Giấc mơ hóa Rồng - Kinh tế Việt Nam trong 25 năm mở cửa và đổi mới (Phần 2)

pdf 124 trang ngocly 50
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giấc mơ hóa Rồng - Kinh tế Việt Nam trong 25 năm mở cửa và đổi mới (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfgiac_mo_hoa_rong_kinh_te_viet_nam_trong_25_nam_mo_cua_va_doi.pdf

Nội dung text: Giấc mơ hóa Rồng - Kinh tế Việt Nam trong 25 năm mở cửa và đổi mới (Phần 2)

  1. Chương III HỘI NHẬP KINH TẾ Chiến lược phát triển hướng về xuất khẩu: Sự chọn lựa dũng cảm và đúng đắn Sự chọn lựa mô hình phát triển kinh tế thông qua con đường đẩy mạnh xuất khẩu là quyết định dũng cảm của một nước. Nó giống như việc chen chân vào bầy sư tử đang háu đói để giành lấy phần thịt xứng đáng của mình. Làm sao an toàn bằng cách núp mình sau bức tường thuế quan được dựng lên để tiến hành công nghiệp hóa và dang rộng cánh tay bảo vệ, nuông chiều những đứa con cưng công nghiệp trong nước? Tuy nhiên, phương sách này lại dễ dẫn đến sự hư hỏng và yếu đuối của các thế hệ công nghiệp nội địa, không thể lớn mạnh và đủ sức cạnh tranh với công nghiệp nước ngoài. Phát triển thông qua xuất khẩu là con đường gian nan, nhưng tích cực. Mậu dịch quốc tế không phải chỉ đơn thuần là sự trao đổi hàng hóa, nó còn làm phát sinh nhu cầu muốn phát triển, tạo nên kiến thức, kinh nghiệm giúp cho ước mong phát triển thành hiện thực và là phương tiện hiệu quả nhất để thực hiện điều đó. Đài Loan, Hàn Quốc đã vượt vũ môn của xuất khẩu để hóa thân thành những con rồng châu Á và trở nên mẫu mực điển hình minh chứng sự thành công của chiến lược phát triển kiểu này. Thực ra chúng ta không quá chậm trong nhận thức về sự cần thiết phải đẩy mạnh xuất khẩu, sự tỉnh ngộ đã xảy ra cách nay gần một thập niên. Nhưng đáng tiếc là chúng ta có quá nhiều do dự giữa hai ưu tiên chiến lược: tập trung nguồn lực cho xuất khẩu hay cho công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu. Chính vì vậy, cho tới nay chúng ta vẫn chưa có đầy đủ những hành trang cần thiết để vững bước trên con đường xuất khẩu. Đặc biệt, vấn đề tài trợ xuất khẩu vẫn chưa được quan tâm đúng mức trong khi đó chính là nguồn năng lượng không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển của hoạt động này. Trong nhiều năm nay, hệ thống ngân hàng trong nước hầu như bỏ mặc các đơn vị xuất nhập khẩu tự xoay sở lấy đồng vốn đầu tư hoặc thu mua, sản xuất hàng xuất khẩu. Có lúc, cơ chế tự cân đối xuất nhập khẩu được xem như một phép lạ có thể giúp các đơn vị vượt qua bế tắc về nguồn vốn, dù rằng cơ chế này không phù hợp với lợi ích chung của toàn nền kinh tế. Khoảng trống về tài trợ trong nước cho ngành xuất khẩu đã được các thương nhân nước ngoài nhanh chóng chiếm lĩnh. Sự đột phá tín dụng thương mại dưới hình thức mua hàng trả chậm khởi đầu từ giữa thập niên 1980 tưởng chừng sẽ giải quyết cùng lúc hai bài toán
  2. khó: cung ứng máy móc, thiết bị cho đầu tư phát triển ngành công nghiệp xuất khẩu và phát triển quỹ hàng hóa tiêu dùng cho việc huy động nguồn hàng xuất khẩu. Các đơn vị tranh nhau mắc nợ nước ngoài và việc vay nợ trả chậm trở thành “mốt”, sách lược. Hậu quả cay đắng để lại là khối nợ ngắn hạn tuy không lớn nhưng không trả nổi và một sự suy sụp uy tín của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong việc bảo đảm thanh toán quốc tế. Quy định mới đây của Hội đồng Bộ trưởng về [nay là Thủ tướng chính phủ] khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu đã xác lập trách nhiệm của hệ thống ngân hàng là ưu tiên cho vay vốn hoặc bảo lãnh việc vay vốn cho các cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu. Trong điều kiện thực tế hiện nay, ưu tiên tài trợ nên được dành cho hoạt động sản xuất, thu mua hàng xuất khẩu nhằm thực hiện các đơn đặt hàng đã mở L/C của khách hàng nước ngoài. Đây là các khoản tín dụng ngắn hạn, hoàn vốn nhanh và giúp tăng cường nguồn thu ngoại tệ của đất nước, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. Tuy nhiên, khả năng tài trợ của hệ thống ngân hàng thương mại hiện nay có giới hạn. Các ngân hàng không thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu tín dụng của nhà xuất khẩu nếu không có sự hỗ trợ cần thiết của Ngân hàng Nhà nước qua các nghiệp vụ cho vay tái chiết khấu và ứng trước. Ngoài ra Ngân hàng Nhà nước còn cần có khoản dự trữ vốn đặc biệt để kịp thời thỏa mãn nhu cầu thu mua xuất khẩu đối với các mặt hàng chiến lược như gạo, cao su Hiện nay, do tình hình khó khăn về ngoại tệ, việc tài trợ đầu tư mới nhằm mở rộng sản xuất hàng xuất khẩu đang được xem xét thận trọng. Trước hết, cần tận dụng các thiết bị máy móc có sẵn từ các khoản vay trả chậm trước đây. Về lâu dài, việc tài trợ có tính chiến lược này nên được giao cho các ngân hàng đầu tư phát triển, trên cơ sở các nguồn vốn trung, dài hạn lãi suất thấp từ Ngân hàng Nhà nước hoặc các nguồn tài trợ bên ngoài, có đối phần của chúng là các khoản ngoại tệ được sung dụng từ kế hoạch phát triển xuất khẩu toàn quốc. Điều hiển nhiên là các chương trình tài trợ xuất khẩu chỉ có thể thành công với sự hỗ trợ tích cực của Ngân hàng Nhà nước và tính năng động của hệ thống ngân hàng thương mại, của các ngân hàng đầu tư phát triển. Việc tài trợ cho xuất khẩu còn được gián tiếp thể hiện qua chính sách tỷ giá và người em song sinh của nó là chính sách trợ giá xuất khẩu. Sự hạ thấp tỷ giá đồng bạc trong nước so với các ngoại tệ khác chứng tỏ quyết tâm của Chính phủ trong việc đẩy mạnh xuất khẩu. Trong mối quan hệ mậu dịch quốc tế, biện pháp này có thể đưa đến chiến tranh tỷ giá giữa các cường quốc xuất khẩu. Tuy nhiên đối với những nước đang phát triển, việc phá giá đồng bạc thường được khuyến khích bởi các định chế tài chính quốc tế như IMF vì lẽ ở các nước đó đồng tiền thường được định giá cao vì tự ái dân tộc hơn là xuất phát từ tình hình thực tế. Ở nước ta, những thay đổi tỷ giá gần đây đã được Quỹ tiền tệ quốc tế đánh giá cao, tuy rằng để nó phát huy được hiệu lực đối với ngành xuất khẩu còn cần có nhiều biện pháp song hành cần thiết khác. Nhưng một tỷ giá mang nội dung khuyến khích cũng chỉ có tác dụng đối với những nhóm hàng nhất định. Để phát triển những mặt hàng xuất khẩu mới, có tiềm năng thực sự nhưng đang bị kém thế trên thị trường do giá thành sản xuất cao, cần có chính sách trợ giá xuất khẩu. Gọi là trợ giá vì ngoài số tiền được hưởng tính theo tỷ giá chính thức khi bán ngoại tệ cho Nhà nước, nhà sản xuất còn được hưởng một khoản trợ cấp
  3. bổ sung. Do mang tính đặc quyền có phân biệt, các khoản trợ giá được ấn định khác nhau tùy theo mức độ khuyến khích đối với từng mặt hàng xuất khẩu. Thí dụ với tỷ giá chính thức là 8.000 VNĐ đồng một đô la Mỹ, nhà xuất khẩu khi thu về một đô la và nhượng lại cho ngân hàng sẽ nhận được 8.000 VNĐ đồng. Thông thường, nhà xuất khẩu đã có lãi rồi vì tổng chi phí bỏ ra để có một đô la dưới mức 8.000 VNĐ đồng. Tuy nhiên, đối với những mặt hàng mới, có thể chí phí bỏ ra trên 8.000 VNĐ đồng và nhà xuất khẩu bị lỗ. Trong trường hợp này, quỹ trợ giá xuất khẩu sẽ trả thêm cho nhà xuất khẩu một số tiền, chẳng hạn 300 VNĐ đồng cho mỗi đô la, nhằm giúp cân đối được chi phí và hưởng một mức lãi nhất định. Nguồn thu chính của Quỹ trợ giá xuất khẩu sẽ được lấy từ nhập khẩu. Đây cũng là một hình thức cân đối nhập khẩu, nhưng là cân đối ở cấp vĩ mô. Đối với các chủng loại hàng nhập khẩu, Nhà Nước sẽ thu một loại thuế gọi là thuế bình giá, đánh trên mỗi đô la trị giá nhập khẩu. Mức thuế này cũng thay đổi căn cứ vào tính chất thiết yếu hay xa xỉ và giá bán ra của các mặt hàng nhập khẩu trên thị trường nội địa. Tác dụng của thuế bình giá có hai mặt: một mặt nó nhằm bảo vệ hàng sản xuất nội địa, mặt khác nó cân đối mức lãi có thể trở nên quá cao của nhà nhập khẩu. Một phần lớn của các khoản thu bình giá nhập khẩu sẽ được sung vào Quỹ trợ giá xuất khẩu. Sự hiện diện của Quỹ trợ giá sẽ giúp các nhà xuất khẩu mạnh dạn đầu tư phát triển các mặt hàng mới, đồng thời giúp phục hồi vị thế của một số mặt hàng đang bị cạnh tranh gay gắt trên thị trường. Thành công của nó sẽ được thể hiện bằng sự gia tăng kim ngạch xuất khẩu và sự đa dạng hóa chủng loại hàng xuất khẩu. Ngoài ra, chính sách thuế và chính sách hạn ngạch xuất khẩu cũng tạo ra những tác động tiêu cực gián tiếp đối với việc tài trợ xuất khẩu. Khó có thể quan niệm được rằng một nước muốn phát triển xuất khẩu lại có chủ trương đánh thuế trên mặt hàng xuất. Thuế suất cao sẽ làm tăng chi phí xuất khẩu và làm giảm hiệu quả của nỗ lực tài trợ xuất khẩu. Chính sách về hạn ngạch không hợp lý cũng sẽ dẫn đến những hậu quả tương tự. Đó là phát sinh việc mua bán quota với hậu quả làm tăng phí xuất khẩu và ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của ta trên thị trường quốc tế. Về chính sách thuế, hiện nay đã có những tiến bộ đáng kể. Quy định của Hội đồng Bộ trưởng về khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu xác định việc giảm hoặc miễn thuế xuất khẩu đối với từng loại hàng xuất khẩu phù hợp với luật thuế. Mới đây, ngày 19/4/1991, Hội đồng Bộ trưởng vừa ra quyết định áp dụng mức thuế suất tối thiểu đối với các mặt hàng xuất khẩu mậu dịch, và cho xem xét miễn, giảm thuế đối với một số mặt hàng nông sản xuất khẩu bị lỗ. Tuy nhiên, hầu hết các đơn vị hoạt động xuất khẩu đều mong muốn một chính sách thuế tích cực hơn. Việc đẩy mạnh tài trợ xuất khẩu cuối cùng sẽ tác động đến chiều hướng của chính sách tiền tệ. Sẽ không có chỗ đứng cho các chương trình phát triển xuất khẩu trong một chính sách tiền tệ hạn chế. Ngược lại, việc chấp hành triển khai mạnh mẽ và đồng bộ các kế hoạch đẩy mạnh xuất khẩu có nghĩa là chấp nhận chịu đựng một áp lực lạm phát thường xuyên, nhất là trong giai đoạn đầu của phát triển. Quả thật đây không phải là một chọn lựa dễ dàng. Các nước đã thành công trong việc theo đuổi chiến lược xuất khẩu đều phải trải qua thời kỳ thử thách cay đắng này. Họ đã vượt qua được bằng ý thức tôn trọng quyền lợi chung của đất nước, bằng khả năng điều hành kinh tế vĩ mô và bằng kỹ thuật tổ chức quản lý sao
  4. cho những nguồn lợi thu được từ xuất khẩu được sung dụng nhanh nhất và hiệu quả nhất cho việc phát triển công nghiệp hóa. Tháng 6/1991
  5. Chuẩn bị tiếp thu ngoại lực Ngày 2 tháng 7 năm 1993, văn phòng Tổng thống Mỹ Washington đã công bố quyết định của Tổng thống Bill Clinton “Chấm dứt sự phản đối của Mỹ đối với nỗ lực của những nước khác nhằm giải tỏa các món nợ của Việt Nam tại Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF)”. Quyết định này được mọi người cùng hiểu là kể từ thời điểm đó, Mỹ sẽ không ngăn cản việc IMF cho Việt Nam vay tiền. Và nếu thanh toán xong các món nợ đối với định chế tài chính quốc tế hùng mạnh này, Việt Nam sẽ phục hồi được tất cả những quyền lợi của mình - trong đó có quyền được vay - với tư cách là hội viên của IMF: Về phía Mỹ, vấn đề IMF tài trợ cho Việt Nam đã chuyển từ bình diện chính trị sang bình diện kinh tế kỹ thuật. Có vẻ như bây giờ, mọi chuyện còn lại chỉ là liệu Việt Nam có chuẩn bị đầy đủ để đáp ứng các điều kiện, được hiểu như thuần tuý kinh tế kỹ thuật của IMF để có thể nhận được các khoản cho vay từ định chế này và từ Ngân hàng Thế giới (World Bank) nhằm hiện đại hóa nền kinh tế của mình hay không? Về phía Việt Nam, chúng ta sẽ dần dần nhận ra rằng các điều kiện khắt khe được gọi là kinh tế kỹ thuật không chỉ đơn thuần là kinh tế kỹ thuật và sẽ không dễ dàng gì đáp ứng, ngay cả khi chúng ta tưởng rằng đã chuẩn bị đầy đủ với hàng tá dự án xây dựng cơ sở hạ tầng. IMF và World Bank là những định chế cho vay quốc tế nổi tiếng khắc nghiệt, họ chỉ cho vay những người nào biết và có thể tuân thủ những điều kiện cho vay của họ. Thậm chí một số quan chức cấp cao của hai định chế này đã nhấn mạnh nhiều lần đến quyền lực của họ trong việc ảnh hưởng đến chính sách kinh tế của nước đi vay (tất nhiên, theo họ, là nhằm phục vụ quyền lợi của chính nước đó). Như vậy, tuyên bố của Bill Clinton chấm dứt phủ quyết việc IMF (và World Bank - WB) cho Việt Nam vay tiền không có nghĩa là chúng ta sẽ nhận được ngay những khoản tài trợ cho xây dựng kinh tế từ các định chế này. Thời gian chờ đợi có thể nhanh và cũng có thể rất chậm. Chỉ tính thời gian từ giai đoạn nhận diện đến phê chuẩn và thực hiện dự án cũng có thể kéo dài từ sáu tháng đến một năm rưỡi. Ngoài ra, nó tùy thuộc vào sự chuẩn bị thực sự của chúng ta trong việc đáp ứng các yêu cầu và khả năng thực hiện các khuyến cáo của họ theo chiều hướng có lợi cho nền kinh tế đất nước. Trước hết cần thiết lập một mối quan hệ hiểu biết và thông cảm giữa chúng ta và hai định chế toàn cầu này. Quan điểm của họ về mối quan hệ này cũng rất rõ ràng. Đối với họ, nước đi vay phải nhận thức rằng những khuyến cáo IMF và WB đưa ra đều dựa trên kiến thức chuyên môn sâu sắc và kinh nghiệm toàn thế giới của họ và rằng yêu cầu của các định chế này là các khoản tiền của họ phải được đầu tư khôn ngoan và phù hợp với quyền lợi tốt nhất của các dự án. Về phía họ, IMF và WB cũng hiểu là phải biết cách thích nghi với các chính sách tổng quát của họ một cách thực tế và hợp lý theo các điều kiện riêng biệt của từng dự án, từng vùng kinh tế hay từng quốc gia. Như vậy quyền lợi của mỗi nước có được đảm bảo đầy đủ hay không sẽ tùy thuộc vào khả năng thuyết phục của nước đó đối với hai
  6. định chế này nhằm làm cho họ linh động hóa và mềm dẻo hóa các biện pháp vốn rất cứng rắn hướng đến mục tiêu thực hiện sự điều chỉnh cơ cấu kinh tế của nước đi vay. Tất nhiên khả năng thuyết phục của nước đi vay lại tùy thuộc vào sự hiểu biết thông suốt các nguyên tắc, chính sách, và những tín điều khó lay chuyển của hai định chế tài chính quốc tế này. IMF và WB quan niệm rằng họ đại diện cho sự cam kết của cộng đồng thế giới đối với việc hợp tác quốc tế nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế và hình thành một cán cân thanh toán quốc tế lành mạnh cho các nước hội viên. Có một sự phối hợp chặt chẽ các chính sách tài trợ giữa Quỹ và Ngân hàng. Chẳng hạn, Ngân Hàng có thể tài trợ cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng khi nào nước đi vay đã và đang áp dụng hiệu quả các biện pháp tài chính và tiền tệ theo khuyến cáo của Quỹ nhằm cải tổ cấu trúc nền kinh tế của mình. Họ có những chính sách chung để thực hiện các chương trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế trên các lĩnh vực như: ổn định kinh tế vĩ mô, huy động tài nguyên trong nước, thực hiện đầu tư có hiệu quả và giải tỏa chế độ mậu dịch kiểm soát. Họ có những nguyên tắc hành động bất di bất dịch - để thực hiện các chính sách nói trên. Chẳng hạn, để thực hiện và duy trì một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, họ luôn đòi hỏi nước đi vay phải thực hiện các biện pháp căn bản như: kiểm soát sự khiếm hụt ngân sách và duy trì mức khiếm hụt này ở một tỷ lệ nhỏ cho phép so với tổng sản lượng, duy trì kỷ luật tiền tệ và thiết lập một chế độ tỷ giá thực tế (không ấn định tỷ giá quá cao). Để huy động các nguồn tài nguyên trong nước, nước đi vay phải tăng cường hệ thống tài chính ngân hàng, giải tỏa các chính sách lãi suất để gia tăng tiết kiệm tư nhân. Quan trọng hơn, các chương trình hành động của World Bank và IMF đều hướng đến mục tiêu làm giảm tình trạng kém hiệu năng của khu vực kinh tế quốc doanh bằng cách xây dựng cơ chế thị trường và môi trường cạnh tranh, chấm dứt hiện tượng độc quyền. Để gia tăng đầu tư, nước đi vay phải tạo ra môi trường thông thoáng và các động lực cần thiết nhằm khuyến khích các dự án đầu tư hiệu quả của khu vực công, khu vực tư và nước ngoài. Nước đi vay cũng được yêu cầu áp dụng một chế độ tỷ giá thực tế và giải tỏa chế độ mậu dịch kiểm soát để phát triển hiệu quả ngành ngoại thương, chú trọng tăng trưởng xuất khẩu nhằm quân bình cán cân thanh toán. Ngoài ra, IMF còn có những xác tín không thể lay chuyển. Họ luôn tin rằng sự khiếm hụt cân thanh toán của các nước đi vay là do nước đó tiêu xài vượt mức mình làm ra và như vậy,biện pháp hàng đầu để cải thiện tình trạng này là thắt lưng buộc bụng. Thắt lưng buộc bụng tức là Nhà nước phải giảm chi tiêu, tăng thuế; Ngân hàng Trung ương phải thắt chặt tín dụng, tỷ giá đồng tiền trong nước phải được điều chỉnh ở mức thực tế, không được định giá quá cao. Chính sách khắc khổ là điều khuyến cáo nơi cửa miệng của các chuyên viên IMF đến nỗinó trở thành đặc trưng cho các biện pháp khuyến cáo mà định chế này yêu cầu áp dụng tại các nước đang phát triển. Còn WB khi nói về “việc sử dụng hiệu quả tài nguyên trong nước”, họ luôn quan niệm rằng chỉ có khu vực tư doanh mới có khả năng sử dụng hiệu quả tài nguyên, còn khu vực quốc doanh thì không. Khi đề cập đến chương trình “tái cấu trúc nền kinh tế”, họ muốn ám chỉ đến sự thu hẹp của khu vực kinh tế quốc doanh và sự mở rộng khu vực tư doanh.
  7. Các biện pháp khuyến cáo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới, giống như những liều thuốc trị liệu cực mạnh, nếu được áp dụng trọn vẹn theo như cái “toa” nguyên thủy của chúng, sẽ có thể dẫn đến những hậu quả như làm gia tăng tình trạng thất nghiệp giai đoạn, tái phân phối đột ngột thu nhập giữa các nhóm thu nhập trong xã hội và cuối cùng là một sự bất ổn không mong muốn về mặt xã hội và chính trị tại các nước đi vay. Đã có không biết bao nhiêu lời nhận xét không hài lòng, thậm chí cay đắng của các nhà lãnh đạo các nước đang phát triển về việc IMF áp đặt các quan điểm cải cách kinh tế của họ đối với các nước vay nợ. Chấp nhận sự tài trợ của IMF và World Bank có nghĩa là phải chấp nhận một sự can thiệp mạnh mẽ của họ vào các chính sách tài chính, tiền tệ, kinh tế của chúng ta và làm thay đổi căn bản các chính sách này. Vấn đề quan trọng cần lưu ý là chúng ta phải chủ động trên lộ trình tiếp nhận nguồn tài trợ này, có phương án làm việc hết sức chi tiết đối với đại diện của IMF và World Bank. Bộ phận đối tác về phía chúng ta (Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước) cần chuẩn bị ứng phó với mọi tình huống, mọi yêu cầu mà họ đề ra. Trước hết phải lắng nghe họ và sau đó làm cho họ lắng nghe ta. Cần hiểu rõ và chính xác các chính sách, nguyên tắc và “tín điều” của họ để có thể giải thích cho họ hiểu trên cơ sở các nguyên tắc và tín điều đó, các đề nghị của ta nhằm uốn nắn các giải pháp điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế và điều kiện riêng biệt của nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên, chúng ta không nên hy vọng thay đổi quan điểm cố hữu của họ, nhưng chỉ riêng việc có thể làm nhẹ bớt liều lượng và kéo giãn thời gian thi hành các biện pháp (nhằm giúp nền kinh tế đủ sức chịu đựng các biện pháp do họ đề ra) cũng đã là thành công đáng kể rồi. Về lâu dài, những hỗ trợ của hai định chế quốc tế này sẽ tỏ ra hữu ích với việc xây dựng và phát triển nền kinh tế đất nước, không phải chỉ do đồng tiền tài trợ hay những khuyến cáo của họ mà ở chỗ chính sự hiện diện của họ là một đảm bảo chắc chắn cho việc thu hút các nguồn tài trợ và vốn đầu tư khác từ nước ngoài. Có thể nói, sự tài trợ của IMF và World Bank sẽ cung cấp cho ta một thứ “môn bài” để ta có thể tham gia sinh hoạt bình thường và chính quy của thị trường tài chính quốc tế. Những chuyển biến thuận lợi dồn dập gần đây trên trường ngoại giao quốc tế đối với Việt Nam cho thấy chúng ta đang có quá nhiều việc phải làm trong một thời gian quá cấp bách để nắm bắt thời cơ. Và thời gian sẽ không chờ đợi chúng ta. Cần phải kịp chuẩn bị để đoạt lấy cơ hội và chuyển cơ hội này thành cơ may phát triển đất nước, bằng không, đó sẽ là điều đáng tiếc nhất trong mọi điều đáng tiếc. Tháng 7/1993
  8. Nhìn về thị trường vốn châu Á Cuộc chạy đua tăng trưởng kinh tế giữa các nước phía Đông vùng châu Á Thái Bình Dương đang biến vùng này thành trung tâm thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư phương Tây (và Nhật Bản). Năm 1993, một châu Á không - Nhật - Bản đã thu hút nguồn vốn ròng lên đến 72 tỷ đô la, gấp ba lần con số của năm trước đó. Năm 1994, thống kê chưa đầy đủ cho thấy vốn đầu tư tràn vào châu Á chiếm 40% tổng nguồn vốn cung ứng cho thế giới thứ ba (khu vực các nước đang phát triển) Nhật và Mỹ đứng hàng đầu trong số các nước đầu tư vào châu Á, tiếp theo là các nước châu Âu như Đức, Anh và Pháp. Điều này có logic của nó. Hãy nghe William Donaldson, Chủ tịch thị trường chứng khoán New York, phát biểu: “Họ cần một nguồn vốn khổng lồ. Còn chúng tôi, nước Mỹ, có nguồn tiền khổng lồ sẵn sàng để đầu tư, nhưng nền kinh tế của chúng tôi lại tăng trưởng chậm hơn. Điều này phù hợp với nhau một cách logic”. Điều hiển nhiên là, với mức lãi suất thấp tại Mỹ, sẽ ngày càng có nhiều nhà đầu tư Mỹ muốn bỏ vốn vào các nước vùng châu Á Thái Bình Dương để được hưởng lợi nhiều hơn. Năm 1992 và 1993, đầu tư trực tiếp của Mỹ vào châu Á gia tăng mạnh mẽ và nếu đà gia tăng này tiếp tục, các nhà đầu tư chứng khoán Mỹ sẽ bỏ xa các đồng nghiệp của họ ở Nhật và châu Âu. Nhật Bản vẫn tiếp tục dẫn đầu với vai trò người cung cấp nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, chiếm khoảng 60% trên tổng số. Tuy nhiên về các khoản đầu tư tư nhân của Nhật ở nước ngoài, phúc trình của Trung tâm Tài Chính Quốc tế của Nhật đã có nhận xét khá bi quan: “Phản ánh sự suy thoái trong nước, xuất hiện việc tích tụ các tích sản tệ hại trong danh mục sử dụng vốn của họ, và cùng với tỷ suất lợi nhuận đầu tư ra nước ngoài ngày càng giảm tính theo giá trị đồng yên, các công ty tài chính hoặc phi tài chính Nhật Bản trở nên thận trọng hơn trong quyết định chọn lựa đầu tư mới ở nước ngoài”. Các định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và Ngân hàng Thế giới (World Bank) có vị trí quan trọng ngang nhau trong việc tài trợ vốn đầu tư dài hạn cho các nước châu Á. Tuy nhiên, chỉ vài năm trở lại đây, các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở Việt Nam mới được đặt trở lại trên bàn các quan chức của những định chế tài chính quốc tế này để được phê chuẩn và chuẩn bị thực hiện. Những khoản tài trợ nhận được thật không tương xứng với nhu cầu cải tạo cơ sở hạ tầng rất bức xúc hiện nay của đất nước. Cơn khát vốn cho công nghiệp hóa đã đặt các tỉnh duyên hải Trung Quốc cùng các nước đang phát triển ở Nam và Đông Nam châu Á trong đó có Việt Nam, vào cuộc cạnh tranh quyết liệt nhằm thu hút đồng vốn nước ngoài. Các nước buộc phải tăng cường biện pháp hấp dẫn đầu tư đồng thời cải tổ cơ cấu, định chế tài chính quốc gia cho phù hợp với những chuyển biến gần đây trên thị trường vốn châu Á. Tạp chí The Economist tháng 11/1994 đã nhận định: “Trong thập niên tới, nhu cầu vốn khổng lồ cho công nghiệp hóa của các nước
  9. châu Á sẽ thúc đẩy những thay đổi cơ bản trong phương cách mà các công ty và chính phủ của họ huy động nguồn vốn”. Biến chuyển đáng chú ý nhất trên thị trường vốn châu Á là những nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI: Foreign Direct Investment) quan trọng hơn hết lại xuất phát từ chính các nước châu Á. Có hai dòng vốn nổi bật: nguồn vốn lớn nhất đổ vào Trung Hoa từ Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc và cộng đồng người Hoa ở Singapore và Indonesia, nguồn thứ hai từ các nước mới công nghiệp hóa (NICs) đổ vào các nước thuộc khối ASEAN cũng như vào Việt Nam và Ấn Độ. Con số ước lượng gần đây cho thấy hơn phân nửa nguồn vốn FDI (chiếm 20 - 30% tổng nhập lượng vốn đầu tư vào các nước châu Á) xuất phát từ các nước châu Á khác. Một số nhà quan sát đã nhận định, các nước châu Á đang dần tập trung thu hút các nguồn vốn lớn và mềm dẻo từ các nhà đầu tư tư nhân thay vì trông cậy vào các khoản vay chính phủ (ODA). Mặt khác, các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là các công ty tài chính Mỹ, ngày càng hướng các khoản vốn đầu tư của họ vào các thị trường chứng khoán non trẻ ở châu Á. Đầu tư chứng khoán tại châu Á đang gia tăng nhanh chóng. Lấy ví dụ ở Trung Quốc. Năm 1992, đầu tư chứng khoán ở Trung Quốc chỉ có 393 triệu đô la Mỹ (3,5% tổng đầu tư FDI) nhưng đến năm 1993, con số đã lên đến 5 tỷ đô la, chiếm 24% vốn đầu tư FDI. Công ty chứng khoán Peregrine ở Hồng Kông ước tính rằng từ năm 1994 đến năm 2000, đầu tư nước ngoài cho các loại chứng từ có giá (cổ phiếu, trái phiếu ) do các xí nghiệp Trung Quốc phát hành có thể đạt đến mức 133 tỷ đô la Mỹ, bằng 50% nguồn vốn FDI vào Trung Quốc. Thêm vào đó, khuynh hướng chuyển dịch các ngành công nghiệp với công nghệ ngày càng cao sang các nước đang phát triển đang dần trở nên nổi bật tại Nhật Bản và các con rồng mới châu Á. Điển hình là hiện nay Nhật Bản xuất khẩu một số lượng máy truyền hình màu ít hơn là nó nhập khẩu, chủ yếu từ các nước Đông Nam Á. Gần đây, một phúc trình của Bộ Mậu dịch quốc tế và Công nghiệp Nhật Bản cho thấy tỷ suất lợi nhuận của các công ty Nhật tại các nước châu Á, vào năm 1992, đã cao hơn không những hơn cả công ty Nhật tại Mỹ và Tây Âu, mà còn đối với các công ty mẹ tại Nhật Bản. Trường hợp này không phải là duy nhất, các công ty Mỹ và Tây Âu hoạt động tại châu Á cũng có những thành tích tương tự. Về phía các nước tiếp nhận vốn, nhu cầu nhập khẩu cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã khiến cán cân thương mại của họ bị khiếm hụt thường xuyên. Các con rồng châu Á đều từng kinh qua trải nghiệm này. Hàn Quốc có 20 năm liên tục (từ 1965 đến 1985) bị nhập siêu. Năm 1993, lần đầu tiên trong nhiều năm, Trung Quốc bị nhập siêu và hai nước có tốc độ phát triển nhanh là Thái Lan và Malaysia cũng lâm vào tình trạng tương tự. Nhu cầu tăng trưởng kinh tế sẽ biến một châu Á không - Nhật - Bản từ một khu vực tiết kiệm dương 95 tỷ đô la trong khoảng thời gian từ 1987 đến 1992 sang một khu vực tiết kiệm âm 158 tỷ đô la từ 1993 đến 1998, theo ước tính của một ngân hàng đầu tư Mỹ, CS First Boston. Nhu cầu vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng như điện, điện thoại, hệ thống viễn thông, hệ thống đường sá cũng rất lớn. Công ty chứng khoán HG Asian đã ước lượng tổng nhu cầu
  10. vốn xây dựng hạ tầng của các nước châu Á (không kể Trung Quốc và Ấn Độ) trong 10 năm tới sẽ là 750 tỷ đô la Mỹ. Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) ước lượng con số này là 1.000 tỷ đô la Mỹ cho toàn châu Á không - Nhật - Bản, trong đó 350 tỷ cho giao thông và năng lượng, 150 tỷ cho viễn thông, 100 tỷ cho cung cấp nước sạch và vệ sinh y tế. Ngân hàng Thế giới ước tính nhu cầu vốn vay xây dựng cơ sở hạ tầng sẽ tăng từ 4% trên GDP trong thập niên 80 đến 7% GDP của các nước đang phát triển ở châu Á trong thập niên kế tiếp. Như vậy, tuy dòng vốn đầu tư đổ vào châu Á ngày một gia tăng, sự gia tăng nhanh hơn của nhu cầu vốn cho phát triển của phần còn lại của châu Á không - Nhật - Bản sẽ khiến thị trường vốn châu Á mang tính chất cạnh tranh quyết liệt. Có chỗ đứng trong thị trường này không chắc bảo đảm một tương lai phát triển kinh tế sáng sủa hơn, nhưng bị dạt ra ngoài lề thì chắc chắn đảm bảo một vị trí tụt hậu xa hơn về kinh tế. Trong những năm tới, các nước mong muốn gia nhập hàng ngũ những con rồng châu Á buộc phải cải tổ mạnh mẽ cơ cấu thị trường tài chính tiền tệ, hệ thống ngân hàng của mình. Đó là điều mà tạp chí The Economist gọi là cuộc cách mạng tài chính tại châu Á. Như nhận xét của Trung Tâm Tài chính Quốc tế Nhật Bản, các nước đang phát triển ở châu Á cần tiếp nhận vốn nước ngoài phải có trong tay các công cụ tốt để thực hiện sự điều hành kinh tế vĩ mô của mình nhằm tạo các điều kiện thuận lợi cho việc thu hút vốn đầu tư. Ổn định giá cả, kiểm soát được lạm phát và khoản khiếm hụt ngân sách là điều kiện hàng đầu. Nhưng điều quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài là những biện pháp kiểm soát lạm phát không nên làm đình trệ sản xuất trong nước. Tỷ giá đồng nội tệ cũng cần được điều chỉnh nhanh chóng, phù hợp với tình hình cán cân thương mại khiếm hụt của quốc gia, đây là điều kiện cần thiết để duy trì niềm tin của các nhà đầu tư và người cho vay nước ngoài. Mặt khác, nợ nước ngoài cũng cần được quản lý tốt: sử dụng nợ nước ngoài một cách cẩn trọng, hiệu quả và thanh toán sòng phẳng lãi và vốn khi đáo hạn sẽ củng cố mạnh mẽ uy tín của nước đi vay, điều kiện quyết định để giành chỗ đứng trên thị trường vốn quốc tế. Thị trường tiền tệ và thị trường vốn trong nước cũng cần được xây dựng, hoàn chỉnh và mở rộng cho các nhà đầu tư, các định chế tài chính nước ngoài. Với sự lớn mạnh của các thị trường này, Chính phủ và các công ty xí nghiệp của nước ta có thể dần dần huy động được các nguồn vốn nước ngoài - nhất là từ các nhà đầu tư chứng khoán - để xây dựng hạ tầng cơ sở và thực hiện các dự án phát triển trung và dài hạn. Song song với việc mở cửa thị trường tài chính nội địa cũng cần thiết lập các biện pháp phòng ngừa hoạt động xuất nhập vốn mang tính chất đầu cơ giữa các nước trong khu vực. Quan trọng hơn, việc tăng cường kiểm soát, thanh tra hệ thống các ngân hàng trong nước nhằm đảm bảo một thị trường tiền tệ, tín dụng lành mạnh và công khai cũng là một yếu tố then chốt để hấp dẫn vốn đầu tư nước ngoài. Thị trường vốn châu Á đang thật sự lớn mạnh và có nhiều tín hiệu cho thấy nó có khả năng mang lại phồn vinh kinh tế cho các nước thành viên. Không những thế, một số “tay chơi” trên thị trường - những con hổ châu Á như Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc cùng với Nhật Bản - đang là những nhà “xuất khẩu tư bản” sang châu Mỹ và châu Âu. Các nguồn vốn đầu tư luôn luôn tìm đến nơi nào có hiệu quả cao hơn, an toàn hơn và điều này có nghĩa là
  11. các nước đang phát triển ở châu Á không những phải cạnh tranh với nhau để thu hút nguồn vốn đầu tư mà còn phải cạnh tranh với phần còn lại của thế giới. Các chiến lược kinh tế đối ngoại phải thay đổi. Cấu trúc tài chính của mỗi nước cũng phải thay đổi. Nhưng có một chân lý không thay đổi: một nước sẽ thành công khi nước đó biết trân trọng và sử dụng tốt nguồn đầu tư - tiết kiệm của nước ngoài và một nước chỉ trân trọng và sử dụng tốt tiết kiệm của người khác khi chính mình biết tiết kiệm. Tháng 1/1995
  12. Trên con đường hội nhập Trong khi nền mậu dịch quốc tế ngày nay đang ở đỉnh cao chưa từng có trong suốt lịch sử lâu dài của nó, thế giới trở nên nhỏ hẹp hơn và do đó lực hút thị trường ngày càng mãnh liệt hơn. Mỗi quốc gia trên hành tinh xanh này, kể cả những đảo quốc xa xôi trên các đại dương, đều bị cuốn vào dòng chảy mậu dịch quốc tế. Năm 1995 sẽ chứng kiến một bước dài của Việt Nam trên tiến trình hội nhập vào thị trường thế giới. Tháng 7 năm 1995, Việt Nam sẽ gia nhập ASEAN và sau đó phải xem xét thận trọng các khả năng và điều kiện gia nhập AFTA mà triển vọng về lợi ích kinh tế cho các thành viên xem ra được đánh giá cao hơn thực lực của chính nó. Vả chăng, hội nhập khu vực không thay thế mà chỉ là một bước quá độ đến hội nhập toàn cầu. Tuy nhiên con đường hội nhập không bằng phẳng cho những nước nghèo. Chắc chắn, sự phát triển thương mại quốc tế sẽ mang lại lợi ích cho nền kinh tế thế giới nhưng không ai dám phủ nhận thực tế là lợi ích đó chưa bao giờ được chia sẻ đồng đều cho các nước tham gia. Trong một thế giới mậu dịch tự do, có những nước được hưởng lợi nhiều hơn những nước khác. Điều trớ trêu là những nước hưởng lợi ít nhất, chịu thiệt thòi nhiều nhất lại là những nước đáng được và có nhu cầu cần được san sẻ nhiều hơn, đơn giản vì họ là những nước nghèo nhất. Mậu dịch quốc tế được xây dựng trên lý thuyết phân công quốc tế và sự phân công quốc tế được giả định là dựa trên lợi thế quốc gia. Nhưng hiện nay có những cường quốc kinh tế có lợi thế về mọi mặt và có những nước nghèo không có lợi thế về bất cứ mặt nào. Tình trạng thâm thủng mậu dịch Bắc - Nam kéo dài là một ví dụ. Những nước nghèo ở phương Nam thường bị trách là không lo toan đến trách nhiệm “sắp xếp lại trật tự ngôi nhà của mình” hay không làm điều phải làm là “thắt lưng buộc bụng” sống khắc khổ, không tiêu pha quá những gì mình làm ra. Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy các nước phương Bắc hầu hết chỉ chú trọng đến quyền lợi của họ là làm thế nào bán được sản phẩm nhiều hơn, tạo nhiều công việc lương cao hơn và làm mọi cách để nâng cao mức thu nhập sẵn có. Phải chăng vì lợi ích của tựdo mậu dịch, các nước nghèo phương Nam cứ tiếp tục vay để tài trợ cho thâm hụt cán cân thương mại của mình, còn các nước giàu phương Bắc cứ tiếp tục chặn đứng sự thâm nhập thị trường từ phía Nam bằng cách áp dụng cái gọi là luật chơi ngang bằng và sử dụng thặng dư mậu dịch để cho vay với điều kiện ngặt nghèo? Cần nói thêm rằng, trong sự thâm thủng mậu dịch của các nước phương Nam, sự gia tăng các phí tổn thương mại như phí chuyên chở, bảo hiểm, lãi vay ngân hàng là tác nhân đáng kể. Ở đây, chúng ta sa vào một cái vòng luẩn quẩn rất logic, nhưng là một logic bất công: những nước nghèo có sự tín nhiệm quốc tế thấp, tín nhiệm quốc tế thấp dẫn đến rủi ro quốc gia cao, rủi ro quốc gia cao khiến cho lãi suất phải trả cao và phí tổn cao. Và vì phải trả lãi và phí tổn cao, điều kiện mậu dịch trở nên bất lợi hơn, thâm hụt mậu dịch cao hơn và nước nghèo trở nên nghèo hơn vì mắc nợ nhiều hơn.
  13. Người ta thường nói đến khái niệm một sân chơi ngang bằng. Khi các cường quốc kinh tế ngồi lại để thiết lập những quy định chi phối hoạt động mậu dịch thế giới, khái niệm về sân chơi ngang bằng và một luật chơi công bằng được đưa ra và được hiểu như các quy định áp dụng thống nhất cho mọi đấu thủ tham gia trò chơi và cần được mọi người cùng tôn trọng, cùng thi hành như nhau. Mọi biệt lệ, ưu đãi đặc biệt, những ưu quyền mà chính phủ một nước dành cho “gà nhà” của mình đều được coi là đối nghịch với nguyên tắc luật chơi công bằng. Nguyên tắc đó có thể hợp lý nếu mọi nước trên hành tinh này đều có sức mạnh kinh tế ngang nhau: một trò chơi chỉ thực sự công bằng cho các đối thủ cân sức. Một luật chơi không công bằng nếu nó áp đặt chung cho cả kẻ mạnh lẫn người yếu. Vậy mà hiện nay, khi phải tham gia trò chơi mậu dịch quốc tế, chúng ta phải chấp nhận khái niệm luật chơi công bằng theo cách hiểu không công bằng của nó. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là chúng ta nên chọn lựa quyết định đứng ngoài cuộc chơi. Thế kỷ XXI là thế kỷ của mậu dịch quốc tế, mỗi nước cần đi tìm nguồn lực phát triển kinh tế cho mình bằng cách tham gia thị trường. Phát biểu gần đây tại Hội thảo về Hiệu quả Thương mại (Trade Efficiency) do UNCTAD (Hội nghị Thương mại và Phát triển thuộc Liên hợp quốc) tổ chức vào trung tuần tháng 10/1994 tại Columbus, Ohio, Mỹ, Tổng thư ký Liên hợp quốc Boutros Boutros Gali khẳng định: “Nếu những nước đang phát triển không thể tham gia vào thế giới mới của nền mậu dịch quốc tế, nhiều cơ hội sẽ bị mất đi, cơ hội cho các thương nhân của họ, cho nhân dân họ và cho thế giới. Nếu những nước đang phát triển bị gạt ra ngoài thế giới mới của nền mậu dịch toàn cầu, chính nghĩa của phát triển và từ đó của hòa bình và ổn định sẽ bị thương tổn”. Nếu không thể đứng ngoài lực cuốn của dòng chảy, phương sách tốt nhất là nương theo sức mạnh đó để tìm đến bến bờ thịnh vượng cho chính mình thay vì bị nhấn chìm dưới dòng chảy. Đạt đến bến bờ thịnh vượng có nghĩa là tạo được ngày càng nhiều công ăn việc làm cho người lao động trong nước và làm cho thu nhập của mỗi người dân ngày càng cao hơn. Đây là một điều kiện không dễ dàng trên thị trường cạnh tranh quyết liệt. Để tồn tại trên thị trường, phải bán được hàng do người trong nước làm ra. Muốn vậy, chất lượng sản phẩm phải tốt hơn và giá rẻ hơn. Muốn chất lượng sản phẩm tốt, phải có công nghệ tốt. Nhưng nếu trình độ công nghệ ngang nhau thì lương thấp (dẫn đến giá thành rẻ) là ưu thế hơn hẳn. Lợi thế tương đối của một nước nghèo, trớ trêu thay, nằm ở chỗ mức lương thấp tức là ở ngay cái nghèo của nước đó. Nếu có thể tận dụng tốt ưu thế này (mức lương thấp và lao động siêng năng, chịu khó học hỏi), chúng ta có thể tiếp nhận được công nghệ mới. Một phúc trình về chuyển biến kinh tế ở châu Á gần đây (tháng 8/1994) của Trung tâm Tài chính Quốc tế Nhật Bản đã nhận định “Sự gia tăng lương bổng bắt đầu tại các nước công nghiệp mới (NICs) như Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Singapore từ thập niên 1980 đang lan rộng sang các nước ASEAN khác như Thái Lan, Malaysia. Sự gia tăng lương bổng này sẽ làm tăng tốc độ chuyển dịch các ngành công nghiệp chế tạo đơn giản như dệt, may mặc, chế biến thực phẩm sang các nước như Việt Nam, các đảo nhỏ thuộc Indonesia và vùng nội địa Trung Hoa”. Công nghiệp đơn giản sẽ tiến dần lên công nghiệp công nghệ cao với điều kiện Việt Nam có thể đào tạo liên tục một đội ngũ lao động có tay nghề chuyên môn cao và chấp nhận mức
  14. lương thấp. Các nước có công nghệ cao cũng có lợi vì lợi dụng được nhân công rẻ để giữ vững thị phần quốc tế cho sản phẩm của họ. Điều quan trọng là sản phẩm đó sẽ được gắn cho cái mác sản xuất tại nước chủ nhà. Bằng phương pháp “mượn sức đánh sức” này, Việt Nam có thể bước nhanh đến trình độ công nghiệp khá và mua một chỗ đứng khiêm tốn ban đầu trên thị trường quốc tế. Chấp nhận mức lương thấp để có nhiều công ăn việc làm hơn, tạo điều kiện cho các công ty nước ngoài có lợi nhuận cao để thu hút công nghệ cao vào trong nước là chiến thuật cần thiết trong giai đoạn khởi động. Như vậy, công thức phát triển thích hợp cho nước ta chính là “nước mạnh dân giàu”, tức là phải tạo cơ sở vật chất, phát triển công nghiệp tiên tiến trước rồi tăng thu nhập sau. Công thức này không mới lạ, người Nhật đã áp dụng công thức này trong suốt tiến trình phát triển để làm nên phép lạ kinh tế. Họ công khai thừa nhận rằng họ là những người nghèo trong một quốc gia giàu có. Mặt khác chúng ta phải biết cách bảo vệ lấy mình trong khi vẫn phải chơi trò chơi mậu dịch tự do. Nền công nghiệp nội địa không thể được tiếp tục bảo vệ chỉ bằng cách dựng lên các hàng rào thuế quan. Khi vào AFTA, chúng ta đã chấp nhận giảm thuế nhập khẩu rồi, đừng nói chi đến GATT. Công nghiệp trong nước phải được bảo vệ và được thúc đẩy phát triển bằng cách khác. Nó phải được tài trợ tốt hơn bởi hệ thống ngân hàng năng động hơn với một mức lãi suất thấp hơn và một thị trường vốn lành mạnh, hiệu quả. Thuế đánh vào sản xuất phải giảm thấp, chính sách thuế phải có mục tiêu xác định rõ ràng là khuyến khích đầu tư mới. Chính phủ cần hỗ trợ mạnh mẽ, tích cực hơn trong việc đưa công nghệ mới vào công, nông nghiệp với những ưu đãi cần thiết về giá, thuế, và trợ giúp tài chính. Bộ máy hành chính phải được giao phó nhiệm vụ hàng đầu: hỗ trợ không điều kiện cho sản xuất trong nước phát triển. Tất cả điều này thể hiện một sự tập trung năng lực cao độ của cả nước cho việc xây dựng và củng cố sức mạnh công nghiệp - điều kiện quyết định cho một chỗ đứng vững chắc trên đấu trường quốc tế. Hãy nghe Lester Thurow trong “đối đầu” nói về kinh nghiệm hóa rồng của các nước NIC: “Tuy các chi tiết cụ thể khác nhau, mỗi bước đều theo mô hình của Nhật Bản, nơi mà chính phủ đảm bảo một thị trường được bảo hộ trong nước để cho họ cạnh tranh quyết liệt trên thị trường nước ngoài. Bảo hộ và cạnh tranh đồng thời tồn tại trong một tương quan cộng sinh với chiến lược quốc gia năng động nhằm thúc đẩy các ngành công nghiệp then chốt”. Nhưng dân chúng cũng phải vào cuộc. Trụ đồng công nghiệp nội địa chỉ đứng vững khi mọi người dân trong nước, mỗi người một nắm đất, mỗi ngày đắp bồi cho nó. Người Việt chúng ta đã làm được điều kỳ diệu đó hàng ngàn năm trước đây vì không muốn bị diệt vong, bây giờ chúng ta cũng phải làm được. Trong một cuộc thăm dò dư luận gần đây, chỉ có 16% người Nhật đồng ý mua hàng nhập khẩu nếu chúng rẻ hơn. Gấp hơn năm lần con số đó làm điều ngược lại. Tuy nhiên, giảm giá thành sản phẩm không chỉ dựa vào mức lương thấp. Cần có những nỗ lực rộng lớn hơn nhằm giảm chi phí trên mọi lĩnh vực giúp đưa sản phẩm với giá thành rẻ hơn của doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập thị trường quốc tế. Bộ máy hành chính và thủ tục hành chính là một ví dụ. Thống kê Liên Hợp Quốc cho thấy, mỗi năm hàng tỷ đô la
  15. tại các nước đang phát triển bị phí phạm do những chậm trễ, tắc trách, quan liêu, phiền hà, nhũng nhiễu gây ra bởi con rùa hành chính. Một tài liệu của Liên Hợp Quốc nhận xét: “Nếu các nước đang phát triển phải vươn lên để đương đầu với thách thức của một nền kinh tế toàn cầu, vai trò của các quan chức hành chính cần phải được nhận thức khác hẳn. Họ phải là những người hỗ trợ, thúc đẩy mậu dịch thay vì là những người kiểm soát mậu dịch. Người xuất khẩu và thương nhân phải được xem là những nhân tố của phát triển, không phải là nguồn thu thuế”. Hoạt động của hải quan quyết định sự phát triển hay không của ngoại thương quốc gia. Nếu thủ tục kiểm tra hải quan cứ tiếp tục kéo dài, đòi hỏi hàng đống giấy tờ phiền phức, làm phát sinh tiêu cực, những lợi ích của mậu dịch có được do công nghệ vận tải tiên tiến và công nghệ thông tin hiện đại sẽ bị mất đi. Phí tổn cho mậu dịch sẽ tăng cao. Các dịch vụ tài trợ ngoại thương thông qua hệ thống ngân hàng có vai trò thiết yếu trong nỗ lực giảm phí. Không có hệ thống ngân hàng năng động và một chính sách tiền tệ tích cực, nền ngoại thương của quốc gia sẽ bị tê liệt, không hiệu quả vì bị đè bẹp dưới gánh nặng của phí và lãi suất ngân hàng. Mặt khác, các thương nhân của chúng ta cần được tạo mọi điều kiện để tiếp cận dễ dàng, với giá rẻ hơn, thông tin đầy đủ, chính xác và được cập nhật để nhanh chóng nắm bắt sớm nhất những cơ hội vụt đến và không có lần thứ hai trên thị trường. Hiện đại hóa hệ thống viễn thông là cần thiết để chuyển tải lượng thông tin nói trên. Giao thông, vận chuyển cũng có ảnh hưởng quyết định đối với sự phát triển ngoại thương. Sản phẩm của chúng ta đến thị trường quốc tế có nhanh hơn và rẻ hơn hay không phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố này. Đầu tư cho cơ sở hạ tầng giao thông vận chuyển phải được ưu tiên hàng đầu. Những chuẩn bị chủ quan của chúng ta cho việc thâm nhập thị trường quốc tế là cần thiết nhưng chưa đủ để giành thắng lợi. Có nhiều đấu thủ tham gia và họ đều chuẩn bị tốt. Muốn thắng, ta phải biết họ, biết mình. Như trong trận đấu bóng đá, người thắng không chỉ là người biết chuẩn bị thể lực và kỹ thuật tốt cho mình mà còn phải biết rõ chiến thuật của đối phương. Họ mạnh ở đội hình nào, mũi nhọn của họ là những ai, chiến thuật của họ là kèm người hay phòng thủ khu vực và chúng ta phải có các đối sách như thế nào. Trên thương trường cạnh tranh quyết liệt, không phải chỉ có chuẩn bị tốt là thắng, mà phải chuẩn bị tốt hơn. Mọi thứ ta chuẩn bị đều phải hoàn hảo hơn, và kẻ thắng cuộc sẽ là kẻ hoàn hảo nhất. Sản phẩm của ta để bán được trên thị trường không phải chỉ cần tốt và rẻ mà phải tốt hơn, rẻ hơn và hơn thế nữa, phải đến với thị trường nhanh hơn, sớm hơn. Nhưng chúng ta không thể thắng nếu chúng ta không muốn thắng. Chúng ta không thể có công nghệ cao - và không thể công nghiệp hóa, hiện đại hóa - nếu chúng ta không có một chiến lược giáo dục, đào tạo đúng đắn để nhiều người trong nước biết sử dụng công nghệ, kỹ thuật cao và không có những chính sách tốt hơn, hấp dẫn hơn nhằm khuyến khích mang công nghệ cao vào trong nước. Trụ đồng công nghiệp nội địa sẽ gãy, nếu sản phẩm do nó làm ra bị người trong nước từ chối mua. Nếu chúng ta tiếp tục sử dụng số ngoại tệ chắt chiu được của mình để nuôi công ăn việc làm ở nước ngoài, chúng ta sẽ không thể
  16. tạo thêm được công ăn việc làm ở trong nước. Nếu bộ máy hành chính tiếp tục ngăn trở nhiều thay vì hỗ trợ, nếu hệ thống ngân hàng, tài chính, bảo hiểm không tạo được nguồn vốn và các dịch vụ giá rẻ cho sản xuất và kinh doanh, nếu các thông tin mới nhất của thị trường quốc tế không được phổ biến do hệ thống viễn thông lạc hậu và những hạn chế thiển cận khác về thông tin, nếu cơ sở hạ tầng về giao thông, vận chuyển không được cải thiện và hiện đại hóa, các nhà xuất khẩu, các doanh nhân Việt Nam cùng với sản phẩm của họ sẽ bị đánh bại ngay trên đất nước mình. Thế giới và nền mậu dịch tự do của nó không hề quan tâm chút nào tới điều này. Cuối cùng họ sẽ có được một thị trường khá đông dân sẵn sàng tiêu thụ hàng ế thừa của họ, sẵn sàng cung ứng lao động và tài nguyên thiên nhiên với giá rẻ. Chúng ta sẽ được cái thảnh thơi của người thua cuộc đã đuối sức dừng lại, ngắm nhìn tuyệt vọng và kính nể các đấu thủ khác đang ráng sức chạy và ngày càng bỏ xa ta. Nếu chúng ta muốn thắng, phải biết rằng cuộc chiến mậu dịch không dễ dàng. Thời gian đang chống lại chúng ta và để bắt đầu nhập cuộc, chúng ta không có gì nhiều ngoài ý chí muốn thắng cuộc. Thắng lợi sẽ không thể có trong một sớm một chiều, những dấu hiệu của thắng lợi chỉ có thể thấy được sau mười năm, hai mươi năm chúng ta liên tục chuẩn bị tốt và đi đúng nước cờ. Thành công hay thất bại chỉ cách nhau trong gang tấc ở nước cờ và tư duy chiến lược đúng: nếu mỗi thế hệ của một cộng đồng dân tộc biết dành dụm để đầu tư xây dựng cho thế hệ kế tiếp, cộng đồng dân tộc đó sẽ thắng. Tháng 1/1995
  17. Việt Nam gia nhập ASEAN Chỉ còn vài ngày nữa, Việt Nam sẽ chính thức gia nhập ASEAN, chính thức hội nhập vào một khu vực kinh tế năng động nhất thế giới hiện nay. Những cơ hội cho phát triển kinh tế đất nước được mở rộng, nhưng những thử thách cũng không kém phần gay gắt. Các vấn đề kinh tế cơ bản vẫn như trước, tuy nhiên sự hội nhập vào ASEAN sẽ buộc chúng ta phải thúc đẩy nhanh hơn các giải pháp đúng đắn cho các vấn đề đó. Chẳng hạn, bộ máy hành chính phải được đổi mới nhanh hơn để hỗ trợ các doanh nghiệp tốt hơn. Hệ thống luật pháp phải được hoàn thiện sớm hơn, các bộ luật như Luật Dân sự, Luật Thương Mại cần được hình thành. Luật Đầu tư (trong và ngoài nước) cần được hoàn chỉnh. Các nhà làm luật của chúng ta cần nhanh chóng hiểu rõ hệ thống luật pháp của các nước thành viên khác và làm cho họ hiểu rõ hệ thống luật của ta. Những cải cách về hành chính, luật pháp cần được tiến hành sớm vì sẽ tạo điều kiện và môi trường thích hợp cho việc giải quyết các vấn đề kinh tế cơ bản như vấn đề công ăn việc làm và nâng cao mức thu nhập, những vấn đề sẽ trở nên bức xúc và phức tạp hơn trong quá trình hội nhập. Khi Việt Nam vào ASEAN, chúng ta sẽ là nước lớn thứ hai về dân số, và là nước có thu nhập thấp nhất. So với Singapore là nước có thu nhập cao nhất trong Asean, dân số của chúng ta cao gấp 24 lần và thu nhập bình quân đầu người kém 80 lần. Dân số đông và tốc độ tăng trưởng dân số nhanh sẽ gây khó khăn cho các nỗ lực gia tăng mức thu nhập nhằm khép lại khoảng cách rất rộng giữa ta và các nước thuộc ASEAN. Mọi vấn đề, thách thức sẽ bắt nguồn từ đó và mọi giải pháp tìm kiếm cũng sẽ nhằm giải quyết điều nan giải nói trên. Lấy thí dụ, vấn đề công ăn việc làm. Dân số đông, nhu cầu cần công ăn việc làm sẽ lớn, nhưng tạo ra đủ công ăn việc làm cho người muốn làm việc là điều không dễ dàng. Cỗ máy tạo công ăn việc làm chính là doanh nghiệp và họ phải hoạt động hiệu quả để tồn tại và phát triển, trước hết ở thị trường nội địa. Tuy nhiên, khi hội nhập AFTA, hàng hóa các nước ASEAN sẽ tràn vào thị trường Việt Nam, đặt công nghiệp Việt Nam dưới thử thách cạnh tranh quyết liệt ngay trên “sân nhà”. Nếu công nghiệp nội địa không thể bán được sản phẩm ngay trên đất nước mình, nó không hy vọng bán sản phẩm ra ngoài và do đó, khả năng tạo ra công ăn việc làm mới rất mờ mịt. Dựng lên một hàng rào thuế quan hay phi thuế quan để bảo hộ công nghiệp nội địa sẽ được coi là vi phạm luật chơi. Vã chăng, đó là một chính sách không hiệu quả, không giúp tăng cường sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, nhất là trong xu thế hội nhập kinh tế của thế giới hiện nay. Đối với Việt Nam, tiến trình hội nhập ASEAN buộc chúng ta phải có một chiến lược doanh nghiệp hai cực: một bên là tập đoàn tài chính công nghiệp lớn, hoạt động hiệu quả, chiếm lĩnh các ngành công nghiệp xương sống, một bên là lực lượng đông đảo các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoạt động linh hoạt trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ, sản xuất hàng tiêu dùng, gia công chế biến nông phẩm, phụ tùng, thiết bị, làm vệ tinh cho các xí nghiệp
  18. công nghiệp lớn. Cả hai sẽ tạo nên một thế trận liên hoàn nhằm củng cố sức cạnh tranh của các ngành công nghiệp trong nước. Sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ chắc chắn sẽ góp phần giải quyết vấn đề công ăn việc làm trong nước, đồng thời sẽ là người cạnh tranh có hiệu quả với các đối tác ở các nước ASEAN khác. Chính các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một trong những yếu tố đặc trưng cho sự phát triển kinh tế của ASEAN. Trả lời phỏng vấn của tờ Tuần báo quốc tế số tháng 6/1995, Tổng thư ký ASEAN, Dato Adit Singh nhận định: “Để duy trì phát triển kinh tế, rõ ràng ASEAN phải thúc đẩy AFTA (ASEAN Free Trade Area) và phát triển hợp tác trong các lĩnh vực mới như dịch vụ, bản quyền, các xí nghiệp vừa và nhỏ, hạ tầng cơ sở và phát triển nhân lực”. Để tạo ra việc làm, cỗ máy doanh nghiệp, dù là tập đoàn lớn hay các xí nghiệp vừa và nhỏ, đều phải có thể bán được sản phẩm của họ. Sản phẩm muốn bán được phải có chất lượng tốt, giá thành hạ và điều đó có nghĩa là năng suất lao động phải cao, quy trình công nghệ phải đổi mới. ASEAN có Ủy ban Khoa học và Công nghệ nhằm hỗ trợ phát triển khoa học kỹ thuật, tạo thuận lợi cho việc chuyển nhượng kỹ thuật, công nghệ giữa các nước ASEAN và từ các nước có trình độ công nghệ cao hơn vào ASEAN. Tuy nhiên, chúng ta có thể tận dụng được sự hỗ trợ này cho sự đổi mới công nghệ ở nước ta hay không lại là một vấn đề khác, tùy thuộc rất nhiều vào các nỗ lực tự thân. Muốn thay đổi mới quy trình công nghệ, du nhập kỹ thuật cao, phải có vốn. Hiện nay, ngoại trừ một số ít các xí nghiệp quốc doanh lớn có điều kiện tối thiểu về mặt tài chính (được vay vốn theo kế hoạch với lãi suất thấp hoặc được tiếp vốn từ ngân sách quốc gia) để đổi mới công nghệ, các doanh nghiệp còn lại nhất là các xí nghiệp vừa và nhỏ, hoàn toàn không thể trông cậy vào hệ thống ngân hàng trong nước để tài trợ trung hoặc dài hạn các dự án đầu tư phát triển của mình. Đơn giản là vì nguồn vốn trung và dài hạn quá hiếm hoi, lãi suất lại quá cao, và không có một thị trường vốn để các doanh nghiệp tìm kiếm nguồn tài trợ trực tiếp. Hệ thống tài chính ngân hàng nếu không đổi mới nhanh chóng theo kịp tiến trình hội nhập khu vực, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ bị đánh bại trên lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ. Nếu doanh nghiệp các nước Asean khác được tài trợ đầy đủ với lãi suất thấp bằng phân nữa các doanh nghiệp Việt Nam - chưa nói đến các ưu thế khác - chúng ta có thể dễ dàng đoán trước đấu thủ nào sẽ bị loại trong cuộc cạnh tranh sắp tới. Tuy nhiên, sự hội nhập cũng sẽ tạo ra cơ hội mới trên lĩnh vực tài chính nếu chúng ta có điều kiện thích nghi nhanh chóng. Nếu một thị trường tiền tệ được thực sự tạo ra ở Việt Nam, nó sẽ có khả năng hội nhập vào thị trường tiền tệ khu vực. Điều này sẽ giúp thu hút vào Việt Nam một nguồn tín dụng tài chính đáng kể sẵn sàng tài trợ cho các doanh nghiệp trong nước đang khát vốn với một lãi suất thấp hơn hiện nay rất nhiều. Các cơ hội tạo công ăn việc làm cũng sẽ đến từ bên ngoài. Singapore, Thái Lan, Malaysia là những nước Asean có tiềm năng đầu tư nhiều vào Việt Nam, vì ở đây họ có được lợi thế nhân công rẻ. Mặt khác, Malaysia, Singapore và Brunei đang ở vào tình trạng thiếu nhân lực, vì vậy việc xuất khẩu lao động sang các nước nói trên là vấn đề cần quan tâm. Muốn từng bước nâng cao mức thu nhập, chất lượng công ăn việc làm cũng phải được nâng cao. Máy móc mới, quy trình công nghệ mới cần có các kỹ sư, chuyên viên kỹ thuật giỏi, các công nhân lành nghề điều khiển. Hệ thống giáo dục đào tạo của chúng ta cần được
  19. cải tổ, hoàn thiện nhanh chóng để sản sinh ra những nhà quản trị lão luyện, những kỹ sư, chuyên viên, công nhân kỹ thuật tài ba, tiếp cận được với trình độ khoa học kỹ thuật hiện đại. Tất cả sẽ được tập hợp trong đội ngũ có tinh thần đồng đội cao, phối hợp nhịp nhàng, ăn ý, chịu khó làm việc, tôn trọng kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp để tạo ra sản phẩm tốt hơn và ngày càng tốt hơn. Tác phong công nghiệp đó không thể tự dưng mà có, nó phải được rèn luyện tại trường lớp, nhuần nhuyễn trong các hãng xưởng. Hệ thống giáo dục, đào tạo của ta phải truyền bá được tác phong công nghiệp mới. Đó là điều kiện then chốt để cải thiện năng suất lao động, nâng cao thu nhập. Với sự tham gia của Việt Nam, ASEAN sẽ bao gồm bảy quốc gia với nhiều chủng tộc khác nhau, nhiều ngôn ngữ khác nhau. Nhưng Anh ngữ sẽ là ngôn ngữ thương mại và kỹ thuật của ASEAN. Để hiểu nhau và hưởng được lợi ích của sự hội nhập, các nhà quản lý, các doanh nhân, các nhà quản trị, các chuyên viên của Việt Nam sẽ phải nói thứ ngôn ngữ chung đó khi giao tiếp với đồng nghiệp của mình trong ASEAN. Đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam, sự chuẩn bị của ta vào ASEAN được thực hiện khá lặng lẽ. Không có nhiều thông tin về ASEAN được công bố rộng rãi cho các doanh nghiệp và cho đến nay, dù thời gian đã gần kề, các doanh nghiệp Việt Nam chắc chắn chưa có kế hoạch gì để thích nghi với tình tình mới. Ông Thái Văn Hừng, Phó chủ tịch Hiệp hội Da Giày Việt Nam, Giám đốc Công ty Hừng Sáng, đã phát biểu: “ Các nhà doanh nghiệp Việt Nam chưa thực sự được chuẩn bị chu đáo cho quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN Hiện nay hầu hết các doanh nghiệp đều lúng túng trước những chuyển biến quá mới mẻ trong lĩnh vực đối ngoại, thậm chí nhiều người cũng không rõ khi gia nhập ASEAN, các doanh nghiệp sẽ được hưởng những ưu đãi gì về thuế quan hoặc những khó khăn sẽ gặp khi xóa bỏ hàng rào mậu dịch giữa các nước”. Rõ ràng, thiếu thông tin là một nhược điểm lớn trong số các nhược điểm mà chúng ta phải khắc phục để giúp củng cố sức chiến đấu của các doanh nghiệp Việt Nam khi vào ASEAN. Thông tin không phải chỉ là một vấn đề kỹ thuật mang tính chất hạ tầng. Thông tin còn là một vấn đề chiến lược. Chính sách về thông tin cần đổi mới phù hợp với tình hình mới. Hiện nay, ưu thế của các doanh nghiệp nước ngoài là họ hiểu ta hơn chính ta, ngược lại ta không hiểu nhiều về họ. Tình trạng này cần phải thay đổi, các doanh nghiệp trong nước cần được tạo điều kiện để biết rõ mình, biết những gì có liên quan đến mình và biết rõ người, biết những gì liên quan đến người. Dù trên chiến trường hay trên thương trường, nguyên tắc binh pháp sau đây vẫn giữ nguyên giá trị: “Biết người, biết ta, trăm trận trăm thắng”. Tháng 5/1995
  20. Tăng cường khả năng tiếp thu ngoại lực Trong 5 năm cuối của thế kỷ XX, chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam dự kiến một tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm là 10-12% trên tổng sản phẩm nội địa GDP. Nếu ICOR (tỷ suất gia tăng xuất lượng so với đầu tư) của ta là 2,5 trong suốt giai đoạn này, một tỷ suất khá thuận lợi, tỷ lệ đầu tư trên GDP sẽ chiếm từ 25% đến 30% và tổng giá trị đầu tư ước lượng cho cả 5 năm 1996-2000 sẽ là 50-55 tỷ đô la. Theo tính toán của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hơn 50% vốn đầu tư cần thiết, khoảng 30 tỷ đô la, sẽ được huy động từ ngoài nước. Tỷ lệ đầu tư giữa nội lực và ngoại lực là 1-1,5. Triển vọng này đặt ra một số câu hỏi. Liệu nền kinh tế của chúng ta có đủ khả năng tiếp nhận một khối lượng đầu tư từ bên ngoài lớn gấp rưỡi đầu tư trong nước? Có ý kiến cho rằng, công thức về tiếp nhận đầu tư nước ngoài là 3 đối 1, nghĩa là muốn thu hút một đồng vốn đầu tư từ ngoài, ta phải đầu tư 3 đồng. Mặt khác, liệu có những giới hạn “tự nhiên” nào cho việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, chẳng hạn quy mô của tổng sản lượng, tiềm năng về tài nguyên, thu nhập bình quân đầu người, lao động có tay nghề chuyên môn? Công thức 3 đối 1 thật ra chưa được kiểm chứng rõ rệt trong thực tế. Trong suốt thời kỳ “vượt vũ môn để hóa rồng”, Hồng Kông và Singapore đã tiếp nhận vốn đầu tư từ ngoài vào nhiều hơn là từ chính họ. Hơn nữa, các điều kiện “tự nhiên” để hấp dẫn đầu tư của họ thua kém xa các nước láng giềng. Dân số ít hơn, thị trường nội địa nhỏ hẹp hơn, tài nguyên thiên nhiên hầu như không có. Nhưng nguồn vốn đầu tư trực tiếp (FDI) đổ vào nước họ lớn hơn nhiều lần các nước khác trong khu vực trong suốt ba thập niên 70, 80, 90. Thị trường nội địa nhỏ hẹp, họ hướng đầu tư vào khai thác thị trường mênh mông của khu vực và thế giới. Không có tài nguyên, họ hướng đầu tư vào công nghệ kỹ thuật cao, vào việc cung ứng các dịch vụ thương mại, tài chính, ngân hàng. Dân số ít nhưng được hưởng một nền giáo dục tốt, trong thời kỳ đầu của phát triển, lực lượng lao động tại chỗ đủ sức cung ứng cho sự lớn mạnh của cỗ máy công nghiệp và hệ thống dịch vụ tài chính được xây dựng phần lớn bởi nguồn vốn từ nước ngoài. Dù xét từ góc độ nhà đầu tư nước ngoài hay từ phía nước chủ nhà, khả năng tiếp nhận đầu tư của nước chủ nhà cao hay thấp tùy thuộc rất nhiều vào nỗ lực của nước chủ nhà nhằm giảm thiểu các phí tổn liên quan đến hoạt động đầu tư. Các nhà đầu tư, khi quyết định bỏ vốn vào một nước, luôn căn cứ vào cơ hội sinh lợi của vốn đầu tư tại nước đó. Họ sẽ chọn lựa nơi nguồn vốn đầu tư mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn các nơi khác, có nghĩa là chi phí đầu tư ở nước được chọn lựa phải thấp hơn. Họ quan tâm đến những rủi ro, nguy cơ làm gia tăng các phí tổn của việc đầu tư, đe dọa làm hao hụt thậm chí mất mát toàn bộ đồng vốn bỏ ra. Họ cũng xem xét những cưỡng chế, những giới hạn, nhưng lưu ý nhiều đến những cưỡng chế do con người tạo ra hơn là những giới hạn “tự nhiên”. Thí dụ, hai trong nhiều yếu tố hấp dẫn nhà đầu tư vào Việt Nam là lực lượng lao động rẻ và một thị trường
  21. nội địa với 75 triệu dân. Tuy nhiên, nếu những giá phí khác có liên quan đến đầu tư lại đắt, thí dụ giá thuê nhà, giá điện, nước, điện thoại, fax cùng với sự gia tăng các phí tổn phát sinh do sự chậm trễ trong thủ tục hành chính và các phí tổn không dự kiến khác, điều đó sẽ làm nước ta mất ưu thế mức lương thấp so với các nước có giá phí thấp khác trong khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia. Các nhà đầu tư sẽ thấy là chi phí đầu tư tính chung của họ ở Việt Nam cao, dẫn đến hậu quả là làm giảm mức lợi nhuận của họ. Sự gia tăng các phí tổn tại nước tiếp nhận đầu tư, cuối cùng, sẽ dựng lên một rào cản, một giới hạn cho dòng vốn đầu tư nước ngoài, nhìn từ phía cung vốn đầu tư. Về phía nước cần vốn, cũng có những cưỡng chế cho khả năng tiếp nhận đầu tư. Thứ nhất là những cưỡng chế hữu hình. Một cơ sở hạ tầng yếu kém, như hệ thống đường giao thông chưa hoàn chỉnh, phương tiện giao thông liên lạc thiếu thốn và lạc hậu, hệ thống cung cấp năng lượng (điện, nhiên liệu) không đủ cho nhu cầu sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư vì họ dự đoán chắc chắn rằng các phí tổn mà họ phải trả cho việc sử dụng các tiện nghi hạ tầng sẽ lên cao, kể cả các lãng phí khác như phải ngưng hoạt động trong thời gian bị cúp điện chẳng hạn. Một hệ thống ngân hàng lạc hậu cũng là một cưỡng chế đối với nhà đầu tư, vì những chậm trễ, ách tắc trong hệ thống thanh toán và sự thiếu thốn các dịch vụ ngân hàng hỗ trợ đầu tư sẽ làm phí tổn đầu tư gia tăng, hiệu quả đầu tư giảm sút. Như vậy đầu tư của Nhà nước vào việc nâng cấp, cải thiện và xây dựng mới các tiện nghi hạ tầng, hệ thống tài chính ngân hàng, cải tiến thủ tục hành chính đều hết sức cần thiết nhằm làm cho môi trường đầu tư trở nên hấp dẫn hơn trong ý nghĩa là làm giảm những phí tổn đầu tư có liên quan mà nhà đầu tư phải gánh chịu. Vốn đầu tư cho việc xây dựng hạ tầng rất lớn, trong nhiều trường hợp để có đủ nguồn tiền, Chính phủ phải đi vay các định chế tài chính quốc tế và tiếp nhận các khoản viện trợ song phương. Có lẽ chính vì thế mà phát sinh công thức 3 đối 1. Ngoài ra còn có những cưỡng chế về tâm lý. Nhiều nước đang phát triển tuy cần vốn đầu tư nước ngoài nhưng vẫn e ngại sự khống chế của các tập đoàn tài chính nước ngoài, mức độ kiểm soát của họ trên các lĩnh vực công nghiệp, tài chính hoặc ý đồ khai thác các nguồn tài nguyên giá rẻ của nước chủ nhà với lao động rẻ để rồi cuối cùng chuyển hết vốn và lợi nhuận về nước họ. Kinh nghiệm xương máu của thời kỳ thực dân đã để lại cho các nước này những dấu ấn khó phai mờ. Cưỡng chế về tâm lý khiến nước tiếp nhận đầu tư có thể có những biện pháp giới hạn đầu tư trên một số lĩnh vực, qua việc thiết lập các hạn chế về ưu đãi đầu tư, chính sách thuế và điều tiết việc chuyển lợi nhuận. Các biện pháp nói trên ít nhiều đều có tác động đến khả năng tiếp nhận đầu tư của một nước. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế hội nhập mạnh mẽ ngày hôm nay và cùng với sự ra đời của những khu vực kinh tế vùng, các cưỡng chế về tâm lý cũng phai mờ dần. Các nước đang phát triển trở nên tự tin hơn và ngày càng tỏ ra năng động, tích cực hơn trong việc cạnh tranh thu hút nguồn vốn từ bên ngoài. Năm 1995, nước ta đã cấp giấy phép cho 394 dự án đầu tư, với tổng vốn đầu tư là 6.599 tỷ đô la, chiếm 33% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam từ trước đến nay. Điều này cho thấy có một sự gia tăng mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, năm sau cao gấp bội năm trước. Chỉ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam cũng tăng lên theo thời gian. Những năm
  22. trước, trên bảng xếp hạng về rủi ro quốc gia (country risk), Việt Nam còn ở nhóm 5. Ngày nay, nước ta được xếp vào những thứ hạng đầu của nhóm 4. Sự cải thiện môi trường đầu tư ở nước ta đã có những tiến bộ nhất định. Đầu tư nhà nước nhằm xây dựng tiện nghi hạ tầng đã đạt được những kết quả cụ thể như sau: đường dây 500KV Bắc - Nam, hệ thống liên lạc viễn thông, hệ thống điện thoại, việc cải tạo mạng lưới điện tại thành phố Sắp tới sẽ triển khai các dự án sửa chữa, nâng cấp, mở rộng các tuyến đường quan trọng của quốc lộ 1, Hà Nội - Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh - Nha Trang, xây dựng cầu bắc qua sông Tiền, sông Hậu, thiết lập hệ thống cáp quang. Thêm vào đó, Ngân hàng Thế giới đã chấp thuận tài trợ và chuẩn bị triển khai thực hiện dự án xây dựng hệ thống thanh toán hiện đại cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Rồi những nỗ lực khác nhằm cải cách bộ máy và thủ tục hành chính, cải cách hệ thống thuế khoá. Tất cả những điều đó chắc chắn sẽ mở rộng khả năng tiếp nhận nguồn đầu tư nước ngoài của chúng ta, tạo điều kiện cần thiết để biến các chỉ tiêu dự kiến trong chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2000 thành hiện thực. Khả năng tiếp nhận đầu tư của một nước có thể có những giới hạn vào một thời điểm. Nhưng không có giới hạn nào là không thể vượt qua. Loại trừ yếu tố thời gian, khả năng đó có thể trở thành vô hạn. Khi còn cơ hội để đầu tư sinh lợi là còn đầu tư. Vấn đề quan trọng then chốt là xây dựng cho được một nền kinh tế sinh động, không ngừng tạo ra và làm sinh sôi nảy nở những cơ hội đầu tư mới. Năm 1996
  23. Doanh nghiệp Việt Nam cạnh tranh trên biển lớn Các xí nghiệp vừa và nhỏ của chúng ta, những công ty tư doanh, những công ty cổ phần, được sinh sôi nảy nở dưới tác động của Đổi Mới, thực tế là những doanh nghiệp còn quá non trẻ, quá yếu đuối cả về vốn liếng, công nghệ, cơ sở vật chất kỹ thuật lẫn kỹ năng quản trị. Nhưng ngay từ đầu, họ đã nhập cuộc với tư cách là người lính trẻ chiến đấu cho sự tự chủ kinh tế Việt Nam trên lĩnh vực công thương nghiệp, dịch vụ, tài chính ngân hàng. Họ đã là những viên gạch xây dựng nền móng kinh tế Việt Nam trong thời kỳ Đổi Mới. Họ phải đương đầu với sóng gió quyết liệt của cạnh tranh nước ngoài trong quá trình nước ta hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới. Để tồn tại, họ cần được tạo điều kiện để hội nhập vào các ngành công nghiệp trong nước, vào nền kinh tế đất nước. Để đưa được sản phẩm Việt Nam tham gia thị trường quốc tế, họ cần nhận được sự hỗtrợ cần thiết của hệ thống ngân hàng Việt Nam, của cơ chế bảo hiểm xuất khẩu, của chính sách trợ giá xuất khẩu, của hệ thống thông tin, tiếp thị, của chính sách hạn ngạch và sự đơn giản hóa thủ tục hải quan. Trong cuộc chiến đấu không cân sức để duy trì sản phẩm Việt Nam ngay trên thị trường của nước mình, họ cần được tiếp sức bằng các chính sách tín dụng, lãi suất hợp lý, chính sách thuế, chính sách khấu hao, những sự giúp đỡ về kỹ thuật, công nghệ, về giáo dục đào tạo. Bài xã luận trên báo Nhân dân ngày 6-11- 1997 đã nhận xét rất đúng: ” xét trên mặt bằng chung thì sức cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp chưa đủ mạnh, do cơ chế, chính sách thiếu đồng bộ, và nhất là do trình độ công nghệ của hầu hết các ngành sản xuất còn lạc hậu”. Cũng như người nông dân, các doanh nghiệp Việt Nam chỉ có được ý chí cạnh tranh và năng lực cạnh tranh khi họ biết rằng họ không chiến đấu đơn độc mà có Nhà nước và cộng đồng dân tộc ởbên. Chúng ta nói người Việt Nam dùng hàng Việt Nam, nhưng người Việt Nam phải đâu chỉ là người tiêu dùng. Để phục vụ cho sản xuất của chính mình, các doanh nghiệp quốc doanh chủ đạo đã thực sự có chính sách sử dụng các mặt hàng thành phẩm, bán thành phẩm, vật tư nguyên liệu được sản xuất bởi các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam chưa? Chúng ta đã có chủ trương ưu tiên dành các hợp đồng cung cấp thiết bị phụ tùng cho các doanh nghiệp Việt Nam thay vì nhập khẩu từ nước ngoài, nhưng cho đến nay, chủ trương đúng đắn này đã được thực hiện như thế nào? Các cơ quan Nhà nước khi có nhu cầu đã nghĩ trước hết đến sản phẩm, dịch vụ từ nội địa hay từ nước ngoài? Và đã có chưa một chính sách nhất quán về chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản trị từ khu vực kinh tế chủ đạo sang các doanh nghiệp vừa và nhỏ để giúp các doanh nghiệp này phát triển năng lực cạnh tranh của họ hay chưa? Bên cạnh chương trình cổ phần hóa các xí nghiệp nhà nước cũng cần xây dựng một
  24. chương trình cổ phần hóa các doanh nghiệp tư nhân. Đó chính là niềm hy vọng, là yếu tố quyết định tương lai tồn tại và phát triển của họ. Cổ phần hóa chính là sự thể hiện của tiến trình hội nhập từ bên trong, một cộng đồng dân tộc mong muốn cường thịnh cung ứng đồng vốn cho sự phát triển các doanh nghiệp của chính mình. Hệ thống tài chính, ngân hàng là chất men cho hội nhập kinh tế, nhưng trước hết nó phải hội nhập được với chính nó. Không có một thị trường tiền tệ liên ngân hàng, mỗi ngân hàng sẽ giữ cho riêng mình hàng ngày một khối tiền mặt lớn làm bất động hàng chục ngàn tỷ đồng mà lẽ ra toàn hệ thống ngân hàng đã có thể sử dụng để tài trợ tốt hơn cho nền kinh tế đang trên đà tăng trưởng. Cũng vậy, nếu hệ thống ngân hàng không có một hệ thống thanh toán và các phương tiện thanh toán tốt hơn bên cạnh đồng tiền mặt để phục vụ cho nhu cầu thanh toán hàng ngày của người dân và những thương nhân, những nhà doanh nghiệp, các hoạt động mua bán, trao đổi, thanh toán của nền kinh tế sẽ kém đi, nguồn vốn bị bất động và bị chiếm dụng sẽ lớn hơn và sự hội nhập kinh tế từ bên trong sẽ chậm lại. Không có những cơ chế “hội nhập” như thế, các phí tổn liên quan đến việc huy động và sử dụng đồng vốn trong nền kinh tế sẽ cao hơn rất nhiều. Mặt khác, trong môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt trên thị trường tiền tệ, tài chính khi mà ở nước ngoài, các ngân hàng “khổng lồ” cũng phải kết hợp với nhau để tăng cường năng lực cạnh tranh và chia sẻ rủi ro, các ngân hàng non trẻ với số vốn ít ỏi của chúng ta nên mạnh dạn thực hiện hợp nhất. Điều này không những giúp tạo ra những ngân hàng có số vốn lớn hơn, có tài sản có lớn hơn, có ban điều hành và bộ máy tinh nhuệ hơn, mà còn làm tăng sự tín nhiệm của người gửi tiền, của doanh nghiệp đối với ngân hàng, tăng trưởng khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Hợp nhất, liên kết là những vấn đề mà ngân hàng Việt Nam sẽ phải quan tâm rất nhiều trong quá trình thực hiện hội nhập từ bên trong. Hội nhập kinh tế từ bên trong là một sự khai thông mọi nguồn lực kinh tế của đất nước. Tài nguyên, đồng vốn, lao động, công nghệ, kỹ năng quản lý sẽ được lưu thông khắp mọi nơi, mọi khu vực, mọi ngành sản xuất để phát huy hiệu quả và sản xuất cao nhất. Nội lực trong nước được tích tụ và mạnh mẽ hơn bao giờ. Khi toàn thể cộng đồng cùng hội nhập vào mục tiêu dân giàu nước mạnh, chắc chắn dân ta sẽ giàu, nước ta sẽ mạnh. Ngày 29/1/1998
  25. Thanh toán nội vùng ASEAN: Một bài toán khó Phương án sử dụng đồng nội tệ tại các nước ASEAN vào việc thanh toán ngoại thương giữa các nước này là sáng kiến đáng biểu dương. Trong khi cơn bão tài chính khu vực đang nhấn chìm đồng nội tệ trong mối quan hệ với đô la Mỹ, biện pháp này giống như một chiếc phao cứu sinh. Mục tiêu kỹ thuật của biện pháp này rất đơn giản. Nếu đồng nội tệ được sử dụng để thanh toán đối ngoại, nhu cầu trước mắt về đô la Mỹ sẽ giảm ngay và góp phần ngăn chặn sự sụt giá của nội tệ. Mặt khác, khi có thể sử dụng chính đồng tiền của mình để mua hàng của nước bạn, mỗi nước sẽ chủ động trong việc nhập khẩu hàng hóa và sự phụ thuộc vào dự trữ đô la Mỹ để nhập khẩu của mỗi nước sẽ giảm đáng kể. Nói cách khác, khối lượng ngoại thương của các nước ASEAN, với biện pháp này, sẽ có thể tiếp tục duy trì và phát triển mà không cần tới đồng đô la Mỹ. Trong tương lai, các quan hệ thanh toán sẽ không chỉ giới hạn trong phạm vi song phương mà có thể mở ra đa phương giữa các nước khối ASEAN. Một động lực thúc đẩy phát triển ngoại thương và kinh tế của tự thân ASEAN sẽ được hình thành, bằng chính nội lực và ý thức kỷ luật trong điều hành chính sách tiền tệ của mỗi nước. Các nước ASEAN sẽ đoàn kết, gắn bó và tin tưởng vào nhau hơn. Người ta cũng đang nói đến đồng tiền chung khu vực theo kinh nghiệm của EU. Tuy còn rất xa mới đạt đến tình trạng trật tự và ổn định tiền tệ khu vực, nhưng niềm lạc quan có được trong cơn bão táp như thế này là dấu hiệu chứng tỏ các nước ASEAN sẽ sớm vượt qua vùng biển sóng gió để đến bến bờ phẳng lặng và thịnh vượng hơn. Tuy nhiên, các vấn đề kỹ thuật liên quan đến việc triển khai phương án nói trên không hề đơn giản. Nói sử dụng nội tệ mỗi nước, nhưng đằng sau mỗi đồng nội tệ đều sừng sững cái bóng của đô la Mỹ. Trong hiệp định song phương về thanh toán, người ta buộc phải dựa vào một mẫu số chung là đô la Mỹ. Tỷ giá của mỗi đồng nội tệ đối với đô la Mỹ phải được đảm bảo cố định ít nhất trong suốt một thời kỳ được thỏa thuận trước. Những nước nhập siêu cũng vẫn phải chuẩn bị dự trữ đô la Mỹ cho việc quyết toán cuối kỳ. Tỷ giá cố định trong hiệp định song phương sẽ gây sức ép trong chính sách tỷ giá của mỗi nước, hậu quả là có thể ở mỗi nước đều hình thành cơ chế hai tỷ giá đối với đô la Mỹ: tỷ giá thanh toán trong ASEAN và tỷ giá thanh toán ngoài ASEAN. Cơ chế này có tạo ra rào cản đối với các giao dịch ngoài ASEAN hay không và WTO sẽ nhìn nhận thế nào về việc này là những vấn đề mà chính phủ các nước ASEAN không thể không quan tâm. Hơn nữa, nếu tỷ giá trong hiệp định là cố định, mỗi chính phủ đều cần phải thiết lập các cơ chế điều chỉnh khá phức tạp, trong điều kiện tỷ giá ngoài hiệp định bị biến động mạnh.
  26. Nếu xử lý các tình huống phức tạp không khéo léo, mục tiêu phát triển ngoại thương “nội ASEAN” sẽ bị ảnh hưởng vì quan hệ ngoại thương từ trên cơ sở thanh toán tiền tệ sẽ có thể chuyển sang cơ sở hàng đổi hàng. Sự lựa chọn của các doanh nghiệp từ cả hai nước sẽ dần dần bị bó hẹp. Đối với Việt Nam, một vấn đề cần xử lý khi tham gia triển khai phương án là tình trạng thiếu nguồn nội tệ. Hiện nay, các doanh nghiệp không chỉ ở trong tình trạng thiếu đô la thanh toán mà còn thiếu cả tiền đồng để thanh toán. Thậm chí, trong quan hệ đối ngoại, việc thiếu nguồn vốn tiền đồng còn bức xúc hơn. Đối với một số doanh nghiệp lớn có nhiều đô la, vấn đề đặt ra cho họ khi tham gia phương án là họ phải bán đô la lấy tiền đồng để thanh toán. Tiến trình này chắc chắn không lấy gì thích thú. Trị giá nhập khẩu của Việt Nam với các nước ASEAN trong năm 1997 khoảng 3 tỷ đô la (theo số liệu trên TBKTSG, 6- 3-1998), tức khoảng 39.000 tỷ đồng Việt Nam. Con số này không nhỏ. Liệu rằng, để thúc đẩy khả năng thanh toán bằng nội tệ, hệ thống ngân hàng Việt Nam và sau lưng họ là ngân hàng nhà nước đã sẵn sàng nguồn nội tệ để hỗ trợ cho các doanh nghiệp chưa? Thật ra, việc Việt Nam tham gia phương án sử dụng đồng nội tệ trong thanh toán mậu dịch ASEAN còn có một điểm tích cực nữa là sẽ thúc đẩy mạnh hơn tiến trình phi đô la hóa nền kinh tế, một tiến trình mà lâu nay chính phủ mong muốn nhưng chưa thực hiện được. Để đồng Việt Nam có thể đảm đương vai trò thanh toán quốc nội lẫn quốc tế, khối lượng tiền tệ bằng đồng Việt Nam sẽ phải tăng lên mạnh mẽ. Điều này sẽ tăng cường vai trò của đồng bạc trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế Việt Nam, nhưng đồng thời cũng đặt ra những vấn đề khó khăn phải xử lý đúng đắn trong chính sách tiền tệ vĩ mô nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định tiền tệ, phục vụ tăng trưởng kinh tế. Tháng 4/1998
  27. Chiến thắng trong toàn cầu hóa Xu thế hội nhập khu vực và toàn cầu hóa sẽ phá vỡ các bức tường thuế quan (và phi thuế quan) giữa các nước, biến thị trường toàn cầu thành một đấu trường trong đó các doanh nghiệp sẽ là những vận động viên đua tranh để giành phần thắng, theo một luật chơi chung. Doanh nghiệp phải xác định mục tiêu chiến lược và biết cách phân phối sức lực lẫn tham vọng trong từng thời điểm để đạt mục tiêu. Trong cuộc chạy đua marathon, vận động viên thắng cuộc không chỉ là người chạy nhanh nhất, mà còn là người có ý chí muốn về đích đầu tiên mạnh mẽ nhất, biết chuẩn bị đầy đủ thế lực và kỹ thuật để chạy nhanh hơn và biết cách phân bố sức lực để hoàn tất một đoạn đường dài. Cũng vậy, trên thị trường, doanh nghiệp thắng cuộc là doanh nghiệp có ý chí cạnh tranh mạnh hơn, được trang bị tốt hơn về vốn liếng, quy trình công nghệ, kỹ năng quản lý đồng thời có một chiến lược kinh doanh phù hợp. Binh pháp Tôn Tử có nói: Biết mình, biết người, trăm trận trăm thắng. Một doanh nghiệp muốn thắng trên thương trường, trước hết phải biết mình, biết về những sở trường, sở đoản của mình với tinh thần trung thực, cầu thị. Và họ phải tìm hiểu đối thủ, biết về sở trường, sở đoản của đối thủ cũng trên cơ sở các thông tin trung thực, được đánh giá một cách chính xác, khách quan. Họ phải học luật chơi của thị trường và hiểu rõ luật chơi đó: Ai không thể cung cấp sản phẩm và dịch vụ với phí tổn thấp hơn và chất lượng cao hơn sẽ bị loại. Họ cũng phải có mục tiêu dài hạn và biết cách phân phối sức lực và tham vọng trong từng thời điểm để đạt mục tiêu đó. Trên thị trường, những kẻ mong muốn đạt được lợi nhuận cao nhất trong thời gian ngắn nhất - những kẻ ăn xổi ở thì - thường sớm bị loại khỏi cuộc chơi. Ý chí cạnh tranh mạnh mẽ là bước khởi đầu cần thiết nhưng chưa đủ. Mong muốn làm chủ thị trường sẽ vĩnh viễn là một giấc mơ không hiện thực của các doanh nghiệp nếu họ không chuẩn bị, hoặc được hỗ trợ để chuẩn bị, về năng lực tài chính (đồng vốn), về kỹ thuật (quy trình công nghệ) và về kỹ năng quản lý (con người). Về đồng vốn, xét từ góc độ bản thân doanh nghiệp, có thể thấy rõ là doanh nghiệp có nguồn vốn tự có lớn sẽ có ưu thế hơn các doanh nghiệp có nguồn vốn đi vay lớn. Lý do là chân trời thời gian của các doanh nghiệp thứ nhất dài hơn của doanh nghiệp thứ hai và họ không phải trả phí tổn cao ngay từ ban đầu cho việc xây dựng và phát triển doanh nghiệp. Nhưng muốn có vốn tự có lớn, doanh nghiệp phải biết mở rộng cơ cấu vốn. Về mặt này, mô hình doanh nghiệp cổ phần xem ra có lợi thế hơn cả trong việc tăng cường sức mạnh cạnh tranh.
  28. Mặt khác, giữa các doanh nghiệp cùng đi vay, hiển nhiên là doanh nghiệp nào được vay với lãi suất thấp hơn và thời hạn vay dài hơn sẽ có ưu thế cạnh tranh hơn. Ngoài ra, xét trên khía cạnh tích tụ đồng vốn, chúng ta dễ dàng thấy các doanh nghiệp có chủ trương chia tất cả số lợi nhuận làm ra được trong năm cho các cổ đông sẽ dần bị đánh bại bởi các doanh nghiệp có chủ trương sử dụng phần lớn số lợi nhuận để tăng vốn. Về mặt vĩ mô, một nước muốn tạo lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp của mình phải thiết lập được những cơ chế tạo thuận lợi cho việc mở rộng mặt bằng vốn, có chính sách thuế khuyến khích việc tích lũy vốn (hướng về tương lai), có chính sách lãi suất và tín dụng nhằm giúp doanh nghiệp xây dựng ưu thế cạnh tranh dài hạn. Các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển có thuận lợi trong việc tiếp cận quy trình công nghệ mới vì ngành công nghiệp của họ đi sau. Tuy nhiên có những vấn đề cần lưu ý. Việc chọn lựa công nghệ cao đòi hỏi vốn lớn (điểm yếu của doanh nghiệp) và kỹ năng quản lý cao (điểm yếu của doanh nghiệp và của hệ thống đào tạo trong nước). Việc chuyển giao công nghệ có thể rất tốn kém (mua máy móc thiết bị đắt giá), hoặc không có lợi thế cạnh tranh (mua dây chuyền sản xuất lạc hậu được thải ra từ các nước công nghiệp). Như vậy, để xây dựng lợi thế cạnh tranh, không những mỗi doanh nghiệp cần có một chiến lược tiếp nhận công nghệ mới cho chính mình, mà chính phủ cũng cần có một chiến lược công nghệ nhằm giúp các doanh nghiệp thực hiện việc hiện đại hóa công nghệ hướng tới mục tiêu tăng cường lợi thế cạnh tranh. Việc tiếp nhận công nghệ mới sẽ trở nên vô ích nếu sản phẩm được chế tạo từ quy trình công nghệ đó gánh chịu chi phí cao hơn. Có một nguyên tắc được xác lập: ai có thể tạo ra sản phẩm rẻ hơn từ một quy trình công nghệ thì có thể giành lấy công nghệ đó từ người phát minh. Việc hiện đại hóa công nghệ của một nước cần những quyết định kiên quyết và đau đớn: giải thể những xí nghiệp không còn đủ sức cạnh tranh do máy móc thiết bị quá lạc hậu và phí tổn sản xuất quá cao. Đây không phải là quyết định dễ dàng vì phải giải quyết hàng loạt các vấn đề phát sinh như làm thế nào thay thế các xí nghiệp cũ bằng các xí nghiệp hiện đại hơn, thu nhận số công nhân vừa mất việc vào các xí nghiệp mới hoặc vào các ngành khác, tổ chức đào tạo, huấn luyện kỹ năng cho họ. Tuy nhiên, đây là điều không thể không làm, nếu muốn xây dựng lợi thế cạnh tranh cho đất nước. Lao động có kỹ năng sẽ là một lợi thế về lâu dài, một lợi thế có tính quyết định. Thiếu lao động có kỹ năng dẫn tới không có người sử dụng thiết bị máy móc công nghệ cao, đồng vốn dành cho đầu tư công nghệ cao sẽ bị lãng phí, kết quả là phí tổn sản xuất của doanh nghiệp sẽ lớn và cuối cùng doanh nghiệp sẽ bị loại dưới sức ép của cạnh tranh. Trong tương lai, doanh nghiệp thắng cuộc sẽ là doanh nghiệp có chính sách nhân sự tốt, biết đào tạo và thu hút nhân tài. Tuy nhiên, chính sách này cũng có nhược điểm: sử dụng lao động có kỹ năng cao phải trả lương cao, điều này làm tăng phí tổn sản xuất hoặc làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Ở đây, lại một lần nữa, doanh nghiệp thắng cuộc sẽ là doanh nghiệp giải quyết được mâu thuẫn đó trên cơ sở hài hòa lợi ích giữa các cổ đông và người lao động hướng tới mục tiêu chung là xây dựng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Các nước đang phát triển có một lợi thế: mức lương của lao động có kỹ năng cao của họ thường thấp hơn mức lương tương tự tại các nước công nghiệp hay mới công nghiệp hóa. Nhưng ưu thế này
  29. cũng không trọn vẹn. Tình trạng chảy máu chất xám từ các nước nghèo liên tục xảy ra trong khi hệ thống giáo dục đại học của họ không cung ứng đủ lực lượng lao động có kỹ năng cho nhu cầu công nghiệp hóa, thêm vào đó, các nước này lại không có chính sách đúng đắn về trọng dụng nhân tài. Cuối cùng các doanh nghiệp đã được trang bị đầy đủ ý chí và thể lực để tham gia cuộc đấu cũng phải lựa chọn mục tiêu thắng cuộc. Người lựa chọn mục tiêu lợi nhuận tối đa là những người hoạt động rất giỏi trong ngắn hạn. Họ là những người đầu tư cho hiện đại, với khả năng cắt giảm mọi chi phí hoạt động để đẩy tỷ lệ lợi nhuận trên vốn lên cao. Doanh nghiệp của họ được tổ chức tinh gọn, hiệu quả, họ sẵn sàng hy sinh cả doanh nghiệp (bước ra khỏi cuộc đấu) nếu thấy duy trì doanh nghiệp là không hiệu quả. John Akers, Tổng giám đốc IBM tuyên bố: “IBM tồn tại với mục tiêu mang lại lợi nhuận cho vốn đầu tư của các cổ đông”, nghĩa là khi mục tiêu lợi nhuận không đạt được, doanh nghiệp không còn lý do để tồn tại. Người lựa chọn mục tiêu chiếm lĩnh thị trường (mở rộng thị phần tối đa) là những người giỏi hoạt động dài hạn. Mô hình tổ chức doanh nghiệp, chiến lược hành động, phương thức quản lý và chính sách nhân sự của họ có khác hơn. Tinh thần đồng đội, việc làm suốt đời, sự hợp nhất quyền lợi giữa cổ đông và người lao động (đôi khi quyền lợi người lao động được coi trọng hơn), sự chấp nhận một tỷ lệ sinh lời trên vốn đầu tư thấp và một mức lãi cổ tức thấp (dành tích lũy cho phát triển tương lai) là những đặc điểm nổi bật của nhóm doanh nghiệp thứ hai. Cả hai nhóm doanh nghiệp đều có những thuận lợi cũng như những nhược điểm. Nhóm hướng đến chiếm lĩnh thị trường sử dụng khả năng hoạt động với tỷ lệ sinh lời thấp hơn ngưỡng tối thiểu của nhóm nhằm mục tiêu lợi nhuận tối đa để buộc nhóm này bỏ cuộc do mất dần thị phần. Ngược lại, nhóm hướng đến lợi nhuận tối đa, gồm những chuyên gia trong việc cắt giảm chi phí có thể đánh bại các doanh nghiệp thuộc nhóm kia bằng cách buộc họ phải chịu thua lỗ triền miên. Không thể nói trước được doanh nghiệp nào sẽ thắng, nhưng điều chắc chắn là việc lựa chọn mục tiêu sẽ quyết định ưu thế và tương lai của doanh nghiệp trên một đấu trường nhất định. Doanh nghiệp nào chọn được mục tiêu phù hợp với yêu cầu của đấu trường (lĩnh vực sản xuất kinh doanh) sẽ là người thắng cuộc. Ngày 3/2/2000
  30. Phát triển ngoại thương và vấn đề kiểm soát lạm phát Tăng trưởng kinh tế bằng con đường xuất khẩu là lựa chọn chiến lược phát triển rất thành công của các nước Đông Á, như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan. Người ta đã ca tụng sự thần kỳ kinh tế của Nhật Bản trong thập niên 60 và tán dương sự xuất hiện đầy tự hào của những con hổ Châu Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore trong thập niên 1990, gọi họ là những nước công nghiệp mới - NICs - những nước đã bước vào thế giới công nghiệp phát triển bằng con đường xuất khẩu. Họ đã có một chiến lược xuất khẩu rất thông minh với lộ trình rõ ràng, đi từ xuất khẩu nguyên liệu, khoáng sản, sang xuất khẩu sản phẩm có hàm lượng lao động lớn, và cuối cùng là xuất khẩu sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao. Sự thành công của họ dựa trên yếu tố rất then chốt là duy trì hệ số ICOR thấp, nghĩa là đồng vốn đầu tư khả dụng vào nền kinh tế mang lại hiệu quả cao đối với sự tăng trưởng của GDP. Nhưng tăng trưởng kinh tế bằng con đường xuất khẩu không phải là lựa chọn dễ dàng. Bên cạnh nhiều thách thức khác, đẩy mạnh xuất khẩu đối với những nước đang phát triển, trong đó phần xuất khẩu nguyên liệu thô, khoáng sản, nông lâm hải sản chiếm tỷ trọng chủ yếu trong kim ngạch xuất khẩu, cũng đặt ra vấn đề kinh tế vĩ mô là nguy cơ lạm phát gia tăng, đặc biệt là sự gia tăng giá cả lương thực thực phẩm vốn luôn tạo áp lực nặng nề lên đời sống của người dân nghèo và trở thành vấn đề mang tính chất xã hội và chính trị. Khắc phục những hệ quả không mong muốn của một chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu đối với giá cả trong nước không phải là điều dễ dàng, nếu không có chính sách tỷ giá và sử dụng dự trữ ngoại tệ quốc gia đúng đắn, phù hợp, một chiến lược công nghiệp hóa hiệu quả, một môi trường đầu tư cởi mở và trên hết một ý chí tiết kiệm mạnh mẽ của toàn thể cộng đồng. Kinh nghiệm của một số các nước phát triển ở châu Phi và các nước Nam Á khác có sự lựa chọn chiến lược phát triển nửa vời - một mặt vẫn muốn tập trung đầu tư không hiệu quả cho những ngành công nghiệp nội địa nhằm thay thế nhập khẩu và bảo vệ chúng bằng các chính sách bảo hộ, mặt khác vẫn phải xuất khẩu nông sản và nguyên liệu thô vì nhu cầu ngoại tệ, nhưng vẫn không thể chuyển sang xuất khẩu sản phẩm hàm lượng công nghệ cao vì không còn vốn để đầu tư cho các ngành công nghiệp xuất khẩu - đã cho thấy kết quả đáng buồn là tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp nội địa ngày càng kém, năng suất và thu nhập của người lao động không tăng nhiều trong khi tình hình lạm phát lại luôn vượt khỏi tầm kiểm soát của chính phủ. Nước ta hiện nay đang thể hiện quyết tâm chống lạm phát rất cao và chính phủ đang vận dụng mọi biện pháp có thể để kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, hiện vẫn còn một số lúng túng trong việc áp dụng các biện pháp ngoại thương như một công cụ hổ trợ để ổn định giá cả. Nhiều nhà phân tích đang cho rằng tình trạng lạm phát của nền kinh tế Việt Nam có thể có
  31. nguyên nhân từ nhập khẩu, do tình hình giá dầu hoả tăng mạnh, kéo theo sự tăng giá của các sản phẩm từ dầu cũng như các sản phẩm và dịch vụ khác sử dụng nhiên liệu. Khái niệm “nhập khẩu lạm phát” đang được phổ biến rộng rãi và có thể dẫn đến hiểu lầm là nếu hạn chế nhập khẩu hàng hóa giá cao từ nước ngoài, chúng ta có thể giảm bớt được tốc độ lạm phát của nền kinh tế nội địa. Nhận xét này chỉ có thể đúng với hai điều kiện sau đây: 1/ Chúng ta có thể nhập khẩu được những loại hàng hóa tương tự với một giá thấp hơn. 2/ Chúng ta có thể sản xuất từ trong nước những sản phẩm tương tự với giá rẻ hơn để thay thế. Trên thực tế, hai điều kiện này không xảy ra và việc nhập khẩu xăng dầu, phân bón với giá cao là không thể tránh được. Nếu không nhập khẩu các loại hàng thiết yếu này, chúng ta sẽ tạo ra sự khan hiếm trong nước và càng khiến giá cao hơn. Tuy nhiên, hạn chế nhập khẩu những mặt hàng xa xỉ khác để tiết kiệm ngoại tệ, giảm nhập siêu là điều nên làm, với hệ quả phải chấp nhận là sự tăng giá của các mặt hàng đó trên thị trường trong nước. Trong khi xuất khẩu là một yếu tố gây ra lạm phát (nền kinh tế mất đi một lượng hàng hóa và được thêm một lượng tiền) thì hiển nhiên nhập khẩu là công cụ hữu hiệu làm giảm bớt lạm phát (nền kinh tế có thêm một lượng hàng hóa và giảm đi một lượng tiền). Như vậy, một chiến lược ngoại thương nhất định vào một thời điểm nhất định sẽ gây ra tác động quan trọng đối với mục tiêu ổn định giá cả trong nước (kiểm soát lạm phát) và mục tiêu tăng trưởng kinh tế (phát triển sản xuất). Thật ra, khó có thể đánh đổi giữa hai mục tiêu này vì mục tiêu nào cũng quan trọng và có những giá trị ưu tiên như nhau. Nếu chỉ đơn thuần sử dụng đồng ngoại tệ kiếm được qua việc xuất khẩu hàng hóa rồi nhập khẩu một số hàng hóa thay thế khác để thực hiện sự cân đối cung cầu trên thị trường, nhằm ổn định giá cả trước mắt, thì thật vô nghĩa. Kinh nghiệm thành công của các nước Đông Á chỉ ra rằng đồng ngoại tệ kiếm được từ xuất khẩu khoáng sản, nguyên liệu thô, nông hải sản phải đựợc dùng để mua máy móc thiết bị cho các ngành công nghiệp thâm dụng lao động (labor intensive) để có thể xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp có hàm lượng lao động lớn. Những đồng ngoại tệ kiếm được từ việc xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng lao động lớn lại phải được tiếp tục sử dụng cho việc nhập khẩu máy móc thiết bị, quy trình công nghệ cao cho những ngành công nghiệp thâm dụng công nghệ hay thâm dụng vốn (technology intensive, capital intensive) để những ngành này, trong một tương lai không xa có thể xuất khẩu những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao. Khoảng cách thời gian của những nỗ lực đầu tư nói trên thông thường đều gây ra một chu kỳ lạm phát. Những chu kỳ này được khắc phục bằng nỗ lực tiết kiệm của toàn thể cộng đồng dân tộc (cả nhà nước lẫn nhân dân), cải cách thủ tục hành chính, quyết tâm xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất tốt (đường sá, điện nước, trường học, bệnh viện, hệ thống an sinh xã hội). Thời gian đầu tư sẽ được rút ngắn, hệ số ICOR sẽ giảm, hiệu quả đầu tư sẽ tăng cao, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ tiến rất nhanh và lạm phát sẽ được kiểm soát. Bằng những nỗ lực vì lợi ích lâu dài của nền kinh tế đất nước, những biện pháp điều chỉnh ngắn hạn và chiến lược phát triển dài hạn mới có thể được kết hợp một cách đồng bộ và hài hòa để đạt được cả hai mục tiêu mà tất cả chúng ta đều mong muốn, đó là tăng trưởng và ổn định. Năm 2000
  32. Doanh nhân Việt Nam trước thềm hội nhập Trước hết phải biết lo. Doanh nhân Việt Nam cần nhận thức đầy đủ rằng các lá chắn bảo vệ mà nhà nước đã dựng lên cho mình trước nay sẽ không còn nữa. Đôi cánh gà mẹ sẽ thu lại, không còn che chở cho đàn gà con, và chúng phải chạy ra vườn tự mình tranh giành miếng ăn với những chú gà mạnh mẽ khác. Các doanh nhân, doanh nghiệp của chúng ta còn non trẻ, kinh nghiệm thị trường chưa nhiều, kỹ năng quản lý, trình độ công nghệ và năng lực tài chính còn cách biệt rất xa so với những đối thủ quốc tế. Nếu không biết lo sẽ không biết chuẩn bị mọi thứ để có thể tồn tại trong một môi trường cạnh tranh quyết liệt sắp tới. Và nếu không chuẩn bị đầy đủ, biết người biết ta, thì rất khó giành lấy thắng lợi. Những người biết lo còn là những người khiêm tốn, và đó là một đức tính cốt lõi của thành công. Nhưng lo lắng không hề đồng nghĩa với sợ hãi và càng không đồng nghĩa với khiếp nhược. Người dũng cảm biết lo trước khi chiến đấu, còn khi đã lâm trận rồi thì chỉ có quyết tâm chiến thắng. Thứ hai, phải biết chống chọi trên sân nhà. Phải phòng thủ vững vàng trước đã, công cuộc chinh phục còn lâu lắm. Khi các rào cản thuế quan và hạn ngạch bị dỡ bỏ, sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh với sản phẩm ngoại ngay trên thị trường trong nước. Chúng ta phải giành lấy chiến thắng ngay trên sân nhà, trước khi tính chuyện đi chinh phục. Liệu các doanh nghiệp Việt Nam, nhà nông Việt Nam có khả năng cung cấp những sản phẩm cùng loại cho người tiêu dùng Việt Nam với giá cả thấp hơn hàng nước ngoài với cùng chất lượng tương đương chưa? Làm được như thế không phải là điều dễ dàng, tuy trên sân nhà, sản phẩm Việt Nam có ưu thế tiêu thụ tại chỗ, không phải chịu chi phí vận chuyển tốn kém. Chi phí vận chuyển sẽ là một rào cản tư nhiên và có xu hướng ngày càng tăng, khi giá dầu thế giới ngày càng gia tăng. Nhưng ưu thế về không gian không phải là tất cả. Chúng ta đang nói nhiều đến vấn đề thương hiệu, nhưng quan trọng hơn cả là chất lượng sản phẩm. Chất lượng sản phẩm tốt và ổn định mới là căn cơ của thương hiệu. Đó còn là trách nhiệm và cam kết lâu dài giữa doanh nghiệp Việt Nam và người tiêu dùng Việt Nam trong việc tôn trọng lợi ích của người tiêu dùng Việt Nam. Khẩu hiệu “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” sẽ mãi mãi là một sáo ngữ vô dụng nếu doanh nghiệp Việt Nam không tạo được sự tín nhiệm bền vững của người tiêu dùng Việt Nam đối với sản phẩm của mình. Do đó, thắng được trên sân nhà là bài trắc nghiệm hết sức quan trọng và không hề dễ dàng. Các doanh nghiệp cần được hỗ trợ, trong phạm vi cho phép của luật chơi toàn cầu, của nhà nước. Chính sách thuế, chính sách tiền tệ, chính sách tín dụng phù hợp để giúp doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất là cần thiết, nhưng chưa đủ. Bộ máy hành chính phải đảm bảo tốt vai trò hậu cần của doanh nghiệp, muốn thế, phải đổi vai trò từ kiểm soát, giám sát sang vai trò thúc đẩy, hỗ trợ. Cái nhìn về doanh nhân, doanh nghiệp cần đổi mới. Đó không phải là những người thuộc thành phần bóc lột phải trả tiền cho những giấy phép sản
  33. xuất kinh doanh, mà các khoản tiền lót tay chỉ là một cách tái phân phối lợi tức rất hợp đạo lý mà người nhận không hề cảm thấy cắn rứt lương tâm chút nào. Vượt qua não trạng đối kháng giai cấp ấy để đi đến chỗ bộ máy hành chính và hệ thống doanh nghiệp tư nhân đều cảm thấy có cùng lợi ích chung và người công chức sẵn lòng đồng hành với doanh nhân trên mặt trận kinh tế, mới có thể đảm bảo thắng lợi của mặt trận đó trên sân nhà. Nhà nước không phải là một viên tướng lãnh điều khiển ba quân là những doanh nhân theo kiểu chỉ đâu đánh đó. Nhà nước không thể và không nên quyết định thay cho doanh nhân. Nhà nước phải là một vị minh quân sáng suốt, biết tin tưởng và trao toàn quyền cho doanh nhân là những tướng lãnh trên các trận địa. Những vị tướng này phải dám nhận trách nhiệm và được toàn quyền quyết định đánh ở đâu, lúc nào và như thế nào. Chinh phục thị trường thế giới là một việc không đơn giản. Cần thời gian và nỗ lực bền bỉ xây dựng các vương quốc doanh nghiệp với những lãnh chúa tài ba, dày dạn kinh nghiệm trận mạc và khả năng mở rộng và duy trì vương quốc đã được chứng nghiệm. Hiện nay chúng ta có thể tự hào là doanh số xuất khẩu đã lên tới hàng chục tỷ đô la, nhưng cơ cấu chủ yếu vẫn là xuất khẩu thô, hàm lượng công nghệ và trí tuệ còn rất thấp. Chúng ta có quyền tham vọng, nhưng cũng cần biết rằng phải trải qua nhiều đời, nhiều thế hệ doanh nhân tài giỏi, hoạt động thành công mới có thể biến tham vọng đó thành hiện thực. Phải biết đoàn kết và xây dựng đươc sự tín nhiệm tập thể mới có khả năng làm ăn chung với nhau. Có khả năng làm ăn chung, mới có thể xây dựng nên những vương quốc doanh nghiệp lớn mạnh. Đó là điều hiện nay chúng ta đang thiếu. Hơn nữa, xét về mặt lợi ích quốc gia, vấn đề sản phẩm do ai làm ra để chinh phục thị trường thế giới không quan trọng bằng sản phẩm đó được làm ra từ đâu. Nếu Việt Nam có thể trở thành bệ phóng cho bất cứ sản phẩm nào sản xuất từ Việt Nam chiếm lĩnh được thị trường thế giới, đó chính là một thành tích lớn trong tiến trình hội nhập. Suy cho cùng, nếu sản phẩm làm từ Việt Nam, dù từ một công ty đa quốc gia hay một công ty bản xứ, cũng nghĩa là nhiều công ăn việc làm đang được tạo ra tại Việt Nam, lao động Việt Nam có năng suất cao hơn, công nghệ áp dụng tại Việt Nam tiên tiến hơn và môi trường đầu tư tại Việt Nam tốt hơn. Nếu tính cạnh tranh quốc gia được nâng cao và duy trì một cách bền vững trong một thời gian dài, chúng ta có quyền mơ giấc mơ chinh phục thị trường thế giới.
  34. Nông nghiệp Việt Nam trên con đường hội nhập (1) Trên tiến trình toàn cầu hóa, các nước đã phát triển thường có xu hướng chậm dỡ bỏ những biện pháp bảo vệ và hỗ trợ nền nông nghiệp của mình hơn là những nước đang phát triển. Số liệu thống kê của 16 nước công nghiệp phát triển (OECD) cho thấy tổng số tiền họ đã trợ cấp cho sản xuất và xuất khẩu nông phẩm cũng như thu từ việc thiết lập các rào cản thuế quan cho nông phẩm nhập khẩu trong năm 2001 lên đến 230,7 tỷ đô la, trong số này, riêng Mỹ là 49 tỷ đô la, Nhật 47,2 tỷ đô la và Hàn Quốc 16,8 tỷ đô la. Chính sách bảo hộ nông nghiệp của OECD cho thấy tuy trình độ công nghiệp hóa nông nghiệp và năng suất lao động của họ rất cao (2 triệu nông dân Mỹ sản xuất một số lượng lương thực bằng 370 triệu nông dân Trung Quốc), một số không nhỏ sản phẩm nông nghiệp của họ vẫn không thể cạnh tranh với các nông phẩm cùng loại của các nước nông nghiệp đang phát triển, lý do chính là vì yêu cầu về mức thu nhập bình quân của nông dân các nước OECD lớn hơn rất nhiều đồng nghiệp của họ tại các nước đang phát triển, dẫn đến giá nông phẩm của họ cao hơn trên thị trường. Những phán quyết của chính quyền Mỹ liên quan đến các vụ kiện chống bán phá giá cá ba sa, tôm nuôi vào thị trường Mỹ của các nhà xuất khẩu Việt Nam và các nước đang phát triển khác phản ánh rõ rệt chính sách bảo hộ nông nghiệp của các nước công nghiệp phát triển. Họ vẫn muốn tiếp tục duy trì một lực lượng nông dân, dù nhỏ, và một nền nông nghiệp tiên tiến, dù phải trả một cái giá cao về kinh tế lẫn ngoại giao. Điều này cũng cho thấy, nông dân Việt Nam không có gì phải sợ hãi trên bước đường hội nhập. Nông nghiệp Việt Nam đang được cải thiện cơ sở hạ tầng, được cung cấp con giống cây giống tốt, nông dân đang được nhận chương trình giáo dục khuyến nông thực tế Đây là những sự giúp đỡ gián tiếp của nhà nước và vẫn được WTO chấp nhận cho duy trì. Nước ta vẫn đang thiết lập những rào cản về thuế quan đối với hàng nông sản nhập khẩu (khoảng 30% so với 252% của EU, 121% của Mỹ và 120% của Canada), nhưng việc dỡ bỏ rào cản này sau khi vào WTO không gây ảnh hưởng nhiều đối với nông dân Việt Nam cũng như đối với ngân sách nhà nước vì giá trị nông sản nhập khẩu không lớn và người tiêu dùng Việt Nam vẫn quen dùng nông sản Việt Nam hơn. Sầu riêng Thái Lan rất ngon, nhưng ăn hoài dễ ngán, và về lâu dài, sầu riêng Việt Nam với những giống mới, được trồng trên các trang trại Việt Nam sẽ được người tiêu dùng Việt Nam ưa chuộng hơn. Các khoản trợ giá trực tiếp cho nông sản như trợ giá sản xuất, trợ giá xuất khẩu rất nhỏ và hầu như không có. Nông dân Việt Nam rõ ràng oan ức khi bị kiện bán phá giá tôm nuôi và cá ba sa. Với chi phí lao động thấp và yêu cầu về mức thu nhập rất khiêm tốn của nông dân Việt Nam, thêm vào đó, với bản chất thông minh, ham học hỏi, cần cù lao động, cầu tiến, không bảo thủ, nông dân ta có khả năng tiếp thu rất nhanh công nghệ nuôi trồng mới để cải tiến
  35. kỹ thuật nuôi trồng, giảm giá thành và nâng cao chất lượng nông sản. Những lợi thế đó đã, đang và sẽ tiếp tục giúp cho giá thành nông sản xuống thấp, khiến cho nông sản Việt Nam được chào bán trên thị trường thế giới với giá rất cạnh tranh. Chưa vào WTO, cá ba sa và tôm nuôi của Việt Nam đã thắng thế trên thị trường Mỹ. Việt Nam đang là một trong những nước đứng hàng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, cà phê, hạt tiêu, hạt điều. Viễn cảnh của thị trường nông sản thế giới trong những thập niên tới rất lạc quan cho chúng ta, với tư cách là một nước xuất khẩu ròng nông sản. Trung Quốc đang trở thành thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới và điều đó sẽ gây tác động không nhỏ lên giá gạo trên thị trường thế giới. Trên đà công nghiệp hóa mạnh mẽ, số lượng đất canh tác của Trung Quốc đang giảm từ 90 triệu ha năm 1998 còn 76 triệu ha măm 2003, khiến cho sản lượng màu quy thóc giảm từ 392 triệu tấn năm 1998 còn 322 triệu tấn năm 2003. Ngân Hàng Thế Giới dự đoán rằng trong năm 2005, Trung Quốc sẽ bắt đầu nhập khẩu ròng 14 triệu tấn lương thực, ngũ cốc. Con số này sẽ tăng lên 19 triệu tấn vào năm 2010 và 57 triệu tấn vào năm 2020. Các nước Phi Châu sẽ chưa cải thiện được nhanh chóng tình trạng thiếu hụt nông phẩm của họ trong thập niên tới, và họ vẫn sẽ là những nước nhập khẩu ròng nông sản, bằng nguồn tài chính của họ hay bằng viện trợ quốc tế. Điều hiển nhiên là, trên tiến trình hội nhập, nông dân Việt Nam, với những ưu thế sẵn có của mình, đang có nhiều cơ hội hơn để làm giàu từ thị trường nông phẩm đang ngày càng mở rộng của thế giới. Nhưng không phải là không có những thách thức lớn. Báo cáo gần đây của tổ chức OXFAM cho rằng việc gia nhập WTO sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến hai mặt hàng nông sản là cây mía đường và cây bắp vì đây là hai mặt hàng mà EU và Mỹ có thế mạnh. Tuy nhiên, Jonathan Pincus, chuyên gia kinh tế trưởng của UNDP Việt Nam lại cho rằng đây là hai mặt hàng mà nông dân Việt Nam không có lợi thế, do đó nếu nhập bắp với giá rẻ từ Mỹ về làm thức ăn gia súc thì vẫn tốt hơn. Mặt khác, vấn đề công nghiệp hóa và cơ khí hóa nông nghiệp để tăng năng suất và tăng cường khả năng cạnh tranh cho ngành nông nghiệp Việt Nam sau khi vào WTO vẫn đang là một bài toán khó. Có nhiều vấn đề nảy sinh trong quá trình chuyển nhượng công nghệ, phương pháp và sáng kiến nông nghiệp từ những nước công nghiệp phát triển sang các nước đang phát triển, chẳng hạn như thiếu vốn đầu tư và hệ thống tín dụng nông nghiệp và nông thôn, thiếu hoặc chưa có đủ các hành lang pháp lý nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, không đủ khả năng và nguồn tài chính để thực hiện các nghiên cứu khoa học, đặc biệt về sinh học và tổ chức ứng dụng hiệu quả các kết quả nghiên cứu khoa học. Đây thực sự là một điểm yếu của nông nghiệp Việt Nam. Về mặt này, chưa nói đến những nước công nghiệp đã phát triển lâu đời như các nước EU hay Bắc Mỹ, ngay cả đối với Thái Lan, một đối thủ cạnh tranh hàng đầu với ta trên lĩnh vực xuất khẩu nông sản, chúng ta còn cần phải nỗ lực rất nhiều, với những bước tiến rất nhanh mới có thể rút ngắn dần khoảng cách hiện đang khá xa về trình độ công nghệ ứng dụng trong nông nghiệp. Những con giống, cây giống sẽ sớm thoái hóa nếu không có những con giống, cây giống mới mạnh hơn, tốt hơn thay thế. Cơ khí hóa và tự động hóa trong sản xuất nông nghiệp sẽ không thể áp dụng nếu ruộng vườn còn manh mún, trình độ học vấn của nông dân còn thấp và không được sự tài trợ hiệu quả của hệ thống tín dụng ngân hàng nông thôn. Nhà nông, nhà vườn luôn có yêu cầu chính đáng là được tiếp cận trực tiếp với thị trường thế giới. Nhưng nếu không biết ngoại ngữ, thiếu kiến thức quản trị kinh doanh, tiếp thị, không hiểu
  36. rõ nghiệp vụ thanh toán xuất nhập khẩu, làm thế nào họ có thể thực hiện được mong muốn của mình một cách thành công? Một trong những vấn đề vừa cấp tính vừa mãn tính phải giải quyết trước mắt và lâu dài là nâng cao trình độ giáo dục phổ thông ở nông thôn. Trình độ dân trí ở nông thôn nước ta nói chung là thấp. Tại đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa của cả nước với gần 17 triệu dân, tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 13, 4%. Cuối cùng, chúng ta cần xây dựng một cơ chế thị trường hoàn chỉnh, không chỉ trên thực tế mà còn phải được xác nhận bởi Hiến Pháp và luật pháp nước ta. Sẽ vẫn còn bất lợi cho nhà nông, nhà doanh nghiệp khi Việt Nam đã là thành viên WTO nhưng vẫn bị xem là một nền kinh tế phi thị trường. Dù muốn hay không, gia nhập WTO chỉ còn là vấn đề thời gian. Kinh nghiệm thực tế cho thấy các thành viên mới luôn phải chấp nhận các điều kiện bất lợi hơn các thành viên cũ để được gia nhập. Nhưng chúng ta cũng không thể mãi đứng ngoài cuộc chơi mậu dịch toàn cầu, chấp nhận làm người buôn bán lẻ bên ngoài chợ quốc tế với những điều kiện thương mại còn bất lợi hơn nhiều. Điều cần làm hiện nay là kết thúc nhanh tiến trình đàm phán để sớm gia nhập WTO vì lợi ích lâu dài của nền kinh tế đất nước, trong đó có lợi ích thiết thực của người nông dân Việt Nam. Năm 2004
  37. Nông nghiệp Việt Nam trên con đường hội nhập (2) Có một điểm chung mà mọi người đều thừa nhận là nông nghiệp ở nước ta không được hưởng bao nhiêu trợ cấp từ nhà nước. Chính phủ không có một chính sách trợ giá nông nghiệp đúng nghĩa. Từ nhiều năm nay, nông dân Việt Nam vẫn luôn là người bao cấp hào phóng cho thành thị và khu vực công nghiệp. Họ là người dẫn đầu xuất khẩu khi thời kỳ Đổi Mới bắt đầu, trong khi phải chịu đựng một cánh kéo nghiệt ngã của giá nông phẩm và giá sản phẩm công nghiệp và dịch vụ. Nói rõ hơn, người nông dân cần cù chịu khó của chúng ta luôn bán gạo với giá rẻ và mua lại phân bón, thuốc trừ sâu, các vật tư nông nghiệp khác với giá cao. Họ vẫn tiếp tục nghèo và vẫn gánh vác một cách mỹ mãn trên đôi vai gầy của mình trách nhiệm nuôi sống trên 80 triệu người và vài triệu tấn gạo xuất khẩu mỗi năm. Và bây giờ, trước ngưỡng cửa WTO, nông dân Việt Nam một lần nữa lại đi đầu. Quá khứ hẩm hiu không được trợ cấp của nông nghiệp Việt Nam lại trở thành một ưu thế trên bàn đàm phán, giúp các nhà thương thuyết của nước ta dễ dàng chấp nhận hơn việc bãi bỏ trợ cấp cho nông nghiệp như một điều kiện gia nhập WTO. Đối với một số nước, đây luôn là một vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội lớn, bao nhiêu vòng đàm phán từ Cancun đến Doha đến Hồng Kông đều thất bại chỉ vì vấn đề trợ giá nông nghiệp. Các nước giàu luôn dành một ngân khoản khổng lồ để trợ cấp cho nông dân của họ trong khi họ lại muốn đóng cánh cửa đó đối với nông dân các nước nghèo. Đó là một sự bất công khó có thể chấp nhận được. Nhưng đối với nước ta lại khác. Buộc chúng ta không làm điều chúng ta vốn không làm quả không phải là một điều kiện khó khăn gì, và nhờ đó các nhà thương thuyết của chúng ta đã vượt qua được cửa ải đàm phán khó khăn nhất mà không hao tốn nhiều sức lực và thời gian. Công đầu mở cánh cửa vào WTO, trên thực tế, phải trao cho nông dân Việt Nam. Tất cả những điều đó cho thấy nông nghiệp và nông dân Việt Nam có một sức mạnh tiềm tàng to lớn. Nhưng chúng cũng cho thấy chúng ta đã đối xử với họ một cách bạc bẽo như thế nào. Hội nghị bàn tròn “Để nông dân Đồng bằng Sông Cửu Long giàu lên” đã phát hiện thu nhập nông dân bình quân ở khu vực này chỉ được 175.000 đồng/tháng, thấp hơn nhiều so với chuẩn nghèo hiện nay. Hơn nữa, không những nghèo vật chất, họ lại còn nghèo về học vấn. Giáo sư Đào Công Tiến xác nhận “Còn 10% dân số trên mười tuổi mù chữ và có nguy cơ tái mù chữ. Hơn 80% người lao động chưa qua đào tạo nghề.” Đầu tư vào nông nghiệp từ ngân sách trung ương và địa phương rất thấp, ông Bùi Chí Bửu, viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL cho biết: “Ngành nông nghiệp đóng góp rất lớn nhưng trước đây chỉ được đầu tư từ 4-6% ngân sách tỉnh, và nay chỉ còn 2%” Không những mức đầu tư thấp, việc đầu tư nhiều trường hợp còn sai mục đích và không có hiệu quả.