu, kết cấu, sản phẩm ở khâu trước làm ra kém. + Tổn thất vì vi phạm kỷ luật sản xuất . + Tổn thất do sai sót trong đồ án thi công. Việc chỉnh lý kết quả nghiên cứu tổn thất thời gian làm việc nội bộ ca được tiến hành theo 3 giai đoạn. Giai đoạn 1 : Chỉnh lý kết quả của từng lần chụp ảnh ngày làm việc của công nhân hay của máy. Giai đoạn 2 : Tổng hợp kết quả điều tra theo từng khu vực quan sát, nghiên cứu và áp dụng các biện pháp loại trừ nguyên nhân gây ra tổn thất. Giai đoạn 3 : Tổng hợp kết quả nghiên cứu trên phạm vi toàn công trường. Giai đoạn quan trọng nhất của tất cả công tác nghiên cứu tổn thất thời gian làm việc của công nhân và của máy là việc nghiên cứu các biện pháp cải tiến việc sử dụng thời gian làm việc và áp dụng chúng vào sản xuất. 46
- 4.2.3 Tổng kết tổn thất và lãng phí thời gian Công thức tính toán tổng hợp tổn thất và lãng phí thời gian : 100 - Ptrọn ca P = Ptrọn ca + (Pthấy rõ + Pkhông thấy rõ) ; ( 4 - 2 ) 100 Trong đó : P : % tổn thất thời gian chung cho cả 3 loại; Ptrọn ca : % tổn thất thời gian trọn ca; Pthấy rõ : % tổn thất thời gian thấy rõ trong nội bộ ca; Pkhông thấy rõ : % tổn thất thời gian không thấy rõ trong nội bộ ca. Việc áp dụng các biện pháp rút bớt tổn thất thời gian làm việc cần tiến hành ngay sau khi nghiên cứu trong mỗi gian đoạn tiến hành điều tra và có sự tham gia trực tiếp của các cán bộ làm công tác kiểm tra. Kết quả cuối cùng của công tác điều tra được lập thành báo cáo với nội dung sau : Phần tổng hợp ghi thời kỳ điều tra, khu vực và đơn vị tiến hành điều tra. Tính chất chung của việc quản lý xây dựng và các khu vực tiến hành điều tra. Tổng hợp tổn thất thời gian làm việc của công nhân và máy. Những biện pháp trừ bỏ tổn thất thời gian làm việc. 4.3 Chụp ảnh ngày làm việc và thời gian sử dụng máy 4.3.1 Phương pháp chụp ảnh ngày làm việc và thời gian sử dụng máy Chụp ảnh ngày làm việc và thời gian sử dụng máy nhằm thu thập những tài liệu về số lượng và nguyên nhân của những tổn thất thời gian làm việc trong ca. Trên cơ sở đó đề ra biện pháp để khắc phục, trừ bỏ những tổn thất thời gian làm việc của công nhân cũng như tổn thất trong việc sử dụng máy thi công. Chụp ảnh ngày làm việc còn cung cấp những tài liệu cần thiết để xác định định mức các loại chi phí thời gian phụ như thời gian chuẩn kết, thời gian nghỉ giải lao và nhu cầu tự nhiên, thời gian ngừng vì lý do kỹ thuật thi công. Việc ghi chép số liệu khi chụp ảnh ngày làm việc và thời gian sử dụng máy được tiến hành bằng phương pháp chụp ảnh hỗn hợp. Khi tiến hành chụp ảnh ngày làm việc và thời gian sử dụng máy, thời hạn nhất thiết không được nhỏ hơn 1 ca. Để phát hiện đầy đủ tất cả các loại tổn thất thời gian làm việc, đồng thời đảm bảo cho chỉ tiêu bình quân về tổn thất thời gian làm việc không mang tính chất ngẫu nhiên cần tiến hành quan sát nhiều lần. Khi tiến hành chụp ảnh ngày làm việc và thời gian sử dụng máy cần tính toán khối lượng sản phẩm đã hoàn thành trong thời gian quan sát. 47
- Kết quả chụp ảnh ngày làm việc của công nhân và thời gian sử dụng máy được ghi chép vào biểu “chụp ảnh ngày làm việc” và “chụp ảnh thời gian sử dụng máy”. Bảng 4-1 : Biểu kết quả chụp ảnh ngày làm việc của công nhân Tổ chức xây dựng và Tổ định mức Ngày Tên quá trình CA tên công trình NLV I. Bản cân đối thời gian làm việc Tổng số hao phí thời gian Số Cộng Tổng cộng thứ Các loại chi phí thời gian Phút Phút tự % % công công Thời gian làm việc Thời gian tác nghiệp 3155 75.1 3281 78. 1 Thời phù hợp với (chính, phụ) 1 gian nhiệm vụ Thời gian chuẩn kết 126 3 2 hao Thời gian làm việc Theo chuyên môn - - 3 phí không thấy trước cho Không theo chuyên môn 178 4.2 178 4.2 4 sản Thời gian ngừng Ngừng vì tổ chức kỹ thuật - - 5 xuất việc được quy Nghỉ giải lao và nhu cầu tự 279 6.7 279 6.7 6 định nhiên Cộng - - 3738 89 7 Công tác thừa - - - 8 Ngừng Do thiếu vật liệu 143 3.4 9 Tổn việc do tổ Do thiếu công cụ lao động - - 10 thất và chức sản Do thiếu năng lượng - - 382 9.1 11 lãng xuất tồi Do thiếu diện công tác 33 0.8 12 phí Do thiếu sự chỉ dẫn của cán bộ kỹ - - 13 thời thuật gian Do nguyên nhân ngẫu nhiên 206 4.9 14 Do vi phạm kỷ luật lao động - - 80 1.9 15 Cộng - - 462 11 16 Tổng cộng - - 4200 100 17 II. Sự thực hiện định mức sản lượng : 56.8 x 60 x 100 - Có tính đến tổn thất thời gian: = 81% 4200 56.8 x 60 x 100 - Không tính đến tổn thất thời gian: = 92% 48
- 3738 III. Giải thích các dòng 4, 9, , 15 : Dòng 4: Công việc căn chỉnh lại ván khuôn đối với đội bê tông. Dòng 9 : Ngừng do không vận chuyển kịp bê tông đến. Dòng 12 : Ngừng liên quan đến việc sửa chữa ván khuôn. Dòng 14 : Ngừng vì sửa chữa ô tô vận chuyển bê tông. Dòng 15 : Công nhân đến muộn sau bữa ăn trưa. IV. Thành phần tổ đội công nhân : Cấp bậc 6 5 4 3 2 1 Cộng Số lượng công nhân - - 4 3 6 10 V. Sự có mặt và chỉ dẫn của cán bộ kỹ thuật : Số lần Thời gian chung Nội dung đã chỉ dẫn cho công Chức vụ Họ và tên đến Phút % ca nhân Kỹ sư Nguyễn Văn B 1 13 3 Về sai sót của ván khuôn Đốc công Trần Văn C 3 63 15 Chỉ dẫn sửa lại ván khuôn VI. Số lượng sản phẩm đã làm được và thời gian hao phí theo định mức : Định mức Định mức Số hiệu Đơn Khối lượng Nội dung công việc đo 1 đơn cho cả khối định mức vị đo hoàn thành vị lượng Định mức Đổ BT móng trụ bin cống, bê nội bộ tông trạm trộn dùng ôtô tự đổ m3 172 0.33 56.76 vận chuyển đến VII. Kiến nghị về khắc phục tổn thất thời gian làm việc : Cần kiểm tra kỹ chất lượng ván khuôn do đội mộc làm. Tính toán lại số lượng ô tô vận chuyển vữa bê tông đến nơi đổ. Người lập Bảng 4-2 : Biểu kết quả chụp ảnh thời gian sử dụng máy Tổ chức xây dựng và Tổ định mức Ngày Tên máy và quá trình CA tên công trình TGLV M 49
- I - Bản cân đối thời gian làm việc Tổng số hao phí thời gian Số thứ Cộng Tổng cộng tự Các loại chi phí thời gian Phút Phút % % công công Thời gian Máy có tải đầy đủ 353 73.35 353 73.35 1 làm việc Máy làm việc không tải - phù hợp với nhiệm Máy chạy không khó tránh - 2 vụ khỏi Máy làm công việc không thấy trước 8 1.68 Thời gian Do chăm sóc kỹ thuật máy 80 16.8 5 t ngừng việc Do lý do kỹ thuật thi công 12 2.5 i gian hao phí cho hao phí cho i gian được quy Do công nhân nghỉ giải lao 9 1.80 109 22.87 6 ờ n xu ấ ả định và nhu cầu tự nhiên Th s Cộng 462 96.22 462 96.22 7 Công tác thừa 11 2.13 8 Ngừng Do thiếu vật liệu 9 việc do tổ Do thiếu năng lượng 10 chức sản Do máy hỏng 11 xuất tồi Do thiếu diện thi công 12 Do thiếu chỉ dẫn của cán bộ Do nguyên nhân khác 13 t và lãng phí t và lãng Do nguyên nhân ngẫu nhiên 14 ấ Do vi phạm kỹ luật lao động 7 1.47 7 1.47 15 i gian n th ờ ổ Cộng 18 3.76 18 3.78 16 th T Tổng cộng 480 100 480 100 17 II. Sự thực hiện định mức sản lượng : 8.4 x 60 x 100 - Có tính đến tổn thất thời gian: = 105% 480 8.4 x 60 x 100 - Không tính đến tổn thất thời gian: = 109.99% 462 III. Giải thích các dòng: Dòng 5 : Công nhân bảo dưỡng kiểm tra máy, di chuyển máy ra bãi và về trạm Dòng 6 : Hướng dẫn kỹ thuật và đổi thợ lái máy giữa ca. Dòng 9 : Làm công việc gạt đá và sửa đường. IV. Thành phần công nhân lái máy: Cấp bậc 1 2 3 4 5 6 7 Cộng Số lượng công nhân 2 10 50
- V. Sự có mặt và chỉ dẫn của cán bộ kỹ thuật : Thời gian Số lần Nội dung đã chỉ dẫn cho công Chức vụ Họ và tên chung đến nhân Phút % ca Kỹ sư Nguyễn Văn B 1 13 3 Hướng dẫn vị trí đào đổ đất và sơ đồ di chuyển máy VI. Số lượng sản phẩm đã làm được và thời gian hao phí theo định mức : định mức Số hiệu Đơn Khối lượng Định mức đo Nội dung công việc cho cả khối định mức vị hoàn thành 1 đơn vị lượng Định mức Đào và vận chuyển đất m3 210 2.4 8h40 nội bộ cử ly 300m VII. Kiến nghị về cải tiến thời gian: Bộ phận máy nổ hay hỏng vặt cần sửa chữa. Ô tô đổ đá cần đổ đúng chỗ, gọn gàng, không đổ lấn ra đường đang đắp đất. Người Lập 4.3.2 Cách xác định số lần chụp ảnh ngày làm việc: Trị số chỉ tiêu trung bình tổn thất thời gian làm việc phụ thuộc vào số lần tiến hành quan sát (số lần chụp ảnh ngày làm việc). Vì vậy để đảm bảo chính xác của các kết quả nhận được, không mang tính chất ngẫu nhiên ta cần xác định số lần chụp ảnh ngày làm việc cần thiết. Để giải quyết vấn đề này người ta áp dụng toán học thống kê. Đó là phương pháp xác định số lần quan sát chụp ảnh ngày làm việc cần thiết của Cemdpamob. Công thức để xác định số lần quan sát chụp ảnh ngày làm việc : 4 d2 n = + 3 ; ( 4 - 3 e2 Trong đó : n : Số lần chụp ảnh ngày làm việc cần thiết; d2 : Phương sai thực nghiệm -Trị số đặc trưng cho trình độ ổn định (hay phân tán) của dãy số kết quả : 2 S (xi - ⎯x) d2 = (4 - 4) n - 1 Trong đó : 51
- xi: Các chỉ tiêu lãng phí thời gian của lần quan sát thứ i; ⎯x : Các chỉ tiêu lãng phí thời gian trung bình; e : Giới hạn của độ lệch cực đại giữa các đại lượng tổn thất thời gian thực tế và đại lượng tổn thất thời gian trung bình (tính theo %). Tuỳ theo mức độ chính xác yêu cầu người ta có thể lấy e với trị số nhất định. Theo kết quả nghiên cứu thực nghiệm thì trị số e cho phép sử dụng là không vượt quá 3%. e được chia ra các khoảng e = 3%; 2,5%; 2%; 1,5%; 1%. - Biểu diễn công thức thành hệ đồ thị Ta lần lượt thay các giá trị e vào công thức (4 - 3) và thay giá trị d2 được tính ở công thức (4 - 4) vào công thức (4 - 3) thì ta có thể vẽ được các đường đồ thị (các đường đồ thị có dạng bậc nhất). Vẽ đường e = 3% : ta chỉ cần xác định 2 điểm : 4 d2 Giả sử : = 0 n = 3 e2 4 . 9 e = 3% n = + 3 = 7 9 Tương tự như vậy ta vẽ tiếp các đường e = 2,5%; 2%; 1,5%; 1%. d2 40 1 1 e = 3 35 2 e =2,5 30 2 3 e = 2 25 4 e =1,5 20 3 5 e =1 15 4 10 5 5 n 0 5 10 15 20 25 30 35 40 Hình 4.2 : Biểu đồ dùng để xác định số lần chụp ảnh ngày làm việc hay chụp ảnh thời gian sử dụng máy. 52
- Nếu 1 điểm có toạ độ (n, d2) xác định, mà nằm phía bên phải của đường thẳng ngoài cùng (e = 3%) thì số lần quan sát là đủ, khi đó đại lượng của độ lệch cực đại của các chỉ tiêu tổn thất thời gian thực tế so với tổn thất thời gian trung bình được xác định bằng giá trị e theo đường thẳng gần điểm có toạ độ đó nhất. Nếu điểm đó mà nằm phía bên trái của đường (e = 3%) thì xem như số lần quan sát chưa đủ để nghiên cứu mà cần quan sát bổ sung. Ví dụ : Từ kết quả 5 lần của chụp ảnh ngày làm việc của 1 đội cốt thép kết quả nhận được chỉ tiêu xi tổn thất thời gian làm việc của nhóm đó (%): 8,5 ; 11,2 ; 14,6 ; 12,7 ; 13. Trị số trung bình của tổn thất thời gian làm việc: 8,5 + 11,2 + 14,6 + 12,7 + 13 ⎯x = = 12% 5 Lập bảng xác định d2 : x 8.5 11.2 14.6 12.7 13 Cộng x -⎯x -3.5 -0.8 +2.6 +0.7 1 0 (x - ⎯x)2 12.2 0.64 6.76 0.49 1 21.1 Đại lượng d2 được xác định theo công thức : 2 S ( xi - ⎯x ) 21,1 d2 = = = 5,3% n - 1 5 - 1 Theo đồ thị n = 5 và d2 = 5,3% thì điểm có toạ độ sẽ nằm ở bên trái đường e = 3 vì vậy số lần quan sát chưa đủ. Tiến hành quan sát bổ sung và kết quả thu được là 11,4% 8,5 + 11,2 + 14,6 + 12,7 + 13 + 11,4 ⎯x = = 11,9% 6 Lập bảng xác định d2 : x 8,5 11,2 14,6 12,7 13 11,4 Cộng x -⎯x -3,4 -0,7 +2,7 +0,8 1,1 -0,5 0 (x - ⎯x)2 11,6 0,49 7,29 0,64 1,21 0,25 21 Đại lượng d2 được xác định theo công thức : 2 S ( xi - ⎯x ) 21,48 d2 = = = 4,3% n - 1 6 - 1 53
- Theo đồ thị n = 6 và d2 = 4,3% thì điểm có toạ độ (6 ; 4,3) nằm ở bên phải đường e = 3 và bên trái đường e = 2,5, nên số lần chụp ảnh ngày làm việc là đủ , và có thể coi rằng tổn thất thời gian làm việc của đội cốt thép là 11,9 + 2,5% x 11,9 Câu hỏi 1/ Phân loại các tổn thất và lãng phí thời gian trong xây dựng ? 2/ Phương pháp nghiên cứu tổn thất và lãng phí thời gian ? 3/ Phương pháp chụp ảnh ngày làm việc và thời gian sử dụng máy ? CHƯƠNG 5 LẬP ĐỊNH MỨC KỸ THUẬT LAO ĐỘNG Các quy ước ký hiệu trong công thức tính toán : Số tuyệt đối viết bằng chữ in hoa ( thời gian tác nghiêp – Ttn ). Đơn vị tính : giờ công, ngày công, hay người-phút, người-giờ. Số tương đối tính bằng % viết bằng chữ thường ( tck , tnggl , tngtc ). Đơn vị tính : % 5.1 Tính toán định mức cho công tác tác nghiệp Chi phí lao động cho công tác tác nghiệp (Ttn) được xác định bằng tổng chi phí lao động cho các bộ phận của quá trình xây dựng tính trên 1 đơn vị đo sản phẩm của bộ phận đó (T1, T2, , Tn) được quy đổi theo hệ số chuyển đổi từ đơn vị đo sản phẩm của từng bộ phận của quá trình sang đơn vị đo sản phẩm của quá trình xây dựng (k1, k2, , kn). n Ttn = T1 k1 + T2 k2 + + Tn kn = ∑Ti k i ( 5 - 1 ) i=1 54
- Trong đó : Ti : là hao phí lao động trung bình tính cho 1 đơn vị sản phẩm phần tử thứ i ( Ti là kết quả thu được sau khi chỉnh lý số liệu sau các lần quan sát); ki : là hệ số chuyển đổi đơn vị hoặc hệ số cơ cấu của phần tử thứ i; ni : là số phần tử tác nghiệp của quá trình. Ví dụ: Sau các lần quan sát quá trình lắp tấm bê tông tường bằng cần cẩu, kết quả thu được và đã chỉnh lý như sau : TT Tên phần tử Hao phí lao động Sản phẩm Ghi chú phần tử 1 Nhận vữa 25.3ng.phút/m3 1,54 m3 2 Rải vữa 5.7 ng.phút/m2 103 m2 3 Móc tấm 2.3 ng.phút/tấm 140 tấm 4 Quan sát ra hiệu 1.03ng.phút/tấm 140 tấm 5 Lắp tấm góc 15.4ng.phút/tấm 16 tấm 6 Lắp tấm giữa 10.1ng.phút/tấm 124 tấm 7 Căng dây mức 8.6 ng.phút/lần 15 lần 8 Điều chỉnh, cố định, liên kết tạm 11.5 ng.phút/tấm 140 tấm 9 Tác nghiệp phụ 0.3 ng.phút/tấm 140 tấm Tính thời gian tác nghiệp để lắp 1 tấm tường ! Tính các hệ số ki : Hệ số chuyển đổi đơn vị : 1.54 k1 = = 0.011 140 103 k2 = = 0.74 140 k3 = k44 = k8 = k9 = 1 Hệ số cơ cấu : 16 k5 = = 0. 11 140 55
- 124 k6 = = 0.89 140 Như vậy thời gian tác nghiệp để lắp 1 tấm tường là : Ttn = 25,3 . 0.11 + 5,7 . 0.74 + 2,3 . 1 +1.03 . 1 + 15,4 . 0.11 + 10,10 . 0,89 + 8,6 . 0.11 + 11,5 . 1 + 0,3 . 1 = 31.26 ng.phút/tấm 5.2 Tính toán định mức cho công tác chuẩn bị, công tác kết thúc Có thể tính theo 3 trường hợp : Thời gian chuẩn kết tính theo giá trị tuyệt đối : Trường hợp thời gian chuẩn kết khá lớn, trong đó lại có các phần việc, thao tác. n Tck = T1 k1 + T2 k2 + + Tn kn = ∑Ti k i ( 5 - 2 ) i=1 Trong đó : Ti : là thời gian để làm các thao tác, phần việc thứ i; ki : là hệ số chuyển đổi đơn vị hoặc hệ số cơ cấu của phần tử thứ i; ni : là số phần tử công tác chuẩn kết của quá trình. Trường hợp thời gian chuẩn kết không lớn lắm (xấp xỉ 5%) cũng có thể xác định thời gian chuẩn kết của từng lần quan sát và sau đó tính cho các lần quan sát. Sau lần quan sát thứ i ta có : Tcki = ( 5 - 3 ) Trong đó : Tcki : thời gian chuẩn kết cho 1 đơn vị sản phẩm sau 1 lần quan sát thứ i; Tck : tổng thời gian chuẩn kết của lần quan sát thứ i; Pi : số lượng sản phẩm lần quan sát thứ i. Sau n lần quan sát : n S Tcki i=1 Tck = ( 5 - 4 ) n Cách này ít dùng vì độ chính xác thấp và chỉ dùng ở phạm vi hẹp. Thời gian chuẩn kết tính theo giá trị tương đối : Trong trường hợp thời gian chuẩn kết chiếm một tỷ lệ nhỏ trong toàn bộ thời gian làm việc thì định mức thời gian chuẩn kết có thể tính bằng % của thời gian định mức đơn vị và lập thành bảng tra sẵn. 56
- Phương pháp để lập định mức thời gian chuẩn kết là dựa vào kết quả chụp ảnh ngày làm việc. Nó phải đảm bảo đầy đủ tính chất đại diện cho các loại công tác, cho các vùng, các mùa theo từng nghề và đối tượng quan sát phải đảm bảo tính chất trung bình tiên tiến. Bảng 5-1 : Bảng tiêu chuẩn định mức thời gian chuẩn kết (Theo tài liệu của Liên Xô cũ) t t t Loại công tác ck Loại công tác ck Loại công tác ck (%) (%) (%) Gia công cốt thép 3 Công tác làm mái 2 Công tác nề 4 Lắp dựngcốt thép 6 Lắp cấu kiện BT 4 Công tác sơn 3 Rải bê tông nhựa 1 Lắp cấu kiện thép 6 Công tác nguội 6 Đổ bê tông toàn khối 3 Công tác ốp, lát 3 Vận chuyển 1 Công tác đất 1 Công tác mộc 5 Lắp điện 5 Thời gian chuẩn kết trong bảng được tính theo % so với ca làm việc, với điều kiện ca làm việc đó không có thời gian tổn thất, tức là bằng thời gian được định mức. 5.3 Tính toán định mức thời gian nghỉ giải lao và nhu cầu cá nhân Có 2 cách xác định : Dựa vào số liệu quan sát thực tế : Tài liệu cần thiết để lập định mức cho nghỉ giải lao và nhu cầu tự nhiên cũng là tài liệu chụp ảnh ngày làm việc, thực hiện trong những điều kiện tổ chức lao động và nơi làm việc hợp lý, quá trình thi công được thực hiện đúng với những công nhân tiên tiến, có ý thức lao động tốt. Trong quá trình phân tích và xác định định mức nghỉ giải lao và nhu cầu tự nhiên cần ước tính trước khả năng giảm bớt của nó bằng cách lợi dụng một phần thời gian ngừng việc do lý do kỹ thuật thi công cho nghỉ giải lao hoặc nhu cầu tự nhiên. Đối với một số công việc nhất định có thể xác định định mức nghỉ giải lao và nhu cầu tự nhiên bằng một tỷ lệ % so với thời gian định mức đơn vị sản phẩm, và lập thành bảng tra sẵn căn cứ vào kinh nghiệm thực tế cũng như chế độ về lao động, nghỉ ngơi của nhà nước đã ban hành. Bảng 5-2 : Bảng định mức thời gian nghỉ giải lao và nhu cầu cá nhân Nghề nghiệp-loại công tác tnggl (%) Nghề nghiệp-loại công tác tnggl (%) Thợ máy 10-12 Lắp kết cấu 10-12 Gia công cốt thép 10-12 Công tác ốp, lát 8-12 Rãi bê tông nhựa 10-12 Thợ mộc 10-15 Đổ bê tông toàn khối 10-15 Thợ nguội xây dựng 12-20 Hàn điện, hàn hơi 8-15 Thợ lắp kính 10-15 Làm mặt đường 8-15 Công nhân vận chuyển 6-25 Công tác xây 10-15 Đặt đường ống 8-20 Làm mái 15-20 Công tác trát 8-15 57



