Giáo trình Bồi dưỡng cấp chứng chỉ người lái phương tiện hạng nhì

doc 113 trang ngocly 40
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Bồi dưỡng cấp chứng chỉ người lái phương tiện hạng nhì", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docgiao_trinh_boi_duong_cap_chung_chi_nguoi_lai_phuong_tien_han.doc

Nội dung text: Giáo trình Bồi dưỡng cấp chứng chỉ người lái phương tiện hạng nhì

  1. BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI CỤC ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA VIỆT NAM GIÁO TRÌNH BỒI DƯỠNG CẤP CHỨNG CHỈ NGƯỜI LÁI PHƯƠNG TIỆN HẠNG NHÌ Năm 2014
  2. LỜI GIỚI THIỆU Thực hiện chương trình đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo thuyền viên, người lái phương tiện thủy nội địa quy định tại Thông tư số 57/2014/TT-BGTVT ngày 24 tháng 10 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải. Để từng bước hoàn thiện giáo trình đào tạo thuyền viên, người lái phương tiện thủy nội địa, cập nhật những kiến thức và kỹ năng mới. Cục Đường thủy nội địa Việt Nam tổ chức biên soạn “Giáo trình bồi dưỡng cấp chứng chỉ người lái phương tiện hạng nhì” với các nội dung: 1. Pháp luật về Giao thông đường thuỷ nội địa. 2. An toàn cơ bản và bảo vệ môi trường. 3. Thuỷ nghiệp cơ bản. 4. Luồng chạy tàu thuyền. 5. Điều động và thực hành điều động. 6. Vận tải hàng hoá và hành khách. Đây là tài liệu cần thiết cho cán bộ, giáo viên và học viên nghiên cứu, giảng dạy, học tập. Trong quá trình biên soạn không tránh khỏi những thiếu sót, Cục Đường thủy nội địa Việt Nam mong nhận được ý kiến đóng góp của Quý bạn đọc để hoàn thiện nội dung giáo trình đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đối với công tác đào tạo thuyền viên, người lái phương tiện thủy nội địa. CỤC ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA VIỆT NAM 2
  3. Môn học 01: PHÁP LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG THUỶ NỘI ĐỊA Bài 1 PHƯƠNG TIỆN VÀ NGƯỜI LÁI PHƯƠNG TIỆN 1. Điều kiện hoạt động của phương tiện. Đối với phương tiện không có động cơ trọng tải toàn phần từ 5 tấn đến 15 tấn phương tiện có động cơ tổng công suất máy chính từ 5 sức ngựa đến 15 sức ngựa hoặc có sức chở từ 5 người đến 12 người, khi hoạt động trên đường thuỷ nội địa phải bảo đảm các điều kiện quy định sau: a. Đạt tiêu chuẩn chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo quy định. b. Có Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện thuỷ nội địa, Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường; kẻ hoặc gắn số đăng ký; sơn vạch dấu mớn nước an toàn, số lượng người được phép chở trên phương tiện. 2. Điều kiện hoạt động của người lái phương tiện. 1. Người lái phương tiện không có động cơ trọng tải toàn phần từ 5 tấn đến 15 tấn, phương tiện có động cơ tổng công suất máy chính từ 5 sức ngựa đến 15 sức ngựa hoặc có sức chở từ 5 người đến 12 người phải có các điều kiện sau đây: a. Đủ 18 tuổi trở lên. b. Có chứng nhận đủ sức khoẻ của cơ quan y tế và biết bơi. c. Có giấy chứng nhận khả năng chuyên môn. 2. Người lái phương tiện không có động cơ với trọng tải toàn phần đến dưới 5 tấn hoặc có sức chở đến 12 người; phương tiện có động cơ công suất máy chính dưới 5 sức ngựa hoặc có sức chở dưới 5 người phải có các điều kiện sau đây: a. Đủ 15 tuổi trở lên. b. Có chứng nhận đủ sức khoẻ của cơ quan y tế và biết bơi. c. Phải học tập pháp luật về giao thông đường thuỷ nội địa và được cấp Giấy chứng nhận. Trường hợp sử dụng phương tiện vào mục đích kinh doanh thì độ tuổi người lái phương tiện phải đủ 18 tuổi trở lên. 3
  4. Bài 2 QUY TẮC GIAO THÔNG VÀ TÍN HIỆU CỦA PHƯƠNG TIỆN 1. Quy tắc giao thông. 1.1. Phương tiện tránh nhau khi đi đối hướng nhau: 1. Khi hai phương tiện đi đối hướng nhau có nguy cơ va chạm, thuyền trưởng, người lái phương tiện phải giảm tốc độ, tránh nhau và nhường đường theo nguyên tắc sau đây: a- Phương tiện đi ngược nước phải tránh và nhường đường cho phương tiện đi xuôi nước. Trưởng hợp nước đứng, phương tiện nào phát tín hiệu xin đường trước thì phương tiện kia phải tránh và nhường đường. b- Phương tiện thô sơ phải tránh và nhường đường cho phương tiện có động cơ, phương tiện có động cơ công suất nhỏ hơn phải tránh và nhường đường cho phương tiện có động cơ công suất lớn hơn, phương tiện đi một mình phải tránh và nhường đường cho đoàn lai. c- Mọi phương tiện phải tránh vè và tránh phương tiện có tín hiệu mất chủ động, phương tiện bị nạn, phương tiện đang thực hiện nghiệp vụ trên luồng. 2. Khi tránh nhau, phương tiện được nhường đường phải chủ động phát tín hiệu điều động theo quy định tại Điều 46 của Luật này và đi về phía luồng đã báo, phương tiện kia phải tránh và nhường đường. 1.2. Phương tiện tránh nhau khi đi cắt hướng nhau: Khi hai phương tiện đi cắt hướng nhau có nguy cơ va chạm, thuyền trưởng, người lái phương tiện phải giảm tốc độ, tránh và nhường đường theo nguyên tắc sau đây: 1. Phương tiện thô sơ phải tránh và nhường đường cho phương tiện có động cơ. 2. Mọi phương tiện phải tránh bè. 3. Phương tiện có động cơ nào nhìn thấy phương tiện có độngcơ khác bên mạn phải của mình thì phải tránh và nhường đường cho phương tiện đó. 1.3. Phương tiện vượt nhau: 1. Phương tiện vượt nhau thực hiện theo nguyên tắc sau đây: a- Phương tiện xin vượt phải phát âm hiệu một tiếng dài, lặp lại nhiều lần b- Phương tiện bị vựợt, khi nghe thấy âm hiệu xin vượt, nếu thấy an toàn phải giảm tốc độ và phát âm hiệu điều độngtheo quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 1 Điều 46 của Luật này và đi về phía luồng đã báo cho đến khi phương tiện xin vượt đã và vượt qua; nếu không thể cho vượt thì phát âm hiệu 5 tiếng ngắn 4
  5. c- Phương tiện xin vượt, khi nghe thấy âm hiệu điều động của phương tiện bị vượt thì mới được vượt. Khi vượt phải phát âm hiệu báo phía vượt của mình và phải giữ khoảng cách ngang an toàn với phương tiện bị vượt. 2. Phương tiện xin vượt không được vượt trong các trường hợp sau đây: a- Nơi có báo hiệu cấm vượt b- Phía trước có phương tiện đi ngược lại hay có vật chướng ngại c- Nơi luồng giao nhau, luồng cong gấp hoặc có báo hiệu chiều rộng luồng hạn chế; d- Khi đi qua khoang thông thuyền của cầu, cống, âu tàu, khu vực điều tiết giao thông đ- Trường hợp khác không bảo đảm an toàn. 2. Tín hiệu của phương tiện. 2.1. Tín hiệu điều động: 1. Khi cần đổi hướng đi, thuyền trưởng, người lái phương tiện phải phát âm hiệu điều động phương tiện mà mình đang điều khiển như sau: a- Một tiếng ngắn là tín hiệu đổi hướng đi sang phải. b- Hai tiếng ngắn là tín hiệu đổi hướng đi sang trái. c- Ba tiếng ngắn là tín hiệu chạy lùi. 2. Ngoài những âm hiệu quy định tại khoản 1 Điều này, phương tiện có thể đồng thời phát đèn hiệu như sau: a- Một chớp đèn là tín hiệu đổi hướng đi sang phải b- Hai chớp đèn là tín hiệu đổi hướng đi sang trái. c- Ba chớp đèn là tín hiệu chạy lùi. 2.2. Âm hiệu thông báo: Thuyền trưởng, người lái phương tiện thông báo tình trạng hoạt động của phương tiện mà mình đang điều khiển bằng âm hiệu như sau: 1. Bốn tiếng ngắn là tín hiệu gọi các phương tiện khác đến giúp đỡ. 2. Năm tiếng ngắn liên tiếp là tín hiệu không thể nhường đường 3. Một tiếng dài là tín hiệu xin đường, các phương tiện khác chú ý: 4. Hai tiếng dài là tín hiệu dừng lại 5. Ba tiếng dài là tín hiệu sắp cập bên, rời bến,chào nhau 6. Bốn tiếng dài là tín hiệu xin mở cầu, cống, âu tàu 7. Ba tiếng ngắn, ba tiếng dài, ba tiếng ngắn là tín hiệu có người trên phương tiện bị ngã xuống nước. 8. Một tiếng dài, hai tiếng ngắn là tín hiệu phương tiện bị mắc cạn, phương tiện đang thực hiện nghiệp vụ trên luồng. 5
  6. 9. Hai tiếng dài, hai tiếng ngắn là tín hiệu phương tiện mất chủ động. 2.3. Phân loại phương tiện để bố trí tín hiệu: Các phương tiện được chia ra 6 loại để bố trí tín hiệu như sau: 1. Loại A là loại phương tiện có động cơ tổng công suất máy chính từ 50 sức ngựa trở lên. 2. Loại B là loại phương tiện có động cơ tổng công suất máy chính từ 5 sức ngựa đến dưới 50 sức ngựa. 3. Loại C là loại phương tiện không có động cơ trọng tải toàn phần từ 50 tấn trở lên. 4. Loại D là loại phương tiện có động cơ công suất máy chính dưới 5 sức ngựa và phương tiện không có động cơ trọng tải toàn phần dưới50 tấn: 5. Loại E là loại bè có chiều dài trên 25 mét, chiều rộng trên 5 mét. 6. Loại F là loại bè có chiều dài đến 25 mét, chiều rộng đến 5 mét. 2.4. Đèn hiệu trên phương tiện hành trình một mình: 1. Đối với phương tiện loại A: a- Trên cột đèn thắp một đèn trắng mũi ở độ cao ít nhất 3 mét so với mặt trước; thắp hai đèn mạn ngang nhau, thấp hơn ít nhất ẳ chiều cao đèn trắng mũi, đèn xanh đặt bên phải, đèn đỏ đặt bên trái; thắp một đèn trằng lái thấp hơn đèn trắng mũi. b- Phương tiện có tốc độ thiết kế từ 30 km/h trở lên và có chiều dài lớn nhất từ 12 mét trở lên, ngoài các đèn hiệu quy định tại điểm a khoản này, trên cột đèn thắp một đèn vàng nhấp nháy liên tục cao hơn đèn trằng mũi 0.5 mét. c- Phương tiện có tốc độ thiết kế từ 30km/h trở lên và có chiều dài lớn nhất dưới 12 mét, trên cột đèn thắp một đèn vàng nhấp nháy liên tục. d-Phương tiện có tốc độ thiết kế từ 30km/h trở lên và có chiều dài lớn nhất dưới 12 mét, trên cột đèn thắp một đèn hiệu như đối với phương tiện loại B quy định tại khoản 2 Điều này. đ- Đối với phương tiện loại B, trên cột đèn thắp một đèn nửa xanh nửa đỏ ở độ cao ít nhất 2 mét so với mặt nước. e- Đối với phương tiện loại C, thắp hai đèn mạn, đèn xanh đặt bên phải, đèn đỏ đặt bên trái; thắp một đèn trắng lái. f- Đối với phương tiện loại D, thắp một đèn trắng đặt ở độ cao ít nhất 2 mét so với mặt nước. Đối với phương tiện loại E, thắp một đèn đỏ đặt giữa bè; thắp hai đèn trắng đặt trên trục dọc giữa bè, một đèn ở đầu bè, một đèn ở cuối bè, nếu bè có chiều 6
  7. rộng trên 15 mét thì thay các đèn trắng ở trục dọc bằng bốn đèn trắng ở bốn góc bè, các đèn này đặt cao hơn mặt nước ít nhất 1,5 mét. g- Đối với phương tiện loại F, thắp một đèn đỏ đặt giữa bè cao hơn mặt nước ít nhất 1,5 mét . 2.5. Tín hiệu trên phương tiện neo: 1. Ban đêm, phương tiện có chiều dài lớn nhất từ 45 mét trở xuống thắp ở phía mũi một đèn trắng đặt cao hơn mặt nước ít nhất 3 mét, phương tiện có chiềudài lớn nhất trên 45 mét thắp thêm ở phía lái một đèn trắng và đặt thấp hơn đèn trắng ở phía mũi 1 mét. Tại nơi có báo hiệu chiều rộng luồng bị hạn chế,phương tiện neo thắp thêm một đèn trắng đặt tại vị trí gần tim luồng nhất của phương tiện. Các bè neo ở ngoài cảng, bến thuỷ nội địa thắp một đèn đỏ đặt ở giữa bè và hai đèn trắng đặt ở hai góc bè phía luồng. 2. Ban ngày, ở phía mũi treo một dấu hiệu gồmhai hình tròn màu đen, đường kính 0,3 mét ghép theo kiểu múi khế. 2.6. Tín hiệu trên phương tiện có người ngã xuống nước: 1. Ban đêm, trên cột đèn thắp một đèn xanh giữa hai đèn đỏ, các đèn đặt cách nhau 1 mét, đèn đỏ dưới cao hơn mặt nước 2 mét, đồng thời phát âm hiệu liên tục theo quy định tại khoản 7 Điều 47 của Luật này. 2. Ban ngày, trên cột đèn treo cờ hiệu “ Cờ chữ O”, đồng thời phát âm hiệu liên tục theo quy định tại khoản 7 Điều 47 của Luật này. 2.7. Tín hiệu trên phương tiện bị nạn yêu cầu cấp cứu: 1. Ban đêm, trên cột đèn thắp một đèn đỏ nhấp nháy liên tục, đồng thời phát liên tiếp những tiếng còi ngắn hoặc đánh liên hồi chuông, kẻng. 2. Ban ngày, trên cột đèn treo cờ hiệu “ Cờ chữ N” phía cờ hiệu “ Cờ chữ C” và phát âm hiệu theo quy định tại khoản 1 Điều này. 7
  8. Bài 3 QUY TẮC BÁO HIỆU ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA VIỆT NAM 1. Những quy định của quy tắc báo hiệu đường thủy nội địa việt nam. 1.1. Quy định bờ phải, bờ trái hay phía phải, phía trái của luồng tàu chạy: Chiều dòng chảy để làm cơ sở quy định bờ phải, bờ trái hay phía phải phía trái của luồng tàu chạy trong quy tắc báo hiệu ĐTNĐ Việt Nam được xét theo chiều của dòng chảy lũ. 1. Đối với sông kênh trong nội địa: Theo hướng dòng chảy từ thượng lưu xuống hạ lưu, từ phía trong nội địa ra phía cửa biển bên tay phảilà bờ phải, bên tay trái là bờ trái. 2. Đối với vùng duyên hải, ven vịnh: quy ước theo chiều từ phía Bắc xuống phía Nam bên tay phải (phía đất liền) là phía phải, bên tay trái(phía ngoài biển) là phía trái. Từ bờ ra ngoài biển bên tay phaỉ là phía phải, bên tay trái là phía trái. 3. Trên hồ tự nhiên hay hồ nhân tạo; trường hợp hồ có dòng chảy thì theo trục luồng chính từ thượng lưu nhìn về hạ lưu và đối với những đoạn luồng chính thì theo hướng nhìn ra trục luồng chính bên tay phải là bờ phải, bên tay trái là bờ trái. Trường hợp hồ không có dòng chảy thì theo quy định tại khoản 4. 4. Các trường hợp đặc thù khác thì do cơ quan quản lý nhà nước về đường thuỷ nội địa có thẩm quyền là Cục Đường thủy nội địa Việt Nam, Chi Cục đường thủy nội địa phía Nam xem xét quyết định. 1.2. Phân loại báo hiệu: Báo hiệu ĐTNĐ Việt Nam phân thành 3 loại: 1. Báo hiệu chỉ giới hạn, vị trí của luồng tàu chạy (gọi chung là báo hiệu dẫn luồng) là những báo hiệu giới hạn phạm vi chiều rộng, chỉ vị trí hay chỉ hướng của luồng tàu chạy nhằm hướng dẫn phương tiện đi đúng theo luồng tàu. 2. Báo hiệu chỉ vị trí nguy hiểm hay vật chứơng ngại trên luồng. Là những báo hiệu chỉ cho phương tiện thuỷ biết vị trí các vật chướng ngại, các vị trí hay khu vực nguy hiểm trên luồng để phòng tránh, nhằm đảm bảo an toàn cho phương tiện và công trình trên tuyến. 3. Báo hiệu thông báo, chỉ dẫn là những báo hiệu thông báo các tình huống có liên quan đến luồng tàu chạy hay điều kiện chạy tàu để các phương tiện kịp thời có các biện pháp phòng ngừa và xử lý, bao gồm các báo hiệu thông báo cấm, báo hiệu thông báo sự hạn chế, báo hiệu chỉ dẫn và báo hiệu thông báo. 2. Các báo hiệu đường thủy nội địa Việt Nam. 8
  9. A. Báo hiệu chỉ giới hạn, vị trí của luồng tàu chạy: A1. Phao chỉ vị trí giới hạn của luồng tàu chạy. A1.1. Phao chỉ vị trí giới hạn bên bờ phải của luồng tàu chạy. Hình dáng Báo hiệu là phao có biển (hay tiêu thị) là hình trụ, hoặc là cờ tạm biển hình tam giác. Màu sắc Phao, biển, tiêu thị và cờ đều sơn màu đỏ. Đèn hiệu Ban đêm, một đèn chớp 1 ngắn, ánh sáng màu đỏ. Ý nghĩa Báo rằng: Giới hạn phía phải của luồng tàu chạy. Chớp một ngắn (FI-5s) A1.2. Phao chỉ vị trí giới hạn bên bờ trái của luồng tàu chạy. Hình dáng Báo hiệu là phao có biển (hay tiêu thị) là hình nón, hoặc là cờ tạm biển hình tam giác. Màu sắc Phao, biển, tiêu thị và cờ đều sơn màu xanh lục Đèn hiệu Ban đêm, một đèn chớp 1 ngắn, ánh sáng màu xanh lục. Ý nghĩa Báo rằng: Giới hạn phía trái của luồng tàu chạy 9
  10. Chớp một ngắn (FI-5s) A2. Phao chỉ vị trí giới hạn của luồng tàu sông đi cạnh luồng tàu biển. A2.1. Đặt phía bên phải của luồng tàu sông. Hình dáng Báo hiệu là phao có biển (hay tiêu thị) là hình trụ, hoặc là cờ tạm biển hình tam giác. Màu sắc Phao, biển sơn khoang đỏ- trắng- đỏ, tiêu thị, cờ sơn màu đỏ. Đèn hiệu Ban đêm, một đèn chớp đều, ánh sáng màu đỏ. Ý nghĩa Báo rằng: Giới hạn phía phải của luồng tàu sông đi cạnh luồng tàu biển. Chớp đều (ISO-4s) A2.2. Đặt phía bên trái của luồng tàu sông. Hình dáng Báo hiệu là phao có biển (hay tiêu thị) là hình nón, hoặc là cờ tạm biển hình tam giác. Màu sắc Phao, biển sơn khoang xanh lục- trắng- xanh lục, tiêu thị, cờ sơn màu xanh lục. Đèn hiệu Ban đêm, một đèn chớp đều, ánh sáng màu xanh lục. Ý nghĩa Báo rằng: Giới hạn phía trái của luồng tàu sông đi cạnh luồng tàu biển. Khi luồng lạch ổn định hoặc trong một số trường hợp đặc biệt thì các báo hiệu từ A1,A2 vật mang là phao có thể được thay bằng trụ. 10
  11. Chớp đều (ISO-4s) A3. Báo hiệu luồng tàu đi gần bờ A3.1. Báo hiệu luồng tàu đi gần bờ bên phải. Hình dáng Một biển hình vuông đặt trên cột mặt biển vuông góc với hướng luồng. Màu sắc Biển sơn hai mặt, sơn khoang ngang trắng - đỏ - trắng. Đèn hiệu Ban đêm, một đèn chớp 1 dài, ánh sáng màu đỏ. Ý nghĩa Báo rằng: “Luồng tàu đi gần bờ phải và dọc theo bờ phải. Chớp 1 dài (OC-3s) A3.2. Báo hiệu luồng tàu đi gần bờ bên trái. Hình dáng Một biển hình thoi đặt trên cột mặt biển vuông góc với hướng luồng. Màu sắc Biển sơn hai mặt, nửa trên xanh lục, nửa dưới trắng. Đèn hiệu Ban đêm, một đèn chớp 1 dài, ánh sáng màu xanh lục. Ý nghĩa Báo rằng: “Luồng tàu đi gần bờ trái và dọc theo bờ trái” Chớp 1 dài (OC-3s) A4. Báo hiệu cửa luồng ra vào cảng, bến A4.1. Đặt ở bên phải. Hình dáng Một biển hình trụ đặt trên cột Màu sắc Thân cột sơn khoang màu đỏ- trắng- đỏ, viền biển sơn màu đỏ. Đèn hiệu Ban đêm, một đèn chớp đều nhanh, ánh sáng màu đỏ. Ý nghĩa Báo rằng: Giới hạn phía bên phải của cửa luồng ra vào cảng, bến. 11
  12. Chớp đều (ISO-1s) 4.2. Đặt ở bên trái Hình dáng Một biển hình nón đặt trên cột Màu sắc Thân cột sơn khoang màu xanh lục- trắng- xanh lục, biển sơn màu xanh lục. Đèn hiệu Ban đêm, một đèn chớp đều nhanh, ánh sáng màu xanh lục. Ý nghĩa Báo rằng: Giới hạn phía bên trái của cửa luồng ra vào cảng, bến. Báo hiệu này cũng được sử dụng để báo lối ra vào các nhánh phụ, các luồng sử dụng báo hiệu A2.1, A2.2 để giới hạn luồng chạy tàu, nhằm phân biệt với luồng chính. Chớp đều (ISO-1s) A.5. Phao tim luồng Hình dáng Phao hình cầu hoặc phao ống biển hình cầu Màu sắc Phao cầu sơn xen kẽ dải dọc đỏ - trắng, phao ống sơn thành hai nửa đỏ - trắng, biển sơn theo dải dọc đỏ - trắng. Đèn hiệu Ban đêm, một đèn chớp 1 dài, ánh sáng màu trắng. Ý nghĩa Chỉ vị trí tim luồng, xung quanh là vùng nước an toàn. Dùng hướng dẫn tàu thuyền đi lại theo tim luồng trên đường thuỷ rộng. Chớp 1 dài (OC-5s) A6. Báo hiệu chuyển hướng luồng. A6.1. Báo hiệu chuyển hướng luồng đặt bên bờ phải. Hình dáng Một biển hình vuông đặt trên cột, mặt biển vuông góc với trục luồng tàu chạy Màu sắc Biển sơn màu vàng, giữa biển có vạch dọc sơn màu đen 12
  13. Đèn hiệu Ban đêm, một đèn chớp đều, ánh sáng màu vàng. Ý nghĩa Báo rằng: “Kể từ vị trí đặt báo hiệu, luồng chạy tàu chuyển hướng từ bờ phải sang bờ trái” Chớp đều (ISO-4s) A6.2. Báo hiệu chuyển hướng luồng đặt bên bờ trái . Hình dáng Một biển hình thoi đặt trên cột, mặt biển vuông góc với trục luồng tàu chạy Màu sắc Biển sơn màu vàng, giữa biển có vạch dọc sơn màu đen Đèn hiệu Ban đêm, một đèn chớp đều, ánh sáng màu vàng. Ý nghĩa Báo rằng: “Kể từ vị trí đặt báo hiệu, luồng chạy tàu chuyển hướng từ bờ trái sang bờ phải” Chớp đều (ISO-4s) A7. Chập tiêu tim luồng. A7.1. Chập tiêu tim luồng đặt bên bờ phải. Hình dáng Gồm hai biển, biển trên cột sau đặt cao hơn biển trên cột trước. Mặt biển đặt vuông góc với tim luồng và trùng với hướng luồng tàu chạy. Màu sắc Màu sơn cách thức sơn như biển chuyển luồng bờ phải. Đèn hiệu Ban đêm, có hai đèn chớp 1 dài, ánh sáng màu vàng, đèn trên cột sau đặt cao hơn đèn trên cột trước. Ý nghĩa Báo rằng: “Luồng hẹp nguy hiểm phương tiện phải đi theo đúng đường thẳng chập của hai biển báo hiệu” Chớp 1 dài (OC-4s) A7.2. Chập tiêu tim luồng đặt bên bờ trái. Hình dáng Gồm hai biển, biển trên cột sau đặt cao hơn biển trên cột trước. Mặt biển đặt vuông góc với tim luồng và trùng với 13
  14. hướng luồng tàu chạy. Màu sắc Màu sơn cách thức sơn như biển chuyển luồng bờ trái. Đèn hiệu Ban đêm, có hai đèn chớp 1 dài, ánh sáng màu vàng, đèn trên cột sau đặt cao hơn đèn trên cột trước. Ý nghĩa Báo rằng: “Luồng hẹp nguy hiểm phương tiện phải đi theo đúng đường thẳng chập của hai biển báo hiệu” Chớp 1 dài (OC-3s) A8. Báo hiệu định hướng luồng. A8.1. Đặt bên phải luồng. Hình dáng Một biển hình trụ ghép kiểu múi khế đặt trên cột. Màu sắc Nền giữa biển sơn màu vàng, viền biển sơn màu đen. Đèn hiệu Ban đêm, 1 đèn chớp đều, ánh sáng màu vàng. Ý nghĩa Định hướng luồng cho tàu thuyền đi lại trên đường thuỷ rộng như ven vịnh, trên hồ, vào cửa sông phía bên phải của luồng. Chớp đều (ISO-6s) A8.2. Đặt bên trái luồng. Hình dáng Một biển hình thoi ghép vuông góc với nhau kiểu múi khế đặt trên cột. Màu sắc Nền giữa biển sơn màu vàng, viền biển sơn màu đen. Đèn hiệu Ban đêm, 1 đèn chớp đều, ánh sáng màu vàng. Ý nghĩa Định hướng luồng cho tàu thuyền đi lại trên đường thuỷ rộng như ven vịnh, trên hồ, vào cửa sông phía bên tráicủa luồng. Chớp đều (ISO-5s) A9. Báo hiệu hai luồng (đặt dưới nước) A9.1. Báo cả hai luồng đều là luồng chính. Hình dáng Phao hình cầu hoặc phao ống, biển hình cầu. Màu sắc Biển sơn thành hai nửa, nửa trên sơn 14
  15. đỏ, nửa dưới sơn màu xanh lục. Phao sơn thành 4 khoang ngang đỏ - xanh lục xen kẽ. Đèn hiệu Ban đêm, 1 đèn chớp đều nhanh, ánh sáng màu trắng. Ý nghĩa Báo hiệu “ tại khu vực đặt phao sông, kênh phân thành hai luồng, cả hai luồng đều là luồng chính. Chớp đều (ISO-2s) A9.2. Báo luồng phía bên phải là luồng chính. Hình dáng Phao hình cầu có tiêu thị hình nón hoặc phao ống có biển hình cầu phía trên có tiêu thị hình nón. Màu sắc Tiêu thị, biển sơn màu xanh lục. Phao sơn nửa trên màu xanh lục, nửa dưới màu đỏ. Đèn hiệu Ban đêm, 1 đèn chớp nhanh liên tục, ánh sáng màu xanh lục. Ý nghĩa Báo hiệu “ Tại khu vực đặt phao sông, kênh phân thành hai luồng, luồng bên phải là luồng chính. Vị trí đặt phao là giới hạn phía trái của luồng chính”. - Luồng phụ là luồng có chuẩn tắc luồng lạch kém hơn luồng chính, phương tiện khi qua lại cần tìm hiểu để biết. Chớp nhanh liên tục - Các biển phụ (Tiêu thị) trong loại báo hiệu này là bắt buộc phải có. A9.3. Báo luồng phía bên trái là luồng chính. Hình dáng Phao hình cầu có tiêu thị hình trụ, hoặc phao ống có biển hình cầu, phía trên có tiêu thị hình trụ. Màu sắc Biển, tiêu thị màu đỏ. Phao sơn nửa trên màu đỏ, nửa dưới màu xanh lục. Đèn hiệu Ban đêm, 1 đèn chớp nhanh liên tục, ánh sáng màu đỏ. Ý nghĩa Báo hiệu “ tại khu vực đặt phao sông, kênh phân thành hai luồng, luồng phiá bên trái là luồng chính, vị trí đặt phao 15
  16. là giới hạn phía phải của luồng chính. Chớp nhanh liên tục B. Báo hiệu vị trí nguy hiểm hay vật chướng ngại trên luồng: B.1. Báo hiệu nơi phân luồng, ngã ba (đặt trên bờ) Hình dáng Báo hiệu là 2 hình nón đối đỉnh đặt trên cột. Màu sắc Nửa trên sơn màu đỏ, nửa dưới sơn màu xanh lục. Đèn hiệu Ban đêm, 1 đèn chớp đều nhanh, ánh sáng màu trắng. Ý nghĩa Báo hiệu “ Tại vị trí đặt báo hiệu là đầu mom bãi nơi phân luồng, ngã ba nguy hiểm, cần chú ý. Chớp đều (ISO-2s) B2. Báo hiệu chướng ngại vật hoặc vị trí nguy hiểm trên luồng. B2.1. Báo chướng ngại vật hay vị trí nguy hiểm bên phía phải của luồng tàu chạy. Hình dáng Báo hiệu là 1 hình nón ngược ghép kiểu múi khế Màu sắc Biển sơn màu đỏ. Đèn hiệu Ban đêm, một đèn chớp 1 ngắn, ánh sáng màu đỏ. Ý nghĩa Báo hiệu “ Có vật chướng ngại hoặc vị trí nguy hiểm phía bên phải của luồng tàu chạy. Phương tiện phải đi cách xa báo hiệu ít nhất trên 10 m. Chớp 1 ngắn (FI-5s) B2.2. Báo chướng ngại vật hay vị trí nguy hiểm bên phía trái của luồng tàu chạy. Hình dáng Báo hiệu là 1 hình nón ghép kiểu múi khế đặt trên cột Màu sắc Biển sơn màu xanh lục, viền quanh biển sơn trắng. Đèn hiệu Ban đêm, một đèn chớp 1 ngắn, ánh sáng màu xanh lục. Ý nghĩa Báo hiệu “ Có vật chướng ngại hoặc vị trí nguy hiểm phía bên trái của luồng tàu chạy. Phương tiện phải đi cách xa báo hiệu ít nhất trên 10 m. Chớp 1 ngắn (FI-5s) B3. Báo hiệu chướng ngại vật đơn lẻ trên đường thuỷ rộng. Hình dáng Báo hiệu là 2 biển hình cầu đặt trên cột hoặc trên phao 16
  17. Màu sắc Biển sơn màu đen, cột , phao sơn làm 3 khoang đen- đỏ - đen. Đèn hiệu Ban đêm, 1 đèn chớp 2 , ánh sáng màu trắng. Ý nghĩa Báo hiệu “ Có vật chướng ngại nguy hiểm trên luồng nhưng xung quanh là vùng nước an toàn. Phương tiện có thể đi lại được xung quanh chướng ngại vật về mọi phía, nhưng phải cách báo hiệu ít nhất trên 15 m. Chớp 2 (FI2-10s) B4. Phao giới hạn vùng nước. B4.1. Phía bên phải của luồng tàu chạy. Hình dáng Báo hiệu là phao hình trụ có tiêu thị hình chữ “X” ghép kiểu múi khế. Màu sắc Phao, tiêu thị sơn màu vàng. Đèn hiệu Ban đêm, 1 đèn chớp 3, ánh sáng màu vàng. Ý nghĩa Giới hạn vùng nước hạn chế, vùng nước dùng riêng bên phía bờ phải của luồng. Chớp 3 (FI3-10s) B4.2. Phía bên trái của luồng tàu chạy. Hình dáng Báo hiệu là phao hình trụ có tiêu thị hình chữ “X” ghép kiểu múi khế. Màu sắc Phao, tiêu thị sơn màu vàng. Đèn hiệu Ban đêm, một đèn chớp 1, ánh sáng màu vàng. Ý nghĩa Giới hạn vùng nước hạn chế, vùng nước dùng riêng bên phía bờ trái của luồng. Khi dùng báo hiệu này để cấm vùng nước, cấm luồng thì bên trên treo thay bằng biển phụ C1.1.1. Chớp 1 ngắn (FI-5s) B5. Báo hiệu đánh dấu khoang thông thuyền của công trình vượt sông trên không. B5.1. Cho phương tiện cơ giới, thô sơ đi chung. 17
  18. Hình dáng Một biển hình vuông bố trí ở tim luồng khoang thông thuyền. Màu sắc Biển sơn màu vàng. Đèn hiệu Ban đêm, treo 2 đèn, một đèn sáng liên tục, một đèn chớp nhanh liên tục, ánh sáng màu vàng, đặt ở vị trí của biển báo hiệu Ý nghĩa Đánh dấu vị trí khoang thông thuyền cho phương tiện cơ giới và thô sơ cùng đi chung. 1 đèn sáng liên tục (F) 1 đèn chớp liên tục (Q) B5.2. Cho phương tiện cơ giới đi qua. Hình dáng Một biển hình thoi bố trí ở tim luồng khoang thông thuyền Màu sắc Biển sơn màu vàng. Đèn hiệu Ban đêm, treo 1 đèn sáng liên tục, ánh sáng màu vàng, đặt ở vị trí của biển baó hiệu. Ý nghĩa Đánh dấu vị trí khoang thông thuyền cho phương tiện cơ giới đi qua. 1 đèn sáng liên tục (F) B5.3. Cho phương tiện thô sơ đi qua. Hình dáng Một biển hình tròn bố trí ở tim luồng khoang thông thuyền Màu sắc Biển sơn màu vàng. Đèn hiệu Ban đêm, treo 1 đèn chớp nhanh liên tục, ánh sáng màu vàng. Ý nghĩa Đánh dấu vị trí khoang thông thuyền cho phương tiện cơ giới đi qua. 1 đèn chớp liên tục (Q) C. Báo hiệu thông báo cấm: C.1. Báo hiệu điều khiển sự đi lại C.1.1. Cấm đi qua. C.1.1a- Đặt ở dưới nước Hình dáng Một tiêu thị hình trụ đặt trên phao B4 Màu sắc Tiêu thị sơn khoang đỏ- trắng- đỏ Đèn hiệu Ban đêm, treo 2 đèn sáng liên tục, ánh sáng màu đỏ. Đèn treo theo chiều dọc. Ý nghĩa Báo rằng “Cấm phương tiện đi vào vùng nước hay luồng giới hạn bởi 18
  19. phao B4 mà phía trên có treo báo hiệu này” 2 đèn đỏ sáng liên tục C.1.1b- Đặt ở trên bờ Hình dáng Một biển hình tròn đặt vuông góc với luồng, mặt biển ngược hướng với chiều cấm đi qua. Màu sắc Nền biển sơn trắng, viền và vạch chéo sơn đỏ, ký hiệu sơn mầu đen. Đèn hiệu Ban đêm, treo 2 đèn sáng liên tục, ánh sáng màu đỏ. Đèn treo theo chiều dọc. Ý nghĩa Báo rằng “Cấm phương tiện đi qua tính từ vị trí đặt báo hiệu” 2 đèn đỏ sáng liên tục C.1.2. Được phép đi qua. Hình dáng Một biển hình hình chữ nhật đặt vuông góc với luồng, mặt biển ngược hướng với chiều cấm đi qua, hoặc hai cờ hình tam giác. Màu sắc Biển sơn theo dải dọc xanh lục- trắng- xanh lục, cờ sơn màu xanh lục. Đèn hiệu Ban đêm, treo 2 đèn sáng liên tục, ánh sáng màu xanh lục. Đèn treo theo chiều dọc Ý nghĩa Báo rằng “ phương tiện được phép đi qua” 2 đèn xanh sáng liên tục C.1.3. Chỉ được phép đi giữa hai biển báo hiệu. Hình dáng Hai biển hình thoi đặt cách nhau giới hạn chiều rộng của luồng tàu Màu sắc Biển sơn theo dải dọc xanh lục- trắng- xanh lục, cờ sơn màu xanh lục. Đèn hiệu Ban đêm, mỗi bên treo 1 đèn sáng liên tục, ánh sáng màu xanh lục. Đèn đặt tại vị trí của biển báo hiệu. Ý nghĩa Báo rằng “ phương tiện chỉ được phép 2 đèn xanh đi trong phạm vi luồng giới hạn giữa sáng liên tục 19
  20. hai biển báo hiệu” C.1.4. Cấm đi ra ngoài phạm vi hai biển báo hiệu. Hình dáng Hai biển hình thoi treo giới hạn hai bên luồng. Màu sắc Nửa ngoài sơn màu đỏ, nửa trong hướng vào luồng sơn màu trắng. Đèn hiệu Ban đêm, mỗi bên treo một đèn sáng liên tục ánh sáng màu đỏ. Ý nghĩa Báo rằng “ phương tiện không được 2 đèn đỏ sáng liên tục phép đi ra ngoài phạm vi hai biển báo hiệu” Chỉ dùng báo hiệu này kết hợp với C1.1.3 trong trường hợp cần quy định rõ cấm đi lại ngoại phạm vi luồng tàu đã được giới hạn theo C1.1.3. Khi đó biển báo hiệu và đèn đỏ treo phía ngoài đèn xanh theo chiều ngang. C.2. Tín hiệu giao thông qua âu thuyền. 1. Khi có hai đèn đỏ, mỗi bên treo một đèn ở độ cao như nhau là cấm phương tiện đi vào âu thuyền. 2. Khi có hai đèn đỏ, mỗi bên treo một đèn ở độ cao như nhau và một đèn xanh treo cùng độ cao(ở bên này hoặc bên kia) là báo phương tiện được phép rời âu thuyền. 3. Khi mỗi bên treo 1 đèn đỏ, 1 đèn xanh, 4 đèn cùng ở độ cao như nhau là báo phương tiện chuẩn bị được vào âu thuyền. 4. Khi mỗi bên có 1 đèn xanh treo ở độ cao như nhau là báo cho phép phương tiện được vào âu thuyền. Ý nghĩa. Điều tiết phương tiện đi lại qua âu. C.3. Báo hiệu cấm thả neo, cấm kéo rê neo, cáp hay xích. Hình dáng Một biển hình vuông. Màu sắc Nền biển sơn trắng, viền và vạch chéo sơn đỏ, ký hiệu neo sơn đen. Ý nghĩa Báo rằng “Cấm mọi phương tiện thả neo, kéo rê neo, cáp hay xích trong phạm vi hiệu lực của báo hiệu”. 20
  21. Không áp dụng với những di chuyển nhỏ tại nơi neo đậu hay ma nơ. C.4. Báo hiệu cấm đỗ. Hình dáng Một biển hình vuông. Màu sắc Nền biển sơn trắng, viền và vạch chéo sơn đỏ, ký hiệu chữ P sơn đen. Ý nghĩa Báo rằng “Cấm mọi phương tiện neo đậu trong phạm vi hiệu lực của báo hiệu”. C.5.Báo hiệu cấm buộc tàu thuyền. Hình dáng Một biển hình vuông. Màu sắc Nền biển sơn trắng, viền và vạch chéo sơn đỏ, ký hiệu cọc bích sơn đen Ý nghĩa Báo rằng “Cấm mọi phương tiện buộc tàu thuyền lên bờ trong phạm vi hiệu lực của báo hiệu”. C.6. Báo hiệu hạn chế tạo sóng. Hình dáng Một biển hình vuông. Màu sắc Nền biển sơn trắng, viền và vạch chéo sơn đỏ, ký hiệu sóng sơn đen Ý nghĩa Báo rằng “Phải điều khiển phương tiện tránh tạo sóng gây nguy hiểm cho các đối tượng khác. C.7. Báo hiệu cấm tàu thuyền quay trở. Hình dáng Một biển hình vuông. Màu sắc Nền biển sơn trắng, viền và vạch chéo sơn đỏ, ký hiệu quay trở sơn đen Ý nghĩa Báo rằng “Cấm mọi phương tiện quay trở trong phạm vi hiệu lực của báo hiệu”. 21
  22. C.8. Báo hiệu cấm vượt Hình dáng Một biển hình vuông. Màu sắc Nền biển sơn trắng, viền và vạch chéo sơn đỏ, ký hiệu phương tiện vượt nhau sơn đen. Ý nghĩa Báo rằng “Cấm mọi phương tiện vượt nhau trên phạm vi hiệu lực của báo hiệu”. C.9. Báo hiệu cấm các đoàn kéo đẩy vượt nhau. Hình dáng Một biển hình vuông. Màu sắc Nền biển sơn trắng, viền và vạch chéo sơn đỏ, ký hiệu các đoàn kéo đẩy vượt nhau sơn đen Ý nghĩa Báo rằng “Cấm các đoàn kéo đẩy vượt nhau trên phạm vi hiệu lực của báo hiệu”. C.10. Cấm phương tiện cơ giới. Hình dáng Một biển hình vuông. Màu sắc Nền biển sơn trắng, viền và vạch chéo sơn đỏ, ký hiệu phương tiện cơ giới sơn đen Ý nghĩa Báo rằng “Cấm cấm mọi phương tiện cơ giới đi qua theo hướng báo hiệu đã chỉ rõ, hoặc hoạt động trong vùng nước giới hạn bởi hiệu lực của báo hiệu”. C.11. Cấm phương tiện thô sơ. Hình dáng Một biển hình vuông. Màu sắc Nền biển sơn trắng, viền và vạch chéo sơn đỏ, ký hiệu phương tiện thô sơ sơn đen Ý nghĩa Báo rằng “Cấm phương tiện thô sơ đi qua theo hướng báo hiệu đã chỉ rõ, hoặc hoạt động trong vùng nước giới hạn bởi hiệu lực của báo hiệu”. 22
  23. C.12. Cấm hoạt động thể thao. Hình dáng Một biển hình vuông. Màu sắc Nền biển sơn trắng, viền và vạch chéo sơn đỏ, chữ thể thao sơn đen Ý nghĩa Báo rằng “Cấm mọi hoạt động thể thao hoặc giải trí trong vùng nước giới hạn bởi hiệu lực của báo hiệu”. C.13. Cấm rẽ phải Hình dáng Một biển hình vuông. Màu sắc Nền biển sơn trắng, viền và vạch chéo sơn đỏ, ký hiệu mũi tên rẽ phải sơn đen Ý nghĩa Báo rằng “Phương tiện không được phép rẽ phải vào ngã ba gần nhất phía trước, nguy hiểm. C.14. Cấm rẽ trái. Hình dáng Một biển hình vuông. Màu sắc Nền biển sơn trắng, viền và vạch chéo sơn đỏ, ký hiệu mũi tên rẽ trái sơn đen Ý nghĩa Báo rằng “Phương tiện không được rẽ trái vào ngã ba gần nhất phía trước, nguy hiểm Tài liệu tham khảo 1. Luật giao thông đường thủy nội địa số 48/2014/QH13, (sửa đổi bổ sung Luật giao thông đường thuỷ nội địa năm 2004). 23
  24. Môn học 02: AN TOÀN CƠ BẢN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Bài 1 QUY ĐỊNH AN TOÀN TRONG NGHÀNH GT ĐTNĐ 1. Những quy định về an toàn lao động. 1.1. Vị trí môn học: Trong chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) của chúng ta công tác an toàn lao động (ATLĐ) là một vấn đề rất quan trọng. Được Đảng và nhà nước rất quan tâm, là nhiệm vụ của mỗi cán bộ công nhân viên là chỉ tiêu để xét duyệt hoàn thành nhiệm vụ của một tập thể hay cá nhân. Vì vậy ATLĐ là một môn học bắt buộc trong công tác dạy nghề. 1.2. Ý nghĩa: 1.2.1. Ý nghĩa chính trị: Công tác bảo hộ lao động (BHLĐ) được thể hiện rõ tính ưu việt của chế độ XHCN điều kiện lao động trong khu công nghiệp được cải thiện, hàng triệu công nhân lao động thoát khỏi cảnh khổ cực. Chỉ có chế độ XHCN mới quan tâm thiết thực đến ATLĐ. Đại hội IV của Đảng đã nhấn mạnh: phải coi trọng việc cải thiện lao động, chú ý đời sống công nhân, là bảo vệ sức khỏe người lao động. 1.2.2. Ý nghĩa kinh tế: Thực hiện tốt các chế độ và các biện pháp kỹ thuật an toàn; không ngừng cải thiện điều kiện làm việc, cải tiến máy móc sẽ không ngừng nâng cao năng suất lao động, phát triển kinh tế xã hội. 1.2.3. Ý nghĩa xã hội: Thực hiện tốt đầy đủ các biện pháp ATLĐ, người công nhân sẽ tránh và hạn chế đến mức thấp nhất được các tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Xã hội sẽ ngày càng phát triển. 1.3. Tính chất: 1.3.1.Tính pháp luật: Xuất phát từ quan điểm: con người là vốn quý . Chính sách, quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật được nhà nước ban hành đó là pháp luật, là cơ sở pháp lý bắt buộc các tổ chức nhà nước, xã hội, người lao động phải có trách nhiệm nghiên cứu, kiểm tra, giám sát và nghiêm chỉnh chấp hành. 1.3.2. Tính khoa học: Để áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào công tác BHLĐ nhằm đảm bảo điều kiện an toàn trong lao động. 24
  25. 1.4. Một số quy định về an toàn đối với người và trang thiết bị ngành vận tải đường thuỷ nội địa. 1.4.1. Đối với thuyền viên: Tất cả mọi thuyền viên làm việc trên tàu vận tải đường thuỷ nội địaViệt Nam phải tuân thủ tất cả các tiêu chuẩn và điều kiện sau dây: - Có độ tuổi từ đủ16 đến không quá 55 đối với nữ, 60 tuổi đối với nam. - Đủ tiêu chuẩn sức khỏe và phải được kiểm tra sức khỏe định kỳ hàng năm. - Có bằng, chứng chỉ chuyên môn phù hợp với chức danh, loại phương tiện. - Phải biết bơi, có giấy chứng nhận bơi lội tối thiểu 100m đối với thuyền viên tàu sông. - Phải biết sử dụng đầy đủ các trang thiết bị BHLĐ được cấp theo quy định. - Phải được huấn luyện các quy tắc ATLĐ, phòng chống cháy nổ và có giấy chứng nhận tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn do giám đốc xí nghiệp cấp. - Sử dụng thành thạo những trang thiết bị đã được lắp đặt trên tàu và sử dụng thành thạo những dụng cụ phòng hộ lao động. - Nghiêm cấm rượu, bia, thuốc lá, đi dép lê, đùa nghịch trong khi làm việc. - Trường hợp gặp gió to sóng lớn nếu cần thiết phải làm việc trên cao phải có phao và dây an toàn, có 2 người để hỗ trợ nhau. - Cấm tự động nhảy xuống nước. Khi cần thiết phải xuống nước làm việc phải có biện pháp an toàn đề phòng chết đuối. - Cấm bơi lúc trời tối, nếu vì nhiệm vụ phải lặn xuống phải có phương pháp bảo vệ an toàn và do thuyền trưởng quyết định. - Cấm mọi người mang các chất cháy nổ lên tàu trừ khi được phép của thuyền trưởng. 1.4.2 Đối với thiết bị máy móc trên tàu: Các máy móc thiết bị trên tàu và các thiết bị phục vụ sinh hoạt, phòng chống cháy nổ, an toàn sinh mạng, cứu sinh cứu đắm được trang bị đầy đủ, đúng tiêu chuẩn quy định nhằm đảm bảo cho mọi thành viên và hành khách trên tàu. 25
  26. Bài 2 AN TOÀN LÀM VIỆC TRÊN PHƯƠNG TIỆN THỦY NỘI ĐỊA 1. An toàn lao động khi xếp dỡ hàng rời. - Xếp dỡ hàng rời bằng gầu ngoạm cần chú ý thực hiện quy định sau: Cấm dùng tay đẩy ngoạm - Nếu xếp hàng rời bằng thủ công phải thực hiện những quy định sau: + Cấm lấy hàng theo kiểu hàm ếch hay lấy đứng thành + Khi cuốc, xúc, cào, đào phải bố trí người đứng hàng ngang có khoảng cách an toàn + Không bố trí người làm việc đồng thời ở trên ngọn và dưới chân đống rất nguy hiểm. 2. An toàn khi xếp dỡ hàng bao kiện. Khi xếp dỡ hàng bao kiện phải chấp hành những quy định sau: - Hàng bao kiện có trọng lượng từ 30 – 100 kg không được lấy sâu hay vượt quá 1,5 m. Nếu kiện hàng có chiều cao hơn 1,5 m thì không moi sâu hay xếp cao quá 2 hàng theo chiều thẳng đứng. - Những loại hàng như xi măng, hóa chất phải dùng cao bản, cấm dùng dây chão thắt bao ngang - Cấm vừa cẩu bao lành, bao rách trên cùng một mã hàng + Khi xếp dỡ kiện bông cần chú ý một số đặc điểm sau: - Phải dùng bộ kẹp chuyên dùng - Cấm moi sâu xuống quá 3 kiện và không cao quá 1,5m theo chiều thẳng đứng - Tại vị trí để hàng cấm tuyệt đối bất cứ hình thức gì phát ra tia lửa. + Xếp dỡ hàng công ten nơ phải chấp hành những quy định sau: - Phải dùng bộ móc cẩu chuyên dùng móc đủ số dây cáp quy định - Cấm người đứng trên công ten nơ khi nâng hạ - Khi cẩu cửa công ten nơ phải đóng buộc chắc - Khi lên xuống công ten nơ cao phải có ghế hay thang, cấm leo trèo tùy tiện - Không xếp công ten nơ theo chiều thẳng đứng quá 2 hàng + Di chuyển các kiện hàng bằng con lăn phải chấp hành những quy định sau: - Mặt bằng phải cứng, cần thiết phải có đệm lót - Kiện hàng luôn nằm trên con lăn - Cầu trượt phải chắc chắn, độ dốc không quá 45 0, đưa hàng lên xuống cầu trượt phải có dây kéo, dây hãm. 26
  27. Bài 3 PHÒNG CHỐNG CHÁY NỔ 1. Nguyên nhân cháy nổ và biện pháp phòng chống. 1.1. Những vấn đề cơ bản về cháy và nổ: 1.1.1. Khái niệm chung: Cháy là một hiện tượng hóa lý phức tạp. Theo định nghĩa cổ điển, cháy là quá trình phân huỷ hoàn toàn vật chất khi có oxi. Vì vậy, cháy là một quá trình oxi hóa, là sự hóa hợp giữa tác nhân oxi hóa (như không khí, oxi ) với chất cháy (tức là chất bị oxi hóa như dầu, khí, than, ). Tuy nhiên có trường hợp cháy không cần oxi như kim loại cháy trong môi trường clo; bari oxit, natri oxit cháy trong môi trường khí cacbônic; thuốc súng cháy không cần trong môi trường khí ; axêtilen nén, clorua nitơ nén và vài hợp chất khác trong những điều kiện nhất định có thể nổ mà không cần không khí. Như vậy, cháy có thể là kết quả của phản ứng kết hợp hoặc phản ứng phân huỷ. Theo quan niệm mới, cháy là phản ứng hóa học xảy ra nhanh chóng, phát nhiệt và phát quang. Nghĩa là có phản ứng cháy không cần oxi và mọi vật chất ít nhiều đều có thể cháy. Oxi hóa chậm có thể xem như quá trình cháy chậm, nó chỉ khác về tốc độ phản ứng và cường độ phát nhiệt. Quá trình cháy có kèm theo phát nhiệt. Nhưng không phải mọi quá trình phát nhiệt đều là quá trình cháy. Ví dụ như sự oxi hóa chậm rượu êtilic thành anđêhit axêtic, SO2 thành SO3, vv thì không thể xếp vào quá trình cháy. Trong thực tế thường gặp các đám cháy xảy ra trong môi trường không khí. Vì vậy ở đây khi xét đến các vấn đề về cháy chủ yếu là xét đến quá trình cháy có oxi. Người ta chia ra làm hai loại cháy : đồng thể và dị thể. Cháy đồng thể là cháy chỉ của các chất khí, còn cháy dị thể là cháy của hỗn hợp chất cháy và chất oxi hóa có trạng thái vật lý khác nhau. Tùy lượng oxi đưa vào để đốt cháy nhiên liệu mà ta chia ra cháy hoàn toàn và không hoàn toàn. Khi có thừa hay đủ không khí, quá trình cháy xảy ra hoàn toàn, sản phẩm của quá trình cháy hoàn toàn là cacbônic, hơi nước, nitơ và một ít các khí khác như anhiđrit sunfurơ Khi không đủ không khí thì quá trình cháy xảy ra không hoàn toàn. Trong sản phẩm cháy không hoàn toàn thường chứa nhiều khí cháy, nổ và độc như cac bon oxit, rượu, axit, xêtôn và anđêhit. Tùy tốc độ của quá trình cháy người ta chia thành cháy, nổ và cháy nén áp. Khi cháy hoàn toàn lượng nhiệt toả ra là cực đại. Một phần nhỏ lượng nhiệt đó sẽ tiêu hao cho việc gia nhiệt, nóng chảy, phân huỷ và bốc hơi chất cháy. Lượng 27
  28. nhiệt chủ yếu sẽ tiêu hao cho việc nung nóng môi trường xung quanh vùng cháy. Khi cháy trong phòng kín lượng nhiệt đó sẽ tiêu hao cho việc nung nóng những kết cấu, những vật liệu có trong khu vực đó. Quá trình cháy của các chất thể rắn, lỏng và khí đều có những điểm tương tự nhau và đều bao gồm các giai đoạn sau đây : oxi hóa, tự bắt cháy, cháy. Nhiệt trong quá trình oxi hóa sẽ làm cho tốc độ phản ứng tăng lên, hỗn hợp cháy nhanh chóng tự bắt cháy và ngọn lửa xuất hiện. 1.1.2. Cơ chế quá trình cháy: a- Lý thuyết tự bắt cháy: Theo lý thuyết này, điều kiện quyết định để xuất hiện quá trình cháy là tốc độ toả nhiệt của phản ứng hóa học phải vượt quá hoặc bằng tốc độ truyền nhiệt từ vùng phản ứng ra môi trường xung quanh khi đó quá trình cháy mới xuất hiện. Do lượng nhiệt sinh ra lớn hơn lượng nhiệt mất đi nên một phần nhiệt lượng sẽ tồn tại trong vật chất đang tham gia vào quá trình cháy làm nhiệt độ của nó tăng dần. Nhiệt độ tăng dẫn đến tốc độ phản ứng cháy tăng và lượng nhiệt sinh ra do phản ứng cháy càng tăng. Quá trình này cứ tiếp tục mãi cho đến khi đạt được một nhiệt độ tối thiểu thì quá trình tự bốc cháy cháy sẽ xảy ra. Vậy nguyên nhân dẫn đến quá trình tự bốc cháy là sự tích luỹ nhiệt lượng trong khối vật chất tham gia vào quá trình cháy. Thời gian cảm ứng chính là thời gian cần thiết để tích luỹ nhiệt lượng. Kết thúc thời gian cảm ứng thì quá trình tự bốc cháy xảy ra. Lý thuyết nhiệt giúp ta giải thích được nhiều hiện tượng cháy xảy ra trong thực tế. Những ứng dụng chính có thể tóm tắt như sau: Nhiệt độ tự bốc cháy cháy của hỗn hợp chất cháy và chất oxi hóa không phải là một hằng số hóa lý cố định mà phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố cụ thể của quá trình cháy. Các yếu tố chính là: bản chất của chất cháy và chất oxi hóa, các yếu tố về tốc độ phản ứng cháy, các yếu tố về truyền nhiệt giữa phản ứng cháy với môi trường xung quanh, các yếu tố về khuyếch tán khí, nhiệt độ nung nóng ban đầu, áp suất, tỉ lệ pha trộn giữa các chất cháy và chất oxi hóa Đây là kết luận quan trọng về mặt lý luận vì cùng một hỗn hợp chất cháy và chất oxi hóa nhưng được tiến hành trong những điều kiện khác nhau thì nhiệt độ tự bốc cháy cũng khác nhau. Tuy nhiệt độ tự bốc cháy không phải là một hằng số hóa lý cố định, nhưng để so sánh khả năng bắt cháy của các chất khác nhau người ta tiến hành đo nhiệt độ tự bốc cháy trong một điều kiện nhiệt độ nhất định, khi đó giá trị nhiệt độ đo được cũng phản ánh khả năng cháy, nổ dễ hay khó. Nhiệt độ tự bốc cháy cháy tỉ lệ nghịch với áp suất tự bốc cháy. 28
  29. b- Lý thuyết tự bắt cháy dây chuyền: Lý thuyết tự bắt cháy nhiệt giúp ta giải thích hiện tượng cháy nhưng trong nhiều trường hợp tự bắt cháy và bắt cháy không thể dùng lý thuyết này giải thích được, ví dụ như tác dụng xúc tác và ức chế đối với quá trình cháy, sự phụ thuộc của giới hạn bắt cháy vào áp suất v.v Để giải thích những hiện tượng đó phải dùng lý thuyết phản ứng dây chuyền. Muốn cho phản ứng hóa học xảy ra phải có va chạm giữa các phân tử phản ứng. Nhưng tác dụng hóa học giữa hai phân tử va chạm vào nhau ch có thể có được khi tổng dự trữ năng lượng của chúng không nhỏ hơn một đại lượng tối thiểu gọi là năng lượng hoạt hóa. Năng lượng dự trử đó là năng lượng cần thiết để làm đứt hoặc làm yếu liên kết tồn tại giữa các nguyên tử trong phân tử chất phản ứng ban đầu và tạo khả năng làm xuất hiện những liên kết mới hoặc phân bố lại các liên kết, nghĩa là gây ra phản ứng hóa học. Sản phẩm của phản ứng có dự trư năng lượng khá lớn. Năng lượng đó lại truyền trực tiếp cho một hoặc vài phần tử trong số các phần tử phản ứng, kích động chúng đến trạng thái hoạt động, nghĩa là tạo ra các phần tử hoạt động mới. Thực nghiệm đã xác định, các phản ứng cháy thường xảy ra theo hướng sao cho lúc đầu trong hệ thống tạo ra những phần tử hoạt động, thường là những gốc và các nguyên tử tự do. Do có mang hóa trị tự do các phần tử đó rất n¨ng động, có khả năng phản ứng cao, chúng tham gia vào phản ứng tiếp theo và tái tạo những gốc, nguyên tử tự do mới. Việc sản sinh ra các phần tử hoạt động đó làm chuyển hóa một lượng lớn sản phẩm ban đầu. Quá trình đó thực hiện một cách chu kì. Phần tử hoạt động được tạo ra ở chu kì này tạo điều kiện bắt đầu một chu kì mới. Cuối chu kì mới này lại tạo ra những phần tử mới Vì phản ứng cứ được kéo dài, phát triển do lặp lại một cách chu kì các phản ứng như vậy nên gọi là phản ứng dây chuyền. 1.2. Các biện pháp phòng chống cháy, nổ và hạn chế cháy nổ lan rộng: 1.2.1. Các biện pháp phòng chống cháy và nổ: Những biện pháp phòng cháy và nổ bao gồm các biện pháp về kĩ thuật, tổ chức huấn luyện, tuyên truyền giáo dục vỊ pháp luật của Nhà nước. Biện pháp kĩ thuật thể hiện ở việc chọn lựa phương pháp sản xuất, chọn vật liệu kết cấu, vật liệu xây dựng, biện pháp xây dựng và các hệ thống thông tin, báo hiệu, vv Để đảm bảo tránh được cháy và nổ khi tiến hành các quá trình kĩ thuật, cần có các biện pháp sau đây: a- Thay thế các khâu sản xuất nguy hiểm bằng những khâu ít nguy hiểm hơn. b- Cơ khí hóa và tự động hóa quá trình sản xuất có tính chất nguy hiểm. c- Thiết bị phải đảm bảo kín. 29
  30. d- Nếu quá trình sản xuất phải dùng dung môi, nên chọn dung môi khó bay hơi, khó cháy thay cho dung môi dễ bay hơi, dễ cháy. e- Dùng thêm các phụ gia trơ, các chất ức chế, các chất chống nổ để giảm tính cháy nổ của hỗn hợp cháy. f- Cách li hoặc đặt các thiết bị hay công đoạn dễ cháy nổ ra xa các thiết bị, công đoạn khác. g- Loại trừ mọi khả năng phát sinh ra mồi lửa tại những chổ sản xuất có liên quan tới các cht dễ cháy nổ. Tránh mọi khả năng tạo ra nồng độ nguy hiểm của chất cháy trong các thiết bị, ống dẫn khí hay trong hệ thống thông gió. h- Trước khi ngừng thiết bị để sửa chữa, trước khi đưa vào hoạt động trở lại cần thổi hơi nước, khí trơ vào thiết bị đó. i- Giảm tới mức thấp nhất lượng chất cháy nổ trong khu vực sản xuất. Tất cả các biện pháp trên cần được giải quyết tốt ngay từ khi chọn phương án thiết kế. 1.2.2. Hạn chế cháy nổ lan rộng: Để ngăn chặn đám cháy lan truyền cần dùng các biện pháp sau: a- Trên các đường ống dẫn chất lỏng đặt các van ngược, tấm lưới lọc và van thuỷ lực, b- Trên các đường ống dẫn khí đặt các van thuỷ lực, bộ phận chặn lửa, màng chống nổ. c- Trên các đường ống dẫn hỗn hợp bụi – không khí đặt các tấm chắn hay van tự động chặn lửa. d- Tại chỗ băng tải nghiêng hay ngang chui qua tường chặn lửa đặt các cửa tự đóng hoặc màng nước chặn lửa. e- Đặt tường ngăn cháy; chọn khoảng cách chống cháy thích hợp, cửa sổ thích hợp. 1.3. Các phương pháp chữa cháy. Từ bản chất quá trình cháy, điều kiện của quá trình cháy và diễn biến của một đám cháy ta thấy rằng, sự cháy sẽ được chấm dứt khi giảm tốc độ truyền nhiệt từ vùng cháy và khi tăng tốc độ truyền nhiệt ra môi trường xung quanh. Để thực hiện những quá trình đó người ta dùng các phương pháp khác nhau gọi là phương pháp chữa cháy. Phương pháp chữa cháy là hoạt động liên tục, chính xác của con người theo một trình tự nhất định hướng vào gốc đám cháy, nhằm tạo điều kiện để dập tắt đám cháy. Dựa trên những nguyên lý như vậy ta có các phương pháp chữa cháy sau: 30
  31. a- Làm loãng chất tham gia phản ứng bằng cách đưa vào vùng cháy những chất không tham gia phản ứng cháy, như CO2, N2, vv b- Cơ chế phản ứng cháy bằng cách đưa vào vùng cháy những chất có tham gia phản ứng, nhưng có khả năng biến đổi chiều của phản ứng từ phát nhiệt thành thu nhiệt, như brommetyl, brometyl, c- Ngăn cách, không cho oxi thâm nhập vào vùng cháy, như dùng bọt, cát, chăn phủ. d- Làm lạnh vùng cháy cho đến dưới nhiệt độ bắt cháy của các chất cháy. e- Phương pháp tổng hợp. Ví dụ đầu tiên chữa cháy bằng phương pháp làm lạnh, sau đó bằng phương pháp cách li. 2. Cứu sinh. Tác dụng: Để cấp cứu hành khách hay thuyền viên trong trường hợp tàu bị nạn phải rời khỏi tàu hay để cứu người ngã xuống nước. 2.1. Trang bị cho tập thể: 2.1.1. Xuồng cứu sinh: + Bằng kim loại. + Bằng cao su. + Bằng chất dẻo. Xuồng cứu sinh là một phương tiện cấp cứu tập thể dùng trên các tàu có kích thước lớn nhằm duy trì cuộc sống của cán bộ, thuyền viên khi tàu đắm và chờ đợi tàu cứu. Số lượng và kích thước của xuồng cứu sinh phụ thuộc vào kích thước của tàu và số lượng thuyền viên trên tàu. Để đảm bảo cho người bị nạn ở trên xuồng có thể duy trì cuộc sống và tiếp tục hành trình, mỗi xuồng được trang bị lương thực, nước ngọt, thuốc cấp cứu, cột buồm, mái chèo, dầu thắp sáng, còi hoặc phương tiện để phát âm hiệu, máy thu phát tín hiệu có đủ số lượng và chất lượng. Xuồng cứu sinh luôn được treo trên giá đỡ ở tư thế sẵn sàng làm việc. Xuồng phải được bảo quản, chăm sóc một cách thường xuyên và chu đáo, đảm bảo an toàn với độ tin cậy cao nhất. 2.1.2. Bè cứu sinh: Bè cứu sinh cũng là một phương tiện cấp cứu tập thể, gồm có hai loại: bè cứu sinh bơm hơi và bè cứu sinh loại cứng. Trên bè phải được trang bị đầy đủ các trang thiết bị theo quy định để giúp cho người ở trên bè có thể hoạt động bình thường. Số lượng người tối đa mà bè có thể chở được không vượt quá 25 người đối với loại bè bơm hơi và không vượt quá 30 người đối với loại bè cứng. 31
  32. Bè bơm hơi phải được đặt trong hòm có sức nổi riêng và có khả năng chịu đựng sự hao mòn do môi trường. Hòm chứa bè phải được đặt ở nơi thuận tiện và có khả năng thả xuống nước nhanh chóng trong trường hợp cấp cứu. Bè cứng cũng phải được đặt ở vị trí thuận lợi để khi cần thiết có thể sử dụng dễ dàng và trong điều kiện tàu bị đắm bè vẫn có thể nổi được. 2.2. Trạng bị cho cá nhân: - Phao áo: Là loại phao được thiết kế như chiếc áo cộc tay có thể gấp, gói lại gọn gàng, sử dụng thuận tiện, an toàn. - Phao tròn: Là loại phao được thiết kế thành vòng tròn, rỗng ở giữa, có khuyết dây cho người bám. Phao thường được bọc vải và sơn 2 màu xen nhau là màu đỏ và trắng. - Phao ống: Được làm từ các ống hình trụ dài từ 0,8 – 1m đường kính 0,15 – 0,2m 2 bên được gắn gỗ hay luồn dây cho người bám, - Pháo hiệu: Là tín hiệu báo hiệu khi cấp cứu hay gặp nạn cần giúp đỡ. - Phao cứu sinh cá nhân: Là một phương tiện cấp cứu dùng cho người. Phao được bố trí ở những nơi có khả năng ném nhanh xuống nước. Số lượng phao trang bị trên tàu tùy thuộc vào tính chất, cỡ loại và phạm vi hoạt động của tàu. - Áo phao cứu sinh: Cũng là một phương tiện cấp cứu cá nhân. Khi sử dụng, áo phao được buộc chặt vào người, giúp cho người bị nạn khi bất tỉnh vẫn có có khả năng nổi ngửa mặt khỏi mặt nước với tư thế nghiêng đứng về phía sau. Số lượng áo phao trang bị trên tàu tùy thuộc vào số lượng người trên tàu. Tất cả các tàu phải trang bị tối thiểu cho mỗi thuyền viên một áo phao đảm bảo chất lượng tốt. Phao phải được đặt ở nơi thuận tiện cho việc sử dụng khi cần. - Cứu người rơi xuống nước: Người ngã xuống nước khi tàu đang hoạt động là một tai nạn vô cùng nguy hiểm. Bởi vậy, khi có người rơi xuống nước phải tiến hành các công việc cứu vớt người bị nạn một cách khẩn trương, linh hoạt và thận trọng để có hiệu quả tốt nhất. Các công việc cần thực hiện là: + Bất kỳ một người nào khi phát hiện có người rơi xuống nước phải kịp thời ném nhiều phao cứu sinh cá nhân cho người bị nạn. Đồng thời thông báo cho người điều khiển tàu biết về phía mạn tàu xảy ra tai nạn. + Người điều khiển tàu phải dừng ngay máy và bẻ lái về phía người bị nạn để cho đuôi tàu tách xa ra và tránh cho người bị nạn không bị hút vào chân vịt. Đồng thời tiến hành điều động cứu người bị nạn bằng phương pháp thích hợp với điều kiện thực tế. 32
  33. + Để tăng hiệu quả cứu vớt, thuyền trưởng phải treo cờ báo hiệu hoặc phát tín hiệu “có người rơi xuống nước” bằng bất kỳ phương pháp nào để cho các tàu trong vùng biết và có biện pháp giúp đỡ. + Khi có báo động “có người rơi xuống nước”, các thủy thủ phải tiến hành chuẩn bị các phương tiện cứu vớt theo sự phân công để vớt người bị nạn. + Khi tàu tiếp cận người bị nạn phải hết sức thận trọng để tránh tai nạn lườn tàu đè lên người hoặc gây nên va đập, nhất là trong điều kiện sóng to gió lớn 3. Cứu đắm, cứu thủng. Thủng tàu có nghĩa là phần vỏ tàu ở dưới nước hoặc gần mép nước bị hư hỏng và nước có thể vào tàu. Tàu bị thủng có thể dẫn đến thiệt hại lớn về người và tài sản. Vì vậy, khi tàu gặp nạn thuyền trưởng phải kịp thời cho tàu dừng máy và tiến hành các công việc nhằm hạn chế nước chảy vào tàu, đảm bảo an toàn tính mạng thuyền viên và tài sản trên tàu. Các công việc cần thực hiện để cứu thủng là: Tiến hành xác định vị trí, kích thước lỗ thủng và lưu lượng nước chảy qua lỗ thủng đó. Khi có lệnh báo động của thuyền trưởng các thủy thủ phải có mặt ở các vị trí đã quy định để tiến hành các công việc cần thiết. Đóng kín các cửa hầm kín nước giữa các hầm thủng với những hầm kế cận, dùng máy bơm hút nước ra ngoài. Dùng các dụng cụ chống thủng sẵn có trên tàu để bịt kín tạm thời lỗ thủng. Trường hợp tàu bị thủng nặng phải phát tín hiệu cấp cứu để các tàu khác đến cứu giúp hoặc kéo về cảng gần nhất để sửa chữa. Khi gặp nạn, thuyền trưởng phải bình tĩnh, đôn đốc các bộ phận tiến hành các công việc một cách khẩn trương để quá trình cấp cứu có hiệu quả tốt nhất. Các dụng cụ cứu thủng thường được sử dụng trên tàu để tự cứu tạm thời khi xảy ra tai nạn gồm có nệm và chốt gỗ, nắp vịt, gỗ chống thủng, thảm bạt cứu thủng, xi măng, cát, sỏi 33
  34. Mô đun 03: THUỶ NGHIỆP CƠ BẢN Bài 1. Các nút khóa chụm đầu, ngược đầu 1. Nút hai khóa ngược đầu. a. Tác dụng: Để buộc đầu dây vào cọc, cột, khuyết b. Trình tự thao tác: - Vòng đầu dây vào cọc, cột hoặc khuyết một vòng. - Vòng quanh cọc, cột, khuyết 1 vòng ngược lại với vòng đầu. - Luôn ngược lại với dây đầu xiết chặt thành nút 2. Nút hai khóa chụp đầu dây đơn. a. Tác dụng: Để buộc đầu dây vào cọc, vào cột. b. Trình tự thao tác: Vòng 1 quanh cọc Chặn đầu dây ngắn lên trên dây đặt vòng nẹp 1 vòng nửa cùng chiều Luồn đầu dây ngắn vào dưới vòng chặn theo chiều ngược lại với dây dắt siết chặt thành nút. Nót hai khãa chôp ®Çu d©y ®¬n Nót hai khãa chôp ®Çu d©y kÐp 34
  35. 3. Nút hai khóa chụp đầu dây kép. a. Tác dụng: Để buộc đầu dây vào cọc, cột b. Trình tự thao tác: - Vòng 2 vòng quanh cọc - Chặn đầu dây ngắn lên vòng đầu vào đầu dây dài. - Vòng tiếp 1 vòng nữa cùng chiều - Luồn đầu dây ngắn vào dưới vòng chân theo chiều ngược lại với dây dắt siết chặt thành nút. Bài 2 Nút một vòng chết một khóa,hai khoá. 1. Một vòng chết, một khoá. a. Tác dụng: Vòng chết kết hợp với các mối khác để tạo thành nút b. Mô tả cách làm mối: Là mối vòng được lồng vào cọc hoặc cột. 2. Nút một vòng chết 2 khóa. a. Tác dụng: Để buộc đầu dây vào cọc, cột, khuyết b. Trình tự thao tác: - Vòng đầu dây vào cọc 1 vòng thành vòng chết. - Đầu dây ngắn khóa vào dây dài 3 mối khóa - Lấy dây con buộc đầu dây cho mối khóa khỏi sổ tung ra để thành nút. Bài 3 Nút gỗ Nút gỗ a. Tác dụng: Để buộc đầu dây vào khúc gỗ, để kéo gỗ hoặc treo gỗ làm đệm mạn tàu. b. Trình tự thao tác: - Làm một vòng lồng vào khúc gỗ gấp ngược đầu dây ngắn lại rồi vấn vài vòng vào dây dài ngược lại thành nút buộc vạt tròn. 35
  36. - Quàng mỗi khóa vào đầu kia của khúc gỗ, siết chặt thành nút Bài 4 Nút ghế đơn, ghế kép. 1. Nút ghế đơn. a. Tác dụng: để làm khuyết tạm thời ở 1 đầu dây để tròng vào cọc: b. Trình tự thao tác: - Bước 1: Vận khuyết + Tay trái cầm dây dài (dây nằm giữa ngón cái và ngón trỏ) + Tay phải cầm đầu dây ngắn (dây nằm giữa ngón trỏ và ngón giữa) + Đưa dây dài vào lòng tay phải (dây nằm giữa ngón cái và ngón trỏ), tay phảo úp tay trái ngửa. + Tay phải vận từ dưới lên trên thành khuyết, để đầu dây ngắn nằm trong khuyết. - Bước 2: Quàng dây ngắn quanh dây dài - Bước 3: Luồn đầu dây ngắn vào khuyết theo chiều ngược lại, xiết chặt thành nút. 2. Nút ghế kép: a. Tác dụng: Để làm khuyết tạm thời ở 1 đầu dây để tròng vào cọc, Làm ghế ngồi đưa người lên cao hoặc ra mạn tàu làm việc. b. Trình tự thao tác: - Bước 1: Thao tác như nút ghế đơn - Bước 2: Luồn dây tạo thêm vòng 2 - Bước 3: Quàng đầu dây ngắn của vòng 2 quanh dây dài. - Bước 4: Luồn đầu dây ngắn vào khuyết theo chiều ngược lại, xiết chặt thành nút. Bài 5 Nút tròng đầu cột đơn, tròng đầu cột kép 1. Nút tròng đầu cột đơn: 36
  37. a. Tác dụng: Để tròng vào đầu dây cho mỗi khóa khỏi sổ tung ra để thành nút. b. Trình tự thao tác: - Làm 2 mối vòng cùng chiều (mối vòng thứ nhất chồng lên mối vòng thứ hai) - Vòng bên trái đan kéo sang bên phải, vòng bên phải đan sang trái. - Nối thêm 2 dây vào 2 tai thỏ để buộc được 4 dây chằng. 1.2. Nút tròng đầu cột kép: a. Tác dụng: Tác dụng của nút tròng đầu cột kiểu đơn. b. Trình tự thao tác: - Làm 3 mối vòng cùng chiều (mối vòng 1 chồng lên mối vòng 2, mối vòng 2 chồng lên mối vòng 3). - Vòng giữa giữ nguyên. Bài 6 Nút thòng lọng đầu ghế, thòng lọng buộc đầu. 1. Nút thòng lọng đầu ghế: a. Tác dụng: Làm khuyết tạm thời ở 1 đàu sợi dây để tròng vào cọc. b. Trình tự thao tác: - Làm ghế đơn (theo trình tự thao tác nút ghế đơn) - Thò tay vào vòng khuyết của nút ghế đơn kéo dây dài lên được nút thòng lọng. 2. Nút thòng lọng buộc đầu: a. Tác dụng: Làm khuyết tạm ở 1 đầu của dây để tròng vào cọc. b. Trình tự thao tác Làm mối vòng Gấp ngược đầu dây ngắn lại Lấy dây nhỏ buộc đầu dây ngắn với vòng khuyết để tạo thành nút. 37
  38. Bài 7 Nối hai đầu dây sợi cùng cỡ và khác cỡ 1. Đấu nối dây mối ngắn. Trình tự thao tác: - Tháo 2 đầu dây ra bằng khoảng 4-6 lần chu vi dây. Dùng chỉ buồm buộc chặt đầu các tao lại. - Cho 2 đầu dây châu đâù vào nhau cài xen kẽ và cách đều nhau từng tao 1. - Xuyên các tao vào trong dây ngược đường bện. Mỗi tao xuyên 3 lần - Đấu thắt đuôi chuột. + Cắt đi1/3 dây của các tao xuyên vào trong dây 1lần theo chiều ngược đường bện của dây. + Lại cắt bỏ đi 1/3 dây nữa của các tao rồi xuyên vào trong dây lần cuối cùng. - Cắt bỏ đầu tao thừa đi. - Trong quá trình đấu mỗi lần xuyên được 3 tao vào trong dây ta kéo đều các tao với mức độ chặt đêù như nhau. Dùng búa gỗ gõ cho phẳn 2. Đấu nối dây mối dài: Trình tự thao tác: - Tháo 2 đầu dây ra bằng khoảng 4-6 lần chu vi dây. Dùng chỉ buồm buộc chặt đầu các tao lại. - Cho 2 đầu dây châu đầu vào nhau cài xen kẽ từng tao 1 để tạo thành 3 đôi dây. Đôi tao thứ 1(1 với a), Đôi tao thứ 2 (2với b), đôi tao thứ 3( 3 với c). - Trước tiên đôi tao thứ nhất(1 với a) vừa tháo(tao 1) vừa cuốn( tao a)về phía cuốn(tao 3) về phía bên trái (ngược lại). Còn đôi tao thứ 2(2 với b) vẫn để nguyên vị trí cũ. Như vậy 3 đôi tao dây sẽ nắm ở 3 nơi với khoảng cách bằng nhau. - Mỗi đôi tao đều cắt bỏ 1/2 dây của các tao thắt 1 nút lửng thắt chặt. Sau đó xuyên các tao vào trong dây ngược đường bện 2-3 lần như đấu vuông. - Cắt bỏ đấu tao thừa đi. 38
  39. Bài 8 Nối hai đầu dây cáp cùng cỡ và khác cỡ 1. Đấu nối cáp mối ngắn: - Tháo 2 đầu dây cáp ra với chiều dài của các tao bằng khoảng 60 cm. - Dùng dây con hoặc chỉ buồm buộc chặt đầu các đầu tao lại. - Cho 2 đầu dâp cáp châu đầu vào nhau, cài xen kẽ cách đều nhau từng tao 1 - Xuyên các tao vào trong dây xuôi theo chiều đường bện của dây. - Cách 1 tao xuyên qua 1 tao, mỗi tao xuyên 4 lần. - Cắt bỏ đầu tao thừa đi. 2. Đấu nối cáp mối dài: Trên mỗi đầu dây cáp cách đầu mút của đầu dây 2 một đoạn khoảng là 0,6m, đầu dây 1 là 1,4m. - Lấy dây nhỏ buộc chặt tại điểm đó gỡ rời các tao của 2 dây cáp ra mỗi tao thành 3 đôi dây. - Lấy chỉ buồm buộc chặt đầu tao, cắt bỏ tâm tẩm dầu (ruột thực vật). - Sau đó ráp 2 đầu dây vào nhau, xen kẽ đều nhau. - Tháo các đôi tao thành từng tao rời rồi cài xen kẽ cách đều các tao. - Gọi tên các tao của đầu dây1 là 1,2,3,4,5,6. - Gọi tên các tao của đầu dây 2 là a,b,c,d,g,e. - Đánh dấu 6 đôi tao. - Đôi tao thứ nhất(1 với a), đôi tao thứ 2(2 với b), đôi tao thứ 6( 6 với e). - Đôi tao thứ nhất(1 với a) vẫn giữ nguyên vị trí cũ. + Cứ vừa tháo tao b vừa cuốn tao 2 đến vị trí cách xa đôi tao1 một khoảng bằng 6 lần chu vi dây. + Đôi tao thứ 3(3 với c) vừa tháo tao c vừa cuốn tao 3. Còn các đôi tao 4,5,6 cũng làm như vậy để tạo thành 6 đôi dây nằm ở 6 nơi cách đều nhau một khoảng bằng 6 lần chu vi dây. - Mỗi đôi tao đều cắt bỏ lõi của các tao rồi thắt cho một nút lửng thắt chặt. - Tất cả các tao đều xuyên vào trong dây 2 lần xuôi theo đường bện của dây. - Cắt bỏ đầu tao thừa đi. Mối đấu xong. 39
  40. Bài 9 Cô dây cáp, dây sợi vào bích đơn, bích kép. 1. Quấn dây vào cọc bích (cô dây) . * Cột dây bích đơn không ngáng - Tác dụng: Dùng để buộc dây tàu vào cột bích. - Trình tự thao tác: + Bước 1: Dùng tay phải vòng đầu dây. + Bước 2: Tròng đầu dây vào khuyết. + Bước 3: Luồn đầu dây xuống qua cột bích vào kéo lên. + Bước 4: Xiết đầu dây xếp theo chiều cao của cột bích. * Cô dây vào bích đơn có ngáng. - Chọn vị trí đứng làm dây. - Đặt dây vào thân phía trước của cọc bích, đi xuống dưới ngáng(ngáng bên phải hoặc bên trái phụ thuộc vào vị trí tương đối giữa cọc bích và lỗ sỏ dây). - Quấn một vòng quanh cọc bích. - Quấn hình số 8 vào ngáng, bên phải quấn cùng chiều kim đồng hồ, bên trái quấn ngược chiều kim đồng hồ. - Quấn khoảng 4 vòng, làm khoá giữ đầu dây(dây cáp có thể quấn nhiều vòng hơn) * Cô quấn dây vào bích kép không có ngáng. - Dùng dây hãm giữ dây buộc tàu. - Đưa dây buộc tàu từ máy tời vào cọc bích(sát chặt bích). - Dây buộc tàu vòng qua cọc bích sau, đi vào giữa 2 cọc bích. - Quấn hình số 8, quanh 2 cọc bích, dây sợi quấn khoảng 4 vòng sau đó - Làm khoá giữ đầu dây, dây cáp số vòng dây quán nhiều hơn 2-3 vòng cuối cùng làm khoá hoặc lấy dây nhỏ buộc chặt. 40
  41. - Tháo dây hãm. * Cô dây vào bích kép có ngáng. - Dùng dây hãm giữ dây buộc tàu. - Đưa dây buộc tàu từ mày tời sang cọc bích, dây buộc tàu nằm dưới ngáng của cọc bích sau(so với lỗ so dây). - Quấn dây vào cọc bích theo hình số 8. Cọc bên phải quấn cùng chiều kim đồng hồ, cọc bên trái quấn ngược chiều kim đồng hồ. - Cọc bích phía sau dây có thể dưới ngáng, cọc phía trước dây quấn trên ngáng hoặc dây quấn trên ngáng của cả 2 cọc bích. - Dây sợi quấn khoảng 4-5 vòng, vòng cuối cùng làm khoá giữ đầu dây. - Dây cáp quấn nhiều vòng hơn, 2-3 vòng cuối cùng làm khoá hoặc lấy dây nhỏ buộc chặt giữ đầu dây. - Tháo dây hãm. - Chú ý khi làm dây. + Mang đầy đủ trang bị bảo hộ lao động. + Không đứng trong vòng dây. + Thao tác phải nhanh chóng, dứt khoát, chính xác. + Khi giữ dây trên trống tời phải đứng lệch sang một bên của hướng dây, giữ dây không chặt quá cũng không lỏng quá. - Sử dụng đĩa chắn chuột. Sau khi các dây đã căng đều và cô chặt vào cọc bích phải dùng các đĩa chắn chuột buộc vào dây buộc tàu cách be mạn tàu khoảng 0,7- 1m để tránh không cho chuột lên tàu. 2. Thao tác cởi dây buộc tàu. - Công tác chuẩn bị. + Kiểm tra, chạy thử máy tời. + Thu đĩa chắn chuột. + Thu quả đệm 2 bên mạn. + Kiểm tra dây buộc tàu. + Chuẩn bị đệm va phía mũi tàu. + Thu cầu thang. +Tháo bỏ dây buộc tàu. 41
  42. - Thứ tự tháo bỏ dây do Thuyền trưởng hoặc Hoa tiêu quyết định, động tác phải nhanh chóng, dứt khoát. - Dùng tời kéo dây, một người đỡ dây. - Dùng sức người kéo dây: dùng 4-5 người, 2 người kéo dây từ ngoài lên tàu. - Dùng sức người kéo dây: dùng 4-5 người,2 người kéo dây từ ngoài lên tàu. - Móc dây vào cọc bích đã móc sẵn từ trước, muốn móc dây sau vào thì phải luồn khuyết của dây sau vào trong vòng khuyết của dây trước từ dươí lên trên sau đó mới móc vào cọc bích sao cho khi cần tháo dây nào thì không làm ảnh hưởng đến dây khác. 42
  43. Môn học 04: LUỒNG CHẠY TÀU THUYỀN Bài 1 MẠNG LƯỚI GT ĐTNĐ KHU VỰC MIỀN BẮC 43
  44. Bài 2 TÊN CÁC SÔNG KÊNH 1. Sông kênh Miền Bắc. 1.1. Hệ thống sông Bằng Giang - Kỳ Cùng: Hệ thống sông này gồm hai sông chảy ngược nhau và gặp nhau ở Quảng Tây - Trung Quốc, tạo thành sông Tả Giang, chảy vào sông Tây Giang và đổ ra biển ở Quảng Châu. Sông Bằng Giang bắt nguồn từ Na Phi chảy vào Việt Nam qua cửa khẩu Sóc Hà về thị xã Cao Bằng, qua cửa khẩu Tà Lùng với chiều dài 108km. Đoạn sông qua Việt Nam dài 90km và có thể khai thác vận tải đoạn sông từ thị xã Cao Bằng qua Phục Hoà đến cửa khẩu Tà Nùng dài 56km. Sông Bằng Giang có mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 9 và mùa cạn từ tháng 10 năm trước đến tháng 5 năm sau. Sông Kỳ Cùng bắt nguồn từ Ba Xá dài 243km chảy qua thị xã Lạng Sơn đến Thất Khê thì ngoặt sang Trung Quốc qua cửa khẩu Bình Nghi. Mùa lũ và mùa cạn của sông Kỳ Cùng giống như sông Bằng Giang. 1.2. Hệ thống sông Thái Bình: 1.2.1. Khái quát chung: Phần thượng nguồn của hệ thống sông Thái Bình có ba con sông hợp thành: Sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam. Sông Thái Bình được nối tiếp với sông cầu và sông Thương ở ngã ba Cầu, ngang Phả Lại, sau đó chảy qua thành phố Hải Dương và tiếp nhận thêm nước của sông Hồng qua sông Đuống và sông Luộc với khối lượng tương đối lớn. Phần hạ nguồn có rất nhiều sông kênh, nối tiếp nhau để rút nước trên hệ thống sông Thái Bình đổ ra biển Đông qua các cửa sông như: Lạch Huyện, Nam Triệu, Lạch Chay, Văn úc, Thái Bình. Đồng thời luồng tàu thuyền của phần hạ nguồn còn được tiếp giáp với luồng của vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long. Tạo nên một màng lưới giao thông đường thuỷ dày đặc, rất thuận lợi cho việc vận tải giao thông đường thuỷ. Trên hệ thống sông Thái Bình, sông Cầu có mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 10, sông Thương và sông Lục Nam từ tháng 6 đến tháng 9. Lượng nước mùa lũ rất lớn chiếm khoảng 70% tổng lượng nước cả năm, về mùa cạn thuỷ triều ảnh hưởng lên đến Chũ (sông Lục Nam ) và Bắc Giang (sông Thương). 1.2.2. Sơ đồ hệ thống sông Thái Bình và luồng vịnh Hạ Long, Bái Tử Long: 44
  45. 1.2.3. Tên các con sông: 1- Sông Cầu dài 201km bắt nguồn từ vùng Na Dinh chảy qua Bắc Cạn, Chợ Mới, Thái Nguyên, Đắp Cầu đến Phả Lại. 2- Sông Thưong dài 157km bắt nguồn từ vùng Làng Mạn chảy qua Bắc Giang về Phả Lại. 3- Sông Lục Nam dài 157km xuất phát từ khu vực Chiềng Chang chảy qua Lục Ngạn, Lục Nam rồi đổ vào sông Thương ở ngã ba Nhãn. 4- Sông Thái Bình dài 103km nối tiếp với sông cầu và sông Thương ở ngã ba Cầu (Phả Lại), chảy qua thành phố Hải Dương rồi đổ ra Biển Đông ở cửa Thái Bình. 5- Sông Kinh Thầy dài 44,5km nối với sông Thái Bình ở ngã ba Lấu Khê, chảy qua Cầu Bình, Bến Triều rồi đến ngã ba Trại Sơn (còn gọi là ngã ba Phi Liệt) đổ ra hai ngả là sông Phi Liệt và sông Hàn. 6- Sông Kinh Môn (còn gọi là sông Vận) dài 45km nối với sông Kinh Thầy ở ngã ba Kèo chảy qua bến Tuần Mây, cầu Phú Thái rồi đổ xuống sông Cấm ở ngã Nống. 7- Sông Mạo Khê dài 18km nối với sông Kinh Thầy ở ngã ba Đông Triều chảy qua Mạo Khê, Hoàng Thạch đổ vào sông Đá Bạch ở ngã ba Đụn (Núi Con Mèo). 8- Sông Phi Liệt dài 8km được tính từ ngã ba Trại Sơn đến ngã ba Đụn. 9- Sông Hàn dài 8,5km được tính từ ngã ba Trại Sơn đến ngã ba Nống. 10- Sông Đá Bạch dài 23km nối tiếp với sông Mạo Khê và sông Phi Liệt ở ngã ba Đụn chảy qua cầu Đá Bạch, cảng Bạch Thái Bưởi, cảng Điền Công, cảng Chinh Phong rồi đến ngã ba Chanh (Phà Rừng) đổ ra hai ngả, một ngả vào sông Bạch Đằng, một ngả vào sông Chanh. 11- Sông Bạch Đằng dài 19km được nối tiếp với sông Đá Bạch tại ngã ba Chanh rồi đổ ra biển đông ở cửa Nam Triệu. 12- Sông Chanh dài 20,5km tiếp giáp với sông Đá Bạch và sông Bạch Đằng tại ngã ba Chanh chảy qua cầu Quảng Yên rồi đổ ra Biển Đông ở cửa Lạch Huyện. 13- Kênh Tráp dài 3km nối với sông Bạch Đằng ở ngã ba nam Kênh Tráp và sông Chanh ở ngã ba bắc Kênh Tráp. 14- Sông Vàng Chấu (còn gọi là sông Ruột Lợn) dài 7km, nối với sông Cấm ở ngã ba tây Vàng Chấu và sông Bạch Đằng ở ngã ba đông Vàng Chấu. 15- Kênh Đình Vũ dài 1,5km nối với sông Cấm ở ngã Đình Vũ và sông Bạch Đằng ở ngã ba bạch Đằng. 16- Sông Cấm dài 31km tiếp nối với sông Kinh Môn và sông Hàn ở ngã ba Nống chảy qua thành phố Hải Phòng đổ ra Biển Đông ở cửa Cấm. 17- Sông Xi Măng dài 3km nối với sông Lạch Tray ở ngã ba An Dương (còn gọi là ngã ba Niệm Nghĩa) chảy sang sông Cấm ở ngã ba Xi Măng. 46
  46. 18- Sông Lạch Tray dài 49km nối với sông Văn úc tại ngã ba Kênh Đồng chảy qua Kiến An rồi đổ ra Biển Đông ở cửa Lạch Tray. 19- Sông Gùa dài 4km nối với sông Thái Bình ở ngã ba Gùa đổ vào sông Văn úc tại ngã ba Dưa. 20- Sông Lai Vu dài 26km nối với sông Kinh Môn ở ngã ba Vũ Xá chảy qua cầu Lai Vu rồi đổ vào sông Văn úc ở ngã ba Dưa. 21- Sông Văn úc dài 43km nối với sông Gùa và sông Lai Vu tại ngã ba Dưa chảy qua cầu Cựu rồi đổ ra Biển Đông ở cửa Văn úc. 22- Kênh Mía dài 3km nối với sông Thái Bình ở ngã ba Cửa mía và sông Văn úc ở ngã ba Kênh Mía. 23- Kênh Khế (còn gọi là Kênh Mới) nối với sông Thái Bình ở ngã ba Cửa Mới và sông Văn úc ở ngã ba Kênh Khế. 1.3. Hệ thống sông Hồng: 1.3.1. Khái quát chung: Hệ thống sông Hồng là hệ thống sông lớn nhất Việt Nam, với diện tích lưu vực sông vào khoảng 70.700km2. Dòng chính sông Hồng bắt nguồn từ Trung Quốc vào Việt Nam ở khu vực Lào Cai rồi chảy theo hướng tây bắc - đông nam đổ ra Biển Đông ở cửa Ba Lạt. Độ dốc lòng sông từ Lào Cai đến Việt Trì (dài 285km) khoảng 23cm/km, đoạn từ Việt Trì đến cửa Ba Lạt (dài 244km) khoảng 3cm/km. Phần thượng lưu sông Hồng có hai phụ lưu lớn và quan trọng là sông Đà và sông Lô, trên hai phụ lưu này còn có nhiều nhánh sông đổ vào, tạo thành mạng lưới đường sông hình dẻ quạt có lưu vực rộng khắp vùng Tây Bắc và Việt Bắc rồi hội tụ lại tại Việt Trì. Chính dạng mạng lưới sông này đã là tổ hợp lũ của các phụ lưu với lũ của dòng chính, để gây lên những trận lũ lớn ở đồng bằng Bắc Bộ. Sông Hồng có 5 tháng lũ (từ tháng 6 đến tháng 10) chiếm một lượng nước 75% tổng lượng nước cả năm, đỉnh lũ là tháng 8. Tính nguy hiểm của lũ ở hệ thống sông Hồng, là lũ xảy ra đồng thời trên toàn lưu vực, gây ra sự tổng hợp lũ rất nguy hiểm. Sau khi xây dựng đập thuỷ điện Hoà Bình, sự phối hợp lũ đã giảm nhiều lần. Nhưng sự phối hợp lũ của thượng nguồn sông Hồng (còn gọi là sông Thao) và sông Lô cũng vẫn tạo lên lũ lớn ở hạ lưu điển hình là ở Hà Nội. Phần hạ lưu sông Hồng có các nhánh sông tiêu nước được gọi là các chi lưu. Nên lũ sông Hồng được giảm nhanh vào thời điểm thuỷ triều xuống kiệt, nhờ nước thoát qua các sông Đuống, sông Luộc, sông Trà lý, sông Đào Nam Định, sông Ninh Cơ. Do vậy lũ sông Hồng còn ảnh hưởng tới mức nước lũ của hệ thống sông Thái Bình vì lượng nước qua sông Đuống và sông Luộc đổ sang. Sông Hồng có 7 tháng mùa cạn (từ tháng 11 năm trước đến tháng 5 năm sau), nước xuống kiệt nhất vào tháng 3. Vào mùa nước cạn, các tuyến vận tải sông đi qua hệ thống sông Hồng thường có nhiều bãi cạn gây khó khăn ách tắc giao thông. Nét khác biệt của hệ thống sông Hồng với hệ thống sông Thái Bình là mực nước thuỷ triều không ảnh hưởng đến được các con sông phần thượng lưu. 47
  47. 1.3.2. Sơ đồ hệ thống sông Hồng: 1.3.3. Tên các con sông: 48
  48. 1- Sông Hồng dài 1.126km phần nằm ở Việt Nam là 529km. Sông được bắt nguồn từ dãy Nguy Sơn gần hồ Đại Lý thuộc tỉnh Vân Nam Trung Quốc, vào Việt Nam ở cửa Hà Khẩu tỉnh Lao Cai chảy qua Yên Bái, Phú Thọ, Việt Trì, Sơn Tây, Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định,Thái Bình, rồi đổ ra Biển Đông ở cửa Ba Lạt. Phần thượng lưu từ Lao Cai đến Việt Trì dài 285km còn có tên gọi là sông Thao. 2- Sông Đà dài 1.010km phần nằm ở Việt Nam là 527km. Sông được bắt nguồn từ Trung Quốc vào nước ta ở Lai Châu, chảy qua Sơn La, Hoà Bình, rồi đổ vào sông Hồng ở ngã ba Trung Hà. Hiện nay sông bị ngăn lại tại Hoà Bình và tương lai không xa sẽ ngăn tiếp tại Tạ Pú - Sơn La. 3- Sông Lô dài 470km phần nằm ở Việt Nam là 274km. Sông cũng được bắt nguồn từ Trung Quốc vào Việt Nam ở Hà Giang chảy qua Tuyên Quang rồi đổ vào sông Hồng ở ngã ba Việt Trì. Trên sông Lô còn có các nhánh đổ vào là sông Gâm, sông Chảy, sông Me. 4- Sông Đáy dài 237km là chi lưu của sông Hồng. Nó tiếp giáp với sông Hồng tại cống Phùng chảy qua Phủ Lý, Ninh Bình rồi đổ ra biển đông ở cửa Đáy. 5- Sông Đuống dài 68km nối với sông Hồng ở ngã ba Dâu chảy qua cầu Đuống, cầu Hồ, núi Thiên Thai rồi đổ sang sông Thái Bình ở ngã ba Mỹ Lộc (còn có tên là ngã ba Trì hoặc Lạch Nổ). 6- Sông Luộc dài 56,5km nối với sông Hồng ở ngã ba Phương Trà (còn có tên là cửa Luộc) chảy qua cầu Triều Dương, Bến Xuôi, La Tiến, Bến Trại, Bến Hiệp, Ninh Giang rồi đổ sang sông Thái Bình tại ngã ba An Thổ. 7- Sông Trà Lý dài 70km nối với sông Hồng tại ngã ba Phạm Lỗ chảy qua thị xã Thái Bình rồi đổ ra Biển Đông ở cửa Trà Lý. 8- Sông Đào Nam Định dài 33,5km nối với sông Hồng ở ngã ba Hưng Long chảy qua thành phố Nam Định đổ sang sông Đáy ở ngã ba Độc Bộ. 9- Sông Ninh Cơ dài 55km nối với sông Hồng tại ngã ba Mom Rô chảy qua cầu Lạc Quần đổ ra Biển Đông ở cửa Lạch Giang. 10- Sông Hoàng Long dài 29km bắt nguồn từ khu vực Nho Quan đổ vào sông Đáy ở ngã ba Gián (cầu Gián). 11- Sông Vạc dài 28,5km được tính từ cầu Yên đến ngã ba Kim Đài. 12- Kênh Quần Liêu dài 3km nối với sông Đáy ở ngã ba cửa Quần Liêu và sông Ninh Cơ ở ngã ba kênh Quần Liêu. 13- Sông Hoá dài 24km nối với sông Luộc ở ngã ba Chanh Chử (Ninh Giang) chảy qua cầu Nghìn đổ ra cửa Ba Giai. 49
  49. 14- Sông Gâm dài 204km bắt nguồn từ biên giới Việt Trung chảy qua Bắc Né, Chiêm Hoá rồi đổ vào sông Lô ở ngã ba Gâm. 15- Sông Chảy (dưới đập) dài 32km từ đập thuỷ điện Thác Bà đến ngã ba Đoan Hùng (ngã ba Chảy). 16- Sông Me (còn gọi là sông Phó Đáy) bắt nguồn từ khu vực Tam Đảo đổ vào sông Lô ở ngã ba Me. 17- Sông Bôi dài 34,5km bắt nguồn từ Đầm Đa đổ vào sông Hoàng Long ở ngã ba Hoàng Long. 1.4. Hệ thống sông Mã: 1.4.1. Khái quát chung: Dòng chính của hệ thống là sông Mã dài 512km, một phần trung lưu của song nằm trên đất Lào đoạn chảy qua tỉnh Thanh Hoá từ Phù Nhi đến cửa Lạch Trào dài 225km. sông Mã có hai nguồn chính, một nguồn từ núi Tuần Giáo – Lai Châu chảy qua Sơn La, nguồn thứ hai từ sườn phía bắc Pu Sam Sao đổ về. Dòng chảy theo hướng tây bắc đông nam qua Sầm Nưa (Lào) vào Thanh Hoá rồi đổ ra Biển Đông qua ba cửa: Cửa Lèn, cửa Lạch Trào, cửa Lạch Trường. Hệ thống sông Mã có các phụ lưu lớn: Nậm Thi, sông Bưởi, sông Chu. Sông Chu bắt nguồn từ Pu Pan ở Sầm Nưa có chiều dài 325km, đọan chảy qua đất Lào dài 165km. Sông Chu chảy song song với sông Mã và đổ vào sông Mã tại ngã ba Đầu. Hệ thống sông Mã có 5 tháng mùa lũ (từ tháng 6 đến tháng 10) đỉnh lũ là tháng 8. Mùa cạn dài 7 tháng (từ tháng 9 năm trước đến tháng 5 năm sau) tháng có mức nước kiệt nhất là tháng 3. Hệ thống sông Mã nối với sông Đáy qua các sông, kênh: SôngVạc, Yên Mô, Kênh Nga, sông Lèn, Kênh Re, sông Trường, kênh Choán. Như vậy từ Lệ Môn trên sông Mã có thể đi bằng đường sông đến Hoà Bình, Yên Bái, Tuyên Quang, Bắc Giang, Hải Phòng, Hòn Gai, Cửa Ông 1.4.2. Sơ đồ hệ thống sông Mã: 50
  50. 2. Sông kênh Miền Trung. 2.1. Sơ đồ sông kênh Miền Trung: Từ Nghệ An đến Bình Định có hàng trăm con sông lớn nhỏ như sông Lam (sông Cả), sông Gianh, sông Bến Hải, Thạnh Hãn, sông Hương, Thu Bồn, Trà Khúc, Đà Rằng. Các sông này nhỏ, ngắn hơn các sông khác trên đất nước ta. Nhưng độ dốc cao, lưu tốc dòng chảy mạnh. Nhìn chung sông ngòi Trung Bộ rất hạn chế khả năng khai thác vận chuyển do luồng lạch cạn, hẹp, mùa khô thiếu nước vận chuyển, Mùa mưa dòng chảy quá mạnh. Tuy nhiên các tàu thuyền nhỏ, có trọng tải dưới 100Tấn có thể khai thác ở một số con sông trong khu vực này. 51
  51. Một đặc điểm nổi bật là các con sông thuộc khu vực Trung Bộ là nó độc lập, riêng rẽ, không liên kết với nhau để tạo thành một màng lưới giao thông đường thuỷ, như ở Bắc Bộ và Nam Bộ. 2.2. Các sông chính: 1. Sông Lam (sông Cả): Thuộc địa phận Nghệ An dài 500km, bắt nguồn từ Du Lôi Sầm Nưa, chảy từ độ cao 2000m xuống, theo hướng tây bắc đông nam qua vùng núi trung du và đồng bằng Nghệ Tĩnh, thành phố Vinh rồi đổ ra Biển Đông ở cửa Hội, cửa Lò. Sông Lam có các phụ lưu: Sông Ngàn Sâu chảy qua vùng Hương Khê và sông Ngàn Phố qua Hương Sơn. Hai sông này gặp nhau ở Linh Cảm hợp thành sông La nối với sông Lam. Sông Hiếu chảy qua Phù Quì, cách Bến Thuỷ khoảng 80km thì nối với sông Lam. Từ Cửa Rào ra biển tàu thuyền có thể vào được Bến Thủy, tàu thuyền có mớn nước dưới 1m có thể tới được Linh Cảm. Phía bắc sông Lam có các sông nhỏ, ngắn như sông Hoàng Mai, sông Giát, sông Cấm, sông Bùng. Chúng nối với các kênh đào như: Kênh Sắt, kênh Sước, kênh Son , Kênh Than tạo thành mạng lưới giao thông thuỷ thuận lợi. Thuỷ chế sông Lam thất thường, mùa khô các sông từ cửa Rào trở lên đều bị cạn. Mùa lũ nước khá cao, dòng chảy mạnh tới 5 đến 7m/s, chiều rộng bình 52
  52. quân từ 50 đến 350m, sâu bình quân từ 0,8 đến 5m. Sông chịu ảnh hưởng của chế độ nhật triều không đều. Lũ trên sông Lam chậm hơn sông Hồng 1 tháng từ tháng 7 đến tháng 11. 2. Sông Gianh: Thuộc địa phận Quảng Bình, có nguồn từ Khe Nét chảy ở cao nguyên Ké Bàng xuống. Nguồn khác từ Thanh Lãng Hương Khê chảy về đông nam sông Gianh đổ ra Biển Đông ở cửa Gianh. Phần sông Gianh từ Minh Cầu về xuôi mang tính chất hạ lưu, lòng sông rộng mực nước sâu, khi ảnh hưởng thuỷ triều thường xuất hiện sóng lớn nhất là đoạn từ Ba Đồn ra Biển Đông. 3. Sông Nhật Lệ (sông Kiến Giang): Thuộc địa phận Quảng Bình dài 38km phần thượng nguồn có hai nhánh gặp nhau ở ngã ba Đại Giang, chảy qua cầu Quán Hầu, thị xã Đồng Hới rồi đổ ra Biển Đông ở cửa Nhật Lệ. 4. Sông Bến Hải: Thuộc địa phận Quảng Trị dài khoảng 100km thượng nguồn là sông Rào Thành đến Xuân Long chia thành ba nhánh, một nhánh chảy về phía đông bắc qua Phúc Lý - Di Loan rồi đổ ra biển Đông ở cửa Tùng. Một nhánh chảy về phía đông nam đến Do Linh vào sông Thạch Hãn. Nhánh còn lại từ Cao Tân rồi hợp với nhánh thứ nhất đổ ra cửa Tùng. Phần sông từ cầu Hiền Lương đến cửa Tùng rộng từ 170 đến 200m, mực nước sâu, khả năng khai thác vận tải tốt. Đoạn phía trên cạn hẹp, khả năng khai thác vận tải hạn chế. 5. Sông Hương: Thuộc địa phận thành phố Huế dài 34km phần thượng nguồn có hai nhánh gặp nhau ở ngã ba Tuần chảy qua thành phố Huế rồi đổ ra biển Đông ở cửa Thuận An. 6. Sông Thu Bồn: Thuộc địa phận Quảng Nam - Đà Nẵng từ ngã ba Tranh đến cửa Đại dài 97km. Dòng chính của hệ thống sông Thu Bồn bắt nguồn từ sườn phía bắc núi Ngọc Lĩnh, trong hệ thống có các phụ lưu lớn: Sông Cái, sông Bung chảy vào sông Vu Gia, nhập với sông Thu Bồn chảy ra cửa Đại và một phần chảy vào sông Hàn ra vụng Đà Nẵng. Mùa lũ ở đây ngắn và muộn, thường từ tháng 10 đến tháng 12 trong đó tháng 11 là đỉnh lũ. 7. Sông Đà Rằng (sông Ba): Nằm ở địa phận tỉnh Phú Yên dài 290km là con sông lớn nhất của miền Trung, bắt nguồn từ Phước Sơn trên cao nguyên Gia Lai chảy qua Cheo Reo, rẽ sang phía đông băng qua Phú Yên rồi đổ ra biển Đông ở một cửa sông rộng tới 5km, cửa sông có nhiều bãi nổi. Từ đập Can trở xuống ra đến cửa Đà Rằng dài 39km mang tên Đà Rằng sông này chảy qua thành phố Tuy Hoà. Mùa lũ xuất hiện từ tháng 10 đến tháng 12, những tháng còn lại là mùa nước cạn. 53
  53. 3. Sông, kênh Miền Nam. 3.1. Sơ đồ màng lưới giao thông đường sông Miền Nam: 3.2. Các hệ thống sông: 3.2.1. Hệ thống sông Đồng Nai: 54
  54. Hệ thống sông này gồm có các sông: Đồng Nai, Sài Gòn, Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, Vàm Cỏ hợp thành. Đồng Nai là con sông có chiều dài nhất nước ta, dòng chính dài 635km, sông bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên ở độ cao1.770m, lưu vực của sông nằm trọn trên lãnh thổ Việt Nam có diện tích khoảng 23.252km2, nếu tính cả phụ lưu sông Sài Gòn là 29.520km 2. Dòng chính từ Lâm Viên đến Đakhouai có tên là Đa Đâng thường gọi là Đồng Nai Thượng có chiều dài 354km. Đoạn từ Đakhouai đến hợp lưu với sông Sài Gòn tại ngã ba Đèn Đỏ dài 175,5km mang tên sông Đồng Nai. Đoạn từ ngã ba Đèn Đỏ đến ngã ba Vàm Cỏ dài 33,5km mang tên sông Nhà Bè. Đoạn từ ngã ba sông Vàm Cỏ đổ ra biển Đông dài 22,5km mang tên sông Soài Rạp. Sông Đồng Nai có các phụ lưu: Phía tả ngạn có sông La Ngà dài 272km, phía hữu ngạn có sông Bé dài 344km, sông Sài Gòn dài 205km, sông Vàm Cỏ Đông dài 165km, Vàm Cỏ Tây dài 129km. Các sông này chảy vào sông Soài Rạp và chảy ra biển Đông bằng cửa Soài Rạp tại khu vực Cần Giờ tạo thành hình nan quạt. Ngoài các phụ lưu trên phía tả ngạn từ Nhà Bè, Cần Giờ, Long Thành, sông Đồng Nai còn có các phân nhánh: Sông Lòng Tàu là luồng vận tải chính vào cảng Sài Gòn, các sông Đồng Tranh, Lô Gia, Thị Vải, Ngã Bẩy là những nhánh đầy tiềm năng cho việc xây dựng cảng và phát triển kinh tế. Sông Đồng Nai có tiềm năng lớn về thuỷ năng , có độ dốc trung bình 0,033%. Sông tuy có nhiều ghềnh thác ở thượng lưu nhưng không tạo thành đột biến đáng kể. Ngoài những đoạn thác ghềnh, nước chảy tương đối điều hoà. Sông Đồng Nai có hai mùa mưa và khô. Mùa lũ thường có 5 tháng, từ tháng 7 đến tháng 11, lũ lớn nhất vào hai tháng 9 và 10, Mùa khô kéo dài 7 tháng, từ tháng 12 năm trước đến tháng 6 năm sau, mực nước kiệt nhất vào tháng 2 và tháng 3. Sông Đồng Nai chịu ảnh hưởng của thuỷ triều Biển Đông tương đối mạnh và theo chế độ bán nhật triều, với biên độ ngoài cửa trung bình khoảng từ 2 đến 3,5m. Thuỷ triều ảnh hưởng sâu vào trong sông lên đến Tân Uyên với biên độ trung bình từ 1m đến 2m. Mùa khô thuỷ triều lên đến ngã ba sông Bé – sông Đồng Nai. 3.2.2. Hệ thống sông Mê Công (Cửu Long): Sông Mê Công là một trong những sông lớn của Châu Á, nó bắt nguồn từ độ cao 5.000m thuộc cao nguyên Tây Tạng, phía tây nam Trung Quốc. Sông Mê Công dài 4.500km chảy qua sáu quốc gia: Trung Quốc, Miến Điện, Lào, Thái Lan, Cam Pu Chia và Việt Nam rồi đổ ra Biển Đông. Riêng đoạn chảy qua đất Việt Nam dài khoảng 230km. Sông Mê Công chảy vào Phnompênh thì chia thành ba nhánh: Nhánh chảy về phía tây bắc vào biển hồ- sông Tôn Lê Sap, hai nhánh còn lại là 55
  55. sông BasSac và sông Mê Công, chảy theo hướng nam vào đất Việt Nam. Trong lãnh thổ Việt Nam sông BasSac người Việt Nam gọi là sông Hậu Giang, chảy qua Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ, Đại Ngải và đổ ra Biển Đông bằng ba cửa là Định An, BasSac và Trần Đề. Sông Mê Công người Việt Nam gọi là sông Tiền Giang chảy qua Tân Châu, Chợ Mới, Cao Lãnh, Sa Đéc, Vĩnh Long Mỹ Tho, rồi đổ ra Biển Đông qua Cửa Tiểu. Từ vĩnh long về hạ lưu, sông Tiền Giang chia thành các nhánh sông Cổ Chiên, sông Hàm Luông, sông Ba Lai và sông Cửa Đại. Như vậy sông Mê Công vào lãnh thổ Việt Nam hình thành hai sông chính: Sông Tiền Giang và sông Hậu Giang, cùng sáu nhánh phụ đổ ra Biển Đông qua chín cửa, lần lượt từ bắc xuống nam: Cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai,cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu, cửa Định An, cửa Ba Sac, cửa Trần Đề. Vì vậy sông Mê Công trên đất Việt Nam còn có tên là sông Cửu Long. Sông Tiền Giang và sông Hậu Giang được nối với nhau bằng hệ thống sông tự nhiên và kênh đào như: Kênh Tân Châu, Châu Đốc, sông Vàm Lao, kênh Lấp Vò-Sa Đéc, kênh Chợ Lách, sông Măng Thít, rạch Trà Ôn. Hai hệ thống sông Cửu Long và Đồng Nai được nối với nhau qua kênh Chợ Gạo. Sông Cửu Long có 5 tháng lũ ( từ tháng 7 đến tháng 11 ) đỉnh lũ thường xuất hiện vào cuối tháng 9 đầu tháng 10, còn lại là những tháng mùa khô, mực nước kiệt nhất vào tháng 4. Lũ ở sông Cửu Long lên từ từ và khi rút cũng chậm là do độ dốc sông Cửu Long ở khu vực Việt Nam thấp, kết hợp với sự điều tiết tự nhiên của biển hồ làm cho nước lũ lên chậm và rút cũng chậm. Hệ thống sông Cửu Long có chế độ thuỷ văn hết sức phức tạp, chịu ảnh hưởng của hai chế độ thuỷ triều: ở Biển Đông với chế độ bán nhật triều không đều có biên độ trung bình 3m, ở khu vực vịnh Thái Lan theo chế độ nhật triều không đều với biên độ trung bình 0,7 đến 1,0m. 3.2.3. Các sông nhỏ Miền Tây Nam Bộ: Miền tây nam châu thổ sông Cửu Long còn có các sông: sông Cái Bé, sông Cái Lớn, sông Ông Đốc, sông Gành Hào, sông Cửa Lớn, sông Bảy Hạp Các sông này được hình thành cùng với sự phát triển miền đất phía tây Nam Bộ. Sông ở khu vực này quanh co uốn khúc, không có nguồn rõ rệt, các cửa sông ra Biển Đông gồm có: Cửa Bồ Đề, cửa Rạch Giá , cửa Gành Hào. Các cửa ra vịnh Thái Lan gồm có: Cửa sông Ông Đốc, cửa sông Cái Bé, Cái Lớn. Do ở phía đông và phía tây đều là biển và có chế độ thuỷ triều khác nhau, các sông nối từ Biển Đông sang vịnh Thái Lan biên độ giảm dần, nhiều nơi trong 56
  56. các sông gần như không có dòng chảy. Tất cả những yếu tố trên đã tạo nên sự phức tạp cho luồng lạch ở khu vực tây Nam Bộ. 57
  57. Bài 3 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA SÔNG KÊNH 1. Sông, kênh đối với vận tải thủy nội địa. Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, dọc theo bờ biển Đông, kéo dài từ 805 đến 2305 vĩ bắc với 3260 km bờ biển. Lịch sử phát triển tự nhiên lâu dài trong điều kiện mưa nhiều đã tạo ra một số lượng sông, suối, kênh rạch rất lớn lên tới khoảng 2.360 con sông, kênh lớn nhỏ. Mật độ sông kênh trong cả nước trung bình đạt 0,60 Km/ km 2. Nơi có mật độ sông thấp nhất là các vùng núi đá, vùng cực Nam Trung Bộ. Trên các châu thổ ngoài các sông suối tự nhiên còn có nhiều kênh đào, mương máng làm cho mật độ sông kênh rất cao. Khu vực đồng bằng sông Hồng có mật độ 0,45Km/ Km 2, khu vực đồng bằng sông Cửu Long có mật độ 0,68Km/ Km 2. Dọc bờ biển, theo thống kê có 112 cửa sông ra biển, vào khoảng 29km có một cửa sông. Các sông lớn của Việt Nam thường bắt nguồn từ ngoài lãnh thổ, phần trung lưu và phần hạ lưu chảy trên đất Việt Nam. 2. Tính chất chung. Do cấu trúc địa hình của nước ta, được thiên nhiên ban phát tạo nên, phía bắc và phía tây dọc theo biên giới trên bộ là các dẫy núi cao và các cao nguyên trùng trùng điệp điệp nối liền với nhau, phía đông và phía nam kề sát với biển Đông. Nên hầu hết các sông của Việt Nam chảy theo hướng tây bắc - đông nam rồi đổ ra biển Đông. Ngoại lệ có sông Kỳ Cùng có hướng chảy ngược lại. 3. Đặc điểm chung. 3.1. Đặc điểm về dòng chảy: Do các sông bắt nguồn từ các núi cao, nên sông ở thượng lưu rất dốc, độ dốc bình quân của sông Hồng từ thượng nguồn đến Việt Trì là 23cm/km, sông Lô 33cm/km. Các sông ở phía đông Trường Sơn độ dốc còn lớn hơn có nơi lên trên 100cm/km. Chính vì vậy vào mùa mưa sông ở khu vực này dòng nước chảy xiết các phương tiện vận tải chạy ngược dòng rất khó khăn, sông chảy đến vùng đồng bằng dòng chảy êm hơn, độ dốc còn khoảng vài xen ti mét trên một ki lô mét. Các dòng chảy được hình thành là nhờ các khối nước di chuyển từ thượng lưu xuống hạ lưu. Những yếu tố đặc trưng cho dòng chảy là: Tổng lượng nước trên sông từ thượng nguồn đến hạ lưu (m 3), lưu lượng nước của sông (m 3/s), lưu tốc dòng chảy (m/s). Những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới dòng chảy là lượng mưa, 58
  58. lưu vực mưa, thời gian mưa, nhiệt độ, độ ẩm, cấu tạo địa chất, địa hình, các công trình trên sông như bến cảng, cầu cống, kè đập v.v Dòng chảy trên sông kênh nước ta, chủ yếu là do nguồn nước mưa cung cấp. Mưa ở nước ta theo mùa và lượng mưa giữa hai mùa chênh lệch nhau khá lớn. Sông kênh nước ta phần lớn ngắn và dốc, lưu vực rộng lớn. Do đó dòng chảy diễn biến phức tạp, luôn thay đổi theo mùa, theo vùng. Sau mỗi trận mưa, lượng nước dồn về sông chính rất nhanh với lưu lượng rất lớn. Về mùa mưa, mực nước trung bình trên các sông cao hơn mực nước trung bình ở mùa cạn từ 4 đến 5 lần trở lên. Lưu lượng nước tăng hàng chục lần, khi lũ xuất hiện biên độ mực nước đều dâng cao từ thượng nguồn đến hạ lưu. Mùa lũ rất khó phân biệt chướng ngại vật, nhận biết luồng đi, lưu tốc dòng chảy mạnh, dòng chảy diễn biến phức tạp. Về mùa khô, mực nước trên sông thấp, lưu lượng ít, lưu tốc dòng chảy chậm. Phần thượng và trung lưu luồng lạch thu hẹp. Phần hạ lưu, đủ nước vận chuyển, lưu tốc dòng chảy chậm và chịu ảnh hưởng của các chế độ thuỷ triều. Một số đặc điểm, qui luật diễn biến dòng chảy: - Dòng chảy phân luồng: Dòng chảy phân luồng xuất hiện ở những nơi mực nước đột ngột từ cao xuống thấp. Sau khi đổ xuống, nước nhanh chóng đổ ra nhiều hướng để tiếp tục chảy. Đoạn sông bị đột ngột bị thu hẹp về chiều rộng cũng xuất hiện dòng chảy này, dòng chảy bị thu hẹp, nước bị dồn lại ở phần thượng lưu tạo nên mực nước chênh lệch lớn. Sau khi ra khỏi đoạn sông thắt, nước tỏa ra nhiều hướng, nhiều luồng khác nhau để tiếp tục chảy về hạ lưu. Ngoài ra dòng chảy phân luồng còn xuất hiện ở những nơi mà giữa lòng sông có chướng ngại vật, bãi đá, cát ngầm, bãi nổi (cù lao) làm luồng nước phân ra nhiều hướng. Đặc điểm của dòng chảy phân luồng là phía thượng lưu nước cao, lưu tốc chậm, nước chảy tập trung vào một luồng, ở phía hạ lưu dòng chảy phân ra nhiều hướng nhiều luồng với lưu tốc nhanh. Sau khi tỏa ra nhiều hướng, nhiều luồng, luồng đi an toàn của phương tiện lúc đó phụ thuộc vào sự nhận biết của người điều khiển phương tiện thông qua kinh nghiệm lâu dài. Trước hết phải xác định được điểm phân luồng, sau đó xác định luồng an toàn mà phương tiện có thể qua được. - Dòng chảy phủ luồng: Dòng này xuất hiện khi trên sông có nước lũ lớn, hoặc khi thuỷ triều dâng cao, chưa kịp thoát tỏa rộng trên mặt sông phủ kín các cồn bãi, chướng ngại vật, phủ kín luồng đi làm cho việc nhận biết luồng đi khó khăn. Dòng chảy phủ luồng xuất hiện thì lưu lượng, lưu tốc dòng chảy tăng nhanh . 59
  59. Diễn biến của dòng phủ luồng là khi chảy qua những đoạn sông có luồng lạch ổn định, đáy sông không có chướng ngại vật thì mặt dòng chảy êm phẳng và thẫm màu. ở những đoạn sông có diễn biến lòng sông phức tạp, đáy sông có nhiều chướng ngại vật thì lưu tuyến của dòng chảy dưới đáy sông là lưu tuyến rối với lưu tốc khác nhau. Từ đó gây ra sự mất ổn định của bề mặt dòng chảy. Khi đó trên mặt sông sẽ xuất hiện một vệt nước dài liên tục thẫm màu, bề mặt dòng chảy êm có lưu tốc dòng chảy mạnh đó là luồng chính, tàu đi an toàn. Những nơi bề mặt sông xuất hiện nước cuộn, có nhiều ngấn nước có sóng gợn hoặc sóng ngang, sóng lăn tăn có màu sáng nhất là đêm trăng hoặc trời nắng. Đó là nơi không ổn định, dòng chảy diễn biến phức tạp, luồng đi không an toàn. Khi điều khiển tàu qua đoạn sông này cần chú ý điều khiển hướng thẳng mũi tàu đúng luồng an toàn. Nếu có gió thì phải tính toán để tránh chệch hướng do gió tạt. Khi đi xuôi nước dòng chảy mạnh, tàu khó nghe lái. Bên cạnh dòng chảy chính có nhiều dòng chảy khác diễn biến phức tạp dễ làm cho tàu chệch hướng đi. Khi đi ngược nước cần phải xử lý tốc độ tàu thích hợp, đảm bảo thắng được tốc độ dòng chảy. - Dòng chảy vòng: Dòng chảy vòng thưòng xuất hiện ở đoạn sông cong, ở những cửa sông có dọi cát nhô ra sông, làm cho dòng chảy đang thẳng bị uốn cong và chảy theo một hướng khác với hướng ban đầu. Dòng chảy vòng là dòng chảy hướng ngang thẳng góc với dòng chủ lưu, hướng của tầng chảy trên mặt nước và hướng của tầng nước dưới đáy sông ngược chiều nhau. Dòng chảy theo hướng ngang hợp với dòng chảy theo hướng dọc tạo thành chảy vòng, dòng chảy qua đoạn sông cong xuất hiện lực ly tâm, dưới tác dụng của lực ly tâm làm cho mặt nước ở phía bờ lõm dâng cao và thấp ở phía bờ lồi, hình thành độ dốc hướng ngang. Từ đầu đoạn cong nếu nhìn mặt cắt ngang thì thấy dòng chảy mặt hướng về bờ lõm, do cản trở của bờ dòng chảy dần chuyển hướng từ hướng thẳng sang cong, sau đó chuyển xuống đáy chuyển về hướng bờ lồi rồi chuyển lên phía trên mặt sông trong khi đó dòng chảy đáy hướng về phía bờ lồi ngược chiều vói dòng chảy mặt, sau đó chuyển dần lên mặt nước. Lưu tốc dòng chảy trên mặt nước và dòng chảy dưới đáy sông ngược chiều nhau. Như vậy dòng chảy dưới đáy đào sói đáy và bờ lõm đem bùn cát bồi cho bờ lồi, điểm gặp nhau giữa hai dòng chảy đáy và mặt tạo thành một ngấn nước có khi tạo thành một dải bọt trắng kéo dài liên tục. Từ ngấn nước này nếu điều khiển tàu đi quá về phía bờ lồi, sẽ chịu sự chi phối mạnh của dòng chảy dưới đáy và có xu thế lôi cuốn về phía bờ lồi dễ mắc cạn. Ngược lại nếu đi quá về 60
  60. phía bờ lõm sẽ chiụ sự chi phối của dòng chảy trên mặt với lưu tốc lớn có xu thế bị lôi cuốn về phía bờ lõm dễ va đụng vào bờ. - Dòng chảy xoáy: Ở những nơi bờ sông bị lõm đột ngột, nơi có các công trình ngầm hoặc chướng ngại vật, chân các núi đá ngầm nhô ra sông ngăn cản một phần dòng chảy trên sông. Dòng chảy xoáy xuất hiện do dòng chảy thay đổi chiều, hướng đột ngột tạo nên dòng chảy có hướng ngược lại hướng ban đầu rồi xoáy tròn theo dạng chôn ốc, sau đó thoát ra và chảy theo hướng xuôi chiều dòng sông. Có ba dạng dòng chảy xoáy: - Dòng chảy xoáy trục đứng dương áp. - Dòng chảy xoáy âm. - Dòng xoáy trục ngang. - Dòng nước giao nhau: Dòng này thường xuất hiện ở các ngã ba sông khi có hai dòng đổ về một ngả, hai dòng nước ở hai nhánh sông cùng chảy về một nhánh thứ ba. - Dòng nước vật (Dòng có hướng chảy ngược lại với luồng nước của dòng sông): Dòng này thường xuất hiện ở sau các cánh bãi lớn và đoạn sông đó thường có một độ cong nhất định. - Dòng nước chảy ngang luồng: Như ta đã biết trên một số dòng sông về mùa nước lũ lưu tốc dòng chảy rất mạnh, làm cho phía bờ lở của sông bị xâm thực dữ dội, sức sói mòn rất mạnh gây nguy hiểm đến an toàn đê điều. Nên tại những vị trí đó chúng ta có xử lý để bảo tồn cho phần đất không bị tiếp tục xâm hại và chặn đứng sự sói mòn do dòng chảy gây ra đảm bảo an ninh cho đê điều bằng cách thả xuống lòng sông những sọt đá, rồng đá tạo thành những chiếc kè mỏ hàn. - Diễn biến dòng chảy do ảnh hưởng bởi các công trình giao thông: Các công trình cầu qua sông do các trụ cầu, mố cầu thu hẹp dòng chảy, làm cho dòng chảy bị biến đổi nhiều. ở thượng lưu cầu, do các mố cầu cản trở dòng chảy, nước không thoát nhanh nên ứ lại, dâng lên tương đối cao, lưu tốc giảm sẽ sinh ra bồi lắng. Còn tại trụ cầu và mố cầu, dòng chảy bị các công trình bảo vệ cầu ở đầu cầu cản trở, nên lưu lượng đơn vị tăng lên, tốc độ cũng tăng lên gây sói lở. Hạ lưu cầu dòng chảy mở rộng, lưu tốc giảm bùn cát bồi lắng lại. Tóm lại, sự biến hình dòng sông ở đoạn sông có cầu, chủ yếu là hình thành các bãi bồi dịch chuyển về phía hạ lưu và biến hình theo chiều dọc của luồng. 3.2. Đặc điểm về thời tiết: 61
  61. 3.2.1. Tình hình thuỷ văn do mưa: Nguồn nước trên sông kênh chủ yếu là do mưa, tình hình mưa ở nước ta rất phức tạp và diễn biến theo mùa rõ rệt mùa mưa lưu lượng và lưu tốc dòng chảy tăng cao, mùa khô lưu lượng nước giảm lưu tốc dòng chảy êm hơn. Ngoài ra địa hình của nước ta có độ dốc thoải dần từ tây sang đông, miền núi, trung du bình đồ cao hơn rất nhiều so với vùng đồng bằng và mặt nước biển. Do đó chỉ cần một trận mưa vừa cũng làm thay đổi mực nước các sông rất nhanh, nhất là về mùa mưa, miền đồi núi mưa nhiều mưa lớn. Nước từ thượng lưu đổ về hạ lưu rất nhanh, khi nước về hạ lưu chảy dồn ra các cửa sông, trước khi đổ ra biển gặp thuỷ triều làm cho tốc độ thoát nước chậm. 3.2.2. Mùa lũ: Theo khái niệm thuỷ văn, nước ta có hai mùa lũ và khô. Sự phân bố mùa lũ và mùa cạn trên các vùng của Việt Nam như sau: MÙA CẠN MÙA LŨ Tháng Tháng Tháng Tháng VÙNG bắt đầu kết thúc bắt đầu kết thúc Bắc Bộ đến Thanh Hoá 10, 11 5 6 9, 10 Nghệ An đến Huế 12, 1 5, 6, 7 7, 8 11, 12 Nam Trung Bộ 1 9 10 11 Nam Bộ 11, 12 6 7 10, 11 Mùa lũ của lòng sông ứng với mùa mưa của thời tiết, ở miền Bắc và miền Trung mùa lũ có luợng mưa lớn, nước chảy xiết và dâng cao đột ngột, gây khó khăn cho việc đi lại của phương tiện, đặc biệt tàu đi ngược dòng, do chiều cao tĩnh không của các cầu thấp nên về mùa lũ số ngày phương tiện không chui qua được cầu cũng chiếm thời gian dài. Điển hình ở Bắc Bộ là cầu Đuống, do vậy mùa lũ sông sâu, rộng nhưng cũng bị nghẽn tắc giao thông. Nam Bộ mùa lũ lưu lượng nước cũng khá lớn, mực nước trên các triền sông dâng cao, nhưng không có những con nước đột ngột độ chênh mức nước gữa mùa lũ và mùa kiệt không lớn khoảng 1,5m. 3.2.3. Mùa khô: Mùa nước cạn của lòng sông ứng với mùa khô của thời tiết và có thời gian dài hơn mùa lũ, thời gian này nước sông xuống thấp nhất vì lượng nước mưa rất 62
  62. ít, một số sông ở khu vực vùng núi miền Trung, phương tiện thuỷ hoạt động rất khó khăn, nhiều nơi không hoạt động được. Mùa cạn ở miền Bắc nói chung là thời gian tác nghiệp chính của cơ quan quản lý đường sông, vì giao thông đường sông hay bị ách tắc. Thời gian này luồng lạch khan cạn, nhiều bãi bồi xuất hiện nên phải thường xuyên đo dò luồng lạch, nạo vét duy trì độ sâu luồng lạch chạy tàu đúng cấp quản lý, thiết lập chính xác hệ thống báo hiệu dẫn luồng để các phương tiện hoạt động an toàn cả ban ngày lẫn ban đêm. Ở Nam Bộ tuy mùa khô nhưng lưu lượng nước vẫn lớn, và có ảnh hưởng của thuỷ triều (chế độ bán nhật chiều) nên lúc nào cũng đủ nước để vận tải. Bài 4 CÁC TUYẾN VẬN TẢI ĐƯỜNG THUỶ NỘI ĐỊA Ở MIỀN BẮC 1. Tuyến Hải Phòng đi Quảng Ninh: 1.1. Cảng Hải Phòng đi cảng Cái Lân- Hòn Gai: 63
  63. 1.1.1. Đi theo lối sông Chanh: Từ cảng Hải Phòng cho tàu chạy xuôi sông Cấm tới ngã ba Tây Vàng Chấu, rẽ trái xuôi sông Vàng Chấu tới ngã ba Đông Vàng Chấu, rẽ trái chạy ngược sông Bạch Đằng tới ngã ba Chanh (Phà Rừng), rẽ phải chạy xuôi sông Chanh, qua cầu Chanh (Quảng Yên) đến ngã ba đèn Cái Tắt, rẽ phải tiếp tục xuôi sông Chanh đến ngã ba Bắc Kênh Tráp, rẽ trái xuôi sông Chanh đến đèn quả Xoài, rẽ trái ngược Lạch huyện qua Nhà Đèn (trạm Ba Mom) rồi đi tiếp đến cửa Gia Luận, rẽ trái qua cặp Bìm Bìm đến cửa cặp Gà, rẽ trái đi tiếp đến hang Đầu Gỗ, từ Hang Đầu Gỗ đi về phía cửa Lục qua cầu Bãi Cháy, cảng B.12, rồi mới đi tiếp vào cảng Cái Lân. Cây số Chặng đường Từng chặng Từ bến gốc Trên sông Cảng Hải Phòng Ngã 3 Tây Vàng Chấu 1,5 Cấm Ngã 3 ĐôngVàng Chấu 7 8,5 Vàng Chấu Ngã 3 Chanh 8 16,5 Bạch Đằng Bến Ngự (cầu Chanh) 3 19,5 Chanh Ngã 3 Đèn Quả Xoài 17,5 37 Chanh Hang Đầu Gỗ 18 55 Luồng Vịnh Hạ Long Cảng Cái Lân 10 65 Luồng Vịnh Hạ Long 1.1.2. Đi theo lối Kênh Tráp: Từ cảng Hải Phòng cho tàu chạy xuôi sông Cấm đến ngã ba Tây Vàng Chấu, rẽ phải chạy xuôi sông Cấm đến ngã ba Đình Vũ, rẽ trái chạy xuôi kênh Đình Vũ đến ngã ba Bạch Đằng, rẽ phải xuôi sông Bạch Đằng đến ngã ba Nam Kênh Tráp, rẽ trái chạy xuôi Kênh Tráp đến ngã 3 Bắc Kênh Tráp, rẽ phải xuôi sông Chanh đi như lối (a) đến cảng Cái Lân. Cây số Chặng đường Từng chặng Từ bến gốc Trên sông 64
  64. Cảng Hải Phòng Ngã 3 Tây Vàng Chấu 1,5 Cấm Ngã ba Đình Vũ 4,5 6 - Ngã ba Bặch Đằng 1,5 7,5 Kênh Đình Vũ Ngã 3 Nam Kênh Tráp 9 16,5 Bạch Đằng Ngã 3 Bắc Kênh Tráp 5 21,5 Kênh Tráp Ngã 3 Đèn Quả Xoài 1,5 23 Chanh Cảng Cái Lân 28 51 Luồng Vịnh Hạ Long 1.2. Cảng Hải Phòng đi Cẩm Phả: 1.2.1. Đi theo lối sông Chanh: Ta cho tàu đi như lối (1.1.1). Nhưng khi đến hang Đầu Gỗ hướng về khu vực hang Ma, qua luồng tàu biển, qua hòn Bình Tích, qua luồng vào cảng Cột 8, hòn Đầu Mối, hòn Đọc, hòn Bìa Tây, hòn Bìa Đông, hòn Đũa, hòn cặp Thanh Lảnh, qua cửa cặp cao cặp thấp, hướng về đảo Rều Đất (còn gọi là Đảo Khỉ). Khi đi qua hòn Buộm, rẽ trái qua hòn Buộm Con, hòn Đọc Xanh vào cảng Vũng Đục (Cẩm Phả). Lối đi từ vụng Bài Thơ (Bến tàu khách Quảng Ninh) đi qua hòn Giếng Cối, hòn Giữa, hòn Cam, cảng Cột 5, hòn Bài Thơ ( ngang Đoạn quản lý đường thủy nội địa số 3, đi tiếp qua hòn Tràng Bè (hòn Sư Tử), đến hòn Đầu Mối, hòn Đọc, hòn Bìa Tây, hòn Bìa Đông, hòn Đũa, hòn cặp Thanh Lảnh, qua cửa cặp cao cặp thấp, hướng về đảo Rều Đất (còn gọi là Đảo Khỉ). Khi đi qua hòn Buộm, rẽ trái qua hòn Buộm Con, hòn Đọc Xanh vào cảng Vũng Đục (Cẩm Phả). Cây số Chặng đường Từng chặng Từ bến gốc Trên sông Cảng Hải Phòng Đèn quả Xoài 37 Lạch Cặp Sâu Hòn Một 26,5 63,5 Lạch Vễu 65
  65. Hòn Đũa 13,5 77 Luồng Bái Tử Long Hòn Buộm 11 88 Lạch Buộm Cẩm Phả 2,5 90,5 Lạch Buộm- Cẩm Phả 1.2.2. Đi theo lối Kênh Tráp: Từ cảng Hải Phòng ta cho tàu đi như lối (1.1.2). Nhưng khi đến hang Đầu Gỗ hướng về khu vực Hang Ma đi như lối (1.2.1) đến Cẩm Phả. Cây số Chặng đường Từng chặng Từ bến gốc Trên sông Cảng Hải Phòng Ngã 3 Tây Vàng Chấu 1,5 Cấm Ngã 3 Đình Vũ 4,5 6 - Ngã 3 Bặch Đằng 1,5 7,5 Kênh Đình Vũ Ngã 3Nam Kênh Tráp 9 16,5 Bạch Đằng Ngã 3 Bắc Kênh Tráp 5 21,5 Kênh Tráp Ngã 3 Đèn Quả Xoài 1,5 23 Chanh Cảng Cẩm Phả 54 77 Vịnh H. Long, B.T.long 1.3. Cảng Hải Phòng đi cảng Cửa Ông: Từ cảng Hải Phòng cho tàu đi như lối (1.2.1). Nhưng khi đến hòn Buộm, rẽ phải qua hòn Buộm Đông (ngang hòn Dều) nếu tàu có mớn nước sâu rẽ phải đi ngoài hòn Dều ra luồng tàu biển vào cảng của Ông, tàu có mớn nước nông đi thẳng phía trong đảo khỉ (hòn Dều), hết đảo Khỉ vào vụng Sàng cần bám sát dẫy núi đá phía ngoài của vụng Sàng để vào cảng Cửa Ông. Cây số Chặng đường Từng chặng Từ bến gốc Trên sông Cảng Hải Phòng Hòn Buộm 88 Xem phần trước Cửa Ông 13,5 101,5 Lạch Buộm , Cửa Ông 1.4. Cảng Hải Phòng đi Tiên Yên: 66
  66. Từ cảng Hải Phòng ta cũng đi như lối đến cảng Cửa Ông. Nhưng khi gặp luồng tàu biển vào cảng Cửa Ông, ta rẽ phải qua khu vực bãi Chương cây Khế đến hòn Mai rồi đi theo luồng cái Bầu qua hòn Ống Khói, hòn Tỷ Nam, hòn Ngón Chân, hòn Đòn Cân đến Cửa Mô rẽ trái qua cảng Vạn Hoa theo luồng Tiên Yên qua Mũi Chùa vào thị trấn Tiên Yên. Cây số Chặng đường Từng chặng Từ bến gốc Trên sông Cảng Hải Phòng Hòn Đũa 77 Xem phần trước Cồn Đèn 20 97 - Cái Bầu 17 114 - Cửa Mô 16 130 Tiên Yên Bến Cái nước Xanh 15 145 - Mũi Chùa 6 151 - Tiên Yên 10 161 - 1.5. Cảng Hải Phòng đi Móng Cái: Từ cảng Hải Phòng ta cũng đi như lối Tiên Yên. Nhưng đến của Mô rẽ phải theo luồng Vĩnh Thực qua hòn Đá Dựng ngang đảo Vạn Vược đến cửa Bò Vàng đi thẳng qua đảo Vạn Mặc đến cửa Tiểu rẽ trái qua cửa Tiểu đi dọc phía trong đảo Cái Chiên, hết cái Chiên đến cửa Đại, qua Cửa Đại đi dọc phía trong của đảo Vĩnh Thực, qua luồng vào bến Dân Tiến, qua cảng Vạn Gia, rẽ trái qua cồn đá ngầm, qua Mũi Ngọc, đi theo sông Móng Cái vào thị xã Móng Cái. Cây số Chặng đường Từng chặng Từ bến gốc Trên sông Cảng Hải Phòng Cửa Mô 130 Xem phần trước Cửa Tiểu 14 144 - Cửa Đại 14 158 - 67
  67. Hòn Đầu Tán 21 179 - Hòn Mũi Ngọc 15 194 - Móng Cái 12 206 Móng Cái 68
  68. Phụ lục CÁC SỐ LIỆU VỀ LUỒNG TT Tên sông Chiều dài Chiều rộng Chiều sâu (km) tối thiểu (m) Tối thiểu (m) I II III IV V 1 Hồng 1.126 (VN: 529) 40 2,0 2 Đà 1.010 (VN: 527) 30 1,5 3 Lô 470 (VN: 274) 30 1,2 4 Đáy 237 20 1,3 5 Đuống 68 30 1,8 6 Luộc 56,5 30 2,0 7 Trà Lý 70 30 1,8 8 Đào Nam Định 33,5 40 2,0 9 Ninh Cơ 55 40 2,0 10 Vạc 28,5 30 1,5 11 Gâm 204 20 1,0 12 Sông Cầu 20 30 1,5 13 Sông Thương 157 20 1,5 14 Sông Lục Nam 157 20 1,5 15 Sông Thái Bình 103 30 1,8 16 Sông Kinh Thầy 44,5 30 1,8 17 Sông Kinh Môn 45 30 1,5 18 Sông Mạo Khê 18 30 1,5 19 Sông Phi Liệt 8 30 1,5 20 Sông Hàn 8,5 40 2,0 21 Sông Đá Bạch 23 40 1,8 22 Sông Bạch Đằng 19 70 3,3 69
  69. 23 Sông Chanh 20,5 30 1,5 24 Kênh Tráp 3 30 2,0 Sông Vàng Chấu 25 7 50 3,0 (Ruột lợn) 26 Sông Cấm 31 40 2,4 27 Sông Xi Măng 3 30 1,8 28 Sông Lạch Tray 49 30 2,0 29 Sông Gùa 4 30 1,8 30 Sông Lai Vu 26 30 1,8 31 Sông Văn Úc 43 30 2,0 32 Kênh Mía 3 30 20 33 Kênh Khế 3 30 2,0 Ven vịnh Hạ Long 34 - 50 2,5 và Bái Tử Long 70